Nguyễn Ngọc Quang

Nguyễn Ngọc Quang

Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương

img-book
 
KHÍA CẠNH TÂM LÝ CỦA THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG 
 
-  THE POETRY OF HỒ XUÂN HƯƠNG - 
 
Bác sĩ Nguyễn Đức Phùng
 
Sau ngày 30/04/1975, chúng ta đã chứng kiến một sự thay đổi lớn lao, một sự thay đổi đột ngột, đảo lộn triệt để từ dưới lên trên từ trong ra ngoài, không phải cho một người, một nhóm người mà là cho cả nước, cả một dân tộc. Sự thay đổi quá sức nhanh chóng làm mọi người hoảng hốt, bận rộn đối phó với hoàn cảnh để sống còn. Trong một bối cảnh hỗn loạn náo nhiệt quay cuồng không kịp thở ấy, mấy ai có thì giờ nhàn rỗi để ngồi nhâm nhi ly cà phê, hồi tưởng cuộc đời để thấy thấm thía những kinh nghiệm của dân gian đã được ghi lại trong ca dao tục ngữ như câu:
 
“Trời làm một trận lăng nhăn, ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông”

Khi đã hoàn hồn sau cơn bão tố, cát bụi đã lắng xuống, mặt trời đã ló dạng, nhìn cảnh hoang tàn trong tĩnh lặng, chúng ta thường cảm khái và bắt đầu lên tiếng, viết lách, như cây lá lại đâm chồi, cùng với hoa thơm và cỏ dại ở cả hai bên bờ đại dương.Trong đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt hải ngoại, trên các sách báo ta đã thấy tràn ngập những tiếng thở than buồn thảm của người dân mất nước, những uất hận hào hùng của những chiến sĩ chưa được đánh xả láng một lần mà đã phải buông súng đầu hàng, những hận thù nghi ngút, những ước mơ cường điệu vớt vát như ngọn đèn hết dầu bùng lên trước khi tắt ngấm.
Có người dùng thơ để chửi bới đối phương cho đỡ tức. Có người chửi xéo, chửi xiên. Có người chửi thẳng, kêu đích danh kẻ thù ra mà chửi, và chửi thật tục tĩu, như nhóm thơ chua, thơ đắng và thơ gai. Dù tục tĩu, dơ dáy thế nào đi nữa, thơ ấy vẫn có người thưởng thức, vì bá nhân bá tánh, vì một trăm người tục một chục người thanh, vì hận thù và những bản năng tục tĩu lúc nào cũng có sẵn trong người chúng ta và nhất là ít hay nhiều, mỗi người trong chúng ta đã là nạn nhân của thời cuộc. 
 
Bên kia bờ đại dương, vì không có tự do báo chí, nên khó mà thấy được nỗi lòng của người dân qua văn nghệ phẩm. Nhưng sức sống, sự phản kháng và thích ứng với hoàn cảnh bất lợi của một dân tộc, luôn luôn lúc nào cũng có đó và rất linh động dưới nhiều hình thức. Một trong những hình thức đó là văn chương truyền khẩu, qua ca dao, tục ngữ, vè, những câu thơ, bài hát ngắn, và những chuyện cười tiếu lâm. Thí dụ như bốn câu thơ ngắn sau đây:

“Ra đường chẳng biết yêu ai
Yêu anh bộ đội có hai quả mìn
Chính giữa là cái đèn pin
Chung quanh là những dây mìn đen thui’

Nghe xong bài thơ, phản ứng đầu tiên là cười, cười thật to và thật thoải mái, như có cơ hội xổ ra được những ấm ức trong lòng. Cười xong thấy nhẹ nhỏm cả người, thấy mọi việc đều dễ dãi, không có gì phải khó khăn cho người và cho mình, nghĩa là cái gì cũng có thể tha thứ được! Nhưng sau đó ta lại thấy có một cái gì u uất trong lời thơ.
 
Trong thi ca Việt nam, Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ rất đặc biệt. Mặc dù thơ văn và tên tuổi của bà đã không được đem ra giảng dạy chính thức, trịnh trọng ở bậc trung học như truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm, bà huyện Thanh Quan .v.v nhưng quả thật thơ văn và tên tuổi của bà đã là một huyền thoại của văn học Việt nam.
 
Người ta đã viết khá nhiều về thơ văn của bà , hầu hết đều có những nhận xét sau đây:
 
– Ám ảnh tình dục, tục tĩu và lả lơi.
– Thơ của bà hay, đơn giản, không dùng chữ văn hoa cầu kỳ, khách sáo và điển cố.
 
– Có tính cách mạng và can đảm, có một không hai trong thi ca Việt nam. Một loại thơ như vậy đã xuất hiện cách đây 200 năm, tác giả lại là một phụ nữ mà dám nói đến những điều cấm kỵ trong một xã hội cực kỳ nghiêm chỉnh với lễ giáo Khổng Mạnh, với thành kiến, luân lý, phong tục tập quán, đố kỵ với tình dục, sợ cái đó như sợ tà!
 
Người khen cũng nhiều mà người chê cũng không ít. Một cách tổng quát là có thán phục, trầm trồ khen ngợi văn tài của bà, nhưng không quên kèm theo những lời dè dặt và ái ngại vì có quá nhiều khiêu gợi dục tính. Có người đã dùng phân tâm học của Freud để phân tích, cho rằng sự bất mãn về tình duyên và sự khao khát dục tình đã làm nàng bị bịnh thần kinh! “Sự bất mãn ấy có thể kết cấu ra chứng bịnh để thay thế cho cái vui thú không liễu kết. Xuân Hương không thỏa thích dục vọng ắt mang lấy bịnh thần kinh…Xuân Hương cùng đường lắm nhưng không mất cả lý trí là nhờ nàng lấy thơ làm tâm phúc, đem bao tâm sự không thỏa mãn gởi cả cho thơ, trong lúc ngao du thưởng ngoạn các danh sơn cổ tích..” (Hồ xuân Hương, tác phẩn, thân thế và sự nghiệp, của Gs Nguyễn văn Hạnh, do nhà Đại Nam xuất bản)
 
Với một tấm lòng ái mộ người thơ, để thành kiến qua một bên, phá chấp, tôi thử nghiên cứu lại thơ của bà, lấy lòng của hậu thế để tìm hiểu người xưa đây.
 

Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương từng là người tình của Nguyễn Du

Từ một bài thơ của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương, các nhà phân tích văn thơ đã có thể nhận ra một câu chuyện tình kéo dài 3 năm giữa đại thi hào Nguyễn Du và nữ sĩ Hồ Xuân Hương
Bài viết của nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo - tác giả bài hát "Khúc hát sông quê" đăng trên tạp chí Giao thông, xin phép được đăng nguyên bản.
 
Tôi đọc thơ Hồ Xuân Hương và giật mình khi gặp bài thơ nôm “Cảm cựu kiêm trình cần tránh học sĩ Nguyễn Hầu” – đầu đề bằng chữ Hán, có nghĩa là: Nhớ bạn cũ, viết gửi Cần cháng học sĩ Nguyễn Hầu và dưới đầu đề còn mở ngoặc: (Hầu Nghi Xuân Tiên Điền Nhân).
 
 
Sở dĩ tôi giật mình bởi vì Nguyễn Hầu chính là Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều. Hóa ra, Nguyễn Du lại là “bạn cũ” của nữ sĩ họ Hồ. Bài thơ thật tình tứ và khẳng định rằng “Chữ tình chốc đã ba năm vẹn”. Hẳn là hai nhà thơ lớn này đã từng “dan díu” với nhau trong thời gian không phải ngắn – phải đến 3 năm cơ đấy. Bài thơ như sau:
 
Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập
Phấn son càng tủi phận long đong
Biết còn mảy chút sương đeo mái
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng trong
 
Nhiều nhà nghiên cứu rất thú vị ba chữ “sương đeo mái” vì ba chữ ấy có cái nghĩa nghịch ngợm của Hồ Xuân Hương qua thơ Nôm truyền tụng. Nhưng Giáo sư Hoàng Xuân Hãn lại phiên âm và chứng minh ba chữ ấy là “sương siu mấy” – sương siu có nghĩa là bin rịn. Về vấn đề văn bản học xin dành cho các nhà nghiên cứu, còn tôi thì chỉ chú ý đến câu chuyện tình của hai thi tài đáng kính. Nhưng họ yêu nhau như thế nào, vào thời gian nào thì không có sử sách nào ghi lại cả. Chuyện đã mấy trăm năm, làm sao mà biết được?
Tôi đánh đường vào Tiên Điền thăm mộ cụ Nguyễn Du. Thắp hương khấn vái một lát, bỗng thấy một làn mây trắng từ ngôi mộ bay lên rồi tan biến rất nhanh. Tôi quay lại thì như thấy cụ Nguyễn Du đứng cạnh, mỉm cười. Tôi chắp tay lạy tạ, thì Nguyễn Du nói:
- Miễn lễ! Miễn lễ! Anh tìm ta để hỏi chuyện cô Hồ phải không?
- Dạ, phải! Tôi mừng quá, theo Nguyễn Du về nhà, ngồi vào bàn rượu. Trên bàn chỉ bày một nậm rượu bằng sứ và một cái chén mắt trâu bằng sứ.
- Be và chén này cô Hồ tặng ta đấy – Nguyễn Du nói 
– ta giữ mãi đến giờ vì trọng cái tình của người “Cổ Nguyệt”.
Tôi vừa khâm phục vừa xúc động, liền thưa:
- Cháu đọc thơ Hồ Xuân Hương mới biết được chuyện tình ý của cô Hồ với người. Sau này có người viết sách phỏng đoán là hồi người được bổ làm tri phủ Thường Tín rồi trở lại Thăng Long làm việc từ hàn, chuyện đón tiếp sứ thanh (1802 – 1804) mới quen biết và lui tới Hồ Xuân Hương. Chẳng lẽ gần 40 tuổi, Người mới có cuộc tình với nữ sĩ chăng?
Nguyễn Du nhấp rượu, lắng nghe, rồi nói:
- Sách của ông Hoàng Xuân Hãn lại viết khác, ông ấy đoán cuộc tình của ta với cô Hồ “phải vào đời Tây Sơn, khoảng từ năm 1792 – 1795, lúc đó trai chừng 27 – 30, gái chừng 19 – 22 tuổi ” bởi ông ấy cho rằng thời gian đó ta ở nhà anh ruột là Nguyễn Nễ, cạnh Giám Hồ (Hồ Gươm). Đọc Truyện Kiều của ta, chắc anh cũng biết ta là người trải tình. Cái nòi tình đeo đẳng. Thân phụ ta 8 vợ. Mẹ ta là vợ thứ 3. Nếu hồi ấy có luật 1 vợ, 1 chồng thì làm gì có ta để đời sau lấy làm tự hào! Ta chỉ có 3 vợ thôi, nhưng cũng có 12 con trai và 6 con gái. Hồi trẻ tuổi, ta đã “mê” cô Cầm chơi đàn nguyệt ở Long Thành. 20 năm sau ta được cử đi làm chánh sứ ở Trung Quốc (1813), qua Thăng Long, tình cờ nghe đúng tiếng đàn ấy là nhận ra cô Cầm thì cô đã già và tiều tụy, thật khó coi. Ta cảm thương vô hạn nên làm bài thơ “Long Thành cẩm giả ca” để ghi nhớ mối cảm thương.
- Đời sau, có người đoán cô Cầm ấy chính là Hồ Xuân Hương. Như vậy, hóa ra cô Hồ là kỹ nữ?
 
- Đoán thế là sai rồi. Cô Cầm hơn cô Hồ trên chục tuổi. Thời ở nhà anh Nguyễn Nễ ta có nỗi buồn riêng nên thường đi chơi cùng bạn bè cũ. Tình cờ, ta gặp Xuân Hương và quí tính tình tự nhiên, thẳng thắn cùng tài thơ lịch lãm của cô ấy. Xuân Hương lúc ấy khoảng 20 tuổi, tâm hồn dễ cảm. Do đàm đạo thơ phú mà ta và cô Hồ đi thuyền hái sen ở Hồ Tây. Nhưng chuyện tình thì không ai dám ngỏ. Mấy năm đi lại với nhau, ta nhận ra cô Hồ được nhiều người yêu mến tài sắc và tình cô thì nhiều ngả vấn vương cho nên ta có ý ngại. Tuy vậy, sau khi rời Thăng Long, đôi lúc ta cũng nhớ tới Xuân Hương, mộng thấy đi hái sen cùng cô ấy và ta đã làm thơ.
 
Nguyễn Du ngâm 5 bài thơ Mộng Đắc thái liên (Mộng thấy hái sen), tôi nhớ bài 4, thật hay: “Cộng tri liên liên hoa – Thùy giả liên liên cán – Kỳ chung hữu chân ty – Kiên liên bất khả đoạn”, nghĩa là: Hoa sen ai cũng ưa – Cuống sen ai chẳng thích – Trong cuống có mành tơ – Vấn vương không thể đứt”.
- Gần 20 năm sau khi biết Xuân Hương ta được thăng Cần chánh điện học sĩ (tháng 2/1813). Biết tin này, cô Hồ đã làm bài thơ gửi ta. Thì ra, lòng cô vẫn còn vương vấn tình xưa. Ta xúc động lắm.
- Sao khi đi sứ, qua Thăng Long, người không tìm gặp lại cô Hồ? – tôi hỏi.
- Lúc ấy, mỗi người mỗi cảnh. Ta bận việc công. Đi sứ về phải trở lại Kinh đô Huế ngay. Thế là biền biệt mãi. Tuy vậy, khi viết Truyện Kiều, ta vẫn nhớ tới cô ấy mà viết nên câu:
 
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng
 
Nói đến đây thì Nguyễn Du biến mất. Tôi bồi hồi nhớ lại lời Xuân Diệu về chuyện này: “Chuyện quả thật như thế thì hay biết bao! Cái thiên tài của tiếng Việt và cái tinh túy của tâm hồn Việt Nam nở rộ cùng một lúc ra hai tài thơ lớn… Nó làm cho tâm trí ta được ấm áp thêm”.
 
Nhà thơ – Nhạc sĩ Nguyễn Trọng  Tạo/ Tạp chí Giao thông
 

Mời bạn xem trang văn-hoc-sử về nữ-sĩ bà Hồ xuân Hương 

 

Thơ Hồ Xuân Hương

 

Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thơ

 

Hồ Xuân Hương
胡春香
Hồ Xuân Hương (1772 – 1822) là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX. Di tác của bà hoàn toàn là thơ và phần lớn là thơ viết bằng chữ Nôm. Thơ Hồ Xuân Hương luôn được trình bày theo phong cách thất ngôn bát cú hoặc thất ngôn tứ tuyệt, bút pháp được nhận định là điêu luyện nhưng phần chữ Nôm nhiều phần đặc sắc hơn chữ Hán. Ý tưởng trong thơ cũng rất táo bạo, dù là điều cấm kị đối với lễ giáo đương thời. Cho nên, Hồ Xuân Hương được xem như hiện tượng kỳ thú của dòng thi ca cổ điển Việt Nam khi tích cực đưa ra cái nhìn đối lập với truyền thống đạo đức, nhưng không vì thế mà tự trở nên suy đồi. Sau đây là một số bài thơ của Hồ Xuân Hương:
  • Chợ trời
  • Bánh trôi nứớc
  • Đánh đu
  • Đền Thái Thú
  • Đánh cờ
  • Đèo Ba Dội
  • Đồng tiền hoẽn
  • Cãnh Thu
  • Bà lang khóc chồng
  • Cãnh làm lẽ
  • Chơi đền Khán Xuân
  • Cái quạt giấy 1
  • Cái quạt giấy 2
  • Chùa Hương
  • Chùa Quán Sứ
  • Dệt vải
  • Bọn đồ dốt
  • Chùa hoang
  • Con cua
  • Chùa xưa
  • Giếng nứớc
  • Giễu quan Hậu
  • Duyên kỳ ngộ
  • Dỗ bạn khóc chồng
  • Già kén kẹn hom
  • Hỏi Trăng
  • Hang Thanh Hóa
  • Hỏi cô hàng sách
  • Hang cắc cớ
  • Nhà sư
  • Kiếp tu hành
  • Quan Thị
  • Sư bị làng đuổi
  • Mời ăn trầu
  • Qua kẽm trống
  • Quả mít
  • Tức cảnh Tề Sở
  • Tự Tình 1
  • Tự Tình 2
  • Tự Tình 3
  • Sư hổ mang
  • Sư bị ong châm
  • Vịnh cái quạt
  • Thiếu nữ ngủ ngày
  • Tát nước
  • Thương
  • Tranh hai tố nữ
Hồ Xuân Hương, Người Đẹp, Người Tình 

Việc nghiên cứu về thơ Hồ Xuân Hương đã có những tiến-bộ vượt bực trong vòng nửa thế-kỷ qua. 

Từ một người mà Lữ Hồ ở trong Nam vào năm 1958 còn không chắc là có thật (“Có chăng một bà Hồ Xuân Hương?”, Sáng Tạo số 24 ra tháng 9/1958) cũng như Hoàng Trung Thông ở ngoài Bắc đến năm 1986 còn viết: 

Người ta nói nhiều về
Hồ Xuân Hương
Nhưng người đó là ai?
Thật mỉa mai
Không ai biết rõ
Như có như không như không như có… 
ngày nay, trái lại, chúng ta đã biết khá nhiều về bà. 

 
Một nhà thơ chữ Hán 
Nhờ Trần Thanh Mại công-bố về sự phát hiện của tập thơ Lưu Hương Ký vào hai năm 1963-64 (trên Tạp chí Văn học ở Hà-nội), chúng ta khám phá ra một Hồ Xuân Hương làm thơ chữ Hán mà một cụ bà rất giỏi Hán-Nôm ở hải-ngoại mô-tả là “tình tứ triền miên” một “người ít học không thể làm nổi loại thơ ấy.”

Gần như cùng lúc, Trần Văn Giáp và Cao Huy Giu cũng tìm ra tám bài thơ chữ Hán của bà mang tên “Đồ-sơn bát cảnh.” Đến năm 1983, Hoàng Xuân Hãn ở Pháp công-bố 5 bài thơ đề Vịnh Hạ-long mang tên bà trong sách Đại-Nam dư-địa-chí ước-biên mà dịch-giả Lê Xuân Giáo ở Sài-gòn cho biết là của Cao Xuân Dục, một tác-giả rất cẩn trọng và có uy-tín. 

Rồi đến lượt Bùi Hạnh Cẩn cho biết còn tìm được ra trong tủ sách gia-đình của ông Trần Văn Hảo, làng Quần-phương, huyện Hải-hậu, Nam-định, một chùm 9 bài thơ mang tên Hương-đình Cổ Nguyệt Thi-tập (“Tập thơ Cổ Nguyệt ở Vườn Thơm”), cũng gần như chắc chắn là của bà bởi một nét đặc-sắc của bút-pháp Hồ Xuân Hương là chơi chữ:

Cổ Nguyệt = trong chữ Nho hai chữ này nhập lại thành chữ “Hồ,” họ Hồ Hương-đình có nghĩa là “Vườn Thơm” nhưng cũng có chữ “Hương” ở trong đó, nhắc cho ta tên của bà (Xuân Hương).


Cũng tựa như mấy chữ ghi bên cạnh tên sách Lưu Hương Ký: “Hoan-trung Cổ-nguyệt-đường Xuân Hương nữ-sử tập.” Tức đây là một cách ký tên của bà vào những tác-phẩm đó.

Do đó, ngày nay ta có thể mạnh miệng khẳng-định mà không sợ sai: Hồ Xuân Hương, “bà chúa thơ Nôm,” còn là một nhà thơ chữ Hán xuất chúng.

Một giai-nhân 

Đã có lúc người ta dựa vào bài thơ Nôm “Quả mít” của bà để gán cho bà hai chữ xấu xí (“Da nó xù xì”), thậm chí có người còn mường tượng ra là bà mặt rỗ. Đó là quan-niệm của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến trong sách Giai-nhân di-mặc (1915), cuốn sách đầu tiên hư-cấu-hoá đời của bà, một quan-niệm được Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa khai triển ra thành một thuyết của Freud về “ẩn-ức” đem ứng-dụng vào văn thơ Việt-nam (trong “Cái ám ảnh của Hồ Xuân Hương,” Tiến hoá số 1, tháng 1/1936, và trong sách Văn nghệ bình dân VN, Thanh-hoá, 1951).

Song thuyết này hiển-nhiên không đứng vững khi như sau này, người ta khám phá ra bài “Quả mít” chính ra là một tác-phẩm của Đặng Thị Huệ, tức Bà Chúa Chè, người phi sủng-ái của Trịnh Sâm (1767-82), một người nếu không nghiêng nước nghiêng thành thì cũng không ai có thể nói được là không có nhan-sắc. 

Thật ra, những bằng-chứng cụ-thể mà ta có về Hồ Xuân Hương đều nói đến một người đẹp. Như khi bà còn trẻ, chỉ khoảng 15-16 tuổi, một “danh-sĩ” ở làng Quỳnh-đôi, tức cùng làng với bà, Dương Tri Tạn, đã viện cớ “vịnh cái điếu bát của Cô” để mà làm mấy câu cợt nhả nhưng chắc cũng có phần nào gần sự thật: 
Eo lưng thắt đáy thậm là xinh!
Điếu ai hơn nữa điếu cô mình?
Thoắt châm thoắt bén duyên hương lửa,
Càng núc càng say nỗi tính tình.

 
Trong thơ chữ Hán của những người giao thiệp với nàng, không ít bài ca tụng nhan-sắc có thể chim sa cá lặn của nàng. Ông Tốn Phong, chẳng hạn, khi mới gặp nàng đã tán tụng: “Hồng nhan nghi thị thác sinh nhân!” mà tôi đã từng dịch là “Ngỡ là Người Đẹp thác sinh xuống trần!” (trong bài “Tao huyền huyền thượng xuất Tao thần”). Theo cụ Hãn, đã có lần Tốn Phong đi gặp Hồ Xuân Hương về, sướng quá đã tưởng mình là “ông chài ở Vũ-lăng chèo thuyền tới Nguồn Đào, được gặp tiên.” (“Hồ Xuân Hương với Vịnh Hạ Long,” Tập san Khoa học xã hội số 11-12, tháng 12/1983) 

Nhưng trong cái đẹp của nàng, nó như có cái gì bất thường. Bởi khi nàng về theo cha để mở trường dạy học ở làng Mương (nay là xã Sơn-dương, huyện Phong-châu, tỉnh Vĩnh-phú) thì có câu thơ: 

Đánh gốc, bốc trà, may Tú Điếc;
Cá Kình mắc lưới, phúc Nho Trâm. 

Cả ba người, Tú Điếc, Nho Trâm và “Tổng” Kình (tức Tổng Cóc) đều theo đuổi cô con gái xinh đẹp con của ông đồ Nghệ, nhưng chỉ có Tổng Kình “mắc lưới” còn hai người kia thì được xem như là thoát (“may” và “phúc”). Vậy rõ ràng nàng có thể đẹp nhưng cũng có cái nét gì để cho người ta phải coi là không được, là cần tránh. Nên khi Tổng Kình (Tổng Cóc) bắt được nàng thì lại bị coi là “mắc lưới,” chắc là do nàng tung ra. 

Phải chăng nàng là một người lẳng lơ, sẵn sàng sấn tới (“Thoắt châm thoắt bén duyên hương lửa”), “aggressive” kiểu như người ta hay nói về một loại người đàn bà ở Mỹ–một loại “sexpot”? 
Bởi về sau, khi đã lớn tuổi rồi, không còn bao nhiêu hứng thú trong chuyện làm tình, bà vẫn còn bị Chiêu Hổ hạ cho một đôi câu đối khá ác: 
Người Cổ lại còn đeo thói Nguyệt,
Buồng Xuân chi để lạnh mùi Hương? 

Những người tình trong đời bà 
Cụ Hoàng Xuân Hãn đã dựa vào thơ còn lại trong Lưu Hương Ký để vẽ ra một lịch-trình người tình của Hồ Xuân Hương mà ta có thể làm thành một bảng vắn tắt như sau: 
Tên Các Người Tình 
Khoảng năm 
Chức tước 

Nguyễn Du (1765-1820) 1790-1793? 
Sinh-đồ Mai Sơn Phủ 1799-1801? 
Không rõ  Tốn Phong 1807-1808 
Thư-sinh Trần Quang Tĩnh 1808-1809 
Hiệp-trấn Trần Phúc Hiển 1813- . . . . 
Tham-hiệp Tốn Phong trở lại thăm, đề tựa LHK 1814 
Thư-sinh Trần Ngọc Quán 1815-1816 Hiệp-trấn Trần Phúc Hiển cưới làm vợ bé1816 
Tham-hiệp bị tù 1818 (thg 5 ta) bị xử tử 1819 (thg 5 ta) Xuân Hương mất 1821-1822? 

Trên đây là ta theo cụ Hãn và trong chi-tiết ta có thể không đồng-ý điểm này điểm nọ. Nhưng có điều chắc chắn là những dan díu trên đây là có thật. Người thật, việc thật! 



Như trường-hợp Nguyễn Du, hai nhà thơ thuộc vào hạng lớn nhất của ta ở đầu thế-kỷ XIX có thể thương yêu nhau, ít nhất là “ba năm vẹn,” phải được xem là một mối tình khá đẹp–mà ta lại còn có bằng-chứng trong bài thơ “Cảm cựu kiêm trình Cần-chánh Học-sĩ Nguyễn-hầu” với tiểu ghi: “Hầu Nghi-xuân Tiên-điền nhân” (“Ông là người làng Tiên-điền, huyện Nghi-xuân” nghĩa là không thể nhầm được). 

Rồi đến Mai Sơn Phủ với những trang đẹp nhất trong thơ chữ Hán của bà dành cho ông, một người yêu chắc phải ăn ý lắm vì bà đã dành cho ông những câu thơ nồng nàn nhất (như trong bài “Xuân-đình-lan điệu”): 

Tâm tại Vu-phong
Hồn tại Vu-phong
Ân ái thử tao phùng… 

khi ta biết Vu-phong tức Vu-sơn, nơi Sở Tương-vương nằm mơ thấy đêm làm mây mưa (= làm tình) với Vu-sơn thần-nữ. Hay trong bài “Thuật ý kiêm giản hữu-nhân Mai Sơn Phủ” (“Thuật lại lòng mình cùng để thư cho ông bạn Mai Sơn Phủ”) bà viết: 

Nhất tự sầu phân duệ
Hà nhân noãn bán khâm?
(“Từ lúc buồn chia biệt
“Ai người ấm nửa chăn?”) 

Còn trong một bài thơ Nôm tặng Mai Sơn Phủ để nói lên nỗi nhớ da diết của bà, bà viết: 

Nước mắt trên hoa là lối cũ,
Mùi hương trong nệm cả đêm thâu.
Vắng nhau mới biết tình nhau lắm:
Này đoạn chung-tình biết với nhau. 

 

Để kết 

Như vậy, ta có thể nói mà không sợ sai, Hồ Xuân Hương chủ-yếu là một nhà thơ tình, trong cả thơ chữ Hán lẫn thơ chữ Nôm, trong loại thơ truyền-tụng của bà. 

Nếu trong thơ chữ Nôm của bà, chuyện làm tình không bao giờ xa ý của bà lắm, nó chỉ được giấu trong những ẩn-dụ mà ai cũng đọc ra được, thì trong thơ chữ Hán nó cũng không xa lắm, chuyện làm tình trong một số bài còn hiển hiện hơn nữa, thậm chí đi đến chỗ “bơ bải” nghe có vẻ phờ phạc (“Năm canh hồn bướm thêm bơ bải,” bà kết trong một bài thơ Nôm trong Lưu Hương Ký). 



Thế còn những mối tình khác của bà như ta được biết trong thơ Nôm thì sao? 

Cụ Hoàng Xuân Hãn bác bỏ tin cho rằng “Khóc ông phủ Vĩnh-tường” là do bà làm ra bởi, theo cụ, tên “phủ Vĩnh-tường” mãi đến năm 1833 dưới thời Minh Mạng mới có mà theo cụ, Hồ Xuân Hương đã chết khoảng năm 1821-22. Song năm chết của bà như cụ phỏng-đoán là không đảm bảo. Có khá nhiều bằng-chứng để cho ta thấy bà còn sống sang đến thời Minh Mạng. 

Riêng chuyện tình với Tổng Cóc thì có lẽ nhiều cay đắng hơn là thương yêu: 

Cong cóc đi đâu chẳng bảo tôi!
Nòng nọc đứt đuôi từ đấy nhé!
Nghìn năm không chuộc dấu bôi vôi. 

Song thế vẫn không có nghĩa là đã không có lúc hai người ăn ở với nhau. Thành thử với Hồ Xuân Hương ta có một nữ-lưu rất tân-thời, rất hiện-đại, ngay cả trong vấn-đề đạo đức, phụ-nữ-quyền. Không còn tam tòng, tứ đức nữa mà là một phụ nữ khẳng-định chỗ đứng độc-lập của mình trong xã-hội, kể cả sự lựa chọn lấy ai, ăn nằm với ai. 

Trong nghĩa này, Hồ Xuân Hương phá vỡ cái luân-lý Nho-giáo và đi trước thời-đại. Bà là một George Sand của văn-học Việt-nam, song bà còn đi trước cả George Sand (1804-1876) nữa bởi bà sống ở cuối thế-kỷ XVIII-đầu thế-kỷ XIX, nghĩa là trước nữ-sĩ người Pháp gần nửa thế-kỷ. 

Nguyễn Ngọc Bích 


Thơ Hồ Xuân Hương 
Đánh cờ 
Hồ Xuân Hương Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc, 
Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người. 
Hẹn rằng đấu trí mà chơi 
Cấm ngoại thuỷ không ai được biết. 
Nào tướng sĩ dàn ra cho hết 
Để đôi ta quyết liệt một phen. 
Quân thiếp trắng, quân chàng đen 
Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa 
Thọat mới vào chàng liền nhảy ngựa, 
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên. 
Hai xe hà, chàng gác hai bên, 
Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ. 
Chàng lừa thiếp đương khi bất ý, 
Đem tốt đầu dú dí vô cung, 
Thiếp đang mắc nước xe lồng, 
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu. 
Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu 
Thua thì thua quyết níu lấy con. 
Khi vui nước nước non non, 
Khi buồn lại giở bàn son quân ngà 

Giếng nước
Hồ Xuân Hương 
Ngõ sâu thăm thẳm tới nhà ông, 
Giếng ấy thanh tân, giếng lạ lùng. 
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép, 
Nuớc trong leo lẻo một dòng thông! 
Cỏ gà lún phún leo quanh mép, 
Cá giếc le te lách giữa dòng. 
Giếng ấy thanh tân ai đã biết? 
Đố ai dám thả nạ rồng rồng 

Quả Mít
Hồ Xuân Hương 
Thân em như quả mít trên cây. 
Da nó xù xì, múi nó dầy. 
Quân tử có thương thì đóng cọc, 
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay 

Hang cắc cớ
Hồ Xuân Hương 
Trời đất sinh ra đá một chòm, 
Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom. 
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn, 
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm. 
Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm, 
Con đường vô ngạn tối om om. 
Khen ai đẽo đá, tài xuyên tạc, 
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm. 

Kiếp Tu Hành
Hồ Xuân Hương
Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
Ṿây mà chút tẻo tèo teo
Thuyền cừ cương muốn về Tây Trúc
Trái gió cho nên phải lộn leo.

Thương
Hồ Xuân Hương
Há dám thương đâu kẻ có chồng,
Thương vì một nỗi hãy còn không.
Thương con cuốc rũ kêu mùa Hạ,
Thương cái bèo non giạt bể Đông.
Thương cha mẹ nhện vương tơ lưới,
Thương vợ chồng Ngâu cách mặt sông.
ấy thương quân tử thương là thế,
Há dám thương đâu kẻ có chồng.

Vịnh cái quạt
Hồ Xuân Hương
Vịnh cái quạt (1)
Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay.
Mỏng dày từng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cẵm một cay.
Càng nóng bao nhiêu thời càng mát.
Yêu đêm chưa phi lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy.
Chúa dấu vua yêu một cái này.

Dệt vải
Hồ Xuân Hương
Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau,
Con cò mấp máy suốt đêm thâu.
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc,
Một suốt đâm ngang thích thích mau.
Rộng, hẹp, nhỏ, to, vừa vặn cả.
Ngắn, dài, khuôn khổ cũng như nhau.
Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ,
Chờ đến ba thu mới dãi mầu

Đèo Ba Dội
Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

(1) Đèo Ba Dội hay Ba đèo tên chữ là đèo Tam Điệp, thuộc huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

Đánh Đu
Hồ Xuân Hương 
Tám cột khen ai khéo khéo trồng,
Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông.
Trai đu gối hạc khom khom cật,
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.
Bốn mảnh quần hồng bay phất phới.
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
Chơi xuân ai biết xuân chăng tái!
Cột nhổ đi rồi, lõ bỏ không.


Mời ăn Trầu
Hồ Xuân Hương 
Quả cau, nho nhỏ, miếng trầu ôi,
Này của Xuân Hương đã quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôi.

Qua kẽm trống
Hồ Xuân Hương 
Hai bên thì núi, giữa thì sông,
Có phải đây là kẽm Trống không?
Gió đập cành cây khua lắc cắc,
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong.
trong hang đá hơi còn hẹp,
Ra khỏi đầu non đã rộng thùng.
Qua cửa mình ơi, nên ngắm lại,
Nào ai có biết nỗi bưng bồng.

Tát Nước
Hồ Xuân Hương
Đang cơn nắng cực chửa mưa tè 
Rủ chị em ra tát nước khe.
Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc chụm,
Lênh đênh một ruộng bốn bờ be.
Xì xòm đáy nước mình nghiêng ngửa,
Nhấp nhỏm bên bờ đít vắt ve.
Mải miết làm ăn quên cả mệt,
Dang bang một lúc đã đầy phe.

Thiếu nữ ngủ ngày
Hồ Xuân Hương 
Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
Lược trúc chải cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long.
Đôi gò Bồng đảo sương còn ngậm,
Một lạch Đào nguyên nước chửa thông.
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt, 
Đi thì cũng dở, ở không xong.


Tranh hai Tố nữ
Hồ Xuân Hương
Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh.
Đôi lứa như in tờ giấy trắng,
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh.
Phiếu mai chi dám tình trăng gió,
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh.
Còn thú vui kia sao chẳng thấy,
Trách ông thợ vẽ khéo vô tình!

Tự Tình 1
Hồ Xuân Hương
Canh khuya văng vẳng trống canh dồn.
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh,
Vừng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn.
Xuyên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con.


Chùa xưa
Hồ Xuân Hương
Thày tớ thung dung dạo cảnh chùa,
Thơ thì lưng túi, rượu lưng hồ.
Cá khe lắng kệ, mang nghi ngóp,
Chim núi nghe kinh, cổ gật gù.
Then cửa từ bi chen chật cánh,
Nén hương tế độ cắm đầy lô.
Nam mô khẽ hỏi nhà sư tí,
Phúc đức như ông được mấy bồ?
Quán Nước Bên Đường 
Đứng tréo trông theo cảnh hắt heo,
Đường đi thiên thẹo, quán cheo leo.
Lợp lều, mái cỏ tranh xơ xác,
Xỏ kẽ, kèo tre đốt khẳng kheo 
Ba trạc cây xanh hình uốn éo,
Một dòng nước biếc, cỏ leo teo.
Thú vui quên cả niềm lo cũ,
Kìa cái diều ai thả lộn lèo


ốc nhồi
Hồ Xuân Hương
Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi,
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi.
Quân tử có thương thì bóc yếm,
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.

Động Hương Tích
Hồ Xuân Hương
Bày đặt đá ai khéo khéo phòm,
Nứt ra một lõ hỏm hòm hom
Người quen cõi Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm
Giọt nước hươu tình rơi thánh thót,
Con thuyền vô trạo cúi lom khọm
Lam tuyền quyết cả phồn hoa lại,
Rõ khéo trời già để dở dom
 
 

Hồ Xuân Hương (1772 – 1822)


HXH
Hải Bằng & Bạch Cúc
 
Chân Dung và Thân Thế
 
    Thơ Hồ Xuân Hương được độc giả mọi giới hâm mộ kể cà thi sĩ ngoại quốc.  Thi sĩ Xuân Diệu (1916 – 1985) thán phục cách sử dụng chữ Nôm của bà nên đã gọi vinh danh bà là “Chúa Thơ Nôm” (Nôm là chữ quốc ngữ cũ viết theo kiểu chữ Nho và là tiền thân của chữ quốc ngữ mới).  Thi sĩ Dimitrova người Bulgaria ca ngợi bà: “Hồ Xuân Hương là một trong những hiện tượng văn học độc đáo nhất của Việt Nam trong toàn bộ nguồn thơ mà tôi được biết trên nền thơ thế giới qua tất cả các thời đại.”
 Tuy nhiên, bấy lâu nay, người đọc ít nhiều hãy còn bán tín bán nghi về nhân vật Hồ Xuân Hương (HXH) nổi tiếng với  những bài thơ Ðường luật rất độc đáo lời lẽ vừa lịch lãm, thâm thúy lại vừa dí dỏm tục-thanh rất thu hút người đọc.  Chẳng hạn, hai bài thơ một tao nhã, nghiêm trang; một bỡn cợt trêu ngươi như sau:
 
 Ðài Khán Xuân
 
 Êm ái chiều xuân tới Khán Ðài
Lâng lâng chẳng gợn chút trần ai
Ba hồi triêu mộ  chuông gầm sóng
Một vũng tang thương nước lộn trời
Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn!
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi?
Nào nào cực lạc là đâu tá?
Cực lạc là đây chín rõ mười
 
Vịnh Cái Quạt
 
 Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa
Duyên em dính dán tự bao giờ
Vành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa
Mát mặt anh hùng khi tắt gió
Che đầu quân tử lúc sa mưa
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?
 
 Gần đây, nhờ công trình sưu tầm công phu của một số nhà khảo cứu có uy tín trong văn học, thân thế, cuộc đời, và hoạt động thi phú của nữ sĩ họ Hồ đã dần dần được sáng tỏ giúp xây dựng lại con người trung thực của bà và giải đáp một số thắc mắc như HXH là ai?  Ðẹp hay xấu?  Tại sao có tới bốn đời chồng?  Giăng mắc tình thơ với những ai?  v.v.  Thơ của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương được tìm thấy gồm: tập Lưu Hương Ký có 52 bài thơ vừa Hán (24) vừa Nôm (28) và một số bài thơ truyền tụng chép lại trong đó chắc chắn có nhiều bài không phải bà làm.   
Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương là một nhân vật có thật và không còn nghi ngờ gì nữa: HXH quả là một nhà thơ tài năng, hương sắc vẹn toàn nhưng cuộc đời lại truân chuyên.  Hương sắc và thi tài của bà đã làm cho nhiều thi nhân có tiếng đương thời như Nguyễn Du, Tốn Phong thán phục và lấy đó làm nguồn thi hứng cho những tác phẩm của mình.  HXH không còn phải là con người xấu xí, mặt rỗ, lại có thêm ẩn ức dồn nén về tình dục như có người đã tưởng tượng và phóng đại ra.   
Các Nhà Khảo Cứu Tiên Phong 
Khoảng năm 1956- 57, cụ Cử Nguyễn Văn Tú quê ở Hành Thiện tìm thấy trong tủ sách gia đình tập Lưu Hương Ký. 
Năm 1963, cụ Cử Trần Thanh Mại phát hiện ra trong bài “Du Hương Tích Ðộng Ký” của Chu Mạnh Trinh có bài của Tốn Phong đề tựa cho tập Lưu Hương Ký.  
Năm 1983, GS Hoàng Xuân Hãn (Paris) công bố các sưu tầm của ông trên Tập San Khoa Học Xã Hội Paris, số 10- 11 trong đó 5 bài thơ chữ Hán vịnh Vịnh Hạ Long; thơ của HXH truyền khẩu; những tình tiết về cuộc đời của HXH; các bản gia phả của họ Hồ Quỳnh Lưu; và các sách sử chép người chồng cuối cùng của bà là Quan Tham Hiệp Trấn Yên Quảng (bị tử hình, đời Gia Long).
Cụ Trần Văn Giáp, Hà Nội, tìm được 8 bài thơ chữ Hán vịnh Ðồ Sơn Bát Cảnh. 
Năm 1974, Nguyễn Huệ Chi và Hồ Tuấn Niệm công bố trong Văn Học số 3 tập chép tay có 4 bài thuộc loại Lưu Hương.
Khoảng năm 1981 – 85, thi Sĩ Xuân Diệu tặng cho Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh tập di cảo của ông trong đó có nhiều bài viết so sánh thơ HXH với thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Lê Thánh Tông.  Xuân Diệu mệnh danh HXH là “Bà Chúa Thơ Nôm”.
Năm 1917, Ðông Châu Nguyễn Hữu Tiến viết cuốn Giai Nhân Dị Mặc trong dó có in nhiều bài thơ ghi là của HXH.
Từ 1913, ông Nguyễn Ngọc Xuân có máy in chữ quốc ngữ và mở nhà Xuất Bản Xuân Lan, bắt đầu in thơ của HXH.  Xuân Hương Thi Tập lần đầu tiên xuất hiện phần lớn là các bài thơ châm chọc hay mô tả bóng gió cái tính giống mà nhà in không nói rõ xuất xứ từ đâu.  Có thể một số bài được ngụy tạo để bán cho chạy. 
Thân Thế Hồ Xuân Hương  
 
Theo sưu tầm của Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh: HXH tên thật là Hồ Phi Mai (nghĩa  là  hoa mai bay trên hồ) và hiệu là Xuân Hương.  Một thi hữu thân tình của HXH là Tốn Phong đã nhắc đến chữ “Mai” trong 29/31 bài thơ tặng HXH. Tốn Phong tên thật là Phan Huy Huân (gốc gác Phan Huy Ích), hiệu là Nham Giác Phu (người ẩn trong núi mà biết việc đời).  Suy luận này được GS Hoàng Xuân Hãn và Học Giả Trần Thanh Mại tán đồng. 
 HXH sinh năm 1772, gốc phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận, Thăng Long (Hà Nội).  Ngôi nhà HXH ngụ trông ra Hồ Tây nơi có đền Khán Xuân, là nơi Vua Lê, Chúa Trịnh thường du ngoạn thưởng Xuân. 
 
Thân phụ của HXH là ông Hồ Phi Diễn sinh 1703, mất 1786.  Năm 20 tuổi, ông đậu Tam Trường (Tú Tài, 1723).  Mẹ bà họ Hà ở Hải Dương, làm bé cho ông lúc đó ông đã gần 70.  Ông Hồ Phi Diễn người làng Quỳnh Lôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, một gia đình tiếng tăm và lâu đời ở đó. 
Hồ Quý Ly cũng xuất phát từ họ Hồ này.  Có chi đổi ra họ Nguyễn như Hồ Phi Phúc sinh ra Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, và Nguyễn Lữ.  Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, Hoàng Giáp Hồ Sĩ Ðống, và HXH, và Tú Tài Hồ Phi Hội đều thuộc đời thứ 12 (theo gia phả của Hồ Phi Tích, thư viện Hoàng Xuân Hãn, Paris 8). 
HXH học chữ nghĩa với cha.  Nàng rất thông minh và trí nhớ tốt.  Năm 13 tuổi đã làm thơ, và có biệt tài về thơ Nôm.  HXH rất dạn trai, tính hồn nhiên.  Bạn nàng là Dương Tri Tạn vịnh cái điếu bát (dùng hút thuốc lào) để tán tụng nàng:
 
 Eo lưng thắt đáy thật xinh xinh
Ðiếu ai hơn được điếu cô mình
Thoát châm, thoát bén duyên hương lửa
Càng núc, càng say nỗi tính tình
 
 Năm 1786, cha mất, thọ 84 và XH mới 14 tuổi.  Nàng tự học và dạy trẻ kiếm thêm.  Năm 18 tuổi, XH trổ mã rất xinh khiến Nguyễn Du Tố Như viết trong bài “Mộng Thấy Hái Sen” rằng “Hoa sen đẹp xinh xinh” và “Hoa sen ai cũng phải yêu”; “Nàng đến tự bao giờ?”  “Cách hoa nghe cười nói”. 
 
 Cổ Nguyệt Ðường
 
 Ðương thời, HXH giao du rộng rãi với những danh sĩ như Phạm Quí Thích (khắc và in thơ của Nguyễn Du)Phạm Ðình Hổ (tác giả Vũ Trung Tùy Bút),Nguyễn Huy Tự (Tác giả Hoa Tiên), Nguyễn Du, Mai Sơn Phủ, Tốn Phong, Cư Ðình, Trần Quang Tĩnh, và Trần Phúc Hiển, v.v.  Họ thường tụ lại chia xẻ thơ văn tại Cổ Nguyệt Ðường được dựng nên khoảng 1815.  Hậu thế chúng ta có thể xem đây là nơi bảo tồn và phát huy văn học Việt để trùng tu lại làm di tích để vinh danh HXH.
 Chữ Cổ và Nguyệt ghép lại thành chữ Hồ.  Cổ Nguyệt Ðường nhìn ra cảnh Hồ Tây trồng sen bát ngát hữu tình  là ngôi nhà của HXH dùng làm nơi gặp gỡ đông đủ những tao nhân mặc khách vào cuối thế kỷ 18.  Ðây chính là nơi có tổ chức thi thơ văn mà người đoạt giải quán quân là Trần Ngọc Quán.  Bài thơ như sau:
 
 Vào cắm Tao Ðàn một ngọn cờ
Ấy người thân đấy, phải hay chưa? 
Lắc đầy phong nguyệt, lưng bầu rượu
Giắt lỏng giang hồ, nửa túi thơ
Ðình Nguyệt góp người chung đỉnh lại
Trời Hoan mở mặt, nước non xưa
Bấy nay tài tử bao nhiêu tá?
Thèo đảnh khen ai khéo đặt cho 
 
Năm XH 35 tuổi, Tốn Phong vẫn còn làm nhiểu thơ có những câu ca tụng nàng như “Nét thanh xuân ấy, nghìn vàng cũng mua.” “Mười phần xuân sắc trời Nam”.  “Người Tiên rạng rỡ từ mây đến”.  “Như dáng cây mai xinh cốt cách, Mười phần xuân sắc rạng trời xanh”.  Bài thơ số 22, Tốn Phong tán dương HXH như sau: 
 
Tao Ðàn nay đã có thần
Gặp nàng đồng quận, bội phần hân hoan
Hỏi ra thật họ nhà quan
Ngắm dường tiên nữ thác thân xuống trần
Hoan Châu vốn tiếng đẹp thuần
Sao Khuê rạng rỡ mười phân vẹn toàn
Tình anh “Chín Chín Hồng Sơn”
Hoa Mai riêng chiếm trời xuân Ðế Thành
 
Chân Dung và Những Thẩm Ðịnh về Nữ Sĩ Họ Hồ
 
   Ðề tựa cho thi tập Lưu Hương Ký của HXH (phát hiện năm 1964), Tốn Phong viết:
 
 Tứ thơ dồi dào nhưng vẫn tỏ ra vui mà không buông tuồng; buồn mà không đau thương; khốn khổ mà không lo phiền; cùng mà không bức bách.  Thật là do tính tình nghiêm chỉnh mà ra.  Cho nên, khi hát lên, ngâm lên những lời thơ ấy, thì tay cứ muốn múa, châm cứ muốn dậm mà không tự biết.  Lưu Hương Ký tuy đầy vẻ gió, mây, trăng, móc, nhưng đều tự đáy lòng mà phát ra, biểu hiện thành lời nói, lại cũng đều đúng với cái ý trên kia là xuất phát từ mối tình mà biết dừng lại trên ân nghĩa. 
 
   Cũng trong Lời Tựa trên, Tốn Phong đã dẫn lời khen của Cư Ðình tặng XH: 
Cổ Nguyệt Ðường Xuân Hương học rộng mà thuần thục, dùng chữ ít mà đầy đủ, từ mới lạ mà đẹp đẽ, thơ đúng phép mà văn hoa.  Thức là một bậc tài nữ. 
 
   GS Hoàng Xuân Hãn nhận xét: 
 
Một người thẩm phán về mặt hình thức văn thái (Cư Ðình), một người xét về mặt ý tứ văn (Tốn Phong).  Cả hai lời phẩm bình đều đúng.  Riêng về mặt thơ Nôm, ta nhận thấy có kỹ thuật chắc, lời nghiêm nghị mà bóng bảy, từ thiết tha.  Nhưng thơ trữ tình mà không có gì lả lơi hay bỡn cợt, trái với hầu hết những thơ Nôm mà ta thường đọc trong các sách báo dưới mục “Thơ Hồ Xuân Hương”. 
Căn cứ vào tình ý và lời thơ chính thức của HXH trong Lưu Hương Ký và những lời nhận xét kể trên thì HXH là một người lúc trẻ có dung nhan đẹp, tính tình cởi mở, thích bỡn cợt trong mức độ, học thức rộng, có khiếu văn chương, giao thiệp rộng, và có tài sử dụng từ ngữ.  Chắc hẳn rằng trước khi những sưu tầm về HXH được phổ biến rộng rãi, một số người muốn kiếm tiếng tăm hay lợi lộc nên đã thêu dệt thêm nhiều hư thoại về bà. 
 
 Ðiểm Ðộc Ðáo Trong Thơ Hồ Xuân Hương 
Bàn về Thơ HXH, không thể không nói tới những nét thật độc đáo trong phẩm chất và trong thơ của bà.
Trước hết, nét thứ nhất phải nói đến là tư chất thông minh của bà thể hiện ở chỗ bà giỏi cả về chữ Hán lẫn chữ Nôm.  Tại sao?  Có thể dựa vào hai điều để chứng minh đề xuất này: (1) Bà ra đời mang huyết thống của một dòng dõi văn học (Hồ Quý Ky) và (2) Bà được sinh ra lúc Cụ đồ Diễn đã gần 70 tuổi: những người con sinh ra trong trường hợp cha muộn tuổi này thường rất sáng dạ, thông minh.
 
Nét thứ hai là thơ của bà toát ra ẩn ức (repression) của một người có tâm trạng bất đắc chí và không khép kín.  Rõ ràng bà là người có văn tài mà đường chồng con lại rất hẩm hiu, không được như ý muốn (mấy đời chồng gẫy đổ và không có con).  Có lẽ vì thế mà có một số người cho rằng thơ của bà mang tính “nổi loạn”, “cách mạng”, hay “khiêu dâm”.  Tâm trạng bất mãn này hẵn đã đưa tới khuynh hướng giễu người và giễu chính mình trong thơ văn của bà qua những câu thơ như: 
 
Ðền Sầm Nghi Ðống 
 
Ghé mắt trong ngang thấy bảng treo
Kìa Ðền Thái Thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu
 
Bánh Trôi Nước 
 
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bẩy nổi, ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
 
Chê Thi Sĩ Dởm 
 
Kheo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thơ
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa
 
 Nét thứ ba là bà yêu chuộng văn Nôm mặc dầu thời đó có câu “Nôm na là cha mách qué” và bà sử dụng chữ Nôm rất tinh tế và sắc xảo, ít người sánh kịp.  Hơn nữa, bà thường chọn những âm khó đọc (khổ độc) để hạ vần và rồi tạo thành những bài thơ rất tài tình và đầy thú vị trong đó ý thơ và tình thơ của bà trải ra như một bức họa mà nền của bức họa mang màu sắc đạo đức, tiếu lâm, hay châm biếm.  Tỉ dụ như vần “uông”
 
  Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông
Chúng bảo nhau rằng “ấy ái uông”
 
 Ðặc biệt là bà ưa tiếu lâm bằng cách mô tả cái tính giống của phái nữ bằng cách lấy những vật bình thường như con ốc nhồi, quả mít, cái hang, hay cái quạt v.v. để tạo thành một bài thơ có ý tục mà lời lại thanh.  Ðối với những người còn chưa có kinh nghiệm về “Hoa Dinh Cẩm Trận” (Love Battle, từ của nhà văn Hồ Hữu Tường đặt) thì đọc những bài thơ sau đây sẽ không thấy cái gì đáng đỏ mặt và ôm bụng cười cả. 
 
 Quả Mít 
 
Thân em như quả mít trên cây
Vỏ nó xù xì, múi nó dầy
Quân tử có yêu thì dóng cọc
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay 
 
Con Ốc 
 
Bác Mẹ sinh ra phận ốc nhồi
Ðêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi
Quân tử có thương thì bóc yếm
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi 
Tại sao bà thích loại tiếu lâm có tính khiêu dục này?
 
Có người cho rằng bà vốn lẳng lơ hay bị ám ảnh bởi đời sống sinh lý không được mãn nguyện.  Nhưng  tại sao không chỉ giản dị dựa vào văn phong tao nhã và sắc bén của bà thể hiện qua những bài thơ trữ tình nghiêm trang và dựa vào cái sở trường độc đáo dùng chữ tài tình của bà mà hiểu cho rằng: cũng tỉ như Vua Lê Thánh Tôn là người có cái thú làm thơ tả những nhân vật tầm thường như anh thợ cạo hay anh mõ làng thành những nhân vật anh hùng; hoặc cũng có thể tỉ như nhà văn nổi tiếng quá cố Lê Xuyên là người có cái thú tả dâm tình của nữ giới, nhưng cuộc đời của ông chứng tỏ ông đứng đắn và cương nghị.  HXH cũng thế, bà chỉ là người thích chọn những đề tài thật độc đáo mà nhiều người khoái nghe nhưng lại rất ít người có thể mô tả ra bằng những lời lẽ bình dị và dễ nghe.   Và, rất có thể là bà chỉ làm những câu thơ như thế để trổ tài hơn là có ý châm biếm hay giễu cợt ai.  Thế thôi.
Những Mảnh Ðời Chắp Nối Của Hồ Xuân Hương 
 
Tại sao HXH đã chịu phận làm lẽ với nhiều đời chồng và đều đứt gánh giữa đường?  
Cuộc đời của mỗi con người nói chung đều gắn liền với hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội, và tâm tính của đương sự. 
Hoàn cảnh gia đình và xã hội 
 
HXH sinh vào một gia đình vốn dòng văn học: một người anh họ của HXH đậu Hoàng Giáp, nên hẳn là HXH hưởng được di truyền về tính nết văn chương của dòng họ.  Nhưng gia cảnh của cha mẹ HXH lại lâm vào cảnh nghèo khó vì lúc đó đất nước ta đã và đang trải qua một thời kỳ hết sức loạn lạc, nhiễu nhương kể từ khi họ Mạc cướp ngôi Nhà Lê năm 1527, rồi Trịnh Nguyễn phân tranh, Tây Sơn khởi nghĩa, cùng với nạn bão lụt, mất mùa, quan lại nhũng lạm, giặc cướp nổi lên khắp nơi, thi cử bị bãi bỏ, cho mãi đến khi Gia Long lên ngôi (1802), đất nước mới tạm yên.  Chắc hẳn cuộc sống ở quê nhà khó khăn nên cha của HXH phải di dời ra Thăng Long dạy học kiếm sống.  
 
HXH sinh trưởng và lớn lên ở Thăng Long, đất kinh đô ngàn năm văn vật (con người và cảnh vật thanh tú).  Vì có hương sắc lại thêm có tài văn chương nên HXH càng khó kiếm chồng.  Vả lại, trong thời buổi loạn lạc, các khoa thi bị hoãn, nên cũng hiếm những chàng trai đồng lứa có danh phận để cưới HXH.  Cuối cùng, có lẽ cũng vì số mệnh của một con người vừa có tài lại có sắc, cái số mệnh nêu trong thuyết của Nhà Nho rằng: “hồng nhan đa truân” và “tài mệnh tương đố” mà Nguyễn Du đã viết lên ngay trong mấy câu mở đầu của cuốn Ðoạn Trường Tân Thanh hay Truyện Thúy Kiều rằng: 
 
Trăm năm trong cõi người ta
 
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau 
  Và nếu tin vào thuyết đó thì quả HXH cũng giống như Thúy Kiều:
 Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành (câu 2660)
 
(Nguyễn Du: Kiều)  
 
Vì không thể chờ đợi gặp được người vừa ý, HXH bắt buộc phải gá nghĩa với những ai có thể giúp nàng thoải mái về kinh tế để đỡ đần mẹ già, và có thì giờ giao lưu văn bút để thỏa tình thơ trong đó có những mảnh tình lãng mạn dành riêng cho một số tao nhân tri kỷ.
  Ai là những người được làm chồng HXH? 
 
Theo những truyện kể và dấu vết của các bài thơ thì có thể HXH có bốn đời chồng nhưng bà không để lại một bài thơ nói về những người chồng này trong tập Lưu Hương Ký mà chỉ thấy trong thơ truyền tụng, có lẽ vì các cuộc sống chung này đã không mang lại hạnh phúc gì cho XH.    
HXH lấy chồng lần thứ nhất trong khoảng 1794 – 98 lúc XH khoảng ngoài 22 tuổi.  Chuyện kể rằng người chồng thứ nhất là một thầy lang nên có bài:
 
 Bà Lang Khóc Chồng 
 
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì
Thương chồng nên khóc tỉ tì ti
Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo
Cay đắng chàng ơi vị quế chi
Thạch nhũ, trần bì sao để lại
Quy thân, liên nhục tẩm mang đi
Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ?
Sinh ký, chàng ơi, tử tắc quy 
 
Người chồng thứ nhì bà lấy trong khoảng từ 1802 đến 1806.  Lần này bà làm lẽ cho một vị chánh tổng tức là Tổng Cóc nên có bài thơ đề “Khóc Tổng Cóc”.  Hai người sống chung được ít lâu rồi chia tay.  Hiện nay ở Vĩnh Yên (Sơn Tây) vẫn còn từ đường của Chánh Tổng Cóc.  Trong thân phận làm lẽ, bà tất phải cảm thấy tủi buồn vì không xứng với tài sắc của bà và bài thơ “Làm Lẽ” đã được cấu trúc với những tình ý thật não nùng mô tả trọn vẹn tâm trạng chung của người vợ lẽ khiến ai đọc cũng phải cảm thương. 
 
Làm Lẽ 
 
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Năm thì mười họa, chăng hay chớ
Một tháng đôi lần, có cũng không
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công
Thân này ví biết dường này nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong 
 
Theo bài viết nhan đề “Tổng Cóc với Xuân Hương” của nhà thơ Nguyễn Phú Long (Richmond, VA) đăng trong Tạp Chí Cỏ Thơm số 26 (2004) thì tên thật của Tổng Cóc là Cốc.  Tên “Cóc” là do người dân Sơn Tây đặt cho ông để tỏ lòng kính phục ông đã có gan làm những việc phúc đức như vớt thây người chết trôi rồi mai táng lại.  Người đời có những câu như “Gan cóc tía” và “Con cóc là cậu ông Trời”.  Theo chuyện kể của Nguyễn Phú Long thì HXH lấy Tổng Cóc để có nơi nương tựa lúc gia đình gặp khó khăn.  Rồi vì bị vợ lớn ghen nên bà bỏ đi, trở lại Khán Xuân. Lập luận này có hợp lý không khi mà việc bỏ vợ, bỏ chồng vào thời đó cũng phải được luật lệ cho phép?  Bộ Luật Hồng Ðức tức Quốc Triều Hình Luật đời Vua Lê Thánh Tôn (1442- 1497) minh thị “Người vợ tự ý bỏ nhà chồng, dù là về với bố mẹ ruột, bị coi là phạm trọng tội”.   Vả lại, bà vốn có ăn học, dòng dõi, nên tuy thích bỡn cợt, nhưng không vì thế mà bỡn cợt cả với chồng.  Dù sao thì cũng có bài thơ mà không biết có phải của bà không?  
 
Khóc Tổng Cóc
 
 Chàng Cóc ơi!  Chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi 
 
 Người chồng thứ ba bà lấy trong khoảng 1810 – 1812.  Lần này bà lấy một quan Tri Phủ nên có bài “Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường”.  Theo GS Hoàng Xuân Hãn thì sự kiện này không có vì Phủ Vĩnh Tường mãi tới năm 1822 mới có tên.  Phủ đó mới đầu có tên là Tam Ðái rồi đổi thanh Tam Ða, rồi Vĩnh Tường.  Do đó, GS HXH kết luận bài thơ “Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường” không phải là của HXH.
 
Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường
 
 Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!
Cái nợ ba sinh đã trả rồi
Chôn chặt văn chương ba thước đất
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất?
Miệng túi càn khôn khép lại rồi!
Hăm bẩy tháng trời đà mấy chốc
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!
 
  Người chồng thứ tư là quan Hiệp Trấn Yên Quảng Trần Văn Hiển cưới bà làm thiếp vào khoảng năm 1816.  Trong giai đoạn này, HXH tham dự việc quan với chồng và bà có viết sáu bài thơ “Vịnh Ðồ Sơn Bát Cảnh” bằng chữ Hán.  Chẳng may, quan Trần Văn Hiển bị vu cáo đòi hối lộ và bị Vua Gia Long phê “Tham nhũng như thế mà không giết thì lấy gì khuyên liêm.”  Tháng Năm, 1819, Trần Văn Hiển bị tử hình.  Ðó cũng là giai đoạn Vua Gia Long luận tội nhiều công thần như Hữu Quân Nguyễn Văn Thành, Tả Quân Lê Văn Duyệt, Ðại Công Thần Lê Chất.
 
Sau lần gãy gánh này, HXH phải là rất đau khổ nên lánh tu ở Chùa Hoa Yên, núi Yên Tử.  Nhưng chắc HXH không có số tu nên được ít lâu, bà lại trở lại Khán Xuân, mở cửa Cổ Nguyệt Ðường tái giao lưu xướng họa với các bạn thơ mới và cũ như là để trả cái nghiệp thi văn mà bà còn nặng nợ.  Bà mất năm 1822, hưởng dương 51 tuổi, mộ chôn tại làng Nghi Tàm, Hồ Tây.  Thật là:
 
 Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần, phải phong trần
Cho thanh tao, mới được phần thanh tao 
Có đâu thiên vị người nào
Chữ tài, chữ mệnh dồi dào cả hai
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần
Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài
 
    (Nguyễn Du: Kiều, câu 3241 – 3252)
 
Chúng ta đã có một cái nhìn khái quát về chân dung và thân thế của nữ sĩ Hồ Xuân Hương: bà là một thi nhân vừa có hương sắc vừa có biệt tài về loại thơ Nôm dí dỏm mà Xuân Diệu, nhà thi sĩ hàng đầu của tình yêu, đã mệnh danh bà là “Bà Chúa của Thơ Nôm”, nhưng bất hạnh thay cho bà là số phận chồng con lại hẩm hiu khiến bà phải mở tung cửa trái tim đón nhận tình yêu của một số tri kỷ của bà qua thơ văn để thỏa mãn những khao khát tự nhiên của tâm hồn còn tràn đầy nhựa sống.
 Những Mảnh Tình Thơ của Hồ Xuân Hương 
Trước khi bàn về “Những Mảnh Tình Thơ của HXH”, xin hãy cùng nhau nhìn tổng quát xem trong cổ kim, đông tây, tình yêu (TY) đã được quan niệm như thế nào ngõ hầu có thêm ánh sáng soi rọi vào hoàn cảnh của nhà thơ nữ vừa đa tài vừa đa tình như HXH.
Không ai rõ loài người đã biết yêu đương từ bao giờ, nhưng có thể chắc chắn là tình yêu đã nẩy nở qua khúc nhạc ái ân trong đó Thần Tình Yêu Venus chỉ viết tặng cho phần dạo khúc (prelude) còn chính đôi tình nhân tự viết lấy lời ca (Lyric) cho cuộc đời mình.  Có thơ rằng: 
 
Tình Yêu đến từ vừng Thái Dương
Người yêu ơi đừng lạc bước quên đường
Thuyền ta đợi bến lâu rồi
Cùng lên dạo Khúc Ca Ðời
Kẻo ngày tháng trôi mau người ơi!
 
(Hải Bằng HDB) 
 
Từ những khúc nhạc ái ân, nhiều đóa hoa TY nẩy nở ra và chia thành hai loại chính: tình yêu  bao la và tình yêu hạn hẹp hay tình yêu vị tha và tình yêu vị kỷ.  Nhà thơ Lamartine của Pháp viết:
 
 Aimer pour être aimé, c’est de l’homme
Aimer pour aimer, c’est de l’ange
 
 Thế nhân yêu để được yêu
Thiên thần yêu với tình yêu vô thường 
 
Vâng, thế gian dễ gì có mấy người yêu chỉ để mà yêu?  Ngoại trừ một số nhỏ những tu sĩ đã hiến dâng trọn vẹn con tim cho Thiên Chúa hay cho Ðức Phật, còn phàm nhân mấy ai thoát khỏi lưới TY?
 
Trong loại TY bao la có TY thiên nhiên và TY đồng loại.  Trong loại TY hạn hẹp có TY quê hương gồm tổ quốc và nòi giống; TY gia đình gồm cha mẹ, vợ chồng, và con cái; TY nghệ thuật gồm văn, thơ, ca nhạc, và hội họa, và điêu khắc.   
 
Nhưng bản chất của TY là gì?  Bản chất của TY là sự say mê.  Không say mê, không có TY.  Tuy nhiên mức độ say mê tùy thuộc vào trình độ văn hóa và giáo dục của cá nhân.  Do đó có dạng TY thô lỗ và dạng TY thơ mộng.  Trong các dạng TY đó, TY lứa đôi (trai gái) có nội dung quan trọng nhất và  nhiều màu sắc nhất vì nó tạo những rung cảm tột độ chi phối suốt cả cuộc đời con người: 
 
Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm chưa dễ đã ai quên!
 
Nguyễn Công Trứ (1778- 1858), đồng thời với HXH, đã bẩy ba tuổi mà vẫn còn cưới nàng hầu và ngơ ngẩn vì tình.  Và đây đoạn trích trong một bài hát nói của tiên sinh:
 
Trẻ Tạo Hóa ngẩn ngơ lắm việc
Già Nguyệt Ông cắc cớ trêu nhau
Kìa những người mái tuyết đã phau phau
Run rẩy kẻ đào tơ còn mảnh mảnh
Tân nhân dục vấn lang niên kỷ
Ngũ thập niên tiền, nhị thập tam
[Cô dâu muốn hỏi tuổi chàng
Năm mươi năm trước ràng ràng hăm ba]
Càng tài tử càng nhiều tình trái
Cái sầu kia theo hình ấy tạo ra
Mua sầu lại kẻ hào hoa
 
Trong các thế hệ sau đó bắt đầu từ đầu thế kỷ thứ 20, TY càng được các tài tử và giai nhân tỏ lộ nhiều hơn.  Một TTKH vẫn không thể quên được Thâm Tâm, người yêu cũ:
 
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên
 
Nhưng điển hình vừa lãng mạn vừa nghĩa khí là thi sĩ bất khuất Vũ Hoàng Chương (VHC, 1915- 1976, Nam Ðịnh) là tác giả hai câu thơ biếm sau 30.4.75:
 
Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý 
Ðồng Khởi Vùng Lên mất Tự Do
 
(Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Công Lý, Ðồng Khởi, và Tự Do là những tên đường phố Saigòn mới và cũ).
 
Người yêu ban đầu của VHC là Tố Uyển lên xe hoa ngày 12.6.41 về nhà chồng làm quan Tri Huyện.   VHC như muốn chết cả đời người và đã làm bài thơ “Mười Hai Tháng Sáu” (1941) có những câu như:
 
Mười năm thôi thế mộng tan tành
Mười năm trăng cũ ai nguyền ước
Tố của Hoàng ơi, Tố của anh!
Tháng Sáu, Mười Hai từ đây nhé
Chung đôi – từ đây nhé lìa đôi
Em xa lạ quá đâu còn phải
Tố của Hoàng xưa, Tố của tôi!
 
VHC, chàng thi nhân bị lỡ chuyến đò tình, đã tưởng tượng ra rằng Tố Uyển rất đau khổ vì bị ép duyên và sống không hạnh phúc.  Nhưng 31 năm sau, tình cờ VHC được bà GS PhạmThị Nhung cho biết: Tố Uyển đã không bị ép duyên.  GS Nhung nói với VHC: “Bà Tố không phải là người tham đó, bỏ đăng.  Bà Tố đã chờ đợi trong hai năm mà gia đình ông không tới hỏi.  Hai bên thật sự cũng chưa có hẹn ước gì, bà Tố lấy quyền gì, lấy tư cách gì để mà chờ đợi?  Nên sau phải nghe lời cha mẹ mà lấy chồng …” (Cỏ Thơm số 39, Hè 2007, tr. 56).
 
Với một số tán luận về tình yêu nêu trên tưởng cũng tạm đủ để soi rọi cho thấy rằng TY trai gái quả là một cái gì thật kỳ diệu, bền bỉ như sức hút của nam châm, nóng bỏng như lửa rừng,  mãnh liệt như nguồn thác, và cũng phẳng lặng như mặt nước hồ thu, hay rạng rỡ như bình minh mới ló dạng. Và, thật sự chưa một ai có thể đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về TY nhưng có thể nói rằng: có bao nhiêu trái tim yêu thì có bấy nhiêu định nghĩa của TY và con người sẽ chết nếu không còn tình yêu.
 
Ðời chưa dứt Ngọn Lửa Tình
Ta còn phải viết chuyện mình thầm yêu
Hoa nào không rủ bướm?
Bướm nào chẳng quyến hoa?
Dù mảnh tình thoáng qua
Cũng cho đời hương lạ
Làm ngây ngất hồn ta
Chẳng bao giờ xóa nhòa
 
(Hải Bằng.HDB: Hương Yêu)
 
   Và, không mấy người yêu thơ mà không biết bốn câu sau của nhà thơ tình Xuân Diệu:
 
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu
 
HXH đã giữ hình ảnh của những ai trong trái tim tình của mình?
 
Trước hết phải nói rằng XH có một tâm hồn lãng mạn với một ý chí vững vàng.  Tại sao vậy?  – Bởi vì XH đẹp, lại có tâm hồn văn chương, và được giáo dục tốt.  Người nào có tâm hồn văn chương mà không lãng mạn cũng như người nào có tâm hồn ăn uống mà lại nhịn ăn?  Tưởng cũng nên để ý rằng vào cuối thế kỷ thứ 18, cái không khí lãng mạn trong thi văn đã tỏa ra từ nhiều tác phẩm thơ Nôm lục bát như Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự (1743- 1790) mô tả truyện tình giữa Lương Sinh và Giao Tiên, cả hai đều xuất thân từ quí tộc, cùng trải qua một cuộc tranh đấu giữa tình cảm và lý trí, giữa tình yêu tự do thoải mái và khuôn khổ lễ giáo khắt khe.   Hay, truyện Phan Trần, thơ Nôm lục bát, khuyết danh (hai họ Phan – Trần, đời Tống, thế kỷ 11) mô tả một chuyện tình rất say đắm, ngọt ngào, và tự nguyện yêu nhau của một đôi trai tài, gái sắc diễn ra từ một ngôi chùa.  Lời văn viết rất lãng mạn đến nỗi người ta có câu: “Ðàn ông chớ kề Phan Trần; đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều.”  Xin trích dẫn một đoạn đối đáp giữa Ni Cô Diệu Thường (Trần Kiều Liên) và Phan Tất Chính lúc chàng đang khuya lẻn tìm đến chốn ni cô ngỏ lời van xin tỏ tình với nàng. 
 
Họ Phan van xin:
Người ở trong đó có thương người ở ngoài này chăng?  Nhờ có lời thăm hỏi khiến vãn sinh khỏi bệnh [tương tư] nên đánh bạo đến đây tạ lòng.  Nàng đã có lòng thương hỉ xả bao dong cho, nỡ nào để vãn sinh chịu gió sương lạnh lùng ở ngoài này!
 
Diệu Thường kinh ngạc đáp:
Ở đây tai vách mạch rừng, lại giữa lúc đêm hôm khuya khoắt, xin người chớ có nhiều lời.  Tiểu ni đã quyết giữ trọng một bề rồi, người có lòng thương, tiểu ni cũng đội ơn, mà người có trách thì tiểu nhi cũng đành chịu.  Rút dây chẳng sợ động rừng hay sao mà người dám làm những chuyện lố lăng như vậy để cho miệng thế cười chê?  Thôi, thôi, tiểu ni van lạy người hãy bỏ qua đi và trở về nghỉ ngơi tĩnh dưỡng kẻo bệnh tình tái phát thì nguy hiểm biết chừng nào.
 Những lời văn ướt át như trên hiện vẫn còn tồn tại trong những vở tuồng cải lương có đệm theo với sáu câu vọng cổ thật là mùi.   Cho nên, tâm hồn của XH không thể không chịu ảnh hưởng của loại văn chương lãng mạn của thời đại và quả XH đã yêu và đã không chỉ yêu có một người, vì mỗi thời điểm, mỗi hoàn cảnh đưa đẩy, XH lại tìm thấy những rung động mới của con tim chưa bị hoàn toàn chiếm hữu bởi một ý trung nhân nào và XH luôn luôn còn tự do để mà giăng mắc, vẫn trong vòng lễ giáo, với những người hiểu nàng, biết giá trị của nàng, và trên hết, thành thực có tình yêu với nàng, ít nhất là về mặt văn bút.
 Người yêu thuở ban đầu của XH là ai?       
 Người đó là Nguyễn Du (ND) tự là Tố Như, mặc dầu lúc đó Nguyễn Du, 25 tuổi, đã có vợ (nghe lời anh lập gia đình vào năm 1786 và về ở bên vợ họ Ðoàn ở để có chỗ tạm nương thân, và rồi được đề bạt làm Chánh Thủ Hiệu tại Thái Nguyên, thời Chúa Trịnh) còn XH đang độ xuân-thì phơi phới 18 tuổi xanh.  Trong khoảng 1790 – 1793, hai người đã “yêu vì nết, trọng vì tài” và chỉ tỏ tình với nhau qua thơ văn mà thôi. 
Chắc vì nhà XH ở ven Hồ Tây và thường ngày XH xuống hái sen, nên ND mới làm bài “Mộng Thấy Hái Sen” kín đáo tỏ tình với XH bằng những câu như: “Hoa sen đẹp xinh xinh” và “Hoa sen ai cũng phải yêu”, “Nàng đến tự bao giờ?  Cách hoa chỉ thấy tiếng cười” và “Hái sen chớ đụng ngó.  Năm sau hoa chẳng sinh”.
Những lời tán tụng phát xuất tự con tim của chàng như thế làm sao trái tim yêu còn trinh nguyên của nàng không khỏi rung động bồi hồi?   Ðấy là những dấu ấn của tình yêu thật khó phai.  Thật là:
 Trong cảnh Hồ Tây, trời thơ hôm đó
Ðóa sen nào?
Rung cánh trước hơi thở của tình yêu?
(Hải Bằng.HDB)
   Tình yêu ban đầu của XH dành cho Tố Như được nàng thố lộ trong 14 bài gửi cho ND còn ND gửi cho XH 6 bài (theo biên khảo của TS Phạm Trọng Chánh) và mối tình này có lẽ kéo dài khoảng ba năm (1790- 1793).  Ðây là một vài câu đối đáp giữa Tố Như và Xuân Hương:
 ND viết: “Tây Hồ cảnh đã hoang vu”
XH đáp: “Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa” (phải chăng XH muốn nói nàng vẫn yêu ND?)  
Rồi XH xác quyết thêm: “Cây có vầng xanh tỏ tấm lòng” [Ô, thật say sưa quá!]
ND đáp: “Một vầng trăng sáng tỏ tình ta” [Ô, thật mê ly quá!]
 Nguyễn Du Tố Như tiên sinh có một bài thơ chữ Hán tựa đề là “Ðộc Tiểu Thanh Ký Cảm Tác”. 
 
Theo lời kể lại của Tịnh Thủy Tôn Thất Tùng lúc qua Hàng Châu, Trung Quốc vào năm 1986, ngoạn cảnh Tây Hồ, ông được một người Tàu gốc Việt tên là Quách Hán cho coi bức tranh có bài thơ “Ðộc Tiểu Thanh Ký Cảm Tác” (ÐTTKCT) của Nguyễn Du làm lúc Nguyễn Du đi sứ năm 1813.  Tố Như tiên sinh đã đọc truyện viết về nàng Tiểu Thanh dưới đời Vua Hiển Tông, Nhà Minh (1472).  Tiểu Thanh là một người con gái có sắc đẹp lại giỏi văn thơ, nhưng lấy phải một người đã có vợ rất ghen tương.  Bà này đối xử với Tiểu Thanh rất tàn tệ khiến nàng phải dọn ra ven Tây Hồ sống trong một túp lều tranh.  Một ngày kia, người ta thấy túp lều bốc lửa, Tiểu Thanh bị chết cháy, và trong đống tro còn một số văn thơ của nàng.  Một văn nhân nghe chuyện bắt lòng thương cảm mà viết thành truyện.  Nguyễn Du tìm đọc được cốt truyện đó đem động lòng trắc ẩn mà cảm tác ra bài thơ nói trên được nhà thơ Vũ Tam Tập dịch như sau:
 
 Ðộc Tiểu Thanh Ký (Cảm Tác)
 
 Hồ Tây cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn
Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?
 
(Nguyễn Du, 1813, Hàng Châu, TQ)
 
  Nguyễn Du làm bài này để khóc cho Tiểu Thanh thì là hẳn rồi.  Nhưng duyên phận hẩm hiu của Tiểu Thanh thì giống với Xuân Hương.  Như vậy, qua hình ảnh của Tiểu Thanh, Nguyễn Du có thể làm bài này cũng là để khóc cho cả XH nữa chăng?  Tôi nghĩ: là một người vốn nòi tình (như Chu Mạnh Trinh tự thú rất say mê Thúy Kiều), và vốn rất đặm tình với XH, Nguyễn Du không thể chỉ cảm thương riêng với Tiểu Thanh, hay với Thúy Kiều. 
 
 Mặt khác, cũng qua bài “Ðộc Tiểu Thanh Ký Cảm Tác” này lại nẩy sanh thêm một điểm tranh cãi mới do nhà thơ Diệu Tần nêu ra trong bài “Ðọc Hồ Xuân Hương: Nàng Là Ai” (đăng trong Xuân Thu Hè 2202, tr. 10.  Theo Tiến Sĩ (Khoa Giáo Dục, Sorbone, Paris) Phạm Trọng Chánh (tiếp nối GS Hoàng Xuân Hãn để hoàn thành cuốn Hồ Xuân Hương Toàn Tập) thì hai chữ Tố Như trong bài thơ ÐTTKCT không là tên tự (tên chữ Nho) của Nguyễn Du mà chỉ là một từ ngữ thông thường chỉ một người đẹp và vì thế TS P.T.Chánh đã chỉ viết hai chữ tố như với chữ thường (không hoa).  Ngược lại, nhà thơ Diệu Tần thì khẳng định Tố Như là tên tự của Nguyễn Du.  Ngoài ra, ông Diệu Tần cũng nêu lên thắc mắc: hai câu trong ÐTTKCT: “Bất tri tam bách dư niên hậu – Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa – và Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như – Người đời ai khóc tố như chăng?”, không rõ là hai câu “khẩu chiếm” (nói lúc sắp qua đời) của ND hay là ở trong ÐTTKCT?  Theo lời kể của ông Tôn Thất Tùng vừa nêu trên thì có lẽ thắc mắc này đã được giải quyết.  (Xin gõ vào Google: Ðộc Tiểu Thanh Ký sẽ thấy tài liệu.)
 
 Theo tôi, Tố Như đúng là tên tự của Nguyễn Du.  Trong thời Nho Giáo, con trai sinh trong dòng danh gia, vọng tộc (xuất thân văn học) còn ở tuổi vị quan (19 trở xuống) thì chỉ có tên tục hay húy do cha mẹ đặt cho.  Khi người con tới tuổi nhược quan, nghĩa là coi như quan (20 tuổi), thì gia đình làm lễ “Gia Quan” tức là lễ đội “Mão” (quan ) cho cậu ta, coi như từ nay cậu là quan, quan trong nhà, và cậu ta được tự chọn một tên mới gọi là tên tự (chữ Nho) đặt sau tên húy để tỏ tâm chí của mình.  Ðó là do cái lệ chỉ làm quan mới có mão vua ban, còn làm lính hay thường dân thì đội nón thôi.  (Lính thú ngày xưa: Ngang lưng thì thắt bao vàng; đầu đội nón dứa vai mang súng dài). 
 
Cũng kể từ đó, bạn hữu, gia nhân sẽ không lấy tên tục của cậu ta để gọi nữa mà dùng tên tự.  Nhưng, riêng cậu ta lại chỉ dùng tên tục để xưng hô chứ không dùng tên tự.  Ngoài ra cậu còn chọn một tên nữa gọi là tên hiệu (bút hiệu) nếu cậu có viết lách.  Trong trường hợp này, nhà thơ Diệu Tần cũng nêu một tỉ dụ về lề lối giao tiếp ngày xưa là: trong Tam Quốc Chí, Lưu Huyền Ðức khi xưng hô, chỉ nói “Bị này …”, vì Bị là húy của ông ta.  Nguyễn Du chọn tên hiệu là Thanh Hiên.  Tên hiệu đặt trước họ; tên tự đặt sau họ: Thanh Hiên Nguyễn Tố Như. 
Trở lại với HXH, Nguyễn Tố Như đã có tình thơ văn rất thân mật với nàng.  Nhưng rồi mọi sự ở đời đều phải trôi qua, song chắc chắn rằng dù thời gian có phôi phai, những kỷ niệm của Ngày Xanh sẽ chẳng bao giờ xóa nhòa trong tâm trí của đôi kẻ yêu nhau, bởi vì:
 
 Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm chưa dễ đã ai quên (Xuân Diệu?)
Và,
Người yêu thuở ban đầu khó quên
Người yêu đến như vừng Thái Dương
Người yêu ơi đừng lạc bước quên đường
Thuyền em đậu bến lâu rồi
Mời lên dạo khúc ca Ðời
Kẻo ngày tháng trôi mau người ơi!
 
(Hải Bằng.HDB: Hương Yêu, tr. 41)
 
 Người tình thơ thứ nhì của XH là Mai Sơn Phủ trong khoảng 1799 đến 1801.  
 Sau khi mối tình thơ với ND đã tạm lắng xuống, XH giao duyên thi phú đậm đà với Mai Sơn Phủ, lúc đó còn là một thư sinh chưa có danh phận gì, nhưng nổi tiếng thi văn.  Trong Lưu Hương Ký, XH đã lưu lại nhiều bài nhất trao cho chàng họ Mai này.  Nhưng, duyên nợ của Hồ – Mai chưa có nên vào khoảng năm 1801, chàng từ biệt XH về thăm quê ở Hoan Châu rồi từ đó tin nhạn vắng tanh, khiến XH lòng buồn khôn xiết.  Ðây là bài XH họa bài thơ của Mai Sơn Phủ trong Lưu Hương Ký nhắc lại một chút kỷ niệm đã cùng ngắm hoa và mặn nồng bên nhau:
 
 Họa Sơn Phủ Chi Tác
 
Này đoạn chung tình biết mấy nhau
Tiễn đưa ba bước cũng nên câu
Trên tay khép mở tanh chiều nhạn
Trước mặt đi về gấp bóng câu
Nước mắt trên hoa là lối cũ
Mùi hương trong nệm tỏa đêm thâu
Vắng nhau mới biết tình nhau lắm
Này đoạn chung tình biết mấy nhau
 
            Và đây là một đoạn trích trong bài “Nói Rõ Ý Trình Bạn Mai Sơn Phủ”:
 
Chàng có lòng
Ta cũng có lòng
Trong hồn mộng quyến luyến nhau dưới bóng liễu
Thơ ta cùng ngâm
Trăng ta cùng thưởng
Từ lúc buồn chia tay chàng
Ai là người chỉ ấm nửa thân?
Chớ gẩy đàn ly biệt mà oán bạn tri âm
Hãy cất chiếc đàn đi
Và hiểu thầm nhau trong lúc cao sơn lưu thủy
Ðừng buồn hận mà than cho nỗi xưa nay
 
 Mối tình thứ ba của nàng là mối giao lưu văn bút rất đậm đà với Tốn Phong từ năm 1807. 
 
Ðây là giai đoạn Vua Gia Long  đã ổn định chủ quyền trên toàn quốc nên có nhiều xuất hiện thêm nhiều nhân vật danh phận, chức tước như Tốn Phong, Trần Quang Tĩnh, Trần Ngọc Quán, và Trần Phúc Hiển lui tới Cổ Nguyệt Ðường của XH làm cho Tao Ðàn mỗi ngày một thêm nhộn nhịp. 
Trường hợp nào Tốn Phong gặp XH?  Xin hãy đọc đoạn văn trích trong “Bài Tựa Tập Thơ Lưu Hương Ký” của Tốn Phong:
 
 Mùa Xuân năm Ðinh Mão [1807] tôi đến Thành Thăng Long [thi Hương bị rớt].  Nhân cùng bạn là Cư Ðình nói chuyện vế các tài tử xưa nay, bạn ấy nói cho tôi biết cùng tỉnh với tôi có người phụ nữ là Cổ Nguyệt Ðường Xuân Hương, học rộng mà thuần thục, dùng chữ ít mà đầy đủ, từ mới lạ mà đẹp đẽ, thơ đúng phép mà văn hoa, thực là một bậc tài nữ.
 
   Tôi liền tìm tới hỏi thăm.  Khi hỏi đến tên họ mới biết cô ta là em một ông lớn họ Hồ, đậu Hoàng Giáp, người làng Hoàn Hậu, Huyện Huỳnh Lưu.  Chúng tôi mới tình cờ gặp nhau lần đầu, mà đã thành ra đôi bạn thân thiết.  Trong những khi uống rượu ngâm thơ, kẻ xướng người họa, tứ thơ dồi dào, nhưng vẫn tỏ ra vui mà không buông tuồng, buồn mà không đau thương, khốn mà không lo phiền, cùng mà không bức bách. 
Từ đó, có những lúc tôi phải bôn ba vào Nam ra Bắc, không thể cùng nhau sớm hôm xướng họa.  Còn Xuân Hương thì cũng vì mẹ già, nhà túng mà ăn ở không yên ổn. 
Sang mùa Xuân Giáp Tuất [1814, lại rớt thi Hương] tôi tìm tới chỗ ở cũ của cô, hai bên vừa mừng, vừa tủi.  Xuân Hương liền cầm tập Lưu Hương Ký đưa cho tôi xem mà bảo tôi rằng: “Ðây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước tới nay, nhờ anh làm cho bài tựa.”  Tôi mở tập ấy ra xem thì thấy những bài thơ năm chữ, bẩy chữ, những điệu ca, phú và từ chép đầy một quyển.  Thoạt đầu tôi hết sức kinh ngạc lạ lùng, rồi dần dần càng đọc càng thấy lòng thư thái mà trở nên vui thích khoái trá. …
   Sau đó, XH còn giăng mắc tình thơ thân mật với Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tỉnh (1808) và Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán (1815). 
Cả hai mối tình có lẽ đã đến sau mối tình của quan Tham Hiệp Trần Phúc Hiển cưới nàng về làm thiếp vào năm 1816 và đưa XH về ngụ ở vùng Vịnh Hạ Long.
Ðây là một trong năm bài thơ vịnh cảnh Hạ Long ghi trong Lưu Hương Ký, lời thơ rất trong sáng và trang nhã.
 
Qua Vùng Hoa Phong
 
Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong
Ðá đụng bờ son mọc giữa dòng
Dáng nước lần theo chân núi chuyển
Mình lèn lên để lối duềnh thông
Cá rồng ẩn nấp hơi thu nhạt
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc
Ðâu nào là chốn Thủy Tinh Cung?
        (GS Hoàng Xuân Hãn dịch)
 
Sau khi Trần Phúc Hiển bị xử tử hình thì XH quá sầu đau bỏ lên Chùa Hoa Yên ít lâu cho khuây khỏa rồi lại trở về Cổ Nguyệt Ðường để ôn lại những chuỗi ngày đầy kỷ niệm vui buồn lẫn lộn.  Hồi ức cuộc đời mình nhiều buồn tủi thương đau hơn là hạnh phúc đã khiến cho XH sớm từ giã cõi đời vào lúc mới 51 tuổi. 
Năm 1842, Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, theo anh là Vua Thiệu Trị ra Thăng Long tiếp sứ Tầu, có làm 14 bài thơ tứ tuyệt liên hoàn lúc viếng cảnh Hồ Tây trong đó có đoạn việt về mộ của HXH như sau:
 
 Ðầy hồ rực rỡ hoa sen
Sai người xuống hái để lên cúng dường
Chớ trèo qua mộ Xuân Hương
Suối vàng còn giận tơ vương lỡ làng
Son tàn, phấn rữa, mồ hoang 
Xuân Hương đã khuất bên hàng cỏ xanh
U hồn say tít làm thinh
Gió Xuân mấy độ vô tình không hay
(GS Hoàng Xuân Hãn dịch)
 
HXH sinh ra và lớn lên bên đầm sen ở ven Hồ Tây và thường ra đó hái sen.  Khi qua đời, mộ bà được chôn cất cũng bên cạnh đầm sen.  Cuộc đời của bà như đã gắn liền với hoa sen.  Bà là Ðóa Sen Chúa và có một cái gì rất gần gũi với bốn câu ca dao:
 
Trong đầm gì đẹp bằng sen?
Là xanh, bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
 
Tóm Lược Một Bài Viết về Thơ Hồ Xuân Hương
Dưới đây là nguyên văn của Huy Phong và Yến Anh viết trong Sự Hiện Diện của Dâm Thơ trong Dòng Văn Học Việt Nam:
Thật ra, nếu cứ gọi hết thẩy là văn chương tráo phúng đề cập ít nhiều đến cái “giống” hay chuyện ái ân đều là dâm thư thì có lẽ vấn đề đầu tiên là phải tách bạch phân chia các tác giả dùng nghệ thuật này để chọc cười đọc giả [HP và YA viết “đọc” chứ không phải : độc”] làm hai loại khác nhau.
 
1 . Thứ nhất là những người lấy cái “giống” và khai thác những chuyện chung quanh đó như thứ đề tài tích cực để gây cười trực tiếp, trắng trợn.  …
2 . Thứ hai là những nghệ sĩ mô tả những hình ảnh chung quanh cái “giống” như một thứ cảnh tượng nửa hư nửa thực, nửa rõ nét, nửa chập chờn, nửa sống sượng, nửa bâng quơ; một loại màu sắc bóng bẩy; một câu chuyện vui nhẹ nhàng; một đề tài vừa bởn cợt, vừa xây dựng. …
Ðứng trên phương diện lịch sử văn học mà xét – và nếu có một cuộc trưng cầu ý kiến, hay thăm dò dư luận – để bầu tác giả, thuộc khuynh hướng thứ hai nói trên, có tài chọc cười thiên hạ bằng những bài thơ “tục” một cách thanh tao tài tình nhất, một cách phong nhã vui nhộn nhất, chắc chắn người được giải quán quân sẽ không ai khác hơn là Hồ Xuân Hương (? – ?), tác giả chọc cười một cách … tục  nhứt trong văn học Việt Nam.
  Huy Phong và Yến Anh nêu lên hai thắc mắc:
 
(1) “Hồ Xuân Hương là thi sĩ hay đó chỉ là tên gọi tập thể, một tên chung của người làm thơ, và trong đó có hơn một người đã làm nên thơ Hồ Xuân Hương nhứt định không phải là  … đàn bà?!”  
(2) “Thơ Hồ Xuân Hương đã bắt đầu xuất hiện từ thời nào?  Nó hiện diện như một thứ ca dao được nhơn gian truyền miệng kể cho nhau nghe từ đời này sang đời khác hay chỉ mới có từ thế kỷ thứ XVIII như một số nhà văn học sử hiện đại đã chủ trương?”
 Rồi Huy Phong và Yến Anh kết: “Nói chung, đề tài chánh của các bài thơ ký tên Hồ Xuân Hương là số phận của những người đàn bà sống đời ngoại biên, bị xã hội nông nghiệp cổ truyền bỏ quên, nếu không nói là ruồng rẫy, nên đã không thiếu người dễ dãi cho rằng Hồ Xuân Hương là một phụ nữ đa tài, đa tình, và đa … dâm!”
 
Ai dựng thi đàn Cổ Nguyệt Ðường?
Ấy Hồ nữ sĩ hiệu Xuân Hương
Ái ân trận chiến đầy trào lộng
Xướng họa giao lưu thật vấn vương
Ngạo nghễ tài hoa Con Tạo ghét
Khiêm nhường chí cả thế nhân thương
Văn chương dí dỏm người cầu học
Bà Chúa thơ Nôm vốn sở trường

CHÂN DUNG HỒ XUÂN HƯƠNG- HUYỀN THOẠI VÀ SỰ THỰC

Sách
GIAI NHÂN DI MẶC;
Hồ Xuân Hương
(In tại Hà Nội thời Pháp thuộc)
 
Người ta nói nhiều về
Hồ Xuân Hương
Nhưng người đó là ai
Thật mỉa mai
Không ai biết rõ
Như có như không như không như có
Nàng ở làng Quỳnh
Nàng lại ở phường Khán Xuân
Mờ mờ tỏ tỏ… “

(Hồ Xuân Hương – người đó là ai?).
 
Mấy câu thơ ngắn của Hoàng Trung Thông ít nhiều gợi cho người đọc thấy được cái mơ hồ  huyền thoại của một nhà thơ nữ  hiếm hoi trong làng thơ Việt Nam mà xưa nay từ dân dã đến trí thức chẳng mấy ai không biết. Người ta thuộc thơ Hồ Xuân Hương, thuộc nằm lòng những bài thơ ngâm vịnh về đủ mọi thứ trên đời; giọng thơ tinh nghịch, đùa cợt pha chút mỉa mai thế  tục – ấy vậy mà Hồ Xuân Hương sinh trưởng ở đâu? vào thời nào? cuộc đời của Hồ Xuân Hương ra sao, đã trải qua những nỗi bất hạnh nào để nên thơ? … thì đến nay người ta chưa xác định được. Đã có không biết bao nhiêu biện thuyết, bao nhiêu sách báo của bao nhiêu nhà nghiên cứu văn học, bao nhiêu tác giả trong nước: từ Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến (1)đến Dương Quảng Hàm, Hoa Bằng, Trần Văn Giáp, Nguyễn Triệu Luật, Trương Tửu, Xuân Diệu, Trần Bích Lan, Lê Xuân Giáo, Ngô Lãng Vân, Nguyễn Đức Quyền, Trần Thanh Mại, Kiều Thu Hoạch, Lê Trí Viễn… và gần đây như Nguyễn Lộc, Hoàng Xuân Hãn, Bùi Hạnh Cẩn, Đào Thái Tôn, Lữ Huy Nguyên, Hoàng Bích Ngọc… đến những người nước ngoài như Antony Landes(2), Maurice Durand(3) , John Balaban (4) … cũng đã bàn luận nhiều về thân thế, sự nghiệp văn chương của nữ sĩ họ Hồ này – và đáng buồn thay: các ý kiến này khác nhau thậm chí mâu thuẫn nhau. Sở dĩ vậy là vì bên cạnh những học giả, những nhà văn bản học Hán-Nôm chuyên nghiên cứu các tàng bản từ thế kỉ trước với tinh thần nghiêm túc, cẩn trọng (5) lại cũng có một số người viết chưa đủ tầm hoặc chưa có được những bằng chứng xác đáng, thường suy diễn theo cảm nhận chủ quan, võ đoán.
Tìm hiểu cuộc đời nữ sĩ Hồ Xuân Hương, trước hết, Dương Quảng Hàm trong Việt văn giáo khoa thư  năm 1940 cho rằng “Hồ Xuân Hương là con gái ông Hồ Phi Diễn người làng Quỳnh Ðôi, huyện Quỳnh Lưu, xứ Nghệ An”. Cụ đồ Diễn đậu tú tài năm 24 tuổi; ra Hải Dương dạy học. Tại đây cụ lấy lẽ  một cô gái họ Hà ở Bắc Ninh. Hồ Xuân Hương là con của cụ đồ Diễn và người vợ thứ này. Lúc này cụ đồ Diễn đã chuyển về sống tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận (gần Hồ Tây – Hà Nội bây giờ). Về sau, gia đình lại chuyển về thôn Tiên Thị, Tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương (nay là phố Lý Quốc Sư). Tại đây, Hồ Xuân Hương có một ngôi nhà riêng dựng gần hồ Tây, lấy tên là Cổ Nguyệt đường (6).
 
Đó chỉ là mới nói về nơi sinh trưởng và phụ mẫu còn thời gian sáng tác của Hồ Xuân Hương lại cũng tồn tại nhiều nghi vấn. Việc xác định được thời gian này là cần thiết vì thơ Hồ Xuân Hương là bằng chứng sống, khẳng định được sự lên ngôi của chữ Nôm trong văn học nước nhà. Chữ Nôm tuy đã xuất hiện từ bao nhiêu thế kỉ trước: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Thánh Tông đã có thơ nôm … nhưng phải đến Hồ Quý Ly và đặc biệt là đến đời Nguyễn Tây Sơn, nó mới thực sự có ngôi thứ rõ ràng, không còn “nôm na là cha mách qué” nữa, nó đã là thứ văn tự được luật pháp quy định dùng trong văn bản hành chính. Đến Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương thì văn chương chữ Nôm đã đạt đến trình độ điêu luyện, các tác phẩm chữ Nôm hay hơn hẳn những thơ văn Hán-Việt ở các đời trước cũng như cùng thời. Thơ Nôm lại có sức sống mạnh mẽ hơn thơ Hán-Việt vì phạm vi phổ biến rộng hơn; tác phẩm không chỉ gói gọn trong tầng lớp “sĩ” nữa mà trải rộng ra tất cả: những người nông dân chân lấm tay bùn, những thợ thuyền, những con hầu vú em… đều có thể đọc Kiều, thuộc thơ Hồ Xuân Hương. Vậy Hồ Xuân Hương có gốc gác họ tộc ở đâu? sinh trưởng trong khoảng thời gian nào?
 
Hồ Phi Tiến căn cứ các gia phả của họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An cho rằng kể từ Hồ Hồng là người khai cơ lập nên họ Hồ ở Quỳnh Đôi thì đến Hồ Phi Phúc là đời thứ 11. Hồ Phi Phúc (đổi họ Nguyễn) sinh Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ.
Cũng đời thứ 11 này : Hồ Phi Diễn sinh Hồ Xuân Hương. Vậy nếu xem Hồ Hồng là thủy tổ (đời thứ nhất) ở Quỳnh Đôi thì đến Hồ Xuân Hương là thuộc đời thứ 12; Quang Trung-Nguyễn Huệ cũng thuộc đời thứ 12. (Hồ Xuân Hương và Nguyễn Huệ cùng chung ông tổ 5 đời là Hồ Thế Anh) (8) .
Về năm sinh năm mất: nhiều tài liệu cho rằng Hồ Xuân Hương sinh năm 1772, mất năm 1822. Vậy nhưng căn cứ vào: Xuân đường đàm thoại của Tam nguyên Trần Bích San (9) thì Hồ Xuân Hương lại sinh vào đầu triều Nguyễn và mất  vào năm 1869(10) . Điều này khiến ta băn khoăn không ít  bởi vì trongThương sơn thi tập của Nguyễn Phúc Miên Thẩm – tức Tùng Thiên vương có bài Long biên trúc chi từ  được viết năm  1842 khi Tùng Thiên vương hộ giá vua Thiệu Trị ra Bắc tiếp sứ thần nhà Thanh, có tới viếng mộ Hồ Xuân Hương cạnh hồ Tây (11). Căn cứ bài thơ này có thể khẳng định Hồ Xuân Hương đã qua đời từ lâu trước 1842.
Vì những phức tạp trên, hôm nay về thời gian sinh trưởng của Hồ Xuân Hương, nhiều tài liệu chỉ xác định mơ hồ trong một khoảng thời gian khá rộng: cuối Lê-đầu Nguyễn, cùng thời với Nguyễn Du (1765-1820) (12). Suy cho cùng: có lẽ  vì những định kiến khắt khe của cộng đồng xã hội xưa, Hồ Xuân Hương vốn dĩ đã bị người đời đương thời xem là phóng túng, lại là phận nữ nhi nên tác phẩm cũng như thân thế của Bà đã không được các nho sĩ trân trọng ghi chép cẩn thận như nhiều văn-thi sĩ khác. Cũng như thơ, những cuộc tình duyên của Hồ Xuân Hương đầy sóng gió với biết bao huyền thoại: Hồ Xuân Hương đã từng chung sống với những ai? Để trả lời câu hỏi này, các nhà nghiên cứu chủ yếu luận đoán qua văn thơ. Gần đây nhờ gia phả họ tộc của Xuân Hương ở Quỳnh Đôi cùng những ghi chép những bậc cao niên vùng Tứ xã ở Phú Thọ là nơi Bà đã từng sống một thời vàng son với Tổng Cóc, những đồn đoán lệch lạc từ trước mới được cải chính…(13)
Trước hết hãy nói đến Tổng Cóc  – Tên gợi nên cảm nhận về người – Nghe tên, người ta tưởng tượng ra dung mạo một người xấu xí về hình vóc, thô bỉ về nhân cách. “Cóc” lại thêm có chữTổng ở trước : khiến người ta nghĩ đây hẳn là một tên cường hào ác bá ! Thật vậy, Nguyễn Hữu Tiến trong Giai nhân di mặc, đã cho là “lúc trẻ Xuân Hương bị mẹ ép phải lấy cường hào Tổng Cóc. Tổng Cóc đã dốt nát lại có tính ăn chơi bạt mạng, sau một lần đánh bạc thua nhẵn túi, gia sản khánh kiệt đã  tiếc của mà chết. Xuân Hương bèn làm bài thơ nổi tiếng “Khóc Tổng Cóc” lời lẽ trào phúng; bởi đối với ông chồng không xứng ý này nàng chẳng có chút cảm tình nào…”
 
Thật oan cho Tổng Cóc. Nỗi oan này thật ra đã bắt nguồn từ chính bài thơ Khóc Tổng Cóc của Hồ Xuân Hương:
Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi;
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé.
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi!
 
Bài thơ tài tình lắm trong câu chữ (cóc, bén (nhái), nòng nọc,chuộc (chẫu chuộc), bôi vôi…” ) nhưng đã để lại cho đời biết bao võ đoán. Cả trăm năm trước bài thơ đã bị nhiều người hiểu lệch; trước hết, đề bài thơ gợi cho người đọc nghĩ đến việc vợ khóc chồng vừa quá cố. Sự thực đâu phải vậy! Gs. Lê Trí Viễn có phân tích và cho rằng bài thơ vừa  bộc lộ đau xót vừa thể hiện một sự tiếc rẻ, thậm chí một sự ân hận nếu không là hờn oán. Có vẻ như một bài thơ giận người bỏ đi. Thương cho mình hơn là khóc cho người. Bài thơ không ra lời tang mà là lời tự thương tự tiếc, không giận người mà chỉ tủi cho mình.
 
Cụ Dương Văn Thâm (14) làm rõ vấn đề hơn khi cho biết: dân làng Mương, làng Gáp biết thừa bài thơ “Khóc Tổng Cóc” của Hồ Xuân Hương chỉ là “khóc” cho mối tình đã qua chứ đâu phải khóc chồng vừa mất, bởi vì ai lại khóc chồng mà đi giễu nhau như là “cóc, nòng nọc, nhái bén, chẫu chuộc…”  chả hóa ra là bạc ác độc địa lắm sao? Quả đúng như vậy; nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn (15) trong “Phóng sự điền dã”căn cứ vào cuộc trò chuyện với các cụ cao niên của làng Gáp xưa (nay là Tứ xã, Lâm Thao, Phú Thọ) (16)cho biết: Tổng Cóc là người làng Gáp. Theo lệ xưa, sợ khó nuôi, người ta thường chọn cho trẻ những tên thật xấu xí … Mặc dầu gia đình thuộc dòng dõi văn chương, Phó tổng Nguyễn Bình Kình (tự là Nguyễn Công Hòa), lúc bé đã có tên là “Cóc”. Tổng Cóc là con nhà gia thế (cháu của Nguyễn Quang Thành; đỗ Tiến-sĩ năm 1680, đời vua Lê Hi Tông) (17), hay chữ, lại giỏi võ nghệ, vẫn thường xướng họa với Xuân Hương chớ không phải dốt nát như người ta lầm tưởng. Giàu nghệ sĩ tính, cảm mến tài thơ văn, Tổng Cóc đã lấy lẽ Xuân Hương … và có thể Xuân Hương nhan sắc nên Tổng Cóc đã hết lòng chiều chuộng. Theo cụ Dương Văn Thâm: hơn 200 năm trước, đất đai, ao hồ nhà Tổng Cóc trải từ đầu đến cuối làng Gáp. Chiều ý thích của Xuân Hương, Tổng Cóc đã cho đắp một gò đất nổi giữa hồ, xây nhà thủy tạ có cầu bắc qua dành làm nơi nữ sĩ nghỉ ngơi, lấy cảm hứng làm thơ và dạy học; chung quanh hồ trồng toàn liễu, giữa hồ thả sen, nuôi cá…Tương truyền, vườn cây bên hồ, Tổng Cóc dành một sào đất, riêng trồng chanh cho Hồ Xuân Hương gội đầu. Dân làng kể, tóc bà Hồ Xuân Hương đen óng, dài chấm đất, mỗi khi gội, cuộn đầy một chậu, nên phải dùng nhiều chanh mới đủ(18).
 
Xuân Hương dù có một thời gian lúc bé sống ở quê nhưng đã sớm theo cha lên kinh thành. Giỏi văn chương lại là nữ lưu ở chốn kinh đô, tính cách của Xuân Hương mâu thuẫn trầm trọng với lối sống và định kiến của cộng đồng làng quê lam lũ. Xuân Hương có nhiều mối bất hòa với người trong gia đình Tổng Cóc. Cuộc tình nhiều trắc trở. Tổng Cóc bỏ nhà ra đi. Khi trở về, Xuân Hương lại cũng đã bỏ đi… và đã trở thành vợ lẽ của Tri phủ Vĩnh Tường. Bài thơ “Khóc Tổng Cóc” được Xuân Hương làm trong thời gian này là để khóc cho một cuộc tình đã chết . Một cuộc tình buồn!  (19)
 
  Người chồng thứ hai được người đời truyền tụng là Ông Phủ Vĩnh Tường. Xuất phát từ bài thơ “Khóc ông Phủ Vĩnh Tường”nhiều giả thuyết đã tồn tại với nhiều lí giải khác nhau. Theo Ngô Lãng Vân: sau khi góa Tổng Cóc, Xuân Hương mở quán bên đường làm kế sinh nhai. Nhiều khách văn chương tìm đến xin xướng họa rất nhiều, trong số có một đồ sinh đỗ Giải nguyên sau nhiều lần xướng họa, rất phục tài Xuân Hương cưới làm vợ lẽ, sau này thành ông Phủ Vĩnh-Tường.
Hoàng Xuân Hãn cũng có  đề cập đến một người tên là Phạm Viết Đại (Hoàng Xuân Hãn đã ghi nhầm là “Phạm Viết Đạt”) được người ta cho là Tri phủ Vĩnh Tường, chồng của Xuân Hương nhưng ông không tin lắm vào tính xác thực của thơ Nôm truyền tụng và cho rằng bài “Khóc ông Phủ Vĩnh Tường quyết không phải của Xuân Hương và Xuân Hương không phải có chồng là Tri phủ Vĩnh Tường…” (20).
 
Về Phạm Viết Đại: Phương Tri (Tạp chí Văn Học, số 3/1974) cho biết ông Trần Tường dựa vào gia phả Trà-lũ xã và lời kể qua kí ức của các cụ già làng Trà Lũ đã phát hiện ra ông Phủ Vĩnh-tường tên là Phạm Viết Đại sinh năm 1802, đỗ Cử-nhân năm 1842; năm 1862 được thăng chức Đồng Tri phủ Vĩnh-tường.  Nhiều giai thoại và thơ xướng họa giữa Phạm Viết Đại với Xuân Hương cũng được các cụ già trong làng Trà Lũ kể và đọc lại theo trí nhớ. Ông Trần Tường nhận thấy nhiều bài thơ vịnh cảnh của Xuân Hương trùng hợp với những nơi mà Phạm Viết Đại đã từng làm quan. Tuy vậy, nếu cho rằng Phạm viết Đại là Tri phủ Vĩnh Tường và bài thơ khóc Tri Phủ Vĩnh Tường là khóc Phạm Viết Đại thì không đúng vì theo sách Nữ Lưu của Lê Dư thì nữ sĩ Xuân Hương góa chồng lần cuối rồi mất sau chồng vài năm; nghĩa là sau khi Phạm Viết Đại mất vào năm 1862 thì Xuân Hương mất vào khoảng năm 1864. Điều này là sai với căn cứ của Thương sơn thi tập (Miên Thẩm) vốn được xem là tác phẩm là có nguồn gốc chứng cứ lịch sử rõ rệt. Căn cứ Thương sơn thi tập:  Xuân Hương phải mất trước năm  1842. Điều này chỉ có thể chấp nhận được với Trần Bích San khi cho rằng Hồ Xuân Hương mất năm 1869.
 
Không công nhận Tri phủ Vĩnh Tường, Hoàng Xuân Hãn căn cứLưu Hương ký, Tục Hoàng Việt thi tuyểnvà Đại Nam thực lục cho rằng Hồ Xuân Hương có chồng là Trần Phúc Hiển làm quan Tri phủ Tam Đái; năm 1813 Phúc Hiển được thăng  từ Tri phủ Tam-Đái lên chức Tham Hiệp trấn Yên Quảng; cưới Xuân Hương làm lẽ được khoảng một năm thì quan Tham hiệp bị tử hình năm 1818 (21).
 
Năm 1973, Hồng Liên Lê Xuân Giáo dịch Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực. Căn cứ tác phẩm này, Lê Xuân Giáo cho rằng tài nữ được nhắc đến trong Quốc sử di biên chính là Hồ Xuân Hương nhưng lại cho rằng Trần Phúc Hiển là người chồng thứ ba (sau Tổng Cóc, Tri phủ Vĩnh Tường) .
Ngoài các đời chồng trên, Xuân Hương còn nhiều bạn văn chương với bao tình quyến luyến được ghi chép lại trong thơ. Người có nhiều thơ xướng họa là Chiêu Hổ. Nhiều nhà nghiên cứu (Trần Thanh Mại, Văn Tân, Nguyễn Triệu Luật …) vẫn cho rằng Chiêu Hổ là Phạm Đình Hổ (1768-1839; tác giả Vũ Trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục ) cùng với Nguyễn Án và Xuân Hương đương thời mệnh danh là “Tam tài tử”. Tuy vậy Chiêu Hổ chắc chắn không thể là Phạm Đình Hổ được vì một lí do rất đơn giản là qua các bài thơ xướng họa với Xuân Hương Chiêu Hổ tỏ ra rất sành sỏi và rất thích thơ nôm, trong khi Phạm Đình Hổ ngay trong phần “Tự thuật” trong Vũ trung tùy bút đã tự nhận là “chữ Nôm ta không thể hiểu hết được”(22).  Tác giả của Vũ Trung tùy bút không thích chữ Nôm; vậy không thể là Chiêu Hổ.
 
Chiêu Hổ là ai? đến nay chưa thể xác định.
 
Ngoài Chiêu Hổ, căn cứ Lưu hương ký, Hồ Xuân Hương còn nhiều bạn tình khác như Nguyễn Hầu, Trần Hầu (Hiệp trấn Sơn Nam Thượng-Trần Ngọc Quán(?), Hiệp trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh, Tốn Phong, Mai Sơn Phủ, Thạch Đình, Cự Đình, Thanh Liên, Chí Hiên… Trong số những bạn văn chương có tình cảm đậm đà đáng lưu ý nhất là Nguyễn Du. Lưu Hương Ký  có bài “Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu (Hầu: Nghi Xuân, Tiên Ðiền nhân)”. Với tước hiệu, tên người, gốc gác nêu ở đề bài thơ thì ta có thể chắc chắn đây là bài thơ bày tỏ tình cảm với Nguyễn Du, với nhiều câu thơ nồng nàn tình cảm:
 
Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung, 
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ  tình chốc đã ba năm vẹn, 
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập, 
Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết còn mảy chút sương siu mấy, 
Lầu Nguyệt năm canh chiếc bóng chong.
 
Căn cứ nội dung, bài thơ có lẽ đã được Xuân Hương viết năm 1813, năm Nguyễn Du được thăng Cần Chánh học sĩ sung Chánh sứ sang cống nhà Thanh, đi qua Thăng Long và gặp lại Xuân Hương.
 
Ngoài Nguyễn Du, những bạn văn chương khác cũng là những người tình rất đỗi gắn bó, thiết tha với Xuân Hương; ví dụ Mai Sơn Phủ được nói đến ở bài thơ “Họa Sơn Phủ chi tác” (họa thơ Sơn Phủ):
 
Này đoạn chung tình biết mấy nhau,
Tiễn đưa ba bước cũng nên câu.
Trên tay khép mở tanh chiều nhạn,
Trước mặt đi về gấp bóng câu.
Nước mắt trên hoa là lối cũ.
Mùi hương trong nệm cả đêm thâu.
Vắng nhau mới biết tình nhau lắm,
Này đoạn chung tình biết mấy nhau.
 
Riêng với Tốn Phong là người tình thân thiết với Xuân Hương nhiều năm và cũng là người viết bài tựa choLưu Hương ký: tình Xuân Hương tỏ ra rất đậm đà với người đã từng thề nguyền hẹn ước:
 
Kiếp này chẳng gặp nữa thì liều,
Những chắc trăm năm há bấy nhiêu.
Nghĩ lại huống đau cho phận bạc,
Nói ra thêm nhẹ với thân bèo.
Chén thề thủa nọ tay còn dính,
Món tóc thời xưa cánh vẫn đeo.
Được lứa tài tình cho xứng đáng,
Nghìn non muôn nước cũng tìm theo.
 
(Hoạ Tốn Phong nguyên vận).
 
Sau khi chia tay với Tổng Cóc, trong nhiều năm Xuân Hương đã quen biết nhiều văn nhân, tài tử. Cuộc đời, cuộc tình của Hồ Xuân Hương, nữ sĩ độc đáo trong nền văn học nước ta mịt mờ là thế. Việc xác định bằng một số sách sử của triều Nguyễn cũng khó khăn vì những quyển như Đại Nam thực lục chỉ chuyên chú ghi việc của chính quyền còn những chi tiết thuộc văn chương lại ghi rất sơ sài. Chỉ có cách là căn cứ vào một số sách bàn về văn thơ như Đại Nam đối thi,  Hoàng Việt thi tuyển, Quốc âm thi tuyển (23) và các bài thơ truyền tụng đựợc cho là của bà chép trong nhiều tàng bản nôm (24). Việc tuyển chọn, xác minh những bài thơ Nôm này không đơn giản chút nào vì qua nhiều năm tháng, sao đi chép lại, nhiều bài đã có nhiều dị bản và nhiều mạo tác. Riêng gần đây có Lưu Hương ký là một tập thơ được Trần Thanh Mại phát hiện, giới thiệu trong bài “Bản Lưu Hương ký và lai lịch phát hiện của nó” trên tạp chí Văn học số 11 năm 1964. Mới đây, trên Giadinh.net.vn , trang Văn hóa ngày 01/9/2008, Nguyễn Thắng viết theo tư liệu của TS Nguyễn Xuân Diện – Phó Giám đốc Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm như sau:
 
“…GS Hoàng Xuân Hãn kể lại: “Khi tìm kiếm tài liệu về Hồ Xuân Hương, tôi lục trong các báo ở Việt Nam, từ năm 1954 trở đi có chừng 7 – 8 báo văn học có nói đến Hồ Xuân Hương, nhưng cũng chỉ bâng quơ chuyện thơ Hồ Xuân Hương tục hay không tục, chứ không đả động đến đời sống của bà. Duy chỉ có ông Trần Thanh Mại tình cờ đọc những sách của trường Viễn Đông Bác Cổ để lại có bài tựa sách của một người ký tên là Nham Giác Tốn Phong. Bài tựa đó nói đến một cuốn sách tên là Lưu Hương ký của Hồ Xuân Hương. Sau bài tựa ấy có những bài thơ của ông Tốn Phong tặng Hồ Xuân Hương. Ông Trần Thanh Mại mới nghĩ rằng nếu tìm được Lưu Hương ký sẽ biết thêm về Hồ Xuân Hương. Chuyện này vào khoảng 1963, ông Trần Thanh Mại đã kể lại trong Tạp chí Văn học. Sau đó, ông Trần Thanh Mại loan báo muốn tìm cuốn Lưu Hương ký và ông nhận được lá thư của một cử nhân (không rõ tên) thông báo đã gửi biếu cuốn Lưu Hương ký cách thời điểm đó 8 -9 năm. Từ lúc ấy, ông Trần Thanh Mại mới bắt đầu khảo cứu Lưu Hương ký.
 
Trong Tạp chí Văn học (Hà Nội), năm 1964, ông Trần Thanh Mại mới giới thiệu và dịch 16 bài trong số 52 bài. Sau đó miền Bắc bước vào chiến tranh chống Mỹ nên bẵng đi một thời gian rất dài, không ai trở lại vấn đề Hồ Xuân Hương và không ai mở lại Lưu Hương ký mà đọc nữa”.
Năm 1988, GS Tạ Trọng Hiệp, trong một chuyến công tác ở Hà Nội, đã được GS Hoàng Xuân Hãn uỷ thác việc xin chụp lại hoặc chép lại Lưu Hương ký. Khi GS Hiệp đến Viện Văn học là nơi có chức năng bảo tồn bản Lưu Hương ký quý báu đó thì không tìm ra. Các chuyên gia về văn học cổ Việt Nam đều cho biết cuốn ấy đã mất rồi. Được biết, sau khi ông Trần Thanh Mại mất, người kế tục công tác nghiên cứu Hồ Xuân Hương, lại là người giữ công việc gần như quản thủ thư viện sách Hán Nôm của Viện Văn học, ông Hồ Tuấn Niệm, đã đem theo trong ba lô cuốn Lưu Hương ký trong những năm sơ tán tránh bom Mỹ mà không để lại Hà Nội một bản chụp nào cả. Ông Niệm đã mất và tập Lưu Hương ký cũng biến mất theo (…)
 
Sau khi không tìm được Lưu Hương ký ở Viện Văn học, GS Tạ Trọng Hiệp quay sang Viện Hán Nôm. Viện này có chức năng – do sắc lệnh của Hội đồng Chính phủ ghi rất rõ khi sáng lập – là hễ có phát hiện những tư liệu quan trọng về cổ văn, cổ sử thì Viện Hán Nôm phải có một bản chụp hay bản sao. Cuốn Du Hương Tích động ký mà Trần Thanh Mại đọc được và lần ra đầu mối Lưu Hương ký chính là một bản thảo mang ký hiệu A.2814 lưu tại Viện Hán Nôm. Trong bản thảo đó, ngoài bài ký còn chép 31 bài thơ chữ Hán của một người có tên là Tốn Phong. Khi GS Hiệp xin chụp lại Lưu Hương ký thì Viện Hán Nôm đưa Du Hương Tích động ký ra vì cứ tưởng rằng đây chính là Lưu Hương ký của Viện Văn học. Chính vì thế họ mới không chụp lại Lưu Hương ký của Viện Văn học.
Theo GS Tạ Trọng Hiệp: “Chỉ còn một hy vọng nhỏ là có một người duy nhất ở Hà Nội may ra còn giữ được bản chép tay toàn bộ 52 bài thơ trong Lưu Hương ký, đó là ông Đào Thái Tôn – một tác giả cũng viết về Hồ Xuân Hương. Trong cuốn Thơ Hồ Xuân Hương của Nguyễn Lộc có nói rằng Đào Thái Tôn là người đã được giao cho đọc tậpLưu Hương ký và đã dịch trọn vẹn 52 bài. Hy vọng ông Đào Thái Tôn có chép bản chữ Hán và bản Nôm để dùng và kiểm tra bản dịch của ông. Trong đợt về Việt Nam công tác, tôi cũng có yêu cầu được gặp ông Đào Thái Tôn, nhưng không may ông lại đi công tác. Nếu ông Tôn không giữ được bản chép tay Lưu Hương ký thì đây là một tổn thất không thể nào cứu vãn được…”.
 
Vậy là nay bản gốc Lưu Hương Ký do Trần Thanh Mại tìm được
năm 1964 không còn. Một lần nữa chính bản tác phẩm của Hồ Xuân Hương lại chìm vào tăm tối.
Ngoài những mịt mờ trên, còn một nghi vấn lớn bởi một điều rất lạ : thơ Hồ Xuân Hương chia ra hai mảng riêng biệt với phong cách rất khác nhau.
Mảng thứ nhất là thơ Nôm truyền tụng. Vì là truyền tụng nên tính xác thực không cao lại có nhiều mạo tác. Hoàng Xuân Hãn trong Thiên tình sử Hồ Xuân Hương đã tỏ thái độ có phần gay gắt khi viết về thơ cùng những giai thoại về Hồ Xuân Hương trong các sách, tạp chí khoảng đầu thế kỉ XX như sau : “…Vác chuyện vui và các thơ nhảm được nhắc lại, thêm vào. Rồi chính phần thơ nôm sâu sắc, đứng đắn mất dần vì không được truyền bá…”  (25).
 
Xét về nội dung thì nhiều bài thơ nôm truyền tụng bị một số người coi là “tục” thế nhưng rồi họ cũng phải công nhận là nó hết sức độc đáo vì diễn đạt được những ý thơ rất tinh tế, gần với suy tưởng của quần chúng lao động và đậm chất ca dao. Lời thơ thể hiện nghệ thuật cực kì điêu luyện, bộc lộ một thái độ ngổ ngáo của một phụ nữ phản kháng những định kiến, thói tục vô lí của xã hội thời phong kiến. Tác giả đã vận dụng hết sức tài tình cái tục thường thấy trong truyện cười để đả kích những gì tưởng chừng như rất ghê gớm, những gì luôn được trọng vọng được tôn vinh trong xã hội xưa. Chẳng hạn sau khi một lời hai ý tả rất sống động, rất hay Đèo Ba Dội với những lời thật dí dỏm, bình dân như  cửa son đỏ loét, tùm hum nóc – bờ đá xanh rì lún phún rêu..” bài thơ lại kết lại thật thần tình bằng một cảm nhận đánh trúng ngay vào cái tầm thường-thế tục của  “hiền nhân quân tử … ai mà chẳng – mỏi gối chồn chân cũng muốn trèo” . Rồi như bài Vịnh cái quạt : sau khi kể lể những điều mà ngay cả những người nghiêm túc nhất cũng phải bật cười  “…chành ra ba góc, da còn thiếu – khép lại đôi bên, thịt vẫn thừa…”  Xuân Hương lại cho chính những thứ xem ra rất “tục” ấy làm “mát mặt anh hùng” và “che đầu quân tử” . Thật tài tình và táo bạo hết sức và  chính sự tài tình, táo bạo trong nghệ thuật thơ thuần Việt ấy đã nói lên những gì rất đúng, rất đáng nói trong cuộc sống bao đời tăm tối của nông thôn xưa – những điều mà người phụ nữ từ ngàn đời rất muốn nhưng chẳng khi nào  dám nói. Lí do này khiến dễ hiểu tại sao thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương lại được đại đa số quần chúng – đặc biệt là người lao động nghèo, người nông dân chân lấm tay bùn thán phục, tôn vinh.
 
Sau những bài thơ nghịch ngợm đến xuất thần ấy là Lưu hương ký với 52 bài thơ (24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm) mới phát hiện năm 1964. Điều đáng ngạc nhiên là nội dung của các bài thơ sau này dù vẫn rất trữ tình nhưng lại khá nghiêm trang. Sự sai biệt này gợi lên một câu hỏi lớn: Thơ Nôm truyền tụng Lưu Hương Ký có phải thuộc cùng một tác giả hay không? Nếu cùng một tác giả thì tại sao lại chuyển đổi phong cách thơ lạ lùng đến vậy? Thơ Nôm truyền tụng của Xuân Hương tinh nghịch, ngổ ngáo, thể hiện một thiên tài nghệ thuật Việt Nam có một không hai vậy mà đến Lưu Hương ký thì nghệ thuật lại trở nên rất đỗi bình thường và nếu có hay chăng thì cũng chỉ là hay ở tâm trạng chua chát, bi thương và sự nhịp nhàng cân đối trong điển tích, câu chữ như nhiều nhà thơ đời trước…hoặc cùng thời như Bà Huyện Thanh Quan chẳng hạn…
 
Đọc Lưu Hương Ký rồi so lại với thơ Nôm truyền tụng, người đọc ít nhiều thấy thất vọng với một thiên thần thơ Nôm gãy cánh, không còn tìm đâu thấy hương vị của một Hồ Xuân Hương ngày cũ.
Xem kĩ thêm chút nữa: thơ Nôm truyền tụng không hề đả động đến những người bạn văn chương vốn đã quen biết lâu như Tốn Phong, Trần Hầu, Nguyễn Hầu, Mai Sơn Phủ, Thạch Đình, Cự Đình, Thanh Liên, Chí Hiên…và ngược lại, tìm trong Lưu Hương Ký, người đọc lại không hề thấy có một câu, một chữ nào nhắc đến Tổng Cóc, ông Phủ Vĩnh-tường hay Chiêu Hổ.
Không biết đã có điều gì khuất tất?
———————————————————————————
CHÚ THÍCH:
(1) Nguyễn Hữu Tiến, bút hiệu: Đông Châu, là nhà Nho có thực học phụ trách chuyên mục “Tồn cổ lục” của Nam Phong tạp chí. Mục này chuyên khảo về văn thơ cổ.
(2) Người Pháp sống ở Việt Nam vào thế kỉ 19, đã sưu tầm biên soạn nhiều truyện dân gian và thơ Nôm Việt Nam rồi dịch ra tiếng Pháp;
(3) Người Pháp làm việc tại Viện Viễn Đông bác cổ Pháp (1947-1957), tác giả cuốn L’œuvre de la poétesse Vietnamienne Hồ Xuân Hương (Paris, 1968)
(4) Giáo sư văn chương Anh của trường đại học Carolina, người đã 4 lần đoạt giải thưởng Lamont của Viện Hàn lâm các Thi sĩ Mỹ, người thông thạo chữ Nôm, yêu thích và đã dịch thơ Hồ Xuân Hương ra tiếng Anh. (Khánh Ngọc, John Balaban – Người giới thiệu Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du ra thế giới “; laodong.com.vn ; Lao Động Xuân 2007.)
Lý Lan (Thơ Hồ Xuân Hương đến với độc giả Mỹ – http://www.bacbaphi.com.vn) đã viết về tập thơ The Poetry of Hồ Xuân Hương như sau: “…Tập thơ gồm 48 bài thơ của Hồ Xuân Hương, mỗi bài được trình bày trang trọng dưới ba hình thức: bản tiếng Nôm, bản tiếng Việt, và bản tiếng Anh. ( … ) . Đọc đi đọc lại những bài thơ Hồ Xuân Hương bằng tiếng Anh, tôi càng cảm động và khâm phục nỗ lực của John Balaban; và càng nhận ra chữ nghĩa Hồ Xuân Hương không ai theo kịp suốt chiều dài thời gian mà cũng không có ai tương đương trong bình diện không gian…”
* Theo Thông tấn xã Việt Nam, Nhà văn Rumani Conxtantin Lupêanu vừa xuất bản tuyển tập gồm 64 bài thơ của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương do chính ông tổng hợp và biên dịch. Tuyển thơ dày 150 trang được in song ngữ tiếng Việt-Rumani, trong đó nhiều bài có thêm ký họa, minh họa và phần diễn giải ý nghĩa. Một số bài được dịch và gieo vần theo niêm luật của thơ Rumani.
(5) Gs. Kiều Thu Hoạch: Thơ Nôm Xuân Hương từ cách nhìn văn bản học.
(6) “cổ”古 ghép với “ nguyệt”月  thành chữ “ hồ” 胡;
(7) Hồ Tông thế phả  do Hồ Sĩ Dương soạn – các hậu duệ chép bổ sung; Hồ gia thực lục-bản chi thế thứ tục biên của tú tài Hồ Phi Hội (1802-1875; người cùng thế hệ với Hồ Xuân Hương, Nguyễn Huệ); Ghi chép của Án sát Hồ Trọng Toàn (1801-1864); Hồ Quỳnh gia phổ của chi Hồ Phi Tích; Phả ký tộc Trung chi II họ Hồ Quỳnh Đôi (ghi phả hệ họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu Nghệ An từ đời ông tổ đầu tiên là trạng nguyên Hồ Hưng Dật sống vào thế kỷ thứ 10, sau đó có một khoảng thời gian 300 năm, tộc phả này bị thất truyền rồi lại tiếp tục được chép từ năm 1314 khi ông Hồ Kha từ Quỳ Trạch (Yên Thành) về Quỳnh Đôi xem địa thế và giao cho con là Hồ Hồng ở lại khai cơ lập nên làng Quỳnh Đôi. (http://www.informatik.uni-leipzig.de và http://www.vietnamgiapha.com )
(8) Cố giáo sư Trần Thanh Mại trên Tạp chí Văn học số 10 năm 1964 tuy cũng đồng ý Hồ Xuân Hương có nguyên quán tại Quỳnh Ðôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An nhưng lại cho rằng  song thân của bà là Hồ Sĩ Danh và một người thiếp quê ở Hải Dương. Hồ Xuân Hương thơ và đời (Lê Xuân Sơn) cũng cho rằng Hồ Xuân Hương tên thật là Hồ Phi Mai con ông Hồ sĩ Danh (1706-1783) và là em cùng cha khác mẹ với Hồ Sĩ Đống (1738-1786) là một vị quan đầu triều thời chúa Trịnh.
(9) Trần Tường phát hiện và công bố trên Tạp chí Văn Học, số 3/1974, dưới nhan đề “Một số tư liệu mới tìm thấy về Hồ Xuân Hương“. 
(10)  …Xuân đường đàm thoại kể lại rằng: vào một ngày trong dịp tết lập xuân cuối mùa đông năm Kỷ Tỵ, niên hiệu Tự Đức thứ 22 (1869), trong một bữa tiệc rượu ở vùng Bắc Ninh cũ, có một người đến muộn. Hỏi ra, mới hay rằng ông ta vừa đi mai táng “Nghệ An tài nữ, hiệu Cổ Nguyệt Đường,  tự Xuân Hương” về! Thế là bên chiếu rượu, các “tao nhân mặc khách” cùng nhau phẩm bình về tài năng phẩm hạnh của người đã khuất. Mỗi người tỏ một thái độ khác nhau: người mừng rỡ là Hùng Lĩnh Xuân Mai; người buồn thương là Hoa Đường Ngọc Như. Cả hai đều ngâm vịnh, tưởng nhớ Xuân Hương theo cảm xúc của mình! Người ta còn nhận ra một người xem ra có vẻ điềm tĩnh hơn, ấy là người đi mai táng Xuân Hương, họ Hứa, tiểu hiệu là Ngô Ban. Ngô Ban “nghiêng cạn mấy chén uống ngay rồi ha ha cười, nói”. Theo ông ta, việc mai táng người tài nữ kia là “một việc đáng cười mà cũng đáng than”, chính ông và vài người đầy tớ đã chôn cất “nàng” ở cạnh núi Nguyệt Hằng, phủ Từ Sơn, huyện Đức Giang (thuộc Bắc Ninh cũ)…” (Đào Thái Tôn; Thơ Hồ Xuân Hương – Từ cội nguồn vào thế tục; trang 66. NXB Giáo Dục, 1996).
 
(11) 龍編竹之詞
並頭蓮花開滿池
花奴折去恭神裨
莫向春香墳上過
泉臺有恨錯牽絲
墜粉殘肢土一塋
春香歸去草青青
幽魂到氐今如醉
幾度春風吹不醒
 
Long Biên trúc chi từ:
 
Tịnh đầu liên hoa khai mãn trì,
Hoa nô chiết khứ cung thần ti.
Mạc hướng Xuân Hương phần thượng quá,
Tuyền đài hữu hận thác khiên ti.
Trụy phấn tàn chi thổ nhất doanh,
Xuân Hương qui khứ, thảo thanh thanh !
U hồn đáo để kim như tuý,
Kỷ độ xuân phong xuy bất tinh 
 
Hoàng Xuân Hãn dịch thơ:
 
Đầy hồ rực rỡ hoa sen;
Sai người xuống hái để lên cúng dàng.
Chớ trèo qua mộ Xuân Hương;
Suối vàng còn giận tơ vương lỡ làng.
Sen tàn, phấn rữa mồ hoang;
Xuân Hương đã khuất bên đàng cỏ xanh.
U hồn say tít làm thinh.
Gió xuân mấy độ thổi tình không hay
(12) Sách giáo khoa hiện hành không nêu được thời gian sống của Hồ Xuân Hương mà chỉ nêu năm sinh, năm mất của Hồ Phi Diễn (1704-?) và Hồ Sĩ Danh (1706-1793); một trong hai người nghi vấn là thân sinh của Hồ Xuân Hương.
(13) Báo điện tử  Phú Thọ ngày 09/2/2006 và 26/06/2008:
Ngôi nhà Tổng Cóc, nơi Hồ Xuân Hương đã sống và đề thơ, hiện giờ ông Kiều Phú đang ở (Sơn Dương, Lâm Thao, Phú Thọ).
 
“…Tổng Cóc quen cha con Hồ Xuân Hương khi cùng đi thi Hương. Chằng hiểu cơ duyên thế nào, cụ Đồ đầu xứ người Nghệ An đã dắt con gái về làng Sơn Dương (Phú Thọ) dạy học. Cô gái ấy là Hồ Xuân Hương (…) Ở Tứ Xã hiện nay, bà con còn giữ được nhiều kỉ vật của Tổng Cóc – Hồ Xuân Hương: Gia đình anh Bùi Văn Thắng đang giữ đôi lục bình bằng gỗ mít, phủ sơn then có khắc chữ Hán. Tương truyền khi còn ái ân mặn nồng, Tổng Cóc đã yêu cầu Hồ Xuân Hương đề thơ lưu bút. Đôi lục bình vốn được đặt trên bàn thờ nhà Tổng Cóc, sau này kinh tế sa sút, đã phải bán đi … Cách nhà anh Thắng một cánh đồng, ngôi nhà lớn, làm toàn bằng gỗ quí, lợp ngói âm dương của gia đình Tổng Cóc vẫn được gia đình ông giáo Kiều Phú trân trọng giữ gìn. Ngôi nhà được làm cầu kì tới mức, đến cả cái bậu cửa ra vào cũng được chạm lưỡng long chầu nguyệt  (…) Cụ bà thân sinh ra ông Phú hơn 100 tuổi vẫn nhớ rất nhiều chuyện do cha mẹ kể lại liên quan đến Hồ Xuân Hương, cũng như sự tích ngôi nhà cổ của Tổng Cóc. Hiện, trên bức vách bằng gỗ mít phiến dày trong nhà, còn những dòng chữ được kể là của chính Hồ Xuân Hương đề : “Thảo lai băng ngọc kính/ Xuân tận hóa công hương; Độc bằng đan quế thượng/ Hảo phóng bích hoa hương”… Qua thời gian, do nhiều nhà quản lí địa phương, nhà nghiên cứu, người tham quan đã khiêng cả bức vách gỗ ra để bôi thuốc hiện màu vào nhằm in rập những nét chữ quí; qua nhiều mùa nước ngập, dòng chữ đã mờ đi rất nhiều.
Cụ Dương Văn Thâm, 93 tuổi, là nhà Nho và là người nghiên cứu công phu về cuộc đời Hồ Xuân Hương và Tổng Cóc với cả một kho bản thảo đồ sộ trong nếp nhà cổ giản dị. Nhờ cụ, các sinh viên, các nhà nghiên cứu về Tứ Xã (Phú Thọ) có được tư liệu chính xác về Hồ xuân Hương có quãng đời làm dâu trên quê hương Tổng Cóc.
Cụ Dương Văn Thâm
 
 (15) Nguyễn Hữu Nhàn: Nhà văn có nhiều nghiên cứu về văn hóa dân gian Phú Thọ.
(16) Trong đó đứng đầu nhóm có các cụ Xứ Cơ (đỗ đầu xứ), cụ Cả Chấn, cụ Bá Lạc, cụ Đồ Tạo, cụ Đồ Quán, cư Tống Thuần (tổng sự), ông Lê Văn Tiềm (nay đã gần trăm tuổi, đặc biệt là cụ Dương Văn Thâm. (Theo Đinh Vũ; http://www.baophutho.org.vn)
(17) Lịch triều tạp kỷ : Nguyễn Quang Thành có tiếng là thần đồng, 24 tuổi thi đỗ Tiến sĩ xuất thân năm Canh Thân đời Lê, niên hiệu Chính Hòa (1680). Ông làm quan trong triều, giữ chứcThiêm đô ngự sử; nay còn bia số 80 ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội.
(18) Nguyễn Hữu Tiến trong Giai Nhân Di Mặc có viết: “ Hồ Xuân Hương mặt hơi rỗ hoa, da hơi ngăm đen, không đẹp mà có duyên thầm…“. Những chi tiết này không biết Đông Châu đã căn cứ vào đâu (?).
Riêng Ngô Tất Tố trong truyện dã sử trong rừng Nho thì cho rằng nhan sắc Xuân Hương lúc ở Thăng Long đã làm cho nhiều Nho sinh phải mê mẩn: “…cái dáng dấp yểu điệu, cái dung nhan xinh đẹp của Xuân Hương lại làm cho lòng chàng nóng như lửa chất…”
(19) Theo Phạm Ngọc Dương; http://antg.cand.com.vn : Con cháu dòng họ Nguyễn Bình đã tìm được mộ cụ Tổng Cóc và đang trình dự án, thiết kế xây dựng với Sở Văn hóa – Thông tin và Thể thao tỉnh Phú Thọ để xây dựng mộ cụ, hoàn thành trước thời gian diễn ra cuộc hội thảo: “Tổng Cóc – Hồ Xuân Hương”, do Viện Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc dự tính chủ trì và tổ chức tại Tứ Xã (Phú Thọ) vào cuối năm 2008.
(20) Hoàng Xuân Hãn; Thiên tình sử Hồ Xuân Hương; NXB Văn học 1995; trang 270
(21) Theo ông Hoàng Xuân Hãn thì bài thơ Khóc ông Phủ Vĩnh-tường có thể là ngụy tác vì Trần Phúc Hiển chết năm 1819, lúc bấy giờ chưa có tên “Phủ Vĩnh Tường” (đến 1822, phủ Tam-Đái  mới đổi tên thành phủ Vĩnh-tường).
* Có ý kiến cho rằng: Trần Phúc Hiển bị kêt tội tham nhũng và xử tử hình nhưng thật sự là do Lê Chất, Lê Văn Duyệt diệt vây cánh của Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường. Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán cũng tự tử chết.
(22) Vũ Trung tùy bút.(Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến dịch, NXB. Văn hóa – 1960).
(23) GS.Kiều Thu Hoạch; Thơ Nôm Hồ Xuân Hương – Từ góc nhìn văn bản học (Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 9/2007) có cho biết đã tìm được trong kho sách của Viện Hán-Nôm cuốnĐăng khoa lục sưu giảng của Trần Tiến (ký hiệu A.224) có chép một bài thơ  Nôm kèm lời dẫn chữ Hán như sau: “Hà Nội tỉnh, nữ tử Xuân Hương hành lộ thất túc, thường lộ, tự vịnh” (Cô Xuân Hương ở tỉnh Hà Nội, đi đường sẩy chân ngã tốc váy, tự vịnh thơ):
 
Vén đám mây lên tỏ mặt trời
Lác coi từng đám rõ từng nơi
Giang sơn đâu đó nhô đầu dậy
Hoa cỏ quen hơi mỉm miệng cười
 
Ông Trần Thanh Mại rất thích thú với bài thơ này  và nhận xét: “Bài thơ sinh động thật, ma quái thật, Hồ Xuân Hương thật!”
(24) Gs.Kiều Thu Hoạch; Thơ Nôm Hồ Xuân Hương – Từ góc nhìn văn bản học (Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 9/2007) cho rằng: …cho đến hiện tại, dù đã mất mát ít nhiều, văn bản thơ Nôm Hồ Xuân Hương trong kho sách Hán Nôm cũng còn được 3 bản khắc ván in và nhiều bản chép tay, tổng cộng khoảng trên dưới 20 văn bản Nôm có thể làm cơ sở tư liệu cho việc tuyển chọn thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
(25) Hoàng Xuân Hãn; Thiên tình sử Hồ Xuân Hương, NXB Văn học 1995, trang 280.
(KIẾN THỨC NGÀY NAY số 663 ngày 10/01/2009). Bản của tác giả
 
Nguyễn Cẩm Xuyên
 

Sưu tầm tổng hợp 
 
- by Nguyễn Ngọc Quang . 

Những bài hát về Tháng Tư Đen được người trong nước yêu thích nhất

* Tưởng Niệm Tháng Tư Đen *
 
Related image
 
Những bài hát về Tháng Tư Đen được người trong nước yêu thích nhất
 
 
Image result for Tháng Tư Đen photos
Image result for 30 thang tu 75  photos

Một Lần Đi là Một Lần Vĩnh Biệt

[ Nhạc: nhiều Tác giả & Ca sĩ ]

Một Lần Đi

Tác giả: Nguyệt Ánh
 
Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng 
Một lần đi là một lần vĩnh biệt 
Một lần đi là mòn lối quay về 
Một lần đi là mãi mãi thương đau 
Người tình ơi, ta có ngờ đâu rằng 
Một lần đi là nghìn trùng cách biệt 
Một lần đi là muôn kiếp u sầu 
Một lần đi là vĩnh viễn xa nhau 
Giọt nước mắt cho anh 
Giọt nước mắt cho em 
Giọt nước mắt cho bạn bè 
Lệ khóc cho mẹ già 
Lệ khóc cho ngườ tình ở lại quê hương 
Lần cuối xé tay nhau 
Lần cuối khóc bên nhau 
Lời cuối sao nghẹn ngào 
Còn đó bao đoạn đường 
Còn đó bao đoạn tình bỏ lại sau lưng 
Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng 
Mẹ hiền xưa, giờ về cùng đất lạnh 
Bạn bè xưa, giờ phương Bắc lưu đày 
Người tình xưa, giờ đang sống điêu linh 
Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng 
Một ngày qua là một ngày ly biệt 
Một ngày qua là ta mất nhau rồi 
Một ngày qua là muôn kiếp chia phôi 
 

Lá Thư Về Làng - Tiếng Hát Việt Dzũng

Một ngày giữa Thu nắng ấm như hôm nay thật là một điều hiếm có ở Úc Châu tưởng niệm ngày Quốc Hận - 30 tháng Tư
 
Image result for ca nhac si viet dzung photos
 

Quê Hương Bỏ Lại -Tô Huyền Vân , Duy Khánh

 
Phút giây nào đó trong tháng 4, chợt nhớ quê ta. Nơi từ góc phố con đường, hàng xóm nhớ như in. Niềm thương nhớ ấy tùy theo thời gian xa cách ngắn hay dài. "Quê hương bỏ lại" buồn và ray rức đến bao giờ mới hết. Khi mà thời gian qua quá nửa đời người ,quê hương càng tệ hai hơn. Hãy nhóm ngọn lửa hồng soi sáng cho nhau một niềm tin hướng về ngày mai...

LỜI KINH ĐÊM Việt Dzũng

 
Những năm tháng đầu tiên sau 30/04, những người còn ở lại trong nước dù phải sống trong nghèo khó, sợ hãi, nhưng vẫn còn có một niềm hy vọng từ bên ngoài. Những người đã bỏ nước ra đi đã trở thành chỗ dựa của người thân tại quê nhà, cả về vật chất lẫn tinh thần.
 
Một Chút Quà Cho Quê Hương
(Việt Dzũng, Khánh Ly)
 
 
Những thùng quà gởi về quê hương. Và những bài hát của người Việt hải ngoại nữa. Người dân trong nước nghe những bài hát đầu tiên về Tháng Tư Đen từ đài VOA, đài BBC, từ những cuộn băng cassette lén lút gởi về. Khi trong nước chỉ có những cái loa phường tuyên truyền, và những bài hát cách mạng khô khốc, tuyên truyền giả dối, thì những ca khúc nghe lén được từ hải ngoại là những món quà tinh thần vô giá. Có những bài hát mà đến giờ mỗi khi nghe lại, người còn trong nước vẫn thấy thấm thía, ngậm ngùi như 40 năm trước.
 
Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt – khi sáng tác ca khúc này, chắc nhạc sĩ Nam Lộc chỉ định làm cho ông và những người phải lìa xa Sài Gòn. Nhưng ông đã không thể hình dung là nó có ý nghĩa như thế nào đối với người ở lại. Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt đã trở thành một hiện tượng văn nghệ ở Sài Gòn vào cuối thập niên 70. Đây có lẽ là một bài hát sáng tác sau 1975, bị cấm ở Việt Nam, nhưng được “hát chui, nghe chui” nhiều nhất tại Sài Gòn. Trong lúc gặp gỡ cà phê trên hè phố, những người bạn hỏi nhau: “Mày có nghe bài Sài Gòn Ơi chưa?…”. Người biết rồi hát cho người chưa nghe, và bài hát cứ thế lan rộng một cách thầm lặng ra tại Sài Gòn:
 
Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt
(Tác giả: Nam Lộc - Ca sĩ: Ngọc Lan)
 
 
“Sài gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời 
Sài gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời 
Giờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôi 
Những nụ cười nát trên môi 
Những giọt lệ ôi sầu đắng. 
Sài gòn ơi, nắng vẫn có còn vương trên đường 
Đưòng ngày xưa, mưa có ướt ngập lối đường về 
Rồi mùa thu, lá còn đổ xuống công viên 
Bóng gầy còn bước nghiêng nghiêng 
Hay đã khóc thương cho người yêu…”
 
Khó mà diễn tả lại hết cái cảm xúc của những người ở lại trong giai đoạn đó, khi nghe khi hát Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt. Bởi vì không chỉ có người đi mất Sài Gòn. Người ở lại cũng mất Sài Gòn. Cái thành phố mang tên xác người đã mất đi vẻ yêu kiều của Sài Gòn, thay vào bằng những lo toan, bất an, oán hận. Nghe Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt, người Sài Gòn giống như tìm thấy lại hình ảnh của Sài Gòn cũ, lãng mạn, tình cảm. Nhất là khi Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt được nữ ca sĩ Ngọc Lan hát, người Sài Gòn như được sống trở lại dòng nhạc vàng thân yêu thưở nào…
 
Một ca khúc Tháng Tư khác cũng được người ở lại yêu mến, đó là ca khúc 1954-1975 của cố nhạc sĩ Phạm Duy. Đối với nhiều người Việt, đây là một trong những ca khúc viết cho ngày 30/04 có ý nghĩa nhất. Nó nói lên được một cách toàn diện nỗi đau lớn nhất của dân tộc Việt trong thế kỷ 20, chỉ vọn vẹn trong một bài hát. Sự thiên tài của Phạm Duy trong cách mà đặt lời cho ca khúc thể hiện qua ca khúc này. Lời ca của Phạm Duy không bóng bẩy, trau chuốt. Nó đơn giản, cô đọng nên mạnh mẽ đi vào lòng người:
 
1954 - 1975
by Elvis Phương
 
 
 
 
Một ngày năm bốn, cha bỏ quê xa 
Chốn đã chôn nhau, cắt rốn bao nhiêu đời 
Một ngày năm bốn, cha bỏ phương trời 
Một miền Bắc tối tăm mưa phùn rơi… 
…Một ngày bảy lăm, con bỏ nước ra đi 
Hai mươi năm là hai lần ta biệt xứ 
Giờ cha lưu đày ở ngay trên đất ta 
Và giờ con lưu đày ở đây trên xứ lạ!…
 
Chỉ trong vòng 20 năm, dân tộc Việt trải qua 2 lần bi kịch rời bỏ quê hương. Cả hai lần đều có cùng một nguyên nhân: trốn chạy thảm họa cộng sản. Nhưng lần sau là bỏ đất nước, nỗi đau và mất mát lớn hơn, cái giá trả bằng sinh mạng người lớn hơn nhiều lần. Người trong nước đã không thể ngăn được nước mắt khi Phạm Duy nói thay cho tâm sự của mình:
 
…Giờ nơi nước mình niềm đau thay nỗi vui 
Sài-gòn đã chết rồi, phải mang tên xác người…
 
Nhớ lại, người trong nước được nghe ca khúc này qua giọng ca của Elvis Phương, phát trên đài VOA. Cho đến nay, Elvis Phương vẫn là một trong những ca sĩ trình diễn bài 1954-1975 xuất sắc nhất, thể hiện đầy đủ tính bi hùng của nó. Chỉ cần những kẻ đang nắm quyền tại Việt Nam nghe cho trọn vẹn ca khúc này, họ sẽ hiểu được tại sao đến giờ này, những người Miền Nam vẫn chưa thể quên được Tháng Tư Đen. Bởi vì những sai lầm của CSVN dành cho đất nước vẫn còn giữ nguyên cho đến tận ngày nay. Họ không một lần nhận lỗi. Họ chưa bao giờ có ý định thực tâm hòa giải. Để mỗi lần Tháng Tư đến, người Việt hải ngoại vẫn tiếp tục hát ca khúc Tháng Tư Đen, vẫn tiếp tục mơ một ngày về, đoàn kết cùng người trong nước đòi lại tự do cho dân tộc:
 
…Tháng Tư Đen ! 
Xin ngước mặt nhìn tới 
Tới tương lai, tới quê hương vời vợi 
Tháng Tư ơi ! 
Hơn năm mươi triệu người 
Như một người, phải thành công mới thôi !…

Cho Đồng Bào Tôi 

Sáng tác: Nguyễn Đức Quang, Việt Dzũng
Trình bày: Nhật Lâm, Đặng Thế Luân

Em Vẫn Mơ Một Ngày Về

(Nguyệt Ánh, Việt Dzũng)

 
 
Image result for ca nhac si viet dzung photos

Anh Vẫn Mơ Một Ngày Về
- Phần Trình Diễn Việt Dzũng - Boston 1989
 

Một Lần Đi/ Lời Kinh Đêm
- Phần Trình Diễn Việt Dzũng - Boston 1989
 

Việt Dzũng

TÌNH CA CHO NGUYỄN THỊ SÀI GÒN


Để tưởng nhớ THƯƠNG TIẾC ! Việt Dzũng, nhạc sĩ, nghệ sĩ, nhà báo, người hoạt động quên mình, tận tâm, không ngừng cùng đồng bào hải ngoại giương cao ngọn cờ vàng chính nghĩa chống cộng sản, tranh đấu cho quyền làm người, tình thương và công lý, chân thiện mỹ, truyền thông và nghệ thuật. Anh Việt Dzũng là con cưng của nước Việt, vừa qua đời tại nam California sáng nay Thứ Sáu ngày 20.12. 2013. Nguyện cầu cho linh hồn Việt Dzũng vĩnh viễn bình an ở Nuớc Trời cùng Thiên Chúa, các Thánh, và các Anh Hùng Dân Tộc Việt Nam muôn đời
 
LỜI KINH ĐÊM - Việt Dzũng
 

Tôi đàn Ca Khúc này để tưởng nhớ cố Ca Nhạc Sĩ Việt Dzũng đã viết ca khúc không bằng sự tưởng tượng mà bằng những gì thực sự xảy ra trong cuộc sống của hàng triệu người trong đó có cả tôi... Xin thắp nén nhang lòng cầu nguyện cho những người đồng hành kém may mắn đã không thể "Về Bến Tự Do". Cũng cầu mong cho những người được làm người may mắn đặt chân lên mảnh đất "Tự Do", nếu có gặp khó khăn trong cuộc sống nơi xứ người , xin đứng nản lòng , và hãy sống thật trọn vẹn... *** Xin được gửi tới các bạn: "Lời Kinh Đêm ".Nhạc phẩm này gợi lại bao nổi u buồn, những ngày tháng đau thương & mất mát, để nhớ về quá khứ vào những năm đất nước còn khép kín. ... Mến chúc tất cả các bạn luôn bình an, hạnh phúc, và mọi điều may mắn trong cuôc sống..
Bài hát để tưởng nhớ đến hàng trăm ngàn thuyền nhân đã thác oan vì chế độ vô nhân của việt cọng. Họ đã quyết tâm lìa bỏ quê hương, can đảm ra đi trên những chiếc thuyền mong manh để tìm một cuộc sống mới. Nhưng đau buồn thay, sau bao ngày sóng gió và đói khát, họ đã không đến được bến bờ tự do...
 
Lời kinh đêm ôi lời kinh đêm
Lời kinh buồn như tiếng mẹ thở dài
Ai có nghe thấu lời kinh khổ
Sao cúi mặt gục đầu ngủ quên
Trời mong manh ôi đời lênh đênh
Thuyền bấp bênh cuộc sống mơ hồ
Lời kinh cầu từng ngày quen thuộc
Lời mẹ buồn giữa tiếng Nam mô
Thuyền trôi xa về đâu ai biết
Thuyền có về ghé bến tự do
Trời cao xanh hay trời oan nghiệt
Trời có buồn hay trời chỉ làm ngơ
Trời chơ vơ ôi người bơ vơ
Người vẫn ôm mảnh ván rũ mục
Lời kinh cầu từng hồi nấc nghẹn
Lời mẹ buồn giữa tiếng Amen
Người buông xuôi về nơi đáy nước
Người có mộng một nấm mộ xanh
Biển ngây ngô hay biển man rợ
Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ

Bài diễn văn của ca sĩ Huỳnh Phi Tiễn đọc tại đêm tưởng niệm cố Nhạc sĩ Việt Dzũng



Bài diễn văn đầy cảm xúc của ca sĩ Huỳnh Phi Tiễn vừa đọc tại đêm tưởng niệm cố Nhạc sĩ Việt Dzũng @ SBTN California:
 
" Kính thưa anh Việt Dzũng.

Hôm nay em đến đây, ...em không mang theo những giọt nước mắt mà trong bao ngày qua em đã dành cho anh. Mà em đã ráng mang theo nụ cười mà anh đã dạy cho em. Em thiết nghĩ, những giọt nước mắt đó quá ích kỉ cũng chỉ vì em thương xót anh bỏ em và mọi người đi quá vội, hay em còn quá nhiều điều chưa học kịp nơi anh, hay vì lần này anh đã lỗi hẹn không có đi ăn với em và hàn huyên như những lần rồi em qua Cali.
Đối với em tình nghĩa của em và anh em không cần nhắc tới, vì riêng chỉ có những người anh em ruột thịt thì mới thấu hiểu mà thôi. Nhưng đây cũng là một sự suy nghĩ ích kỷ của em, vì em biết, trên đời này anh đi đến đâu và gặp những ai, tình thương của anh cũng công bằng như nhau chứ không phải chỉ riêng cho em. Có lẽ thiên đàng đang có việc quan trọng nên anh phải sớm vội ra đi.
Kính thưa quý vị, đối với PT anh Việt Dzũng là một người anh thật đẹp trai và là nhân tài của thế kỷ và là một người có một tầm nhìn thật sâu rộng cho người Việt về một ngày hoà bình thật gần cho dân tộc. Đối với người chưa quen biết anh, thì anh là một người tàn tật. So với đôi chân ốm yếu của anh với đôi chân của một thanh niên đã trưởng thành thì anh có một đôi chân quá yếu đuối đi không vững. Nhưng đối với kẻ địch, đối với người thân, đối với từng người Việt lưu vong khỏi đất mẹ, anh là một người có một đôi chân rắn chắc hơn sắt thép và đầy nhiệt huyết.
Tôi tự nhủ một bước đi của anh, một thanh niên tráng kiện cũng chưa chắc đi nổi. Tôi quen anh hai năm và có được phước tâm sự cùng anh nhưng chưa hề nghe anh oán trách thượng đế hay chê bai số phận của mình. Không những vậy anh đã chia sẻ bớt đi những nỗi đau của những mảnh đời bạt bẽo và luôn khuyên họ cố vươn lên. Cánh cửa anh đi qua là những cánh cửa anh tự mở. Đối với tôi, đôi chân kia thật mãnh liệt, và anh đã để lại một đoạn đường thật dài và nếu ai đó vô tình tìm theo dấu chân anh sẽ đi tới nơi mà không bao giờ bị lạc lối.
Anh Việt Dzũng kính thương, hôm nay em cùng gia đình, bạn bè, và tất cả mọi người Việt trên toàn thế giới, chúc mừng anh về tới một nơi thật đẹp, thật thái hoà và nơi đó anh lại là một người thật đẹp trai và hoàn hảo. Và nơi đó, lại một lần nữa em và mọi người lại phải học hỏi ở nơi anh!
Trong mọi người chúng tôi cuộc sống sẽ mất mát đi thật nhiều nhưng chúng tôi, sẽ tìm một nơi thật đẹp để luôn giành riêng cho anh. Chỉ vì những dấu chân của anh đã để lại trong em, trong trái tim của em và mọi người anh đã và sẽ gặp, những dấu chân của anh đã in sâu và thật rõ rệt trong trái tim của em và mọi người và chúng sẽ không bao giờ phai nhạt với thời gian của thế gian.
Em cảm ơn anh đã cho em có diễm phúc được gọi anh là bạn.
Mong anh luôn vui khỏe và ra đi an lành, em sẽ luôn cầu nguyện cho anh và gia đình, mình gặp lại nhau sau.
Mong anh vui vẻ ra đi !
Huỳnh Phi Tiễn

A Night Prayer by the late composer/musician/human rights activist Việt Dzũng
 
LỜI KINH ĐÊM Việt Dzũng
 
 
Remembering and Honoring all the lives had lost in the Pacific Ocean
Thankfulness and Appreciation to all the countries had welcomed Vietnamese Refugees
Thank you to our grandparents, parents, uncles, aunts and many others had sacrificed for the younger generations to have better lives and opportunities.
Midnight prayer, oh, midnight prayer
Prayers as sorrowful as a mother's sigh
Will anyone hear this sad prayer
Drop your head; nod off in slumber
A fragile boat, oh, a drifting life A drifting boat; a blurred future
Day to day, a familiar prayer
A mother's heartbreaking mutter, Namo
Words travel far to who knows where
Will the boat stop by freedom's shore
The broad, blue sky; the pleading sky
The sad sky or the indifferent sky
The bewildered sky, oh, the folorn you
Still embracing that molding plank
A prayer choked by tears A mother's heartbreaking mutter, Amen.
To let it all sink to the ocean bottom
To dream of a grass-covered tomb
The naive ocean or the frightening ocean
The sad ocean or the indifferent sea
The bewildered sky, oh, the folorn you
Still embracing that molding plank
A prayer choked by tears
A mother's heartbreaking mutter, Amen.
To let it all sink to the ocean bottom
To dream of a grass-covered tomb
The naive ocean or the frightening ocean
The sad ocean or the indifferent sea
To let it all sink to the ocean bottom
To dream of a grass-covered tomb
The naive ocean or the frightening ocean
The sad ocean or the indifferent sea
Midnight prayer, oh, midnight prayer

Chào Những Người Yêu Còn Ở Lại Sàigon

Sáng tác: Việt Dzũng
Trình bày: Việt Dzũng, Nguyệt Ánh
 
 
@ Tuổi Trẻ Yêu Nước
Để tưởng nhớ THƯƠNG TIẾC! Việt Dzũng, nhạc sĩ, nghệ sĩ, nhà báo, người hoạt động quên mình, tận tâm, không ngừng cùng đồng bào hải ngoại giương cao ngọn cờ vàng chính nghĩa chống cộng sản, tranh đấu cho quyền làm người, tình thương và công lý, chân thiện mỹ, truyền thông và nghệ thuật. Anh Việt Dzũng là con cưng của nước Việt, qua đời tại nam California sáng nay Thứ Sáu ngày 20.12. 2013. Nguyện cầu cho linh hồn Việt Dzũng vĩnh viễn bình an ở Nuớc Trời cùng Thiên Chúa, các Thánh, và các Anh Hùng Dân Tộc Việt Nam muôn đời.
 TÌNH CA CHO NGUYỄN THỊ SÀI GÒN
-Việt Dzũng & Thanh Thúy (Super HD)
 

Hát Cho Tự Do

- Nguyễn Hồng Nhung, Vương Dzung

Sáng tác: Việt Dzũng

 

Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ

- Hoàng Oanh & Hợp Ca

Giọt Nước Mắt Cho Sàigon

- Những bài hát về Tháng Tư Đen 30-04-1975

Image result for Tháng Tư Đen photos
 
Hát Cho Tự Do
Sáng tác & Trình bày: Việt Dzũng 
 

Việt Dzũng Nguyện Cầu

 "Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời..."

Bước Nạng trong Trái Tim Việt Nam

- nhạc và lời Trần Bảo Như

- Ca sĩ Thế Sơn

 
Để tưởng niệm và vinh danh cố nhạc sĩ Việt Dzũng, người chiến sĩ, người con yêu của dân tộc Việt Nam. Con đường anh đi sẽ được tiếp tục. Việt Nam sẽ tới đích tự do. Anh mãi mãi là ánh sao soi đường, và sẽ sống mãi trong trái tim chúng tôi, những con dân Việt Nam hôm nay và ngày mai. Chúc an giấc, anh Việt Dzũng.
 
 
<@> Sưu tầm by Nguyễn Ngọc Quang . 
 
Hình ảnh minh họa 
 
Related image

THƯƠNG NHỚ NHẠC SĨ NGUYỄN ĐỨC QUANG (Sinh 1944- Mất 27-3-2011)

Smile

Nhạc sĩ Nguyễn đức Quang là một trong số các nghệ sĩ hiếm hoi vừa soạn nhạc vừa trình diễn. Vì vậy mỗi lần đi xem du ca Nguyễn đức Quang, chúng ta lại mắc nợ anh khá nhiều. Anh là nhạc sĩ, là ca sĩ và anh lại còn là diễn viên...

Related image

Cao-Đắc Tuấn  Tóm lược: Bài hát "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" do nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang viết vào năm 1966 là một bài hát kêu gọi người dân Việt Nam đứng lên chống lại kẻ thống trị bạo tàn để Việt Nam "vượt qua cái khốn khó, vượt qua cái quê hương nhỏ bé, nhược tiểu mà trở thành một nước to lớn, và lòng người cực kỳ dũng mãnh." Bài hát mô tả những nhọc nhằn, cực hình, đau thương mà dân Việt trải qua và ca ngợi tinh thần bất khuất, ý chí kiên trì, đoàn kết của dân Việt. Một cách kỳ bí, tuy bài hát được viết vào năm 1966, toàn thể nội dung nguyên văn bài hát áp dụng thích đáng cho Việt Nam trong giai đoạn hiện tại với phong trào dân chủ chống lại chế độ độc tài. Như một lời tiên tri huyền bí, bài hát được viết như thể đặc biệt dành cho phong trào đấu tranh cho tự do dân chủ hiện nay tại Việt Nam.

Related image

THƯƠNG NHỚ NHẠC SĨ CHIM ĐẦU ĐÀN PHONG TRÀO DU CA Nhạc sĩ NGUYỄN ĐỨC QUANG (1944-2011)

Image result for Nhạc sĩ NGUYỄN ĐỨC QUANG photos

 

Nhạc sĩ NGUYỄN ĐỨC QUANG

(Sinh 1944, Sơn Tây – Mất 27/03/1911, California)

11598-DP-nguyenducquang1

VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG NGẠO NGHỄ & “DU CA” NGUYỄN ĐỨC QUANG 

- Biên soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail
 
                        -   Tiểu Sử & Tác Phẩm  - 
                                             
                                                  
Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, sau một căn bịnh hiểm nghèo kéo dài hơn tháng qua, đã qua đời lúc 4 giờ sáng hôm nay (3/27/2011) tại California. Nhạc sĩ tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây.
Theo gia đình vào Nam năm 1954.
Sinh sống tại Ðà Lạt từ năm 1958.
Tốt nghiệp Đại học Ðà Lạt, phân khoa Chính Trị Kinh Doanh khóa 1.
Bắt đầu sáng tác nhạc năm 1961. Ca khúc đầu tay dành cho Hướng đạo với tên "Gươm Thiêng Hào Kiệt".
Sau biến chuyển chính trị lớn ở miền Nam năm 63, bắt đầu cảm hứng về nhạc Thanh niên và những vấn đề đất nước.
Năm 1964, chuyển qua hẳn những ca khúc có chủ đề Tuổi trẻ, Quê hương, Dân tộc, xây dựng những đề tài mới cho tập Trầm Ca, hát nhạc tranh đấu xã hội và nhạc sinh hoạt thanh niên và thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam năm 1966.
Năm 1979 cùng gia đình đến Hoa Kỳ, hoạt động liên tục trong ngành truyền thông tại hải ngoại.
 
Mục Lục Những Ca Khúc Tiêu Biểu
Măi đến sau 1965, một số những bài hát của Nguyễn Đức Quang mới xuất hiện rải rác trên một số ấn phẩm sách, báo và vài tuyển tập sơ sài do tình hình thiếu thốn phương tiện và điều kiện lúc bấy giờ, người ta đã thấy có các tập nhạc in bằng ronéo như: Trầm Ca, Những Bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Thỏ Thẻ Loan Phòng v..v.
Năm 1995, Ngô Mạnh Thu và Nguyễn Thiện Cơ trong nhóm Đồng Vọng thu gom lại hầu hết bản nhạc trong các tập nhạc chính và ấn hành tuyển tập Dưới Ánh Mặt Trời gồm 69 bài. Duới đây là những nét chính và 9 tập nhạc đã được tác giả hình thành trên suốt quãng đường sinh hoạt và sáng tác của anh. ( Trích trong ” Về những ca khúc Nguyễn Đức Quang đă viết” trong tuyển tập “Dưới Ánh Mặt Trời” )
Ấn Phẩm Đã Phát Hành:
1. Chuyện Chúng Mình:
52 ca khúc, viết từ 1960 đến 1964, thời kỳ đầu sáng tác, hầu hết là các khúc tình ca tuổi học trò và thời gian sinh sống tại Đà Lạt. Một số bài như: Chuyện Người Con Gái , Khôn Hồn Có Cánh Thì Bay, Trẫm Nhớ Ái Khanh Không? (phổ thơ Nhất Tuấn), Lửa Từ Bi ( Thơ Vũ Hoàng Chương).
2. Trầm Ca:
10 ca khúc cho thanh niên và thời cuộc, những thao thức lớn nhất về con người, đất nước.
Những ca khúc này tạo nên cả một cao trào tuổi trẻ nhập cuộc vào các sinh hoạt.
Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Người Anh Vĩnh Bình, Tiếng Hát Tự Do, Chiều Qua Tuy Hòa, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ là dấu ấn chưa phai mờ trong nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam từ đó đến nay.
3. Những Bài Ca Khai Phá:
trên 40 ca khúc sinh hoạt đặc biệt cho tuổi tr , sinh viên, học sinh dùng trong các buổi họp mặt công tác xã hội, các hoạt động đám đông, là tiếng kêu gọi tuổi trẻ đến với nhau cùng xây dựng một đất nước và niềm tin: Không Phải Là Lúc, Về Với Mẹ Cha, Dưới Ánh Mặt Trời, Chuyện Quê Ta, Hy Vọng Đã Vươn Lên, Một Giấc Chiêm Bao, Về Miền Gian Nan v..v..
Khởi động phong trào hát cộng đồng, hát chung khắp mọi nơi, sau này được lan truyền sang nhiều địa hạt và nhiều giới khác, kể cả tôn giáo.
Du Ca trở thành hình ảnh mẫu mực con người xã hội mới, đi vào phim ảnh Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương.
4. Cần Nhau:
12 tình khúc được biết đến nhiều với:

Bên Kia Sông, Vì Tôi Là Linh Mục, Cần Nhau, Như Mây Trên Cao, Vỗ Cánh Chim Bay ..
5. Thỏ Thẻ Loan Phòng (hay Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc):
18 bài sinh hoạt trong ngày hạnh phúc lứa đôi, hình thành 1969, nhiều bài hì́nh như đã thành nếp trong các đám cưới như:
Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc, Đám Cưới Chúng Mình, Lũ Chén Dĩa Tội Tì́nh Gì, Đường Đến Hạnh Phúc .
Image result for Nhạc sĩ NGUYỄN ĐỨC QUANG photos
Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang thăm vùng Virginia - tháng 5, 2005 (sau vườn nhà thi nhạc sĩ Nguyễn Tường Vân) Từ phải: Phan Anh Dũng, Tâm Hảo, Bà Nguyễn Minh Nữu, ...
 
6. Khúc Nhạc Thanh Xuân:
Khoảng 40 bài nhạc sinh hoạt thanh niên quốc tế.

Nhiều nhất là các ca khúc trong thời lập quốc Do Thái, phong trào Kibbuz, những bài hát nhân quyền, tự do từ Âu sang Á và Mỹ như:
Về Miền Gian Nan, Bài Ca Hải Tặc, Quân Đoàn Thức Tỉnh, Không Ai Là Hoang Đảo …
được chuyển qua lời Việt để sử dụng trong nhiều sinh hoạt tuổi trẻ.
7. Hương Đồng Quê:
Các khúc Dân Ca và nhạc đồng quê nổi tiếng trên thế giới chuyển dịch sang lời Việt, gần 200 bài như Bài Ca Sông Hồng, Những Bụi Hoa Dại, Em Yêu Dấu Hỡi, Bên Bờ Sông Ohio, Tâm Sự Chú Lừa …

hầu hết bị thất lạc năm 1975.
8. Phúc Ca Mùa Lễ:
25 bài đồng dao quốc tế hát trong mùa Gíáng sinh như : Jingle Bells, The Christmas Tree, Silent Night

được coi là những khúc hát vui trong mùa an bình của nhân loại.
9. Ruồi Và Kên Kên:
Hoàn tất năm 1970, gồm 11 bài, là những ca khúc bi phẫn về những vấn đề lớn nhất trong một khung cảnh chính trị và xă hội đen tối nhất của cả 2 miền đất nước:

Im Lặng Là Ðồng Lõa, Ruồi Và Kên Kên, Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi, Phòng Thí Nghiệm Công Cộng, Vụ Án Cuối Cùng 
Những ca khúc này vẫn được yêu chuộng cho đến nay.
10. Dưới Ánh Mặt Trời:
gồm những sáng tác trong tập Trầm Ca, Những Bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Chuyện Chúng Mình, Cần Nhau, Khúc Nhạc Thanh Xuân, Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc …

Xuất bản Ðồng Vọng 1997 tại Cali- USA
                               
    Tường thuật "Vĩnh Biệt Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang" của Thy Nga (SBTN-DC): 
 

Vĩnh Biệt Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang (1944-2011) - P1

Thực hiện: Thy Nga - Bản Tin Hoa Thịnh Đốn

Vĩnh Biệt Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang (1944-2011) - P2

Related image 

 

Liên đoàn Việt Nam hoạt động nhằm đóng góp vào việc giáo dục thanh thiếu niên bằng một hệ thống giá trị dựa trên Luật và Lời hứa Hướng Đạo nhằm xây dựng một xã hội tốt hơn trong đó trẻ em sẽ trở thành những công dân hữu ích bằng cách:
  • Giúp trẻ trưởng thành với một quá trình giáo dục ngoài trường học.
  • Dùng phương pháp Hướng đạo hướng dẫn trẻ ý thức được trách nhiệm tự phát triển bản thân, trở thành người hữu  ích, có trách nhiệm và dấn thân trong cộng đồng xã hội.
  • Giúp trẻ tạo dựng hệ thống giá trị dựa trên các nguyên lý về đời sống tâm linh, xã hội và cá nhân theo tinh thần của Lời hứa và Luật Hướng đạo.

 
 

 

 

Image result for ca nhac si viet dzung lasan taberd photos

@ Ca Nhạc Sĩ Việt Dzũng và người em trai Nguyễn Ngọc Hùng Cường (Sói Con) trại hè Ấu, Thiếu và Tráng Hướng đạo sinh tại Sàigòn.
 
<@> Photo by Nguyễn Ngọc Quang 1969.

Lời hứa Hướng Đạo

Smile

Picture 
 
Tôi xin lấy danh dự hứa cố gắng hết sức
  • Làm tròn bổn phận với tâm linh, tín ngưỡng và quốc gia tôi,
  • Giúp ích mọi người bất cứ lúc nào,
  • Sống theo tinh thần Luật Hướng đạo.

Scout Promise
On my honour, I promise that I will do my best
  • To do my duty to God and my country
  • To help other people at all times,
  • To carry out the spirit of the Scout Law.

Promesse Scoute 
Sur mon honneur, avec la grâce de Dieu, je m’engage :
  • à Servir de mon mieux Dieu et mon pays,
  • à Aider mon prochain en toutes circonstances,
  • à Observer la Loi Scoute.
Image result for ca nhac si viet dzung lasan taberd photos

Luật, Châm ngôn và Khẩu hiệu Hướng Đạo

Luật Hướng Đạo Việt
  • Hướng đạo sinh trọng danh dự và trung tín.
  • Hướng đạo sinh lễ độ, hào hiệp và là bạn của mọi người
  • Hướng đạo sinh giúp ích, trọng kỷ luật và tôn trọng thiên nhiên.
  • Hướng đạo sinh vui tươi, cần kiệm và liêm khiết.
  • Hướng đạo sinh trong sạch trong tư tưởng, lời nói và việc làm.

Scout Law (Canada Scout)
A Scout is 
  • Helpful and Trustworthy,
  • Kind and Cheerful,
  • Considerate and Clean,
  • Wise in the use of all resources.

Loi Scoute (Scout du Canada)
  • Le scout mérite et fait confiance,
  • Le scout est frère de tous, partage avec tous,
  • Le scout protège la vie, combat pour la justice,
  • Le scout fait équipe, fait tout de son mieux,
  • Le scout répand la joie, respecte le travail, est maître de lui-même.

Châm Ngôn: Sắp sẵn
Scout Motto: Be Prepared
Devise Scout: Sois Prêt

Khẩu hiệu: Mỗi ngày làm một việc thiện
Slogan: Do a good turn daily
Slogan: La bonne action quotidienne ou B.A.

Đêm nhạc tưởng niệm nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang ở Sài Gòn

Tối 27 Tháng Ba, 2015, trong một hẻm nhỏ, quán cà phê nhỏ, trên đường Lê Văn Sĩ, đêm nhạc tưởng niệm bốn năm ngày mất của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã bắt đầu với tất cả lòng kính trọng và ngưỡng mộ.
Tưởng niệm nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, những người trẻ và già chụm nhau lại và hát như trong một đêm lửa trại trước 1975. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
 
Đến dự đêm nhạc tưởng niệm người nhạc sĩ tiên phong trong phong trào du ca Việt Nam trước biến cố 1975, là những mái đầu bạc trắng của những người mà một thời trai trẻ từng là những hướng đạo sinh, huynh trưởng của phong trào Hướng Đạo Việt Nam. Bên cạnh họ là người thế hệ tiếp nối, dù có người không thuộc hết lời các bài hát của ông nhưng giai điệu và ca từ trong sáng đã làm nên một phần tâm hồn và ý thức nghệ thuật của họ. Ai cũng biết trong thời điểm hiện nay ở Sài Gòn, những quán cà phê nhạc mọc lên như nấm sau cơn mưa. Dòng nhạc Việt chủ yếu của những điểm ca nhạc và hát với nhau này hầu hết đều sử dụng các sáng tác thuộc nền tân nhạc của thời VNCH.  Thế nên việc đêm nhạc tưởng niệm cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang có sự tham dự của các bạn trẻ sinh sau năm 1975 là một điều đặc biệt.
“Tụi em sinh sau này nên đâu biết gì về dòng nhạc này, mới nghe qua tưởng là các bài hát quân hành, chừng nghe một lúc thì thấy thích vì nó hoàn toàn khác lạ với những bài hát nhạc tình mà người hát đến người nghe đều sướt mướt, hoặc nhạc văn công tuyên truyền. Em thật không ngờ là thế hệ cha ông mình được hát những bài hào khí như vậy”. Phát biểu về dòng nhạc Du Ca của cố Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, cô gái tên là Mỹ Đức cho biết.
Nhạc sĩ Trần Huân, người nòng cốt của nhóm nhạc Du ca–Sài Gòn, đã lần lượt đệm đàn và bắt nhịp các bài hát cộng đồng nổi tiếng của cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang như: Hy Vọng Đã Vươn Lên, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, Xin Chọn Nơi Này Làm Quê Hương… Dù đêm nhạc tưởng niệm này không có tham vọng giới thiệu đầy đủ những sáng tác trong sự nghiệp âm nhạc đồ sộ của cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, nhưng xen kẽ với dòng nhạc sinh hoạt cộng đồng, những tình khúc sâu lắng nổi tiếng như Chiều Qua Tuy Hòa, Bên Kia Sông, Vì Tôi Là Linh Mục… đã được hát lên.

Ghé thăm nhà nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang 

Những người tham dự đêm nhạc tưởng niệm, ai cũng xúc động khi nhìn toàn cảnh quán cà phê với những mái đầu xanh và đầu bạc, cùng chụm vào nhau bên các bản nhạc, cùng vỗ tay theo nhịp và thỉnh thoảng những cách tay hào hứng vung lên, như thời trai trẻ đang sinh hoạt Hướng Đạo trong một đêm lửa trại nào đó trên cả miền Nam Việt Nam vào những năm trước biến cố 1975. Quỹ thời gian của những mái đầu bạc hôm nay đang hào hứng hát nhạc của cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đều không còn dài, những niềm tự hào về ý thức dân tộc – cộng đồng chân chính mà giai điệu và ca từ của cố nhạc sĩ truyền đạt không bao giờ phai nhạt. Hẳn nhiên, mỗi người dự đêm nhạc này ai cũng có ý tiếc cho thế hệ trẻ ngày nay không được cất tiếng hát vang giữa đất nước mình những bài hát trào dâng tình yêu nước, yêu người, hướng về tự do căm ghét áp bức… của cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang.
Điều lắng động sâu sắc nhất trong đêm nhạc tưởng niệm cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang của những người được may mắn tham dự và cả những người không có thông tin đến dự, chính là niềm tin dù trải hàng chục năm bị phủ lấp bởi bóng tối tại chính quê hương mình, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang không hề bị quên lãng và tinh thần các ca khúc chân chính của ông vẫn là cánh rừng hoa mới trong một bình minh mới sẽ đến.
 

 

Nhớ về NS NGUYỄN ĐỨC QUANG -

VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG NGẠO NGHỄ

Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi với nữ nhạc trưởng

Khánh Ly (trước 1975)

 

 

XIN CHỌN NƠI NÀY LÀM QUÊ HƯƠNG

Nguyễn Đức Quang (2010) với ban hợp ca Tứ Phương (= từ bốn phương)

HY VỌNG ĐÃ VƯƠN LÊN

Nguyễn Đức Quang

CHIỀU QUA TUY HÒA

Khánh Ly & Elvis Phương

KHÔNG PHẢI LÀ LÚC

Nguyễn Đức Quang hát và đàn ghi-ta

NGỒI QUANH ĐÂY CHÚNG TA CÙNG HÁT

Du Ca Hoa Kỳ bao gồm NĐQ (1980)

CÙNG HÁT XÓA NIỀM ĐAU

Nguyễn Đức Quang

 

Nhớ về NS NGUYỄN ĐỨC QUANG

NS NGUYỄN ĐỨC QUANG QUA ĐỜI

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã ra đi vào sáng Chủ Nhật 27/3/2011 tại Quận Cam, California, hưởng thọ 68 tuổi. Vào buổi chiều Chủ Nhật 27/3/2011, một chương trình nhạc đặc biệt đã thực hiện tại Quận Cam để vinh danh nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, người đã góp công khai sáng Phong Trào Du Ca VN, và đã đóng góp lớn cho nền âm nhạc VN nhiều thập niên..

Du Ca, Hướng Đạo vinh danh NS Nguyễn Đức Quang

Trong buổi văn nghệ đặc biệt này, một nghi thức đặc biệt do Phong Trào Hướng Đaọ thực hiện để vinh danh nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang : trao tặng Bắc Đẩu Huân Chương Hướng Đạo; thay mặt đón nhận Huân Chương này là anh Nguyễn Đức Tường, con trai của nhạc sĩ. Chiều Nhạc Du Ca Nguyễn Đức Quang do Nhạc Sĩ Diệu Hương, Nhạc Sĩ Đinh Trung Chính, Hội Ca Cầm và anh chị em Du Ca Nam Cali,  Bắc Cali tổ chức. Đến từ Bắc Cali có Luật Sư Nguyễn Tâm và một số Anh Chị Du Ca.

Tại nhà hàng Emerald Bay vào lúc 3 giờ 30 chiều, hàng trăm đồng hương, thân hữu, các thành viên Du Ca, các Trưởng và Hướng Đạo Sinh Nam California tham dự.

Điều hợp chương trình là Nguyễn Bá Thành. Mở đầu tất cả mọi người cùng đứng lên dành một phút tưởng niệm đến Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang. Sau đó Nhạc Sĩ Diệu Hương và Nhạc Sĩ Đinh Trung Chính thay mặt Ban Tổ Chức lên ngỏ lời chào mừng và cảm ơn tất cả đồng hương thân hữu đến tham dự,

Nhạc Sĩ Diệu Hương cũng lược qua một vài kỷ niệm đối với Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang mà bà đã có những đồng cảm với người đàn anh tài hoa trong làng âm nhạc Việt Nam. người đã đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam nhiều bài hát giá trị để đời cho các thế hệ tiếp nối… Tiếp theo Bác Sĩ Thiên Hương lên đọc bài thơ của người bạn già viết cho  Nguyễn Đức Quang khi hay tin anh bị tai biến trong đó có câu : “…Đất nước lâm nguy như người đang lâm trọng bệnh…”

Những ca khúc của Nguyễn Đức Quang được hát vang lên trong hội trường qua phần đệm Guitar của Doãn Hưng và Nguyễn Trọng Hoàng gồm các bản như : Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, Đường Việt Nam, Người Yêu Tôi Bịnh, Như Mây Trên Cao, Chiều Qua Tuy Hòa, Hy Vọng Đã Vươn Lên…

Các bản nhạc đã làm xúc động mọi người tham dự, không khí hội trường như lắng đọng để nhớ về một Nhạc Sĩ đã đóng góp nhiều cho quê hương dân tộc trong giai đoạn nghiệt ngả của đất nước, thờiø  đó ở bất cứ nơi đâu cũng có những đoàn du ca hát những bản nhạc của Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang.

Sau đó là phần nghi thức Hướng Đạo trao Bắc Đẩu Huân Chương Hướng Đạo cho Trưởng Nguyễn Đức Quang. Được biết Trưởng Nguyễn Đức Quang tham gia phong trào Hướng Đạo lúc 12 tuổi, và sau đó anh làm Bầy Trưởng Bầy Ngàn Thông, Đạo Lâm Viên. Suốt trong chiều dài sinh hoạt Hướng Đạo anh đã đóng góp nhiều công sức cho phong trào để tiếp tục đào tạo những công dân tốt tương lai của đất nước. Vì những đóng góp đó nên Hội Đồng Trung Ương qua sự đề nghị của Hướng Đạo Miền Tây Nam Hoa Ky quyết định trao “Bắc Đẩu Huân Chương” một huân chương cao qúy nhất của Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam.

Trưởng Võ Thành Nhân Chủ Tịch Hội Đồng Trung Ương Hướng Đạo Việt Nam cùng các Trưởng Trong Hội Đồng gồm có Trưởng Trần Xuân Đức Phó Chủ Tịch Nội Vụ, Trưởng Nguyễn Trí Tuệ Tổng Thư Ký Hội Đồng Trung Ương, Trưởng Lế Đức Phẩm Ủy Viên Truyền Thống Văn Hóa Hội Đồng Trung Ương, Trưởng Hồ Đăng Ủy Viên Liên Lạc Trưởng Niên, Trưởng Nguyễn Tư Nhân Ủy Viên Miền tây Nam Hoa Kỳ cùng tất cả các Trưởng cũng như Anh Chị Em Hướng Đạo Sinh Tây Nam Hoa Kỳ đã hiện diên trong lễ trao huân chương.  Trưởng Võ Thành Nhân đã nghẹn ngào khi nhắc lại những thành tích trước khi trao. Huân Chương được trao tận tay cho người con trai của Trưởng Nguyễn Đức Quang là anh Nguyễn Đức Tường.

Chương trình tiếp tục với những bài hát của Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang do Anh Chị em Du ca trình diễn.

Chương trình tang lễ của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang sẽ tổ chức tại Peek Family (Lakeside Chapel) — dự kiến giờ viếng tang sẽ là Thứ Bảy 2/4/2011 và Lễ Hỏa Táng sẽ là Chủ Nhật 3/4/2011.

Đặc biệt, sẽ có một chương trình tưởng niệm nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang với đóng góp của nhiều cơ quan truyền thông, văn nghệ, ca nhạc sĩ, nghệ sĩ … tổ chức vào Thứ Bảy 2/4/2011. Chi tiết về chương trình văn nghệ vinh danh và tưởng niệm naỳ sẽ phổ biến sau.

Một chút tiểu sử :

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, sau một căn bịnh hiểm nghèo kéo dài hơn tháng qua, đã qua đời lúc 4 giờ sáng hôm nay tại California. Nhạc sĩ tên thật Nguyễn Đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây.

Theo gia đình vào Nam năm 1954. Sinh sống tại Ðà Lạt từ năm 1958. Tốt nghiệp đại học Ðà Lạt phân khoa Chính Trị Kinh Doanh khóa 1.

Bắt đầu sáng tác nhạc năm 1961. Ca khúc đầu tay dành cho Hướng đạo với tên Gươm Thiêng Hào Kiệt. Sau biến chuyển chính trị lớn ở miền Nam năm 63, bắt đầu cảm hứng về nhạc Thanh niên và những vấn đề đất nước. Năm 1964, chuyển qua hẳn những ca khúc có chủ đề Tuổi trẻ, Quê hương, Dân tộc, xây dựng những đề tài mới cho tập Trầm Ca, hát nhạc tranh đấu xã hội và nhạc sinh hoạt thanh niên và thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam năm 1966 .

Năm 1979 cùng gia đình đến Hoa Kỳ, hoạt động liên tục trong nghành truyền thông tại hải ngoại.

Mục Lục Những Ca Khúc Tiêu Biểu :

Măi đến sau 1965, một số những bài hát của Nguyễn Đức Quang mới xuất hiện rải rác trên một số ấn phẩm sách, báo và vài tuyển tập sơ sài do tình hình thiếu thốn phương tiện và điều kiện lúc bấy giờ, người ta đã thấy có các tập nhạc in bằng ronéo như : Trầm ca, Những bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Thỏ Thẻ Loan Phòng v..v.

Năm 1995, Ngô Mạnh Thu và Nguyễn Thiện Cơ trong nhóm Đồng Vọng thu gom lại hầu hết bả nhạc trong các tập nhạc chính và ấn hành tuyển tập Dưới Ánh Mặt trời gồm 69 bài. Duới đây là những nét chính và 9 tập nhạc đã được tác giả hình thành trên suốt quãng đường sinh hoạt và sáng tác của anh. (Trích trong ”về những ca khúc Nguyễn Đức Quang đă viết” trong tuyển tập “Dưới Ánh Mặt Trời” )

Ấn Phẩm Đã Phát Hành :

1/- Chuyện Chúng Mình : 52 ca khúc, viết từ 1960 đến 1964,thời kỳ đầu sáng tác, hầu hết là các khúc tình ca tuổi học trò và thời gian sinh sống tại Đà lạt . Một số bài như : Chuyện Người Con Gái , Khôn Hồn Có Cánh Thì Bay, Trẫm Nhớ Ái Khanh Không (phổ thơ Nhất Tuấn), Lửa Từ Bi (Thơ Vũ Hoàng Chương).

2/-Trầm Ca : 10 ca khúc cho thanh niên và thời cuộc, những thao thức lớn nhất về con người, đất nước. Những ca khúc này tạo nên cả một cao trào tuổi trẻ nhập cuộc vào các sinh hoạt : Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Người Anh Vĩnh Bình, Tiếng Hát Tự Do, Chiều Qua Tuy Hòa, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ là dấu ấn chưa phai mờ trong nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam từ đó đến nay.

3/- Những Bài Ca Khai Phá : trên 40 ca khúc sinh hoạt đặc biệt cho tuổi trẻ, sinh viên, học sinh dùng trong các buổi họp mặt công tác xã hội, các hoạt động đám đông, là tiếng kêu gọi tuổi trẻ đến với nhau cùng xây dựng một đất nước và niềm tin : Không Phải Là Lúc , Về Với Mẹ Cha, Đưới Ánh Mặt Trời, Chuyện Quê Ta, Hy Vọng Đã Vươn Lên, Một Giấc Chiêm Bao, Về Miền Gian Nan v..v..

Khởi động phong trào hát cộng đồng, hát chung khắp mọi nơi, sau này được lan truyền sang nhiều địa hạt và nhiều giới khác, kể cả tôn giáo. Du Ca trở thành hình ảnh mẫu mực con người xã hội mới, đi vào phim ảnh Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương.

4/- Cần Nhau : 12 tình khúc được biết đến nhiều với : Bên Kia Sông, Vì ́ Tôi Là Linh Mục, Cần Nhau, Như Mây Trên Cao, Vỗ Cánh Chim Bay ..

5/- Thỏ Thẻ Loan Phòng (hay Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc) : 18 bài sinh hoạt trong ngày hạnh phúc lứa đôi, hình thành 1969, nhiều bài hì́nh như đă thành nếp trong các đám cưới như : Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc, Đám Cưới Chúng Mình, Lũ Chén Dĩa Có Tội Tì́nh Gì, Đường Đến Hạnh Phúc .

6/- Khúc Nhạc Thanh Xuân : Khoảng 40 bài nhạc sinh hoạt thanh niên quốc tế.
Nhiều nhất là các ca khúc trong thời lập quốc Do Thái, phong trào Kibbuz, những bài hát nhân quyền, tự do từ Âu sang Á và Mỹ như : Về Miền Gian Nan, Bài Ca Hải Tặc, Quân Đoàn Thức Tỉnh, Không Ai Là Hoang Đảo… được chuyển qua lời Việt để sử dụng trong nhiều sinh hoạt tuổi trẻ.

7/- Hương Đồng Quê : Các khúc Dân Ca và nhạc đồng quê nổi tiếng trên thế giới chuyển dịch sang lời Việt, gần 200 bài như Bài Ca Sông Hồng, Những Bụi Hoa Dại, Em Yêu Dấu Hỡi, Bên Bờ Sông Ohio, Tâm Sự Chú Lừa… hầu hết bị thất lạc năm 1975.

8/- Phúc Ca Mùa Lễ : 25 bài đồng dao quốc tế hát trong mùa Gíáng sinh như : Jingle Bells, The Christmas Tree, Silent Night… được coi là những khúc hát vui trong mùa an bình của nhân loại.

9/- Ruồi Và Kên Kê : Hoàn tất năm 1970, gồm 11 bài, là những ca khúc bi phẫn về những vấn đề lớn nhất trong một khung cảnh chính trị và xă hội đen tối nhất của cả 2 miền đất nước : Im Lặng Là Ðồng Lõa, Ruồi Và Kên Kên, Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi, Phòng Thí Nghiệm Công Cộng, Vụ Án Cuối Cùng… Những ca khúc này vẫn được yêu chuộng cho đến nay.

10/- Dưới Ánh Mặt Trời : gồm những sáng tác trong tập Trầm Ca, Những Bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Chuyện Chúng Mình, Cần Nhau, Khúc Nhạc Thanh Xuân, Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc…. Bìa : Nguyễn Ðồng, Nguyễn Thị Hợp. Hý họa : Tạ Tỵ, Chóe, Hiếu Ðệ. Chân dung: Lê Phúc Kẻ nhạc: Phạm Xuân Ðài. Trình bày : Nguyễn Thiện Cơ, Ngô Mạnh Thu. Hình ảnh sưu tập : Trần Ðại Lộc. Hình bìa : Hồ Ðăng. Xuất bản Ðồng Vọng 1997 tại Cali – USA.

VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG NGẠO NGHỄ

Sau tin NS Nguyễn Đức Quang qua đời, triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng. NĐQ, tôi cúi đầu tiễn anh….

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm

Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loàng xoàng

Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người

Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi

Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi

Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại

Xương da thịt này cha ông ta miệt mài

Từng giờ qua

Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi

Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang

Trên bàn chông hát cười đùa vang vang

Còn Việt Nam

Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hung

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng

Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm

Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời

Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người

Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam

Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian

Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên

 

Phần trên là lời nhạc phẩm “ Việt Nam quê hương ngạo nghễ ” và dưới đường dẫn này là phần trình diễn của chính NS Nguyễn Đức Quang (xin Click vào đường link) :

Và mời các bạn nghe lại nhạc phẩm " VÌ TÔI LÀ LINH MỤC ” của NS Nguyễn Đức Quang, bài thơ đầu tiên của Nguyễn Tất Nhiên được phổ nhạc, qua tiếng hát của Lệ Thu :

oOo oOo oOo oOo

 

Lời Cuối Gởi Đến Anh:

 

Vĩnh Biệt Nguyễn Đức Quang!

 

Lời Mở Đầu:

 

Sau khi được tin nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang lặng lẽ ra đi, ngày 28 tháng 3, 2011, tôi có kêu gọi những anh chị em (ACE)  trong nhóm liên diễn đàn với nhóm Tình Nghệ sĩ để lấy những cảm nghĩ về người quá cố, rồi cho vào bài viết chung tiễn đưa lần cuối. Kết quả bài hay emails gửi về ngoài 10 diễn đàn liên kết, các thân hữu từ bên ngoài gửi vào khá nhiều.

Vì nhiều ACE như Dương Viết Điền và vài ACE khác cho biết đã thức khuya đến 4, 5 giờ sáng hôm sau để viết gấp cho xong bài, và nhiều thân hữu nhắn khi gửi là lời phân ưu, những cảm nghĩ đưa tiễn gồm kỷ niệm gửi qua internet không nên cắt xén bài của họ, và dịp tiễn đưa này chỉ có một lần thôi, do lời yêu cầu đó, tôi xin giữ trọn bài, trừ vài bài được cho qua trích đoạn được đăng y như vậy.

Vào....

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang thật sự không xa lạ với dân chúng ở miền Nam Việt Nam hay Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, bên ngoài được nhận diện là một nhạc sĩ, anh cũng là một nhà báo, một Huynh trưởng Hướng Đạo Việt Nam và những phạm vi khác nữa, chung qui là người có nhiều tài năng và đức độ.

 

Tôi có hai dịp chuyện trò với anh, cảm giác khi tiếp xúc thì anh là người vui tính, hòa nhã và cởi mở. Khoảng năm 2000 tôi đi với một người bạn là thân chủ của báo Viễn Đông, chúng tôi được anh tiếp, chuyện trò thế sự trước và sau năm 75, sinh hoạt âm nhạc và báo chí quận Cam, lần sau khi cùng đi với nhạc sĩ Dương Viết Điền xuống OC gặp anh Phan Nhật Nam, rồi anh Vương Trùng Dương, xong ghé vào Viễn Đông lấy báo và tiếp xúc với anh Quang. Tôi không có kỷ niệm trực tiếp với anh Nguyễn Đức Quang nhiều, nhưng có kỷ niệm đặc biệt với nhạc của anh. Vào những năm cuối của VNCH, Trung Cộng và Hoa Kỳ có những thỏa hiệp trao đổi ngầm, Đệ thất hạm đội của xứ Đồng minh án binh bất động khi hải quân Trung Cộng tiến đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19-01-1974. Tin chiếc HQ-10 của hải quân VNCH bị đánh chìm, anh chị em sinh viên trường đại học Minh Đức chúng tôi xuống đường biểu tình chống Trung Cộng. Cái đau đớn, tủi nhục cái uất nghẹn căm hờn khi bên ta thua trận chỉ bởi vì địch thủ là một con khủng long hung ác, một thứ king kong vạm vỡ lấy thịt đè người, qui luật của sự kiện mạnh được yếu thua, tôi đau khổ chứng kiến cảnh những chị em yếu lòng khóc ròng, các sinh viên trẻ sôi sục nỗi uất ức, loa phóng thanh tố cáo cả hai loại giặc, giặc trong Việt Cộng và giặc ngoài Trung Cộng. Giặc trong ngu xuẩn, mà giặc ngoài tham lạm, và rồi nhạc của Nguyễn Đức Quang tiếp vang niềm tin cho tuổi trẻ chúng tôi, để tiếng nói bất khuất cùa anh chỉ em chúng tôi, lòng yêu nước dâng tràn khi đồng ca bài "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ".

 

Từ sau biến cố 1974 về  quần đảo Hoàng Sa, bài ca này khơi lòng tuổi trẻ Việt Nam khi bờ cõi lâm nguy bởi ngoại bang, đặc biệt bọn Đại Hán bắc phương. "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" nhắc nhở cho tuổi trẻ niềm hãnh diện khi nhớ về những gương anh hùng hào kiệt xa xưa trong lịch sử bất khuất, có những Lý Thường Kiệt, Ngô Quyền, Trưng Triệu, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng hay Quang Trung Đại Đế,....Năm 2007 gần đây khi Trung Cộng ngang nhiên sát nhập hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa vào bản đồ của họ, Bắc Kinh chính thức hóa sự việc thành lập huyện Tam Sa trực thuộc đảo Hải Nam. Người Việt Nam, đặc biệt tuổi trẻ Việt Nam khắp nơi từ trong xứ ra hải ngoại tràn xuống đường căm phẩn, phản đối rợ bá quyền Đại Hán côn đồ ngang ngược và rồi "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" lại vang lên trong các buổi biểu tình bày tỏ nỗi quan tâm lo lắng vì tiền đồ dân tộc bị lâm nguy.

 

"Tạm Biệt "người yêu quê hương" Nguyễn Đức Quang

Hồi trung học, tôi thường đến chơi trụ sở CPS - Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Sinh Viên Học Đường - vì anh họ tôi Phan Văn P., giáo sư Toán cùng thày Trần Đại Lộc, dạy Việt văn ở Petrus Ký, là 2 thành viên của CPS hay "ăn dầm ở dề" ở trụ sở đó. Tôi được nghe các đàn anh, đàn chị đầy nhiệt huyết, hát hò vui vẻ với những cây đàn guitar thùng và tổ chức những buổi trình diễn văn nghệ sinh hoạt cộng đồng cho giới trẻ, học sinh và sinh viên.

Lúc ấy, tôi cũng tham dự vào Hướng Đạo VIệt Nam và thỉnh thoảng có dịp đi "công tác từ thiện" quanh Sài Gòn - kỷ niệm không thể quên là công tác giúp đỡ dọn dẹp ở Chợ Lớn và Phú Lâm sau Tết Mậu Thân. Chúng tôi thường hát với nhau các bản nhạc trong tập in ronéo, trong đó có một số bản nhạc của Nguyễn Đức Quang như: "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ", "Về Với Mẹ Cha", "Đường Việt Nam", "Hy Vọng Đã Vươn Lên" ... Các bản nhạc của anh Quang với tiết điệu rộn ràng và lời lẽ yêu nước hùng mạnh làm chúng tôi hăng hái vô cùng!

Sau khi biết chơi đàn guitar và vào Đệ Nhị Cấp, tôi yêu mến các tình khúc của các tác giả "trẻ" lúc ấy như Trần Tú, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Vũ Đức Sao Biển và đặc biệt là 2 bản nhạc của Nguyễn Đức Quang: "Bên Kia Sông" và "Như Mây Trên Cao".Giai điệu của "Bên Kia Sông" dễ nhớ, khá hay và lời của "Bên Kia Sông" trữ tình, lãng mạn, lồng trong một khung cảnh thật lý tưởng (theo thơ của Nguyễn Ngọc Thạch). Hình ảnh tươi sáng trong "này người yêu, người yêu tôi ơi, bên kia sông là ánh mặt trời", ta có thể hình dung 2 người yêu, đồng chí hướng, sẵn sàng lên đường giúp người, giúp đời ...  Lời của bài "Như Mây Trên Cao" cũng có nét tương tự như thế, "anh sẽ lên trên ngọn Hồng Lĩnh hái cho em một đóa hoa rừng, thầm khắc tên em vào phiến đá rêu xanh, rồi vây quanh bằng trái tim anh ..." tạo cho người hát, người nghe một cảm giác lãng mạn, nhẹ nhàng, tình yêu thánh thiện trong sáng ...

Tháng 3 năm 2005 anh Nguyễn Đức Quang có ghé về miền Đông Hoa Kỳ để giúp tay với Hướng Đạo trong vùng Hoa Thịnh Đốn. Cựu giáo sư Mạc Đỉnh Chi là thi nhạc sĩ Nguyễn Tường Vân cùng anh Bùi Mạnh Hùng đã tổ chức một họp mặt tiếp đón anh Quang với sự tham dự một số văn thi ca nhạc sĩ trong vùng như: Hoàng Song Liêm, Hà Bỉnh Trung, Nguyễn Ngọc Bích, Phạm Tuân, Vĩnh Liêm, Nguyễn Minh Nữu, Bạch Mai, Bùi Mạnh Hùng, Nguyễn Văn Đặng, Kiều Nga ... Tâm Hảo và tôi có đến gặp anh và đêm ấy, tôi hân hạnh được phụ đệm đàn vài bài chung với anh Nguyễn Đức Quang. Tuy phải dùng một cái ghế ngồi thay cho giá nhạc và một "camera stand" làm "micro stand" cho anh, nhưng người du ca vẫn vui vẻ, hát hết lòng, giọng sang sảng với những bản nhạc nổi tiếng của anh và đặc biệt nhất là bài mới sáng tác đầu năm 2005, đó là ca khúc "THÈM" (toàn bài ở dưới). Trong lúc anh hăng say trình bày, vài thính giả nghe lời hát có những ý "mới lạ": cười khúc khích ...

Dù ở tuổi gần 70 nhưng anh vẫn còn nhiều nhiệt huyết, hoài bão, vẫn "thèm" được sức khỏe và năng lực như lúc còn sinh viên, đi rong ruổi đó đây với cây đàn guitar thùng, để được hát lên những lời kêu gọi giúp đỡ người kém may mắn, đầy tình tự quê hương. Thỉnh thoảng đọc tin anh đi ngao du ở Úc, Pháp, Hoà Lan và một số tỉnh ở Hoa Kỳ ... đi đến đâu anh cũng được đón tiếp nồng hậu.

Nghe tin anh bị stroke nặng khi lên San Jose sửa soạn trình diễn vào tháng 2 và đã nằm trong phòng cấp cứu ở một bệnh viện từ lúc đó, tôi và nhiều người đã cầu nguyện mong anh được qua cơn hiểm nghèo. Chủ nhật vừa qua, 27 tháng 3, 2011, anh đã vĩnh viễn thanh thản rong chơi, theo lời của một Trưởng Hướng Đạo là "anh đã lìa rừng".

Theo tôi, thính giả mê thích nhạc của anh vì lời lẽ rất thật, rất gần, không màu mè, luôn chứa đựng những thông điệp cao đẹp, không bao giờ buồn rầu và ủy mị.

Cảm ơn "người yêu quê hương" Nguyễn Đức Quang đã đem đến cho Tân nhạc Việt những đóa hoa đẹp. Tôi tin chắc rằng anh ra đi mãn nguyện vì ngọn lửa du ca đã bùng lên trở lại đến mọi Cộng Đồng người Việt trên thế giới - cũng như thập niên 60 ở Việt Nam vậy.

Phan Anh Dũng-Tâm Hảo

Richmond, Virginia USA

30/3/2011

 

PS: Gửi kèm:

 

Tên bài hát: THÈM

Nhạc và lời: Nguyễn Đức Quang

Khởi soạn tháng 10/04 - Hoàn tất tháng 1/05

Thèm - đầu ngày cất tiếng yêu đời

Thèm - giọt cà phê đắng Paris những ban mai

Thèm - trèo lên cao ốc chơi vơi kinh thành

Gọi một tiếng lớn tên quê hương mình

Truyền đi ngàn hướng - lời tôi rung bao trái tim

Thèm - nhìn sâu đôi mắt thấy hiền

Thèm - được nghe nhắc đến tên nhau ngọt êm

Thèm - cuộc đời mở những chân thang rất đều

Để em lên xuống khoan thai dặt dìu

Thèm mùi son mới - thèm câu nói tình yêu

Thèm hương mồ hôi đẫm - những lòng phố chen chúc con người

Thèm trông bờ môi xinh tha thiết nhiệt tình nói miết tương lai

Thèm mới nửa câu kinh đã thấy quanh mình nở hoa trắng trong

Thèm xem đoạn phim hay em cười trong vắt nụ hôn kéo dài

Thèm - chạm làn khói trắng lưng trời

Thèm - ngồi bên nhau hát miên man lời vui

Thèm - ngồi co chân sát vai nhau bên đồi

Nửa vòng tay ấm đốt cháy lưng người

Nửa vòng hờ hững chờ có tiếng ai gọi mời

Thèm - nửa đêm nghe tiếng oan cừu

Gọi bằng đường giây nóng xin bôi xóa chuyện xưa

Thèm - ngồi trên phiến đá chân mây cao vời

Gập ghềnh lăn bánh nhân sinh ngọt bùi

Hoàng lan thơm ngát, chiều quê ơi, em và tôi."

Nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi viết marathon bài cho kịp thời hạn, tôi nghe chị thức khuya. Tác giả này xuất thân từ gia đình văn chương và âm nhạc, chị vốn dĩ thích 2 phạm vi này, trong bài viết, nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi về kỷ niệm tham dự nghe những buổi ca hát với nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, tác giả dùng lối xưng hô bằng tên LN, tức Lan Nhi. Bài "Một Chút Tâm Tình Với Anh Nguyễn Đức Quang":

"Khi được cháu Minh Phú cho biết tin anh Nguyễn Đức Quang bị coma, Lan Nhi (LN)thật sự đã lặng im, vì không biết phải nói gì lúc này.

Mới đây tt lại cũng nhắc đến anh:

" Chị LN ơi, em có nghe tin nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang vừa lâm trọng bệnh, phải nhập viện tuần trước, hiện nay tuy đã qua cơn hôn mê nhưng nửa thân người vẫn còn bị liệt..."

Ông Trời chắc cũng điếc tai vì những lời cầu xin của những người ái mộ nhạc du ca của anh, và thế nào ông cũng cho anh mau khỏi để còn sáng tác nhạc và hát cho mọi người nghe nữa chứ!

Với anh Quang, có thể LN biết anh, chắc chắn anh không biết LN là ai, dù rằng, gần như lần nào anh Quang tổ chức hát, khi thì ở nhà người bạn, khi thì ở Phòng sinh hoạt Người Việt, LN đều có dự.

Người mà rủ LN đến nghe anh Quang hát tại nhà một người bạn, chính là vợ chồng hmh. Căn nhà khang trang rộng rãi, nhưng chính lại nhờ vườn sau rộng rãi, có cây lớn cho bóng mát, đã chứa được mấy chục người ái mộ nhạc du ca của anh Quang. Tới đó, LN không quen biết ai ngoài hmh và Hiền. Sau này, khách đến càng ngày càng đông, LN mới có được vài người bạn quen đã lâu tình cờ hôm đó được gặp lại.

Một bàn dài bày rất nhiều thức ăn, nước uống. LN chỉ nhớ là nhiều món ăn lắm. Làm sao nhớ để kể ra đây được, vì thời gian cũng khá lâu rồi... Thường thì có soup, chả giò, bánh cuốn Thanh Trì, bánh lá, bánh nậm, gỏi đu đủ, gỏi cuốn...hình như còn có thịt bò tái...

Chương trình bắt đầu khoảng 3 giờ, và anh đã một mình với cây đàn guitar hát cho đến 6 giờ mới tan...

hmh và Hiền ơi, lâu quá chị em mình chưa gặp lại nhau đó nha. Chị LN đang nghĩ đến một hôm nào họp ở nhà chị, hy vọng sẽ được gặp lại các em Gia Long một thuở mới quen.

Khi anh Quang tổ chức ở Người Việt, thì người đến đón LN tới dự nhạc du ca của anh Nguyễn Đức Quang lại là cháu Minh Phú.

Anh đã hát say sưa những bản nhạc do anh sáng tác, và chỉ với một cây đàn guitar, anh đã hát say mê và không ngừng.

Thời gian vẫn lướt trôi. Bây giờ, xác thân anh Quang đang nằm yên nơi gian trần khổ ải này, nhưng hồn anh đang bay bổng cõi xa. Có thể anh đang hàn huyên cùng chị Quang, có thể anh đang lang thang nơi rừng sâu, ven suối, đi tìm vần nhạc...

LN cầu chúc anh được thảnh thơi nơi cõi vĩnh hằng, để lại cùng những người ái mộ, anh vừa đàn, vừà ca những bài nhạc nói lên tình yêu nước, yêu người..nơi .bên kid thế giới …

Với riêng LN, LN rất mê bài Bên Kia Sông, và lần nào cũng thế, khi tiếng đàn guitar vừa dạo vài nốt nhạc đầu, LN đã thấy lòng xôn xao theo giọng ca trầm bổng của anh:

 

Này người yêu, người yêu anh ơi!

Bên kia sông là ánh mặt trời

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Bên kia đồi, cỏ hoa đan lối

Bên kia núi, núi cao chập chùng

Bên kia suối, suối réo lạnh lùng

Là bài thơ, toàn chữ hư vô ...

 

Nghe những lời ngưoi yêu ru êm...và thật lãng mạn, tình tứ, LN cảm thấy như có người yêu thương đang ngồi bên cạnh thầm thì với mình những lời nồng nàn, âu yếm...

 

Này người yêu anh ơi!

Cho anh nồng ấm cuộc đời

Hoa thơm có ánh mặt trời

Như núi mừng - vì mây đến rồi

 

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Yêu nhau mình đưa nhau tới

Bước nhẹ - và nói bên môi

Nói cho vừa.. mình anh nghe thôi!

 

Còn gì dễ yêu hơn lời:

- nói cho vừa... mình anh nghe thôi!

LN cứ nghĩ đó là một hờn ghen nhẹ nhàng, đáng yêu, bởi anh không muốn em nói với ai cả, ngoài anh, chỉ một mình anh thôi nha.

 

Này người yêu, người yêu anh ơi!

Bên kia sông đường vẫn còn dài

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Bên kia đồng cỏ non đan lối

Trong cơn gió - thoáng nghe nụ cười

Trong khe núi - thánh thót lòng người

Lòng đòi tình vật vã khôn nguôi

 

Này người yêu anh ơi!

Đêm đêm lòng vỗ tình dài

Dây xanh quấn quít vào đời

Cho trái tình nở trên tiếng cười

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Bên trong lòng người êm ái

 

Rắc nhẹ từng cánh hoa rơi (*)( cánh sao rơi)

Sẽ âm thầm mình em nghe thôi!

Và cuối cùng, anh cũng hứa như một lời đoan quyết thủy chung, khi trái tình nở trên tiếng cười, đó là lúc:

- Sẽ âm thầm mình em nghe thôi.

LN lại thích thú khi nhớ đến câu: Chỉ hai đứa mình thôi nhé, khi hết chỉ mình anh nghe, rồi lại chỉ mình em nghe...

Cám ơn lời thơ của thi sĩ Nguyễn Ngọc Thạch, cám ơn dòng nhạc của nhạc sĩ kiêm ca sĩ Nguyễn Đức Quang.

Bỗng nhiên LN lại ví anh với nhạc sĩ Văn Giảng. Bởi 2 người cùng đa số có những bản nhạc hùng. Khi nghe nhạc hùng mạnh, LN không ngờ trong thâm sâu tận cùng của tâm hồn, anh Giảng cũng như anh Quang vẫn giữ được nét nhạc tình thơ mộng, lãng mạn, tình tứ đến vậy.

Tuy nhiên LN có nghĩ đến lời bóng bẩy với ý nghĩa như muốn vẽ cho ngườì bên này sông, hình ảnh một cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc, tự đo của đời sống bên kia sông...

Anh Giảng có bài Ai Về Sông Tương. Anh Quang có bài Bên Kia Sông... Cả hai bài tình ca cùng hay, cùng sống mãi với thời gian.

Lê Hữu Mục, Lê Hiền Minh, Lê Thị Hồng, Phạm Kim Long, Hồng Vũ Lan Nhi và Cát Ngọc xin vĩnh biệt chia tay"

 

Thân hữu Không Gian Mây Ngàn - Phân Ưu:

Sự ra đi của Nhạc sĩ Du ca Nguyễn Đức Quang là một điều buồn, môt mất mát lớn cho làng âm nhạc Việt Nam, Chúng tôi chân thành cầu nguyện cho anh sớm về nơi vĩnh hằng.

LS Thành Thanh Hiệp, GS Nguyễn Xuân Vinh, GS Nguyễn Ngọc Bích, LS Đoàn Thanh Liêm, GS Nguyễn Thanh Trang, GS Nguyễn Quốc Khải, LS Đỗ Thái Nhiên, BS Nguyễn Tri Phương, Phiến Đan, Khúc Minh, Khúc Lan, Tuấn Minh, Tuyết Mai, Đỗ Tiến Đức, Huỳnh Lương Thiện, Chu Bá Yến, Đoàn Hữu Định, Phạm Đình Long, MS Trần Văn Oan, Đỗ Thị Thuấn, các Diễn đàn Thân hữu, Không Gian Mây Ngàn - (TP-NXV).

Tôi được bái viết trích đoạn sau từ trang Cỏ Thơm do nhạc sĩ Phan Anh Dũng chuyển link. Nhà văn Giao Chỉ San Jose cho cảm nghĩ về nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang:

" ... Nhưng thực sự phải xem Nguyễn Đức Quang hát mới thấy rõ sự quyến rũ của Du Ca.

Tham dự văn nghệ ta thường nói là đi nghe hát, nhưng với Nguyễn Đức Quang thì phải là đi xem hát. Dân Sinh Media có thu được rất nhiều lần Nguyễn Đức Quang trình diễn, nhưng đã chọn lọc được một lần xuất thần hơn tất cả nhưng lần khác. Các bài “Đường Việt Nam”, “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” trình diễn trên sân khấu nhỏ đã được thu hình trong giây phút nghệ sĩ để hồn vào lời ca, tiếng hát, bằng tay chân, bằng dáng điệu và bằng cả tấm lòng. Quí vị có thể tìm thấy và cảm thông với giây phút huyền diệu trong đĩa DVD số 2 của bộ phim San Jose 35 năm nhìn laị qua 3 kỳ biến động.

 

Phiếm về du ca Nguyễn đức Quang

Tôi không phải là nhà phê bình âm nhạc, nhưng gọi là phiếm luận thì ai cũng có thể. Xin phiếm như sau. Trịnh Công Sơn kêu gọi ngồi xuống thì Nguyễn Đức Quang thôi thúc đứng lên. Cùng trong cuộc chiến, Trịnh Công Sơn than thở thì Nguyễn Đức Quang chấp nhận 

Trịnh Công Sơn nhìn thế giới trong hoàng hôn thì ánh bình minh rọi sáng với Nguyễn Đức Quang. So sánh cả với du ca Phạm Duy sống trong thế giới mùa Thu thì du ca Nguyễn Đức Quang vĩnh viễn là mùa hè. Nếu Phạm Duy tuyệt vọng trong cuộc chiến bi thảm thì Nguyễn Đức Quang luôn luôn thấy hy vọng đã vươn lên. Nếu Phạm Duy và Trịnh Công Sơn soạn nhạc cho cuộc đời ca hát thì Nguyễn Đức Quang soạn nhạc để chính mình cùng ca hát với cuộc đời ..."

Mời xem: Để Nhớ Nhạc Sĩ "Việt Nam quê hương ngạo nghễ" Nguyễn Đức Quang  - Giao Chỉ San Jose"

Nhạc sĩ Dương Viết Điền có dịp gặp nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang tại Việt Nam và tại Mỹ, tác giả thuật kỷ niệm đầu tiên gặp anh Quang tại Huế:

 

Một Kỷ Niệm Với Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang

Tôi nhớ vào khoảng năm 1971, 72 gì đó,  Nhac Sĩ Nguyễn Đức Quang dẫnTrung đội Chính huấn từ Trung ương ra ở lại tại Đại Đội 101 Chiến Tranh ChínhTrị thuộc Tiểu Đoàn 10 CTCT, trú đóng trong Thành Nội thuộc thành phố Huế để đi sinh hoạt ở vùng Hoả Tuyến. Năm ấy, tôi cũng giữ chức vụ Trung đội trưởng Chính  huấn của  Đại đội 101 CTCT nên đã đại diện Đại đội 101 tiếp đón anh ấy để rồi hai anh em chúng tôi cùng ngủ chung một phòng trong đơn vị. Sau mấy ngày công tác tại các binh chủng ở vùng Hoả Tuyến, vào những ngày nghỉ, tôi đã hướng dẫn Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang cùng tất cả các nữ Huấn Đạo thuộc Trung đội Chính huấn từ Trung ương ra, đi thăm một số Lăng tẩm của các vua Chúa nhà Nguyễn ở đất Thần Kinh. Sau chuyến thăm viếng nầy, anh Nguyễn Đức Quang nói với tôi rằng, anh ta tỏ ra rất thích thú vì không ngờ chuyến công tác ở vùng Hoả Tuyến nầy lại được một dịp may là biết được một số Lăng tẩm của những nhà vua Triều Nguyễn.

Vào một chiều thứ bảy, anh Quang nói với tôi:

-Chiều nay anh Điền đi chơi với tôi nhé

Tôi hỏi anh Quang :

-Đi đâu vậy hở anh?

-Đi xuống biển Thuận An hóng mát.

Tôi ngạc nhiên nhìn anh:

-Anh ở tận trong Sài Gòn mới ra Huế mà lại biết bãi biển Thuận An?

Anh Quang vừa cười vừa trả lời:

-Thì anh cứ đi với tôi, tôi bảo đảm anh sẽ có một buổi vui chơi thoả thích cơ mà!

Mặc dầu trong đầu tôi lúc bấy giờ bán tin bán nghi, nhưng tôi vẫn lái xe chở anh Nguyễn Đức Quang đi theo sự hướng dẫn của anh ấy 

 Khi ra tới đườngTrần Hưng Đạo ( lâu ngày quá tôi có thể nhớ lộn đường), anh Quang chỉ đoàn xe GMC khoảng 4 chiếc chở đầy cả người đang đậu sát lề đường ở đằng kia rồi bảo tôi :

-Khi nào đến sau đoàn xe đó thì anh dừng lại nhé.

Tôi vừa ngạc nhiên vừa lái xe đi theo sự hướng dẫn của anh Quang. Vừa đến sau đoàn xe, tôi liền dừng lại. Khi anh Nguyễn Đức Quang vừa bước xuống xe, anh ta  liền đưa tay ngoắt rồi vừa cười vừa vẫy tay chào những người ngồi trên xe GMC. Vừa nhận ra Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang, tất cả những người ngồi trên 4 chiếc xe GMC liền đưa tay vẫy chào lại và reo hò thật to như đã thấy được thần tượng :

-Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đến rồi, Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đến rồi !

Nhìn lướt nhanh những người ngồi trên bốn chiếc xe GMC, tôi thấy tất cả đều thuộc vào lứa tuổi thanh thiếu niện, thiếu nữ. Và mọi người đều bận đồng phục: bộ áo quần bà ba màu nâu. Thì ra đây là đoàn du ca ở miền Trung. Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đã cùng họ sắp xếp đâu từ lâu rồi để chờ dịp  Nguyễn Đức Quang ra công tác ở vùng Hoả Tuyến sẽ cùng nhau đi du ngoạn và trình diễn một chuyến!

Nguyễn Đức Quang liền nhìn tôi vừa cười vừa nói:

-Anh dẫn tôi đi du ngọan trên núi, bây giờ tôi dẫn anh đi du ngoạn dưới biển thôi.

Tôi cũng vừa cười vừa nói:

-Tôi xin thua ông! Ông kín đáo quá, làm tôi đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác !

Thế rồi hai anh em chúng tôi ôm nhau cười xoà.

Sau đó tôi lái xe chở Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đi đầu, hướng dẫn đoàn du ca ngồi trên 4 chiếc xe GMC trực chỉ xuống bãi biển Thuận An để thực hiện chương trình văn nghệ của đoàn du ca đã vạch sẵn.

Đêm ấy, đúng như lời anh Quang nói với tôi, tôi “đã có một buổi vui chơi thật thỏa thích”. Chương trình văn nghệ của đoàn du ca nầy thật hấp dẫn, sống động, kỳ thú  và vui tươi.

Dưới ánh trăng mờ ảo trong đêm, anh chị em trong đoàn du ca đã đốt lửa trại sáng rực cả một góc trời và họ ngồi quây quần bên nhau quanh bếp lửa hồng rồi vừa đàn vừa hát suốt đêm thâu thật vui tươi và ấm cúng. Người nổi bật nhất đêm ấy dĩ nhiên là Nhạc Sĩ Ngyễn Đức Quang, một trong những người sáng lập ra Phong Trào Du Ca Việt Nam từ thập niên 1966.

Cứ mỗi khi anh Quang hát xong một bài do anh sáng tác, những tràng pháo tay tán thưởng nhiệt liệt vang dội cả một góc trời, át luôn cả tiếng sóng biển ở đằng xa đang vỗ rì rào trong đêm tối. Có lẽ vì lâu ngày và có một số ”fan”chưa bao giờ được nghe và thấy Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang hát bao giờ nên đêm ấy, họ đã thấy rõ ràng thần tượng của họ bằng xương bằng thịt đang đứng hát trước mặt nên khoái chí quá đã vỗ tay liên hồi không muốn ngừng lại.

Chương trình đêm hôm ấy đủ các tiết mục: song ca, hợp ca, tam ca, tập thể ca v v…

Riêng Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang, anh ta vừa đánh đàn vừa hát. Với giọng hát khi bổng khi trầm, anh ta  khi đi tới, khi đi lui, khi nghiêng bên trái, khi nghiêng bên phải, khi cúi xuống khi ngững lên như muốn diễn tả những ý nghĩ của anh nằm trong những bản nhạc mà anh ta đang hát. Đây là lần đầu tiên ( năm 1971), tôi thấy Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang trình diễn những bản nhạc do chính anh sáng tác. Tôi nghe tiếng tăm Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang từ lâu nhưng chưa bao giờ gặp anh ta vì tôi ở ngoài miền Trung, anh ấy lại ở trong Nam mặc dầu cả hai chúng tôi đều cùng ở trong ngành Chiến Tranh Chính trị.Và đúng là danh bất hư truyền nếu nói đến nội dung của từng bản nhạc và bộ tịch diễn tả lúc anh ta đang trình diễn! Thảo nào khi tôi lái xe dừng lại sau đoàn xe GMC, khi anh Quang vừa bước xuống xe đưa tay lên vẫy chào, gần cả trăm thiếu niên thiếu nữ la oang oang trên xe như tỏ vẻ quá vui mừng rồi reo hò như họ được thấy một thần tượng đã ấp ủ trong giấc mộng từ lâu. Tôi bỗng buột miệng nói nho nhỏ:

-          Không ngờ Nguyễn Đức Quang nổi tiếng đến thế!

Nếu tôi nhớ không lầm, vì lâu ngày quá cách đây đã 40 năm, đêm đó cũng có Nhạc Sĩ Trần Đình Quân, tác giả của bản nhạc tình ca nổi tiếng vang bóng một thời là bài” KHÚC TÌNH CA XỨ HUẾ”. Nhạc Sĩ Trần Đình Quân, giáo sư dạy học tại Trường Trung Học Phan Châu Trinh ở Đà Nẵng, cũng là một trong những người sáng lập ra Phong Trào Du Ca thưở ấy.

Nếu tôi nhớ không lầm thì đêm ấy, Nhạc Sĩ Trần Đình Quân cũng có trình diễn một,hai bài gì đó.

Thế rồi đêm đã về khuya, chương trình văn nghệ cũng chấm dứt. Tất cả anh chị em trong đoàn Du Ca chia tay nhau ra về mà lòng ai cũng bâng khuâng tiếc nuối vì niềm vui qua mau.

Tôi liền chở Nhạc Sĩ Ngyễn Đức Quang trở về lại đơn vị trong Đại Đội 101 CTCT trú đóng sát phi trường Tây Lộc ở trong Thành Nội Huế để nghỉ ngơi .

Sáng hôm sau, Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang cùng toàn thể nữ Huấn Đạo trong Trung đôi Chính huấn của Trung ương từ giả tôi, từ giả đơn vị trưởng của Đại đội 101 CTCT để về lại Sài Gòn.

California, ngày 28 tháng 03 năm 2011

( Viết sau khi vừa nhận được e- mail của chị Bích Huyền báo cho biết, Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang vừa qua đời lúc 04giờ sáng).

Các thân hữu Bích Huyền, Quỳnh Giao, Phong Vũ Lê Anh Dũng, Vương Trùng Dương, Nguyễn Thanh Huy, Trần Trung Đạo, Vũ Hoài Mỹ, Hoàng Tiến Long, Nguyễn Đức Cường, Vũ Văn Tùng, Trần Thế Cung, Song Thuận, Nguyễn Phục Hưng, Nguyễn Ngọc Tuấn, Khiếu Long, Ngọc Hoài Phương, Xuân Điềm, Trần Đại Nam,Tâm An Đỗ Văn Học, Lê Bình, Phan Bá Thụy Dương, Võ Thạnh Văn, Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích, Nguyễn Cao Can, Diệu Tần, Chinh Nguyên, Nguyễn Ngọc Linh và Dương Viết Điền xin đồng thành kính phân ưu cùng tang quyến.

 

Dương Viết Điền"

 Ca sĩ Thanh Lan viềt bài tưởng niệm, chị nhắc dến chuyến văn nghệ ở Âu châu, một văn thuở văn khoa với nhạc du ca Nguyễn Đức Quang...

"Tưởng nhớ anh Nguyễn Đức Quang.

 

Anh Quang mến,

Từ  những  năm  70  xa xứa, Thanh Lan  đã  luôn nghĩ đến  anh  như  một  người  thanh niên  đầy  nhiệt huyết, yêu  đời  và yêu  đất  nước Việt  Nam  vô bờ bến.

Trong  khi  bao nhiêu  thanh niên  hứ hỏng  vì hoài nghi cái  tương lai của  chính  mình, bỏ học vì nghĩ rằng dù sao cũng  sẽ bỏ  mình ở chiến  trường  mà thôi,  thì anh  luôn vững  tin  vào  một Việt Nam quê hương  ngạo nghễ.

Anh có  cái  ý chí mạnh mẽ và trong sáng của một anh hùng dân tộc.  Một  bài  hát  của  anh  có hiệu quả  hơn  ngàn  viên đạn đồng.

Đêm nay, hình ảnh  anh trong chuyến đi Âu Châu  mấy  mươi  năm trước lại  trở về, rõ  nét hơn bao giờ  hết, khi nghe tin anh đã vĩnh  viễn  ra  đi. Anh gầy gò vói cây đàn guitar, nhưng nét mặt luôn rạng rỡ. Khi  anh  hát, anh  tặng  cho  khán giả  tất cả sừc sống  của ngúóì trai trẻ muốn gửi  gấm một  thông  điệp  cho  đời.

Chỉ  mời  mấy  tháng  đây  thôi, đến  với anh trong đêm Nguyễn Đừc Quang tại sân khấu  nhỏ  của  tòa  sọan báo  Người  Việt, nụ  cười  của  anh làm  ấm  lòng mọi  người.  Vẫn  gầy  gò, vẫn  năng  động, vẫn  Nguyễn  Đức  Quang.

Nhớ  lại  một  thõi  sinh viên .........

Gửi   anh  vài   dòng.......

Một  người bạn  cũ,

 

Thanh Lan"

 

- Đính kèm hai nhạc phẩm của Nguyễn Đức Quang

 

Chiều Qua Tuy Hòa

 

Ngày xưa tôi đã đi qua Tuy Hòa

Trời xanh le lói bao mộng mơ

Đàn chim tung cánh bay bay đầu gió

 đâu đây tiếng sông bồi phù sa

Ôi, những chiều mây vắt ngang lưng đèo

Vọng Phu đưa mắt cũng buồn theo!

 

Chiều nay lơ lững tôi ngang Tuy Hòa

Ngồi đây nhưng thấy như còn xa

Trường xưa hoang vắng, hiu hiu bên ruộng lúa

Một con chim én nô đùa ngoài kia

Ôi, bước dài ngao ngán bên nương buồn

Nhìn quanh trơ đứng bao đồng nương!

 

Rồi khi tia nắng phía non Tây tàn

(Thì) Người đây như cũng như dần tan

Nhịp đêm tiếng súng đong đưa ngoài ngõ

Người qua song chắn hé nhìn trời xa

Ôi đỉnh trời lấp lánh trong đêm dài

(mà) mình tu chưa chín nên nào hay!

 

Đường đi đưa tới phía Nam nhưng lòng

triền miên ray rứt theo miền Trung

Cầu xưa xơ xác sau cơn bão tố

(còn) người dân tan tác bên đường ngẩn ngơ

Ôi, bước buồn theo mãi không gian buồn

Một đêm qua biết bao sầu thương!

 

BÀI DU CA CUỐI CÙNG

 

Tôi đến từ núi lạ

Hát mấy lời tăm tối

Mang dấu buồn trên dòng cuồng lưu

Trong suốt cuộc sinh tồn

Anh có đợi lời tôi

Dù úa tàn mấy ngọn trầm hương

Tôi buồn cuối ngày khiêng lời anh nằm hấp hối

Qua vùng đất xưa du hồn bay về chốn bụi

Quê hương bây giờ chắc cũng buồn vì một tiếng ca

Thầm nuôi lại trái tim ngậm những lời mệt mỏi

Này người du ca muôn thuở

Anh có nghe gì không

Quê hương đang lắng nghe

Và đồng bào đang lắng nghe

Người ta nghe văng vẳng ở khắp nơi trên mặt đất đầy đau khổ này

Những người du ca đang hát bản du ca cuối cùng như một lời cầu nguyện

Tôi đã thấy những tấm lòng nhân ái băng bó vết thương cho tiếng hát 

Tôi đã thấy những bàn tay cứu rỗi cho cây đàn vang vọng

Tôi biết người tìm về phía hư vô

Nghiêng câu hát buồn như viên gạch cũ

Theo đoàn người chậm bước qua con phố

Dàn kèn đồng nghẹn những khúc  âm ma

Tôi muốn hát cho cây cỏ nghe

Những chữ viết bằng âm đầu tình tự

Còn sót trên tường vôi một thời quá khứ

Những bàn chân trôi giạt vào cuộc lữ

Cũng dừng bên quán nhớ bùi ngùi

Tôi có những niềm vui nằm trong tủ sách

Những niềm vui âm ỉ đời người

Và những vẻ đẹp của những nét đớn đau đốt cháy mọi tiếng cười

Tôi có những niềm vui treo ngoài lồng ngực

Nép mình sau những rặng trường xuân

Sau cánh cửa cuối cùng lòng anh vừa khép lại

Ôi cuộc đời

Ôi nhân loại

Để đắp đổi đợi chờ từ năm tháng

Ới tôi là kẻ bổng mừng

Vói tay gỡ anh ra xa khuất mái ưu phiền

Buổi sáng ở Sài Gòn

Mặt trời không còn đẹp nữa

Chốn quê người gió tháng ba vẫn còn thổi lạnh.

PHAN NI TẤN

03/2011" 

oOo

 

Xin cám ơn tất cả tác giả, quý thân hữu ở xa, không đến Little Saigon đưa tiễn anh Nguyễn Đức Quang. Tôi muốn dùng câu nói cuối cùng trên của nhạc sĩ Nguyễn Quyết Thắng cho kết luận một sự chia tay hầu như không như ý. Tất cả chúng ta bùi ngùi trước một người đồng hương Nguyễn Đức Quang, hay chính xác hơn, một nhân tài của đất nước Việt Nam, bao năm miệt mài đóng góp cho xứ sở bằng lòng xả thân không quảng ngại cực nhọc, khó khăn khi hướng dẫn tuổi trè hướng về tương lai của sự hữu dụng cho quốc gia, anh trải rộng lòng nhiệt tâm, bầu nhiệt huyết xây dựng tuổi trẻ Việt Nam;

 

Thưa anh Quang,

Tuổi trẻ chúng tôi noi gương đóng góp cho xứ sở từ bậc đàn anh như anh, dùng hình thức này hay hình thức khác, có người theo học chính trị, kinh doanh hay kinh tế, như email của anh Francis Khúc cùng bạn bè từ trường Chánh Trị Kinh Doanh mà anh theo học, những tuổi trẻ ngày xưa chọn những ngành mà anh và họ đã kinh qua tại quê nhà một thuở, có người như HQ Hồ Ái Việt tâm sự anh chọn đi hải quân VNCH, sau này HQ VNCH đã hiên ngang bảo vệ bờ cõi, ngăn cản xứ ngoài xâm lăng đất nước chúng ta; hay anh Dương Viết Điền của ngành Chiến tranh Chính Trị, họ thường ca hát nhạc của anh. Và rồi anh, bạn bè anh, tuổi trẻ chúng tôi đồng ca khắp nơi vang vang "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ", bài ca này gắn liền với biến cố Hoàng Sa 1974 mà nhiều người mang nỗi uất hận Hoàng Sa theo kiếp này, chúng tôi cám ơn anh, bằng âm nhạc, anh nhắc nhở thanh niên về dòng sử xanh oai hung của dân tộc ta, về lòng yêu nước vô biên; Và nói đến Nguyễn Đức Quang không phải người ta chỉ quý trọng tài năng âm nhạc của anh mà thôi, nhưng trên cao tất cả, một Nguyễn Xuân Hoàng, một Cát Biển Nguyễn Sáng cùng với nhiểu người nhận định điều quý nhất của Nguyễn Đức Quang là nhân cách. Nhân cách là điểm mà bạn bé anh trân quý anh, gắn bó với anh, quyến luyến qua bao bài viết tiễn đưa anh.

Thôi anh Quang nhé, chúng tôi xin bắt tay anh lần cuối, lên đường đoàn viên lại với chị Minh Thông cùng bao bạn bè cũ mới của anh trên cao ấy, hãy bảo trọng và sống an bình …

Như cháu hướng đạo Bùi Bảo Kim của LĐ Hướng Đạo Thăng Long, Arlington, Virginia, là tác giả bé nhất xin tiễn đưa chào vĩnh biệt bác Trưởng Nguyễn Đức Quang. Tất cả chúng tôi xin sửa lời của cháu lại là:

 

"Anh Quang,

You are a talented composer, a respected friend as well as a great leader for many of us. Above all, you are the best man, anh Quang.

And  we all will miss you…

Farewell with your pleasant journey heading high up there, the destination that you chose at peace!"

 

All your friends, here.

 

 

 

Nhận được tin buồn:

Nhạc sĩ Du ca Nguyễn Đức Quang dã ra đi . Chào Vĩnh Biệt

Xin thành kính phân ưu cùng các cháu, con anh Nguyễn Đức Quang, cùng tang quyến, nguyện cầu nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang ra đi về miền vĩnh cửu, để yên nghỉ ở chốn an bình ngàn thu.

Xin một lần cuối chào vĩnh biệt tiễn đưa anh!

-Trường Sa, Nguyễn Đức, Nhật Ngân, Song Ngọc, Huỳnh Anh, Ngọc Chánh, Đỗ Kim Bảng, Lam Phương, Tuấn Khanh, Lê Mộng Nguyên, Bích Xuân Paris, Lê Văn Phúc, Đan Thọ, Phó Quốc Lân, Linh Phương, Phạm Khải Tuấn, Thanh Thúy, Mai Châu, Hoàng Oanh, Trung Chỉnh, Lệ Thu, Lệ Thanh, Phương Hồng Quế, Trang Mỹ Dung, Mạnh Quỳnh, Lê văn Khoa, Bà Hoàng Lan, Bà Nghiêm Phú Phi, Bà Văn Phụng, Bà Lê Trọng Nguyễn, Xuân Điềm, Anh Bằng, Việt Hải và Lê Dinh.

 

ĐỒNG THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

 

 Related image

 Related image

 

Hình Ảnh Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang

 

NGUYỄN ĐỨC QUANG, NGƯỜI YÊU TÔI BỆNH

A ha! Ê hê! 

Sáng nay nghe tin người bạn già của tôi

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang vừa bị đứt mạch máo não

nằm mê mang như cây đàn vừa đứt một dây trầm

Sáng nay chính câu thơ tôi thả bay trong nắng

hỏi tôi còn nhớ từng ngày xưa

Ừ thì nhớ người du ca muôn thuở

người du ca của mọi người, của cả nắng và mưa

Trời sinh anh ra đôi chân lặn lội

đi tác động khắp nẻo quê hương

bản du ca mở ra những con đường đất

gọi người về sống với yêu thương

Trời sinh anh ra một đôi môi hát

tiếng hát bay xa đến tận lòng người

nhìn vào câu ca đã trông thấy phố

thấy cả nông thôn nhà máy vươn mình

Câu anh hát mọi người cùng hát

hy vọng vẫn vươn lên như khói lan xa

hát khúc du ca mắt người thắp lửa

sáng trong lòng cứ mãi hắt ra

Đẹp đến nỗi em bé đánh giày bên hè phố cũng biết hát

chị bán lạc soong nghe cũng nở môi cười

anh xích lô hát bằng đôi chân chở khách

chị nông dân thắm tháp khúc tình người

Đẹp đến nỗi cây lúa thở ra khói trắng

cũng biết kêu và hát ngêu ngao

em rót câu ca chị gặt khúc hát

người gọi người trên một phong trào

Đứng cạnh người nghệ sĩ du ca

ôm cây đàn cùng cất cao tiếng hát

câu thơ tôi ngày xưa cũng trôi theo dòng nhạc

trái tim xanh thắp lửa niềm tin

Sáng nay lục lại ngày thơm trang bản thảo

thấy dòng đời lặng lẽ trôi qua

thấy máu nhỏ xuống nền bệnh viện

loan thành tin ngưòi nằm bệnh phương xa

Nghĩ mà giận người bạn già thiệt ngặt

giận mà mong anh bạn sớm được bình an

thức dậy lần này chẳng còn ai thèm nghe anh hát

mà chính lần này chúng tôi hát anh nghe

Này huynh trưởng, này bạn gìà, bạn lớn

là người yêu của mọi đồng bào

đất nước lâm nguy như người lâm trọng bệnh

vẫn còn nghe văng vẳng khúc hư hao

Nghe gì đây – khà khà… nghe tôi hát bản du ca cuối cùng:

“Nguyễn Đức Quang, người yêu tôi bệnh”

PHAN NI TẤN 
15/02/2011

 


Sưu tầm by Nguyễn Ngọc Quang
 
 

 

 

 

 

 

Theo dõi RSS này