Chia buồn

Chia buồn (18)

THƯƠNG NHỚ NHẠC SĨ NGUYỄN ĐỨC QUANG (Sinh 1944- Mất 27-3-2011)

Smile

Nhạc sĩ Nguyễn đức Quang là một trong số các nghệ sĩ hiếm hoi vừa soạn nhạc vừa trình diễn. Vì vậy mỗi lần đi xem du ca Nguyễn đức Quang, chúng ta lại mắc nợ anh khá nhiều. Anh là nhạc sĩ, là ca sĩ và anh lại còn là diễn viên...

Related image

Cao-Đắc Tuấn  Tóm lược: Bài hát "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" do nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang viết vào năm 1966 là một bài hát kêu gọi người dân Việt Nam đứng lên chống lại kẻ thống trị bạo tàn để Việt Nam "vượt qua cái khốn khó, vượt qua cái quê hương nhỏ bé, nhược tiểu mà trở thành một nước to lớn, và lòng người cực kỳ dũng mãnh." Bài hát mô tả những nhọc nhằn, cực hình, đau thương mà dân Việt trải qua và ca ngợi tinh thần bất khuất, ý chí kiên trì, đoàn kết của dân Việt. Một cách kỳ bí, tuy bài hát được viết vào năm 1966, toàn thể nội dung nguyên văn bài hát áp dụng thích đáng cho Việt Nam trong giai đoạn hiện tại với phong trào dân chủ chống lại chế độ độc tài. Như một lời tiên tri huyền bí, bài hát được viết như thể đặc biệt dành cho phong trào đấu tranh cho tự do dân chủ hiện nay tại Việt Nam.

Related image

THƯƠNG NHỚ NHẠC SĨ CHIM ĐẦU ĐÀN PHONG TRÀO DU CA Nhạc sĩ NGUYỄN ĐỨC QUANG (1944-2011)

Image result for Nhạc sĩ NGUYỄN ĐỨC QUANG photos

 

Nhạc sĩ NGUYỄN ĐỨC QUANG

(Sinh 1944, Sơn Tây – Mất 27/03/1911, California)

11598-DP-nguyenducquang1

VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG NGẠO NGHỄ & “DU CA” NGUYỄN ĐỨC QUANG 

- Biên soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail
 
                        -   Tiểu Sử & Tác Phẩm  - 
                                             
                                                  
Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, sau một căn bịnh hiểm nghèo kéo dài hơn tháng qua, đã qua đời lúc 4 giờ sáng hôm nay (3/27/2011) tại California. Nhạc sĩ tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây.
Theo gia đình vào Nam năm 1954.
Sinh sống tại Ðà Lạt từ năm 1958.
Tốt nghiệp Đại học Ðà Lạt, phân khoa Chính Trị Kinh Doanh khóa 1.
Bắt đầu sáng tác nhạc năm 1961. Ca khúc đầu tay dành cho Hướng đạo với tên "Gươm Thiêng Hào Kiệt".
Sau biến chuyển chính trị lớn ở miền Nam năm 63, bắt đầu cảm hứng về nhạc Thanh niên và những vấn đề đất nước.
Năm 1964, chuyển qua hẳn những ca khúc có chủ đề Tuổi trẻ, Quê hương, Dân tộc, xây dựng những đề tài mới cho tập Trầm Ca, hát nhạc tranh đấu xã hội và nhạc sinh hoạt thanh niên và thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam năm 1966.
Năm 1979 cùng gia đình đến Hoa Kỳ, hoạt động liên tục trong ngành truyền thông tại hải ngoại.
 
Mục Lục Những Ca Khúc Tiêu Biểu
Măi đến sau 1965, một số những bài hát của Nguyễn Đức Quang mới xuất hiện rải rác trên một số ấn phẩm sách, báo và vài tuyển tập sơ sài do tình hình thiếu thốn phương tiện và điều kiện lúc bấy giờ, người ta đã thấy có các tập nhạc in bằng ronéo như: Trầm Ca, Những Bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Thỏ Thẻ Loan Phòng v..v.
Năm 1995, Ngô Mạnh Thu và Nguyễn Thiện Cơ trong nhóm Đồng Vọng thu gom lại hầu hết bản nhạc trong các tập nhạc chính và ấn hành tuyển tập Dưới Ánh Mặt Trời gồm 69 bài. Duới đây là những nét chính và 9 tập nhạc đã được tác giả hình thành trên suốt quãng đường sinh hoạt và sáng tác của anh. ( Trích trong ” Về những ca khúc Nguyễn Đức Quang đă viết” trong tuyển tập “Dưới Ánh Mặt Trời” )
Ấn Phẩm Đã Phát Hành:
1. Chuyện Chúng Mình:
52 ca khúc, viết từ 1960 đến 1964, thời kỳ đầu sáng tác, hầu hết là các khúc tình ca tuổi học trò và thời gian sinh sống tại Đà Lạt. Một số bài như: Chuyện Người Con Gái , Khôn Hồn Có Cánh Thì Bay, Trẫm Nhớ Ái Khanh Không? (phổ thơ Nhất Tuấn), Lửa Từ Bi ( Thơ Vũ Hoàng Chương).
2. Trầm Ca:
10 ca khúc cho thanh niên và thời cuộc, những thao thức lớn nhất về con người, đất nước.
Những ca khúc này tạo nên cả một cao trào tuổi trẻ nhập cuộc vào các sinh hoạt.
Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Người Anh Vĩnh Bình, Tiếng Hát Tự Do, Chiều Qua Tuy Hòa, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ là dấu ấn chưa phai mờ trong nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam từ đó đến nay.
3. Những Bài Ca Khai Phá:
trên 40 ca khúc sinh hoạt đặc biệt cho tuổi tr , sinh viên, học sinh dùng trong các buổi họp mặt công tác xã hội, các hoạt động đám đông, là tiếng kêu gọi tuổi trẻ đến với nhau cùng xây dựng một đất nước và niềm tin: Không Phải Là Lúc, Về Với Mẹ Cha, Dưới Ánh Mặt Trời, Chuyện Quê Ta, Hy Vọng Đã Vươn Lên, Một Giấc Chiêm Bao, Về Miền Gian Nan v..v..
Khởi động phong trào hát cộng đồng, hát chung khắp mọi nơi, sau này được lan truyền sang nhiều địa hạt và nhiều giới khác, kể cả tôn giáo.
Du Ca trở thành hình ảnh mẫu mực con người xã hội mới, đi vào phim ảnh Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương.
4. Cần Nhau:
12 tình khúc được biết đến nhiều với:

Bên Kia Sông, Vì Tôi Là Linh Mục, Cần Nhau, Như Mây Trên Cao, Vỗ Cánh Chim Bay ..
5. Thỏ Thẻ Loan Phòng (hay Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc):
18 bài sinh hoạt trong ngày hạnh phúc lứa đôi, hình thành 1969, nhiều bài hì́nh như đã thành nếp trong các đám cưới như:
Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc, Đám Cưới Chúng Mình, Lũ Chén Dĩa Tội Tì́nh Gì, Đường Đến Hạnh Phúc .
Image result for Nhạc sĩ NGUYỄN ĐỨC QUANG photos
Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang thăm vùng Virginia - tháng 5, 2005 (sau vườn nhà thi nhạc sĩ Nguyễn Tường Vân) Từ phải: Phan Anh Dũng, Tâm Hảo, Bà Nguyễn Minh Nữu, ...
 
6. Khúc Nhạc Thanh Xuân:
Khoảng 40 bài nhạc sinh hoạt thanh niên quốc tế.

Nhiều nhất là các ca khúc trong thời lập quốc Do Thái, phong trào Kibbuz, những bài hát nhân quyền, tự do từ Âu sang Á và Mỹ như:
Về Miền Gian Nan, Bài Ca Hải Tặc, Quân Đoàn Thức Tỉnh, Không Ai Là Hoang Đảo …
được chuyển qua lời Việt để sử dụng trong nhiều sinh hoạt tuổi trẻ.
7. Hương Đồng Quê:
Các khúc Dân Ca và nhạc đồng quê nổi tiếng trên thế giới chuyển dịch sang lời Việt, gần 200 bài như Bài Ca Sông Hồng, Những Bụi Hoa Dại, Em Yêu Dấu Hỡi, Bên Bờ Sông Ohio, Tâm Sự Chú Lừa …

hầu hết bị thất lạc năm 1975.
8. Phúc Ca Mùa Lễ:
25 bài đồng dao quốc tế hát trong mùa Gíáng sinh như : Jingle Bells, The Christmas Tree, Silent Night

được coi là những khúc hát vui trong mùa an bình của nhân loại.
9. Ruồi Và Kên Kên:
Hoàn tất năm 1970, gồm 11 bài, là những ca khúc bi phẫn về những vấn đề lớn nhất trong một khung cảnh chính trị và xă hội đen tối nhất của cả 2 miền đất nước:

Im Lặng Là Ðồng Lõa, Ruồi Và Kên Kên, Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi, Phòng Thí Nghiệm Công Cộng, Vụ Án Cuối Cùng 
Những ca khúc này vẫn được yêu chuộng cho đến nay.
10. Dưới Ánh Mặt Trời:
gồm những sáng tác trong tập Trầm Ca, Những Bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Chuyện Chúng Mình, Cần Nhau, Khúc Nhạc Thanh Xuân, Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc …

Xuất bản Ðồng Vọng 1997 tại Cali- USA
                               
    Tường thuật "Vĩnh Biệt Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang" của Thy Nga (SBTN-DC): 
 

Vĩnh Biệt Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang (1944-2011) - P1

Thực hiện: Thy Nga - Bản Tin Hoa Thịnh Đốn

Vĩnh Biệt Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang (1944-2011) - P2

Related image 

 

Liên đoàn Việt Nam hoạt động nhằm đóng góp vào việc giáo dục thanh thiếu niên bằng một hệ thống giá trị dựa trên Luật và Lời hứa Hướng Đạo nhằm xây dựng một xã hội tốt hơn trong đó trẻ em sẽ trở thành những công dân hữu ích bằng cách:
  • Giúp trẻ trưởng thành với một quá trình giáo dục ngoài trường học.
  • Dùng phương pháp Hướng đạo hướng dẫn trẻ ý thức được trách nhiệm tự phát triển bản thân, trở thành người hữu  ích, có trách nhiệm và dấn thân trong cộng đồng xã hội.
  • Giúp trẻ tạo dựng hệ thống giá trị dựa trên các nguyên lý về đời sống tâm linh, xã hội và cá nhân theo tinh thần của Lời hứa và Luật Hướng đạo.

 
 

 

 

Image result for ca nhac si viet dzung lasan taberd photos

@ Ca Nhạc Sĩ Việt Dzũng và người em trai Nguyễn Ngọc Hùng Cường (Sói Con) trại hè Ấu, Thiếu và Tráng Hướng đạo sinh tại Sàigòn.
 
<@> Photo by Nguyễn Ngọc Quang 1969.

Lời hứa Hướng Đạo

Smile

Picture 
 
Tôi xin lấy danh dự hứa cố gắng hết sức
  • Làm tròn bổn phận với tâm linh, tín ngưỡng và quốc gia tôi,
  • Giúp ích mọi người bất cứ lúc nào,
  • Sống theo tinh thần Luật Hướng đạo.

Scout Promise
On my honour, I promise that I will do my best
  • To do my duty to God and my country
  • To help other people at all times,
  • To carry out the spirit of the Scout Law.

Promesse Scoute 
Sur mon honneur, avec la grâce de Dieu, je m’engage :
  • à Servir de mon mieux Dieu et mon pays,
  • à Aider mon prochain en toutes circonstances,
  • à Observer la Loi Scoute.
Image result for ca nhac si viet dzung lasan taberd photos

Luật, Châm ngôn và Khẩu hiệu Hướng Đạo

Luật Hướng Đạo Việt
  • Hướng đạo sinh trọng danh dự và trung tín.
  • Hướng đạo sinh lễ độ, hào hiệp và là bạn của mọi người
  • Hướng đạo sinh giúp ích, trọng kỷ luật và tôn trọng thiên nhiên.
  • Hướng đạo sinh vui tươi, cần kiệm và liêm khiết.
  • Hướng đạo sinh trong sạch trong tư tưởng, lời nói và việc làm.

Scout Law (Canada Scout)
A Scout is 
  • Helpful and Trustworthy,
  • Kind and Cheerful,
  • Considerate and Clean,
  • Wise in the use of all resources.

Loi Scoute (Scout du Canada)
  • Le scout mérite et fait confiance,
  • Le scout est frère de tous, partage avec tous,
  • Le scout protège la vie, combat pour la justice,
  • Le scout fait équipe, fait tout de son mieux,
  • Le scout répand la joie, respecte le travail, est maître de lui-même.

Châm Ngôn: Sắp sẵn
Scout Motto: Be Prepared
Devise Scout: Sois Prêt

Khẩu hiệu: Mỗi ngày làm một việc thiện
Slogan: Do a good turn daily
Slogan: La bonne action quotidienne ou B.A.

Đêm nhạc tưởng niệm nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang ở Sài Gòn

Tối 27 Tháng Ba, 2015, trong một hẻm nhỏ, quán cà phê nhỏ, trên đường Lê Văn Sĩ, đêm nhạc tưởng niệm bốn năm ngày mất của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã bắt đầu với tất cả lòng kính trọng và ngưỡng mộ.
Tưởng niệm nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, những người trẻ và già chụm nhau lại và hát như trong một đêm lửa trại trước 1975. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
 
Đến dự đêm nhạc tưởng niệm người nhạc sĩ tiên phong trong phong trào du ca Việt Nam trước biến cố 1975, là những mái đầu bạc trắng của những người mà một thời trai trẻ từng là những hướng đạo sinh, huynh trưởng của phong trào Hướng Đạo Việt Nam. Bên cạnh họ là người thế hệ tiếp nối, dù có người không thuộc hết lời các bài hát của ông nhưng giai điệu và ca từ trong sáng đã làm nên một phần tâm hồn và ý thức nghệ thuật của họ. Ai cũng biết trong thời điểm hiện nay ở Sài Gòn, những quán cà phê nhạc mọc lên như nấm sau cơn mưa. Dòng nhạc Việt chủ yếu của những điểm ca nhạc và hát với nhau này hầu hết đều sử dụng các sáng tác thuộc nền tân nhạc của thời VNCH.  Thế nên việc đêm nhạc tưởng niệm cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang có sự tham dự của các bạn trẻ sinh sau năm 1975 là một điều đặc biệt.
“Tụi em sinh sau này nên đâu biết gì về dòng nhạc này, mới nghe qua tưởng là các bài hát quân hành, chừng nghe một lúc thì thấy thích vì nó hoàn toàn khác lạ với những bài hát nhạc tình mà người hát đến người nghe đều sướt mướt, hoặc nhạc văn công tuyên truyền. Em thật không ngờ là thế hệ cha ông mình được hát những bài hào khí như vậy”. Phát biểu về dòng nhạc Du Ca của cố Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, cô gái tên là Mỹ Đức cho biết.
Nhạc sĩ Trần Huân, người nòng cốt của nhóm nhạc Du ca–Sài Gòn, đã lần lượt đệm đàn và bắt nhịp các bài hát cộng đồng nổi tiếng của cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang như: Hy Vọng Đã Vươn Lên, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, Xin Chọn Nơi Này Làm Quê Hương… Dù đêm nhạc tưởng niệm này không có tham vọng giới thiệu đầy đủ những sáng tác trong sự nghiệp âm nhạc đồ sộ của cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, nhưng xen kẽ với dòng nhạc sinh hoạt cộng đồng, những tình khúc sâu lắng nổi tiếng như Chiều Qua Tuy Hòa, Bên Kia Sông, Vì Tôi Là Linh Mục… đã được hát lên.

Ghé thăm nhà nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang 

Những người tham dự đêm nhạc tưởng niệm, ai cũng xúc động khi nhìn toàn cảnh quán cà phê với những mái đầu xanh và đầu bạc, cùng chụm vào nhau bên các bản nhạc, cùng vỗ tay theo nhịp và thỉnh thoảng những cách tay hào hứng vung lên, như thời trai trẻ đang sinh hoạt Hướng Đạo trong một đêm lửa trại nào đó trên cả miền Nam Việt Nam vào những năm trước biến cố 1975. Quỹ thời gian của những mái đầu bạc hôm nay đang hào hứng hát nhạc của cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đều không còn dài, những niềm tự hào về ý thức dân tộc – cộng đồng chân chính mà giai điệu và ca từ của cố nhạc sĩ truyền đạt không bao giờ phai nhạt. Hẳn nhiên, mỗi người dự đêm nhạc này ai cũng có ý tiếc cho thế hệ trẻ ngày nay không được cất tiếng hát vang giữa đất nước mình những bài hát trào dâng tình yêu nước, yêu người, hướng về tự do căm ghét áp bức… của cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang.
Điều lắng động sâu sắc nhất trong đêm nhạc tưởng niệm cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang của những người được may mắn tham dự và cả những người không có thông tin đến dự, chính là niềm tin dù trải hàng chục năm bị phủ lấp bởi bóng tối tại chính quê hương mình, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang không hề bị quên lãng và tinh thần các ca khúc chân chính của ông vẫn là cánh rừng hoa mới trong một bình minh mới sẽ đến.
 

 

Nhớ về NS NGUYỄN ĐỨC QUANG -

VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG NGẠO NGHỄ

Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi với nữ nhạc trưởng

Khánh Ly (trước 1975)

 

 

XIN CHỌN NƠI NÀY LÀM QUÊ HƯƠNG

Nguyễn Đức Quang (2010) với ban hợp ca Tứ Phương (= từ bốn phương)

HY VỌNG ĐÃ VƯƠN LÊN

Nguyễn Đức Quang

CHIỀU QUA TUY HÒA

Khánh Ly & Elvis Phương

KHÔNG PHẢI LÀ LÚC

Nguyễn Đức Quang hát và đàn ghi-ta

NGỒI QUANH ĐÂY CHÚNG TA CÙNG HÁT

Du Ca Hoa Kỳ bao gồm NĐQ (1980)

CÙNG HÁT XÓA NIỀM ĐAU

Nguyễn Đức Quang

 

Nhớ về NS NGUYỄN ĐỨC QUANG

NS NGUYỄN ĐỨC QUANG QUA ĐỜI

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã ra đi vào sáng Chủ Nhật 27/3/2011 tại Quận Cam, California, hưởng thọ 68 tuổi. Vào buổi chiều Chủ Nhật 27/3/2011, một chương trình nhạc đặc biệt đã thực hiện tại Quận Cam để vinh danh nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, người đã góp công khai sáng Phong Trào Du Ca VN, và đã đóng góp lớn cho nền âm nhạc VN nhiều thập niên..

Du Ca, Hướng Đạo vinh danh NS Nguyễn Đức Quang

Trong buổi văn nghệ đặc biệt này, một nghi thức đặc biệt do Phong Trào Hướng Đaọ thực hiện để vinh danh nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang : trao tặng Bắc Đẩu Huân Chương Hướng Đạo; thay mặt đón nhận Huân Chương này là anh Nguyễn Đức Tường, con trai của nhạc sĩ. Chiều Nhạc Du Ca Nguyễn Đức Quang do Nhạc Sĩ Diệu Hương, Nhạc Sĩ Đinh Trung Chính, Hội Ca Cầm và anh chị em Du Ca Nam Cali,  Bắc Cali tổ chức. Đến từ Bắc Cali có Luật Sư Nguyễn Tâm và một số Anh Chị Du Ca.

Tại nhà hàng Emerald Bay vào lúc 3 giờ 30 chiều, hàng trăm đồng hương, thân hữu, các thành viên Du Ca, các Trưởng và Hướng Đạo Sinh Nam California tham dự.

Điều hợp chương trình là Nguyễn Bá Thành. Mở đầu tất cả mọi người cùng đứng lên dành một phút tưởng niệm đến Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang. Sau đó Nhạc Sĩ Diệu Hương và Nhạc Sĩ Đinh Trung Chính thay mặt Ban Tổ Chức lên ngỏ lời chào mừng và cảm ơn tất cả đồng hương thân hữu đến tham dự,

Nhạc Sĩ Diệu Hương cũng lược qua một vài kỷ niệm đối với Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang mà bà đã có những đồng cảm với người đàn anh tài hoa trong làng âm nhạc Việt Nam. người đã đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam nhiều bài hát giá trị để đời cho các thế hệ tiếp nối… Tiếp theo Bác Sĩ Thiên Hương lên đọc bài thơ của người bạn già viết cho  Nguyễn Đức Quang khi hay tin anh bị tai biến trong đó có câu : “…Đất nước lâm nguy như người đang lâm trọng bệnh…”

Những ca khúc của Nguyễn Đức Quang được hát vang lên trong hội trường qua phần đệm Guitar của Doãn Hưng và Nguyễn Trọng Hoàng gồm các bản như : Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, Đường Việt Nam, Người Yêu Tôi Bịnh, Như Mây Trên Cao, Chiều Qua Tuy Hòa, Hy Vọng Đã Vươn Lên…

Các bản nhạc đã làm xúc động mọi người tham dự, không khí hội trường như lắng đọng để nhớ về một Nhạc Sĩ đã đóng góp nhiều cho quê hương dân tộc trong giai đoạn nghiệt ngả của đất nước, thờiø  đó ở bất cứ nơi đâu cũng có những đoàn du ca hát những bản nhạc của Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang.

Sau đó là phần nghi thức Hướng Đạo trao Bắc Đẩu Huân Chương Hướng Đạo cho Trưởng Nguyễn Đức Quang. Được biết Trưởng Nguyễn Đức Quang tham gia phong trào Hướng Đạo lúc 12 tuổi, và sau đó anh làm Bầy Trưởng Bầy Ngàn Thông, Đạo Lâm Viên. Suốt trong chiều dài sinh hoạt Hướng Đạo anh đã đóng góp nhiều công sức cho phong trào để tiếp tục đào tạo những công dân tốt tương lai của đất nước. Vì những đóng góp đó nên Hội Đồng Trung Ương qua sự đề nghị của Hướng Đạo Miền Tây Nam Hoa Ky quyết định trao “Bắc Đẩu Huân Chương” một huân chương cao qúy nhất của Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam.

Trưởng Võ Thành Nhân Chủ Tịch Hội Đồng Trung Ương Hướng Đạo Việt Nam cùng các Trưởng Trong Hội Đồng gồm có Trưởng Trần Xuân Đức Phó Chủ Tịch Nội Vụ, Trưởng Nguyễn Trí Tuệ Tổng Thư Ký Hội Đồng Trung Ương, Trưởng Lế Đức Phẩm Ủy Viên Truyền Thống Văn Hóa Hội Đồng Trung Ương, Trưởng Hồ Đăng Ủy Viên Liên Lạc Trưởng Niên, Trưởng Nguyễn Tư Nhân Ủy Viên Miền tây Nam Hoa Kỳ cùng tất cả các Trưởng cũng như Anh Chị Em Hướng Đạo Sinh Tây Nam Hoa Kỳ đã hiện diên trong lễ trao huân chương.  Trưởng Võ Thành Nhân đã nghẹn ngào khi nhắc lại những thành tích trước khi trao. Huân Chương được trao tận tay cho người con trai của Trưởng Nguyễn Đức Quang là anh Nguyễn Đức Tường.

Chương trình tiếp tục với những bài hát của Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang do Anh Chị em Du ca trình diễn.

Chương trình tang lễ của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang sẽ tổ chức tại Peek Family (Lakeside Chapel) — dự kiến giờ viếng tang sẽ là Thứ Bảy 2/4/2011 và Lễ Hỏa Táng sẽ là Chủ Nhật 3/4/2011.

Đặc biệt, sẽ có một chương trình tưởng niệm nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang với đóng góp của nhiều cơ quan truyền thông, văn nghệ, ca nhạc sĩ, nghệ sĩ … tổ chức vào Thứ Bảy 2/4/2011. Chi tiết về chương trình văn nghệ vinh danh và tưởng niệm naỳ sẽ phổ biến sau.

Một chút tiểu sử :

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, sau một căn bịnh hiểm nghèo kéo dài hơn tháng qua, đã qua đời lúc 4 giờ sáng hôm nay tại California. Nhạc sĩ tên thật Nguyễn Đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây.

Theo gia đình vào Nam năm 1954. Sinh sống tại Ðà Lạt từ năm 1958. Tốt nghiệp đại học Ðà Lạt phân khoa Chính Trị Kinh Doanh khóa 1.

Bắt đầu sáng tác nhạc năm 1961. Ca khúc đầu tay dành cho Hướng đạo với tên Gươm Thiêng Hào Kiệt. Sau biến chuyển chính trị lớn ở miền Nam năm 63, bắt đầu cảm hứng về nhạc Thanh niên và những vấn đề đất nước. Năm 1964, chuyển qua hẳn những ca khúc có chủ đề Tuổi trẻ, Quê hương, Dân tộc, xây dựng những đề tài mới cho tập Trầm Ca, hát nhạc tranh đấu xã hội và nhạc sinh hoạt thanh niên và thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam năm 1966 .

Năm 1979 cùng gia đình đến Hoa Kỳ, hoạt động liên tục trong nghành truyền thông tại hải ngoại.

Mục Lục Những Ca Khúc Tiêu Biểu :

Măi đến sau 1965, một số những bài hát của Nguyễn Đức Quang mới xuất hiện rải rác trên một số ấn phẩm sách, báo và vài tuyển tập sơ sài do tình hình thiếu thốn phương tiện và điều kiện lúc bấy giờ, người ta đã thấy có các tập nhạc in bằng ronéo như : Trầm ca, Những bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Thỏ Thẻ Loan Phòng v..v.

Năm 1995, Ngô Mạnh Thu và Nguyễn Thiện Cơ trong nhóm Đồng Vọng thu gom lại hầu hết bả nhạc trong các tập nhạc chính và ấn hành tuyển tập Dưới Ánh Mặt trời gồm 69 bài. Duới đây là những nét chính và 9 tập nhạc đã được tác giả hình thành trên suốt quãng đường sinh hoạt và sáng tác của anh. (Trích trong ”về những ca khúc Nguyễn Đức Quang đă viết” trong tuyển tập “Dưới Ánh Mặt Trời” )

Ấn Phẩm Đã Phát Hành :

1/- Chuyện Chúng Mình : 52 ca khúc, viết từ 1960 đến 1964,thời kỳ đầu sáng tác, hầu hết là các khúc tình ca tuổi học trò và thời gian sinh sống tại Đà lạt . Một số bài như : Chuyện Người Con Gái , Khôn Hồn Có Cánh Thì Bay, Trẫm Nhớ Ái Khanh Không (phổ thơ Nhất Tuấn), Lửa Từ Bi (Thơ Vũ Hoàng Chương).

2/-Trầm Ca : 10 ca khúc cho thanh niên và thời cuộc, những thao thức lớn nhất về con người, đất nước. Những ca khúc này tạo nên cả một cao trào tuổi trẻ nhập cuộc vào các sinh hoạt : Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Người Anh Vĩnh Bình, Tiếng Hát Tự Do, Chiều Qua Tuy Hòa, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ là dấu ấn chưa phai mờ trong nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam từ đó đến nay.

3/- Những Bài Ca Khai Phá : trên 40 ca khúc sinh hoạt đặc biệt cho tuổi trẻ, sinh viên, học sinh dùng trong các buổi họp mặt công tác xã hội, các hoạt động đám đông, là tiếng kêu gọi tuổi trẻ đến với nhau cùng xây dựng một đất nước và niềm tin : Không Phải Là Lúc , Về Với Mẹ Cha, Đưới Ánh Mặt Trời, Chuyện Quê Ta, Hy Vọng Đã Vươn Lên, Một Giấc Chiêm Bao, Về Miền Gian Nan v..v..

Khởi động phong trào hát cộng đồng, hát chung khắp mọi nơi, sau này được lan truyền sang nhiều địa hạt và nhiều giới khác, kể cả tôn giáo. Du Ca trở thành hình ảnh mẫu mực con người xã hội mới, đi vào phim ảnh Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương.

4/- Cần Nhau : 12 tình khúc được biết đến nhiều với : Bên Kia Sông, Vì ́ Tôi Là Linh Mục, Cần Nhau, Như Mây Trên Cao, Vỗ Cánh Chim Bay ..

5/- Thỏ Thẻ Loan Phòng (hay Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc) : 18 bài sinh hoạt trong ngày hạnh phúc lứa đôi, hình thành 1969, nhiều bài hì́nh như đă thành nếp trong các đám cưới như : Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc, Đám Cưới Chúng Mình, Lũ Chén Dĩa Có Tội Tì́nh Gì, Đường Đến Hạnh Phúc .

6/- Khúc Nhạc Thanh Xuân : Khoảng 40 bài nhạc sinh hoạt thanh niên quốc tế.
Nhiều nhất là các ca khúc trong thời lập quốc Do Thái, phong trào Kibbuz, những bài hát nhân quyền, tự do từ Âu sang Á và Mỹ như : Về Miền Gian Nan, Bài Ca Hải Tặc, Quân Đoàn Thức Tỉnh, Không Ai Là Hoang Đảo… được chuyển qua lời Việt để sử dụng trong nhiều sinh hoạt tuổi trẻ.

7/- Hương Đồng Quê : Các khúc Dân Ca và nhạc đồng quê nổi tiếng trên thế giới chuyển dịch sang lời Việt, gần 200 bài như Bài Ca Sông Hồng, Những Bụi Hoa Dại, Em Yêu Dấu Hỡi, Bên Bờ Sông Ohio, Tâm Sự Chú Lừa… hầu hết bị thất lạc năm 1975.

8/- Phúc Ca Mùa Lễ : 25 bài đồng dao quốc tế hát trong mùa Gíáng sinh như : Jingle Bells, The Christmas Tree, Silent Night… được coi là những khúc hát vui trong mùa an bình của nhân loại.

9/- Ruồi Và Kên Kê : Hoàn tất năm 1970, gồm 11 bài, là những ca khúc bi phẫn về những vấn đề lớn nhất trong một khung cảnh chính trị và xă hội đen tối nhất của cả 2 miền đất nước : Im Lặng Là Ðồng Lõa, Ruồi Và Kên Kên, Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi, Phòng Thí Nghiệm Công Cộng, Vụ Án Cuối Cùng… Những ca khúc này vẫn được yêu chuộng cho đến nay.

10/- Dưới Ánh Mặt Trời : gồm những sáng tác trong tập Trầm Ca, Những Bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Chuyện Chúng Mình, Cần Nhau, Khúc Nhạc Thanh Xuân, Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc…. Bìa : Nguyễn Ðồng, Nguyễn Thị Hợp. Hý họa : Tạ Tỵ, Chóe, Hiếu Ðệ. Chân dung: Lê Phúc Kẻ nhạc: Phạm Xuân Ðài. Trình bày : Nguyễn Thiện Cơ, Ngô Mạnh Thu. Hình ảnh sưu tập : Trần Ðại Lộc. Hình bìa : Hồ Ðăng. Xuất bản Ðồng Vọng 1997 tại Cali – USA.

VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG NGẠO NGHỄ

Sau tin NS Nguyễn Đức Quang qua đời, triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng. NĐQ, tôi cúi đầu tiễn anh….

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm

Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loàng xoàng

Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người

Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi

Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi

Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại

Xương da thịt này cha ông ta miệt mài

Từng giờ qua

Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi

Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang

Trên bàn chông hát cười đùa vang vang

Còn Việt Nam

Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hung

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng

Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm

Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời

Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người

Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam

Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian

Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên

 

Phần trên là lời nhạc phẩm “ Việt Nam quê hương ngạo nghễ ” và dưới đường dẫn này là phần trình diễn của chính NS Nguyễn Đức Quang (xin Click vào đường link) :

Và mời các bạn nghe lại nhạc phẩm " VÌ TÔI LÀ LINH MỤC ” của NS Nguyễn Đức Quang, bài thơ đầu tiên của Nguyễn Tất Nhiên được phổ nhạc, qua tiếng hát của Lệ Thu :

oOo oOo oOo oOo

 

Lời Cuối Gởi Đến Anh:

 

Vĩnh Biệt Nguyễn Đức Quang!

 

Lời Mở Đầu:

 

Sau khi được tin nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang lặng lẽ ra đi, ngày 28 tháng 3, 2011, tôi có kêu gọi những anh chị em (ACE)  trong nhóm liên diễn đàn với nhóm Tình Nghệ sĩ để lấy những cảm nghĩ về người quá cố, rồi cho vào bài viết chung tiễn đưa lần cuối. Kết quả bài hay emails gửi về ngoài 10 diễn đàn liên kết, các thân hữu từ bên ngoài gửi vào khá nhiều.

Vì nhiều ACE như Dương Viết Điền và vài ACE khác cho biết đã thức khuya đến 4, 5 giờ sáng hôm sau để viết gấp cho xong bài, và nhiều thân hữu nhắn khi gửi là lời phân ưu, những cảm nghĩ đưa tiễn gồm kỷ niệm gửi qua internet không nên cắt xén bài của họ, và dịp tiễn đưa này chỉ có một lần thôi, do lời yêu cầu đó, tôi xin giữ trọn bài, trừ vài bài được cho qua trích đoạn được đăng y như vậy.

Vào....

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang thật sự không xa lạ với dân chúng ở miền Nam Việt Nam hay Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, bên ngoài được nhận diện là một nhạc sĩ, anh cũng là một nhà báo, một Huynh trưởng Hướng Đạo Việt Nam và những phạm vi khác nữa, chung qui là người có nhiều tài năng và đức độ.

 

Tôi có hai dịp chuyện trò với anh, cảm giác khi tiếp xúc thì anh là người vui tính, hòa nhã và cởi mở. Khoảng năm 2000 tôi đi với một người bạn là thân chủ của báo Viễn Đông, chúng tôi được anh tiếp, chuyện trò thế sự trước và sau năm 75, sinh hoạt âm nhạc và báo chí quận Cam, lần sau khi cùng đi với nhạc sĩ Dương Viết Điền xuống OC gặp anh Phan Nhật Nam, rồi anh Vương Trùng Dương, xong ghé vào Viễn Đông lấy báo và tiếp xúc với anh Quang. Tôi không có kỷ niệm trực tiếp với anh Nguyễn Đức Quang nhiều, nhưng có kỷ niệm đặc biệt với nhạc của anh. Vào những năm cuối của VNCH, Trung Cộng và Hoa Kỳ có những thỏa hiệp trao đổi ngầm, Đệ thất hạm đội của xứ Đồng minh án binh bất động khi hải quân Trung Cộng tiến đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19-01-1974. Tin chiếc HQ-10 của hải quân VNCH bị đánh chìm, anh chị em sinh viên trường đại học Minh Đức chúng tôi xuống đường biểu tình chống Trung Cộng. Cái đau đớn, tủi nhục cái uất nghẹn căm hờn khi bên ta thua trận chỉ bởi vì địch thủ là một con khủng long hung ác, một thứ king kong vạm vỡ lấy thịt đè người, qui luật của sự kiện mạnh được yếu thua, tôi đau khổ chứng kiến cảnh những chị em yếu lòng khóc ròng, các sinh viên trẻ sôi sục nỗi uất ức, loa phóng thanh tố cáo cả hai loại giặc, giặc trong Việt Cộng và giặc ngoài Trung Cộng. Giặc trong ngu xuẩn, mà giặc ngoài tham lạm, và rồi nhạc của Nguyễn Đức Quang tiếp vang niềm tin cho tuổi trẻ chúng tôi, để tiếng nói bất khuất cùa anh chỉ em chúng tôi, lòng yêu nước dâng tràn khi đồng ca bài "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ".

 

Từ sau biến cố 1974 về  quần đảo Hoàng Sa, bài ca này khơi lòng tuổi trẻ Việt Nam khi bờ cõi lâm nguy bởi ngoại bang, đặc biệt bọn Đại Hán bắc phương. "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" nhắc nhở cho tuổi trẻ niềm hãnh diện khi nhớ về những gương anh hùng hào kiệt xa xưa trong lịch sử bất khuất, có những Lý Thường Kiệt, Ngô Quyền, Trưng Triệu, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng hay Quang Trung Đại Đế,....Năm 2007 gần đây khi Trung Cộng ngang nhiên sát nhập hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa vào bản đồ của họ, Bắc Kinh chính thức hóa sự việc thành lập huyện Tam Sa trực thuộc đảo Hải Nam. Người Việt Nam, đặc biệt tuổi trẻ Việt Nam khắp nơi từ trong xứ ra hải ngoại tràn xuống đường căm phẩn, phản đối rợ bá quyền Đại Hán côn đồ ngang ngược và rồi "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ" lại vang lên trong các buổi biểu tình bày tỏ nỗi quan tâm lo lắng vì tiền đồ dân tộc bị lâm nguy.

 

"Tạm Biệt "người yêu quê hương" Nguyễn Đức Quang

Hồi trung học, tôi thường đến chơi trụ sở CPS - Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Sinh Viên Học Đường - vì anh họ tôi Phan Văn P., giáo sư Toán cùng thày Trần Đại Lộc, dạy Việt văn ở Petrus Ký, là 2 thành viên của CPS hay "ăn dầm ở dề" ở trụ sở đó. Tôi được nghe các đàn anh, đàn chị đầy nhiệt huyết, hát hò vui vẻ với những cây đàn guitar thùng và tổ chức những buổi trình diễn văn nghệ sinh hoạt cộng đồng cho giới trẻ, học sinh và sinh viên.

Lúc ấy, tôi cũng tham dự vào Hướng Đạo VIệt Nam và thỉnh thoảng có dịp đi "công tác từ thiện" quanh Sài Gòn - kỷ niệm không thể quên là công tác giúp đỡ dọn dẹp ở Chợ Lớn và Phú Lâm sau Tết Mậu Thân. Chúng tôi thường hát với nhau các bản nhạc trong tập in ronéo, trong đó có một số bản nhạc của Nguyễn Đức Quang như: "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ", "Về Với Mẹ Cha", "Đường Việt Nam", "Hy Vọng Đã Vươn Lên" ... Các bản nhạc của anh Quang với tiết điệu rộn ràng và lời lẽ yêu nước hùng mạnh làm chúng tôi hăng hái vô cùng!

Sau khi biết chơi đàn guitar và vào Đệ Nhị Cấp, tôi yêu mến các tình khúc của các tác giả "trẻ" lúc ấy như Trần Tú, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Vũ Đức Sao Biển và đặc biệt là 2 bản nhạc của Nguyễn Đức Quang: "Bên Kia Sông" và "Như Mây Trên Cao".Giai điệu của "Bên Kia Sông" dễ nhớ, khá hay và lời của "Bên Kia Sông" trữ tình, lãng mạn, lồng trong một khung cảnh thật lý tưởng (theo thơ của Nguyễn Ngọc Thạch). Hình ảnh tươi sáng trong "này người yêu, người yêu tôi ơi, bên kia sông là ánh mặt trời", ta có thể hình dung 2 người yêu, đồng chí hướng, sẵn sàng lên đường giúp người, giúp đời ...  Lời của bài "Như Mây Trên Cao" cũng có nét tương tự như thế, "anh sẽ lên trên ngọn Hồng Lĩnh hái cho em một đóa hoa rừng, thầm khắc tên em vào phiến đá rêu xanh, rồi vây quanh bằng trái tim anh ..." tạo cho người hát, người nghe một cảm giác lãng mạn, nhẹ nhàng, tình yêu thánh thiện trong sáng ...

Tháng 3 năm 2005 anh Nguyễn Đức Quang có ghé về miền Đông Hoa Kỳ để giúp tay với Hướng Đạo trong vùng Hoa Thịnh Đốn. Cựu giáo sư Mạc Đỉnh Chi là thi nhạc sĩ Nguyễn Tường Vân cùng anh Bùi Mạnh Hùng đã tổ chức một họp mặt tiếp đón anh Quang với sự tham dự một số văn thi ca nhạc sĩ trong vùng như: Hoàng Song Liêm, Hà Bỉnh Trung, Nguyễn Ngọc Bích, Phạm Tuân, Vĩnh Liêm, Nguyễn Minh Nữu, Bạch Mai, Bùi Mạnh Hùng, Nguyễn Văn Đặng, Kiều Nga ... Tâm Hảo và tôi có đến gặp anh và đêm ấy, tôi hân hạnh được phụ đệm đàn vài bài chung với anh Nguyễn Đức Quang. Tuy phải dùng một cái ghế ngồi thay cho giá nhạc và một "camera stand" làm "micro stand" cho anh, nhưng người du ca vẫn vui vẻ, hát hết lòng, giọng sang sảng với những bản nhạc nổi tiếng của anh và đặc biệt nhất là bài mới sáng tác đầu năm 2005, đó là ca khúc "THÈM" (toàn bài ở dưới). Trong lúc anh hăng say trình bày, vài thính giả nghe lời hát có những ý "mới lạ": cười khúc khích ...

Dù ở tuổi gần 70 nhưng anh vẫn còn nhiều nhiệt huyết, hoài bão, vẫn "thèm" được sức khỏe và năng lực như lúc còn sinh viên, đi rong ruổi đó đây với cây đàn guitar thùng, để được hát lên những lời kêu gọi giúp đỡ người kém may mắn, đầy tình tự quê hương. Thỉnh thoảng đọc tin anh đi ngao du ở Úc, Pháp, Hoà Lan và một số tỉnh ở Hoa Kỳ ... đi đến đâu anh cũng được đón tiếp nồng hậu.

Nghe tin anh bị stroke nặng khi lên San Jose sửa soạn trình diễn vào tháng 2 và đã nằm trong phòng cấp cứu ở một bệnh viện từ lúc đó, tôi và nhiều người đã cầu nguyện mong anh được qua cơn hiểm nghèo. Chủ nhật vừa qua, 27 tháng 3, 2011, anh đã vĩnh viễn thanh thản rong chơi, theo lời của một Trưởng Hướng Đạo là "anh đã lìa rừng".

Theo tôi, thính giả mê thích nhạc của anh vì lời lẽ rất thật, rất gần, không màu mè, luôn chứa đựng những thông điệp cao đẹp, không bao giờ buồn rầu và ủy mị.

Cảm ơn "người yêu quê hương" Nguyễn Đức Quang đã đem đến cho Tân nhạc Việt những đóa hoa đẹp. Tôi tin chắc rằng anh ra đi mãn nguyện vì ngọn lửa du ca đã bùng lên trở lại đến mọi Cộng Đồng người Việt trên thế giới - cũng như thập niên 60 ở Việt Nam vậy.

Phan Anh Dũng-Tâm Hảo

Richmond, Virginia USA

30/3/2011

 

PS: Gửi kèm:

 

Tên bài hát: THÈM

Nhạc và lời: Nguyễn Đức Quang

Khởi soạn tháng 10/04 - Hoàn tất tháng 1/05

Thèm - đầu ngày cất tiếng yêu đời

Thèm - giọt cà phê đắng Paris những ban mai

Thèm - trèo lên cao ốc chơi vơi kinh thành

Gọi một tiếng lớn tên quê hương mình

Truyền đi ngàn hướng - lời tôi rung bao trái tim

Thèm - nhìn sâu đôi mắt thấy hiền

Thèm - được nghe nhắc đến tên nhau ngọt êm

Thèm - cuộc đời mở những chân thang rất đều

Để em lên xuống khoan thai dặt dìu

Thèm mùi son mới - thèm câu nói tình yêu

Thèm hương mồ hôi đẫm - những lòng phố chen chúc con người

Thèm trông bờ môi xinh tha thiết nhiệt tình nói miết tương lai

Thèm mới nửa câu kinh đã thấy quanh mình nở hoa trắng trong

Thèm xem đoạn phim hay em cười trong vắt nụ hôn kéo dài

Thèm - chạm làn khói trắng lưng trời

Thèm - ngồi bên nhau hát miên man lời vui

Thèm - ngồi co chân sát vai nhau bên đồi

Nửa vòng tay ấm đốt cháy lưng người

Nửa vòng hờ hững chờ có tiếng ai gọi mời

Thèm - nửa đêm nghe tiếng oan cừu

Gọi bằng đường giây nóng xin bôi xóa chuyện xưa

Thèm - ngồi trên phiến đá chân mây cao vời

Gập ghềnh lăn bánh nhân sinh ngọt bùi

Hoàng lan thơm ngát, chiều quê ơi, em và tôi."

Nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi viết marathon bài cho kịp thời hạn, tôi nghe chị thức khuya. Tác giả này xuất thân từ gia đình văn chương và âm nhạc, chị vốn dĩ thích 2 phạm vi này, trong bài viết, nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi về kỷ niệm tham dự nghe những buổi ca hát với nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, tác giả dùng lối xưng hô bằng tên LN, tức Lan Nhi. Bài "Một Chút Tâm Tình Với Anh Nguyễn Đức Quang":

"Khi được cháu Minh Phú cho biết tin anh Nguyễn Đức Quang bị coma, Lan Nhi (LN)thật sự đã lặng im, vì không biết phải nói gì lúc này.

Mới đây tt lại cũng nhắc đến anh:

" Chị LN ơi, em có nghe tin nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang vừa lâm trọng bệnh, phải nhập viện tuần trước, hiện nay tuy đã qua cơn hôn mê nhưng nửa thân người vẫn còn bị liệt..."

Ông Trời chắc cũng điếc tai vì những lời cầu xin của những người ái mộ nhạc du ca của anh, và thế nào ông cũng cho anh mau khỏi để còn sáng tác nhạc và hát cho mọi người nghe nữa chứ!

Với anh Quang, có thể LN biết anh, chắc chắn anh không biết LN là ai, dù rằng, gần như lần nào anh Quang tổ chức hát, khi thì ở nhà người bạn, khi thì ở Phòng sinh hoạt Người Việt, LN đều có dự.

Người mà rủ LN đến nghe anh Quang hát tại nhà một người bạn, chính là vợ chồng hmh. Căn nhà khang trang rộng rãi, nhưng chính lại nhờ vườn sau rộng rãi, có cây lớn cho bóng mát, đã chứa được mấy chục người ái mộ nhạc du ca của anh Quang. Tới đó, LN không quen biết ai ngoài hmh và Hiền. Sau này, khách đến càng ngày càng đông, LN mới có được vài người bạn quen đã lâu tình cờ hôm đó được gặp lại.

Một bàn dài bày rất nhiều thức ăn, nước uống. LN chỉ nhớ là nhiều món ăn lắm. Làm sao nhớ để kể ra đây được, vì thời gian cũng khá lâu rồi... Thường thì có soup, chả giò, bánh cuốn Thanh Trì, bánh lá, bánh nậm, gỏi đu đủ, gỏi cuốn...hình như còn có thịt bò tái...

Chương trình bắt đầu khoảng 3 giờ, và anh đã một mình với cây đàn guitar hát cho đến 6 giờ mới tan...

hmh và Hiền ơi, lâu quá chị em mình chưa gặp lại nhau đó nha. Chị LN đang nghĩ đến một hôm nào họp ở nhà chị, hy vọng sẽ được gặp lại các em Gia Long một thuở mới quen.

Khi anh Quang tổ chức ở Người Việt, thì người đến đón LN tới dự nhạc du ca của anh Nguyễn Đức Quang lại là cháu Minh Phú.

Anh đã hát say sưa những bản nhạc do anh sáng tác, và chỉ với một cây đàn guitar, anh đã hát say mê và không ngừng.

Thời gian vẫn lướt trôi. Bây giờ, xác thân anh Quang đang nằm yên nơi gian trần khổ ải này, nhưng hồn anh đang bay bổng cõi xa. Có thể anh đang hàn huyên cùng chị Quang, có thể anh đang lang thang nơi rừng sâu, ven suối, đi tìm vần nhạc...

LN cầu chúc anh được thảnh thơi nơi cõi vĩnh hằng, để lại cùng những người ái mộ, anh vừa đàn, vừà ca những bài nhạc nói lên tình yêu nước, yêu người..nơi .bên kid thế giới …

Với riêng LN, LN rất mê bài Bên Kia Sông, và lần nào cũng thế, khi tiếng đàn guitar vừa dạo vài nốt nhạc đầu, LN đã thấy lòng xôn xao theo giọng ca trầm bổng của anh:

 

Này người yêu, người yêu anh ơi!

Bên kia sông là ánh mặt trời

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Bên kia đồi, cỏ hoa đan lối

Bên kia núi, núi cao chập chùng

Bên kia suối, suối réo lạnh lùng

Là bài thơ, toàn chữ hư vô ...

 

Nghe những lời ngưoi yêu ru êm...và thật lãng mạn, tình tứ, LN cảm thấy như có người yêu thương đang ngồi bên cạnh thầm thì với mình những lời nồng nàn, âu yếm...

 

Này người yêu anh ơi!

Cho anh nồng ấm cuộc đời

Hoa thơm có ánh mặt trời

Như núi mừng - vì mây đến rồi

 

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Yêu nhau mình đưa nhau tới

Bước nhẹ - và nói bên môi

Nói cho vừa.. mình anh nghe thôi!

 

Còn gì dễ yêu hơn lời:

- nói cho vừa... mình anh nghe thôi!

LN cứ nghĩ đó là một hờn ghen nhẹ nhàng, đáng yêu, bởi anh không muốn em nói với ai cả, ngoài anh, chỉ một mình anh thôi nha.

 

Này người yêu, người yêu anh ơi!

Bên kia sông đường vẫn còn dài

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Bên kia đồng cỏ non đan lối

Trong cơn gió - thoáng nghe nụ cười

Trong khe núi - thánh thót lòng người

Lòng đòi tình vật vã khôn nguôi

 

Này người yêu anh ơi!

Đêm đêm lòng vỗ tình dài

Dây xanh quấn quít vào đời

Cho trái tình nở trên tiếng cười

Này người yêu, người yêu anh hỡi!

Bên trong lòng người êm ái

 

Rắc nhẹ từng cánh hoa rơi (*)( cánh sao rơi)

Sẽ âm thầm mình em nghe thôi!

Và cuối cùng, anh cũng hứa như một lời đoan quyết thủy chung, khi trái tình nở trên tiếng cười, đó là lúc:

- Sẽ âm thầm mình em nghe thôi.

LN lại thích thú khi nhớ đến câu: Chỉ hai đứa mình thôi nhé, khi hết chỉ mình anh nghe, rồi lại chỉ mình em nghe...

Cám ơn lời thơ của thi sĩ Nguyễn Ngọc Thạch, cám ơn dòng nhạc của nhạc sĩ kiêm ca sĩ Nguyễn Đức Quang.

Bỗng nhiên LN lại ví anh với nhạc sĩ Văn Giảng. Bởi 2 người cùng đa số có những bản nhạc hùng. Khi nghe nhạc hùng mạnh, LN không ngờ trong thâm sâu tận cùng của tâm hồn, anh Giảng cũng như anh Quang vẫn giữ được nét nhạc tình thơ mộng, lãng mạn, tình tứ đến vậy.

Tuy nhiên LN có nghĩ đến lời bóng bẩy với ý nghĩa như muốn vẽ cho ngườì bên này sông, hình ảnh một cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc, tự đo của đời sống bên kia sông...

Anh Giảng có bài Ai Về Sông Tương. Anh Quang có bài Bên Kia Sông... Cả hai bài tình ca cùng hay, cùng sống mãi với thời gian.

Lê Hữu Mục, Lê Hiền Minh, Lê Thị Hồng, Phạm Kim Long, Hồng Vũ Lan Nhi và Cát Ngọc xin vĩnh biệt chia tay"

 

Thân hữu Không Gian Mây Ngàn - Phân Ưu:

Sự ra đi của Nhạc sĩ Du ca Nguyễn Đức Quang là một điều buồn, môt mất mát lớn cho làng âm nhạc Việt Nam, Chúng tôi chân thành cầu nguyện cho anh sớm về nơi vĩnh hằng.

LS Thành Thanh Hiệp, GS Nguyễn Xuân Vinh, GS Nguyễn Ngọc Bích, LS Đoàn Thanh Liêm, GS Nguyễn Thanh Trang, GS Nguyễn Quốc Khải, LS Đỗ Thái Nhiên, BS Nguyễn Tri Phương, Phiến Đan, Khúc Minh, Khúc Lan, Tuấn Minh, Tuyết Mai, Đỗ Tiến Đức, Huỳnh Lương Thiện, Chu Bá Yến, Đoàn Hữu Định, Phạm Đình Long, MS Trần Văn Oan, Đỗ Thị Thuấn, các Diễn đàn Thân hữu, Không Gian Mây Ngàn - (TP-NXV).

Tôi được bái viết trích đoạn sau từ trang Cỏ Thơm do nhạc sĩ Phan Anh Dũng chuyển link. Nhà văn Giao Chỉ San Jose cho cảm nghĩ về nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang:

" ... Nhưng thực sự phải xem Nguyễn Đức Quang hát mới thấy rõ sự quyến rũ của Du Ca.

Tham dự văn nghệ ta thường nói là đi nghe hát, nhưng với Nguyễn Đức Quang thì phải là đi xem hát. Dân Sinh Media có thu được rất nhiều lần Nguyễn Đức Quang trình diễn, nhưng đã chọn lọc được một lần xuất thần hơn tất cả nhưng lần khác. Các bài “Đường Việt Nam”, “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” trình diễn trên sân khấu nhỏ đã được thu hình trong giây phút nghệ sĩ để hồn vào lời ca, tiếng hát, bằng tay chân, bằng dáng điệu và bằng cả tấm lòng. Quí vị có thể tìm thấy và cảm thông với giây phút huyền diệu trong đĩa DVD số 2 của bộ phim San Jose 35 năm nhìn laị qua 3 kỳ biến động.

 

Phiếm về du ca Nguyễn đức Quang

Tôi không phải là nhà phê bình âm nhạc, nhưng gọi là phiếm luận thì ai cũng có thể. Xin phiếm như sau. Trịnh Công Sơn kêu gọi ngồi xuống thì Nguyễn Đức Quang thôi thúc đứng lên. Cùng trong cuộc chiến, Trịnh Công Sơn than thở thì Nguyễn Đức Quang chấp nhận 

Trịnh Công Sơn nhìn thế giới trong hoàng hôn thì ánh bình minh rọi sáng với Nguyễn Đức Quang. So sánh cả với du ca Phạm Duy sống trong thế giới mùa Thu thì du ca Nguyễn Đức Quang vĩnh viễn là mùa hè. Nếu Phạm Duy tuyệt vọng trong cuộc chiến bi thảm thì Nguyễn Đức Quang luôn luôn thấy hy vọng đã vươn lên. Nếu Phạm Duy và Trịnh Công Sơn soạn nhạc cho cuộc đời ca hát thì Nguyễn Đức Quang soạn nhạc để chính mình cùng ca hát với cuộc đời ..."

Mời xem: Để Nhớ Nhạc Sĩ "Việt Nam quê hương ngạo nghễ" Nguyễn Đức Quang  - Giao Chỉ San Jose"

Nhạc sĩ Dương Viết Điền có dịp gặp nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang tại Việt Nam và tại Mỹ, tác giả thuật kỷ niệm đầu tiên gặp anh Quang tại Huế:

 

Một Kỷ Niệm Với Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang

Tôi nhớ vào khoảng năm 1971, 72 gì đó,  Nhac Sĩ Nguyễn Đức Quang dẫnTrung đội Chính huấn từ Trung ương ra ở lại tại Đại Đội 101 Chiến Tranh ChínhTrị thuộc Tiểu Đoàn 10 CTCT, trú đóng trong Thành Nội thuộc thành phố Huế để đi sinh hoạt ở vùng Hoả Tuyến. Năm ấy, tôi cũng giữ chức vụ Trung đội trưởng Chính  huấn của  Đại đội 101 CTCT nên đã đại diện Đại đội 101 tiếp đón anh ấy để rồi hai anh em chúng tôi cùng ngủ chung một phòng trong đơn vị. Sau mấy ngày công tác tại các binh chủng ở vùng Hoả Tuyến, vào những ngày nghỉ, tôi đã hướng dẫn Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang cùng tất cả các nữ Huấn Đạo thuộc Trung đội Chính huấn từ Trung ương ra, đi thăm một số Lăng tẩm của các vua Chúa nhà Nguyễn ở đất Thần Kinh. Sau chuyến thăm viếng nầy, anh Nguyễn Đức Quang nói với tôi rằng, anh ta tỏ ra rất thích thú vì không ngờ chuyến công tác ở vùng Hoả Tuyến nầy lại được một dịp may là biết được một số Lăng tẩm của những nhà vua Triều Nguyễn.

Vào một chiều thứ bảy, anh Quang nói với tôi:

-Chiều nay anh Điền đi chơi với tôi nhé

Tôi hỏi anh Quang :

-Đi đâu vậy hở anh?

-Đi xuống biển Thuận An hóng mát.

Tôi ngạc nhiên nhìn anh:

-Anh ở tận trong Sài Gòn mới ra Huế mà lại biết bãi biển Thuận An?

Anh Quang vừa cười vừa trả lời:

-Thì anh cứ đi với tôi, tôi bảo đảm anh sẽ có một buổi vui chơi thoả thích cơ mà!

Mặc dầu trong đầu tôi lúc bấy giờ bán tin bán nghi, nhưng tôi vẫn lái xe chở anh Nguyễn Đức Quang đi theo sự hướng dẫn của anh ấy 

 Khi ra tới đườngTrần Hưng Đạo ( lâu ngày quá tôi có thể nhớ lộn đường), anh Quang chỉ đoàn xe GMC khoảng 4 chiếc chở đầy cả người đang đậu sát lề đường ở đằng kia rồi bảo tôi :

-Khi nào đến sau đoàn xe đó thì anh dừng lại nhé.

Tôi vừa ngạc nhiên vừa lái xe đi theo sự hướng dẫn của anh Quang. Vừa đến sau đoàn xe, tôi liền dừng lại. Khi anh Nguyễn Đức Quang vừa bước xuống xe, anh ta  liền đưa tay ngoắt rồi vừa cười vừa vẫy tay chào những người ngồi trên xe GMC. Vừa nhận ra Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang, tất cả những người ngồi trên 4 chiếc xe GMC liền đưa tay vẫy chào lại và reo hò thật to như đã thấy được thần tượng :

-Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đến rồi, Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đến rồi !

Nhìn lướt nhanh những người ngồi trên bốn chiếc xe GMC, tôi thấy tất cả đều thuộc vào lứa tuổi thanh thiếu niện, thiếu nữ. Và mọi người đều bận đồng phục: bộ áo quần bà ba màu nâu. Thì ra đây là đoàn du ca ở miền Trung. Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đã cùng họ sắp xếp đâu từ lâu rồi để chờ dịp  Nguyễn Đức Quang ra công tác ở vùng Hoả Tuyến sẽ cùng nhau đi du ngoạn và trình diễn một chuyến!

Nguyễn Đức Quang liền nhìn tôi vừa cười vừa nói:

-Anh dẫn tôi đi du ngọan trên núi, bây giờ tôi dẫn anh đi du ngoạn dưới biển thôi.

Tôi cũng vừa cười vừa nói:

-Tôi xin thua ông! Ông kín đáo quá, làm tôi đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác !

Thế rồi hai anh em chúng tôi ôm nhau cười xoà.

Sau đó tôi lái xe chở Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang đi đầu, hướng dẫn đoàn du ca ngồi trên 4 chiếc xe GMC trực chỉ xuống bãi biển Thuận An để thực hiện chương trình văn nghệ của đoàn du ca đã vạch sẵn.

Đêm ấy, đúng như lời anh Quang nói với tôi, tôi “đã có một buổi vui chơi thật thỏa thích”. Chương trình văn nghệ của đoàn du ca nầy thật hấp dẫn, sống động, kỳ thú  và vui tươi.

Dưới ánh trăng mờ ảo trong đêm, anh chị em trong đoàn du ca đã đốt lửa trại sáng rực cả một góc trời và họ ngồi quây quần bên nhau quanh bếp lửa hồng rồi vừa đàn vừa hát suốt đêm thâu thật vui tươi và ấm cúng. Người nổi bật nhất đêm ấy dĩ nhiên là Nhạc Sĩ Ngyễn Đức Quang, một trong những người sáng lập ra Phong Trào Du Ca Việt Nam từ thập niên 1966.

Cứ mỗi khi anh Quang hát xong một bài do anh sáng tác, những tràng pháo tay tán thưởng nhiệt liệt vang dội cả một góc trời, át luôn cả tiếng sóng biển ở đằng xa đang vỗ rì rào trong đêm tối. Có lẽ vì lâu ngày và có một số ”fan”chưa bao giờ được nghe và thấy Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang hát bao giờ nên đêm ấy, họ đã thấy rõ ràng thần tượng của họ bằng xương bằng thịt đang đứng hát trước mặt nên khoái chí quá đã vỗ tay liên hồi không muốn ngừng lại.

Chương trình đêm hôm ấy đủ các tiết mục: song ca, hợp ca, tam ca, tập thể ca v v…

Riêng Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang, anh ta vừa đánh đàn vừa hát. Với giọng hát khi bổng khi trầm, anh ta  khi đi tới, khi đi lui, khi nghiêng bên trái, khi nghiêng bên phải, khi cúi xuống khi ngững lên như muốn diễn tả những ý nghĩ của anh nằm trong những bản nhạc mà anh ta đang hát. Đây là lần đầu tiên ( năm 1971), tôi thấy Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang trình diễn những bản nhạc do chính anh sáng tác. Tôi nghe tiếng tăm Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang từ lâu nhưng chưa bao giờ gặp anh ta vì tôi ở ngoài miền Trung, anh ấy lại ở trong Nam mặc dầu cả hai chúng tôi đều cùng ở trong ngành Chiến Tranh Chính trị.Và đúng là danh bất hư truyền nếu nói đến nội dung của từng bản nhạc và bộ tịch diễn tả lúc anh ta đang trình diễn! Thảo nào khi tôi lái xe dừng lại sau đoàn xe GMC, khi anh Quang vừa bước xuống xe đưa tay lên vẫy chào, gần cả trăm thiếu niên thiếu nữ la oang oang trên xe như tỏ vẻ quá vui mừng rồi reo hò như họ được thấy một thần tượng đã ấp ủ trong giấc mộng từ lâu. Tôi bỗng buột miệng nói nho nhỏ:

-          Không ngờ Nguyễn Đức Quang nổi tiếng đến thế!

Nếu tôi nhớ không lầm, vì lâu ngày quá cách đây đã 40 năm, đêm đó cũng có Nhạc Sĩ Trần Đình Quân, tác giả của bản nhạc tình ca nổi tiếng vang bóng một thời là bài” KHÚC TÌNH CA XỨ HUẾ”. Nhạc Sĩ Trần Đình Quân, giáo sư dạy học tại Trường Trung Học Phan Châu Trinh ở Đà Nẵng, cũng là một trong những người sáng lập ra Phong Trào Du Ca thưở ấy.

Nếu tôi nhớ không lầm thì đêm ấy, Nhạc Sĩ Trần Đình Quân cũng có trình diễn một,hai bài gì đó.

Thế rồi đêm đã về khuya, chương trình văn nghệ cũng chấm dứt. Tất cả anh chị em trong đoàn Du Ca chia tay nhau ra về mà lòng ai cũng bâng khuâng tiếc nuối vì niềm vui qua mau.

Tôi liền chở Nhạc Sĩ Ngyễn Đức Quang trở về lại đơn vị trong Đại Đội 101 CTCT trú đóng sát phi trường Tây Lộc ở trong Thành Nội Huế để nghỉ ngơi .

Sáng hôm sau, Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang cùng toàn thể nữ Huấn Đạo trong Trung đôi Chính huấn của Trung ương từ giả tôi, từ giả đơn vị trưởng của Đại đội 101 CTCT để về lại Sài Gòn.

California, ngày 28 tháng 03 năm 2011

( Viết sau khi vừa nhận được e- mail của chị Bích Huyền báo cho biết, Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang vừa qua đời lúc 04giờ sáng).

Các thân hữu Bích Huyền, Quỳnh Giao, Phong Vũ Lê Anh Dũng, Vương Trùng Dương, Nguyễn Thanh Huy, Trần Trung Đạo, Vũ Hoài Mỹ, Hoàng Tiến Long, Nguyễn Đức Cường, Vũ Văn Tùng, Trần Thế Cung, Song Thuận, Nguyễn Phục Hưng, Nguyễn Ngọc Tuấn, Khiếu Long, Ngọc Hoài Phương, Xuân Điềm, Trần Đại Nam,Tâm An Đỗ Văn Học, Lê Bình, Phan Bá Thụy Dương, Võ Thạnh Văn, Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích, Nguyễn Cao Can, Diệu Tần, Chinh Nguyên, Nguyễn Ngọc Linh và Dương Viết Điền xin đồng thành kính phân ưu cùng tang quyến.

 

Dương Viết Điền"

 Ca sĩ Thanh Lan viềt bài tưởng niệm, chị nhắc dến chuyến văn nghệ ở Âu châu, một văn thuở văn khoa với nhạc du ca Nguyễn Đức Quang...

"Tưởng nhớ anh Nguyễn Đức Quang.

 

Anh Quang mến,

Từ  những  năm  70  xa xứa, Thanh Lan  đã  luôn nghĩ đến  anh  như  một  người  thanh niên  đầy  nhiệt huyết, yêu  đời  và yêu  đất  nước Việt  Nam  vô bờ bến.

Trong  khi  bao nhiêu  thanh niên  hứ hỏng  vì hoài nghi cái  tương lai của  chính  mình, bỏ học vì nghĩ rằng dù sao cũng  sẽ bỏ  mình ở chiến  trường  mà thôi,  thì anh  luôn vững  tin  vào  một Việt Nam quê hương  ngạo nghễ.

Anh có  cái  ý chí mạnh mẽ và trong sáng của một anh hùng dân tộc.  Một  bài  hát  của  anh  có hiệu quả  hơn  ngàn  viên đạn đồng.

Đêm nay, hình ảnh  anh trong chuyến đi Âu Châu  mấy  mươi  năm trước lại  trở về, rõ  nét hơn bao giờ  hết, khi nghe tin anh đã vĩnh  viễn  ra  đi. Anh gầy gò vói cây đàn guitar, nhưng nét mặt luôn rạng rỡ. Khi  anh  hát, anh  tặng  cho  khán giả  tất cả sừc sống  của ngúóì trai trẻ muốn gửi  gấm một  thông  điệp  cho  đời.

Chỉ  mời  mấy  tháng  đây  thôi, đến  với anh trong đêm Nguyễn Đừc Quang tại sân khấu  nhỏ  của  tòa  sọan báo  Người  Việt, nụ  cười  của  anh làm  ấm  lòng mọi  người.  Vẫn  gầy  gò, vẫn  năng  động, vẫn  Nguyễn  Đức  Quang.

Nhớ  lại  một  thõi  sinh viên .........

Gửi   anh  vài   dòng.......

Một  người bạn  cũ,

 

Thanh Lan"

 

- Đính kèm hai nhạc phẩm của Nguyễn Đức Quang

 

Chiều Qua Tuy Hòa

 

Ngày xưa tôi đã đi qua Tuy Hòa

Trời xanh le lói bao mộng mơ

Đàn chim tung cánh bay bay đầu gió

 đâu đây tiếng sông bồi phù sa

Ôi, những chiều mây vắt ngang lưng đèo

Vọng Phu đưa mắt cũng buồn theo!

 

Chiều nay lơ lững tôi ngang Tuy Hòa

Ngồi đây nhưng thấy như còn xa

Trường xưa hoang vắng, hiu hiu bên ruộng lúa

Một con chim én nô đùa ngoài kia

Ôi, bước dài ngao ngán bên nương buồn

Nhìn quanh trơ đứng bao đồng nương!

 

Rồi khi tia nắng phía non Tây tàn

(Thì) Người đây như cũng như dần tan

Nhịp đêm tiếng súng đong đưa ngoài ngõ

Người qua song chắn hé nhìn trời xa

Ôi đỉnh trời lấp lánh trong đêm dài

(mà) mình tu chưa chín nên nào hay!

 

Đường đi đưa tới phía Nam nhưng lòng

triền miên ray rứt theo miền Trung

Cầu xưa xơ xác sau cơn bão tố

(còn) người dân tan tác bên đường ngẩn ngơ

Ôi, bước buồn theo mãi không gian buồn

Một đêm qua biết bao sầu thương!

 

BÀI DU CA CUỐI CÙNG

 

Tôi đến từ núi lạ

Hát mấy lời tăm tối

Mang dấu buồn trên dòng cuồng lưu

Trong suốt cuộc sinh tồn

Anh có đợi lời tôi

Dù úa tàn mấy ngọn trầm hương

Tôi buồn cuối ngày khiêng lời anh nằm hấp hối

Qua vùng đất xưa du hồn bay về chốn bụi

Quê hương bây giờ chắc cũng buồn vì một tiếng ca

Thầm nuôi lại trái tim ngậm những lời mệt mỏi

Này người du ca muôn thuở

Anh có nghe gì không

Quê hương đang lắng nghe

Và đồng bào đang lắng nghe

Người ta nghe văng vẳng ở khắp nơi trên mặt đất đầy đau khổ này

Những người du ca đang hát bản du ca cuối cùng như một lời cầu nguyện

Tôi đã thấy những tấm lòng nhân ái băng bó vết thương cho tiếng hát 

Tôi đã thấy những bàn tay cứu rỗi cho cây đàn vang vọng

Tôi biết người tìm về phía hư vô

Nghiêng câu hát buồn như viên gạch cũ

Theo đoàn người chậm bước qua con phố

Dàn kèn đồng nghẹn những khúc  âm ma

Tôi muốn hát cho cây cỏ nghe

Những chữ viết bằng âm đầu tình tự

Còn sót trên tường vôi một thời quá khứ

Những bàn chân trôi giạt vào cuộc lữ

Cũng dừng bên quán nhớ bùi ngùi

Tôi có những niềm vui nằm trong tủ sách

Những niềm vui âm ỉ đời người

Và những vẻ đẹp của những nét đớn đau đốt cháy mọi tiếng cười

Tôi có những niềm vui treo ngoài lồng ngực

Nép mình sau những rặng trường xuân

Sau cánh cửa cuối cùng lòng anh vừa khép lại

Ôi cuộc đời

Ôi nhân loại

Để đắp đổi đợi chờ từ năm tháng

Ới tôi là kẻ bổng mừng

Vói tay gỡ anh ra xa khuất mái ưu phiền

Buổi sáng ở Sài Gòn

Mặt trời không còn đẹp nữa

Chốn quê người gió tháng ba vẫn còn thổi lạnh.

PHAN NI TẤN

03/2011" 

oOo

 

Xin cám ơn tất cả tác giả, quý thân hữu ở xa, không đến Little Saigon đưa tiễn anh Nguyễn Đức Quang. Tôi muốn dùng câu nói cuối cùng trên của nhạc sĩ Nguyễn Quyết Thắng cho kết luận một sự chia tay hầu như không như ý. Tất cả chúng ta bùi ngùi trước một người đồng hương Nguyễn Đức Quang, hay chính xác hơn, một nhân tài của đất nước Việt Nam, bao năm miệt mài đóng góp cho xứ sở bằng lòng xả thân không quảng ngại cực nhọc, khó khăn khi hướng dẫn tuổi trè hướng về tương lai của sự hữu dụng cho quốc gia, anh trải rộng lòng nhiệt tâm, bầu nhiệt huyết xây dựng tuổi trẻ Việt Nam;

 

Thưa anh Quang,

Tuổi trẻ chúng tôi noi gương đóng góp cho xứ sở từ bậc đàn anh như anh, dùng hình thức này hay hình thức khác, có người theo học chính trị, kinh doanh hay kinh tế, như email của anh Francis Khúc cùng bạn bè từ trường Chánh Trị Kinh Doanh mà anh theo học, những tuổi trẻ ngày xưa chọn những ngành mà anh và họ đã kinh qua tại quê nhà một thuở, có người như HQ Hồ Ái Việt tâm sự anh chọn đi hải quân VNCH, sau này HQ VNCH đã hiên ngang bảo vệ bờ cõi, ngăn cản xứ ngoài xâm lăng đất nước chúng ta; hay anh Dương Viết Điền của ngành Chiến tranh Chính Trị, họ thường ca hát nhạc của anh. Và rồi anh, bạn bè anh, tuổi trẻ chúng tôi đồng ca khắp nơi vang vang "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ", bài ca này gắn liền với biến cố Hoàng Sa 1974 mà nhiều người mang nỗi uất hận Hoàng Sa theo kiếp này, chúng tôi cám ơn anh, bằng âm nhạc, anh nhắc nhở thanh niên về dòng sử xanh oai hung của dân tộc ta, về lòng yêu nước vô biên; Và nói đến Nguyễn Đức Quang không phải người ta chỉ quý trọng tài năng âm nhạc của anh mà thôi, nhưng trên cao tất cả, một Nguyễn Xuân Hoàng, một Cát Biển Nguyễn Sáng cùng với nhiểu người nhận định điều quý nhất của Nguyễn Đức Quang là nhân cách. Nhân cách là điểm mà bạn bé anh trân quý anh, gắn bó với anh, quyến luyến qua bao bài viết tiễn đưa anh.

Thôi anh Quang nhé, chúng tôi xin bắt tay anh lần cuối, lên đường đoàn viên lại với chị Minh Thông cùng bao bạn bè cũ mới của anh trên cao ấy, hãy bảo trọng và sống an bình …

Như cháu hướng đạo Bùi Bảo Kim của LĐ Hướng Đạo Thăng Long, Arlington, Virginia, là tác giả bé nhất xin tiễn đưa chào vĩnh biệt bác Trưởng Nguyễn Đức Quang. Tất cả chúng tôi xin sửa lời của cháu lại là:

 

"Anh Quang,

You are a talented composer, a respected friend as well as a great leader for many of us. Above all, you are the best man, anh Quang.

And  we all will miss you…

Farewell with your pleasant journey heading high up there, the destination that you chose at peace!"

 

All your friends, here.

 

 

 

Nhận được tin buồn:

Nhạc sĩ Du ca Nguyễn Đức Quang dã ra đi . Chào Vĩnh Biệt

Xin thành kính phân ưu cùng các cháu, con anh Nguyễn Đức Quang, cùng tang quyến, nguyện cầu nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang ra đi về miền vĩnh cửu, để yên nghỉ ở chốn an bình ngàn thu.

Xin một lần cuối chào vĩnh biệt tiễn đưa anh!

-Trường Sa, Nguyễn Đức, Nhật Ngân, Song Ngọc, Huỳnh Anh, Ngọc Chánh, Đỗ Kim Bảng, Lam Phương, Tuấn Khanh, Lê Mộng Nguyên, Bích Xuân Paris, Lê Văn Phúc, Đan Thọ, Phó Quốc Lân, Linh Phương, Phạm Khải Tuấn, Thanh Thúy, Mai Châu, Hoàng Oanh, Trung Chỉnh, Lệ Thu, Lệ Thanh, Phương Hồng Quế, Trang Mỹ Dung, Mạnh Quỳnh, Lê văn Khoa, Bà Hoàng Lan, Bà Nghiêm Phú Phi, Bà Văn Phụng, Bà Lê Trọng Nguyễn, Xuân Điềm, Anh Bằng, Việt Hải và Lê Dinh.

 

ĐỒNG THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

 

 Related image

 Related image

 

Hình Ảnh Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang

 

NGUYỄN ĐỨC QUANG, NGƯỜI YÊU TÔI BỆNH

A ha! Ê hê! 

Sáng nay nghe tin người bạn già của tôi

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang vừa bị đứt mạch máo não

nằm mê mang như cây đàn vừa đứt một dây trầm

Sáng nay chính câu thơ tôi thả bay trong nắng

hỏi tôi còn nhớ từng ngày xưa

Ừ thì nhớ người du ca muôn thuở

người du ca của mọi người, của cả nắng và mưa

Trời sinh anh ra đôi chân lặn lội

đi tác động khắp nẻo quê hương

bản du ca mở ra những con đường đất

gọi người về sống với yêu thương

Trời sinh anh ra một đôi môi hát

tiếng hát bay xa đến tận lòng người

nhìn vào câu ca đã trông thấy phố

thấy cả nông thôn nhà máy vươn mình

Câu anh hát mọi người cùng hát

hy vọng vẫn vươn lên như khói lan xa

hát khúc du ca mắt người thắp lửa

sáng trong lòng cứ mãi hắt ra

Đẹp đến nỗi em bé đánh giày bên hè phố cũng biết hát

chị bán lạc soong nghe cũng nở môi cười

anh xích lô hát bằng đôi chân chở khách

chị nông dân thắm tháp khúc tình người

Đẹp đến nỗi cây lúa thở ra khói trắng

cũng biết kêu và hát ngêu ngao

em rót câu ca chị gặt khúc hát

người gọi người trên một phong trào

Đứng cạnh người nghệ sĩ du ca

ôm cây đàn cùng cất cao tiếng hát

câu thơ tôi ngày xưa cũng trôi theo dòng nhạc

trái tim xanh thắp lửa niềm tin

Sáng nay lục lại ngày thơm trang bản thảo

thấy dòng đời lặng lẽ trôi qua

thấy máu nhỏ xuống nền bệnh viện

loan thành tin ngưòi nằm bệnh phương xa

Nghĩ mà giận người bạn già thiệt ngặt

giận mà mong anh bạn sớm được bình an

thức dậy lần này chẳng còn ai thèm nghe anh hát

mà chính lần này chúng tôi hát anh nghe

Này huynh trưởng, này bạn gìà, bạn lớn

là người yêu của mọi đồng bào

đất nước lâm nguy như người lâm trọng bệnh

vẫn còn nghe văng vẳng khúc hư hao

Nghe gì đây – khà khà… nghe tôi hát bản du ca cuối cùng:

“Nguyễn Đức Quang, người yêu tôi bệnh”

PHAN NI TẤN 
15/02/2011

 


Sưu tầm by Nguyễn Ngọc Quang
 
 

 

 

 

 

 

Xem thêm...

TƯỞNG NHỚ CỐ LM. ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH ( 1990/12 - 03/2018 )


 

 
 
Image result for TƯỞNG NHỚ CỐ LM. ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH photos
 
*PLEASE click on the video below
 
 
 
Kính Thưa Quý Thầy Cô cùng toàn thể cựu học sinh Sao Mai trên khắp các nẻo đường thế giới,
 
“Uống nước nhớ nguồn” là đạo lý làm người được đúc kết từ bao đời nay. Đối với học sinh chúng ta, phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi là cách đền ơn thiết thực nhất với công lao của Cha Mẹ, Thầy Cô và xã hội.
 
Thấm thoát đã 28 năm trôi qua (1990-2018) kể từ ngày Cha Cố Antôn Vũ Như Huỳnh được Chúa thương gọi về. Trong tâm tình thương tiếc, quý mến, chúng ta bày tỏ lòng tri ân đến Cha Cố Antôn Vũ Như Huỳnh, Hiệu Trưởng trường Trung Tiểu học Sao Mai Đà Nẵng - Việt Nam từ 1965 đến 1975 .
Chúng ta cùng nhớ về hình ảnh người Cha kính yêu, người Cha đã cho chúng ta trọn niềm vui của thời thanh xuân, của tuổi học trò dưới mái trường thân thương Sao Mai Đà Nẵng. Ở đây, chúng ta đã được Cha cùng quý Thầy Cô hướng dẫn,dạy bảo và luôn đồng hành trên con đường học vấn, để chúng ta có thể tự tin bước vào những cuộc hành trình mới.

Biến cố lịch sử thăng trầm của đất nước khiến chúng ta phải chia tay nhau mỗi người một hướng theo dòng đời trôi. Sau bao nhiêu năm thất lạc, chúng ta đã có Duyên may được gặp lại nhau trên trang Góc Nhỏ Sân Trường yêu thương này để nối kết lại tình Thầy Trò, nghĩa Bạn bè đã một thời bên nhau...
Và hôm nay,chúng ta cùng hướng lòng về người Cha kính yêu - Cố LM. Antôn Vũ Như Huỳnh nhân ngày Giỗ lần thứ 28.

Tri Ân - Tiếc Thương và Tưởng Nhớ đến Ngài, chúng con tha thiết nguyện xin Thiên Chúa trả công bội hậu cho Linh Hồn Cha Cố Antôn qua những công lao sâu nặng Ngài đã dành cho chúng con là đoàn con học sinh của Ngài.

 Chúng con tin tưởng rằng Chúa Nhân Lành đoái thương nhậm lời nguyện cầu của chúng con, đón nhận Linh Hồn vị Cha Cố đáng kính Antôn vào hưởng hạnh phúc Nước Trời.

 
─────── ※ Gia đình GNST ※  ───────
────── Peace & Love always ───── 
 

✬▬▬▬▬ஜ۩ ۩ஜ▬▬▬▬✬


Chúa là tất cả đời con. Con là tất cả của Chúa. Vì yêu con Chúa tác sinh muôn loài. Vì yêu con tay Chúa thương an bài. Cho con một đời vui sống thiết tha.

 Chúa là tất cả đời con. Con là tất cả của Chúa. Vì yêu con Chúa chết treo khổ hình. Vì yêu con nên đã quên thân mình. Cho con được làm con Chúa suốt đời. 

Chúa (Chúa) chính là gia nghiệp đời con (gia nghiệp đời con). Con xin được đáp lại tình yêu (xin được đáp lại tình yêu). 

 Sông nào chẳng đủ miền xuôi. Con người có thủa nằm nôi. Thời gian đưa chiếc lá bay qua rồi. Đời vương vương như áng mây bên trời. Tim con bồi hồi xao xuyến mãi thôi. 

Ân tình Chúa đủ chẳng vơi. Con nào thấu lòng trời cao. Tình yêu thương vẫn thiết tha tuôn trào. Tình dâng cao trong ngất ngây tâm hồn. Gieo vui một niềm cảm mến vô bờ. 
Xem thêm...

Nhìn Lại Mình Sau 42 Năm Tỵ Nạn Từ Tháng 4 - 1975 - 4 - 2017

Nhìn Lại Mình Sau 42 Năm Tỵ Nạn

Từ Tháng 4 - 1975 - 4 - 2017

Hai Tác giả -Nguyễn thị Thêm & Lê Ngọc Châu 

TêHát sưu tầm

Nhìn lại mình sau 42 năm tỵ nạn, từ tháng 4-1975

Lời phi lộ: Mỗi lần, tháng Ba hay tháng Tư về là những hình ảnh xa xưa của năm 1975 sống lại trong tôi. Nếu tôi ghé Ban Mê Thuột thăm người thân như Má tôi nói qua phôn khi vừa có mặt tại Sài Gòn vào cuối tháng Hai năm 1975 thì có lẽ tôi đã kẹt ở đó, nếu thiếu may mắn có thể đã… khi thành phố Ban Mê Thuột thất thủ, không như cô em tôi tình cờ quen gần đây qua FB/Internet nói (đùa là) biết đâu chúng ta gặp nhau trên đại lộ kinh hoàng!. Về miền Trung được vài ngày thì Việt cộng đã đánh đến ngoại ô cách thị xã nơi gia đình tôi ở chỉ 7 hay 8 cây số. Đêm đêm đại bác của VC bắn vào thành phố, có lần nổ tung cách nhà tôi chừng 500 mét. Tình hình quá căng thẳng, tuy chưa thăm hết bạn bè, người quen nhưng vâng lời Ba Má nên tôi vào lại Sài Gòn và tùy cơ ứng biến. Rồi vùng I di tản, sau đó đến cao nguyên vùng II. Chính tôi đã thấy rõ những hình ảnh đau thương đồng hương dìu nhau trốn chạy Việt cộng!. Gia đình tôi cũng bỏ hết tất cả theo chân đoàn người di tản vượt gần 800 cây số vào Sài Gòn tá túc bà con, chờ xem tình hình… Ba tôi là người đi sau cùng và lần cuối hai cha con gặp lại nhau sau khi vùng II chiến thuật mất. Lúc gặp ở Sài Gòn, Ba tôi chỉ hỏi một câu thật ngắn gọn: “Sao con chưa đi cho rồi còn chần chờ chi nữa (sic)”. Đó cũng là lần chia tay cuối cùng với Ba tôi. Hôm sau tôi bay về lại Đức và chấp nhận kiếp sống lưu vong từ đó. Cám ơn Thượng Đế vì thú thật nếu kẹt lại ở SG/VN chắc trước sau tôi cũng tìm cách vượt biển như bạn bè, bà con và trong trường hợp này chẳng biết số phận mình sẽ ra sao?.

Image result for di tan april 30 1975 photos
Nhân mùa Quốc Hận 2017, tôi – một người tỵ nạn chính trị vì cộng sản – xin ghi lại vài ý tưởng chợt về sau 42 năm sống tha phương, “ăn nhờ ở đậu”. Là một đoản văn tự thuật nên không sao tránh khỏi đề cập đến “cái tôi đáng ghét”, mong quý độc giả thông cảm!. Ngoài ra, nếu quan niệm rằng người Việt tỵ nạn hay “boat people” vàng thau lẫn lộn, vì không phải ai cũng giống ai sau khi ổn định đời sống ở quốc gia nào đó thì giới cựu sinh viên VNCH ở Đức nói riêng cũng thế – (có điều khác biệt rất lớn là tổng số sinh viên (SV) tính cho đến 30.4.1975 trên toàn Tây Đức lúc đó chưa đến một ngàn năm trăm SV nên SV nào “yêu nước” hay những gì xảy ra sau 30.4.75 chúng tôi đều biết!) – vì vậy nhận định thế nào tùy độc giả. Riêng tôi vì thời giờ hạn hẹp, có nhiều việc hữu ích để làm nên sẽ không tranh luận với bất cứ ai khác quan điểm nhưng diễn đạt tư tưởng với lối văn phong khiếm nhã, thiếu cơ sở. Chỉ lưu ý điều căn bản, biết hãy nói còn không đề nghị tốt nhất nên im lặng!. Chẳng lẽ ai đó ở xứ Maroc, đến sau không là người trong cuộc biết rõ SV ở Đức hơn chúng tôi?. (LNC_S-Ger)

Related image


Related image

Photo Courtesy: Internet 

Thắm thoát mà tôi đã xa quê hương, xa Việt Nam mến yêu 42 năm, kể từ đầu tháng Tư 1975 oan nghiệt!.

Bốn mươi hai năm trôi qua nhanh như thoi đưa, như là một giấc mơ khi nhìn lại mình giờ đây tóc đã bạc nhưng so với nước Đức là nơi tôi đang định cư với tư cách một người tỵ nạn chính trị thì nghiệt ngã, buồn đau, áp bức, tù đày… vẫn còn hiện hữu trên quê hương mặc dầu “Việt Nam (VN) đã thống nhất từ 1975”, 15 năm trước nước Đức!

Bốn mươi hai năm rồi mà người Việt đi vẫn đi, tuy không còn bằng cách vượt biển hay vượt biên như sau 30-04-1975 nhưng đồng hương cũng đã tìm ra nhiều cơ hội khác để “rời Việt Nam” qua diện đoàn tụ gia đình (vợ, chồng, con cháu) hay kết hôn với người nước ngoài, miễn làm sao rời xa được nơi mệnh danh là “thiên đàng xã hội chủ nghĩa”, trốn khỏi được cái “thiên đàng cộng sản” là mừng như một lần được hồi sinh; trong khi đó ngược lại thì dân Đông Đức (DDR) chẳng thấy ai trốn chạy vì Cộng Hoà Liên Bang Đức (BRD) đã làm chủ một Đức quốc thống nhất sau khi cộng sản DDR bị giải thể.

Người dân Đông Đức sau khi chế độ cộng sản bị sụp đổ chẳng những không lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rún mà trái lại họ còn ở lại, vượt qua bao nhiêu khó khăn để cùng nhau nổ lực xây dựng một nước Đức hùng cường, tự do, dân chủ. Khác với Việt Nam, biến cố Thống Nhất Đất Nước của Đức hầu như không đổ một giọt máu nào của đồng bào vô tội cả!.

Đức không tiêu hủy hàng triệu tài nguyên trí tuệ và nhân lực của “Quốc Gia Dân Tộc“ trong những trại tù khổ sai “học tập cải tạo“ và cũng không để lại các tệ nạn xã hội xấu xa tiêu biểu nhất của thế kỷ mà vẫn giữ được sự vẹn toàn lãnh thổ và đã xây dựng một xã hội ôn hoà, nhân bản đầy tình yêu thương đồng loại. Vì vậy 27 năm sau khi thống nhất cả thế giới đang nhìn nước Đức với lòng thiện cảm và đầy khâm phục.

Photo Courtesy: Internet 

Chừng đó thôi cũng đủ để chứng minh một cách rõ ràng rằng những ai từng yêu chuộng Tự Do đều không thể sống dưới chế độ cộng sản gian manh, tàn bạo. Minh chứng cho sự thất bại của chủ nghĩa cộng sản cách hùng hồn nhất là sự sụp đổ của cộng sản Đông Đức cũ, của cả khối cộng sản Đông Âu và tiếp theo là đàn anh Nga Sô vào cuối thập niên 1980!

Hôm nay tôi chỉ muốn ghi lại đây vài ý tưởng chợt thoáng về liên quan chút ít đến cuộc đời tỵ nạn của mình và xin được nói sơ về “cái tôi đáng ghét” qua bài tạp ghi ngắn này!. Là một bài đoản văn mang tính cách tự thuật nên chắc chắn khó tránh khỏi được cái nhìn chủ quan có thể làm phật lòng ai đó qua sự diễn đạt tư tưởng trung thật của mình, vì thế mong tất cả độc giả hoan hỉ cho!.

Tôi nói riêng đã may mắn đón nhận được rất nhiều “tình cờ” trong cuộc đời. Ngẫu nhiên đầu tiên là dù không bao giờ nghĩ đến nhưng… tôi đã được phép của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà thời đó cho xuất dương du học sau khi xong Tú Tài II, giữa lúc quê hương ngập chìm trong binh lửa trước tham vọng cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam (NVN) do cộng sản miền Bắc chủ xướng với sự giúp đỡ về mọi mặt của Nga, Tàu và khối cộng sản quốc tế nói chung!.

lengocchau

Đầu tháng 03-1975 tôi về thăm quê hương và gia đình nhưng lúc ấy chiến trường VN sôi động, người dân miền Nam bối rối, lo âu nên tôi đành phải rời VN sớm hơn dự tính. Lại thêm một “tình cờ” nữa, tôi may mắn đã rời Sài Gòn vào đầu tháng 04-1975, vì vài tuần sau đó, Nam Việt Nam thất thủ. Nếu không chắc tôi cũng sẽ phải chọn đường vượt biên hoặc vượt biển như bao đồng hương khác, sau 30-04-1975.

Xin mở ngoặc ở đây để nói sơ về đời sống của sinh viên ở Đức. Sau tháng Tư đen 75, trong khi “sinh viên thiên tả thuộc hội Đoàn Kết (VK yêu nước!)” có Tòa Đại Sứ hay Lãnh Sự Quán “đỡ đầu” thì sinh viên có lập trường Quốc gia thật sự bơ vơ vì chính quyền đã mất. Từ vấn đề thông hành cho đến tài chánh gặp rất nhiều khó khăn, hoàn cảnh của người sinh viên sau 30.04.1975 càng thê thảm hơn, nhất là các đợt sau cùng đến Đức. Đời sống của sinh viên du học thời Việt Nam Cộng Hòa sau khi Nam VN thất thủ hoàn toàn bị đảo lộn. Thành phần thuộc con nhà giàu hay nói đúng hơn thành phần lè phè hưởng thụ gặp nhiều khó khăn hơn vì đa số họ ỷ lại và sống nhờ vào đồng tiền cha mẹ gởi sang. Nhiều sinh viên thật sự khủng hoảng vì “sự ngưng viện trợ từ cha mẹ“ xảy ra quá đột ngột. Chỉ có những sinh viên vốn đã quen tay lấm chân bùn xoay trở tương đối dễ dàng hơn kiếm tiền học tiếp cho đến khi ra trường, bởi vì hầu hết chẳng có ai có học bổng hay trợ cấp Bafoeg gì đâu như giới anh em trẻ đến Đức tị nạn sau này. So với giới sinh viên thời VNCH ngày xưa thì đây cũng là cái may mắn của những bạn trẻ đến sau. Điều kiện sống, nhất là về phương diện tài chánh và tinh thần khá đầy đủ, chỉ còn chuyện lo cho tương lai, học hành mà thôi. Mừng giùm cho các bạn!.

Chúng tôi – sinh viên du học thời VNCH – vào đầu thập niên 80 đôi khi bị NVTN “chỉ trích là thành phần con nhà giàu hay con ông cháu cha” nhưng cũng chỉ biết cười ghi nhận vì họ đâu có hiểu hoàn cảnh khó khăn của chúng tôi từ cư trú, học hành cho đến tài chánh. Tuy nhiên nếu so sánh với thành phần đi du học ở Đức nói riêng từ thập niên 80 trở đi thì sinh viên thời VNCH thua rất xa. Không những số sinh viên do csVN gởi đi nhiều hơn 10 lần mà họ thừa tài chánh để mua xe hơi sang trọng hay nhà cửa ở, đâu phải như chúng tôi thời đó đi “xe có tài xế lái” hay lộc cộc với chiếc xe đạp cũ kỹ!. Sao không trách họ đi (?) nếu khách quan so sánh. Nhưng đa số sinh viên thời VNCH dù vất vả với cuộc sống đều tốt nghiệp, có công ăn việc làm, hội nhập tốt và tôn trọng luật pháp Đức không vướng vào những “tệ trạng” nên được dân Đức kính nể. Rất tiếc sự nể vì này mất đi nhiều kể từ sau 1990 qua các tin tức “phạm pháp” của người Việt đến từ DDR, khối Đông Âu sau khi “thiên đàng cộng sản bị sụp đổ” đăng hàng tuần trên báo hay chiếu đi chiếu lại nhiều lần trên đài truyền hình do một số “người Việt mới đến” gây ra (quý độc giả có thể tìm thấy tài liệu, bài viết bằng Đức+Việt ngữ lưu trữ trên qua google).

Có thể nói cuộc đời của những du học sinh thời VNCH như tôi trải qua khá nhiều truân chuyên từ dạo ấy, sau tháng Tư đen 1975, từ khi cộng sản Bắc Việt thống trị Nam Việt Nam. Khác với quyết định đi tìm Tự Do, đi tìm sự sống trên cái chết qua hình thức vượt biên vượt biển của đồng hương sau 1975, chúng tôi may mắn hơn, đơn thuần chỉ phải chọn lựa một trong hai: về Việt Nam hay ở lại nước ngoài. Nếu quyết định về VN thì phải cúi đầu phục tùng nhóm sinh viên đoàn kết và Toà Đại Sứ Việt Cộng. Còn ngược lại nếu quyết định ở lại nước ngoài thì phải chấp nhận xa quê hương, xa gia đình, bạn bè anh em và không biết khi nào mới gặp lại!.

Cuối cùng, riêng tôi đã có một quyết định là “xin tỵ nạn chính trị”, ozeandesostensjpg dù tuổi và kinh nghiệm đời của mình lúc đó chẳng là bao. Cũng không phải là những người từng phục vụ trong quân đội hoặc tham chính thời VNCH; chưa từng bị cộng sản bắt bớ giam cầm hay đã “bị tra tấn dã man và nếm mùi học tập cải tạo của cộng sản“ nên muốn được “hưởng quy chế tỵ nạn” những sinh viên du học VNCH phải chứng minh cho chính quyền Đức lúc đó rõ lý do là tại sao không muốn hồi hương v.v… Trong thời gian chuyển tiếp kể từ khi nộp đơn chúng tôi từ những người tuy có quốc gia, gia đình bỗng nhiên trở thành những kẻ “vô tổ quốc” vì đã nhận được sổ thông hành mang tên như vậy. Cơ quan hữu trách Đức cứu xét hồ sơ xin tỵ nạn khá lâu, có người chờ đến 2-3 năm nhưng cuối cùng tôi đã nhận được sổ thông hành tỵ nạn.

Điều làm chúng tôi đau lòng nhất là trong sổ thông hành tỵ nạn này có ghi câu “được phép đi khắp nơi, nhưng trừ Việt Nam”, nơi mình sinh ra và lớn lên. Vâng, điều kiện tỵ nạn là vậy vì dễ hiểu thôi, đã viện dẫn “gặp khó khăn với nhà cầm quyền cộng sản” để xin tỵ nạn thì thật là quá mâu thuẫn nếu mình về Việt Nam và lại ra đi an toàn phải không?. Khó khăn ban đầu sau 30-04-1975 xem như đã vượt qua, được chỗ tạm dung. Chưa hết, vấn đề sinh kế cũng làm chúng tôi xính vính một thời gian khá lâu khi mà tình trạng kinh tế ở Đức và trên thế giới lúc bấy giờ đang bị khủng hoảng trầm trọng.

Photo Courtesy: Internet 

Có lẽ thánh nhân đãi ngộ nên tôi đã đón nhận thêm sự ngẫu nhiên, may mắn khác trong hoàn cảnh lúc đó sau khi cầm sổ thông hành tỵ nạn trong tay. Được thâu nhận vào làm việc thuộc phần hành “nghiên cứu và phát triển, trọng điểm là phát triển” cho hãng rất nổi tiếng trên thế giới sau khi tốt nghiệp Kỹ Sư bậc Cao Học (Dipl.-Ing. TU (TU: Technische Universitaet = University of Technology) nên tôi nói riêng cảm thấy an tâm từ đó nhưng buồn ray rứt vì nỗi nhớ nhà và tủi thân cho kiếp sống tha hương, ăn nhờ ở đậu của mình. Tôi như con chim lạc đàn, trong thức ngủ vẫn ước mơ có ngày tìm về tổ ấm. Với thông hành tỵ nạn, chúng tôi nói chung được quyền sống và đi làm như dân bản xứ, chỉ khác điều là không được phép bầu cử.

1C16

Cuối thập niên 70, phong trào tỵ nạn lên cao. Người Việt được thâu nhận vào Đức rất dễ dàng mà không phải qua những thủ tục rườm rà hay khó khăn như chúng tôi trước đó. Ai thuộc diện “boat people” tự động được cấp thông hành tỵ nạn khi đến Đức, không cần cứu xét gì cả. Thỉnh thoảng gặp đồng hương thuộc diện này chúng tôi có trò chuyện. Hết kể những cuộc vượt biên vượt biển thật hãi hùng thì họ lại xoay qua than chuyện khó khăn về hội nhập hay khi học tiếng Đức… Đôi khi họ đề cập đến chuyện nhập tịch, viện dẫn có quốc tịch đi đó đây làm việc dễ dàng hơn. Tôi chỉ nghe và ghi nhận. Khi được hỏi thì tôi cũng chỉ trả lời là vẫn còn mang sổ thông hành tỵ nạn dù ở đây lâu gấp mấy lần cũng như thường hay đi nước ngoài vì lý do nghề nghiệp thời đó. Thú thật, đã nhiều tôi lần đi công tác Hoa kỳ, Bắc Âu, Pháp, Áo, Ý cho hãng hay đi thăm thân nhân ở Úc, Mỹ, Anh nhưng ít gặp trở ngại, chỉ tội mất thì giờ chờ lâu hơn tại các phi trường so với những ai có quốc tịch Đức mà thôi.

Thế rồi những đồng hương qua sau tôi lần lượt xin nhập tịch Đức. Riêng tôi vẫn giữ sổ thông hành tỵ nạn cho đến năm 1994. Thêm một tình cờ khác làm tôi thay đổi ý định và… xin vào quốc tịch xứ người, một quyết định không đơn giản sau nhiều đêm dài trằn trọc suy nghĩ.

… Số là trong chuyến công tác đi miền Nam nước Pháp cho hãng vào cuối Hè 1993, tôi gặp trở ngại ngay tại phi trường. Bạn đồng nghiệp ra ngoài cổng đứng chờ còn tôi vì thấy trong thông hành tỵ nạn để quốc tịch Việt Nam nên nhân viên kiểm soát ở phi trường nghi ngờ, lý do Pháp “đón nhận bất đắc dĩ người Việt sang Pháp không hợp lệ” và họ tìm cách định cư tại đó. Phải giải thích khá dài dòng, nói là có vé máy bay khứ hồi, ngủ ở khách sạn do hãng giữ chỗ v.v… thì họ mới bằng lòng cho đi. Mấy người bạn Đức thấy vậy chọc quê quá xá nên sau đó…. tôi mới có ý định xin nhập tịch Đức, nộp đơn vào cuối năm 1993.

Nói đến đây cho tôi vòng vo thêm một tí. Hoàn thành đủ thủ tục giấy tờ đòi hỏi từ phía Đức đem nộp thì được nhân viên chỉ cho đống hồ sơ trước mặt và nói, hồ sơ ông hôm nay nằm dưới cùng. Đến khi được duyệt xét chắc cũng nửa năm sau. Nghe vậy tôi giật mình. Hỏi thêm thì bà nhân viên mách nước phải làm thế này thế kia thì may ra được ưu tiên hơn. Tôi xin hãng cấp cho giấy phải công tác ngoại quốc nên nộp vào thì hồ sơ tôi không còn nằm hạng chót nữa. Lại thêm một ngẫu nhiên tốt đến với tôi. Chưa hết. Cái khó khăn mà tôi phải đương đầu giải quyết là việc phải nộp cho chính quyền Đức giấy từ bỏ quốc tịch Việt Nam. Thế là một cuộc bút chiến xảy ra giữa tôi và Bộ Nội Vụ tiểu bang Bayern (Bavaria) liên tục trong vài tháng. Mặc dù tôi đã viện dẫn không liên hệ gì hết với Toà Đại Sứ Việt cộng từ 30-4-1975 nhưng chẳng nhằm nhò gì, nhân viên hành chánh Đức phụ trách vẫn khư khư nói, bây giờ Việt Nam đã cấp giấy thôi quốc tịch rồi, không có không được.

Thế là tôi đành cắn răng viết thư cho Toà Đại Sứ Việt cộng. Tuy nhiên tôi nghịch ngợm nên viết thư toàn bằng tiếng Đức với nhân viên sứ quán. Có lần điện thoại lên hỏi sự việc đến đâu sau hơn 6 tháng chờ đợi thì họ nói “vòng vo” làm tôi cảm thấy khó chịu nên cuối cùng tôi viết thư (cũng bằng tiếng Đức) lên cho biết VÌ chính quyền ĐỨC yêu cầu chứ thật ra tôi chẳng muốn liên hệ gì cùng quý vị cả và nếu không cho tôi thôi quốc tịch thì trả lời cho biết qua thư. Một bản sao (Copy) tôi gởi cho Bộ Nội Vụ Đức để kính tường vì trong trường hợp như vậy tôi sẽ được nhập tịch mà không cần nộp giấy chứng minh thôi quốc tịch VN. Chắc thấy tôi quá cứng rắn quá nên vài tuần sau tôi nhận được giấy từ bỏ quốc tịch, dễ hiểu thôi… vì nếu không cấp thì Toà Đại Sứ mất toi hơn hai ngàn Đức Mã là lệ phí mà tôi phải trả cho cái giấy từ bỏ quốc tịch VN, một số tiền không nhỏ (thời đó)!.

Trong thời gian chờ đợi giấy tờ từ Toà Đại Sứ Việt cộng tôi được giấy chấp nhận cho phép nhập tịch Đức. Nộp thêm chứng minh thư cho thôi quốc tịch VN là tôi được gọi ra nhận sổ thông hành Đức ít lâu sau đó. Xứ tôi ở không rườm rà như các quốc gia khác, làm lễ rình rang khi nhập tịch. Ra Sở Ngoại Kiều ký giấy nhận sổ thông hành, nộp pass tỵ nạn cũ và nhận thông hành Đức là xong, sau khi trả lệ phí cho Sở Ngoại Kiều mà nếu tính ra thì quá rẻ, chỉ bằng 1/10 số tiền phải đóng cho Toà Đại Sứ Việt cộng để có được giấy từ bỏ quốc tịch Việt Nam!.

Một điểm khác xin nói thêm nhờ theo học Đại Học Đức và ở đây trên 15 năm (theo luật thời đó) nên tôi khỏi phải thi khoá Đức ngữ thành ra tiết kiệm được thêm chút ít tài chánh.

Vậy là tôi, một kẻ da vàng tóc đen, mũi tẹt trở thành công dân Đức từ giữa năm 1994, sau 26 năm kể từ khi tôi đặt chân đến xứ Đức lạnh lẽo này. Có thể nói chỉ trên giấy tờ vì ra đường dưới con mắt của người dân bản xứ chúng tôi vẫn là một người ngoại quốc dựa theo màu da và hình dáng, không hơn không kém.

Thời gian cứ thế mà trôi, đời sống của tôi tại Đức thật sự chẳng có gì thay đổi, chỉ khác là đã đi bầu Nghị Sĩ Quốc Hội, Nghị Viên tiểu bang và đại diện làng xã được vài lần trong suốt hơn 22 năm qua, kể từ khi tôi mang quốc tịch Đức. Tôi đã đi làm như bao người khác, thi hành đúng bổn phận “một người Đức mới“ và cảm thấy mình đang chia sẻ với dân bản xứ, với quốc gia đã và đang cưu mang mình!.

Thỉnh thoảng gặp lại đồng hương, những người vượt biên, vượt biển trước đây và tuy đến sau nhưng đã nhập tịch Đức trước (chúng) tôi thì tôi nhận thấy có nhiều thay đổi. Họ đi lui tới về VN với nhiều lý do…, những lý do giải thích mà mọi người – trừ những ai thiếu may mắn đã bỏ mình trên con đường đi tìm Tự Do – đều có thể sử dụng trong trường hợp “về thăm quê hương”. Có người gặp tôi lần đầu biết là thành phần đi du học thời VNCH hỏi anh về VN chưa, nói VN giờ thế này thế kia… tôi chỉ cười nói chưa, dù có đủ khả năng. Nghe vậy họ nhìn… rồi đổi sang đề tài khác. Một lần, gặp vài người quen trong giới tỵ nạn hỏi: sao anh có xin Visa về VN, được cấp chưa v.v… tôi tỉnh bơ trả lời: “Tôi đâu có bao giờ liên hệ với sứ quán Việt cộng để xin chiếu khán (Visa) đâu mà chờ với đợi, mà cho với không cho…”!.

Vâng, 42 năm rồi kể từ khi đặt chân tại Sài Gòn lần cuối hay đúng hơn kể từ khi tôi “trốn chạy vào đầu tháng Tư 1975” trong chuyến về thăm gia đình với dự tính ở lại ba tháng để đi thăm bà con, bạn bè từ Sài Gòn ra Huế mà tôi đã có lần sống suốt cả mùa nghỉ hè sau khi thi đậu Trung Học thì tôi đã để lại quê hương yêu dấu của mình đàng sau lưng từ dạo ấy. Tôi nói riêng đau buồn, cam tâm chấp nhận kiếp sống lưu vong, chôn chân xứ người, làm thợ khách và hiện tại nghỉ hưu sau khi xin về hưu non sau hơn ba thập niên kéo cày.

Tuy nhớ nhung muôn vàn Việt Nam quê tôi nhưng chỉ biết ngậm ngùi thương nhớ, vẫn hằng ước mong một ngày về mà VN thật sự có đầy đủ Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Tôi nghĩ mình không thể nào cam tâm cúi đầu xin phép để được du lịch, để được cho phép về thăm quê hương của chính mình trong hoàn cảnh hiện tại mà chắc chắn tôi sẽ phải tự hổ thẹn với lương tâm nếu tôi làm việc này bởi vì một khi mà tôi với hơn 25 tuổi đầu, có thể nói là quá trưởng thành đã quyết định xin tỵ nạn, xin chọn nước Đức làm quê hương thứ hai và lý do được nêu ra rất rõ ràng: “Vì tôi không chấp nhận chế độ cộng sản”.

Tôi chẳng phải là đứa bé lên năm!. Một đứa bé chừng ấy tuổi nếu ai đưa cho nó hai miếng bánh chắc chắn nó sẽ tự chọn cái nào thấy ngon hơn. Khi chọn lựa cho mình “con đường để đi sau 30-04-1975, xin tỵ nạn chính trị ở Đức”, tuy còn quá trẻ, chỉ mới hơn 25 tuổi và vừa tốt nghiệp Đại Học xong nhưng chẳng ai ép bắt tôi phải làm theo ý họ mà do tôi muốn!.

Vâng, chính tôi đã phải có một sự lựa chọn dứt khoát. Tôi đã bỏ, để lại sau lưng mình tất cả để chọn cho cuộc đời mình hai chữ “TỰ DO“!.
Bút mực còn đó, giấy tờ và chữ ký quả quyết rằng đã khai đúng sự thật khi nộp đơn xin tỵ nạn còn đó. Tôi không thể nào dối lòng, dối mình được!.

Nhìn lại mình, thì tôi, một cựu du học sinh thời Việt Nam Cộng Hoà không hổ thẹn gì hết. Tôi quan niệm rất thực tế: “Đất lành chim đậu” và chỉ thắc mắc, tại sao “đất lành” (theo họ sau khi du lịch VN!) vậy mà sao “chim” lại vẫn mãi vỗ cánh bay chưa chịu làm tổ để đậu??.

Tôi nói riêng – trừ thân nhân và bạn bè – không bị VC cầm tù hay hành hạ trong các trại tù mệnh danh với mỹ từ là trại “cải tạo” nhưng vẫn chưa hề một lần du lịch Việt Nam trong suốt hơn bốn thập niên qua (dù chẳng giàu có gì nhưng có thể nói chuyện mua vé máy bay không phải là trở ngại. Vì “tự trọng” nên tôi không thể nào dối lòng, dối mình được!). Tuy ngày đêm vẫn luôn thiết tha mơ ước được dịp “Tung cánh chim tìm về tổ ấm” nhưng rất tiếc đến nay tôi vẫn còn là một con chim lạc đàn, đang tha phương và vẫn còn giữ vững tư cách của người tỵ nạn chính trị sau 42 năm đổi đời, theo đúng nghĩa của nó vì đã không chấp nhận chế độ chuyên chính vô sản sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam tự do, nơi tôi sinh ra và lớn lên nên đành tạm thời “Xin Chọn Nơi Này (nước Đức) Làm Quê Hương!”.

Lê Ngọc Châu
(Nam Đức, Trung Tuần tháng Ba 2017)

 

Sau 42 Năm

- Nguyễn Thị Thêm
Gia đình tôi cổ hũ và tôi là đứa con gái duy nhất nên bị ràng buộc trong tầm suy nghĩ của mẹ." Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh làm câu trao mình" Cái ông Khổng tử ở tuốt bên Tàu vậy mà uy lực ổng thật to rộng. Một người phụ nữ ít học, quê mùa như má tôi lại thuộc nằm lòng mấy câu giáo điều đó . Thuộc để ép mình vào khuôn khổ cả một đời và truyền lại cho con gái.

Chúng tôi cùng dạy tư cho một trường trung học công giáo do cha đạo mở ra. Khi ấy anh đã là lính mang lon chuẩn úy. Có nghĩa là anh cũng thuộc lính mới tò te. Một sĩ quan mới ra trường còn mang nhiều món nợ áo cơm từ cha mẹ. Nơi anh được bổ nhiệm là một quận lỵ nằm giữa những vùng xôi đậu. Ban ngày là của Quốc Gia, ban đêm Việt Cộng về thăm dân. Họ nhận tiếp tế, tuyên truyền  và rải truyền đơn.

Người dân như mang mặt nạ, không dám biểu lộ tình cảm của mình với lính Quốc Gia. Xung quanh hàng xóm không biết ai là bạn, ai là Việt Cộng nằm vùng. Cuộc sống bấp bênh trong những trận càn của lính và đêm sục xạo, gỏ cửa rình mò của phía bên kia. Ấp chiến lược sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết đã không còn hiệu lực. Một con đường vô hình đã mở ra cho sự phát triển của phe đối nghịch. Đưa đẩy người dân vô tội vào hai gọng kìm Quốc Gia và Việt Cộng...

Khi những người bạn đồng minh lần lượt đổ quân vào thôn xóm thì như giọt nước đã tràn ly. Người dân càng hoảng loạn không biết đâu là chính nghĩa. Những người Mỹ, người Đại Hàn, người Thái Lan súng ống rầm rộ khắp mọi ngõ ngách xóm làng. Người dân quê sợ sệt vì lần đầu tiên thấy người ngoại quốc lùng sục khắp nơi. Đó là cái mồi lửa thật tốt châm ngòi cho phía bên kia. Họ tuyên truyền trong dân chúng để kéo  chính nghĩa về phía họ. Tôi nói điều này ra có nhiều người sẽ phản đối. Nhưng đó là sự thật khi người dân không có được một sự giáo dục rõ ràng về phía chính phủ. Họ không hiểu thế nào là Thế Giới Tự Do và thế nào là Cộng Sản. Họ không hiểu tại sao người Mỹ có mặt ở nước mình.

Nhan nhản trên đường những người lính Mỹ say sưa. Những cô gái thôn quê bỗng chốc thay da đổi thịt. Từ ăn mặc đơn giản lại lòe loẹt chói mắt. Một số biến thành gái mãi dâm mua vui cho những người lính Mỹ đen, Mỹ trắng. Những người phụ nữ bỏ quên chồng con, diêm dúa trong những bộ quần áo mini ngắn ngủn, son phấn sặc sỡ đi làm sở Mỹ. Những áp phe buôn đồ Mỹ, bán đồ quân tiếp vụ Mỹ, quán rượu  mọc ra như nấm. Những đứa bé con lai ra đời, những bào thai bị vất bên đường và thỉnh thoảng phát hiện xác con gái nằm chết trong bãi rác. Những tin xấu tràn về thôn xóm, những hình ảnh xa đọa lung lay xã hội.

Đau đớn là ở chỗ chính nghĩa bị hiểu lầm và kẻ gian ngoa đã giành chiến thắng. Những người học sinh trong bộ đồng phục tới lớp buổi sáng. Nhưng sẽ là một liên lạc liên báo cáo tin tức vào buổi tối cho phía bên kia. Những em học sinh mặt thì già nhưng giấy tờ nhỏ tuổi. Có em đã có vợ , có con nhưng vẫn mang giấy tờ giả đến trường để trốn lính. Những chị ngồi trên xe lam đi chợ nói nói cười cười. Những cô gái đẹp làm người tình hờ của lính. Họ là những người nằm vùng của phía bên kia. Nhiệm vụ hoạt động mật, báo tin tức, tiếp tế lương thực,thuốc men và tiếp nhận chỉ thị của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Trong bộ ngực căng tròn của cô gái đẹp chứa đầy thuốc trụ sinh. Dưới lằn vải quần mỹ a đen mượt mà kia là những lớp nylon bó thật chặc vào đùi để tiếp tế.  Trong gà mên cơm đem đi ăn một ngày, họ ém thật chặc cho 2, 3 người ăn. Sau giờ làm, họ để lại bên rừng cho người của mặt trận về lấy đem đi. Trong làng, đa số là phụ nữ. Nhưng những đứa bé không cha tiếp tục ra đời mà không ai đặt vấn đề.

Chiến tranh đã đẩy những người dân chơn chất thành những kẻ phản bội " Ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản" Đừng trách họ, mà hãy trách nhà cầm quyền không bảo vệ được họ. Những người có nhiệm vụ tuyên truyền không dẫn giải cho dân hiểu được sự thật, đâu là bạn, đâu là thù. Những người làm  công tác chiến tranh chính trị chỉ làm trên giấy tờ mà không đi vào cái gốc chính là người dân- những người dân quê an phận, hiền lành-

 Trong khi đó kẻ gian rình mò trong bóng đêm. Những bộ mặt giả nhân nghĩa vừa tỉ tê dụ dỗ, vừa hù dọa khủng bố đã len lỏi vào từng gia đình Những tổ chức bí mật được thành hình,  biến người dân thiệt thà thành tai mắt, những người đàn bà quê mùa thành những bà mẹ anh hùng.

Thành phố rộn rã tiếng cười, những bar rượu, những đêm vui thâu đêm suốt sáng. Thành phố không có chiến tranh cho nên thành phố đẹp, thành phố sang. Đất nước VN không phải chỉ là thành phố mà có cả  thôn làng, núi, đồi, sông, biển. Thôn làng càng xa xôi nghèo nàn, Việt Cộng trà trộn càng nhiều, càng khó bảo vệ. Người dân không thương yêu gì CS nhưng sợ bị trả thù, sợ bị theo dõi, sợ bị nghi ngờ và bị giết oan. Tội nghiệp người dân, một cổ hai tròng. Dù đang sống dưới chế độ Cộng Hòa nhưng vẫn bị Mặt Trận khống chế hàng ngày, hàng đêm.

Gần gũi dân nhất là những người lính Địa Phương Quân. Họ đóng quân ngay trong làng, sống với dân và người họ sợ nhất lại chính là những người dân. Ai đã từng đi lính thì khắc biết điều tôi nói là sự thật. Chỉ một câu nói lỡ lời thì tin tức hành quân được bên kia nắm bắt. Và những chuyến phục kích kể như thất bại. hay bị đảo ngược thế cờ.

Người lính sống trong đường tơ kẻ tóc và người con gái chấp nhận lấy lính là chấp nhận mọi sự rủi may trong đời. Đám cưới đôi khi không dám tổ chức tại địa phương vì gia đình sợ bị theo dõi và trả thù. Thôn làng do chính phủ VNCH làm chủ mà người dân sợ Việt Cộng hơn Quốc Gia. Đã trễ quá rồi khi nói đến điều này, nhưng tất cả chúng ta đều là nạn nhân của một cuộc lừa đảo. Bao nhiêu nhân mạng oan khiên đã chết một cách thảm thương cho cuộc chiến tương tàn. Bao nhiêu thanh niên của nước Mỹ giàu đẹp đã bỏ thây một cách oan uổng trên chiến trường VN. Vì sự sai lầm của cả hai phía. Tất cả tang thương đó đã đổ lên vai, lên đầu của thế hệ chúng tôi. Những người lính, những người vợ lính và những trẻ thơ vô tội

42 năm qua rồi, nhưng mỗi khi tháng Tư Đen lại về tôi lại xoay cuồng trong suy nghĩ. Tôi khâm phục cái nhìn thật rõ ràng cốt lõi cuộc chiến VN  của Tống Thống Ngô Đình Diệm. Ngài biết thật rõ ràng về Cộng Sản kể cả sách lược bảo vệ quốc gia. Ngài không muốn người Mỹ hay đồng minh đổ bộ vào Việt Nam. Ngài  chỉ muốn đựợc tiếp tế vũ khí và ngân sách để bảo vệ và xây dựng đất nước. Ngài lập ra ấp chiến lược là để cắt đứt nguồn tiếp tế lương thực và thuốc men cho phía bên kia. Đồng thời xây dựng một lực lượng bảo vệ xóm làng từ người dân. Nhưng tiếc thay ngài đã bị giết chết. Chế độ Đệ nhị Cộng Hòa không xoay nỗi thế cờ chính trị. Mỹ bỏ rơi VN. Và sự thất trận đau thương xóa sổ VNCH trong ngày 30/4/75 lịch sử. Vận mạng đất nước nhược tiểu nằm trong tay của những đại cường. Một cuộc mua bán, sang nhượng chính trị. Đất nước ta là món hàng đưa lên bàn cân ngã giá. Kẻ thắng chẳng oai hùng, người thua đầy uất ức.

Bốn mươi hai năm qua rồi, nhắc lại thêm ngậm ngùi, đau đớn. Bao nhiêu mạng người đã bỏ thây trong cuộc chiến, trên con đường chạy loạn 30/4/1975. Bao nhiêu xác người tù CS bị bỏ thây trên rừng thiêng nước độc. Bao nhiêu xác người bị chết trên biển đông và trong bàn tay của hải tặc. Bao nhiêu? bao nhiêu? Một câu hỏi làm nghẹn lòng người Việt trên khắp năm châu.

Thoắt một cái đã 42 năm. những người có mặt và tham dự trong cuộc chiến ngày đó đều đã già. Những mái tóc bạc trắng hay hoa râm, những tâm hồn đầy những vết thẹo quá khứ và chiến tranh. Cố gắng xây dựng một thế hệ tiếp nối. Cố gắng sống tốt và làm sống lại một thuở hào hùng. Đôi chân đã yếu, cơ thể hao mòn. Những người cha, người ông đã tận lực mình vì hai chữ tự do. Họ thật đáng kính trọng và tự hào. Nhưng trong họ biết bao nhiêu đêm trăn trở, dằn vặt vì sức tàn, lực kiệt

42 năm cho những người di tản. Mấy chục năm cho những người HO đang sống ở một nước khác quê hương mình. Sau 30/4 người sĩ quan VNCH bị tù đày nơi rừng thiêng nước độc. Không một bản án, không biết ngày về. Họ được thả ra với một thân thể suy nhược, một tâm hồn loang lỗ những thương đau. Trong họ mọi thứ đều đỗ vỡ, bi thương. Được thả từ nhà tù hẹp ra nhà tù lớn với vài chục đồng lộ phí và một túi hành trang nhẹ tênh. Nhưng họ lại mang quá nặng cái lý lịch đen "Ngụy Quân" đè bẹp cuộc đời và cả gia đình .Có người tìm lại được mái ấm gia đình. Có vợ, có con để dựa nương, bám víu. Có người không còn nhà cửa, vợ con thân thích.

Nếu không có chương trình HO không biết bây giờ cuộc sống của những người tù CS sẽ ra sao? Không có chương trình HO. Không có những người liều chết vượt biển tìm tự do. Chúng ta sẽ không có một thế hệ thứ hai thứ ba thành công trên đất nước Hoa kỳ hay trên thế giới. Chúng ta sẽ không bao giờ có một Little Sai Gon  trên đất Mỹ. Chúng ta sẽ không thể hảnh diện giơ cao lá cờ vàng và hát Quốc ca. Chúng ta không có xe hoa diễn hành ngày tết Nguyên Đán, Chúng ta cũng không thể có những bảo tàng lịch sử "Quân lực VNCH". Không có tượng đài Đức Trần Hưng Đạo và cũng không thể có những nghị quyết "Vinh Danh cờ vàng" tại nhiều thành phố trên nước Mỹ, Úc, Canada.

Cám ơn Bà Hạnh Nhơn. Cám ơn nnhững ân nhân đã cứu vớt, đã mở con đường sống cho những người liều chết tìm tự do  như chúng tôi.

42 năm, một thời gian quá nửa đời người. Những chứng nhân lịch sử rất nhiều người đã nằm xuống vì tuổi già, vì bệnh tật. Những văn nhân, thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ nỗi danh cũng quá nửa đã ra đi. Một thế hệ VNCH lần lần đi vào quá khứ. Thế hệ tiếp nối lớn lên tại Mỹ, sinh ra tại Mỹ và chúng gia nhập vào dòng chính để làm một người Mỹ thực thụ.

Hôm tuần trước tôi đi dự một đám ma. Người chết là một bà bác 90 tuổi. Con cái, người thân quen đến viếng tang đa phần là người Việt, nói tiếng Việt. Nhưng quỳ dưới kia các cháu dâu rễ đa phần là người Mỹ. Bầy cháu cố cũng là những đứa bé Mỹ lai nói toàn tiếng Mỹ. Cả một đại gia đình nói chuyện với nhau bằng tiếng Mỹ. Người chết chắc hẳn sẽ buồn và không hiểu chúng đang nói chuyện gì. Người tham dự như tôi cũng xót xa cho ngay bản thân mình. Rồi thì cũng thế mà thôi hay sao?

Không? Chúng ta đã có những lớp dạy tiếng Việt. "Tiếng Việt còn, nước ta còn." Chúng ta không thể không hòa nhập nhưng không thể để mất nguồn cội. Những thế hệ VNCH thứ hai thứ ba đang học hỏi để hiểu lý do tại sao chúng có mặt nơi này. Các cháu đang làm sống lại dòng sử Việt. Các cháu giương cao lá cờ vàng và các cháu tự hào về nó.

Dù muốn dù khôngchúng ta cũng đã rời khỏi VN. Mọi việc của quê hương đất nước phải do người trong nước quyết định. Có thay đổi được vận mệnh, có bảo vệ VN khỏi bàn tay xâm lược của Tàu Cộng hay không là do người trong nước thực hiện. Chúng ta chỉ có thể ủng hộ tinh thần, tiếp tay đưa mọi việc ra dư luận quốc tế để làm áp lực.

Các bạn ơi! 42 năm rồi cho một cuộc chiến, cho một đời người.Con gái tôi sinh ra 3 tháng sau ngày mất nước. Bây giờ cháu đã 42 tuổi, là một phụ nữ trung niên, con cái đã vào Trung học. Người lính VNCH trẻ nhất cũng đã ngoài 60. Những người lính già bây giờ đều đã đi gần cuối cuộc đời.  Sống nơi xứ người tuy đầy đủ vật chất nhưng vẫn là nỗi khắc khoải khôn nguôi cho những giấc mơ về một VN tự do dân chủ.

Tôi yêu quê hương VN tôi lắm. Tôi nhớ gia đình, họ hàng anh em và bạn bè tôi. Tôi nhớ từng con đường, từng góc vườn kỷ niệm của tuổi thơ và tuổi trẻ. Thú thật tôi sợ lắm. Sợ một ngày nào đó tôi trở về không nhận ra đất nước của mình. Tôi sợ Trung Cộng sẽ chiếm trọn Việt Nam. Người Việt mình sẽ bị làn sóng người Tàu tràn xuống tịcg thu nhà cửa, chiếm cứ ruộng vườn. Họ sẽ đày người Việt mình đi vào những nơi rừng núi hay đồng khô cỏ cháy. Họ sẽ xóa một nước VN như chính quyền hiện nay xóa sổ VNCH. Họ sẽ tàn bạo hơn, quyết liệt hơn, dã man hơn để đồng hóa chúng ta. Vì mộng bá chiếm VN ấp ủ mấy ngàn năm nay đã toại nguyện.

Một SàiGòn xưa đã mất. Một nền văn hóa nhân bản đã mất. Có thể rồi đây nước Việt Nam sẽ bị xóa sổ trên bản đồ thế giới . Chẳng ai còn nhớ đến bà Trưng, bà Triệu, Hưng Đạo Vương, vua Quang Trung....

Tôi có bi quan quá hay không? Xin nhường câu trả lời cho tất cả mọi người. Chỉ mong sẽ không bao giờ là sự thật. Chỉ mong được như vậy.

Xin các đấng tiền nhân, hương linh những anh hùng tử sĩ phò hộ cho nước Việt mình vượt qua cơn bão giông này.

42 năm đã quá đủ cho những thương đau.

 

Nguyễn thị Thêm

Tháng 4/2017

Xem thêm...

Pearl Harbor Day December 07, 1941

07-December-1941

Ngày 07 tháng 12 năm 1941 là một ngày quan trọng trong lịch sử chiến tranh của nước Mỹ: ngày Nhật-Bản tấn công Hoa Kỳ ở Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), Hawaii.  Ngày này không những quan trọng vì nó đánh dấu Hoa Kỳ chính thức tham gia Đệ Nhị Thế Chiến, nhưng cũng quan trọng vì lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, một quốc gia ngoại bang đem quân giao chiến  ngay trên lãnh thổ nước Mỹ. Ở Pearl Harbor, nơi chiến hạm USS Arizona bị Nhật oanh tạc đánh đắm mang theo xác của 1,102 thủy thủ đoàn,  Mỹ đã biến nó thành nơi Kỷ niệm Chiến sĩ trận vong, để luôn tầu dưới lòng biển mà không kéo lên sửa chữa như bao nhiêu chiến hạm bị đánh chìm khác. 

Lần đầu tiên Thủ tướng Nhật thăm Trân Châu Cảng

Ông Barack Obama thăm Hiroshima cùng ông Abe hồi tháng Năm

 Ông Barack Obama thăm Hiroshima cùng ông Abe hồi tháng Năm (GETTY IMAGES)

Thủ tướng Shinzo Abe sẽ là nhà lãnh đạo Nhật Bản đầu tiên thăm Trân Châu Cảng, căn cứ hải quân của Mỹ ở Hawaii.Quân Nhật bất ngờ tấn công nơi này năm 1941, giết chết 2.300 lính Mỹ, khởi đầu cho việc Mỹ tham gia Thế chiến Hai. Ông Abe sẽ thăm Trân Châu Cảng ngày 27/12/2016 cùng Tổng thống Mỹ Barack Obama 2.300 lính Mỹ thiệt mạng trong trận Trân Châu Cảng

2.300 lính Mỹ thiệt mạng trong trận Trân Châu Cảng

Loan báo đưa ra hai ngày trước dịp kỷ niệm 75 năm ngày diễn ra trận chiến.Ông Obama trước đó là tổng thống Mỹ đầu tiên thăm Hiroshima, nơi 150.000 người được cho là đã thiệt mạng vì bom nguyên tử Mỹ năm 1945. Hai nhà lãnh đạo sẽ cầu nguyện cho người chết tại Trân Châu Cảng, trước khi diễn ra cuộc gặp lần cuối của họ tại Hawaii.Nhà Trắng nói chuyến thăm sẽ "chứng tỏ sức mạnh của sự hòa giải đưa cựu thù trở thành đồng minh thân nhất".Ông Abe nói: "Cuộc hội đàm của chúng tôi ở Hawaii sẽ là dịp cho thế giới thấy quan hệ đồng minh mạnh mẽ hơn của hai nước trong tương lai."Nhân cơ hội ngày 07 tháng 12, chúng ta nên cùng nhau đọc lại lịch sử Nhật tấn công Trân Châu Cảng.

Vào thập niên 1930, Nhật-Bản là một cường quốc có tham vọng làm bá chủ Á Châu. Nhật-Bản đô hộ Đại Hàn từ năm 1910-1945. Năm 1931, Nhật-Bản tấn công quân Trung Hoa ở Manchuria để thăm dò tình hình, và vào năm 1937, Nhật-Bản xua quân xâm chiếm Trung Hoa. Để cắt đứt tất cả những tiếp liệu cho kháng chiến quân Trung Hoa từ miền Nam, năm 1940, Nhật-Bản  xâm chiếm bán đảo Đông Dương: Ai Lao, Cam Bốt và Việt Nam. Nhận thức mối hiểm họa ngày càng gia tăng, Tổng Thống Franklin Roosevelt ra lệnh Hạm Đội Thái Bình Dương di chuyển đến Hawaii để chuẩn bị chiến tranh, gia tăng quân số ở Phi-Luật-Tân và đồng thời cắt xuất cảng dầu hỏa cho Nhật-Bản. Mối liên hệ ngoại giao giữa Nhật-Bản và Hoa Kỳ ngày càng căng thẳng. Nam Dương, lúc bây giờ thuộc về Hòa Lan, có nhiều tài nguyên về dầu hỏa nên là nước mà Nhật-Bản lăm le xâm chiếm kế tiếp. Các chiến lược gia Nhật-Bản lúc bấy giờ tiên đoán -sai lầm- là nếu Nhật-Bản xâm lăng Nam Dương và Mã Lai, Hoa Kỳ sẽ nhẩy vào vòng chiến, nên vào năm 1941, Đô Đốc Isoroku Yamamoto cùng với các Tướng Lãnh Hải Quân  âm thầm soạn thảo một cuộc tấn công bất ngờ vào Pearl Harbor. Vào cuối năm 1941, các quan sát viên quân sự Mỹ tin rằng cuộc chạm trán giữa Hoa Kỳ và Nhật-Bản không thể nào tránh khỏi, thế nhưng phần lớn đều sai lầm khi tiên đoán nơi sẽ bị tấn công. Vì Hawaii quá xa, họ nghĩ Nhật sẽ đánh Mỹ ở vị trí gần Nhật-Bản hơn: Phi-Luật-Tân. 

Nhật-Bản muốn dành yếu tố bất ngờ nên quyết định tấn công Pearl Harbor. Cuộc tấn công ở đây đạt được  hai mục đích: Thứ nhất, ngăn cản Hạm Đội Hoa Kỳ can thiệp Hải Quân Nhật tấn công Nam Dương,  Mã-Lai, và Phi-Luật-Tân. Thứ hai, gây ra một khủng hoảng tinh thần lẫn quân sự trong quân đội cũng như dân chúng để khi Mỹ phục hồi thì đã quá trễ trong việc can thiệp vào mộng bá chủ Á Châu của Nhật-Bản. 

Đô Đốc Isoroku Yamamoto một mặt chuẩn bị cho tòa Đại Sứ Nhật-Bản ở Hoa Thịnh Đốn đánh thông điệp cho Hoa Kỳ tuyên bố ngừng tất cả các điều đình về hòa bình, một mặt trước đó vào ngày 26-11-1941 ra lệnh cho một  hạm đội Nhật-Bản gồm sáu hàng không mẫu hạm, 30 chiến hạm, 20 tiềm thủy đĩnh  rời Nhật-Bản đi Hawaii, đến gần vị trí Tây Bắc Hawaii 360 cây số mà không bị phát giác. Trên sáu hàng không mẫu hạm này là 360 chiến đấu cơ  và 48 máy bay phòng thủ. Cuộc tấn công được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là tấn công hàng loạt -cả không lực lẫn tiềm thủy đĩnh-  vào tất cả các mục tiêu, ưu tiên là hàng không mẫu hạm và chiến hạm. Giai đoạn thứ hai sẽ tiêu hủy máy bay, tầu chiến mà giai  đoạn thứ nhất còn xót lại. Các phi công được lệnh thả bom hoặc rải đạn trên tất cả máy bay đậu trên phi trường để phòng hờ máy bay có thể cất cánh quay lại tham chiến. Một ngày trước khi thông điệp chấm dứt mọi thương luợng về hòa bình giao đến chính phủ Hoa Kỳ, Nhật-Bản tấn công. 

Khi 184 chiến đấu cơ đầu tiên rời hàng không mẫu hạm Nhật-Bản bay gần đến đảo Oahu thì radar Mỹ phát giác. Tuy nhiên người sĩ quan trực lại nghĩ rằng đó là sáu máy bay oanh tạc B-17 của Mỹ đang đến Hawaii từ đất liền nên không để ý. Đến khi các radar từ các chiến hạm ở Pearl Harbor phát giác địch quân thì đã quá trễ: tổng cộng 353 máy bay Nhật trong đợt tấn công đầu tiên, 7:48 sáng ngày 07 tháng 12,  đã gây thảm họa cho hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ  ở Pearl Harbor gồm 96 tầu đủ loại khác nhau (các hàng không mẫu hạm đã may mắn rời bến không một chiếc nào nằm trong căn cứ). 

Thủy thủ đoàn bừng tỉnh ngủ trong còi hú báo động, bom nổ khắp mọi nơi, đạn súng liên thanh bắn không ngừng. Lính Mỹ hoàn toàn không chuẩn bị: đạn dược vũ khí khoá kín trong phòng, súng trên tầu chiến không  người võ trang, máy bay đậu đầu cánh gấp lại, không thể nào cất cánh. Chiến hạm này đến chiến hạm khác bị đánh đắm, không vì bom từ  trên không thì vì thủy lôi của tiềm thủy đĩnh. Chỉ trong vòng 90 phút, cuộc tấn công chấm dứt : 2,386 người chết, 1,139 người bị thương. 18 tầu, năm là chiến hạm, bị đánh đắm hay thiệt hại nặng, 188 máy bay bị thiêu hủy, 159 bị thiệt hại. Trong số 2,386 người thiệt mạng, gần một nửa là thủy thủ đoàn của chiến hạm Arizona, bùng nổ và chìm ngay tại chỗ. Phía Nhật-Bản chỉ mất 29 máy bay, một tiềm thủy đĩnh lớn, năm tiềm thủy đĩnh nhỏ. 110 phi công hay thủy thủ thiệt mạng.

Bốn ngày sau, ở Âu Châu, Đức Quốc Xã và Ý-Đại-Lợi tuyên bố khai chiến, kéo nước Mỹ tham gia vào Đệ Nhị Thế Chiến.

Ngày hôm sau, Tổng Thống Franklin D. Roosevelt tuyên bố 07 tháng 12 là ngày ô nhục, “a date which will live in infamy”. Nước Mỹ cùng quân đội đồng minh Anh-quốc và Nga-Sô chiến đấu với khối Axis Nhật, Đức, Ý, trong bốn năm trời. 

Ngày 26 tháng 7 năm 1945, Tổng Thống Truman ra tối hậu thư cho Nhật-Bản đầu hàng. Nếu không, khối Liên Hiệp sẽ tấn công Nhật-Bản thì quân đội cũng như lãnh thổ Nhật-Bản không thể nào tránh cảnh bị tiêu diệt hoàn toàn. Thủ Tướng Kantaro Suzuki tuyên bố Nhật-Bản không quan tâm đến lời cảnh cáo của Hoa Kỳ. Ngày 31 tháng Bảy, Hoàng Đế Hiroshito ra lệnh cho quân đội Nhật bảo vệ Hoàng Cung đến giọt máu cuối cùng. 

Không thuyết phục được Nhật-Bản đầu hàng, ngày 06 tháng 8, Mỹ thả bom nguyên tử đầu tiên ở Hiroshima, giết chết 80,000 người ngay lập tức. Ba ngày sau, ngày 09 tháng 8, Mỹ thả trái bom nguyên tử thứ nhì ở Nagasaki, giết chết 70,000 người. 

Ngày 12 Tháng 8, Hiroshito tuyên bố Nhật-Bản đầu hàng sau khi trình bày với quốc dân: “Địch quân hiện thời đã phát minh một vũ khí mới vô cùng lợi hại và nguy hiểm, sức công phá bức tử hằng hà sa vô số người và gây thiệt hại vô lường. Nếu tiếp tục chiến đấu, chẳng những hậu quả tối hậu là chúng ta sẽ lãnh chiến bại và Nhật Bản bị san bằng bình địa, mà có thể cuộc chiến sẽ mang đến sự tiêu diệt của cả nhân loại trên thế giới”. Quân đội đồng minh mang các cấp Tướng Lãnh, sĩ quan cao cấp Nhật ra xét xử ở tòa án quân sự: 920 người bị kết án xử tử, 475 người bị chung thân khổ sai, 2,944 người bị án tù nặng nhẹ khác nhau. 

Nhật-Bản phải bồi thường chiến tranh cho những nước mình đã xâm lấn, trong số này có cả Việt Nam. Ngày 13 tháng Năm 1959, Nhật-Bản bồi thường Việt Nam $38 triệu đô-la.

Ba tháng trước đó, quân đội đồng minh giải phóng Âu Châu, Hitler tự tử. Những năm sau đó, nước Mỹ trích một số tiền khổng lồ để giúp đỡ Nhật-Bản và Đức tái thiết hậu chiến. Tính theo giá trị đồng đô-la vào năm 2005, Mỹ giúp Đức 29 tỷ đô-la, Nhật-Bản 15 tỷ đô-la, để hai nước này phục hồi đất nước. 

Ông George Santayana có một danh ngôn khá nổi tiếng về lịch sử: "Those who cannot remember the past are condemned to repeat it", “Ai không nhớ quá khứ chắc chắn có khuynh hướng tái diễn lỗi lầm”. Chúng ta đọc lại lịch sử cuộc tấn công Pearl Harbor để tránh vi phạm lỗi lầm của người gây hấn, cũng như xem những người ngoan cố không thấy kết quả thảm hại của sự gây hấn. Ở đây tôi muốn nói đến những người không tặc Hồi quá khích đâm máy bay dân sự vào building ở Mỹ. Hành động này không khác gì những phi công kamikaze tự sát của Nhật-Bản dùng máy bay là trái bom khổng lồ đâm đầu vào chiến hạm Mỹ ở trận đánh Okinawa vào tháng Tư năm 1945. Kẻ gian ác gây hấn cuối cùng rồi cũng sẽ thất bại.

Chúng ta đọc lại lịch sử cuộc tấn công của Nhật ở Pearl Harbor để thấy cho dù  lính Mỹ có bị giết hại, vũ khí nước Mỹ có bị thảm họa, tài chính quốc gia có bị suy sụp vì chiến tranh khi  Nhật và Đức mang quân khai chiến, lúc chiến tranh chấm dứt, Hoa Kỳ vẫn sẵn sàng xoá bỏ tất cả hiềm thù, giúp đỡ cho hai quốc gia đối nghịch để hiện giờ cả hai có nền kinh tế đứng hàng đầu trên thế giới. 

Không gây hấn vẫn chưa đủ, chúng ta nên có lòng rộng lượng đem tình thương xoá bỏ hận thù, giúp đỡ kẻ ngã ngựa mà  không cần biết ơn ta làm có được đền bù hay không, giống như dân tộc Mỹ đã làm ở câu chuyện lịch sử này. (NTN) 

<//> Nguyễn Ngọc Quang sưu tầm và trích dịch

 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này