Ban Chấp Hành

Ban Chấp Hành

Tình Bạn Thân Thương

  • Đăng tại Truyện

 Tình Bạn Thân Thương 

 
109 bài thơ về tình bạn thân hay, sâu lắng, dạt dào tình cảm
 
Tôi và Tý cùng được bổ nhiệm dạy trường trung học Hòa Vang, một quận ngoại ô thành phố Đà Nẵng. Tôi dạy Lý Hóa Sinh, Tý dạy Pháp văn, thành ra thân nhau.
 
Mùa xuân năm 1975, tôi và Tý đã mất việc vì liên hệ lý lịch xấu của chồng. Phan xuân Phương chồng tôi và Nguyễn văn Xương chồng Tý đều đi tù tại Miền Bắc Vietnam. Trong thời gian nầy chúng tôi thường gặp nhau tâm sự an ủi và trao đổi thư từ của hai ông chồng đã gởi về. Sau gần sáu năm, Phan được trả tự do vào mùa Xuân 1981. Còn Nguyễn phải ở lại tù đến 9 năm. Rồi từ đó, chúng tôi bảo nhau qua lại đến thăm nhau mỗi tuần một lần. Khi thì đúc bánh xèo, lúc thì nấu mỳ Quảng, hoặc đổ bánh bèo, cùng nhau ăn uống vui vẻ, cũng là để bồi dương cho 2 ông chồng sau những năm cơ cực trong lao tù CS.
 
Đến năm 1989 có chủ trương cho những người tù của chế độ cũ được ra đi định cư ở Mỹ theo diện HO. Chúng tôi cũng bảo nhau hằng đêm đốt nhang cầu nguyện Phật Tổ cho hai gia đình cùng đi Mỹ trên một chuyến bay và cùng được định cư một chỗ để được gần nhau như xưa. Đúng như điều mong ước,chúng tôi được sắp vào danh sách HO.4, cùng rời Tân Sơn Nhất ngày 6/9/1990 và cùng đặt chân đến phi cảng quốc tế Los Angeles vào chiều thứ sáu 13/9/1990. Tại đây hai gia đình chúng tôi chia tay nhau.
 
Gia đình Tý và Nguyễn sang Boston bang Massassuset, còn gia đình tôi về Michigan, vùng có Ngũ đại Hồ lạnh giá. Ở Vietnam gặp nhau hằng tuần, đến xứ người tưởng được gần nhau,nhưng lại xa nhau, khiến chúng tôi bùi ngùi lưu luyến. Tý là người mập mạp, vô tư ăn ngủ dễ dàng, còn tôi ngoài cái dáng mảnh khảnh lại thêm tính hay suy nghĩ và mềm yếu. Hai chúng tôi trái ngược nhau, nhưng rất thân nhau bởi vì cùng một quan niệm coi tình cảm là quí hơn tiền bạc. Ôm nhau một lần rồi chia tay đôi ngã. Khi lên máy bay, còn đang loai hoai tìm chỗ ngồi để nghĩ mệt vì đã qua một đường bay quá dài, ít ăn và không ngủ nên cơ thể bất an.
Thình lình nghe các con tôi ôm nhau và la lớn: “Xuống gấp kẻo máy bay cất cánh, có người ở Santa Ana đến bảo trợ.” Mọi người trên máy bay đều nhìn chúng tôi và nghĩ rằng chúng tôi là lũ người điên, vì thấy chúng tôi lục tục kéo xuống. Lần đầu tiên trong đời trên xứ Mỹ tự do, tôi đã mang ơn và luôn nhớ ơn một người Mỹ da màu, đó là bà Julie, một người gốc Phi Châu, sinh trưởng ở Hawai làm việc tại trại tị nạn ở Thailand đã giúp đở tôi liên lạc gấp rút với người Ana. Nhờ đó chúng tôi đã định cư tại nơi đây hơn 10 năm qua. Chúng tôi rất sung sướng được về vùng nắng ấm California có khí hậu giống với Miền Nam Vietnam.

Sau hơn nửa năm mất liên lạc, tôi lại nhận được thư Tý và từ đó cũng giao hẹn mỗi tháng gọi thăm nhau qua lại một lần. Thời gian cứ tưởng êm đềm trôi nhanh trên xứ người. Nào ngờ hơn một tháng không thấy Tý gọi qua, tôi vội gọi Tý, mới hay Tý vào nằm bệnh viện đã nửa tháng. Theo như lời Nguyễn, Tý bị sạn mật phải cắt bỏ túi mật, sau khi mổ thì bác sĩ cho biết gan cũng đầy sạn nên phải mỗ gan lấy sạn ra cho hết. Chỉ rong vòng nửa tháng ở bịnh viện, Tý không ăn uống được, phải truyền dưởng trấp qua một ống dây đưa vào thực quản, nên Tý sụt mất 20 Lbs. Sau đó Tý được bịnh viện cho về thăm nhà và con rồi vào mổ tiếp lần thứ hai.
 
Tôi được nói chuyện với Tý mới biết Tý chỉ đau lâm râm vùng sườn bên phải nhưng chồng Tý lo sợ trợ cấp y tế miển phí bị cắt giảm thì không có tiền để chửa bệnh, nên gấp rút đưa vợ đi mổ mà không tham khảo với nhiều bác sĩ khác ở ngoài bệnh viện hoặc hỏi ý kiến thân nhân và bạn bè.

STT hay về Tình Bạn thân ngắn buồn vui hài hước bá đạo chất nhất
Sau khi mổ, Tý bảo cô ta đau đớn quá sức không rục rịch hoặc xoay trở được thân người,nước từ gan chảy ra cứ thấm ướt cả quần áo mặc dù có một ống dây nhựa đưa từ gan ra một túi nilon đặt bên ngoài sườn phải. Mỗi đêm phải thay hai ba lần quần áo mà nướcvẫn thấm ướt lạnh cảlưng. Qua đó, tôi biết bệnh tình của bạn tôi rất là trầm trọng và khó khăn vì sự quyết định quá vội vàng của chống Tý.. Tôi chỉ biết an ủi để Tý được an tâm. Tôi không thể nào quên được lời nói của Tý: “Chắc Tý chết quá Lê ơi, chỉ tội nghiệp cho thắng út Tú còn quá nhỏ mới 8 tuổi, sợ Nguyễn lấy vợ khác sẽ khổ cho nó”. Tôi gắng gượng cười nói để Tý an tâm: “Không sao đâu, Tý cứ an tâm, Nguyễn bảo đây là bệnh viện lớn nhất nước Mỹ và nổi tiếng nhất thế giới, bịnh tình của Tý sẽ thuyên giảm”.

Vào đúng rạng sáng ngày lễ Lao Động của Mỹ năm 1993, Tý nhập viện sau một cơn đau dữ dội để mổ gấp rút, với vết thương quá nặng ở gan, kèm theo sự bất cẩn của y tá đút lộn ống dây vào khí quản thay vì vào thực quản, nên Tý nghẹt thở và đã ra đi vĩnh viễn. Đây là sự thật như lời Nguyễn kể, và theo thiển ý của tôi cần phải quyết định thận trọng qua sự tham khảo với nhiều bác sĩ cũng như bạn bè vào người thân để đi đến quyết định sống còn của một con người, không thể dựa vào sự miễn phí của bảo hiểm y tế để giết chết sự sống của bạn tôi. Tôi thầm nghĩ nếu chưa mổ xẻ, bạn tôi sẽ chưa chết sớm như vậy. Tôi mất bạn thân, tôi đau đớn vô cùng trong suốt tám năm qua tôi cố quên, nhưng vẫn nhớ không biết Nguyễn mất vợ anh ta có đau đớn như tôi không?
Hiện tại các con của Nguyễn đã thành danh. Cháu lớn đã tốt nghiệp kỷ sư lương khá cao, cháu nhì là một nhà nghiên cứu khoa học và cháu út chuẩn bị vào đại học. Riêng với Nguyễn đã có một bạn đời khác ngay sau đó, trẻ hơn anh 15 tuổi với nhan sắc tầm thường không mặn mà như Tý. Tôi còn nhớ lời Nguyễn bảo với tôi khi Tý vừa mới mất: “Chắc tôi chết mất chị Lê ơi. Mất Tý tôi không thể nào sống nỗi, tôi sẽ ở vậy nuôi thằng Út”. Tôi cũng buồn và khuyên anh ta: “Thôi anh a, có buồn cũng chẳng được gì, thời gian sẽ trả lời tất cả những điều anh nói hôm nay. Tôi chỉ cần anh ở vậy chín năm để nuôi thằng Út đến lúc vào đại học và ra đi làm để bù với những tháng ngày Tý nuôi con thăm chồng là đủ rồi.”. “Tý ơi, việc xảy ra ngoài ý muốn của tôi, chính tôi đang sống mà không còn giữ được chồng mình, thì làm sao tôi giữ được Nguyễn choTý, người đã chết. Dù sao sự hy sinh của Tý vẫn có ý nghĩa hơn những gì xảy ra trong thường tình mà tôi là người còn sống đã thấy được và chắc Tý ở thế giới bên kia cũng thấu hiểu tình tôi đối với bạn”.

Mùa xuân năm 1995, tôi về thăm lại VN sau khi học xong Đại học Đông y và thi đậu bằng hành nghề châm cứu và thuốc bắc tại Mỹ. Tôi ghé về quê, thăm mẹ Tý, thấy thật thương tâm bởi lẽ bà đã quá đau khổ vì sau khi Tý qua Mỹ được nửa năm thì chồng bà chết. Khóc chồng, phần trông nhớ con, bà đã mù hẵn đôi mắt và đang ngồi chống gậy trông ra ngõ chờ Tý. Khi thấy bà, tôi không cầm được nước mắt và cố nín khóc mà nước mắt cứ tuôn rơi. Bà hỏi tôi từng tiếng gần như hụt hơi: “ Sao đi cùng một lần mà không rủ nhau cùng về”. Lời nói êm như một câu trách móc. Tôi cảm thông với nổi đau đớn tận cùng của bà và thầm nghĩ lại lời các con và chồng tôi dặn: “ Về VN gặp mẹ cô Tý phải gắng khôn khéo nói dối để khỏi lộ chuyện cô

Mẹ ơi, chiều 29 con về
Tý mất cho bà yên tâm sống trong hy vọng.. Nói dối nầy không hại gì ai nhưng nuôi được sự sống nên tôi phải làm thế, tuy rằng tính tôi hay nói thật. Tôi trả lời nhanh: “Qua Mỹ con sẽ kể hết cho Tý nghe nỗi nhớ thương, trông chờ của bác đối với nó, và tết năm tới tụi con sẽ cùng về thăm bác. Bác cố gắng tịnh dưởng cho khỏe”. Bà bảo: “Tao cố gắng sống để chờ hai đứa bay cùng về thăm tao một lần”. Bà cầm chặc tay tôi, không cho ra về mặc dù bên ngoài trời đã gần tối hẵn.
Cậu học trò cũ của tôi là em của Tý bảo: “Mẹ buông tay cô ra để cô ấy về kẻo tối vì mai cô phải vào Saigon và qua Mỹ lại.”Tôi vội bước nhanh ra khỏi cửa như trốn chạy hình ảnh thương tâm mà tôi đã chứng kiến.

Trên con đường từ Hòa Vang về Đà Nẳng, ngang qua trường Trung Học Hòa Vang nơi hai chúng tôi đã dạy học, tôi bùi ngùi nhìn vào con đường đất đỏ dẫn đến nhà Tý với hàng dừa xanh mượt ngã la đà nặng trỉu trái. Cũng tại nơi đây chúng tôi thường song đôi chuyện trò, còn các nhóc học sinh chạy nhảy nô đùa. Nước dừa ngọt mát cuống họng sau khi ăn những chén bánh bèo cay nóng chỉ còn là dư hương ngày cũ. Cảnh vật không thay đổi nhưng bạn thân đã vĩnh viễn ra đi không bao giờ gặp lại.
Tôi chưa hứa cụi với ai một điều gì, nhưng sao lòng tôi cứ ân hận mãi điều tôi hứa với mẹ Tý, mà tôi biết không thể nào thực hiện được mà vẫn cứ hứa. Chắc Tý và mẹ đã gặp nhau bên kia thế giới cũng thông cảm và tha thứ cho tôi… Gió lạnh của mùa xuân thấm vào lưng làm tôi ớn lạnh nghĩ rằng hồn Tý đã quyện với trời xanh mây trắng đang bay cao để chứng kiến cho tình cảm của tôi đối với bạn. Tý cứ yên tâm an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng, vì nơi đó không có sự lừa dối phản bội, nơi mà trong đời cuối cùng ai cũng đến.
Ở nơi đây cõi trần tạm bợ, có một người bạn luôn luôn nghĩ đến Tý. Tình bạn bất vụ lợi của chúng mình, thân quí nhau vì tình nghĩa, dù rằng tiền bạc là phương tiện của cuộc sống nhất là trên một xứ sơ mà đạo lý luân thường thiếu sót, chỉ có chủ nghĩa cá nhân, vật chất là trên hết.
 
Tôi viết những dòng nầy để tưởng niệm bạn tôi và vơi đi nổi buồn đã mất bạn thân trên xứ người, và cũng để cảm ơn Trời Đất đã dung dưởng bảo bọc gia đình tôi bình an hơn mười năm ly hương. Cũng tại trên đt tự do nầy, tôi có cơ hội tiếp tục học lại nghề đông y của ông nội và cha tôi mà tôi hằng mơ ước. Chỉ tại nơi đây nhờ sự giúp đở tài chánh của chính phủ Mỹ, tôi mới có phương tiện để làm lại từ đầu và thể hiện thành công ước mơ nhỏ bé nầy. Tuy rằng đời sống không giàu sang dư dã, nhưng cũng được sống đầy đủ trong quảng đời còn lại...
 
 
Tác giả Ythái Lê.

 
                      Cúc Bạch sưu tầm                        

Gia Đình Tôi Du Lịch Trong Mùa Dịch COVID-19

     Gia Đình Tôi Du Lịch Trong Mùa Dịch COVID-19    

- Nguyễn Văn Tới

Lúc này, chuyện thời sự nóng bỏng nhất là nạn dịch Covid-19. Người dân Mỹ không ai còn xa lạ với căn bệnh phổi cấp tính đang lây lan từ Trung Cộng ra tới hơn 160 quốc gia trên thế giới , hơn 8000 người chết, và nó đã vượt biên vào nước Mỹ, gây ra biết bao người nhiễm bệnh và một số ít chết vì căn bệnh quái ác này, trong đó có một phụ nữ Việt Nam ở California. Không may, vợ chồng tôi đi nghỉ Đông qua thành phố Snowbirds, tiểu bang Utah, trong lúc cơn dịch đang xảy ra, tuy chưa hoành hành dữ dội lắm. Vì đã lên kế hoạch từ trước cho chuyến đi trượt tuyết, và cũng nhận thấy tình hình chưa có gì trầm trọng lắm, nên chúng tôi vẫn lên đường không một chút lo lắng hay bận tâm.

Thứ Sáu, ngày 13 tháng 3, 2020: Khi viết những giòng chữ này, tôi mới giật mình, chợt nhận ra thứ Sáu, ngày 13, cái ngày mà người Mỹ tin dị đoan là ngày xui tận mạng. Holywood đã sản xuất bộ phim kinh dị “Friday, the 13th.” Thôi kệ, đạn đã lên nòng, không thể dừng lại. Chuyến bay từ Tucson, Arizona đi Salt Lake city, Utah vẫn đông hành khách và đúng giờ. Không thấy một ai đeo khẩu trang hay có bất cứ hành động hay thái độ gì lo sợ cơn dịch bệnh này. Tôi nói chuyện với người ngồi bên, anh ta nói anh không quan tâm mấy và chẳng thấy lo sợ gì. Tôi kể chuyện nhiều người tranh nhau mua tích trữ giấy vệ sinh, giấy cuộn, dung dịch khử trùng tay, và nhiều thứ cần thiết khác khiến ngay cả Costco wholesale giờ, muốn kiếm cuộn giấy vệ sinh cũng không còn. Anh cười và nói chắc họ điên.


Khi đổi chuyến bay ở Phoenix, AZ, tôi thấy một người thanh niên Tàu trẻ, mang khẩu trang, đang nói chuyện líu lo qua phone. Anh ta xí xa xí xô bằng ngôn ngữ của mình rất lớn tiếng không thèm để ý tới người chung quanh. Mọi người nhìn anh ta dò xét với ánh mắt không mấy thiện cảm. Rất may, anh ta không đi chung chuyến bay với chúng tôi. Thước đo của cơn dịch bệnh dễ dàng được nhìn thấy qua thái độ và cuộc sống người dân ở đây. Không một ai hoảng sợ. Tuy nhiên, giống như nhiều người, tôi cẩn thận mang theo chai dung dịch khử trùng và một hộp lau tay ướt để chùi khi cần thiết,
Từ trên cao nhìn xuống những đỉnh núi phủ đầy tuyết trắng thật đẹp và hùng vĩ, tôi biết phi cơ sắp đáp xuống phi trường Salt Lake city. Dân chúng và du khách ở đây vẫn không có vẻ gì lo sợ về nạn dịch. Mọi sinh hoạt vẫn bình thường. Chúng tôi lấy xe thuê và lái trực chỉ đến khu ski resort cách phi trường 45 phút. Từ chân núi dẫn lên đỉnh là một đoạn đường đèo dài 8 dặm quanh co, ngoằn nguèo đến khách sạn, một bên vách núi dựng đứng, bên kia vực thẵm trắng toát một màu trắng tinh khôi xen lẫn những hàng thông xanh nổi bật. Hoa tuyết lất phất rơi, đẹp như bức tranh trong chuyện thần tiên.
Khu trượt tuyết Snowbirds này là một khu gồm nhiều khách sạn sang trọng nằm sát bên những con đường trượt tuyết với đường giây cáp treo đưa khách trượt tuyết lên đỉnh núi. Khách sạn The Cliff Lodge là nơi chúng tôi ở là khách sạn lớn nhất trong khu này với 10 tầng lầu, nằm sừng sững dựa lưng vào vách núi, mặt tiền nhìn ra khu trượt tuyết và một hồ bơi nước nóng lớn với 3 cái Jazzcuzi bốc khói nghi ngút ngoài trời.
Nhận phòng xong, chúng tôi mặc đồ ấm, trang bị tận răng với quần áo không thấm nước, xuống phòng cho mướn dụng cụ trượt tuyết, rồi lao ra ngoài trời lạnh giá hòa nhập vào dòng người lũ lượt quần áo muôn màu sắc rực rỡ, nổi bật trên nền tuyết trắng mênh mông. Tôi tận hưởng niềm vui “đi mây lướt gió” dù vẫn còn té lên té xuống, nhưng cái thân già da cọp này vẫn còn gân đủ để chơi cho đến chiều tối.


Thứ Bảy, ngày 14 tháng 3, 2020: Thức dậy rất trễ vào sáng hôm sau, chúng tôi xuống ăn trưa ở nhà hàng trong khách sạn. Thức ăn ở đây mắc gấp đôi bên ngoài, nhưng khá ngon. Một miếng lamb steak (thịt trừu) cỡ 6 oz, giá $40. Ai có thời giờ, lái xe mất 25 phút đến một thị trấn kế bên, có thể kiếm được nơi ăn uống giá bình thường.
Chúng tôi mướn xe Snowmobile, một loại xe mô tô bánh xích trang bị với cặp ski lướt trên tuyết để đi khám phá vùng núi non gần xung quanh đó. Đây là một môn chơi cũng khá nguy hiểm, đầy tính phiêu lưu mạo hiểm. Những ai “có tí tuổi” xin suy nghĩ thật kỹ trước khi chơi. Sau vài giờ chạy khắp nơi, lạnh cóng cả đôi tai, chúng tôi trở về khách sạn tắm nước nóng trong hồ bơi và jazzcuzi.

Chúng tôi lấy xe, chạy ra một thị trấn gần đó kiếm một nhà hàng ăn tối, sau đó vào Walmart mua ít nước trái cây, rau quả, sữa, và một số đồ ăn thêm. Ghé qua chỗ nước uống, các kệ trống trơn, không còn 1 chai nước nào, kể cả các bình 1-gallon. Chỗ hàng thịt đông lạnh, bột bắp, bơ hay phó mát, đều còn lại rất ít. Nhìn quanh, tôi thấy một số dân Mễ và Á châu còn đang lảng vảng gần đó với hy vọng có thể kiếm ra một cái gì đó có thể tích trữ cho mùa dịch này. Tôi chỉ biết lắc đầu ngán ngẫm. Con người có thể không chết vì Pandemic (bệnh dịch), nhưng chắc chắn sẽ chết về Info-demic hoặc Facebo-demic vì tin tức tầm bậy thì lan truyền mau như tốc độ máy phản lực (Mac speed).
Chúng tôi chạy thật chậm trên con đường đèo trở lại khách sạn vì trời tối, ướt, trơn trợt, và bên phải là vực sâu. Tuyết vẫn rơi đều nhè nhẹ. Đó đây nhiều ánh đèn nhà người dân lẫn những khách sạn tỏa lên ấm áp trong trời đêm như một bức tranh nền tối điểm xuyết với hàng ngàn sao đêm tuyệt đẹp. Bước vào phòng, tôi thấy cái điện thoại bàn có đèn nhấp nháy. Tôi nghĩ chắc lại quảng cáo bán Time share, nên không buồn nhấc phone.


Chủ Nhật, ngày 15 tháng 3, buổi sáng, nhìn qua cửa sổ thấy sao không có ai trượt tuyết, tôi nhấc phone mới hay cái tin nhắn cho biết tất cả hoạt động chơi tuyết đều tạm ngừng cho tới ngày 22 tháng 3, tiểu bang ra lệnh mới vì sức khỏe của dân chúng. Khu trượt tuyết mà không được trượt tuyết thì còn làm gì được. Chúng tôi quyết định xuống núi và lái xe đi Salt Lake city coi tòa nhà quốc hội tiểu bang (State Capitol), The Tabernacle Choir, và The Mormon Temple.
Đến nơi, tất cả đều đóng cửa. The Tabernacle Choir là một tòa nhà xây theo hình vòm, nơi ca đoàn đạo Mormon nổi tiếng thế giới hơn 100 năm nay đã từng trình diễn ở đây. Ngôi nhà thờ Salt Lake Temple (2) tuyệt đẹp, mất 40 năm mới xây xong, cũng là niềm hãnh diện của tín đồ đạo Mormon. Chúng tôi theo chân các du khách đi tới lui thăm viếng các danh lam thắng cảnh khác ở khu Temple Square như các bảo tàng viện và các khu trưng bày hiện vật của những người tiên phong đạo Mormon, nhưng tất cả đều đóng cửa. Hình như người ta đang chuẩn bị cho một điều gì đó. Chán nản, chúng tôi chạy qua thị trấn Provo gần bên thăm hồ Utah Lake. Người dân ở đây vẫn vui chơi, vẫn câu cá, vẫn sinh sống bình thường không có dấu hiệu gì hoảng loạn.


Về lại khách sạn, chúng tôi lại nhận thêm một tin không vui nữa: Khách sạn cho biết tất cả mọi người phải ra về (check out) ngày mai, thứ Hai, ngày 16 tháng 3, trước 2 giờ chiều. Tôi trình bày chuyến bay của tôi sẽ bay vào sáng thứ Ba. Họ đồng ý cho tôi và 4 gia đình khác được ở lại trong phòng chỉ một đêm nữa mà thôi, vì ngày 17 tháng 3 sẽ “completely lock down” đóng cửa toàn bộ, sẽ không có bất cứ nhân viên phục vụ nào. Tôi đã cố gắng liên lạc với American Airlines để coi có thể về sớm hơn, nhưng số người người gọi vô quá nhiều, nên họ không buồn nhấc máy.
Chúng tôi chạy trở ngược lại thị trấn, đổ đầy bình xăng, ăn tối, rồi mua thêm thức ăn đem về khách sạn để “tử thủ” cho đến thứ Ba. Khách du lịch đến đây trượt tuyết, đa số là dân Utah nên họ lục đục lên xe về nhà. Một số khác như chúng tôi, đến từ các tiểu bang khác, vài người còn đến từ các nước khác, đều kẹt lại. Khách bu quanh những nhân viên ở quầy tiếp tân với biết bao câu hỏi. Nhân viên khách sạn chỉ biết xin lỗi luôn miệng vì bản thân họ cũng chẳng biết gì hơn là lệnh trên xuống. Nhiều người tỏ ra tức giận với kiểu làm ăn của khách sạn vì không cho họ đủ thời gian chuẩn bị và không thông báo cho họ sớm hơn. Chúng tôi trải qua một đêm lo âu, không biết ngày mai sẽ còn xảy ra chuyện gì nữa?

Thứ Hai, ngày 16 tháng 3: Không biết làm gì, chẳng lẽ cứ coi TV, rồi ăn uống cho hết ngày. Chúng tôi bèn mặc đồ ấm, mang ủng, ra ngoài đi bộ vừa giãn gân cốt vừa giết thời giờ. Một vùng trời, núi non trắng xóa tuyệt đẹp nhưng vắng lặng như tờ. Hồ nước nóng và jazcuzzi, không ai bơi. Ghế cáp treo đứng im lặng giữa không gian mênh mông. Nắng lên ấm áp, gió nhẹ làm hai tay hơi tê cóng. “Anh khách lạ đi lên đi xuống, may mà có em, đời còn dễ thương” (Trích bài hát Phố núi cao). May là ông khách lạ này còn có bà khách lạ đi theo, chứ ông nào mà đi một mình thì đến chết vì cô đơn.

Hồ bơi nước nóng, jazzcuzi không ai bơi. Cột trụ ghế cáp treo kế bên đứng im buồn tênh

Ghế dành cho các nàng Bạch Tuyết ngồi vì khách ra về gần hết

Nguyên ngày hôm đó, chúng tôi hết đi lên, đi xuống, rồi lại đi ngang, đi dọc cái khách sạn khổng lồ mà vắng như chùa Bà Đanh vì chẳng biết làm gì và cũng chẳng gặp được ai. Một nhân viên an ninh, chắc anh ta theo dõi tôi qua màn hình, bước đến hỏi có thể giúp gì cho tôi. Tôi than chán quá, đi tập thể dục, chứ ngồi trong phòng làm cái quái gì. Đứng tán dóc một hồi về nạn dịch Tàu, anh ta chào tôi và đưa tay bắt. Tôi cười và đưa cái fist pump (nắm tay) ra; anh ta cũng làm tương tự, rồi hài hước không kém, anh đưa thêm cái cùi chỏ, tôi đáp lại cũng bằng cái cùi chỏ, rồi tôi tiếp tục đưa chân phải lên, mắt tròn to vì ngạc nhiên, anh cũng giơ chân phải chạm vào chân tôi, cả hai cười vang rồi đường ai nấy bước. Cái App về sức khỏe trong phone liên tục khen ngợi “You are excellent”vì tôi leo cầu thang mấy được mấy chục tầng và đi bộ gần 15 ngàn bước. Ngày nào cũng như thế này, chắc tôi sớm trở thành một “dận động diên” có hạng đủ điều kiện tham dự Marathon.

Thứ 3, ngày 17 tháng 3: Chúng tôi rời khách sạn rất sớm lúc 6 giờ. Bàn tiếp tân vẫn không một bóng người. Trời tối, mặt trăng lưỡi liềm vẫn còn treo trên đỉnh núi tỏa xuống một ánh sáng mờ nhạt trên con đường đèo nhỏ hẹp. Chúng tôi chạy thẳng ra phi trường salt Lake city, trả xe, làm thủ tục kiểm tra với TSA rồi đi thẳng đến khu chờ đợi. Không lúc nào tôi muốn trở về nhà thật nhanh như lúc này.

Phi trường khá vắng vẻ, khách không phải xếp hàng dài khi đi qua khu kiểm tra an ninh, hành lý. Ai cũng từ tốn khoan thai. Hàng ghế ngồi chờ thưa thớt, tôi có thể thấy một số ít người mang khẩu trang nhiều hơn lúc chúng tôi đi. Nhìn họ, tôi có thể đánh giá nạn dịch đang có chiều hướng xấu đi. Chuyến bay của chúng tôi có 100 ghế, chỉ khoảng 35 người có mặt. Tôi đoán khách gọi vô hủy bỏ hoặc dời lại ngày đi.

Máy bay đáp xuống phi trường Tucson, lòng tôi rộn lên niềm vui nhiều hơn so với những lần đi công tác xa nhà vài tháng mới trở về. Chúng tôi ghé chợ tính mua đồ ăn trước khi về nhà, mới hay mình quá chủ quan, hay tỉnh như người Ăng Lê. Trong chợ, trên quầy đồ gia dụng, tất cả hàng hóa sạch trơn. Hàng thịt, khách phải lấy số, xếp hàng dài chờ đợi rất lâu. Có người trở ra với mấy chục pounds thịt bò. Nhân viên tuyên bố “you’ll get what you see, please come back tomorrow”, có nhiêu đây, hết thì thôi, mai trở lại. Quầy trả tiền cũng dài như các quầy hàng khác.

Khi viết gần xong bài này, tôi hay tin một trận động đất 5.7 magnitude mới xảy ra sáng nay, thứ Tư, 18 tháng 3, ở Salt Lake City làm bức tượng nổi tiếng,Thiên Thần Moroni thổi kèn, trên đỉnh tháp cao nhất của nhà thờ Mormon Temple rơi xuống trên nóc nhà và gây hư hại nhẹ. Đường cao tốc 80 dẫn đến phi trường tạm đóng và các chuyến bay đến phải quay đầu qua các nơi khác, các chuyến bay đi bị hủy bỏ. Vậy thứ Sáu ngày 13, đối với tôi, không phải là một ngày xui tận mạng nếu như động đất xảy ra ngày tôi đến thăm ngôi nhà thờ này thì sao? Không chừng Thiên Sứ “giáng trần” gần chỗ tôi đứng thì chắc mặt tôi xanh như đít nhái. Nếu chuyến bay của tôi vào hôm nay, tôi sẽ bị kẹt trong vùng “lửa đạn” này thêm một thời gian nữa, không biết sẽ còn gì xảy ra sau đó.

Qua những biến chuyển của cơn dịch đã và đang xảy ra ở Mỹ, tôi chợt nhận ra nếu một trận dịch thật nặng nề xảy ra và chính phủ mất kiểm soát thì cuộc sống của người dân sẽ hoang tàn như ngày tận thế. Còn nhớ năm nào ở Los Angeles, California, nhân vụ nổi loạn vì chủng tộc, nhiều người Mỹ gốc Phi Châu tấn công vào khu chợ người Đại Hàn để cướp phá. Người mạnh sẽ cướp người yếu hơn. Người có vũ khí sẽ tấn công và cướp sạch sẽ người không có thứ gì để tự vệ.

Tôi nghĩ chúng ta nên coi đây là bài học cảnh tỉnh cho mọi người và cho cả chính phủ để có được một sự chuẩn bị thật chu đáo, có biện pháp ngăn ngừa mọi hoảng loạn như những ngày vừa qua. Trong mọi tình huống, mọi người không nên hoảng sợ, mà phải bình tĩnh vì chúng ta đang sống ở một xứ sở xuất cảng ngũ cốc nhiều nhất thế giới, lương thực phong phú, nguồn nước dồi dào. Chuẩn bị nhưng không hoảng loạn, gia đình tôi, đến giờ phút này, vẫn không tích trữ bất cứ thứ gì. Nhân loại ngày càng bị nhiều thiên tai lẫn nhân tai do chính con người tạo ra. Câu trả lời sẽ là lúc nào mà thôi.

REFERENCES:

  1. The Mormon Tabernacle Choir

https://en.wikipedia.org/wiki/Mormon_Tabernacle_Choir

  1. The Temple

       https://www.visitutah.com/things-to-do/history-culture/mormon-heritage/temple-square/

 

     Nguyễn Văn Tới     

Tìm hiểu về Chuồn chuồn kim (Zygoptera)

  Tìm hiểu về Chuồn chuồn kim (Zygoptera) 

chuồn chuồn kim

Chuồn chuồn kim và tất cả bạn muốn biết:

Chuồn chuồn kim (phân bộ Zygoptera) là một loài côn trùng bay thuộc bộ Odonata, có họ hàng với chuồn chuồn ngô (phân bộ Anisoptera). Loài sát thủ này có hình dạng khá giống chuồn chuồn ngô, tuy nhiên cơ thể chúng nhẹ và mảnh mai hơn.

Chuồn chuồn kim được cho là đã có từ kỷ Permian, chúng đã sinh sống trên mọi lục địa gần Nam Cực. Cùng Pest-Solutions tìm hiểu về đặc điểm, tập tính, sinh sản cũng như môi trường sống của loài sinh vật này.

Đặc điểm

chuon chuon kim

Bởi vì cùng chung bộ Odonata nên cấu trúc cơ thể của chuồn chuồn kim và chuồn chuồn ngô rất giống nhau. Cũng như người anh em của mình, chuồn chuồn ngô có đôi mắt hợp chất nhưng nhỏ hơn và cách xa nhau.

Phần trán có chứa đôi mắt, phía dưới trán là clypeus (một phần tạo nên khuôn mặt của động vật chân khớp). Các cơ quan bắt mồi labrum được đặt ở môi trên, và trên đỉnh đầu có 3 con mắt được gọi là Ocelli (giúp đỡ chúng đo cường độ ánh sáng). Chúng cũng có một cặp râu nhỏ để đo tốc tộc không khí.

Chuồn chuồn kim có sải cánh dao động từ 18-19mm, con đực thường có màu sáng hơn con cái. Con cái có màu sắc huyền bí và khó nhận ra hơn, chẳng hạn chuồn chuồn kim Eurasian Bluets, trong khi những con đực có màu xanh dương sáng với những mảng màu đen thì con cái có màu xanh lá câu hoặc màu nâu cùng với cái dải màu đen.

Môi trường sống và phân bố

môi trường sống chuồn chuồn kim

Chuồn chuồn kim sống ở tất cả các lục địa, ngoại trừ Nam Cực. Nhưng không giống như chuồn chuồn ngô, loài côn trùng này thường tập trung gần ao, hồ và các con suối, nơi có nguồn nước cho chúng đẻ trứng. Hầu hết chuồn chuồn kim đều đẻ trứng trong môi trường nước ngọt, trong khi một số ít loài thuộc họ Caenagrionidae lại thích đẻ trứng trong nước lợ.

Caenagrionidae là loài duy nhất trong bộ chuồn chuồn tồn tại trong nước biển.

Thức ăn

chuồn chuồn kim ăn gì

Chuồn chuồn kim là những kẻ ăn thịt, chúng ăn muỗi, ruồi và côn trùng nhỏ khác. Chúng thường lơ lửng giữa thảm thực vật và cỏ thấp để tìm kiếm con mồi, sau đó sử dụng đôi chân gai của mình để tóm lấy con mồi bất hạnh.

Chuồn chuồn kim chủ yếu sử dụng tầm nhìn để tìm kiếm con mồi, nhưng một số loài có thể sử dụng tín hiệu khứu giác. Nói chung, loài sinh vật này không kiếm ăn vào ban đêm, nhưng một số loài có thể ăn những con ruồi mới nở ra từ trứng dưới nước.

Sinh sản

Quá trình giao phối của chuồn chuồn kim diễn ra phức tạp, bao gồm quá trình thụ tinh chậm và thụ tinh gián tiếp. Chúng cũng thực hiện các nghi thức tán tỉnh, trong đó nam giới cố gắng thu hút nữ giới bằng cách phơi cánh, bay nhanh hoặc một số hành động khác. Nếu phụ nữ sẵn sàng thì cô ấy sẽ ở lại với anh ấy, còn không thì nó sẽ bay đi.

Giao phối

chuồn chuồn kim giao phối

Khi con đực đã sẵn sàng giao phối, tinh trùng được chuyển từ bộ phận sinh dục (đoạn thứ 9 của cơ thể) tới bộ phận sinh dục phụ (đoạn thứ 3). Khi bắt đầu quá trình, nam giới giữ con cái với cái nắp đậy ở phía sau đầu của cái, trong khi con cái xoắn bụng nó về phía trước và hướng xuống để thu tinh trùng từ bộ phận sinh dục phụ của con đực.

Khi đã sẵn sàng để trứng, con cái di quanh mặt nước để tìm nơi thích hợp để nó đẻ trứng. Chúng cũng đẻ trứng trong các mô của cây. Đối với đẻ trứng trong nước, con cái sẽ ngâm mình xuống nước trong ít nhất 30 phút để đẻ trứng, sau đó leo lên thân cây thủy sinh để làm khô cơ thể. Trong thời gian này, con đực bảo vệ con cái và trứng từ các con đực khác.

Vòng đời

Chuồn chuồn kim trải qua quá trình phát triển không hoàn toàn gồm 3 giai đoạn: trứng, ấu trùng (con non) và trưởng thành. Vòng đời của chúng phụ thụ vào nhiệt độ môi trường và nguồn thức ăn.

Xem thêm: vòng đời của chuồn chuồn

Bảo tồn

Tương tự như chuồn chuồn ngô, chuồn chuồn kim cũng bị ảnh hưởng do việc tàn phá rừng, ô nhiễm, giảm nguôn nước ngầm, nước sông mất đi môi trường sống của chúng. Chúng cũng không thể chịu đựng được sự ô nhiễm.

Một số loài chuồn chuồn kim phổ biến

Chi Amphiagrion

chuồn-chuồn-kim-1

Chi này bao gồm hai loài từ Bắc Mỹ, trong đó một là từ Idaho. Trong chi này, có một loài màu đỏ và một loài màu đen. Bụng và ngực lớn hơn là nét đặc trưng của loài chuồn chuồn kim này.

Chi Argia

chuồn-chuồn-kim-2

Chuồn chuồn kim thuộc chi Argia là những cư dân sống ven sông suối. Ấu trùng của chúng ngắn và nhỏ hơn so với các loài khác. Con trưởng thành được biến đến khả năng bay lượn nhào lộn trên không siêu đẳng, chúng thực sự là những vũ công trên không.

Chi Coenagrion

chuồn-chuồn-kim-3

Chi này trông giống với chi Enallagma. Điểm khác biệt duy nhất giữa chúng là cặp râu của chúng có sáu phân đoạn.

Chi Enallagma

chuồn-chuồn-kim-4

Được tìm thấy ở nhiều là môi trường cỏ dại, con đực thường có màu xanh lam và màu đen. Con cái có màu nâu hoặc ô liu, và đôi khi xuất hiện như nam giới.

Chi Ischnura

chuồn-chuồn-kim-5

Các con đom đóm của chi này rất nhỏ và mảnh mai. Con đực có bụng đen đặc, ngoại trừ các đoạn số 9 và 8 có màu xanh đậm.


Hi vọng bài viết Tìm hiểu về Chuồn chuồn kim (Zygoptera) sẽ cung cấp cho bạn những thông tin bổ ích.

Tìm hiểu về Chuồn chuồn ngô (Anisoptera)

tim-hieu-ve-chuon-chuon-ngo

Bộ Odonata (chuồn chuồn) bao gồm hai loài chính gồm chuồn chuồn ngô và chuồn chuồn kim. Bởi sự khác biệt của chúng, các nhà khoa học đã chia bộ Odonata ra thành 2 phân bộ. Anisoptera để chỉ chuồn chuồn ngô và Zygoptera để chỉ chuồn chuồn kim

Tìm hiểu về Chuồn chuồn ngô (Anisoptera)

Bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu về đặc điểm, tập tính, sinh sản và phân bố của chuồn chuồn ngô để bạn hiểu rõ hơn về loài sát thủ săn mồi này.

Tổng quan

Vậy điều gì khác biệt giữa chuồn chuồn ngô và chuồn chuồn kim. Rất đơn giản, chúng có đôi mắt to, chiếm phần lớn trên vùng đầu. Mắt thường ở đỉnh đầu hoặc sát đỉnh đầu.

Tiếp theo, nhìn vào cơ thể của chúng, chuồn chuồn ngô có thân hình mập mạp, nhiều thịt hơn so với chuồn chuồn kim. Khi nghỉ ngơi, chuồn chuồn ngô giữ cánh mở theo chiều ngang trong khi đó chuồn chuồn kim thì gấp cánh lại gọn gàng.

Chuồn chuồn ngô đực thường có một cặp gọng kiềm ở phía sau đầu, và một phần phụ dưới của phần bụng thứ mười (gọi là epiproct). Chuồn chuồn cái đẻ trứng bằng cơ quan sinh sản.

Ấu trùng chuồn chuồn ngô là những loài thủy sinh, chúng thường có thân hình mảnh dẻ. Ấu trúng hít thở thông qua mang được đặt trong trực tràng (điều này có phần thú vị), chúng đẩy cơ thể tới bằng cách giải phóng một lượng nước ra ngoài thông qua hậu môn.

Phân loài

  • Giới – Animalia (Động vật)
  • Nghành– Arthropoda (Chân khớp)
  • Lớp – Insecta (Côn trùng)
  • Bộ – Odonata (Chuồn chuồn)
  • Phân bộ – Anisoptera (Chuồn chuồn ngô)
chuồn-chuồn-ngô
Chuồn chuồn thường đậu trên ngọn cây cao để quan sát con mồi

Chuồn chuồn ngô ăn gì ?

Chuồn chuồn là những sát thủ săn mồi khét tiết kể cả trong giai đoạn ấu trùng. Chuồn chuồn ngô trưởng thành ăn những con mồi lớn hơn như nhện, bọ ngựa bọ xít… và thậm chí tiêu diệt cả đồng loại. Chuồn chuồn ngô có khả năng săn mồi trên không siêu hạng, một bậc thầy về bay lượn.

Ấu trùng ăn lăng quăng, cá nhỏ và bao gồm côn trùng nhỏ khác.

Vòng đời

Chuồn chuồn ngô trải qua quá trình biến thái không hoàn toàn gồm ba giai đoạn: trứng, ấu trùng và trưởng thành.Chuồn chuồn giao phối khá phức tạp, chúng nhào lộn trên không cùng nhau, và con đực xuất tinh trên không.

Sau khi giao phối, con chuồn chuồn đẻ trứng ở nơi gần nước. Tùy thuộc vào loài, trứng có thể mất từ ​​vài ngày đến hơn một tháng để nở. Trong mùa đông trứng không nở và đợi đến mùa xuân khi nhiệt độ ấm lên chúng mới bắt đầu cuộc sống mới.

Ấu trùng sống trong nước và lột da nhiều lần để phát triển, có thể hơn chục lần lột da. Ở những vùng nhiệt đới, quá trình lột da chỉ mất một tháng. Trong khi ở vùng ôn đới, giai đoạn này lâu hơn đáng kể, thậm chí kéo dài vài năm.

Khi ấu trùng bắt đầu sẵn sẵn cho giai đoạn trưởng thànhm ấu trùng ngoi lên khỏi mặt nước và tìm kiếm một cành cây hoặc một tán lá. Nó lột da lần cuối cùng, và người trưởng thành xuất hiện, trông nhợt nhạt. Nó đứng yên một lúc cho cơ thể khô lại và bắt đầu bay đi tìm bữa ăn.

Tập tính và hành vi

chuon-chuon-ngo-an-gi
Chuồn chuồn ngô ăn tạp, chúng ăn bất cứ thứ gì có thể ăn

Chuồn chuồn ngô có thể điều khiển mối cánh trong 4 cánh một cách độc lập, cho chúng khả năng bay lượn trên không tinh tế. Để ý những con chuồn chuồn ngoài ao, chúng có thể thực hiện động tác bay dọc lên và xuống.

Đôi mắt to lớn của chuồn chuồn ngô có khoảng 30.000 thấu kính (gọi là ommatidia). Não bộ của chúng hầu như chỉ xử lý các thông tin hình ảnh, tầm nhìn của một con chuồn chuồn gần như là một 360°. Nơi duy nhất mà nó không thể nhìn thấy là ngay phía sau lưng. Với con mắt sắc bén và khả năng cơ động khéo léo trong không trung, chuồn chuồn rất khó để bắt, không tin bạn cứ thử.

Các họ trong phân bộ chuồn chuồn ngô

  • Petaluridae – petaltails, graybacks
  • Gomphidae – clubtails
  • Aeshnidae – darners
  • Cordulegastridae – spiketails, biddies
  • Corduliidae – cruisers, emeralds, green-eyed skimmers
  • Libellulidae – skimmers

Phạm vi và phân bố

Chuồn chuồn ngô sống trên khắp thế giới, bất cứ nơi nào có nước để chúng sinh sản.

Có khoảng 2.800 loài chuồn chuồn ngô trên toàn thế giới, với hơn 75% sống ở vùng nhiệt đới. Khoảng 300 loài chuồn chuồn sinh sống ở Hoa Kỳ và Canada.

    Sưu tầm và tổng hợp      

Theo dõi RSS này