Ban Chấp Hành

Ban Chấp Hành

Nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam - Henriette Bùi Quang Chiêu

Kết quả hình ảnh cho Nữ bác sĩ người Việt đầu tiên photos

Henriette Bùi Quang Chiêu - Nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam

Khi thực dân Pháp sang, hệ thống y bác sĩ, bệnh xá lần hồi mọc lên, người Việt cũng theo đó mà tiếp cận với Tây y. Bà Henriette Bùi Quang Chiêu trở thành nữ bác sĩ đầu tiên của nước ta.
Lịch sử nền y học nước Việt đã có từ lâu đời. Trong đó có nhiều tên tuổi đã đóng góp vào sự phát triển của nghề “lương y như từ mẫu” như Trâu Canh, “thánh thuốc nam” Tuệ Tĩnh thời Trần, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác thời Hậu Lê…
 
Trước khi có Tây y giúp việc chữa bệnh, dân ta đặt hết sinh mạng của mình vào thầy lang, bà đỡ cùng thuốc Nam, thuốc Bắc. Nhưng rồi Pháp sang, hệ thống y bác sĩ, bệnh xá lần hồi mọc lên, người Việt cũng theo đó mà tiếp cận với Tây y. Bà Henriette Bùi Quang Chiêu trở thành nữ bác sĩ đầu tiên của nước ta.
 
         Nữ bác sĩ người Việt đầu tiên        
Henriette Bùi Quang Chiêu (thứ hai từ trái sang) bên gia đình năm 1921 tại Phú Nhuận, TP.Sài Gòn. Ảnh tư liệu
 
Về xuất thân của bà, chẳng cần nói đâu xa, bà là con của một nhân vật có tiếng ở nước Việt, nhất là Nam Kỳ trước 1945, ấy là ông Bùi Quang Chiêu.
Như tiểu sử của ông Chiêu được Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1945 - Nguyễn Duy Oanh) ghi lại, ông Chiêu từng du học Pháp, là kỹ sư canh nông.
Riêng đường chính trị, ông tham gia lập Đảng Lập hiến, đòi tự do báo chí, đòi bình đẳng cho người bản xứ và cũng giúp nhiều du học sinh sang Pháp du học…
 
Trong bài viết “Nữ bác sĩ người Việt đầu tiên là ai?” (Trần Đình Ba) trên báo Thời đại, số 482 ra ngày 3-9-2018, cho hay là con của một chính trị gia nổi tiếng đất Nam Kỳ lúc bấy giờ, lại có quốc tịch Pháp, nên Henriette được ăn học đầy đủ, theo nền giáo dục Pháp Việt tân tiến và sau này bà du học nơi đất Pháp để rồi trở thành vị nữ bác sĩ đầu tiên của nước Việt ta.
 
Khi còn nhỏ, Henriette được theo học Trường Saint Paul de Chartres (trường Nhà Trắng) tại Sài Gòn. Năm 1915, Henriette nhận bằng Certificat d'Études rồi vào học trường Collège des Jeunes Filles, tức Trường Trung học Gia Long, trường Áo Tím sau này, mà nay là Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai thuộc quận 3, TP. Sài Gòn.
Henriette Bùi Quang Chiêu thời sinh viên y khoa. Ảnh tư liệu
 
Con đường đến với lĩnh vực y khoa của Henriette được đánh dấu khi cô gái trẻ sang Pháp du học và duyên lành với nghề chữa bệnh cứu người của Henriette, là từ sự nối bước người anh Louis Bùi Quang Chiêu, vốn là một bác sĩ chuyên về bệnh ho lao nổi tiếng tại Sài Gòn.
 
Do đó sau khi tốt nghiệp bậc trung học tại Trường Lyceé Fenelon ở Paris vào năm 1926, năm sau Henriette đã trở thành cô sinh viên An Nam tại ĐH Y khoa Paris.
Dành cả tuổi thanh xuân cho việc học, sau bảy năm miệt mài nơi ghế giảng đường và trong phòng thí nghiệm, cô gái Á Đông Henriette tốt nghiệp với luận án đạt loại xuất sắc vào năm 1934.
 
Bản luận án được Hội đồng giám khảo khen ngợi và tặng thưởng huy chương. Một vinh dự hiếm có dành cho nữ sinh viên đến từ đất nước An Nam xa xôi.
Đám cưới của Henriette Bùi Quang Chiêu. Ảnh tư liệu
 
Với tấm bằng tốt nghiệp trong tay, Henriette về nước và bắt đầu bước vào con đường lập nghiệp trong lĩnh vực y tế, nơi mà ở đó, đội ngũ y bác sĩ người Việt còn hiếm hoi, chứ chưa nói đến là nữ bác sĩ.
Bên cạnh đó là cả sự coi thường của những đồng nghiệp Pháp với đồng nghiệp Việt lúc bấy giờ, gần như ở bất kỳ lĩnh vực nào. Năm 1935, ở tuổi 29, Henriette nhận chức trưởng khoa Hộ sinh ở Bệnh viện Chợ Lớn.
 
Vượt mọi định kiến, đòi lẽ công bằng
 
Bước chân vào nghề là lúc Henriette đem tâm huyết cùng kiến thức chuyên môn của mình và tình yêu với nghiệp cứu người để tham gia vào nghề “từ mẫu” giữa lúc nền y tế nước Việt còn mang nặng tính cổ truyền.
Người dân phần nhiều còn xa lạ với nhà thương, bệnh xá cũng như phương pháp chữa bệnh khoa học bằng Tây y. Và đâu chỉ thế, bà còn đối diện với nhiều khó khăn khác từ chính nghề của mình bởi chính những đồng nghiệp khác màu da.
Dạo ấy, nước nhà bị người Pháp đô hộ, nên trong con mắt của người Pháp với người An Nam cũng có những phân biệt hẹp hòi. Sự kỳ thị, khinh miệt từ những đồng nghiệp người Pháp với đồng nghiệp An Nam; sự bất công về tiền lương cho y bác sĩ Việt so với đồng nghiệp Pháp,...
 
Tất cả những điều đó, Henriette đều vượt qua bằng lòng yêu nghề và sự tự tôn dân tộc, bằng sự đấu tranh trực diện với cấp trên để yêu cầu những quyền lợi chính đáng cho y bác sĩ Việt, cho bệnh nhân người Việt.
Henriette Bùi Quang Chiêu. Ảnh tư liệu
 
Tỉ như có lần giám đốc bệnh viện là người Pháp, đã yêu cầu bà phải mặc váy đầm với lý do như thế mới nhận được sự kính trọng và bình đẳng hơn trong mắt đồng nghiệp người Pháp, nếu không bà sẽ bị lầm tưởng bà là một “bà mụ đỡ đẻ” hơn là một bác sĩ sản khoa.
 
Tuy nhiên, với lòng tự trọng của bản thân, lòng tự tôn dân tộc, bà khước từ yêu cầu ấy mà vẫn ăn mặc như một người Việt Nam.
Trong quãng đời 44 năm gắn bó với nghề y, Henriette lúc làm việc ở Việt Nam, lúc sang Pháp hành nghề. Bà còn nâng cao tay nghề khi sang Nhật Bản năm 1957 học châm cứu để áp dụng có hiệu quả cho ngành sản khoa. Đến năm 1961, Henriette sang Pháp sinh sống và tiếp tục nghề y với phòng mạch của mình.
 
Sau này khi về nước, năm 1970, bà tình nguyện phục vụ không lương trong ngành hộ sản và nhi khoa tại Bệnh viện Phú Thọ rồi năm 1971, bà lại sang lại Pháp tiếp tục làm nghề y đến năm 1976. Bà mất vào ngày 27-4-2012 tại Paris, thọ 106 tuổi. Không chỉ tận tâm với nghề, Henriette còn hiến tặng biệt thự tư gia của bà ở số 28 đường Testard làm cơ sở cho Trường ĐH Y khoa Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Nơi ấy, nay là địa điểm thuộc Bảo tàng Chứng tích chiến tranh ở đường Võ Văn Tần, TP. Sài Gòn.
Biệt thự tư gia của Henriette Bùi Quang Chiêu ở số 28 đường Testard. Ảnh tư liệu
 
Về phần đời riêng, Henriette qua sự sắp đặt của cha, đã kết duyên với luật sư Vương Quang Nhường, đảng viên của Đảng Lập hiến. Cuộc hôn nhân này đã thu hút sự chú ý của dư luận lúc đó. Thế nhưng vì không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, thiếu sự chia sẻ nên duyên cầm sắt cũng chỉ có hai năm, hai người chia tay năm 1937.
 
Sau này khi ở Pháp đầu thập niên 1960, bà gá nghĩa với ông Nguyễn Ngọc Bích trong tình yêu đến từ hai phía. Tiếc rằng, ông Bích bị ung thư vòm họng rồi mất vài năm sau khi hai người thành vợ chồng.
 

Henriette Bùi, nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam

Bà Henriette Bùi, hình chụp năm 1931. (Ảnh: Internet)
Bà Henriette Bùi, hình chụp năm 1931./(Ảnh: Internet)
 
Bà trầm ngâm nói: “Hồi đó, ngay cả ở Pháp, phụ nữ học ngành y cũng rất ít. Ra trường, cũng không ít nữ bác sĩ bỏ nghề vì phải lấy chồng, sinh con. Tôi cũng không thoát khỏi định kiến xem thường phụ nữ thời ấy. Vừa tốt nghiệp bác sĩ, tôi đã bị cha triệu về Việt Nam để gả chồng…”. Với bà, đó là mối hôn nhân không hạnh phúc, cho dù gia đình hai bên rất “môn đăng hộ đối”.
 
Chồng bà là luật sư Vương Văn Nhường, xuất thân trong một gia đình trí thức, giàu có, cháu ruột của Thái hậu Từ Dũ. Ông chỉ muốn bà ở nhà, lo chuyện nội trợ.
– Ông luật sư tuyên bố: “Tôi là trạng sư, lương đủ cho bà ở nhà, đi chơi”.
– Bà nói: “Tôi thích làm, không thích chơi”.
Bất chấp sự phản đối của ông, bà vẫn đến nhà bảo sanh Từ Dũ hành nghề bác sĩ, chuyên khoa sản và nhi. Ở đây, bà chứng kiến quá nhiều sự bất công. Cùng là bác sĩ, nhưng vì là người Việt dù mang quốc tịch Pháp, bà chỉ được trả lương 100 đồng mỗi tháng, trong khi bác sĩ Pháp được trả 1.000 đồng. Ban giám đốc bệnh viện bắt bà mặc áo đầm đi làm. Bà từ chối, kiên quyết mặc áo dài để khẳng định mình là người Việt Nam. Và không đầy 2 năm sau, vợ chồng bà ly hôn vì khác biệt trong cách sống. Bấy giờ, việc một người đàn bà ra tòa xin ly dị chồng vào lúc đó được người Việt Nam xem như là một chuyện không thể nào tin được, nhất là một người trong gia đình danh giá như gia đình ông Bùi Quang Chiêu.
 
Sau cái chết bi thảm của người cha yêu quý và các anh em của bà tháng 09/1945, Bác sỹ Henriette Bùi vẫn giữ vững tinh thần dân tộc, phục vụ xã hội; với những thương binh, bệnh binh trong thời chiến, bà đều chăm sóc chu đáo, không hề phân biệt bạn hay thù. Cuối năm 1950 bà sang Nhật Bản học nghề châm cứu, với nhiều áp dụng có hiệu quả cho ngành sản khoa.
Bà Henriette Bùi Quang Chiêu, ở tuổi 105. Hình chụp tại Paris nhân chuyến viếng thăm của đoàn bác sĩ từ Hoa Kỳ. (Ảnh: Internet)
Bà Henriette Bùi Quang Chiêu, ở tuổi 105. Hình chụp tại Paris nhân chuyến viếng thăm của đoàn bác sĩ từ Hoa Kỳ. (Ảnh: Internet)
 
Mãi đến năm 1971, bà Henriette Bùi Quang Chiêu mới sang lại Pháp. Ở đây, bà tiếp tục khám chữa bệnh cho đến năm 1976. Bà mất vào ngày 27/04/2012 tại Paris, thọ 105 tuổi.
 
           Q. NGA - Tổng hợp từ Internet        
 

Từ Những Chân Trời

Kết quả hình ảnh cho Chân Trời photos

        Từ Những Chân Trời      

   – Tamar Lê     

Trevallyn, tháng…năm

 
Bây giờ là giữa mùa hè rồi bé ạ.  Anh còn nhớ chỉ ngày hôm qua thôi, anh còn ở cạnh bé lúc Sàigòn bắt đầu vào mùa lạnh, cái lạnh da diết vào cuối thu, nhưng cũng đủ làm buốt giá trái tim của bé và anh, nhất là khi anh cầm tay bé nhỏ gầy guộc của bé để hôn lần cuối cùng… Bé thì ngoảnh mặt nơi khác để dấu đi nước mắt nóng hổi tràn xuống đôi gò má xanh xao, để khóc cho giờ cuối cùng của hai đứa mình; còn anh, anh cố ôm bé chặt vào người để cố níu kéo lại những gì đang sắp sửa vụt cánh bay xa.
 
 
Chẳng bao lâu thu về tăm tối lạnh
Vĩnh biệt rồi hè hỡi mộng vàng qua
 
Bé nói với anh là bé sẽ không lên phi trường để tiễn anh đi, vì bé sợ sẽ kéo dài cơn bão đau thương của hai đứa mình, bé chỉ muốn im lạng đi dọc theo con đường phố mà anh đa đặt tên là con đường cây cao bóng mát, để khóc thầm cho cái chết của mùa thu, nhưng rồi sau đó, bé lại lặng lẽ đến Tân Sơn Nhất để nhìn anh lần cuối cùng, rồi một mình nhìn chiếc máy bay đưa anh theo áng mây trời, và nhìn tình yêu của mình biến thành hư vô huyền thoại.
Bé biết không, khi máy bay vừa cất cánh khỏi phi đạo, anh nhìn ra cửa sổ để cố tìm hình ảnh của bé trong những người đưa tiễn, nhưng chỉ thấy một khoảng không gian rất là phẳng lặng và mơ hồ.  Phi trường Tân Sơn Nhất khuất dần dưới cánh máy bay.
Anh đến Tasmania sau một đêm lơ lững trên bầu trời bé ạ. Khi bước ra khỏi máy bay, những người thân và bạn bè xúm xít quanh anh với những lời hỏi han ân cần và những tiếng cười nói vui mừng của giờ hội ngộ sau những năm tháng xa cách. Anh gượng cười với mọi người để che dấu sự mất mát của đời mình nơi xứ lạ quê người và biết rằng anh đang đi vào một thế giới mới trong sự thay đổi đột ngột của thời gian và không gian.
 
Con đường từ phi trường đến Trevallyn xe cộ chạy đều trong trật tự, không nhỡn nhơ bay lượn duyên dáng như dòng xe cộ của Sàigòn. Ðường phố thiếu hẳn những hàng cây bóng mát của Sài gòn, không còn những tà áo dài phất phơ trong gió, không có tiếng nhạc khoan thai từ những quán café hai bên vệ đường. Tự dưng, anh thấy buồn nhớ Sài gòn vô tận, nhớ cái hồn nhiên dễ thương của Sài gòn, những cơn mưa hạ đầu mùa, những làn gió nhẹ vuốt ve làn da mịn màng của bé khi anh đón bé đi về, nhớ đôi mắt long lanh nhìn anh khi anh đàn cho bé hát, nhớ nét mặt cáu kỉnh giận hờn khi anh đến trễ, và nhất là lời nói đầu tiên trong cuộc tình mình, khi bé nói hai chữ yêu anh.
 
Kết quả hình ảnh cho Chân Trời photos
 
Sàigòn, tháng…năm…
 
Anh!
 
Hôm qua khi em đến nhà chị Mai thì chị ấy kéo tay em ra ngoài cửa nói là đã nhận được thơ của anh. Em mừng lắm anh ạ, từ lúc lặng lẽ tiễn anh đi, em thấy ngày tháng sao hoang vắng quá, cứ lo sợ vẩn vơ, nhất là khi anh chân ướt chân ráo đến nơi xứ lạ quê người, không ai lo cho anh trong những việc nhỏ nhặt hàng ngày. Nghe nơi ở Tây phương, mạnh ai nấy sống, không tình cảm đậm đà như ở quê mình, điều này làm em lo xa hơn.
Chị Mai chạy vào phòng vội vã lấy thơ anh rồi dúi vào tay em. Em run quá anh ạ. Ðó là thơ của anh cơ mà! Em tự nói một mình để trấn an mình, thế mà em như người trúng gió đó anh ạ, anh đừng cười em nghe, cũng chỉ vì anh đó thôi.
Anh biết không! Em đọc đi đọc lại thơ anh hoài à, thế mà em vẫn đọc chưa xong, hay đúng hơn, những lời lẽ yêu thương của anh như trải dài trên trang giấy , như tình cảm vô tận mà anh dành cho em.  Mai lo lắng hỏi: “sao mày khóc..” em lấy tay lau đi dòng nước mắt của nhớ thương tủi hờn, vì em được thấy lại anh trên những trang giấy này .  Anh có thấy em đang khóc vì thương anh không?
 
Khổ quá anh à, khi về đến nhà, em im lặng, đăm chiêu. Thường thường, mỗi khi đi đâu về, em hay xuống bếp để phụ giúp gia đình. Nhưng hôm nay, em chỉ muốn lên gác để được sống một mình trong lời lẽ nhớ thương của anh, để hình dung được Trevallyn mà anh đã kể, để đem sự cô đơn của anh làm sự cô đơn của hai đứa mình, và để đọc đi đọc lại những lời lẽ tha thiết yêu thương của anh mà em đã thèm thuồng trong những ngày tháng vắng anh.
Anh ạ! Em dấu thư của anh như vua chúa ngày xa xưa dấu kho tàng quý giá của họ vậy anh ạ. Em đem thơ của anh dấu kín trong bao gối, vì em muốn gần anh suốt ngày đêm, nhất là những lúc đêm về khi nghe tiếng mưa rơi trên mái nhà, em sẽ tưởng tượng là anh đang thầm thì bên tai em, đang nghe những hơi thở nồng nàn của anh, được nghe lại giọng hát trầm buồn của anh, và rồi thì … Anh thấy chưa, em cũng biết say rồi đó, cũng tại vì anh thôi, ai mà không say được với những lời lẽ chăm sóc chân tình của anh. Nhất là người đó là bé của anh., phải không anh?
 
 
Ðang viết cho anh, đột nhiên trời mưa tầm tã. Tự dưng em cảm thấy nao nao anh ạ, không biết đây có phải là điềm xấu gì không ?  Tiếng mưa ào ạt tát vào khung cửa sổ, làm ướt lá thư em đang viết cho anh. Anh thấy chưa, em chưa khóc mà trời đã khóc dùm cho em rồi đó, mà còn khóc thảm thê nữa cơ.  Chắc cơn mưa này không bao giờ hết anh aà vì anh đang ở phía bên kia của chân trời, để em một mình với Sàigòn trong căn gác lẻ loi.
 
Trevallyn, tháng… năm…
 
Bé,
 
Anh lo lắng quá, bé ạ. Lâu quá chả nhận được lá thư nào của bé cả. Ngày nào cũng chạy hối hả từ sân trường đai học về nhà xem có thư của Thùy không. Bà chủ nhà trả lời: “No one loves you!”. Anh thất vọng, trở lại đại học, đi thẫn thờ trên bãi cỏ xanh của sân trường, như người bị cuộc đời hắt hủi, như người tình lạc lõng bơ vơ.
 
Ta ngơ ngác như nai vàng lạc bến
Ta cô đơn nhu lá úa vàng rơi
Ta ngồi đây viết cho áng mây trời
Ta hôn nhẹ mái tóc ai ngồi khóc 
 
Không biết tại sao bé im lặng không viết cho anh dù rằng anh liên tục gởi thơ cho bé hàng tuần. Anh có viết thơ riêng năn nỉ Mai liên lạc với bé nhưng cũng chẳng thấy chị ấy trả lời. Anh đã đưa cho bé địa chỉ của anh ở nhà và ở đại học, nhưng chỗ nào cũng không nhận được thơ của bé. Trong đầu óc anh cứ vươn lên những lo lắng bâng quơ: chắc là bé đang bị bịnh nặng mà không muốn cho anh biết?  Bé đã rời Việt nam ra hải ngoại? Hay bé không còn yêu anh?  Tim anh đau nhói với ý nghĩ này.
Bé thương! Có lẽ đây là lá thư cuối cùng anh viết cho bé.  Buồn quá bé ạ. Tự dưng, anh thấy vũ trụ sụp đổ trước mắt mình, sân trường không còn bóng dáng hớn hở của anh vừa chạy vừa đọc thơ của người yêu, và thời gian buồn bã vì mỗi ngày như mọi ngày không có thơ của bé.  Và áng mây trời không còn trôi dạt mang những lời yêu thương thiết tha của bé gởi cho anh.
 
 
Bé còn nhớ những lời trong lá thư trước của anh gởi cho bé: “Nếu thiếu những bức thơ của em, đời không còn là thi vị, mai này tôi biết lấy gì để nói về những kỷ niệm ngày xưa … Em ơi, em hãy viết cho tôi”…
 
Paris, tháng … năm …
Anh,
 
Không biết anh còn nhận ra nét chữ này không?  Cả mấy năm trời, em thì thay đổi rất nhiều anh ạ, tuy vẫn còn mái tóc ngắn, nhưng chắc là anh không nhận ra em đâu, còn nét chữ viết này, em nghĩ, vẫn còn những nét quen thuộc của ngày xa xưa và em hy vọng rằng anh sẽ nhận ra em.
Viết cho anh mà hai đứa con cứ bu quanh, đứa thì đòi mẹ cho uống sữa, đứa thì đòi mẹ đọc sách. Anh chắc cũng đoán ra một phần nào đời sống mới của em rồi.  Vui hay buồn?  Chỉ có cuộc đời giải thích được thôi anh ạ vì cuộc sống của em cũng đều đặn như thiên nhiên đổi mùa. Anh thấy em bây giờ ngớ ngẩn chưa?
 
Thôi để em kể chuyện cho anh nghe nha! Như anh đã thấy ở đầu thơ, em hiện đang sống ở Paris đó anh ạ.. Em qua đây được gần tám năm rồi anh ạ! Anh Thu hiện là một giám đốc trong một công ty thương mại, hai bé thì đang học ở trường tiểu học cách nhà tụi em khoảng mười phút lái xe. Paris nhieu người Việt hơn là những thành phố khác.  Em sống đâu quen đó, anh ạ, nhất là em thì ở đâu chăng nữa thì . …cũng chỉ vậy thôi!!
Tình cờ, một tình cờ như là trời định đó anh ạ.  Hôm cuối tuần, em đến thư viện trung tâm thành phố để mượn sách truyện đoc cho hai bé Ti và Vy. Trên kệ sách có hàng trăm cuốn, vậy mà em cầm vào tay cuốn truyện song ngữ với đầu đề là “The Last Journey” viết cho trẻ em Việt nam. Em đọc xong cuốn truyện và thấy rất là thích thú vì có những tư tưởng dễ thương. Khi ra quầy sách làm thủ tục mượn, thì em mới trợn tròn mắt lên khi thấy tên anh là tác giả của cuốn truyện. Khi về đến nhà, em liên lạc với nhà xuất bản thì họ cho địa chỉ của anh … Thế là em viết thơ cho anh ngay. Lần này, như là một “Fast train Journey”, em hy vọng là anh sẽ mau chóng nhận được thơ này…
Nhớ viết trả lời cho em nghe.
 
Mong thư của anh.
 
Trevallyn, tháng…nam…
 
Bé thương,
 
Hôm ni đi làm về, uể oải mở thùng thơ ra xem, những nét chữ quen thuộc của thời xa xưa làm anh bàng hoàng, tim anh đập thình thịch như người bịnh đang sắp được uống giọt thuốc thần tiên. Trong cái xúc động của sự đột ngột đến với mình, anh vội vã bóc thơ ra xem…anh không ngờ đời mình còn may mắn đến vậy, dù rằng trong tiềm thức, anh cũng đã cố quên đi hy vọng có ngày được chuyện trò lại với bé, vì dĩ vãng đã đi vào thiên thu thì bao gio có thể trở lại với mình nữa, phải không bé.
Anh mỉm cười khi hình dung một bà mẹ đang ấm cúng chăm sóc hai đứa con nhỏ và bà mẹ đó chính là “cô bé ngày xưa”. Cảm ơn bé đa gởi hình gia đình cho anh xem. Cả mấy năm trời mà Thùy vẫn còn những nét yêu kiều dễ thương như ngày nào, mái tóc ngắn, đôi mắt sáng long lanh, và nụ cười duyên dáng của thời học sinh. Anh Thu thì trông rất hiền, dễ gây thiện cảm với người khác, còn hai bé thì rất kháu khỉnh và dễ thương. Anh rất mững khi thấy bé trong khung cảnh gia đình ấm cúng, đây cũng là niềm hạnh phúc nhất trong đời anh đó bé ạ!
Bây giờ anh báo cho bé một tin vui nghe. Vào khoảng ba tháng nữa, anh sẽ đi vòng quanh thế giới một chuyến, vừa thăm đại học vừa cố tìm lại bình thản của cuộc sống. Anh sẽ ở lại nghiên cứu vài tuần ở San Francisco và sau đó sẽ đi qua thăm viếng đại học Vienna và London.
Thôi anh phải lo đi nấu cơm vi đang đói. Anh sẽ nói chuyện lại với bé khi khác nghe.
Thương nhiều.
 
Paris, tháng… năm…
 
Anh,
 
Chiều nay, tuyết Paris rơi nhiều lắm, trời rét ghê, nhưng em cũng cứ ngồi cả giờ bên cửa sổ để đón ai anh biết không?   Ðể đón ông đưa thư xem có thơ anh không. Nhất là em muốn biết xem cảm nghĩ của anh ra sao khi anh nhận được lá thơ đầu tiên của em sao mấy năm vắng bóng, nhất là khi hai đứa mình đã đi qua những ngã khác của cuộc đời.
Anh biết không? Anh đã kể chuyện đời của anh cho em nghe. Bây giờ đến phiên em cũng cho anh biết là đời em cũng không êm xuôi như dòng sông hiền hòa đâu. Anh Thu cũng sắp sửa rời bỏ tụi em để ra ở riêng đó anh ạ. Lý do chính là anh ấy quá say sưa với công việc và cảm thấy gia đình là một trở ngại cho công việc của anh ấy. Việc làm hằng ngày ở sở là nguồn sống của ảnh. Cứ mỗi lần về nhà thì anh ấy vội vã ăn uống rồi trở lại công ty làm việc rất là hăng say, ngày nào cũng vậy: làm việc là nguồn hạnh phúc của đời sống của anh ấy. Lúc đầu em rất là bàng hoàng khi nghe tin này, nhưng em phải chấp nhận, có lẽ số phận mình vậy.  Có lẽ vài tháng nữa anh ấy cũng khăn gói lên đường. Gia đinh của em và của anh ấy đã biết rõ chuyện này. Ai cũng rất buồn và lo lắng cho em, nhưng biết làm sao phải không anh?
 
 
Ðiều mừng là em sẽ được gặp anh vào tháng tới. Em có nói với anh Thu về việc anh đi qua Paris. Anh ấy bảo rằng nếu anh qua London thì mời anh qua Paris chơi luôn. Nhà tụi em cũng dư một phòng, nên anh đừng ngại chi cả. Ðược gặp anh sau mấy năm xa cách cũng là một điều mà em rất mong muốn trong những năm qua. Chắc là anh cũng vậy, phải không anh?  Khi anh qua đây, em sẽ chở anh đi quanh Paris chơi, ở đây có nhiều cảnh đẹp lắm anh à, không thơ mộng như Trevallyn của anh đâu, nhưng cũng có những nét dễ thương của thiên nhiên mà em biết chắc rằng anh sẽ thích. Nhớ cho em biết ngày anh qua đây nghe .
Em mong thơ anh đó. Khi nào rãnh, nhớ viết cho em nghe.
 
Em
 
Paris, tháng… năm…
 
Anh,
Hôm nay, em không còn kiên nhẫn ngồi ở cửa sổ nhìn ra đường đón ông đưa thơ nữa anh ạ. Em đem ghế ra ngồi tận hộp thơ để đón ông ta, anh thấy em bướng bỉnh chưa?  Vì một phần em nóng lòng muốn đọc thơ anh lắm, một phần em muốn nhìn áng mây trời để tâm hồn được bay bổng lên không trung xa thẳm, may ra em được làm mây, làm gió để vượt ra khỏi cái hữu hạn của thân phận con người. Chắc anh cười, cho rằng em vẫn còn là cô bé mơ mộng của thời xa xưa.
Tròi ơi! Chỉ còn hai ngày nữa là anh đến Paris rồi. Em nói với anh Thu thì anh ấy bảo em cứ tha hồ mà lấy xe của anh ấy để đưa anh đi chơi. Anh ấy cũng mong được gặp anh lắm, bằng cớ là hôm qua khi đi làm về, anh Thu dù bận rộn đến đâu, anh ấy vẫn ghé qua quán rượu mua một chai champagne để đãi anh đó! Tự nhiên chuyến viếng thăm của anh làm cho cuộc sống trở nên nhẹ nhàng trong tâm hồn mọi người trong nhà. Em và hai bé sẽ đưa anh đi về vùng quê chơi nghe. Nghĩ đến ngày anh đến, em thấy sao thời gian đi quá chậm, phải mất đến hai ngày cơ, mới được gặp lại anh…hai ngày đợi chờ dài đăng đẳng.
Tối hôm qua, khi điện thoại vang lên, em biết thế nào cũng là điện thoại anh gọi từ London. Cầm máy lên, em đã nhận ra ngay giọng nói của anh, không thay đổi tí nào, vẩn hiền hòa ngọt ngào như ngày nào, biết là tiếng nói của anh, thế mà em vẫn còn run ngập ngừng từng lời từng câu, sao lại lung tung! Anh đó chứ ai ! Tự dưng em thấy e thẹn như ngày đầu mới quen anh, khi mà anh cầm tay em lần đầu nói lên những lời thiết tha nhất của người con trai mới lớn… và em thì run rẩy theo từng nhịp đập của tim non.
Anh ơi, Paris đang ngóng chờ anh từng giờ đó, anh biết không?
 
 
London, tháng…năm…
 
Bé yêu thương của anh,
 
London là thành phố của sương mù, đúng vậy đó bé ạ, anh đã sống ở đây gần một tháng, thế mà chẳng bao giờ anh ngắm được ánh nắng mặt trời. Tuy vậy, anh lại thích London trong cảnh ảm đạm này, vì như vậy mới hợp với London hơn, vì trong cái ảm đạm buồn man mác của thành phố London, anh tìm thấy một sức sống mãnh liệt như giòng sông Thames vậy đó bé ạ.
Bé ơi, anh rất mừng khi bé cho anh biết là bé đã nói chuyện với  anh Thu về mối tình của mình. Anh thở nhẹ và mừng thầm khi biết rằng anh Thu không những không ghen tuông mà còn chúc mừng bé và anh được hàn gắn lại con đường tình yêu bị bỏ dở dang. Có lẽ anh Thu mừng khi thấy bé đã tìm lại được hạnh phúc trước khi anh ấy ra đi ? Ðiều mừng là anh ấy theo đuổi được mục đích của đời sống và nhất là được thấy gia đình không bị đau đớn vì quyết định riêng rẽ của mình. Tuy mới gặp và ở gần với anh Thu vài ngày ở Paris, anh cũng rất cảm thấy nhiều thiện cảm với anh ấy, thái độ hiền hòa và nhiệt tình lúc giao tế làm anh quý mến anh ấy nhiều thêm.
Tối hôm qua, khi anh đến đại học London để nghe một giáo sư từ  Finland qua thuyết trình, ngồi cạnh một cô sinh viên người Pháp cũng học tại đây. Sau đó, tụi anh đi xuống phòng giáo sư để uống café. Sau một hồi chuyện trò, anh có đem hình của bé ra cho cô này xem. Cô ta bảo sao anh may mắn quá vậy, anh mỉm cười gật đầu hãnh diện, rồi nhìn đăm đăm vào hình ảnh của thiên thần, anh thấy bầu trời London bỗng dưng được soi sáng bởi muôn ngàn trăng sao.
Bé ơi! Nhớ bay về đay hôn anh trong giấc ngủ nghe!
Thương bé nhiều.
 
Anh
 
Paris, tháng… năm…
 
Anh yêu dấu,
 
Mấy tuần nay, vắng thơ của em, chắc anh buồn lắm phải không! Em hứa qua điện thoại là em sẽ viết để giải thích cho anh, nếu em viết cho anh thì rõ ràng hơn, vì em cũng đang trong những giờ phút bối rối anh ạ, mong anh hiểu cho em.
Anh bình tĩnh nghe em kể nghe.  Dù sao em cũng muốn nói cho anh biết là em yêu anh vô bờ. Anh đừng có lo lắng suy tư chi cả vì em cũng đã làm anh khổ quá nhiều trong chuyện tình bơ vơ của chúng mình. Thôi để em vào thẳng câu chuyện cho anh nghe.
Tuần trước là ngày sinh nhật của anh Thu, nét mặt anh ấy rất là đăm chiêu vì suy tư nhiều. Lúc chiều về, anh ấy bảo em cho hai bé đi ngủ sớm để được nói chuyện quan trọng với em. Em vừa lo vừa sợ, vì ít khi anh ấy muốn ngồi nói chuyện nhà một cách trang trọng như vậy. Khi ngồi vào bàn ăn, anh Thu nắm tay em bảo rằng anh ấy đã tìm được một quyết định chắc chắn cho hướng đi mới của đời mình và muốn chia sẻ cùng em. Em cảm động, cám ơn anh ấy và hồi hộp nghe.
Bây giờ anh Thu quyết định không từ bỏ gia đình ra đi nữa và muốn ở lại để tận hưởng cuộc sống gia đình mà anh ấy đã vô tình đánh mất, để được nhìn  hai bé Ti và Vy lớn lên trong mái ấm gia đình, để níu kéo lại hạnh phúc gia đình và cuộc tình mà anh ấy không biết tận hưởng trong những ngày cặm cụi làm việc, và em thì ngồi đó để nghe những lời thiết tha mà em chưa bao giờ được nghe trong mấy năm trời sống với nhau ở Paris. Tự dưng, hai hàng nước mắt chảy đầm đìa trên má, em cũng không hiểu vì sao nữa? Phải chăng đó là những giọt nước mắt của những năm tháng tủi hờn, hay là những giòng lệ lo âu cho cuộc tình không lối thoát của hai dứa mình? Em ngồi nghe trong sự tái tê tâm hồn và thể xác.
Ðầu óc em sao bối rối quá anh ạ, em phải làm sao hở anh? Ngày anh từ bỏ Saigon, nhìn chiếc máy bay đưa anh di thật xa, vượt ra khỏi tầm tay nhỏ bé của em, em đau nhói cả tim anh ạ. Biết rằng mình quá mong manh trong biển đời, em câm lặng cố sống qua ngày. Rồi anh Thu đến, Paris xứ lạ quê người, trong cái mong manh của cuộc sống, bỗng dưng anh trở lại như huyền thoại của chuyến tầu trở lại với sân ga. Anh đến như con mưa hạ làm phấn khởi cuộc đời còn lại của em. Nhưng bây giờ bỗng dưng em trở thành niềm vui hay niềm đau của người khác: của anh Thu va hai bé,  và nhất là anh, người mà em đã làm khổ từ lâu!
Tối nay, em cảm thấy nhức mỏi cả thân xác, tâm hồn thì uể oải vì bị dằn vặt trong tình huống được yêu hoặc mất tình yêu, em đang cần những lời nói thương yêu của anh nhưng hiện tại màn đêm thì dày đặc và em thì quá bơ vơ.
Mong tin anh.
 
Em
 
Venice, tháng…năm…
Bé ơi!
 
Anh đã nhận thơ của bé gần cả tháng nay rồi, nhưng anh không muốn trả lời liền vì anh muốn bé có đủ thời gian để có thể tìm lại được một chút bình thản của tâm hồn, tìm được hướng đi cho đời mình và cho những người thân yêu. Nếu anh viết cho bé ngay, anh chỉ sợ sự đau khổ của mình sẽ trải dài qua tận bé và thơ của anh sẽ làm cho bé khó giải quyết hơn khi bé đang đứng giữa hai lối đi của cuộc đời.
Hôm nay anh mới viết thư cho bé … và có thể đây là lá thư cuối cùng của anh viết cho bé đây, vì sau này cuộc đời của anh sẽ bay xa như thân chim vô định hướng, vượt khỏi vòng tay tình ái ấp ủ của lứa đôi. Chắc bé cũng đã đoán là anh sắp nói chi với bé rồi. Cố gắng đừng khóc để nghe anh nói nghe Bé!
 
 
Như Bé đã biết, từ những giây phút gặp gỡ ban đầu ở Sài gòn, những buổi chiều đón bé về trên những con đường ngập lá, cho đến ngày anh gặp lại bé ở Paris, có khi nào anh hờ hững với bé đâu…mà trái lại, anh yêu bé nhiều hơn anh đã ý thức được. Hình ảnh của bé là mùa hè ngập nắng của đời anh, là mùa thu man mác với những tình cảm luyến thương, là mùa xuân của một đời hoa mộng và mùa đông u buồn không bao giờ là ngưỡng cửa của thời gian.  Chính vì vậy mà bây giờ anh mới có đủ can đảm để viết lá thư này cho Bé để bé biết rằng dù anh không may mắn được sống bên cạnh bè và rồi đây sẽ biền biệt trong không gian xa vời, hình ảnh của bé vẫn là muôn thuở trong đời anh.
Bé ạ, tình yêu của hai đứa mình thì quá dễ thương và trải rộng vô bờ, vượt lên trên những trói buộc bình thường của đôi lứa, trên những sở hữu của tình nhân, và cao vời vợi như áng mây trời. Do đó, anh sẽ không bao giờ mất Bé cả dù anh không được may mắn sống bên Bé. Ðược nhìn Thùy sống hạnh phúc dưới mái gia đình ấm cúng mà anh Thu đang cố dựng nên, được nhìn hai bé Ti và Vy vui vẻ tung tăng bên cạnh bà mẹ, được nhìn anh Thu tìm lại được thiên đường mà mình đã vô tình đánh mất; đó cũng là một hạnh phúc rất lớn lao cho anh rồi. Viễn tượng đep đẽ này là món quà quý báu nhất mà tình yêu đã mang đến cho đời mình. Anh phải biết đón nhận, phải không Bé?  Bé ơi! Anh như một con tàu rời sân ga để đến một chân trời nào đó và trong thâm tâm mình được biết rằng những người ở lại đang sống trong đùm bọc yêu thương. Như vậy sự ra đi và quyến luyến của con tàu và sân ga mới có ý nghĩa, phải không bé Thùy của anh?
 
Kết quả hình ảnh cho Chân Trời photos
 
   Huyền Trâm    -   – Tamar Lê     

Tưởng nhớ và tri ân cố Linh Mục Antôn Vũ Như Huỳnh ( 1990 - 2020 )

Tưởng nhớ và tri ân
Cố Linh mục Antôn Vũ Như Huỳnh

( 1990 - 2020 )

Tưởng nhớ Cha Antôn Vũ Như Huỳnh

Tưởng nhớ CHA ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH

TƯỞNG NHỚ CỐ LM. ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH ( 1990/12 - 03/2020 )

Kính Thưa Quý Thầy Cô cùng toàn thể cựu học sinh Sao Mai trên khắp các nẻo đường thế giới,
 
“Uống nước nhớ nguồn” là đạo lý làm người được đúc kết từ bao đời nay. Đối với học sinh chúng ta, phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi là cách đền ơn thiết thực nhất với công lao của Cha Mẹ, Thầy Cô và xã hội.
 
Thấm thoát đã 30 năm trôi qua (1990-2020) kể từ ngày Cha Cố Antôn Vũ Như Huỳnh được Chúa thương gọi về. Trong tâm tình thương tiếc, quý mến, chúng ta bày tỏ lòng tri ân đến Cha Cố Antôn Vũ Như Huỳnh, Hiệu Trưởng trường Trung Tiểu học Sao Mai Đà Nẵng - Việt Nam từ 1965 đến 1975 .
Chúng ta cùng nhớ về hình ảnh người Cha kính yêu, người Cha đã cho chúng ta trọn niềm vui của thời thanh xuân, của tuổi học trò dưới mái trường thân thương Sao Mai Đà Nẵng. Ở đây, chúng ta đã được Cha cùng quý Thầy Cô hướng dẫn,dạy bảo và luôn đồng hành trên con đường học vấn, để chúng ta có thể tự tin bước vào những cuộc hành trình mới.

Biến cố lịch sử thăng trầm của đất nước khiến chúng ta phải chia tay nhau mỗi người một hướng theo dòng đời trôi. Sau bao nhiêu năm thất lạc, chúng ta đã có Duyên may được gặp lại nhau trên trang Góc Nhỏ Sân Trường yêu thương này để nối kết lại tình Thầy Trò, nghĩa Bạn bè đã một thời bên nhau...
Và hôm nay,chúng ta cùng hướng lòng về người Cha kính yêu - Cố LM. Antôn Vũ Như Huỳnh nhân ngày Giỗ lần thứ 30.

Tri Ân - Tiếc Thương và Tưởng Nhớ đến Ngài, chúng con tha thiết nguyện xin Thiên Chúa trả công bội hậu cho Linh Hồn Cha Cố Antôn qua những công lao sâu nặng Ngài đã dành cho chúng con là đoàn con học sinh của Ngài.

 Chúng con tin tưởng rằng Chúa Nhân Lành đoái thương nhậm lời nguyện cầu của chúng con, đón nhận Linh Hồn vị Cha Cố đáng kính Antôn vào hưởng hạnh phúc Nước Trời.

 
 
 
 
 
 
 
─────── ※ Gia đình GNST ※  ───────
────── Peace & Love always ───── 
 
 
 

Chúa là tất cả đời con. Con là tất cả của Chúa. Vì yêu con Chúa tác sinh muôn loài. Vì yêu con tay Chúa thương an bài. Cho con một đời vui sống thiết tha.

 Chúa là tất cả đời con. Con là tất cả của Chúa. Vì yêu con Chúa chết treo khổ hình. Vì yêu con nên đã quên thân mình. Cho con được làm con Chúa suốt đời. 

Chúa (Chúa) chính là gia nghiệp đời con (gia nghiệp đời con). Con xin được đáp lại tình yêu (xin được đáp lại tình yêu). 

 Sông nào chẳng đủ miền xuôi. Con người có thủa nằm nôi. Thời gian đưa chiếc lá bay qua rồi. Đời vương vương như áng mây bên trời. Tim con bồi hồi xao xuyến mãi thôi. 

Ân tình Chúa đủ chẳng vơi. Con nào thấu lòng trời cao. Tình yêu thương vẫn thiết tha tuôn trào. Tình dâng cao trong ngất ngây tâm hồn. Gieo vui một niềm cảm mến vô bờ.
 
 
 
 

 

 

✬▬▬▬▬ஜ۩ ۩ஜ▬▬▬▬✬

Tưởng nhớ và tri ân cố Linh Mục

Antôn Vũ Như Huỳnh

( 1990 - 2018 )

 Nguyễn Ngọc Hải

Một Thánh lễ Misa cầu nguyện cho ngày giỗ Cha Cố Antohony Vũ Như Huỳnh - một vị Cha già đã từng là một thời lèo lái con thuyền SaoMai của những cơn sóng gió. Một Thánh lễ đơn sơ nhưng đã chứa đựng thật nhiều tình thiêng liêng cao cả... đốí với những "người con SaoMai hôm nay" tại quê nhà... chúng tôi vẫn nhận thấy đầy đủ mọi thành phần của ngôi nhà mẹ SaoMai của ngày ấy và hôm nay... Thánh lễ diễn ra không tiếng chuông nhà thờ báo hiệu, một buổi lễ diễn ra trong sự im lặng và tưởng nhớ, không chỉ với những "người con của nhà mẹ" mà còn có cả những "cô dâu, chú rễ của SaoMai ngày hôm nay" 

Một sự cảm xúc và thiêng liêng trân trọng - duy chỉ trong một căn phòng nhỏ chưa trọn vẹn mười mấy mét vuông thực tế, nhưng trong đó đã chứa đựng cả một sự huyền bí lớn lao về cõi tâm linh và sự trung thành của khoảng hai mươi mấy người con SaoMai đã vinh dự đại diện cho cả một ngôi trường mấy ngàn cựu học sinh của ngày ấy... 

Không cao sang, không quyền quý
Không là trong ngôi thánh đường cao sang và lộng lẫy. 
Không là nơi đài các khuê văn, cũng không là nơi chốn lầu hoa danh vọng...

Mà chỉ là một căn phòng nhỏ trong căn nhà hưu dưỡng của giáo xứ Thái lạc, Long Thành... 

Lời kinh trầm lắng mở đầu cho Thánh lễ Misa... 

Giây phút "sám hối" - mở đầu cho Thánh lễ

Cũng với đầy đủ mọi nghi thức của một thánh lễ Misa bình thường theo truyền thống tôn giáo, cũng với một chí hướng và đồng tâm hiệp lực từ một cõi vô hình để cùng nhau đưa đến một triết lý vĩnh hằng của "một đời người" mà ngày hôm nay Thượng Thiên đã "gọi về" - bỏ lại trần gian một đôi chút vướng bận về một sự tưởng nhớ... duy không có những dòng lệ rơi, không có những tiếng than khóc "Cha ơi...", không có những sầu thương đau đớn, nhưng hầu như "tất cả những người con" hiện diện hôm nay trong ngày 18/03/2012 này đều cùng nhau cất lên cho chính mình từ một cõi hư không nào đó để trong suốt thánh lễ giỗ tưởng niệm... ai ai cũng "cầu xin Chúa mau sớm dẫn đưa linh hồn Cha Cố Anthony cũng như linh hồn Cha Cố Giuse được hưởng phúc Nhan Thánh"

Ngày hôm nay - tuy chỉ là tại "nhà hưu dưỡng của Giáo xứ Thái Lạc - Long Thành" tuy không là "tiếng chuông thánh thót của một ngôi đại giáo đường báo hiệu giờ kinh nguyện cầu... tuy không là những hồi chuông báo hiệu trong giây phút Thánh Thể... tuy không là những âm vang của một Ca đoàn đại quy mô trong một thánh lễ tưởng niệm lớn lao nào.... nhưng trong cái không gian tĩnh mịch này, chỉ trong cái ngày 18/03/2012 vào lúc 10.00h... đã cất lên chỉ vài câu kinh nguyện sau một cử chỉ "làm dấu thánh giá" - chúng tôi nghĩ rằng: tại phương trời xa xôi nào đó bên tận trời Âu Philadelphia... linh hồn Cha Cố Anthony cũng như tại nơi an nghỉ vĩnh hằng Đại Chủng viện Giuse Xuân Lộc linh hồn Cha Cố Giuse "chắc cũng đã mỉm cười tại nơi cung vàng chín suối... 

Ngày xưa là "một người thầy" - hôm nay "là một vị linh mục già đã về hưu" - Cha Đỗ Văn Nguyên - có lẽ cũng đã mãn nguyện cho chính mình một sự hài lòng, cũng như "mấy chục con người trần thế hôm nay" đại diện cho mấy ngàn con người để rồi cùng nhau cất lên lời kinh thắm thiết, những lời ca như đã bay bổng để mong cầu xin nơi chốn thiên quốc một Hồng ân trong cõi tâm linh sống của những con người mà chính vào giờ phút thiêng liêng này trở thành một triết lý sống - một triết lý sống chứa đựng rất đầy đủ ý nghĩa của một cõi đời với những con người hôm nay đang còn trên con thuyền SaoMai tại trần gian này... 

Chúng tôi còn nhớ - ngày 12/03/2012 tại Giáo xứ Ngọc Lâm với những nghi thức "còn vang mãi những lời kinh..." thì hôm nay - ngày 18/03 tại một nơi chốn "nhà hưu dưỡng Thái lạc, Long Thành" một thánh lễ Misa duy chỉ đơn sơ và đạm bạc.... hoặc một nơi nào đó bên trời Âu cũng đã "tưởng niệm về cho vị Cha già của ngày xưa..... tất cả đều cũng chỉ là một hướng đi, tôi còn nhớ một đoạn Kinh Thánh nào đó mà ngày xưa Thánh Phaolo viết trong thư gửi cho cộng đoàn tín hữu Corhinto: Anh em hãy yêu thương nhau như Cha trên Trời đã yêu thương anh em, anh em hãy luôn luôn chú tâm vào sự thờ phượng duy chỉ có một Thiên Chúa là Cha chung của chúng ta.....

Dẫu cho cuộc đời chỉ là ngắn ngủi, là kiếp phù du, là một cơn gió thoảng, là những con người không phải là có đạo, và không chỉ là những con người SaoMai của "ngày ấy", nhưng chúng tôi cũng luôn luôn có những sự trân trọng và kính phục về cho những "cô dâu và chú rễ SaoMai" của ngày hôm nay... tuy chỉ là trong một căn phòng nhỏ bé, không tiếng chuông báo lễ, không lộng lẫy đèn hoa, không tiếng nhạc thánh thót của một ca đoàn - nhưng hầu như với những con người hiện diện hôm nay cùng với "vị Cựu Tổng Giám Thị" của ngày nào... có lẽ cũng đã thoả nguyện rất lớn và chứa đựng được nỗi vui mừng vì "đã sống đúng với "đạo làm con" con tinh thần hiếu đễ của nhân bản một con người...

Bài đọc 1 - với "con chiên BuiMai" _________________

Bài đọc 2 - với "con chiên PhamThanhLong"

Thánh lễ cũng có những lời giảng của "vị Chủ tế"...
Trong bài giảng Cha ĐoVanNguyen hầu như không còn nhắc đến cái triết lý "sắc có như không..." nữa, mà trong bài giảng tuy ngắn ngủi, nhưng chứa đựng rất nhiều những thâm tình hiếu để của những con người hôm nay... Cha đã nêu cao tinh thần truyền thống Uống nước nhớ nguồn, tinh thần SaoMai bất khuất của những Cựu học trò, và tinh thần rực lửa bất diệt của những con người SaoMai của hôm nay.... tất cả cũng chỉ là một sự hiếu để của một đời người đang thực hiện một triết lý sống: Cuộc đời sắc có như không, phải chăng chỉ một tấm lòng mà thôi...

Giây phút "Hiệp nhất Phép Thánh Thể" 

Từ những điểm nhấn ấy, duy ngày hôm nay 18/03 tại Thái Lạc - Long Thành Đồng Nai, cũng như ngày 12/03 vừa qua tại Giáo xứ Ngọc Lâm, hoặc đã một ngày nào đó phía bên kia bờ đại đương.... cũng đã có những giây phút như thế, một trong những buổi lễ tưởng niệm như thế... nhưng chúng tôi thiết nghĩ "tất cả cũng chỉ là một mà thôi" trong sự thực hiện tinh thần "hiếu đễ của con người" như lời vị Cựu Tổng Giám thị đã nhấn mạnh trong những buổi họp mặt và chuyện trò thân mật ngày nào... thì hôm nay, trong cái căn phòng nhỏ bé này, trong giây phút tưởng nhớ thiêng liêng và huyền bí này... cái đạo làm người của những người con SaoMai cũng đã một lòng nhớ về cho những người Cha già như thế.... 

Lời cảm tạ của đại diện học sinh SaoMai với "Thầy Tổng"

Không chỉ là những miếng ăn ngon, không chỉ là vài ba mâm cổ đầy, không chỉ là những chiếc bánh sake lạ mắt và ngon miệng... mà giờ phút họp mặt có tính mini này cùng với những câu chuyện trò, những kỷ niệm được khơi dậy lại, những ký ức ngày xưa.... hầu như cũng đã nói lên được mối thâm tình hiếu để và tâm giao của những con người của nhà mẹ này vậy... 

Trên con đường về lại Saigon, cũng những có những người con phải quay về xứ núi mây ngàn Phương Lâm... chúng tôi rất bùi ngùi và thật sự xúc động vì chính mình đã làm tròn bổn phận hiếu để của những người con SaoMai, duy cánh biển Vũng tàu chiều hôm ấy có gió thôi rất nhiều, có những đợt sóng vỗ xô bờ, duy đứng trên một tháp cao bên cạnh ngọn núi Tao Phùng với hình ảnh Chúa Giêsu đang dang tay đón nhận và sẵn sàng ban phép lành cho tất cả những người con như chúng tôi, cũng như trên đoạn đường dọc theo bờ biển bao la và còn mãi lê thê ấy... chúng tôi cũng như vị Cựu Tổng Giám Thị của ngày xưa, ai nấy cũng đã mãn nguyện và mỉm cười vì đã làm tròn cho chính mình hiện diện (cũng ngư những người vắng mặt) đầy đủ một bổn phận trách nhiệm thiêng liêng và cao cả: sự hiếu để của một con người

Thành phố giờ này đã lên đèn, màn đêm đã buông phủ, không phải những ánh đèn xanh đỏ tím vàng hoa lệ của một thành phố vật chất xa hoa kia đã điểm... mà chúng tôi có thể mãn nguyện và mỉm cười: có lẽ chính trong tâm linh của những người con SaoMai hôm nay... vẫn còn có hàng triệu hàng triệu ánh đèn đủ sắc màu đang rực cháy, và còn sáng sáng mãi trong một tinh thần SaoMai hiếu để và thanh cao ấy vậy... 



NguyenNgocHai

Ghi nhận từ buổi lể ngày 18/03 tại Thái Lạc...

●▬▬▬▬▬๑۩      GNST       ۩๑▬▬▬▬▬●

GNST chân thành cảm ơn anh Nguyễn Ngọc Hải.

 

Theo dõi RSS này