Kim Phượng

Kim Phượng

HUẾ - Thăm Hiếu Lăng - Lăng Vua Minh Mạng -Hành Trình Xuyên Việt Trip # 14a

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 14a

HUẾ - Thăm Hiếu Lăng - Lăng Vua Minh Mạng:

** Nam Mai **

HUẾ - Thăm Hiếu Lăng - Lăng Vua Minh Mạng: Chiều thứ hai ngày 16 tháng 1 năm 2017. Lăng Minh Mạng còn được gọi là Hiếu Lăng, do vua Thiệu Trị cho xây dựng, nằm trên núi Cẩm Kê (sau đổi thành núi Hiếu Sơn), gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 18km. Lăng Minh Mạng được xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 thì hoàn thành, huy động tới mười nghìn thợ và lính để xây dựng lăng. Ngày 20 tháng 8 năm 1841, thi hài vua Minh Mạng được đưa vào chôn ở Bửu Thành, nhưng công việc xây lăng mãi cho đến đầu năm 1843 mới được hoàn tất.

Di tích lăng Minh Mạng là một quần thể kiến trúc quy mô với khoảng 40 công trình bề thế gồm cung điện, lầu đài, đình tạ... được xếp đặt cân đối trên một trục dọc theo đường Thần đạo dài 700m, bắt đầu từ Đại Hồng Môn đến chân La Thành gồm: cửa chính, sân chầu, nhà bia, sân tế, Hiển Đức Môn, điện Sùng Ân,Trung Đạo Kiều, hồ Trừng Minh, Minh Lâu, hồ Tân Nguyệt, cổng tam quan Quang Minh Chính Trực và cuối cùng là Bửu Thành (mộ vua Minh Mạng). Lăng có diện tích 18 ha (nhưng diện tích cấm địa quanh lăng là 475 ha), xung quanh lăng có La Thành bao bọc. Xen giữa những công trình là nhiều hồ nước ngát hương sen và những quả đồi rợp bóng thông, tạo nên một phong cảnh hữu tình.

Bi Đình nằm trên đồi Phụng Thần Sơn, bên trong có bia "Thánh Đức Thần Công" bằng đá Thanh ghi bài văn bia của vua Thiệu Trị viết về tiểu sử và công đức của vua cha Minh Mạng.

Bia Thánh Đức Thần Công

Mở đầu khu vực tẩm điện là Hiểu Đức Môn.

Hiểu Đức Môn mở đầu cho khu vực tẩm điện, được giới hạn trong một lớp tường thành hình vuông biểu trưng của mặt đất (từ ý niệm trời tròn, đất vuông).

Tòa Minh Lâu nhìn từ phía sau (từ phía Trung Đạo Kiều)

Khu vực tẩm điện là nơi thờ cúng vua. Mở đầu khu vực tẩm điện là Hiểu Đức Môn; điện Sùng Ân nằm ở trung tâm thờ bài vị của Vua và Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu; Hoàng Trạch Môn là công trình kết thúc khu vực tẩm điện.

Điện Sùng Ân (nơi có bài vị của Vua và Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu).

Bửu Thành là một quả đồi thông hình tròn, bao quanh bởi tường thành, phía trong sâu bên dưới là mộ vua. Ở chính giữa hồ Tân Nguyệt có một cây cầu mang tên Trung Đạo kiều, nối Minh Lâu với Bửu Thành và đường dạo quanh lăng, phía sau Bửu Thành là một rừng thông xanh thăm thẳm. Bửu Thành chính là ranh giới bảo vệ nơi yên nghỉ của vua Minh Mạng.

Hồ Trừng Minh

Hiện nay, kiến trúc Lăng tuy có phần đổ nát một chút, nhưng chỉ với một mức độ nhẹ hơn so với những Lăng khác. Theo chủ ý của Ban bảo vệ di tích cố đô Huế và những quy tắc bắt buộc của UNESCO là nhằm không trùng tu các di sản, cố ý để tạo ra nét nguyên sơ với vẻ hoang toàn mặc cho rêu phong của thời gian bao phủ sẽ làm cho di tích càng tăng thêm giá trị.

Chúng tôi đến thăm Lăng vào khoảng hơn 3:00 giờ chiều, đến 5:30 thì trở về khách sạn để nghỉ ngơi cho lại sức vì đã đi bêu nắng hơn 2 tiếng đồng hồ rồi. Đúng 6:30 chiều thì cậu Quang đến đón đi ăn cơm tối. Tối nay N đi ăn Cơm Hến tại quán cơm có tên là Tý Hon bên Cồn Hến. Chẳng cần nói thì các bác cũng biết là mấy cái quán dân dã này nó ra sao rồi.

Đây là quán Cơm Hến đây ạ. N lại cũng chẳng nhớ hương vị của Cơm Hến chính gốc tại Huế nó như thế nào nửa các Bác.

Đến 8:00 giờ tối, N và MT xuống Lễ Tân nhờ khách sạn tìm giùm cho 2 chiếc "xích lô tốt"(tốt ở đây có nghĩa là khách sạn phải bảo đãm là họ sẽ không chở 2 bà đi luôn 1 lèo qua TQ đấy ạ). N và MT muốn được "trải nghiệm" 1 chuyến Huế City Tour by Cyclo vào buổi tối để xem thành phố ban đêm nhìn ra sao, vì thế bác tài nói sẽ chở cho đi xem phố "Huế Cổ" trong nửa giờ và nửa giờ còn lại thì xem phố"Huế Mới". Mới đầu thì 2 bà muốn ngồi chung 1 chiếc xe để nói chuyện cho vui và sẽ không bị lạc nhau nếu đi 2 xe. Nhưng sau cùng thì phải đi 2 chiếc vì họ lấy có 200 ngàn VND cho 1 giờ thôi à. Trời ơi chỉ có hơn $8.00 đô la/ 1 giờ, mà cả hai cùng đòi leo lên một chiếc xe với 2 bà cân nặng cộng lại cả mấy trăm lbs thì họ chịu sao cho thấu!!!

Leo lên xích lô thì trời cũng đã chập choạng tối, bác tài xích lô bắt đầu đạp xe đi vào hướng Kinh Thành và Đại Nội. Vừa đi bác tài vừa "thuyết trình" cho biết là xe đang đi qua đường nào phố nào trong thành phố, lại kể cho biết những sinh hoạt trên đường phố, cũng như chỉ dẫn cả những di tích cổ nằm trên đường đi nửa .... N còn nhớ hình như là tới đoạn đường ở ngã ba Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tôn thì bác có chỉ cho N xem 1 cái miếu và cho biết đây là Miếu Âm Hồn rất nổi tiếng tại Huế.

N đã có tìm hiểu thêm để biết cho rỏ ràng, cặn kẻ hơn lời kể vắn tắt của bác tài, thì ra Miếu Âm Hồn là nơi để cúng Âm Hồn vào mỗi năm tại thành phố. Tại Huế hàng năm vào ngày 23 tháng 5 Âm lịch là một ngày rất đặc biệt của toàn thễ người dân thành phố Huế. Tục "Cúng Âm Hồn" tại Huế cho ngày thất thủ Kinh đô (ngày 23 tháng 5 AL) được xem là ngày cúng cô hồn lớn nhất trong cả nước. Vào ngày này tại Huế, từ các gia đình cho đến thôn, xóm, phường .... có rất nhiều rạp, nhiều bàn cúng được dựng lên ở trước cửa nhà để làm lễ cúng âm hồn. Đó chính là ngày để tưởng nhớ sự kiện “Thất thủ Kinh đô 23 tháng 5”, một ngày không thễ quên đối với mỗi người con dân xứ Huế. Cách đây hơn 133 năm, vào tối 22 qua rạng ngày 23 tháng 5 Âm Lịch năm Ất Dậu (tức là đêm mồng 4 rạng ngày mồng 5 tháng 7 năm 1885), Thượng Thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết và Đề Đốc Trần Xuân Soạn đã chỉ huy 20.000 binh lính mở cuộc tấn công đánh thẳng vào sào huyệt quân Pháp ở đồn Mang Cá và khu Tòa Khâm bên bờ sông Hương, Tôn Thất Thuyết bố trí cuộc tấn công rất chu đáo, quân ta cũng chiến đấu rất gan dạ, song do khí giới thô sơ sút kém quá, nên cuộc chiến đã bị thất bại. Quân triều đình không giữ nổi thành phải tháo chạy về phía Lục Bộ và tràn ra cửa Đông Ba thì bị toán quân Pháp từ phía Cửa Trài tiến lên bao vây. Quân Pháp thừa cơ tấn công vào Kinh đô Huế, và một cuộc giết chóc tàn bạo chưa từng có đã xảy ra, khiến cho hàng nghìn quan quân và dân chúng đã chết trong cảnh binh đao hỗn loạn, khoảng 9300 binh lính và thường dân đã bị thương vong. Hầu như không có gia đình nào là không có người bị tử nạn trong đêm binh biến này. Kể từ đó, ngày 23/5 Âm lịch đã trở thành ngày “giỗ chung” của người dân xứ Huế. Vào ngày này, họ cúng cho tất cả những người bị tử nạn như quân sĩ, dân chúng, quan lại, thợ thầy ... đã bị chết do nhiều nguyên do: hoặc bị dày đạp, chen lấn nhau mà chết, hoặc bị đạn của quân Pháp hoặc bị ngã xuống thành khi tìm cách leo ra khỏi thành, hoặc sẩy chân rơi xuống ao hồ dày đặc trong thành, nhất là hồ Tịnh Tâm… trong khoảng thời gian từ 02g đến 04g sáng ngày 23/5 Âm Lịch năm Ất Dậu 1885.

Thường là trước cổng hoặc giữa sân nhà, mâm cúng lễ được bày biện giữa trời, với hai bàn thượng và hạ. Đồ cúng thường không thể thiếu: hương đèn, cau trầu, rượu trắng, cháo trắng, các loại hoa quả, hạt nổ, gạo, muối, các loại giấy cúng, con gà trống luộc và xôi, chè, khoai sắn…

Mâm lễ cúng vào ngày "Cúng Âm Hồn" (Hình lấy từ Internet).

 

Ðặc biệt, trong lễ cúng 23 tháng 5 này, mọi người bao giờ cũng phải nhớ có một bình nước lớn và một đống lửa đốt bên cạnh bàn thờ cúng. Người ta tin rằng các âm hồn sẽ đến uống nước và sưởi ấm bên đống lửa, vì nhiều người trong biến cố đã bị chết khát, chết lạnh lẽo dưới ao, hồ, sông, suối trong rạng ngày 23 tháng 5.

Ở Huế, có khá nhiều miếu âm hồn được lập nên bởi những người con của đất Thần kinh. Nhỏ thì các am thờ cô hồn, lớn hơn thì các miếu của cả làng xóm lập nên. Người dân thường làm lễ cúng trong ngày 23/5 tại Miếu Âm Hồn của phường Thuận Lộc cạnh giao lộ ngã tư đường Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tôn, hay tại Miếu ở phường An Hòa cạnh khu đất xưa từng là nơi hành quyết bêu đầu các anh hùng chống lại triều đình, hoặc tại các khu lăng mộ tập thể ở đường Nguyễn Khoa Chiêm, và ở nghĩa trang 12 vòng mộ tập thể tại Cồn mồ Trà Am nối dài thành phố Huế…

Tập tục cúng âm hồn đã trở thành một nét đặc trưng trong bản sắc văn hóa của chốn Thần Kinh bắt đầu từ những năm sau biến cố thất thủ kinh đô và kéo dài cho đến bây giờ. Trải qua hơn 130 năm, dù Huế có nhiều sự biến đổi nhưng tập tục này vẫn được gìn giữ và chưa bao giờ bị gián đoạn. Tuy hình thức tổ chức cúng lễ có chút khác nhau so với từng thời điểm lịch sử, song ý nghĩa của nó vẫn được giữ nguyên. Việc làm này đã thể hiện được tình đồng bào, tấm lòng nhân đạo và tính nhân văn sâu sắc của người dân xứ Huế.

Hình chụp Miếu Âm Hồn nằm ở đường Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tôn ở phía đông nội thành, cách cửa Đông Ba chừng 300 mét. Miếu Âm Hồn là ngôi miếu có lịch sử lâu đời nhất gắn liền với ngày lễ này. Miếu được xây dựng vào năm 1895 (10 năm sau ngày kinh đô thất thủ), hằng năm tại đây vẫn tổ chức lễ cúng âm hồn để tưởng nhớ những người tử nạn sau biến cố thất thủ Kinh Đô. (hình Internet).

Nghĩ đi, nghĩ lại thì thấy thật quả là tội nghiệp cho con dân của vùng đất Thừa Thiên - Huế, vì ngoài cái tang chung trong cuộc đại biến Kinh Thành thất thủ năm Ất Dậu 1885 làm chết hàng ngàn người vô tội ra, thì một lần nửa vào 83 năm sau, vào năm Mậu Thân 1968 người con dân Huế lại phải hứng chịu thêm một cuộc giết chóc tàn bạo, cũng không kém gì cuộc tàn sát dã man của quân Pháp vào năm 1885. Chuyện thất thủ kinh đô với chuyện giết chóc kinh hoàng lần thứ nhất vào năm 1885 thì chỉ xảy ra trong vòng có một ngày, còn chuyện tang tóc đổ nát trên Huế của 83 năm sau đó không chỉ là một ngày mà đã bị kéo dài tới cả tháng trời trong cảnh u ám của đất trời với những cơn mưa phùn lạnh lẽo, đêm cũng như ngày. Nhớ lại, trong biến cố Tết Mậu Thân đã có đến hơn 6,000 người bị giết chết - con số này chỉ tính riêng thôi ở tại Huế. Họ đã bị giết chết một cách tức tưởi, oan khiên bởi những người mang cùng màu da vàng máu đỏ với họ ngay vào ngày đầu năm Tết Mậu Thân 1968. Vào năm đó, trong những giờ phút thiêng liêng nhất của năm cùng tháng tận, tiếng súng đã ròn rã vang lên khắp các nẻo gần xa tại Huế thay cho tiếng pháo giao thừa truyền thống, tiếng súng đã chen lẫn với tiếng pháo, rượu hồng đã hòa vào máu đỏ, bánh chưng bánh tét đã trộn lẫn với thịt người .... Ôi, nếu đem chuyện thất thủ đời xưa ra so sánh với chuyện thất thủ thời nay thì thiệt hại về tài sản và sinh mạng cũng như tang thương phải nhân lên đến gấp mấy lần. Đấy là một tội ác có một không hai trong lịch sử Việt Nam nói chung và của Thừa Thiên-Huế nói riêng. Qua hai cuộc tàn sát mà thành phố Huế đã phải gánh chịu, điều này cho thấy rằng cư dân Huế hiện đang sống chung với những hài cốt nằm quanh quất đâu đó trên các bãi biền, ruộng vườn, hay nương dâu hoặc dưới ngay những móng nhà của cư dân thành phố, hoặc dưới nền nhà của các khách sạn hiện nay cũng không chừng ..... Thật sự tưởng nhớ, tiếc thương và xin kính cẩn nghiêng mình trước hàng vạn các oan hồn Việt Nam tại Huế đã ngã xuống và vĩnh viễn im hơi lặng tiếng trong cuộc đại biến Kinh đô thất thủ năm 1885 cũng như trong biến cố Tết Mậu Thân năm 1968.

Tại Huế nhà nào cũng có miếu thờ cô hồn trận vong 1968 như hình dưới đây, có nhiều nhà có tới 8 miếu trước sân. (Hình: Liêu Thái/Người Việt lấy từ Internet

Hình chụp khi xe từ trong Đại Nội bắt đầu ra khỏi cổng Kinh Thành vào buổi tối.

Bây giờ thì xin được trở lại với chuyện đi dạo buổi tối bằng cyclo tối nay .... sau một hồi chạy quanh quẩn qua lại trên nhiều con đường thì xe bắt đầu đi vào cổng của Kinh Thành để vào Đại Nội. So với ban ngày có nhiều xe cộ lớn nhỏ chạy vào, lại cộng thêm với một số lượng lớn du khách vào thăm Đại Nội nên đã làm cho Kinh Thành nhìn có vẻ nhộn nhịp và có nhiều sức sống hơn là khi nhìn vào buổi tối như bây giờ. Bắt đầu trời tối thì trên đường cũng vắng không còn nhiều người qua lại nửa, phần lớn số du khách đã ra khỏi Hoàng Thành nên cảnh vật nhìn càng thấy thêm vắng lặng. Vì là khu phố cổ nên hầu hết nhà cửa trong Kinh thành đều là nhà ở của dân chúng chứ không có hàng quán kinh doanh gì nhiều ...... cho nên cả khu vực trong Kinh Thành vào ban đêm nhìn thấy tối lù mù, chỉ thỉnh thoảng mới thấy lóe lên vài ánh đèn yếu ớt chiếu hắt ra từ trong sân của các ngôi nhà ..... với một không gian hoang vắng u tịch như vầy làm cho mình tự nhiên chợt cảm nhận thấy cái buồn tênh của cảnh .... rồi tự dưng bỗng mường tượng thấy cái ghê rợn của sự chết chóc hình như đang quanh quẩn đâu đây ...... cái khắc khổ tĩnh lặng của ban đêm hòa với nét tuyệt mỹ của thiên nhiên chung quanh càng làm cho Kinh thành nhìn có thêm phần huyền bí lạ lùng ...... Lúc này tự nhiên trời lại lất phất mưa nhè nhẹ ..... nói thật với các bác là bỗng dưng N cảm thấy lạnh toát từ lưng xuống chân rồi tự nhiên thấy sợ hãi vu vơ với một cảm giác rất khó tả..... nên trong bụng chỉ mong cho xe mau mau đi ra khỏi khu vực bên trong Kinh Thành càng nhanh chừng nào thì càng tốt chừng ấy. Nói thật, nửa giờ trong khu vực "phố cổ" mình chẳng thấy gì nhiều vì trời tối mà ánh sáng bên trong Kinh Thành lại không có nhiều ..... nói tóm lại thì chẳng thấy có gì hấp dẫn mà chỉ thấy có ..... sợ! Chắc tại N yếu bóng vía nên bị thần hồn nát thần tính thôi.

 Sau đó bác tài đạp xe lên cầu Tràng Tiền (hình chụp buổi tối thiếu ánh sáng nên không được đẹp lắm) rồi bác cho xe đi vào khu "phố Huế mới".

Bác tài gọi là khu "phố Huế mới" để phân biệt với khu "phố Huế cổ" trong Kinh thành. Bác nói tại khu phố Huế mới bây giờ mọi người dân đều cất nhà ra mặt tiền để làm phố buôn bán, hoặc kinh doanh quán ăn nên đèn điện sáng choang, du khách người mình và khách Tây du lịch đi lại đông đảo nhìn rất vui. Lại thêm có nhiều người thức thời họ bỏ tiền ra đầu tư mua đất, mua nhà củ đập đi để xây thành ra nhiều khách sạn cao tầng rất đẹp và rất hiện đại nên đã không còn nhận ra một thành phố Huế nho nhỏ cổ kính như xưa tại khu phố mới này nửa. Khu này dành riêng cho khách du lịch nên nhộn nhịp ồn ào tới tận đêm khuya.

Sau một tiếng đồng hồ ngồi trên Cyclo chạy quanh quẩn để xem Huế by Night thì N và MT quay về khách sạn, nghỉ ngơi cho sớm để lấy sức lên đường đi tiếp vào sáng mai.

Viết xong ngày August 20-2018 lúc 10:00 pm.

Bài kế tiếp: Trúc Lâm Bạch Mã và Huyền Không Sơn Thượng.

 

 ** Nam Mai **

 

 

Mùa Thu Đã Trở Về - Thái Tú Hạp

Mùa Thu Đã Trở Về  

Thái Tú Hạp

 

Music of Autumn - fall, autumn, music, nuts, leaves, sunflowers, flowers, paper, score

Trời Cali mấy hôm nay thời tiết đã biến chuyển đổi thay. Mới buổi sáng nắng rực rỡ trên hàng cây, buổi chiều đã có sương khoác kín lãng đãng trên lối về. Một chút gió heo may đã lành lạnh hắt hiu đủ cho lòng chúng ta chùng xuống với chiếc lá rơi nhẹ trên mặt hồ tĩnh lặng như gương.  Dẫu không nhìn thấy đâu đây “Một chiếc lá ngô đồng vừa rơi, mọi người đã nhìn thấy mùa thu trở về” (Ngô đồng nhất diệp lạc. Thiên hạ cọng tri thu). Chỉ thấy sương khói xây thành cũng đủ cho lòng nhau se sắt đón thu sang. Đã hơn hàng tỷ năm từ khi có sự hiện hữu trái đất này trong vũ trụ mênh mông, mùa thu đã ra đi và trở lại biết bao nhiêu tỉ lần theo chu kỳ tuần hoàn của tạo hóa. Mùa thu, cái thời tiết lãng mạn trữ tình của thiên nhiên đã trở thành đề tài tuyệt diệu vô tận trong kho tàng văn chương nghệ thuật của nhân loại. Nó đã tạo nên bao nhiêu thi hào, thi bá lỗi lạc Đông Tây kim cổ. Không có một nhà khảo cứu văn học thế giới nào, tổng hợp cho hết được những áng văn chương toàn bích ca ngợi mùa thu. Vì hầu như trong tất cả những thi sĩ của mỗi quốc gia khi mới bắt đầu yêu thơ và chọn con đường sáng tạo thi ca như một nghiệp dĩ cao quý, đều xác quyết không thể nào từ chối hấp lực tuyệt vời đầy xúc động nghệ thuật của mùa thu. Hàng ngàn năm trước, khi địa vị của dòng thơ Đường được đánh giá tuyệt đỉnh của nền văn học Trung Hoa, đã khai mở từ thời Sơ Đường dưới thời Vua Cao Tổ năm Vũ Đức Nguyên Niên đến thời kỳ Vãn Đường dưới thời vua Chiêu Tuyên Đế, kéo dài lịch sử Đường Thi lên đến cả ngàn năm.  Tuy nhiên những bài thơ ca ngợi mùa thu của Lý Bạch, Vương Duy, Lưu Vũ Tích, Giả Đảo, Thôi Hiệu, Vương Hàn, Đỗ Phủ… cho đến bây giờ chúng ta có dịp đọc lại vẫn cảm nhận cái thâm hậu, kỳ tuyệt cao khiết biết dường nào. Đêm thu, trăng lặn, quạ kêu, sương đầy trời, hàng phong bên sông, ngọn lửa thuyền chài hắt hiu, nửa khuya tiếng chuông chùa ngân nga làm rung động sóng nước, Trương Kế đã viết nên bài thơ để đời:

осеннее настроение
#краски #листья #музыка #настроение #натюрморт #осень #скрипка #футляр

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
(Phong Kiều Dạ Bạc)

Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
(Tản Đà)

Guitar Greeting Card featuring the photograph Guitar Autumn 1 by Mick Anderson

Một cảm tác về đêm trăng mùa thu bơi thuyền ở Hồ Động Đình của Lý Bạch:

Động Đình Hồ tây thu nguyệt huy
Tiêu, Tương giang Bắc tảo hồng phi
Túy khách mãn thuyền ca Bạch trữ
Bất tri sương lộ nhập thu y

Trăng thu soi sáng Động Đình
Tiêu, Tương một giải, chim hồng sớm bay
Đầy thuyền khách hát như say
Bẵng quên áo thấm sương đầy móc thu
(Chi Điền)

Hinh-Nen-May-Tinh-Ve-Phong-Canh_Mua-Thu-Dep

Những thi văn tài lỗi lạc của thế giới văn chương Tây Phương thường được nhắc nhở đến nhiều nhất là Charles Beaudelaire, Paul Verlaine, Anatole France… đã sáng tác nhiều thi phẩm ca ngợi mùa thu diễm tuyệt. Chính những trường phái thi ca lãng mạn, tượng trưng vào cuối thế kỷ 19 ở Pháp đã tạo nên những ảnh hưởng sâu đậm, đối với các thi sĩ Việt Nam như trường hợp của Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Huy Cận, Vũ Đình Liên… tạo thành văn học sử của trường phái thơ mới ở thời điểm tiền chiến.  Chúng ta hãy lắng nghe bài thơ tả cảnh thu của Huy Cận:

Nai cao gót lẫn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về
Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi, lá rụng cành nghe lạnh lùng
Sầu thu lên vút song song
Với cây hiu hắt, với lòng quạnh hiu

картинки музыка осень

Mùa thu đã thực sự vực dậy trong tiềm thức chúng ta những kỷ niệm êm đềm của một thời tuổi trẻ. Những con phố tịch liêu. Những tháp cổ rêu phong. Những am mây sầu thảm. Những tiền kiếp u trầm có nhau. Những tảng đá xanh trầm mặc. Những hàng cây tĩnh tâm khoác áo sương mù. Những ngọn đỉnh gió hú hoang tịch ngàn năm. Trong cuộc trường chinh ngôn ngữ hiện hữu với bao nhiêu thăng trầm theo mệnh số, chúng ta đã bao nhiêu lần gọi thu về đuổi nắng chói chang đi. Những buổi chiều thu đẫm ướt nỗi buồn vơ vẩn, cám dỗ ta bằng nỗi quạnh hiu, bằng những chiếc lá vàng rơi trên lối về lẻ loi như cánh hạc xa bầy:

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô
(Tiếng Thu – Lưu Trọng Lư)

Trong Thi Nhân Việt Nam xuất bản từ năm 1941, Hoài Thanh – Hoài Chân đã nhận định về nhà thơ Lưu Trọng Lư: “à Lưu Trọng Lư có những bài thơ cứ vương vấn trong trí tôi hằng tháng, lúc nào cũng như văng vẳng bên tai. Bởi vì thơ Lư nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hòa theo tiếng thổn thức của lòng ta…“

улыбка осени - Портрет - фотографии "Фотограф года"

Không phải chỉ có nước Trung Hoa cổ là một mùa thu bát ngát, ở xứ Việt Nam mùa thu vẫn tạo nên những cảnh trí thật mơ màng quyến rũ đấy chứ. Bằng chứng đối với văn nhân thi sĩ nước ta trong suốt cuộc hành trình phát huy văn hóa dân tộc, đề tài mùa thu vẫn ghi nhận vượt trội hơn những cảm hứng so với số lượng sáng tác những mùa khác trong năm. Với cảnh trời thu man mác thơ mộng, sương khói lãng đãng giăng khắp núi đồi, đã thoáng hiện não nề trong Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn Du, trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm, trong Bích Câu Kỳ Ngộ của Vô Danh Thị, … trong những bài Thu Ẩm, Thu Điếu của Tam Nguyên Yên Đỗ, trong thơ của thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chan chứa những nỗi niềm thu bi thiết:

Ngọn gió thu phong rụng lá vàng
Lá bay hàng xóm lá bay sang
Vàng bay mấy lá năm già nữa
Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng

Ngọn gió thu phong rụng lá hồng
Lá bay tường bắc lá sang đông
Vàng bay mấy lá năm hồ hết
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông
(Gió Thu)

mùa thu cho em

Xuân Diệu, một trong những nhân vật tiên phong của phái thơ mới, chống lại những khuôn mòn sáo cũ, câu nệ quá đáng vào niêm luật tù túng không tạo cho hồn và ý thơ bay bổng lên đỉnh cao của nghệ thuật.  Nếu nói đến thơ tình thì Xuân Diệu được công nhận trải qua thời gian vài thập niên ông vẫn giữ địa vị đặc thù trên thi đàn Việt Nam. Tuy nhiên, về cảm xúc sáng tác từ gợi ý mùa thu, Xuân Diệu cũng tạo nên những thành tích đáng kể qua những thi phẩm như: Nguyệt Cầm, Nhị Hồ, Ý Thu… và Đây Mùa Thu Tới:

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới – mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng

Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rửa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò…

Mây vẫn từng không, chim bay đi
Khí trời u uất hận chia ly
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì?…

 

Từ khi tuổi vừa chớm yêu đương, tôi đã có những nỗi buồn vu vơ khi tiết trời se sắt lạnh, lá bàng rơi trên lối đi về trong thành phố mái rêu phong cổ kính chứng tích của một thuở “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo.  Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương” (Bà Huyện Thanh Quan).

Trong thơ Chế Lan Viên, ông vẽ nên những cảnh điêu tàn, niềm luyến tiếc đến một thuở vàng son, oanh liệt ngày xưa. Ông có trí tưởng tượng phong phú, tuy nhiên, những chữ ông diễn tả giản dị, đơn sơ nhưng không đánh mất nét thơ mộng bất ngờ. Chúng ta hãy lắng nghe những lời than thở của tâm trạng não nề đón thu sang:

Chao ôi!  Thu đã tới rồi sao?
Thu trước vừa qua mới độ nào!
Mới độ nào đây, hoa rạn vỡ
Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao

Cũng mới độ nào trong gió lộng
Nến lau bừng sáng núi lau xanh
Bướm vàng, nhè nhẹ bay ngang bóng
Những khóm tre cao rũ trước mành

Thu đến đây! Chừ, mới nói răng?
Chừ đây, buồn giận biết bao ngăn?
Tìm cho những cánh hoa đang rụng
Tôi kiếm trong hoa chút sắc tàn!…
(Thu – Chế Lan Viên)

Qua đến câu chuyện tình thu buồn của T.T.KH với những tâm sự não nề ẩn chứa một cách xót xa cay đắng trong những bài thơ Hai Sắc Hoa Ty Gôn, Bài Thơ Thứ Nhất, Đan Áo Cho Chồng, Bài Thơ Cuối Cùng… đã hơn một thời gây nhiều xúc động trong giới văn học:

…Từ đấy, thu rồi, thu lại thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ…

…Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người

…Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi!  Người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai tựa máu hồng?

Ảnh đẹp hoa Tigon

Tất cả vật chất hiện hữu trong thế gian này sẽ hủy hoại qua thời gian. Chỉ có thế giới siêu tưởng mới là nơi chốn thi nhân hy vọng gởi gắm ít nhiều khổ đau miên viễn. Như trường hợp thi sĩ Đinh Hùng đã đào sâu trong huyệt mộ dĩ vãng, để tìm lại bóng hình yêu dấu của người tình muôn thuở:

…Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu
Thu ơi!  Đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu!

…Em mộng về đâu
Em mất về đâu
Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu
Đây màu hương khói là màu mắt xưa
(Gửi Người Dưới Mộ)

Bốn bề bát ngát buồn hiu hắt, những cành khô khẳng khiu in trên nền trời trắng đục chẳng khác nào bức tranh thủy mạc của thiên nhiên quá tuyệt vời, chỉ có mắt nhìn của nghệ sĩ mới khám phá ra từ ngàn năm tác phẩm vĩ đại đó. Chúng ta không ngạc nhiên đã thẩm thấu trong tâm hồn những nhà văn nhà thơ Thanh Tịnh, Thế Lữ, Hồ Dzếnh, Thâm Tâm… Và mãi cho đến thời kỳ hậu chiến, chúng ta khám phá càng nhiều hơn những tác phẩm lừng lẫy của thi đàn văn học miền Nam.

картинки музыка осень

Trong cái thế giới ngôn ngữ thi ca đầy mê hoặc của Bùi Giáng, ông đã tạo nên cái sắc thái hòa hợp đầy kỳ ảo thần tình của hai dòng văn học uyên bác Đông Tây trong những thi tập Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột, Đêm Ngắm Trăng… và hơn hàng ngàn bài thơ ông sáng tác gần nửa thế kỷ, ông như một biểu tượng thiên tài lỗi lạc của văn học hiện đại. Trong số lượng thơ mênh mông đó, mùa thu cũng đã khiêm nhượng xuất hiện bàng bạc trong tâm hồn thi sĩ:

…Phải là nguyệt giữa đêm rằm?
Nguyên Tiêu lãng đãng lá nằm ngẩn ngơ
Kể từ hằng thủy ban sơ?
Kể từ sơ thủy về tờ vẽ trang?

Kể từ thu tạ lên đàng?
Rừng phong thu đã quan san nhuộm màu?
Phải rằng đó trước kia sau?
Hay là sau trước còn tao ngộ gì?

Bước vào cái không khí đầy ảo giác mơ hồ, trữ tình của Nguyên Sa.  Thơ tình của ông đã thoát khỏi những băn khoăn, siêu hình. Tình yêu hiển lộng thánh hóa trong một phối cảnh thiên nhiên tuyệt vời của mùa thu kiều diễm:

Вдвоём любить! (Галина Соловьева) / Стихи.ру

Tôi đã gặp em từ bao giờ
Kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya
Kể từ gió thổi trong vừng tóc
Hay lúc thu về cánh nhạn kia?

Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay?

Có phải mùa thu sắp sửa về
Hay là gió lạnh lúc đêm khuya
Hay là em chọn sai màu áo
Để nắng thu vàng giữa lối đi?

Có phải rằng tôi chưa được quen
Làm sao buổi sáng đợi chờ em
Hay từng hơi thở là âm nhạc
Đàn xuống cung trầm, mắt nhớ thương

Buổi tối tôi ngồi nghe sao khuya
Đi về bằng những ngón chân thưa
Và nghe em ghé vào giấc mộng
Vành nón nghiêng buồn trong gió đưa

Tôi không biết rằng lạ hay quen
Chỉ biết em mang theo nghê thường
Cho nên cặp mắt mờ hư ảo
Cả bốn chân trời chỉ có em
(Tương Tư)

 Photo:

Trong sinh hoạt thi ca ở hải ngoại… Du Tử Lê, nhà thơ được công nhận như một thi sĩ hàng đầu viết về tình yêu hiện nay. Ông có sức sáng tạo phong phú, mỗi năm đều trình làng dăm ba tác phẩm thơ văn. Riêng trong thi tập “Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu”, Du Tử Lê xuất sắc với nhiều bài thơ ca ngợi mùa thu tình ái, ngôn ngữ mới lạ, phù thủy, lôi cuốn và mê hoặc. Chúng tôi yêu nhất “Bài Nhân Gian Tháng Tám” của ông:

Buổi chiều xám chỗ ngồi tôi tháng tám
Em dung nhan như một vết dao
Trong trí nhớ của một người khánh tận
Núi sông người thoáng chốc cũng hư hao

Em mười bảy bước chân vào tháng chạp
Hàng cây khô vai gọi lá hai hàng
Đâu sự thật cảnh đời tôi đã xế
Em đi qua, chỉ thức dậy điêu tàn

Đêm cao ốc bàn tay buồn, mắt lặng
Gió mưa đi tít tận trời nào
Môi tháng sáu bao dung hồn phiêu bạt
Em tin không? Tôi chết ngọt ngào

Em bước xuống cuộc đời tôi ảm đạm
Với bình minh, mười bảy vết son tươi
Kẻ khánh tận, cuối cùng soi trí nhớ
Trong bài thơ tháng bảy đã chia hai

Nếu em biết có lần tôi đã hỏi
Tôi đợi ai cuối cuộc chơi này?
Như tháng tám đi qua người sẽ khuất
Riêng vết son còn đỏ nẫu môi cười

Bài thơ nhỏ gói nỗi sầu vô hạn
Đường chim đi, nghìn dặm có ai tìm
Em không thể thì thôi đừng nắng, gió
Củi than riêng, tôi đốt một mình

Đêm tháng tám, chỗ ngồi tôi lửa cháy

 

 

 
Đến lúc tình yêu được quan niệm sâu xa hơn, vượt thoát ra khỏi những trăn trở khổ đau của định mệnh. Tình thương mới đích thực rộng lớn thăng hoa giữa con người với con người. Đó mới là giây phút hạnh phúc, sứ mệnh giác tha độ lượng của người nghệ sĩ, luôn luôn muốn đề cao cái đẹp vĩnh cửu của tâm hồn. 

Giữa cảnh trí tiêu điều mùa thu, một người ở tù nhiều năm trở về thăm lại làng xưa, nhà thơ Tô Thùy Yên đã giữ được tâm bình lặng …  Ông đã thẩm thấu triết lý sâu sắc của người phương Đông.

…Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

…Ta về như lá rụng về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu nầy

…Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta
(Ta Về – Tô Thùy Yên)

Photo:

Mang tâm trạng của kẻ tha hương lúc nào cũng nhớ về cố xứ thân yêu. Nhà thơ Tuệ Nga đã biểu hiện nỗi niềm nhớ nhung trong những thi phẩm xuất bản ở hải ngoại. Không ngô đồng mà cũng vọng tưởng như “ngô đồng lác đác” trong lòng khi trời hiu hắt thu sang:

Ngô đồng lác đác báo Thu sang
Vườn cũ hoa xưa có điểm vàng
Khói loạn bốn phương sầu ngút ngút
Gió cuồng tám hướng hận mang mang

Mực hoen lòng giấy tình ngăn lối
Bút đọng niềm thương lệ ố vàng?
Sương tuyết nhạt nhòa Trăng cổ độ
Nghe chiều thế sự sóng âm vang…
(Thu Sơ)

Photo:  

Hằng đêm chúng ta nhìn lên bầu trời lấp lánh hàng muôn triệu vì sao, đâu có biết những thiên hà xinh đẹp thơ mộng đó, xa cách chúng ta hàng chục tỉ năm ánh sáng, có nhiều thiên hà đã mất hút từ lâu, hôm nay chúng ta mới nhìn thấy ánh sáng. Những biến thiên của vũ trụ cũng chỉ là những hiện tượng sắc không, nên thời tiết mùa thu của mỗi năm thường thay đổi. Tuy nhiên, những tác phẩm ca ngợi mùa thu thì vĩnh cửu, vượt thời gian.

Cứ mỗi năm, khi bước chân trẻ thơ rộn rã trên đường đến lớp học hay reo vui với nhịp trống múa lân giữa muôn sắc màu lộng lẫy, của những chiếc lồng đèn thắp sáng mừng đón Tiết Trung Thu, theo truyền thống Dân Tộc, tâm hồn người tha hương cũng xao xuyến bâng khuâng, tưởng nhớ đến những chuỗi ngày thơ ấu trên quê hương Việt Nam thanh bình.

Con đường quen thuộc, buổi sáng đi qua, buổi chiều trở lại như nhịp đập buồn bã của trái tim người lữ khách già nơi nghìn dặm quê người. Giữa những hàng cây thay lá gần hai mươi năm qua ròng rã, miệt mài, thầm lặng. Cũng như sáng hôm nay, chính ta khám phá mùa thu đã hiên ngang trở về, thong thả, bình an theo mây trời hạ xuống nhân gian, từng bước lụa là êm ả đầy quyến rũ trữ tình. Lòng ta cũng rạo rực yêu với thu.  Nói thầm với thu sao mà dễ thương quá như thuở ban đầu tỏ tình với em hồn nhiên và trong sáng như hoa cỏ trong khu vườn dấu yêu, nơi một góc trời Đà Nẵng đầy thơ mộng. 

Nếu hiểu được thời gian và không gian là khoảnh khắc vô thường, thì ta đang ở Cali hay phương trời nào khác, mùa thu vẫn không bội phản từ trong tâm thức thủy chung với nỗi đau của đất trời nơi cố quận thân thương

 

ветка, листва, осень 

 Thái Tú Hạp

Kim Phượng st

 

зшар лист клена аним (419x411, 150Kb)

Nhạc sĩ Song Ngọc vĩnh biệt khán giả ái mộ

Nhạc sĩ Song Ngọc vĩnh biệt khán giả ái mộ

******

Image result for Nhạc sĩ Song Ngọc vĩnh biệt khán giả ái mộ !

 

Tác giả ‘Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân’ qua đời

Nhạc sĩ Song Ngọc, tác giả ca khúc “Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân,” một trong số những nhà soạn nhạc tiền bối của nền âm nhạc Việt Nam vừa qua đời vào lúc 9 giờ 30 tối Chủ Nhật, 14 Tháng Mười, 2018, tại thành phố Houston, Texas vì bạo bệnh.

Nhạc sĩ Nam Lộc là người báo tin cho Người Việt.

Nhạc sĩ Song Ngọc, sinh năm 1943 ở Long Xuyên, tên thật là Nguyễn Thương Ngọc, là một cựu sĩ quan thâm niên của Quân Đội VNCH.
Ông sáng tác rất sớm, rất đa dạng và phong phú. Tác phẩm của ông được đón nhận nồng nhiệt liên lục suốt sáu thập niên qua, từ khi ông còn rất trẻ, cho đến những ngày gần đây, thậm chí thời gian nằm trên giường bệnh ông vẫn tiếp tục soạn nhạc.

Ngoài bút hiệu Song Ngọc, ông còn lấy tên Hàn Sinh, Nguyên Hà, Hoàng Ngọc Anh, Anh Tuyến cho các sáng tác của mình.

Nhạc sĩ Nam Lộc cho rằng, “Âm nhạc gần gũi với Song Ngọc như thức ăn và hơi thở. Ông mê sáng tác và hoàn tất nhạc phẩm một cách dễ dàng, dù là một ca khúc nhỏ hay lớn.”

“Rất tiếc là sinh hoạt nghệ thuật của người Việt tại hải ngoại đã không tạo đủ môi trường để một nhân tài như ông có đất dụng võ theo đúng khả năng thiên phú của mình. Tuy nhiên dù ông đã ra đi, nhưng hơn 300 tác phẩm âm nhạc của ông qua từng giai đoạn lịch sử của đất nước mà ông để lại cho đời, sẽ mãi mãi là một kho tàng văn hóa vĩnh cửu cho các thế hệ sau được học hỏi, được nghiên cứu và thưởng thức,” nhạc sĩ Nam Lộc nhận xét.

Song Ngoc

Từ phải: Nhạc sĩ Song Ngọc, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Nam Lộc và Từ Công tàiPhụng.

(Hình: Nam Lộc cung cấp)

Những bài hát gắn liền với tên tuổi Song Ngọc, cũng là những nhạc phẩm làm nên tên tuổi của nhiều ca sĩ như: Một Chuyến Bay Đêm, Chúng Mình Ba Đứa, Giờ Tý Canh Ba, Hương Đồng Cỏ Nội, Người Đàn Bà 2000 Năm Trước, Hà Nội Ngày Tháng Cũ, Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân… chắc chắn sẽ nằm mãi trong tim của người yêu nhạc. (Nam Lộc, N.L)

*****************

 

 

Nhạc sĩ Song Ngọc (phải) và nhạc sĩ Hoài Linh (Hình fb Lê Hoàng Tuấn Kiệt)

 Song Ngọc Và Một Đời Sáng Tác

TÁC GIẢ và TÁC PHẨM
Nhạc sĩ: SONG NGỌC

Song Ngọc (tên thật Nguyễn Ngọc Thương) là một nhạc sĩ, ca sĩ người Mỹ gốc Việt. Ông nổi tiếng từ cuối thập niên 1960 tại Miền Nam Việt Nam với những ca khúc viết về tình yêu.

Sinh năm 1943 ở Long Xuyên, An Giang.
Là anh trai của ca sĩ Kiều Oanh
Viết nhạc từ năm 1957 với bài đầu tay Mưa chiều, nổi tiếng từ năm 1960 với bài Tiễn đưa phổ thơ Nguyên Sa, cho đến nay đã có trên 300 ca khúc.

Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông sang Hoa Kỳ, trở thành một thương nhân thành đạt, bên cạnh đó vẫn tiếp tục sáng tác.
Hiện nay ông đang định cư tại Houston Texas, Hoa Kỳ.
Song Ngọc là tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng trước năm 1975: Tiễn đưa, Xin gọi nhau là cố nhân, Chiều thương đô thị, Tình yêu như bóng mây, Mưa ướt, Giờ Tý canh ba, Tuổi mùa xuân..., và sau 1975 như: Đàn bà, Hà Nội ngày tháng cũ, Hương đồng gió nội...

Ngoài Song Ngọc, ông còn dùng các bút hiệu: Hàn Sinh, Nguyên Hà, Hoàng Ngọc Anh, Anh Tuyến

Năm 2004, Trung tâm Thúy Nga có thực hiện chương trình Paris By Night 75 vinh danh ông và hai nhạc sĩ Huỳnh Anh, Nguyễn Hiền.

Trước năm 1975, ông có thực hiện 5 cuốn băng nhạc mang tên ông.

Song Ngọc 1: Chuyện tình & kỷ niệm
Song Ngọc 2: Những ngày xưa yêu dấu
Song Ngọc 3: Hoa bướm ngày xưa
Song Ngọc 4: Tình yêu & xa cách
Song Ngọc Xuân 1974: Mùa xuân hạnh phúc

Những sáng tác tiêu biểu nhất: Mưa Chiều, Bừng Sáng, Tiễn Đưa, Chúng Mình Ba Đứa, Một Chuyến Bay Đêm, Họp Mặt Lần Cuối, Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân, Thư Cho Vợ Hiền, Nó Và Tôi, Chuyện Tình Bé Nhỏ, Tình Yêu Như Bóng Mây..v..v…
Hiện định cư tại Houston Texas.
Vào đầu năm 1960, một trong những bài hát rất thịnh hành vào thời đó, tới phòng trà, đại nhạc hội hay phụ diễn tân nhạc đều nghe:

Người về chiều nay hay đêm mai
Người sắp đi hay đã đi rồi
Muôn vì hành tinh rung rung
Lung linh trên thềm ga vắng…
Ngay cả những ban nhạc tài tử trong các phường chung quanh thành phố, các bạn trẻ cũng cất tiếng hát ca vang. Bài hát thật nhẹ nhàng thơ mộng, trải dài trong quần chúng như một cơn gió nhẹ nhưng vô cùng mãnh liệt.

Bài thơ thật hay của thi sĩ Nguyên Sa, được nhạc sĩ trẻ Song Ngọc (18 tuổi ) biến thành bài Hát, vừa tung ra đã được hoan nghênh chào đón, trong giới văn nghệ cũng như ngoài quần chúng thưởng ngoạn.
Tuy còn trẻ, nhưng trước đó Song Ngọc đã đặt một số bài nhạc cho các đài phát thanh. Năm 1959, Anh đánh trống trong ban nhạc Dân Nam, lúc đó thần đồng Kiều Oanh (em gái Song Ngọc) đương trình diễn trên sân khấu Dân Nam và rất nổi tiếng. (Một số Ca Sỹ, Nhạc Sỹ sinh năm 1942: Song Ngọc (Nguyễn Ngọc Thưởng), Lê Uyên Phương (Nguyễn Văn Lộc) Trần Thiện Thanh (Nhật Trường ), Sỹ Phú, Vô Thường…)

Nương theo đà thành công với bài hát Tiễn Đưa” thơ Nguyên Sa, nhạc Song Ngọc, anh tiếp tục viết thật nhiều trong giai đoạn này, trong khoảng 15 năm từ 1960 đến 1975, Song Ngọc đã sáng tác trên 150 bài hát, trong đó có những bài, đã được rất nhiều người ưa thích như Mưa Chiều, Chiều Thương Đô Thị, Bừng Sáng (do ban Hợp Ca Thăng Long trình bày). Chúng mình 3 đứa, Một Chuyến Bay Đêm, Thư Cho Vợ Hiền, Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân… v..v.. . Đặc biệt trong thời gian thụ huấn lớp sỹ quan cao cấp tại Đà Lạt, Song Ngọc đã có bài vô cùng thơ mộng về thành phố sương mù, một tình yêu nhẹ nhàng như sương khói, long lanh như nước trên hồ Xuân Hương, một trong những ca khúc viết về Đà Lạt thật hay, thật buồn, nhẹ nhàng và thắm thiết “Tình Như Bóng Mây”;

Rồi mai tôi sẽ xa Đà Lạt
Thành phố này xin trả lại cho Em…

Một số nhạc sỹ thường đặt nhạc cùng một tiết điệu, riêng Song Ngọc viết nhạc với nhiều tiết điệu, hoàn cảnh, tâm tình khác nhau. Anh tâm sự “Tôi ưa đi lang thanh như một nhạc sỹ giang hồ, mỗi lần có hoàn cảnh thường đi khắp đó đây, ngoài ra thì cũng đi nhiều nơi vì công tác. Nơi đâu cũng có vẻ đẹp riêng, nơi thôn quê bát ngát, trăng thanh dịu dàng, chốn đô thành thì nhộn nhịp, tưng bừng. Tới vùng chiến tranh thì súng đạn tơi bời, bao nhiêu đau khổ, người bạn vừa gặp nhau, chuyện chưa nói hết thì anh ta đã chết. Vì đời gian truân, lăn lộn, nên mỗi khúc nhạc đều mang riêng hình ảnh đặc biệt của nó”.

Qua Mỹ năm 1975, đời Song Ngọc cũng giống như trong tác phẩm của Anh, rất nhiều màu sắc, thật nhiều khuôn mặt. Khởi đầu Anh là chuyên viên địa ốc (vẫn giữ nghề và môn bài cho tới nay) đầu tư, làm Chủ hơn 10 tiệm “Chạp Phô Mỹ” rồi mở Chợ, Nhà Hàng, hiện nay làm chủ “Quán Trọ” BEAR CREEK INN với trên 100 phòng. Làm bầu “Show” ca nhạc, mỗi năm tổ chức trên 20 lần.

Buổi sáng gặp anh, rõ rệt là một nhà thương gia xuất sắc, tính toán. Khi mặt trời xế bóng, con người thương mại để lại trong văn phòng. Trở lại căn nhà rộng thênh thang, khi nắng chiều còn vương nhẹ trên những cành thông trước cửa, tay cầm cây đàn, với tâm hồn chính xác, thanh khiết nhất, những giòng nhạc ào ào tuôn ra.

Cho dù sau 20 năm miệt mài vì đời sống “bạo tàn, gay cấn” trên đất Mỹ, anh vẫn sáng tác trên 100 bài hát, có nhiều bài khi nghe thấy, nếu chưa được giới thiệu tên tác giả, thì không ai có thể nhận ra được người viết là Song Ngọc, vì mỗi bài đều có nhịp điệu, thể điệu, âm điệu khác hẳn nhau như: Đàn Bà, Người Đàn Bà Năm 2000, Hương Đồng Cỏ Nội (thơ của thi sỹ Nguyễn Bính), Tiền, Hà Nội Ngày Tháng Cũ…

Gặp anh vào sáng ngày 15 tháng 5 năm 2001, nhân tiện hỏi Anh về vài vấn đề trong tân nhạc Việt Nam.

Hỏi: Xin anh cho biết, phải mất bao thời gian để hoàn thành một bài Nhạc?

Song Ngọc: Không thể nào có thời gian quy định cho việc hoàn tất một bài Nhạc. Có nhiều khi ý nhạc và lời cuồn cuộn trong lòng, phải viết ra không là Chết. Sau đó mất chừng vài tuần liên tiếp, sửa chữa và hoàn thành. Có nhiều bài đã làm xong, không ưng ý, cất vào tủ, ít lâu sau, lại mang ra sửa tới, sửa lui, đôi khi hơn một năm sau mới hoàn tất.

Hỏi: Còn bên Việt Nam, chỉ trong một thời gian mà anh đã sáng tác trên 200 bài.

Song Ngọc: Bên Việt Nam, việc chính của tôi là viết Nhạc, khi vào quân đội, trông coi ban văn nghệ, có nhiều thời gian. Ngoài ra là vấn đề phổ biến. Khi một bản nhạc đã hoàn tất, nhờ một ca sĩ trình bày trên đài phát thanh hay thâu Tape, khi nghe lại bài hát của mình, tạo ra nhiều hứng thú, sáng tác dồi dào hơn. Bên Mỹ thì ban ngày phải “đi cày” lo kiếm sống, chỉ còn lại buổi chiều và ban đêm, viết xong 1 bản nhạc, phải gởi đi cho các Ca Sỹ, không có phương tiện phát thanh, thâu Tape cũng mất một thời gian, lâu lắm mới nghe lại tác phẩm của mình, nên cảm hứng thường gián đoạn.

Hỏi: Xin anh cho biết, sự khác biệt về Tân Nhạc Việt Nam, trước năm 1975 và bây giờ.

Song Ngọc: Trước năm 1975, giới Nhạc Sỹ cũng như người dân Việt Nam, sống trong hoàn cảnh chiến tranh, đều cùng nhau mang chung niềm âu lo trong đời sống cũng như xã hội. Những biến chuyển thời cuộc liên tục dồn dập tạo nên những cảm xúc liên quan đến con người và thân phận … Do vậy, phải nói đa số tác phẩm văn chương, âm nhạc, đều tạo nên bằng những rung cảm từ “Trái Tim”.
Sau 75, tức là ra nước ngoài. Tiêu biểu những sáng tác tại nước Mỹ, nhất là các nhạc sỹ
trẻ tuổi, thường hay thiếu vắng chất liệu “Quê Hương”, ngoài ra đời sống xứ người gò bó, thời gian chật hẹp. Người nhạc sỹ không đủ thời gian, nguồn cảm hứng quá nhiều chi phối, bởi đời sống áo cơm, do vậy sự rung động trong tác phẩm có phần lạc điệu. Tuy nhiên, bù lại thì “kỹ thuật” có phần cao hơn, vì đời sống văn minh hiện nay là Computer, máy móc tối tân, phương tiện trau dồi.
Tóm lại có thể nói giản dị như thế này: “Trước 75 “viết Nhạc bằng trái Tim”. Sau 75 “viết Nhạc bằng Kỹ Thuật”. Tuy nhiên dù bằng kỹ thuật hay trái tim, cũng tham dự dù nhiều hay ít vậy.
Riêng âm nhạc Việt Nam từ trong nước sau 75, tôi thích một số ca khúc ca ngợi tình tự quê hương, vì lẽ đó là chất liệu mà người nhạc sỹ tại quên nhà đang được thừa hưởng .

Hỏi: Anh cho biết sự giá trị của hai loại nhạc đó.

Song Ngọc: Nhạc nào cũng hay, riêng nhạc viết băng Trái Tim thì dễ đi vào trái tim người nghe hơn.

Hỏi: Anh cho biết về giá trị văn chương của nhạc tiền chiến và bây giờ.

Song Ngọc: Nhạc tiền chiến (trước năm 1945) cũng như nhạc bây giờ và mai sau, lúc nào cũng có những bài sau này được mọi người ghi nhớ, chắc chắn là phải hay. Về kỹ thuật, con người mỗi ngày một tiến, theo quy trình thời gian và sự sáng tạo của con người. Riêng trong địa hạt văn chương thì không theo quy định đó, thời gian nào thì tâm hồn cũng sáng tạo như nhau. Có một bài thơ đã được làm 600 năm nay, mà văn chương hùng tráng còn vang dội tới ngày nay và mãi mãi: Bài Bình Ngô Đại Cáo của đức Ông Nguyễn Trãi (1380-1442) đã sáng tác năm 1428 sau khi quân xâm lược Trung Hoa (nhà Minh) phải lên đường về nước. Cũng như áng văn chương tuyệt tác của cụ Nguyễn Du (chuyện Kiều) đã có từ hơn 200 năm nay, hiện giờ vẫn còn lung linh trong đời sống Việt Nam.

Để tạo ra một nét riêng, mỗi một người nghệ sĩ hay thường dành cho mình một nghệ danh. Thế nhưng, cũng có nhiều nhạc sĩ, với những lý do riêng, họ có rất nhiều bút danh/nghệ danh. Chính vì vậy, mà không ít người nghe đã ngạc nhiên khi biết tác giả của một tác phẩm nổi tiếng này cũng chính là tác giả của một tác phẩm nổi tiếng khác, với hai bút danh khác nhau.

Một trong những người đó, là nhạc sĩ Song Ngọc, hay được biết đến như nhạc sĩ Hàn Sinh của ‘Xin gọi nhau là cố nhân’, hay Hoàng Ngọc Ân của ‘Định mệnh’, cũng chính là Song Ngọc của ‘Tiễn đưa’, người đầu tiên phổ thơ của cố thi sĩ Nguyên Sa.

“Người về chiều nay hay đêm mai

Người sắp đi hay đã đi rồi

Muôn vì hành tinh rung rung

Lunh linh thềm ga vắng

Có một người bạn gửi cho tôi một bài thơ của Nguyên Sa. Tôi nhìn bài thơ đó, thấy hay quá, trong vòng một đêm, tôi phổ nhạc cho bài ‘Tiễn đưa’.
- Nhạc sĩ Song Ngọc

Hay rượu tàn rung trên môi…” (Tiễn đưa)

“Có một người bạn gửi cho tôi một bài thơ của Nguyên Sa. Tôi nhìn bài thơ đó, thấy hay quá, trong vòng một đêm, tôi phổ nhạc cho bài ‘Tiễn đưa’. Về sau, nếu tôi không lầm, có thể tôi là người đầu tiên phổ thơ Nguyên Sa năm đó.”

Năm đó, nhạc sĩ Song Ngọc 19 tuổi, và bài thơ của cố thi sĩ Nguyên Sa có tên là ‘Tiễn biệt’.

Một điều thú vị là khi ấy, cố thi sĩ Nguyên Sa và nhạc sĩ Song Ngọc có thể nói là ở hai thế hệ, một thầy, một trò, nhưng họ đã gặp nhau qua một tác phẩm, và cùng tạo ra một tác phẩm khác.

Đối với chàng nhạc sĩ Song Ngọc lúc bấy giờ, ca khúc ‘Tiễn đưa’ là sự khởi đầu, để sau đó, những bản nhạc trữ tình được tiếp nối ra đời, đánh dấu cho dòng nhạc Song Ngọc đa dạng, phong phú về giai điệu lẫn thể loại.

“Bản nhạc này với bản nhạc kia nó khác, vì tính của tôi nó… kỳ kỳ. Tôi không thích một chỗ, tôi thích cái gì nó lạ hơn. Có những bản nhạc như Xin gọi nhau cố nhân khác hẳn với Định mệnh…”

“Tôi trở về đây lúc đêm vừa lên

Giăng mắc trời mưa phố xưa buồn tênh…” (Xin gọi nhau là cố nhân)

Tuy khác nhau, và tuy là mỗi ca khúc ông dùng một bút danh khác nhau, thế nhưng tất cả những nhạc phẩm của Song Ngọc đều có một điểm chung, đó là mỗi một bản nhạc là một kỷ niệm của riêng ông. Mỗi lời ca, giai điệu đều có liên hệ đến những nơi ông đã đi qua, những người ông đã gặp trong cuộc đời mình. Tất cả những điều ấy ông gọi là “kỷ niệm của dĩ vãng”.

Một trong những kỷ niệm ấy là câu chuyện ông gửi vào ca khúc ‘Tình yêu như bóng mây’.

“Rồi mai tôi sẽ xa Đà Lạt
Thành phố này xin trả lại cho anh 
Ngàn thông buồn chiều nay im tiếng 
Ngôi giáo đường lặng đứng suy tư…” (Tình yêu như bóng mây)

Đà Lạt năm đó theo ký ức của Song Ngọc là vào năm 1971, 1972, khi ông đang thụ huấn khoá chiến tranh chính trị. Ca khúc ‘Tình yêu như bóng mây’ được ra đời tại thành phố sương mù, một thành phố mà ông nói rằng ông đã yêu và để lại một tình yêu không nhỏ.

“Khi đó tôi đi học và ở trọ nhà của thiếu tá, thi sĩ Tô Kiều Ngân. Tôi viết hai bài, ‘Tình yêu như bóng mây’, và ‘Chẳng làm sao’, phổ thơ của Phan Khôi. ‘Tình như bóng mây’ có những chi tiết là thật. Ví dụ như cái nhà thờ mà ‘tôi cuối đầu từ giã Đà lạt ơi’ là nhà thờ Con gà tại Đà Lạt. Bài này thật sự có nước mắt của Song Ngọc.”

Nhạc sĩ Song Ngọc.
Nhạc sĩ Song Ngọc. Youtube screenshot

 Đà Lạt từ ngàn xưa đã được gọi là thành phố mộng mơ, với thông reo, với sương giăng mờ những con dốc nhỏ. Nếu Đà Lạt trong ca khúc của Lê Uyên Phương là nơi bắt đầu cho những cuộc tình thì hình ảnh Đà Lạt trong ‘Tình yêu như bóng mây’ của Song Ngọc là nơi mà chỉ một ngày mai nữa thôi, sẽ là một cuộc chia xa.

Rồi cũng như bao thanh niên thế hệ thời ấy, nhạc sĩ Song Ngọc lên đường tòng quân, khoác lên mình chiếc áo trận. Và đó cũng là thời gian mà ông cho ra đời các ca khúc viết về đời lính, về nỗi nhớ của người trai xa đô thành, xa cố nhân, “vào đời manh áo chiến lúc tuổi còn xanh”

“Khi đi lính tôi 19 tuổi, thì anh Hoài Linh có viết thêm cho tôi lời của một bài nữa là ‘Chiều thương đô thị’ để tiễn Song Ngọc đi lính.”

“Hôm xưa tay nắm tay nhau... anh hỏi tôi rằng:

"Những gì trong đời... ta ghi sâu vào tâm tư

Không tan theo cùng hư vô

Không theo tháng năm phai mờ

Tình nào tha thiết anh ơi?"

Tình quê hương gợi sâu

Tình tôi anh bền lâu…” (Chiều thương đô thị)

“Năm đó khoảng chừng năm 1961, ngày đó trước ngày tôi đi lính. Thời gian đó cũng là thời gian chiến tranh, anh Hoài Linh đặt lời cho ‘Chúng mình ba đứa’. Sau đó tôi có viết một bài nữa là bài ‘Một chuyến bay đêm’.”

Dù là ở dòng nhạc trữ tình hay dòng nhạc lính, thì trong những sáng tác của Song Ngọc đều toát lên một nét đẹp vừa hào phóng, vừa lãng mạn. Hiện lên trong những ca khúc ấy, là hình ảnh của người nghệ sĩ lãng mạn mang khí chất oai hùng của một người lính. Ông đã bày tỏ hầu như trọn vẹn tinh thần của người trai đang ở lứa tuổi đẹp nhất đời người.

Người trai trả nợ tang bồng với núi sông bằng ước mơ bay cao, bay xa bên dãy Ngân Hà, xem chuyện đời nhẹ như những chuyến bay.

“Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền

Người trai đi viết câu chuyện Một Chuyến Bay Đêm

Cánh Bằng nhẹ mơn trên làn gió

Đời ngây thơ xưa lại nhớ, lúc mình còn thơ

Nhìn trời cao mà reo mà mơ ước như diều để níu áo Hằng Nga ngồi bên dãy Ngân Hà…” (Một chuyến bay đêm)

Cùng với những ưu tư của mình đã nhìn thấy và những hiện trạng bây giờ, tôi về viết bản nhạc đó, và gọi tên là Đàn bà.
- Nhạc sĩ Song Ngọc

Thế rồi, nợ tang bồng của Song Ngọc và của bao người trẻ thời đó gác lại sau một ngày cuối tháng Tư. Ông rời quê hương, xa hẳn những chuyến bay đêm và màu áo xanh. Lần từ giã này lâu và xa hơn rất nhiều so với ngày ông “cúi đầu từ giã Đà Lạt mơ”.

Nhưng có lẽ đã là nghệ sĩ, thì ở bất cứ hoàn cảnh nào, thời điểm, họ vẫn phải sáng tác. Tình yêu âm nhạc và sáng tác vẫn luôn đong đầy trong cuộc sống của nhạc sĩ Song Ngọc. Chỉ có rằng, theo thời gian và những xoay chuyển của cuộc sống, sáng tác của ông có thêm chỗ đứng cho sự mất mát và thất vọng. Cũng là xa cách, nhưng trong sự chia ly này giờ đây mang màu sắc của cô độc.

“Khi tôi qua Mỹ năm 75, khoảng thời gian năm 1983, 1984, người Việt Nam bên đây nam nhiều hơn nữ, nên những chuyện oan kiên trong tình yêu đầy dẫy. Tôi nhìn thấy nhiều chuyện mất hạnh phúc gia đình hoặc tan vỡ của các cặp tình nhân. Có lẽ những chuyện đó nó chạy vào tiềm thức của người sáng tác.”

Ca khúc ‘Đàn bà’ nổi tiếng ra đời từ câu chuyện đời của một người bạn của ông, với lời nói:

“Ảnh ngồi buồn và tâm sự với tôi, Song Ngọc à, làm cho tôi một bài không có đàn bà trong đời tôi. Cùng với những ưu tư của mình đã nhìn thấy và những hiện trạng bây giờ, tôi về viết bản nhạc đó, và gọi tên là Đàn bà.”

“Đã từ lâu tôi vẫn thường trong bóng đêm.

Mang nỗi buồn không biết tên.

Tôi đã thầm thề mây hẹn gió.

Tôi muốn lánh xa chuyện đời.

Tôi muốn quên đi loài người.

Tôi ước mơ trong cuộc đời không có đàn bà…” (Đàn bà)

Song Ngọc, người nhạc sĩ tự nhận rằng từ những năm 13 tuổi, ông đã đam mê những áng văn của Nhất Linh, Khái Hưng. Từ đó mà kỹ thuật dùng từ và âm hỏi, ngã trong nhạc phẩm của ông ảnh hưởng nhiều của Tự lực văn đoàn.

Và có lẽ cũng do sự ảnh hưởng ấy mà nhạc của ông vừa có giai điệu bay bổng, lãng mạn, vừa có ca từ đơn giản, không trưởng giả. Dù là ông viết về tình ca hay viết cho người lính, các ca khúc đều mang màu sắc riêng của một thời tuổi trẻ nhiều khát vọng.

***************

Lại thêm một nhạc sĩ tài hoa của miền Nam vừa ra đi.

Những tên tuổi đã góp phần xây dựng và phát triển nền âm nhạc tuyệt vời của Việt Nam Cộng Hòa cứ rơi rụng dần theo quy luật của Tạo Hóa, để lại bao nuối tiếc cho những người yêu nghệ thuật đích thực.

Nhac si 'Xin goi nhau la co nhan' qua doi o tuoi 75 hinh anh 1

Nhạc sĩ Song Ngọc đã sáng tác hàng trăm ca khúc và có những nhạc phẩm rất nổi tiếng, được đông đảo khán thính giả yêu thích:

- Định Mệnh 
- Tiễn Đưa 
- Đàn Bà 
- Em Còn Tuổi 15 
- Lính Thành Phố 
- Màu Tím Hoa Sim - thơ Hữu Loan 
- Một Ngày Tàn Chinh Chiến 
- Chiều Thương Đô Thị 
- Người Nữ Đồng Đội 
- Người Ra Vùng Hỏa Tuyến 
- Thư Cho Vợ Hiền 
- Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân

Viết chung với Vọng Châu:

- Nó Và Tôi

Viết chung với Hoài Linh:

- Chúng Mình Ba Đứa 
- Một Chuyến Bay Đêm 
- Phiên Khúc Một Chiều Mưa 
- Thiệp Hồng Anh Viết Tên Em

songngoc

Người yêu âm nhạc trước 1975 nói riêng, người miền Nam nói chung khi nghe những nhạc phẩm nêu trên sẽ luôn tưởng nhớ đến người con của vùng đất Long Xuyên, nhạc sĩ Song Ngọc.

Cầu chúc Ông an nghỉ nơi Vĩnh Hằng... (FB Quoc Gia Nguyen)

*****************

Đàn Bà... Đã Thôi Làm Con Tim Nhỏ Máu...

Tôi chắc một điều rằng: trong các cuộc vui Karaoke, mấy đấng mày râu sẽ có lúc gào lên trong vô thức:

"Ôi đàn bà là những niềm đau 
hay đàn bà là ngọc ngà trăng sao 
Ôi đàn bà lại là con dao làm tim nhỏ máu.

Ôi đàn bà dịu ngọt đêm qua 
Hay đàn bà lạnh lùng hôm nay 
Ôi đàn bà là vần thơ say 
Khúc nhạc chua cay."

Và hình như gào thế thôi, chứ ít ai để ý và biết rằng: tác giả của Đàn Bà là nhạc sĩ Song Ngọc, mặc dù tác phẩm này ông chỉ viết thay lời muốn nói cho người bạn của ông!

Riêng tôi, mặc dù nhạc sĩ Song Ngọc có khá nhiều ca khúc tiêu biểu, nổi tiếng trong khoảng hơn 300 ca khúc trong cuộc đời sáng tác của mình như: Chiều Thương Đô Thị, Chuyện Ngày Cuối Năm, Chuyện Tình Buồn Trăm Năm, Đàn Bà, Định Mệnh, Một Chuyến Bay Đêm, Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân... Nhưng "Một Chuyến Bay Đêm" (viết chung với Nhạc sĩ Hoài Linh) là thích hơn cả... Nghe Một chuyến Bay Đêm.... không chỉ những ai trong lực lượng Không Quân xưa mới có cảm xúc sâu lắng, mà chính những người yêu nhạc cũng không thể không hát theo:

Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền 
Người trai đi viết câu chuyện, một chuyến bay đêm 
Cánh bằng nhẹ mơn trên làn gió... 
Đời ngây thơ xưa lại nhớ lúc mình còn thơ.

Nhìn trời cao mà reo, mà mơ ước như diều 
Để níu áo Hằng Nga, ngồi bên dãy ngân hà. 
Giờ sống giữa lưng trời, 
Đôi khi nhớ chuyện đời mỉm cười thôi...

Đêm nay chuyến bay trời xanh như màu áo 
Đường Minh Đế nhàn du khắp tinh cầu, 
Chạnh thương hai đứa giờ gối súng nơi nào 
Lâu lắm chẳng gặp nhau. 
Bạn bè dù cách xa nào khuây, 
Tình nàng chưa nói nhưng mà say. 
Giai nhân hỡi khóe mắt em u hoài 
Theo tìm trong chuyến bay.

Có người hỏi phi công ước mơ gì? 
Người ơi nhân thế muôn màu nào biết mơ ước chi? 
Ước rằng từ khi tung nhịp cánh, 
Tình ta yêu thương là gió... nhân tình của mây. 
Ở đời ai hiểu ai, từng bay trắng đêm dài, 
Thì thức giữa đại dương, 
Dù yên giấc ven rừng, 
Bạn có biết chuyện này 
Tôi ghi lúc vũ trụ còn ngủ say."

songngoc1

... Và nay, người nhạc sĩ tài hoa Song Ngọc, người con của đất Long Xuyên - An Giang xưa... đã không còn "nhàn du khắp tinh cầu" vào hồi 9g 30 phút ngày 14/10/2018 tại Thành phố Houston, tiểu bang Texas - Hoa Kỳ, thọ 75 tuổi (FB Võ Khánh Tuyên)

Nam Mai st

Related image

 

 

Theo dõi RSS này