Kim Phượng

Kim Phượng

Diary Travel Xuyên Việt Trip # 13

Diary Travel Xuyên Việt Trip # 13

*** Nam Mai ***

Quảng Bình Quan - Động Thiên Đường (Quảng Bình) - Sông Bến Hải-Cầu Hiền Lương -Thánh Địa La Vang (Quảng Trị):

Chủ Nhật ngày 15 tháng 1 năm 2017

Trước khi kể tiếp chuyện, N xin được nhắc lại chuyện đã xảy ra trong HTXV #12 vừa qua, là sau 1 ngày trời mòn mỏi ngồi đợi chờ chuyến bay tại phi trường Nội Bài, Hà Nội từ lúc sáng sớm cho đến gần chiều tối.... cuối cùng thì 4 bà của Group 4 cũng leo lên được máy bay vào buổi chiều lúc 4:07 pm để bay đến Thành Phố Đồng Hới thuộc tỉnh Quảng Bình, và đã đến đây vào lúc trời chập choạng hoàng hôn.

Quảng Bình là một tỉnh duyên hải thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam. Quảng Bình nằm ở nơi hẹp nhất theo chiều Đông-Tây của dãy đất thân yêu hình chữ S của Việt Nam mình (50 km theo đường ngắn nhất tính từ biên giới Lào ra biển Đông).

Dãy đất Quảng Bình như một bức tranh hoành tráng, có rừng, có biển với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, thắng cảnh nổi tiếng như: đèo Ngang, đèo Lý Hoà, cửa biển Nhật Lệ, phá Hạc Hải, Cổng Trời… và với Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới vào năm 2003.

Quảng Bình không chỉ có những hang động đẹp nổi tiếng, Quảng Bình còn có những di tích lịch sử đã đi vào sử sách Việt Nam, mà Quảng Bình Quan là một minh chứng. Quảng Bình Quan là một kiến trúc thời Nguyễn, đầu tiên được đắp bằng đất vào năm 1631, là hệ thống thành lủy cổ được xây dựng để bảo vệ kinh đô cổ. Quảng Bình Quan được xây dựng năm 1639 từ thời Chúa Nguyễn. Năm 1825, vua Minh Mạng đã cho trùng tu Quảng Bình Quan và nâng cao thêm tầng tháp canh bằng loại gạch nung kiên cố. Quảng Bình Quan là một trong những thành lũy kiên cố, và trọng yếu hàng đầu của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Tối qua sau khi check in vào khách sạn, cậu Quang Tour Guide đã nhắc các cô rằng ngày mai phải dậy sớm, để lên đường thật sớm vì chương trình ngày thứ bảy (ngày trễ máy bay) sẽ phải dồn hết vào với chương trình ngày hôm nay (chủ nhật). Vì thế mới có 7:35 am, mọi người đã ngồi đâu vào đó cả trên xe để sẳn sàng lên đường rồi. Như thế có nghĩa là các cô phải dậy từ 4, 5 giờ sáng thu dọn hành lý, check out, chờ phòng ăn mở cửa là nhào vào ăn sáng một cách vội vàng đấy các bác. Và theo chương trình hôm nay thì tại Đồng Hới, chúng tôi chỉ có đủ giờ ghé thăm Quảng Bình Quan trước khi rời thành phố này để đến Vườn Quốc Gia Phong Nha-Kẻ Bàng xem Động Thiên Đường mà thôi.

Hình chụp tại bờ sông Nhật Lệ (phía trước Saigon Quảng Bình Hotel, nơi Group 4 đã ở lại tối qua)

Trên đường tới Quảng Bình Quan, chúng tôi có đi ngang qua chợ Đồng Hới để nhìn cho biết .....

Quảng Bình Quan (di tích cổ xưa từ 300 năm trước) được nhìn từ xa

Quảng Bình Quan (dân gian gọi là cổng Hạ) - một biểu tượng đặc trưng của thành phố Đồng Hới hiện nay - là công trình kiến trúc cổ, là một cổng áng ngữ trên đường thiên lý Bắc Nam, có từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh, là một trong ba cửa ải của hệ thống lũy thầy do Ngài Đào Duy Từ hiến kế và chỉ huy xây đắp vào năm 1631. Năm Minh Mạng thứ 6 (1825) công trình này được xây lại bằng gạch đá, năm 1961 cũng được tu sửa lại. Hiện nay, Quảng Bình Quan đã được phục chế lại như nguyên bản cách đây hơn ba thế kỷ. Du khách ra Bắc vào Nam, sẽ được chiêm ngưỡng Quảng Bình Quan, một di tích kiến trúc có giá trị lịch sử và nghệ thuật, biểu tượng đặc trưng về văn hóa của tỉnh Quảng Bình.

Sáng nay khi lên đường, trời cũng hơi lâm râm mưa, vì vậy chúng tôi chỉ ghé tại Quảng Bình Quan khoảng 10 phút để được tận mắt ngắm nhìn những di tích lịch sử từ hơn 300 năm trước của người xưa để lại, rồi chụp vài tấm hình làm kỷ niệm. Sau đó là lên đường tới Động Thiên Đường. Hang Thiên Đường là một động tại Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, cách Đồng Hới 60 km về phía tây bắc. Hang động này nằm trong khu rừng phục hồi sinh thái, thuộc vùng lõi núi đá vôi của vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.

Những hình ảnh chụp trên đường đi trước khi đến Động Thiên Đường

Có đi rồi mới thấy đất nước ta thật là vô cùng xinh đẹp, trù phú ..... giang sơn gấm vóc này do Ông Cha ta đã đổ máu để vun bồi, xây dựng từ ngàn năm nay ..... giờ này liệu con cháu có gìn giử được không đây ?????

Hang Thiên Đường được phát hiện năm 2005, Hiệp hội hang động Hoàng gia Anh bắt đầu khám phá từ năm 2005-2010. Vào năm 2010 họ công bố hang này có tổng chiều dài là 31,4 km, chiều rộng dao động từ 30 đến 100m, nơi rộng nhất lên đến 150m; chiều cao từ đáy động lên đến trần động khoảng 60-80m, được Hiệp hội hang động Hoàng gia Anh đánh giá là hang động khô dài nhất Châu Á, là một trong những hang động kỳ vĩ nhất mà Đoàn đã từng khảo sát nhiều hang động trên thế giới được nhìn thấy. Hang Thiên Đường là một động khô, không có sông ngầm chảy qua như động Phong Nha, theo đánh giá của Hiệp hội Nghiên cứu hang động Anh Quốc, hang động Thiên Đường còn to lớn và đẹp hơn cả động Phong Nha. Phần lớn nền đất trong động này là đất dẻo, khá bằng phẳng nên sẽ thuận tiện cho việc tham quan và thám hiểm. Nhiệt độ bên trong hang Thiên Đường luôn chênh lệch so với bên ngoài khoảng 16 °C. Động Thiên đường có cấu trúc kỳ vĩ, tráng lệ và huyền ảo, ngoài ra vẻ đẹp cực kỳ của những nhũ đá và măng đá trong hang khiến cho những người khám phá hang động liên tưởng về một thiên cung nơi trần thế, nên họ đã đặt tên hang này là Thiên Đường. So với Động Phong Nha thì thạch nhũ ở động Thiên Ðường có nhiều hình thù hơn, nhiệt độ trong hang luôn ở 20-21 độ C. Chỉ ngồi trước cửa động thôi cũng đã cảm nhận được từng luồng hơi mát từ dưới động thổi ngược lên, phả vào da thịt trong cái nắng 36-37 độ C ngoài trời.

Để dễ dàng cho du khách có thễ vào tham quan hang động này, Hang Thiên Đường đã được cho xây dựng đường đi nối vào cửa động, sau đó những bậc thang và đường đi vào bên trong hang động đã được xây với chiều dài khoảng 1,1 km và đã bắt đầu đón du khách vào xem từ ngày 3 tháng 9 năm 2010.

Khoảng 8:30 am, thì chúng tôi đến tới khu vực đón du khách vào thăm Động Thiên Đường. Sau khi Cậu Quang mua vé xong thì mọi người thay vì bị đi bộ (khoảng 1,6 km đường) thì chúng tôi được ngồi trên xe Golf, để xe này sẽ chở chúng tôi lên tới tận chân đồi.

Hà hà, đến tới chân đồi, sau khi xuống khỏi xe Golf, và để vào được bên trong Động thì .... bạn sẽ phải lựa chọn hoặc là leo 524 "bậc thang đá" hay là leo khoảng 570 mét "đường bằng" để lên được đến cửa Động! Suy nghĩ đến chuyện bắt hai cái đầu gối đã lỏng lẻo của mình "nhấp nhô" bước lên bước xuống 524 bậc thang đá ..... thì chắc là sẽ không qua khỏi con Trăng này, nên N đành chọn cách "chống gậy" để leo 570 mét đường bằng lên cửa Động vậy. Cũng may là thời tiết hôm đó cũng tốt, gió mát hây hây không nóng lắm nên leo mãi thì cũng phải lên tới nơi, chỉ có cái là mất sức lao động dữ quá!

Đường bằng được làm bằng xi măng phẳng phiêu nên cũng dễ đi, chỉ có cái là đường lên dốc, càng đi càng lên dốc (leo núi mà) nên ..... bá thở. Mới đầu còn mặc áo trong, áo ngoài, sau thì phải cởi dần vì càng leo thì mồ hôi chảy ra như tắm ...

Leo mãi rồi thì cũng tới thôi phải không các bác? Ở cái hình bên trên (hình N chụp 1 mình tại cửa xuống Động), các bác có nhìn thấy những bậc thang bằng gỗ để cho mình leo xuống Động không? Yep! Leo xuống sâu lắm, và rồi sẽ đi vòng qua, vòng lại, vòng tới, vòng lui .... để xem những nhũ đá hai bên cũng như cảnh vật bên trong động ..... nếu xem cho đến tận cuối cùng thì tính ra bạn sẽ phải đi bộ khoảng 1km (cho bận vô), sau đó bạn lại đi bộ thêm 1km nửa (cho bận trở ra). Tổng cộng là đi bộ 2 km để được xem hết mọi thứ trong Động. Cũng may là họ làm cầu thang và đường đi (bằng gỗ) rất bằng phẳng và an toàn lại có đèn chiếu sáng nên mình cũng yên tâm không sợ bị té ngã khi đi bộ trên 2km này. Họ còn cẩn thận làm lan can che chắn suốt dọc đường đi, chắc là để cho mình khỏi té nhưng N đoán cái chính là để bảo vệ những nhũ đá bên trong động không cho du khách sờ mó, vẽ bậy bạ hay là ký tên vớ vẩn lên trên nhũ đá khi chụp ảnh, hì hì hì .... N đoán như vậy là vì chính N thấy nó đẹp quá cũng muốn được đến gần sát những nhũ đá này để được sờ tay vào xem nó ra sao .... N thì sẽ rất tuân thủ luật quốc tế không dám vẽ bậy bạ lên đó, nhưng mình làm sao dám chắc rằng sẽ không có người làm chuyện này trong khi mỗi năm có đến cả trăm ngàn du khách đến viếng Động phải không các bác? Theo ý kiến riêng của N, được đi trên 2 km đường bằng phẳng an toàn như vầy thì có yên tâm thật, nhưng thay vì đi trên con đường bằng gỗ này giá như mà mình được tự do thơ thẫn trong Động với một quang cảnh thật là "tự nhiên" của nó thì sẽ rất là .... tuyệt vời. Là vì phong cảnh trong Động cực kỳ đẹp nhưng nó lại không còn có cái vẻ đẹp hoang sơ tự nhiên nửa một khi đã có bàn tay của con người nhúng vào nên ít nhiều thì cũng đã làm mất bớt đi vẻ đẹp tuyệt vời của cái hang động này. Lại kể thêm, rằng đã làm cẩn thận như vậy đấy, nhưng bên trong Động cứ cách 1 quảng thì lại có 1 nhân viên bảo vệ đứng canh chừng, du khách nào mà lơ mơ muốn trèo qua khỏi lan can hay làm gì khác lạ là vị bảo vệ này xuất hiện ngay lập tức đấy ạ.

Sau khi xem xong, bạn leo cầu thang trở lên ra tới cửa Động rồi .... muốn ra về lại phải leo xuống 520 bậc thang nửa thì mới xuống tới mặt đất, để từ đây mình sẽ lên xe Golf cho họ chở ra chỗ Entrance đầu tiên (chỗ mua vé). Chuyến khám phá hang động leo trèo cực khỗ, tốn sức lao động nhưng cũng rất đáng đồng tiền bát gạo. Nếu có cơ hội, các bạn nên ghé đến một lần cho biết nhé.

Bây giờ N sẽ post những hình chụp trong Động cho các bác xem. Hình trong Động N chụp rất nhiều, nhưng chỉ post được vài tấm thôi vì sợ bài dài quá.

Nhũ đá và những cảnh vật trong hang động nếu nhìn ở bên ngoài bằng mắt thật thì đẹp lắm các bác ạ, đẹp hơn trong hình N chụp nhiều lắm nên các bác chịu khó xem đỡ vậy nhé.

Mọi người vào thăm động bắt đầu từ lúc 9:30, mãi cho đến 12:20 trưa thì chúng tôi mới trở ra, lên xe rời khỏi khu vực Động Thiên Đường. Vì chương trình của cả 2 ngày bị dồn vào làm 1 cho nên chúng tôi ghé vào 1 quán ăn bên đường ăn vội vàng cho xong bữa trưa, sau đó đúng 1:37 pm thì lại vội vàng lên đường trực chỉ tới Vỹ Tuyến 17. Chúng tôi muốn đến đó để được tận mắt nhìn cây cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, một nơi đã trở thành địa danh quan trọng của đất nước, đây là hai "nhân chứng lịch sử" đã mang trên mình nỗi đau chia cắt đất nước trong suốt hơn 20 năm từ thế kỷ trước.

Theo lời Cậu Quang "báo cáo" cho mọi người thì lộ trình từ vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàng (tại Quảng Bình) đi tới Vỹ Tuyến 17 (tại Quảng Trị) chúng tôi sẽ đi trên con đường mòn HCM trước đây, sau đó sẽ rẽ vào 1 con đường tỉnh lộ nhỏ, để rồi sẽ tìm đường ra Quốc Lộ 1A thì mới đến được Vỹ Tuyến 17 là chỗ mà chúng tôi muốn đến. Trời, không biết cái chú Lý tài xế này không quen đường hay sao mà xe cứ rẽ ra rẽ vô hoài vào mấy cái con đường tỉnh lộ, rồi lại lộn trở vào đường mòn HCM mấy lần thế mà vẫn chưa tìm được đường ra Quốc Lộ 1A, thật là sốt ruột vì mưa đã lâu nên bây giờ trời cũng bắt đầu thấy tối rồi. Mãi gần đến 4:00 giờ chiều xe mới ra được QL 1A, Cậu Quang cho biết là xe chạy độ hơn 15km nửa thì sẽ đến Vỹ Tuyến 17. Cuối cùng, hơn 4:00 giờ chiều thì chúng tôi vào được đến Huyện Vĩnh Linh của tỉnh Quảng Trị.

Quảng Trị là tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam, nằm ở trung điểm trên hành trình từ Bắc vào Nam, được ví như điểm tỳ vai gánh hai đầu đất nước.

Cũng bình thường như bao mảnh đất khác ở khắp miền đất nước, song đến khi hai miền bị chia cắt trong cuộc chiến (1954 - 1975) thì dòng sông Bến Hải, cây cầu Hiền Lương và mảnh đất đôi bờ Hiền Lương trở nên nổi tiếng, vì sau Hiệp định Geneve (năm 1954), cầu Hiền Lương và sông Bến Hải đã trở thành giới tuyến tạm thời thuộc khu phi quân sự ở vỹ tuyến 17 chia cắt đôi nơi hai miền Nam Bắc.

Sông Bến Hải bắt nguồn từ núi Động Chân thuộc dãy Trường Sơn và chảy dọc theo vỹ tuyến 17 từ Tây sang Đông rồi đổ ra cửa biển Cửa Tùng. Sông dài gần 100 km, nơi rộng nhất khoảng 200 m, là ranh giới giữa hai huyện Vĩnh Linh (của miền Bắc) và Gio Linh (của miền Nam) của tỉnh Quảng Trị.

Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải ở km735 trên quốc lộ 1A. Cầu nối liền thôn Hiền Lương (thuộc xã Vĩnh Thành, Vĩnh Linh) ở bờ Bắc và thôn Xuân Hòa (thuộc xã Trung Hải, Gio Linh) ở bờ Nam. Cầu được dựng bằng gỗ năm 1928 với mục đích ban đầu dành cho người đi bộ. Sau nhiều lần sửa chữa, nâng cấp, năm 1952, Pháp cho xây dựng lại cầu Hiền Lương với trụ bằng bê tông cốt thép, dầm cầu bằng thép và mặt lát bằng gỗ thông.

Sau 1975, cầu Hiền Lương ngày càng xuống cấp nghiêm trọng nên vào năm 1996, một chiếc cầu mới dài 230 m, rộng 11,5 m (nằm cách cây cầu cũ 35 m về phía Tây) đã được cho xây thêm - cầu Hiền lương 2 - đây là chiếc cầu giao thông chính qua sông Bến Hải bây giờ. Hiện nay tại chân cầu HL cũ (cây cầu giai đoạn 1952-1967) đã được phục chế nguyên dạng, và chỉ dùng để làm điểm tham quan cho du khách mà thôi.

Tại địa điểm này, hiện nay được đặt tên là Cụm Di Tích Đôi Bờ Hiền Lương - Bến Hải. Cụm di tích tại đôi bờ Hiền Lương gồm có : cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, cột cờ Giới Tuyến ở bờ Bắc, nhà Liên Hợp, Đồn Công An Giới Tuyến, Giàn loa phóng thanh, Cụm tượng đài "Khát vọng thống nhất" ở bờ Nam và Nhà Bảo tàng Vỹ tuyến 17.

Khi đến gần cầu HL mới, xe của chúng tôi phải rẽ vào phía trái thì đến được cây cầu cũ. Hôm nay khi đến tới đây Trời mưa rất nặng hạt, tuy nhiên cũng có nhiều du khách đang đi lại trên cầu để chụp hình kỷ niệm. Chỉ có 4 bà chúng tôi là người Việt, số khách còn lại toàn là người nước ngoài.

Tại đây, N không muốn và cũng không có giờ để đi xem những di tích kia, nên khi xuống xe là N lập tức đi thẳng ngay ra cầu Hiền Lương để được đặt chân mình đi qua đi lại, đi tới đi lui trên cầu Hiền Lương rất nhiều lần, rồi đứng dựa mình vào thành cầu ngẩn ngơ ngắm nhìn giòng sông Bến Hải buồn bã lặng lẽ dần trôi dưới cơn mưa chiều. N đã chụp vài tấm hình kỷ niệm trên cây cầu và giòng sông này để đem về cho các con, các cháu trong nhà được nhìn thấy di tích lịch sử này. Trời mưa lắm nhưng N đã tha thẩn đi tới đi lui tại đây rất lâu để ngắm nhìn giòng sông với rất nhiều ý nghĩ trong đầu ..... mà trong lòng thì bâng khuâng và cảm thấy rất bồi hồi .....

Hình dưới đây N đã tìm thấy trên Internet, N post hai tấm hình này lên đây để các bác có thễ nhìn thấy rỏ một lúc cả 2 cây cầu. Cây cầu Hiền Lương 2 mới xây (năm 1996 bên phía tay trái) được dùng để qua lại trên sông Bến Hải hiện nay, còn phía xa là cây cầu củ (cây cầu giai đoạn 1952-1967)nay được xem là 1 di tích lịch sử chỉ dùng làm địa điểm du lịch cho du khách đến thăm thôi.

Xin các bạn nhìn cho kỷ cây cầu củ với những nhịp cầu nằm sâu dưới dòng nước của sông Bến Hải nha. Nơi đây chính là di tích lịch sử của cả nước nói chung, nhưng với N và của cả gia đình N nói riêng, thì nơi đây là một chứng tích và cũng là một nơi chốn kỷ niệm rất trân quý vì ..... chính nơi đây sáu mươi mốt năm về trước, dưới chân của những nhịp cầu này đã có một người .... Người từ là từ phương Bắc, đã qua giòng sông, sông dài .... tìm đến nơi này, một nhà thân ái .... ơi .... tình Bắc duyên Nam, là duyên .... tình chung muôn đời .... ta đấp xây! Vào năm ấy, người đó đã 23 tuổi mà N thì chỉ mới có ..... 8 tuổi! Người đó, vào một đêm đen không trăng không sao, đã từ bờ Bắc liều chết âm thầm bơi suốt một giòng sông, bơi ngay dưới chân 7 nhịp cầu này để qua mãi tận phía bờ Nam và đi tìm "một nửa" kia của mình đấy. Năm nay (2017), khi N đặt chân lên đến cây cầu này thì cũng đúng là năm mà chúng tôi sẽ Celebrate 50th Wedding Anniversary đấy các bác. Nói đùa với các bác cho oai một tị, chứ các bác cũng đã biết lý do vì sao mà người ta phải liều chết bơi sông vượt biển rồi, chứ cái lý do liều chết để đi tìm một con oắt con 8 tuổi chưa biết mặt mũi thì ..... làm gì có!

Bây giờ mình sẽ nói tiếp về chuyện cây cầu này nhé. Nhìn vào hình, các bác có thấy cây cầu Hiền Lương cũ được sơn 2 màu không? Màu vàng là phần của miền Nam VN, còn màu xanh là phần của miền Bắc VN đấy.

Vào trước năm 1975, trong sự mâu thuẫn chính trị giữa hai bên, cây cầu Hiền Lương và dòng sông Bến Hải đã bị cuốn vào những cuộc tranh chấp không ngừng vì đây là nơi giáp mặt của hai chính quyền đối lập. Cũng tại nơi đây, đã từng một thời diễn ra những cuộc chiến không tiếng súng, đó là những cuộc chiến "chọi màu sắc","chọi loa" và "chọi cờ" rất quyết liệt trong thời gian chiến tranh Việt Nam giữa chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (phía Nam) và chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (phía Bắc).

 "Cuộc chiến màu sắc"

Nhìn vào trong hình, mình sẽ thấy ở ngay đoạn giữa cầu có một vạch trắng rộng khoảng 1cm kẻ ngang, được dùng làm ranh giới chia ngang giửa 2 miền Nam Bắc. Thoạt đầu Nam Việt Nam chủ động sơn một nửa cầu phía Nam thành màu xanh, ngay lập tức Bắc Việt Nam liền sơn tiếp luôn cũng bằng màu xanh cho một nửa cầu còn lại. Thấy vậy, Nam Việt Nam liền chuyển sang sơn phía cầu của mình thành màu nâu, thì Bắc Việt Nam cũng sơn lại phía cầu của miền Bắc thành ra màu nâu .... đại khái là nếu Việt Nam Cộng hòa sơn màu gì, thì Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa cũng sơn lại phần cầu của mình cho giống với màu đó. Cứ như thế, cầu Hiền Lương luôn thay đổi màu sắc, hễ Nam Việt Nam sơn một màu khác đi để tạo ra hai màu đối lập thì ngay lập tức Bắc Việt Nam liền sơn lại cho giống nhau. Cuộc chiến màu sơn kéo dài mãi cho đến năm 1960 thì giữ nguyên 2 màu xanh-vàng, không thay đổi nửa. Hà hà hà .... đây là một hình thức "đấu tranh chính trị" chăng???? he he he .... cả hai bên cứ sơn tới sơn lui hoài chắc cũng thấm mệt rồi, nghe ra thì thấy cứ như là trẻ con chòng ghẹo nhau nhỉ!

Cầu Hiền Lương đã bị bom đánh sập vào năm 1967. Đến năm 2001, cầu được phục dựng lại, và trong suốt hơn 10 năm cầu chỉ được sơn đúng có một màu duy nhất. Nhưng vào năm 2014, tỉnh Quảng Trị đã phục hồi màu sơn cho cầu Hiền Lương trở lại thành ra 2 màu Xanh - Vàng như đã từng có trước đây. Cụ thể, một nửa phía Bắc cầu được sơn lại thành màu xanh, còn nửa phía Nam thì được sơn màu vàng. Mục đích sơn cầu trở lại ra hai mầu như trước nhằm nhắc nhớ ý nghĩa lịch sử về di tích của Cầu Hiền Lương và Sông Bến Hải trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam trước đây.

"Cuộc chiến âm thanh"

Những năm 1954-1964 là giai đoạn không còn tiếng súng ở đôi bờ giới tuyến, song cuộc chiến bằng tiếng nói đã diễn ra ở đây rất căng thẳng và quyết liệt giữa hai phe đối lập.

Lúc đầu, Bắc Việt Nam cho xây dựng một hệ thống loa phóng thanh được phân bố thành 5 cụm trong chiều dài 1.500m ở bờ Bắc, mỗi cụm gồm 24 loa có công suất 25W. Sau những ngày phát sóng đầu tiên, hệ thống loa phóng thanh này đã không thể nào át được các hệ thống loa của chính quyền Nam Việt Nam do Tây Đức và Úc cung cấp được phát ra với âm thanh lớn hơn.

Lập tức chính quyền Bắc Việt Nam liền trả đũa bằng cách tăng thêm 8 loa có công suất 50W và 1 loa có công suất 250W được viện trợ từ Liên Xô. Ngược lại chính quyền Nam Việt Nam liền được Mỹ viện trợ cho những loại loa tối tân hơn, vang xa đến hàng chục cây số. Vào đầu năm 1960, một giàn loa của Mỹ với công suất của mỗi loa lên tới hàng trăm oát được chuyển đến và đặt tại bờ Nam sông Bến Hải. Không chịu thua, chính quyền Bắc Việt Nam lập tức lắp đặt chiếc loa có công suất 500W với đường kính rộng đến 1,7m và bổ sung thêm 20 loa loại 50W, 4 loa loại 250W của Liên Xô tại chiến tuyến Bến Hải. Khi thuận gió, tiếng loa có thể truyền xa hơn 10km.

Để có đủ điện cho hệ thống loa có tổng công suất 7.000W này hoạt động, Bắc Việt Nam đã phải xây dựng một đường dây cao thế 6KVA dài gần 10km, kéo dài từ thôn Tiên An, Vĩnh Sơn đến thôn Tùng Luật, Vĩnh Giang. Ngoài ra, còn có một trạm cao tần đặt tại Liêm Công Phường cách cầu Hiền Lương 2,5km về phía bắc để tăng âm cho hệ thống loa.

Cuộc "đấu khẩu" giữa hai phía qua hệ thống loa là những lời tuyên truyền chính trị chỉ trích đối phương, thường là những tin không có lợi hoặc có thể trái ngược với thực trạng. Mỗi ngày buổi phát thanh kéo dài 14-15 tiếng đồng hồ, có khi phát vào lúc 1 - 2 giờ sáng, mở hết công suất để cho người dân cả hai bờ đều nghe thấy. Hm ..... Thế này thì chỉ có khỗ dân, N chắc chắn là về lâu về dài thì dân chúng của cả hai bờ đều bị bệnh mất ngủ và bị bệnh điếc tai các bác ạ.

Hình cái loa dưới đây N chụp được hôm ghé thăm Cầu HL. Họ vẫn còn chưng bày tại đây để làm di tích lịch sử đấy.

Hình này là N "chôm" trên Internet để cho các bác xem thấy rỏ ràng mấy cái loa trong thời gian đang có cuộc chiến "chọi loa" nó như thế nào. Hôm N đến đấy thì không còn nhìn thấy hệ thống loa nào khác ngoài cái loa N đã chụp bên trên.

Cuộc chiến "chọi cờ"

Theo quy định của hiệp định Genève, tất cả các đồn cảnh sát giới tuyến phải treo cờ hàng ngày. Treo cờ là chuyện bình thường, song "chọi cờ" mới là chuyện "quốc gia đại sự" đã từng xảy ra ở hai cột cờ ở hai đầu cầu Hiền Lương và kéo dài hàng chục năm. Lúc đầu, vào năm 1954 - 1956, chính quyền Bắc Việt Nam cho làm một cột cờ bằng cây phi lao cao 12m để treo một lá cờ có khổ 3,2m x 4,8m. Ở bờ Nam, thì Pháp cắm cờ tam tài lên nóc lô cốt Xuân Hoà ở bờ Nam cao 15m. Theo yêu cầu của nhân dân giới tuyến, cờ của chính quyền Bắc Việt Nam phải cao hơn cờ của chính quyền Nam Việt Nam nên những người lính của chính quyền Bắc Việt Nam đã vào rừng sâu để tìm cho bằng được một cây gỗ cao 18m, cao hơn cột cờ của Pháp 3m và treo một lá cờ bằng vải sa tanh rộng 24m. Ngay sau đó, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cho dựng một trụ cờ bằng xi măng cốt thép cao 30m tại bờ Nam. Trên đỉnh treo một lá cờ vàng ba sọc đỏ lớn của Việt Nam Cộng Hòa, có hệ thống đèn huỳnh quang nhấp nháy đủ màu. Thế là vào tháng 7 – 1957, tổng công ty lắp máy Việt Nam đã gia công một cột cờ bằng thép ống cao 34,5m tại Hà Nội rồi vận chuyển vào giới tuyến. Trên đỉnh cột cờ gắn một ngôi sao bằng đồng có đường kính 1,2m, 5 đỉnh ngôi sao gắn một chùm bóng điện loại 500W, kéo lá cờ rộng 108m2. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước sự kiện này liền xây tiếp cột cờ của họ cao lên thành 35m. Năm 1962, thêm một lần nữa, tổng công ty lắp máy Việt Nam gia công một cột cờ cao 38,6m rồi chuyển vào dựng ở Hiền Lương, kéo lên lá cờ đại 134m2, nặng 15kg, cách đỉnh 10m có một cabin để lính Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đứng treo và thu cờ. Cột cờ này được xem là cột cờ cao nhất giới tuyến. Hàng ngày, lính Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kéo cờ lên sớm hơn và hạ cờ xuống muộn hơn giờ quy định (6h30’ đến 18h30’) để cho những người đi làm sớm, về muộn cũng nhìn thấy được.

 Hình cái chân "cột cờ giới tuyến" hiện tại chỉ có ở bờ phía Bắc thì nó nhìn như thế này đây ạ.

Còn bên bờ phía Nam thì không còn thấy cái cột cờ giới tuyến trước kia đâu cả. Thay vào đó thì ở bờ Nam sông Bến Hải lại có xây một tượng đài được đặt tên là: "Khát vọng thống nhất non sông". Theo lời cậu Tour Guide Quang "thuyết trình" thì tượng đài này có ý nghĩa là "với hình dáng của một thiếu phụ ôm con đang đứng ở bờ Nam sông Bến Hải nhìn về phía Bắc là để tưởng nhớ những ngày tháng đau thương khi họ không thể vượt sông để gặp chồng,cha và người thân trong những năm tháng đất nước bị chia cắt đôi bờ".

Cụm tượng đài “Khát vọng thống nhất”(đặt tại xã Trung Hải, Gio Linh) được xây dựng trên diện tích 2.700m², gồm hai phần. Phần đế được ghép từ nhiều khối đá có kích cỡ khác nhau, được trang trí phù điêu. Phần tượng đài được làm bằng chất liệu đá xanh Thanh Hóa với bố cục: phía trước gồm 2 tượng bà mẹ (cao 7,70m) và em bé (cao 5,50m) đứng sát nhau, mô tả hình tượng người vợ và người con ở phía Nam. Phía sau là cụm tượng làm nền, mô tả hình ảnh những chiếc lá dừa nước.

Hình chụp tượng đài "Khát vọng thống nhất" nhìn từ xa.

Nhà bảo tàng Vỹ Tuyến 17 - phía trước có trưng bày 2 cái loa công suất 500W với đường kính rộng 1,7m (loa đã dùng trong "cuộc chiến âm thanh")

 Quanh quẩn tại cây cầu này cũng đã gần tiếng đồng hồ rồi, vả lại trời bắt đầu mưa nhiều hơn nên chúng tôi đành phải lên xe để tiếp tục đi nốt chương trình còn lại. Theo đúng chương trình thì đáng lẽ đoàn sẽ vào viếng thăm Cổ Thành Quảng Trị, sau đó vào thăm Thánh Địa La Vang. Tuy nhiên vì mưa suốt cả buổi chiều nên lúc này trời đã dần dần thấy tối nên chúng tôi đành phải quyết định bỏ qua Cổ Thành Quảng Trị để thẳng đường đến Thánh Địa La Vang thôi. Trên đường đi, xe có đi ngang qua 1 con sông và 1 cây cầu, được cậu Quang TG cho biết đây là sông Thạch Hãn và cầu Thạch Hãn. Cậu còn cho biết sau khi qua sông Thạch Hãn thì chúng ta sẽ bắt đầu đi vào một đoạn đường kéo dài khoảng 9km, đó chính là "Đại Lộ Kinh Hoàng" của Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khi xưa.

Hai hình dưới đây được lấy từ Internet để các bạn nhìn thấy và nhớ lại cảnh của Đại Lộ Kinh Hoàng cách đây 45 năm về trước.

Trên đoạn đường 9km của Đại Lộ Kinh Hoàng, dân chúng đã cố gắng chạy đi bằng bất cứ phương tiện gì để mong bảo toàn được mạng sống .... nhưng cuối cùng thì Họ cũng vẫn bị thiệt mạng vì pháo kích lẫn bom bay đạn lạc trên đoạn Quốc lộ 1 từ cầu Bến Đá tới cầu Trường Phước.

Bây giờ thú thật là khi đi ngang đây, nhìn nhà cửa và cảnh sinh hoạt của người dân sống hai bên đường trên 9km này hiện nay thì N thấy nó cũng êm ả bình thường như những đoạn đường khác mà mình đã đi qua, nhưng không biết sao tự nhiên sống lưng của N chợt lạnh toát và thấy lòng vô cùng buồn bã khi nhớ lại chuyện đã xảy ra trên 9km của con đường này cách đây 45 năm. Đoạn đường mang tên “Đại Lộ Kinh Hoàng” ngày nay không còn một tí gì là dấu vết của tội ác ngày xưa, cũng không còn xác chết, xác chết của gần 2000 con người vô tội, nơi mà Họ đã bị chết một cách tức tưởi, oan khiên và chắc chắn là cho đến nay họ vẫn còn u uất nơi bờ cao bụi rậm, không sao siêu thoát được. Nghĩ đến thật xót xa làm sao!

Đến đây N cũng xin được kể thêm về Cậu Quang Tour Guide của Group 4, cậu này và chú tài xế Lý sẽ là người hướng dẫn và đồng hành với 4 bà tại các thành phố miền Trung và miền Cao Nguyên trước khi group 4 kết thúc chuyến đi 26 ngày vào trước ngày Tết Nguyên Đán của Xuân Đinh Dậu 2017. Hai cậu này còn rất trẻ, Cậu Quang TG thì 27 tuổi, người ở Đà Nẳng, có 1 vợ và sẽ có con đầu lòng khoảng sau Tết vài ngày. Theo thông lệ thì khi TG đưa khách đi, bước lên xe việc (job) của cậu TG là phải thuyết trình đủ mọi chuyện, mọi thứ về những di tích lịch sử, địa danh, chuyện đã xảy ra tại các địa điểm đưa khách đến, kể luôn cả việc tìm hiểu các nhà hàng, hoặc món ăn đặc sản tại mỗi địa phương khi khách cần đến .... vv ..... và ....vv.... Cậu TG này sinh ra sau chiến tranh VN cho nên chắc chắn là cậu sẽ không hiểu và không biết một cách thật chính xác về chiến tranh VN hay những chuyện xảy ra trước 1975, hoặc là những di tích lịch sử tại các địa danh thuộc về miền Nam trước 1975 rồi. Tất cả những gì mà cậu biết để thuyết trình cho khách, theo như N nhận thấy thì hình như cậu đã được học, được nhồi nhét một cách rất là bài bản từ những trường lớp sau này ..... cho nên khi nghe những lời "thuyết trình" của cậu ấy ..... cả 4 bà đều cảm thấy thật là ..... chói tai và thấy muốn .... điếc con ráy luôn! Nhưng cả 4 bà đều vì .... lịch sự và cũng thấy tội nghiệp cho các thế hệ con em sinh ra sau này, đã không được hướng dẫn đúng đắn nên sự hiểu biết của họ không được chính xác và cũng chỉ có giới hạn mà thôi. Họ cũng vì miếng cơm manh áo, công ăn việc làm nên cũng phải làm cho đúng trách nhiệm và chu toàn cho đúng với cái job của họ, cho nên các bà có nghe thấy ..... trái với cái lỗ tai của mình khi nghe cậu "thuyết trình" thì cũng tảng lờ đi và không muốn có "comment" gì cả. Nhưng sau cùng, N chịu hết nổi, N phải bảo cậu " Các cô đều là người lớn gấp ba tuổi của cháu, sinh ra trước cháu rất lâu, con của các cô có thễ còn lớn gấp đôi tuổi của cháu .... vì vậy ba cái chuyện lịch sử của chiến tranh VN gì gì đó, chắc chắn là các cô biết rỏ, biết rành và biết đúng hơn cháu. Tuy rằng cháu có tốt nghiệp từ trường du lịch ra, học hỏi được nhiều, nhưng chưa chắc những cái cháu học đã là .... đúng! Vậy cho nên cháu cứ nghỉ ngơi cho khoẻ, khỏi cần nói ..... khi nào các cô muốn biết chuyện gì và hỏi thì chừng đó cháu hẳng nói. Nhiều phần trăm thì các cô chỉ hỏi chuyện đường đi và tiệm ăn tại mỗi tỉnh mình đến thôi cháu ạ". Sau khi giải quyết chuyện này xong thì mọi người đều vui vẻ cả làng, cậu TG khỏi cần tốn sức lao động khi phải động não tìm tòi chuyện nọ, chuyện kia để "phục vụ" khách, mà các cô cũng đỡ .... điếc tai và ..... đở bị nhức đầu vì cao máu các bác ạ.

Khoảng 5:15 pm thì xe vào đến Thánh Địa La Vang.

Nhà thờ La Vang ngày nay là một thánh địa và là nơi hành hương quan trọng của người Công giáo Việt Nam, nằm ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, thuộc Tổng Giáo phận Huế. Các tín hữu tin rằng, Đức Mẹ Maria hiển linh ở khu vực này vào năm 1798. Một nhà thờ đã được xây dựng gần ba cây đa, nơi họ tin là Đức Mẹ đã hiện ra và được Tòa Thánh tôn phong là Tiểu vương cung thánh đường La Vang từ năm 1961.

Lúc này trời cũng còn mưa dầm và đã chạng vạng hoàng hôn. N vào lễ và cầu xin với Đức Mẹ La Vang cho chuyến đi Xuyên Việt được bình yên, đi đến nơi về đến chốn và xin Đức Mẹ gìn giử cho chồng con và các cháu ở nhà được mọi sự an lành. Vì trời mưa và tối rồi nên chỉ kịp chụp được vài tấm ảnh kỷ niệm tại đây mà thôi.

Trong chiến cuộc Mùa Hè 1972, bom đạn đã làm sập đổ hoàn toàn Vương cung thánh đường, chỉ còn lại di tích tháp chuông loang lở.

Đây là hình chụp di tích tháp chuông loang lở sau Mùa Hè 1972, nhưng bên phía tay trái của hình các bạn sẽ nhìn thấy có ngôi thánh đường mới đang trong quá trình xây dựng

Đúng 5:45 pm thì mọi người ra xe rời Thánh Đường La Vang để lên đường về Huế. Từ đây về đến Huế vào khoảng độ 50km.

6:30 pm thì vào đến Huế, chúng tôi ghé hàng ăn Mẹ Me tại đường Võ thị Sáu để ăn các thứ bánh Huế thễ theo lời yêu cầu của số đông thành viên của group 4 gồm có: Mỹ Thiện (một bà rặc Huế), chị Tuyết Nhung (dân Huế chính cống nhưng ở Đà Lạt) và chị Thanh An (cũng dân Huế ngụ tại Đà Lạt). Cũng theo yêu cầu của 3 chị trên, sau khi ăn xong còn ghé quán Chè Hẽm tại đường Hùng Vương để mua chè ăn rồi mới chịu vào check in tại khách sạn Green Hotel Huế. Cho đến giờ này suy nghĩ lại thì N không thễ nào nhớ lại được hương vị của mấy cái thứ bánh Huế và Chè đã nói ở trên như thế nào cả, N chỉ nhớ tối hôm đó trước khi đi ngủ thì N bị ..... đói bụng không ngủ được, vì hình như các loại bánh nọ, bánh kia ấy ăn vào chẳng thấy .... ngon và no chút nào!

Mọi người check in vào Green Hotel Huế. Theo chương trình, cậu Quang hẹn sáng mai sẽ đến đón đi xem các thắng cảnh tại Huế vào lúc 8:00 sáng.

 Viết xong ngày August 6-2018 @ 10:00 pm

 

Bài kế tiếp: HUẾ - Thăm Đại Nội - Thăm Lăng Vua Minh Mạng

== Nam Mai ==

Nhớ Về Phong Trào Nhạc Trẻ Việt Nam Trước Năm 75

Nhớ về phong trào Nhạc Trẻ Việt Nam trước năm 1975

Các nhạc sĩ trong phong trào nhạc trẻ. Từ trái, Từ trái, Nam Lộc, Tùng Giang, Thanh Lan, Trường Kỳ, Kỳ Phát. (Hình: Kỳ Phát cung cấp)
Phong Trào Nhạc Trẻ Việt Nam ra đời và phát triển mạnh trong những thập niên 60-70, do các nhạc sĩ Jo Marcel, Trường Kỳ, Nam Lộc, Tùng Giang và Kỳ Phát sáng lập.
“Nhạc trẻ bắt nguồn từ nhạc Pháp, do các cô cậu học sinh trường Tây, con nhà giàu, mua các băng và đĩa nhạc đem từ Pháp về, du nhập vào Việt Nam. Lúc mới đầu, họ thành lập ban nhạc chỉ để vui chơi trong trường,” nhạc sĩ Kỳ Phát, chủ nhiệm bán nguyệt san Trẻ, nói với nhật báo Người Việt

Người khởi xướng nhạc trẻ đầu tiên là nhạc sĩ Trường Kỳ, và ông được biết đến như là một vua nhạc trẻ thời bấy giờ.

Blue Stars, ban nhạc nữ đầu tiên tại Việt Nam (1966). (Hình: Kỳ Phát cung cấp)

Trong khoảng thời gian từ năm 1964 đến 1974, nhạc sĩ Trường Kỳ tổ chức đại hội nhạc trẻ hàng năm tại trường khi còn theo học trường trung học Taberd ở Sài Gòn.

Những năm sau đó, đại hội nhạc trẻ còn được tổ chức ở rạp Thống Nhất, và tại rạp Quốc Thanh.

“Tôi từng sống trong thời kỳ mà khi ấy, thanh niên rất hoang mang về chiến tranh và trong cuộc sống. Giới trẻ không biết sống chết ngày nào. Họ say đắm và thả hồn vào dòng nhạc kích động để vơi đi những tâm trạng, buồn chán, và lo lắng,” ông Kỳ Phát tâm sự.

Sau cuộc chính biến Tháng 11, 1963, một đại hội nhạc trẻ lần đầu ra mắt ở rạp Đại Kim Đô, mừng ngày Cách Mạng 1 Tháng 11 thành công, quy tụ một số ban nhạc trẻ, như Falcons, Fanatiques, v.v…

Đặc biệt là có hai đại hội nhạc trẻ lớn được tổ chức tại Sài Gòn lúc bấy giờ.

Ban nhạc The Black Caps với nhạc sĩ Paolo Đào (giữa) (1964). (Hình: Kỳ Phát cung cấp)

“Thứ nhất là Đại Hội Nhạc Trẻ Hoa Lư được tổ chức năm 1971, với gần 20 ban nhạc quốc tế của Mỹ, Phi Luật Tân và Việt Nam, tại sân vận động Hoa Lư để giúp cô nhi, quả phụ của các chiến sĩ VNCH tham dự trận Hạ Lào, do Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và báo Diều Hâu, cùng hợp tác với nhóm nhạc trẻ. Ngòai ra, còn có thêm nhạc sĩ Phạm Duy cộng tác, và dưới sự chủ tọa của Đệ Nhất Phu Nhân Nguyễn Văn Thiệu,” ông Kỳ Phát nói.

Đến năm 1972, Đại Hội Nhạc Trẻ Thảo Cầm Viên được tổ chức quy mô, cũng với mục đích từ thiện.

Trước đó, ca sĩ Elvis Phương lập ban nhạc The Rocking Stars (1963). Trường trung học Taberd có ban nhạc Le Frere (1964).

Nhạc sĩ Kỳ Phát cho biết, sau đó, năm 1973, Phong Trào Nhạc Trẻ bắt đầu Việt hóa, có nghĩa là nhạc ngoại quốc có lời Việt, trong đó, việc chuyển ngữ do các nhạc sĩ Phạm Duy, Trường Kỳ, Nam Lộc, Kỳ Phát và Vũ Xuân Hồng đảm trách. Riêng nhạc sĩ Tùng Giang, là người soạn nhạc trẻ bằng tiếng Việt cùng ban nhạc Phượng Hoàng, gồm các nhạc sĩ Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang.

Nhạc sĩ Nam Lộc, người viết nhiều ca khúc ngoại quốc lời Việt trong những năm đó, cho rằng “nhạc trẻ, đơn giản là dành cho người trẻ.”

“Đã gọi là giới trẻ thì khi lớn lên, rất tự nhiên, họ thích gì thì họ làm đó. Họ không bị ảnh hưởng nhiều bên ngoài, nghĩa là dù đất nước bị chinh chiến, có chiến tranh nhưng không phải lúc nào họ cũng bị cô lập trong cái chinh chiến đó mà họ vẫn phát triển ý thích của họ,” nhạc sĩ Nam Lộc nhận xét.

Phong trào nhạc trẻ Việt hóa thịnh hành nhất trong giai đoạn 1973-75.

“Tất cả những sáng tác, và bản dịch nhạc ngoại quốc được nhà phát hành Hiện Đại mua để in thành tuyển tập nhạc mang tên ‘Tình Ca Nhạc Trẻ’,” nhạc sĩ Kỳ Phát nói.

CBC, ban nhạc Rock số 1 ở Việt Nam (1968). (Hình: Kỳ Phát cung cấp)

Ông Thành Nguyễn, chủ nhân nhà phát hành Hiện Đại, 78 tuổi, nay ở Westminster, xác nhận: “Thấy anh em nghệ sĩ khổ quá nên tôi mua in để giúp các anh em, đồng thời cũng để giúp quảng bá các bản nhạc ngoại quốc lời Việt hay phổ thơ Nguyên Sa. Nhất là khi quân đội Mỹ rút về nước, các nơi chơi nhạc, như câu lạc bộ Long Bình, không còn khách như xưa, đời sống nghệ sĩ trở nên chật vật hơn.”

Các ca khúc ngoại quốc lời Việt ra đời, như “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu,” “Chỉ Còn Là Giấc Mơ Qua” do nhạc sĩ Nam Lộc viết lời Việt, và các ca khúc nhạc trẻ khác của Lê Hựu Hà do nhóm Phượng Hoàng trình bày.

“Khi ấy có cả trăm ban nhạc trẻ, như Spot Lights, Shotgun của Ngọc Chánh, CBC, Black Stone, Blue Jets, Enterprises, The Hammer, The Dreamer (của con nhạc sĩ Phạm Duy), Peanuts Co., Crazy Dog, Blue Stars (ban nhạc nữ), Magic Stone…” nhạc sĩ Kỳ Phát kể một hơi.

Song song với sinh hoạt nhạc trẻ, còn có phim ảnh nhạc trẻ, như cuộn băng “Thế Giới Nhạc Trẻ” do nhạc sĩ Jo Marcel thực hiện; “Băng Nhạc Hồng” của nhạc sĩ Trường Kỳ; “Nhạc Trẻ” do Ngọc Chánh và Kỳ Phát thực hiện. Ngòai ra còn có băng nhạc trẻ của nhạc sĩ Tùng Giang và băng “Tình Ca Nhạc Trẻ” của Vũ Xuân Hùng và Nguyễn Duy Biên thực hiện.

“Khi nhiều lính Mỹ còn ở Việt Nam, đường Nguyễn Văn Thoại có nhiều bar mọc lên, tôi là ‘bầu show’ tìm ban nhạc cho họ hằng đêm. Năm 1969-70, anh Jo Marcel hết hợp đồng với vũ trường Queen Bee, đem ban nhạc đến vũ trường Ritz và trao lại cho Trường Kỳ phụ trách chương trình nhạc trẻ chiều Chủ Nhật,” nhạc sĩ Kỳ Phát nói.

“Khi ca sĩ Khánh Ly hợp tác với vũ trường Queen Bee để hát buổi tối thì ban ngày tôi thực hiện chương trình ‘Hippy Go Round’ nhạc trẻ hàng tuần,” ông nói thêm.

Khi qua Mỹ (1989), nhạc sĩ Kỳ Phát ôm mộng ra tờ bán nguyệt san Trẻ Magazine để tiếp tục tổ chức các buổi hội ngộ nhạc trẻ.

“Trong lần tổ chức đầu tiên để kỷ niệm năm thứ hai Trẻ Magazine và cũng để kỷ niệm 30 năm Nhạc trẻ Việt Nam vào ngày 12 tháng 11 năm 1998. Chương trình đã thu hút trên 600 khán giả yêu nhạc cùng hàng trăm nghệ sĩ nhạc trẻ tham dự,” nhạc sĩ Kỳ Phát nói.

“Sau lần tổ chức kỷ niệm 18 năm Trẻ Magazine và “Hội Ngộ 50 năm Nhạc Trẻ Xưa Và Nay,” được nhiều khán giả yêu cầu muốn có một chương trình hội ngộ nhạc trẻ nữa để anh chị em nghệ sĩ và khán giả cùng thời phong trào nhạc trẻ 60-70 có dịp gặp gỡ vui chơi tìm lại một chút kỷ niệm xa xưa… Chúng tôi sẽ tiếp tục một cuộc hội ngộ trong tương lai rất gần,” nhạc sĩ nói.

 

Linh Nguyễn/Người Việt

ông vua nhạc trẻ mội thời của Sài Gòn “Trường Kỳ”

Tùng Giang- Trường Kỳ- Nam Lộc

___________________________________
Chương 1 – Đôi dòng về ông
Trường Kỳ đã sớm mất tình mẫu tử. Ngay trong ngày ngấp nghé ba tháng tuổi, cuộc tình giữa cha mẹ đã đổ vở, Trường Kỳ được đưa về làng Đồng Nghĩa tỉnh Nam Định cho ông bà nội nuôi dưỡng. Sáu năm ấu thơ đi qua, thằng cháu đích tôn, chưa hề dám đuổi một con ruồi, sống trong tình thương yêu của bố, của ông bà nội thật ấm áp, tuyệt vời. Vườn rau, chái hiên, vuông sân, bờ ao, gốc đa… thay nhau rủ rê, dìu dắt cậu đi khắp thôn, khắp làng, đi dần đến những ước mơ chập chờn, chưa định hình trong đầu óc. Cứ thế mà anh lớn lên cho đến ngày được trở về Hà Nội, được đưa vào trường Puginier và ở đây cùng văn hoá Pháp cho đến lớp 11è, năm 1954, song song với các trò chơi sưu tầm tem thư, sưu tập truyện bằng hình mua từ hội quán Coeur Vaillant, Trường Kỳ chơi âm nhạc bằng cách mở radio nghe đều đặn các chương trình Tuyển Lựa Ca Sĩ của đài Phát Thanh Sài Gòn. Âm nhạc từ đó, từng bước đi vào cuộc sống Trường Kỳ. Anh đã được các ông chú, bà cô đưa vào phòng trà Anh Vũ, đến rạp Kim Chung và không bỏ sót những chương trình Đại Nhạc Hội.

Trường Kỳ sớm biết mê những tiếng đàn, tiếng trống của Khánh Băng, Phùng Trọng, ban nhạc The Blue Jean Boys… Cuối cùng, thời kỳ trực tiếp chạm tay vào âm nhạc cũng đến. Trường Kỳ theo học đàn accordéon từ nhạc sĩ Vũ Lung. Với cái đàn khá nặng trước lồng ngực hẹp của thân thể nhỏ con, nhưng Trường Kỳ đã cùng người bạn mới này, lần lượt đi qua các ca khúc Thoi Tơ, Dừng Bước Giang Hồ, Cumparsita, La Paloma, Come Back To Sorrren to, Blue Danube…

Những tên tuổi trong giới nghệ sĩ chưa hề gặp cũng cảm thấy gần gũi hơn, nào là Phạm Duy, Văn Phụng, La Hối, Nguyễn Hiền, Canh Thân, nào là Thái Thanh, Thái Hằng, Mộc Lan, Hà Thanh, Châu Hà, Kim Tước… Giữa giai đoạn chăm chỉ rèn luyện, Trường Kỳ bỗng tình cờ có cơ hội biểu diễn lần đầu tiên trong đời. Bục diễn của anh nằm trong sân trường Lạc Hồng. Khán giả của anh là vô số học sinh cấp tiểu học cùng đầy đủ mẹ cha của họ. Trường Kỳ đã trổ tài cùng với giọng ca Phương Lan, Quốc Thắng, Kim Chi… Cuộc biểu diễn được chính Trường Kỳ cho là non tay, nhưng phần thưởng anh nhận khá lớn, đó là sự quen biết giữa anh và thần đồng Phương Lan, sau mấy lời ngợi khen của cô ca sĩ tí hon này. (Phương Lan tên thật Võ Thị Nhi), từ một cậu bé nhút nhát, thường “cúi gầm mặt khi đối diện với người lạ” thằng “ Kỳ Đen ” rủ thằng “ Kỳ Lùn ” tiến đến những biệt danh “Vua Nhạc Trẻ”, “ Lãnh Tụ Hippy” không phải là những tình cờ ngẫu nhiên. Đó là cả một quá trình sinh hoạt văn nghệ với nhiều bộ môn, thơ, truyện, âm nhạc… rất phong phú của Trường Kỳ.

Ban nhạc Crazy Dogs

Nhưng âm nhạc, tài nghệ tổ chức, lẫn ký giả văn nghệ mới chính là những trọng điểm giúp cho cậu thanh niên không lớn con, không xấu trai này thành danh, Với bản tính hiền hòa, cởi mở, năng động, Trường Kỳ biết cách kết nối thành công những tài năng có chung một một chí hướng, một sự yêu mê nghệ thuật lại với nhau. Trong gần suốt hai thập niên 60, 70 anh cùng một số bạn trong giới nghệ sĩ như Jo Marcel, Tùng Giang, Nam Lộc, vv…đã đứng ra tổ chức thành công nhiều cuộc trình diễn ca nhạc qui mô tại những địa điểm rộng lớn ở thủ đô Sài Gòn. Bước khởi đầu vào sân chơi âm nhạc rộng lớn của Trường Kỳ và các bạn chính thức mở màn trong năm 1964. Thị dân SàiGòn, nhất là lớp trẻ của một thời tự do hẳn khó quên những : Đại Nhạc Hội Nhạc Trẻ Taberd liên tiếp từ năm 64 đến năm 1973 ( trừ năm 68 ),

Thanh Lan và Duy Quang (phải) - hai giọng ca hát nhạc ngoại lời Việt được yêu thích  /// Ảnh: T.L

Ngoài ra còn các chương trình nhạc trẻ hàng tuần “Hippies À Go Go” được tổ chức tại những vũ trường ỏ Sài Gòn từ năm 67 đến 71 như: Chez Jo Marcel, Queen Bee và Ritz”, gia tài ca khúc nhạc trẻ thời bấy giờ tại Việt Nam còn khá nghèo nàn so với sự ra đời thật náo nhiệt của những ban, nhóm chơi nhạc kích động như : ( danh xưng này được đổi thành Nhạc Trẻ do chính Trường Kỳ nêu ra và được dùng từ năm 1965) : Les Fanatiques, Les Vampires, The Teddy Bears, The Daltons, Les Faucons Noirs, Les Tridents, The Rockin’ Stars, The Black Caps, The Hard Stones, Les Penitents , The 46 , The Spotlights , Phượng Hoàng , The Strawberry Four, , The Apple Three , The CatsE2 Trio, The Hammers, The Dreamers, The Crazy Dogs, The Teen Sound , The Peanuts Company , The Enterprise , The New Flintsones Corporation , The Hard Stones , The Fighters, The Starling Show , The Blue Stars , The Free Ones , v / v… Vì lẽ này, Trường Kỳ liền xắn tay áo chuyển ca khúc ngoại quốc thành lời Việt, đồng thời cho phát hành những bộ sưu tậpTình Ca Nhạc Trẻ đánh số từ 1 đến 7 trong khoảng thời gian 1972-1973.

Ban nhạc Top Five

Những ca khúc Trường Kỳ viết lời Việt được in thành từng bản rời phát hành rộng rãi và thu thanh trên các băng nhạc Tình Hồng (thực hiện cùng Nam Lộc 1973), Tình Ca Nhạc Trẻ, Thế Giới Nhạc Trẻ (ca sĩ trình bày gồm: Elvis Phương, Duy Quang, Minh Xuân, Minh Phúc, Thanh Lan, Julie, Thanh Mai, Paolo…) Được đón nhB An nhiều nhất là các bản: Tình Yêu Trong Đời (Sealed With A Kiss), Rồi Mai Đây (Lo Mucho Te Quiero), Thú Yêu Thương (The Godfather), Khi Ta Hai Mươi (All I Have To Do Is Dream), Thương Nhớ Trong Mưa (The Rhythm Of The Rain), Mùa Tình Yêu (Le Temps De L’Amour), Mùa Đông Em Đi (I Started A Joke), Điện Thoại Tới Anh (Téléphone-moi)…

Kể từ Tình Ca Nhạc Trẻ 2, còn có thêm những nhạc phẩm được gọi là Việt Hóa của nhiều nhạc sĩ khác như : Phạm Duy, Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Nam Lộc, Tuấn Dũng, Trung Hành, Cao Giảng, vv…Ngoài ra anh còn viết lời cho một số sáng tác của Tùng Giang như : Biết Đến Thuở Nào, Cuộc Tình Xưa, Ta Hôn Nhau Trong Công Viên, vv…,danh tiếng của Trường Kỳ mỗi ngày một nổi, bởi cùng với âm nhạc, anh biết chen vào lãnh vực báo chí. Nghề làm ký giả, tưởng chỉ đóng vai trò ph=E 1 nhưng chính cái viết lách tùy hứng này đã giúp tên tuổi Trường Kỳ đứng vững đến hôm nay. Cũng như nhiều bạn trẻ sính văn nghệ, Trường Kỳ làm thơ và thành lập thi văn đoàn lấy tên Hội Hoa Cương. Không rõ anh chơi thơ được bao lâu. Bài Xuân Nhớ Em của anh đăng trên nhật báo Ngôn Luận, có thể nói lên được tuổi thọ của thi văn đoàn do anh lập.

Nghề thơ không thành công nhưng nghề viết phóng sự của Trường Kỳ sớm có đất dụng võ. Anh dùng tên Johnny Kỳ cho một số bài phóng sự âm nhạc của mình trên báo Kịch Ảnh từ năm 1964. Bài viết đương nhiên được ông chủ nhiệm Quốc Phong trả nhuận bút hẳn hoi. Về sau Trường Kỳ còn được mời viết ở tuần báo Màn Ảnh, rồi phụ trách trang nhạc trẻ trên nhật báo Sống của nhà văn Chu Tử. Phóng sự hoặc nhữngbài viết có liên quan đến âm nhạc của Trường Kỳ còn xuất hiện trên nhiều tuần báo, nhật báo tại thủ đô như Tinh Hoa, Chính Luận, Tiền Tuyến… Phóng sự ăn khách của Trường Kỳ lúc bấy giờ có tên “36 Kiểu Cua Đào” đi trên tạp chí Thứ Tư, trước sự phát triển mạnh mẽ của nhạc trẻ, những trang báo của người khác chủ trương có phần không đủ chỗ cho Trường Kỳ múa bút, nên anh đã bàn với một số bạn chí thân để khai sinh một vùng đất mới, chuyên đề về âm nhạc.

Báo của Trường Kỳ mang tên Nhạc Trẻ, khổ nhỏ như tạp chí, 100 trang, phát hành 300 số. Báo có tòa soạn hẳn hoi trên đường Trương Công Định. Nhưng rất tiếc, tiền rửa hình, tiền đánh máy, tiền đóng gáy, dán bìa… chỉ cho phép Nhạc Trẻ trình diện một lần duy nhất. Trong nghiệp viết của Trường Kỳ, ngoài phóng sự anh còn viết tiểu thuyết. Cuốn Tuổi Choai Choai của anh được Jo Marcel và chính anh cùng Nam Lộc góp tay thực hiện thành phim Vết Chân Hoang, một phim màu scope khá thành công. Trước phim này, Trường Kỳ và Jo Marcel cũng thực hiện được phim Thế Giới Nhạc Trẻ.

Đời sinh hoạt nghệ thuật của Trường Kỳ quả thật sôi động, phong phú, nhờ đó anh tiếp xúc, quen biết với nhiều nhân vật trong nhiều lãnh vực văn học, nghệ thuật, quân sự, chính trị như Mai Thảo, Duyên Anh, Chu Tử, Phạm Duy, Viên Linh, Lê Hoàng Hoa, Phạm Huấn, Đỗ Kiến Nhiễu, Nguyễn Cao Kỳ.. Nhưng tuyệt vời nhất, đây là cơ hội ngàn vàng tạo cho gia tài tình nhân của anh trở nên vô cùng giàu có. Khởi từ tuổi mười ba, Trường Kỳ đã biết cái thú của nhà thơ Nguyễn Bính dù không có hàng dậu mùng tơi nào nơi anh cư ngụ.

Anh cũng sớm nhận ra mùi hương của một thịt da, được cấu tạo có chút khác biệt với phái nam, khi anh được một cô giáo ôm tiễn chân sang trường khác. Tình yêu nằm trong khoảnh khắc dậy thì thật là tuyệt vời. Trường Kỳ đã ghi lại giúp chúng ta những náo nức, rạo rực một thời, rất tinh tế, thành thật, trước năm 1975, Trường Kỳ ngoài việc phát hành nhạc bản, tuyển tập nhạc trẻ, anh còn cho in các tập phóng sự: Mặt Trái Của Nữ Sinh Sài Gòn (1968), 36 Kiểu Cua Đào (1969), Tuổi Choai Choai (phóng sự tiểu thuyết, 1971).Chỉ cần đọc tên sách, chúng ta đã có thể biết nhBng cuốn sách của Trường Kỳ rất ăn khách. Anh đánh hơi thật rõ thị hiếu của lớp trẻ thành phố, đánh những phát trúng ngay mục tiêu. Tuổi nữ sinh là thời kỳ tinh hoa nhất của mọi người thiếu nữ, ở đó còn đủ e lệ, thẹn thùng, còn đủ những ngây thơ dễ thương và cũng có cả những ranh mãnh lẫn những táo bạo khi bắt đầu biết nhớ nhung biết yêu thương, Đó là lúc mọi người thiếu nữ đều xinh đẹp, lộng lẫy.

Năm 2002 tại hải ngoại, Trường Kỳ cho xuất bản tập bút ký ưng ý nhất của anh, cuốn Một Thời Nhạc Trẻ. Sách dày 384 trang bìa mầu được trình bày bởi Lê Phan Lân, một giọng ca tài tử rất được mến mộ tại Montréal. Một Thời Nhạc Trẻ được chia làm 4 chương. Mỗi chương mang m9t tên riêng. Chương 1: Một Thuở Ham Vui. Chương hai: Một Thời Nhạc Trẻ. Chương ba: Những Ngày Tháng Hippy. Chương kết: Một Chốn Bồng Lai.

Danh từ Nhạc Trẻ cũng do chính Trường Kỳ đề nghị đưa ra dùng thay cho tên gọi Nhạc Kích Động, hơi gần với bạo động. Nhạc Trẻ đem lại không khí tươi vui, hoạt náo, năng động. Nhưng với mắt nhìn của xã hội, nhất là trong giai đoạn có máu thịt đổ ra, tan nát từng giây phút tại các mặt trận không xa Sài Gòn bao nhiêu, không thể không có những phê phán. Phong trào nhạc trẻ Sài Gòn, theo tôi , là một hình thức phản chiến cao cấp nhất và đã có kết quả khả quan. Cũng là thủ đô trong thời chiến, nhưng Hà Nội khác hẳn. Cái hơn của miền Nam là tự do. Nhưng những bước chân quá đà của những người thụ hưởng tự do nhiều khi rất tai hại, và tai hại đã xảy ra thật.

 

Sự thất thủ của Sài Gòn một phần do giới lãnh đạo, nhưng quần chúng không thể hoàn toàn phủ nhận sự góp tay gián tiếp của mình. Trường Kỳ một thanh niên yêu âm nhạc, yêu tự do và đương nhiên rất cần thiết hòa bình, anh theo đuổi, thực hiện tận tình nguyện vọng, sở thích của anh đó là một ưu điểm. Nhưng không thể hoàn toàn biện minh cho anh trước những nghi ngờ. chỉ trích của một số nhân vật chính quyền lẫn báo giới. Trong Một Thời Nhạc Trẻ, Trường Kỳ đã nhắc lại đủ những điều này, thật đáng quí. Cũng phải cảm ơn Trường Kỳ cho chúng ta biết tường tận những khởi đầu của những tên tuổi trong làng nhạc Việt Nam, khởi đi từ thập niên 60, 70 như Thanh Lan, Trung Hành, Duy Quang, Ngọc Bích, Tuấn Ngọc, Đức Huy, Nam Lộc, Tùng Giang .v.v…

Ông vua nhạc trẻ “Trường Kỳ” đã vĩnh viễn ra đi lúc 1 giờ trưa ngày 22 tháng 3 năm 2009 tại thành phố Toronto, Canada. Ký giả Kỳ Phát nhận được tin đầu tiên và kế đó là tôi từ ca sĩ Quốc Anh đang đi lưu diễn tại Canada, Kỳ Phát, và Nam Lộc đều bàng hoàng khi nghe tin. Tôi liền gọi điện thoại về Việt Nam cho anh Tiến Chỉnh (tay bass guitar của ban nhạc Strawberry Four, cũng là người bạn rất thân với Trường Kỳ để nhắn giùm chị Huyền là hiền thê của anh trở về Canada gấp, để lo công việc). Tôi vẫn còn bàng hoàng và thương tiếc người anh thân yêu của tôi mà đã bao lần cùng anh dấn thân vào con đường viết lách, và say mê âm nhạc đến tột độ.
_________________________________

50 năm phong trào nhạc trẻ – Cát Linh
Chương 2 – Phong Trào Hippie nhạc phản chiến theo mô hình Woodstock 1969 và Đại hội nhạc trẻ Hoa Lư & Trường Lasan Taberd.

Vào những năm cuối thập niên 60’s khi văn hóa và nhạc trẻ của Pháp dần lùi về quá khứ thì lúc này đang nổi lên phong trào Hippy của những người Mỹ (Hoa Kỳ) ,khi mô hình này đang dần hòa nhập với thế giới và đương nhiên lúc này đã lan tới giới trẻ Sài Gòn rất nhanh, chắc quý vị đều biết trước biến cố tháng 4/1975, nhạc nhẹ nói chung và nhạc rock nói riêng gần như chỉ có ở duy nhứt ở Miền Nam, kể từ sau ngày 30/04/1975, làn sóng nhạc nhẹ tràn ra miền Bắc và dấy nên một trào lưu nhạc nhẹ rộng khắp, thu hút đông đảo thanh niên vốn trước đó chỉ tiếp xúc với những ban nhạc theo kiểu thính phòng hoặc các ban “nhạc nhẹ” đánh theo tổng phổ, năm 1954, dù người Pháp rút khỏi Việt Nam, nhạc Pháp vẫn còn hằn sâu trong sinh hoạt âm nhạc xã hội, nhưng khi người Mỹ đổ quân đến miền Nam thì nhạc Pháp cũng lùi dần nhường bước cho làn sóng văn hóa Mỹ, cuối thập niên 1950 – đầu thập niên 1960 là của nhạc Pháp còn từ năm 1967 trở lên có thể nói nhạc trẻ Sài Gòn đã hình thành, nhưng nó thật sự gây được ấn tượng mạnh mẽ với công chúng trẻ là từ năm 1963 với phong trào lập dị nhưng rất ấn tượng thời đó là “HIPPY”

Cũng từ cái mốc năm 1963 cho đến trước ngày 30/4/1975, Sài Gòn nhộn nhịp với những đại nhạc hội. Đại nhạc hội thời ấy có hai loại: đại nhạc hội dành cho giới bình dân, biểu diễn tại rạp Quốc Thanh và rạp Hưng Đạo vào mỗi buổi sáng Chủ nhật với sự tham gia của các ca sĩ nổi tiếng thời đó như: Chế Linh, Duy Khánh… Hát nhạc kích động “bình dân” tiêu biểu có Hùng Cường – Mai Lệ Huyền, Khánh Băng – Phùng Trọng với những bản nhạc twist, agogo như Một trăm phần trăm, Gặp nhau trên phố… mà những ban nhạc rock “tinh tuyền” gọi là rock “dởm”. Ngoài ra, có một đại nhạc hội khác gọi là đại nhạc hội kích động nhạc, tiền thân của nó là những ban nhạc học sinh của trường Taberd (nay là trường Trần Đại Nghĩa – 20 Lý Tự Trọng, quận 1). Đại nhạc hội kích động thường được tổ chức tại trường Taberd, Thảo cầm viên hoặc sân vận động Hoa Lư. Đây là nơi trình diễn của những ban nhạc trẻ không hát những loại nhạc “bình dân” và trong đó có những ban nhạc rock thực thụ, giai đoạn đầu các ban nhạc trẻ nói chung chủ yếu là hát nhạc ngoại quốc bằng tiếng Anh hoặc Pháp, các ban nhạc rock thì cover lại những bản nhạc chủ yếu của Anh, Mỹ.

UserPostedImage

Thời gian cuối thập niên 1960 và nhất là vào đầu thập niên 1970, nhạc trẻ Sài Gòn có một sự chuyển biến đáng chú ý: đó là trào lưu “Việt hóa” các ca khúc Âu – Mỹ. Mở đầu cho trào lưu này có thể nói đến nhạc sĩ Vũ Xuân Hùng, anh đã chuyển soạn lời Việt cho các ca khúc được nhiều người yêu mến như: Búp bê không tình yêu (Poupée De Cire, Poupée De Son), Gõ cửa 3 tiếng (Knock Three Times), Chuyện Phim Buồn (Sad Movies), Lãng du (L’Avventura), Anh thì không (Toi Jamais) v.v… Sau đó nhiều ban nhạc, nhiều nhạc sĩ khác cũng đã soạn lời Việt cho nhiều ca khúc ngoại quốc khác, trong đó có cả nhà báo Trường Kỳ…,nhưng trong trào lưu “Việt hóa” có lẽ điều đáng chú ý nhất là các nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang và Lê Hựu Hà, với ban nhạc Phượng Hoàng, đã đi một bước xa hơn là sáng tác những ca khúc nhạc trẻ Việt Nam đầu tiên với những bài hát đi vào lòng người như Hãy ngước mặt nhìn đời, Tôi muốn… đặt nền móng đầu tiên cho những ca khúc nhạc trẻ Sài Gòn, về các ban nhạc trẻ, một trong những ban nhạc gây ấn tượng nhất đó là Strawberry Four gồm Tuấn Ngọc (guitar), Đức Huy (guitar), Tiến Chỉnh (bass, trước đó là Billy Chane), Tùng Giang (trống). Đây được xem là ban nhạc “nhà giàu” với những chiếc đàn, amplie Fender làm “lé mắt” dân chơi nhạc, trên sân khấu họ toàn bận complet lịch lãm và nhất là tạo được “danh giá” khi Trawberry Four là ban nhạc Việt Nam đầu tiên và duy nhất được lên đài truyền hình Mỹ (phát tại Sài Gòn).

Nhạc rock đã xuất hiện trong bối cảnh của nhạc trẻ Sài Gòn như trên. Tuy nhiên, lịch sử nhạc rock Sài Gòn có liên hệ mật thiết đến sự có mặt của quân đội Mỹ, những club mọc lên như nấm của người Mỹ tại Sài Gòn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành lực lượng nhạc rock, nhất là từ năm 1965 khi người Mỹ có mặt thật đông đảo tại “hòn ngọc Viễn Đông” và các tỉnh phụ cận. Đây cũng là giai đoạn chuyển hướng mạnh mẽ nhất của nhạc trẻ Sài Gòn, và là thời điểm xuất hiện khá nhiều ban nhạc chơi rock Mỹ, khác với trước đó dân chơi nhạc và nghe nhạc vẫn còn yêu chuộng những ca khúc trữ tình của các nhạc sĩ Việt Nam như Đặng Thế Phong, Dương Thiệu Tước… và các ca khúc Pháp, tuy nhiên dấu mốc phát triển của rock có thể kể đến sự kiện đại nhạc hội kích động nhạc do”Trường Kỳ-Nam Lộc- Tùng Giang” tổ chức.

UserPostedImage

Đại hội kích động nhạc này được tổ chức tại Đại Thế giới (nay là Trung tâm Văn hóa Q.5) vào năm 1963, qui tụ hầu hết các ban nhạc trẻ đang hoạt động tại Sài Gòn thời ấy và đây cũng là một tiền đề để sau đó những đại hội kích động nhạc được tổ chức thường xuyên ,những ban nhạc “thuần” rock như “The Peanuts Company,The Black Caps, The Rockin’ Stars, The Interprise, Les Pénitents, The Crazy Dog, CBC…” ,trong đó The Rockin’ Stars và The Black Caps được xem như những ban nhạc rock đầu tiên của Sài Gòn, thì hai ban nhạc “The Peanuts Company và CBC được xem là 2 ban nhạc “đệ nhất kích động nhạc” thời ấy”.

Ca sĩ Elvis Phương thành viên của Rockin’ Stars cho biết: “Ban nhạc thành lập năm 1960 với thành viên: Nguyễn Trung Lang (bass guitar), Nguyễn Trung Phương (rythm guitar), Jules Tampicanou (lead guitar), Đặng Hữu Tòng (tenor saxophone), Lưu Văn Hùng (trống) và Elvis Phương (ca sĩ). Năm 1961 có thêm 2 thành viên mới là Jean jacques Cussy va Nicole. Cuối naăm 1961 có thêm ca sĩ Billy Shane. Ban nhạc The Black Caps ra đời vào cuối năm 1960 với: Thanh Tùng (guitar), Paul Doãn (ca sĩ)… Phong trào nhạc trẻ hình thành trong giới học sinh của trường trung học Jean Jacques Rousseau (nay là trường cấp 3 Lê Quý Đôn), vì vậy hai ban nhạc này đa số là học sinh của Jean Jacques Rousseau chỉ có Nicole là của Marie Curie và Billy Shane là của Taberd”.

Các ban nhạc rock trước giải phóng chủ yếu là cover các bản nhạc rock Mỹ, cũng có một số ca khúc được những “rocker” Việt sáng tác, nhưng chủ yếu là viết lời bằng tiếng Anh để trình diễn trong những club của Mỹ”. Ban nhạc Phượng Hoàng của Nguyễn Trung Cang và Lê Hựu Hà ra đời khá trễ (1970). Tuy nhiên đây có thể nói là một ban nhạc “Việt hóa” triệt để: sáng tác ca khúc Việt cho rock, hát lời Việt và cái tên cũng “thuần Việt” giữa vô vàn các tên ban nhạc bằng tiếng Anh đang hiện hành. Ca khúc rock viết bằng tiếng Việt của Nguyễn Trung Cang, được nhiều người biết đến đó là bản Mặt trời đen, đây có thể xem là bản nhạc rock Việt đầu tiên khá tiêu biểu của giới rock Sài Gòn.

..,qua bài viết này các bạn trẻ biết thêm về Trường Kỳ và tại sao Trường Kỳ được mệnh danh là ông vua Nhạc Trẻ ..Vĩnh Biệt ông vua nhạc trẻ mội thời của Sài Gòn “Trường Kỳ”


RONG CHƠI CUỐI TRỜI QUÊN LÃNG
Nam Lộc
(Nhân ngày giỗ bạn tôi)

Khó tìm câu nào thích hợp hơn để diễn tả cuộc đời phiêu bồng của Trường Kỳ bằng tên một ca khúc mà nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã sáng tác, hôm nay tôi xin phép được mượn để dùng làm tựa đề cho bài viết này.

Bìa sách Trường Kỳ - “Một Thời Nhạc Trẻ” Nam Lộc & Trường Kỳ - 1974
Quả đúng như vậy, chàng lãng tử của nhạc trẻ Việt Nam, Trường Kỳ, người thích phiêu du đây đó cho đến cuối cuộc đời, nhưng lại là một người chồng chung thủy, một người cha gương mẫu và một người bạn chí tình.

Kỳ thích sống đời phiêu bạt kể từ khi còn trẻ, cho nên chưa đầy 20 tuổi chàng đã thuyết phục được ông bố nghiêm khắc để dọn ra ở riêng theo tiếng gọi của “ông bầu” Jo Marcel. Kể từ đó chàng tha hồ để tóc dài, hút thuốc lá, hoạt động nhạc trẻ, tổ chức “bùm” và biến đổi từ chàng sinh viên hiền lành để trở thành một ông “Vua Hippy” chính cống “Bà Cả Đọi”!


Sinh ngày 29 tháng 3 năm 1946 , trong suốt 63 năm cuộc đời có thể nói rằng “ông vua không ngai” của nền nhạc trẻ VN chỉ biết cười chứ chưa bao giờ khóc, kể cả khi người mẹ sinh ra Kỳ bỏ ra đi lúc anh còn quá nhỏ để biết thế nào là oán trách, khổ đau! Trông tướng tá có vẻ “dữ dằn”, nhưng ai quen biết Trường Kỳ cũng đều công nhận Kỳ là người tính nết hiền lành, thật thà, có lẽ vì vậy cho nên anh có rất nhiều bạn thân và hầu như ai cũng quý mến, chiều chuộng Kỳ. Nhiều bạn đến nỗi mà trong tập hồi ký “Một Thời Nhạc Trẻ” gồm tổng cộng 384 trang, thì mãi tới trang số 299 tên của tôi mới được Kỳ nhắc đến, mặc dù tôi là một trong số những người được xem như thân thiết nhất với anh.

Và có một điều ít ai biết được rằng, Kỳ chính là người đã “bẻ lái” và đưa tôi vào một khúc quanh quan trọng của cuộc đời! Thật vậy, mỗi khi có người tò mò hỏi, lý do nào đã đưa đẩy tôi vào con đường văn nghệ, thì tôi vẫn thường “ỡm ờ” trả lời, vì tôi yêu đàn, thích hát và “khoái” được xuất hiện trên sân khấu! Nhưng sự thật không phải như thế. Nguyên nhân chính đó là “ông Trường Kỳ”, và ông ấy cũng là “thủ phạm” đã dúi chiếc microphone vào tay rồi đẩy tôi lên sân khấu giới thiệu chương trình ca nhạc “Hippy À Gogo” một cách bất đắc dĩ hơn 40 năm về trước, và có ngờ đâu nó đã trở thành một ngã rẽ của số phận để rồi sau này tôi khoác cái nghiệp MC cùng cái “mác” nghệ sĩ vào người. Nam Lộc MC Đại Hội Nhạc Trẻ Taberd - 1973 Nam Lộc MC Video Hollywood Night - 1992 (với nữ ca sĩ Ngọc Lan) Nam Lộc & Leyna Nguyễn MC Asia DVD - 2007

Thật ra cả hai đứa chúng tôi đều đàn rất dở, hát không hay và kém cỏi về nhạc lý, nhưng lòng yêu văn nghệ thì khó ai sánh nổi! Yêu tha thiết và bằng cả sự chân thành. Hai đứa chúng tôi hợp nhau ở điểm đó và trở thành bạn tri kỷ từ hơn 4 thập niên qua, cùng nắm tay nhau đồng lòng phục vụ nghệ thuật một cách đứng đắn, trân trọng và không màng danh lợi. Chúng tôi đã trải qua những đêm thức trắng ngồi bàn bạc để tìm cách phát triển phong trào nhạc trẻ VN một cách mạnh mẽ, có ý nghĩa và hữu dụng. Đưa ra những kế hoạch hoạt động để chống lại sự kỳ thị và vi phạm nhân phẩm của các viên chức công lực ở VN ngày trước đối với giới nhạc trẻ như cắt tóc, rạch ống quần hay bắt giữ trái phép ngoài đường phố v..v... Phản đối xén tóc ngoài đường phố! Giới nhạc trẻ phản đối...! Tổ chức, khuyến khích cũng như kêu gọi các ban nhạc trẻ trình diễn và tham gia một cách vô vụ lợi vào các buổi đại hội nhạc trẻ để gây quỹ yểm trợ Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ hoặc giúp đỡ cô nhi, quả phụ tử sĩ VNCH. Phát động phong trào “Việt Hóa Nhạc Trẻ” để kéo giới trẻ về nguồn, để họ biết trân quý và yêu mến tiếng Việt thay vì chỉ nghêu ngao ca những bài hát lời ngoại quốc. Thường xuyên viết những bài xã luận đăng tải trên báo chí đồng thời thực hiện các chương trình truyền thanh, truyền hình để phổ biến cùng chia sẻ với quần chúng cảm nghĩ và tư tưởng của những nghệ sĩ nhạc trẻ thể hiện qua các sáng tác hay phần trình diễn của họ... The Spotlight - Đại Hội Nhạc Trẻ Taberd The Soul Brothers - Đại Hội Nhạc Trẻ Thảo Cầm Viên The Enterprises - Đại Hội Nhạc Trẻ Tao Đàn Chúng tôi làm những công việc nói trên một cách hăng say và trong tinh thần tự nguyện. Hăng say quá đôi lúc tạo ra sự ngộ nhận và lòng đố kỵ từ một số người vốn ôm đầy mặc cảm trong đời của họ. Chính kinh nghiệm của những ngày còn trẻ đã làm cho tôi trưởng thành và cư xử một cách điềm tĩnh hơn mỗi khi gặp những chuyện tương tự xẩy ra trong cuộc đời.




Tuy nhiên dù đã quen với thái độ và hành động tiêu cực của những thành phần vừa kể, nhưng mỗi lần có chuyện đó xẩy ra thì y như rằng người an ủi, khuyến khích và hỗ trợ tôi đầu tiên vẫn chính là ông bạn cố tri, Trường Kỳ. Có lẽ vì chúng tôi tin tưởng và hiểu nhau một cách sâu đậm. Cảm thông với nỗi buồn hay niềm trăn trở của nhau, có khi còn hơn cả những người thân trong gia đình. Không có một chuyện gì của Kỳ mà tôi không biết và ngược lại tôi không hề dấu Kỳ bất cứ điều gì, dù đó là những chuyện cá nhân, vui cũng như buồn! Trường Kỳ còn được xem như một thành viên trong gia đình, tất cả 10 anh chị em chúng tôi, người nào cũng thân thiết với Kỳ, ngay cả ông bà cụ thân sinh ra chúng tôi cũng thế.

Trước ngày Kỳ mất khoảng vài tháng, như một sự an bài của định mệnh, các anh chị em trong gia đình tôi tự nhiên nẩy ra ý định tổ chức một cuộc họp mặt để tiếp đón Kỳ thật là long trọng và đông đủ mọi người, kể cả một số bạn thân. Đêm đó tôi và Kỳ cùng ngủ lại ở nhà vợ chồng cô em út của chúng tôi. Nhưng có ngờ đâu đó lại chính là buổi tiệc vĩnh biệt người anh, người bạn thân quý nhất của gia đình chúng tôi. Buổi họp mặt cuối cùng với bạn hữu & gia đình Nam Lộc - 2008 Ôn lại thuở thiếu thời lúc vừa quen biết nhau, tôi còn nhớ là vào khoảng Tết Mậu Thân 1968, ngay sau cuộc tổng tấn công của Việt Cộng vào thành phố Sàigòn. Thật ra lúc đó qua những sinh hoạt văn nghệ ở đại học, tôi thường giao du với các anh Đỗ Ngọc Yến, Nguyễn Hữu Đống, Miên Đức Thắng, Trịnh Công Sơn, Khánh Ly, Từ Công Phụng, Từ Dung v..v...


Nam Lộc MC Đại Hội Nhạc Trẻ Lasan Taberd - 1973
(BBT lasanmossard.org xin được đính chính tên trường)


Chính tôi là người thành lập ra Quán Gió nằm trên đường Võ Tánh Sàigòn để thay thế cho những buổi trình diễn văn nghệ học đường đã phải ngưng trệ khi Quán Văn bị đóng cửa. Rất đông đảo nghệ sĩ thuộc nhóm du ca hoặc tình ca nhạc Việt vẫn thường trình diễn ở địa điểm mà tôi tổ chức như Lê Uyên & Phương, Khánh Ly, Trịnh Công Sơn, Từ Dung, Từ Công Phụng, Miên Đức Thắng, Đoàn Chính, Bùi Thiện v..v... Và có một điều cũng ít ai biết rằng tôi chính là người đã thực hiện những cuốn băng nhạc Tình Khúc Trịnh Công Sơn hay Ca Khúc Da Vàng đầu tiên với tiếng hát Khánh Ly thuở đó.




Tuy bận rộn với các sinh hoạt vừa kể, nhưng tôi vẫn để ý, theo dõi và có cảm tình với nhóm nhạc trẻ của Trường Kỳ, nhất là khi được nghe anh Jo Marcel trình bầy những bản nhạc tiền chiền như Chiều hoặc Mộng Dưới Hoa với lối hòa âm thật trẻ trung và mới lạ của Đức Huy cùng ban nhạc The Strawberry Four. Ái mộ, nhưng tôi lại không quen biết một người nào trong giới nhạc trẻ, dù ngày trước đã từng học chung với Đức Huy và Paolo ở Chu Văn An. Trường Kỳ, Billy Shane, Tiến Chỉnh, Đức Huy & The Spotlights - Da Nang,1967 The Strawberry Four Tôi cảm thấy họ là những người trẻ, có tài nhưng nếu chỉ trình diễn hạn chế quanh quẩn trong các Club của quân đội Mỹ, hay những vũ trường hoặc phòng trà nhỏ ở Sàigòn thì thật là uổng phí tài nghệ và thiệt thòi cho người thưởng ngoạn.

Với niềm tự tin vào năng khiếu tổ chức của mình, đồng thời với tấm lòng vô tư và bất vụ lợi, một ngày đẹp trời tôi quyết đi tìm gặp Trường Kỳ để chia sẻ những cảm nghĩ của mình, cùng đề nghị các dự án hoạt động hầu phát triển sinh hoạt nhạc trẻ trong tương lai. Thoạt tiên Kỳ có vẻ e dè và không tin tưởng lắm, nhưng sau một vài lần đến thăm tôi tại cơ sở hoạt động mới là Hầm Gió (cũng nằm trên đường Võ Tánh), đồng thời tham dự một số những buổi sinh hoạt của các nghệ sĩ đàn anh như Phạm Duy, Tạ Tỵ, Thế Uyên, Hà Huyền Chi v..v.. tại Hầm Gió, thì Kỳ bắt đầu tỏ vẻ “thán phục tài tổ chức” và giao tế của tôi, và cũng từ đó Trường Kỳ đã đưa tôi vào một ngã rẽ đầy ngạc nhiên và thú vị trong cuộc đời! Nam Lộc & Phạm Duy Nam Lộc & Khánh Ly Bắt đầu bằng những buổi Hippy À Gogo mà Kỳ tổ chức hàng tuần ở phòng trà Jo Marcel rồi đến Queen Bee và sau đó là Ritz.


The Spotlight - Đại Hội Nhạc Trẻ Lasan Taberd
(BBT lasanmossard.org xin được đính chính tên trường)


Chủ Nhật nào tôi cũng có mặt để giúp Kỳ, từ ý kiến đến tuyển chọn, tiếp đón, sắp đặt ban nhạc và sau cùng là giới thiệu chương trình một cách “bất đắc dĩ” để tạm thay thế Trường Kỳ trong một buổi chiều bạn ta say túy lúy (có lẽ vì thất tình?)! Nhưng cũng kể từ đó “MC Nam Lộc” ra đời, mà không thể ngờ tôi đã ôm cái nghiệp đó cho đến ngày hôm nay! Và trong số những lần được điều khiển các chương trình quan trọng trong đời, tôi rất hãnh diện kể rằng 3 trong số những lần tôi nhớ mãi đó là làm MC cho đám cưới Trường Kỳ và Thu Huyền ở VN, MC cho đám cưới Tú Uyên (đứa con gái duy nhất của vợ chồng Kỳ) ở Canada và MC đám... tang Trường Kỳ ở thành phố Montréal nơi bạn mình đã chọn làm quê hương thứ hai vào cuối năm 1980 sau khi vượt biển đến Nhật Bản. MC đám cưới Trường Kỳ & Thu Huyền, MC đám cưới Tú Uyên, “MC” tang lễ Trường Kỳ.

 
 

Nhắc đến thời gian đó tôi vẫn ân hận mãi cho đến bây giờ. Qua vai trò và công việc làm, tôi đã giúp hàng trăm ngàn người tỵ nạn đến Mỹ định cư, nhưng lại không bảo trợ được người bạn thân nhất của mình sang sống ở Hoa Kỳ. Mặc dù mỗi khi nhắc đến chuyện này, Kỳ vẫn thường an ủi tôi và nói, lỗi đó ở anh, vì Kỳ muốn đi Canada sớm để bảo lãnh vợ con nên không đủ kiên nhẫn chờ phái đoàn Mỹ xét đơn. Quả thật, Thu Huyền và cháu Bi (Tú Uyên) đã đoàn tụ với Kỳ rất sớm, chỉ trong vòng 2 năm trời gia đình đã tái hợp và họ sống thật hạnh phúc cho đến ngày Kỳ giã từ trần thế. Trường Kỳ dậy Anh ngữ ở Nhật Bản Trường Kỳ đoàn tụ gia đình ở Canada Và dù Kỳ xem tôi như bạn, nhưng Thu Huyền lại đối với tôi như một người em gái. Tôi quen hai chị em Huyền, Hòa trước và chính tôi đã giới thiệu Huyền cho Kỳ. nhân một buổi thu hình chương trình nhạc trẻ do tôi và Kỳ thực hiện trên đài truyền hình số 9. Và có ngờ đâu “phút đầu gặp em, tinh tú quay cuồng”!


Ai ai cũng lấy làm ngạc nhiên, một người giao thiệp rộng rãi, quen biết rất nhiều bạn gái và đang “cặp” với 3, 4 cô bồ một lúc như ông Vua Nhạc Trẻ kiêm Vua Hippy Trường Kỳ mà bỗng dưng lại quên đi tất cả để ngã vào vòng tay một cô nữ sinh nhu mì, hiền hậu chẳng biết nhẩy đầm hay hát hò nhạc trẻ là cái quái gì! Và Thu Huyền vẫn thường nói với tôi, “đúng là cái số anh nhỉ”! Nhưng đôi lúc có lẽ quá thương nhớ chồng nên tự mâu thuẫn và Huyền nhất định không chịu tin số kiếp của Kỳ lại ngắn ngủi như thế, và cứ trách thầm chồng là nếu anh ấy chịu khó giữ gìn sức khoẻ và đi đâu cũng có em bên cạnh săn sóc thì đâu xẩy ra nông nỗi này! Ý nghĩ đó đủ nói lên tình yêu mãnh liệt của một người vợ dành cho chồng. Trường Kỳ và các bạn gái trong Teenager’s Club Trường Kỳ & Thu Huyền “Phút đầu gặp em ...1973”

Mặc dù ít có dịp gặp, nhưng Thu Huyền và vợ con chúng tôi rất quý mến nhau, luôn theo dõi, thăm hỏi về đời sống và sinh hoạt gia đình hay học vấn của các cháu. Tôi còn nhớ có lần tôi và Kỳ ngồi uống bia, lắng nghe hai bà vợ chia sẻ tâm tình mà bọn tôi cứ muốn bò lăn ra cười với những ý tưởng ngộ nghĩnh mà chúng tôi không bao giờ nghĩ đến, nhất là khi Thu Huyền và Ngọc Lan (vợ tôi) tìm hiểu không biết vì sao mà hai đứa chúng tôi thân nhau: Kỳ thì mập và thấp, tôi thì gầy và cao. Kỳ da ngăm đen, tôi trắng trẻo hơn một chút. Kỳ nhìn rất “hippy choai choai”, còn tôi (theo lời Kỳ) thì dáng vẻ rất “tiền chiến”. Kỳ theo đạo Công Giáo, còn tôi là Phật tử thuần thành, Kỳ ăn nói, đi đứng chậm chạp, tôi nhanh nhẩu và (cũng theo lời TK) “xí xọn” hơn!

Tuy nhiên hai đứa chúng tôi cùng giống nhau một điểm là lấy hai bà vợ hoàn toàn khác biệt với chồng. Thu Huyền chẳng “hippy, yé yé” tí nào.


Còn vợ tôi thì không có một chút máu văn nghệ trong người. Hầu như chẳng bao giờ bà xã tôi có mặt ở những chương trình ca nhạc mà tôi tham dự, tổ chức hoặc làm MC. Nhất là những khi lưu diễn, tôi thường đi có một mình, thậm chí nhiều anh chị em nghệ sĩ tưởng tôi vẫn còn “độc thân vui tính”! Gia đìnhTrường Kỳ & Nam Lộc - Los Angeles, 1994 NamLộc & gia đình TrườngKỳ - Montreal, 2007 “Thằng Mập & Thằng Ốm” với Thái Hiền & Tuyết Dung - 1974 Cũng theo tinh thần và nội dung của cuộc mạn đàm có mầu sắc “tố khổ” giữa hai “phu nhân” TK & NL thì tuy Kỳ và tôi có nhiều điểm khác nhau, nhưng nói về tật xấu thì hoàn toàn giống nhau.


Cả hai “ông” đều thích ăn nhậu, uống bia và hút thuốc lá. Ăn phở thì thích tái gầu, rồi lại còn đòi thêm hành trần, nước béo chưa kể một tô “nước tiết”! Đều đều “đớp hít” chả chìa, rựa mận, lòng lợn, tiết canh... nghe không đã thấy phát bịnh rồi (lời hai bà)! À chưa hết ngoài ra hai thằng còn mang thêm cái tật “dại gái” và không ham tiền nữa chứ. Theo tôi cái tội “dại gái” thì hơi oan chứ cái tật không ham tiền có lẽ đúng! Quả thật như vậy, cả hai đứa chúng tôi tuy không chê tiền, nhưng không bao giờ chịu lụy vì tiền. Không ai có thể mua chuộc hoặc bỏ tiền để bắt chúng tôi làm những điều trái với lương tâm và đạo đức.

Có lẽ vì thế mà cả hai đứa cùng nghèo. Càng nghèo lại càng thương vợ, thương con vì có hai ông bố kiêm hai ông chồng vừa gàn, lại vừa “ham vui”! Nhưng có lẽ nhờ vậy mà “tổ đãi”. Ngày còn ở VN, cũng vì ham vui cho nên Trường Kỳ và tôi thường mượn phòng trà của anh Jo Marcel hay chị Khánh Ly để tổ chức các chương trình nhạc trẻ vào mỗi chiều Thứ Bẩy hoặc Chủ Nhật lấy tên là Hippy À Gogo hay Soul Party, mục đích là để có nơi hò hét, biểu diễn tài nghệ, sau đó là tạo địa điểm hẹn hò cho “nam thanh, nữ tú”! Rồi thì làm phim, vừa viết chuyện, vừa phân cảnh, vừa đạo diễn, vừa ... sản xuất! Nhưng có ngờ đâu với sự hưởng ứng quá đông đảo và nồng nhiệt của giới trẻ, chúng tôi trở thành “đại gia”, tiền bạc rủng rỉnh, mua xe hơi, nhà “trệt”! và tiêu sài thả cửa! Nam Lộc & Trường Kỳ lái “xế hộp”!

Chiếu ra mắt phim Vết Chân Hoang tại rạp Eden Nam Lộc, Đan Thành & Minh Lý đóng phim “Thế Giới Nhạc Trẻ” Nam Lộc, Trường Kỳ và cameraman Ngọc Tùng in action Tuy nhiên vào thời đó và vào tuổi đó chúng tôi đã biết định nghĩa hai chữ Cho và Nhận mà người Mỹ thường gọi là “Give and Take”. Nhận được ân sủng của Thượng Đế, chúng tôi nghĩ đến việc “cho” hay nói đúng hơn là chia sẻ và đóng góp lại cho đời. Từ đó những chương trình đại hội nhạc trẻ ngoài trời được thành hình, lúc thì để gây quỹ cứu trợ nạn nhân thiên tai, khi thì giúp đỡ đồng bào bị hỏa hoạn. Nhưng đa số đều dành cho cây Mùa Xuân Chiến Sĩ và trợ giúp Cô Nhi Quả Phụ Tử Sĩ VNCH.
UserPostedImage

Một trong những yếu tố rất quan trọng mà tôi và Trường Kỳ vẫn hãnh diện cho đến ngày hôm nay là chúng tôi không bao giờ quản trị về tiền bạc, chuyện này để người khác lo. Khi còn ở VN thì do các sĩ quan hành chánh, tài chánh thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị phụ trách, sang Hoa Kỳ thì tôi luôn đề nghị, hoặc giao cho Hội Đồng Liên Tôn hay các tổ chức khác như Giới Trẻ Công Giáo, Tổng Hội Sinh Viên, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ hoặc Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh v..v.. đảm nhiệm, vì thế như đã nói ở phần trên, mỗi khi nghe được những lời đồn đãi nhảm nhí hay ác ý thì chúng tôi rất là bình tĩnh và tiên đoán rằng những kẻ phao tin hay người loan tin một cách bậy bạ, cẩu thả, không kiểm chứng, thế nào cũng bị dư luận chê cười, và điều này đến bây giờ vẫn còn rất đúng.

ĐNH Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ tại Westminster Nam Lộc & Dương Nguyệt Ánh - ĐNH gây qũy giúp TPB/VNCH Trao tiền cho Uỷ Ban Xây Dựng Tượng Đài Một trong những điều đặc biệt khó giải thích trong mối liên hệ và tình bạn giữa hai đứa chúng tôi là luôn luôn gọi nhau bằng Ông và Tôi, chứ không dùng chữ Mày, Tao mặc dù tôi vẫn thân mật mày tao chi tớ với hầu hết những người bạn mà Kỳ giới thiệu cho tôi như Tùng Giang, Đức Huy, Tiến Chỉnh, Chu Văn Hải, Trần Đình Thục, Đan Thành, Công Thành, Minh Phúc v..v...

Có lẽ giữa Kỳ và tôi còn ngấm ngầm một thứ tình huynh đệ, hay phảng phất mối liên hệ như anh em trong gia đình. Đôi khi ngẫm nghĩ lại, tôi thấy cũng lạ, khi nói đến phụ nữ thì hai đứa chúng tôi đều cùng một “gout”, đều thích một mẫu người, từ tính nết cho đến vẻ đẹp, ấy vậy mà chưa bao giờ “đụng đào” của nhau. Cô nào Kỳ cặp là của Kỳ, cô nào tôi thích là của tôi, chưa bao giờ trùng hợp, mặc dù nhiều khi chúng tôi gặp gỡ các cô bạn gái cùng một lúc, cùng một hoàn cảnh hay cùng một môi trường, nhưng không! nhất định là “hồn ai nấy giữ”, “đào ai nấy ...ôm”, ngoại trừ một người duy nhất mà chúng tôi vẫn “cặp kè” đi nhậu chung hầu như mỗi ngày khi còn ở VN, đó là nữ nghệ sĩ Tú Trinh. Trường Kỳ, Nam Lộc & Tùng Giang với các bạn gái Nam Lộc & Trường Kỳ tuyển lựa tài tử phim Vết Chân Hoang Nam Lôc với MCs Thùy Dương & Bảo Châu ...


Tuy nhiên, dù giao thiệp, tiếp xúc và sinh hoạt gần gũi với các nghệ sĩ, nhưng Trường Kỳ và tôi chưa bao giờ “date” với một nữ ca sĩ nào, dù các cô đều là những thiếu nữ trẻ đẹp và hấp dẫn. Chúng tôi thường đi lưu diễn chung hoặc gặp gỡ nhiều nghệ sĩ mỗi buổi tối ở các phòng trà ca nhạc, nhưng luôn xem họ như anh chị em trong cùng một gia đình, thân thiết và quý mến nhau. Ngay cả sau khi lập gia đình, Kỳ lại càng gần gũi hơn với các bạn nghệ sĩ không phân biệt tuổi tác. Gần như hầu hết ca sĩ nào đến trình diễn tại Montréal, Canada đều ở lại nhà với Trường Kỳ và Thu Huyền ít nhất là một đêm và nằm ngủ trên chiếc “giường nghệ sĩ” được kê trong căn phòng xinh xắn dành riêng để đón tiếp bạn bè hay khách phương xa đến thăm. Đặc biệt là tất cả mọi người đều ký tên trên thành giường để lưu lại một chút kỷ niệm, từ Ngọc Lan, Sĩ Phú, Billy Shane, Đức Huy, Hà Huyền Chi, cho đến Diễm Liên, Thế Sơn, Lưu Bích, Diệu Hương v..v.., và tôi là một trong số những người khách muộn màng! Vì mãi đến đầu năm 1996 tôi mới có dịp sang thăm tệ xá của bạn mình. Lý do không phải vì tôi lười hoặc không nhớ vợ chồng Kỳ, mà thật sự là vì Kỳ thường qua Mỹ để vừa đi làm việc, vừa thăm viếng anh chị em nghệ sĩ chúng tôi ở HK.

Nam Lộc thăm Trường Kỳ tại Montreal, 1996

 












Chiếc Giường Nghệ Sĩ

Sau chuyến Mỹ du lần đầu tiên năm 1982 trở đi, Kỳ rất thích nước Mỹ, nói đúng hơn là rất thích sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở Mỹ, hoặc nói trắng ra là vì bạn ta rất mê đồ nhậu của người Việt tại Little Sàigòn! cộng thêm yếu tố là có mấy ông bạn rất thân. Mà Kỳ còn có thêm một đặc tính nữa là rất ngại làm phiền người khác, thế nhưng đối với những người bạn thân, hay chiều chuộng và thương mến thì Kỳ “không ngại” làm phiền và vòi vĩnh một cách tối đa! Thích ở đâu thì ở, thích ăn gì thì...đòi, thích chơi cái gì thì...kiếm. Kỳ sắp đặt lịch trình “lưu diễn” một cách rất khéo léo, gọn gàng, tiện nghi cho bạn bè và “tươm tất”...cho mình!

Nguyễn Long, Nam Lộc, Tùng Giang và bạn hữu tiếp đón Trường Kỳ thăm Mỹ Quốc lần đầu tiên - Orange County, 1982

Thực đơn & lịch trình tiếp đón “Vua Nhạc Trẻ”

Phóng sự Trường Kỳ trên tuần báo Chào - 1982

Anh Jo Marcel vẫn thường nói với tôi: Hình như thằng Kỳ nó có số làm “Vua”, bởi vì đi đâu hắn cũng được mọi người tiếp đón một cách nồng hậu và trân trọng! Kỳ có bạn ở khắp nơi trên thế giới, thuộc đủ mọi thành phần và gồm nhiều lứa tuổi khác nhau, nam cũng như nữ. Mỗi lần Kỳ ghé California thì bạn bè đều đưa ra sẵn một dự trình cùng “thời khoá biểu” thăm viếng của chàng. Hôm nay ở tư gia người nào, mai ngụ tại nhà của ai, mốt sẽ làm gì và đi đâu, ai sẽ đưa, người nào sẽ đón v..v... Chưa hết, sáng Kỳ muốn điểm tâm ở tiệm nào, ăn trưa tại đâu, món gì, còn buổi chiều thì nhậu ở quán nào, dĩ nhiên phải là chỗ nổi tiếng với những món khoái khẩu của “cậu Kỳ”! Kỳ là người rất có “tinh thần ăn uống”, thậm chí có cả Thẻ Hội Viên của Câu Lạc Bộ Ẩm Thực Unesco, mà chúng tôi vẫn gọi đùa là “license ăn & nhậu around the world”. Kỳ sành ăn uống đến nỗi cháu Bi (con gái Kỳ) qua một bài viết cũng đăng trong tuyển tập này diễn tả: Bố cháu nói, trong số 12 con giáp, bố cháu “sơi” hết 11 con, chỉ trừ con Rồng!

“License ăn uống” Câu Lạc Bộ Ẩm Thực Unesco

Tuy bề ngoài trông có vẻ lù đù, chậm chạm, nhưng Kỳ là người rất thông minh, có nhiều sáng kiến và một bộ óc minh mẫn, lanh lợi. Có thể nói nếu không có Trường Kỳ thì không có tờ báo Hồng ở VN ngày trước do Trịnh Quan làm chủ, không có tuần báo Chào ở Mỹ của Tùng Giang hay báo Trẻ của Kỳ Phát ở California hoặc các ấn bản do nhiều người thực hiện tại khắp các tiểu bang HK hiện nay. Không có Trường Kỳ thì không có những buổi Đại Hội Nhạc Trẻ quy tụ hàng chục ngàn người ở VN trước năm 1975 hay sau này tại Hoa Kỳ. Tôi còn nhớ vào mùa hè 1985, cơ quan USCC của chúng tôi đã phải triệu ông Vua Nhạc Trẻ từ Canada sang để tổ chức một buổi ĐHNT tại thành phố Long Beach hầu gây quỹ định cư người tỵ nạn thuở đó. Đây là buổi ĐHNT đầu tiên và cũng được xem là duy nhất tổ chức ở hải ngoại sau 1975, và cũng vì thiếu sự hướng dẫn hoặc tham dự của Trường Kỳ cho nên đến nay vẫn chưa có hay không còn một buổi ĐHNT đúng nghĩa nào nữa. Nhưng bên cạnh đó thì Kỳ đã cố vấn cho rất nhiều chương trình và các tổ chức khác sau này như hội Tết Cộng Đồng, gây quỹ trợ giúp Thương Phế Binh VNCH, hoặc các buổi đại hội tôn giáo, họp mặt giới trẻ v..v...


Đại Hội Nhạc Trẻ Long Beach, California - 1985


Nhưng theo tôi, đóng góp lớn lao và đáng kể nhất của Trường Kỳ chính là những công trình sưu tầm cùng các tác phẩm văn học, nghệ thuật mà anh đã âm thầm và khổ công thực hiện, hoặc qua hình thức tuyển tập, hoặc qua hình ảnh hay các chương trình phát thanh v..v... Tất cả những tài liệu trên có thể được xem như những sử liệu đáng quý để lại cho đời và cho thế hệ trẻ sau này mỗi khi các em muốn tìm hiểu về các sinh hoạt nghệ thuật của thời VNCH trước năm 1975 hay của người Việt tại hải ngoại. Đối với Trường Kỳ khi vui chơi hoặc ăn nhậu thì rất là thả giàn mà anh thường diễn tả là “líp baga”, thế nhưng khi bắt tay vào làm một công việc gì thì chàng vô cùng chăm chỉ và đứng đắn. Chỗ Kỳ ngồi làm việc được trang bị thật chu đáo và ngăn nắp, có đầy đủ “đồ nghề”, từ hệ thống computer đến video, audio equipments, máy chụp ảnh, thu hình, scanner v..v... Nói tóm lại Kỳ có thể ngồi nhà, nhưng vẫn liên lạc được với tất cả mọi người hay bất cứ nơi nào chàng muốn. Cũng chính vì thế mà anh đã liên tục thực hiện được hàng ngàn cuộc phỏng vấn nghệ sĩ VN ở khắp nơi trên thế giới mà khán thính giả yêu nhạc đã được nghe hay đọc trên các chương trình phát thanh VOA, BBC, RFI, hoặc các đài radio hay báo chí địa phương, qua Internet, hay trên các tuyển tập nghệ sĩ do anh thực hiện mà mỗi lần phát hành đều được chiếu cố một cách nồng nhiệt, hầu hết đều đã “sold out”. Hiện có rất nhiều người đề nghị chị Trường Kỳ hay con cháu của anh tái bản các tác phẩm văn nghệ hữu ích và giá trị vừa kể để cho nhiều người có dịp được thưởng thức hoặc giữ làm tài liệu.




Một số tác phẩm Trường Kỳ để lại cho đời


Phòng làm việc
“Phòng nghỉ việc”!

Là người có máu văn nghệ và hoạt động khá đa dạng trong lãnh vực này, vì thế Trường Kỳ có nhiều “chức vụ” và biệt danh được người đời gán cho anh. Nào là “Vua Nhạc Trẻ”, “Vua Hippy”, nào là nhà văn, nhà báo, nào là nhạc sĩ, nào là nhà tổ chức và đôi khi còn được gọi là “ông bầu”! Nhưng có lẽ vai trò đúng nhất, thích hợp nhất mà Trường Kỳ cũng hài lòng nhất và tự xem như nghề chính của mình, đó là danh xưng “Ký Giả Trường Kỳ”. Quả đúng như vậy, mặc dù làm rất nhiều việc liên quan đến sấn khấu, nghệ thuật, văn chương, ca nhạc, điện ảnh, truyền thanh, truyền hình v..v.., nhưng tất cả đều bắt nguồn từ tài viết lách của anh, từ các bài phỏng vấn, phóng sự tường trình, ký sự, truyện ngắn, truyện dài hay truyện phim v..v.. được ký dưới nhiều bút hiệu khác nhau và được phổ biến một cách rộng rãi ở khắp nơi trên thế giới, kể cả tại VN. Và nếu nhận xét như vậy thì có thể nói Trường Kỳ là một ký giả đã sống đúng nghĩa với câu “Sinh Nghề, Tử Nghiệp”.

Kỳ chính thức bước vào lãnh vực báo chí từ năm 1963, khi mới vừa 17 tuổi bắt đầu bằng một công việc tài tử, phụ trách “Trang Teenager’s” với bút hiệu Johnny Kỳ trên tuần báo Kịch Ảnh rất nổi tiếng thời đó của đạo diễn kiêm chủ nhiệm Quốc Phong. Với sự đáp ứng nồng nhiệt của độc giả nói chung và giới trẻ nói riêng, chẳng bao lâu sau đó vào năm 1964, Kỳ đã được ông Quốc Phong mời cộng tác một cách chính thức và phụ trách tiết mục “Sài Gòn Bão Nhạc” dưới tên Trường Kỳ và được trả tiền nhuận bút đầy đủ như một ký giả chuyên nghiệp. Mỗi khi nhắc đến chuyện này, Kỳ vẫn lấy làm hãnh diện và khoe rằng, các đàn anh “đồng nghiệp”, cùng làm chung một tòa soạn với Kỳ thuở đó đều là những cây cổ thụ của làng văn, làng báo VN như Hoàng Hải Thủy, Mai Thảo, Viên Linh v..v.., mặc dù lúc đó ai cũng biết Kỳ chỉ là một ký giả hạng “tép riu”, nhưng hạng gì thì hạng, anh cũng đã trở thành một ký giả “nhà nghề”. Và đó cũng là cái nghề chính đã nuôi Kỳ cho đến ngày nhắm mắt.

Trường Kỳ bắt đầu nghề cầm bút - Báo Kịch Ảnh, 1964


Chương trình “Nghệ Sĩ & Đời Sống” trên đài VOA

Thật sự Kỳ có thể vẫn còn hiện diện trên cõi đời này, nếu không vì lương tâm nghề nghiệp. Khởi đi từ ngày Thứ Sáu định mệnh 20 tháng 3, 2009, Kỳ nhận lời bay từ Montréal xuống Toronto để tham dự buổi ca nhạc ra mắt CD của một giọng hát trẻ, rất trẻ nên được gọi là Bé Tường Vi, học trò của nhạc sĩ Nguyễn Đức, trưởng ban Việt Nhi ngày trước, và cũng là người đã đào tạo ra hàng chục ca sĩ tên tuổi của nền âm nhạc VN. Lúc chuẩn bị lên đường thì Kỳ cảm thấy khó chịu trong người và than với vợ là bị chóng mặt và huyết áp xuống thấp, sau đó anh đành phải hủy bỏ chuyến đi. Quyết định này không biết có làm cho Kỳ mang “mặc cảm tội lỗi” hay không, nhưng qua ngày hôm sau, sáng Thứ Bẩy 21 tháng 3, Kỳ nói với vợ là đã thấy bớt mệt và muốn đổi lại vé để bay đến Toronto. Thu Huyền vẫn lo lắng và cản chồng nên ở nhà để chị đưa đi khám bác sĩ. Huyền bảo, lâu lâu mới có một lần phải hủy bỏ chuyến đi làm phóng sự phỏng vấn, chắc không sao đâu, thế nào mọi người cũng thông cảm vì sức khỏe của anh. Kỳ trả lời vợ rằng: Em nói đúng, tuy nhiên nếu đây là buổi ra mắt của một ca sĩ nổi tiếng hoặc một người đã có tên tuổi thì anh sẽ ở nhà, nhưng khổ nỗi đêm nay là lần xuất hiện đầu tiên của cháu Tường Vi, một ca sĩ mới có 12 tuổi và vừa bước vào nghề, vì thế nếu anh không dự để viết bài tường thuật cũng như giới thiệu thì chắc nó buồn và thất vọng lắm! Một câu nói mà tôi nghĩ rằng chỉ có thể phát ra từ trái tim của những nhà báo chuyên nghiệp và có lương tâm.

Nữ Ca sĩ trẻ Tường Vi

Cũng xin nhắc lại một chút ở đây rằng Trường Kỳ bạn tôi là người mang chứng bệnh tiểu đường khá nặng. Mỗi ngày anh phải tự đo mức lượng đường trong cơ thể và tự chích Insulin vào người 3, 4 lần một ngày. Đi đâu cũng phải vác theo hộp “đồ nghề” thuốc thang, kim chích, máy đo v..v...

Và như đã nói ở trên, Kỳ rất ngại làm phiền người không thân, vì thế khi sau khi quyết định bay xuống Toronto và tham dự cũng như ghi nhận chi tiết buổi nhạc hội ra mắt CD của cháu ca sĩ Tường Vi, Kỳ tạm trú ở nhà người “bầu show” trẻ tên là Minh. Sáng hôm sau Chủ Nhật 22 tháng 3, 2009 Kỳ thấy mệt trở lại, ca sĩ Quốc Anh đến đón đi ăn sáng nhưng anh cứ lần lữa mãi. Thấy “ông thầy” có vẻ khó chịu bất thường, mặt tái xanh, vợ chồng người bầu show đề nghị gọi ambulance đưa anh vào bệnh viện, nhưng Kỳ nhất định không chịu và trấn an mọi người rằng không sao đâu, nằm nghỉ một tí là khỏe, nhưng tôi đoán chắc vì Kỳ sợ phiền! Bằng cớ là ngay sau đó, có lẽ không còn chịu nổi nữa, Kỳ bắt đầu ói mửa, chủ nhà phải gọi xe cấp cứu, thậm chí khi xe đến nơi Kỳ vẫn còn ngại ngùng không chịu nằm lên băng ca để họ khiêng đi, mà lại tự động bước ra ambulance, nhưng vừa đến cửa xe thì anh ngã quỵ xuống, nhân viên cứu thương vực Kỳ lên đưa anh ngay vào bệnh viện, nhưng quá trễ, Kỳ đã tắt thở giữa đường. Tôi được Quốc Anh gọi điện thoại “tường trình tại chỗ” mọi diễn biến từng phút, từng giây, vừa nghe, vừa đau lòng, vừa xót thương, lại vừa... tức bạn mình! Điều này đã được Thu Huyền xác nhận lại về sau rằng, nếu!!! Vâng, nếu hôm đó Kỳ đừng quá yêu nghề chịu khó nghỉ ở nhà, hoặc đừng ngần ngại trong việc gọi xe cứu thương từ sớm! Hoặc có vợ đi theo để chăm sóc và theo dõi sức khoẻ thì “chắc chắn hắn còn gặp tụi mình dài dài”, đó chính là lời nhận xét của một số bác sĩ y khoa, đồng thời cũng là bạn thân và biết rất rõ tình trạng bệnh lý của Kỳ.

Âu cũng là sự an bài của số mệnh, và nếu tin vào số mệnh thì có lẽ chúng ta cũng phải tin vào những điềm gở xẩy ra trước ngày Kỳ bỏ cuộc chơi! Nhất là khi Thu Huyền khoe tôi tấm ảnh hai vợ chồng vừa nghịch ngợm chụp cách ngày Kỳ mất chỉ 1 tháng trước đó là cảnh Kỳ đứng ở một sân ga xe lửa (giả vờ) vẫy tay chào từ giã vợ mình, phải chăng như một điều báo trước?


Trường Kỳ & Thu Huyền “vẫy tay, vẫy tay chào nhau...”!

Chưa hết, Thu Huyền kể tiếp, buổi sáng Thứ Bẩy đưa chồng ra phi trường, trước khi lên máy bay, Kỳ còn dặn đi, dặn lại vợ là ngày mai giờ này nhớ đón anh nhé và sau đó trấn an Thu Huyền rằng “có lẽ đây là chuyến đi show ngắn nhất của anh phải không em”! Nhưng không ngờ nó đã trở thành chuyến đi dài nhất trong đời của ông Vua Nhạc Trẻ! Kỳ ra đi thật nhanh và thật bất ngờ, không biết đau đớn là gì. Nhanh đến nỗi ở trên cùng một tờ báo, trang bên phải thì đăng mẩu Phân Ưu do Kỳ đứng tên chia buồn một người quen vừa qua đời. Trang bên trái thì đăng Cáo Phó Trường Kỳ đã mất! Và bất ngờ là bởi vì Kỳ vẫn thường nói với Thu Huyền rằng theo lá số tử vi thì anh phải sống cho đến năm 90 tuổi, cho nên Kỳ bao quản mọi việc trong nhà, còn Huyền thì hoàn toàn dựa vào chồng. Từ cách sử dụng cell phone cho đến Internet, check email, xe cộ, bảo hiểm, thuế má v..v.., Kỳ đều làm hết cho vợ, vì thế sự ra đi của Kỳ đã để lại một sự trống vắng và hụt hẫng lớn lao cho Thu Huyền.

Hôm tang lễ, nghe Thu Huyền vừa thương, vừa khóc, vừa trách chồng mà tôi dù đang buồn não ruột nhưng cũng phải bật cười. Huyền nói, con người anh Kỳ làm cái gì cũng chậm. Ăn cũng chậm, nói cũng chậm, đi cũng chậm, vậy mà tại sao đối với cái chết thì anh lại nhanh hơn ai hết! Người thiếu phụ cô đơn nhiều khi cứ tưởng chồng mình vẫn còn đang rong chơi khắp bốn phương trời chưa trở lại mái nhà xưa, nhưng có ngờ đâu chàng đã hoàn tất xong một đời phiêu lãng, rồi quên cả đường về, như lời ca mà Hoàng Thi Thơ đã viết:

Ta đi lang thang quên ngày tháng, quên trần gian,
quên nhân tình đã quên mình.
Xin một sáng trong mùa đông, trên nệm êm lá vàng úa.
Không còn nhớ, không còn thương, ta nằm im chết bên đường!

Kỳ ơi, tôi nhớ ông!

Nam Lộc

22/03/2010

Kim Phượng st
Truong_Ky_Phat_Loc_Giang
 
 
 

 

Phan Nhật Nam và những chấn thương không chảy máu

Phan Nhật Nam và những chấn thương không chảy máu

Bìa một số tác phẩm Phan Nhật Nam xuất bản trước 1975, riêng bìa cuốn Tù Binh và Hoà Bình là sách tái bản ở hải ngoại 1987. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

Bìa một số tác phẩm Phan Nhật Nam xuất bản trước 1975, riêng bìa cuốn Tù Binh và Hoà Bình là sách tái bản ở hải ngoại 1987. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

TỪ DẤU BINH LỬA TỚI TÙ BINH VÀ HOÀ BÌNH

PHAN NHẬT NAM VÀ NHỮNG CHẤN THƯƠNG KHÔNG CHẢY MÁU

“Tôi là kẻ sống sót sau một cuộc chiến tranh dài hơn trí nhớ.”
Phan Nhật Nam

Ngô Thế Vinh

Tới thăm Phan Nhật Nam 21.07.2017, đi tìm những vật chứng. [tư liệu Ngô Thế Vinh]
Tới thăm Phan Nhật Nam 21.07.2017, đi tìm những vật chứng. [tư liệu Ngô Thế Vinh]
  TIỂU SỬ

Phan Nhật Nam cũng là bút hiệu, Rốc là tên gọi ở nhà; sinh ngày 9/9/1943, tại Phú Cát, Hương Trà, Thừa Thiên, Huế; nhưng ngày ghi trên khai sinh 28/12/1942, chánh quán Nại Cửu, Triệu Phong, Quảng Trị.

1954-1960 tiểu học Mai Khôi Huế; Saint Joseph Đà Nẵng; trung học Phan Chu Trinh Đà Nẵng

1963-1975 tốt nghiệp Khoá 18 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, gia nhập binh chủng Nhảy Dù, qua các đơn vị Tiểu Đoàn 7, 9, 2, và Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù; Tiểu Khu Bà Rịa Long An; Biệt Động Quân; Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương 4 và 2 Bên.

Hình 2: giữa, Hướng đạo sinh Phan Nhật Nam và Trưởng Tô Phạm Liệu. Sau này cả hai đều chọn vào Binh chủng Nhảy Dù; trái, Phan Nhật Nam, thiếu uý Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù 1964; phải, Tô Phạm Liệu là một bác sĩ can trường của Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù sống sót sau trận đánh ác liệt trên đồi Charlie, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 trên vùng cực bắc Tây Nguyên, nhưng người bạn thân thiết của Tô Phạm Liệu là Trung tá Tiểu Đoàn trưởng Nguyễn Đình Bảo thì hy sinh ở lại Charlie. Tô Phạm Liệu mất ở Mỹ ngày 29.09.1997 ở tuổi 56. Ảnh tư liệu Phan Nhật Nam.

1975-1989  tù cải tạo 14 năm qua các trại giam Miền Bắc với 2 đợt kiên giam ( 2/1979 đến 8/1980; 9/1981 đến 5/1988)

1990-1993 ra tù bị quản chế và chỉ định cư trú tại Lái Thiêu, Bình Dương Miền Nam, cũng là thời gian Nam được gần gũi với nhà báo Như Phong

1993 sang Mỹ định cư, thời gian đầu ở San Jose, rồi qua Washington D.C, Houston, Minnesota, Colorado…

Thời gian đầu tới Mỹ, có cả một chiến dịch báo chí truyền truyền thông lên án Phan Nhật Nam là Việt Cộng nằm vùng, phủ nhận cờ vàng… Giữa những ngộ nhận oan khiên, câu nói của Tô Phạm Liệu đủ làm Nam ấm lòng: “Tao biết thằng Nam từ hồi còn nhỏ, hai đứa tao cùng ở một nhà, đi học chung một trường. Nó làm sao là Việt Cộng được.”  

2005-2018 hiện vẫn làm việc ở tuổi 76 và sống ở Nam California

TÁC PHẨM

Trước 1975

Dấu Binh Lửa (Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1969)

Tường trình về người và chiến tranh nơi Miền Nam 1960-1968

Dọc Đường Số 1 (Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1970)

Trên quê hương, dọc con lộ, địa ngục có thật hằng ngày mở ra

Ải Trần Gian (Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1970)

Tự sự hoá qua biến cố chính trị, quân sự ở Huế, Đà Nẵng, Miền Trung 1966

Dựa Lưng Nỗi Chết (Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1971)

Thảm hoạ Xuân Mậu Thân 1968 ở Huế được viết với khung cảnh tiểu thuyết

Mùa Hè Đỏ Lửa (Nxb Sáng Tạo, Sài Gòn 1972)

Thiên hùng ca Mùa Hè của Miền Nam trong trận chiến giữ đất, bảo vệ dân

Tù Binh và Hoà Bình (Nxb Hiện Đại, Sài Gòn 1974)

Lời báo động khẩn thiết sau Hoà bình nguỵ danh từ Hiệp định Paris 1973

Mỗi tựa sách chỉ với tên nhà xuất bản đầu tiên. Bút ký chiến tranh Phan Nhật Nam được tái bản nhiều lần ở Miền Nam trước 1975 và cả ở hải ngoại sau này, riêng cuốn Mùa Hè Đỏ Lửa được tái bản tới lần thứ 30 do nhiều nhà xuất bản khác nhau và cũng hiếm khi tác giả được các nhà xuất bản thanh toán nhuận bút.

Sau 1975

Những Chuyện Cần Được Kể Lại (Nxb Tú Quỳnh, California 1995)

Đường Trường Xa Xăm (Nxb Tú Quỳnh, California 1995)

Đêm Tận Thất Thanh (Tác giả xuất bản, Houston 1997)

Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương (Nxb 1997)

Mùa Đông Giữ Lửa (Tác giả xuất bản, Houston 1997)

Chuyện Dọc Đường (Nxb Sống, California 2013)

Phận Người, Vận Nước (Nxb Sống, California 2014)

Hình 3: bìa các sách Phan Nhật Nam xuất bản trước 1975, riêng bìa cuốn Tù Binh và Hoà Bình là sách tái bản ở hải ngoại 1987. Ảnh tư liệu Ngô Thế Vinh
Hình 4: bìa các sách Phan Nhật Nam xuất bản sau 1975 tại hải ngoại, thực sự là từ sau 1993, thời gian Phan Nhật Nam thoát ra khỏi Việt Nam. Ảnh tư liệu Ngô Thế Vinh

Tiếng Anh

Peace and Prisoner of War (Nxb Kháng Chiến, Hoa Kỳ 1987)

The Stories Must Be Told (Nxb Nắng Mới, Westminster 2002)

A Vietnam War Epilogue (Nxb Thư viện Toàn Cầu, California 2013)

Hình 5: từ trái, bìa bản tiếng Việt cuốn Tù Binh và Hoà Bình, Nxb Kháng Chiến 1987; bản tiếng Anh Peace and Prisoners of War,1989. Ảnh: tư liệu Ngô Thế Vinh

Tiếng Pháp

Stigmates de Guerre (Nxb Sống, California 2016)

Un Été Embrasé (Nxb L’ Harmattan 2018)

Hình 6: từ trái, bìa tác phẩm Mùa Hè Đỏ Lửa; bìa Un Été Embrasé, bản dịch tiếng Pháp của Liễu Trương, do Nxb L’Harmattan, série Asie 2018. (dịch giả Liễu Trương đã làm luận án tiến sĩ Sorbonne với đề tài: Võ Phiến, Culture Nationale, Lectures Occidentales 2001). Ảnh tư liệu Ngô Thế Vinh

PHAN NHẬT NAM  VÀ VÕ PHIẾN

Vào tháng 7 năm 1993 cũng là năm Phan Nhật Nam tới Mỹ, trong bộ sách Văn Học Miền Nam – cuốn Ký,  Võ Phiến viết:

“Phan Nhật Nam, viết liên tiếp sáu cuốn ký về chiến tranh. Đọc những điều ông kể, người dân nghe chuyện lính cũng lây luôn cái phẫn nộ, cái uất hận của ông. Lòng nào nghĩ đến cái “văn” trong những tác phẩm như thế. 

Mười lăm năm* của một người lính Nhảy Dù, ông làm lính xứng đáng. Mười lăm năm trong lao tù cộng sản, ông làm một tù nhân can trường… Văn nghiệp mười năm của ông phản ảnh chỗ nhiệt tâm dũng mãnh, can trường, trong cuộc sống ấy. Cái “văn” của ông là ở đó. (5)

[* theo Phan Nhật Nam, con số đúng là 14 năm lính, 14 năm tù / ghi chú của người viết]

Phan Nhật Nam khi viết cuốn Dọc Đường Số 1, cũng có tâm sự của riêng ông:“Viết vì sau 8 năm lính, chính cảnh đời vừa qua kích thích và ảnh hưởng trên tôi quá đỗi. Thôi thì viết bút ký: Viết bút ký hay là một thứ cầu kinh trong một niềm cô đơn đen đặc, viết bút ký để thấy những giọt nước mắt vô hình tuôn chảy sau bao nhiêu lần nín kín, viết bút ký như một tiếng nức nở được thoát hơi sau hàm răng nghiến chặt thấm ướt máu tươi từ đôi môi khô héo. Tôi viết bút ký như một tiếng thở dài trong đêm.” (4)

Phan Nhật Nam tại nhà Võ Phiến Los Angeles tháng 11.1995 [tư liệu Viễn Phố]

Hình 7: Phan Nhật Nam tại nhà Võ Phiến Los Angeles tháng 11.1995. Ảnh tư liệu Viễn Phố

Dấu Binh Lửa, của Phan Nhật Nam ra mắt 1969 đã gây ngay nơi người đọc những chấn động sâu xa. Là một bút ký chiến tranh đầu tay nhưng đã cho thấy ngay bút lực của một văn tài. Coup d’ essai, coup de maître.

Một trích đoạn, câu chuyện chị Lai ở Kiến Hoà trên vùng sông nước Đồng Bằng Sông Cửu Long. Trong cuộc hành quân truy lùng VC, mấy Tiểu đoàn Dù đã đánh tan địch quân, khi ấy Phan Nhật Nam chỉ là thiếu uý mới ra trường Võ Bị Đà Lạt, chỉ huy một trung đội trong một trận đánh lớn đầu đời:

“Tôi đi vào ngôi nhà đang âm ỉ cháy, những chiếc cột lớn lỏng chỏng hỗn độn bốc khói xám…Một người đàn bà áo trắng quần đen tay ôm chiếc lẵng mây trước ngực ngồi im trên nền gạch đôi mắt nhìn thẳng ngơ ngác. Thấy chúng tôi đi vào chị ta đứng dậy, đứng thẳng người như pho tượng, như thân cây chết với đôi mắt không cảm giác… Tôi đi đến trước chị đàn bà… 

– Làm gì chị ngồi đây, không biết đang đánh nhau sao?

Im lặng, đôi mắt ngơ ngác lóe lên tia nhìn sợ hãi. Bỗng nhiên chị ta đưa thẳng chiếc lẵng mây vào mặt tôi, động tác nhanh và gọn như một người tập thể dục. Sau thoáng ngạc nhiên tôi đưa tay đón lấy… Hai bộ áo quần, chiếc khăn trùm đầu, gói giấy nhỏ buộc chặt bằng dây cao su. Mở gói, hai sợi giây chuyền vàng, một đôi bông tai…

Tên lính xua tay đuổi người đàn bà đi chỗ khác. Lạnh lùng, chị ta xoay người bước đi như xác chết nhập tràng.

– Chị kia quay lại đây tôi trả cái này… – Tôi nói vọng theo.

Người đàn bà xoay lại, cũng với những bước chân im lặng, trở về đứng trước mặt tôi nhưng đôi mắt bây giờ vỡ bùng sợ hãi, vẻ hốt hỏang thảm hại làm răn rúm khuôn mặt và run đôi môi… Chị ta còn trẻ lắm, khỏang trên dưới hai bảy, hai tám tuổi, da trắng mát tự nhiên, một ít tóc xõa xuống trán làm nét mặt thêm thanh tú. Tôi đưa trả chiếc lẵng mây, chị đàn bà đưa tay đón lấy, cánh tay run rẩy như tiếng khóc bị dồn xuống. Chiếc lẵng rơi xuống đất, hai cánh tay buông xuôi mệt nhọc song song thân người. Dòng nước mắt chảy dài trên má. Tôi hươi mũi súng trước mặt chị ta:

– Ngồi đây! Tôi chỉ nòng súng vào bực tam cấp. Khi nào tụi tôi đi thì chị đi theo… Tại sao khóc, nhặt vàng lên đi chứ…

– Im lặng, chỉ có nỗi im lặng kỳ quái, thân thể người đàn bà cứ run lên bần bật, nước mắt ràn rụa… Từ từ chị đưa bàn tay lên hàng nút áo trước ngực… Không! Không thể như thế được, tôi muốn nắm bàn tay kia để ngăn những ngón tay run rẩy đang mở dần những hàng nút bóp để phơi dưới nắng một phần ngực trắng hồng! Không phải như thế chị ơi… Người đàn bà đã hiểu lầm tôi… Không lấy vàng và bắt đứng lại! Chị ta không hiểu được lời nói của tôi, một người Việt Nam ở cùng trên một mảnh đất. Chị ta tưởng tôi thèm muốn thân xác và đòi hiếp dâm! Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sĩ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này. Tôi đi lính chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt. Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này… Tôi muốn đưa tay lên gài những chiếc nút áo bật tung, muốn lau nước mắt trên mặt chị nhưng chân tay cứng ngắc hổ thẹn. Và chị nữa, người đàn bà quê thật tội nghiệp, cảnh sống nào đã đưa chị vào cơn sợ hãi mê muội để dẫn dắt những ngón tay cởi tung hàng nút áo, sẵn sàng hiến thân cho một tên lính trẻ, tuổi chỉ bằng em út, trong khi nước mắt chan hòa trên khuôn mặt đôn hậu tràn kinh hãi.

Quân rút ra khỏi làng, chị đàn bà đi theo chúng tôi, vẫn với những bước đi ngượng ngập cứng nhắc, vẫn đôi mắt nhìn vào khoảng trống không cảm giác… Quân rút ra gần đến quốc lộ, con sông bên trái đầy thuyền, hỗn độn dòng người chen chúc. Dân của vùng hành quân trốn ra từ ngày trước, tiếng người kêu la vang dội một khoảng sông, họ hỏi thăm tình trạng nhà cửa, người thân thích, người kẹt trong vùng hành quân. Tiếng khóc vang rân…

– Lai! Mày đó Lai ơi! – Bà già dưới sông mồm kêu tay ngoắc chị đàn bà theo chúng tôi. Chị ta dừng lại như để nhớ một dĩ vãng, như nhớ một khỏang sống đã đi qua… – Lai! Lai ơi, má đây con…- Chị đàn bà đứng lại xoay người về phía dòng sông… Má! Má!

Tôi thấy đôi môi run rẩy thì thầm: Nhà cháy rồi! Nhà cháy rồi! Chị ta đi lần ra phía bờ sông, cũng với những bước chân của người mất hồn, bóng áo trắng nổi hằn trên đám dừa xanh. [Hết trích dẫn, Người Chết Dưới Chân Chúa, Dấu Binh Lửa]

Nhân có một bản dịch cuốn Dấu Binh Lửa sang tiếng Pháp: Stigmates de Guerre, Phan Nhật Nam xúc cảm viết một thư ngỏ gửi bằng hữu:

Dấu Binh Lửa sống đến nay được 48 năm (1968-2016) và người viết vượt quá tuổi 70… Quả thật là một phép lạ qua chiến tranh, khổ nạn Việt Nam từ sự tồn tại của cuốn sách đến người lính viết nên những giòng chữ đầu đời nầy trong lửa đạn Mậu Thân Huế, 1968. Nay cuốn sách được thành hình với một chữ, nghĩa  khác – Pháp Ngữ, ngôn ngữ mà bản thân tôi và các bạn hằng thấm sâu từ tuổi thơ ấu ở quê nhà, mỗi người mỗi cách, mỗi cường độ vì vẻ mỹ lệ, cao quý qua âm sắc, cấu trúc, văn phong, văn ý. Quả thật bản thân tôi không hề nghĩ ra phép lạ thứ hai nầy hiện thực; và nay chuyện thần kỳ trở thành sự thật từ những giòng chữ đầu tiên của anh Phan Văn Quan, tiếp nên chuyện ở Tòa Báo Sống có sự tham dự ngẫu nhiên / một cách cố ý của Nguyễn Xuân Nghĩa, và dần hoàn chỉnh với Bồ Đại Kỳ, qua hợp tác của cô TT Tôn Nữ Phan.

Tôi không quá lời vì quả thật bản thân đang ở trong hoàn cảnh không thiết tha với bất cứ điều gì… Cho dù đây là cuốn sách viết bởi máu, nước mắt, nỗi đau có thật.

Thủy Tiên sắp có mặt ở Pháp, sẽ tiếp xúc với các bạn ở bên ấy và chắc sẽ có một bản in trong năm nay – Một năm Thân như lần ra đời của nó 48 năm trước. Có một điều kỳ thú là cuốn sách có liên hệ rất cụ thể với những người gốc xứ Huế, họ Phan!

Phan Nhật Nam (1943-2016) với Mỗi Người Bạn ở Huế-Đà Nẵng-Sàigòn-Paris… và nơi nước Mỹ.

Tôi quen Phan Nhật Nam và Vũ Ngự Chiêu từ Việt Nam, nhưng có lẽ gần gũi và thân thiết hơn với Nam là trong thời gian sống ở Mỹ. Với không chút dè dặt, tôi vẫn nói với Nam: “Bút ký viết về Chiến Tranh Việt Nam trước 1975 của Phan Nhật Nam là hay nhất đối với cả hai miền Nam Bắc”.

Với một chút dư vị cay đắng, Nam nói: “Chỉ có bác nghĩ về tôi như vậy, nhưng đó không phải cái nhìn của văn giới và ngay cả với những bạn Võ Bị của tôi nữa.” Bản thân Nam đã bị đối xử khá bất công, không phải chỉ với trong nước mà kể cả với các cộng đồng ở hải ngoại.

PHAN NHẬT NAM VÀ HỮU THỈNH

Ngày đầu tháng 9, 2017 Phan Nhật Nam phone cho tôi, cho biết anh mới nhận được một thư của Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam mời về tham dự cuộc họp mặt sẽ diễn ra ở Hà Nội và một số địa phương miền Bắc, từ ngày 20 đến 25 tháng 10 năm 2017. Rồi qua eMail, Nam chuyển cho tôi đọc nguyên văn bức điện thư của Hữu Thỉnh.

Thư gửi nhà văn Phan Nhật Nam

Thưa Anh,

1/ Để đỡ đường đột, xin giới thiệu. Tôi là Hữu Thỉnh, người từng đọc anh đã lâu, hiện nay đang làm việc tại Hội Nhà văn Việt Nam. Tôi mới gặp Thuỵ Kha vừa ở bên ấy về, cho biết có gặp anh và hai người đã từng cùng nhau uống bia vui vẻ. Đây quả là một sự kiện bất ngờ thú vị. Với dư âm của các cuộc gặp ấy, tôi viết thư này thăm anh và bày tỏ nguyện vọng “tái bản” cuộc gặp ấy, và di chuyển nó về quê nhà với quy mô rộng hơn, thời gian dài hơn trong khuôn khổ một cuộc gặp mặt của Hội Nhà văn Việt Nam với các nhà văn Việt Nam đang sống và làm việc tại nước ngoài. Đây là một cuộc hội ngộ mà chúng tôi mong mỏi từ lâu, nay mới có thể thực hiện được. Với ý nghĩa cao cả, góp phần vào làm giàu các giá trị truyền thống của dân tộc, xứng đáng để chúng ta vượt qua mọi xa cách và trở ngại, cùng ngồi lại với nhau trong tình đồng nghiệp. Tôi chờ đợi được anh chia xẻ điều đó và chân thành mời anh tham gia sự kiện nói trên.

Anh Nam ơi, tôi muốn nói thêm rằng, chúng ta đều không còn trẻ nữa. Tôi hình dung cuộc gặp gỡ này là rất có ý nghĩa cho những năm tháng còn lại của mỗi chúng ta. Tôi cũng dự đoán rằng, có thể có những khó khăn. Nhưng từ trong sâu thẳm thiên chức nhà văn, chúng ta cùng chọn Dân Tộc làm mẫu số chung để vượt qua tất cả.

2/ Cuộc gặp mặt này dự kiến sẽ diễn ra từ 20 đến 25 tháng 10 năm 2017 tại Hà Nội và một số địa phương ở phía Bắc. Trường hợp anh Nam, Ban tổ chức sẽ lo chi phí toàn bộ đi về và thời gian tham gia Cuộc gặp mặt. Vì đây là lần đầu, còn nhiều bỡ ngỡ, xin anh vui lòng lấy vé giúp và cho biết thời gian chuyến bay để chúng tôi ra đón anh tại sân bay Nội Bài. Quá trình chuẩn bị có gì cần trao đổi, xin anh cho chúng tôi biết sớm.

3/ Ngay sau khi được hồi âm của anh, tôi sẽ gửi giấy mời chính thức cùng chương trình của Cuộc gặp mặt. Mùa Thu Hà Nội cùng những giá trị bền vững của tâm hồn Việt đang chờ đón cuộc gặp mặt của chúng ta.

Chúc anh sức khoẻ, may mắn, gia đình hạnh phúc và mong sớm nhận tin tốt lành.

Hũu Thỉnh, Hà Nội 1/9/2017

Tôi có cảm tưởng Nam khá xúc động với “mixed feelings” khi nhận được bức thư của Hữu Thỉnh. Nhiều câu hỏi đặt ra cho Nam: trả lời hay không thư Hữu Thỉnh, có nên công khai hoá bức thư, trả lời với tư cách một một người lính của Miền Nam hay một Nhà Văn. Tôi chỉ có một gợi ý với Nam: cho dù Nam chưa bao giờ nhận mình là một nhà văn mà chỉ là một người lính-viết văn, nhưng Hữu Thỉnh mời Nam với tính cách một Nhà Văn chứ không phải một người lính của Miền Nam. Thư trả lời của bạn nếu có, thì vẫn với tư cách của một người cầm bút. Và bạn có tất cả lý lẽ để trả lời Hữu Thỉnh với những dòng chữ thật cô đọng – theo một văn phong mà tôi gọi là style télégraphique / đánh điện tín. Và rồi Phan Nhật Nam cũng cho tôi đọc bản thảo bức điện thư gửi Hữu Thỉnh trước khi gửi đi. Tôi chỉ nói với Nam: “Dù bạn muốn hay không, thì những dòng chữ này đã trở thành một phần của lịch sử.”

Thư gửi ông Hữu Thỉnh

Hội Nhà Văn Hà Nội

[Qua địa chỉ điện thư cô Đào Kim Hoa

Phụ tá Ngoại vụ Hội Nhà văn]

Tôi, Phan Nhật Nam, nguyên là một sĩ quan cấp Đại Uý Hiện Dịch Thực Thụ thuộc Sư Đoàn Nhảy Dù Quân Lực VNCH gởi đến ông Hữu Thỉnh, Chủ Tịch Hội Nhà Văn Hà Nội để trả lời thư ngày 1 tháng 9, 2017 qua điện thư của cô Đào Kim Hoa.

1/ Từ vị thế một quân nhân thuộc đơn vị tác chiến của Quân lực Miền Nam như trên vừa kể ra, với tính khách quan, độc lập của người không liên hệ đối với sinh hoạt của giới văn hoá, học thuật trong nước, ở Hà Nội trước, sau 1975. Tôi có thư này để trả lời mời gọi của ông Hữu Thỉnh đã trực tiếp gửi tới cá nhân tôi nhằm thực hiện tiến trình gọi là “Hoà Hợp Hoà Giải.” Câu trả lời trước tiên, dứt khoát là: Tôi xin được hoàn toàn từ chối sự mời gọi vì những lẽ…

2/ Là một người sinh trưởng từ thập niên 1940, tiếp sống qua hai cuộc chiến 1945-1954; 1960-1975, thực tế lịch sử, chiến tranh, xã hội Việt Nam trước, sau 1975 đã cho người lính chúng tôi xác chứng: không hề có chủ trương hoà hợp hoà giải từ người / chủ nghĩa / chế độ cộng sản trong lý thuyết cũng như qua sách lược hành động.

3/ Từ thực tiễn của # 2 thêm kinh nghiệm mà bản thân cá nhân là một đối tượng thụ nạn của thành phần gọi là “Nguỵ Quân-Nguỵ Quyền” thuộc chế độ Quốc Gia Việt Nam (1948-1954); Việt Nam Cộng Hoà (1955-1975) đến hôm nay vẫn tiếp tục bị miệt thị, xuyên tạc và triệt hạ dẫu chiến tranh đã chấm dứt từ 1975.

4/ Trong tình thế chung nhất của # 2, # 3, chắc chắn rằng không thể nào thực hiện được “Hoà Hợp Hoà Giải” như ông Hữu Thỉnh đề nghị ! Cũng bởi, giới Nhà Văn chính là đối tượng hàng đầu bị bách hại đối với tất cả chế độ cộng sản Đông-Tây. Lịch sử đẫm máu của 100 năm chế độ cộng sản từ 1917 đến nay như một vũng tối ghê rợn phủ chụp lên lương tri nhân loại. Hỏi thử cuộc họp mặt tháng 10 tại Hà Nội (cho dẫu thực lòng đi nữa) sẽ gây được tác dụng gì? Nhà Văn? Nhà Văn Việt Nam đích thực là những ai? Nhưng đây không phải là vấn đề của cá nhân tôi – Trước sau chỉ là một Người Lính-Viết Văn. Cũng bởi tôi chưa hề nhận Chứng Chỉ Giải Ngũ của Bộ Quốc Phòng / VNCH cho dù đã không mặc quân phục từ 1975.

5/ Hãy nhìn lại… Thương phế binh VNCH là những lão nhân phế binh, thương trận đã không được sống với dạng Con Người từ 30 Tháng 4, 1975. Hãy để cho Người Lính VNCH còn sống sót và gia đình được trở lại Miền Nam sửa sang phần mộ Chiến Hữu nơi Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà là nơi giới cầm quyền Hà Nội chủ trương phá bỏ một cách có hệ thống, dẫu người chết gần nửa thế kỷ qua không thể nào đe doạ đối với Chế độ XHCN!

Xin hãy “Hoà Hợp Hoà Giải” với những người đã chết. Với những người đang sống sau thảm hoạ Formosa, Nghệ An. Hãy hoà hợp hoà giải với “Khúc ruột ở trong nước” trước. Khi ấy không cần mời, chúng tôi “Khúc ruột ngàn dặm” sẽ về. Về rất đông. Người Viết Văn – Lương Tri và Chứng Nhân của Thời Đại sẽ về. Tất cả cùng về Việt Nam.

Kính thư,

Người Lính – Viết Văn

Công Dân Mỹ gốc Việt

Phan Nhật Nam

Washington DC, 9 tháng 9, 2017

Hình 8: tranh hí hoạ của Babui Mamburao 9/2017 nhân sự kiện Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam Hữu Thỉnh mời nhà văn Phan Nhật Nam, tác giả Mùa Hè Đỏ Lửa về tham dự cuộc họp mặt ở Hà Nội và một số địa phương miền Bắc từ ngày 20 đến 25 tháng 10 năm 2017. Nguồn: Đàn Chim Việt

Bức thư của Phan Nhật Nam trả lời ông Chủ Tịch Hội Nhà Văn Hữu Thỉnh, đã gây nhiều phản ứng khác nhau kể cả nhiều chỉ trích. Nhưng từ lâu như đã được “miễn nhiễm” và Nam thì rất “lì đòn”.

Một bà cô của Nam tuổi gần 90 từ Canada, có chồng là Đại tá VNCH chết trong trận Lam Sơn 719 Hạ Lào, không rõ thực hư bà cũng nghi hoặc hỏi Nam: “O nghe con đi Hà Nội phải không?” Nam trả lời là không, nhưng bà vẫn nói tiếp: “Nếu quả thật con đi thì làm sao dượng con chết nhắm mắt cho được”.

Nhưng có lẽ, hạnh phúc đầy đủ nhất với Phan Nhật Nam là coup phone nhận được từ một đệ tử cũ, trung sĩ vác máy truyền tin theo Nam khi còn ở Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù, có biệt danh là Hiền rỗ hiện còn sống ở Hố Nai Biên Hoà: “Tụi em vô cùng ấm lòng với câu trả lời không của đích thân.” Người lính Nhảy Dù vẫn quen gọi cấp chỉ huy của mình là đích thân. Hiền muốn nói tới bức thư Phan Nhật Nam trả lời Chủ tịch Hội Nhà Văn Hữu Thỉnh từ chối lời mời về Hà Nội. Những người lính Miền Nam cho dù có bị đầy đoạ khổ cực từ bao năm nhưng như từ bao giờ, ngọn lửa ấm kiêu hãnh vẫn chưa bao giờ tắt trong lòng họ.

VẪN NHỮNG CON SỐ LUÔN ÁM ẢNH

Phan Nhật Nam có một trí nhớ kỳ lạ về các sự kiện và những con số, và mỗi con số đều có riêng một ý nghĩa trong cuộc đời Nam. Phải chăng đó là hậu chứng của những ngày tháng dài đẵng đếm lịch trong tù của Phan Nhật Nam?

Chỉ riêng tháng 6 thôi, Nam nhớ như in các sự kiện với những con số: 11.06.1963 ngày Thích Quảng Đức tự thiêu; ngày 11.06.1965 kết thúc trận đánh Đồng Xoài; rồi 19.06.1965 ngày Quân Lực.

Sắp tới Ngày Quân Lực 19 tháng 06, Nam viết eMail cho một người bạn bên TQLC:

Bác TV Cấp ơi, Quả thật tôi viết không nổi, đọc không xuống trong những ngày nầy, lại thêm nhớ Ngày Quân Lực, 19/6/2018 sắp tới – Ngày ấy, năm 1965, tôi và bác (mấy ông K.19) mới qua tuổi 20. Tôi chưa hoàn hồn về lần Trần Trí Dũng chết (cùng các Anh Trần Văn Ký, Á Khoa 17; TTrg Hợp Khoá 14), Đoàn Phương Hải bị thương, Lâm Văn Rớt bị bắt.. Tiểu đoàn 7 ND chết bị thương 14 sĩ quan, từ tiểu đoàn trưởng đến trung đội trưởng chỉ mấy tiếng đồng hồ Trận Đồng Xoài (11/6/65).

Tôi chỉ biết ngồi ôm mấy trẻ con lính ra khóc ở văn phòng đại đội (là viên thiếu úy còn sống sót của ĐĐ72). Ra Biên Hòa thấy thêm cảnh vợ con lính của Tiểu Đoàn 52 BĐQ; Tiểu Đoàn 2/7/SĐ5BB (Sư Đoàn 5 của Đại tá Thiệu) trước 1964 cũng đóng ở Biên Hòa.

Tình cảnh đau thương của TĐ7ND; 52 BĐQ; 2/7/SĐ5BB… năm 1965 so với nguy nan tan nát của đất nước ngày nay đâu thấm vào đâu?!

 Người Lính VNCH làm gì? Tôi chỉ muốn cầm một trái lựu đạn về Sài Gòn thôi!

Thiếu úy Phan Nhật Nam K.18/TVBQGVN/Tiểu Đoàn 7 ND, KBC 4919

Như một chu kỳ của con số 14, ngay cả tên Nam – mẫu tự N cũng ở thứ tự số 14. Trong bức thư chuẩn bị chia tay với các bạn đồng sự trong đài SBTN, có đoạn Nam viết: “Tôi đi lính 14 năm (1961-1975), tôi đi tù 14 năm (1975-1989) và nay cũng đã 14 năm, tôi rời SBTN. Đời sống chỉ là màn hợp tan không ai có thể lường được. Vậy chúng ta tạm chia tay”.

Như bỗng chốc, trong thời gian gần đây Phan Nhật Nam chợt thấy những ngày tháng bonus còn lại cho dù có kéo dài thêm nữa cũng không còn mang một ý nghĩa nào. Và rồi từng bước, từng bước Phan Nhật Nam thản nhiên chuẩn bị một kết thúc ý nghĩa cho cuộc đời mình.

11.06.1963 ngày Thích Quảng Đức tự thiêu như một ám ảnh với Nam. Nam vẫn nghĩ rằng, chưa bao giờ anh có ý tưởng tự vẫn / suicide mà Nam cho là một trốn chạy. Không có nỗi sợ hãi nào khiến anh phải trốn chạy. Nhưng anh cũng không nhận đó là một tự thiêu / self-immolation… và anh khẳng định đó cũng không phải là một tự vẫn chính trị / political suicide mà là một nghi thức/ ritualistic của sự hoá thân / metamorphose trong ngọn lửa để đánh động cái mà Nam muốn gọi là lương tâm của thời đại. Bước hoá thân đó cần tới hùng tâm và một quyết định đương đầu can đảm. Vẫn theo Nam, với quan điểm của Nhà Phật, đời sống không phải chỉ giới hạn trong sự tồn tại của nhục thân… Phan Nhật Nam đã thảo một tâm thư như một di bút, gửi tới Đức Giáo Hoàng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, bao gồm cả hai thủ lãnh chính trị thế giới là Tổng Thống Mỹ và Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa…

MỘT CHUẨN BỊ BÌNH THẢN VÀ CHU ĐÁO

Bây giờ thì Phan Nhật Nam đang ở Arizona. Nói chuyện qua phone, giữa lúc đang diễn ra trận chung kết World Cup bóng đá 15.07.2018 giữa hai đội Croatia và Pháp. Nam hầu như hoàn toàn không biết và cũng không quan tâm gì tới sự kiện thể thao hành tinh này. Hình như trong nhà chỉ có một mình Nam, anh đang tĩnh tâm trong một căn phòng im vắng. Các con đều đi làm, ra khỏi nhà.

Hầu như không ai biết, chỉ mới hai tuần trước đây thôi, Phan Nhật Nam đã tới rất gần đường ranh của con dốc tử sinh. Nam đã rất chu đáo và thản nhiên chuẩn bị cho một kết thúc tự nguyện.

Một ngày sau ngày Quân Lực 19.06.2018, sáng nay Nam vẫn lái xe tới đài SBTN. Thường thì anh làm việc ở nhà, gửi bài qua internet và chỉ vào đài khi có một chương trình thu hình hay Talk show với Kim Nhung. Hôm nay không có một chương trình thu hình như vậy, không có hẹn nhưng anh vẫn tới. Đi một vòng, như mọi lần Nam tươi cười chào hỏi mọi người. Và rồi anh tìm gặp được một cậu đàn em cũng tên Nam. Anh nhờ Nam cùng đi tới Tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ, trên đường All American Way, với lý do “thực hiện một video clip ngắn về sinh hoạt cộng đồng” . Hồn nhiên, cậu đàn em đem theo một video camera gọn nhẹ đi với Phan Nhật Nam.

Tới nơi, thấy ông anh xuống xe, ra mở cốp sau xe lấy ra một lá cờ VNCH, một bình nhựa đỏ 5 gallons bốc mùi xăng. Hiểu ngay điều gì sắp xảy ra, thất sắc, cậu ấy nói lớn tiếng với Phan Nhật Nam “Anh ơi, đâu có được. Em là người Công giáo, sống chết là do tay Chúa, em đâu có thể để anh làm chuyện này. Anh không ngưng ngay là em la lên, bót Cảnh sát ở phía trước.”

Trước tình huống này, biết dự định đã không thành, Nam không có phản ứng gì và lại bình thản lên xe đưa cậu em trở về đài. Sau đó, như không có chuyện gì xảy ra, Nam tự lái xe trên đường về nhà. Nam nẩy ý muốn tìm nhiếp ảnh viên Trương Tuấn, một cậu em giang hồ khác mà Nam biết chắc là Tuấn sẵn sàng nghe Nam làm bất cứ chuyện gì, nhưng rồi không kiếm đâu ra cái cell phone mà từ sáng anh mang sẵn bên mình với lời dặn cuối cùng cho hai con ở Arizona.

Ngày 30.06.2018, Nam vẫn đi dự đại hội cựu học sinh Phan Chu Trinh Đà Nẵng. Gặp lại các bạn cũ, Nam đã không có không nhiều cảm xúc.

Trở về nơi căn chung cư trên lầu 8, cũng trên Đường Số 1 như một flashback khiến Nam lại nhớ tới Dọc Đường Số 1 ngày nào.

Và rồi hai ngày sau đó, ngày 2 tháng 7, chuẩn bị lái xe đưa bạn đi thăm thầy cũ ở San Diego, Nam chợt thấy trên bảng đồng hồ xe / dashboard có báo hiệu đèn vàng, không biết chuyện gì, Nam rẽ qua một garage đàn em. Cậu ấy cho biết, đèn báo hiệu có thể là do một bánh xe bị xẹp. Lại thấy có mùi xăng bốc ra, cậu ấy mở cốp sau và la Nam: “Trời nóng cả trăm độ, chú để bình xăng sau xe có thể cháy nổ bất cứ lúc nào, như vậy đâu có được!” Nam lấy cớ sắp đi xa xuống San Diego, sợ thiếu xăng nên đem theo xăng secours.” Cậu ấy vừa vá lốp xe và vừa giúp Nam đổ cả 5 gallons xăng-super vào bình xăng xe.

Dự định không thành, lần này Nam chỉ đổ tại ý Chúa Thánh Linh chưa cho phép anh được bước ra khỏi ải trần gian này.

Rồi bỗng cơ thể Nam bắt đầu có những biểu hiện bất thường, người anh như bị cứng lại, đau ran bên ngực trái và tim gần như nghẽn lại không đập nổi nữa. Nam tới phòng mạch Bs Nguyễn Ngọc Kỳ, là một đàn anh bên Không quân và cũng là bác sĩ gia đình của Nam trong nhiều năm. Anh Kỳ cho Nam nhập viện khẩn cấp. Hai ngày nằm viện, với mọi thử nghiệm về tim mạch và tổng trạng đều rất tốt. Và Nam được xuất viện. Nam nhớ rất rõ, từ ngày sang Mỹ có lẽ đây là lần thứ tư anh bị một hội chứng tim mạch như vậy. Sau đó, để có một không khí gia đình, Nam bay sang Arizona sống với hai con và cũng để có mấy ngày tĩnh tâm.

Qua phone, Nam kể lại là đêm qua, mấy đứa con thấy đầu bố Nam sáng lên và thấy có cả một bông sen vàng trên trán bố. Phan Nhật Nam có xác tín về một hiện tượng mà anh rất tin là có thật này.

Không muốn đụng tới đức tin của bạn, nhưng tôi vẫn nghĩ theo khía cạnh y khoa: đây là một ảo giác / delusional không phải là hiếm gặp nơi nhóm bệnh nhân Cựu Chiến Binh Việt Nam/ Vietnam Vets trong mấy chục năm qua mà tôi thường gặp.

Trưa 20.07, anh Phạm Phú Minh, Diễn Đàn Thế Kỷ, sau khi dự cuộc triển lãm tranh của Hs Nguyễn Đình Thuần từ hội trường Việt Báo về, biết tôi quen thân với Phan Nhật Nam, anh Phạm Phú Minh, viết một eMail cho tôi:

Anh Vinh, 

Phòng tranh của Nguyễn Đình Thuần trưa nay có nhiều văn nhân tài tử, lâu lâu được gặp cũng vui. Tuần trước tôi gửi mail cho Nam chúc mừng quyển Mùa Hè Đỏ Lửa được dịch sang tiếng Pháp, thì nhận được trả lời rất vắn tắt của Nam nói rằng mình đang ở một chỗ rất xa. Nay gặp mới biết chỗ ấy là bệnh viện. Sau đại hội cựu học sinh Phan Chu Trinh Đà Nẵng thì đột nhiên Nam bị cứng cả người, và theo lời Nam, trái tim gần như đập không nổi nữa. Đưa vào bệnh viện cấp cứu, người ta khám hết cả người kể cả Nuclear Stress Test thì không thấy bệnh tật gì hết, mọi thứ rất tốt. Có vẻ là do một dồn nén tâm lý sao đó mà gây khó khăn cho tim. Theo tôi thấy thì Nam hoàn toàn trở lại bình thường, có cho tôi xem bức ảnh chụp trong bệnh viện có một quần ánh sáng trên trán. 

Phan Nhật Nam có văn tài, và cũng có vài cái tật vui vui. Tôi rất quý tài năng, và có khuynh hướng quên đi phần còn lại. Hôm qua Nam nói nhiều về chị Liễu Trương với tác phẩm Albert Camus. Rất vui, chuyện nào cũng tích cực. Nếu anh có viết về Phan Nhật Nam thì nên công bố, tôi rất mong điều đó. Nam cho biết chưa nhận được bản dịch Mùa Hè Đỏ Lửa, do nhà xuất bản gửi. Như vậy hiện nay ở Mỹ chỉ có anh Vinh là có Un Été Embrasé, chắc do dịch giả gửi. Còn tôi giữa tháng Tám LH từ Pháp mới mang sách về. 

Hằng ngày tôi vẫn thường cảm thấy rất mệt, một tình trạng chưa thấy lối ra. 

PPMinh 20.07.2018

Phạm Phú Minh cũng trải qua 13 năm tù, có giai đoạn bị giam nơi trại Thanh Cẩm, Thanh Hoá. Năm 1983 sau khi Phạm Phú Minh được đưa vào một trại ở miền Nam, Phan Nhật Nam đã được chuyển tới trại Thanh Cẩm.

Anh Phạm Phú Minh bị một Hội chứng Mệt Mỏi Kinh niên / Chronic Fatigue Syndrome trong nhiều năm, mà không có một chẩn đoán bệnh lý nào rõ rệt. Nếu bảo rằng, đó là triệu chứng của PTSD thì chắc chắn anh ấy phủ nhận và cả không tin.

Hình 9: trái, lá quốc kỳ VNCH lớn 21 feet; phải:chiếc bình nhựa 5 gallons xăng để sau cốp xe trên đường tới Tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ, trên đường All American Way, ngày 20.06.2018, Westminster
Hình 11: trái, một đoạn thơ của Phan Nhật Nam trong Đêm Tận Thất Thanh (1997); phải: mấy dòng di bút dặn dò người quản lý chung cư Flower Park Plaza, # 812 là số phòng của Phan Nhật Nam. Cũng Chung cư này, trên lầu 10 là nơi nhà thơ Nguyễn Chí Thiện sống những ngày tháng cuối đời. Ảnh tư liệu Ngô Thế Vinh.

VẾT THƯƠNG KHÔNG CHẢY MÁU

PTSD / Post Traumatic Stress Disorder là một hội chứng rối loạn hậu chấn thương – là dạng chấn thương tâm lý, rất thường gặp nơi các cựu chiến binh, và cả thường dân do phải trải qua, chứng kiến cảnh chết chóc tàn phá ngoài chiến trận hay bị tù đầy. Phan Nhật Nam, một sĩ quan tác chiến, rồi là một phóng viên chiến tranh, và hơn thế nữa với 14 năm tù bao gồm cả bị gông cùm biệt giam, Nam tuy là kẻ sống sót / survivor như một phép lạ nhưng cơ thể đã mang đầy thương tích – với những vết thương không chảy máu [Wounds Don’t Bleed].

Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, PTSD chưa hề là một chẩn đoán y khoa được chấp nhận một cách phổ quát. Cho tới khi đám cựu chiến binh Mỹ tham dự các cuộc viễn chinh từ Irak, Afghnistan trở về thì ngoài số thương vong do vũ khí súng đạn, còn có hiện tượng con số tự tử gia tăng rất bất thường tới mức báo động, đưa tới nhiều cuộc nghiên cứu và kết quả PTSD được chính thức công nhận là một thực thể “chẩn đoán bệnh lý / medical diagnosis” từ hơn 3 thập niên qua [từ 1980]. Đó là một hội chứng phức tạp và biến thiên qua từng cá nhân, có thể kể: sự tái trải nghiệm / re-experiencing: những cơn ác mộng, những hồi tưởng / flashbacks, những ám ảnh về chấn thương / unwanted thoughts of the traumatic events. Tất cả dẫn tới sự quá mẫn cảm / hyper-vigilance, dễ giận dữ / anger, dẫn tới sự né tránh / avoidance, tự cô lập / isolation, và cả hoang tưởng / paranoia.

Nhiều năm làm việc trong một bệnh viện cựu chiến binh, có thể nói đây là một trải nghiệm không phải không thường gặp. Không ít cựu chiến binh với nhiều kiêu hãnh – trong đó có Phan Nhật Nam, cho dù có tất cả triệu chứng điển hình của PTSD nhưng vẫn chối từ / denial, không muốn chấp nhận hay nhắc tới thực trạng ấy vì cho đó có thể là biểu hiện của sự yếu đuối / weakness, trong khi đó thực sự là những vết thương chiến trận / combat wound cho dù không chảy máu, cùng với những vết thương của tra tấn và tù đày đang âm thầm tàn phá con người Phan Nhật Nam một cách toàn diện.

Bề ngoài là một tâm lý ổn định nhưng đó chỉ là kết quả của của những dồn nén cảm xúc vào vùng vô thức, để rồi chỉ còn là những biểu hiện trên thân xác mà từ y khoa gọi là somatization như: các triệu chứng rối loạn tim mạch, thần kinh hay về tiêu hoá… mà không giải thích được bằng những phương pháp chẩn đoán bệnh lý thông thường, và những biểu hiện đó rõ nét hơn khi tình trạng căng thẳng / stress gia tăng.

Hình 12: trái, Phan Nhật Nam đứng nhìn xuống từ lầu 8; phải, Phan Nhật Nam và những chứng vật: một lá cờ vàng 21 ft, một bình đựng xăng 5 gallons và hai hộp quẹt gas. Nam lúc này như một robot, buông xả, không cảm xúc, anh để mặc tôi trong căn phòng chung cư của anh và rất vô thức, anh cứ tuần tự làm theo những điều tôi yêu cầu. Trong phòng Nam, ngoài trang thờ cúng gia tiên với di ảnh của Mẹ – bà chết rất trẻ ở tuổi 39, còn có bàn thờ Phật và cả một bàn thờ Chúa, cùng với hình của Cha Trương Bửu Diệp. Photo by Ngô Thế Vinh.

RŨ BỎ KÝ ỨC: KÝ ỨC NGƯỜI

Phan Nhật Nam không thể khác được chừng nào anh chưa thoát ra khỏi vũng lầy của cuộc Chiến Tranh Việt Nam, mà anh “là kẻ sống sót.”

Bất cứ ở đâu và bao giờ, với quan điểm y khoa, Phan Nhật Nam luôn luôn là một bệnh nhân với rủi ro cao / high risk patient, sau một lần tự thiêu bất thành / unccessful suicidal attempt, mà Nam phủ nhận chỉ muốn gọi đó là một chọn lựa hoá thân, không biết bao giờ nhưng rồi sẽ có một lần thứ hai, thứ ba… và tới một lúc nào đó, không hề là bất ngờ Nam sẽ thành công chọn được một bước ra đi cho mình, để ra khỏi Ải Trần Gian này.

Phan Nhật Nam là một khuôn mặt của cộng đồng. Với tôi anh là một người bạn, nhưng với nhãn quan của y khoa anh cũng là một người bệnh đầy rủi ro. Tôi tôn trọng quyền riêng tư của anh nhưng vẫn muốn công khai hoá sự kiện mới đây; về phương diện tâm lý học có thể đây cũng là một bước điều trị khử nhạy / desensitization đối với những tình thế thử thách có thể đưa tới những phản ứng xúc động quá đáng hay không hợp lý, và dần dà người bệnh giải toả được một số những phản ứng tiêu cực và thay thế bằng sự thư giãn.

Đó như một bước phòng ngừa thứ cấp / secondary prevention thay vì đến một lúc nào đó, có thể là quá trễ để phải chứng kiến một sự đã rồi / fait accompli và chỉ còn là sự hối tiếc để viết một lời ai điếu / requiem.

Chính sự quá thản nhiên của Nam khiến tôi càng quan tâm. Tôi cũng rất cân nhắc và cả trách nhiệm với Phan Nhật Nam, khi viết về sự kiện này; cùng với một lời tạ lỗi nếu những điều viết ra khiến bạn tôi chỉ thêm nặng lòng.

NGÔ THẾ VINH

Sài Gòn 1963 – California 2018

_____

Tham Khảo

1/ Súng Đạn Nào Giải Quyết Được khổ Đau. Lưu Diệu Vân Phỏng vấn nhà văn Phan Nhật Nam. Thời Báo 30.04.2018

2/ Gặp Phan Nhật Nam trên Quốc Lộ 1. Trần Vũ, Tạp Chí Hợp Lưu 10.08.2013

2/ Bút Ký Irina, Tập I. Phan Nhật Nam, pp.86-90, Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1992

3/ Như Phong, Gió Vẫn Thổi. Phan Nhật Nam. Tưởng Niệm Nhà Báo Như Phong. Nxb Viet Ecology Press & Người Việt Books 2016

4/ Dọc Đường Số 1. Phan Nhật Nam, Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1970

5/ Văn Học Miền Nam, Ký. Võ Phiến, Nxb Văn Nghệ 1999

 

Nam Mai Sưu tầm

 

 

 

 


 

 

 

Theo dõi RSS này