Kim Quy

Kim Quy

Nhà sách Khai Trí xưa

 

 Nhà sách Khai Trí xưa

Kỷ niệm của cậu học trò ăn cắp sách

 

Ông Nguyễn Hùng Trương

( Chủ nhân nhà sách Khai Trí)

 

 Nhắc tới Sài Gòn xưa, ngoài những công trình kiến trúc, con người,… thì sách cũng là một phần không thể thiếu. Khi bàn về sách thì mọi người sẽ không bỏ qua phần sách đó của nhà xuất bản nào. Bữa nay, Sài Gòn Năm Xưa sẽ nói về nhà sách kiêm nhà xuất bản Khai Trí. Chủ của nhà sách tên là Nguyễn Hùng Trương, được mọi người hay gọi với tên ông “Khai Trí”.

Ông “Khai Trí” - Nguyễn Hùng Trương, sinh năm 1926 tại Thủ Đức. Thuở nhỏ, ông thường nhịn ăn sáng, dùng 2 đồng xu mẹ cho để mua báo đọc. Lên Sài Gòn học trung học ở Petrus Ký, ông được sắm cho chiếc xe đạp cũ để cuối tuần đạp về nhà, đầu tuần trở lên với món tiền đủ để tiêu xài dè sẻn trong tuần. Nhưng cứ mỗi chiều thứ hai là ông tiêu sạch số tiền đó vào sách báo rồi cả tuần nhịn ăn sáng, chỉ uống nước lã cho đỡ đói.

Sách ông mua hầu hết là sách báo nước ngoài, vào thập niên 1940 ông đã gây dựng được một tủ sách có giá trị. Bạn bè đến chơi, thấy ông có nhiều sách hay thường nhờ ông mua giùm. Có lần, chỉ 5 người nhờ nhưng ông mua đến 10 cuốn để được hưởng 30% hoa hồng. Số sách dư ra, ông đem ký gửi ở quán sách. 3 hôm sau, người chủ quán hỏi ông sách loại đó còn không, nếu còn thì đem tới tiếp vì sách gửi trước đã bán hết rồi. 

Từ đó, ông nảy ra ý định mua sách báo ở nước ngoài về gửi bán. Sách ông chọn là loại sách có giá trị, quý hiếm, nhiều người cần mà trong nước không có bán. Lúc đầu mua mỗi thứ vài chục cuốn, thấy bán chạy ông mới tăng số lượng lên, có khi cả nghìn cuốn. Có người nói rằng ông Khai Trí khởi nghiệp bằng chiếc xe đẩy bán sách, thường đậu trước trường Chassesloup Laubat (nay là trường THPT Lê Quý Đôn) đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai).
 
~~<><><><>~~

Nếu tôi nhớ không lầm, đó là vào khoảng giữa năm 1959 hay 1960, báo chí đăng tin về một cậu học sinh khoảng chừng 14 -15 tuổi, gương mặt thông minh đĩnh ngộ và câu chuyện ở nhà sách Khai Trí (báo chí giấu tên và cũng không cho biết trường cậu bé học, thật ra cậu là học sinh trường Pétrus Ký).

Thời chúng tôi còn học trung học, tức dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, sách tiếng Việt ít nên muốn thi đậu bắt buộc phải dùng sách tiếng Pháp, như Toán hình học, Toán đại số, Toán vật lý… Học lớp Đệ tứ (lớp 9 bây giờ) mà làm hết cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs gồm 1.144 bài thì nhất, đi thi trung học chắc ăn như bắp.

Nhà sách Khai Trí xưa.

Thời ấy các tiệm sách lớn như Khai Trí chẳng hạn không có nhân viên bảo vệ mặc đồng phục ngồi gác ở cửa như bây giờ, mà có các nhân viên giả làm khách hàng, trông nom, ngăn chặn những người muốn ăn cắp sách.

Buổi sáng hôm ấy, cậu học sinh này cứ lang thang mở coi hết cuốn này đến cuốn khác ở chỗ các giá sách tiếng Pháp. Việc lấm lét nhìn tới nhìn lui của cậu bé khiến nhân viên trông coi khu sách tiếng Pháp nghi ngờ. Lúc cậu đi ra, họ giữ lại, sờ ngực áo cậu và lôi ra một cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs quý giá đã nói ở trên.

– Tại sao cậu ăn cắp sách?

Cậu bé tái mặt không nói nên lời. Chiếc phù hiệu trên ngực áo cậu cho biết cậu học trường Pétrus Ký, một trong bốn trường trung học công lập lớn nhất rất nổi tiếng tại Sài Gòn lúc bấy giờ: Gia Long, Trưng Vương, Pétrus Ký, Chu Văn An.

– Hừ, học sinh trường Pétrus Ký mà ăn cắp sách! Tôi gọi cảnh sát đến bắt để cậu chừa cái thói đó đi!

Họ lôi cậu bé tới chỗ quầy thâu tiền của cô thâu ngân viên, nhờ cô giữ cậu giùm rồi đi gọi cảnh sát. Cậu bé sợ hãi khóc như mưa như gió:

– Lạy chị, nhà em nghèo không có tiền mua sách, chị nói với chú ấy tha cho em đừng gọi cảnh sát…

Cậu bé khóc quá khiến cô thâu ngân viên cũng thấy mủi lòng:

– Ba má em làm gì mà nghèo?

– Ba em chết, má em quét chợ An Đông…

– Mẹ quét chợ An Đông mà con học Pétrus Ký? Em học đến đâu rồi?

– Dạ thưa quatrième année. Chị tha cho em, nếu cảnh sát bắt, đưa giấy về trường em bị đuổi học tội nghiệp má em…

– Các em quen với tiếng Pháp lắm phải không?

– Dạ.

– Bởi vậy nên mới lấy trộm sách Pháp. Bằng bấy nhiêu mà đã học lớp Đệ tứ, sắp thi Trung học là giỏi lằm. Nhưng chú ấy đã đi gọi cảnh sát thì biết làm sao…

Cậu bé sợ quá lại khóc…

 Từ đầu đến giờ có một ông đã lớn tuổi, ăn mặc lịch sự vẫn đứng theo dõi câu chuyện. Thấy cô thâu ngân nói thế, ông bảo cô ta:

– Thôi được, cuốn sách giá bao nhiêu để tôi trả tiền. Học trò nghèo mà, lấy một cuốn sách, lỡ bị đuổi học tội nghiệp…

Cô thâu ngân viên chưa biết giải quyết thế nào thì đúng lúc đó ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhà sách mà mọi người vẫn gọi là ông Khai Trí, từ ngoài đi vô.

Nhà sách Khai Trí xưa - Kỷ niệm của cậu học trò ăn cắp sách
Ông Khai Trí (trái).

Thấy chuyện lạ, ông dừng lại hỏi chuyện gì. Cô thâu ngân viên thuật lại sự việc và ông khách cũng đề nghị trả tiền như ông đã nói với cô thâu ngân. Ông Khai Trí cầm cuốn sách lên coi sơ qua rồi nói:

– Phải học trò giỏi mới dùng tới cuốn sách này chứ kém không dùng tới. Cám ơn lòng tốt của ông nhưng để tôi tặng cậu ta, không lấy tiền và sẽ còn giúp cậu ta thêm nữa…

Ông trao cuốn sách cho cậu bé, thân mật vỗ vai khuyên cậu cố gắng học hành rồi móc bóp lấy tấm danh thiếp, viết vài chữ, ký tên và đưa cho cậu:

– Từ nay hễ cần sách gì cháu cứ đem danh thiếp này đến đưa cho ông quản lý hay cô thâu ngân, cô ấy sẽ lấy cho cháu. Ngày trước bác cũng là học sinh trường Pétrus Ký mà…

Ông bắt tay, cám ơn ông khách lần nữa rồi đi vào trong.

Ba năm sau, nghe nói cậu bé đậu xong Tú tài phần II, được học bổng du học nước ngoài, hình như sang Canada.

 

๑▬▬▬▬●▬▬▬▬๑

 

 

Ông Nguyễn Hùng Trương

và nhà sách Khai Trí

Nguyễn Ngọc Chính

Khi đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 sau Hiệp Ðịnh Geneve (20/7/1954), nhà sách Khai Trí đã có mặt tại Sài Gòn từ hai năm trước đó. Tôi di cư sớm hơn, vào Ðà Lạt năm 1953 và trong những chuyến về chơi thủ đô, nhà sách Khai Trí là một trong những địa điểm tôi thường lui tới để thỏa mãn tính tò mò, tìm hiểu về thế giới sách vở tại đây.

Dạo đó, mỗi chiều cuối tuần người Sài Gòn thường rủ nhau đi “bát phố” Bonard, hết đi lên rồi lại đi xuống, suốt con đường từ Quốc Hội (sau này đổi là Nhà Hát Lớn) đến chợ Bến Thành. Kể từ thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, Bonard được đổi tên thành Lê Lợi. Ðặc biệt con đường này chỉ đông người phía bên phải theo hướng từ tòa nhà Quốc Hội đi đến cuối đường là chợ Bến Thành.

 Ðường Lê Lợi đông người “bát phố” vì trên suốt con đường có nhiều địa chỉ nổi tiếng… Nhà hàng Givral nằm ngay góc Catinat (đường Tự Do, sau 1975 đổi là Ðồng Khởi) và Bonard. Nơi này được mệnh danh là “Khu tứ giác Eden” gồm Passage Eden có rạp ciné Eden của gia đình họ Huỳnh Phú, đầu kia của tứ giác là nhà hàng Givral (góc Tự Do và Lê Lợi)…

Khu tứ giác này ngày nay đã biến mất hình dạng, để lại cho những người Sài Gòn xưa nhiều nuối tiếc. Kiến trúc “hiện đại” đã làm mất đi những đường nét cổ kính từ thời Pháp thuộc của Sài Gòn. Vẫn biết cuộc sống là luôn thay đổi nhưng ở một chừng mực nào đó thì vẫn còn đọng lại đâu đây những nuối tiếc, hoài cổ.


Tập san Sử Ðịa số cuối cùng.

Rồi sau này, năm 1962, có rạp Rex, “rạp cinê đầu tiên có máy lạnh,” có “thang cuốn” của tỷ phú Ưng Thi được khai trương theo mô hình rạp Rex tại Paris. Rex nằm ngay ngã tư Lê Lợi-Nguyễn Huệ lúc nào cũng dập dìu “tài tử giai nhân” đi xem phim hoặc không tiền thì đi… nhìn người ta xem phim!

Xuống đến ngã tư Lê Lợi-Pasteur có tiệm kem Mai Hương, ngày nay là kem Bạch Ðằng. Ðây là địa chỉ dừng chân của những người trung lưu, không đủ tiền ngồi Givral vốn dành cho giai cấp thượng lưu, “quý tộc,” kể cả những trai thanh gái lịch con nhà giàu.

Ði thêm vài bước nữa là đến tiệm sách Khai Trí, giang sơn của giới “mọt sách” bình dân; vì nếu “trí thức” hơn, người ta ghé vào nhà sách Xuân Thu trên đường Catinat (Tự Do). Xuân Thu có gắn máy lạnh và chuyên bán sách báo nhập từ nước ngoài với giá cao, và dĩ nhiên chỉ dành cho giới “quý tộc.”

Lần đầu tiên nghe đến tên Khai Trí không hiểu sao tôi lại nghĩ ngay đến Hội Khai Trí Tiến Ðức ngày xưa tại Hà Nội (1). Nhà sách ở Sài Gòn cũng như hội đoàn ngoài Hà Nội đã cùng một mục đích “khai tâm mở trí” cho người Việt thời Pháp thuộc cũng như thời VNCH.

Ðường Lê Lợi cũng có thể gọi tên là con đường “văn hóa” vì ngay cạnh Khai Trí (số 60-62 Lê Lợi), còn có nhiều nhà sách khác như Dân Trí, Thanh Tuân và Phúc Thành nằm chen vai thích cánh bên nhau. Tuy cùng cạnh tranh trên đường Lê Lợi nhưng Khai Trí vẫn nổi bật vì chiếm hẳn hai căn nhà bề thế; hơn nữa việc nổi tiếng còn do tài lèo lái và quản lý của người chủ. Ðó là ông Nguyễn Hùng Trương nhưng người ta ít biết đến tên ông mà chỉ gọi là: “Ông Khai Trí.”


Nhà sách Khai Trí xưa

Người ta nói ông Khai Trí khởi nghiệp buôn bán “sách vở” bằng 1 chiếc xe đẩy, hình như trước cổng trường Chasseloup Laubat đường Hồng Thập Tự, nay là trường Lê Quý Ðôn, đường Nguyễn Thị Minh Khai. Trong cuộc phỏng vấn của Phan Hoàng tại Sài Gòn được đăng trên báo Tiền Phong năm 2001 mang tựa đề “Vua sách Khai Trí” trở lại TP Hồ Chí Minh,” ông Nguyễn Hùng Trương kể lại thời kỳ khởi nghiệp trên bước đường kinh doanh sách của mình:”Từ khi còn rất nhỏ, tôi đã mê sách hơn mọi thứ khác. Càng lớn lên thì niềm đam mê sách càng tăng.

Tôi nhớ một ngày nọ có mấy anh bạn đồng môn đến nhờ tôi mua giùm năm cuốn sách về văn học Pháp. Tôi cũng đang cần một cuốn để lưu, nên gởi thư cho nhà xuất bản xin mua sáu cuốn. Ông giám đốc nhà xuất bản gởi thư hồi âm rằng, nếu tôi mua từ mười cuốn trở lên thì sẽ được trừ 30% giá bìa. Nhẩm tính tôi thấy nếu mua luôn mười cuốn thì số tiền chẳng hơn sáu cuốn chưa chiết khấu là bao, nên mượn tiền gởi mua đủ. Nhận sách, tôi đưa mấy anh bạn năm cuốn, tôi lưu một cuốn, còn bốn cuốn đem ký gởi.

Khoảng ba ngày sau tôi ra thăm chừng, không ngờ sách đã bán hết, ông chủ tiệm trả tiền và nói rằng nếu có sách gì cần bán thì cứ đem đến ký gởi… Từ đó, tôi nảy ra ý định tìm các loại sách báo có giá trị, quý hiếm đặt mua ngay tại cơ sở rồi mang ra hiệu sách ký gởi. Rồi khi để dành được số tiền kha khá tôi bắt đầu nghĩ tới chuyện mở nhà sách. Năm 1952, sau một thời gian chuẩn bị vốn liếng và mặt bằng, tôi đã khai trương nhà sách Khai Trí.”

 

Tài sản quý giá nhất của ông Khai Trí là sách báo. Sài Gòn khi đó có khoảng ba mươi tờ nhật báo, hàng chục tuần báo và nguyệt san, bán nguyệt san. Ông tìm mua hết và đóng bìa cứng để lưu trữ. Ðặc biệt hơn cả, ông sưu tập được bộ Paris Match của Pháp từ số 1 cho đến ngày 30 tháng 4, 1975, trong đó có nhiều hình ảnh, tư liệu quý giá về cuộc chiến tranh của Pháp ở Ðông Dương.

Ngoài ra, kho lưu trữ của ông còn 4,000 trang bản thảo từ điển tiếng Việt và gần 300 bản thảo sách nằm trong kế hoạch in thì bị “nửa đường đứt gánh.”Theo lời ông, thật đáng tiếc là kho sách báo ấy hiện bị thất lạc gần hết. Ông nói, tại Mỹ, bộ tạp chí Paris Match nếu còn giữ được thì giá không dưới nửa triệu đô-la.


Ông Khai Trí và nhàn văn Nhật Tiến.

Cũng từ trong nước, nhà văn quá cố Nguyễn Thụy Long, tác giả cuốn tiểu thuyết Loan Mắt Nhung, đã viết về ông Nguyễn Hùng Trương như sau: “Tiệm sách của ông tại đường Lê Lợi mang tên Khai Trí bị nhà nước quản lý, nay mang tên Phahasa của nhà nước. Thuở đó, sau khi các sĩ quan chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị đi cải tạo trước, đến lượt những văn nghệ sĩ bị bắt, tác phẩm thiêu đốt và họ đều bị coi là kẻ có tội, đương nhiên bị bôi nhọ, kết tội là Biệt Kích Văn Nghệ. Ông Khai Trí cũng bị coi là tội phạm, liệt vào hàng văn nghệ sĩ và bị bỏ tù, vì người chiến thắng cho ông là người kinh doanh và phát triển cái văn hóa đồi trụy. Những người đã từng sống ở miền Nam trước giải phóng, ai cũng biết đến ông. Gọi là ông Khai Trí mà quên cái tên cúng cơm của ông là Nguyễn Hùng Trương, ông làm được nhiều công việc lợi ích cho văn hóa Việt Nam, cả đời ông đam mê công việc ấy. Và ông quen biết rất nhiều văn nghệ sĩ ở miền Nam, kể cả những văn nghệ sĩ Bắc di cư 1954.

 

Nhiều vị học giả, nhiều nhà văn nhà thơ, tất cả đều quí mến ông. Có vị nói với tôi, “Ông Khai Trí không khen được thì thôi, chớ có gì đâu để mà nói xấu, để chê bai.” Ðúng vậy, ông Khai Trí là người làm sách, làm văn hóa, kinh doanh mặt hàng ấy, nhưng không thể coi ông là hàng “đầu nậu” xuất bản sách, trái lại rất trân trọng, vì tư cách của ông, con người vừa khiêm nhượng vừa tốt lành của ông.


Ông “Khai Trí” Nguyễn Hùng Trương

với kho sách của ông, ở những năm cuối đời.

Khai Trí là nhà sách bán lẻ nhưng cái tên Khai Trí còn xuất hiện như một nhà xuất bản, nhà phát hành và đồng thời là nhà xuất nhập cảng sách.Ngoài việc xuất bản sách,ông còn chủ trương in tuần báo Thiếu Nhi (Chủ nhiệm: Nguyễn Hùng Trương, Chủ biên: Nhật Tiến) rồi tập san Sử Ðịa (2) do Nguyễn Nhã làm Chủ biên. Ông tâm sự với Phan Hoàng: “Trong tất cả các loại sách, tôi đặc biệt nặng lòng với sách thiếu nhi.Từ năm 1971 tới 1975, tôi chọn lọc xuất bản 300 đầu sách trong bộ Tuổi thơ dành riêng cho các cháu nhỏ.Bên cạnh đó, tôi còn xuất bản tuần báo Thiếu nhi với sự cộng tác của nhiều nhà văn, nhà báo, nhà giáo có uy tín và tâm huyết với trẻ em. Ðây là công việc mà tôi thích thú nhất!”

 

Trên diễn đàn Talawas, tác giả Làng Ðậu bày tỏ lòng tri ân và thành kính với người đã góp công không nhỏ giáo dục và đào tạo một thế hệ thiếu nhi tại miền Nam với “tuần báo giải trí và giáo dục thiếu nhi” như đã ghi trên bìa mỗi số: “Về hình thức, trang bìa và trang cuối của tờ Thiếu Nhi lúc nào cũng được trình bày rất công phu, dùng kỹ thuật in offset, một kỹ thuật tiến bộ (và cũng đắt tiền) nhất thời bấy giờ. Trang bìa thường in hình vẽ của họa sĩ Vi-Vi về các đề tài khác nhau. Có lẽ bức tranh tôi thích nhất là bức Ông đồ, bức tranh này sau đó cũng đã được lên khung trong một bộ tem dưới cái tên cúng cơm của họa sĩ Vi-Vi: Võ Hùng Kiệt.

 

Nếu như trang đầu của tờ báo là một sự trang trọng cần thiết thì trang cuối, ngược lại, đem lại cho độc giả vô vàn thú vị qua các câu chuyện bằng tranh màu nổi tiếng dịch lại từ tiếng nước ngoài, như truyện Tin-Tin, truyện Asterix Obelix, truyện của Walt Disney… Những truyện tranh này đã được chọn lọc rất kỹ trước khi đăng nên có chất lượng cao về nội dung giáo dục. Họa sĩ Vi-Vi cũng có góp phần vẽ minh họa một số truyện tranh Việt Nam.


 Tuần san Thiếu Nhi

Tờ Thiếu Nhi không bao giờ bị khô khan bởi vì nó luôn có các kỳ thi “đố vui có thưởng,” các chuyện cười do độc giả gửi tới cũng như các bài thơ, văn, nhạc, họa của nhiều tác giả, cả già lẫn trẻ. Mục “Truyện cổ tích” cũng thu hút người đọc bằng các truyện của Tô Hoài, Nhật Tiến và nhiều cây bút cừ khôi khác. Ðặc biệt thú vị là hai mục: “Trả lời thắc mắc” và “Tay ngọc bên bếp hồng.”

 

Cũng xin nhắc lại vài câu thuộc loại “hoa thơm cỏ lạ” được giới thiệu trong vô vàn danh ngôn mà tờ Thiếu Nhi đã cho phổ biến trên mặt báo: “Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan” (Ðức Phật), “Lấy chí nhân thay cường bạo, đem đại nghĩa thắng hung tàn” (Nguyễn Trãi) hay “Sự học như con thuyền ngược nước, không tiến ắt lùi”… Làng Ðậu, “độc giả nhí ngày đó,” viết: “Tiền lời của nhà sách khi bán các mặt sách khác đã được đem qua để bù lỗ cho tờ Thiếu Nhi. Có lẽ riêng đối với tôi, một thằng bé đen đủi không quen biết, ông đã hành sử ‘bù lỗ nhiều hơn’; khi tôi hỏi mua 3 tờ Thiếu Nhi vì không đủ tiền mua nhiều, thì đã được ông cho thêm mấy tờ mà tôi muốn.”

 

Ðối với độc giả người lớn, ông Khai Trí “bảo trợ” tập san Sử Ðịa của một nhóm giáo sư và sinh viên trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn. Số đầu tiên ra mắt bạn đọc năm 1966 và số cuối cùng năm 1975 mang chủ đề “Ðặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa,” một đề tài nóng bỏng sau sự kiện ngày 19 tháng 1, 1974, Hải Quân Trung Cộng chiếm quần đảo Hoàng Sa (Paracells) khi ấy đang thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa.


Tập san Sử Ðịa phát hành 3 tháng một kỳ, ra được tổng cộng 29 số báo cho đến ngày Sài Gòn thất thủ năm 1975. Ðây là nguồn tài liệu phong phú trong việc khảo cứu, sưu tầm về sử ký và địa lý Việt Nam. Tác giả những bài viết trên tập san Sử Ðịa là những nhân vật nổi tiếng của miền Nam như Hoàng Xuân Hãn, Phan Khoang, Thái Văn Kiểm, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Ngu Í…

 

Khai Trí còn là một nhà xuất bản chuyên in tự điển của miền Nam. Nếu nhà xuất bản Thời Thế in cuốn Việt Nam Tân Từ Ðiển của Thanh Nghị dầy 1069 trang thì Khai Trí đã phát hành một loạt từ điển như Pháp Việt Tự Ðiển của Ðào Ðăng Vỹ với độ dầy lên đến 1276 trang; Anh Việt-Việt Anh Từ Ðiển của Nguyễn Văn Khôn…

 

Thậm chí có những cuốn tự điển rất cần cho việc nghiên cứu nhưng lại khó tiêu thụ trên thị trường nhưng Khai Trí vẫn mạnh dạn xuất bản, chẳng hạn như bộ Hán Việt Từ Ðiển của Thiều Chửu hay Hán Việt Tân Từ Ðiển của Nguyễn Quốc Hùng.

 

Nguyên tắc của kinh doanh nói chung là nhắm vào tiền lãi thu về nhưng một nhà kinh doanh có “tâm” hay có “đạo đức kinh doanh” là biết dung hòa giữa một bên là “lợi nhuận” và phía bên kia là “lợi ích” của xã hội. Ông Nguyễn Hùng Trương là nhà kinh doanh biết kết hợp cả hai cái “lợi” để đóng góp cho nền văn hóa của miền Nam. Ông còn giúp đỡ nhiều anh em văn nghệ sĩ gặp hoàn cảnh khó khăn bằng cách mua tác phẩm của họ, dù chưa in nhưng ông vẫn trả tiền đầy đủ theo kiểu “tiền trao cháo múc.” Ngoài ra, ông tài trợ cho nhiều tờ báo hồi đó ở Sài Gòn, chẳng hạn như tờ nhật báo Sống của Chu Tử.


Theo Kaviti, ông Nguyễn Hùng Trương, sinh năm 1926 tại Thủ Ðức, nhưng cũng có người nói ông sinh tại Biên Hòa. Thời thơ ấu của ông rất cơ cực, thường nhịn ăn sáng và dùng 2 đồng xu mẹ cho để mua báo đọc. Lên trung học ông vào trường Petrus Ký với một chiếc xe đạp cũ.

 

Báo Thanh Niên viết về ông Khai Trí: “Hết sức quảng bác nhưng ông lại rất ít nói về mình, nên ít người biết ông chính là tấm gương sống động: từ hai bàn tay trắng trở thành người kinh doanh ngành sách lớn nhất và uy tín nhất miền Nam.”

 

Trong những ngày đầu Sài Gòn đổi chủ, có người thấy ông chủ Khai Trí trải tấm nylon lớn trên vỉa hè ngay trước cửa nhà sách Khai Trí để bán nốt các số báo Thiếu Nhi còn sót lại. Tờ Thiếu Nhi vốn là báo khổ to, nhưng đến gần 1975 thì nó đã co nhỏ và thu bé mình lại, chỉ còn như một cuốn sổ tay mỏng lét nhưng vẫn giữ nguyên tôn chỉ và mục đích.

 

Năm 1976, chính quyền mới mở đợt “cải tạo văn hóa” tiếp theo sau đợt cải tạo “ngụy quân, ngụy quyền.” Nhà sách Khai Trí bị truất hữu và tịch thu, kho sách 60 tấn bị tiêu hủy. Chủ nhân Nguyễn Hùng Trương bị bắt trong chiến dịch tháng 4, 1976 và đưa đi cải tạo tại trại Z30C Hàm Tân vì tội “biệt kích văn nghệ.”


Một số nhân vật khác trong ngành phát hành sách báo như ông Nguyễn Văn Chà, chủ nhân nhà tổng phát hành Nam Cường, ông Tư Bôn (Paul) chủ nhân cơ sở phát hành Thống Nhất rồi ông chủ các nhà phát hành Ðồng Nai, Ðộc Lập cũng cùng chung số phận vì đã hoạt động trong lãnh vực sách báo “văn chương đồi trụy”…

 

Năm 1991, ông Khai Trí xuất cảnh sang Hoa Kỳ để đoàn tụ cùng gia đình. Theo nhà văn Nhật Tiến, ông Nguyễn Hùng Trương dự định mở lại nhà Khai Trí, nhưng điều trớ trêu là hầu hết các tác phẩm của Khai Trí đã “được” một số nhà xuất bản hải ngoại in lại mà không hề nghĩ đến chuyện… bản quyền!

 

Theo Phạm Phú Minh, một điểm khó khăn nữa là ông Khai Trí vừa thiếu vốn lại thiếu cả nhân lực để gây dựng lại nhà xuất bản tại Mỹ: “Ông Võ Thắng Tiết, giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ ở Nam California, đã tiếp xúc nhiều với ông Khai Trí thời gian ông mới qua Mỹ, cho biết rằng các con của ông Khai Trí nói thẳng rằng họ có thể góp ít vốn cho ông theo khả năng của họ, nhưng hoàn toàn không thể giúp được gì ông, vì ai cũng có công việc cả rồi, không thể nào bỏ việc để cùng cha phiêu lưu theo giấc mộng của ông.”

 

Hình như ông Khai Trí có gặp ông Nguyễn Tấn Ðời để bàn việc góp vốn cho chương trình văn hóa nhưng không đạt được kết quả. Ông Võ Thắng Tiết cho biết, trong số sách vở ông Khai Trí đã chuyển được sang Mỹ có nhiều thứ rất giá trị, như bộ sưu tập đầy đủ của báo Tri Tân và báo Nam Phong, tập san Sử Ðịa thời VNCH cũng không thiếu một số nào, tất cả sắp xếp rất ngăn nắp và khoa học.


Sau năm năm sống tại Mỹ, ông Nguyễn Hùng Trương biết rõ là mình chẳng làm được những gì mong ước cho nên năm 1996 ông Khai Trí về lại Việt Nam để sống luôn tại đây. Nghe nói nhà nước Việt Nam có chủ trương trả lại nhà cửa đã tịch thu năm 1975, ông về nước với đề nghị nhà nước trả lại các cơ sở cho ông; và ông sẽ cùng nhà nước thực hiện các nhà sách tân tiến theo lối Mỹ, trong đó có gian uống cà phê xem sách, có gian thiếu nhi để các em thoải mái tìm tòi…

 

Nhưng những gì ông “nghe nói” đã không đúng với thực tế. Nhà sách Khai Trí của ông đã thành nhà sách quốc doanh Sài Gòn. Nhà khác của ông thì bị chia chác cho cán bộ đã 20 năm qua, họ bán đi bán lại nhiều lần, giá cả càng ngày càng cao. Cuối cùng người ta “cho lại” một phòng trong một căn nhà cũ của ông; và ông sống ở đó, cho đến ngày qua đời, với giấc mộng lớn không bao giờ thực hiện.

 

Con người có niềm đam mê mãnh liệt với sách báo ấy đã ra đi lúc 5 giờ 15 ngày 11 tháng 3, 2005, linh cữu quàn tại nhà riêng số 237 Ðiện biên Phủ (đường Phan Thanh Giản cũ). Nguyện vọng của gia đình là tiền phúng điếu sẽ tặng cho quỹ từ thiện thành phố.

 

Lúc còn sinh thời ông Nguyễn Hùng Trương đã có lần chán nản khi được hỏi bao giờ người ta trả lại nhà sách Khai Trí cho ông.Câu trả lời của ông là.. “năm 3000”! Chẳng khác nào khi diễn tả một chuyện không bao giờ có thể xảy ra, người Sài Gòn thường nói chờ đến… “Tết Congo”!

 



Nhà sách Khai Trí năm xưa giờ là Nhà sách Sài Gòn.

 

▬▬▬▬ Kim Quy st ▬▬▬▬

 

 

 

Truyện Ngắn: CÂU CHUYỆN NGOÀI BẾN TẦU

  • Đăng tại Truyện

CÂU CHUYỆN NGOÀI BẾN TẦU

 

Tác giả: Heinrich  Böll


Dịch giả: Nguyễn-Khắc Tiến-Tùng

Heinrich Böll (1917- 1985)

 

Ghi chú tiểu sử tác giả:

Heinrich Böll (1917- 1985) là một nhà văn, nhà báo Đức và cũng là một nhà giáo tại đại học. Thời Hitler ông đang theo học Lịch sử và Cổ ngữ tại đại học thì bị động viên, rồi nhiều lần bị thương.

Sau khi Đức Quốc xã bại trận ông là tù binh của Anh và Mỹ một thời gian ngắn (1945).

Được trả tự do H. Böll học tiếpVăn chương Đức, nhưng dần dần ngả nhiều về "trường văn trận bút", viết từ ký sự, cho đến truyện ngắn, truyện dài, nhiều tác phẩm được viết thành kịch bản cũng như quay thành phim. Năm 1958 ông được giải văn chương của thành phố Wuppertal và năm1967 được trao giải văn chương "Georg Büchner", một giải thưởng cao quý của "Hàn lâm viện Ngôn ngữ và Thi Văn Đức". Bảy năm sau H. Böll được giải Nobel về văn chương (1972).

Ông từng là Chủ tịch Văn bút Đức (1970-72) và Chủ tịch Văn bút Quốc tế (1971- 74). Lúc sinh thời là người chống chiến tranh, tham dự tích cực phong trào Hòa bình và tranh đấu cho nhân quyền với thái độ chính trị có vẻ tả khuynh. Do đó để tưởng nhớ ông Đảng Xanh của Đức đã lập một Foundation (Stiftung) với tên “ Heinrich-Böll-Stiftung” (1997). Tác phẩm của ông để lại là một kho tàng đồ sộ, nhiều bộ "Heinrich Böll toàn tập" của các nhà xuất bản khác nhau ở Đức bao gồm những tác phẩm đã xuất bản của ông cũng như những tác phẩm mới ra mắt công chúng lần đầu. 

 

~~><~~><~~><~~

 

Tại một bến tầu ở bờ biển phía tây Âu Châu có một người áo quần nghèo khó nằm dài trên chiếc thuyền câu của mình và lim lim mơ màng ngủ. Một du khách ăn mặc sang trọng lắp một cuốn phim mầu mới vào máy ảnh để chụp cảnh thơ mộng: trời xanh, biển đậm với những đợt sóng hiền lành trắng như tuyết, với chiếc thuyền đen xậm và chiếc mũ đỏ của người đánh cá.

"Tách", và vì chuyện gì tốt cũng phải ba lần mà cũng để chắc ăn, "tách", thêm một lần thứ ba nữa. Những tiếng động khô cứng và gần như đáng ghét đó đánh thức bác chài đang ngủ mơ màng. Bác ngái ngủ đứng dậy, ngái ngủ lấy tay với bao thuốc, nhưng trước khi bác tìm thấy, du khách đã săn đón chìa trước mặt bác  một bao, không đưa tận miệng, nhưng rút ra đặt một điếu thuốc vào tay bác chài, rồi một tiếng "tách" thứ tư của chiếc bật lửa chấm dứt sự lễ phép săn đón đó. Một nỗi bối rối căng thẳng gây nên do sự lễ phép quá nhiều nhưng khó đo lường và khó có chứng cớ rõ rệt khiến du khách vì hiểu tiếng địa phương tìm cách bắt chuyện cho đỡ trống trải.

- "Chắc rồi hôm nay bác sẽ đánh được một mẻ cá lớn?".

Bác chài gật đầu.

- "Chả là người ta bảo hôm nay tốt trời".

Bác chài lại gật đầu.

- "Vậy mà bác không ra khơi?".

Bác chài lắc đầu, người khách nóng nẩy thêm. Rõ ràng khách bận tâm về tình cảnh của bác chài ăn mặc nghèo khó khi khách buồn bã nghĩ đến dịp may bị lỡ của bác.

- "Ơ hay, bác thấy trong người không được khoẻ?"

Lúc này bác chài mới bỏ cách nói bằng cử chỉ để nói thành lời.

- "Tôi thấy dễ chịu hết cỡ", bác nói, "chưa lúc nào tôi thấy dễ chịu như bây giờ." Bác đứng dậy vươn mình như muốn chứng tỏ mình lực lưỡng thế nào.

- "Tôi thấy khỏe «số dách»".

Nét mặt người khách du lịch trở nên băn khoăn khổ sở hơn, chừng như không thể nín được câu hỏi muốn làm vỡ tung lồng ngực mình:

- "Chứ tại sao bác không ra khơi?".

Câu trả lời đến tức thì, cộc lốc: "Vì sáng nay tôi đã ra rồi".

- "Mẻ lưới khá chứ?".

- "Khá lắm đến nỗi tôi chẳng cần đi một lần nữa, tôi đã đánh được bốn con tôm hùm trong một giọ, và gần 20 con cá".

Bác chài lúc này tỉnh như sáo, vỗ vai trấn tĩnh người du khách. Vẻ mặt của người này biểu lộ một cảm giác tuy không thích hợp với bác, nhưng bầy tỏ một sự xúc động. Bác nói để du khách được nhẹ nhõm trong lòng:

- "Cho ngày mai và cả ngày mốt tôi cũng đánh đủ cả rồi. Ông hút với tôi một điếu?".

- "Vâng, cám ơn bác".

Những điếu thuốc được đưa lên miệng, "tách" một cái lần thứ năm, người khách lạ ngồi xuống bên mép thuyền lắc đầu, bỏ máy ảnh xuống vì bây giờ hắn cần dùng cả hai tay để nhấn mạnh thêm cho lời mình nói.

- "Tôi không muốn xía vô chuyện của bác, khách nói, nhưng bác thử nghĩ xem. Bác ra khơi hôm nay hai lần, ba lần, hay bốn lần, rồi bác sẽ đánh được ba, bốn hay năm chục, có khi cả trăm con cá. Bác nghĩ coi".

Bác chài gật đầu.

- "Không những hôm nay mà cả ngày mai, ngày mốt, du khách nói, ờ, vào bất cứ ngày nào tốt trời bác ra khơi hai, ba, bốn lần, bác biết sự gì xẩy ra không?"

Bác chài lắc đầu.

- "Chậm lắm chỉ một năm bác sẽ mua được một cái "mô-tơ" cho thuyền đánh cá, chỉ hai năm bác mua được cái thuyền thứ hai, chỉ ba hay bốn năm có thể bác sẽ có một cái thuyền buồm nhỏ, với hai cái thuyền và một cái thuyền buồm dĩ nhiên bác sẽ đánh được nhiều cá hơn, bác sẽ...". Sự hứng khởi làm tiếng nói của du khách bị đứt quãng, "bác sẽ xây một nhà ướp lạnh nhỏ, có lẽ cả một nhà nướng cá, rồi sau đó một nhà máy làm cá. Bác sẽ bay bằng trực thăng để tìm luồng cá và sẽ chỉ huy các thuyền buồm của bác bằng vô tuyến điện. Bác có thể xin được quyền đánh cá mập, mở một quán ăn đặc biệt về đồ biển, xuất cảng tôm hùm sang Paris không cần người trung gian, rồi...". Sự hứng khởi làm tiếng người khách du lịch đứt quãng.

Lòng buồn rười rợi, thú vui nghỉ hè hầu như biến mất, du khách lắc đầu nhìn sóng êm ả cuốn vào bờ, giữa đợt sóng lũ cá hầu như không biết sợ hãi là gì, nhẩy lên choi choi. "Rồi thì, du khách nói tiếp, sự kích thích lại làm cho tiếng bị ngắt quãng nữa.

Bác chài đập nhẹ vào lưng du khách như người ta thường làm với một đứa trẻ nhỏ khi nó bị nghẹn

- "Rồi thì làm sao?" Bác chài khẽ hỏi.

- "Rồi bác có thể yêm tâm ngồi ở bến tầu này mơ màng ngủ trong nắng và ngắm vẻ đẹp tuyệt vời của biển". Người khách đáp với sự hứng khởi mà trầm tĩnh.

Bác chài nói:

- "Nhưng, chính điều dó tôi đang làm đây thôi, tôi ngồi yên ổn ở bến tầu và ngủ mơ màng, chỉ bị tiếng chụp ảnh của ông làm rộn ".

Người khách du lịch bỗng nhiên tỉnh ngộ bởi lời nói của bác chài, bỏ đi trong suy nghĩ về câu nói đó. Bởi vì trước kia cũng có lần du khách cho rằng mình làm việc để rồi một ngày nào đó không phải làm gì nữa... Và niềm thương hại bác chài ăn mặc nghèo khó không còn lưu lại một dấu vết nào trong lòng du khách, có chăng chỉ còn một chút ganh tị thèm muốn.

 

Heinrich Böll

Nguyễn-Khắc Tiến-Tùng (dịch)

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

 

Nhớ xích lô máy Sài Gòn xưa

Nhớ xích lô máy Sài Gòn xưa

* ► ◄ ◊ ► ◄ ◊ ► ◄ ◊ ► ◄ ◊ *

Ngày xưa mỗi lần tôi theo má đi về Bến Tre thăm ngoại và trở lên Sài Gòn, má luôn dùng xe xích lô máy đi ra bến xe Miền Tây và bận trở về nhà cũng vậy. Tôi rất thích ngồi xe xích lô máy, lúc nào cũng ngồi dưới sàn xe. Má và hai em nhỏ ngồi trên nệm xe. Má tôi đem lên Sài Gòn rất nhiều đồ ăn như: gạo, trái cây đủ loại và bánh đủ loại, vậy nên chỉ có xe xích lô máy mới chở được.

Đối với tôi và các ông bạn già, xe xích lô máy có rất nhiều kỷ niệm ngày xưa. Một người bạn trung niên của tôi kể:

“Tôi nhớ lúc nhỏ từ Chợ Lớn đi Sài Gòn, mỗi lần đi không ham taxi, không ham xe bus… mà chỉ đòi cha mẹ ngoắc tay kêu xích lô máy. Gia đình đông bốn năm người, con nít thì ngồi dưới sàn xe, người lớn ngồi trên nệm như ghế salon, xe chạy ù ù, qua mặt xe khác vù vù, cả nhà đưa mặt ra hứng gió, tai nghe máy mô tô, tiếng pô xe nổ phình – phịch – bình – bình oai phong hết sẩy.”

Nhớ xích lô máy Sài Gòn xưa

Một người bạn già khác lại nói:

“Tài tình nhất là cảnh xe xích lô máy đút đít xe phía trước. Má ơi, cứ tưởng là cái cản xe thế nào cũng đụng vào xe hơi, xe gắn máy, nhưng hổng sao hết bởi dân lái xích lô máy thiện nghệ vô cùng.”

Một người lớn tuổi hơn kể, trước năm 1975, người Mỹ cả dân sự lẫn quân sự đều thích đi xe xích lô máy, một phần vì lạ, phần nữa là ngồi xe xích lô máy có chút mạo hiểm:

“Tôi nhớ hoài cái cảnh mấy ông Mỹ hứng thú la hét khi xe xích lô máy chạy nhanh chồm tới thiếu điều muốn đụng đít xe hàng.”

Nhớ xích lô máy Sài Gòn xưa
(Ảnh qua jimsobservations.com) 

Trong dòng thời gian một ngày của Sài Gòn trước đây, tiếng xe xích lô máy thức giấc sớm nhất. Từ các ngả đường của đô thị, xích lô máy chở những người bạn hàng tỏa đi khắp các chợ với đủ loại thực phẩm, hàng hóa hoặc khách tỉnh lên Sài Gòn, tấp vào tiệm nước làm ly cà phê xây – chừng, cái bánh bao, tô hủ tíu… Tiếng xích lô máy vang lên giữa cảnh phố khuya thanh vắng.

Sáng, hành khách đủ loại lên xe: một bà bầu nào đó, một đứa trẻ hoặc người già trở bệnh, một kỹ nữ hay một người lính Việt Nam Cộng hòa nào đó say mèm… Tất cả đều đang trên đường với xe xích lô máy.

 

Tiếng xe xích lô máy nổ như tiếng ồn ồn của một người đàn ông thân thiện. Người ta nhớ rằng thời đó, mỗi góc chúng cư, mỗi ngõ hẻm, bệnh viện, bến xe đều có những bác ba, chú tư, anh hai xích lô máy túc trực. Người ta cũng không quên rằng những bác tài xích lô máy đáng được tôn trọng như một biểu tượng về sự an toàn và sự kịp thời trong những tình huống cần kíp của người Sài Gòn.

Nhớ xích lô máy Sài Gòn xưa

Xích lô máy xuất hiện ở Sài Gòn vào những năm 1940-1950. Xe do hãng xe Peugeot của Pháp chế tạo. Xích lô máy ngày xưa mang nhiều màu sơn sặc sỡ, có thể chở với trọng lượng vài trăm ký lô là bình thường. Người chạy xe xích lô máy thời đó rất cao bồi và tất nhiên được trọng nể hơn người chạy xe xích lô đạp, bởi vì sở hữu được một chiếc xe xích lô máy khoảng gần chục lượng vàng là coi như có một gia tài khấm khá. Thành ra bác tài chạy xe xích lô máy đội nón nỉ, nón cối, đeo kính mát, trông lúc nào cũng phong độ. Ngày xưa xe xích lô máy có bến riêng hẳn hoi. Người người còn nhớ ở cầu Hậu Giang, ở khu Bà Chiểu… có những hãng chuyên cho thuê xe xích lô máy.

Nhớ xích lô máy Sài Gòn xưa

Thế rồi xuất hiện chủ trương cấm lưu thông xe cũ, xe ba-gác Trung Quốc vào chiếm lĩnh thị trường, xe xích lô máy coi như đã chết hẳn. Lúc chúng tôi phát hiện mấy chiếc xe xích lô máy tan nát còn đậu chở hàng ở bến chợ Kim Biên, thiệt tình mà nói trong lòng thấy ngậm ngùi quá. Chúng tôi nhớ đến một người bạn thi sĩ nghèo, ông này tâm sự:

“Tôi ngày nào cũng mua vé số, cầu cho trúng, chỉ cần trúng đủ mua một chiếc xe xích lô máy còn zin là được. Cha ơi! Chiều chiều cuối tuần mình chạy xích lô máy chở bạn bè làm vài vòng Sài Gòn để thiên hạ ngày nay biết dân Sài Gòn xưa bảnh như thế nào, sướng phải biết!”

Tất nhiên, nhiều người chia sẻ cái sự sướng với anh thi sĩ về chiếc xe đặc biệt – đặc trưng của một thời Sài Gòn hoa lệ này. Trước những giá trị sống của dân tộc và đất nước đang trên đà thay đổi hiện nay, thôi thì níu kéo làm sao được cuộc mưu sinh và vẻ đẹp trên đường phố của xe xích lô máy.

Nhớ xích lô máy Sài Gòn xưa
Nhưng đã là người Sài Gòn thì sao không nhớ xe xích lô máy cho được, sao không nghe tiếng xe xích lô máy vang lên trong ký ức thao thức mỗi đêm?

Sài Gòn xưa:

Chuyện taxi con cóc

* ► ◄ ◊ ► ◄ ◊ ► ◄ ◊ ► ◄ ◊ *

 

Cuối những năm 40 của thế kỷ trước, taxi bắt đầu xuất hiện ở Sài Gòn – Chợ Lớn và đến những năm 50 thì dân Sài Gòn đã quen với hình ảnh của những chiếc xe “con cóc” hay “con bọ” lắm rồi. Những chiếc taxi có màu xanh dương và màu vàng kem đã từng tràn ngập đường phố Sài Gòn những năm 60-70.

Sau khi Pháp chiếm miền Nam và “bảo hộ” miền Bắc, Trung thì họ đã đem vào Việt Nam, nhất là miền Nam, rất nhiều máy móc và phương tiện vận tải, phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế chính trị cũng như khai thác tài nguyên. Trong làn sóng đó, nhiều công ty xe hơi đã được dựng lên, phần lớn có trụ sở trong địa hạt quận 1 trước 1954, một số có công ty đại diện ở các tỉnh lớn như Hà Nội Hải Phòng, làm đại lý cho hãng xe Pháp Peugoet, Citroen, Renault, Simca, Packard, Panhard, hãng xe Mỹ như Ford, Chrysler, General Motors, xe Anh như Vauxhall, Austin, Morris và xe Đức như Opel, Volswagen, xe Ý như Fiat, Nhật như Toyota, Hond, v.v.

Taxi con cóc Sài Gòn trước năm 1975

Cũng vào thời điểm đó, taxi bắt đầu xuất hiện trên đường phố Sài Gòn. Tuy nhiên đây là phương tiện chỉ dành riêng cho những người giàu có, vì giá cả khá đắt đỏ. Taxi “con cóc” thời đó đặc trưng nhất là những chiếc Renault 4CV, do Pháp sản xuất đại trà từ năm 1947.

Taxi con cóc Sài Gòn trước năm 1975

Bến Bạch Đằng từng là điểm đậu rất nhiều xe taxi. Thời đó, taxi không có tổng đài, cũng không được trang bị bộ đàm, nên lái xe phải chạy lòng vòng để đón khách hoặc cũng giống như taxi bây giờ: chờ khách tại những điểm vàng, giờ vàng. Vậy nên buổi đêm, cánh tài xế thường chờ xe tại các rạp hát cải lương, nơi khách hàng có nhu cầu đi lại rất cao.

Taxi con cóc Sài Gòn trước năm 1975

Taxi bấy giờ đa phần là nhập từ Pháp về Sài Gòn, sau đó được đăng ký và cấp phát số hiệu. Số hiệu đó được in lên hai bên cửa xe. Chủ nhân của xe được khắc tên, địa chỉ lên một tấm bảng gắn trên xe. Khách muốn đi taxi phải vẫy tay gọi, hoặc ra tận nơi. Khác với ngày nay, taxi có phí mở cửa, phí chờ xe, phí các cây số đầu tiên…, ngày xưa taxi chỉ tính tiền cây số.

Một điều khá thú vị và văn minh là hầu hết các xe đều có viết “Đừng bỏ rác xuống đường”. “Đừng” – lời khuyên nhẹ nhàng, chứ không phải là “Không” hay  “Cấm” như ngày nay chúng ta thi thoảng vẫn bắt gặp trên đường phố.

Taxi con cóc Sài Gòn trước năm 1975

Một số tài liệu cũ ghi nhận rằng vào những năm 70, Sài Gòn ước tính có khoảng hơn 7.000 chiếc taxi. Nguyên nhân là năm 1968, số xe taxi tăng vọt sau khi loại xe bốn chỗ Renault, Dauphine Alfa, Datsun, Mazda bán trả góp được nhập cảng vào Sài Gòn.

Sau 75, những chiếc taxi vang bóng một thời biến mất trên đường phố Sài Gòn…

Dưới đây là một vài hình ảnh taxi Sài Gòn trước 1975:

 

Taxi con cóc Sài Gòn trước năm 1975

Taxi con cóc Sài Gòn trước năm 1975

 

Taxi con cóc Sài Gòn trước năm 1975

Taxi con cóc Sài Gòn trước năm 1975

Taxi con cóc Sài Gòn trước năm 1975

Taxi con cóc Sài Gòn trước năm 1975

Taxi con cóc Sài Gòn trước năm 1975

Taxi con cóc Sài Gòn trước năm 1975

Hình: Internet

Lê Nguyên tổng hợp 

A view from the Bùng Binh Sài Gòn traffic circle in 1955

Hồng Anh sưu tầm

Theo dõi RSS này