Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1208)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (53)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (337)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Tô Thùy Yên - Một đời làm thơ, một đời yêu thương, một thời tù ngục

Tô Thùy Yên - Một đời làm thơ,

một đời yêu thương, một thời tù ngục

Tô Thùy Yên - Một đời làm thơ, một đời yêu thương, một thời tù ngục

Tiếng cười của Tô Thùy Yên đêm ấy và hình ảnh anh chạy lúp xúp trong mưa tôi còn nhớ rõ. Tiếng cười sao mà hồn nhiên ngây thơ so với hình ảnh Tô Thùy Yên oằn mình dưới gánh khoai mì hôm nay thật là một sự đối nghịch quá đau lòng.

LTS: Nhà thơ Tô Thùy Yên, tác giả của những bài thơ nổi tiếng như Chiều trên phá Tam Giang, Trường Sa hành, Cánh đồng con ngựa chuyến tàu... vừa qua đời ngày 21.5.2019 (theo giờ Mỹ) tại thành phố, Houston, tiểu bang Texas, Mỹ, hưởng thọ 81 tuổi. Sự ra đi của ông đã để lại nhiều thương tiếc cho giới văn chương, người yêu thơ trong nước và hải ngoại.

Tô Thùy Yên là một tên tuổi nổi bật của thi ca miền Nam trước năm 1975. Thơ của Tô Thùy Yên được đăng trên báo văn nghệ ở Sài Gòn từ năm ông 16 tuổi. Năm 1956, ông tham gia nhóm Sáng Tạo, một văn đàn nổi tiếng, khởi đầu cho phong trào "Thơ tự do" ở miền Nam vào thập niên 1960.

Bài viết về nhà thơ Tô Thùy Yên dưới đây được được trích từ tập di cảo Mặc khách Sài Gòn của cố nhà thơ Tô Kiều Ngân. Hình ảnh nhà thơ Tô Thùy Yên được Tô Kiều Ngân khắc họa bằng những dòng văn đầy

cảm xúc.

Chân dung nhà thơ Tô Thùy Yên - Ảnh: Gia đình cung cấp

Cánh đồng con ngựa chuyến tàu

Trại của tôi cách xa trại Tô Thùy Yên nhưng thỉnh thoảng chúng tôi vẫn gặp nhau trong những lần đi lao động, đẵn cây đốn nứa. Có lần gặp chỉ đủ để Yên dúi vào tay tôi một gói thuốc lào rồi sau đó là mỗi người một ngả.

Có lần đứng trong sân trại nhìn qua hàng rào kẽm gai tôi thấy Tô Thùy Yên đang gánh một gánh khoai mì đi qua. Anh bước đi có vẻ nặng nhọc. Vai bị gánh khoai mì trĩu xuống, lưng cong như lưng tôm, mồ hôi chảy có giọt. Tôi bỗng xót xa nhớ đến đêm nào cùng anh và Cung Tiến còn đi “tăng hai” ở Sài Gòn…

Bữa ấy Trần Lê Nguyễn có bày tiệc nhậu. Có mặt Mai Thảo, Thanh Nam, Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Tô Thùy Yên và tôi. Tiệc tàn, mọi người lục tục đứng lên. Trịnh Công Sơn sau xỉn vào nôn mửa trong phòng tắm. Trần Lê Nguyễn sau đó cũng đã ra về. Còn lại Cung Tiến và Tô Thùy Yên chẳng chịu về, nhất định đòi đi “tăng hai”. Đêm đã hầu khuya, chiều bạn tôi đem hai cậu lên xe hơi chở xuống Phú Nhuận.

Thủ bút nhà nhà thơ Tô Thùy Yên

Trời mưa lất phất. Con đường vào hẻm sũng nước, loáng loáng ánh đèn. Tô Thùy Yên xuống xe, hai tay vén ống quần chạy lúp xúp trên đường mưa, vừa chạy vừa cười khanh khách. Cung Tiến thì nhà nào cũng đập cửa rầm rầm báo hại bọn thanh niên trong xóm nhào ra, xô ngã Cung Tiến nằm lăn ra đất. Cơ khổ chàng nhạc sĩ tác giả những bản nhạc tuyệt vời: Hoài Cảm, Nguyệt Cầm, Hương Xưa tay chân vung vít, miệng la bải hoải: “Sao lại đánh tôi… sao lại đánh tôi…” Còn tỉnh nên tôi xin lỗi bà con trong xóm và lại đem hai lãng tử lên xe, chạy về gần thấu nhà mà còn chưa chịu xuống, còn đòi “đi nữa”.

Tiếng cười của Tô Thùy Yên đêm ấy và hình ảnh anh chạy lúp xúp trong mưa tôi còn nhớ rõ. Tiếng cười sao mà hồn nhiên ngây thơ so với hình ảnh Tô Thùy Yên oằn mình dưới gánh khoai mì hôm nay thật là một sự đối nghịch quá đau lòng.

Bút tích của nhà thơ Tô Kiều Ngân

Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp, lúc bấy giờ là một quận ngoại thành Sài Gòn. Anh học đến đại học, bị động viên đi học trường sĩ quan Thủ Đức, ra thiếu úy rồi được bổ về một đơn vị tác chiến thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sợ anh chết uổng, anh em vận động bốc thẳng anh từ Vùng Bốn về ngay trung ương để làm văn nghệ.

Cùng Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Duy Thanh, Ngọc Dũng… Tô Thùy Yên là nòng cốt của nhóm Sáng Tạo, anh thường đăng thơ trong mục Thơ tự do của tạp chí Sáng Tạo, nơi được coi như đại diện của phong trào thơ tự do miền Nam thời 50-60.

Tô Thùy Yên và ca khúc nổi tiếng Chiều trên phá Tam Giang do nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ từ một bài thơ cùng tên của ông

Sau 30 tháng Tư,Tô Thùy Yên đi học tập cải tạo 10 năm. Được tha về rồi bị bắt lại, tính ra 13 năm tất cả. Ba năm sau, có lần anh bị biệt giam 7 tháng sau khi cắt mạch máu định quyên sinh. Cuối cùng, anh được cùng vợ là cô giáo Huỳnh Diệu Bích và gia đình sang định cư ở hải ngoại theo diện H.O.

Tô Thùy Yên được nhiều người biết đến nhờ bài thơ “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu” đăng trên tạp chí Sáng Tạo của Mai Thảo, năm 1956:

Trên cánh đồng hoang thuần một màu,
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu
Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu…

Thi sĩ Tô Thùy Yên qua nét nhìn của Họa sĩ Đinh Cường

Cả bài thơ như những thước phim vụt qua. Hình ảnh đuổi bắt nhau. Cây cối, lũng đồi quay vòng đến chóng mặt. Cuối cùng con ngựa thở dốc, lăn kềnh ra giữa thảo nguyên “Chấm giữa nền nhung một vết nâu”. Hình ảnh như chụp từ trên cao xuống - cánh đồng thì mông mênh như vô tận, mướt cỏ nhung xanh còn con ngựa thì chỉ còn lại một vết nhỏ. Nó chết mà không biết vì sao mà chết. Cũng không biết suốt đời mình lao đầu phi về phía trước để làm chi? Những câu hỏi đó cũng đặt ra cho con gười, những tra hỏi không có lời giải đáp. Xưa nay trời đất vốn vô ngôn.

Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu
Cỏ cây, cỏ cây lùi chóng mặt
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu
Ngựa thở hào hển, thở hào hển
Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau

Tô Thùy Yên thật trẻ mà thơ lại thật già. Mỗi câu viết ra dường như chưa nói hết mà sau đó còn một chuỗi ý nghĩ để cho người đọc suy cảm thêm ra. Ý tại ngôn ngoại. Luôn bị cô đơn vậy hãm, bị đọa đày thân xác, dày xéo tâm hồn nhưng Tô Thùy Yên luôn chịu đựng, tìm chỗ dựa tâm linh, đề cao cái tâm độ lượng để vượt qua gai góc, khổ đau. Anh vẫn luôn mơ ước:

Bao giờ ta trở về dương thế,
Sống đáng vinh danh lại kiếp người,
Để thấy đường đi muôn lối rộng
Dập dìu những chéo áo reo vui?

Thơ Tô Thùy Yên đăng rải rác trên các báo tạp chí văn học, mãi đến năm 1995 anh mới xuất bản tập “Thơ tuyển”, có tất cả 37 bài, có nhiều bài rất dài, đó là tác phẩm chọn lọc của Tô Thùy Yên, một đời làm thơ, một đời yêu thương, một thời tù ngục.

Cánh đồng con ngựa chuyến tàu

Trên cánh đồng hoang thuần một màu,
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu.
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu.
Cỏ cây, cỏ cây lùi chóng mặt.
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu.
Ngựa thở hào hển, thở hào hển.
Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau.
Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.
Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.
Cánh đồng, a ! cánh đồng sắp hết.
Tàu chạy mau, càng mau, càng mau.
Ngựa ngã lăn, mình mướt như cỏ,
Chấm giữa nền nhung một vết nâu.

1956

Tô Thùy Yên

Tô Kiều Ngân

Tô Thùy Yên, cánh chim còn để vệt

Tô Thùy Yên qua nét vẽ Đinh Cường.

Tô Thùy Yên qua nét vẽ Đinh Cường.

 

Đinh Yên Thảo

Riêng cho VOA

"... Tôi được gặp nhà thơ Tô Thùy Yên một lần tại Houston, hôm nhà thơ Phan Xuân Sinh ra mắt cuốn sách Sống Với Thời Quá Vãng. Buổi trò chuyện tại nhà anh Sinh đến nửa đêm, trong tiếng đàn thùng của anh Ngu Yên, giọng ngâm không dứt của anh Trần Khánh Hoà, liên khúc Trần Thiện Thanh do anh Đỗ Xuân Quang từ Atlanta bắt nhịp. Anh Trần Hoài Thư, Trần Phù Thế, Lương Thư Trung, Hoàng Định Nam, Trà Nguyễn… có cả, mỗi người mỗi vẻ ngây thơ trong đôi mắt già nua bất luận. Một đêm thơ nhạc sẽ còn hoài trong ký ức những người dính líu tới con chữ ở hải ngoại.

Ngoài hiên, nhà thơ Tô Thùy Yên trò chuyện cùng tôi và Đinh Yên Thảo như những người quen gặp lại. Dù chỉ gặp lần đầu, trong chữ “Duyên” cửa Phật mà thành lấn cấn tới hôm nay. Ngồi đọc lại bài thơ “Ta về” trong tiết tháng Tư, nơi sân sau nhà vắng. Chút gió Xuân nồng nàn nhà bên cắt cỏ. Giấc mơ chiều, người nông dân chỉ mong được "về quê vỡ đất, tháng tư đi tậu trâu bò, để ta tiếp tục làm mùa tháng năm"…". (trích từ bài viết "Ta Về" của tác giả Phan)

Đó là đoản văn của anh bạn Phan (Vỉa Hè) của tôi viết ngay sau lần đầu gặp được nhà thơ Tô Thùy Yên chừng đâu 10 năm trước. Còn tôi thì trước đó gặp ông đã vài lần, tại Dallas và cả Houston, Texas. Lần đầu tại đám cưới thứ nam của nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp cũng gần 20 năm trước, có đông đúc văn nghệ sĩ về tham dự khá chân tình. Vừa tiệc đám cưới lại xem như cuộc họp mặt các văn nghệ sĩ bay về bởi sự quý mến nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Tôi dẫn chương trình nên có khách quen đến đề nghị rằng, bên dưới nghe có nhà thơ Tô Thùy Yên hiện diện, hãy mời ông lên nói vài điều cho mọi người biết mặt. Ông lên sân khấu theo lời mời. Nhưng nói rất ít, hầu như chỉ chào hơn là nói điều gì đó, tôi còn nhớ vậy. Cả vài lần sau gặp lại, ông cũng chỉ là người trầm ngâm, nghe nhiều hơn nói. Chỉ có lần như nhà báo Phan viết ở trên, không hiểu tại sao ông tỏ ra vui vẻ, trò chuyện rất nhiều. Giữa buổi tiệc, tôi hỏi ông, "Anh kể về bài thơ Chiều Trên Phá Tam Giang đã viết như thế nào?". Như nhiều bài thơ khác của ông, đúng hơn là những trường thi hàng trăm câu của ông, "Chiều trên Phá Tam Giang" là một trong những trường thi mang tầm vóc lớn lao về cuộc chiến khốc liệt trên quê hương Việt Nam. Ông cật vấn lịch sử và chiến tranh bằng cái nhìn nhân bản trong tình dân tộc, lồng thêm thân phận con người và tình yêu tuổi trẻ giữa chiến tranh.

Ông kể đó là một ngày của mùa Hè đỏ lửa năm 1972, ông bay theo tướng Bùi Thế Lân, vị Tư Lịnh Thuỷ Quân Lục Chiến để thị sát chiến trường, trong vai trò một ký giả báo chí. Từ trực thăng nhìn xuống phá Tam Giang, hình ảnh một vị Thiếu Tá đứng giữa gió lộng, mênh mông nước trời phía dưới đã tạo cho ông một cảm xúc mãnh liệt về thân thận nhỏ bé của con người trong chiến tranh, trong không gian điêu tàn của vòng vây tử thần . Thế rồi bài thơ ra đời. Tôi đọc lại, quả thật là vậy.

"Chiếc trực thăng bay là mặt nước,

Như cơn mộng nhanh,

Phá Tam Giang, Phá Tam Giang,

Bờ bãi hỗn mang, dòng bát ngát,

Cát hôn mê, nước miệt mài trôi,

Ngó xuống cảm thương người lỡ bước

Trời nước mông mênh, thân nhỏ nhoi..." (*)

Ông tiếp, ông muốn viết bài trường thi làm ba phần, về người lính trẻ Việt Nam Cộng Hòa, về người chiến binh Bắc Việt và sự cứu rỗi của tình yêu trước sự mong manh của phận người trong thời chiến. Thế là bài thơ ra đời như chúng ta đã đọc. Là người lính, một Thiếu Tá Tâm Lý Chiến, nhưng cũng là người nghệ sĩ, ông nhìn cuộc chiến đang diễn ra như một cuộc chiến ủy nhiệm huynh đệ tương tàn mà cả hai bên đều là nạn nhân của lịch sử. Cái nhìn cảm thông, độ lượng đến cả kẻ địch quân bị dẫn dụ chuyện "sinh Bắc tử Nam".

"Ta thương ta yếu hèn,

Ta thương ngươi khờ khạo

Nên cả hai cùng cam phận quay cuồng

Nên cả hai cùng mắc đường lịch sử

Cùng mê sa một con đĩ thập thành

 

Chiều trên Phá Tam Giang rộn ràng tiếng chiến trận

Chiều trên Phá Tam Giang im lìm âm cảm thông..."

Dường như đó là một đêm mưa. Cả ba chúng tôi ra hiên trước hút thuốc như Phan kể. Ông châm thuốc rồi nở nụ cười khoan thai, quay sang tôi: "Sao em không hỏi về cô gái trong bài thơ?". Tôi cười chống chế, "em muốn nghe về cả bài thơ trước". Ông kể đó là mối tình với một thiếu nữ xinh đẹp, nhà có cửa tiệm trong thương xá Tam Đa. Ông đem cuộc tình của mình viết thành cuộc tình của người lính sống chết nơi tuyến đầu, nhớ về người yêu như sự một hy vọng và cứu rỗi, tìm sự bình an ở một nơi xa xôi, trong khi người yêu là cô sinh viên bé nhỏ tuổi đôi mươi luôn canh cánh nỗi lo sợ ly biệt, mất mát.

“Chiều trên phá Tam Giang

Anh sực nhớ em

Nhớ bất tận.

Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi,

Coi chuyện đó như lần đi tuyệt tích

Trong nước trời lãng đãng nghìn trùng,

Không nghe thấy cả tiếng mình độc thoại…”



“Nghĩ tới anh, nghĩ tới anh,
Cơn nghĩ tới không sao cầm giữ nỗi
Như dòng lệ nào bất giác rơi tuôn.
Nghĩ tới, nghĩ tới một điều hệ trọng vô cùng
Của chiến tranh mà em không biết rõ.
Nghĩ tới, nghĩ tới một điều hệ trọng vô cùng
Một điều em sợ phải nghĩ tới…”

Bài thơ Chiều trên Phá Tam Giang cỉa Tô Thùy Yên được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ nhạc

Nhật Trường Trần Thiện Thanh đã chọn và viết lại thành ca khúc "Chiều Trên Phá Tam Giang" cho đoạn thơ tình yêu này, nhưng ông bảo đó không phải tứ thơ ông hài lòng nhất. Tôi bảo, ít ra nó đã mang một phần bài thơ đến với đại chúng. Ông gật đầu. Tôi không rõ ông gật đầu đồng ý hay về điều gì đó đang suy tưởng trong đầu.

Có lẽ tôi không phải là người đầu tiên hỏi ông về bài thơ và cũng có thể ông chẳng phải mẫu người dễ dàng kể lại câu chuyện tương tự ở mọi nơi. Tôi không chắc. Nhưng tôi nghĩ một con người lặng lẽ trong lời nói và ngạo mạn trong tư tưởng như ông có lẽ không cần những lý giải, phụ chú khi trở về với nơi bình yên khởi đầu. Bởi ông từng bảo rằng, làm người sao như cánh chim bay qua bầu trời, chẳng để lại dấu vết gì. Đó là cảm thức đời sống của riêng ông. Còn với chúng ta, có là cánh chim bay qua thì ông vẫn để lại những vệt dài hơn những bài thơ, bản nhạc của mình. Bởi chúng là những chứng nhân bi hùng và ngậm ngùi của một giai đoạn lịch sử dân tộc.

(22/05/2019)

Dallas, Texas

(*) Trích từ bài thơ "Chiều Trên Phá Tam Giang"

Kim Phượng st

Xem thêm...

Nước mắm còn, Việt Nam còn - Nguyễn thị Cỏ May

  Nước mắm còn, Việt Nam còn

*** Nguyễn thị Cỏ May  ***

 “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”. Đó là câu nói thời danh của cụ Phạm Quỳnh khi đánh giá “Truyện Kiều” của cụ Nguyễn Du.

Cụ Phạm Quỳnh đã coi truyện Kiều là cái hồn của non sông đất nước bởi vì nó đại diện cho vẻ đẹp trong sáng của tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ của người Việt Nam. Điều đáng buồn là tiếng Việt ngày nay đang lâm vào tình trạng xô bồ bát nháo trong cách nói, cách viết của một số người Việt trên các  bảng hiệu, bảng quảng cáo, trên báo chí in và nói, cả trong tác phẩm văn chương. Người ta nói ngôn ngữ của một nước thể hiện chủ quyền quốc gia của  nước đó. Mình  phải  nói đúng, viết đúng tiếng nước mình. Ngôn ngữ có trường tồn thì nền độc lập tự chủ mới trường tồn. Tiếng Việt còn hay mất là tùy thuộc vào lòng yêu quý tiếngViệt, yêu nước Việt của toàn dân. “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…, tiếng nước tôi tiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi….” (Phạm Duy).

Học theo cách nói của tiền bối Phạm Quỳnh, Cỏ May tôi nay xin thưa “Nước mắm còn, Việt Nam còn, người Việt Nam còn”.

Nước mắm có lịch sử lâu dài gắn liền với người Việt Nam. Nó không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người Việt Nam, nhất là trong văn hóa ẩm thực của người Việt. Không ai có thể hình dung một bữa cơm của người Việt Nam lại có thể thiếu chén nước mắm. Bởi nó vừa là thứ nêm nếm làm cho món ăn vừa miệng, vừa đem lại chất dinh dưỡng cho nguời ăn. Cứ nhìn bữa ăn của người nhà quê Việt Nam chỉ có chén nước mắm với dĩa rau luộc, thế mà họ mạnh khỏe làm việc đồng áng cả ngày. Người đánh cá, khi lưới vướng mắc ở độ sâu rất sâu, cả vào mùa lạnh, bèn uống một ly nhỏ nước mắm nguyên chất rồi  nhảy xuống biển lặn gỡ lưới. Xong trồi lên, người vẫn mạnh khỏe bình thường.

Đem hỏi một vị Giáo sư Sinh Hóa ở Đại học Khoa học Sài gòn (Luận án của ông về Nước Mắm ở Đại học Marseille cuối thập niên, 50 – ông gốc Phan Thiết), được ông cắt nghĩa “1 phần  nước mắm của người nhà quê bằng 1 con cá, tức bằng phần cá của bữa ăn”.

 

  Vậy mà trong những năm vừa qua, doanh nhân người Việt Nam  cấu kết với gian thương Tàu chệt và nhà cầm quyền cộng sản ở Việt Nam dám làm nước mắm giả, không cần có đủ cá, thay thế bằng hóa chất độc hại, để bán giá rẻ, chiếm thị trường, làm giàu mau lẹ, giết chết nước mắm Việt Nam thứ thiệt và cả người tiêu dùng.

Vậy phải chăng đây đúng là hiện tượng “Nước Mắm không còn”? Còn “Tiếng Việt Nam” có còn nguyên vẹn không? Hay cũng đã bị biến thể? Hậu quả dẫn đến mất chủ quyền, rồi mất nước!

Nước mắm trong văn hóa và lịch sử Việt Nam

Những nhà làm bếp lớn nói “nước mắm chính là linh hồn của ẩm thực Việt Nam” vì món ăn Việt Nam, dù có đủ các thứ thịt cá, rau cải, dầu mỡ, muối đường, gia vị,… mà chỉ thiếu nước mắm thì món ăn đó chắc chắn sẽ không có ai bảo đó là món Việt Nam. Trái lại, món tây, món tàu mà nêm nước mắm vào thì sẽ có ngay hương vị (gu–gout) Việt Nam.

Một nhà bếp trẻ Việt Nam, học làm bếp ở Mỹ, giành được giải thưởng cao quí sau cùng trong một cuộc thi ở NY, với 3 người cùng vào chung  kết, cùng làm 3 món giống nhau. Báo chí hỏi: bí quyết của anh để được giải thưởng? Anh cười trả lời: “Không có bí quyết gì cả. Chỉ có thêm vài giọt nước mắm!”.

Nói về khẩu vị ăn nước mắm thì phải bái phục người Miền Trung. Họ ăn cực kỳ mặn, tuy nước mắm của Miền Trung vốn có độ mặn đã cao mà họ ăn nguyên chất chớ ít khi chịu pha chế như dân Nam kỳ. Phải chăng nhờ vậy mà dân Miền Trung có tiếng gan lì, chịu khó, làm việc gì là làm tới cùng, ít khi chịu bỏ cuộc? Không như dân Nam kỳ, gặp khó thì phủi tay. Chỉ thích lè phè. Nên khi chống giặc cộng sản, cũng lại theo chủ trương nam kỳ quốc “cà nhỏng chống xâm lăng”!

Giá trị của nước mắm vì thế trở nên độc đáo trong nghệ thuất nấu ăn và còn là một yếu tố làm cho văn hóa dân tộc trường tồn  mạnh mẽ.

Quy trình làm nước mắm truyền thống

chén nước mắm không thể thiếu trong bữa ăn gia đình người Việt

Nhưng nước mắm được chánh thức đưa vào lịch sử Việt Nam từ bao giờ?

Theo Bộ Nông nghiệp cho biết hiện cả nước có khoảng hơn 2900 cơ sở sản xuất nước mắm cung cấp cho thị trường mỗi năm 215 triệu lít, trong số đó, xuất cảng từ 3 -5%, đem về cho Việt Nam được 15 triệu mỹ kim/năm.

Riêng Miền Nam chiếm 46% cơ sở sản xuất trên cả nước và 39% sản lượng nước mắm ngon nhứt vì biển trong Nam ấm nên cá cho nhiều protéines hơn (nước mắm ở Trung có 3-4% protéines, nước mắm Phú Quốc có từ 11-16% protéines).

Image result for nước mắm truyền thốngmột cơ sở sản xuất nước mắm ở Phú Quốc

Hương vị của nước mắm là thứ mê hoặc, không riêng cả nước Việt Nam, mà còn không ít người ngoại quốc khi đã quen mùi nó. Và địa vị lịch sử của nó cũng có bề dày khá quan trọng. Rất đáng cho dân ăn nước mắm trân trọng và gìn giữ.

Theo nhà sử học Trần Đức Anh Sơn, người vừa bị đảng cộng sản khai trừ khỏi đảng vì viết sử đúng lịch sử mà không đúng chủ trương của đảng thì Đại Việt sử ký toàn thư, khắc in vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697) có ghi chép: “Đinh Dậu, Ứng Thiên năm thứ 4 (997)… Mùa hạ, tháng 4, nhà Tống phong vua làm Nam Bình Vương. Vua sai sứ sang nước Tống đáp lễ. Vua Tống ban chiếu thư khen ngợi. Trước kia sứ Tống sang thường mượn cớ đòi cống nước mắm, nhân thế bắt đóng góp”. Đoạn sử liệu này cho thấy muộn lắm là vào trước năm 997, người Việt đã biết làm và ăn nước mắm. Hơn nữa, nước mắm chắc  phải ngon  hơn xì dầu  nên vua tàu, tuy ở xa vạn dặm, cũng vẫn “ngửi thấy” mùi thơm của nước mắm bắt thèm, mới đòi triều đình Đại Việt  triều cống.

Trong Phủ biên tạp lục (của Lê Quý Đôn, ấn hành vào cuối thế kỷ XVIII), Lịch triều hiến chương loại chí (của Phan Huy Chú, đầu thế kỷ XIX), Gia Định thành thông chí (của Trịnh Hoài Đức, đầu thế kỷ XIX) và trong các bộ sử của triều Nguyễn như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ và Đại Nam nhất thống chí, nước mắm được xem là thổ sản của nhiều địa phương ở Đàng Trong.

Danh dong khai niem 'nuoc mam' de tranh bi kien? hinh anh 3

Phủ biên tạp lục ghi nhận nước mắm là đặc sản của xứ Thuận Quảng, là thứ mà các chúa Nguyễn bắt phải nộp thuế biệt nạp, thay thế cho thuế đinh, nghĩa là thay vì phải nộp thuế thân, thì các nhà làm nghề nước mắm, hàng năm phải nộp về cho triều đình một lượng nước mắm nhứt định.

Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, trong phần Quốc dụng chí, năm Thuận Thiên thứ 5 (1013), đời Lý Thái Tổ, triều đình quy định nước mắm là một trong 6 loại thổ sản phải đóng thuế biệt nạp. Đến thời Lê, vào năm Cảnh Hưng thứ 4 (1743), triều đình ban hành hạn mức số lượng nước mắm mà các phường nghề phải nộp. Cụ thể, ở xứ Thuận Quảng, ai có phương tiện đánh bắt cá để làm nước mắm thì mỗi năm phải nạp 3 chĩnh nước mắm, người làm thuê mỗi năm nạp 1 chĩnh. Năm 1769, số nước mắm do nhà nước thu qua hình thức thuế biệt nạp này lên đến 3.000 chĩnh.

Nghệ An cũng là một địa phương sản xuất nước mắm có tiếng thời Tự Đức (1848 – 1883), nhưng nước mắm xứ Nghệ thì nặng mùi đến độ Cụ Cao Bá Quát đã phải:

Ngán thay cái mũi vô duyên.

Câu thơ Thi xã, con thuyền Nghệ An”.

Về mặt chữ nghĩa, nước mắm trong các tư liệu trên được ghi bằng Hán tự là thủy hàm (水 鹹) hay hàm thủy (鹹 水), nghĩa là “nước mặn”. Cái tên, đọc lên, nghe chữ nghĩa bác học lắm nhưng hoàn toàn không có mùi. Mà nước mắm không có mùi thì không phải là nước mắm!

Trong cuốn “Đông phương phong tục văn hóa từ điển” do các nhà nghiên cứu Trung Hoa biên soạn, khi nêu đặc trưng văn hóa ẩm thực của người Việt, họ liệt kê 4 món ẩm thực tiêu biểu của người việt, xếp theo thứ tự là: nước mắm, thuốc lào, bánh chưngtrầu cau. Chữ “nước mắm” trong sách này được viết là Việt Nam ngư lộ (越 南 魚 露). Ngư là “cá”, lộ là “giọt sương móc”. Ngư lộ là “giọt sương tiết ra từ cá”. Cách gọi này diễn tả phần nào từ đâu có nước mắm, nhưng vẫn chưa đủ gợi lên mùi vị gì cả, mà nước mắm được thiên hạ biết đến, nhớ và ghiền, là nhờ cái mùi có một không hai của nó. Vì thế, có lẽ nên giữ cái tên vốn có của nó là nước mắm. Và khi dịch sang ngôn ngữ khác thì cũng nên giữ nguyên tên của nó là nước mắm mới đúng.

Image result for garum fish sauce 500 usd

Nước mắm còn được người phương Tây đưa vào sử sách của họ.. Cristophoro Borri, một giáo sĩ người Ý đã từng sống ở Đàng Trong vào đầu thế kỷ XVII, đã viết trong cuốn hồi ký Xứ Đàng Trong năm 1621 của ông như sau: “Người Đàng Trong ăn cá nhiều hơn ăn thịt. Họ chuyên chú đánh cá chủ yếu là vì họ rất ham thứ nước ‘sốt’ gọi là ‘balaciam’ làm bằng cá ướp muối cho mềm và làm nhão ra trong nước. Đây là một thứ nước cốt cay cay tựa như mù tạt (moutarde) của ta, nhà nào cũng dự trữ một lượng lớn đựng đầy trong chum vại như tại nhiều nơi ở châu Âu người ta dự trữ rượu.

Hơn 170 năm sau, phái bộ người Anh do bá tước George Macartney dẫn đầu, có ghé thăm cảng Đà Nẵng vào năm 1793. Viên quan trấn thủ cửa Hàn đã làm bữa tiệc chiêu đãi khách với “những đĩa thịt bò xắt miếng vuông, chấm thứ “nước rất ngon” khiến các thành viên trong phái bộ cứ tấm tắc khen, còn George Macartney phải ghi nhớ thứ nước chấm độc đáo ấy – nước mắm – vào trong nhật ký hành trình của mình (Trần Đức Anh Sơn, Nước mắm trong văn hóa và lịch sử Việt Nam, Văn hóa Nghệ An, 6/2016)

Nguồn gốc nước mắm không phải ở Việt Nam

Người không biết ăn  nước mắm, dứt khoát người đó không phải là người Việt Nam thứ thiệt. Nhưng nước mắm, thứ quốc hồn quốc túy đó, lại có nguồn gốc không phải ở Việt Nam, mà cũng không ở Á châu, tuy có luận thuyết cho rằng nước mắm gốc Chàm, cũng như mắm, áo dài, …

Người Pháp ở vùng Bretagne cũng biết làm và sử dụng “nước mắm” từ 2.000 năm trước. Theo Ts. Françoise Coulon, quản thủ ở Bảo tàng Mỹ thuật Rennes, thì từ đầu Công nguyên, dân Bretagne đã biết cách ướp cá biển với muối để chiết ra một thứ nước cốt mà họ gọi là garum và dùng nó như một thứ thực phẩm. Những sử liệu đang lưu giữ tại thư viện của Bảo tàng Mỹ thuật Rennes ghi lại cách làm garum của người Bretagne xưa kia. Và khi khai quật các phế tích trong vùng Bretagne, các nhà khảo cổ học Pháp đã phát hiện những công cụ bằng gốm dùng để sản xuất và để đựng  “nước mắm” này. Nhưng ngày nay, người Pháp và cả riêng người bretagne không ăn nước mắm và cũng  không còn làm nước mắm nữa.Một câu hỏi lớn, không lời đáp!

Người Thụy Điển cũng có một thứ “nước mắm” riêng của họ, gọi là surstromming. Thứ “nước mắm” này được làm từ cá harreng cho vào thùng gỗ lớn, cho muối vào để ướp. Sau 48 giờ, khi cá bắt đầu mềm thì người ta ngắt đầu cá và vứt bỏ phần ruột, cho thêm muối vào và ướp tiếp. Thùng cá ướp đó được để  ngoài trời từ 8 đến 12 tuần, dưới nhiệt độ từ 40 đến 60 độ F, cho đến khi thân cá nát ra và trở thành một loại mắm có mùi hôi kinh khiếp, chính người Thụy Điển cũng chịu không nổi nhưng đó lại là một món đặc sản ngon của họ. Thư tịch cổ Thụy Điển còn cho biết, vào thời Trung cổ, chính quyền chỉ cho phép bán surstromming vào các ngày thứ Năm của tháng Tám mà thôi. Và mỗi phiên chợ surstromming là những ngày hội ẩm thực đáng nhớ của người Thụy Điển. Nhưng họ thích ăn surstromming như một loại mắm hơn là thứ nước mắm.

Theo sử sách ghi lại, nước mắm có nguồn gốc từ thời Đế quốc La Mã (từ năm thứ 27 trước CN), có tên gọi là garum, được chưng cất bằng cách ướp cá với muối rồi ủ cho lên men, giống hệt với cách làm nước mắm ở Việt Nam. Nhưng người La Mã dùng ít muối hơn nên garum chứa nhiều dưỡng chất hơn và đậm đà hương vị hơn.

Image result for garum fish sauce

    Đây là một tấm khảm khai quật được từ phần nền một cửa hiệu bán garum

ở Pompeii, thành phố bị núi nửa chôn vùi vào năm 79 sau CN,

cho thấy nước mắm đã trở nên phổ biến như thế nào vào thời đó.

Related image

Bình La-mã đựng nước mắm

Nước garum cũng có nhiều loại khác nhau và nhiều đẳng cấp khác nhau. Loại dành cho nô lệ thì rất rẻ, ai cũng mua được, trong khi đó giá của một chai garum thượng hảo hạng dành cho giới quý tộc rất mắc, có thể lên đến một số tiền tương đương với 500 đô ngày nay.

Khi Đế quốc La Mã sụp đổ cùng với sự tràn ngập của bọn cướp biển, sẵn sàng chém giết, đốt phá, công thức chế biến garum cũng từ đó mà biến mất. Tuy nhiên, bằng cách nào đó, có lẽ là thông qua việc giao dịch và trao đổi hàng hóa với người Trung Hoa trên Con Đường Tơ Lụa từ trước đó, nước mắm đã du nhập vào phương Đông, đầu tiên là tại Trung Hoa, sau đó lan dần đến Hàn Quốc, Nhật Bản, rồi đến khu vực Đông Nam Á trong vòng 1.000 năm sau đó.

Danh dong khai niem 'nuoc mam' de tranh bi kien? hinh anh 2

Ở các nước Á châu có nước mắm, mỗi nơi có tên gọi nước mắm khác nhau:

Miến Điện gọi nga–pya-ye; Tàu gọi yuolu; Đại Hàn gọi ack-jeot; Nam Dương gọi bakassabg, trassi ; Nhật Bản gọi shotturu; Mã Lai gọi badu; Phi Luật Tân gọi patis; Thái Lan gọi nam pla; Miên gọi teuk trey; Ấn Độ gọi loma ilish.

Dù không phải được người Việt phát minh ra đi nữa nhưng từ thế kỷ X đến nay (có nơi nói từ thề kỷ VI), nước mắm đã trở thành món ăn gắn liền với mảnh đất và tâm hồn người Việt. Có đi đâu xa, người ta vẫn luôn nhớ và thèm đến thứ gia vị nồng ấm này và mong ngóng đến ngày trở về quê hương. Nhưng ở Việt Nam ngày nay, dưới chế độ cộng sản cai trị, quốc ngữ đã bị nhà nước chủ trương sửa đổi cho không còn tiếng Việt Nam nữa, nước mắm bị gian thương kết hợp với nhà nước làm giả để triệt tiêu thứ nước mắm truyền thống, không chỉ vì lợi nhuận mà còn nhằm bứng gốc dân tộc.

Nếu bảo đó là chánh sách phá sản, tiêu diệt dân tộc và đất nước của cộng sản, không biết có nói thái quá không?

Nguyễn thị Cỏ May

Nam Mai ST

  Image result for hình ảnh chén nước mắm

Xem thêm...

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống

người Việt vào thập niên 1930

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

Bộ Chuyên khảo bằng tranh vẽ về Đông Dương (Monographie dessinée de l’Indochine) là một series đồ sộ gồm 520 bức vẽ bằng bút chì, in li-tô và phần lớn đều tô màu. Nội dung tranh mô tả phong cảnh, cách sinh sống của dân nước ta vào khoảng đầu thập niên 1930. Nói chính xác thì có 4 bộ về xứ Bắc, 1 bộ về miền Trung, 6 bộ về miền Nam và 2 bộ về Cao Miên và Ai Lao.

Tranh vẽ theo sự gợi ý của ông Jules Gustave Besson, Chánh Thanh tra các Trường Mỹ thuật và Mỹ nghệ ở miền Nam và cũng là Hiệu trưởng của Trường Mỹ thuật Gia Định đến hơn 10 năm. Học sinh của trường Vẽ Gia Định đã tham gia đông đảo để thực hiện chương trình này, tác phẩm của họ đã được Hội Ấn nghiệp và Trang Trí tập họp lại và in thành « Vựng tập về Thương mại, Văn hóa, Lãnh thổ, và Con người đất Gia Định ». Sách do Nhà xuất bản Paul Geuthner in theo các bản vẽ đã thực hiện trong các năm 1935-1938-1943.

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 1

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 2

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 3

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 4

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 5

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 6

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 7

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 8

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 9

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 10

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 11

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 12

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 13

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 14

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 15

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 16

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 17

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 18

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 19

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 20

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 21

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 22

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 23

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 24

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 25

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 26

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 27

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 28

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 29

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 30

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 31

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 32

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 33

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 34

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 35

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 36

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 37

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 38

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 39

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 40

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 41

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 42

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 43

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 44

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 45

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 46

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 47

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 48

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 49

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 50

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 51

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 52

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 53

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 54

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 55

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 56

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 57

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 58

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 59

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 60

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 61

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 62

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 63

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 64

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 65

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 66

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 67

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 68

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 69

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 70

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 71

Hồng Vân

Các phụ nữ vùng nông thôn của Sài Gòn xưa mặc áo dài trong bữa cơm gia đình.

Xem thêm...

Ta Về Một Bóng Trên Đường Lớn...Tô Thùy Yên (1938-2019)

TA VỀ MỘT BÓNG TRÊN ĐƯỜNG LỚN…

Tô Thùy Yên

(1938 - 2019)

 

 

Tiểu sử:

Tô Thùy Yên là một nhà thơ nổi tiếng người Việt Nam. Ông là tác giả bài thơ Chiều trên phá Tam Giang mà một phần của nó đã được Trần Thiện Thanh phổ nhạc. Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1938 tại Gò Vấp. Cha là chuyên viên phòng thí nghiệm viện Pasteur Sài Gòn, sau về công tác ở Bệnh Viện Chợ Rẫy.

Thuở nhỏ học trung học Trường Petrus Trương Vĩnh Ký, có ghi danh theo học ở Trường Đại HỌc Văn Khoa Sài Gòn, ban văn chương Pháp một thời gian rồi bỏ dở.

Ông bắt đầu có thơ đăng trên báo Đời Mới (Thập niên 1950 ) trước khi xuất hiện và nổi tiếng trên tạp chí Sáng Tạo. Tô Thùy Yên, Mai Thảo , Thanh Tâm Tuyền cùng với các họa sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng là những người nòng cốt của nhóm Sáng tạo, một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh "Thơ Tự Do" trên văn đàn Miewefn Nam vào thập niên 1960. Ông là người miền Nam duy nhất trong nhóm Sáng tạo.

Cuối năm 1963 ông nhập ngũ phục vụ ngành chiên tranh chính trị. Chức vụ cuối cùng là thiếu tá, trưởng phòng Tâm lý chiến.

Tô Thùy Yên lập gia đình với vợ chánh là bà Huỳnh Diệu Bích, nhưng ông còn có thời gian chung sống và có mấy con với nhà văn nữ Nguyễn Thị Thụy Vũ .

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông bị nhà cầm quyền cầm tù ba lần, tổng cộng gần 13 năm. Cuối năm 1993 cùng gia đình sang Hoa Kỳ định cư theo dạng tù nhân chính trị . Hiện nay ông đang ở Houston tiểu bang Texas (Theo Wikipedia ).

***

Theo nguồn tin của gia đình nhà thơ Tô Thùy Yên, qua con trai của ông là Đinh Kinh Hiệt, nhà thơ Tô Thùy Yên, đã từ trần tại Houston vào lúc 9:15 PM ngày thứ Ba 21 tháng 5-2019, sau một thời gian dưỡng bệnh tại một Rehab Center ở thành phố Houston, Texas. Ông đã lâm vào trạng thái hôn mê từ ngày thứ Bảy 18 tháng 5 năm 2019 vừa qua.(BM)

Nhà Thơ sĩ Tô Thùy Yên qua đời tại Texas, hưởng thọ 81 tuổi.

( 1938 - 2019 )

 ◄ ◊► ◄ ◊ ►

 

Chúng tôi hân hạnh giới thiệu bài viết của cô Thảo Dân, bình luận rất sâu sắc bài thơ Ta Về của Tô Thùy Yên. Càng ngạc nhiên biết cô là giáo viên miền Bắc, sinh năm 1974.

Xưa giờ, tôi vẫn tự nhận mình mê thơ Nam hơn thơ Bắc. Bởi lẽ, với riêng tôi, thơ là tiếng nói thốt lên tự đáy lòng, không cần phiên dịch, không cần triết lý, không cần gò bó trong những trúc trắc diễm lệ câu từ. Thơ càng chau chuốt, bóng bẩy thì, hình như, cái tình càng ơ hờ, nhạt nhẽo. Thơ cũng không phải nơi để gửi gắm triết lý. Làm việc đó, văn xuôi và triết học tốt hơn nhiều. Thơ để cảm, để yêu, để nơi trái tim gặp gỡ trái tim. Vậy mà có một ngoại lệ, nhà thơ tôi yêu thích trong âm thầm, khá lâu bền, lại là người được giới phê bình nhận xét “Người Nam nhưng mang hồn thơ Bắc”: Nhà thơ Tô Thùy Yên.

Thật ra, trong cảm nhận của tôi, thơ Tô Thùy Yên có cả Nam, Trung và Bắc, có đủ triết, sử, đời. Nếu chọn đại diện duy nhất thơ cho một nước Việt Nam thống nhất, tôi trân trọng đề cử Tô Thùy Yên. Trong cái hệ lụy chung của Hiệp định Geneve chia đôi đất nước, thì nó cũng để lại một trái đẹp lạ lùng, đó là sự pha trộn, làm phong phú thêm ngôn ngữ, văn hóa miền Nam, và dường như, Tô Thùy Yên là thi nhân đặc biệt bắt được nhịp thở thời ông sống và nhập cả vào thơ điệu tâm hồn Bắc Trung Nam, làm nên một vóc dáng thơ vạm vỡ, uy nghi, lạ lẫm trong dòng chảy văn chương dân tộc với ngôn ngữ vừa dân dã vừa bác học, vừa bình dị vừa sang trọng, không lẫn vào ai khác.

Nếu nói thơ Chế Lan Viên độc đáo ở siêu hình, thì thơ Tô Thùy Yên siêu hình không kém. Nếu nói sự tráng lệ của câu chữ trong thơ Yến Lan, sự cổ điển của Quách Tấn, tìm trong thơ Tô Thùy Yên, đủ cả. Cảm hứng về thiện nhiên, vũ trụ trong thơ Huy Cận, Tô Thùy Yên không thua, chưa muốn nói còn rợn ngợp hơn. Về lối viết cách tân của Trần Dần hay sự tài hoa của Quang Dũng, Tô Thùy Yên có nhiều câu không hề kém cạnh.

Thơ Tô Thùy Yên mang phong vị thơ Bắc ở cách diễn đạt văn chương, ở lớp lang từ ngữ ước lệ, tượng trưng của Đường luật, ở cách dùng ca dao độc đáo, duyên dáng. Tôi gọi Tô Thùy Yên là Nhà thơ không quê hương. Ông sinh ra ở Gia Định nhưng quê hương ông là Việt Nam. Thơ ông nói với ta như thế.

Thơ Tô Thùy Yên thể hiện một sự trái ngược khá lạ lùng. Ông là một trong 5 thành viên của nhóm Sáng Tạo (mà duy nhất ông là người Nam), một nhóm thơ mong muốn thổi vào thi ca Saigon khi đó một sự cách tân cả về nội dung lẫn hình thức, nhưng trong những sáng tác của ông, ta thấy ông lại dùng tấm áo gấm cổ điển để gói bọc nội dung siêu hình, giàu tính triết học, vô cùng hiện đại.

Bài thơ Cánh đồng con ngựa chuyến tàu viết năm 1956 khá tân kỳ. Đặt vào hoàn cảnh quốc gia Việt Nam Cộng Hòa khi đó, nó mang tính thời sự rất cao nhưng vẫn không bớt chất lãng mạn, bay bổng. Bài thơ mở ra bức tranh động với hình ảnh cánh đồng một màu xanh cây cỏ nhưng không bằng phẳng êm xuôi mà có “gò nổng cao” và “thung lũng sâu”, như ẩn dụ về đường đời đầy thử thách.

Trên nền màu xanh của cỏ cây, chú ngựa nâu đang rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu, còn đoàn tàu vẫn vô tri vô giác chạy mau, chạy mau, chạy mau để rồi rốt cuộc ngựa thua. Gục đầu, gục đầu, gục đầu ngã lăn và để lại trên tấm thảm xanh trải dài hút mắt một vết nâu.

Dường như, trong hai hình ảnh sóng đôi con ngựa và toa tàu không chỉ là cuộc phân tranh giữa “thảo mộc phương Đông và Tây phương cơ giới” như nhà phê bình Đặng Tiến nhận xét, mà dường như, ý thơ còn muốn mở ra điều sâu kín hơn: Con tàu văn minh rất hiện đại nhưng không có hồn vía, không có sự sống, không có cảm xúc và vẫn chịu sự điều khiển của con người. Con ngựa (phải chăng là ẩn dụ về con người?), tuy phải trải qua những cung đường gập ghềnh, thử thách, nhưng luôn được sống trong những giây phút thăng hoa, có thể thắng thua trên đường đời nhưng luôn được làm chủ cảm xúc, luôn được là mình.

Bài thơ là khúc hoan ca về cái tôi kiêu hãnh. Hoặc nữa, nó còn là một lời dự báo, một âu lo ngấm ngầm trong tiềm thức: Một ngày nào đó, nền văn minh công nghiệp sẽ tàn phá tất cả, bỏ lại loài người bị tước bỏ môi trường sống, không còn được thung dung như chú ngựa nâu an nhiên thuộc về cội nguồn thiên nhiên cây cỏ đồng hoang?

Nhưng, trong phạm vi một bài viết ngắn, không thể ôm đồm. Chỉ xin mạo muội chia sẻ một số suy cảm sơ sài về bản trường thi lộng lẫy trong kho tàng văn chương Việt Nam, được nhiều người ca tụng: TA VỀ.

TA VỀ- bản trường thi nhiều lớp lang, cảnh trí: cảnh trí đất trời, cảnh trí con người và cảnh trí của cõi lòng thê thiết. Mỗi khổ thơ tách riêng có thể thành một bài thất ngôn tứ tuyệt độc lập, chặt chẽ, hoàn hảo. Điệp ngữ “Ta về” được dùng như chiếc chìa khóa mở ra nội tâm nhà thơ từ lúc đặt chân xuống đường lớn, trả lại thân phận tự do.

Bài thơ là tiếng lòng của một người, cũng là tiếng lòng của hàng ngàn người miền Nam bị đày ải khắp các nhà tù từ Nam chí Bắc, từ rừng hoang heo hút, hiểm trở đến những nơi đồng chua nước mặn… Đọc bài thơ, ta hiểu về lịch sử, tâm sử, chứ không chỉ là lời giãi bày khi trở lại quê nhà, thậm chí nhóm câu thơ tình ái trong bài cũng gợi về dòng lệ tràn của bao nhiêu thân phận thiếu phụ chờ chồng từ những trại cải tạo sau 1975.

Không riêng bài thơ này, mà trong toàn bộ sáng tác của Tô Thùy Yên, dường như ông luôn là người chép sử, luận triết bằng thơ. Ta gặp ở đây lối kết cấu nghệ thuật như trong thơ cổ. Trang đời mới mở ra sau cánh cổng nhà tù: Trở về, qua truông qua phá, gặp người quen cũ trên đường, gặp cha mẹ, gặp vợ con, đi thăm làng xóm, nhớ người còn người mất, tìm lại chính mình những ngày tháng cũ, đan xen là những suy tưởng để tìm lại mình và phá bỏ những xiềng xích tâm hồn 10 năm dằng dặc.

“Mười năm”, không phải quãng thời gian dài nhất mà một người tù VNCH phải trải qua. Lâu nhất phải kể đên Thiếu tướng Lê Minh Đảo, Thiếu tướng Đỗ Kế Giai, Thiếu tướng Trần Quang Khôi, Thiếu tướng Phạm Ngọc Sang, Thiếu tướng Phạm Duy Tất, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Mạch Văn Trường…đều bị tù từ tháng 5/1975- 1992, tức là 17 năm tù.

Những người bị tù ít nhất cũng vài ba năm. Bản thân Tô Thùy Yên có tổng cộng 13 năm trong tù. Nhưng lần đầu, cũng là lần lâu nhất: 10 năm. Như vậy, nên hiểu “mười năm” vừa chỉ thời gian có thật, vừa là khái niệm ẩn dụ, tròn một thập kỷ, đủ để thương hải tang điền, đủ cho người thay đổi và đời thay đổi.


Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai 
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ 
Mười năm đá vẫn ngậm ngùi thay.


“Ta về” được nhắc đi nhắc lại 16 lần, không phải tiếng reo vui, không phải lời báo tin mừng mà cả bài thơ nặng trĩu trầm ngâm suy tưởng. Ta về là kết thúc một phần đời đau khổ. Ta về để mở ra chương đời khác chưa biết có đỡ bi thảm hơn không. Ta về với những giấc mơ mười năm xóa trắng. Ta về mà như tiếng địch ngân xót xa sầu thảm của tráng sĩ thất trận qua sông.

Tôi hình dung ra một con người quần nâu, áo vải phai màu bởi nắng mưa xứ Bắc, thập thững đi cô độc trên đường. Đường vắng. Người gầy, bóng đổ. Cả bóng lẫn người đều câm lặng. Một cuộc trở về ngậm ngùi, không người thân đưa tiễn, không ai biết mà đón đợi.

Ca dao có câu Mình về em chẳng cho về/ Em níu vạt áo em đề câu thơ. Phút chia tay, bút mực đâu mà đề thơ lên áo. Là dòng lệ của nàng vẽ lên áo một chữ Tình đó thôi. Đề thơ chỉ là cái cớ để bên nhau lâu thêm một chút. Cuộc tiễn đưa dùng dằng, lưu luyến.

Nhưng với thân phận người tù cải tạo khi đó, còn sống mà trở về đã là việc thần kỳ, được rời bỏ địa ngục trần gian phút nào là biết mình được sống phút đó, còn có mong chi ai đề thơ vạt áo. Mười năm mong mỏi.

Vậy mà sao khi trở về lại “đau mềm phế phủ” đau thấu tâm can, đến nỗi đá cũng còn thay người ngậm ngùi rơi lệ? Bởi nhớ lại những đọa đày khó giấy bút nào tả xiết? Là nhớ những đoạn trường mẹ già, vợ dại con thơ truân chuyên đường xa dặm thẳm tàu xe cả tuần lễ mới tới nơi thăm nom, để dành cho một chút thức ăn từ những chắt chiu tằn tiện? Hay đau đứt ruột bởi những huynh đệ chi binh chia ngọt xẻ bùi, bảo bọc nhau qua ngày tháng khó, giờ chỉ là những nấm mồ hoang cô quạnh nằm lại nơi đất khách?

Trong bài “Tàu đêm” tái hiện cảnh đoàn tàu chở những người tù miền Nam đi đày biệt xứ, Tô Thùy Yên viết những dòng rền vang, chát chúa như lời trăng trối tuyệt vọng khi đoàn tàu như trong một cơn giông lửa, giữa đêm chạy về nơi vô định, về nơi cuối trời, và với nhiều thân phận, đó là chuyến đi về nơi cuối đời.

Khi chạy qua những xóm làng tối đen im lìm của miền Bắc, những bến cảng, nhà kho, người tù nhớ mẹ, nhớ em, nhớ phố phường hoa lệ…, hình dung mình như một thứ sinh vật khổ đau bị nghiến dưới đường ray lịch sử vô tình, người tù tuyệt vọng thốt lên những tiếng kêu bi thảm để mong loài người mê sảng trong thứ chủ nghĩa giáo điều tăm tối đang im lìm kia, thức dậy để biết có những đồng bào, đồng loại đang còn có linh hồn, để cùng nhau sống.


Tàu ơi hãy kéo còi liên tục
Cho tiếng rền vang dậy địa cầu
Lay động những tầng mê sảng tối
Loài người hãy thức, thức cùng nhau

Ngược lại, khi trở về, chỉ là những thanh âm im lặng. Một mình một bóng. Và khi trở về, người tù hồi tưởng lại đoạn đời lao tù


Vĩnh biệt ta- mười- năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.


Khổ thơ này là lời đoạn tuyệt 10 năm xa loài người, 10 năm sống trong âm ty địa ngục nhưng, ta vẫn bắt gặp tâm trạng kiêu hãnh kín đáo của kẻ chiến bại. Tựa vào rừng mà tồn tại. Câm lặng như rừng để giữ gìn chất Người dù cho bị đày đọa đến suy thoái cả hình hài, hoang dã như thời tiền sử. Thân bại nhưng vẫn âm thầm sống, mãnh liệt sống để danh không liệt.


Có lẽ, khổ thơ này chỉ nên đọc và cảm nhận, không cần bình luận gì nhiều về thân phận người tù. Để hiểu thêm, xin giới thiệu một vài khổ thơ trong bài “Mùa Hạn” nói về cảnh ngộ người tù, ông viết năm 1979 ở Nghệ An nhưng phải tới 15 năm sau nó mới được in trong “Thơ Tuyển”, năm 1995 ở Mỹ.


Ở đây địa ngục chín tầng sâu
Cả giống nòi im lặng gục đầu
Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt,
Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau.
Bước tới, chân không đè đá sắc
Vai trần chín rạn gánh oan khiên
Nước khe, cơm độn, thân tàn rạc
Sống chẳng khôn, cầu được thác thiêng.


Tô Thùy Yên đã chép lại một thời kỳ tăm tối mà ông và chiến hữu đã trải qua, thời kỳ kinh khủng, giữa thời đại văn minh mà con người bị đày đọa như súc vật đến nỗi, chung xiềng mà không dám nhìn mặt, nghiến đến chết cứng hàm răng, mắt ứa máu, vì thương bạn, thương mình, vì thân phận bị cầm tù đau xót, vì mang nỗi hận của hùm thiêng khi đã sa cơ, chỉ tồn tại với nước khe, cơm độn, nắng cháy, cát bay, rừng khô rụm, sông hồ nẻ, đá nứt, muông thú không còn, khoai sắn cũng bị dân làng đào sạch, thú hóa con người đến mức cầu được chết đi vì sống nhục nhằn hơn đau khổ hơn là chết.

Để tồn tại và vượt thoát, có người tù còn nói câu để đời: “Con gì nhúc nhích được là ăn hết”. Đó vừa là bản năng sống, vừa là bản lĩnh người. A.I.Solzhenitsyn có tác phẩm Tầng đầu địa ngục đoạt giải Nobel Văn chương năm 1970, tái hiện cuộc sống của những nhà khoa học hàng đầu của Liên xô bị giam cầm như trong địa ngục dưới thời Stalin, khiến cả thế giới bàng hoàng về sự độc ác mà con người phải trải qua.

Nhưng đó vẫn là Tầng đầu, tầng cao nhất mà Dante có thể nghĩ ra trong Thần khúc để dành chỗ cho khoa học gia, những người dám chống lại cả Chúa, còn những người tù trong thơ Tô Thùy Yên, thì đó là Tầng thứ 9. Đủ cho người đọc lạnh người.

Hành trình trở về qua truông qua phá, lặng lẽ, im lìm, trời câm đất nín, đời im lìm, đóng váng. Người tù trở về, là người tự do trong thân phận cá chậu chim lồng đâu còn có thể hót lên bài ca cũ. Nhưng may mắn, họ không bị chai sạn tâm hồn, vẫn có thể “ngẩn ngơ trông trời đất cũ” cho dù đó không phải sự “ngẩn ngơ” lãng mạn tìm thi hứng, mà đó là nỗi xót xa cho phận người, phận mình, xót xa cho nỗi hưng phế suy vong của lịch sử.


Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu.


Thời gian mười năm được nhắc lại, nhẹ như hơi thở mà chất chứa bao điều. Thế giới già đi, quê hương tan nát sau bao mùa bom đạn, quê hương tàn tạ sau mỗi chuyển dời. Đất bạc màu bởi người chết, người bị tù đày, người đi lên vùng kinh tế mới? Chỉ biết quê hương không còn là quê cũ trù phú, xanh tươi, sum vầy. Điệp ngữ “đất bạc màu” nghe như tiếng thở dài nuối tiếc, xót xa, bất lực. Trước sau, tấm lòng kẻ sĩ vẫn là nỗi trăn trở khi đặt những bước chân đầu tiên trở lại sau mười năm xa vắng.

Tô Thùy Yên- Tranh Đinh Cường

Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió chuyển mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ.
Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy ghi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi.


Có lẽ ám ảnh bởi không gian vũ trụ siêu hình, nên trong thơ Tô Thùy Yên hay nhắc về các loài chim, dường như nó trở thành một hệ thống thi pháp khi ông diễn tả về thời gian, không gian: Con chim thần thoại mắt khoen sâu/ Giật mình như đã ngàn năm ngủ/ Giữ bụi lông, cất khản tiếng gào (Em nhỏ, làm chi chim biển Bắc) Ở đâu còn bóng chim huyền diệu/ Hót gọi tiền thân ta tái sinh (Mùa hạn) Núi xa chim giục giã hoàng hôn (Tưởng tượng ta về nơi Bản Trạch) Con chim nào hớt hải kêu van (Bất tận nỗi đời hung hãn đó) Con chim động giấc gào cô đơn (Trường Sa hành) Biển Bắc tuyệt mù con nhạn lạc (Mòn gót chân sương nắng tháng năm) Con chim lạc bạn kêu vườn rộng (Vườn hạ), Giữ khuya có tiếng chim ai oán (Nỗi đợi) Thương nhớ nghe chừng sông biển cạn/ Nghe chừng gãy những cánh chim bay (Tháng Chạp buồn)…

Hình ảnh “bóng chim qua trễ” như một ám ảnh cô độc, lẻ bầy, cũng là chỉ sự trễ muộn của đời người, đi với “gió chuyển mùa” càng gợi sự trống vắng. Tất cả đều đã hư hao, muộn màng, tất cả đã lỡ thời theo ngọn gió heo may của tuổi chớm đông. Để rồi còn lại, vẫn là nỗi trăn trở khi những vọng động của lịch sử sẽ ngưng ngơi, rơi vào thinh không im lặng, mười năm, bao nỗi bi thương của dịch chuyển thời thế, bao đau khổ của núi lở sông bồi, đau thương, ly tán. Đã ai ghi…vừa là câu hỏi, vừa là lời tự sự mà lại như một tiếng than thầm. Mười năm ấy, cổ lục chưa từng có sử gia biên chép. Biết bao nhiêu máu lệ, ghi mấy cho vừa. Phải vậy chăng, mà Tô Thùy Yên tình nguyện làm người chép sử bằng thơ?

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở 
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi.


Đây là một khổ thơ có thể cắt riêng thành một bài tứ tuyêt tài hoa, chứa đựng những triết lý nhân sinh sâu sắc. Người xưa dạy, rộng lớn nhất là đại dương, rộng hơn đại dương là bầu trời, rộng lớn hơn cả bầu trời chính là lòng người.

Tô Thùy Yên đã giải phóng mình khỏi nỗi hận thù, thấm nhuần giáo lý từ bi hỉ xả của nhà Phật, để lòng mình sánh ngang với trời đất, lắng nghe và cảm tạ lượng đất trời. Vì mình từ tâm nên mới nhìn thấu đất trời từ tâm.

Ai đã từng trải qua những cảnh ngộ mà nhà thơ từng trải, sẽ hiểu rằng, được sống, được trở về từ nơi đã từng đày đọa mình “thành vượn cổ sơ”, là may mắn đến nhường nào. Chính vì thế, cuộc đời dù cay đắng vẫn đáng yêu đáng sống, khi vượt qua địa ngục trần gian càng biết trân quý những vẻ đẹp quanh mình. Ngắm một đóa hoa nở cũng đủ coi như ân điển. Thấp thoáng từ những câu thơ tài hoa là nụ cười an nhiên của người đã qua kiếp nạn, thấm đẫm tinh thần của Lão, Trang, nhìn thấy Đạo ngay từ cánh hoa, ngọn cỏ. Tâm thiện mở ra tận cùng mới cảm nhận được sự từ tâm vô lượng của vũ trụ.

Tô Thùy Yên đã chạm tới cái vô hạn của nhân chi sơ tính bổn thiện. Không phải tới khi trải qua khổ nạn, Tô Thùy Yên mới thấu lẽ vô vi. Trong thời kỳ chiến tranh, ông đã có những vần thơ xót xa cho người lính phía bên kia chiến tuyến vừa sốt rét vừa đói lả nhưng vẫn xích lời nguyền sinh Bắc tử Nam để rồi từ đó bật lên khát khao nhân bản, giá như cả hai đều gom góp sức lại thì mặt đất này khác đến bao nhiêu.

Ngay thời điểm chiến tranh đang hồi ác liệt, mà có sự bao dung, vượt lên trên chiến tuyến đó, còn là gì nếu không phải tâm thế của người vượt thoát giỏi các giới hạn, mà cụ thể trong hoàn cảnh này, là vượt lên hận thù ý thức hệ để nhìn xa hơn cho tương lai dân tộc, bởi nhân thức được sự hữu hạn của kiếp người?

Khổ thơ tiếp theo bừng thức như ánh sáng chói lòa trong một giấc mơ:


Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng.


Ngập tràn không khí cổ thi của một thời chinh chiến. Nhà nhà, người người lên đường theo tiếng trống trận, theo điệu kèn xuất binh hùng tráng. Nô nức ra đi nô nức lên đường. Đến cả con ngựa đá cũng không cầm lòng được, cũng biết sang sông. Những câu thơ linh hoạt hẳn lên, bừng sáng, giàu màu sắc, hình ảnh, âm thanh, gợi tôi nhớ tới lời sấm Ngựa đá sang sông của cụ Trạng Trình, sông đổi dòng để ngựa đá qua bờ bên kia, thời cuộc thay đổi.

Phải chăng, đó chính là ước mộng của một chiến binh kiêu dũng, vừa thoát ngục tù từ bên kia chiến tuyến đã mơ tìm lại nước, ước mơ tìm được đấng minh quân để tạo dựng cơ đồ? Không hiểu sao, đọc khổ thơ này, trong trí óc tôi lại cứ hiện lên hình ảnh bao con người có vẻ ngoài lầm lũi, cam chịu, nhẫn nại đang ngày đêm âm thầm cho những cuộc vượt thoát. Bằng đường biển, đến con ngựa đá cũng sang sông, cũng muốn ra đi. Giấc mộng mãi mãi chẳng viên thành, chỉ còn lại thực tại ê chề cay đắng nên lời thơ như có máu lệ sa xuống đầu ngọn bút.

Ta về như lá rơi về cội…đoàn tụ , xum vầy, nhân quần tề tựu quanh bếp lửa. Bởi mười năm mới được trở lại nhà. Giang hồ có kẻ “một tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà”, huống chi người mười năm mới được ngồi bên bếp lửa đang độ cuối thu. Chén rượu hồng đây rưới xuống. Cho bạn. Cho thù. Cho những ai còn sống và đã khuất. Cho chiến hữu còn âm u đất lạ quê người trong cảnh lao tù, cho cả những người đã tự chọn cho mình một con đường, bỏ nước ra đi. Tha thứ và làm lại từ đầu cho được thành người, không để kẻ nào vùi dập. Ngôn từ ngậm ngùi, hình ảnh đẹp bi tráng, không khí cổ thi vẫn đậm đặc.

Ta về như hạt sương trên cỏ…hạt sương đẹp, khúc xạ cả mặt trời, trong sáng, tinh khôi nhưng lại ngắn ngủi, phù du đến vô thường, nên người ta hay ví sự ngắn ngủi của kiếp người, của cuộc đời như là sương trắng.. Hạt sương trên cỏ chính là bước đi của thời gian, ngắn ngủi hữu hạn đặt cạnh vô cùng vô tận để rồi chợt nhận ra satna bên cạnh vĩnh hằng.

Tuy mong manh nhưng lại chứa sức sống mãnh liệt của không gian, thời gian, đa diện, đa sắc, phải vì thế chăng mà ở câu thơ sau tác giả nhắc tới sinh, dị, diệt trong Đạo Phật để tìm cho thấy cái tâm thế an nhiên tự tại. Đời người như gió như sương. Đời người như chớp mắt. Đặt cạnh số phận dân tộc, nó càng mong manh, vô thường. Ai rồi cũng hư vô. Vậy mà hạt sương bé bỏng vẫn phải tội tình. Hãy liên hệ với thực tại khi đó của thân phận những người tù vừa ở trại cải tạo về để cảm nhận tâm thế chấp nhận hoàn cảnh và lời than thầm của nhân vật trữ tình.


Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh…

Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên…


Một loạt hình ảnh tỉ dụ với những hình ảnh chỉ sự hữu hạn, mong manh, hư vô, đẹp đến mơ hồ.

Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi.


Có bùa thiêng nào kể lại được nỗi nhà mười năm xa vắng? Gỗ đá không thức dậy. nhưng cảnh đấy người đây luống đoạn trường. Từng mái, vách, tường xiêu, nhện giăng, khói ám, mối xông, giậu nghiêng cổng đổ, thềm cỏ um tùm, khách cũ không còn ai, người mất, người tù, người biệt tích...há chẳng phải cảnh vật đang kể lại một câu chuyện vô ngôn của cảnh nhà đơn chiếc, cha mẹ già như đĩa dầu hao, vợ lặn lội chạy ăn từng bữa nuôi con chờ chồng, những đứa con lớn lên không có bóng dáng cha đó sao? Đoạn thơ nói về cảnh vật mà người đọc hình dung ra bao biến cải bể dâu, nhớ tới câu thơ của Nguyễn Gia Thiều: “Phong trần đến cả sơn khê/ Tang thương đến cả hoa kia cỏ này”.

Chỉ cần nhắc một lần để rồi phải sống. Hãy nhớ, bên cạnh yếu tố triết học, những ám ảnh không gian, thời gian, cảm thức sâu sắc về lẽ biến dịch, về sự tuần hoàn, thơ Tô Thùy Yên chính là thi sử, là những trang đời âm thầm máu lệ của ông và những đồng hữu thời hậu chiến, và vượt lên tất cả là khí phách là thái độ sống của một người quân tử, không trói buộc lòng mình vào hận thù, khắc hận thù vào trong dạ nhưng không để nó làm vẩn đục đời sống tinh thần.

Những câu thơ dành cho người vợ tào khang khiến người đọc không khỏi xúc động.


Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng 
Chờ anh như biển vẫn chờ sông.


Ca dao Nam Bộ có câu: Chờ anh em quá sức chờ/ Chờ cho rau mác lên bờ trổ bông. Rau mác cùng họ với lục bình, nhưng lá nhọn như hình lưỡi mác. Hoa cũng tim tím như lục bình nhưng bông nhỏ và ít hoa hơn. Nếu lúc bình nổi lênh đênh trên mặt sông, kênh rạch, thời gian sinh trưởng ngắn thì rau mác có thể sống nhiều năm, mọc cố định ở đồng bưng, về mùa nước nổi, rau mác theo nước vươn lên, cọng trắng phau, mập tròn, có thể bứt làm thức ăn. Rau mác luôn mọc chòi lên bờ, như ước muốn thoát khỏi thân phận cây dại. Rau mác trổ bông quanh năm, vậy mà cô gái đã trách chàng trai để mình “quá sức chờ” lối nói thậm xưng chỉ sự ngóng trông đằng đẵng.

Vậy mà 10 năm đợi chờ, bao nhiêu mùa rau mác trổ bông? Đủ thấy tấm lòng người vợ trung trinh với tiếng lòng đồng vọng. Em vẫn chung thủy đợi chờ, như lẽ tất nhiên, như điều bình dị, như lòng biển mênh mông nhẫn nại. Có người cho rằng, đây là so sánh thiếu tế nhị, thiếu mềm mại và không thích đáng. Kể ra không phải không có lý. Biển vĩ đại, sóng ngầm, bão tố, phong ba…đặt người đàn bà trong so sánh với biển, dữ dội quá, tuồng như không giống với những phẩm chất dịu hiền, thương khó mặc định của đàn bà Việt.

Nhưng hãy đọc lại bao trang viết về những người vợ có chồng đi cải tạo, vừa lặng thầm chăm lo cha mẹ, vừa như con gà mẹ xù cánh che chở nuôi dạy con khỏi sự cô lập, kỳ thị của người đời, vừa thu vén chắt bóp thăm chồng đường xa vạn dặm, không chỉ đối mặt với bao khó khăn về vật chất, mà cái khổ lớn nhất là sự chịu đựng, o ép, đe dọa về tinh thần, thì không so sánh nào sâu sắc, hàm ơn bằng hình ảnh người vợ chờ chồng như biển chờ sông.

Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm đã nhạt mờ…
…Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao.


Những câu thơ này đặc phong vị Bắc. Nó làm người đọc liên tưởng tới câu ca dao thao thiết Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn/ Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ và Đêm qua ra đứng bờ ao/ Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ. Tôi không biết khi viết những điển tích, những chỉ dấu Bắc kỳ tuyệt đẹp này, ông đã đọc những câu ca dao Bắc này chưa, nếu chưa, thì quả thực chất Bắc đã ngấm vào hồn thơ ông hồn nhiên, nhuần nhị như năm xưa Tướng quân Trần Nhật Duật lên miền ngược uống rượu với người Man, thuần thục đến mức được coi như gã người Man chính hiệu.
Tôi đặc biệt thích khổ thơ:


Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh.


Tại sao lại là “bóng ma hờn tủi”? Là bởi vì bị bức tử về tinh thần, bị o ép về mặt thân xác, đã thành một con ma người tồn tại ở cái buổi nghi kị, tố giác, căm thù và độc địa. Nhưng nhân vật trữ tình trong thơ Tô Thùy Yên, luôn luôn cảm nhận rõ cảnh ngộ, thân phận, và có phần nào an phận, nhưng tuyệt đối không cúi đầu. Vượt lên tất cả nghịch cảnh là sự tiếc nuối, xót xa, thương yêu, bao dung và tha thứ. Buộc phải “chết”, bị ép vào tuyệt lộ nhưng vẫn không bao giờ đánh mất mình. Mười năm ta vẫn cứ là ta. Điềm đạm, ngang tàng, uy vũ bất năng khuất.

Nếu ở khổ thơ trên, một bông hoa nở cũng đủ để nhà thơ cúi đầu cảm tạ, thì tới đây, ông lại “thương từng phế liệu”, những dấu tích thời chiến, dấu tích của cuộc đời khác, thuở được làm người. Một mối tương liên khi nhìn những mảnh phế liệu mà nghĩ tới phận mình, mình giờ đây có khác gì mảnh phế liệu thành vô danh ngay trên mảnh vườn nhà.

Nhìn thấy ở mỗi sự vật đều có linh hồn, để mà thương lấy mình, để mà sống cho nhân ái khoan hòa. Tâm thế đó dường như là một chất riêng của thơ Tô Thùy Yên. Ông vượt thoát các giới hạn, không phải để lảng tránh, mà để đối mặt, nhìn rõ bản chất, không để hận thù mà để thứ tha. Bởi thế, tôi cho rằng, thơ Tô Thùy Yên còn giàu Phật tính, không chỉ riêng trong bài thơ này.

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta.


Từ ngàn xưa, trong tâm thức văn hóa Á Đông, Hạc được ví như chim thiêng, là linh vật bất tử trong thế giới loài chim. Hạc có sải cánh dài rộng, bay vút trời cao, vượt muôn trùng mây, sánh với người ưu tú có năng lượng sống dồi dào, mạnh mẽ đương đầu khó khăn sóng gió, lại trong sạch thuần khiết giống bậc quân tử, tiếng kêu thánh thót của nhân tài. Do đó, Hạc được xem như biểu tượng của trí tuệ và cốt cách thanh cao, vượt khỏi đời tầm thường tục lụy.

Đây là khổ thơ xứng làm cái kết cho bản trường thi lộng lẫy, thể hiện sự song hành giữa cái hữu hạn bên cạnh cái vô hạn, giữa thanh cao và tục lụy, giữa buông xả và luyến thương. Đời là cõi tạm, còn ta chỉ như loài chim quý trót nặng lòng thương nhớ trần gian một thuở làm người mà về lại bên đời, để rồi vỗ cánh. Thế thì những tù đầy, oan trái còn xảy ra thêm vài lần nữa cũng có gì đáng sợ. Trong tầm vòng giới hạn của kiếp người, Tô Thùy Yên đã làm được điều mà ông hằng trăn trở.

Dù đời người hữu hạn, vũ trụ vô cùng, nhưng bằng những thi phẩm để lại cho đời, ông xứng là con chim hạc bay qua miền đất này và cất tiếng lòng bi tráng, thống thiết, thánh thót, chạm tới tận cùng những cung bậc cảm xúc.

TA VỀ- Đâu chỉ là về với quê hương bản quán mà nó còn là cuộc trở về với bản thể, trở về với chính mình để truy tìm những câu hỏi lớn: Rốt cuộc, sau bao nhiêu thống khổ, ta là ai? Ta là cánh hạc vàng bay trong chiều thương nhớ để dâng đời khúc hát của một đời ly loạn, không phải để hận thù, chia biệt, mà để loài người biết thương xót nhau thêm.

Trong lần trả lời phỏng vấn của báo Người Việt gần đây, Tô Thùy Yên có kể lại một kỷ niệm rằng, thập niên 90, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền trong khi thu xếp để chờ đi Mỹ, khi đến nhà chơi có nói:

“Đất nước này rồi sẽ phải trải qua những biến động lịch sử tan tác kinh hồn chẳng thể cản tránh được, tôi ra đi xa lánh, anh còn ở lại, anh hoặc là ai đó sẽ phải viết một bài thơ mà chất liệu là núi xương sông máu, là hàng triệu cái xác chết”.

May mắn, tới bây giờ thi nhân Việt Nam chưa ai phải viết ra tác phẩm như Thanh Tâm Tuyền dự đoán, nhưng với khối lượng sáng tác đáng nể, Tô Thùy Yên đã tạc lên một Cõi Người, một Cõi Phật, một Cõi Lão, Trang, một Thời Đại đặc biệt bằng thi ca, và như thế, trong mắt những người yêu thơ Tô Thùy Yên, thì ông mãi mãi MỘT BÓNG TRÊN ĐƯỜNG LỚN.

 

Thảo Dân.

Kim Kỳ sưu tầm

Xem thêm...
Theo dõi RSS này