Lịch sử về áo dài Tứ Thân Việt Nam

Lịch sử về áo dài Tứ Thân Việt Nam

Áo tứ thân gồm hai mảnh phía sau may lại giữa sống lưng, mép nơi hai thân áo được dấu vào phía trong, hai thân trước được buộc lại với nhau để thõng xuống thành hai tà áo ở giữa, nên không cần cài khuy khi mặc. Đi cùng với chiếc áo tứ thân phải có chiếc yếm, khăn mỏ quạ, nóng quai thao. Hình ảnh đó được giữ cho đến tận bây giờ ở những 'liền chị' quan họ vùng Kinh Bắc.
 
Lịch sử hình thành 

Áo tứ thân xuất hiện vào những năm 1920-1930 thế kỷ 20. Áo dài từ cổ buông xuống dưới đầu gối chừng 20 cm. Áo có hai vạt trước và sau. Vạt trước có hai tà tách riêng nhau theo chiều dài. Vạt phía sau cũng chia làm hai nhưng khâu vào với nhau hình thành một đường dài gọi là sống áo. Vì ở thời này, khổ vải chỉ có chừng 35–40 cm nên phải can tà lại với nhau để thành một vạt áo. Như vậy vẫn gọi là áo có tứ thân. Áo tứ thân gồm hai vạt, bốn tà. Áo tứ thân không có khuy, dài và có hai tay áo để xỏ vào khi mặc. Bên trong, người con gái mặc chiếc yếm. Có thể là yếm cổ xây hoặc yếm cánh nhạn xẻ sâu xuống mãi tận dưới. Yếm có màu nặng dành cho các bà đứng tuổi hoặc màu đào màu thắm đỏ dành cho các cô gái trẻ. Màu yếm này làm cho yếm có tên là yếm "bỏ bùa cho sư". Ngoài yếm là chiếc áo cánh mỏng màu trắng tinh. Cô gái lại tết ra ngoài chiếc giây lưng xanh giữ nhẹ sự kết hợp giữa áo cánh ngắn với cạp váy hoặc quần đen. Chiếc giây lưng xanh này còn có một giá trị trang trí về màu sắc. Ngoài cùng là chiếc áo tứ thân buông xuống tha thướt làm cho thân hình cô gái được gọn gàng, thon thả. ao tu than không có khuy khi mặc, xỏ tay vào hai tay áo. Thế là đủ bộ để có thể vừa làm việc, vừa tung tẩy, đi đây đi đó.

 

Phần lưng áo gồm hai mảnh vải ghép lại, thường là màu nâu hoặc nâu non ghép với màu cùng gam; phía trước có hai thân tách rời, được buộc lại với nhau, thả trước bụng để tạo dáng người thon thả, phía trên không gài khít mà để lộ yếm màu bên trong; cổ áo viền 1 – 2 cm. Áo tứ thân dài gần chấm gót, tay áo bó chặt. Trên sân khấu truyền thống, áo tứ thân dùng cho các vai nữ nông thôn, thường may bằng vải màu sẫm có khuy tròn gài bên nách phải. Áo tứ thân là một trang phục của phụ nữ Miền Bắc Việt Nam. Áo được sử dụng như trang phục hàng ngày đến đầu thế kỷ 20. Ngày nay, áo tứ thân chỉ được mặc trong các dịp lễ hội truyền thống.

Cho đến nay, vẫn chưa ai biết rõ được nguồn gốc chính xác của chiếc áo tứ thân. Một số di sản khảo cổ tìm thấy hình ảnh của chiếc áo dài tứ thân với hai tà áo thướt tha bay trong gió được tìm thấy trên các hình khắc mặt trống đồng Ngọc Lũ từ cách đây vài nghìn năm.
Theo truyền thuyết kể lại, trong cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Hán xâm lược ra khỏi bờ cõi đất nước, Hai Bà Trưng đã mặc một chiếc áo dài có 2 tà giáp vàng. Do tôn kính 2 Bà nên phụ nữ Việt tránh mặc áo dài 2 tà mà thay bằng áo tứ thân.

Hình ảnh Hai Bà Trưng ( hình minh họa)

Một cách lý giải khác là do kỹ thuật dệt ngày xưa còn khá thô sơ, chỉ dệt ra loại vải có khổ hẹp (khoảng 40 cm) nên muốn may thành một chiếc áo phải ghép 4 mảnh lại với nhau.
Áo dài giao lãnh (kiểu sơ khai của chiếc áo dài Việt Nam) trước kia khi mặc thường để hai thân trước giao nhau chứ chứ không buộc lại. Để thuận tiện cho công việc đồng áng, buôn bán ... chiếc áo dài giao lãnh dần biến thành chiếc áo tứ thân.

Phụ nữ miền Bắc trong áo tứ thân và nón quai thao

(hình chụp đầu thế kỷ 19) wikipedia

Đến khoảng thế kỷ 17-19, những phụ nữ thành thì đã biến tấu kiểu áo tứ thân thành áo ngũ thân để thể hiện đẳng cấp quyền quý và sang trọng của mình.

Hình ảnh áo tứu thân, khăn mỏ quạ và nón quai thao vẫn được

các chị quan họ gìn giữ đến bây giờ , biểu trưng cho nền vắn hoa Kinh Bắc lâu đời.

Gần đây, cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, chiếc áo tứ thân đã đi vào ngành thời trang với những thiết kế cách tân, cường điệu vô cùng táo bạo. Một số thiết kế đã được đem đi trình diễn trên đấu trường quốc tế trong các cuộc thi nhan sắc lớn. Nhưng phần lớn những thiết kế cách điệu này đều chưa nhận được sự ủng hộ của công chúng Việt.

Nguyễn Cao Kỳ Duyên hóa thân thành

thiếu nữ Bắc trong bộ áo tứ thân (Hình trên net)

Dịp mặc
Thường các bà, các cô chỉ đội hoặc mang theo trong những dịp lễ, tết, hội hè, hoặc những lúc có công việc nhàn nhã, vui vẻ nhưng cần phải nghiêm chỉnh, lịch sự. Nón thúng quai thao từ lâu đã đi vào ca dao, dân ca, đi vào tiềm thức của người Việt với những câu ca đằm thắm, trữ tình:
 
Ý nghĩa
Đã hơn nửa thế kỷ nay, nón thúng quai thao và những tấm áo mớ ba, mớ bảy đã lùi xa vào dĩ vãng. Làng Triều Khúc chuyên làm quai thao và làng Chuông chuyên làm nón thúng nổi tiếng khi xưa nay đã đổi nghề. Sự thật là đã từ lâu, nón thúng quai thao không còn được ưa chuộng nữa, vì thế chúng ta và cả bạn bè, du khách quốc tế chỉ còn biết đến trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam thời trước, biết đến nón thúng quai thao, đến áo mớ ba, mớ bảy trên các sàn diễn sân khấu, nhất là trên sàn diễn dân ca quan họ Bắc Ninh... Song những trang phục đơn sơ và giản dị rất Việt Nam ấy sẽ không mất đi, chúng đã đi vào tiềm thức của người dân Việt Nam, mãi mãi vẫn là "Hồn dân tộc Việt
 
Tìm hồn thôn quê trong chiếc áo tứ thân
"Nào đâu cái áo tứ thân, cái khăn mỏ quạ cái quần nái đen" - những câu thơ giản dị và mộc mạc về hình ảnh chiếc áo tứ thân đậm đà hồn người con gái truyền thống Việt Nam, khơi gợi nét thôn quê, dân dã của nhà thơ Nguyễn Bính đã trở nên rất quen thuộc với những người dân Việt Nam.
 
 Chân Quê- Thơ Nguyễn Bính ( 1936)

Hôm qua em đi tỉnh về 
Đợi em ở mãi con đê đầu làng 
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng 
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi! 

Nào đâu cái yếm lụa sồi? 
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân? 
Nào đâu cái áo tứ thân? 
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen? 

Nói ra sợ mất lòng em 
Van em em hãy giữ nguyên quê mùa 
Như hôm em đi lễ chùa 
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh! 

Hoa chanh nở giữa vườn chanh 
Thầy u mình với chúng mình chân quê 
Hôm qua em đi tỉnh về 
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều

 
 
 
 
˜*•. ˜”*°•.˜”*°••°*”˜.•°*”˜ Hồng Vân st ˜”*°•.˜”*°••°*”˜.•°*”˜ .•*˜

 

Chỉnh sửa lần cuối vào %AM, %09 %676 %2016 %11:%07
back to top