Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1162)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (52)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (326)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Nữ hoạ sĩ dệt tranh từ vải

Nữ hoạ sĩ dệt tranh từ vải

~~~~~~~~

Nữ hoạ sĩ Nguyễn Thu Huyền

Mười năm trước, khi còn là sinh viên, Nguyễn Thu Huyền đã được biết đến bởi niềm đam mê tranh ghép vải. Bức tranh ghép vải ấn tượng về phụ nữ các dân tộc đã được nữ hoạ sĩ tặng Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam. Trải qua nhiều biến cố trong cuộc sống nhưng niềm đam mê tranh ghép vải của họa sĩ Thu Huyền vẫn luôn nguyên vẹn.

Khác với những ngày đầu tiên khi mới đến với tranh vải, nữ hoạ sĩ Nguyễn Thu Huyền giờ đã trưởng thành, mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên có một điều không hề đổi khác, đó chính là niềm đam mê mãnh liệt với nghề, với những bức tranh  độc đáo, hiện thân cho giấc mơ được sống cùng nghệ thuật mà Thu Huyền đã miệt mài dệt nên từ vải, một chất liệu khá lạ trong nghệ thuật hội hoạ.

Thay vào những mảnh ghép giản đơn trước đây, tranh của Huyền bây giờ là những mảng miếng mạnh mẽ, hài hòa với nhịp điệu biến chuyển tài tình. Điểm độc đáo làm nên phong cách nghệ thuật của họa sĩ Thu Huyền là thể hiện bố cục chặt chẽ, màu sắc sống động và kỹ thuật đa dạng.

Tác phẩm "Những cô gái của mùa xuân", tranh ghép từ vải bò

Tác phẩm “Phố không mùa”

Thu Huyền chia sẻ, cá nhân cô có sự tìm tòi rất riêng trong chất liệu sáng tác. Vải voan, vải bò, kaki, len, dạ, nhung… với Huyền đều có thể biến thành những tác phẩm đặc sắc. Nữ họa sĩ trẻ tâm sự, cô đặt nhiều hy vọng và tình yêu của mình trong triển lãm tranh “Tôi vẽ giấc mơ”, bởi đây thực sự là một giấc mơ mà trước đây Huyền chưa từng nghĩ sẽ trở thành hiện thực.

Triển lãm trưng bày 20 tác phẩm độc đáo nhất mà cô đã dày công sáng tác và miệt mài trong 2 năm trở lại đây cùng với kinh nghiệm và sự trau dồi trong suốt 10 năm gắn bó với nghề.

Tác phẩm "Đoá hoa vô thường"

Tốt nghiệp Thạc sỹ Mỹ thuật Ứng dụng trường Đại học Mỹ thuật Công Nghiệp, họa sĩ Thu Huyền trở thành giảng viên đại học với mong muốn truyền lại cho các thế hệ sau niềm đam mê cũng như kinh nghiệm về nghề. Cô cũng mở lớp dạy mỹ thuật, ươm mầm sáng tạo cho các thiếu nhi yêu hội họa.

“Với tôi đây không phải là một cuộc triển lãm để thử nghiệm hay để rong chơi, mà đó là những tác phẩm được làm bằng cả niềm đam mê mãnh liệt, là mồ hôi, nước mắt, tình yêu và sự nỗ lực không ngừng nghỉ mà tôi dành cho nghệ thuật tranh ghép vải trong suốt 10 năm qua”, Thu Huyền chia sẻ về cuộc triển lãm cá nhân đầu tiên của mình.

Tác phẩm "Dòng chảy"

Với 20 tác phẩm triển lãm, đề tài chính mà nữ hoạ sĩ hướng đến là hình ảnh của người phụ nữ, khi dịu dàng, sâu lắng, lúc mạnh mẽ, khát khao. Đó là người phụ nữ dưới góc nhìn đa chiều mà Huyền đã sáng tạo bằng con mắt và ngôn ngữ nghệ thuật của riêng mình. “Tôi vẽ như chưa bao giờ được vẽ, như thể ngày mai tôi sẽ không có cơ hội để làm những điều này. Và cứ thế, tôi kể những câu chuyện của cuộc đời mình, những thanh âm trong trẻo của cuộc sống, những cảm xúc mà tôi đã đi qua...”, nữ hoạ sĩ tâm sự.

Với những tác phẩm được làm bằng cả tâm huyết, kỹ thuật đa dạng cùng việc sử dụng chất liệu một cách khéo léo, cầu kỳ, nữ họa sĩ mong muốn tranh ghép vải sẽ được đông đảo mọi người biết đến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nơi trên thế giới. Đây là triển lãm cá nhân đầu tiên đánh dấu chặng đường 10 năm gắn bó với nghệ thuật tranh ghép vải của cô.

Tác phẩm "Đưa con đi khắp thế gian"

Viết về những tác phẩm của Huyền, nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Hải Yến nói: “Hiện diện trước mắt Huyền là những mảnh vải nhỏ bé vô tri tồn tại trong dòng đời vô tận. Chỉ có cái nhìn một phẩm chất hiếm có của người nghệ sĩ mà Huyền đã may mắn có được, mới hiểu thấu đời sống vật chất của mảnh vải mà đi tìm tận cùng hơi thở của nó. Đi tìm ngôn ngữ hình ảnh độc đáo, đa sắc để tái hiện trên tranh của mình theo một chủ đề ấp ủ “Tôi vẽ giấc mơ”, Huyền đã thành công...”.

Tác phẩm"Hạnh phúc"

Họa sĩ Đỗ Hiệp (Chủ nhiệm CLB Họa sĩ trẻ Hà Nội) thì nói: Tôi "sợ" Huyền. Tôi sợ nghị lực của cô. Tôi sợ sự tự tin của cô.Tôi cũng sợ sự lầm lũi đầy bản năng của một người

phụ nữ trót vướng nghiệp tranh, khi mang trong mình thêm trọng trách người con, người vợ  và người mẹ. Cô không chọn lụa, không chọn Dó, chọn nước cho nhẹ nhàng, cho thảnh thơi. Phải chăng vải có ma lực gì đó?

Tác phẩm "Hồng hoa"

"Đúng vậy, xem tranh vải của Huyền thấy nó sáng, nó trong, nó mướt mải réo rắt. Với Huyền, nó vẫn là một nguyên liệu chuyển tải tốt, nếu không muốn nói là đầy biến ảo. Dưới nhát kéo, sợi chỉ của Huyền, nó vẫn sẽ làm người xem bị mê hoặc. Đúng thôi, nghệ thuật làthế mà, ta cứ đi thì ta lại càng thấy mênh mông rộng  lớn...", hoạ sĩ Đỗ Hiệp chia sẻ.

 

Hồng Vân sưu tầm

Xem thêm...

Tản mạn về chợ Sài Gòn

Nhà tôi ở vùng Phú Nhuận. Gần nhà, giữa xóm lao động và vài chung cư của công chức có một chợ nhỏ hình thành từ lâu rồi, có đến hơn sáu bảy chục năm. Chợ nhỏ nhưng cũng đủ thứ hàng hoá: trong nhà lồng là những sạp vải vóc quần áo giày dép đồ khô nhang đèn… Bên ngoài, trên bốn con đường nhỏ là khu vực bán đồ tươi sống: thịt cá tôm cua ếch, rau xanh, đậu hũ, rồi người ta dựng thêm hàng dù, dưới đó là mấy hàng quần áo con nít, vớ tất đồ lót, hàng “xuất khẩu”, chén bát bằng nhựa, hàng đồ khô hành tỏi nấm… Mặt tiền chợ là mấy quầy mỹ phẩm, vàng bạc, mấy hàng hoa tươi… rồi những hàng khác theo nhau mọc lên bao quanh nhà lồng, có thêm vài cửa tiệm uốn tóc, cắt may sửa quần áo, tiệm bánh ngọt, nơi rửa xe máy, nơi gửi xe… chợ nhỏ thành “chợ lớn” hồi nào không hay, nhất là vào ngày chủ nhật và lễ tết.

Bình thường chợ chỉ bán vào buổi sáng. Từ khoảng 5 giờ là xe ba gác, xe máy chở thịt cá rau xanh đã chạy ào ào vô chợ. Những nhà quanh chợ hoặc mở cửa hàng, cho thuê mặt tiền cũng lục tục dọn hàng. Đến khoảng 10 giờ sáng thì chợ vắng dần, đến trưa thì tan chợ, chỉ còn mấy quầy mỹ phẩm, quầy vàng bạc (kiêm đổi tiền “chui”) và những nhà bán hàng đồ khô thì mở cửa cả ngày.

Một năm chỉ vài ngày giáp tết là chợ tấp nập suốt ngày, chỗ gửi xe máy đông nghẹt, chờ gửi chờ lấy xe lâu gần bằng đi chợ.

Tản mạn về chợ tết Sài Gòn
Chợ Tết Sài Gòn xưa.

Mấy năm nay được nghỉ tết nhiều hơn mọi năm, chợ tết cũng tấp nập sớm hơn. Từ sáng 28 tết những con đường quanh chợ tết đã không còn chỗ chen chân. Hàng trái cây, rau xanh, hàng đồ gốm, bình bông, tiền vàng mã… Hoa vàng khắp nơi, ừ, Tết phương Nam mà thiếu cúc vàng mai vàng thì cũng giống như Tết miền Bắc mà thiếu cành đào, đâu còn là tết.

Và bánh tét bánh chưng cũng tràn khắp nơi: bánh tét Trà Vinh, Cần Thơ nếp xanh màu lá dứa có trứng vịt muối bùi bùi cùng miếng mỡ mềm rục; bánh chưng Bắc vuông vắn được ép trong nilon hút chân không, để lâu vẫn mềm, không lại gạo không thiu trong tiết trời nắng phương Nam. Giò chả thịt nguội các loại, dưa cải kim chi dưa kiệu dưa món… từng hũ nhỏ lớn xếp cao hình tháp bên cạnh những hũ tôm khô từng con đều nhau đỏ au, nhìn đã thấy những cuộc nhậu tưng bừng.

Xúc động nhìn lại những hình ảnh Tết xưa    

Đi chợ Tết những bà nội trợ thường đến ngay những quầy hàng quen, mua hàng ngày tết khỏi trả giá, chỉ có hỏi giá, lựa hàng rồi tính tiền. Có than mắc hơn thì cũng nhận được câu trả lời như nhau “tết mà”! Sáng 29 tết còn được dặn, bữa nay chị mua đi, nếu không đặt cọc cho em, chứ tới mai là lên 1, 2 giá nữa đó. Khủng hoảng lạm phát gì không biết, lương chậm thưởng ít đâu không biết, chợ tết vẫn đông nghẹt, vẫn mua bán ào ào… Những gói quà biếu chủ yếu cũng là đồ ăn uống: bánh mứt kẹo rượu cà phê… Đúng là dân Việt mình “ăn tết” thật.

Trưa Ba mươi, chợ vắng dần, chỉ còn mấy anh chị công nhân vệ sinh dọn dẹp hàng đống rác. Chợ sẽ nghỉ ngơi đến sáng mùng Ba sẽ lác đác có người bán hoa, bán thức ăn tươi nấu bữa ăn cúng tiễn ông bà. Gần cổng chợ có đoạn đường xe lửa chạy qua, chiều 30 tết đoàn tàu miệt mài chạy, vẫn còn những hành khách cuối cùng về miền Trung hay ra miền Bắc sum họp với gia đình. Sài Gòn có hơn  hai triệu người nhập cư, cũng gần chừng ấy người về quê vào dịp đó, để lại Sài Gòn những ngày vắng vẻ, yên tĩnh hơn, bắt đầu từ khi tàn phiên chợ Tết.

http://dantricdn.com/a3HWDOlTcvMNT73KRccc/Image/2013/02/14-b87cf.jpg

Chợ nhà lồng

Cụm từ “chợ nhà lồng” xuất phát từ Nam bộ (dân gian thường kêu “nhà lồng chợ”), ở Bắc bộ hầu như không sử dụng tên gọi này cho những ngôi chợ xây. Có thể thấy từ này mang ý nghĩa tượng hình cho biết hình thức chợ giống như cái lồng: có giới hạn phạm vi nhưng không bị che kín, rộng rãi, đặc biệt là tuy có mái che nhưng kiến trúc và tổ chức không gian của chợ vẫn thông thoáng. Không gian chợ nhà lồng giới hạn bởi mái cao, gian chợ rộng, có hàng cột bốn phía đỡ mái, nền cao tránh ngập nước cũng là để phân biệt với không gian ngoài chợ. Nhưng không gian trong và ngoài nhà lồng có thể kết nối với nhau và với xung quanh vì chợ Nam bộ thường nằm sát bến sông hoặc gần các ngã đường lớn, dễ dàng tiếp cận.

Các thị tứ, thị trấn Nam bộ thường có các chợ nhà lồng ở khu vực trung tâm của cộng đồng dân cư. Khác với Bắc bộ, chợ quê thường tập trung tại các bãi đất trống ven làng, không có không gian cụ thể và rõ ràng như các chợ nhà lồng Nam bộ. Từ lâu tôi đã nghĩ rằng chợ nhà lồng chắc được người Pháp đưa vào Nam bộ khá sớm, vì có thể nhận thấy các chợ nhà lồng cổ hiện còn có kiến trúc, hình thức, quy mô, thậm chí vật liệu xây dựng cũng khá giống nhau, tức là có cùng một khoảng niên đại.

Những lần có dịp đi Pháp làm việc hay du lịch, tôi thường bắt gặp trong nhiều làng cổ ở Pháp ngôi chợ “nhà lồng” cũng ở trung tâm của làng hay khu vực dân cư tập trung đông. Làng nào cũng có hai công trình công cộng là nhà thờ và chợ, nhưng chợ thì không xây dựng trước nhà thờ hoặc gần các công trình tôn giáo. Qua tìm hiểu, tôi được biết trước đây chợ nhà lồng không chỉ có chức năng mua bán hàng hóa mà còn thêm chức năng thông tin. Ở đô thị các thông tin có thể được chính quyền thông báo tại trụ sở, trung tâm hành chính; còn trong cộng đồng dân cư nhỏ như làng thì thông tin được thông báo bằng văn bản dán hoặc đọc tại các chợ. Những thông tin này liên quan trực tiếp đến đời sống, hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của dân cư trong làng. Vì vậy, chức năng thông tin của chợ nhà lồng rất quan trọng.

Tại Pháp công tác bảo tồn những công trình cổ rất tốt, không chỉ gìn giữ lại phần vật chất, thực thể của công trình mà còn duy trì, nuôi sống được cái hồn của mỗi công trình cổ. Những ngôi chợ cổ ở Pháp hiện nay chủ yếu hoạt động trong các ngày lễ hội, cuối tuần và phục vụ trong những thời gian đông du khách như mùa hè. Xưa đây là nơi nhộn nhịp và sinh động nhất trong cuộc sống của người dân tại làng quê Pháp thì nay là nơi họ có thể trưng bày, giới thiệu và bán những sản phẩm thủ công mỹ nghệ hay ẩm thực độc đáo – niềm tự hào của làng quê. Chợ hoạt động phục vụ nhu cầu của dân bản địa và khách du lịch. Loại hình chợ này rất thuận tiện cho mọi người có nhu cầu tham quan, mua sắm thoải mái.

Hình chợ bến thành tại khu bán đồ lưu niệm

Một điều bất ngờ và thú vị là trong cuốn hồi ký Xứ Đông Dương thuộc Pháp của Paul Doumer, toàn quyền Đông dương 1897 – 1902 đã nói đến vai trò của chợ nhà lồng trong các làng ở Nam kỳ vào cuối thế kỷ XIX. Trong đó Paul Doumer xác nhận rằng ở Nam kỳ chưa có khu chợ nào có mái che trước khi người Pháp đến, ngày xưa chợ họp ngay trong làng hoặc trên mảnh đất rìa làng; sau đó những người bán hàng ở chợ đã được ngồi bên dưới một công trình có mái che như ở Pháp nhưng bốn phía thông thống để gió vào, rất thích hợp với khí hậu ở Nam kỳ; rằng, một trong những cơ sở quan trọng nhất của một làng ở Nam kỳ hiện đại là cái chợ, và làng nào cũng tự hào về chợ làng mình chẳng khác gì tự hào về đình làng vậy. Tuy nhiên lợi ích quan trọng nhất của chợ là làng thu được từ chợ một khoản thuế lớn để làm công quỹ.

https://www.visa-vietnam.org/media/k2/items/cache/9fc5e2a09509b5613281f31393bb0737_XL.jpg

Như vậy, chợ nhà lồng ra đời không chỉ là sự thay đổi về hình thức của “chợ quê” mà còn là sự thay đổi một cách thức buôn bán: trong số những người đến chợ mua bán theo kiểu tự cung tự cấp có những người trở thành “chuyên nghiệp” vì buôn bán thường xuyên và cố định trong nhà lồng, họ có nghĩa vụ đóng thuế – chính thức hóa nghề nghiệp. Và nguồn thu từ thuế chợ trở thành một nguồn kinh phí cho hoạt động công ích của làng xã.

Hiện nay rất đáng tiếc là nhiều nơi ở Nam bộ đã phá chợ nhà lồng mà xây nên những “trung tâm thương mại” hoành tráng mà vô hồn, chỉ còn lại một số  ít ngôi chợ nhà lồng cổ xưa. Bên cạnh việc bảo tồn “chợ nổi” trên sông nước như một nét độc đáo của văn hóa và du lịch miền Tây thì chợ nhà lồng cũng cần được bảo tồn và duy trì hoạt động vì đã lưu giữ nét “văn hóa thương nghiệp” độc đáo của các thị tứ Nam bộ. Với giá trị lịch sử như vậy chợ nhà lồng hoàn toàn xứng đáng được coi là di sản văn hóa của Nam bộ, cả ngôi nhà lồng và những sinh hoạt chợ truyền thống ở đó.

Chợ nơi đô thị

Chợ là nơi trao đổi buôn bán hàng hóa trong một khu vực địa lý. Ở đô thị ngày nay chợ “truyền thống” là một trong số ít ỏi dấu tích còn lại của những làng xóm xưa, điểm lại các chợ ở Sài Gòn ta nhận ra phần lớn tên chợ lưu lại địa danh quen thuộc một thời nổi tiếng: Đa Kao, Cầu Kho, Tân Định, Xóm Chiếu, Bàu Sen, Bà Chiểu, Thị Nghè, Phú Nhuận, Gò Vấp, Hòa Hưng…

Nam bộ sông rạch nhiều nên đi lại bằng ghe xuồng là chính. Chợ xưa là nơi bến sông ghe xuồng neo đậu trao đổi hàng hóa nông sản. Dần dần trên bờ hình thành thị tứ, có nhà cửa, tiệm chạp pô, tiệm ăn, kho hàng của người Hoa, rồi hàng thịt cá rau trái bày bán giữa đường hay trên các sạp dựng ở lòng đường, dần hình thành một cái chợ… Chợ Bến Thành xưa – nay là Chợ Cũ cũng được hình thành như vậy. Người Pháp mang đến kiến trúc “nhà lồng” cho chợ Bến Thành mới, từ đó “nhà lồng chợ” thường là trung tâm của một thị tứ ở Nam bộ. Người ta đánh giá địa phương đó có trù phú, phát đạt hay không là nhìn vào quy mộ của nhà lồng chợ. Trong cuốn hồi ký của Paul Doumer toàn quyền Đông Dương hồi đầu thế kỷ 20 có nhận xét rằng, một trong những cơ sở quan trọng nhất của một làng ở Nam kỳ là cái chợ, và làng nào cũng tự hào về chợ làng mình chẳng khác gì tự hào về đình làng vậy.

Ở Sài Gòn nhiều chợ có đặc điểm riêng về dân cư và sản phẩm. Đi mỗi chợ có thể nhận biết nhiều điều về nơi ấy: dân cư, ngôn ngữ, sản phẩm, các mối quan hệ xã hội qua xưng hô. Đi chợ hàng ngày là nhu cầu không phải chỉ mua bán mà còn là gặp gỡ, giao lưu, thể hiện các mối quan hệ xã hội. Nghe lời nói thách trả giá mặc cả… biết giá cả chất lượng hàng hóa và còn có thể biết được tình cảm của những người mua bán. Hiện nay chợ truyền thống thường là nhà lồng cao ráo, thông thoáng, sạp hàng bố trí, sắp xếp khoa học, vệ sinh môi trường tương đối tốt, bên cạnh đó là việc giữ gìn “thương hiệu” ngành hàng của những tiểu thương buôn bán lâu năm.

Những chợ hẻm, chợ vỉa hè… mọc lên ở những khu dân cư mới chỉ có siêu thị mà không có chợ. Đó là nhu cầu hàng ngày của phần đông dân cư, bởi vì đâu thể nhốt mọi sinh hoạt thường nhật của người dân vào các trung tâm thương mại hào nhoáng và lạnh lùng.  Khi nhà quy hoạch không lưu ý nhu cầu này thì tất yếu sẽ có chợ tự phát, dẫn đến lấn chiếm lòng lề đường, cản trợ giao thông, ảnh hưởng vệ sinh môi trường… Nhưng trong những xóm lao động hay khu công chức lâu đời vẫn còn nhiều chợ hẻm chỉ nhộn nhịp bán mua vào buổi sáng, đến trưa thì chợ đã tan. Hẻm trở lại yên tĩnh thậm chí còn có tiếng gà gáy te te lúc đứng bóng… Bạn tôi làm việc ở Thái Lan, nhà trong một hẻm nhỏ có cái chợ giống hệt như vậy: cũng những xe bán trái cây, rau củ, xe bán thức ăn chín, sạp quần áo treo đồ lên hàng rào, rồi xe nước ngọt siro đá bào, gánh chè, xe hủ tiếu nước lèo thơm phức… Bạn nói, chọn thuê nhà ở đây là vì cái chợ này, ra vô nhìn thấy nó như mình đang ở Sài Gòn.

Chợ Tết
Chợ Cũ Sài Gòn 1965-1966.

Hiện nay siêu thị, trung tâm thương mại xây dựng khắp nơi, từ đô thị đến vùng nông thôn. Nhà đầu tư thường chọn ngay vị trí chợ truyền thống hoặc địa điểm công cộng – tức là chiếm đoạt giá trị về ký ức nơi chốn của cộng đồng – để xây dựng những tòa nhà cao tầng, hình thức kiến trúc và nội thất trang trí sắp xếp như nhau. Tên gọi của siêu thị, trung tâm thương mại ít khi mang địa danh truyền thống. Trong đó việc mua bán sòng phẳng, lịch sự, người mua hàng có thể chọn lựa thỏai mái, tự mình quyết định khi mua món hàng nào đó theo giá ấn định sẵn. Siêu thị, trung tâm thương mại phản ánh mối quan hệ của xã hội đô thị hiện đại: coi trọng sự riêng tư, cá nhân, chủ yếu là sự “tương tác” giữa người mua hàng với sản phẩm, quan hệ người mua người bán không còn,  “tình cảm” trong việc mua bán nhạt đi, mất đi… Tính chất văn hóa địa phương (đặc sản, ngôn ngữ, xưng hô…) không thể hiện trong siêu thị, trung tâm thương mại mà là ứng xử “văn minh thương nghiệp” phổ biến mọi nơi.

Thành phố dù hiện đại đến đâu cũng cần những ngôi chợ truyền thống, không chỉ phục vụ cuộc sống hàng ngày mà còn là một địa điểm du lịch, bởi vì nó phản ánh văn hóa địa phương qua sản phẩm, ẩm thực, ứng xử giao tiếp của con người… Lưu giữ chợ truyền thống vì hoạt động thương nghiệp của tiểu thương và khách hàng cũng là những giá trị văn hóa. Siêu thị và trung tâm thương mại không thể thay thế hoàn toàn chợ, kể cả chợ bán lẻ và nhất là những chợ đầu mối, bán sỉ và có truyền thống lâu đời.

Bảo tồn chợ truyền thống cần bắt đầu từ việc bảo toàn giá trị ký ức từ địa điểm nơi chốn, bảo toàn giá trị văn hóa qua sản phẩm và ứng xử trong mua bán. Và trước hết, nó phải được bắt đầu từ tư duy và sự hiểu biết của các nhà quản lý và quy hoạch đô thị.

Tùy bút, Nguyễn Thị Hậu

 

Hồng Vân sưu tầm

 

 

 

 

 

 

Xem thêm...

Lời Tự Tình Trong Thi Nhạc - Vương Trùng Dương

Lời Tự Tình Trong Thi Nhạc 

Vương Trùng Dương

Âm nhạc xưa thường chú trọng đến tình cảm thanh tao, thiên nhân hợp nhất, ca tụng tự nhiên. (Ảnh: Weheartit)

Tự nghìn xưa thi ca và âm nhạc đã thể hiện tiếng nói mang niềm rung cảm dạt dào, sâu đậm của con tim. Ngôn ngữ thi nhạc tuy ngắn gọn nhưng đã truyền đạt được tâm tư, tình cảm, tâm tình dâng hiến cho nhau trong trái tim, trong cuộc sống con người. Nếu tình yêu là chiếc cầu thì tình tự là nhịp cầu nối kết với nhau và, tiếng nói yêu đương khởi đi qua lời tự tình. Theo thần thoại Hy Lạp, trong chín vị thần nữ thì năm vị thần chiếm ngự thi ca mà ba vị chi phối nguồn tình ái, lãng mạn, trữ tình… Vì vậy, ngôn ngữ của thi ca dễ được cảm nhận, dễ dàng bày tỏ. Và, khi ngôn ngữ đó có vần điệu, mang âm hưởng trầm bổng, nó dễ dàng đi vào cung bậc, ru thế nhân vào suối nguồn âm thanh.

Trường dạy Piano, Guitar, Violin, Thanh nhạc - TED SAIGON

Khuynh hướng lãng mạn được hình thành ở Âu Châu vào thế kỷ XVIII được đề cao về sự thăng hoa tình cảm và trí tưởng trong sáng tạo nghệ thuật. Đem thực tại từ cuộc sống, tình cảm cá nhân tô điểm bởi mộng mơ, bày tỏ tiếng nói trung thực của trái tim ra khỏi khuôn phép bị trói buộc từ thuở xa xưa. Từ đó văn học nghệ thuật nói chung, thi ca và âm nhạc nói riêng đã tạo ảnh hưởng sâu rộng đến khắp nơi. Những khuôn mặt lớn trong thi ca như Chateaubriand, Lamartine, Alfred de Musset, Alfred de Vigny, Victor Hugo, Avers… Và, những nhạc sĩ tài danh như Wolfgang A. Mozart, Robert Schumann, F. Schubert, Carl M.V Weber, Felix Mendelssohn, Hector Berlioz, Claude Debusy, G. Bizet, R. Wagner, Franz Liszt, F. Chopin, J. Brahms… gieo thi hứng và hồn nhạc chu du bốn phương. 

Vào tiền bán thế kỷ XX, không khí lãng mạn, trữ tình được du nhập vào Việt Nam tạo dựng khung trời mới trong thi ca và nét nhạc trữ tình trong bước khởi đầu nền tân nhạc được đánh dấu vào thời tiền chiến. Qua năm tháng, dần đà trải rộng trên đất nước, ảnh hưởng mạnh mẽ cho đến nay.

Tình yêu, trái tim và ngôn ngữ thi nhạc được thổ lộ, dàn trải qua tâm sự, nỗi niềm đôi lứa, ảnh hưởng từ làn gió mới Tây phương được du nhập vào đất nước.

Nhiều khuôn mặt sáng tạo trong thi ca và âm nhạc đã tô điểm trong vườn hoa Văn Học Nghệ Thuật qua dòng thơ và ý nhạc trữ tình đã vượt thời gian và không gian trong cơn thăng trầm của lịch sử. Có người tự trói buộc, vong thân, chối bỏ thời hoa mộng với con tim nhưng tác phẩm nghệ thuật vẫn là chứng tích của thời kỳ phát triển trong buổi bình minh. Có người được sống trong bầu trời tự do để tiếp nối niềm rung cảm sâu xa của con tim để làm cho vườn hoa nghệ thuật càng thêm phong phú.

 

Theo dòng thời gian và theo tiếng vọng của con tim trong tình yêu, lời tự tình được bàng bạc thể hiện qua thi nhạc:

Nhà thơ Hồ Dzếnh mở cửa với lời tỏ:

“Em ạ, lòng tôi, tôi ngỡ đâu
Đã dâng em hết buổi ban đầu;
Trời xưa huyễn mộng màu hoa nắng
Trong thoáng thơ vàng, len ý đau …”

Bài thơ Nhạc của Bích Khê:

“Nàng ơi! Đừng động… có nhạc trong giây,
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây;
Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,
Ô nàng tiên nương! – Hớp nhạc đầy hương.”

Xuân Diệu đa tình, đa cảm với Tương Tư, Chiều:

“Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm
Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em …
… Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi”.

Lưu Trọng Lư trong phong trào thơ mới không còn rụt rè, bộc lộ cụ thể với Giang Hồ:

“Hãy nhích lại đưa tay ta nắm
Hãy buông ra đằm thắm nhìn nhau
Rồi trong những phút giây lâu
Mắt sầu gợn sóng, lòng đau rộn tình”.

Và, hình ảnh đó được bắt gặp ở Vũ Hoàng Chương, nhà thơ phiêu lãng trong men rượu và men tình trong bài Quên:

“Đã hẹn với em rồi; Không tưởng tiếc
Quãng đời xưa, không than khóc gì đâu!
Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc
Rát gần đây, gần nữa, cặp môi nâu”.

Nhà thơ Hàn Mặc Tử, con người mang nhiều bất hạnh trong cuộc sống, đã bày tỏ trong Âm Thầm:

“Em có ngờ đâu trong những đêm
Trăng ngà giải bóng mặt hồ êm
Anh đi thơ thẩn như ngây dại
Hứng lấy hương nồng trong áo em”

Cùng thời điểm và cũng bạn thơ với nhau, Bích Khê tỏ tình qua Tỳ Bà:

“Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm đào nguyên cho xa xôi
Đào nguyên trong lòng nàng đây thôi”

Một trong những bài thơ tuyệt vời trở thành thân quen thời tiến chiến và được nhắc mãi đến mai sau như Tống Biệt Hành, thơ của Thâm Tâm:

“Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”

Hoàng Trúc Ly, được xem là một trong những nhà thơ tình hay nhất xứ Quảng như bài thơ Cơn Mê

“Có phải vì em đang gỡ tóc
Cho mây từng sợi rối chân chim
Có phải hoa bay đầy cánh bướm
Vì em khua gió áo bay lên”

Trong bài Ca Sĩ, tuy không đề cập nhưng thời đó nhiều người cho rắng với tiếng hát Thanh Thúy:

“Từ em tiếng hát lên trời
Tay xao dòng tóc, tay vời âm thanh
Sợi buồn chẻ xuống lòng anh
Lắng nghe da thịt tan tành xưa sau”.

Lời tự tình cho nhau không chỉ dành riêng phái nam mà ở nữ giới. Nhà thơ Ngọc Tuyết, qua 3 thi phẩm Giọt Đầy Giọt Vơi, Lá Trở và Sang Mùa, mang tâm sự của mình để dàn trải với tha nhân. Và, lời tự tình được bày tỏ:

“Vô tư anh rắc hạt yêu
Để thơ ngái ngủ trong chiều hư không
Dẫu mai phố chật người đông
Anh qua xin nhớ đã từng có em”…

Có muôn vàn bài thơ, có hàng trăm tình khúc đã đi vào trái tim giới thưởng ngoạn qua bao năm tháng, âm nhạc là nghệ thuật dễ truyền đạt nhất từ trái tim sáng tạo đến trái tim thưởng thức. Ở đó, lời tự tình như sự mê hoặc lôi cuốn hấp dẫn, điển hình với:

Ca khúc Đừng Xa Nhau của Phạm Duy:

“Đừng xa nhau! Đừng quên nhau!
Đừng rẻ khúc tình nghèo
Đừng chia nhau nỗi vui, niềm đau
… Đừng im hơi đắng cay rời nhau”

Dòng thơ của khuôn mặt sớm đa tình Hoàng Cầm trong tuổi ấu thơ, nòi tình đó vẫn còn nóng bỏng cho đến tuổi già với Tình Cầm, được Phạm Duy phổ thành ca khúc:

“Nếu anh còn trẻ như năm cũ
Quyết đón em về sống với anh
Rồi những chiều vàng phơ phất lại
Anh đàn, em hát níu xuân xanh”

Quang Dũng nổi tiếng với dòng thơ đầy hào khí và lãng mạn ở thập niên 40, bài Đôi Mắt Người Sơn Tây qua dòng nhạc của Phạm Đình Chương làm sống lại tên tuổi của Quang Dũng khi ở bên kia vỹ tuyến:

“Vừng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây phương
Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương”

Ca khúc Mộng Dưới Hoa của Phạm Đình Chương được phổ rất tuyệt qua dòng thơ Đinh Hùng:

“Nếu bước chân ngà có mỏi,
Xin em dựa sát lòng anh.
Ta đi vào tận rừng xanh
Vớt cánh dong vàng bên suối”

Bài thơ Cần Thiết của Nguyên Sa, Song Ngọc phổ nhạc:

“Không có anh lấy ai đua em đi học về
Lấy ai viết thơ cho em mang vào lớp học
Ai lau nước mắt cho em ngồi khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa”

Anh Bằng dựa vào ý thơ viết thành ca khúc Nếu Vắng Anh:

“Nếu vắng anh, ai dìu em đi chơi trong chiều lộng gió
Nếu vắng anh, ai đợi chờ em khi sương mờ nẻo phố
Nếu vắng anh, ai đón em khi tan trường về
Kề bóng em ven sông chiều chiều, gọi tên người yêu”

Mang hình ảnh lãng mạn ở Pháp, giữa thập niên 50, thơ Nguyên Sa được xem như những trang thư cho tình yêu cho tuổi trẻ, Paris Có Gì Lạ Không Em được Ngô Thụy Miên phổ nhạc:

“Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay
Tóc em anh sẽ gọi là mây
Ngày sau hai đứa mình xa cách
Anh vẫn được nhìn mây trắng bay”

Ngô Thụy Miên đem vào cung bậc chất ngất yêu thương trong Tháng Sáu Trời Mưa, thơ Nguyên Sa:

“Anh sẽ vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc
Anh sẽ nâng tay em cho ngọc sát vào môi
Anh sẽ nói thầm như gió thoảng trên vai
Anh sẽ nhớ suốt đời mưa tháng sáu”
 Hoàng Thanh Tâm phổ thành ca khúc bài thơ trên và tô điểm thêm:
“Mình dựa vào nhau cho thuyền ghé bến
Sưởi ấm đời nhau bằng những môi hôn
Mình cầm tay nhau nghe tình dâng sóng vỗ
Hãy biến cuộc đời bằng những tối tân hôn”

Du Tử Lê đến với thơ tình từ thập niên 60, và trở thành khuôn mặt tên tuổi nơi hải ngoại. Với Du Tử Lê, ngôn ngữ, tình yêu là lẽ sống mầu nhiệm trong sáng tạo nghệ thuật. Với Hiến Chương Tình Yêu, thơ Du Tử Lê, “còn lời đường mật nào hay hơn, quyến rũ hơn”? được Nguyên Bích viết thành nhạc phẩm:

“Khi em lạnh tôi biến thành ngọn lửa
Đốt yêu thương than nóng hực ân tình
Cả nghìn chương chỉ chép chuyện đôi ta
Khi em viết tôi biến thành giấy bút”.

Chàng Du Tử nòi tình nầy ru tình nhân qua Một Đời Để Nhớ, nhạc của Song Ngọc

“Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
Buổi chiều chăn gối thiếu hơi ai
Em đi để lại hồn thơ dại
Tôi vó câu buồn sâu sớm mai”.

Bên cạnh Song Ngọc, Trần Duy Đức phổ thành ca khúc Chỉ Nhớ người Thôi Đủ hết Đời

Từ nơi xa xôi, Thái Tú Hạp ngỏ lời thăm hỏi qua Chiều Nhớ Hoàng Thành, Khúc Lan đem dòng thơ vào nét nhạc:

“Em vẫn giữ bài thơ trong chiếc nón
Dù cho đời mưa nắng đuc Kim Luông
Mưa có buồn trên đôi bờ thương bạc
Em vẫn còn thắp lửa đợi chờ anh?”

Những dòng thơ trong bài Ma Soeur của Nguyễn Tất Nhiên được Phạm Duy đưa vào cung bậc làm thăng hoa tình yêu giữa tâm hồn lãng tử với người tình bé nhỏ qua ca khúc Em Hiền Như Ma Soeur:

“Ta nhờ em ru ta
Hãy ru tên vô đạo
Hãy ru tên khờ khạo
Em yêu nầy em yêu”.

Trong hai thập niên của thời chinh chiến, nhiều nhạc sĩ đã khoác áo chiến binh, vẽ lên hình ảnh tình yêu lứa đôi khi kẻ ở tiền tuyến người yêu nơi hậu phương đẹp vô cùng.

Đâu đó tư tưởng về tình yêu được thể hiện qua: Tiếng thổn thức của một trái tim đang yêu là một nhạc điệu du dương, thánh thót nhất trong các loại âm nhạc ở trần gian (Beecher Towe). Chỉ có niềm đau ly biệt mới làm sâu đậm thêm tình yêu đôi lứa (George Eliot). Chia ly, có thể tăng thêm niềm vui; xa cách, có thể làm cho những người yêu nhau rút ngắn khoảng cách con tim (Bateer). Chia ly, có thể tăng thêm niềm vui; xa cách, có thể làm cho những người yêu nhau rút ngắn khoảng cách con tim (Bateer). Tình yêu là hành vi cao cả nhất của tâm hồn và là kiệt tác của con người (M. Garcon).. Sự xa cách đối với tình yêu cũng như gió đối với lửa. Nó thổi tắt ngọn lửa nhỏ, nhưng thổi bùng ngọn lửa lớn (R. Rabutin).. Những trái tim chịu nhiều đau khổ và dũng cảm chính là những trái tim cao cả (R. Bazin)…

thinhacgiaoduyen

Cao dao VN có câu: "Yêu nhau mấy núi cũng trèo. Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua” thì hình ảnh đó thể hện qua ca khúc Mấy Dặm Sơn Khê của Nguyễn Văn Đông:

“Em đến thăm, áo anh mùi thuốc súng
Ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê
Non nước ơi, bèo trôi theo sóng đưa
Hiến thân đời gió bụi, nghìn sau nối nghìn xưa…”.

Và, tâm trạng người lính rất lãng mạn nơi núi rừng như ca khúc Đêm Dài Chiến Tuyến của Lam Phương:

“Một đêm dài nhớ em
Một đêm dài trắng đêm
Nhìn sao rừng nhớ em
Nhìn núi đồi thấy em
Người em yêu trọn đời”.

Trong ca khúc Chuyến Đò Vỹ Tuyến của Lam Phương tuy không đề cập đến người tình ra nơi địa đầu giới tuyến nhưng trong lời ca cũng cảm nhận được hình ảnh đó:

“Sương khuya rơi thấm ướt đôi mi
Tim em lạnh lẽo như chiều đông ngoài biên thùy
Ai gieo chi khúc hát lâm ly
Như khơi niềm nhớ cuộc từ ly lòng não nùng”.

Nhạc trữ tình của Trần Thiện Thanh rất tuyệt, trpng chia cách tâm sự của người yêu nơi hậu phương qua ca khúc Anh Nhớ Về Thăm Em:

“Anh nhớ về thăm em, dù đường xa mênh mang
Anh nhớ về thăm em, kể chuyện một chuyến đi
Anh nhớ về thăm em, một chiều thu thương nhớ
Nụ hoa xinh hé nở, em cài lên vai áo”.

Và, trong thời buổi chinh chiến, làm sao hẹn được gặp nhau nhưng người yêu vẫn Bảy Ngày Đợi Mong mà Trần Thiện Thanh bày tỏ:

“Anh hẹn em cuối tuần
Chờ anh nơi cuối phố
Biết anh thích màu trời
Em đã bồi hồi chọn màu áo xanh”

Duy Khánh thay lời người lính trận nơi xa chia sẻ tâm tình:

“Em ở nơi nào có còn mùa xuân không em
Rừng ngàn lá gió từng đêm nhắc nhở thì thầm
Mai lỡ không về chắc em buồn biết mấy
Dáng nhỏ xuân xưa cũng nhớ đêm ngày”.

Và, Lê Dinh cũng thổ lộ nỗi niềm qua ca khúc Bài Ca Này Cho Em:

“Thương em nhớ em nhiều lắm
Anh thức cả đêm viết lên tâm tình này
Biên cương gió mưa lạnh lẽo
Cây rừng rũ buồn cho lòng người buồn lây”…

Chỉ đơn cử vài nhạc phẩm tiêu biểu ở trên cũng thể hiện tình yêu đôi lứa khi ngăn cách trong thời chinh chiến.

*Ngày nay, ở hải ngoại rất nhiều bài thơ được phổ thành ca khúc, nhiều nhạc phẩm nói lên tiếng nói của con tim đầy ngọt ngào yêu thương để chia xẻ, an ủi vỗ về cho nhau trong tháng ngày lưu lạc, trong cuộc sống tha hương. Từ nghìn xưa cho đến nay, từ Đông sang Tây, ngôn ngữ tình yêu không có gì thay đổi, không có gì khác lạ, nếu có, chỉ thay đổi từ rụt rè, e ấp sang dạn dĩ, táo bạo, từ lời lẻ bóng gió, ẩn dụ, nên thơ sang gợi dục, cuồng nhiệt, đam mê… Lời tự tình có khi chứa đựng sự đường mật, lừa dối, quyến rũ, ru ngủ để lôi kéo đối tượng vào vòng tay ân tình nhưng vẫn là nhịp cầu trao đổi để làm đẹp lòng nhau, dù biết lọc lừa nhưng có còn hơn không! Nghệ sĩ sáng tạo cho tâm sự của mình cho tha nhân, và không có gì đẹp bằng mượn nó để tỏ bày từ tiếng vọng trái tim.

Vương Trùng Dương

Kim Phượng st

 

Xem thêm...

Tết Về Vạt Cải Hoa Vàng

Tết Về Vạt Cải Hoa Vàng

´*。.¨¯`**。¨¯`*

Sau cái se lạnh gió mùa đông bắc, sau tháng chạp sương mù, sau mùa màng khai hoang vỡ đất, những hạt giống cựa mình nảy mầm đón khí dương... Cũng là lúc người ta ngồi lại với nhau, hít thở khí trời mà hồi sức, chuẩn bị năm mới, đón Tết.

Tết, dường như là một cuộc đại đoàn tụ gia đình, dù ai có đi ngược về xuôi, có bôn tẩu khắp mọi nẻo đường thì tự dưng ngày sắp Tết, nỗi nhớ quê, nhớ những kỷ niệm ngày thơ bé, nhớ mái nhà xưa, nhớ bếp lửa hồng ấp áp… Tự dưng cái chân muốn quay về, ba thế hệ, năm thế hệ quay quần bên nếp nhà cũ... 

Về làm gì ư? Người lớn thì thắp ông bà tổ tiên một nén nhang, thăm viếng mọi gia đình, ai còn ai mất, (đây là câu chuyện của thời chưa có điện thoại, cái thời có điện thoại mà đứt thông tin thì cũng vậy thôi) ngồi đun củi nấu một nồi bánh chưng, bánh tét, phụ nữ thì cùng với mẹ già đi phiên chợ Tết, đàn ông thì cùng với cha già tỉa tót mấy cành mai, cắm chói vườn hoa cải…

Cứ thế, tháng chạp trôi qua trong cái hơi lạnh se se cuối đông, trong cái hương vị thơm nồng cay cay của cúc tần, ngò cải đơm bông.

Tết về trong mắt trẻ thơ bắt đầu từ những bộ áo quần mới bà may hoặc mẹ dẫn đi mua, đôi khi đâu đó là chút hoài niệm trong những bản xuân xưa của người lớn, những nhành mai ông cắm trước bàn và những bông vạn thọ khắp vườn tỏa hương.

Tết về bên những nồi bánh chưng, bánh tét bà nấu, bên nhưng hũ dưa kiệu, những cái bánh in, những lát mứt gừng, mứt nghệ.

- Bà ơi, sao bà làm nhiều mứt vậy bà?

- Vì sắp Tết đó con.

- Sao Tết lại làm nhiều mứt vậy bà?

- Ừ, thì để đón Tết con à. Mỗi người mỗi quan niệm nhưng bà quan niệm rằng mỗi màu mứt tượng trưng cho mỗi mùa khác nhau trong năm. Bà làm mứt dừa lá dứa cho mùa xuân, mùa của vạn vật đâm chồi nảy lộc. Mứt gừng, mứt nghệ, mứt quất tượng trưng cho mùa hè nắng, lúa được mùa tươi tốt.

Mứt bí đao, mứt cà rốt, mứt dâu tây tượng trưng cho mùa thu đầy níu giữ hương sắc và bà làm mứt sen tượng trưng cho mùa đông, mùa của mút mùa lệ thủy mưa rơi, và cái này khác này cháu, bởi mứt sen màu trắng, màu của mưa trắng trời nhưng bà nghĩ rằng mưa, lụt chỉ làm sen ẩn mình rồi nắng ấm, nước xuống, sen lại cựa mình vươn dậy, trổ hoa thơm ngát con à. Vậy nên đông rồi sẽ qua, xuân sẽ tới. Bà mới làm nhiều mứt như vậy.

Các loại mứt 


Màu mứt của bà theo tôi cho đến những ngày cuối tháng Chạp, lúc ông chặt lá chuối, tước lạt giang, bà vút nếp và dùng đậu xanh làm nhân bánh, thêm một ít thịt heo vừa được chia phần. Ông khéo léo gói những đòn bánh tét, bà cẩn thận chất bánh vào nồi và bắt đầu nổi lửa.

Thường thì bà nấu bánh từ chiều hôm trước cho đến tận sáng hôm sau. Đứa trẻ như tôi thích nhất khi thi thoảng được đẩy củi vào lò giúp người lớn, rồi cố thức cho đến tận giữa đêm, lúc ông vớt những chiếc bánh tày, được gói bằng lá dong với một ít nếp và đậu đỏ trộn lẫn vào nhau. Ánh lửa bập bùng trong đêm lạnh, mùi bánh tày thơm phức, ăn xong, tôi gục đầu vào bao vỏ trấu và ngủ ngon lành đến sáng.

Chiều 27 Tết, cả xóm nơi tôi ở rủ nhau giết thịt một con heo để chia phần ăn Tết. Heo được mua bao giờ, được làm ở đâu không biết, nhưng khi thấy thằng con trai ông trưởng xóm dùng ống đu đủ để thổi bong bóng heo là tôi biết rằng mình sắp được ăn tất niên, được cùng bà làm món tré. Những phần thịt được đặt trong những mảnh lá chuối, mỗi nhà được một phần có đủ tất thảy từ thịt mông, thịt vai, lòng, huyết, xương...

Riêng chiếc đầu heo, cả xóm thống nhất rằng không chia phần mà để dành biếu ông cúng tất niên. Mà ông thì cúng tất niên cho cả xóm chứ không cho riêng gia đình ông. Đây cũng là khoảng thời gian thú vị nhất của cái Tết tuổi thơ tôi. Cúng tất niên xong, bà mang chiếc đầu heo xuống, lấy thịt riêng, xương riêng, lấy tai mũi, da làm món tré.

Một ít riềng gọt sạch vỏ, một ít tỏi, một chút tiêu, một ít mè, lá chuối rửa sạch và xếp thành từng lớp… Tai mũi, da nọng luộc chín một lần nữa và thái mỏng trộn đều, nhẹ tay với những gia vị trên cộng một ít muối, đường để tránh nổi mỡ. Đợi mười phút sau thì bắt đầu gói tré.


Nem tré Huế

Gói tré là cả một nghệ thuật, công đoạn này vừa mang tính khoa học, lại vừa mang tính tâm linh. Khi gói phải nhẹ tay, không nhận quá chặt và tâm ý phải hợp nhất, nghĩ về điều thiện lành thì món tré mới ngon được. - Bà nói vậy rồi cười móm mém. 

Tré gói xong treo lên giàn bếp củi để hong khói, ba ngày sau mở ra, bên trong những lớp lá bay mùi hơi chua chua, khai khói là món tré thơm lựng gia vị, mùi riềng, mùi tỏi, mùi da heo vừa lên men… thật khó mà tả cho trọn!

Một dĩa bánh tét, một dĩa củ kiệu, một bánh tré, một xị rượu đế cho ông, những thứ này quyện vào nhau tỏa ra một mùi hương không có gì để đặt tên… tôi gọi nó là mùi Tết. 

***

Sáng mồng một Tết, ông mặc áo dài khăn đóng đốt một lò trầm, thắp một nén nhang lên bàn thờ và gọi con cháu ngồi xúm xít để ông lì xì mừng tuổi. Bà ra trước hiên bẻ mấy nhành hoa vạn thọ trao cho mỗi đứa cháu, dặn chúng nhớ chúc ông mạnh khỏe, thượng thọ như cái tên nhành hoa mà con cháu đang dâng tặng.

Ông trao phong bì lì xì cho mỗi đứa kèm theo một cái xoa đầu và lời chúc mau ăn chóng lớn, mạnh khỏe, ngoan ngoãn, học hành giỏi giang.

Gia đình đoàn viên

Chừng 8 giờ sáng, ông dắt tôi đi qua nhà thờ ông bà để thắp nhang, vái lạy, rồi đi thăm những người quanh xóm, đi chúc Tết những gia đình bà con, bạn bè. Xong, ông dẫn tôi ra đầu làng nghe hô bài chòi. Cái âm bài chòi mải miết con nhì nghèo, con ba bệnh, con tam huê, con bạch tuyết, con tướng quân, con sĩ tử, con hoàng hậu, con nhà vua… cùng với điệu bộ rung lắc, hát đệm của người hô, nghe cứ như chứa đựng cả một năm mùa màng và khao khát, có lúc vời vợi chiều tà, thấp thoáng cánh cò bay chơi vơi qua sông trắng, có lúc xao xuyến tiếng chim trời miên man thả vào mây, cái âm thanh ấy, giọng điệu ấy theo tôi suốt một mùa Tết, suốt ba tháng xuân, kéo dài cho đến tận mùa thu, mùa đông, rồi cả một đời người…

Rồi một mùa tháng Chạp, tôi đã bước vào tuổi 23, qua rồi cái thời sinh viên xa nhà, trở về với ông bà đón Tết. Mỗi buổi tối mùa đông, ông kéo chăn đắp bà khỏi lạnh. Sáng ra, bà hỏi sao gạo lại tan trong nước, ông hú hồn khi tay bà không sao. Tôi ngơ ngẩn nhìn bao phân ure đã vơi đi một ít, ra là bà tưởng ure là gạo và mang đi nấu cơm. Nhìn củ riềng bà mới thái nhỏ, tôi lơ mơ hiểu rằng có lẽ bà định nấu cơm để lấy men làm tré. 


Các loại mứt

Những chiếc tré, những dĩa mứt gừng, mứt nghệ, mứt quất, mứt cà rốt dọn ra. Tôi ôm bà và xin bà tha lỗi vì vẫn chưa thể làm được món mứt sen, màu trắng, màu của mưa ngút trời miền trung, màu của sự vươn mình sau mưa bão, của thân phận con người nhỏ nhoi trước thiên nhiên, vạn vật, màu của ý chí, màu của sự vươn vai của mỗi số phận. 

Mồng Một Tết, ông khoác tấm áo mới cho bà, rồi chống gậy dắt bà lên đầu làng, thăm cô con gái nhỏ giờ đã ngoài 40, thăm bà con họ hàng, đi nghe hô bài chòi trước sân đình.

Tiếng hô bài chòi như âm hưởng mùa xuân, kể về cuộc đời một người vợ ngoan hiền, một người mẹ tần tảo nuôi con, một người bà hết lòng vì cháu... Đông năm ấy bà đi xa mãi mãi!

Một cái Tết nữa lại về, ông bà bây giờ đã đi xa, con cháu mỗi đứa một nơi, có đứa thành đạt cũng có đứa lang bạt kì hồ chẳng biết đâu là ngày mai, đâu là bờ bến… Cứ đến tháng chạp, khoảng chừng hai mươi âm lịch lại kéo nhau về, đứa thì chồng con đề huề, đứa thì tóc nhuộm muối tiêu vẫn còn phòng không, tay trắng cùng quây quần bên lễ cúng chạp mả, cúng gia tiên, làm bánh tét đón Tết, nhưng bây giờ không còn ông để dẫn mấy đứa cháu trai ra chỉ từng ngôi mộ, đâu là mộ ông bà, đâu là mộ cô, chú, cậu dì, đâu là những ngôi mộ vô danh của những người chết trong chiến tranh mà dòng tộc đã quy tập. 


Bánh chưng ngày Tết.

Lễ tảo mộ vẫn diễn ra nhưng sao vẫn thấy thiếu thứ gì đó, có lẽ đó là giọng nói trầm ấm và dáng đi chầm chậm của ông, thiếu một dáng ngồi khiêm đoan, từ tốn gói bánh gói tré của bà, thiếu một chút háo hức con nít trong cái vui lân lân, xúng xính áo mới, quần mới, áo mới của đám trẻ tụi tôi hồi đó.

Tết lại về, thời thị trường mở cửa, mọi thứ được quy ra tiền, chỉ cần ra siêu thị đi một lượt là có bánh tét, bánh chưng, có chả nem lụa, các thứ hàng cao cấp, có thể là được tiệt trùng kỹ lưỡng, được bỏ nhiều hương vị lạ của thời hiện đại, có thể là thơm hơn… nhưng sao tôi vẫn thấy làn lạt, thiếu thiếu một cái gì đó khó tả, có lẽ thiếu một mùi bếp quê đườm đượm khói rạ và hoa cải cuối năm…

Bây giờ, người ta vẫn tổ chức cúng xóm, cùng làng, họp xóm cuối năm, đầu năm, họp mặt bạn bè, họp lớp… Rượu bia ê hề, thịt xôi đầy mâm, nói cười hả hê… Nhưng sao tôi lại thấy thiếu! Thiếu một chút sâu lắng, thiếu một chút ấm áp, thiếu một chút lòng người thanh tân buổi đầu năm.

Nhưng dẫu sao cũng xin cảm tạ những vạt hoa cải vàng, cảm tạ những luống cúc tần, ngò tía không tiếng, không lời, im lặng trổ bông và tỏa hương, im lặng đẹp như một thiền sư đón Tết!

Uyển Ca

 

Tết Kỷ Hợi ( February 5, 2019 )

Ngọc Lan sưu tầm

Xem thêm...
Theo dõi RSS này