Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1141)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (24)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (84)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (236)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Nỗi nhớ trong thơ, nhạc - LÊ HỮU

 

Nỗi nhớ trong thơ, nhạc

Lê Hữu

  • Sen mùa hạ, tranh Đinh Cường

 

Nhớ nhau từng phút, yêu từng giây

Câu hát ấy ở trong bài hát “Đường về Việt Bắc” của Đoàn Chuẩn-Từ Linh.

Thật khó mà ngờ rằng câu ấy được viết ra cách đây hơn 70 năm, và mãi đến nay vẫn chưa thấy ai bộc lộ một tình yêu và nỗi nhớ thiết tha hơn thế. Nhớ đến như thế là… nhớ quá là nhớ. Yêu đến như thế là… yêu quá là yêu.

Chưa hết, ta còn nghe được trong nhiều câu hát của người nhạc sĩ này một tình yêu đắm say và nỗi nhớ ngập lòng gửi về người mình yêu. Như là...

Yêu một sớm, nhớ nhau bao mùa thu (Cánh hoa duyên kiếp), hay là…

Nhớ nhau từ làn môi, đôi mắt / Nhớ nhau đành tìm trong tiếng hát (Lá đổ muôn chiều), Nhớ nhau tìm trong ánh sao (Lá thư).

Chưa hết, lại còn… Nhớ phút ngập ngừng lòng giấy viết rằng “Chờ đến kiếp nào”(Lá thư)

Vẫn chưa hết, lại còn… Chiều nào áo tím nhiều quá, lòng thấy rộn ràng nhớ người (Đường về Việt Bắc)

Chỉ toàn những nhớ và nhớ. Thường thì nỗi nhớ nhung đi với tâm trạng buồn bã, cô đơn. Người ta nói “buồn nhớ” chứ ít ai nói “vui nhớ”. Ở đây thì nỗi nhớ về cùng những phút vui rộn ràng.

 MỸ VÕ: HỌA SĨ ĐINH CƯỜNG… KHÔNG CÒN VỚI CHÚNG TA NỮA !!!

Gọi tên từng nỗi nhớ

Không chỉ “nhớ rộn ràng”, có biết bao nỗi nhớ mang những tên gọi khác nhau được tìm thấy nhiều nhất trong những lời thơ, lời nhạc. Mỗi tên gọi thể hiện những trạng thái, mức độ tình cảm khác nhau. Chắc không có dân tộc nào “nhớ” nhiều và có nhiều cách diễn tả tâm trạng nhớ nhung hơn dân tộc Việt. Thử kể ra một vài, như là…

 

Nhớ rưng rưng:

Thôi thì em chẳng yêu tôi

Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng

(“Động hoa vàng”, Phạm Thiên Thư)

 

Là nhớ muốn khóc, nhớ muốn chảy nước mắt.

Nhớ mênh mang, vời vợi:

Chiều tím, không gian mênh mang niềm nhớ

Mây bay năm xưa còn đó, đâu tìm người hẹn hò…

(“Ngàn năm mây bay”, Nguyễn Hiền)

 

Nỗi nhớ trải dài, lan rộng đến những bến bờ nào xa xăm.

 

Nhớ dào dạt, dạt dào:

Áo em lụa trắng sông Hương

qua đò Thừa Phủ nhớ thương dạt dào

(“Về chân trời tím”, Hoàng Anh Tuấn)

 

Nỗi nhớ trào dâng như từng đợt sóng xô nhau, xô nhau tràn mãi vào bờ.

Nhớ ngẩn ngơ, nhớ thẫn thờ:

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

Đêm quên giấc ngủ, ngày mơ tiếng cười  (Ca dao).

 

Hay là…

Nương song luống ngẩn ngơ lòng

Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai

(“Chinh phụ ngâm khúc”, Đoàn Thị Điểm)

 

Nhớ chất ngất, nhớ ngút ngàn:

Phương này tưởng nhớ về phương đó

Hồn thả theo mây khói ngút ngàn

(“Khung trời tưởng nhớ”, Xuân Chung)

 

Nhớ bất tận, nhớ vô bờ:

Chiều trên phá Tam Giang / Anh sực nhớ em

Nhớ bất tận

(“Chiều trên phá Tam Giang”, Tô Thùy Yên)

CÁNH CỬA ĐÓNG LÚC 0 GIỜ

 

Nhớ điên cuồng, nhớ phát điên:

Lòng cuồng điên vì nhớ

Ôi đâu người, đâu ân tình cũ!

(“Hoài cảm”, Cung Tiến).

Hay là…

Tưởng rằng đã quên, thân đau muốn nằm

vì từng bước em là từng mũi đinh cuồng điên

(“Tưởng rằng đã quên”, Trịnh Công Sơn)

 

Nhớ lạ lùng:

Giờ hình như quá nửa đêm

mà sao lửa nhớ nàng lên lạ lùng

Một phương trời nhớ không Dung?...

(“Chuyện mùa xuân muộn”, Thái Phương Thư)

 

Nhớ sướt mướt, nhớ nghẹn ngào:

Nhớ ai, em những khóc thầm

Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa (Ca dao). Hay là…

Tìm mộng xưa lãng quên tháng ngày tàn phai

Nghẹn ngào thương nhớ em, Hà Nội ơi!

(“Giấc mơ hồi hương”, Vũ Thành)

 

Còn phải kể thêm một vài nỗi nhớ là lạ như…

Nhớ xót xa:

Anh nhớ xót xa dưới tre là ngà

Gợn buồn nhìn anh em nói “Mến anh”

(“Nắng chiều”, Lê Trọng Nguyễn)

Đỗ Xuân Tê: Những Người đàn bà qua tranh Đinh Cường – T.Vấn và Bạn Hữu

Trong nỗi nhớ xót xa có nỗi ray rứt và tiếc nuối. Chỉ những ai từng “nhớ xót xa” mới hiểu thế nào là… nhớ xót xa.

Nhớ tơi bời:

Hà Nội ơi! Mỗi chiều sương gió dâng khơi

Có người lặng ngắm mây trôi / biết bao là nhớ tơi bời

(“Hướng về Hà Nội”, Hoàng Dương)

 

Nghe câu hát, tưởng nghe gió mưa, nghe giông bão… tơi bời.

Có bao nhiêu nỗi nhớ là bấy nhiêu tên gọi, không làm sao kể hết được. Nào là nhớ bâng khuâng, như “trời rộng nhớ sông dài” (“Tràng giang”, Huy Cận), nhớ da diết, nhớ day dứt, nhớ se sắt, nhớ vời vợi, nhớ miên man, nhớ mỏi mòn, nhớ tái tê, nhớ canh cánh, nhớ đau đáu và cả những nhớ khủng khiếp, nhớ kinh khủng, nhớ tàn bạo…

Chưa kể những nỗi nhớ vu vơ gọi là “nỗi nhớ không tên”, hoặc chưa biết gọi tên như thế nào, như là “nhớ em/anh trong tận cùng nỗi nhớ”, được hiểu là nỗi nhớ thương đến tột cùng, không dứt không nguôi.

Một trạng thái “quá độ” của nhớ là tương tư, là nhớ quay quắt nhớ cồn cào, nhớ đến bỏ ăn bỏ ngủ, đến phát ốm phát bệnh, nhớ ngẩn ngơ ngơ ngẩn như kẻ mất hồn.

 

Nhớ ai nhớ mãi thế này

Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn (Ca dao). Hay là…

 

Gió mưa là bệnh của giời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

(“Tương tư”, Nguyễn Bính)

 

Nhớ là nhớ ánh mắt nụ cười, nhớ mái tóc đường răng:

 

Mình về mình nhớ ta chăng?​

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười (Ca dao). Hay là…

Anh vẫn nhớ em ngồi đây, tóc ngắn

mà mùa thu dài lắm ở chung quanh

(“Áo lụa Hà Đông”, Nguyên Sa)

 

Tranh Đinh Trường Chinh- THÀ NHƯ GIỌT MƯA - Hội Họa - Hội Ái Hữu Cựu Học  Sinh Ngô Quyền Biên Hòa

Mắt, môi cũng nhớ:

 

Bây giờ môi anh cô đơn

Nhớ em nhớ cả nụ hôn dịu dàng

(“Áo tím”, Vũ Thành)

 

Ngón tay, ngón chân cũng nhớ:

Chàng đi để lại đôi giầy

Ngón chân em nhớ những ngày có nhau

(“Nhớ”, Trần Mộng Tú)

 

Đến cỏ cây, hoa lá cũng nhớ:

Sao không thấy em lại / Hàng dừa nghiêng thương nhớ…

và lũ hoa thầm khép hương chờ mong

(“Thuở ban đầu”, Phạm Đình Chương). Hay là…

 

Cỏ cây hoa lá thương nhớ mãi người đi

và dâng sầu lên mi mắt người về

(“Nụ cười sơn cước”, Tô Hải).

 

Hay cũng gợi niềm thương nhớ…

Chiều nay thấy hoa cười, chợt nhớ một người

chạnh lòng tôi khơi bao niềm nhớ…

(“Nhớ một chiều Xuân”, Nguyễn Văn Đông)

 

Biển cũng nhớ:

Những ngày không gặp nhau

biển bạc đầu thương nhớ

(“Thuyền và biển”, Xuân Quỳnh)

Ngắm thiếu nữ trong tranh lại nhớ chàng danh họa - Báo Khánh Hòa điện tử

 

Rừng cũng nhớ:

Nhớ gì mà nắng vàng cánh rừng

Thương ai mà sương khuya vội vàng buông

(“Vẫn có em bên đời”, Trịnh Công Sơn)

 

Có khi bài thơ không có chữ nào là “nhớ” nhưng lại… nhớ hơn cả nhớ.

 

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng

Xếp tàn y lại để dành hơi

(“Khóc Bằng phi”, tương truyền là câu thơ vua Tự Đức tưởng tiếc nàng ái phi bạc mệnh). Hay là…

 

Em nhìn lên vòm cây gió thổi

Lá như môi thầm thì gọi anh về…

 

Anh nhìn giếng, giếng sâu trong vắt

Nước như gương soi lẻ bóng hình anh

(“Vườn xưa”, Tế Hanh)

“Cà-phê mùa đông”, tranh Đinh Cường

Tìm quên trong nỗi nhớ

Nhiều lắm những bài thơ bày tỏ nỗi niềm nhớ nhung, người viết chỉ ghi xuống ngẫu nhiên ít câu thơ còn đọng lại trong trí nhớ, chắc chắn là quên sót nhiều bài thơ, câu thơ hay. Đành chịu vậy, cho đến một lúc nào được ai đó nhắc cho hoặc bỗng nhiên… nhớ lại.

 

Tôi nhớ một người không nhớ tôi

Nửa đêm ngồi dậy ngóng phương trời

(“Đêm giáng sinh”, Tần Hoài Dạ Vũ)

 

Khi con đường một mình

hai hàng cây nhớ gió…

Khi ngọn đèn một mình

đèn thắp hoài mắt đỏ

(“Một mình”, Kim Tuấn)

 

Xa lắc rồi em người mỗi ngả

Bên này đất nước nhớ thương nhau

(“Đôi bờ”, thơ Quang Dũng)

 

Ôi con sóng nhớ bờ

ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

cả trong mơ còn thức

(“Sóng”, Xuân Quỳnh)

 

Nhớ nhà châm điếu thuốc

Khói huyền bay lên cây

(“Màu cây trong khói”, Hồ Dzếnh)

 

Và một đôi câu lục bát nhớ:

Mành tương phất phất gió đàn

Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình

(“Kiều, Nguyễn Du)

 

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

(“Tương tư”, Nguyễn Bính)

 

Mai xa thành phố sương mù

Nhớ em một dáng mùa thu úa tàn

(“Đà Lạt hai người”, Hoài Khanh)

 

Nhớ em là nhớ quê nhà

Bát canh rau đắng mẹ già còn không?

(Lúc nhớ, Hoàng Lộc)

 

“Đi xa, nhớ nhà”, với người Việt sống xa quê, nỗi nhớ canh cánh bên lòng vẫn là nỗi buồn nhớ quê hương. Càng xa quê lâu năm, nỗi nhớ càng thêm se sắt. Làm sao mà không nhớ một nơi chốn người ta đã sống đã yêu, đã hạnh phúc đã khổ đau, và cả… nhớ nhung nữa. Nhớ mảnh vườn thửa ruộng, nhớ luống cày liếp rau, nhớ bụi chuối buồng cau, nhớ bờ tre khóm trúc, “nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”.

 

Người Việt mình được tiếng là nhớ lâu, nhớ dai, nhớ mãi nhớ hoài. Sống để bụng, chết mang theo. Vui cũng nhớ, buồn cũng nhớ. Yêu cũng nhớ, hận cũng nhớ. Tình, thù rực nắng. Làm sao mà không nhớ những tháng năm tươi đẹp, hạnh phúc tràn đầy hay những thời kỳ khốn khó, những mất mát, tai ương? Làm sao mà không nhớ những biến cố lớn, nhỏ ập đến trong đời mình, làm thay đổi số phận của một đất nước, dân tộc và số phận mỗi con người?

 

Tháng Tư ướt đẫm trong lòng

Cơn mưa vẫn đổ trên dòng nhớ quên

(“Mưa tháng Tư”, Miên Thụy)

 

Tháng Tư nhớ nỗi buồn vàng

nghe như đâu đó bài than thở buồn

Bóng chiều kinh nguyện đồi chuông

Thuyền nhân biển lớn lệ tuôn đoạn đành

(“Lục bát tháng Tư”, Thy An)

 

Hồi tưởng về những kỷ niệm vui, người ta không còn cảm thấy hoặc ít thấy vui nữa; hồi tưởng về những kỷ niệm buồn người ta vẫn còn cảm thấy buồn khổ. Có lẽ vì vậy, sau bao nhiêu là nỗi nhớ không rời, đến khi tuổi đời chồng chất người ta lại muốn tìm quên cho đầu óc được thảnh thơi, nhẹ nhàng.

 

Tìm quên, nhưng có dễ đâu, như câu hát nào, “Khi cố quên là khi lòng nhớ thêm…”

 

Lê Hữu

Kim Phượng sưu tầm

Diễn Ðàn Thế Kỷ: Phạm Thành Châu - CÔ GÁI HUẾ VỚI TRANH THIẾU NỮ CỦA HỌA SĨ ĐINH  CƯỜNG

Xem thêm...

Chìm Vào Chân Mây

Chìm Vào Chân Mây 

ĐQV. C130/435

Ngày ấy cũng đã xa, hơn ba chục năm trời trôi qua, đời người ngắn lại. Những nghịch cảnh, những trớ trêu của cuộc đời nghĩ lại chỉ là phù du. Canh bạc nào chẳng có người thắng kẻ thua. Huống hồ một canh bạc chính trị lớn, thật bẩn thỉu.

Người ta đã đánh cá không bằng những đồng tiền thưởng, mà bằng tuổi trẻ của cả thế hệ đang lớn lên. "Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau". Câu hát ngày nào mà bây giờ hay bất cứ lúc nào hát lên cũng đúng. Cái mai sau ấy như một lời hứa hẹn của tương lai, chứ hiện tại thì khác hẳn.

Thế hệ anh đã hy sinh cho cuộc chiến. Các nhà lãnh đạo hồi đó đã không khéo tay để "nướng" trọn cả một thế hệ trẻ, như đã nướng chiếc bánh quá lâu, cháy khét. Bây giờ còn lại bao nhiêu đứa rải rác khắp các thành phố lớn nhỏ trên thế giới. Những ông cụ non chưa đủ tuổi để hưởng tiền già, ngồi tụ họp với nhau, nói chuyện "dĩ vãng" vàng son?. Những trận đánh ngoạn mục chỉ người cùng lớp tuổi mới cảm thông.

Nói chuyện chiến tranh trong xã hội hòa bình đang đua đòi chạy theo vật chất. Xa vời quá và cũng không phù hợp với lớp người vẫn cho mình là giới thức thời, họ đã tránh né phần đóng góp của mình cho cuộc chiến chung. Còn với lớp trẻ, chiến tranh là cái quái gì đối với những tân tiến của khoa học giả tưởng ngày nay. Với những anh hùng người máy như "Rambo," "Rocky"... lớp người trẻ họ thờ ơ cho rằng quá mất thì giờ để nghe chuyện xưa cũ. Những gì đã xảy ra trong rừng sâu nước độc ở một nơi nào đó trên mảnh đất có tên là Việt Nam.

Thật thế, nếu họ muốn thì chỉ bỏ vài "đôla" mua một vé ciné là có đầy đủ. Ngoài cảnh bom rơi đạn nổ còn có cả bóng dáng đàn bà trong chiến trận của màn ảnh màu đại vĩ tuyến. Ôi Việt Nam quê hương anh, thật bẽ bàng!. Chiến trận Việt Nam đã không được tô màu và thi vị hóa. Lớp cha, anh chỉ còn biết ngậm ngùi. Hình ảnh ngày xưa mình đã tham dự, đã hy sinh nay còn lại những gì? Chẳng còn gì thật, Lộc nghĩ như thế trong cơn say, và cũng biết chẳng còn ai có thì giờ đi bắt bẻ ý viết của một người đang "xỉn". Lộc đã loạng quạng mượn đôi chén để bắt đầu kể chuyện.

Gạt bỏ những trận đánh lớn, đánh nhỏ, những kế hoạch tham mưu chiến thuật phiền toái mà chỉ tạm là người ngoài phố, bàng quang nhìn thấy gì lúc cửa nát nhà tan. Lộc không nhìn với đôi mắt mất thần của kẻ tạm gọi là thua cuộc mà chỉ quan sát như một ống kính vô hồn thâu lại những hoạt cảnh mà người đời gọi là biến cố.

 Hình minh họa

Ngày ấy Lộc còn là một phi công chiến đấu, hàng ngày xách dù đi bay chung với đồng đội, đời thật vui. Nhiều phi vụ hiểm nguy nhưng với tuổi trẻ, đó là dịp được thử thách với đường bay can trường thật đẹp của tuổi mới lớn đi ướp mộng đời. Bầu trời bao la, soải cánh chim bằng, tự do và thoải mái. Trên trời cao xanh có những lúc anh đã giang rộng đôi cánh như muốn ôm cả vũ trụ vào đôi tay bé nhỏ. Ôm lấy cuộc đời mà mình đã ấp ủ từ lâu, nay mới được thỏa chí tang bồng. Sau những chuyến bay như thế, êm ái cũng có mà nhiều khi toát mồ hôi lạnh cũng có.

Lộc trở về với cuộc sống bình thản như trăm vạn thằng con trai mới lớn khác. Lộc hí hửng đi đón người yêu bé nhỏ của buổi tan trường, thâu nhận những dỗi hờn vu vơ hay vài chuỗi cười dí dỏm. Chàng đã tạm quên đi những hiểm nguy vừa qua của mấy giờ trước đó đã đùa giỡn trên không trung, đem mạng sống ra thách thức với thế trận. Đôi khi Lộc thấy trong anh hình như có hai trạng thái trái ngược hẳn nhau. Khi lâm trận, trên trời cao, hung hăng như con cọp xám, lúc xuống đất hiền lành như con cừu non vụng dại.

Lộc rất yêu đời nhưng cuộc sống chẳng dễ dàng như chàng nghĩ. Biến cố lớn đã tràn đến như bão táp dữ dội tàn phá tất cả. Con sóng đỏ được yểm trợ bởi ngoại bang tràn ngập biến thành cảnh mới, tan hoang. Nhà cửa sụp đổ với pháo đạn và người dân hốt hoảng chạy tìm kiếm chỗ dung thân. Một cuộc bạo động? Không đó là cuộc giải phóng thứ hai, sau lần giải phóng hụt năm Mậu Thân sáu tám để lại biết bao cảnh tang thương. Bảy năm sau một cảnh tượng hãi hùng hơn thế nữa, do người bạn thân tình ngoại quốc phản bội đã tiếp tay, đồng lõa. Như một gả bán công khai của đồng minh cho loài yêu xanh tinh quái Cộng Sản. Cô gái lỡ thời Việt Nam đành cúi mặt lên xe hoa đã được trang hoàng bằng những mắt dây kẽm gai, chịu đựng những sóng gió ba đào. Ngày bắt đầu với số phận ấy, Lộc đã nhìn thấy gì?

Phi trường Tân Sơn Nhất xưa

Một Tân Sơn Nhất yêu thương niềm nở, tiếp đón thường ngày những lần chạm bánh, nhẹ như những nụ hôn phớt qua trên má người yêu. Phi cơ đủ các loại trở về đây sau một ngày bay bổng mệt nhoài. Hôm nay đây khác hẳn, đã bẽ bàng đón nhận đau thương bằng những trái đạn pháo của con tàu bội phản. Bắt đầu từ chiều hai mươi chín tháng tư bảy mươi lăm; phi đạo đã bị trải bằng những vết đạn và một vài quả bom nhỏ của hai chiếc A.37 phản nghịch. Sáng ngày hôm sau, cảnh tượng hãi hùng hơn. Ngay từ nửa khuya về sáng, TSN vẫn còn trong hơi sương và những vết đạn lửa bắn chéo nhau vội vã không xé tan được làn sương mỏng quái ác ấy. Nhiều hoa tiêu từ những trại độc thân đang tìm cách trở vào phi đoàn. Họ trở lại đây, chỗ hội họp hằng ngày, nơi gắn bó với con tàu mà chúng đã vô tình như nối chặt cuộc sống tình cảm từ bao giờ. Những liên hệ mật thiết của phi công trẻ tuổi đầy nhiệt huyết với con tàu chung thủy thân yêu, chứa đầy kỷ niệm của những lần thao túng trên chiến trận.

Tới gần bảy giờ sáng, sương mới bắt đầu tan, Lộc thấy trên trời còn mờ mờ bóng chiếc phi cơ độc nhất AC 119K còn đang bận với vòng bay. Tiếng động cơ nổ như gọi mời những cánh chim còn say ngủ hãy thức dậy nhập đoàn. Số đạn trên tàu bây giờ chẳng còn bao nhiêu, bảy ngàn bộ trên cao, con tàu bồn chồn muốn nhập cuộc vào vòng bắn. Bay thêm một vòng nữa để nhận định tình hình rồi quyết định rời độ cao xuống thấp hơn. Ở năm ngàn bộ, những khẩu súng máy trên tàu bắt đầu làm việc. Trải làn đạn đầu tiên vào vùng Hạnh Thông Tây, khu có một cao điểm là nóc chuông nhà thờ, phía tây bắc vòng đai phi trường. Làm nao núng những dàn súng phòng không của địch, những khẩu súng cối và bọn điều chỉnh tác xạ đang chờ lệnh tấn công.

Vòng bay kế tiếp đã làm hoảng sợ những tên địch đang bị xiềng chân vào càng súng phòng không mà chúng phải sống chết ở lại giữ điểm then chốt chiến lược. Chiếc AC 119K sau khi làm được vài vòng phía bên trái mục tiêu vừa đổi hướng cho trục tiến, vô tình tránh được chiếc hoa tiễn SA-7 tầm nhiệt đầu tiên bay lên. Chiếc tàu vẫn anh dũng vào sát mục tiêu hơn trong vòng bay kế tiếp, mong muốn diệt được ổ súng phòng không lợi hại này. Không may ngay lúc đó một hỏa tiễn tầm nhiệt khác phóng lên, trúng ngay máy số hai, xé nát con tầu, cắt ngang chiếc cánh bên phải, xăng nhớt văng ra xa, nổ bùng trong bụm lửa đỏ ngầu.

Con tàu mất thăng bằng, với lực sẵn có đã xô nó vào vòng xoáy mãnh liệt. Sức ly tâm làm tung mấy khẩu súng 7.62 ly và đã đẩy người xạ thủ ra chơi vơi ngoài không trung. Chiếc tàu bốc lửa mang theo hình hài của phi hành đoàn cuộn tròn theo con lốc xoáy của khối sắt nặng nề đang vung vãi trên không. May thay có một cánh dù vừa bung nhưng chưa kịp nở tròn thì chân người xạ thủ đã chạm đất. Trọng lực của trái đất làm nẩy thân anh như một trái banh xẹp. Phi hành đoàn của đại úy "Thành Đen", chiếc tàu thứ hai sau chiếc C 130 trong vòng chưa đầy một tháng của sư đoàn V không quân, lâm nạn.

Máy bay C-130 Xưa tại VN

Trời vẫn còn mù sương, nhưng người ta có thể nhận diện nhau, những khuôn mặt quen thuộc hàng ngày. Bây giờ nhóm phi công từ các khu cư xá độc thân mới qua được trạm kiểm soát ngăn khu đậu máy bay để vào phi đoàn chờ lệnh. Nắng cũng bắt đầu lên cao tiếng súng nổ cũng bớt dần rồi ngưng.

Người ta cũng tưởng chỉ có thế thôi rồi một ngày mới lại bắt đầu với sinh hoạt bình thường như mọi ngày. Các quán cà phê sẽ đông người và ở đó người ta sẽ bàn tán sôi nổi về trận đánh đêm qua. Xôn sao hồi hộp như một trận túc cầu quốc tế được tường thuật trên đài phát thanh. Nhưng không, còn hơn thế nữa, nó như một trận đấu quyền anh chỉ nghỉ đôi phút để sửa soạn cho một hiệp đấu khác gây cấn hơn. Khoảng tám giờ sáng, loạt pháo thứ hai đã câu vào căn cứ Tân Sơn Nhất một cách thật chính xác.

Những đám cháy từ những chiếc phi cơ trúng đạn nơi bãi đậu đã chứng tỏ lần pháo này có sự điều chỉnh hữu hiệu của tiền sát viên pháo binh cộng sản. Dãy phi cơ khổng lồ C.130 _ sau chuyến bay đêm qua, ngoan ngoãn đậu trong ụ phía đối diện khu phi trường dân sự _ bây giờ chịu bó tay nằm đó để nhận những trái đạn pháo quái ác của cộng sản đỏ. Nằm bất động, thúc thủ chịu trận như con "kình ngư" bị kẹt trong vùng nước cạn. Chiếc máy bay đầu tiên trúng đạn đang bốc cháy, sức nóng bốc lên cao thật nhanh với ngọn lửa đỏ đậm quyện vào đám khói đen của nhiên liệu và dầu mỡ. Mùi khét lẹt của dây điện và vật liệu bằng chất nhựa cháy tỏa ra nhanh chóng.

Người ta tiên đoán và đang chờ đợi một tiếng nổ long trời lở đất khi mà ngọn lửa cháy xém tới bình xăng nơi cánh. Phi đoàn 435 vận tải tọa lạc gần đó với số nhân viên phi hành không đầy đủ đã bắt đầu thấy xôn xao. Họ lo sợ cho những con tàu khác bị cháy lây. Nhiều phi công vội vã không chờ lệnh, đã tự động chạy ra di chuyển con tàu thân yêu ra xa đám lửa, sang một vị trí khác an toàn hơn. Đây là một phản ứng tự nhiên, vì có dời con tàu đi chỗ khác chăng nữa thì chúng vẫn ở luẩn quẩn quanh đây trong tầm tác xạ hữu hiệu của địch quân. Đợt pháo kích này hơi lâu làm thiệt hại thêm một chiếc C. 130 nữa. Trong ánh nắng vàng tươi của buổi bình minh, trớ trêu thay bầu trời Tân Sơn Nhất bỗng chốc biến thành hỏa mù.

Máy bay vận tải C119 của Mỹ ở sân bay Tân Sơn Nhất bị đạn pháo hủy (1968)-Minh họa



Trên bãi đậu, một con tàu đang bốc cháy, biến thành bất khiển dụng vĩnh viễn, nằm trong ụ chịu đựng như những nấm mồ của định mệnh chờ sẵn. Con tàu ít ra trong những giây phút cuối cùng, nó vẫn tự hào rằng đêm qua còn về kịp nơi bến đậu cũ hằng ngày của phi trường mẹ, để rồi theo ngọn lửa sáng nay, bị cưỡng bức tức tưởi, ra đi như một nghiệp số.

Tới mười giờ sáng, trời vẫn nắng. Cái nắng ban mai của Saigon một ngày thật đẹp trời nhưng đau xót bẽ bàng để chứng kiến những biến động đổi đời của một dân tộc hiền hòa đang bị phản bội và bị bán đứng cho Cộng Sản. Phi đoàn 435 vận tải tuy đang xáo trộn vì tình thế, nhưng kỷ luật rất cao. Người ta vẫn kiên nhẫn chờ lệnh. Ngoài sân bay trước mặt, một chiếc trực thăng biệt phái đã bắt đầu quay máy rồi làm thủ tục cất cánh. Lác đác có vài nhân viên phi hành trực thăng khác đang chạy với theo để lên tầu quá giang trở về đơn vị gốc vùng IV chiến thuật.

Mười giờ ba mươi vị thiếu tá trực phi đoàn 435 gọi điện thoại tới phòng hành quân chiến cuộc. Không ai trả lời, hoặc giả không có ai dám trả lời. Trước tình trạng mịt mờ này, ông quay điện thoại qua Không đoàn 33 chiến thuật. Tình trạng vẫn không khá, dường như chẳng có ai rảnh rỗi để ngồi ôm điện thoại như thường ngày. Suy nghĩ vài phút, ông gọi lại phòng hành quân chiến cuộc bằng số điện thoại khác. Nhưng tình trạng vẫn tăm tối mịt mù. Trước tình cảnh ấy, đại úy H. trưởng phi cơ của phi hành đoàn túc trực hành quân trong ngày buộc miệng chửi thề. Thỏa cơn tức, ông quay sang vị Thiếu tá thúc giục:

- Thiếu tá đã đến lúc chúng ta phải tự lo. Gia đình chúng tôi còn kẹt lại ngoài Côn Sơn từ đêm qua.

Vị thiếu tá quay lại hỏi cộc lốc:

- Phi đoàn còn bao nhiêu trưởng phi cơ?

- Tôi không rõ, sáng nay chỉ thấy lác đác vài ông. Anh em vào phi đoàn không đầy đủ có lẽ vì kẹt đường.

Mẩu đối thoại chỉ có thế và rồi Lộc nghe có tiếng nổ thật gần, làm rung chuyển căn nhà gỗ hai từng lầu. Anh thấy vị thiếu tá nói nhỏ vài câu với mấy người trưởng phi cơ đứng quanh đó. Rồi họ chạy đi lấy túi bay, không kịp lãnh dù. Mấy người hoa tiêu phụ ngơ ngác đứng nhìn. Rồi khẩu lệnh ra, chia nhóm hoa tiêu phụ thành từng nhóm hai ba người một. Lời dặn dò không có tính cách như một lệnh.

- Các anh "co pilot" theo từng toán một ra lấy tàu. Ông nào nhiều kinh nghiệm sẽ bay ghế Co Pilot, ông nào bay yếu ngồi ghế... trưởng tàu. Tôi nói rõ, bay ghế trưởng tàu không có nghĩa là trưởng tàu mà trái lại các ông này phải nghe lệnh của... Co Pilot.

Một cái lệnh? Chao ôi! điên đảo thay lúc giao thời. Đó là một cái lệnh hay là lời dặn dò của buổi chợ chiều? Ôi chua xót làm sao! Cái giờ phút cuối của một Không Lực đứng vào hàng thứ tư trên thế giới đang tan rã. Rồi Lộc nghe:

- Các anh đi từng toán một, cách nhau năm phút. Xe "Pick Up" không đủ và dễ gây xáo trộn. Lên trời sang tần số "Guard" để liên lạc. Có hai nơi nên tới đó là phi trường Côn Sơn và phi trường Utapao Thailand.

Nói xong, họ trao nhau những mẩu giấy nhỏ có ghi tần số truyền tin của phi trường tới. Lộc chỉ nghe được có thế thôi rồi thì tản mác, phi đoàn bỏ hoang. Trong giây lát mọi người biến đi như một câu chuyện phù thủy biến hóa truyền kiếp. Tấm bản đồ trên tường với những tọa độ mật, vẫn được phủ bằng tấm màn vải dày vô tư. Ngăn tủ bản đồ phi hành, tài liệu huấn luyện, tiểu sử và chiến tích từng phi công, những kế hoạch, những dự định tương lai vẫn còn để nguyên .

 Hình chụp ngày 29 tháng 4, 1975 cho thấy máy bay trực thăng trên nóc Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn thực hiện những đợt di tản cuối cùng những nhân viên và thường dân.


Chỉ thiếu những hình ảnh của chiến tranh đang tàn phá ngoài kia. Tất cả để lại thật ngăn nắp như một ngẫu nhiên phải có. Lộc rời phi đoàn mà chẳng dám nhìn lại lần chót. Biết mình đa cảm và Lộc vẫn sợ tình cảm rồi sẽ lội dòng nước mắt trong buổi phân ly. Khi đã xa chốn này, không hiểu anh có đủ can đảm để xóa tan những kỷ niệm vương vấn giăng mắc nơi đây. Phòng họp hành quân, nơi mà chiếc máy lạnh cũ vẫn đều đều rên rỉ tạo những âm thanh đều đều như cố ru ngủ trong những buổi trưa hè nóng như thiêu đốt của Saigon mùa nắng hạ.

Đó là chuyện cũ, còn bây giờ Lộc phải tự cứu lấy thân, phải nhảy vọt ra khỏi vùng nguy hiểm này. Chiếc xe Honda màu đậu xanh Lộc mới cho sơn lại tuần trước, thay dầu máy và thay đôi vỏ xe mới hiệu Michelin đàng hoàng như một liên đới chót đưa anh ra bến đậu phi cơ. Tội nghiệp, đến giờ phút này mà nhiều người như Lộc, vẫn tin tưởng vào tính hình đất nước, vẫn hy vọng vào một may mắn nhiệm mầu vào giờ chót. Chiếc xe mà Lộc đã cẩn thận trả giá từng đồng khi quyết định mua nó và đã săn sóc để nó được gần với anh, bây giờ tiễn đưa Lộc ra đây trên sân đậu ngổn ngang những đám cháy. Những vết đạn cày sâu của quân thù làm loang lỗ sân đậu.

Cảnh tượng ở đây có thể nói còn tàn bạo và nguy hiểm hơn cả với những cảnh do phim ảnh cố tạo nên. Lộc vội vã đi tìm phương tiện thoát thân. Anh đảo qua hết dãy này rồi sang dãy khác. Phi cơ nhiều quá, đủ loại nhưng thiếu người điều khiển. Trên sân người ta chạy dáo dác chưa biết về đâu, và anh cũng vậy đi tìm kiếm phi cơ. Lộc là phi công chiến đấu mới vừa được thuyên chuyển về phi đoàn vận tải, chưa được huấn luyện trên những chiếc tàu to lớn như thế này. Trời ơi tiếc quá! Giá mà Lộc điều khiển được nhỉ.

Có một chiếc C 130 đang Taxi thật chậm, ng oằn ngoèo tránh những mảnh sắt vụn vương vãi trên sân. Ngớ ngẩn như đứa bé tập lái xe đạp ba bánh chập chững lần đầu. Lộc thấy nơi cửa sổ phòng lái, người phi công chính giơ tay vẫn anh và chỉ về phía sau tàu. Gác vội chiếc xe Honda Dame, Lộc chạy vội vàng lại phía cửa hậu đã được mở sẵn. Gió cánh quạt thổi, đẩy anh đi như không muốn cho anh lại gần. Chiếc áo bay căng phồng, Lộc như người đang lội ngược dòng nước. Cuối cùng anh cũng bám được vào thành tàu. Người ta kéo anh lên.

Theo đà tay kéo, Lộc ngã chúi vào trong lòng tầu. Ngồi thu mình dưới sàn như một kẻ hèn nhát, chạy trốn. Lộc đang rời bỏ quê hương và gia đình. Hình ảnh bố mẹ, anh chị em quây quần bên nồi cơm đạm bạc đang chờ Lộc về. Những trái cà trắng phau phau, và bát canh mà mẹ anh vội vàng nấu chưa kịp ăn. Nhìn con, mẹ dặn về sớm. Bát canh rau ngót, Lộc biết mẹ để dành cho anh từ chiều hôm qua vẫn còn đó. Những miếng giò thịt heo trắng mịn màng mà bao giờ cũng vậy, bà múc cho anh nhiều nhất nhà. Nhưng bây giờ Lộc không trở lại được. Anh tưởng tượng đến những âu lo của người thân khi thấy anh biệt tích rồi hớt hãi đi kiếm tìm. Saigon ơi! Gia đình đó, thôi vĩnh biệt tất cả. Ra đi mà không biết ngày trở về. Kỷ niệm nào còn vướng chân anh buổi tan trường.

Hình minh họa


Thời gian nào còn quyện tuổi học trò. Tình yêu thủa mới lớn yêu đương một chiều. Thôi hết thật rồi những chiều Thứ Bảy dạo phố ngắm nhìn những tà áo mỏng đủ màu bay trong gió. Tuổi thanh niên của Lộc đó, hết rồi, nó đã quá ngắn ngủi và đau thương. Quanh đây trong bầu không khí ngột ngạt với những bộ mặt mất thần ưu tư. Lộc biết rằng mình mới ra khỏi vùng lửa đạn. Rồi con tàu đi về đâu? Anh chỉ biết lờ mờ rằng tàu đang rời khỏi địa phận Việt Nam. Nó vội vã bỏ lại tất cả, vùng đồng bằng ruộng thẳng cánh cò bay hay miền núi đồi cao nguyên mầu mỡ của đất nước thân yêu. Bây giờ lênh đênh trong lòng tàu, đành phó mặc tất cả cho bàn tay người phi công đưa đẩy chuyến tàu viễn xứ.

Hơn nửa giờ đồng hồ sau, tâm hồn Lộc mới bình được đôi chút, và cái tò mò đang nảy nở mãnh liệt, thôi thúc trong anh. Đứng dậy, Lộc nhìn qua cánh cửa sổ. Ngoài trời vẫn còn nắng, phản chiếu ánh sáng bảy màu long lanh của vòng quay nơi đầu cánh quạt động cơ. Dưới kia là biển cả với màu xanh biếc của vùng nước mặn. Ra đi với cuộc đời mới, Lộc chẳng còn gì ngoài chùm chìa khóa vẫn còn nguyên trong túi quần. Thấy cộm, Lộc lấy ra đặt nó trong lòng bàn tay. Lắc đầu chán nản anh nghĩ thầm, "rồi đây nó sẽ trở thành vật lưu niệm duy nhất, đánh dấu một thời đã qua." Lộc mất mát quá nhiều, kể cả tuổi trẻ. Những ngày tháng rong chơi rồi cũng sẽ mất và tiếp nối bằng những ngày dài biệt xứ tay trắng tay. Lộc chẳng muốn nghĩ thêm gì nữa, phải chăng định mệnh đã an bài.

Quá mệt, Lộc ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Một giấc ngủ thật bình yên đến khi nghe tiếng bánh xe chạm mặt phi đạo Lộc mới choàng dậy. Ngơ ngác nhìn chung quanh. Tàu vào bến đậu. Lộc giụi mắt ngạc nhiên vì vẫn có những người lính Không Quân Việt Nam ra tiếp đón như thường ngày. Tiếp đón một phi vụ không được báo trước. Theo dòng người, Lộc bước xuống phi cơ. Ngoài trời nắng vẫn còn chói chang và gió biển thổi mạnh. Cơn gió có mùi vị khác với gió của thành phố nơi anh ở.

Côn Sơn là đây, có người cho Lộc biết như thế. Một hòn đảo phía nam của dải đất hình chữ S. Và anh đã bàng hoàng xúc động. Lộc chưa ra khỏi đất nước anh. May quá Lộc còn có ngày trở về. Anh vươn vai, chưa biết đi về đâu và phải làm gì bây giờ. Nhìn trước mặt, bãi biển xa tắp tận chân mây, phía đằng sau là núi đồi xanh ngắt.

- Anh có thấy gì tại sân đậu TSN trước khi tàu cất cánh không?
Tiếng một người lạ đến làm quen. Lộc trả lời:
- Thấy chứ, ai mà chẳng thấy cảnh khói lửa hãi hùng ấy.

Người bạn mới quen nhìn thẳng vào mắt Lộc nói:
- Không, tôi muốn nói đến người phi công bị tàu cán, nằm sóng soải trên mặt đất.
Lộc ngạc nhiên hỏi vội:
- Hả, chuyện thật không?
Giọng trả lời quả quyết:
- Chính mắt tôi trông thấy mà.

Chuyện hi hữu thật, phi công mà bị máy bay cán chết ở dưới đất. Nếu quả đúng như vậy thì đây cũng không phải là lần đầu tiên Lộc nghe được cái tin như thế. Mấy năm trước đây khi nghe một chuyện thật trớ trêu, anh đã bùi ngùi thương tiếc. Tại phi trường Pleiku, chỉ sau vài phút rời tàu, một ông quan tư tàu bay đã bị cán chết. Quái ác thay lại bị chính con tàu B-57 mình vừa điều khiển vài phút trước đó. Bây giờ trong hoàn cảnh này Lộc lại nghe thêm một tin tương tự. Một ông quan năm phi công cũng bị cán chết bởi C.130, loại tàu mà chính ông ta đã từng bay nhiều giờ. Trong những trường hợp hi hữu như thế này, có thể gọi là sinh nghề tử nghiệp không, hay đó chỉ là số mạng.

 

Ở lại Côn Sơn qua một đêm, những chiếc tàu C 119 đáp vội chiều qua, vẫn còn nằm rải rác quanh đây, bây giờ không sử dụng được nữa vì thiếu nhân viên kỹ thuật. Nghe nói dường như mỗi sáng, nhân viên kỹ thật phải điều chỉnh hệ thống gì đó ở cánh quạt thì tàu mới quay máy được. Lộc không phải là dân kỹ thuật nên không được biết. Chỉ biết rõ có một điều duy nhất bây giờ là, với số gia đình của nhân viên phi đoàn C 130 nay lại cộng thêm với số người mà tàu C 119 chở ra đây, chắc chắn với hai chiếc C 130 còn lại, không thế nào chở hết được số người hiện có tại đảo. Người ta đang lo và tiên đoán sẽ có một sự lộn xộn tranh giành có thể đem tới sự ẩu đả sẽ xảy ra. Mới sáng sớm, người ta làm danh sách lên tàu. Ưu tiên dành cho nhân viên của phi đoàn C 130 trước nhất. Rồi tới các phi công của các loại tàu chiến đấu, đa số là F5, A 37. Còn dân trực thăng may mắn hơn vì có một số tàu từ phi trường Bình Thủy bay tới, ghé qua đây đổ tí xăng cho an toàn, rồi lên đường ra hạm đội.

Quang cảnh lấy xăng thật vui, mới đầu mấy ông C 130 chê xăng nhớt ở vùng tỉnh lẻ, sau đó tính toán lại thấy lượng xăng không đủ để bay qua ThaiLan. Lệnh cấm đổ xăng được ban ra khẩn cấp. Xăng để dành cho C 130 mà thôi. Thế là cảnh ta về ta tắm ao ta, mấy ông C 130 cởi trần để tát gầu sòng. Những chiếc nón sắt được chuyền cho nhau để múc từng nón đầy xăng JP4, kéo lên cao, đổ vào miệng bình xăng nhỏ xíu. Khi người Hoa Kỳ chế tạo những chiếc máy bay này chắc chắn họ không bao giờ ngờ được có ngày hôm nay.

Cái hình ảnh "hò dô ta" chỉ xảy ra một lần duy nhất như thế trong cảnh tượng thật đau lòng này. Ôi Không Quân danh tiếng muôn đời. Cả tiếng đồng hồ, những chiếc nón sắt đầy xăng được luân chuyển hầu như chẳng thấm vào đâu với cánh đại bàng C 130. Trong bối cảnh ấy, trên phi đạo, một chiếc Dakota C 47 đang vội cất cánh. Họ về lại Saigon cùng với những người đổi ý không muốn rời quê hương, trở về lại nơi sinh sống hàng ngày. Người phi công của chiếc tàu này có lẽ trong lúc hấp tấp đã bỏ quên gia đình. Lộc không biết họ về lại thật hay họ đã "xé lẻ" trước tình trạng nhận thấy số người ứ đọng đứng quanh đây.

Ông thiếu tá H. xuất thân từ trường võ bị Đàlạt gọi mời họp. Tất cả có bốn ông tá Không Quân trên hòn đảo thanh vắng này. Cả bốn ông đều là phi công nhưng lái các loại tàu khác nhau. C 130, C 119, F 5 và L19. Mặc dù Bộ tư lệnh Sư đoàn V Không Quân đã đề cử một ông tá khác ra đây từ chiều hôm trước để điều hành. Nhưng bây giờ tình hình đã thay đổi ngay khi có lệnh tan hàng từ đài phát thanh. Ngay khi bắt đầu buổi họp khẩn cấp này, ông thiếu tá H. đã tỏ ra là người có bản lĩnh.

Ông nói thật rõ ràng. "Cấp bậc cao nhất ở đây là thiếu tá, tôi không kể thâm niên, vì là sĩ quan hiện dịch xuất thân từ trường Võ Bị Quốc Gia. Tôi có bổn phận và trách nhiệm phải điều hành công việc này". Mới đầu thì có tiếng xù xì nhưng sau rồi cũng êm vì tất cả nhận thấy có lý. Mười lăm phút sau, một L19 đã nhận lệnh cất cánh đi tìm tàu Hải Quân Hoa Kỳ ngoài khơi để liên lạc. Sau đó chiếc L19 đã đáp lại Côn Sơn. Có tin đã liên lạc được với Hải Quân Hoa Kỳ và họ đang tìm cách để gọi một thương thuyền, ghé vào đảo để đón dân tị nạn.
 


Tưởng một điều cũng nên nói rõ ở đây, Côn Sơn là một trung tâm nhốt tù cộng sản lớn nhất của Việt nam. Bây giờ trong tình trạng hỗn quân hỗn quan, không ai coi trại tù cả. Mặc dù sau cuộc trao trả tù binh vừa qua nhưng một số tù nhân vẫn còn lại đủ để gây khó dễ cho nhóm gia đình quân nhân vừa tới đảo. Thể theo lời yêu cầu của thiếu tá H., tiểu khu Côn Sơn đã cho tăng cường một tiểu đội giữ an ninh phi trường. Tiểu đội này chia làm hai tổ, gác giữ hai đầu con đường dẫn tới phi đạo. Hai khẩu đại liên ba mươi hướng về phía trại tù. Nhưng độ vài giờ sau, dường như hai khẩu súng này đã đổi hướng. Thấy vậy thiếu tá H. giục anh em và gia đình lên tàu. Số dân còn lại đông quá, cũng may là họ rất kỷ luật và kiên nhẫn đợi chiếc thương thuyền đang cặp bến.

Trên đường bay nhỏ của đảo Côn Sơn, chiếc C130 chót cất cánh nặng trĩu, khó khăn với đường bay thật ngắn mà sức chở đã quá sức ấn định. Đã tới cuối phi đạo rồi mà tàu thì vẫn còn lưỡng lự chưa chịu lên. Gió quạt của bốn động cơ bán phản lực thổi bụi cát bay mù cuối sân. Người ta thấy nước biển tung tóe sát bánh xe và con tàu cứng đầu vẫn lầm lì không chịu cất cánh lên cao. Như một phản ứng tự nhiên, có vài người vội vã chạy dọc theo phi đạo tiến về hướng biển, tưởng rằng con tàu sẽ gặp khó dễ. Nhưng không, nó đã chuyển mình.

Trông xa như một tàu ngầm vừa trồi lên khỏi mặt nước. Tàu ở vị thế sà sà mặt biển rất lâu như gượng gạo né tránh làn nước mặn đang cố với tay xoa bụng tàu. Con tàu càng lúc càng xa bờ đất liền. Bao nhiêu con mắt vẫn hồi hộp ngó theo, cầu mong sao cho nó tai qua nạn khỏi. Chiếc C130, hiền từ nhẫn nại như một con diều hâu già uể oải, bay thật thấp ra mãi tận ngoài khơi rồi cuối cùng nó cũng gượng gạo lên được. Nó bắt đầu bay vòng lại chậm chạp với độ nghiêng cánh thật lơi. Vòng qua phi đạo lần chót, khoảng một ngàn bộ trên cao, nhẹ lắc cánh như còn lưu luyến, rồi ngập ngừng bay về hướng tây bắc, giã từ tất cả những cam go, hãi hùng để chấp nhận một tương lai rất gần mà chẳng ai biết sẽ ra sao.

Ôi Côn Sơn! Sóng biển vô tư đập vào bờ đá, bọt biển trắng xóa tung tóe dưới chân Lộc. Lệ ướt tràn mi liệu nước mắt có mặn bằng hơi bụi bọt biển, đang vương mí mắt. Vào phút chót, nhớ tới bà mẹ già, nhớ tới gia đình, anh em và bát canh rau ngót đượm vị ngọt mùi thịt heo và những trái cà pháo trắng đơn sơ, Lộc đã quyết định ở lại đây trên mảnh đất cằn cỗi này, đứng một mình bơ vơ, lạc lõng nhìn cánh chim trời. Lộc cúi đầu thầm nghĩ. Nó sẽ bay về đâu? Thôi hết rồi! Con chim đang lủi thủi lặng lẽ giã từ tất cả, rời xa phi đạo, con đường bay nho nhỏ, mẩu đất cuối cùng của quê mẹ thân yêu. Nó chao cánh, lưu luyến, nghiêng mình chào vĩnh biệt vùng trời hoang vắng.

Bóng dáng con tàu viễn xứ chìm vào chân mây, nhỏ xíu như cánh nhạn cô đơn. Bất giác Lộc giơ cao tay, vẫy chào lần chót, miệng lẩm bẩm "...thôi nhé bay đi, bay thật xa đi cánh chim nhỏ hiền hòa..."
 

ĐQV. C130/435

Cám ơn anh Yên Sơn đã chia sẻ bài viết của niên trưởng ĐQV với GNST

-----------

Hình minh họa- internet

KQ (Moderator)

 

F5 light fighter, Squadron 530 VNAF.

Xem thêm...

Tìm hiểu vài nét cơ bản về Nghệ thuật Hát Chèo

Tìm hiểu vài nét cơ bản về Nghệ thuật Hát Chèo

▂ ▃ ▅ ▆ █☆★█ ▆ ▅ ▃

Lời mở đầu của người viết: Sự hiểu biết của tôi trong bài viết này chỉ là những hiểu biết cóp nhặt, theo chân những bậc thức giả chuyên ngành để tìm tòi học hỏi.

Dân ca nước ta, trong đó có môn hát chèo, được coi là rất hay và thâm thúy lắm. Để hiểu biết và thưởng thức được những nghệ thuật trình diễn và các làn điệu dân ca, chúng ta cũng phải mất nhiều công sức để tìm tòi, học hỏi.

Vai trò quan trọng trong nghệ thuật ca vũ dân gian thường là những những diễn viên. Họ được trui luyện bởi những kinh nghiệm trong thực tế. Những kinh nghiệm ấy được gạn lọc, bồi đắp từ thế hệ này truyền qua thế hệ khác để họ có thể đem những điệu múa, điệu hát dân ca đi khắp các nơi và trường tồn trong lòng người dân khắp miền đất nước, đặc biệt là trong lòng những người dân quê được thể hiện qua những ngày lễ hội, đình đám trong thôn làng. Tuy vậy mỗi địa phương, mỗi làng, các làn điệu ca lại có sự phát triển riêng của nó để mang những nét đặc thù, như làng Khuốc ở Thái Bình hay ở cố đô Hoa Lư thì chú trọng nhiều về hát chèo, làng Lim ở Bắc Ninh thì phát triển về hát quan họ chẳng hạn.

Nay chúng ta thử tìm hiểu vài nét cơ bản được giới hạn trong hát chèo.

Hát chèo là gì?

 Về mặt lịch sử

Bà Trần Thị Trân, sinh năm 926, quê ở Hồng Châu (Hưng Yên), có tài ca, múa và làm trò nổi tiếng. Khi vua Đinh Tiên Hoàng vừa thống nhất đất nước, xây dựng đội quân Thập đạo lớn mạnh lên tới chục vạn người. Vua mời bà Trân về kinh đô để chuyên dậy biểu diễn nghệ thuật cho quân sĩ vui chơi, giải trí.

Bà Trần Thị Trân đã cùng nhiều nghệ sĩ dân gian khác dạy cho quân sĩ hát, múa, gẩy đàn, đánh trống ... Lại tổng hợp các bộ môn đó để tạo thành những vở tuồng tích đơn giản diễn tả cuộc sống hàng ngày. Bà được vua Đinh phong cho chức Ưu Bà. Nghệ thuật chèo phát sinh từ đó. Bà mất vào năm 976, và được suy tôn là bà Tổ của nghề chèo.

 Nguồn gốc hình thành Chèo

Chèo là một trong những nghệ thuật sân khấu cổ truyền của Việt Nam. Nó được hết sức phổ biến trong nông thôn thuộc đồng bằng sông Hồng và trung du miền Bắc. Vùng đất Hoa Lư là cái nôi của chèo, và từ cái nôi ấy, dù có biết bao thăng trầm lịch sử của đất nước, chèo vẫn không ngừng phát triển. Do đó chứng tỏ, nó có một một chỗ đứng quan trọng trong nền văn hoá dân gian nước ta.

Chèo là hình thức sinh hoạt văn hóa nghệ thuật quen thuộc và phong phú từ bao đời nay nhờ cái tính chất trữ tình, diễn tả nội tâm sâu sắc với sự kết hợp của hàng loạt yếu tố khác như hát, múa, nhạc, kịch vô cùng độc đáo. Niềm đam mê chèo của người Việt được thể hiện qua những câu thơ:

Ăn no rồi lại nằm khoèo

Nghe giục trống chèo vỗ bụng đi xem

Chẳng thèm ăn chả ăn nem

Thèm no cơm tẻ, thèm xem hát chèo.

Đặc điểm của nghệ thuật hát Chèo

 Nhắc đến chèo ở Thái Bình, ta nhớ tới hai câu ca dao “chèo làng Khuốc”, một dòng chèo nổi tiếng và đặc biệt của làng này.

Hỡi cô thắt dải lưng xanh

Có xem chèo Khuốc với anh thì về

Nhắc đến chèo ở Nam Định, ta nhớ tới câu thơ của thi sĩ Nguyễn Bính nói về dòng chèo ở làng Đặng:

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ

Mẹ bảo: "Thôn Đoài hát tối nay”.

Đứng về mặt nghệ thuật sân khấu dân gian cổ mang mầu sắc văn hoá dân tộc, ngoài chèo ra ta cũng có hát tuồng (miền Bắc và Trung) hay hát bội (miền Nam) cũng có những câu ca dao:

Tháng năm ngày tám nằm suông,    

Nghe dục trống tuồng, bế bụng đi xem.

Và:  

Má ơi đừng đánh con đau,        

Để con hát bội làm đào má coi.    
Vào các dịp hội hè đình đám ở nông thôn miền Bắc ít khi nào không nghe thấy tiếng trống chèo. Chèo được trình diễn bởi những “phường chèo”, do sự kết hợp của những nghệ sĩ không chuyên nghiệp, thường là những người ngày thường thì đi làm ruộng, lúc có “đám” mới tụ tập nhau lại để đi hát, có khi kéo dài hàng tháng tới khi lúa chín mới về. Những phường chèo như thế có chừng khoảng ít ra là mươi, mười lăm người. Ông trùm phụ trách chung, ông thơ tìm tích, đặt câu, phân vai..., bẩy tám người làm đào, kép, lão, mụ, hề, một dàn nhạc với vài nhạc công.       Những vở tuồng chèo cổ thường được trình diễn và mang sắc thái biểu tượng mà người nào cũng ưa thích xem như Trương Viên, Lưu Bình, Quan Âm, Tống Trân Cúc Hoa, Lý Công, Từ Thức, Phạm Công, Kim Nham. . . 

 Kịch bản văn học trong hát Chèo

Về mặt chuyên môn

Để có một vài ý niệm cơ bản về chèo, chúng ta lưu tâm vài điểm sơ đẳng như sau:

Sân khấu chèo: Ngày xưa, các phường chèo phần lớn đi lưu diễn tại các thôn làng chung quanh, có khi cũng xa xôi. Phương tiện trình diễn thì rất eo hẹp, thường diễn ở sân đình, sân chùa hay thửa đất trống trong làng, trong xóm. Hay trên cái sân gạch của những nhà phú hộ khi có đình đám trong nhà, họ thuê phường chèo về diễn để mua vui. Sân khấu chỉ là ba bốn chiếc chiếu ghép liền lại với nhau. Có một chiếc màn vải che để phân biệt sân khấu với hậu trường. Nhạc công ngồi ngay bên cạnh. Người xem ngồi chung quanh, rất gần với các diễn viên
đang trình diễn.

Y phục: Trang phục của các diễn viên trên sân khấu chèo cổ thường giống những bộ quần áo mặc hàng ngày của những người dân quê hay những bộ quần   áo mặc trong hội hè, lễ tết. Tuy nhiên mầu sắc có rực rỡ hơn tuỳ vai trò để phù     hợp với sân khấu. Trang phục của vai nữ có khác nhau tùy vai đóng, được xem   như   một khía cạnh thể hiện từng hoàn cảnh hay nội tâm của mỗi nhân vật. Người ta chia diễn viên nữ thành hai nhóm: chín và lệch. 

Nhóm chín hay còn gọi là nhóm nữ thuận, những người phụ nữ tiêu biểu cho lễ giáo phong kiến như tam tòng, tứ đức, nết na, chung thuỷ, đảm đang ... Trang phục của nhóm này phải kín đáo phù hợp với đức tính đoan trang, thùy mị. Thường là mặc áo dài cặp sa, mớ ba, mớ bẩy. Những vai này như nàng Châu Long trong tích Lưu Bình (đã đi nuôi bạn thay chồng mà vẫn giữ được đạo vợ chồng thủy chung), như Thị Kính trong tích Quan Âm (chịu oan khuất giết chồng), Trinh Nguyên trong tích Tôn Mạnh-Tôn Trọng (đã tình nguyện chọn đứa con trai ruột của mình để chết thay cho con chồng), Thị Phương trong tích Trương Viên (18 năm vất vả, vẫn một lòng thủy chung với chồng nơi xa, vẫn thành tâm nuôi mẹ chồng hết mực). 

Diễn xuất trong Chèo

Nhóm lệch hay còn gọi là nhóm nữ nghịch, những người phụ nữ có tư duy hay hành động trái với lễ giáo, lại lẳng lơ, không theo phép tắc Khổng Mạnh. Trang phục của nhóm này thường là tấm áo dài tứ thân mầu sặc sỡ. Những vai này như Xuý Vân trong tích Kim Nham (đã gỉa điên để ruồng rẫy chồng và đi theo trai), Thị Mầu trong tích Quan Âm (đã lên chùa ghẹo tiểu Kính, về nhà ngủ với Nô để có con, không sợ phạt vạ của xã), Thiệt Thê trong tích Chu Mãi Thần (bỏ chồng để làm thiếp cho người khác).

Ngoài ra trong các vai mụ, trang phục cũng có khác như mụ giầu và mụ nghèo.

Nhạc cụ: nhạc cụ gồm bộ gõ như trống đế, trống cơm, trống ban, trống bộc, trống cái, thanh la, chuông, cảnh, tiu, chũm chọe ... mà trống là phổ biến nhất; kèm theo đấy cũng còn có bộ dây như nhị, hồ, nguyệt, bầu, tam thập lục; bộ trúc hay bộ hơi như sáo, tiêu, kèn ... Tùy theo câu truyện tuồng tích mà người ta sử dụng nhạc cụ khác nhau cho phù hợp. Trong ba bộ kể trên, bộ gõ là loại phổ biến nhất, đa dạng và có nguồn gốc lâu đời nhất vì chúng là sản phẩm của nghề nông nghiệp lúa nước mà ra. Trống tạo nên tiếng sấm, cầu đảo mưa, xin cho mưa thuận gió hòa. Đan cử, ta hãy nghe bà Hồ Xuân Hương vịnh cảnh chùa gồm vài nhạc cụ thuộc bộ gõ: 

Mỹ thuật trong Chèo

 Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe, 

Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.

Âm nhạc gắn bó với tuồng tích chèo như hình với bóng. Nhạc không chỉ làm nền, nó còn hoà quyện với lời ca, tiếng kể của diễn viên, hoạt cảnh. Nó thẩm thấu vào lời thơ, khi ẩn khi hiện, khi mạnh khi yếu, khi hỉ nộ, khi bi ai, biến hóa vô cùng để vở diễn trở nên linh động và lột được hết cái tinh túy của tuồng tích trong suốt buổi trình diễn. 

 Đạo diễn trong hát Chèo          

Trình diễn: Múa chèo gồm 5 động tác chính. Nhóm chạy đàn, có những bước đi lúc chậm lúc nhanh, lúc thanh thoát, lúc uyển chuyển, vui buồn, sâu lắng, mênh mông. Nhóm dâng hoa, tả những cảnh bồng bềnh sông nước, tâm trạng rạng rỡ, gắn bó, duyên tình. Nhóm dâng rượu, với những động tác nghiêm trang, kính cẩn. Nhóm cướp bông, động tác đầy ngẫu hứng. Nhóm tấu nhạc, gồm những tiết tấu lập đi lập lại, nhấn mạnh ... Từ năm nhóm này làm cơ sở, múa được phối hợp với nhiều động tác hoa mỹ mà biến hóa ra muôn hình, muôn vẻ để diễn tả được đầy đủ những trạng thái của hoàn cảnh và tâm hồn mà vai trò đòi hỏi.       

http://www.mtv.vn/editor/Upload_t8910_09/DCC_1249873111.jpg

Chèo cho ta thấy có tính linh hoạt. Những diễn viên không nhất thiết phải tuân thủ bài bản và diễn xuất một cách chặt chẽ. Tùy theo hoàn cảnh nơi địa phương hay người xem thích cái gì mà biến đổi theo cho phù hợp, như khi người nghe thích nghe hát thì tăng phần hát, khi người xem thích hài thì phải phải tăng phần hài lên... Do đó mà tuồng tích đôi khi không giống nhau và có nhiều dị bản. Người xem và người trình diễn lại ở vị trí rất gần nhau nên những lời phê bình, khen thưởng hay bầy tỏ ý kiến thường được diễn viên “bắt” được rất nhanh để thay đổi cho phù hợp với sở thích của người xem. Sự thay đổi bất ngờ này đòi hỏi những diễn viên phải thật nhanh trí và ứng khẩu nói, hay hát một cách linh động. Và diễn viên cũng có thể xuất thần biến đổi cách trình diễn, cách hát để “lột” được cái tinh túy của vở tuồng tích hay khả năng diễn xuất của mình. Quan hệ giữa người xem và diễn viên rất khắng khít bởi cái không gian sân khấu không lớn lắm. 

 Hát chèo trong tiềm thức dân gian Việt | Ban Dân vận Trung ương

Ngay cả trong phần âm nhạc cũng vậy, các nhạc công cũng có thể uyển chuyển cho phù hợp với nhu cầu miễn sao đoạn khởi đầu và kết cuộc phải đúng theo quy luật mà thôi. Đoạn giữa, nhạc công được phóng túng, tùy nghi để bộc lộ hết cái tài   năng của mình.  

Chèo kết hợp hát, múa, nhạc và kịch. Có câu “nhất cử nhất động giai điểm vũ”, tức mỗi động tác của chèo đều mang tính múa. Múa ở đây không mang tính chất trừu tượng, tượng trưng hay ước lệ mà là những hình ảnh sinh hoạt, lao động của nông thôn diễn ra hàng ngày. Ở chèo nhiều động tác tưởng chừng như không phải là múa như đi, đứng, đổi vị trí, giao tiếp .v.v ... mà lại là múa.       

 Các tác phẩm Chèo ấn tượng

Múa trong tuồng chèo xây dựng trên cơ sở tương quan cặp đôi giữa các bộ phận của cơ thể và động tác. Nó phải dựa trên nguyên lý đối xứng, hài hòa và tuân thủ luật âm dương một cách chặt chẽ. Đội hình múa phổ biến là hình tròn và vuông. Khi chân này làm trụ thì chân kia duỗi ra. Nếu phải di chuyển thì tiến về phía trước bao nhiêu thì sẽ lùi lại phía sau bấy nhiêu. Tay phải nâng lên cao thì tay trái phải hạ xuống thấp. Tay phải chỉ về phía trước thì tay trái bỏ xuôi ra phía sau. Muốn chỉ tay sang phải thì chân phải bước sang trái rồi mới day sang phải. Ngoài ra sự hài hòa còn được tạo nên bởi sự tương phản, chế ngự lẫn nhau. Phải có sự tương quan giữa nội tâm và ngoại cảnh, giữa múa với hát, nghĩa là múa phải đi sát với lời văn (chữ đâu bộ đó).

blank

 Dựa vào những nghệ thuật lẫn kỹ thuật cơ bản, múa của chèo phải thể hiện được cái uyển chuyển nhịp nhàng của con người. Múa chèo hay dùng đôi tay, cánh tay, cổ tay, kể cả ngón tay để hòa nhập với sự diễn xuất của cả toàn thân mà đặc biệt là với đôi mắt. Có người nói không ngoa là “bàn tay chèo” là bàn tay “biết nói”, là nhụy hoa của tâm hồn, là những gì tinh túy được bộc lộ qua nhân vật chèo. Với đôi bàn tay khéo léo trong từng cử chỉ, trong từng động tác để tạo nên cái “thần” của nhân vật, tạo được sự thành công của người diễn. Diễn viên cũng hay dùng quạt, biến hóa, sinh động khi xoay khi mở, khi xòe khi khép, khi là trang sách, khi là đề thơ.

http://nghethuatbieudien.vn/../../../../../../../../../../upload/ntbd/Tin%20moi%2011-2011/M1.jpg Mỗi vai đều có cái khó riêng của nó. Ví dụ như vai thư sinh thì đòi hỏi diễn viên có hình thể tương đối đẹp, khoan thai, nhẹ nhàng, dung dị. Còn vai phản diện thì phải có nét mặt hoặc cách diễn mang tính chất hơi đểu. Kể cả tiếng nói, ngôn ngữ và động tác.

Tuy múa chèo có bài bản, luật lệ nghiêm khắc nhưng sự thành công của vở chèo cũng còn phải phụ thuộc vào nghệ thuật biểu diễn, tài năng, khả năng linh động và ngẫu hứng của diễn viên làm múa chèo có vẻ đẹp đa dạng, phong phú, xem không biết chán.

 Về nghệ thuật trang phục sân khấu chèo truyền thống hiện nay - Redsvn.net

Hài trong chèo cổ: Trong chèo thì không thể thiếu hài. Hài được những anh hề đảm trách. Hề có hề mồi, hề gậy... Có những nhân vật không phải là hề nhưng với diễn xuất của họ cũng vẫn làm người xem phải cười như những vai thầy bói, thầy cúng. Như bên cạnh cái bi ai của Thị Kính thì lại có Thị Mầu, Xã trưởng, mẹ Đốp làm người xem khóc đấy rồi lại cười đấy. 

 Nghệ thuật hát chèo trong tâm thức người Việt - Thông Tin - Tin Tức

Hề chèo thì bắt buộc phải vừa hát, vừa diễn, lại phải nhân cách hóa, cách điệu. Hơn nữa phải biết kết hợp giữa hát, múa, diễn cho hài hòa, mới tạo ra tính cách của một vai hề. Xưa nay, người ta vẫn cho rằng hề chẳng qua chỉ là vai phụ trong một vở diễn. Đó là một quan niệm sai lầm. Hề có số phận hẳn hoi, đóng góp không nhỏ vào sự thành công của vở diễn. Một vở diễn không có tiếng cười thì là vở diễn kém sự thành công.

Hát hề chèo rất khó vì phải đưa được cái hồn của hề vào. Nó có chất vừa dí dỏm, vừa phóng khoáng, vừa mang tính chất châm chọc, châm biếm, đả kích, dí dỏm bằng ngôn từ, hành động, động tác, cử chỉ, điệu hát… phối kết lại. Hề chèo chửi hay, chửi duyên dáng, chửi lịch thiệp. Đó là nhân vật hề chèo. 

Nghệ thuật hát chèo trong tâm thức người Việt

“Phi hề bất thành chèo”. Để diễn được một vai cho ra chất hề là không hề đơn giản. Người diễn viên thủ vai hề không thể thiếu được sự sáng tạo trong từng vai diễn để đem lại cho khán giả những tiếng cười sảng khoái trên sân khấu và cả những nụ cười ý nhị, sâu sắc như mục đích cha ông ta sáng tạo ra vai hề trong nghệ thuật chèo.

Vai chính diện hoặc phản diện thì thông thường tìm dễ hơn. Nhưng hề chèo cần có cái khiếu đặc biệt. Đào tạo ra nghệ sỹ hề chèo thì vẫn có nhưng để theo kịp, làm được những thứ như các cụ ngày xưa thì rất khó. Vì hề chèo đòi hỏi nhiều yếu tố rất khắt khe.” (Trích theo N/S Quốc Trượng)

 Chèo - cái hồn của nghệ thuật dân tộc

Dường như trong chèo cổ, cái cười ngày càng chiếm thời gian dài, càng chú ý phản ánh những thói hư tật xấu của người đời. Điều đó, làm cho tính xã hội của chèo ngày mỗi nổi đậm về sau.

Một nhân vật thật đáng yêu về cái hồn hậu chất phát, như lão say qua cặp thơ “lục bát”. Kết hợp với hình ảnh một diễn viên râu tóc bạc phơ, khăn quấn, áo cánh lụa điều, quần lụa mỡ gà, ống hơi xếch, mắt hóm hỉnh, tay chống gậy trúc dài, bước bập bỗng xiêu vẹo, chân nam đá chân chiêu, rõ ra ông già say rượu phóng khoáng, mát tính, lấy câu “tửu lạc vong bần” (rượu vui quên nghèo) tiêu khiển... khiến ai xem cũng cười xoà thoải mái. 

  Nghệ thuật chèo và những trăn trở về tương lai - Báo Phụ Nữ

Ai ơi chơi lấy kẻo già
Măng mọc quá lứa duyên ta nhỡ thì.

Hai câu thơ được hát theo chèo:

Chơi chơi lấy a/a/a/a/ kẻo ối a/ối/i i già i/i i i /i i i.
Này ối ai ơi chơi lấy kẻo/ i/ già, măng mọc quá lứa duyên đôi ta nhỡ i/ới/i i/i i i

i/thì //a// nhỡ thì đôi ta. . . (Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam -Trần Ngọc Thêm)

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/d/d7/Hatcheo.jpg/250px-Hatcheo.jpg

Lão say

Đi nghe hát chèo hay xem hát chèo? > Đài phát thanh và truyền hình Vĩnh Phúc

Phù thủy

C:\Users\Hung\Pictures\New folder\cheo gay.png

Hề gậy

Thông thường hề chèo được chia ra làm hai loại:

Hề áo ngắn: Hề mặc áo ngắn, mầu sắc, sạch sẽ thường đi theo một thư sinh hay một ông quan gọi là hề theo. Hề này luôn tỏ ra khôn ngoan, trí tuệ trong những lời đối thoại. Có loại chuyên cầm gậy gọi là hề gậy. Có loại ra diễn xuất trước vai quan gọi là hề cung đình. Có loại thường diễn đôi, cầm mồi lửa trong tay để múa thay vì quạt hay gậy gọi là hề mồi.

Hề áo chùng (hay áo dài): Loại hề này thường mặc áo dài, hóa trang xấu xí, nhọ nhem như phù thủy, thầy bói, thầy đồ dốt. Họ tự chế diễu mình, tự châm biếm bằng những cử chỉ và lời nói diễu cợt để chọc cười như trong những vở tuồng tích Phù thủy sợ ma, Thầy bói nói mò, Thầy đồ dốt chữ.

Tiếng đế: Là lời nói của người xem chen vào do ngẫu hứng. Những lời đế thêm vào đó thấy hay quá, đúng chỗ quá, có duyên quá nên lần diễn sau người xem lại chêm vào câu đế đó, gọi chung là “tiếng đế”. Lần lần, những tiếng đế ấy lại trở thành một “thành phần” của vở tuồng, không thể thiếu được. Tới đoạn diễn đó, nếu người xem không đưa tiếng đế vào thì một người trong phường chèo ở hậu trường cất lên thế cho người xem. Tiếng đế trở thành vừa là lời nói của người xem mà nó cũng vừa trở nên một phần của vở diễn.

Thí dụ như trong vở Quan Âm, Thị Mầu đang chạy vòng vòng ve vãn chú tiểu Kính Tâm là gái gỉa trai. Thị Mầu đã dần lượn tới gần chú tiểu và sắp dở trò xàm xỡ thì một khán giả tinh nghịch lên tiếng lớn: “Mầu ơi, ở nhà mày người ta bắt hết bò rồi!”. Diễn viên đóng vai Thị Mầu đã nhanh trí, đứng lại, hai tay chống nạnh, miệng cong cớn mà rằng: “Nhà tao còn khối trâu!”. Thế là Thị Mầu tỏ được cái giầu có của nhà phú hộ mà lại hư thân tỏ ra bất cần để tiếp tục ve vãn chú tiểu. Tiếng đế ấy hay quá và có duyên qúa nên cứ mỗi lần trình diễn tới đoạn ấy thì lại chêm tiếng đế ấy vào vở tuồng.

Câu đế làm cho không khí trình diễn trở nên uyển chuyển và linh động, có khi đang bi lại trở thành hài, hay đang trang nghiêm lại trở thành đùa cợt. Tiếng đế là tiếng nói của người xem, có khi chúng là những câu hỏi khi thắc mắc, là những câu khen, câu chê, câu bỡn đùa nghịch ngẫu hứng. Tiếng đế phát xuất từ người xem nên đôi khi diễn viên bị thụ động, bị lâm vào thế bị động. Diễn viên phải thật nhanh trí để hóa giải.

 NGHỆ THUẬT TRANG PHỤC SÂN KHẤU CHÈO TRUYỀN THỐNG HIỆN NAY

Trong vở Tôn Mạnh-Tôn Trọng có đoạn như thế này:

Thầy bói: Ông tam đại nhà mày chết ban ngày đây.

Tiếng đế: Thác ban đêm!

Thầy bói: Ờ ờ . . . nhẽ ra thì thác ban ngày / Thương con nhớ vợ hồn rày thác

đêm! Ngôi mộ này để ở ruộng cầy đấy.

Tiếng đế: Để trên gò chứ!

Thầy bói: Ờ ờ . . . Nhẽ ra thì để ruộng cầy/ Bỗng dưng nước lụt khiêng ngay lên

 gò.

Thậm chí tiếng đế còn tranh cả vai của ông trùm-người chỉ huy đêm diễn:

Tiếng đế: Trong buồng trò có thầy bói nào không, cho tôi mượn một ông nào!

Thầy bói (cắp tráp đi ra): Thầy bói thì không có, nhưng mà giả thông manh thì vô khối đây!”

(Trích trong Tìm Về Bản Sắc Văn Hoá VN-Trần ngọc Thêm)

 Khởi dựng vở chèo “Chuyện tình một quân vương” | Báo Dân tộc và Phát triển

Do đó tiếng đế chính là hình ảnh truyền thống dân chủ của nền văn hóa làng xã nông nghiệp.

Người cầm chầu: Khi phường chèo đi đến làng nào trình diễn thì làng ấy thường đề cử ra một người cầm chầu, thường là người vai vế trong làng. Người này ngồi ngay góc chiếu sân khấu để “cầm trịch” suốt buổi trình diễn với chiếc “trống chầu”. Ông là người ngồi chầu (nhìn) để lên tiếng thưởng, phạt, khen, chê sự trình diễn của phường chèo bằng cách gõ vào trống chầu. Ông là người thông hiểu về tuồng tích, sành về nghệ thuật, biết nhiều làn điệu của chèo. Đêm hát chèo sôi nổi, giòn gĩa hay tẻ nhạt một phần cũng do người này. 

 Hát chèo là gì? Đặc điểm, phân loại, nguồn gốc hình thành Chèo

Quy luật khen chê được quy định bởi cách đánh trống. Quy ước đó được ấn định như sau: 9 tiếng là trống dục, 1 tiếng là để điểm câu, 2 tiếng là khen vừa, 3 tiếng là khen nhiều; 1 tiếng “tịch” (một dùi chặn, 1 dùi đánh) là chê, đánh “cắc” vào tang trống là chê nhiều cần góp ý với ông bầu. Ông cầm chầu có quyền đòi hỏi “bác” thơ cho thay diễn viên. Sự liên hệ mật thiết gìữa người cầm chầu, đại diện cho người xem và phường chèo luôn giữ được sự gần gũi và tạo được sự cân bằng giữa người thưởng thức có trình độ nghệ thuật cao với các diễn viên trình diễn chứ không thể khen chê một cách bát nháo của đám đông được.

Có một câu chuyện kể:

Tương truyền trong tư dinh của tả tướng quân Lê Văn Duyệt diễn vở Võ Thành Lâm. Theo tích, khi trung thần bị giặc đuổi tới bờ sông, đang lúng túng thì có con cá chép thần nổi lên cõng người trung thần sang sông. Ngồi trên lưng cá thần, người kép đóng vai người trung thần xúc cảm cất tiếng hát:

Cưỡi ô mã qua miền hải ngạn,   

Cõng tiên hoàng tỏ rạng đường non  

Vẩn vơ cá lội như cò . . . Họ. . .họ. . .

 Hát chèo là gì? Đặc điểm, phân loại, nguồn gốc hình thành Chèo

Ngài Lê văn Duyệt đang cầm chầu bèn đánh “cắc” một tiếng vào tang trống, miệng lớn tiếng gắt:  “Cá chứ đâu phải ngựa đâu mà “họ” mầy?”. Người kép nhanh trí hát tiếp: Họ. . . họ. . . Tưởng con ô mã ai ngờ lý ngư! Ngài Lê Văn Duyệt dù chưa hết bực nhưng cũng phải vung tay đánh trống hiệu ban thưởng cho người kép hát thông minh. (Trích trong Tìm về Bản Sắc Văn Hoá VN-Trần Ngọc Thêm)

Thơ trong chèo. Văn học chèo là văn học thơ và động tác chèo là động tác thơ. Những lời hát, những điệu múa, cho dù là múa không lời hát mà vẫn uyển chuyển, nhịp nhàng mang đầy vẻ đẹp và giúp thăng hoa cho ý nghĩa của “bài thơ động tác” một cách tuyệt vời. Người đạo diễn chèo phải là người biết về luật thơ để phối hợp nhuần nhuyễn giữa thơ và động tác để tạo thành một vở diễn thơ.

 Chèo – Nghệ thuật sân khấu truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa Việt Nam -  Ảnh chuyên đề - Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN)

Giáo huấn, khuyến giáo trong chèo: Nội dung của tuồng tích chèo có tích chất giáo huấn. Đề cao đức hạnh của người phụ nữ, ca tụng tinh thần trung hiếu, cái thiện thắng cái ác được thể hiện qua các vai “chín” hay vai thuận. Đả phá những thói hư tật xấu, cương thường đảo lộn của một xã hội nháo nhào được thể hiện qua các vai “lệch” hay vai “nghịch”.

Tuy nhiên những vai nữ nghịch trong chèo, như Thị Mầu lẳng lơ, chúng ta thấy không những không bị người xem ghét bỏ, căm giận như thường thấy ở trong tuồng hay trong hát bội mà ngược lại còn tỏ ra hào hứng hùa theo và yêu thích nữa. Phải chăng đó là thái độ khoan dung hoặc đồng cảm với vai diễn trong những hoàn cảnh nghịch lý của xã hội phong kiến ngày xưa.

 Để sân khấu truyền thống thành sản phẩm du lịch hấp dẫn - Bài cuối |  baotintuc.vn

Vài làn điệu chèo quen thuộc của Thái Bình: Chẳng biết từ thời nào, hát chèo, diễn chèo, xem chèo đã ăn sâu vào con tim người Việt Nam. Với người dân nông thôn ở châu thổ sông Hồng thì chèo được coi như là món ăn tinh thần dường như không thể thiếu được. Và cũng vì lý do đó, từ xưa đã thành hình nhiều thứ chèo như chèo Đông, chèo Đoài, chèo Nam và chèo Bắc.

Và rồi những năm tháng gần đây có nhiều thành phố, nhiều địa phương cứ tự nhận nơi ấy là cái nôi của ngành chèo. Thái Bình cũng khiêm nhường và trân trọng chỉ tự nhận mình là một trong những cái nôi chèo ấy trong cả nước mà thôi.

NGHỆ THUẬT TRANG PHỤC SÂN KHẤU CHÈO TRUYỀN THỐNG HIỆN NAY  

Những làn điệu chèo Thái Bình mà ta thường gặp:

– Hát Vỡ Nước

– Sa Lệch Chênh. Những lời hát nhắn nhủ tha thiết, hàm chứa lời trách móc của người bạn tình 

– Du Xuân. Điệu hát Du Xuân thì êm dịu, uyển chuyển, êm ả và nhớ nhung man mát, nhẹ nhàng 

– Đò Đưa. Làn điệu Đò Đưa đã phát triển tới hàng trăm lời với tình huống tinh tế, dí dỏm nhưng vẫn khác nhau.

– Hề Đơm Đó. Là làn điệu “Hề chèo” có lời thơ mộc mạc, than thân trách phận nhưng cũng châm biếm và chua chát.

– Hát Cách. Là một trong những làn điệu có tính cách tươi sáng, lạc quan, trang trọng (như một đoạn trong vở Quan Âm).

– Quân Tử Vu Dịch. Bằng tình cảm kín đáo, người hát như nhắn nhủ thiết tha, nhớ nhung một cách nhẹ nhàng (như đoạn Lưu Bình nhắn nhủ Châu Long sang nuôi Dương Lễ trong vở Lưu Bình-Dương Lễ).

 

Nguyễn Giụ Hùng

 

Kim Phượng sưu tầm

  Liên hoan Nghệ thuật hát Chèo không chuyên Hà Nội 2020 – Cổng thông tin Sở  Văn Hóa Thể Thao Hà Nội

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xem thêm...

Cảm Xúc Khi Nghe Vài Bản Nhạc Và Thơ Tiền Chiến

    Cảm Xúc Khi Nghe Vài Bản Nhạc Và Thơ Tiền Chiến    

Ngoài trời gió nhè nhẹ thổi, những chiếc lá mùa thu đang lãng đãng rơi rơi. Cái lành lạnh của gió heo may bên ngoài như đang hòa nhịp thở với những điệu nhạc “tiền chiến” mà tôi đang thưởng thức trong phòng đọc sách, một căn phòng đầy ấm cúng thương yêu. Cành trà hoa nữ ngoài cửa sổ, với bông hoa trắng ngần, theo gió cọ vào cửa kính như chú mèo con đang dụi đầu tìm sự yêu thương của chủ.
 
Bốn bề tĩnh lặng, chỉ còn tiếng nhạc như đang dìu đưa tôi vào thế giới của riêng mình, mà ở nơi đó, những âm thanh được pha trộn hài hòa của những tha thiết, lãng mạn, trữ tình cùng với những chia lìa, xa cách. Và cũng từ thế giới ấy, âm thanh đang đưa tôi đi xa mãi, đi mãi để trở về với những kỷ niệm của một thời ấu thơ, hay những hình ảnh của những cuộc tình ngây ngô tuổi học trò, hay của những biệt ly lẫn đoàn tụ … của hạnh phúc lẫn đau thương.
 
Đĩa nhạc “tiền chiến” vẫn cứ quay, âm thanh và hình ảnh có lúc bay bổng, chợt   vút lên cao rồi hạ thấp, chập chờn trong không trung, ẩn hiện trong làn mưa bụi của bầu trời ngả mầu trắng đục. Các bạn có thường thưởng thức những bản nhạc tiền chiến như tôi đang thưởng thức không? Trong lứa tuổi chúng ta, hẳn không ai đã không một lần hoặc nhiều lần thưởng thức nó. Tôi đoan chắc như thế.
 
Vậy nhạc tiền chiến là nhạc gì nhỉ? Cứ hiểu theo nghĩa thông thường thì nhạc tiền chiến hẳn là loại nhạc được viết từ trước chiến tranh. Nhưng trước cuộc chiến tranh nào? Thế chiến 1939-1945 hay cuộc chiến 1945-1954 hay 1954-1975? Tôi cứ tạm chia như thế.
 
 
Tôi có câu hỏi như thế vì có nhiều bản nhạc viết sau này, người ta vẫn xếp nó vào loại nhạc tiền chiến, vì nó có cái “air” tiền chiến như nhạc sĩ Tô Vũ nói về bản nhạc “Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa” của ông. Ông nói, bản nhạc này có cái “air” của nhạc tiền chiến thôi, vì thực sự, khi ông viết nó, chiến tranh đã xẩy ra rồi. Đấy là ông Tô Vũ nói về cái mốc thời gian của cuộc chiến 1945-1954. Nếu ta lấy mốc ở cuộc chiến 1954-1975 thì bản nhạc đó quả thực là nhạc tiền chiến ở cái mốc thời gian này. Thôi thì ta cứ lấy mốc thời gian nào đó cho hợp với bản nhạc thì lấy, cho rộng đường nói chuyện và cho vui vẻ cả làng.
 
Như vậy, khi nói đến nhạc tiền chiến là ta muốn nói đến cái âm hưởng của loại nhạc này hơn là chỉ chuẩn định trên cái mốc thời gian của nó thì phải? Cái “air” của nó có lẽ dựa trên tính chất nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình, hay bi ai, và đặc biệt là nó thiên về loại nhạc thính phòng và mang nhiều chất thơ. Tôi nói như thế vì có nhiều bản nhạc được viết trước chiến tranh (1939-1945 hay 1945-1954) mà không được liệt kê vào loại nhạc tiền chiến như những bản “Trên sông Bạch Đằng” của Hoàng Quý, “Việt Nam bất diệt” của Hoàng Gia Linh, “Hè về”, “Khỏe vì nước” của Hùng Lân, hay những bản nhạc thuộc loại quân ca chẳng hạn.
 
Tôi cũng chẳng biết danh từ nhạc tiền chiến có tự bao giờ? Tôi chỉ xin mở dấu ngoặc ở đây bằng một trích đoạn: “Ảnh hưởng văn hóa Pháp đã trở nên rõ rệt vào thập niên 1930 và theo nhạc sĩ Phạm Duy coi năm 1938 là năm quan trọng cho nền nhạc mới vì là năm khai sinh ra nhạc cải cách. Và cũng chính năm 1938, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên, tác giả bản “Kiếp hoa” đã từng đi du thuyết cổ võ cho nền nhạc mới được các báo chí như tờ Ngày Nay đăng tải, ông gọi loại nhạc mới này là nhạc cải cách” (dựa theo lời ông Bùi Bảo Trúc trong một chương trình nhạc thính phòng tổ chức ở San Jose).
 
Những bản nhạc tiền chiến đã đi sâu vào lòng người Việt Nam qua nhiều thế hệ, vẫn còn tồn tại đến bây giờ và cả mai sau. Do đó nhạc tiền chiến tự nó có chỗ đứng rất quan trọng trong nền âm nhạc Việt Nam. Nói như thế, những nhà nghiên cứu âm nhạc tìm hiểu về nhạc tiền chiến cũng là tìm hiểu một phần khá lớn của “âm nhạc mới” nước ta.
 
Âm nhạc cũng là một bộ môn, ta có thể dựa vào đó để biết tiến trình sinh hoạt của một xã hội vào những thời điểm khác nhau. Từ những năm đầu của thế kỷ 20 đến nay, đất nước ta có nhiều thay đổi, nhất là chịu ảnh hưởng nền văn hoá Tây phương, ắt hẳn những đổi thay ấy phải ảnh hưởng đến nền âm nhạc của ta. Và ngược lại, sự tìm hiểu về âm nhạc Việt Nam trong thời kỳ “tiền chiến” cũng là một phần trong sự tìm hiểu tiến trình thay đổi của xã hội ta trong thời kỳ ấy.
 
Trong khuôn khổ như những lời tâm sự cùng các bạn bè trong phạm vi bằng hữu, tôi chỉ muốn xin được chia sẻ với các bạn về những cảm xúc mà tôi có được khi nghe vài bản nhạc tiền chiến chứ không nói về sự phân loại, phẩm chất, cấu trúc, lịch sử hình thành của những bản nhạc ấy cũng như không nói về âm nhạc Việt Nam vì đấy không phải là lãnh vực mà tôi am hiểu. Chúng ta hãy cùng nghe một vài bản nhạc tượng trưng có tính cách phổ thông, dễ nghe, dễ hiểu, và cũng dễ nhận ra những nét đặc thù của nó biến thiên theo cảm xúc của mình.
 
Trước hết, ta hãy nghe bản “Đêm đông” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương để chúng ta cùng rung cảm với nỗi lòng cô đơn của ông. Trong một băng nhạc, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương đã tâm sự là ông viết bản nhạc này khi ông đi dọc theo phố Khâm Thiên, Hà nội, vào chiều tối 30 Tết. Phố Khâm Thiên là con phố có nhiều cô đầu còn gọi là ả đào hay ca nhi. Các cụ ta xưa thường đến đây để nghe hát ả đào hay ca trù. Ông chợt bắt gặp, qua bóng dáng cô đơn của người ca nhi đứng đợi khách ngoài ngưỡng cửa rồi quay vào soi bóng mình trong gương, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương liền liên tưởng tới hòan cảnh của ông lúc đó, nhà ở Huế, ra Hà nội học, một mình đi lang thang giữa lòng thành phố. Ông nhớ nhà ghê lắm. Ông mượn hình bóng lẻ loi của người ca nhi đó để nói lên tâm sự cô đơn của mình, ông viết:
 
 Đêm đông, ca nhi đối gương, riêng sầu ôm bóng.
Hình bóng ca nhi ấy, thoáng hiện ra, nhưng biến đi rất nhanh để nhường chỗ cho hình bóng của một chinh phụ chờ chồng như chính ông đang hướng trông về người thân ở chốn xa xôi.
 
 Đêm đông, xa trông cố hương buồn lòng chinh phu,
 Đêm đông, bên sông ngẩn ngơ, kìa ai mong chồng.
 

Ông đi, đi lững thững dưới đêm đông mưa phùn gió bấc với tiếng chuông buông từ xa vọng lại. Âm thanh buồn bã xa thẳm ấy như quyện lấy hình ảnh của những con chim đang bay về một phương trời vô định cùng với những đám mây xám hạ ngang lưng trời. Những tiếng gió rít ào ạt cuốn hút trong cơn lốc xoáy là chất liệu tạo nên những âm thanh dồn dập của dòng nhạc như đang vang vọng lên những lời nấc nghẹn:
 
Gió nghiêng chiều say, gió lay ngàn cây, gió nâng thuyền mây,
Gió reo sầu tư, gió đau niềm riêng, gió than triền miên.
Cái buồn da diết của kẻ xa nhà như ông, trong mỗi câu, ông đều réo gọi quê hương, réo gọi mái ấm gia đình ở phương trời xa:
 Đêm đông, ôi ta nhớ nhung đường về xa xăm
 Đêm đông, ta mơ giấc mơ gia đình yêu đương
 Đêm đông, ta lê bước chân phong trần tha phương,
 Có ai, thấu tình cố lữ, đêm đông không nhà.

Ta thấy ông cứ nhắc đi nhắc lại mãi tiếng “đêm đông”, ắt hẳn trong ông, đêm đông chính là hình ảnh làm ông xúc động và thổn thức. Âm thanh đêm đông được ông diễn tả như có lúc nó lên thật cao, có lúc nó trầm xuống, có lúc lại kéo dài ra lê thê, mệt mỏi, như nghẹn ngào, nức nở làm chùng lòng những người xa gia đình, xa quê hương như ông.
 
Đêm đông- Nguyễn văn Thương- Kim Minh - YouTube
 
Trong bản nhạc Đêm đông, cái mà mọi người yêu thích, chính là bên cạnh cái hay của âm điệu, của lời ca, nó còn mang tâm trạng của chính chúng ta, ít nhất một lần trong đời, đã rơi vào hoàn cảnh như ông. Và trong hoàn cảnh ấy, bản nhạc không còn là của Nguyễn Văn Thương nữa, mà chính là tiếng kêu não lòng của chính chúng ta để thương mình và cũng để thương người. Bản Đêm đông là bản nhạc tiêu biểu mượn những hình ảnh thiên nhiên, như cảnh mưa gió trong đêm đông, để gửi gấm tâm sự cô đơn của mình.
 
 
Hãy nghe thêm tâm sự của một nhạc sĩ khác nữa đã mượn cảnh mưa rơi để gửi gấm tâm sự lẻ loi của mình qua bản “Tiếng thời gian” của nhạc sĩ Lâm Tuyền. Âm điệu của bản nhạc này rất nhẹ nhàng, thánh thót, lõng thõng, nhỏ giọt như tiếng mưa rơi rả rích, như tiếng chuông buồn điểm trong đêm đông vắng lạnh, như tiếng lá cây rơi rụng trong sương mờ, như tiếng gõ đủng đỉnh của chiếc đồng hồ quả lắc mà đó chính là những tiếng của thời gian êm ả trôi đi buồn bã.
 
 Mưa rơi hiu hắt ai sầu mùa đông
 Không gian u ám, sương mờ mờ buông
 Xa trong đêm vắng, chuông buồn nhẹ ngân
 Kìa đường xưa rét mướt, bên sông ngừng chân
 Chờ ai trong tê tái lắng nghe chuông than
 Thời gian trôi tan tác, mang theo ngày xuân
 Mưa đêm nay khóc thầm, cuộc đời đầm ấm đã theo thời gian.

Không phải chỉ có hình ảnh của mưa gió mới gợi lên được cái cô đơn mà thôi, người nhạc sĩ còn dùng những hình ảnh khác nữa như nhạc sĩ Đặng Thế Phong đã mượn giọt mưa mùa thu với hình ảnh con chim non trong bản nhạc “Giọt mưa thu“, hình ảnh con thuyền trong “Con thuyền không bến“, hay như nhạc sĩ Văn Cao dùng nhân vật dân gian trong bản nhạc “Trương Chi” để bầy tỏ nỗi lòng cô đơn của mình.
 
Trong nhạc tiền chiến, tính chất bi ai thương cảm của chia lìa cũng được khai thác mà bản “Biệt ly” của nhạc sĩ Doãn Mẫn là một tiêu biểu. Nhạc sĩ Doãn Mẫn viết bản nhạc này khi ông nhìn thấy một cảnh biệt ly của đôi trai gái bên bến sông. Ông viết bản nhạc “Biệt ly” khi ông 20 tuổi, vào năm 1938 hay 1939 thì phải. Thật là day dứt khi nghe ông diễn tả:
 
Ôi còi tầu như xé đôi lòng.
Và mây trôi, nước trôi, ngày tháng trôi, cùng lướt trôi.

Biệt ly sao mà buồn vậy! Cái gì cũng trôi đi mất cả, mất cả mây, mất cả gió, mất cả thời gian lẫn không gian. Tất cả như trôi đi và trôi đi thật xa. Cũng như Trịnh Công Sơn sau này cũng viết một đoạn trong bản nhạc “Có một dòng sông đã qua đời“. Khi mất người yêu, TCS cũng thấy mất hết, mất ngay cả dòng sông đang chảy trước mặt mình và dòng sông như đã qua đời.
Ta hãy nghe nhạc sĩ Doãn Mẫn làm chúng ta buồn da diết khi ông viết:
 
Mấy phút bên nhau rồi thôi.
Đến nay bóng em mờ khuất,
Người về u buồn khắp trời.
Người ra đi với ngàn nhớ thương.



Người về mà thấy u buồn khắp trời thì thật buồn đến khủng khiếp. Người nghe có cứng rắn đến đâu cũng phải xúc động. Biệt ly, bản chất của nó đã buồn, nghe bản nhạc Biệt ly của Doãn Mẫn thì cái buồn ấy lại tăng lên gấp bội. Nghe bản nhạc này, tôi xúc động đến tưởng như không thể tiếp tục viết được nữa.
 
Bên cạnh cái biệt ly xa cách chia lìa của lứa đôi, ta cũng kể đến biệt ly xa cách mang tính chất lịch sử hay truyện cổ tích như “Hòn vọng phu” của Lê Thương, “Trầu cau” của Phan Huỳnh Điểu hay “Thiên thai”, “Trương Chi” của Văn Cao được viết dưới dạng trường ca.
 
Và cũng để thay đổi không khí, tôi xin tạm mở một dấu ngoặc ở đây để ta bước vào thế giới của thơ.
Bên cạnh sự nở rộ của nhạc, thơ “tiền chiến” cũng vùng lên không kém. Thơ thời đó, nó hòa nhịp với nhạc và cũng có cái “air” tiền chiến, nghĩa là cũng khóc thương thân phận, cũng lãng mạn, cũng chia lìa xa cách … Có những lúc ta có cảm tưởng như thơ và nhạc do một người viết vì chúng quyện vào nhau như đôi trai gái yêu nhau chia nhau cùng hơi thở vậy. Với cảnh biệt ly trong thơ, tôi xin được nhắc đến nhà thơ Tế Hanh. Thi sĩ Tế Hanh viết bài thơ này khi ông đứng ở sân ga:
 
Nhân sinh là thế, gặp gỡ rồi biệt ly, và bởi vì có biệt ly nên
 
Bánh nghiến lăn lăn quá nặng nề;
Khói phì như nghẹn nỗi đau tê;
Lâu lâu còi rúc nghe rền rỉ,
Lòng của người đi réo kẻ về.
Kẻ về không nói bước vương vương;
Thương nhớ lăn xa mấy dặm trường;
Lẽo đẽo tôi về theo bước họ,
Tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương.
 
Sao hai tác giả Doãn Mẫn và Tế Hanh, một nhạc sĩ và một thi sĩ, lại có cảm xúc trước sự biệt ly giống nhau đến thế nhỉ? Chỉ khác là cái thương nhớ của Tế Hanh chỉ lan ra có mấy dặm trường, còn của Doãn Mẫn thì lan đi khắp trời. Âu có lẽ Tế Hanh chỉ buồn “vu vơ” như tên bài thơ của ông.
 
Để tiếp nối những hình ảnh biệt ly, tôi không thể không giới thiệu những hình ảnh mà nhà thơ Nguyễn Bính đã ghi nhận được ở đây qua bài thơ “Những bóng người trên sân ga” (1937).
 
Những cuộc chia lìa khởi tự đây
Cây đàn sum họp đứt từng dây
Những đời phiêu bạt thân đơn chiếc
Lần lượt theo nhau suốt tối ngày.
Có lần tôi thấy hai cô bé
Sát má vào nhau khóc sụt sùi
Hai bóng chung lưng thành một bóng
“Đường về nhà chị chắc xa xôi?”
Có lần tôi thấy một người yêu
Tiễn một người yêu một buổi chiều
Ở một ga nào xa vắng lắm
Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêu.
Hai người bạn cũ tiễn chân nhau
Kẻ ở trên toa kẻ dưới tàu
Họ dục nhau về ba bốn bận
Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu.
Có lần tôi thấy vợ chồng ai
 Thèn thẹn đưa nhau bóng chạy dài
Chị mở khăn giầu, anh thắt lại:
“Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”
Có lần tôi thấy một bà già
Đưa tiễn con đi trấn ải xa
Tầu chạy lâu rồi bà vẫn đứng
Lưng còng đổ bóng xuống sân ga.
Có lần tôi thấy một người đi
Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly.
Những chiếc khăn màu thổn thức bay
Những bàn tay vẫy những bàn tay
Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt
Buồn ở đâu hơn ở chốn này?

Cảnh biệt ly ở sân ga thì được diễn tả như thế. Nhưng biệt ly không phải chỉ xẩy ra ở sân ga mà còn ở những bến đò nữa chứ.
Hãy nghe bài thơ “Cô lái đò” của nhà thơ Nguyễn Bính, được nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc, cũng diễn tả một cuộc chia tay của hai người đã hẹn thề nguyện ước cùng nhau trên bến đò xưa. Vì chẳng chờ được nhau, ba xuân qua đi, nàng phải đi lấy chồng, khách tình nhân khi trở lại thì người yêu không còn đó nữa. Ta hãy nghe một đoạn:
 
Xuân đã đem mong nhớ trở về,
Lòng cô gái ở bến sông kia.
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,
Trên bến cùng ai đã hẹn thề.
Nhưng rồi người khách tình xuân ấy,
Đi biệt không về với bến sông.
Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi,
Mấy lần cô gái mỏi mòn trông.
Xuân này đến nữa đã ba xuân,
Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần.
Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi,
Cô đành lỗi ước với tình quân.
Bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ dòng sông,
Cô lái đò kia đi lấy chồng.
Vắng bóng cô em từ dạo ấy,
Để buồn cho những khách sang sông.

Cô lái đò | Phụ nữ, Người mẫu, Việt nam

Bài thơ “Cô lái đò” được Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc cũng mang thêm tính chất lỡ làng trong tình yêu mà tiêu biểu rõ nét là bài “Cô láng giềng” của nhạc sĩ Hoàng Quý. Cũng có cái lạ là thanh niên thời đó “lang bang” ghê quá, gặp đâu yêu đấy, nào là yêu Cô lái đò, Cô hàng nước, Cô hàng cà phê, Cô hàng chè xanh, Cô hái mơ, rồi Cô sơn nữ, Cô hái hoa, Cô hàng hoa … Thật đủ loại cô!
 
 
Đấy là nỗi lòng của nhà thơ Nguyễn Bính, thế còn nhà thơ Thế Lữ thì sao? Hãy nghe Thế Lữ trải lòng mình trong “Bên sông đưa khách“:
 
Trời nặng mây mù, mấy khóm cây,
Đứng kia không biết tỉnh hay say.
Đỗ bờ sông trắng, con thuyền bé,
Cạnh lớp lau già, gió vẫn lay.
Tôi tiễn đưa anh tới tận thuyền,
Để dài thêm hạn cuộc tình duyên;
Thuyền đi, tôi sẽ rời chân lại.
 Tôi nhớ tình ta, anh vội quên
Thuyền khách đi rồi, tôi vẫn cho,
Lòng tôi theo lái tới phương mô?
Bâng khuâng trong cõi sầu vô hạn.
Không khóc vì chưng mắt đã khô.

Rồi hãy nghe nhà thơ Huy Cận qua bài “Trường giang” trong tập “Lửa thiêng”. Ông không viết rõ về một cuộc chia ly nào, nhưng khi đọc, ta vẫn thấy một nỗi buồn man mác, như một cuộc chia ly nào đó vừa xẩy ra, với hình ảnh của một cành củi khô lạc mấy dòng, bèo giạt về đâu hàng nối hàng, với thuyền về nước lại sầu trăm ngả … vân vân. Ta hãy lắng lòng để hưởng cái giây phút êm đềm, man mác buồn trong thơ Huy Cận:
 
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả,
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vắng chợ chiều.
Nắng xuống trời lên sầu chót vót,
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng,
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lăng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Thôi ta trở lại với nhạc tiền chiến, lần này cũng cảnh chia tay đấy nhưng với âm điệu thanh thoát vui tươi hơn, không quá sầu thảm nữa. Và bên cạnh đó ta phải tìm cho mình một chút mộng mơ nơi tiên cảnh chứ. Các nhạc sĩ, thi sĩ của chúng ta cũng vậy, mộng ước trần gian không thành đành mơ về Tiên cảnh. Tôi muốn nói về bản nhạc “Thiên thai” của nhạc sĩ Văn Cao.
 
Như tôi đã nói ở trên, nhạc và thơ trong cái “văn hóa tiền chiến” ấy, nó cứ như quyện vào nhau. Trước khi nghe bản nhạc “Thiên thai”, hãy đọc thơ của cụ Tản Đà qua bài “Tống biệt” (nhạc sĩ Võ Đức Thu đã phổ nhạc bài thơ này):
 
 
Lá đào rơi rắc lối Thiên thai,
Suối tiễn, oanh đưa, luống ngậm ngùi.
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai.
Ước cũ, duyên thề có thế thôi.
Đá mòn, rêu nhạt,
Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ nay xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.



Thấy không, tiếng thơ của cụ Tản Đà nhẹ nhàng thoát tục, như bay bổng vào cõi tiên. Sự chia tay có lá đào rơi rắc, có suối tiễn, có oanh đưa. Ôi sao cuộc tiễn đưa lại ngọt ngào, thi vị đến thế.
 
So bài thơ “Tống biệt” của cụ Tản Đà thì bản nhạc “Thiên thai” của nhạc sĩ Văn Cao, nó “thực” hơn, có nhiều chất “người phàm trần” hơn. Cõi Thiên thai của nhạc sĩ Văn Cao như được mở rộng ra để đưa ta đi sâu và xa hơn cụ Tản Đà. Cụ Tản Đà chỉ đưa ta đến cửa động rồi ngừng ở đấy, cụ không đả động tới những gì xẩy ra ở bên trong cái động Thiên thai ấy cả, còn Văn Cao đưa ta nhập Thiên thai thật sự. Qua sự phối hợp với ngũ cung trong âm nhạc dân tộc Việt Nam cùng với những âm điệu trang trọng, trong sáng, tha thiết, sinh động, Văn Cao giới thiệu cho chúng ta cái thế giới trinh nguyên và rực rỡ:
 
Thiên thai chốn đây hoa xuân chưa gặp bước trần ai.
Có một mùa đào, năm ngày tháng chưa tàn phai một lần.

Văn Cao còn giới thiệu thế giới thần tiên ấy, ngoài hoa thơm cỏ lạ, cây trái ngọt ngào, còn có ca, có nhạc đầy quyến rũ với những nàng tiên đa tình đang ca múa những vũ khúc nghê thường làm ngơ ngẩn loài người.
 
Thiên thai, chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm, khúc nghê thường nay đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn.
Đàn soi, trăng êm, nhạc lắng tiếng quyên, đây đó nỗi lòng mong nhớ.
Này khúc bồng lai là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi.

Văn Cao không chịu ngừng ở đây đâu, cụ còn đưa ta tiến sâu vào thêm, để cả chủ và khách cùng đắm chìm trong hoan lạc, để chủ lạc lối, khách quên đường về.
 
Đàn non tiên, đàn khao khát cuộc tình duyên.
Thiên thai ánh trăng xanh mơ tan tành khói trần gian.
Ái ân thiên tiên, em ngờ phút mê cuồng có một lần.

Chẳng biết cụ Văn Cao nhà ta thấy cái “ái ân thiên tiên” nó ra làm sao, nó khác cái “ái ân trần gian” như thế nào mà đến độ ánh trăng xanh mơ cũng phải tan thành khói trần gian và chỉ dám có mê cuồng say một lần và chỉ một lần mà thôi. Lưu Nguyễn thì lại còn tệ hại hơn nữa, đến nỗi phải than lên câu ai oán:
 
Nhớ quê, chiều nào ra khơi, chắc không đường về tiên nữ ơi.

Chữ “ơi” phải xuống giọng xề thành “ời” thì đủ biết nó mệt mỏi cỡ nào bởi cái “ái ân thiên tiên” kia. Đấy cụ Văn Cao thấy không, họ quên đường về là tại cụ đấy, tại cái “ái ân thiên tiên” của cụ đấy. Đùa cụ tí thôi, tán nhảm với cụ một tí cho vui.
 
Ta hãy tạm ngừng nghe nhạc ở đây để theo chân những chàng thi sĩ thả hồn về Tiên cảnh. Chẳng tìm được gì ở trần gian, họ kéo nhau về Tiên cảnh để được thỏa lòng mơ cùng mộng như đã nói ở trên.
 
Mấy ai trong chúng ta lại có cái may mắn như cụ Văn Cao nhà ta. Ấy thế mà trong đám văn nhân thi sĩ có những người cũng chẳng thua nhạc sĩ Văn Cao là mấy. Ta hãy nghe nhà thơ Thế Lữ tả về những buổi gặp gỡ tiên nữ ở Vườn tiên:
Hôm qua đi hái mấy vần thơ,

Ở mãi vườn tiên gần Lạc Hồ:
Cảnh tĩnh, trong hoa chim mách lẻo;
– Gió đào mơn trớn liễu buông tơ.
Nước mát hơi thu thắm sắc trời,
Trời xanh xanh ngắt đượm hồng phai.
Ái ân, bờ cỏ chen chân trúc,
Sau trúc, ô kìa xiêm áo ai?
Rẽ lá, thi nhân bước lại bên,
Mấy vòng sóng gợn mặt hồ yên,
Nhởn nhơ vùng vẫy ba cô tắm,
Dưới khóm hoa quỳnh lá biếc xen.
Hồ trong như ngọc tẩm thân ngà,
Lồ lộ da tiên phô sắc hoa,
Mỉm miệng, anh đào tan tác rụng,
Tóc buông vờn mặt nước say sưa.
Say sưa, người khách lạ Bồng lai,
Giận lũ chim kia khúc khích hoài,
Van khẽ gió đừng vi vút nữa.
– Nhưng mà chim, gió có nghe ai?
Lời oanh trên liễu, yến bên hồng,
Hạc ở trong không, phụng dưới tùng,
Bỗng chốc cùng nhau cao tiếng họa,
Đờn tiên rộn rã khắp tiên cung.
Hoa lá cùng bay, bướm lượn qua,
Người tiên biến mất – khách trông ra:
Mặt hồ nước phẳng nghiêm như giận,
– Một áng hương tan, khói tỏa mờ.

Chúng ta không cần vất vả lắm cũng tưởng tượng ra được cái cảnh lén lén lút lút của chàng thi sĩ Thế Lữ nhìn trộm tiên nữ tắm. Tim chàng hồi hộp vì sợ bị bắt gặp, tiên nữ sẽ bay đi. Chàng van gió đừng thổi mạnh, chim đừng khúc khích cười. Chàng càng mong im lặng bao nhiêu thì chàng lại thấy không gian càng xôn xao bấy nhiêu với những tiếng yến tiếng oanh, đờn tiên rộn rã khắp tiên cung, hòa cùng với tiếng hạc trên không, tiếng phụng ở dưới tùng. Chẳng biết chàng đã làm gì mà để tiên phải biến mất và làm ngay cả đến mặt nước hồ cũng nghiêm mặt giận chàng. Thôi ta hãy mỉm nụ cười thông cảm với chàng Thế Lữ mà thôi.
 
Ấy ấy, đừng tưởng chỉ có Thế Lữ được nhìn tiên nữ tắm đâu nhé (tắm thật sự đấy vì xiêm y đã treo ở rặng trúc hết rồi), nhà thơ Xuân Tâm của chúng ta còn may mắn hơn Thế Lữ nữa vì chàng chẳng nhìn có ba cô tiên nữ tắm như Thế Lữ mà chàng Xuân Tâm còn được nhìn cả một đoàn tiên nữ tắm. Ta hãy nghe Xuân Tâm kể:
 
Đây dòng suối reo cười, đùa lội tắm,
Đoàn tiên nga để lộ tấm thân ngà;
Nước hôn chân, sương thoa phấn mầu da,
Hoa cỏ mởn tranh nhau cài mái tóc.
Cặp ngỗng trắng xinh như bạch ngọc,
Ngẩng cổ nhìn, say đắm đẹp thần tiên.

Chẳng biết ngỗng ngẩng cổ cao hay chàng thi sĩ Xuân Tâm đang ngẩng cổ cao hơn nhỉ?
 
Trong những người có may mắn gặp tiên nữ này như chàng Thế Lữ, Xuân Tâm, đến ngay cả cụ Tản Đà, cũng chỉ lởn vởn phía “bên ngoài”. Riêng cụ Văn Cao được hưởng cả phía “bên trong” với cái “ái ân thiên tiên” đến quên cả đường về, cũng như có cô em gái đến thăm chàng nhạc sĩ Tô Vũ vào một chiều thêu nắng để “Em đến chơi quên niềm cay đắng. Và quên đường về”, thật tuyệt.
 
Nói đi thì phải nói lại, không phải ai gặp tiên cũng được “thoả thuê” đâu nhé. Ta hãy nghe nhà thơ Đỗ Huy Nhiệm than vãn:
 
Người ở tiên cung vốn lạnh lùng,
Có bao giờ bận với yêu mong.
Mà tôi yêu lắm, tôi mong lắm,
Nàng có bao giờ biết thế không?
Chiều nay nàng đến trong ly rượu,
Tôi uống vơi vơi hết cả nàng.
Tôi uống dè dè từng hớp một,
Sợ mai nàng bận chẳng buồn sang.

Chàng thi sĩ của chúng ta phạm hai lỗi lầm nên chàng đau khổ. Thứ nhất chàng mong được Tiên yêu dù chàng biết Tiên chẳng bận với yêu mong mà các nàng chỉ bận đi “tắm” cho các nhà thi sĩ làm thơ. Thứ hai là chàng say, chàng nhâm nhi hết cả nàng thì nàng làm sao tới được. Đến khi chàng say thì:
 
Trăng đã lên cao, rượu cạn rồi,
Cả nàng đã đẫm cả hồn tôi.
Ngày mai rượu hết nghiêng hồ rỗng
Vét chút hương còn ép sát môi.

Nghe câu cuối sao nó nhờn nhợn, nhồn nhột thế nào ấy. Tới đây ta hãy dành cho Xuân Diệu một “khoảng trời thơ” để chàng tâm sự.
 
Và nàng Lộng Ngọc lấy Tiêu lang,
Cưỡi hạc một đêm bay lên trời
Linh hồn lưu giữa bể du dương.
Tôi thấy xiêm nghê nổi gió lùa;
Những nàng cung nữ ước mơ vua,
Không biết bao giờ nguôi nhớ thương.
Với Hàn Mạc Tử, nàng Hằng nga tiên nữ của chàng còn quyến rũ hơn:
Trong khóm vi lau rào rạt mãi.
Tiếng lòng ai nói sao im đi?
Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm,
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.

Không hiểu vì lý do gì, các chàng thi sĩ của chúng ta mỗi khi nói đến Tiên nữ và ngay cả đến Hằng nga, các chàng đều bắt các nàng phải đi tắm, và chỉ đi tắm mà thôi. Cũng như khi các chàng nhạc sĩ nói về người con gái đi lấy chồng thì phải là “con sáo sang sông” hay là “con sáo sổ lồng bay xa”, nhất định phải là con chim sáo chứ không thể là con chim khác được dù là chim oanh, chim yến hay chim phượng hoàng.
 
Nhân dịp nghe bản “Thiên thai” ta lại lạm bàn đến cảnh giới Thiên cung của những nàng Tiên nữ hơi nhiều. Hình như từ nẫy đến giờ ta lên Tiên giới với lòng trần tục đến nỗi Trịnh Công Sơn đã phải lên tiếng:
 
Tôi là ai? Tôi là ai? mà còn trần gian thế? (bản nhạc Tôi là ai?)
 
Thôi để mặc TCS than thở trần tục với trần gian, ta hãy tìm về hình ảnh của một Tiên cảnh thánh thoát hơn, trong sáng hơn với “Tiếng sáo Thiên thai” đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Nay ta hãy tạm để hồn mình dừng chân, ngồi trên phiến đá, mắt nhìn trời xanh, hưởng một chút gió mát để thưởng thức vài tiếng sáo ở chốn Thiên cung cùng nhà thơ Thế Lữ.
 
Ánh Xuân lướt cỏ xanh tươi,
Bên rừng thổi sáo một hai Kim Đồng.
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng,
Buồn ơi! Xa vắng mêmh mông là buồn.
Tiên nga tóc xõa bên nguồn,
Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu;
Mây hồng ngừng lại sau đèo,
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi.
Trời cao xanh ngắt – ô kìa!
Hai con hạc trắng bay về Bồng lai.
Theo chim, tiếng sáo lên khơi,
Lại theo dòng suối bên ngoài Tiên nga;
Khi cao vút tận mây mờ,
Khi gần vắt vẻo bên bờ cây xanh,
Êm như lọt tiếng tơ tình,
Đẹp như Ngọc nữ uốn mình trong không.
Thiên thai thoảng gió mơ mòng,
Ngọc châu buồn tưởng tiếng lòng bay xa.

Thế Lữ mê man thả hồn trong “Tiếng sáo Thiên thai” nơi Tiên cảnh và cũng có lần chàng cũng mê say tiếng sáo trúc nơi trần gian với “Tiếng trúc tuyệt vời” của chàng:
 
Tiếng Sáo Thiên Thai (Hòa Tấu) by Hòa Tấu on Apple Music
 
Tiếng địch thổi đâu đây,
Cớ sao mà réo rắt?
Lơ lửng cao đưa tận lưng trời cao ngất,
Mây bay, gió quyến mây bay.
Tiếng vi vu như khuyên van, như dìu dặt,
Như hắt hiu cùng hơi gió heo may.
Ánh chiều thu,
Lướt mặt hồ thu,
Sương hồng lam nhẹ lan trên sóng biếc,
Rặng lau già xao xác tiếng reo khô,
Như khua động nỗi nhớ nhung thương tiếc,
Trong lòng người đứng bên hồ.



Âm điệu của bài thơ này nghe như khi bổng khi trầm, uốn lượn theo tiếng sáo trúc. Tiếng sáo thiên thai hay tiếng trúc tre trần tục đều hay như nhau cả, có khác chăng là khác ở nỗi lòng người nghe. Ta cũng nên biết thêm, bài thơ “Tiếng trúc tuyệt vời” đã được nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát phổ nhạc. Ông sử dụng âm thanh của ca trù (ả đào) vào bản nhạc này rất thành công.
Thôi nếu ta chẳng lên Thiên thai được với nhạc sĩ Văn Cao thì ta hãy theo chân nhạc sĩ Phạm Duy vậy, để cùng nhạc sĩ Phạm Duy xây cái mộng thật bình thường trong bản “Ngậm ngùi” phổ từ thơ Huy Cận:
 
Tay anh em hãy tựa đầu,
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi.

Tay anh đây, em hãy tựa đầu mà ngủ, anh khe khẽ ru lời ca êm ái “ngủ đi em, ngủ đi em”, và để “anh hầu quạt đây”, và để cho anh thấy những đau khổ chín mùi của em rụng rơi (trái sầu rụng rơi). Lắng đọng với thời gian, với không gian, để nghe thấy sự thương đau của người yêu rụng rơi và để cùng đón nhận lấy niềm hoan lạc, êm ả đi vào giấc ngủ êm đềm thì quả thực cái “mộng bình thường” rất trần gian này cũng khó đạt thành, nhưng dẫu sao nó cũng còn ở trong tầm tay của mình.
 
Bài thơ: Ngậm ngùi - Huy Cận - Minh Phúc diễn ngâm - YouTube
 
Ngủ đi em, mộng bình thường!
Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ.
Cây dài bóng xế ngẩn ngơ,
Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?
Tay anh em hay tựa đầu,
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi.
Hay quá nhỉ, mỗi chữ, mỗi vần sao nó tha thiết và súc tích làm sao.
 
 
Chúng ta đâu cần phải là nhạc sĩ hay thi sĩ. Ta cứ nghe và cứ đọc, chúng ta sẽ rung động với cái rung động của người, vui với cái vui của người, thổn thức với cái thổn thức của người, để rồi hơn thế nữa, ta mượn hình ảnh, âm thanh của người đưa ta tới thế giới riêng biệt đươc xây dựng bởi chính ta. Thế giới của riêng ta ấy có thể còn linh động hơn, xa hơn, cao hơn vì nó được xây dựng bằng nhiều nguồn cảm hứng khác nhau, của nhiều người góp lại.
 
Cũng có khi ta ngồi nghe bản nhạc đang chơi, tâm hồn ta đã bay xa lắm rồi. Ta bay đi theo cảm xúc riêng của mình, với biết bao nhiêu cái mới xen lẫn với cái cũ của những kỷ niệm xa xưa. Không phải chỉ có âm nhạc và thơ thôi đâu, những cảm xúc đôi khi cũng chợt đến chỉ vì ta bắt gặp một màu sắc, một âm thanh nhỏ hay chát chúa, một tiếng cười hay tiếng khóc … quen thuộc nào đó. Tất cả những gì chung quanh ta đều có thể mang ta đến một thế giới đầy sáng tạo của riêng mình, trong đó kể cả âm thanh của những bản nhạc “tiền chiến”. Chúng đều là phép lạ, là phép mầu thường khi có khả năng đem ta về nguồn hạnh phúc.
 
Tôi xin được tạm ngưng lời tâm sự ở đây về sự chia sẻ cùng các bạn những cảm xúc mà tôi có được khi nghe vài bản nhạc và thơ “tiền chiến”. Tôi biết đây là một đề tài vô tận vì cảm xúc của chúng ta thì vô biên và những cảm xúc bắt gặp được thường có thể mỗi người một khác. Xin được trở lại dịp sau với những bản nhạc tiêu biểu khác có tính chất lãng mạn trữ tình trong tình yêu lứa đôi và tình yêu nước trong nhạc “tiền chiến”.
 
Nguyễn Giụ Hùng
Ngày 16/9/2022
 
Tham Khảo:
“Âm Nhạc Mới Việt Nam – Tiến Trình Và Thành Tựu” của những tác giả gồm: PGS.TS Tú Ngọc, PGS.TS Nguyễn Thị Nhung, TS Vũ Tự Lân, Nguyễn Ngọc Oánh, Thái Phiên (NXB Viện Âm Nhạc, 2000).
 
 
  Nguyễn Ngọc Quang sưu tầm tổng hợp  

Ảnh minh họa
 
 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này