Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1304)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (65)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (356)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Nhìn Lại Các Trường Nữ Trung Học Nổi Tiếng Của Miền Nam Trước Năm 1975

Nhìn Lại Các Trường Nữ Trung Học Nổi Tiếng

Của Miền Nam Trước Năm 1975

Lời Giới Thiệu: Nhân kỷ niệm 100 năm thành lập trường Trung Học Trưng Vương, ngoài những loạt bài viết về bản nhạc gắn liền với tên trường “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”, Thế Giới Nghệ Sĩ đã tổng hợp, sưu tầm một số tài liệu về các trường Trung Học nữ sinh tại miền Nam trước 1975. Những tà áo dài thướt tha của Gia Long, Lê Văn Duyệt, Đồng Khánh (Huế), Trưng Vương… như những cánh bướm lượn mãi trong ký ức về Saigon một thời thanh bình, tươi đẹp. Phần tổng hợp từ nhiều nguồn sau đây có thể còn thiếu sót, kính mong quý độc giả đóng góp để hoàn chỉnh hơn.

gia long

Không rõ lý do vì sao ở miền Nam trước 75 thường phân chia riêng biệt trường nữ và trường nam Trung Học. Những tà áo dài thướt tha của các trường nữ sinh như Gia Long, Lê Văn Duyệt, Đồng Khánh (Huế), Trưng Vương… như những cánh bướm lượn mãi trong ký ức về một thời thanh bình, tươi đẹp.

Trường Trung Học nữ sinh Trưng Vương (Sài Gòn)

Trường nữ sinh Trưng Vương, tiền thân là trường nữ Trung Học Trưng Vương từ Hà Nội di cư vào Nam sau năm 1954 nên đội ngũ giáo sư học sinh ban đầu chủ yếu là gốc Bắc.

trungvuong

Trường Trưng Vương ban đầu phải học nhờ tại Gia Long, nhưng sau đó trường đã có cơ sở và khuôn viên riêng. Cụ thể là năm 1957, trường dời về số 3 Nguyễn Bỉnh Khiêm, gần Thảo Cầm Viên Sài Gòn và cũng gần trường nam sinh Võ Trường Toản nữa. Do vậy, có rất nhiều mối tình thuở thiếu thời Trưng Vương – Võ Trường Toản; chúng vẫn đẹp mãi trong lòng những người cựu sinh viên hai trường. Có nhiều anh chàng nam sinh Võ Trường Toản đã tinh nghịch trèo tường sang Trưng Vương chơi đã trở thành những kỷ niệm đáng nhớ.

trungvuong1

Ai đã từng đi qua hàng cây trên con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày xưa thì sẽ hiểu vì sao chỉ một mùa thu qua, mà nhạc sĩ Nam Lộc đã bâng khuâng với cảm giác nắng vương nhẹ gót chân, với lá rơi đầy sân. Cảm giác ấy có lẽ sẽ được những nữ sinh Trương Vương ngày đó mang theo trong ký ức của họ đến mọi nẻo đường trong cuộc đời.

“Tim em chưa nghe rung qua một lần
Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
Tình trần mong manh như lá me xanh
Ngơ ngác rơi nhanh…”

(Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu – Lời Việt: Nam Lộc)

trungvuong2

Trường Trung Học nữ sinh Gia Long (Sài Gòn)

Trường Gia Long là một trong những ngôi trường nữ sinh nổi tiếng một thời có lịch sử tới hơn 100 năm. Trường được mở từ thời Pháp thuộc dưới kiến nghị của nghị viên hội đồng Quản Hạt Nam Kỳ Lê Văn Trung và vợ Tổng Đốc Phương cùng với một số nhân sĩ khác.

gia long 750x430

Đằng sau một ngôi trường thơ mộng từng được mệnh danh là trường “nữ sinh áo tím” (vì trước đó nữ sinh Gia Long nổi tiếng với màu áo tím) là khát vọng về một xã hội tự do, nơi có nam nữ bình quyền – đều có quyền được sống, được hưởng một nền giáo dục và học tập ngang nhau.

Trường nữ Gia Long là niềm tự hào của biết bao nhiêu nữ sinh thời ấy. Có thể nói cho đến tận bây giờ, hai tiếng Gia Long vẫn có thể thay cho tiếng chào kết bạn, là sợi dây kết nối khi họ tình cờ gặp nhau ở bất cứ nơi nào trên thế giới, là niềm tự hào của người thiếu nữ trưởng thành trong một nền lễ giáo của gia đình miền Nam thời ấy.

gialong

Nữ sinh Gia Long

Trong âm nhạc, những bóng dáng thướt tha của nữ sinh Gia Long được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ghi lại trong ca khúc Cô Nữ Sinh Gia Long:

“Đường xa cô gái Gia Long về đâu
Dừng chân cho nhắn thăm cô vài câu
Bao cô dưới cùng mái trường
Khi xưa đã tặng hoa mừng
Nay có còn theo bước thương không…”

Bài hát này kể câu chuyện tình giữa cô nữ sinh và người lính.

Võ Thị Hai, một cựu nữ sinh Gia Long, hồi tưởng lại một thời áo trắng của bà và của những người cùng thế hệ:

“Có lẽ đại đa số cựu nữ sinh Gia Long chọn người yêu đi lính là một sự vô tình, không phải là sự chọn lựa. Vì thời đó là thời loạn, đại đa số thanh niên phải đi nhập ngũ, làm nghĩa vụ của người trai. Có những người trở về, có những người mất tích, một thiểu số ở lại nếu họ bị thương.

Những mối tình của nữ sinh Gia Long rất trong sáng, tuyệt đặt trong vòng lễ giáo, không bao giờ vượt quá lễ nghi của gia đình miền Nam Việt Nam lúc đó.”

gialong1

Cuộc tình của cô nữ sinh và người chiến sĩ trong nhạc phẩm của Phượng Linh (bút danh của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông) là một trong rất nhiều cuộc tình khác đã nảy sinh trong thời kỳ loạn ly ấy. Ông gọi cô gái của mình với cái tên chung là cô nữ sinh Gia Long, đơn giản như món quà là màu hoa thép súng của người lính trao tặng cô ngày anh lập chiến công.

SG-Solex02

“Này cô xuân nữ Gia Long thành đô
Màu hoa thép súng xin dành tặng cô
Hoa em vẫn vẹn sắc màu
Trao anh chiếm cả tấm lòng
Một sắc màu em đã ghi sâu”

Trường nữ sinh Lê Văn Duyệt (Sài Gòn)

Khác với sự lâu đời của trường Gia Long và Trưng Vương, trường nữ Lê Văn Duyệt hiện ra với dáng dấp năng động của một ngôi trường nữ sinh trẻ.

Cũng như Gia Long, trường Lê Văn Duyệt “made in Saigon” chính hiệu, nhưng có tiền thân là trường Trương Tấn Bửu đào tạo cả nam và nữ. Sau khi tách cả nam nữ ra thì trường nữ sinh Lê Văn Duyệt được thành lập tại số 95 đại lộ Lê Văn Duyệt – vốn là một lô đất mới (nay là đường Đinh Tiên Hoàng).

levaduyet

Nhiều người thắc mắc tại sao một trường nữ sinh lại mang tên một nam nhân vậy? Có lẽ ngày xưa trường Trương Tấn Bửu tọa lạc gần nơi thờ Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt (Lăng Ông – Bà Chiểu), lại nằm trên đường Lê Văn Duyệt nên người ta lấy tên ông đặt tên cho trường.

Nữ sinh Lê Văn Duyệt năm 1970

Có người đã nói về cái tên trường như sau: “Tiếc thương cho người em Lê Văn Duyệt, không phải vì thua kém đàn chị Gia Long hay Trưng Vương, nhưng tại cái tên… khó đưa vào văn thơ quá nên chẳng thể nào khớp được vào thơ ca của Phạm Duy”.

levanduyet

Vào năm 1963 thì trường chưa có lớp Đệ Nhất nên nữ sinh phải chia tay trường sang Trưng Vương học lớp Đệ Nhất. Nhưng sau đó thì các lớp Đệ Nhất đã được mở thêm. Sau năm 1975, trường mang tên Võ Thị Sáu đào tạo cả nam lẫn nữ.

Trường nữ sinh Đồng Khánh (Huế)

Trường nữ sinh Đồng Khánh là trường dành cho nữ sinh duy nhất ở miền Trung. Trường đặt tại Huế, miền đất của nét trữ tình và lãng mạn.

dongkhanh

Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng ngôi trường này diễn ra vào ngày 15 tháng 7 năm 1917, với sự hiện diện của Vua Khải Định, Toàn Quyền Đông Dương Albert Sarraaut, Khâm Sứ Trung Kỳ J.E. Charles, quyền Khâm Sứ Bắc Kỳ J.Le Galler, các hoàng thân, các vị Thượng Thư và một số quan chức cao cấp người Pháp tại Đông Dương.

Trong buổi lễ này, vua Khải Định đã cho đặt xuống móng ngôi trường một số hiện vật để làm kỷ niệm, gồm một cái hộp kim loại chứa 10 đồng Khải Định thông bảo và hai tờ giấy ghi biên bản của buổi lễ bằng tiếng Pháp. Dưới sự điều khiển của nhà thầu Leroy, gần hai năm sau, ngôi trường khánh thành.

Image result for Trường trung học nữ sinh Đồng Khánh Huế"

Đây là ngôi trường nữ đầu tiên và duy nhất dành cho nữ sinh cả 13 tỉnh Trung Kỳ bấy giờ đến học. Theo thời gian, trường được mang nhiều tên gọi khác nhau:

– Từ 1919 – 1954, trường mang tên Cao Đẳng Tiểu Học Đồng Khánh
– Từ 1955-1975, trường mang tên Trường Nữ Trung Học Đồng Khánh gồm hai cấp: Đệ Nhất cấp và Đệ Nhị cấp.
– Sau 1975, trường mang tên Trường Cấp III Trưng Trắc.
– Từ năm 1981 đến nay, trường được đổi tên thành Trường THPT Hai Bà Trưng.

Image result for Trường trung học nữ sinh Đồng Khánh Huế"

Nhạc sĩ người Huế – Thu Hồ (thân sinh của ca sĩ Mỹ Huyền) đã có bài hát nói về những cô gái Huế nữ sinh Đồng Khánh như sau:

Image result for Trường trung học nữ sinh Đồng Khánh Huế"

Cô gái nữ sinh Đồng Khánh kia ơi 
Cô đi về đâu tan buổi học rồi 
Cô xuôi Đập Đá hay về Nam Giao 
Cô về Bến Ngự hay về Đông Ba 
Cô về Vỹ Dạ hay ngược Kim Long…

Khi gió mới lên làn tóc tung tăng 
Xõa ngang bờ vai khi tuổi dậy thì 
Đôi môi hồng thắm duyên là nên duyên 
Mắt tròn như mộng say đời xinh xinh 
Cô là tất cả trời đẹp xứ Kinh…

Trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân (Đà Lạt)

Trường Bùi Thị Xuân được thành lập năm 1952 với cả nam và nữ theo học, là trường nữ công lập đầu tiên ở vùng tây nguyên. Đến năm 1957 thì trường chỉ đào tạo nữ theo yêu cầu của Bộ Giáo Dục VNCH. Nam sinh được chuyển sang trường Trần Hưng Đạo.

buithixuan

Trái với Trưng Vương, Gia Long hay Lê Văn Duyệt nằm ở chốn đô thành náo nhiệt, Bùi Thị Xuân mang vẻ đẹp êm ả của xứ Đà Lạt mộng mơ. Do vậy mỗi khi nhắc đến Bùi Thị Xuân là nhắc đến Đà Lạt, một vùng đất quanh năm sương phủ đẹp đến nên thơ, nơi mà nhạc sĩ Lam Phương đã viết lên khúc huyền thoại Thành Phố Buồn.

Tuy vậy, trường có vị trí khá gần với những vùng chiến sự ác liệt của một thời nên cũng trải qua biết bao thăng trầm, trôi nổi cùng lịch sử. Với những người nghiên cứu về các trường nữ sinh xưa, không ai có thể quên hình ảnh cô Hiệu Trưởng Lệ Minh – đóa hồng một thời. Cô là một người phụ nữ đẹp, có đủ tài lẫn sắc. Hiện cô đang định cư tại Hoa Kỳ.

Hiện nay, trường Bùi Thị Xuân vẫn giữ nguyên tên và được xem là một trong những trường học lớn, số lượng học sinh đông và có tuổi đời lâu nhất của thành phố Đà Lạt.

buithixuan1

Trước khi ngôi trường chính thức mang tên Bùi Thị Xuân năm 1957 cho đến nay thì đã từng mang nhiều tên khác nhau:

Đầu thập niên 1950, để đáp ứng nhu cầu học tập cho con em người Việt Nam ở đây, chương trình Trung Học Việt Nam đã được thiết lập với sự ra đời của trường Trung Học Việt Nam (Lycée Vietnamien) vào tháng 9 năm 1952 với địa điểm đầu tiên tại trường Tây Hồ (nay là trường THCS Phan Chu Trinh). Lúc này, trường chỉ có duy nhất 1 lớp Đệ Thất (lớp 6). Trường trở thành một trong 3 trường Trung Học công lập của Đà Lạt lúc bấy giờ là trường Lycée Yersin và trường Lycée Bảo Long.

Image result for Trường trung học nữ sinh Bùi Thị Xuân"

Năm 1953, trường chuyển sang mượn tạm địa điểm tại trường Tiểu Học bổ túc Đà Lạt (nay là trường Tiểu Học Đoàn Thị Điểm). Lúc bấy giờ trường có 3 lớp: 2 lớp Đệ Thất (lớp 6) và 1 lớp Đệ Lục (lớp 7).

Năm 1954, trường được chuyển về địa điểm hiện nay, lúc đó vừa mới được xây xong. Trường lấy tên là trường Phương Mai – tên của Công Chúa, con gái Quốc Trưởng Bảo Đại và chỉ có một dãy nhà A gồm 10 phòng học. Do hệ quả của Hiệp định Genève được ký kết vào ngày 20/07/1954, rất nhiều người dân đã di cư từ phía Bắc vào miền Nam và định cư tại Đà Lạt, số học sinh của trường vì vậy cũng tăng lên khiến trường phải mở thêm các lớp Đệ Ngũ (lớp 8), Đệ Tứ (lớp 9).

http://www.cdad.com/tuan/mariecurie/otherpics/jf-noel1951-3.jpg

Năm 1955, khi Quốc Trưởng Bảo Đại bị truất phế sau một cuộc Trưng Cầu Dân Ý do chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức vào tháng 5, trường Phương Mai được đổi tên thành trường Quang Trung. Trường mở thêm Đệ Nhị Cấp (Tương đương cấp THPT hiện nay).

Năm 1957, trường Quang Trung được đổi tên thành trường Bùi Thị Xuân và mang tên này cho đến nay.

Trường Trung Học Marie Curie (Sài Gòn)

Ngay khi chiếm xứ Nam Kỳ, người Pháp đã thiết lập trường học để giảng dạy tiếng Pháp và tiếng An Nam, mở trường bổn quốc và trường nữ (trường nữ là Trường Marie Curie sau này). Như vậy, Trường Marie Curie được thiết lập trong khoảng từ năm 1858 đến 1862 (năm Pháp giành quyền bảo hộ xứ Nam Kỳ theo Hòa ước Nhâm Tuất 1862).

Trường mang tên nữ Bác Học Marie Curie từ năm 1918, là trường dành riêng cho nữ sinh, với tên gọi ban đầu là Cao Đẳng Tiểu Học nữ sinh người Pháp (Ecole Primaire Supérieure des Jeunes Filles Françaises) Lycée Marie Curie.

http://www.cdad.com/tuan/mariecurie/otherpics/jf-saulais.jpg

Sau khi Nhật tiến vào Đông Dương năm 1941, trường bị trưng dụng làm bệnh viện nên phải chuyển địa điểm sang một trường Mẫu Giáo ở đường Phạm Ngọc Thạch ngày nay.

http://www.cdad.com/tuan/mariecurie/otherpics/jf-honneur-2.jpg

Một năm sau, trường được trả lại và dời về địa điểm cũ với tên gọi mới là Trung Học cơ sở Calmette.

Sau khi quân Pháp trở lại chiếm Sài Gòn vào ngày 23 tháng 9 năm 1945, trường được đổi tên thành Trung Học Lucien Mossard.

Đầu năm 1948, trường trở lại với tên gọi cũ là Trung Học Marie Curie (hay Lycée Marie Curie), mang tên nhà Khoa Học người Ba Lan – Pháp từng hai lần đoạt giải Nobel Vật lý.

mariecurie2

Trong thời kỳ VNCH, trường là trường Trung Học tư thục cho nữ sinh. Đến năm 1970, trường mới tiếp nhận thêm nam sinh theo học.

Sau 1975, Trường Marie Curie đổi tên thành Trường Phổ thông cấp 2&3 Marie Curie (cũ) cho hai niên học (1975-1976 và 1976-1977); đến niên học 1977-1978, trường không còn dạy các lớp cấp 2 phổ thông hệ 12/12 năm, chỉ dạy cấp 3 phổ thông hệ 12/12 năm (lớp 10, 11 và 12 các khối AB – C – D) nên Trường Phổ thông cấp 2&3 Marie Curie (cũ) đổi tên thành Trường Phổ Thông Trung Học Marie Curie…

Năm 1997, trường được đổi tên thành Trung Học phổ thông bán công Marie Curie. Trước đây, trường từng là trường Trung Học phổ thông lớn nhất Việt Nam với hơn 5000 học sinh mỗi năm.

Năm 2006, trường được chuyển sang hệ công lập với tên gọi Trung Học phổ thông Marie Curie cho đến nay.

Ngôi trường này có kiến trúc đậm chất Pháp lưu lại trên cổng chào, từng góc cầu thang gỗ, khu vườn với đài phun nước… vẫn còn cho đến ngày nay.

mariecurie3

Trường Trung Học Nguyễn Bá Tòng (Sài Gòn)

Năm 1956, trường được thành lập mang tên vị Giám Mục tiên khởi của Công Giáo Việt Nam có sự trợ giúp đặc biệt của cơ quan Caritas Germanica Đức Quốc, cơ quan NCWC, Công Giáo Hoa Kỳ. Trường tọa lạc tại số 73-75 đường Bùi Thị Xuân, quận 1 Sài Gòn.

nguyenbatong

Trường có nhiều cấp lớp từ Đệ Thất đến Đệ Nhất đủ các môn A, B, C đặt dưới quyền đìều khiển của 8 vị Linh Mục cùng với sự giáo dục của 160 vị giáo sư, 30 nhân viên văn phòng (ghi nhận vào năm 1963). Là một trường Trung Học tư thục nhưng trường được đánh giá cao trong việc giáo dục, uy tín nhất thủ đô. Từ năm 1971 trường chỉ dành riêng cho học sinh nữ. Từ năm 1975, trường trở thành trường Trung Học phổ thông công lập và trường được đổi tên thành trường THPT Bùi Thị Xuân, dành cho cả học sinh nam và nữ.

nguyenbatong1

Ngôi trường này cũng là nơi đã sản sinh nhiều người nổi tiếng, trong đó có ca sỹ Mai Hương, Khánh Ly, Ý Lan. Một số thầy giáo đã dạy trường này như Nhạc sỹ Thu Hồ (nhạc), Nhà văn Bùi Nhật Tiến (Lý Hóa), Nguyễn Văn Kỷ Cương (Toán), Linh Mục Đỗ Đình Tiệm làm Hiệu Trưởng.

Image result for Trường trung học Nguyễn Bá Tòng"

Trường Trung Học Saint Paul (Sài Gòn)

Khi đi ngang ngôi nhà trắng tại số 4 Cường Để, quận 1 (nay là Tôn Đức Thắng) mọi người chỉ biết đây là một Nữ Tu Viện. Tòa nhà này trước kia còn được gọi là “Nhà Trắng”, không phải vì sơn toàn màu trắng như Tòa Bạch Ốc (White House) mà vì ngôi nhà này được xây dựng và làm chủ bởi những nữ tu dòng Saint Paul de Chartres (Thánh Phaolô thành Chartres) “trinh bạch từ linh hồn đến những chiếc áo dòng trắng toát”.

saintpaul

Trước năm 1975, trong nhà dòng này có một trường tư thục với các lớp từ Mẫu Giáo tới Tú Tài với số lượng 1.600 học sinh (có ký túc xá cho học sinh nội trú). Sau năm 1975, có một thời gian là Trường Sư Phạm Mầm Non.

Nếu ai có dịp vào đây sẽ choáng ngợp với không gian rộng rãi, khoáng đãng với kiến trúc ba khối nhà: cô nhi viện, nhà nữ tu ở và khu nhà nguyện. Khu nhà nguyện có thiết kế đặc biệt, nhìn từ trên cao xuống rất giống cây thánh giá, bên trong có thêm nhiều cột đỡ vững chãi, phía trước là một sân cỏ rộng với tượng thánh bổn mạng của dòng Phaolô. Đó là thiết kế mà theo nhận định của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ là: “Một giáo đường huy hoàng với đường nét thẩm mỹ lối Gothique. Các khu vòm hình liềm cung, đua nhau vượt lên tới 20 thước, không một chút chạm trổ hoa hòe làm cho khách tưởng nhớ đến giáo đường Sainte Chapelle. Cảm tưởng nhẹ nhàng vì sự thành công của vị kiến trúc sư làm cho ai vào đó cũng cảm thấy thoát tục…”

saintpaul1

Theo các tài liệu lịch sử truyền giáo, vào ngày 20/5/1860, các nữ tu dòng Thánh Phaolô gốc ở thành Chartres (Soeurs de Saint Paul de Chartres) từ Hong Kong đặt chân đến Sài Gòn. Họ cùng tạm định cư tại một căn nhà nhỏ vùng Chợ Cũ cùng các nữ tu dòng kín (đến Sài Gòn năm 1861).

Vào tháng 9/1862, Mẹ Bề Trên dòng thánh Phaolô Benjamin khởi công xây cất nhà giám tỉnh tại khu đất Đường Thành (Rue de la Citadelle). Toàn bộ công trình này hoàn thành vào ngày 10/8/1864. Trong bản thảo viết tay của Mẹ Benjamin chỉ ghi lại tên Kiến Trúc Sư là Thầy Học. Lúc ấy các bà phước chẳng biết Kiến Trúc Sư “Thầy Học” là ai. Không biết trước đây đã có tài liệu nào xác định Thầy Học là ai chưa.

saintpaul2

Riêng cụ Vương Hồng Sển trong quyển Sài Gòn Năm Xưa in năm 1958 cho biết: “Tương truyền nhà lầu cao lớn nơi đây là do ông Nguyễn Trường Tộ năm xưa đứng coi xây cất”. Vậy Thầy Học, tức là ông Nguyễn Trường Tộ là người thiết kế, xây cất tòa nhà này? Trong tạp chí Văn Đàn (số 4 năm 1961, Sài Gòn) ông Phạm Đình Khiêm đã công bố nhiều tài liệu trong thư khố tu viện đã chứng minh Thầy Học chính là ông Nguyễn Trường Tộ.

Trường Couvent Des Oiseaux (Đà Lạt)

Trường nữ tu Couvent Des Oiseaux có vị trí khá đặc biệt khi không nằm trên địa hình bằng phẳng, mà là một đồi thông, thuộc số 2 đường Huyền Trân Công Chúa, khá gần thác Cam Ly, Đà Lạt…

CouventDesOiseaux

Về lịch sử của ngôi trường, thì cần nhắc đến người thiếu nữ Nguyễn Hữu Thị Lan, là tiểu thư khuê các trong gia đình đại phú hộ Sài Gòn xưa. Bà vốn là nữ sinh của trường nữ tu dòng Đức Bà tại Paris (Cours des Champs-Élysées, rue de Ponthieu).

Image result for Trường Couvent Des Oiseaux"

Sau khi về nước, kết hôn với vị Hoàng Đế cuối cùng của triều Nguyễn là Vua Bảo Đại, trở thành bậc Mẫu Nghi Thiên Hạ, với tước hiệu Nam Phương Hoàng Hậu, bà đã giúp các vị nữ tu dòng Đức Bà mở trường Công Giáo đầu tiên ở Việt Nam cho các nữ sinh trên đồi Lâm Viên Đà Lạt vào năm 1935.

Image result for Trường Couvent Des Oiseaux"

Thuở ban đầu, trường có tên là Notre Dame du Langbian, gọi theo cách thuần Việt là trường Đức Bà Lâm Viên. Cùng với trường Notre-Dame du Rosaire tại Hà Nội (1937) và trường Regina Mundi tại Saigon (1950), thì Notre Dame du Langbian đã đóng góp công lao trong việc giáo dục tri thức.

Tuy nhiên, vào thời điểm mới thành lập, trường chỉ phục vụ là nữ sinh có xuất thân từ các gia đình người Pháp, người Việt, người Campuchia và Lào. Mô hình phát triển của trường được nâng lên dần từ vườn trẻ, trường Tiểu Học rồi chuyển hóa thành nữ sinh Trung Học. Tên gọi chính thức của trường là Couvent des Oiseaux. Đây cũng là một ngôi trường nổi tiếng chu đáo và nghiêm khắc. Ngày nay, ngôi trường trở thành Trường Phổ Thông Dân Tộc Nội Trú Lâm Đồng.

CouventDesOiseaux1

Trường Thiên Phước (Sài Gòn)

Vào năm 1877, để đáp lại lời mời của Đức Cha Colombert, Giám Mục Địa Phận Đàng Trong, Mẹ Benjamin cho lập một Nhà Dục Anh tại Tân Định và cơ sở này được gọi là “Sainte Enfance de Tân Định”.

thienphuoc

Soeur Ignace lúc bấy giờ phụ trách Công Đoàn tiên khởi tại Viễn Đông. Hằng năm bà và các nữ tu đón nhận cả trăm em sơ sinh bị bỏ rơi để săn sóc và nuôi dưỡng chúng. Nhưng có một số trẻ vì quá yếu, bệnh tật không cứu sống được.

Vào năm 1881, Cha Sở Eveillard mời các chị em Dòng Thánh Phao-Lô đến dạy giáo lý cho các em trai và gái của giáo xứ. Ba mươi năm sau, dưới sự huớng dẫn của Soeur Suzanne, nguời phụ trách Công Đoàn, các chị em đảm nhiệm luôn việc giáo dục các thiếu nhi nam nữ tại cơ sở cạnh Công Đoàn.

Gia đình trong họ đạo gởi con em đến cơ sở của các nữ tu để vừa học giáo lý vừa học văn hóa theo chương trình của Bộ Giáo Dục. Các con em của họ học đạo chung với các cô nhi, cũng có một số em của họ đạo xin vào nội trú hoặc bán trú tại trường.

Image result for Trường Thiên Phước"

Trong khoảng năm 1918-1938, song song với sự phát triển của họ đạo, Công Đoàn có những bước tiến đáng ghi nhớ trong thời kỳ Soeur Andréa Amé phụ trách. Lần lượt các lớp Sơ Cấp được mở ra, học sinh đến mỗi ngày một đông…

Vào năm 1941, Soeur Marie Rose lúc bấy giờ đang dạy ở Trường Jeanne d’Arc, Ngã Sáu Chợ Lớn, được mời đến phụ trách Công Đoàn Tân Định thế cho Soeur Amé.

Vào khoảng 1946-1948, lúc tình hình Đệ Nhị Thế Chiến lắng dịu, các lớp Nhì và Nhất đuợc mở thêm để bổ túc chương trình Tiểu Học. Soeur Marie Rose cũng dần dần cho mở thêm các lớp dạy theo chương trình Pháp. Được một năm thì Soeur phải về Pháp chữa mắt và không trở lại. Soeur Alice de Jésus phụ trách tiếp Công Đoàn.

Image result for Trường Thiên Phước"

Năm 1950, Soeur Alice de Jésus đã xây cất thêm các lớp học bên cánh phải của cơ sở, lên lầu viện cô nhi, mở ký túc xá cho các nữ sinh ở tỉnh lên học. Lúc bấy giờ nhà trường Sainte Enfance đã có đủ các lớp Mẫu Giáo, các lớp Tiểu Học Việt-Pháp dọn thi Certificat d’Études Primaries Franco-Indigènes (CEPFI) và mở năm đầu để dọn thi bằng Trung Học Pháp BEPC.

Khoảng giữa thập niên 1950, trường Sainte Enfance có hai chương trình Trung Học Việt và Pháp.

Vào tháng 8 năm 1957, Công Đoàn Tân Định đón tiếp Soeur Pétronille de Marie, nữ tu sĩ Việt Nam đầu tiên đến phụ trách.

thienphuoc2

Ngày 6 tháng Giêng năm 1958, trường Sainte Enfance de Tân-Định được giấy của chính quyền qua Sở Giáo Dục cho phép đi tên là “Trường Thiên Phước” và màu hồng nhạt được chọn cho đồng phục của trường. Trước 1975, ở đây có khoảng 43 nữ tu nhưng vào khoảng thời gian 2001, chỉ còn lại 12 nữ tu. Đứng đầu nhóm nữ tu lúc bấy giờ là Soeur Marie-Patrice Trương Thị Nhung.

Ngày nay, trường này được đổi tên thành Trường THCS Hai Bà Trưng, địa chỉ 295 Hai Bà Trưng, Q3, Sài Gòn.

haibatrung

Trường Notre Dame Des Missions (Sài Gòn)

Tên trường được chọn là Notre Dame Des Missions đơn giản là vì trường của dòng Notre Dame Des Missions. Trường ở Thủ Đức, dạy theo chương trình Pháp và đến năm 1970 thì có thêm chương trình Việt song song cho Trung Học Đệ Nhất Cấp.

notredame

Khu đất của trường được mua từ năm 1959 từ nhiều chủ khác nhau, và khởi công xây dựng năm 1960. Dãy nhà đầu tiên làm trường Tiểu Học, nhà nội trú và dãy nhà dành cho các Soeurs. Đến năm 1969 thì mới xây thêm dãy nhà danh cho Trung Học Đệ Nhất và Đệ Nhị Cấp.

Đến năm 1975, khu nhà trường Tiểu Học và nhà nội trú cùng dãy nhà trường Trung Học bị chính quyền mới sử dụng làm cơ quan cho đến nay. Vì không sử dụng đúng mục đích nên các Soeurs đã làm đơn đòi lại cơ sở từ năm 2004.

Trường Nữ Trung Học Hồng Đức (Đà Nẵng)

Trường được lập ra cuối năm 1967, sau khi niên khóa 67-68 đã bắt đầu. Địa điểm được chọn nằm trên đường Thống Nhất, cạnh trường Trung Học Phan Châu Trinh và Nam Tiểu Học, thành phố Đà Nẵng. Ngôi trường được xây trên một nghĩa trang cũ của người Pháp, có người mê tín cho là không tốt nên yểu mệnh.

hongduc

Niên khóa đầu tiên, trường có thi tuyển để nhận thêm nữ sinh vào, bên cạnh những nữ sinh được chuyển qua từ trường Phan Châu Trinh và gồm có có Đệ Thất đến Đệ Tứ. Liên lớp đàn chị ra trường năm 1971, niên khóa 70-71.

Image result for trường Nữ Trung Học Hồng Đức (Đà Nẵng)"

Trường mang tên Nữ Trung Học Hồng Đức từ niên khóa 73-74. Mùa xuân Ất Mão, trường lần đầu tiên tổ chức hội chợ rất quy mô. Đặt ngày truyền thống 30 tháng 1 Âm lịch (húy nhật của vua Lê Thánh Tôn, bút hiệu Hồng Đức) và lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng.

hongduc1

Nhưng tiếp theo đó là cuộc di tản của đồng bào từ Quảng Trị, Thừa Thiên về. Nhà trường biến thành trại tị nạn. Kế đến biến cố 29 tháng 3 năm 1975. Niên Khóa 74-75 kéo dài đến hết niên khóa, sau đó trường biến thành Đại Học Sư Phạm. Học sinh còn theo học của Nữ Trung Học Hồng Đức phân tán đi khắp nơi.

Image result for trường Nữ Trung Học Hồng Đức (Đà Nẵng)"

Trường nữ Trung Học Qui Nhơn (Ngô Chi Lan)

Image result for Trường nữ trung học Qui Nhơn (Ngô Chi Lan)"

Cơ sở này nguyên là Trung Học Tư Thục Tân Bình, mở dạy các lớp Trung Học Đệ Nhất Cấp nằm trên đường Nguyễn Huệ, nhưng quay mặt về hướng Bắc, phía Nhà Thờ Chánh Tòa (còn gọi là Nhà Thờ Nhọn), và cổng trường thông ra đường Hai Bà Trưng. Sau năm 1963, cơ sở này được sung công và thuộc tài sản của tỉnh Bình Định, rồi chuyển cho Bộ Giáo Dục để mở một trường Trung Học công lập cho tỉnh.

quinhon

Từ giữa năm 1964, trường này trở thành công lập, cổng quay lại về hướng Nam (phía bờ biển) để thông ra đường Nguyễn Huệ và đổi tên là trường Nữ Trung Học Quy Nhơn.

Trường được hợp thức hóa bằng nghị định số 2214/GD/PC/NĐ, ký ngày 4 tháng 12 năm 1964 của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, và khai giảng niên khóa đầu tiên 1964-1965. Ban đầu, trường chỉ có các lớp Trung Học Đệ Nhất Cấp, rồi được phát triển thành Đệ Nhị Cấp. Niên khóa 1972-1973, trường sở phát triển tới 18 phòng học với sĩ số là 2559 người, trong đó có 1892 nữ sinh Đệ Nhất Cấp và 667 nữ sinh Đệ Nhị Cấp.

Nữ Trung Học Qui Nhơn là trường công lập Đệ Nhị Cấp có lớp 12, và trải qua 3 đời Hiệu Trưởng: Cô Trần Thị Gia (1964-1968), cô Vương Thúy Nga (1968-1970) và cô Lê Thị Cúc (1970-1975).

quinhon1

Một sự kiện quan trọng, niên khóa 1972-1973, trường Nữ Trung Học Qui Nhơn được Bộ Giáo Dục cho đổi tên thành trường Nữ Trung Học Ngô Chi Lan, là tên của một nữ danh sĩ thời Hậu Lê. Bà Ngô Chi Lan nổi tiếng về nhan sắc và đức hạnh, giỏi thi ca, thông nhạc lý, viết chữ đẹp. Chính vua Lê Thánh Tông đã ban khen, phong danh hiệu Kim Hoa Nữ Học Sĩ, cho dự nhiều cuộc xướng họa thơ văn của triều đình, được giao việc dạy lễ nghi và văn chương cho các cung nhân.

Trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi

Trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi là trường nữ công lập lớn nhất ở tỉnh Quảng Ngãi trước năm 1975. So với bốn trường tư thục khác thời ấy là Kim Thông, Bồ Đề, Hùng Vương, Chấn Hưng, tiêu chí tuyển chọn nữ sinh của trường rất khắt khe.

quangngai

Lớp 12 Trung Học công lập Bình Sơn (Quảng Ngãi), chăm chú làm bài thi Lục Cá Nguyệt. (Photo 1974 - Trương Quang)

Ngôi trường không chỉ nổi tiếng bởi có nhiều nữ tú, xinh đẹp mà còn đào tạo cả đức tài. Học sinh ngoài học văn hóa ra còn được thầy cô dạy cho đức tính công dung ngôn hạnh, dạy nấu ăn, cầm, kỳ, thi họa và cả cách đi đi đứng, ăn nói…

Theo cô Nguyễn Thị Loan – Hiệu Trưởng nhà trường từ năm 1971 đến 1975 thì Trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi được hình thành từ việc tách số nữ sinh từ lớp lớp 6 đến lớp 9 của Trường Trung Học Trần Quốc Tuấn. Khi chưa có cơ sở chính thức, trường phải học nhờ khắp nơi. Đến tháng 6.1965, trường được khánh thành và duy trì hoạt động cho đến năm 1975.

Thời điểm ngôi trường được xây dựng hoàn thành, cũng là lúc cô Loan được bổ nhiệm về công tác tại trường. Cô Loan nhớ lại, lúc đó trường có 13 lớp từ lớp 6 đến lớp 10. Cho đến niên khóa 1974 -1975, trường có 41 lớp với gần 2.000 học sinh từ lớp 6 đến lớp 12 nhưng chỉ có 15 phòng nên việc học cũng gặp nhiều khó khăn.

Trường có quy chế khá nghiêm ngặt, luôn đặt vấn đề kỷ luật lên hàng đầu. Các em đi học phải mặc đồng phục áo dài, quần dài trắng, bất kể trời nắng hay mưa. Học sinh nào đi trễ năm phút bị ở ngoài cổng và xem như vắng học không phép.

“Học sinh ngày ấy rất ngây thơ, giàu tình cảm và hiếu học. Phần lớn các em được tuyển chọn từ các vùng quê trong tỉnh về học nên rất biết giúp đỡ lẫn nhau. Ngoài vấn đề kỷ luật, thành tích học tập, một lĩnh vực khiến chúng tôi vô cùng tự hào khi nhắc đến bề dày thành tích của Trường Nữ Trung Học chính là phong trào văn nghệ. Đội văn nghệ của trường “ăn đứt” các trường khác, luôn dẫn đầu trong các cuộc thi giữa các trường Trung Học trong toàn tỉnh”, cô Hà Thị Tham – Giám thị nhà trường nói với vẻ đầy tự hào.

Nói về đội ngũ dạy học, trường hội tụ đội ngũ giáo sư có năng lực, trình độ chuyên môn ở khắp nơi về công tác, chiếm đa số vẫn là giáo sư đến từ xứ Huế mộng mơ. Giọng Huế ngọt ngào và ấm áp của các thầy, cô khiến cho các bài giảng nhẹ nhàng hơn trong mỗi tiết học, dễ đi vào lòng học sinh.

 

Kim Phượng st

Image result for Nhìn lại các trường nữ trung học nổi tiếng của miền Nam trước năm 1975 hình bìa"

 

 

 

Xem thêm...

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán và những phong tục truyền thống đêm giao thừa

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán

và những phong tục truyền thống đêm giao thừa

 

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán và những phong tục truyền thống đêm giao thừa

Người Á Đông coi Tết âm lịch là dịp lễ lớn nhất trong năm. Vào dịp này, mỗi dân tộc đều có những phong tục đặc biệt để đón chào một năm mới bình an.

“Trừ tịch” hay “giao thừa” là đêm cuối cùng của một năm, đêm của tháng 12 theo Hoàng lịch, cũng là điểm chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Thời điểm bắt đầu giờ Tý (0 giờ) ngày mùng 1 tháng Giêng. Đêm giao thừa hay còn gọi là đêm trừ tịch là thời điểm quan trọng đánh dấu cho một năm cũ kết thúc và một năm mới đã đến. 

Theo văn hóa truyền thống, đón năm mới không chỉ là đêm giao thừa, mà là một loạt phong tục từ lúc giao thừa cho tới ngày hôm sau để cầu mong sự hồi sinh, loại bỏ những điều xấu, cầu mong nhiều may mắn trong năm mới. Những phong tục văn hóa truyền thống trong đêm giao thừa là gì và có ý nghĩa như thế nào?

Nguồn gốc và truyền thuyết Tết Nguyên Đán 

Nguồn gốc của Tết Nguyên Đán có nhiều cách diễn giải, tuy nhiên, giả thiết được nhiều người chấp nhận là một câu chuyện từ thời vua Nghiêu vua Thuấn. Vào ngày lên ngôi, vua Nghiêu đã dẫn theo thuộc hạ lên núi khấn bái trời đất. Kể từ đó, người ta gọi ngày này là “tuế thủ” và coi là khởi đầu của một năm. Đây là một trong những giả thuyết được lưu truyền rộng rãi nhất.

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán còn có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ các triều đại. Thời Tam Hoàng, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng Giêng, tức tháng Dần làm tháng đầu năm mới. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng Chạp là tháng đầu năm. Còn nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một làm tháng Tết. Mãi cho đến đời nhà Hán, sau khi thống nhất giang sơn Hán Vũ Đế đã đặt lại ngày đầu năm mới vào tháng Dần, tức tháng Giêng. Từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn vị vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Image result for cúng giao thừa

Cũng có nghiên cứu cho rằng Tết Nguyên Đán có nguồn gốc từ phong tục tế lễ tháng Chạp thời thượng cổ, đến nay đã có lịch sử hơn 4000 năm. Ngay từ thời kỳ vua Nghiêu – Thuấn, ở vùng đất Trung Nguyên đã xuất hiện hoạt động “Lạp tế”. Lạp tế là hoạt động tế lễ bách thần diễn ra vào tháng cuối cùng trong năm, nhằm cảm tạ thần linh đã phù hộ cho dân chúng no đủ, mùa màng bội thu. Nghi thức tế lễ này vô cùng trang trọng, mọi nhà đều phải chuẩn bị những loại thực phẩm ngon nhất để tế tự bách thần. Bởi thế, người ta đã đi săn nhằm kiếm thịt thú rừng tươi, có mùi vị thơm ngon để làm tế phẩm. Thời cổ, chữ “liệp” đồng nghĩa với chữ “lạp”, bởi vậy “Lạp tế” còn có ý nghĩa là hoạt động săn bắt, tế tự.

Theo một truyền thuyết khác, khởi đầu của Tết Nguyên Đán là cuộc chiến chống lại con niên quanh năm sống dưới đáy biển. Con niên hay đến vào dịp đầu năm mới để phá hoại gia súc, mùa màng, giết hại dân làng, đặc biệt là trẻ con. Để bảo vệ mình, dân làng đặt thức ăn trước cửa nhà vào dịp đầu năm, và sau đó, già trẻ trai gái cùng dắt nhau lên núi trốn chạy con niên. Mọi người tin rằng làm vậy thì con thú sẽ không tấn công dân làng nữa. 

Một lần, có ông lão đến thôn làng khất thực, vừa hay dân làng đã trốn hết lên núi, chỉ còn một bà lão ở lại mang cho ông thức ăn và khuyên ông nhanh chân chạy trốn. Không ngờ ông lão nói: “Hãy cho tôi ở lại nhà hôm nay, tôi sẽ đuổi được con niên đi”. 

Đêm hôm ấy, con niên đến thôn như thường lệ, nhưng phát hiện ra có điều bất thường: Bên ngoài cửa nhà của bà lão và đầu thôn đều dán giấy đỏ, bên trong nhà lại có ánh lửa sáng rực. Con niên vô cùng sợ hãi, kêu to một tiếng rồi định bụng tháo chạy. Nhưng ngay lúc đó, bên trong vườn đột nhiên phát ra tiếng pháo nổ lớn khiến con niên khiếp đảm, một mạch chạy thẳng ra cửa mà không dám quay đầu trở lại nữa. Sau này, dân làng mới hiểu ra rằng con niên sợ màu đỏ, ánh lửa và tiếng pháo nổ. 

Từ đó về sau, vào những ngày đầu năm, dân làng thường treo đèn lồng đỏ, dán giấy đỏ trên cửa sổ và cửa ra vào. Mọi người cũng dùng pháo hoa để làm cho con niên khiếp sợ. Từ đó, con niên không bao giờ tới làng nữa. Cuối cùng, con niên bị Hồng Quân Lão Tổ bắt và trở thành vật cưỡi của Hồng Quân Lão Tổ.

 

Ảnh minh họa: Lovepik.

Các phong tục truyền thống  

Cúng tế trước đêm giao thừa

Related image

Vào thời cổ đại, ngày mồng tám tháng Chạp là ngày cúng bái Thiên Địa, vị Thần linh vĩ đại nhất của một năm. Về sau, ngày tịch nhật hay ngày mồng tám tháng Chạp được kết hợp là ngày cúng bái Thần Phật. Vào ngày này người dân đeo trống eo lưng đóng giả làm Kim Cang lực sĩ để xua đuổi tà ác và dịch bệnh, đón chào một năm mới an lành, cát tường may mắn. Ngày 16 tháng Chạp được người Trung Hoa cổ gọi là “Vĩ Nha”, nghĩa là tiệc cuối năm. Vào ngày này, trong dân gian mọi người long trọng tổ chức lễ cúng thổ địa, thổ công, sau đó mới là các phong tục trước lễ giao thừa. 

Tục đầu tiên là lễ tế ông Táo, tổ chức vào ngày 23 tháng Chạp. Phong tục tiễn ông Công ông Táo về trời bắt đầu từ thời Khổng Tử (551 – 479 TCN). Ông Táo được xem là vị Thần cai quản việc bếp núc trong mỗi nhà. Các thư tịch cổ có nhiều ghi chép về phong tục tế Táo Quân. Sách Nghi Thức có một bản ghi chép về bếp cúng tế, là một trong năm nghi lễ thờ cúng tổ tiên vào cuối triều đại nhà Chu. Vào thời điểm đó, mỗi gia đình thờ cúng tổ tiên và các vị Thần đất, bao gồm cửa, giữa phòng, bếp, và linh đường. Theo truyền thuyết, hàng năm vào ngày 23 tháng Chạp, Táo Quân lên Thiên đình báo cáo với Ngọc Hoàng về gia chủ trong năm qua. 

Vào ngày tiễn ông Công ông Táo, dân gian thường dọn dẹp nhà cửa để xua đuổi xui xẻo. Họ quét dọn và bỏ đi những thứ không cần thiết, đó là cách để nói lời tạm biệt với năm cũ. Người xưa tin rằng việc quét dọn trong những ngày đầu tiên của năm mới có thể ngăn cản vận may. Cũng trong ngày 23 tháng Chạp, người ta sẽ bày bàn thờ gần bếp, cúng Táo Quân bằng thịt, cá, rượu nếp, bánh kẹo, đặc biệt là kẹo mạch nha để Táo quân nói những lời “ngọt ngào” với Ngọc Hoàng, báo cáo những điều tốt đẹp và mang lại vận may cho gia chủ trong năm mới. 

Trang trí nhà cửa và treo câu đối

Image result for câu đối tết canh tý

Đỏ và vàng là hai màu sắc mang ý nghĩa biểu tượng trong văn hóa truyền thống. Màu đỏ biểu tượng cho sự may mắn và tràn đầy năng lượng, màu vàng liên quan đến sự giàu sang và hạnh phúc. Dùng màu sắc này để trang trí nhà hay trên quần áo là cách để chào đón năm mới may mắn. Số “8” cũng được xem là biểu tượng cho sự may mắn và giàu có, vì số 8 đọc là “Bát”, phát âm gần với chữ “phát”, có nghĩa là thịnh vượng và giàu có.

Về tục dán giấy lên ô cửa sổ: Các loại giấy được dán thường là những bức tranh miêu tả về cuộc sống nông thôn hay câu chuyện thần thoại, và người dân thường có truyền thống đặt cửa sổ quay về hướng Nam và Bắc.

Về bày tranh và tác phẩm nghệ thuật về chủ đề năm mới: Theo truyền thống, các tác phẩm này đều có hình ảnh thể hiện sự an khang thịnh vượng, bao gồm động vật và hoa quả. Theo phong tục, bạn có thể dán bức tranh của một “vị Thần canh cửa” lên cửa nhà để giúp chống lại ma quỷ và mang phước lành cho gia đình.

Tranh hai vị thần giữ cửa (ảnh minh họa: Dennishodgson).

Treo câu đối, treo hình Môn Thần, hay dán chữ Phúc trước cửa nhà cũng là một phong tục điển hình. Đặc biệt việc treo chữ Phúc trở nên gần gũi với hầu hết người dân khi không phải ai cũng có đủ tiền để sắm cho mình một câu đối hay các bức vẽ Môn Thần. Người ta thường treo ngược chữ Phúc trong dịp đầu năm với mong muốn “Phúc đáo”. Trong tiếng Hán, chữ “ đáo” (倒) nghĩa là ‘ngược’, và “đáo” (到) nghĩa là ‘đến, tới’ là đồng âm với nhau. Do vậy, treo ngược chữ “Phúc” giống như một câu chào mừng trong ngày xuân: “Phúc đến nhà rồi!”.

Làm bánh đêm giao thừa 

Image may contain: 1 person, smiling

Bữa cơm giao thừa thường rất thịnh soạn, và theo truyền thống, sẽ có hai món ăn chủ yếu là gà và cá. Ở một số nơi, cá sẽ không được ăn hết, phần còn lại sẽ được để qua đêm, như vậy sẽ thành “Niên niên hữu ngư” (năm năm có cá). Người xưa làm như vậy với mong muốn cả năm sắp tới sẽ có cuộc sống đầy đủ, dư giả, bởi lẽ “Niên niên hữu ngư” cũng đồng âm với cụm từ “Niên niên hữu dư” ý chỉ cả năm dư thừa, sung túc, đầy đủ. 

Bánh sủi cảo cũng là món ăn được ưa chuộng, thường làm bằng cách gói các loại nhân với ý nghĩa tượng trưng khác nhau vào vỏ bánh, nghĩa là gói ghém may mắn rồi ăn vào người để hưởng may mắn cho cả năm. Trong mâm cơm, ngoài cá hấp (ngụ ý dư thừa của cải) còn có mỳ trường thọ, bánh sủi cảo cùng nhiều món ăn truyền thống khác.

Ăn bánh sủi cảo trong những ngày Tết đến là một phong tục đầu xuân. Trước đây thì mọi người trong gia đình luôn quây quần lại để cùng nhau làm bánh. Có một điều thú vị trong chiếc bánh sủi cảo, đó là đôi khi người ta sẽ cho vào trong nhân một đồng tiền xu rồi mới đem hấp, nếu ai ăn trúng chiếc bánh ấy thì được coi là may mắn cả năm.

Đốt pháo đầu năm mới

Related image

Đốt pháo đầu năm là một phong tục để tạo nên bầu không khí rộn ràng những ngày đầu năm. Đầu tiên người ta sẽ đốt một dây pháo nhỏ, rồi tiếp theo là đốt 3 tiếng pháo lớn hơn tượng trưng cho việc năm cũ đã qua và chào đón năm mới đang tới. Tuy nhiên, hiện nay việc đốt pháo đã bị cấm ở những thành phố lớn, chỉ còn xuất hiện tại một số vùng nông thôn hẻo lánh.

Kiên Định

Mâm cỗ Tết cổ truyền của người miền Bắc gợi nhớ, gợi thương

 

Image result for cúng giao thừa

 Tết là dịp cả gia đình sum vầy bên mâm cơm ấm cúng với những món ăn truyền thống của dân tộc. Mỗi vùng miền có những món ăn ngày Tết đặc trưng, vừa hàm chứa ý nghĩa tâm linh, vừa thể hiện bản sắc văn hóa lâu đời.

Nếu bạn là đứa con xa quê, những món ăn của ngày Tết cổ truyền miền Bắc sau đây sẽ giúp bạn cảm thấy quê hương như đang ở rất gần.

1. Bánh chưng

Ảnh dẫn từ Điện Biên.

Với ý nghĩa biết ơn cha ông và đất trời, chiếc bánh chưng và truyền thuyết bánh chưng bánh dày đã đi vào tiềm thức của người dân Việt. Vì vậy, trong mâm cỗ Tết của người Việt không thể không nhắc tới bánh chưng.

2. Dưa hành

Chắc hẳn người Việt ai cũng đã từng nghe câu ca dao: “Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ/ Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh”. Vị chua giòn thơm của dưa hành, cùng miếng thịt mỡ béo ngậy trong bánh chưng khi ăn kèm đã đủ đánh thức vị giác, đánh thức không khí Tết đang về trên khắp mọi miền đất nước. Điều đó đã trở thành một phần văn hóa Việt.

Ảnh dẫn từ Tin Tức online.

Đôi khi những người đi xa thèm một chút dư âm ngày Tết, tìm về cố hương chỉ để được ăn bánh chưng với món dưa hành chua chua, mằn mặn. Chỉ thế là đã đủ để cảm nhận hương vị của quê nhà.

3. Thịt gà

Gà mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp theo quan niệm của người xưa. Trong 12 con giáp, gà là biểu tượng cho sự cương trực và mạnh mẽ. Còn trong văn học, gà lại được cho là loài sở hữu 5 đức tính lớn: Văn, Võ, Dũng, Nhân, Tín.

Ảnh: Pinterest.

Với mong muốn “cầu gì được nấy phúc đức đủ đầy”, gà là món ăn không thể thiếu trong mâm cơm những ngày đầu năm mới.

4. Giò 

Mỗi món ăn trong mâm cỗ Tết đều mang một ý nghĩa tốt đẹp đến với các thành viên trong gia đình. Giò cũng là món ăn như vậy, nó tượng trưng cho sự phú quý, sang trong.

Ảnh dẫn từ Món Đặc Sản Việt.

Đây là món ăn phổ biến cho ngày Tết bận rộn. Cắt khoanh giò thành từng miếng vừa ăn và bầy biện đẹp mắt, nó sẽ làm mâm cỗ của gia đình bạn đầy đủ và hấp dẫn hơn.

5. Nem rán

Ảnh dẫn từ Massage is healthy.

Nem rán cũng là món ăn góp phần khiến mâm cỗ Tết được phong phú và ngon lành hơn. Người miền Bắc thì gọi là nem rán, mà người miền Nam gọi bằng cái tên thân thương là chả giò. 

6. Xôi

Ảnh dẫn từ Tư Vấn Mua Bán.

Với mong muốn mọi người gắn kết với nhau hơn, qua năm mới sẽ thành công hơn và may mắn hơn năm cũ, món xôi cổ truyền là món ăn vô cùng ý nghĩa không thể thiếu trên bàn tiệc, bàn cúng… vào dịp lễ Tết.

7. Canh măng 

Ảnh dẫn từ Savourydays.

Trong mâm cỗ cúng ngày Tết của người miền Bắc, không thể thiếu một bát canh măng khô móng giò hoặc canh măng khô nấu xương. Nó mang ý nghĩa mong muốn vạn sự tốt lành, no đủ cả năm cho cả gia đình.

 

Hồng Vân sưu tầm

 

 

 

Xem thêm...

BÂNG KHUÂNG CHIỀU XUÂN

 BÂNG KHUÂNG CHIỀU XUÂN

~~<><><><>~~

“ Ngày thắm tươi bên đời xuân mới
Hồn đắm say bao nguồn vui mới
Xuân về bao ngàn hoa tươi thắm
Ta muốn hái muôn vàn đóa hồng…” 
 

 

Khúc nhạc xuân dìu dặt, tươi vui đang dẫn hồn tôi đến với những ý tưởng dễ thương, đáng yêu trong sự chờ đợi tuyệt diệu. Tôi đang chờ đợi, chờ đợi phút giây được gặp anh - người tình muôn trùng xa cách nay được gặp lại. 

Xuân đã về thật rồi. Nắng xuân nhảy múa điệu đàng trên từng khóm hoa, luống cỏ trong vườn. Nắng khiêu vũ - tôi mỉm cười. Những bước nhảy nắng xoay lướt uyển chuyển có lúc thật cuồng nhiệt rồi đột nhiên ngã người theo làn gió thoảng.

Hồn nhạc hòa trong gió xuân hây hây quyện vào nắng ấm cùng với hương và sắc hoa vẽ nên một bức tranh xuân tươi vui, rộn ràng như lòng tôi đang vui, đang háo hức tưởng tượng phút giây được gặp anh …

Tôi hân hoan rời nhà đến điểm hạn. Điểm hẹn của chúng tôi là quán café Cội Nguồn - nơi mà 10 năm trước đây anh đã từ giã tôi ra đi. Quán vẫn dễ thương và thơ mộng như ngày nào. Tôi đảo mắt tìm kiếm anh. Anh đó ư.Tim tôi đập liên hồi. Đưa tay làm dáng vuốt mái tóc dài tôi lặng lẽ nhìn anh long bồi hồi. Giọng anh vẫn ngọt ngào: 

- Em vẫn như xưa. 

Tôi mỉm cười tinh nghịch : 

- Anh cũng vẫn như xưa. 

Rồi anh nhìn tôi. Tôi nhìn anh đắm đuối. Nhạc vẫn trổi lên dịu dàng, đằm thắm, ca từ tha thiết, quyến rũ: 

“Gió chiều thầm vương bao nhớ nhung
Người yêu thoáng qua như giấc mộng…” 
 

- Anh về lúc nào ? Tôi làm dáng hỏi anh. 

Anh ngập ngừng không trả lời câu hỏi của tôi.

- Em còn giận anh? 

- Không, em không giận anh chỉ thấy tiếc cho anh. 

- Tiếc gì? Giọng anh thật nhỏ. 

- Này nhá, nếu ngày ấy anh không từ giã quê hương ra đi thì bây giờ, em nghĩ cuộc sống của anh chắc chắn sẽ có nhiều màu sắc hơn. Anh tài hoa: nhạc sĩ là anh, họa sĩ cũng là anh rồi anh còn là một nha sĩ. Ba cái sĩ có trong người anh sẽ giúp anh có một cuộc sống đẹp, đầy ý nghĩa, nên thơ và lãng mạn. 

Cầm ly café đen xoay tròn trong tay, giọng anh ngậm ngùi : 

- Gặp lại em, anh mừng lắm. Anh đã đánh mất cái sĩ thứ ba (mỉm cười). Thỉnh thoảng anh có sáng tác nhạc còn vẽ thì thường xuyên hơn. 

Như nhớ ra điều gì anh vội vàng quay người đưa tay với lấy một tấm khung hình khá lớn, mặt trước được phủ bằng một tấm giấy hoa màu tím trao cho tôi. 

- Đây anh tặng em. Tuy 10 năm xa em thật, không gian xa cách vời vợi nhưng em vẫn ở trong anh. 

 

Tôi đoán đây là một tác phẩm hội họa của anh mà người trong tranh có lẽ là tôi - một thời Tôn Nữ của riêng anh. Không hiểu tôi đoán có đúng không nhưng dự đoán của tôi là có cơ sở bởi vì ngày ấy tôi thường xuyên có mặt trong tranh của anh.

Khi thì “Thiếu nữ với hoa mai” tặng tôi nhân dịp xuân về, khi thì “Thơ ngây” quà tặng sinh nhật của tôi và cũng có lúc lại là “Nữ hoàng Cléo” chắc lúc đó tôi là một Cléo sắc sảo. Tôi bâng khuâng nhớ về ngày ấy - thuở tình yêu “vỡ vụn”.

Cuộc tình của tôi đẹp nhưng đầy trắc trở. Tôi, một Tôn Nữ đẹp với cái tên khá dễ thương : Tường Nhi - mọi người đều nói như thế nhưng phải cái tội “đẹp nhưng gò má cao là gái sát phu”; đó là lời bình phẩm của cái xứ Huế nhỏ bé này về tôi.

Có đôi lúc tôi cảm thấy buồn và thật cô đơn mặc dù bên cạnh tôi vẫn có anh. Anh vẫn đi bên đời tôi dệt cho tôi những tia nắng ấm ngày xuân, thổi vào hồn tôi những làn gió thu mát mẻ dịu ngọt của Huế và cứ thế anh đã phải chịu bao điều tai tiếng ác độc khi yêu tôi. Một lần đến chơi nhà anh, trước khi vào nhà tôi đã nghe lén được câu chuyện giữa mẹ anh và anh. 

- Mi mà lấy hắn thì đời mi “tiêu”. Uổng công mạ đẻ con ra nuôi con cực khổ con ơi. 

Anh cãi lại : 

- Răng mà “tiêu” hả mạ ? 

- Rứa mi không thấy gò má hắn cao. 

- Mạ cứ cho con lấy hắn thử con có chết không thì biết liền. 

Tiếng mạ anh hốt hoảng : 

- Ui cha, đừng nói bậy con ơi! Thôi, thôi không bàn cãi nữa. Mạ nói không là không. 

Nghe được đến đó, tai tôi ù lên, tim tôi nhảy lung tung, mồ hôi vã ra; tôi giận run người và quay quả rút lui. Cuộc tình của tôi và anh bắt đầu sóng gió từ đó.

Ngày hôm sau gặp anh tôi buồn bã trao cho anh lá thư mà suốt đêm qua tôi đã không ngủ để viết cho anh những điều mà tôi thấy cần phải nói với anh. Anh thật sự ngạc nhiên khi cầm thư của tôi trong tay. Mắt anh u hoài. 

- Có chuyện gì không thể nói với anh được hay sao mà phải viết thư? Có gì quan trọng không em ? 

- Anh cứ đọc thư em rồi sẽ rõ nhưng chờ đến tối mới được đọc à nha. 

Suốt quãng đường dài đi bên anh tôi suy nghĩ thật nhiều: hay là ta xa anh, tôi tự hỏi. Anh trong trạng thái trầm tư, mắt đăm đăm nhìn xuống đất. Hai đứa tôi mỗi người là một thế giới riêng từ phút này. Đúng là một buổi chiều thật buồn.

Không gian như chùng xuống trùm lên vạn vật một màu lam huyền. Tiếng chân tôi và anh vẫn gõ nhịp đều trên lề đường tiễn chiều xuống dần dần. Anh lặng lẽ đi bên tôi và bao giờ cũng thế khi thấy tôi buồn anh đều im lặng, tiễn thời gian qua.

Anh là một chàng trai hiền hành, đa tài rất có hiếu với mẹ. Mẹ anh một đời tần tảo nuôi con sau anh còn một đàn em 4 đứa đang tuổi ăn học; bà là một phụ nữ sắc sảo, lịch sự có vẻ mến tôi tuy nhiên bà khó lòng chấp nhận cuộc tình của chúng tôi chỉ vì tôi có “đôi gò má cao”. Tôi thông cảm bà nhưng lòng cay đắng. Rồi một chiều xuân anh và tôi ngậm ngùi chia tay … 

- Em vẫn khỏe ? 

Tôi giật mình giọng xa vắng : 

- Dạ em vẫn khỏe vẫn “bên đời quạnh hiu” vì “gò má cao”. Rồi tôi mỉm cười ngước mắt nhìn anh cay đắng : 

- Còn anh? Nghe nói, vẫn “bên đường lẻ bóng”? 

Anh xót xa gật đầu : 

- Chúng mình làm khổ nhau. Ừ, ngày ấy mạ anh có nhận xét về em như thế thật, nhưng quyết định cuối cùng vẫn là anh. Chỉ tại em tự ái. 

Tôi nguýt yêu anh :

- Rứa không phải “không bàn cãi nữa. Mạ nói không là không”? 

- Ừ, mạ anh có nói thế nhưng em cố chấp và nóng nảy quá. Giọng anh trầm buồn. 

Không ngờ lời mẹ anh nói tôi đã để tâm và nhớ nằm lòng, chờ có dịp là tuôn ra dù thời gian xảy ra đã khá lâu. Không hiểu như vậy là tôi có quá đáng không nhưng suốt 10 năm qua tôi đã sống những tháng ngày cô đơn, khắc khoải nhìn thời gian trôi như suối tóc dài sợi nhớ sợi thương.

Không hiểu trong khoảng thời gian xa tôi, anh đã nghĩ thế nào về tôi, về người con gái một thời đã cùng anh đan kết những dấu xưa đầy kỷ niệm đẹp, ngọt ngào xen lẫn đắng cay. Tôi nhìn sâu vào mắt anh, ngỡ ngàng như giấc chiêm bao. Tôi định ôm chầm lấy anh: đây là mơ hay thật! Vẫn màu mắt ấy, đúng là màu của nắng ấm ngày xuân, của tơ trời ngày hạ, của lá đổ ngày thu và của ngày đông sầu muộn. Anh có màu mắt đẹp, quyến rũ như mắt con gái mà một thời tôi đã say đắm mê màu mắt ấy. 

- Em vẫn còn nghĩ tưởng về anh ? 

Tôi mỉm cười lòng nhủ thầm: a, anh không dám hỏi: em vẫn còn yêu anh mà là : em vẫn còn nghĩ tưởng về anh? Tôi nhìn anh giọng trầm tĩnh, dứt khoát: 

- Ừ, em có nghĩ về anh nhưng anh không còn là thần tượng của em. 

Giọng anh lạc đi : 

- Anh không tin.

- Đó là quyền của anh. 

Cả hai chúng tôi đều im lặng giữa chiều xuân bâng khuâng, bâng khuâng buồn và bâng khuâng hoài cảm. Tôi trầm ngâm. Gió xuân lành lạnh. Cái lạnh nhè nhẹ làm tê tái lòng người. Tôi ngẩng mặt lên trời đón ngọn gió xuân tự do mơn trớn, ve vuốt đôi gò má của tôi rồi mỉm cười chua chát: một đứa con gái hiền lành, đẹp, thùy mị; một Tôn Nữ có cái tên dễ thương: Tường Nhi rồi bây giờ là một “thiếu nữ lớn tuổi” dịu dàng, đằm thắm như thế này đây thì “sát” được ai nhỉ ?.

Tôi lại mỉm cười nói thầm cùng anh: anh yêu, em vẫn mãi mãi là người yêu của anh nhưng mong anh thông cảm, mãi mãi em sẽ không phải là người phụ nữ đi bên đời anh. Nước mắt tôi lăn dài trên má - những giọt nước mắt âm thầm đã nhỏ giọt. Anh ơi! Anh có hiểu cho em? Và cả những ai đó nữa đã vô tình hay cố ý đã khoác lên người em chiếc áo “sát phu” rồi bình thản dẫn em băng qua tuổi xuân để đến bây giờ : 

“Tình xưa đã lỡ
Áo xưa đã phai màu
Tóc xưa
Giờ đã nhàu thời gian” (*)


Bùi Kim Chi

-----------

Hình  minh họa- Internet

Hồng Anh st

Xem thêm...

Buổi Trình Diễn Áo Dài Truyền Thống của Hội Ảnh Việt Nam - Houston 2020

Buổi Trình Diễn Áo Dài Truyền Thống

của Hội Ảnh Việt Nam - Houston 2020

.✿•• .✿•.•❤•.✿•.✿•

Theo thông lệ tốt đẹp từ nhiều năm, cứ gần đến Tết Nguyên Đán, Hội Ảnh Việt Nam Houston lại tổ chức sinh hoạt triển lãm tranh của các hội viên. Hội Ảnh Việt Nam Houston được thành lập cách đây 27 năm và đây là lần thứ 21 Hội tổ chức triển lãm nhiếp ảnh nghệ thuật tại khuôn viên Hong Kong City Mall, một trung tâm mua bán lớn nhất của cộng đồng người Việt tại thành phố Houston. Lồng trong những sinh hoạt nghệ thuật là buổi trình diễn thời trang áo dài truyền thống Việt Nam do quý hội viên, quý thân nhân và thân hữu đảm trách. Kim Phượng rất vui được góp mặt  cùng các chị em NAG- HAVH khác hiện diện trong buổi trình diễn này.
 
Xin kính gởi Diễn Đàn GNST vài hình ảnh do anh Trần Đào Khôi ghi lại.
 
Xin cám ơn chị Hồng Vân đã giúp thực hiện 1 video clip rất công phu và đầy nghệ thuật.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
   
 
 
 
 
 
 
 
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
TÌNH XUÂN - Lê Đức Long - Vũ Khanh ♡ ♡♪♫•*¨*•.¸¸♪♫•*¨♪♫•*¨*♡ ♡
HỘI ẢNH VIỆT NAM - HOUSTON Mừng Xuân CANH TÝ (2020) 
 
 
 
Kim Phượng
Houston Jan, 21/2020
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này