Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1308)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (65)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (358)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Tiếng hát Thái Thanh đã Nghìn Trùng Xa Cách (1934-2020)

Tiếng hát Thái Thanh đã Nghìn Trùng Xa Cách

‘Tiếng Hát Vượt Thời Gian’

danh ca Thái Thanh qua đời, hưởng thọ 86 tuổi

(1934-2020)

 

Nữ danh ca Thái Thanh ( 1934-2020)

Một ca sĩ được hàng triệu người Việt Nam yêu mến từ trước năm 1975 tại Miền Nam Việt Nam, từng gây xúc động cho hàng ngàn người Việt phải rời quê hương tại các trại tỵ nạn với ca khúc “Nghìn Trùng Xa Cách,” đã ra đi vĩnh viễn vào trưa thứ Ba, 17 tháng 3, 2020 tại Nam California, theo các nguồn tin thân cận với gia đình của nữ ca sĩ Thái Thanh. Bà đã hưởng thọ 86 tuổi.

Dưới đây là trích đoạn từ bài viết mang tựa đề “Thái Thanh và Tình Hoài Hương” được đăng trên trang Facebook của Hùng Đinh:

Trong một chương trình nhạc Phạm Duy ở hải ngoại nhiều năm về trước, nhạc sĩ Phạm Duy có bày tỏ lòng tri ân đối với người em vợ của ông là nữ ca sĩ Thái Thanh: “Không có Thái Thanh thì sẽ không có ai biết đến Phạm Duy.” Câu nói của Phạm Duy không phải là một lời xưng tụng quá mức vì Thái Thanh thật sự là người đã thể hiện xuất sắc rất nhiều ca khúc do ông sáng tác.


Thái Thanh là thứ nữ của ông Phạm Đình Phụng với người vợ thứ hai. Người vợ đầu của ông Phạm Đình Phụng sinh được hai người con là Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Người vợ thứ hai sinh ra Phạm Thị Quang Thái (tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy), nhạc sĩ Phạm Đình Chương và con gái út Phạm Thị Băng Thanh (tức ca sĩ Thái Thanh). Thái Thanh còn một người chị gái lớn, sinh trước ca sĩ Thái Hằng, nhưng không may đã trúng bom chết khi còn nhỏ. Thái Thanh sinh ngày 5 tháng 8, 1934 tại làng Bạch Mai, Hà Nội.
Năm 1946, khi 12 tuổi, Thái Thanh theo các anh chị lên Sơn Tây tản cư. Người chị đầu của Thái Thanh đã bị trúng bom tử nạn nên cha mẹ cô lại đưa con chạy về xuôi, mở một quán phở đặt tên là Thăng Long. Thái Thanh bắt đầu hát từ năm 13, 14 tuổi nhưng từ nhỏ, cô không theo học nhạc ở trường lớp nào.

Chị em Phạm Thị Quang Thái, Phạm Đình Chương và Phạm Thị Băng Thanh thường biểu diễn ngay tại quán Thăng Long. Đầu năm 1949, chị em họ Phạm gia nhập các ban văn nghệ quân đội của Liên khu IV. Quán Thăng Long dời về chợ Neo (Thanh Hóa).

Tuy nhiên giọng hát của Thái Thanh chỉ được mọi người biết tới khi cô theo gia đình rời vùng kháng chiến, về thành và vào miền Nam vào năm 1951. Từ đó, tên tuổi của cô gắn liền với ban nhạc Thăng Long và những nhạc phẩm của Phạm Đình Chương, anh trai cô, Phạm Duy, anh rể cô, và rất nhiều nhạc sĩ khác cùng thời.


Nhạc sĩ Phạm Duy đã ghi chép về khoảng thời gian thành lập ban hợp ca Thăng Long ở miền Nam: “Một buổi sáng tháng 6 năm 1951. Trên chuyến máy bay cất cánh từ Gia Lâm, lời chào tạm biệt Hà Nội chưa kịp tan trong lòng mọi người, gia đình họ Phạm đã tới Saigon vào một trưa hè sáng sủa và mát mẻ. Chúng tôi xuống sân bay Tân Sơn Nhứt với một lời chào khác: Saigon, chào em!


Để sinh sống trong cuộc đời đã đổi mới, chúng tôi tới hát tại Đài phát thanh Pháp-Á (Radio France- Asie), phòng thu thanh đặt ở đại lộ de La Somme (đường Hàm Nghi) gần chợ Bến Thành. Mấy anh em họ Phạm thành lập một ban hợp ca lấy tên là ban Thăng Long (tên này đã được dùng làm bảng hiệu cho quán phở gia đình ở Chợ Đại, Chợ Neo trước đây).

Rồi cũng trong tâm trạng lưu luyến dĩ vãng rất gần, Phạm Đình Viêm lấy tên là Hoài Trung, Phạm Đình Chương lấy tên là Hoài Bắc. Về phần nhạc mục (répertoire), ban Thăng Long đã có một số bài rất ăn khách do tôi soạn từ trước như “Nương Chiều,” “Gánh Lúa” hay mới soạn như “Tình Ca,” “Tình Hoài Hương”...

 


Ngoài ra những bài như “Nhạc Đường Xa” của Phạm Duy Nhượng, “Đợi Anh Về” của Văn Chung, “Được Mùa,” “Tiếng Dân Chài” của Phạm Đình Chương cũng được hát…
Băng Thanh, cô em út trong gia đình, đổi tên là Thái Thanh để đi đôi với tên chị Thái Hằng.

Thái Thanh khởi sự làm mê hoặc lòng người bằng giọng hát hãy còn rất mỏng của cô bé 17 tuổi. Bước vào nghề hát vào tuổi dậy thì, dù chẳng theo học một lớp dạy hát nào. Thái Thanh có lối hát rất Việt Nam, nghĩa là nhấn giọng vào từng chữ, giống như lối hát dân ca, hát chèo, hát chầu văn.

Thái Thanh (trái) bên hai thành viên của Hợp ca Thăng Long

- Phạm Đình Chương (giữa) và Phạm Đình Viêm. Ảnh: Flick.

 

Những bài như “Tình Ca,” “Tình Hoài Hương” với âm vực rất rộng lúc đó được tôi soạn ra cốt để cho Thái Thanh hát và chỉ có cô mới hát nổi những nốt rất trầm (nốt Sol dưới) hoặc rất cao (nốt Sol trên) của hai tác phẩm này. Từ đó trở đi, đa số ca khúc của tôi đều dựa vào khả năng của giọng hát Thái Thanh. Cho tới khi tôi có thêm giọng Duy Quang, Julie và Thái Hiền…” (Hồi ký Phạm Duy, chương 1, tập 3)

Nữ ca sĩ Quỳnh Giao cũng nhận định về giọng ca Thái Thanh: "Thái Thanh có giọng hát đẹp như Kim Tước hay Ánh Tuyết, Mộc Lan, Châu Hà. Nhưng Thái Thanh lại khác hẳn mọi người ở khả năng phát âm rất rõ lời. Thái Thanh có sự bén nhạy thiên phú để hát mạch lạc từng câu, từng chữ với âm sắc hoàn toàn Việt Nam..." (Thái Thanh, Lời Ru Của Mẹ - Tạp ghi, tr. 310-311)


Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, các quan chức văn hóa đến kêu gọi cô hát các bài hát tuyên truyền cho chế độ mới, nhưng cô nhất quyết từ chối. Chính vì vậy, cô bị cấm trình diễn, cấm xuất hiện trên báo chí, truyền hình, phát thanh suốt 10 năm liền cho đến khi sang Mỹ định cư vào năm 1985.

Trong những năm đầu tiên tại Mỹ, cô là một trong những ca sĩ được mời đi lưu diễn nhiều nhất và được mời thu âm cho nhiều chương trình ca nhạc của Trung Tâm Diễm Xưa. Sau đó, cô mở lớp dạy hát tại nơi dạy nhạc của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi ở Quận Cam, California. Năm 1999, ở tuổi 65, cô quyết định giải nghệ và việc này được đánh dấu bằng một đêm trình diễn đặc biệt của cô cùng với các con và các cháu.

Phạm Duy đã chia sẻ về tâm tình của ông và bối cảnh trong đó ông đã viết ca khúc “Tình Hoài Hương,” ca khúc được Thái Thanh thể hiện thành công hơn ai hết: ”Gần hai năm đã trôi qua, kể từ ngày tôi bỏ vùng quê vào Hà Nội, rời miền Bắc vào miền Nam, lo ổn định nơi ăn chốn ở và thu xếp công kia việc nọ tại Sàigòn, rồi đi hát chỗ gần chỗ xa… Khi bắt đầu sáng tác lại, tôi soạn bài “Tình Hoài Hương” (1952).

Nó là một bài hát hoài cảm, là sự nhớ nhung của riêng tôi đối với một nửa mảnh đất quê hương mà tôi vừa phải xa lìa. Ngờ đâu nó sẽ là bài hát hoài hương của một triệu người di cư vào Nam hai năm sau đó. Rồi khi một triệu người khác, trong một thời gian khác, nghĩa là sau ngày lịch sử 30 tháng 4 năm 1975, phải vượt trời, vượt biển ra khỏi bán đảo chữ S thì bài “Tình Hoài Hương” của 20 năm trước lại trở thành một bài hát rất hợp tình, hợp cảnh…

Bài hát nói tới sự nhớ thương con sông đào xinh xắn, nhớ phiên chợ chiều xa tắp, nhớ vòm tre non và làn khói ấm hương thôn nơi đó, trong mảnh đời thơ ngây của tôi, có con trâu lành nằm mộng bên đàn em bé, có mẹ già yêu dấu ngồi nghe tiếng sáo chơi vơi... Chao ôi là nhớ nhung!”

Theo Đài Á Châu Tự Do (RFA), qua một bài viết hồi năm 2014, nhân dịp nữ danh ca 80 tuổi, “nhờ ảnh hưởng từ nhạc cụ dân tộc của cha, Thái Thanh đã tự luyện âm theo lối chầu văn, hát chèo, vì thế tiếng hát của bà nồng đượm các làn điệu dân ca quê hương… về sau do tự học sách nhạc của Pháp mà tiếng hát đặc biệt của bà lại hòa trộn được giữa chất opera của phương Tây và chất dân ca dung dị của Việt Nam.”

“Giới phê bình đánh giá âm vực trong lời ca của Thái Thanh độc nhất vô nhị, từ cách luyến láy da diết tình quê cho đến giọng ngân du dương sang trọng. Thái Thanh được xem như một trong những giọng ca tiêu biểu nhất của dòng tân nhạc Việt Nam, tiếng hát của bà được đánh giá là ‘đệ nhất danh ca’ của dòng nhạc tiền chiến cũng như nhạc tình miền Nam giai đoạn 1954 – 1975,” RFA viết tiếp.


Tên tuổi Thái Thanh trở nên lẫy lừng kể từ thập niên 1950 cho đến những ngày cuối của miền Nam Việt Nam. Tiếng hát đó đã ngự trị trên khắp các chương trình ca nhạc truyền thanh cũng như truyền hình.

Ngoài ra, bà còn được đặc biệt chú ý khi cùng các anh thành lập ban hợp ca Thăng Long.

Riêng trong địa hạt vũ trường, tên tuổi Thái Thanh được nhắc nhở đến nhiều khi cất tiếng hát tại vũ trường Ðêm Mầu Hồng vào đầu thập niên 1970.

Những ca khúc làm nên tên tuổi của nữ danh ca Thái Thanh phần nhiều là do nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác hoặc phổ nhạc như “Ngày Xưa Hoàng Thị,” “Trả Lại Em Yêu,” “Nửa Hồn Thương Đau,” “Nghìn Trùng Xa Cách,” “Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng,” và “Kỷ Vật Cho Em”… và của một số nhạc sĩ khác.  

 

 

♤  Kim Quy st tổng hợp ■ 

= Hình Internet =

 

Xem thêm...

Sự phong phú của Tiếng Việt qua một bài thơ với nhiều phong cách khác nhau

Sự phong phú của Tiếng Việt qua một

bài thơ với nhiều phong cách khác nhau

~~~~~~~~

Khi phong cách thơ của Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Trương Hán Siêu và Puskin được dịch theo cùng một bài thơ tình.

Có bài thơ tình yêu rất nổi tiếng, tương truyền là của nhà văn, nhà viết kịch vĩ đại nhất nước Anh, đó là William Shakespeare. Một số nguồn khác lại nói bài thơ này của Bob Marley, thông tin khác thì nói rằng đó là của một nhà thơ người Thổ Nhĩ Kỳ tên là Qyazzirah Syeikh Ariffin. Bài thơ như sau:

You say that you love rain,
But you open your umbrella when it rains.
You say that you love the sun,
But you find a shadow spot when the sun shines.

You say that you love the wind,
But you close your windows when wind blows.
This is why I am afraid,
You say that you love me too.

Dịch thơ:

Em nói em yêu mưa,
Nhưng em lại mở ô khi trời mưa.
Em nói em yêu mặt trời,
Nhưng em lại đi tìm bóng râm khi mặt trời tỏa nắng.

Em nói em yêu gió,
Nhưng em lại đóng cửa sổ khi gió lùa.
Đó là lý do tôi sợ,
Em nói em cũng yêu tôi.

Trên group facebook Đại Việt cổ phong, tác giả Lê Tiên Long dịch theo phong cách thơ của những tác giả nổi tiếng như sau:

1. Hồ Xuân Hương

Chém cha mấy đứa thích trời mưa
Mưa xuống che ô, chẳng chịu vừa
Năm lần bảy lượt mê trời nắng
Lại núp bóng vườn lúc giữa trưa

Thích có gió lên, hiu hiu thổi
Nhưng rồi khép cửa, chẳng khe thưa
Thân này ai nói yêu thương nhớ
Chẳng biết thật không, khéo lại lừa!

(Theo phong cách của bài thơ Lấy Chồng Chung (Hồ Xuân Hương)

2. Còn với Bà Huyện Thanh Quan, sẽ thành:

 

Ai ước trời mưa hắt bóng tà
Mưa về xuống chợ, mở ô ra
Bâng khuâng khách trú, mong trời nắng
Nắng sáng trời trong, núp bóng nhà

Nhớ gió chưa về đưa chút chút
Then cài bỏ mặc gió xa xa
Dừng thơ ngẫm lại lời non nước
Biết có thật không, người với ta?

(Theo phong cách của bài thơ Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan)

3. Sang đến Nguyễn Du, phong cách Truyện Kiều, thơ sẽ được dịch thành:

 

Trăm năm trong cõi người ta
Yêu mưa yêu nắng khéo là dễ quên
Núp tán dâu lúc nắng lên
Che ô mưa xuống mà thê thảm lòng

Lạ gì kẻ thích gió đông
Những là quen thói gió lồng cài then
Thơ tình lần giở trước đèn
Liệu chàng còn nhớ thề nguyền ngày xưa?

(Theo phong cách của Truyện Kiều)

4. XUÂN  DIỆU dịch:

 

Có một dạo, em thèm cơn mưa quá,
Hạt rơi là, em vội lấy ô sang
“Em những mong, có một chút nắng vàng!”
Vầng dương lên, em dịu dàng nấp bóng

Em thủ thỉ: “Ước gì… con gió lộng…”
Cơn mùa về, bên cửa đóng, xoa tay
Anh mỉm cười, nhưng bỗng thấy lo ngay
Vì anh sợ, lời yêu em cũng thế…

(Theo phong cách của bài thơ Xa Cách – Xuân Diệu)

 

5. HÀN MẶC TỬ dịch:

 

Sao em không còn yêu mưa nữa?
Mà vội xoè ô đợi nắng lên?
Nắng lên gắt quá, em không chịu
Núp bóng râm che, mặt chữ điền

Em thích những ngày mây gió lên
Sao đóng cửa rồi then cài then?
Lời ai ong bướm sao ngon ngọt
Yêu mến thật lòng được mấy phen?

(Theo phong cách của bài thơ Đây Thôn vỹ Dạ – Hàn Mặc Tử)

Bản dịch của tác giả Nguyễn Văn Thực:

6. NGUYỄN BÍNH dịch:

 

Nắng mưa là chuyện của trời,
Thế mà nàng cứ hết lời yêu thương.
Thôn Đoài mượn chút mưa vương,
Thôn Đông đội nón trên đường che vai.

Hàng cau gọi chút nắng mai,
Giàn giầu tay níu tay cài nấc thang.
Dẫu rằng cách trở đò giang,
Gió lên bến đợi, đò càng phụ ai.

Thôn Đông nói nhớ thôn Đoài,
Tương tư này lại thức hoài bao đêm.

(Theo phong cách của bài thơ Tương Tư – Nguyễn Bính)

7. Với Trương Hán Siêu:

Khách thường nói:
Mưa rơi là hạt ngọc trời,
Nắng thời soi tỏ lòng người yêu đương.
Gió kia dịu mát càng thương,
Mang theo mùi cỏ ngát hương khắp trời.

Khách đi:
Che hạt ngọc trời, che nghiêng bóng mát, trốn ngày nắng to.
Thường khi đóng cửa tránh cho,
Ngày gió thổi đến, ngày lo gió nhiều.

Khách về:
Đừng nói thương yêu,
Khuê phòng dù lạnh lòng không muốn chào.

(Theo phong cách của bài thơ Bạch Đằng Giang Phú – Trương Hán Siêu)

8. NGUYỄN TRÃI dịch (BẢO KÍNH CẢNH GIỚI bài 43):


Rồi hóng mưa thuở ngày trường,

Lọng tía đùn đùn tán rợp trương.
Vọng nhật lâu còn tràn thức đỏ,

Hoàng đàn hiên đã tịn ánh dương.
Lao xao gió hát thương trong dạ
Vội vã rèm buông tránh tà phong.
Lẽ có ái nương cầu một tiếng,
Thê thiếp đủ khắp đòi phương.

(Theo phong cách của bài BẢO KÍNH CẢNH GIỚI bài 43 – Nguyễn Trãi)

9. Sang đến Nga, thì ALEXANDER PUSHKIN – Mặt Trời của thi ca Nga sẽ dịch thành:

 

“Tôi yêu mưa” có ai từng nói vậy
Nhưng mưa rồi mở dù vội che ngay
Cũng có khi anh yêu vầng dương rạng
Nhưng náu mình trong bóng dưới hàng cây

Ai đó nguyện tâm mong đợi gió
Gió ghé ngang, anh lại trốn trong phòng
Nên tôi sợ khi người yêu tôi đó.
Chúa biết rằng người có thật lòng không!

(Theo phong cách của bài Tôi Yêu Em – Pushkin)

10. Sang đến Silva Kaputikyan, bản dịch của Le Tran Hai:

 

Em bảo em yêu mưa
Sao xòe ô vội vã?
Em bảo yêu nắng hạ
Sao lủi vào bóng râm?

Em bảo yêu gió xuân
Sao đóng sầm cánh cửa?
Em bảo yêu anh nữa
Bỏ mẹ, anh toang rồi

(Theo phong cách bài thơ Em Bảo Anh Đi Đi)

Với tôi, người đang biên tập lại những câu viết này, cũng xin nhại lại bài thơ nổi tiếng của thi sĩ Hồ Dzếnh, theo phong cách của 6 câu đầu trong bài thơ Ngập Ngừng:

Em tâm sự: yêu mưa và nắng, gió
Nhưng khi mưa lại lủi vội vào hiên
Nắng kia lên, em té chạy vào nhà
Khi có gió, đóng liền khung cửa nhỏ

Tôi cứ sợ, khi nghe lời em nói
“Em yêu anh”, là có phải thật không?

------------

Hồng Anh Sưu tầm 

Hình minh họa- Internet 

 

 

 

Xem thêm...

CHUYỆN VỀ HỌ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

 

CHUYỆN VỀ HỌ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

 

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

 

Thăng Long thành

          Nói về họ của người Việt Nam chúng ta tạm tóm tắt một vài đặc điểm chính như sau:

1. Tất cả các họ ở Việt Nam đều được tìm thấy ở Trung Hoa. Những họ cổ xưa như họ Trưng, Âu, Lạc, Dương, Vương, Triệu, Cù, Nông, Nùng, Đoàn, Lữ, Phụng, Chu hay Châu v.v. được tìm thấy ở miền trung du, thượng du Bắc Bộ và ở Guangdong (Quảng Đông), Guangxi (Quàng Tây), Yunnan (Vân Nam), Zhejiang (Chiết Giang), trên đảo Hainan (Hải Nam) xưa là Hợp Phố.

HỌ VIỆT NAM

HỌ TRUNG HOA

Ngô


Trần
Hồ

Tạ
Mạc

Hoàng (Huỳnh)
Hồng
Liêu
Uông
Trịnh
Nguyễn
Triệu
Lạc
Lưu
Đặng
Trương (Trang)
Vương
Viên
Linh
Tống
Dương
Giang
Châu

Wu
Li
Lee, Li
Chen (Zhen)
Hu
He
Xia
Mo
Ma
Huang
Hong
Liao
Wang
Cheng (Zheng)
Yuan
Chao (Zhao)
Lo
Liu
Deng
Zhang
Wang
Yuan
Ling
Song
Yang
Jiang
Chou (Zhou) v.v.

 

Những họ mà người Việt hiện mang chưa hẳn là họ gốc. Điều dễ hiểu là Việt Nam là quốc gia có nhiều chinh chiến, nội chiến, nổi loạn nên rất khó gìn giữ họ gốc của mình vì một lý do đặc biệt nào đó. Trong quá trình Nam Tiến có nhiều người Việt Nam mang họ Chế, họ Trà… của người Chăm hay họ Sơn, họ Thạch… của người Khmer. Lê Văn Khôi, dưỡng tử của tổng trấn Lê Văn Duyệt, gốc người Cao Bằng, tên thật là Bế Văn Khôi. Chắc chắn hậu duệ của Nguyễn Trãi và Cao Bá Quát thay tên, đổi họ sau khi có bản án tru di tam tộc năm 1442 và 1855 để được an thân.

Ngày xưa tỷ lệ người biết chữ Hán để viết gia phả rất nhỏ nên chỉ có gia đình các nho gia, quan lại mới có gia phả. Con cái sinh ra được ghi chép họ, tên, ngày, tháng, năm và giờ sinh kỷ lưỡng để xem tử vi. Số người này rất nhỏ. Chinh chiến làm cho gia phả bị thất lạc. Có người phải thay tên đổi họ và thay đổi nơi cư trú để bảo toàn an ninh và tánh mạng. Giấy tờ chữ Hán không khả tín 100% khi chữ quốc ngữ và tiếng Pháp thịnh hành trong nước từ hậu bán thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX vì khó minh định thời gian, loại giấy dùng và cách hành văn trong văn kiện để xác nhận đó là thật hay giả, bản chánh hay bản mới viết v.v.

Image result for CHUYỆN VỀ HỌ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

2. Xã hội Việt Nam ngày xưa là xã hội đa thê. Chỉ có con của chánh thất mang họ cha mà thôi. Các con dòng thứ không được giữ họ cha nghĩa là đương nhiên bị loại ra khỏi quyền phân chia gia tài khi người cha mất. Đó là trường hợp cùng cha nhưng lại mang hai họ khác nhau, phức tạp pháp lý của chế độ đa thê. Dưới thời Pháp thuộc chỉ có các công chức mới chú trọng đến việc lập hôn thú và khai sinh cho con để lảnh lương và lo giấy tờ cho con cái học hành. Ngoài xã hội vẫn có nhiều cặp vợ chồng chung sống nhau nhưng không có hôn thú. Khi sinh con đứa trẻ mang họ cha miễn là được cha nhìn nhận. Luật gia đình ban hành năm 1959 qui định con của những cặp vợ chồng không có hôn thú không được mang họ của cha. Nhiều trường hợp bất thường xảy ra trong những gia đình không có hôn thú: trong cùng gia đình, cùng cha, cùng mẹ nhưng những người con sinh trước 1959 mang họ cha và những người con sinh sau 1959 mang họ mẹ. Tình trạng nầy chấm dứt sau năm 1963. Việc mang họ cha quan trọng đối với những gia đình giàu có và quyền tước. Về phương diện vật chất mang họ cha để được quyền dự phần vào việc phân chia gia tài. Về mặt tinh thần đó là danh dự của người xuất thân từ những vọng tộc.

****

 Image result for Ngô Quyền

Các họ thường thấy ở Việt Nam là họ của các vương triều trong lịch sử.

Ngô Quyền là người sáng lập ra triều Ngô sau khi đánh bại quân Nam Hán đem lại độc lập cho nước nhà (938). Họ NGÔ ở nước ta cũng không nhiều vì vương triều nhà Ngô tương đối ngắn ngủi (939- 944 rồi 950- 965). Ở Trung Hoa nhiều người mang họ Ngô của Wu Fu Cha (Ngô Phù Sai). Người Việt gốc Hoa ở Việt Nam mang họ Ngô liên hệ với Wu Fu Cha hơn là với Ngô Quyền gốc ở Sơn Tây.

Họ DƯƠNG ở nước ta là họ của Tiết Độ Sứ Dương Diên Nghệ, chủ tướng và nhạc phụ của Ngô Quyền. Khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha , con của Dương Diên Nghệ, làm nhiếp chánh. Ông soán ngôi nhà Ngô và xưng vương từ năm 945 đến 950.

Image result for Đinh Bộ Lĩnh

Họ ĐINH được tìm thấy nhiều trong cộng đồng người Mường ở Ninh Bình, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. Đó là họ của Đinh Bộ Lĩnh, người sáng lập ra nhà Đinh, gốc ở Ninh Bình, sau khi đánh dẹp 12 sứ quân năm 968. Nhà Đinh chỉ kéo dài 12 năm (968- 980) trong lịch sử nên họ Đinh không đông đảo khắp nước.

****

Số người mang họ ở Việt Nam rất đông. Họ Lê hiện hữu ở Việt Nam dưới ba triều Lê khác nhau tổng cộng 383 năm:

- Nhà Tiền Lê khai sáng bởi Lê Hoàn tức vua Lê Đại Hành vào năm 980 và chấm dứt năm 1009.

- Nhà Hậu Lê do Lê Lợi tức Lê Thái Tổ khai sáng sau khi đánh đuổi quân Mình ra khỏi bờ cõi. Nhà Hậu Lê kéo dài từ năm 1428 đến 1527. Lê Lợi lên ngôi sau khi Trần Cao tức Hồ Ông, một tôn thất của nhà Trần, bị giết chết. Các bô lão gởi kiến nghị cho nhà Minh để xin Minh đế sắc phong An Nam Quốc Vương cho Lê Lợi vì con cháu nhà Trần không còn ai nữa. Trong hàng ngũ kháng chiến chống quân Minh có hai công thần, một văn, một võ là con cháu của nhà Trần: Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn. Cả hai là cháu của Trần Nguyên Đán. Nhà Hậu Lê đã nhổ hai cây gai này bằng một bản án tru di tam tộc dành cho Nguyễn Trãi năm 1442 và cái chết ám muội dưới sông nước của tướng Trần Nguyên Hãn (1429) để tránh tội nói dối với nhà Minh.

- Nhà Lê Trung Hưng kéo dài từ 1533 đến 1788. Đây là thời kỳ các vua Lê vô quyền trước chúa Trịnh. Vào thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn, có hai tôn thất nhà Lê Trung Hưng nổi lên chống triều Nguyễn. Đó là Lê Duy Lương nổi dậy vào năm 1833 dưới triều vua Minh Mạng. Ông oán ghét triều Nguyễn vì năm 1817 vua Gia Long ra lịnh xử tử cha ông là Lê Duy Hoán cùng với con trai của Đô Thống Nguyễn Văn Thành là Nguyễn Văn Thuyên. Vua Minh Mạng có ác cảm với họ Lê vì ghét tổng trấn Gia Định Thành là Lê Văn Duyệt (1), tổng trấn Bắc Thành, Lê Chất (2) và dư đảng nhà Lê ở miền Bắc. Hai vị tổng trấn này bị xử án dưới triều vua Minh Mạng sau khi chết. Mộ của hai vị ấy bị san phẳng. Dưỡng tử của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi nổi dậy ở Nam Kỳ năm 1833. Cuộc nổi loạn thất bại. 1800 người trong thành Gia Định bị giết sạch chôn trong ngôi mộ tập thể gọi là mả ngụy (1835). Nhiều người mang họ Lê khiếp sợ đổi sang họ khác đặc biệt là họ Nguyễn. Năm 1854, dưới triều vua Tự Đức, một tôn thất khác của nhà Lê là Lê Duy Cự nổi lên chống triều Nguyễn. Cao Bá Quát tham gia cuộc nổi dậy được gọi là Giặc Châu Chấu (3) nên bị ‘tru di tam tộc. Một số tôn thất nhà Lê bị đày vào Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Năm 1861 một người không rõ nguồn gốc theo đạo Thiên Chúa tự nhận là tôn thất nhà Lê dưới tên Pierre Lê Duy Minh hay Lê Duy Phụng hay Tạ Văn Phụng, nổi lên chống triều đình. Đó là lý do tại sao vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức không có thiện cảm với họ Lê.

****

Image result for Họ TRỊNH

Họ TRỊNH được biết đến ở Việt Nam từ thời Nam Bắc Triều (Bắc Triều: nhà Mạc. Nam Triều: nhà Lê Trung Hưng với sự trợ giúp của Trịnh Kiểm). Tổ tiên của các chúa Trịnh là Trịnh Kiểm gốc ở Thanh Hoá. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo sớm mồ côi cha. Nhờ có năng khiếu chỉ huy quân sự thiên phú ông được Nguyễn Kim cho phép ông cưới con gái của ông là Ngọc Bảo. Họ Trịnh không làm vua nhưng làm chúa. Chúa lấn quyền vua. Họ Trịnh quyết định việc phế lập các vua Lê. Thậm chí có khi còn giết vua nữa. Họ Trịnh nắm quyền ở Nam Triều từ năm 1545 đến 1590 và ở Bắc Hà từ 1591 đến 1786 tổng cộng 240 năm.

Người Trung Hoa có nhiều người mang họ Trịnh gọi là Zheng (Quan Thoại). Họ Trịnh của người Việt gốc Hoa không liên hệ gì đến họ Trịnh gốc Thanh Hóa cà.

****

Image result for Lý Thái Tổ

Họ ở Việt Nam do Lý Công Uẩn đại diện. Ông gốc ở Bắc Ninh, được nhà sư Lý Khánh Vân nuôi dưỡng và dạy dỗ trong chùa. Năm 1009 vua Lê Long Đỉnh mất. Các tướng lãnh và sư Vạn Hạnh ủng hộ ông lên ngôi. Đó là vua Lý Thái Tổ, người khai sáng ra nhà Lý (1010- 1225).

Trước Lý Thái Tổ có Lý Bôn đánh đuổi quân nhà Lương (Liang) và xưng vương. Đó là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân. Tổ tiên của Lý Nam Đế là người Hán lánh nạn ở Giao Châu khi Trung Hoa có loạn Wang Mang (Vương Mãng).

Lý Nam Đế (vua: 544- 548) là người sáng lập ra nhà Tiền Lý. Nhà Tiền Lý kéo dài từ năm 544 đến 602 không liên tục vì có một thời gian dài Triệu Quang Phục tức Triệu Việt Vương đảm nhận trọng trách lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân xâm lăng từ phương Bắc (548- 571).

Họ Lý là họ của Lý Đam (Li Dan 571- 471 trước Tây Lịch) tức Lão Tử (Laozi) hay Thái Thượng Lão Quân, tác giả Đạo Đức Kinh, nền tảng của Đạo Giáo (Taoism). Họ Lý cũng là họ của người khai sáng ra nhà Đường (Tang) (618- 907) là Li Yuan (Lý Uyên) ở Trung Hoa. Ở Trung Hoa họ Lưu và họ Lý rất đông. Đó là hai họ khai sáng ra nhà Hán và nhà Đường.

Nhà Lý suy vi dưới triều vua Lý Huệ Tôn. Năm 1225 vương quyền từ trong tay Lý Chiêu Hoàng rơi vào tay người chồng 08 tuổi, Trần Cảnh, theo kế hoạch của Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ hù doạ khiến vua Lý Huệ Tôn khiếp sợ phải tự tử chết mặc dù không còn tại vị và đã sống trong một ngôi chùa ở Thăng Long. Trần Thủ Độ ra lịnh chôn sống các tôn thất nhà Lý ở thôn Thái Đường, Bắc Ninh, năm 1232. Nhiều người họ Lý đổi ra họ Nguyễn.

Dưới triều Lý, Ngô Tuấn (tên thật của Lý Thường Kiệt) được ban quốc tính nhờ có nhiều chiến công nên được mang họ Lý của vua. Đó là danh tướng Lý Thường Kiệt (1019- 1105).

Ngày nay họ Lý được tìm thấy phần lớn trong cộng đồng người Việt gốc Hoa. Họ Lý này khác với họ Lý gốc ở Bắc Ninh.

****

Image result for Tổ tiên của nhà TRẦN là Trần Lý

Tổ tiên của nhà TRẦN là Trần Lý, một ngư phủ giàu có và có uy tín ở Nam Định. Ông là nhạc phụ của vua Lý Huệ Tôn, vị vua cuối cùng của nhà Lý. Ông là cha của Trần Thừa. Trần Thừa có hai người con là Trần Liễu và Trần Cảnh. Cả hai đều là rể của vua Lý Huệ Tôn. Trần Liễu cưới công chúa Thuận Thiên. Trần Cảnh cưới công chúa Chiêu Thánh tức Lý Chiêu Hoàng. Do sự sắp xếp của Trần Thủ Độ, cả hai đều có vợ không đầy 10 tuổi! Nếu Lý Huệ Tôn chọn công chúa Thuận Thiên nối ngôi thì Trần Liễu có triển vọng làm vua. Lý Huệ Tôn chọn Chiêu Thánh lên ngôi tức Lý Chiêu Hoàng khi mới lên 07 tuổi. Trần Thủ Độ tìm cách buộc Lý Chiêu Hoàng trao ngôi báu cho chồng là Trần Cảnh khi ông mới lên 08 tuổi! Nhà Trần không có Trần Thái Tổ. Trần Cảnh lên ngôi tức là vua Trần Thái Tôn. Ở tuổi này ông không thể tự nhiên ngồi trên ngai vàng với tư cách vì vua đầu tiên của nhà Trần nếu không có một Trần Thủ Độ quyết đoán, mưu lược và đầy thủ đoạn tàn độc hậu thuẫn. Triều Trần kéo dài 175 năm (1225- 1400).

Dưới triều Trần có tiến sĩ Nguyễn Thuyên làm bài Văn Tế Cá Sấu khiến con sấu rời khỏi sông Phú Lương. Vua Trần Nhân Tôn thấy công việc này giống như Hàn Dũ đã làm năm 830 nên cho phép ông đổi họ Nguyễn sang họ Hàn. Nguyễn Thuyên trở thành Hàn Thuyên (1282). Như đã biết Trần Thủ Độ diệt các tôn thất của nhà Lý trong cuộc thảm sát ở thôn Thái Đường, dùng lời đe dọa khiến Lý Huệ Tôn phải treo cổ mà chết. Ông tư tình với hoàng hậu Trần Thị Dung, bà con cùng dòng máu họ Trần với ông, và chung sống với bà sau khi vua Lý Huệ Tôn thoái vị và tu trong chùa. Ông buộc vua Trần Thái Tôn chung sống với chị dâu, công chúa Thuận Thiên, vợ của Trần Liễu, anh ruột của nhà vua, đang có thai.

Từ năm 1390 đến 1400 nhà Trần suy vi. Những gì Trần Thủ Độ gây ra cho nhà Lý được Lê Quí Ly (sau này là Hồ Quí Ly) lập lại cho nhà Trần.

Nhà Lý suy yếu khi thái tử Sam tức vua Lý Huệ Tôn sau nầy chạy loạn đến Hải Ấp và sống trong nhà của Trần Lý. Thái tử Sảm yêu con gái của Trần Lý là Trần Thị Dung. Khi lên ngôi vua Lý Huệ Tôn phong cho Trần Thị Dung làm hoàng hậu. Bao quanh nhà vua là những thành viên của gia đình hoàng hậu. Vua Lý Huệ Tôn và hoàng hậu Trần Thị Dung không có con trai mà chỉ có hai người con gái. Đó là công chúa Thuận Thiên và Chiêu Thánh tức Lý Chiêu Hoàng.

Lê Quí Ly được vào triều đình nhà Trần vì có hai người cô là ái phi của vua Trần Minh Tôn. Một người là mẹ của vua Trần Nghệ Tôn (vua: 1370- 1372) và một người là mẹ của vua Trần Duệ Tôn (vua: 1372- 1377). Năm 1372 vua Trần Nghệ Tôn nhường ngôi cho em là Trần Duệ Tôn để lên làm Thái Thượng Hoàng. Một người em họ của Lê Quí Ly là hoàng hậu của vua Trần Duệ Tôn. Uy thế của Lê Quí Ly càng lên cao vì Thái Thượng Hoàng Trần Nghệ Tôn rất tín nhiệm ông. Năm 1377 vua Trần Duệ Tôn tử trận khi chinh phạt Chiêm Thành. Thái Thượng Hoàng Trần Nghệ Tôn đưa thái tử Hiển, con vua Trần Duệ Tôn, lên ngôi tức vua Trần Phế Đế (vua: 1377- 1388)

Lê Quí Ly chuyên quyền xúi giục Thái Thượng Hoàng Trần Nghệ Tôn thắt cổ vua Trần Phế Đế vì vua âm mưu chống lại ông (1388). Thái tử Trần Ngung, người con út của Thái Thượng Hoàng Trần Nghệ Tôn, được đưa lên ngôi tức vua Trần Thuận Tôn (vua: 1388- 1398). Hồ Thành Ngâu, con gái của Lê Quí Ly, là hoàng hậu của vua Trần Thuận Tôn. Năm 1396 Lê Quí Ly bắt vua Trần Thuận Tôn dời đô về Tây Đô ở động Yên Tôn, Thanh Hoá, và buộc vua phải thoái vị để đi tu tiên (1398). Ngôi báu rơi vào thái tử Án, 03 tuổi! Đó là Trần Thiếu Đế, cháu ngoại của Lê Quí Ly. Phụ chính đại thần là Lê Quí Ly. Cựu vương Trần Thuận Tôn bị Lê Quí Ly cho người giết chết dù đã thoái vị và tu Tiên theo Đạo Giáo (Taoism). Các tôn thất nhà Trần như Trần Khát Chân, Trần Nguyên Hãn tìm cách giết Lê Quí Ly. Âm mưu bất thành, 370 tôn thất nhà Trần bị giết chết ngoại trừ gia đình Trần Nguyên Đán, thông gia với Lê Quí Ly. Năm 1400 Lê Quí Ly cướp ngôi nhà Trần và lập ra nhà Hồ (1400- 1407). Một số người họ Trần hoảng sợ đổi sang họ Hồ hay họ khác. Một số khác tìm cách trốn tránh Hồ Quí Ly.

****

Image result for Lê Quý Ly

Tổ tiên Lê Quí Ly vốn họ HỒ gốc ở Zhejiang (Chiết Giang) và sống qua nhiều đời ở Nghệ An. Về sau họ Hồ sa sút và được sự giúp đỡ của ông Lê Huấn, một người giàu có và quyền thế ở Nghệ An. Từ đó dòng họ Hồ được cải sang họ Lê. Khi lên ngôi Lê Quí Ly cải họ Lê của ông thành họ Hồ. Để ghi nhớ nguồn gốc Zhejiang (Chiết Giang) của tổ tiên Lê Quí Ly đổi thành Hồ Quí Ly. Như vậy gia đình ông đã đổi họ từ Hồ sang Lê rồi từ Lê sang Hồ.

Hồ Phi Phúc, thân phụ của Hồ Thơm tức Nguyễn Huệ, nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nhà cách mạng Hồ Học Lãm là những nhân vật danh tiếng họ Hồ gốc ở Nghệ An không biết có liên hệ huyết thống gì với Hồ Quí Ly không?

Tổ tiên của ông Hồ Phi Phúc được đưa vào Qui Nhơn vào thế kỷ XVII khi quân họ Nguyễn vượt qua sông Gianh mở cuộc Bắc tiến tấn công vào Nghệ An.

Hồ Học Lãm là một nhà cách mạng có uy tín hoạt động ở Trung Hoa. Ông là đại tá trong quân đội của Chiang Kaishek (Tưởng Giới Thạch). Ông thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (gọi tắt là Việt Minh) năm 1936 tại Nanjing (Nam Kinh). Bí danh Hồ Chí Minh là bí danh của đại tá Hồ Học Lãm. Ông là người yêu nước dùng uy tín cá nhân trong quân đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng để giúp đỡ cho các nhà cách mạng Việt Nam hoạt động trên lãnh thổ Trung Hoa bất luận thuộc khuynh hướng chánh trị nào (Đông Dương Cộng Sản Đảng, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội).

****

Image result for Mạc Đỉnh Chi

Trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi là người Việt Nam mang họ MẠC đầu tiên được biết đến trong lịch sử. Ông gốc ở Hải Dương, đậu trạng nguyên năm 1304.

Người khai sáng ra nhà Mạc là Mạc Đăng Dung, một người đánh cá gốc ở Hải Dương được chấm đậu Đô Lực Sĩ. Lợi dụng sự suy vi của nhà Hậu Lê với nhiều loạn lạc trong nước ông soán ngôi nhà Hậu Lê và lập ra nhà Mạc năm 1527. Họ Mạc có nhiều thù địch với họ Lê, họ Nguyễn và họ Trịnh. Sự kình chống giữa ba họ Lê- Nguyễn- Trịnh như là kình chống giữa hai trục Hải Dương và Thanh Hoá.

Hải Dương là sinh quán của họ Mạc.

Thanh Hoá là sinh quán của họ Lê, Nguyễn và Trịnh.

Sau khi rời khỏi Đông Đô năm 1591 (Thăng Long- Hà Nội) họ Mạc chạy lên Cao Bằng và được nhà Minh (Ming) ủng hộ nên còn tồn tại ở đó đến năm 1677. Nhà Thanh (Qing) không ủng hộ họ Mạc vì họ Mạc ngả theo Wu San Gui (Ngô Tam Quế). Chúa Trịnh sát phạt họ Mạc. Để tránh sự theo dõi và trừng phạt đẫm máu của họ Trịnh nhiều người mang họ Mạc phải đổi sang họ Phạm. Ở Hải Dương, tỉnh sinh quán của họ Mạc, có hai nhân vật lịch sử họ Phạm được danh thơm là danh tướng Phạm Ngũ Lão vào thế kỷ XIII đời nhà Trần và tiến sĩ Phạm Đình Trọng vào thế kỷ XVIII thời vua Lê Chúa Trịnh. Do chiến công oanh liệt và danh thơm của Phạm Ngũ Lão, một công dân Hải Dương, mà họ Mạc được đổi thành họ Phạm chăng?

****

Image result for CHUYỆN VỀ HỌ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

Nhân vật lịch sử họ NGUYỄN đầu tiên là tướng Nguyễn Bặc đời nhà Đinh (thế kỷ X). Tiếp theo là các tướng Nguyễn Hoằng Dụ và Nguyễn Kim (thế kỷ XVI). Họ Nguyễn thực sự nổi bật trong lịch sử khi Nguyễn Hoàng, con của Nguyễn Kim, và một số người Thanh Hoá vượt Hoành Sơn thành lập một giang san độc lập với nhà Lê. Nguyễn Hoàng được gọi là Chúa Tiên (1600- 1613). Chúa Nguyễn ở Đàng Trong hay Nam Hà gồm 10 vị:

1. Nguyễn Hoàng tức Chúa Tiên (1600- 1613)
2. Nguyễn Phúc Nguyên tức Chúa Sãi (1613- 1635)
3. Nguyễn Phúc Lan tức Chúa Thượng (1635- 1648)
4. Nguyễn Phúc Tần tức Chúa Hiền (1648- 1687)
5. Nguyễn Phúc Trăn tức Chúa Nghĩa (1687- 1691)
6. Nguyễn Phúc Chu tức Quốc Chúa (1691- 1725)
7. Nguyễn Phúc Trú tức Chúa Ninh Vương (1725- 1738)
8. Nguyễn Phúc Khoát tức Chúa Võ Vương (1738- 1765)
9. Nguyễn Phúc Thuần tức Chúa Định Vương (1765- 1777)- Tây Sơn khởi nghĩa năm 1771.
10. Nguyễn Phúc Ánh (1777- 1801) (chỉ có ảnh hưởng trên đồng bằng sông Đồng Nai và Cửu Long mà thôi.

Mười vị chúa Nguyễn đứng đầu trong guồng máy chánh trị ở Đàng Trong 201 năm (1600- 1801) bị đứt quãng từ năm 1771 đến 1801 (30 năm nội chiến với nhà Tây Sơn).

Năm 1802 Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi tức là vua Gia Long. Triều Nguyễn có 13 đời vua: Gia Long (1802- 1820), Minh Mạng (1820- 1840), Thiệu Trị (1841- 1848), Tự Đức (1848- 1883), Dục Đức (1883), Hiệp Hòa (1883), Kiến Phúc (1884), Hàm Nghi (1884- 1885), Đồng Khánh (1885- 1889), Thành Thái (1889- 1907), Duy Tân (1907- 1916), Khải Định (1916- 1925), Bảo Đại (1925- 1945) ngự trị trên một Việt Nam thống nhất trong 143 năm. Thực tế chỉ có vua Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị ngự trị trên một lãnh thổ thống nhất rộng 330,000 km2. Dưới triều vua Tự Đức, Nam Kỳ mất vào tay người Pháp vào năm 1862 rồi 1867. Vương quyền nhà Nguyễn không còn ở Nam Kỳ từ đó. Năm 1884 Trung Kỳ và Bắc Kỳ trở thành đất bảo hộ (protectorat). Các vua nhà Nguyễn vẫn còn trên đất bảo hộ nhưng thực tế vô quyền.

Họ Nguyễn có vai trò quan trọng trên sân khấu chánh trị Việt Nam được 344 năm. Họ Nguyễn rất đông ở Việt Nam nhất là vùng đất chạy dài từ Quảng Bình vào đồng bằng sông Đồng Nai và sông Cửu Long vì:

- họ Nguyễn có công khai thác và nới rộng 60% diện tích nước ta.

- các Chúa Nguyễn đều đắc nhân tâm nên được dân chúng yêu mến. Đàng Trong trở thành vùng đất Tự Do trọng dụng người có thực tài chớ không nặng về giai cấp xã hội. Trường hợp Đào Duy Từ là một điển hình. Trước khi khởi nghĩa ba anh em nhà Tây Sơn đổi họ Hồ của cha ra họ Nguyễn của mẹ, bà Nguyễn Thị Đồng, ý thức rằng dân chúng rất mến các Chúa Nguyễn. Vì vậy Nguyễn Nhạc không dám đả động đến họ Nguyễn mà chỉ nhắm vào sự lộng quyền và thối nát của quốc phó Trương Phúc Loan. Nếu Chúa Nguyễn không đắc nhân tâm thì với một vùng đất mới, tổ chức quốc phòng lỏng lẻo, rời rạc làm thế nào chống cự lại quân họ Trịnh? Chánh sách đắc nhân tâm cống hiến cho Đàng Trong nhiều tướng lãnh giỏi như Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật và quân sư hữu tài hữu đức như Đào Duy Từ. Nhân dân đoàn kết một lòng nên họ Nguyễn chẳng những cầm cự họ Trịnh hữu hiệu mà còn mở những cuộc hành quân vượt sông Gianh tấn công vào Nghệ An. Tổ tiên họ Hồ của ba anh em Tây Sơn được đưa từ Nghệ An vào Qui Nhơn sau cuộc hành quân này (1655).

- Ở miền Bắc ảnh hưởng của vua Lê, Chúa Trịnh vẫn còn quan trọng. Số người mang họ Nguyễn không đông bằng số người theo họ Nguyễn từ vĩ tuyến 18 trở vào Nam. Các Chúa Nguyễn rất đắc nhân tâm. Nhân dân no ấm; cuộc sống ổn định nên nhiều người muốn mang họ Nguyễn vì yêu mến các vị lãnh đạo của mình. Các vua nhà Nguyễn, sau 30 năm nội chiến đẫm máu với nhà Tây Sơn, trở nên nghiêm khắc, bảo thủ và đa nghi nên thường dùng hình phạt đẫm máu để răn đe dân chúng. Vua Gia Long chẳng những không rộng lượng với kẻ thù như Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và con gái mà còn tỏ ra thiếu khoan dung đối với các công thần như Nguyễn Văn Thành (về bài thơ ngông nghênh của con là Nguyễn Văn Thuyên), Đặng Trần Thường. Sự đối xử của vua Minh Mạng đối với công thần như Lê Văn Duyệt, Lê Chất bằng những bản án phán xử người chết làm cho người bàng quan suy nghĩ ít nhiều về sự thiếu rộng lượng của người lãnh đạo. Việc hủy sạch thành Gia Định và giết sạch những người theo Lê Văn Khôi nổi loạn năm 1835, việc giết đạo dưới triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, những cuộc đàn áp đẫm máu những cuộc nổi loạn của Lê Duy Lương thời Minh Mạng, Lê Duy Cự, bản án tru di tam tộc của Cao Bá Quát thời Tự Đức làm cho những người họ Lê hay họ khác khiếp sợ phải nghĩ đến việc đổi sang họ Nguyễn như một phương cách tìm đường sống. Khác với thời Chúa Nguyễn lần này nhiều người chuyển sang họ Nguyễn vì sợ vua chớ không phải vì yêu mến.

Dưới mắt người Tây Phương, NGUYỄN ám chỉ người Việt Nam. Các nhà lãnh đạo Việt Nam thời cận đại phần lớn mang họ Nguyễn: Bảo Đại tức Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, Hồ Chí Minh tức Nguyễn Sinh Cung hay Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Văn Thiệu.

****

Việc thay đổi họ, tên vẫn thường xảy ra trong những hoàn cảnh đặc biệt nào đó. Ngoài việc đổi tên họ, các văn thi sĩ còn có bút hiệu. Các nhà cách mạng hoạt động bí mật có bí danh. Người ta biết Nhất Linh mà không biết Nguyễn Tường Tam hay biết Bình Nguyên Lộc mà không biết Tô Văn Tuấn.

Trong xã hội Khổng Giáo, để tôn kính một danh nhân, người ta không gọi tên vị ấy mà gọi biệt hiệu như cụ Sào Nam tức Phan Bội Châu (do câu: Việt điểu Sào Nam chi); cụ Tây Hồ tức Phan Châu Trinh v.v. Ở Trung Hoa người ta tránh gọi tên Quốc Phụ Sun Yatsen (Tôn Dật Tiên) mà gọi ông là Sun Zhongshan (Tôn Trung Sơn. Zhongshan .<.Trung Sơn.>. là làng sinh quán của Sun Yatsen chớ không phải là tên hay biệt hiệu). Người Việt Nam gọi nhà khoa bảng Nguyễn Khuyến là Tam Nguyên Yên Đổ (Yên Đổ, xã sinh quán của ông trong tỉnh Hà Nam. Tam Nguyên: thủ khoa Hương thí, Hội thí và Đình thí).

Trên lãnh vực chánh trị người ta biết Trường Chinh mà không biết Đặng Xuân Khu. Henry Kissinger thương thuyết mật với Lê Đức Thọ. Ông biết Lê Đức Thọ nhưng không biết Phan Đình Khải v.v. Các vị ấy dùng và duy trì bí danh như tên thật của mình và quần chúng bên ngoài chỉ biết các bí danh ấy chớ không biết tên thật của các vị ấy. Lê Hữu Trọng được cải sang họ Lý. Sau này người ta biết Lý Tự Trọng chớ không biết tên gốc Lê Hữu Trọng (1914- 1931). Họ Lý ở đây là họ của Lý Thụy, bí danh của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh sau này) khi hoạt động ở Guangzhou (Quảng Châu) năm 1925 bên cạnh Borodin.

Phần kết luận này củng cố những nhận xét trên trang đầu của bài viết.


(1) Vì Lê Văn Duyệt không ủng hộ việc lên ngôi của Thái tử Đảm tức vua Minh Mạng sau này và vì chém đầu Huỳnh Công Lý, thân phụ của một ái phi của nhà vua!

(2) Vì là một quân nhân hữu công giữ chức vụ quan trọng ở Bắc Thành, địa bàn cai trị của vua Lê chúa Trịnh trước kia, ông dễ bị nghi ngờ phản lại triều đình. Sự nghi ngờ dựa vào: 1. quá khứ của ông: ông là tướng lãnh của Tây Sơn đầu hàng theo Nguyễn Ánh 2. sự thân thiện giữa hai tổng trấn Lê Chất và Lê Văn Duyệt.

(3) Giặc Châu Chấu: Gọi như thế vì lúc ấy châu chấu tàn phá mùa màng trên bình nguyên sông Hồng.

 

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

 

Việt Nam có bao nhiêu Họ

Image result for CHUYỆN VỀ HỌ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

Trong cuốn Họ và tên người Việt Nam (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992), thống kê được 769 họ, trong đó người Kinh có 164 họ. Trong bản in lần thứ hai (2002), số họ của người Việt tăng lên 931 họ, trong đó có 165 họ của người Kinh. Trong bản in lần thứ ba (đầu năm 2005), chúng tôi thống kê được 1020 họ, trong đó số họ của người Kinh là 165.

Họ người Việt Nam gồm các họ của người thuộc chủ yếu là dân tộc Việt và các dân tộc (sắc tộc) thiểu số khác sống trên lãnh thổ đất nước Việt Nam. Việt Nam nằm ở khu vực Đông Dương, nhưng lại thuộc vùng văn hóa chữ Hán nên không giống các nước Đông Dương khác, Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng từ văn hóa Trung Quốc cho nên họ người Việt cũng vậy. Tuy vậy họ người Việt không nhiều như Trung Quốc hay các nước lớn khác. Các họ lớn ở Việt Nam đa số có một triều đại trong lịch sử nước này.

Hiện nay trên đất nước Việt Nam chúng ta có 14 Họ phổ biến nhất:

  1. Nguyễn:  38,4%
  2. Trần:  12,1%
  3. Lê:  9,5%
  4. Phạm:  7%
  5. Hoàng/Huỳnh: 5,1%
  6. Phan: 4,5%
  7. Vũ/Võ: 3,9%
  8. Đặng: 2,1%
  9. Bùi: 2%
  10. Đỗ: 1,4%
  11. Hồ: 1,3%
  12. Ngô: 1,3%
  13. Dương: 1%
  14. Lý:  0.5%

    Dòng họ nào đông nhất, chiếm gần một nửa dân số Việt Nam?

 

Dong ho nao dong nhat, chiem gan mot nua dan so Viet Nam? hinh anh 1

 

Câu 1. Dòng họ nào chiếm tỷ lệ đông nhất trong dân số Việt Nam?

  • Nguyễn
  • Trần
  • Phạm
Dong ho nao dong nhat, chiem gan mot nua dan so Viet Nam? hinh anh 2

Câu 2. Ai là thủy tổ của dòng họ Nguyễn ở Việt Nam?

  • Nguyễn Trãi
  • Nguyễn Bặc
  • Nguyễn Cư Trinh
  • Nguyễn Hiền
Dong ho nao dong nhat, chiem gan mot nua dan so Viet Nam? hinh anh 3

Câu 3. Lịch sử Việt Nam có mấy triều đại phong kiến của dòng họ Nguyễn?

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
Dong ho nao dong nhat, chiem gan mot nua dan so Viet Nam? hinh anh 4

Câu 4. Bậc đế vương họ Nguyễn nào sống thọ tới 88 tuổi?

  • Nguyễn Hoàng
  • Nguyễn Phúc Nguyên
  • Nguyễn Phúc Tần
  • Nguyễn Phúc Ánh
Dong ho nao dong nhat, chiem gan mot nua dan so Viet Nam? hinh anh 5

Câu 5. Danh nhân họ Nguyễn nào là trạng nguyên đầu tiên của nước ta?

  • Nguyễn Quán Quang
  • Nguyễn Hiền
  • Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Nguyễn Cư Trinh
 
Dong ho nao dong nhat, chiem gan mot nua dan so Viet Nam? hinh anh 6

Câu 6. Danh nhân họ Nguyễn đỗ trạng khi mới 13 tuổi?

  • Nguyễn Đăng Cảo
  • Nguyễn Hiền
  • Nguyễn Thiếp
  • Nguyễn Văn Siêu
Dong ho nao dong nhat, chiem gan mot nua dan so Viet Nam? hinh anh 7

Câu 7. Danh nhân họ Nguyễn từng được phong Lưỡng quốc trạng nguyên?

  • Nguyễn Trực
  • Nguyễn Nghiêu Tư
  • Nguyễn Đăng Đạo
  • Cả 3 người trên
Dong ho nao dong nhat, chiem gan mot nua dan so Viet Nam? hinh anh 8

Câu 8. Có bao nhiêu danh nhân họ Nguyễn từng đỗ đại khoa thời phong kiến?

  • 1.060 người
  • 1.061 người
  • 1.062 người
  • 1.063 người

 

Kim Phượng st & tổng hợp.

Image may contain: 1 person, standing


 

 

 

 

 

Xem thêm...

Ngôi Trường Mang Tên Pétrus Trương Vĩnh Ký - Trang Nguyên

<><>❤️<><>

Image result for trường pétrus ký

Nhắc đến trường Trung học Pétrus Ký là nhắc đến niềm tự hào của nhiều thế hệ từng học ở một ngôi trường nổi tiếng của Sài Gòn. Sài Gòn thuở hơn trăm năm trước đã có vài ba ngôi trường do người Pháp xây dựng dành cho con em người Việt hoặc con cái người Pháp theo học. Những ngôi trường này đều nằm trong khu vực trung tâm Sài Gòn. Riêng trường Pétrus Ký lại được xây cất tại vùng Chợ Quán vào thời gian ấy khu vực này còn rất vắng vẻ, các cơ sở gồm hai và ba tầng được xây cất trên một diện tích trên 8 mẫu đất. Niên khoá đầu tiên 1928-1929 có 200 học sinh.

petrus truong vinh ky3 1

Trường Pétrus Ký năm 1930 (Ảnh: Nadal)

Ngôi trường Pétrus Ký ban đầu là một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat tức là trường Lê Quý Ðôn ngày nay. Tuy nhiên trường thu nhận toàn bộ là học trò người Việt, dạy từ lớp 6 đến lớp 12. Nhiều học sinh các tỉnh, sau khi xong bậc Tiểu Học ở quê, có thể lên Sài Gòn dự thi vào trường. Về sau, từ thời Ðệ Nhất Cộng Hoà, do số học sinh tăng nhanh, muốn vào trường công lập phải qua kỳ thi tuyển sinh gắt gao, nên học sinh nào đậu vào trường là niềm hãnh diện lớn cho bản thân và cả gia đình.

Gia đình của bạn tôi có cả hai thế hệ theo học trường Pétrus Ký. Cha anh sống ở Tân Hiệp (Tiền Giang) khi vào Trung Học không thi vào trường Collège de My Tho được người Pháp xây từ rất lâu (1879) mà gia đình cho lên Sài Gòn thi vào trường Pétrus Ký. Trường ở Mỹ Tho nói là thi vào nhưng rất dễ, trong khi các trường ở Sài Gòn thi vào khó hơn nhiều.

Quan trọng hơn là lên Sài Gòn học để gia đình yên tâm trong bối cảnh các cuộc chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp ngày càng nhiều ở các tỉnh miền Nam. Chính quyền thực dân Pháp bắt bớ đàn áp liên miên, dân thường cũng bị làm khó do các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra. Cha anh lên Sài Gòn thi vào trường Pétrus ký niên học 1944-1945.

Thi đậu vào trường nhưng năm đó cũng là lúc người Nhật tiến vào Sài Gòn một thời gian ngắn, cuộc chiến của Liên quân Anh – Pháp đánh Nhật diễn ra mạnh mẽ. Sài Gòn thường xuyên nằm trong mưa bom và tiếng súng. Các trường học phải đóng cửa, một số trường tạm thời di chuyển, sáp nhập cho học sinh đến học ở nơi an toàn hơn. Cha anh được chuyển đến học ở Tân Ðịnh cho đến năm 1947 mới quay trở lại trường Pétrus Ký. Mãi hơn hai mươi năm sau, đứa con trai thứ ba của ông mới thi vào trường Pétrus Ký niên khoá 1970-1971. Trong khi đó, cha anh lúc đó đã là một giáo sư dạy ở Viện Quốc Gia Hành Chánh.

petrus truong vinh ky2 1

Trường Pétrus Ký xây xong năm 1927 trên phần đất rộng chung quanh khu vực còn là đồng trống lau sậy (Ảnh: Tài liệu)

Thời gian cha anh còn là học sinh trung học Pétrus Ký, ông tận mắt chứng kiến bao cuộc đổi thay không chỉ của ngôi trường mà cả các cuộc chính biến kể cả sự phát triển của Sài Gòn, thay hình đổi dạng từng ngày. Ông nhớ hai ngày thi ngắn ngủi tại toà nhà hai tầng trong trường, chung quanh toàn là đồng không mông quạnh, dê bò chăn thả đầy đồng. Khu vực trường toạ lạc nằm giữa hai vùng Sài Gòn và Chợ Lớn, gò cao đồng trũng, ao đầm hiện ra giữa các con đường còn trải đất đá quanh trường. Ở phía góc ngã tư đường đất mà sau này là Trần Bình Trọng và Trần Hưng Ðạo có ngôi nhà gỗ và lăng mộ của ông Trương Vĩnh Ký tức Pétrus Ký lập nên tên của trường. Thuở nhỏ ông thường đọc sách của ông Trương Vĩnh Ký mới biết mặc dầu làm việc cho Pháp, nghiên cứu văn hoá Ðông Tây, nhà văn, nhà giáo, nhà báo (Chủ Biên tờ Gia Ðịnh Báo) và được Viện Hàn Lâm Pháp phong danh hiệu nhưng ông Trương Vĩnh Ký là một con người luôn giữ tâm hồn thuần Việt. Ban đầu nhiều người nhầm lẫn Pétrus Ký mang tên Tây chắc là nhập tịch Pháp. Pétrus Ký (Pétrus Trương Vĩnh Ký) chẳng qua là tên ngắn gọn từ cái tên Thánh Jean-Baptiste Pétrus Trương Chánh Ký khi ông theo học trường đạo ở Penang (Malaysia).

Trong cuốn sách nhỏ Người Sài Gòn, nhà văn Sơn Nam viết: “Trương Vĩnh Ký, nhà học giả có tầm cỡ trong bối cảnh Sài Gòn cuối thế kỷ 19 đã gây được sự mến mộ nhờ phong cách bình dân, áo dài đen, đi giày hàm ếch, khăn đóng, đặc biệt là hớt tóc… Bài thơ sau cùng của ông nhằm tự phán xét: “Học thức gởi tên con sách nát. Công danh rốt cuộc cái quan tài… Cuốn sổ bình sanh, công với tội. Tìm nơi thẩm phán để thừa khai”. Ðương thời, Trương Vĩnh Ký không xin nhập quốc tịch Pháp…”.

Ông là người giỏi tiếng Pháp, tấm lòng của ông vẫn là một người con dân nước Việt, giữ đạo đức, phẩm hạnh của một người Việt theo luân lý Khổng Mạnh. Nói chung không chỉ nhiều người trong nước yêu mến ông mà cả người Pháp trí thức cũng yêu mến ông không kém.

petrus truong vinh ky1

Lễ truy điệu học sinh Trần Văn Ơn trong khuôn viên trường năm 1950 (Ảnh: Tài liệu)

Chính vì vậy mà bức tượng toàn thân và bán thân của ông đã được nhà điêu khắc Sylve Raffegeard thực hiện từ năm 1889 tức là lúc ông còn sống. Mặc dù thời gian này, chính quyền thuộc địa Pháp tỏ thái độ không còn ưu ái ông nữa, trường thông ngôn của Trương Vĩnh Ký phải đóng cửa, ông lui về sống ẩn dật tại nhà, cuối cùng lâm bệnh và mất vào năm 1898.

Bức tượng toàn thân Trương Vĩnh Ký đầu đội khăn, mặc áo dài thâm đứng trên bệ đá cao được trang trọng đặt tại vườn hoa trước Dinh Norodom (nay là Dinh Ðộc Lập) năm 1927 (hiện nay được lưu tại Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật). Riêng tượng bán thân được dựng ở sân trường vào năm 1937 kỷ niệm 100 năm ngày sinh của học giả Trương Vĩnh Ký (nay bức tượng còn giữ tại phòng truyền thống trường Trung Học Lê Hồng Phong tức Pétrus Ký ngày xưa). Ngoài ra còn một bức tượng bán thân khác đúc bằng xi măng, sơn đen giả đồng đặt trong lăng mộ của gia đình ông Trương Vĩnh Ký cũng vào năm 1937. Về sau bức tượng này bị kẻ trộm lấy mất.

Trở lại chuyện cha của người bạn tôi trở lại trường vào năm 1947 để tiếp tục lớp Đệ Ngũ cho đến khi đỗ Tú Tài. “Vào thời gian này, Bộ Giáo Dục trưng dụng một phần cơ sở của trường tôi để làm Trung Tâm 2 trường Cao Đẳng Khoa Học thuộc Viện Ðại Học Ðông Dương trên đường Nancy (nay là ÐH Khoa Học Tự nhiên đường Nguyễn Văn Cừ).

Tiếp đến một sự kiện chấn động toàn Nam Kỳ vào đầu năm 1950. Ðó là cuộc biểu tình của sinh viên học sinh Sài Gòn chống lại chính quyền thuộc địa. Trong cuộc biểu tình có cả người Pháp tham gia nữa. Học sinh trường Pétrus Ký tham gia rất đông, nhất là học sinh các lớp lớn Đệ Nhất Cấp cùng các trường khác như Võ Trường Toản kéo về biểu tình ở khu vực Dinh Thống Ðốc, vườn Bờ-rô. Cảnh sát đàn áp cuộc biểu tình, bắn trúng anh học trò Trần Văn Ơn của trường Pétrus Ký tử thương.

petrus truong vinh ky

Cổng trường Pétrus Ký năm 1972 vẫn còn khắc hai câu đối vào năm 1950 nói lên tinh thần học tập của ông Trương Vĩnh Ký (Ảnh Tài liệu)

Ðây là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi tham dự tang lễ của trò Ơn tại trường trong khi linh cữu anh được gia đình để tại Nhà Vĩnh Biệt trên đường Thuận Kiều.

Cuộc truy điệu lớn khủng khiếp, sinh viên học sinh khắp Sài Gòn, kể cả các giáo sư khắp nơi đều có mặt. Báo chí lớn nhỏ đều đưa phóng sự một sự kiện lớn của sinh viên học sinh đấu tranh chống chính quyền thuộc địa Pháp. Cuộc đấu tranh được hưởng ứng kể cả người Hoa, người Ấn sống tại Sài Gòn Chợ Lớn cùng nhau bãi thị, ngưng buôn bán suốt ba ngày, phong trào lan rộng tới các tỉnh ở Nam Kỳ, cha mẹ tôi khăn gói lên Sài Gòn một thời gian ngắn để trông chừng, khuyên nhủ tôi tuổi nhỏ nên lấy chuyện học hành làm trọng”.

Cũng vào niên học năm 1950-1951, sau sự kiện trò Ơn, để khẳng định tinh thần học tập của học giả Trương Vĩnh Ký, thầy Ưng Thiều, giáo sư môn Hán Văn của trường viết hai câu đối, được ông Hiệu Trưởng Phạm Văn Còn cho khắc trước cổng trường để nêu rõ quan điểm giáo dục học sinh của trường về đạo đức và trí dục như sau: “Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt / Tây Âu khoa học yếu minh tâm”.

Còn anh bạn tôi vào Pétrus Ký niên khoá 1970-1971 trong giai đoạn chính trị xã hội tương đối bình yên, ngoại trừ anh thấy bức tượng bán thân của ông Pétrus Ký trên sân trường, bên má trái bị một vết lõm tròn. Vết lõm này là do đạn bắn trúng không biết từ bên nào giữa quân đội của TT. Diệm tấn công nhóm quân Bình Xuyên của Bảy Viễn chiếm trường cố thủ. Hai câu đối khắc hai bên cột cổng trường vẫn còn cho đến sau năm 1975 khi trường chỉnh trang lại một vài cơ sở bên trong, cổng chính được phá bỏ xây mới.

Trang Nguyên
Fort Worth, TX

Pétrus Ký – Ngôi trường lớn của nhiều thế hệ Sài Gòn

 

Ngôi trường Pétrus Ký ban đầu là một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat tức là trường Lê Quý Ðôn ngày nay. Tuy nhiên trường thu nhận toàn bộ là học trò người Việt, dạy từ lớp 6 đến lớp 12. Nhiều học sinh các tỉnh, sau khi xong bậc tiểu học ở quê, có thể lên Sài Gòn dự thi vào trường. Về sau, từ thời Ðệ nhất Cộng Hoà, do số học sinh tăng nhanh, muốn vào trường công lập phải qua kỳ thi tuyển sinh gắt gao, nên học sinh nào đậu vào trường là niềm hãnh diện lớn cho bản thân và cả gia đình.

Về tên gọi của trường Petrus Ký, tháng 12-1929, sau khi khánh thành tượng đồng của nhà bác học Pétrus Trương Vĩnh Ký ở công viên trước dinh Norodom (nay là dinh Độc Lập), trường chính thức mang tên là Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký.

Tuy nhiên, nhiều người vẫn gọi tắt là Pétrus Ký và tên này được sử dụng trong gần 50 năm.

Ngày 6-12-1937, nhân lễ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của nhà văn hóa, nhà bác học Pétrus Trương Vĩnh Ký, trường đã đặt tượng bán thân bằng đồng của ông Pétrus Trương Vĩnh Ký tại giữa sân trường.

Đây là tác phẩm của nhà điêu khắc Sylve Raffegeard (Pháp) thực hiện từ năm 1889, khi nhà bác học Trương Vĩnh Ký còn tại thế.

Thập niên 1950, một số cơ sở và đất đai của Trường Pétrus Ký bị cắt xén, trưng dụng để dùng cho những cơ quan giáo dục khác như Trường Quốc gia Sư phạm, Trường trung tiểu học Trung Thu, Trung tâm Học liệu của Bộ Giáo dục…

Ba dãy lầu lớn của Trường Pétrus Ký được dùng cho ĐH Khoa học và ĐH Sư phạm. Nhà tổng giám thị Pétrus Ký được dùng làm Trung tâm Thính thị Anh ngữ, một số các nhà chức vụ khác của trường cũng được dùng cho một số viên chức Bộ Giáo dục Sài Gòn.

Tuy bị cắt xén nhiều nhưng Trường Pétrus Ký vẫn còn là một trường trung học lớn nhất dành riêng cho nam sinh ở miền Nam.

Trường Pétrus Ký là một tổng hòa công kiến trúc đẹp, gói gọn trong khuôn viên xanh, rộng rãi lên tới 8ha. Với những hàng cây cổ thụ, tháp đồng hồ hay những dãy hành lang lát gạch ca rô ẩn nấp phía dưới những mái vòm cong độc đáo được xem là những điểm nhấn đặc biệt của ngôi trường.

Có thể nói đây là tiêu biểu cho phong cách kiến trúc phương Tây tổng hòa với nền giao thoa văn hóa bản địa Á Đông, tạo ra lối kiến trúc Đông Dương, đặc trưng cho một thời kỳ lịch sử Việt Nam.

Cụ thể, phía dưới là tường dày 1-1,2m, các vòm, các trụ, trang trí trên trụ, trên vòm… là theo kiến trúc Pháp. Hành lang được bao quanh bằng lan can có các “con tiện” theo kiểu Pháp. Thế nhưng kiến trúc phía trên là mái ngói lợp dốc theo kiểu Á Đông để thoát nước mưa tốt.

Sắt, gạch, ximăng… để xây dựng ngôi trường được đưa từ Pháp qua.

Mặt bằng Trường Pétrus Trương Vĩnh Ký gồm ba dãy nhà dài. Khu A của trường gồm: cổng ngoài (giáp đường Nguyễn Văn Cừ ngày nay), cổng chính vào sân trường, trên có tháp chuông đồng hồ, ba dãy phòng học hình chữ U một trệt, một lầu với hành lang rộng, cửa vòm, cột vuông, tường gạch, mái ngói đỏ, đầu hồi trang trí hoa văn… nay vẫn còn được giữ gìn gần như nguyên vẹn.

Bốn dãy này bao quanh thành kiểu hình vuông, bao sân lớn ở chính giữa có nhiều cây xanh tạo bóng mát cho sân trường.

Trong những năm qua, để đáp ứng nhu cầu học tập, trường đã xây dựng thêm khu B, khu C và khu luyện tập thể thao. Các công trình mới xây dựng vẫn đảm bảo sự hài hòa với các công trình đã có.

Ngôi trường lớn của nhiều thế hệ thầy trò Sài Gòn

Muốn vào học Trường Pétrus Ký, học sinh ưu tú, xuất sắc của Sài Gòn và các tỉnh phía Nam phải qua kỳ thi tuyển rất gay go, từ khi mới thành lập cũng vậy mà sau này cũng vậy. Vì thuộc thành phần chọn lọc như vậy nên học sinh Pétrus Ký đậu rất nhiều và rất cao trong các kỳ thi.

Trở thành học sinh của Pétrus Ký đã là ước mơ của biết bao thế hệ học sinh ở Sài Gòn và miền Nam Việt Nam.

Về phương diện kỷ luật và trật tự thì có lẽ hiếm trường nào có kỷ luật và trật tự chặt chẽ, tốt đẹp bằng Trường Pétrus Ký. Sau khi vào cổng, học sinh đứng xếp hàng dưới những tàng cây sao cao ngất bên hông những dãy lớp học đồ sộ uy nghi, khi các lớp học sinh chỉnh tề theo hàng ngũ lần lượt đi vào sân trong và dừng lại ở trước cửa mỗi lớp một cách rất có trật tự và kỷ luật trong không khí trang trọng.

Phần đông giáo viên Pétrus Ký là thầy cô được chọn lọc, rất có căn bản chuyên môn và cũng rất đạo đức. Một số giáo viên Pétrus Ký đã đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong ngành giáo dục Sài Gòn sau khi dạy ở trường.

Mời các bạn xem lại những hình ảnh xưa của ngôi trường danh tiếng này:

Công trường xây dựng trường Petrus Ký ở Sài Gòn thập niên 1920.

Toàn cảnh trường Petrus Ký nhìn từ trên cao, thập niên 1920. Một số tòa nhà của trường thời điểm này đang được thi công.

Cánh cổng có hai tầng (bên trái) ở mặt trước, hình ảnh mang tính biểu tượng về trường Petrus Ký.

Tiểu cảnh cây xanh ở mặt trước của trường.

Từ cổng nhìn về khu nhà chính của trường.

Sân danh dự nằm giữa các tòa nhà ở trung tâm.

Sân trong của trường được dùng làm sân tập thể dục thể thao cho học sinh.

Tòa nhà khu nội trú nằm bên sân vận động.

Các dãy hành lang có mái che liên kết các tòa nhà của trường

Giờ tan trường vào một ngày của thập niên 1930.

Toàn quyền Philipines Davis M. Robin thăm trường Petrus Ký vào tháng 2/1931.

Một nhóm học sinh Petrus Ký chụp ảnh kỷ niệm cùng thầy giáo.

Giờ học môn địa lý

 

Nhật Hùng sưu tầm & tổng hợp

 
Nguồn: tuoitre.vn, kienthuc.net.vn

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này