Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1308)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (65)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (358)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Hâm nóng tình già

Hâm nóng tình già

Nguyễn Thị Thanh Dương

Hình vẽ Bảo Huân

Chị Bông gởi tâm sự cho chị Ngân Bình phụ trách mục “Tình Chàng Ý Thiếp” của một tuần báo. Chị than thở chuyện tình cảm hai vợ chồng già nhà chị lúc nào cũng xung khắc cãi nhau.

Ông ấy lát gạch vườn sau chỗ cao chỗ thấp làm chị Bông vấp ngã mấy lần đã không biết điều xin lỗi còn mắng vợ xớn xác.

Chị Bông tiết kiệm ngân quỹ gia đình, ở nhà chuyên mặc đồ thừa của con gái thì ông ấy nói quần áo ngắn cũn cỡn, váy màu mè xanh đỏ như bà bóng …

Chị Ngân Bình khuyên rằng tình vợ chồng bao năm đã cũ mòn rồi, như nồi phở để nguội mất ngon chị cần phải hâm nóng lại.

Chị Bông bèn mạo muội gọi phone chị Ngân Bình để nghe lời khuyên cụ thể hơn:

– Hâm nóng tình già cách nào hả chị?

Chị Ngân Bình hùng hồn:

– Chị hãy làm một chuyến đi xa, nhân dịp này vừa thăm con cháu vừa tạo khoảng cách cho ông chồng chị cảm thấy trống vắng, thương nhớ chờ mong.

Chị Bông lo lắng:

– Nhưng… lỡ kết quả ngược lại là chị… chịu trách nhiệm nghe.

Ðến lượt chị Ngân Bình lo lắng:

– Ủa, tôi đã giúp chị lời khuyên mà còn  chịu trách nhiệm… vụ gì ??

– Tôi thấy mấy ông già vắng vợ, xa vợ dễ ngã lòng lắm, chồng tôi được tự do một mình lỡ ông ấy ra vào mấy quán cà phê đèn mờ có mấy cô tre trẻ phục vụ thì tình vợ chồng nhà tôi không những hâm nóng còn cháy khét luôn đó.

Chị Ngân Bình tự tin:

– Tưởng gì. Bao năm qua chồng chị vẫn ngoan hiền thì làm gì dám “đổi đời” ghê gớm thế…

Chị Ngân Bình nói đúng, có lẽ tình vợ chồng mấy chục năm đã cũ mòn, đã giết chết tình yêu thuở thanh xuân nên người ta đối đãi với nhau không cần gìn giữ, không cần làm đẹp lòng nhau nữa. Ðằng nào cũng là vợ là chồng, xung quanh vòng vây nào con cháu, nào tiền bạc, nào đạo lý, thân nhân họ hàng, bè bạn gần xa, những sợi dây vô hình buộc chặt cuộc đời họ bên nhau khó đứt lìa.

Chị Bông thèm được chồng trân trọng quý mến, thèm được chồng nâng niu yêu thương như thuở ban đầu, cái tình cảm đã mất đi từ lúc nào không hay sau mấy chục năm chồng vợ khi tuổi đời chồng chất.

Nhất định chị sẽ hâm nóng lại tình già nguội lạnh theo lời khuyên của chị Ngân Bình, tình cũ sẽ làm cho mới lại, chị sẽ “đi xa” một khoảng thời gian để anh Bông thấy vợ là cần thiết.


 

Chị tuyên bố cho chồng bất ngờ xem phản ứng anh thế nào:

– Em sẽ đi tiểu bang California thăm con gái và cháu ngoại.

Anh chẳng ngạc nhiên, chẳng “xót xa” vì vợ sắp đi xa mà còn hào hứng tán thành:

– Phải đấy, phải đấy, bà nhớ con nhớ cháu muốn đi thì cứ việc đi.

Chị Bông chạnh lòng nghĩ thầm: “Ðã thế tôi sẽ đi thật lâu cho ông biết thế nào là… tình xa nhé”.

Chị mua vé máy bay đi California 2 tháng. Anh Bông vui vẻ chở vợ ra phi trường và dặn dò:

– Nếu tôi… quên thì gần ngày về bà phone nhắc tôi ra phi trường đón nha.

Trời ơi, thì ra chồng chẳng chờ mong ngày vợ về sao? Ai lại có thể quên ngày… đoàn tụ nhỉ?

Chị Bông tưởng lúc chia tay sẽ bịn rịn lưu luyến. Nhưng anh Bông luôn miệng giục giã:

– Bà vào trong sớm đi cho thoải mái.

Rồi anh Bông hăng hái xách phụ vợ cái túi xách khi chị đứng xếp hàng chờ kiểm hành lý.

Cứ làm như anh muốn tống một của nợ đi cho khuất mắt.

Chỉ có gia đình con gái là bất ngờ thôi. Con gái đón chị Bông về nhà và phân bày:

– Mẹ đột ngột đến thăm, con vội sửa soạn phòng, không biết có thiếu sót gì không?

– Mẹ muốn làm… bất ngờ cho con cháu vui mà, mẹ nhớ con cháu quá nên đến thăm và ở hai tháng đấy.

Con rể cảm động:

– Thật vui khi có mẹ đến chơi, các cháu sẽ tha hồ vòi vĩnh bà kể chuyện và nấu nướng món nọ món kia.

Thế là một công đôi việc, vừa thoả lòng thăm con cháu chị Bông vừa tạo không gian khoảng cách xa nhà để nơi kia chồng sẽ nhận ra vắng mụ vợ già cũng trống trải biết bao.

Nhưng ở với con cháu mới được 5 tuần lễ chính chị Bông đã cảm thấy nhớ nhà, nhớ tất cả những gì liên quan đến đời sống quen thuộc hàng ngày của mình, chị nhớ khu phố mình ở, nhớ cả chợ búa thường đi mỗi cuối tuần.

Chị Bông bảo con đổi vé máy bay về nhà sớm. Chị quyết định không báo cho chồng biết, chị lại muốn chồng bất ngờ, 5 tuần lễ xa nhau đủ cho chồng thấm thía nhớ thương.

Về đến phi trường chị Bông hồi hộp và sung sướng gọi taxi chở về nhà.

Căn nhà thân yêu đây rồi, chị tưởng tượng khi cánh cửa mở ra chồng sẽ mừng rơn ôm chầm lấy vợ, chị sẽ cảm động rưng rưng nói một câu nũng nịu tình tứ:

-Em nhớ anh nên về sớm đó. Anh có nhớ em không?

Anh sẽ như ngày xưa lãng mạn ngọt ngào nói một câu đã đọc được trong tiểu thuyết:

– Những ngày không em đời anh là hoang vu sa mạc.

Nhưng không, anh Bông đứng sững sờ nơi cửa không thốt nên lời. Chị Bông phải lên tiếng:

– Anh kinh ngạc và chết lặng như vừa thấy người từ cõi chết trở về vậy hả? Em, Bông đây mà.

Bây giờ anh mới… hồi tĩnh và hỏi một câu vô duyên:

– Sao bà về sớm thế?

Chị Bông chưa kịp đáp anh thêm câu vô duyên khác:

– Ði thăm con cháu thì ở lại vài tháng cho đã đời đi. Về làm chi…

Chị Bông biết tính “ăn ngay nói thẳng” của chồng, xưa nay nghĩ sao nói vậy không hình thức bề ngoài cho vừa lòng vợ nhưng chị vẫn cụt hứng. Nhìn nét mặt của chồng chị Bông nghi ngờ:

– Anh sao thế? Nhìn mặt anh như chưa tỉnh một cơn mê, cứ làm như em có tội với anh khi bất chợt về nhà sớm vậy đó.

– Chứ còn gì nữa…

– Trời ơi… anh có chuyện gì mờ ám hả? Hả?

– Tôi đang… nghe những bản nhạc tình Bolero bà về không đúng lúc.

Bây giờ chị Bông mới để ý lắng nghe tiếng nhạc vọng ra từ trong phòng, giọng Hoàng Oanh đang tha thiết năn nỉ ỉ ôi: “Chỉ hai đứa mình thôi nhé… đừng cho trăng nép sau hè… chỉ hai đứa mình thôi nhé… trần gian thanh vắng tứ bề…”

Chị Bông gắt:

– Nhạc gì thì cũng là nhạc, liên quan gì đến chúng ta?

– Có chứ. Bà bình tĩnh đừng tưởng tượng quá xa xôi, nghe tôi nói những lời chân thật từ đáy lòng đây. Nhờ bà đi vắng dài hạn tôi bỗng như anh chàng trẻ tuổi độc thân, chẳng nấu nướng gì cả, cơm hàng cháo chợ mà bà vẫn chê bai toàn là gia vị độc hại, bột ngọt, dầu mỡ muối đường không tốt cho sức khỏe ấy, nhưng lạ và ngon khác với cơm bà nấu.

Tôi đã có những ngày tự do thoải mái, muốn ăn gì thì ăn, đi đâu thì đi, làm gì thì làm mà không sợ bị bà xía vô hoạnh họe cấm cản hay liếc dọc liếc ngang vào ra lẩm bẩm. Lúc nào rảnh nằm nghe những bản nhạc tình cảm Bolero tâm hồn tôi lãng mạn, ướt át chơi vơi cảm xúc. Ðang mơ màng thế cho nên thấy bà đột ngột trở về, đứng lù lù nơi cửa tôi không… giật mình sao được.

Chị Bông giận hờn:

– Em hiểu rồi, thì ra anh đang quay về lứa tuổi hai mươi thương nhớ vu vơ đấy… “Chỉ hai đứa mình thôi nhé” bảo đảm là không có hình bóng của em, vì người ta chỉ thương nhớ những gì đã mất, còn những thứ đã đạt được trong tay như em đây có đi xa, đi vắng hay…tiêu đời luôn càng tốt phải không anh?

Anh Bông chẳng thèm dỗ dành vợ mà tỉnh bơ nói tiếp:

– Thí dụ… ngày đó tôi không lấy được bà thì bà mãi mãi là người trong mộng của tôi.Tình yêu thời tuổi trẻ và tuổi già khác nhau xa, ngày xưa hai chúng mình cứ nôn nóng đòi làm đám cưới gấp, một ngày không có nhau là một ngày hoang phí. Nhưng bây giờ có khi vắng xa nhau một ngày là một ngày dễ chịu, dễ thương…

Anh xuống giọng tràn đầy tình cảm:

– Cám ơn bà đã vắng nhà mấy tuần cho tâm hồn tôi trẻ lại. Tóm lại lâu lâu mình cũng cần “chia xa” cho… tình gần nhau hơn.

Chị Bông khen:

– Em mới đi vắng vài tuần mà anh đã ảnh hưởng Bolero quá chừng, ăn nói lãng mạn hẳn ra. Có xa cách mới biết nhớ thương nhau, đó là mục đích của em, em sợ tình nguội lạnh nhạt phai nên đã hâm nóng tình già, tình cũ của chúng mình.Coi như em vắng nhà là đã tặng anh một giấc mộng thanh xuân, tuy ngắn ngủi nửa vời…

– Giấc mộng nào chẳng dở dang nửa vời, có bao giờ chúng ta ngủ mơ đầy đủ một câu chuyện đâu. Có bà bên cạnh là tôi trở về thực tế rồi, bây giờ tôi có nghe thêm hàng trăm bài nhạc tình Bolero mùi mẫn cũng chẳng chạnh lòng nổi, chẳng mộng mơ nổi. Ðể tôi đi tắt nhạc và chiều nay tôi khỏi lái xe đi ăn cơm tiệm, bà nấu gì tôi ăn nấy.

Chị âu yếm nói với chồng:

– Hôm nay em sẽ nấu cho anh một bữa cơm ngon sau 5 tuần lễ xa nhà nhưng không phải chỉ bằng thịt cá rau củ gia vị hành ngò. Ðố anh biết là món gì?

Anh Bông tươi cười:

– Bà làm như bà là cô giáo và tôi là thằng học trò nhỏ của bà để bà “đố vui để học” hả. Tôi nghe bà nói hàng trăm lần rồi, bà nấu bằng tất cả tâm tình của bà chứ gì. Tôi hiểu bà từ đời nào, cũng như bà đã hiểu tôi từ kiếp nào. Cám ơn bà đã hâm nóng tình già, tuy cũ mòn theo thời gian nhưng nó vẫn còn đấy đi đâu mà mất.

 

Nguyễn Thị Thanh Dương

-------------

Hình minh họa- Internet

Ngọc Lan sưu tầm

Xem thêm...

Bộ ảnh Tết cổ truyền năm 1920

Bộ ảnh Tết cổ truyền năm 1920


BM
Hình ảnh cái tết cổ truyền vào năm 1920, cách đây đúng 100 năm được một nhiếp ảnh gia ghi lại. Các hình ảnh trải qua 100 năm đã được Đại Nam Phục Ảnh phục chế lại màu. Những hình ảnh đen trắng được phục chế với những sắc màu cơ bản, như được thổi một sức sống mới lạ và trở nên hấp dẫn hơn.
 
Bộ ảnh được Đại Nam phục ảnh sưu tập tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau và tiến hành phục chế trong suốt nhiều tháng, bắt nguồn từ đam mê tìm hiểu lịch sử kết hợp với đồ họa, giống như một món quà giúp người trẻ hiểu hơn về các giá trị truyền thống.
 
BM
  
Cứ mỗi dịp Tết đến xuân về, tôi lại thích nghĩ về quá khứ, về những gì đã qua. Tết là một cái cớ để sống chậm lại và suy ngẫm về những giá trị cũ. Thời gian lúc này như chậm lại để cho những dòng ký ức cứ bám quanh người đặc quánh, nghi ngút. Di sản của ông cha ta để lại không chỉ là những thứ xa xôi, cao siêu như giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc cần được đánh thức và bảo tồn mà còn là những khoảnh khắc, thói quen, con người đã gắn bó sâu đậm đến mức trở thành một phần của tiềm thức, không bao giờ thay đổi.
 
BM
  
Chia sẻ về cảm hứng phục chế bộ ảnh, anh Âu Minh (26 tuổi, Bình Dương), đại diện Đại Nam phục ảnh cho biết: “Hà Nội trong tôi là trung tâm văn hóa lịch sử lâu đời, nhiều tinh hoa đang được ấp ủ bên trong. Nhân dịp Tết đến, Xuân về, tôi đã “vùi mình” suốt nhiều tháng để phục chế một bộ ảnh Tết, với mong muốn hòa chung vào niềm vui lớn. Tôi lục tìm những tư liệu về các hoạt động xoay quanh ngày Tết cổ truyền Hà thành trong khoảng thời gian từ 1920-1929 để mọi người cảm nhận rõ hơn hương vị Tết cách đây 100 năm diễn ra như thế nào…
 
BM
  
Đặc biệt, do hiện nay, nhiều người cứ hay than rằng Tết nay không còn vui nữa. Cá nhân tôi cho rằng, Tết truyền thống của dân tộc Việt Nam là một di sản đáng trân trọng và quý giá, không phải một sự dư thừa, hay một thứ cần dẹp bỏ như một số đề xuất gần đây.
 
BM
  
Chính vì vậy, tôi muốn thông qua bộ ảnh, có thể giúp mọi người phần nào hình dung được cha ông chúng ta thời xưa ăn Tết thế nào, mà cố gắng giữ gìn những giá trị xưa để Tết mỗi năm là một dịp đoàn viên, một dịp gợi nhớ về cội nguồn, để Tết vẫn là Tết tròn vị chứ không bị mai một”, Âu Minh bày tỏ.
 
Mời các bạn cùng nhìn lại con người Việt Nam trong không khí tết của 100 năm trước qua những bức ảnh tư liệu quý hiếm…
 
BM
 
BM
 
BM
 
BM
 
BM
 
BM
 
BM
 
BM
 
BM
 
BM
 
BM
 
BM
 
BM
 
BM
 
BM
 
BM
 

Tết Nguyên Đán (còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền hay chỉ gọi đơn giản là Tết) là dịp lễ đầu năm âm lịch quan trọng và có ý nghĩa bậc nhất ở Việt Nam, cùng với văn hóa Tết Âm lịch của các nước Đông Á.

Tết cổ truyền không chỉ là điều mang ý nghĩa thiêng liêng với người Việt từ bao đời nay, mà đó còn là thứ hấp dẫn, gây tò mò với nhiều du khách nước ngoài. Trong khoảng từ năm 1920-1950, nhiều nhiếp ảnh gia nước ngoài đã tới thủ đô Hà Nội tận hưởng không khí Tết đặc biệt của người dân và ghi lại những khoảnh khắc hiếm có. 

Mời quý Phật tử cùng hoài niệm về chợ Tết Hà Nội năm 1920 để sống lại những năm tháng xưa cũ: 

Khung cảnh mua bán lá dong tấp nập cận Tết Nguyên đán.
Tết ở Hà Nội thập niên 1920 - Người bán lá dong gói bánh chưng tại chợ Đồng Xuân.
Một cửa hàng ở Hà Nội bán bóng bay trang trí ngày Tết. Ảnh chụp tháng 1 năm 1928.

 

Kim Phượng st.

 

 Image result for ảnh xưa hình bìa
Xem thêm...

Sài Gòn thời Nhật chiếm

Sài Gòn thời Nhật chiếm

☆☆☆

Viết về Sài Gòn xưa, không thể không nhắc đến khoảng thời gian ngắn khi Nhật chiếm đóng Đông Dương (10/1940 – 9/1945). Nhưng thật tiếc, ít có tài liệu nói đến sự ảnh hưởng lớn nào của người Nhật trong không gian của một đô thị từng chịu ảnh hưởng văn minh của người Pháp. Có chăng là những bài viết của miền Bắc lên án tội ác của lính Nhật trong tình hình dân chúng cả nước phải chịu ách một cổ hai tròng với các chính sách vơ vét của Pháp và Nhật dành cho nhu cầu chiến tranh.

Quân đội Nhật tiến vào Sài Gòn năm 1941 (Manhhaiflickr)   

Lúc sinh thời, má tôi thỉnh thoảng kể vài ba câu chuyện lính Nhật trong thời gian chiếm Nam Kỳ cho con cháu nghe cho biết. Nào là nạn đói xảy ra ở Bắc Kỳ năm Ất Dậu làm chết cả triệu người. Nào là lính Nhật ác hơn cả lính Pháp, người mang tội ăn cắp, bắt được không cần bỏ tù, xử ngay rút kiếm chặt tay tại chỗ, tóm được Việt Minh cột chân cột tay thả trôi sông.

Nào là cấm vận chuyển lương thực ra miền Bắc (theo thoả thuận Kato-Darlan ký tại thành phố Vichy tháng 7/1941 chia ra: miền Bắc do Pháp đảm trách về an ninh, quân sự và ở miền Nam thì do Nhật nắm. Ðây là lần đầu tiên Việt Nam bị chia cắt Nam – Bắc theo một thỏa thuận quốc tế ký kết tại châu Âu), ép nông dân bán rẻ lúa gạo, bắt bỏ ruộng lúa trồng đay để làm vải bố và các chính sách sưu cao thuế nặng khiến cuộc sống người nông dân nghèo khó càng thêm cùng cực.

Tất cả những việc làm của người Nhật trong thời gian chiếm đóng Ðông Dương đều được sử sách ghi lại và đem vào chương trình giảng dạy trong sách giáo khoa trung học. Tuy nhiên, thuở nhỏ khi nghe má tôi kể, tôi thấy những câu chuyện đó thật sống động.

Bởi bà là người tận mắt thấy những gì xảy ra nơi mình sống ở miền Nam, nghe những tin chấn động ở miền Bắc xa xôi qua báo chí. Bà ít học nhưng thích đọc báo, biết phân biệt được trắng đen, ác thiện và cũng như bao người dân khác, bà ghét thực dân Pháp lẫn phát xít Nhật chiếm đóng nước ta.

Lính Nhật thuộc sư đoàn 5 tại Sài Gòn chờ điều
quân sang Singapore (Nguồn: Manhhaiflickr)

Sau này ra đời đi làm, tôi có dịp quen biết với ông Ba Thiện khi gia đình tôi dọn về Gò Vấp. Thuở đó Gò Vấp còn vắng vẻ lắm, nhiều nơi còn là ruộng rẫy hoa màu. Nay ông Ba Thiện mất lâu rồi nhưng tôi vẫn nhớ nhiều câu chuyện ông kể về người Nhật trong khoảng thời gian ông làm tài xế riêng cho viên thiếu tá Nhật (tôi không còn nhớ tên), sĩ quan cố vấn văn hoá làm việc tại Hội Truyền bá Nhật ngữ Sài Gòn.

Công việc của ông Ba Thiện là đưa đón ông sĩ quan đi làm mỗi ngày, có khi theo ông chủ đi công tác các tỉnh hoặc đến các trường Nhật ngữ quanh Sài Gòn làm lễ khai giảng hay bế giảng các khoá học thông ngôn.

Căn nhà mặt tiền rộng lớn trên đường Quang Trung ngày nay gần Ngã Năm Chuồng Chó, nguyên là mảnh đất của viên thiếu tá tặng cho ông trước khi quân đồng minh Anh quốc vào Sài Gòn giải giáp quân Nhật.

Ông kể, khi đó người Nhật không xem Việt Nam là một chiến trường chủ yếu. Nhật đến Việt Nam chẳng qua là mượn đường đưa quân sang đánh Mã Lai, Singapore, hay Miến Ðiện… Mặc dù cái cớ là vậy, thực chất bên trong trên bàn cờ chính trị, đường lối chính sách thực thi phải có lợi cho kẻ mạnh hơn.

Bên cạnh đó, việc đầu tiên khi lính Nhật vào Sài Gòn là nhanh chóng mở các lớp Nhật ngữ kêu gọi thanh niên tham gia để đào tạo ra lớp thông ngôn, bất kể đó là người Pháp hay người Việt đều được ghi danh theo học. Mặt trận văn hoá này quan trọng không thua gì chính sách vơ vét kinh tế để nuôi guồng máy chiến tranh.

Chuyện làm tài xế cho viên thiếu tá phụ trách văn hoá Nhật Bản là một cơ may đến với ông trong buổi lễ tốt nghiệp khoá tiếng Nhật đầu tiên mở vào năm 1942 tại trường Des filles Françaises, trưng dụng làm trung tâm dạy Nhật ngữ.

Ông Ba Thiện khi đó là một thanh niên 20 tuổi đã học xong bằng Thành Chung biết khá tiếng Pháp, từ Rạch Giá lên Sài Gòn vào đầu năm 1940 theo học một trường dạy lái xe chở khách kiếm một cái nghề mưu sinh.

Thuở bấy giờ nghề tài xế xe đò kiếm được tiền khá lắm. Cũng vào năm này, người Nhật vào Ðông Dương qua ngõ Hải Phòng, rồi đến tháng 7 năm 1941, quân Nhật đã có mặt tại Nam Kỳ. Tình hình đời sống kinh tế Nam Kỳ nói chung, Sài Gòn nói riêng bỗng dưng chựng lại, dân chúng tiết kiệm không dám tiêu xài, công việc hãng xưởng giảm sút.

Lấy được giấy phép lái xe, Ba Thiện nán lại ở Sài Gòn ghi danh theo học miễn phí khoá tiếng Nhật 6 tháng. Có khiếu học ngoại ngữ, Ba Thiện tốt nghiệp loại giỏi. Trong buổi lễ phát chứng chỉ, viên thiếu tá hỏi han biết ông có bằng lái xe nên đề nghị ông về làm tài xế riêng cho mình.

Máy bay đồng minh ném bom các căn cứ quân sự Nhật
tại Sài Gòn tháng 8/1945 (Nguồn: Manhhaiflickr)

Việc truyền bá Nhật ngữ trong giai đoạn đầu khi Nhật đến Sài Gòn được ký giả Oya Kusio của Hãng Thông tấn Domei Tsushinsa (Ðồng Minh Thông tấn xã) ghi nhận: “Hoàn toàn không thấy ảnh hưởng của tiếng Nhật”.

Nhưng sang năm 1942, những thương nhân người Việt Nam và người Ấn Ðộ trên đường Catinat (nay là đường Ðồng Khởi), xuất phát từ nhu cầu giao tiếp trong buôn bán, đã nhận thức được sự cần thiết của việc học tiếng Nhật và họ đã bắt đầu học tiếng Nhật một cách tự phát”.

Theo tài liệu Hoạt động giáo dục tiếng Nhật tại Việt Nam thời kỳ Nhật – Pháp cộng trị của tác giả Võ Minh Vũ ghi nhận, ngày 22/5/1939, nghĩa là trước khi quân đội Nhật tiến vào Ðông Dương, Lãnh sự Nhật Bản tại Sài Gòn là Suzuki Rokuro (Linh Mộc Lục Lang) gửi điện báo cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Arita Hachiro (Hũu Ðiền Bát Lang) rằng:

“Theo chỗ tờ báo địa phương Trung Bắc Tân Văn đưa tin, gần đây có lệnh của Toàn quyền bắt các cơ quan hành chánh địa phương cử 1 thư ký người bản địa đến Hà Nội học tiếng Nhật. Những người có nguyện vọng học cần biết về chữ Hán, thời gian học là 3 tháng và học về hội thoại, đọc sách và những người này sẽ được chi trả thêm một phần trợ cấp nhất định”.

Như vậy, chính quyền thực dân Pháp cũng nhận thức được tầm quan trọng của việc học tiếng Nhật để trao đổi giao tiếp trong thế cờ quân Nhật lớn mạnh mở rộng chiến trường sang các nước Ðông Nam Á và tình hình suy yếu của quân đội Pháp trong Ðệ Nhị Thế chiến.

Việc học tiếng Nhật đầu tiên là do chính quyền thực dân Pháp chủ trương chứ không phải từ phía chính quyền Nhật Bản. Tuy nhiên, mãi đến tháng 3/1942, công tác phổ biến truyền bá Nhật ngữ mới được Ðại sứ quán Nhật Bản tại Nam Kỳ tổ chức bài bản và do người Nhật quản lý và điều hành.

Bộ phận Tuyên truyền Nhật ngữ khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn ra đời. Số trường dạy tiếng Nhật bắt đầu tăng lên và số học sinh theo học càng đông. Tháng 4/1943, Hội Truyền Bá Nhật ngữ Nam Kỳ chính thức thành lập, đặt trụ sở tại Sài Gòn.

Hội này không trực tiếp điều hành các trường tiếng Nhật mà chủ yếu giữ vai trò liên lạc giữa các trường tiếng Nhật, biên soạn, phân phát các tài liệu cần thiết trong giảng dạy tiếng Nhật. Ðến thời điểm này, tài Sài Gòn – Chợ Lớn có 7 trung tâm dạy tiếng Nhật bao gồm luôn cả trường Lycée Chasseloup Laubat. Số học sinh theo học tiếng Nhật lên đến 1000 người.

Sĩ quan Nhật trao kiếm đầu hàng quân Anh vào
Sài Gòn giải giáp (Nguồn: Manhhaiflickr)

Bên cạnh truyền bá Nhật ngữ, nhiều hoạt động văn hoá truyền thống Nhật Bản như Ikebana, Trà đạo, lễ hội búp bê Hina, sinh hoạt thể dục thể thao được Hội Truyền bá Nhật ngữ lồng vào các chương trình sinh hoạt để thu hút người theo học. Các lễ tốt nghiệp khoá học được tổ chức rình rang khoa trương với mục đích khác là tuyên truyền về khu vực Thịnh vượng chung Ðại Ðông Á.

Cùng với việc truyền bá Nhật ngữ,và văn hóa đối với Ðông Dương của Nhật bắt đầu từ năm 1941, nguyên tắc cơ bản của nó là: Trao đổi giáo sư, trao đổi tạp chí, ấn phẩm, phát hành ấn phẩm dành riêng cho Ðông Dương, trao đổi hiện vật trưng bày, tổ chức triển lãm lưu động tại Ðông Dương, chiếu phim tuyên truyền thể hiện sức mạnh quân sự của Nhật. Tuy vậy, bộ phim “Hải chiến vịnh Hawaii và vịnh Malay”, tái hiện cuộc chiến Trân Châu Cảng lại không thu hút được công chúng Sài Gòn.

Như vậy, ở một khía cạnh nào đó, trong thời gian quân đội Nhật chiếm Ðông Dương cho đến khi Nhật đầu hàng đồng minh, chính quyền Nhật ở Sài Gòn không để lại một dấu ấn nào khác ngoài việc truyền bá tiếng Nhật và thu vét lúa gạo tại Nam kỳ phục vụ chiến tranh.

-----------

Tim Nguyễn 

(Fort Worth, TX)

Ngọc Lan sưu tầm

Xem thêm...

Truyện Ngắn: NGƯỜI KHÁCH TRÊN QUÊ MÌNH- Phan Xuân Sinh

NGƯỜI KHÁCH TRÊN QUÊ MÌNH


Truyện ngắn của Phan Xuân Sinh 

Tôi từ Sài Gòn về hôm nay thì ngày mai đám giỗ má tôi. Thằng em út tôi đề nghị sáng hôm sau dậy sớm để vào thăm mộ má trước, tới chiều mới làm mâm cơm đám giỗ má sau. Tôi quên không hỏi nó bây giờ má chôn ở đâu? Vì trước đây tất cả mồ mả được qui hoạch chôn vô một chổ, chứ không có nhiều nghĩa địa như ngày xưa. Tối hôm đó tôi đi chơi với mấy thằng bạn tới khuya mới về rồi đi ngủ, còn mọi chuyện thằng em tôi lo tất cả…

Sáng dậy sớm uống một ly cà phê, rồi nó chở tôi trên chiếc xe honda của nó. Tôi chỉ hỏi đường đi có xa không? Nó bảo là đi chừng một tiếng đồng hồ. Rồi hai anh em cứ thế mà đi. Hơn hai mươi năm không về Đà Nẵng, tôi không còn nhớ đường xá, nhất là trong thời kỳ tốc độ xây dựng chóng mặt, nên mọi nơi chốn đều lạ lẫm với tôi. Tôi nhớ thằng em chở tôi qua cầu Trịnh Minh Thế, rồi nhắm hướng chùa Non Nước.

Qua khỏi chùa Non Nước thì tôi không còn biết nơi chốn nó đi tới, vì hai bên đường nhà cửa san sát, nó không còn là đồng quê. Ngày xưa nơi đây là đồng không mông quạnh, là vùng oanh kích tự do. Đơn vị của tôi thường đi hành quân trên vùng nầy, nhưng bây giờ nó đã trở thành một thị trấn khá tấp nập. Đúng là vật đổi sao dời.

Thằng em tôi ngừng xe lại một quán mì Quảng bên đường, nó nói là anh em mình vào ăn một tô mì rồi đi tiếp. Nó sực nhớ là tôi ở Mỹ về nên nó hỏi: “Mà anh có ăn được không? Đây  là quán bình dân, ăn cốt cho no chứ không ngon”. Tôi gật đầu, ngầm bảo với nó là ăn được.

Tôi nhớ ngày xưa còn nhỏ, nhà nghèo đâu dễ gì ăn được một tô mì dù là mì bình dân như bây giờ. Một tô mì phải độn thêm vào hai chén cơm, một muỗng nước mắm mặn. Nó không còn hương vị của mì, thế nhưng khi ăn xong vẫn còn thèm thuồng. Bà chủ quán mang ra hai tô mì, rồi bà nhìn chăm chăm vào mặt tôi như soi mói một cái gì. Có lẽ bà thấy tôi trắng trẻo mập mạp, nên bà nghi tôi không phải dân ở đây.

Thành phố Đà Nẵng về đêm

Tôi cúi đầu hì hụp ăn như không cần biết mọi vật chung quanh mình. Tô mì rất thân quen với con mắt của tôi mặc dù mấy mươi năm mới thấy lại. Cũng vài con tôm bạc, vài lát thịt mỡ, vài cọng hành, một ít đậu phụng rang và nửa cái bánh tráng nướng. Chế biến đơn giản nhưng mùi vị y chang như thời xa xưa mà tôi đã từng nếm qua nhiều lần. Mấy chục năm trên đầu lưỡi của tôi đã tiếp nhận biết bao thứ đậm đặc gia vị, tôi nghĩ rằng cách nấu nướng đơn giản của vùng quê mình sẽ không được ngon miệng.

Thế nhưng tô mì nầy đã làm cho tôi giật mình cảm thấy đã tìm về được nét “đậm đà bản sắc dân tộc” (mà người trong nước hay dùng từ nầy để chỉ những phong tục, tập quán, lễ nghi v.v…mang tính riêng của quê hương). Tôi ăn ngon lành như vừa mới khám phá ra món lạ. Thằng em ngồi bên cạnh thấy tôi ăn nó gật gù thích thú.

Khi ăn xong ngồi uống nước, tôi hỏi bà chủ quán về địa danh vùng nầy. Bà cho biết đây là xã Hòa Lân, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Bà hỏi tôi đã từng đi qua vùng nầy lần nào chưa? Tôi trả lời với bà trong thời chiến tranh tôi có đi lại vùng nầy vài ba lần. Tôi hỏi bà xã Hòa Lân có một cái chùa cách đây bao xa? Bà chỉ tay vào phía trong cách chừng sáu bảy trăm mét. Có lẽ bà tự hỏi tại sao ở đây tôi biết có một cái chùa? Phải là người thân quen với vùng nầy. Chính vì thế bà đọc được trên nét mặt của tôi có chút gì thân thiết, nên bà trả lời rất cặn kẽ và đượm một tí cảm tình.

Tôi nhớ lại năm 1972, trong một cuộc hành quân tại vùng nầy, trung đội của tôi khám phá được một căn hầm y tế gần cái chùa của xã Hòa Lân. Dưới hầm có một nam bác sĩ và một nữ y tá. Thường thường khi phát hiện được một căn hầm thì chúng tôi cột mấy thỏi chất nổ TNT thả xuống theo đường thông hơi rồi giật sập, để tránh trường hợp mở đường máu tẩu thoát. Thế nhưng hôm đó tôi lại không cho lính làm vậy. Sau khi bố trí lính nằm chung quanh hầm  chỉ chừa một khoảng để tác xạ, rồi kêu gọi những người dưới hầm lên đầu hàng, nếu không lên chúng tôi buộc lòng phải phá sập hầm.

Chúng tôi thấy từ dưới hầm chui lên hai người, một nam và một nữ, họ cho biết là dưới hầm không còn ai. Hai người đến gần tôi và yêu cầu tôi cho họ gặp người chỉ huy cuộc hành quân. Tôi nói với họ là người chỉ huy trên máy bay trực thăng, chỉ có tôi trực tiếp tại đây, anh cần gì? Anh chỉ xin một điều là đừng bắn anh. Tôi cười vỗ vai anh, không có ai làm gì anh hết, yên tâm. Anh nhìn tôi với một sự nghi ngờ không biết tôi có thực quyền che chở cho anh không? Anh cho tôi biết anh là bác sĩ và người con gái là y tá, hai người mới đến vùng nầy.

Người bác sĩ trạc bằng tuổi tôi lúc đó, người miền Bắc, khuôn mặt rất tuấn tú. Chỉ có nước da trắng xanh có lẽ vì ban ngày phải nằm dưới hầm. Tôi mời anh hút thuốc để trấn an sự sợ hãi. Có lẽ người ta tuyên truyền rằng chúng tôi là những con người khát máu, lòng dạ lang sói, không một chút tình người, chỉ biết chém giết. Một điều may mắn cho hai người là hôm đó chúng tôi không phá sập căn hầm, cho nên hai người mới được sống sót.

Ngồi chờ máy bay ở sân chùa, anh thấy anh em chúng tôi nói cười vui vẻ không có một chút gì ghê gớm, trên khuôn mặt hồn nhiên. Dần dần sự sợ hãi cũng mất đi, anh thành thật trả lời những gì tôi hỏi. Thật tình thì tôi chỉ hỏi những vấn đề sinh sống ở miền Bắc vì hiếu kỳ muốn biết, chứ không có tính cách khai thác. Tôi biết lúc ấy anh có cái nhìn khác về chúng tôi. Thì té ra chúng tôi cũng là những con người như anh vậy. Chiến tranh thật kinh khủng, không những chém giết nhau mà còn dối trá, lừa lọc. Nhét vào đầu những cái xấu xa, những hận thù. Để khi anh em gặp nhau ngỡ ngàng nghi kỵ. Không biết anh bác sĩ đó có còn sống sau cuộc chiến tranh khốc liệt, tương tàn nầy không? Mong rằng anh đọc được những dòng chữ nầy.

Chúng tôi trả tiền rồi lên xe đi tiếp. Thằng em bây giờ mới nói cho tôi biết là Má chôn ở Cẩm Hải. Tôi giật mình. Sao lại có sự trùng hợp lạ kỳ nầy vậy. Địa danh nầy tôi không thể nào quên được. Ngày 01 tháng 6 năm 1972, tôi mất một bàn chân tại Cẩm Hải trong cuộc chiến. Bây giờ má tôi lại được chôn nơi nầy. Ôi, những oan nghiệt cứ đeo mãi theo tôi thế nầy. Tôi muốn quên đi tất cả, thế mà cứ dây mơ rể má cột chặt tôi vào một nơi chốn đã làn tan nát đời tôi.

Tôi bước xuống xe nhìn chung quanh, tôi không còn nhận ra một dấu vết nào của cái vùng mà ngày xưa tôi đã dẩm nát. Căn cứ Đại Hàn để lại cho Trung Đoàn 51 cũng không còn dấu vết, chỉ có mồ mã bạt ngàn. Nơi đây ngày xưa buổi sáng chúng tôi dẫn lính ra tập thể dục, rồi tắm biển. Những buổi chiều tôi hay đi một mình trên bãi hoặc ngồi nhìn sóng vỗ. Tôi thích tiếng sóng vì âm vang của nó nghe vừa êm tai mà cũng vừa như áp đảo. Tôi không hiểu tại sao người ta lại dùng một bãi biển đẹp như vậy làm nghĩa địa. Thật uổng phí mất một thắng cảnh.



Chúng tôi vào thăm mộ má, tôi rất hài lòng với ngôi mộ được xây dựng đơn giản nhưng rất uy nghi. Nó nói với tôi là ở đây cũng không được chắc chắn, có thể sau nầy người ta trưng dụng đất đai, lại dời mã đi nơi khác. Vì vậy không dám xây một cách hoành tráng được. Tôi bảo là không cần thiết phải làm như vậy, như thế nầy là đủ quá rồi. Trong nghĩa trang nầy dễ nhận ra được một điều là mồ mã nào xây dựng to lớn đẹp đẽ là có bàn tay của Việt kiều.

Đúng vậy, tôi đi xem mấy tấm bia người đứng tên xây dựng đang ở Mỹ, Pháp, Canada, Úc v.v…Thôi thì cũng nở mặt nở mày cho người sống cũng như người chết còn ở lại Việt Nam. Tôi nghĩ rằng họ cố gắng xây dựng mồ yên mã đẹp cho thân nhân vì sau đời họ con cái cháu chắt không còn trở về để lo cho ông bà như họ được.

Nhìn nghĩa địa chúng ta liên tưởng đến đời sống của cõi dương nầy. Âm, dương cũng không cách biệt nhau lắm, có kẻ giàu người nghèo. Có nhiều ngôi mộ nguy nga lộng lẫy, được xây dựng chắc chắc, chạm trổ công phu. Nhưng cạnh đó cũng có những nấm mộ vun đắp sơ sài, không hương không khói. Nằm ở giữa huyệt lạnh mà cũng không thoát được cảnh nghèo khó. Tội nghiệp cho những linh hồn bị cái cảnh dương thế chi phối nặng nề.

Ai nói nằm xuống đất là hết đâu? Không cần phải nhìn đâu xa, nhìn nghĩa trang Cẩm Hải nầy cho ta liên tưởng đến một xã hội bên ngoài. Kẻ thì quá giàu còn người thì quá nghèo. Sự chênh lệch quá đổi làm cho ta phải lặng người, thương cho số phận hẩm hiu của những kiếp người bất hạnh đeo đuổi họ từ dương thế đến cõi âm.

Tôi lấy ba cây hương đến trước mộ má tôi khấn rằng: “Thưa Má, hôm nay con lại về trúng vào ngày giỗ Má nên con vội vàng vào thăm Má. Nơi Má nằm chính là nơi con gửi lại một bàn chân trong cuộc chiến, thương con Má cứ ôm nó vào lòng như ngày xưa Má ôm con vậy. Nếu nhớ con Má có thể vuốt ve nó vì chính nó là thân xác của con. Má không còn sợ cô đơn vì nó là da thịt xương máu của con đang cận kề bên má.

Má phù hộ cho gia đình con có đầy đủ sức khỏe, ăn nên làm ra để có đủ điều kiện về thăm Má thường xuyên”. Tôi không biết Má tôi có nghe lời tôi khấn nguyện không? Nhưng tôi cảm thấy trong lời khấn nguyện thành thật của tôi, có chút chua xót, cay đắng.


Một người đàn ông đi tới và tự giới thiệu với tôi, ông là người chăm sóc những ngôi mộ nầy, ông gìn giữ cẩn thận nên mới được hoàn hảo như ngày hôm nay. Chứ không thì tụi chăn trâu đập phá. Ông xin tôi một số tiền thù lao mà ông đã chăm sóc bấy lâu nay. Thằng em tôi chưng hửng vì nó thường vào thắp nhang cho Má mà có thấy ai đâu, bây giờ lại gặp tình trạng khó xử như thế nầy.

Nó hỏi ông đó là phải trả cho ông bao nhiêu? Ông nói một tràng không ngượng ngập, sượng sùng gì cả: “Ông cho tôi tiền nhiều thì tôi giữ cẩn thận, còn cho tôi tiền ít thì cái mộ nầy sẽ bị hư hại. Tùy theo mức độ tiền nhiều hay ít rồi tôi sẽ tự liệu”. Thằng em tôi thấy vậy, rút đưa cho ông năm chục ngàn. Ông chần chừ chê ít không chịu lấy. Nó phải rút thêm ba chục ngàn nữa, ông mới chịu đi. Sau khi ông đi thì cái đám chăn trâu không biết ở đâu bu lại cả chục thằng, lần đầu thì xin đồ cúng để ăn, sau thì xin tiền.

Chúng nó nói thẳng vào mặt thằng em tôi, nếu không cho tiền thì lần sau vào sẽ thấy cái mã nầy tanh bành. Cái thằng cha vừa rồi đâu có làm gì, hắn ở đâu đâu thỉnh thoảng tới hù dọa mấy ông cho tiền ổng, còn tụi tôi ở đây hằng ngày thì làm lơ, đâu có được. Chúng nó đánh trúng vào tâm lý sợ sệt của anh em tôi, thằng em tôi rút cho mỗi thằng mười ngàn, rồi hối tôi lên xe chạy ngay chứ chần chờ sẽ có người khác đến làm phiền thêm.

Tôi ra khỏi nghĩa trang lòng đầy bối rối, không ngờ những chuyện nhỏ nhặt nầy để lại cho tôi một mối suy tư về lòng dạ con người, không có một chút liêm sỉ, một chút đạo đức nào nữa hết sao? Lâu quá rồi xa quê hương, trên xứ người tôi chưa bao giờ gặp những tình huống làm tiền trắng trợn như vậy. Về chứng kiến những sự thật phủ phàng trong lòng tôi ít nhiều đổ vỡ. Thằng em ngồi phía trước xe xoay ngang mặt, nói với tôi: “Hơi sức đâu mà anh để ý mấy cái chuyện vụn vặt nầy. Ở đây có nhiều chuyện làm tiền trắng trợn hơn nữa. Làm lớn thì ăn lớn, làm nhỏ thì ăn nhỏ. Không cần biết người khác
sống chết ra sao, miễn sao tiền bạc vô đầy túi”.


Thằng em chở tôi ghé vào Hội An đi vòng vòng cho biết, thăm lại thành phố nầy ngày xưa tụi tôi hay la cà mấy cái tiệm cà phê những ngày không đi hành quân. Các tiệm cà phê Chiều ở đường bờ sông, hoặc cà phê Phượng ở phía trước cổng Tiểu Khu là những quán mà chúng tôi hay ngồi nhất. Thành phố vẫn không thay đổi mấy, hình như người ta muốn giữ lại những cấu trúc thời xa xưa. Ở nước ngoài mình quen mắt với đường xá, nhà cửa đồ sộ.

Về nhìn lại Hội An thấy cái gì cũng nhỏ, nhà cửa thấp lè tè nhưng rất dễ thương. Một thành phố từ đầu trên đến xóm dưới đều biết nhau, quen nhau. Không những quen biết thôi mà còn hiểu tường tận gốc gác của nhau nữa. Có lẽ đó là cái đặc thù nhất của Hội An mà dù có đi khắp thế giới tìm một thành phố mà những con người gắn bó, thân thiết như vậy cũng thật hiếm hoi.

Tôi nhớ hồi còn đi học, thỉnh thoảng tôi hay vào Hội An chơi với mấy ông bạn “thi sĩ” của tôi: Hạ Đình Thao, Lê Văn Trung, Lê Anh Huy, Kiều Uyên v.v… Đi xuống gần Cẩm Thanh để ăn mì Bà Đợi hay qua cầu Cẩm Phô để ăn chè. Tối về thì vào chùa Phước Kiến ngủ với Thái Tú Hòa (em ruột nhà thơ Thái Tú Hạp). Thấy tôi đến bao giờ Hòa cũng gọi Cẩm (cô em gái của Hòa) mang cái tô ra bà Cảnh mua một tô cao lầu cho tôi và không quên thêm một chén cơm nguội. Tuyệt vời, không có cái gì ngon bằng.

Cho đến bây giờ hơn bốn mươi năm tôi vẫn còn nhớ như mới ngày nào. Tội nghiệp tụi tôi đứa nào cũng nghèo xơ xác, mình có thể nhịn ăn nhưng khi gặp bạn bè thì đãi bạn một cách hào phóng. Hào phóng ở đây có nghĩa là ăn một tô mì hay uống một ly cà phê chẳng hạn. Chứ làm gì có tiền đãi nhau thịnh soạn được, nhà đứa nào cũng nghèo. Mấy ông nầy ra Đà Nẵng tôi đãi một món đặc sản là đậu phụng chiên với nước mắm. Nước mắm khi khô bám vào hạt đậu, vừa dòn vừa mặn, để ăn với cơm. Ngày nào cũng vậy, chẳng có ai khiếu nại về chuyện ăn uống, để dành tiền đi uống cà phê Diệp Hải Dung.

Phố cổ Hội An


Buổi trưa anh em tôi về lại Đà Nẵng để lo đám giỗ. Tôi có mời vài người bạn đến ăn đám giỗ má tôi. Lâu quá, dễ chừng gần hai mươi năm không gặp lại nhau. Bạn bè người nào cũng quá nhiều thay đổi, từ con người đến cuộc sống, tụi tôi bắt đầu bước vào tuổi già. Thế mà khi ngồi lại nói chuyện với nhau như hồi còn trẻ. Tôi kể cho tụi nó nghe về những gì mà tôi đã gặp sáng nay, tôi thấy trên khuôn mặt chúng nó không có một chút ngạc nhiên. Như vậy, chuyện như thế nầy cũng thường xẩy ra và ai sống tại quê nhà cũng thường gặp. Đời sống khó khăn, con người sinh ra nhiều biến thái.

Sau khi dùng cơm xong, chúng tôi rủ nhau đi uống cà phê. Tôi không nhận ra một chút gì cái thành phố mà tôi đã sinh ra, lớn lên và trưởng thành ở đó. Bây giờ nó mang một bộ mặt khác sang trọng và lịch lãm hơn. Những con đường rộng rãi và dân cư đông đúc. Một vài người hỏi tôi nghĩ gì về những thay đổi vội vàng của Đà Nẵng. Tôi trầm tư biết trả lời sao đây? Hơn 30 năm rồi, quê hương nhiều mất mác quá.

Tôi thấy hình như mọi người cố gắng chạy đua cho kịp, thể hiện cho người ta biết mình có tiền có của, mạnh ai nấy xây nhà. Những hình thù nhà cửa thật nham nhở lố lăng, thể hiện một cái thứ trưởng giả học làm sang. Tôi không biết người ngoại quốc đánh giá cách xây dựng nầy ra sao. Chứ còn tôi không chịu được, vừa cỗ của thời Louis nhưng cũng vừa hiện đại của thế kỷ nầy. Nó giống như râu ông nọ cắm cằm bà kia.

Không biết vài chục năm sau, thế hệ con cháu chúng ta đánh giá lối kiến trúc nầy thế nào. Chứ riêng cá nhân tôi nhận thấy vừa hợm hĩnh nhưng cũng vừa tội nghiệp. (Có thể nhận định của tôi sai lầm, vì con mắt của tôi quá trần tục, không có đầu óc mỹ thuật. Cái nhìn có thể sai lạc).

Tụi tôi không còn cái tuổi ngồi hằng giờ ở mấy quán cà phê thuở trước như: Lộng Ngọc, Hạ, Ngọc Lan, Diệp Hải Dung, Thạch Thảo, Star, Danube v.v…để say sưa nghe nhạc. Một thằng bạn dẫn tụi tôi đến một quán cà phê thật yên tĩnh để dễ dàng nói chuyện. Một thằng bạn khác hỏi tôi: “Cái gì ở Đà Nẵng đã gây cho mầy “ấn tượng” nhiều nhất, khi xa nhà?”. Tôi trả lời không chút đắng đo: “Xóm Chuối”. Chúng nó cười ồ lên tưởng rằng tôi nói đùa.

Ai sống ở Đà Nẵng cũng đều biết Xóm Chuối là nơi tập trung mấy cô gái làng chơi, nằm phía sau bệnh viện Toàn Khoa. Nhưng tôi cũng có một kỷ niệm sâu đậm ở đó. Tôi có một cô bồ học ở trường Bồ Đề, nhà ở trong con hẽm đường Trần Bình Trọng, con hẽm nầy ăn thông qua đường Trần Tế Xương (đường nầy có nhà in Trúc Mai). Thường thường thì cô bạn tôi theo đường Trần Tế Xương đi ra đường Yersin cho gần. Tụi tôi thường hẹn nhau ở góc Yersin (bên hông bệnh viện) và cũng gần đường vô Xóm Chuối. (Hẹn xa xa vì sợ gia đình cô ta biết) vì vậy gặp bao nhiêu chuyện phiền phức. Mấy người đàng hoàng đi ngang qua thấy tôi đứng chỗ đó thì nghĩ là tôi tìm gái làng chơi. Còn mấy cô gái làng chơi nghĩ rằng tôi đang đi tìm họ, cho nên họ chạy ra níu kéo tôi.

Một lần hẹn ở đó tôi tởn tới già và cũng nhớ suốt đời cái địa danh nầy. Khi cô bạn của tôi ra ngồi trên yên sau xe, tôi mới bắt đầu càm ràm. Tôi cho rằng cô ta chơi tôi, hạ nhục tôi. Chứ không biết cái chỗ “hang hùm” ở đó sao mà lại hẹn nhau chỗ ấy? Cô ta ngồi phía sau ôm bụng cười ngắc nga ngắc nghẻo, còn tôi thì tức lộn ruột. Sau nầy cô ta mới nói cho tôi biết là cô ta không biết nơi đó là ổ gái mãi dâm. Tội nghiệp cho cô bạn học trò ngây thơ của tôi.

Chúng tôi kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện trên đời. Phần đông các bạn trai thuộc thành phần lính tráng của Miền Nam, còn các bạn gái có chồng cũng đi lính. Nên đời sống các bạn sau nầy về kinh tế rất eo hẹp. Chúng tôi rơi vào thế hệ đứng giữa cuộc chiến khốc liệt nhất, cấp bậc không cao, phần đông bỏ thây tại chiến trường. Nếu còn sống sót cũng không đủ tiêu chuẩn đi qua Mỹ theo diện HO.

Vì vậy sau khi học tập trở về đều sống lây lất, làm những công việc nặng nhọc sống qua ngày. Nhìn anh em đó tuổi đời không nhiều nhưng tinh thần lẫn thể xác già cổi trước tuổi. Lâu ngày không gặp nhau, anh em nói mãi không hết chuyện. Khi tiệm cà phê báo cho biết đến giờ đóng cửa, chúng tôi mới chia tay ra về.

Những ngày còn lại, thỉnh thoảng tôi đến thăm một vài người bạn. Buổi chiều tôi rủ vài người về nhà uống rượu. Chỉ có những bữa rượu anh em mới thổ lộ hết tâm tình của mình. Có một điều lạ là trước đây tôi ít uống rượu, tửu lượng của tôi một chai bia hay một ly nhỏ rượu đủ làm cho tôi say.

Thế mà tôi không ngờ rằng về quê lần nầy tôi đã hạ mấy thằng bạn nát rượu. Đã làm cho nhiều người ngạc nhiên mà tôi cũng không ngờ rằng mình uống không thua gì chúng nó. Có lẽ vì vui quá, anh em lâu ngày không ngồi với nhau, về lại quê hương trong nhiều năm xa cách v.v…nhiều yếu tố làm cho tôi cảm thấy thoái mái. Vì vậy mà tôi uống được nhiều.

Cái nhìn của tôi về quê nhà có thể rất phiến diện và vội vàng. Có thể làm cho nhiều người không đồng ý. Nhưng tôi biết làm sao hơn khi mà một thực thể nó đã như vậy, tôi nói lên với tất cả tấm lòng dành cho quê hương mình. Có một điều mà cho đến bây giờ vẫn không nghĩ ra được là mọi người nhìn tôi với con mắt xa lạ, cách biệt trong lúc thâm tâm của tôi muốn hòa đồng, muốn thân thiện. Có một cái gì đó muốn đẩy tôi ra xa ngoài vòng tay của quê hương tôi.

Sau khi trở lại Mỹ, sau nhiều đêm suy nghĩ tôi mới tìm ra được một giải trình cho mình. Có lẽ phần đông mang một mặc cảm thua thiệt vì nghèo khó, nhìn mấy ông bà Việt kiều tiêu tiền hào phóng họ cảm thấy cách xa với họ. Cho nên họ nhìn những người trở về như một loại “cá mè một lứa”. Họ đâu biết rằng có người trước khi về họ đã dành dụm bao nhiêu năm, cũng cày sâu cuốc bẩm, cũng lao tâm lao lực mới có được tiền.

Vì biết bà con bên quê nhà làm ăn khó khăn nên họ phải “gánh” cho đỡ bớt gánh nặng khi phải tiếp họ. Những thành phần thuộc tư bản trong nước bây giờ, cách vung tiền của họ mới khiếp. Các “đại gia” nầy ra tay thì các “hảo hán” có máu mặt của Việt kiều đành phải lép vế.

Dù gì chăng nữa tôi vẫn thấy những ánh mắt nhìn tôi không còn thân thiện, coi tôi không phải là người dân đã sinh ra và lớn lên trên quê hương. Cái nhìn và cách đối đãi của họ với tôi như một người khách. Cách hành xử nầy làm cho tôi thấm đau như có ai đó nhổ toẹt vào mặt mình.

Chúng tôi không có tội gì hết, khi xa quê hương chúng tôi đau lắm vì nơi đây chôn nhau cắt rún, cha mẹ anh em đang hiện diện ở đây và rất nhiều, rất nhiều cái lý do khác không dễ gì dứt bỏ ra được. Thế nhưng trong hoàn cảnh bắt buộc phải rời xa đất nước.

Đó là điều đau lòng cho tất cả những người đang xa xứ. Trong những ngày trở về, tôi ít đi đâu vì tôi mang một mặc cảm xa lạ, nên suốt ngày quanh quẩn trong nhà. Để tìm lại những thân thiện, những tình cảm mà tôi tưởng chừng như bị đánh mất ngay cả những người ruột thịt với mình. Tôi không muốn làm một người khách lạ./



Phan Xuân Sinh

 BBT-GNST


Thành phố Đà Nẵng

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này