Du lịch

Du lịch (254)

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 14

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 14

*** Nam Mai ***

HUẾ -Thăm Bia Quốc Học - Đàn Nam Giao - Thăm Kinh Thành (Đại Nội): Thứ hai ngày 16 tháng 1 năm 2018

Rời Thánh Địa La Vang ở Quảng Trị vào chiều ngày Chủ Nhật khoảng 5:45 pm, Group 4 bắt đầu lên đường đến thành phố Huế - đến đây lúc 6:30 pm và check in vào Green Hotel Huế (tại số 2 đường Lê Lợi, phường Vĩnh Ninh, tp Huế) . Huế là thành phố trực thuộc tỉnh Thừa Thiên, là đô thị cấp quốc gia của Việt Nam và từng là kinh đô của Việt Nam dưới triều nhà Nguyễn (1802 - 1945). Thành phố tọa lạc hai bên bờ hạ lưu sông Hương, nằm về phía Bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 105 km, cách cửa biển Thuận An 14 km, cách sân bay Phú Bài 14 km và cách cảng nước sâu Chân Mây 50 km. (chú thích: Cảng nước sâu Chân Mây là chỗ mà hiện nay họ đã xây dựng để làm (Port) nơi cho các du thuyền Cruiseships như Royal Caribbean, Princess Cruise Lines .... ghé đổ du khách lên bờ vào thăm Việt Nam). Vào thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, vì vị trí của thành phố Huế nằm rất gần với khu vực giới tuyến giữa 2 miền Nam Bắc, nên Huế đã trở thành một vị trí rất dễ bị tấn công trong chiến tranh Việt Nam. Trong vụ tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, thành phố Huế và nhiều danh lam thắng cảnh của thành phố đã bị thiệt hại rất nặng nề, nhưng rất may là cũng còn có một số thắng cảnh và di tích lịch sử không bị thiệt hại trầm trọng đáng kể.

Huế có địa hình khá phức tạp, bao gồm cả núi rừng, đồng bằng, đầm phá và vùng ven biển. Trước đây, vùng đất miền Trung thuộc về Vương quốc cổ Champa với một nền văn hóa phát triển khá phồn thịnh. Nhưng đến đầu thế kỷ thứ 19 thì toàn bộ dải đất này thuộc về Đại Việt, trong đó có Huế. Đầu thế kỷ 19, nhà Nguyễn lên trị vì đất nước, đóng đô ở Huế, đã cho xây tại Huế một công trình vĩ đại đó là Kinh thành Huế. Có thể nói, văn hóa nghệ thuật nước ta phát triển khá rực rỡ dưới thời nhà Nguyễn. Hàng trăm công trình chùa chiền, lăng tẩm, đền miếu đã được xây dựng trên thành phố Huế, cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại và là một kho tàng văn hóa lịch sử rất có giá trị.

Với những công trình lịch sử và văn hóa như thế, nên thành phố Huế hiện nay là một điểm rất hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước muốn đến. Đến với Huế, người ta sẽ đắm chìm vào một khung cảnh vừa lãng mạn vừa cổ kính của những lăng tẩm, đền đài, sông núi ..... mang những nét nghệ thuật đặc sắc của một vùng miền văn hóa lâu đời. Trong cuộc sống hàng ngày, Huế có những nét đặc biệt từ lối sống cho đến các phong tục tập quán, đều là những điều rất thú vị nên đã thu hút rất nhiều du khách khi đến đây. Ngoài những di tích lịch sử có giá trị, Huế cũng được thiên nhiên ưu ái ban cho rất nhiều thắng cảnh xinh đẹp, từ núi rừng Bạch Mã đến biển Thuận An, Lăng Cô, hay con sông Hương mơ màng chảy bên núi Ngự Bình đã tạo thành những biểu tượng lâu đời và riêng biệt của đất Huế.

Đúng 8:15 am, Cậu Quang đến đón 4 bà của group 4. Theo chương trình, buổi sáng mọi người sẽ được đưa đi xem Bia Quốc Học, Đàn Nam Giao và Kinh Thành Huế. Sau buổi ăn trưa, sẽ viếng thăm Hiếu Lăng của Vua Minh Mạng.

Bia Quốc Học:

Công trình này nguyên bản là một kiến trúc tưởng niệm, có tên là Đài chiến sỹ trận vong, Bia được xây dựng và khánh thành từ năm 1920 dưới thời vua Khải Định để tưởng niệm những binh sỹ người Pháp và người Việt ở các tỉnh Trung Kỳ đã tham chiến và tử trận trong Thế chiến thứ nhất (1914-1918). Khi xưa, mặt trước thân bia có ghi khắc tên họ của 31 người Pháp và 78 người Việt, sau thời Pháp thuộc thì phần này đã bị đục xoá, nhưng kiến trúc bia thì vẫn được giử lại. Vì đây là một công trình kiến trúc với nét đẹp truyền thống phong cách Huế, nhìn rất hài hòa với cảnh quan của sông Hương và trường Quốc Học cho nên kiến trúc Bia vẫn được giử cho đến ngày nay. Do vị trí công trình Bia toạ lạc trước cổng trường Quốc học (phía bên kia đường Lê Lợi, sát bờ Nam sông Hương) nên người dân Huế lâu nay vẫn quen gọi là Bia Quốc Học, chứ thực ra công trình này không liên quan gì đến Trường Quốc Học.

Những ngày đầu năm 2017 (vào thời điểm group 4 có mặt tại đây), đã nghe có dư luận và báo chí trong nước xôn xao về công trình Bia Quốc Học đang được trùng tu, và sau gần 3 tháng trùng tu với tổng kinh phí gần 3 tỷ đồng, bia Quốc Học bỗng được phủ lên một màu sơn vàng chói lạ mắt, những hoa văn trang trí vốn được làm rất tinh tế trên bia trước kia nay đã bị cạo xóa, nhìn không còn thấy gì là nét cổ kính như trước nửa. Có rất nhiều ý kiến trái chiều về việc trùng

tu công trình này, tựu trung ở vấn đề là khi tu tạo lại công trình, họ không tôn trọng nguyên gốc di tích, nên đã tạo ra một màu sắc mới nhìn rất phản cảm làm mất hẳn đi vẻ cổ kính sẵn có, khiến công trình cổ mà lại trông như mới .....

Hình N chụp bia Quốc Học vào thời điểm công trình sắp được hoàn thành (chụp ngày 16/1/2017)

v

Hình Bia Quốc Học củ (hình Internet)

Image result for Hình Bia Quốc Học củ

Tin mới nhất hiện nay về Đài tưởng niệm Chiến sĩ trận vong (hay thường được gọi là Bia Quốc Học do nằm trước cổng trường Quốc Học Huế). Cho rằng trải qua 100 năm xây dựng, công trình đã bị xuống cấp hư hỏng nghiêm trọng, vì thế vào tháng 11/2016, UBND thành phố Huế quyết định trùng tu bia Quốc học và giao cho trung tâm Công viên cây xanh Huế làm chủ đầu tư với số tiền tu bổ là gần 3 tỷ đồng và sẽ hoàn thành trong vòng 3 tháng. Tiếc rằng, sau khi hoàn thành việc trùng tu chưa được một năm (bia làm xong tháng 2-2017), thì vào cuối tháng 12 năm 2017 người ta thấy công trình này đã bị xuất hiện nhiều vết nứt đủ kích cở xung quanh hệ thống tường và các bậc thang lên xuống rồi.

Liên quan đến vấn đề này, giới chức "có thẩm quyền" thừa nhận đúng là có việc xuất hiện các vết nứt tại công trình Bia Quốc Học. Theo ông giải thích, nguyên nhân xuất hiện các vết nứt có thể là do bia được xây dựng trên nền gạch cũ (!!!!). Ông cũng cho biết, đơn vị thi công đang kiểm tra để sửa chửa lại. (Lời bàn Mao Tôn Cương : Hy vọng là việc sửa chửa sẽ không làm tốn thêm nhiều vào công quỹ (tiền thuế) của dân nửa, cũng như là nếu có sửa chửa lại thì cũng nên làm việc cho đúng đắn, cho có lương tâm, đừng nên ăn uống nhiều quá để rồi lại phá hại thêm cho những di tích lịch sử văn hóa từ xưa còn sót lại. Mong lắm thay!!!!).

Hình chụp tại Trường Quốc Học Huế (trường nằm đối diện với Bia Quốc Học). Trường Quốc Học là một ngôi trường nổi tiếng ở cố đô Huế, thành lập vào ngày 23 tháng 10 năm 1896.

Hình Sông Hương được chụp khi đứng tại vị trí của Bia Quốc Học.

Mọi người chụp vài tấm hình kỷ niệm tại trường Quốc Học và Bia Quốc Học, sau đó thì đến thăm Đàn Nam Giao. Đàn Nam Giao triều Nguyễn được xây dựng vào năm 1803, đặt tại làng An Ninh dưới thời vua Gia Long. Năm 1806, đàn được dời về phía nam của kinh thành Huế, trên một quả đồi lớn thuộc làng Dương Xuân, nay thuộc phường Trường An, tp Huế. Đây là nơi các vua nhà Nguyễn tổ chức lễ tế trời đất vào mùa xuân hàng năm. Đây là đàn Nam Giao duy nhất còn hiện hữu ở Việt Nam (dù trong tình trạng không còn nguyên vẹn), và cũng là đàn tế duy nhất còn tồn tại trong số nhiều đàn tế cổ ở Huế.

Lễ tế Nam Giao là nghi lễ quan trọng bậc nhất dưới chế độ quân chủ vì chỉ nhà vua mới có quyền làm lễ tế Giao, tức là tế Trời Đất, nhằm khẳn định tính chính thống của triều đại, uy quyền của Hoàng đế tuân theo mệnh trời mà cai trị dân chúng. Do vậy, hầu như các triều đại nhà Nguyễn đã cho xây dựng và duy trì đàn Nam Giao và đều tổ chức lễ tế Giao. Đàn Nam Giao đã được khởi công xây dựng vào ngày 25 tháng 3 năm 1806. Sau khi hoàn thành, vua Gia Long lần đầu tiên tổ chức lễ tế Giao tại đây vào ngày 27 tháng 3 năm 1807. Trong suốt 79 năm độc lập của nhà Nguyễn (1807 - 1885), đàn Nam Giao luôn là nơi tổ chức nghi thức tế Giao đều đặn vào mùa xuân hàng năm. Nhưng từ năm 1886 đến năm 1890, triều đình Huế không có tổ chức lễ tế Giao. Bắt đầu lại từ năm 1891, cứ ba năm một lần, vua Nguyễn lại đến tế Trời Đất ở đàn tế. Lễ tế cuối cùng của triều Nguyễn tại đây là vào ngày 23 tháng 3 năm 1945. Tính ra, đã có 10 trong tổng số 13 vị vua nhà Nguyễn đích thân tế hoặc sai người tế thay với 98 buổi đại lễ được tổ chức ở đàn Nam Giao. Sau khi nhà Nguyễn chính thức cáo chung vào tháng 8 năm 1945, đàn Nam Giao không được sử dụng đúng mục đích, dần dần bị đổ nát, hoang phế xuyên suốt qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam ác liệt. Năm 1977, đàn Nam Giao nhà Nguyễn đã bị xâm hại một cách nghiêm trọng khi chính quyền tỉnh Bình - Trị - Thiên cho xây dựng một đài tưởng niệm liệt sĩ bằng gạch ốp đá rửa, cao chừng 10m, công trình này được xây ngay chính giữa nền Viên Đàn. Ngày 22 tháng 12 năm 1977, khối "tân cổ cưỡng duyên" này đã được khánh thành với sự hiện diện của Bí thư Tỉnh ủy Bùi San. Thời gian đó, thủ trưởng ngành Văn hóa tỉnh Bình Trị Thiên, người có trách nhiệm quản lý các di tích lịch sử - văn hóa trong tỉnh này, Ty trưởng Ty Văn hóa là Nhạc sĩ Trần Hoàn lại không hề có hành động nào ngăn chặn vụ việc phá đàn Nam Giao tai tiếng này. Không chỉ nền Viên Đàn mà khu vực Trai Cung cũng bị biến dạng khi trở thành nơi đặt máy xay xát của công ty Lương thực thành phố Huế, nền nhà Khoản Tiếp cũng bị biến ra thành trụ sở Ủy ban nhân dân xã Thủy Xuân. Trước những vụ việc này xảy ra, dư luận Huế bày tỏ bất bình bằng câu ca dao mà nhiều năm sau vẫn còn được truyền tụng: "Trần Hoàn cùng với Bùi San. Hai thằng hợp tác phá đàn Nam Giao". Tuy vậy phải đến 15 năm sau, nhận thấy việc tùy tiện cải biến công trình đàn Nam Giao là sai lầm trầm trọng nên đến ngày 15 tháng 9 năm 1992, UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế mới có quyết định di dời đài tưởng niệm liệt sĩ đến một địa điểm khác để khôi phục trở lại nguyên dạng cho đàn Nam Giao, đồng thời giao cho Trung tâm Bảo Tồn Di Tích Cố Đô Huế nhiệm vụ bảo vệ, lập hồ sơ, và làm công tác trùng tu. Song sau đó, việc trùng tu vẫn chưa được diễn ra, đàn Nam Giao có khi được dùng làm bãi tập lái ô tô, có lúc lại biến thành thao trường của quân đội Việt Nam.

Ngày 11 tháng 12 năm 1993, đàn Nam Giao được nằm trong danh sách 16 di tích có giá trị toàn cầu nổi bật thuộc quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Giá trị của đàn Nam Giao triều Nguyễn nay được cộng đồng quốc tế công nhận, điều này đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử tồn tại của đàn Nam Giao.

Hình chụp Đàn Nam Giao (ngày 16/1/2017)

Sau khi đi vòng vòng chung quanh xem và chụp hình tại Đàn Nam Giao xong, thì chúng tôi bắt đầu đến thăm Kinh Thành và Đại Nội Huế.

Kinh thành Huế được xây dựng dưới thời vua Gia Long, là vị vua khai quốc của triều đại nhà Nguyễn. Công cuộc khảo sát để xây dựng Kinh Thành Huế bắt đầu từ năm 1803, chính thức khởi công vào năm 1805, và hoàn chỉnh vào khoảng năm 1832 dưới thời vua Minh Mạng. Có thể nói, Kinh Thành Huế là một trong những thành tựu vĩ đại của vua Gia Long và triều Nguyễn. Kinh Thành Huế được xây dựng trên diện tích khoảng 520 ha, có chu vi 10km, cao 6,6m và dày 21m. Thành có kiến trúc hình ngôi sao tiêu biểu theo phong cách Vauban (Citadel of Life), xây khúc khuỷu với những pháo đài phòng thủ được xếp đặt gần như đều nhau trên mặt thành. Thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối thời vua Gia Long thành mới được cho ốp gạch như chúng ta thấy ngày hôm nay. Bên ngoài vòng thành có đào một hệ thống thành hào sâu để bảo vệ chạy dọc theo chân thành. Hệ thống hào sâu này có tác dụng như là chướng ngại vật, vừa có chức năng phòng thủ vừa có chức năng giao thông bằng đường thủy.

Kinh Thành Huế có tất cả 13 cửa ra vào kể cả đường bộ và đường thủy. Trên mặt thành ngày xưa có tới 24 pháo đài. Kinh thành liên lạc với bên ngoài qua 8 cửa trổ theo 8 hướng: Chính Ðông, Chính Tây, Chính Nam, Chính Bắc, Tây Bắc, Tây Nam, Ðông Bắc, Ðông Nam. Ở hai bên Kỳ Ðài còn có hai cửa Thể Nhơn và Quảng Ðức. Ngoài ra còn có hai cửa bằng đường thủy ở hai đầu sông Ngự Hà là Ðông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan. Phía Hoàng Thành ở góc đông bắc có một thành nhỏ, thời Gia Long gọi là Thái Bình, đến thời Minh Mạng đổi thành Trấn Bình Ðài có chu vi gần 1km, bên ngoài có hào rộng ăn thông với hào của Hoàng Thành.

Hình chụp 1 trong số 13 cổng vào của Kinh thành Huế ngày 16/1/2017 (một trong những cửa thành vẫn còn giữ nguyên được hình dáng và kiến trúc ban đầu).

Kinh Thành Huế, Hoàng Thành Huế và Tử Cấm Thành Huế: ba tòa Thành lồng vào nhau được xếp đặt cân đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hoành Thành và các Cung điện bên trong đều được xếp đặt trên một trục đối xứng gọi là trục Thần Đạo. Trong đó chính giữa trục Thần Đạo có các công trình chỉ được dành riêng cho Vua như cửa Ngọ Môn, cầu Trung Đạo, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, Cửa Hòa Bình. Hai bên trục Thần Đạo tính từ trong ra ngoài được xếp đặt tuân theo nguyên tắc: Tả Văn, Hữu Võ, Nam Tả, Nữ Hữu hay Tả Chiêu Hữu Mục (bên trái trước, bên phải sau, lần lượt theo thời gian..)

Hoàng Thành Huế là vòng thành thứ 2 bên trong Kinh Thành Huế, có chiều dài mỗi mặt thành khoảng 600m và gần như là vuông. Chiều cao khoảng 4m, và dày 1m được xây bằng gạch vồ. Hoàng Thành chính là trái tim, là trung tâm chính trị và là nơi quan trọng nhất của Kinh thành Huế, nơi đặt các cung điện, ngai vàng, miếu thờ ..... cũng là nơi ở và làm việc của Hoàng gia triều Nguyễn. Hoàng Thành và Tử Cấm Thành được gọi chung là Đại Nội. Hoàng Thành được xây dựng vào năm 1804 dưới thời vua Gia Long nhưng mãi đến năm 1833 mới hoàn chỉnh hệ thống cung điện với khoảng 147 công trình lớn nhỏ khác nhau. Hoàng Thành được trổ 4 cửa để ra vào gồm: Cửa Ngọ Môn nằm ở phía nam được xem là cửa chính của Hoàng Thành Huế, là cửa quan trọng nhất trong 4 cửa của Hoàng thành, cửa dành để cho vua đi trong các dịp lễ quan trọng và là nơi đặt lễ đài là lầu Ngũ Phụng được xem như là bộ mặt của Quốc gia, nơi diễn ra các buổi lễ quan trọng như lễ đón sứ thần của các nước, lễ xướng tên sỹ tử đỗ Tiến Sỹ trong cuộc thi Đình tại Kinh Thành, lễ Ban Sóc (lễ phát lịch hàng năm của nhà vua cho năm mới ) và lễ Duyệt Binh.... Cửa phía Bắc được đặt tên là cửa Hòa Bình, tả hữu hai bên là cửa Hiển Nhơn và cửa Chương Đức. Các cầu và hồ xung quanh hoàng thành đều có tên gọi là Kim Thủy. Cửa Ngọ Môn gồm có 2 phần chính là Đài Cổng và lầu Ngũ Phụng:

Ở phần Đài Cổng nhìn từ ngoài vào sẽ thấy có 3 cổng: Cổng chính giữa đặt tên là Ngọ Môn và được dành riêng cho Vua, hai cửa hai bên được đặt tên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn dành cho quan văn và quan vỏ theo nguyên tắc Tả Văn Hữu Vỏ. Đặc biệt hai bên cánh chữ U có 2 cửa vòng nhỏ chỉ thấy được từ phía trong nhìn ra ngoài đó là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn. Hai cửa vòng nhỏ này chỉ dành cho voi ngựa, quân lính và đoàn tùy tùng khi vua xuất hành qua cửa Ngọ Môn.

Phần lầu Ngũ Phụng là công trình kiến trúc đẹp nhất trong quần thể Hoàng Thành Huế được xây dựng trên nền đài của cửa Ngọ Môn.

Lầu Ngũ Phụng có mặt bằng hình chữ U dựa theo nền móng của cửa Ngọ Môn gồm 2 tầng lầu và 2 tầng mái. Lầu được dựng trên nền cao 1,14m xây dựng trên nền đài của cửa Ngọ Môn. Khung của lầu được dựng trên 100 cây cột gỗ Lim tượng trưng cho bách tính trăm họ trong thiên hạ, trong đó có 48 cây cột xuyên suốt hai tầng lầu. Hệ thống mái dưới chạy quanh lầu xuyên suốt để che nắng che mưa cho tất cả các phần lan can phía dưới. Hệ thống mái của tầng trên được chia làm 9 bộ mái, trong đó bộ mái ở chính giữa cao hơn 8 bộ mái của 2 bên, được dành riêng cho Vua ngự. Bộ mái giữa chỗ Vua ngự được lợp bằng ngói Hoàng Lưu Ly màu vàng tượng trưng cho nhà vua, 8 bộ mái còn lại chia đều cho hai bên được lợp mái Thanh Lưu Ly màu xanh ngọc được dành cho các quan ngồi.

Xin được nói thêm rằng có một sự kiện quan trọng cũng liên quan đến Cửa Ngọ Môn, đó là vào ngày 30/8/1945 - tại đây chính là nơi đã diễn ra lễ thoái vị của vua Bảo Ðại – vị vua cuối cùng của Việt Nam.

Hình dưới đây được lấy từ Internet để các bạn có thễ nhìn rỏ cả 3 cổng chính (cổng cho Vua & Quan đi) lẫn 2 cổng vòng chữ U (cho quân lính, voi, ngựa đi) và màu sắc của mái ngói Hoàng Lưu Ly và Thanh Lưu Ly trên lầu Ngũ Phụng Đài.

Hình chụp trước Cửa Ngọ Môn

Điện Thái Hoà là cung điện nằm trong khu vực Đại Nội của kinh thành Huế. Đó là một công trình kiến trúc quan trọng nhất trong quần thể Hoàng Thành Huế. Là nơi đặt ngai vàng của các vị vua nhà Nguyễn, là trung tâm chính trị của cả nước trong 143 năm thời gian nhà Nguyễn trị vì. Điện Thái hòa được đặt ở Trung Tâm khu vực Hoàng Thành, theo phong thủy là nơi trung tâm của vũ trụ. Điện quay mặt về hướng chánh nam được nối với cửa Ngọ Môn bằng một cây cầu đá bắt qua hồ Thái Dịch được gọi là cầu Trung Đạo, xưa kia cầu Trung Đạo chỉ dành riêng cho vua đi. Các quan văn vỏ phải đi hai lối hai bên tả hữu để vào sân chầu hay còn gọi là sân Đại Triều Nghi. Phía đầu và cuối cầu Trung Đạo được dựng hai chiếc cổng có hình lưỡng Long chầu Nhật. Phía trước điện Thái Hòa là sân Đại Triều Nghi, nơi thiết hành lễ Đại Triều vào các ngày mồng 1 và 15 hàng tháng, và cũng được dùng cho các buổi triều nghi quan trọng như lễ Đăng Quang, Sinh Nhật Vua, hay những buổi đón tiếp sứ thần chính thức. Điện được xây dựng vào năm 1805 thời vua Gia Long. Năm 1833 khi vua Minh Mạng quy hoạch lại hệ thống kiến trúc cung đình ở Đại Nội, trong đó có việc cho dời điện về mé nam và làm lại cho thêm đồ sộ và lộng lẫy hơn.

Phía sau Ngọ Môn là Điện Thái Hòa và khu vực bên trong Ngọ Môn

Điện Thái Hòa và sân Đại Triều Nghi

Điện Thái Hòa và Sân Đại Triều Nghi (Chỉ có các quan Tứ trụ và những hoàng thân quốc thích của nhà vua mới được phép vào điện diện kiến. Các quan khác có mặt đông đủ và đứng xếp hàng ở sân Đại triều theo cấp bậc và thứ hạng từ nhất phẩm đến cửu phẩm, quan văn đứng bên trái, quan vỏ đứng bên phải. Tất cả các vị trí đều được đánh dấu trên hai dãy đá đặt trước sân chầu).

Ở trước Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu (phía tây nam Hoàng hành Huế) là nơi có đặt chín cái đỉnh bằng đồng của nhà Nguyễn, những đỉnh này được gọi là Cửu Đỉnh. Tất cả đều được đúc ở Huế vào cuối năm 1835, hoàn thành vào đầu năm 1837. Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với mỗi vị hoàng đế của triều Nguyễn, chúng có trọng lượng khác nhau và hình chạm khắc bên ngoài đỉnh cũng khác nhau. Chín đỉnh đó là: Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh, Chương Đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị Đỉnh, Thuần Đỉnh, Tuyên Đỉnh, Dụ Đỉnh, và Huyền Đỉnh.

Chín đỉnh được sắp thành một hàng ngang dưới thềm Hiển Lâm Các, nằm theo thứ tự các án thờ trong Thế Miếu. Riêng Cao Ðỉnh của vua Gia Long thì đặc biệt được đặt nhích về phía trước 8 đỉnh kia một khoảng gần 3m, vì vua Minh Mạng cho rằng Gia Long là vị vua có công lớn nhất đối với triều đại.

 Hiển Lâm Các là một đài lưu niệm, nơi ghi công những vị khai quốc công thần đã sáng lập ra triều Nguyễn. Hiển Lâm Các được xây dựng từ năm 1821 – 1822 dưới thời vua Minh Mạng, tọa lạc phía tây nam của Hoàng Thành nằm phía trước của Thế Miếu

Hình chụp Thế Tổ Miếu

Thế Tổ Miếu thường gọi là Thế Miếu tọa lạc ở góc tây nam bên trong Hoàng thành Huế, là nơi thờ các vị vua triều Nguyễn. Đây là nơi triều đình đến cúng tế các vị vua quá cố, nữ giới trong triều (kể cả hoàng hậu) không được đến tham dự các cuộc lễ này. Bên trong miếu, ngoài án thờ vua Gia Long và 2 Hoàng hậu đặt ở gian giữa, các án thờ của các vị vua còn lại đều theo nguyên tắc "tả chiêu, hữu mục" để sắp đặt. Tuy nhiên, theo gia pháp của họ Nguyễn, các vị vua bị coi là "xuất đế" và "phế đế" đều không được thờ trong tòa miếu này, do đó trước năm 1958, bên trong Thế Tổ Miếu chỉ có 7 án thờ của các vị vua dưới đây: 1. Án thờ Thế Tổ Cao Hoàng Đế (vua Gia Long) và 2 Hoàng hậu Thừa Thiên, Thuận Thiên ở gian chính giữa. 2. Án thờ Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế (vua Minh Mạng) và Hoàng hậu Tá Thiên ở gian tả nhất (gian thứ nhất bên trái, tính từ gian giữa). 3. Án thờ Hiến Tổ Chương Hoàng Đế (vua Thiệu Trị) và Hoàng hậu Nghi Thiên ở gian hữu nhất (gian thứ nhất bên phải, tính từ gian giữa). 4. Án thờ Dực Tông Anh Hoàng Đế (vua Tự Đức) và Hoàng hậu Lệ Thiên ở gian tả nhị (gian thứ hai bên trái). 5. Án thờ Giản Tông Nghị Hoàng Đế (vua Kiến Phúc) ở gian hữu nhị (gian thứ hai bên phải). 6. Án thờ Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế (vua Đồng Khánh) và Hoàng hậu Phụ Thiên ở gian tả tam (gian thứ ba bên trái). 7. Án thờ Hoằng Tông Tuyên Hoàng Đế (vua Khải Định) và Đoan Huy Hoàng thái hậu ở gian hữu tam (gian thứ ba bên phải).

Đến tháng 10 năm 1958, án thờ 3 vị vua chống Pháp vốn bị liệt vào hàng xuất đế không được thờ trong Thế Tổ Miếu là các Vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân đã được hội đồng Nguyễn Phúc Tộc rước vào thờ ở Thế Tổ Miếu. Hiện nay án thờ vua Hàm Nghi được đặt ở gian tả tứ (gian thứ tư bên trái). Án thờ vua Thành Thái đặt ở gian tả ngũ (gian thứ năm bên trái), còn án thờ vua Duy Tân đặt ở gian hữu tứ (gian thứ tư bên phải). Còn các án thờ vua Dục Đức, Hiệp Hòa và Bảo Đại đến nay vẫn chưa có mặt trong Thế Tổ Miếu.

Thái Miếu hôm nay vào lúc group 4 đến đây đã đóng cửa không cho du khách vào thăm viếng, vì bên trong gia đình Hoàng Tộc đang cúng bái cho ngày Giỗ Kỵ của một nhà Vua (có nói tên mà N quên không ghi xuống note), cho nên mọi người chỉ được đứng bên ngoài nhìn vào và chụp hình thôi. (bình thường họ không có đem cờ lọng bàn ghế bày ra trước sân Thế Miếu như đã nhìn thấy trong hình đâu).

Tại cố đô Huế hiện còn lưu giữ và trưng bày 15 chiếc vạc đồng là những tác phẩm nghệ thuật thể hiện trình độ kỹ thuật đúc và mỹ thuật tuyệt vời, trong số đó, có 11 chiếc được đúc từ thời các chúa Nguyễn, còn 4 chiếc được đúc vào thời vua Minh Mạng

Cung Diên Thọ chính điện

Diên Thọ Cung là biệt điện của Hoàng Thái Hậu (Mẹ Vua) hoặc Thái Hoàng Thái Hậu (Bà Nội Vua) được xây dựng sớm nhất trong Đại Nội, từ năm 1804. Đây là cung điện quy mô nhất còn lại tại cố đô Huế. Cung Diên Thọ gồm hơn 10 tòa nhà được xây trong một khuôn tường thành hình chữ nhật rộng khoảng 100m, dài 150m, cao quá đầu người. Hiện nay, Cung Diên Thọ chỉ còn lại một số công trình như : Cung Diên Thọ, Điện Thọ Ninh, Tạ Trường Du, Am Phước Thọ và Lầu Tịnh Minh. Các công trình này được nối liền với nhau bằng hệ thống Trường Lang, nối tiếp với Trường Lang ở Tử Cấm Thành.

 Một phần nội thất trong Cung Diên Thọ

Tạ Trường Du (nằm trong cung Diên Thọ).

Đây là ngôi nhà thủy tạ nằm trên một hồ nước hình chữ nhật, dài 28m, rộng 20m, được xây dựng năm 1849. Tạ Trường Du nằm ở bờ Bắc của hồ, mặt quay về hướng Nam. Tòa nhà bằng nửa diện tích hồ. Nền lát gạch hoa, vách bằng gỗ, trổ nhiều của sổ. Nội thất chạm trổ tinh xảo. Trên bờ nóc chắp bầu rượu bằng pháp lam. Quanh tạ xây lan can, mặt trước có cầu nối với bờ Nam hồ. Hai bên hồ đắp hai hòn non bộ, trên có am nhỏ và cầu nối

Hình chụp nội thất trong cung của Hoàng Gia, phía cuối là 1 cái kiệu đang được trưng bày.

Trong Tử Cấm Thành có một hệ thống Trường lang dài hơn 900m đã tồn tại trên 200 năm, nhưng do các biến động của lịch sử và chiến tranh nên các hệ thống trường lang đã bị phá hủy một cách trầm trọng nay chỉ còn lại dấu tích nền móng. Trong những năm qua, Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã phục hồi, tu bổ hành lang, phục hồi các bức tranh treo tường tại các Trường lang để từng bước phục hồi diện mạo các công trình trong khu vực Đại Nội.

Hình chụp dưới đây là một vài Trường Lang trong Tử Cấm Thành dùng để nối liền các cung điện với nhau từ cung nọ sang cung kia (N có nhiều hình chụp hệ thống Trường Lang với những kiểu cách khác nhau rất đẹp, nhưng trong khuôn khổ bài này không thễ post lên hết được).

Chương Đức Môn là cửa thành phía Tây của Hoàng Thành Huế

Hình chụp tại Chương Đức Môn 

Bây giờ mình nói chuyện của 4 bà trong lúc đi thăm viếng Đại Nội nha. Hôm nay là một ngày nắng ráo, nóng cao độ mà trời lại đứng gió nên thời tiết vô cùng oi bức. Suốt mấy tiếng đồng hồ chạy tới chạy lui, chạy qua chạy lại từ cung nọ sang cung kia đến mướt cả mồ hôi. Xem một lúc thì .... "tẩu hỏa nhập ma", mệt quá sức nên chẳng nhớ là mình đã xem cái gì, quên sạch hết cả tên các cung điện vì thấy sao cung nào cũng giống cung nào, rồi đường đi thì quanh qua quanh lại .... đến một lúc thì ..... chẳng biết là mình đang ở đâu nửa. Hai chân đã mỏi nhừ mà người thì mệt lã vì nóng quá sức .... N yêu cầu cậu Quang cho ra về ăn trưa, sau đó được nghĩ ngơi lấy sức để mà còn đi ..... bêu nắng vào buổi chiều tại Hiếu Lăng. Nhưng khỗ nổi trong group có 1 một O là Mỹ Thiện, cô này cứ nhất định bắt cậu Quang phải dẫn cô đi tìm cho bằng được "cái vườn Ngự Uyển" của Hoàng gia, vì cô nói đã xem trên YouTube có video chiếu và chính tận mắt cô đã được xem cái vườn Ngự Uyển này trên YouTube rồi, cô đã xem video, thì hôm nay cô muốn được chính mắt nhìn thấy nó!Trời đất ơi, ba bà lếch thếch đi theo cô và cậu Tour Guide giửa trưa nắng chang chang muốn tắt thở luôn mà có tìm thấy cái vườn Ngự Uyển nào đâu, hỏi nhân viên làm việc trong các phòng tại Đại Nội thì người nói có vườn Ngự Uyển, người lại nói không ..... mỗi người chỉ 1 nẻo ..... cứ thế nghe theo lời họ chỉ để đi tìm, khỗ nổi trong Đại Nội từ chỗ nọ sang chỗ kia rất xa, đã chạy hết từ Nam lên Bắc rồi lại từ Đông sang Tây nhưng có tìm thấy vườn tược gì đâu ..... Cô này là giòng giỏi Hoàng Gia chính tông (Mẹ của cô là cháu nội của ngài Tuy Lý Vương -Tuy Lý Vương là con trai thứ 11 của vua Minh Mạng) nên khi vào Đại Nội cô đi xem xét rất kỷ lưởng, chỗ nào cũng coi, cũng đọc cẩn thận chứ không như N chỉ xem tổng quát và đại khái, sau đó còn lo mắt trước mắt sau tìm chỗ có cảnh đẹp để chụp ảnh thôi. Thấy cậu Quang không tìm ra vườn Ngự Uyển cho cô, cô vẫn nhất định phải đi tìm cho bằng được. Ôi giời, N oải quá bèn năn nỉ xin được ngồi lại để nghỉ mệt tại 1 băng ghế ở Trường Lang chứ không muốn đi nửa vì đã hết sức rồi, khi nào mọi người xem xong vườn Ngự Uyển thì đến chỗ hẹn gọi N vậy. Ôi, ngồi chờ mòn mỏi mà chẳng thấy ai trở lại ...... vì đã đở mệt nên N đi lần lần vào những dảy nhà hai bên để xem trong lúc chờ đợi cho đở sốt ruột. Theo như bản sơ đồ thì trước kia đây là vị trí của Điện Cần Chánh (nơi vua làm việc hàng ngày) – điện Cần Chánh là một công trình kiến trúc bằng gỗ có quy mô gần bằng điện Thái Hòa - nhưng cung điện này hiện nay đã hư hại hòan toàn. Tại đây bây giờ chỉ còn sót lại có hai trong số rất ít các công trình còn lại của Tử Cấm Thành, đó là hai tòa nhà Tả Vu và Hữu Vu. Đây là nơi để cho các quan chuẩn bị các nghi thức trước khi thiết triều: Tả Vu là toà nhà dành cho các quan văn, còn Hữu Vu là toà nhà dành cho các quan võ. Ngày nay Tả Vu được sử dụng làm nhà bảo tàng lưu giữ những bức hình của hoàng cung, những vật dụng của vua quan nhà Nguyễn, còn tại Hữu Vu thì họ cho mở ra một dịch vụ kinh doanh "hóa trang chụp hình" cho du khách. Trời đất, không hẹn mà lại gặp đúng vào chỗ mình muốn tìm, thế là N đi ngay vào tòa nhà Hữu Vu. Dịch vụ vắng tanh như chùa Bà Đanh, nên khi thấy có khách vào, mọi người bèn xông tới mời chào săn đón quý khách ưng chịu hóa trang làm ..... Hoàng Hậu để chụp hình các bác ạ. He he he ....dịp may hiếm có, đang mệt vì nóng nực ngoài kia thì vào chỗ mát mẻ này mình giả dạng làm .... Hoàng Hậu chơi vậy! Họ hỏi N "thế cô muốn có 2 thị nữ hay là 8 thị nữ hầu?" Thôi rườm rà làm chi, 2 thị nữ hầu là được rồi! Giả dạng Hoàng Hậu có 2 thị nữ hầu thì phải trả 650 ngàn VND (khoảng gần $30.00 đô) nhé các bác. Xong, họ dẫn vào phòng thay quần áo, và lần này N vẫn bị "offer" làm ..... Hoàng Thái Hậu! (không được làm Hoàng Hậu mặc áo vàng vì tướng mình coi bệ vệ quá, và lại hơi .... già, nên phải làm Hoàng Thái Hậu mặc áo đỏ). Đang thay quần áo chưa xong, quay qua quay lại thì đã thấy có 2 thị nữ áo quần chỉnh tề cầm quạt đứng sẳn sàng để .... hầu rồi. Post cái hình lên đây cho các bác xem ..... cười chơi cho thoải mái tinh thần chút nha.

Các bác thấy sao ???? Chưa làm Hoàng Thái Hậu Việt Nam bao giờ nên không biết trang phục chính xác của đời trước nó như thế nào ..... riêng N khi nhìn vào cái hình này thì ..... hm! thấy mình hơi bị giống Tàu như trong mấy cái phim bộ các bác ạ !!!! (thiệt mà! chỉ cần thay đổi kiểu tóc thôi thì mình sẽ nhìn ra y chang như cái bà Queen Mother mặt ác ác trong cung cấm Tàu ngày xưa ạ).

Khoảng 12:00 hơn thì mọi người trở lại tìm N để ra về. Rốt cuộc quý vị đó chạy đông, chạy tây bêu nắng cật lực giửa trưa nhưng cuối cùng có tìm ra được cái vườn Ngự Uyển nào đâu! Theo như N biết thì trong Hoàng Thành họ đâu đã phục hồi lại cái vườn Ngự Uyển mà mình hòng mong tìm được nó.

Đúng 12:35 trưa thì mọi người ra xe rời khỏi Đại Nội. Và lại thễ theo lời yêu cầu của 3 O Huế kia, N lại phải theo mọi người đi ăn .... Bún Bò Huế cho bữa trưa các bác ạ. Chơi trò "dân chủ" thì phải theo đúng luật, thiểu số phải phục tùng đa số, 3 O kia là "đa số" nên họ chọn chỗ nào thì "thiểu số" là N phải tuân theo, cấm cãi! Trong thời gian ở Huế, 3 O Huế kia muốn tìm lại "hương vị quê hương ngày xưa" nên ăn sáng, ăn trưa, ăn tối gì gì .... các bà đều muốn đi xơi các món Huế của ngày xưa, nhưng muốn ăn các món đích thực dân giả và ngon đúng cách như ngày xưa thì phải vào các quán nho nhỏ, lụp xụp, tồi tàn "như ngày xưa" thì mới tìm lại được đúng hương vị, còn nếu chọn các nhà hàng sạch sẽ sang trọng một chút thì chắc gì đã tìm lại được "hương vị của ngày xưa" phải không ạ. Cậu Quang TG là người Đà Nẳng nhưng ngỏ ngách nào của Huế, địa chỉ quán ăn dân dã nào tại Huế cậu đều thuộc nằm lòng. Vào đúng bữa, cậu chỉ cần hỏi "hôm nay các cô muốn ăn món gì?", thế là lúc thì Bún Bò Huế, lúc thì Cơm Hến, cơm Âm Phủ, lúc thì Bánh Bèo Chén + thêm Nem, Tré, lúc thì Bánh Xèo + thêm Nem lụi, lúc thì Bánh nọ, Bánh kia ..... và tùy theo những món của các bà chọn thì Cậu sẽ đưa đúng vào chỗ ..... có quán nổi tiếng tại địa phương về món đó ..... phải công tâm mà nói thì cũng có những quán ăn rất ngon, nhưng chỉ hiềm một nổi là nhiều quán có hơi bị lụp xụp, tồi tàn .... và có khi còn nhìn thấy cả dơ dơ nửa ..... Trưa nay thì 4 bà vào ăn Bún Bò Huế tại số 19 đường Lý Thường Kiệt, và N thì cũng lại không nhớ là nó có ngon hay không nửa, mà chỉ nhớ là giửa trưa nóng nắng chang chang, quán nho nhỏ hẹp hẹp lại không có quạt .... trời ..... ăn một tô BBH cay líu lưỡi xong thì mình đổ cả mồ hôi mẹ lẫn mồ hôi con!

Mọi người sau khi ăn trưa xong thì trở về khách sạn nghỉ ngơi, cậu Quang hẹn đúng 3:00 giờ chiều thì sẽ đến đón đi thăm Hiếu Lăng - Lăng Vua Minh Mạng.

 

Viết xong ngày August 15-2018

Bài kế tiếp: HUẾ - Thăm Hiếu Lăng (HTXV #14a)

 

Nam Mai  ***

 

Lăng Khải Định thuộc xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách Tp. Huế 10km. Lăng Khải Định có diện tích nhỏ hơn so với lăng của các vua tiền nhiệm nhưng công phu, lộng lẫy hơn; kết hợp tinh xảo hai nền kiến trúc, văn hoá Đông - Tây. Tổng thể của Lăng là một khối nổi hình chữ nhật vươn cao tới 127 bậc. Núi đồi, khe suối của một vùng rộng lớn quanh Lăng được dùng làm các yếu tố phong thủy: tiền án, hậu chẩm, tả thanh long, hữu bạch hổ, minh đường, thủy tụ, tạo cho lăng Khải Định một ngoại cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Giá trị nghệ thuật cao nhất của Lăng là phần trang trí nội thất cung Thiên Định. Ba gian giữa trong cung đều được trang trí phù điêu ghép bằng sành sứ và thủy tinh màu. Đặc biệt chiếc Bửu tán trên pho tượng đồng, nặng 1 tấn với những đường lượn mềm mại, thanh thoát khiến người xem có cảm giác làm bằng nhung lụa rất nhẹ nhàng. Bên dưới Bửu tán là pho tượng đồng Khải Định được đúc tại Pháp năm 1922 theo yêu cầu của nhà vua.

 

Xem thêm...

Mít non kho với cá chuồn – Món ngon xứ Quảng

Mít non kho với cá chuồn

 Món ngon xứ Quảng

Con sông Thu Bồn ngược xuôi từ Cửa Đợi lên đến Hòn Kẽm, chở theo lời nhắn nhủ của hai miền dành cho nhau. Trải qua bao đời, món quà đã kết hợp tạo nên một món ăn đậm đà, đặc trưng của người dân xứ Quảng, đó là mít non kho với cá chuồn. Món ăn dân dã này đã đi vào trong thơ ca Việt Nam rất bình dị:

Ai về nhắn với bạn nguồn,
Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên.

Từ xưa đến nay người dân xứ Quảng nói chung, bà con làng Bàn Lãnh, Gò Nổi – Điện Bàn nói riêng không lạ gì món ngon đặc sản này.

Trước hết nói về cây mít. Mít không chỉ có ở trên nguồn mà ngay ở làng Bàn Lãnh ít nhiều vườn nhà nào cũng có. Theo các cụ cao niên kể lại rằng, ngày xưa làng Bàn Lãnh vườn nhà nào cũng trồng mít, ít nhất cũng 5 – 7 cây, có vườn rộng thì trồng trên cả chục.

Mít không chỉ là cây để ăn quả chín mà mít còn là cây cứu đói của người dân nghèo trong làng. Bởi ngày xưa, tuy ruộng đất trong làng thì nhiều (286 mẫu), nhưng phần lớn đều trồng lúa gieo nên có năm được, có năm mất mùa. Năm được mùa cũng không đáng là bao, nhưng mất mùa thì lại thường xảy ra khi thời tiết nắng hạn kéo dài, chính vì vậy mà cây mít được mệnh danh là cây chống đói. Những gia đình nghèo, thiếu ăn thường dùng mít để qua bữa.

Các cụ còn cho biết thêm: Có nhiều cách chế biến từ mít để ăn trừ bữa như: mít vừa chín tới, bóc múi ra, lấy hột mít luộc chín, giã mịn rồi cho gia vị vào, sau đó độn vào trong múi mít, bắc nồi lên hấp, thế là có một món mít hấp thơm ngon, mà ông bà ta thường nói là “ngon hết chỗ chê”. Món thứ hai là mít trộn. Món ăn không cầu kỳ, đơn giản với mít non, tôm thịt nhưng lại đem đến một hương vị đậm đà của một vùng quê. Mới nhắc lại thôi đã thấy… thèm. Bởi đây là món khoái khẩu không chỉ của những bác nông dân biết uống rượu (nhậu), mà ngay cả giới trẻ kể cả thời xưa và nay đều háo hức khi rủ đi thưởng thức món ăn này.

Mít trộn đơn giản thôi, bởi nó rất dễ làm và không mất nhiều thời gian. Chọn những trái mít gai mịn đều, da nhẵn, bổ trái mít ra thành nhiều phần nhỏ, gọt vỏ, bỏ cùi, ngâm vào nước lạnh để mít ra bớt mủ và không bị thâm vì gió. Sau khi ngâm, mít được rửa sạch, đem luộc cho vừa chín tới, vớt ra để ráo và thái thành từng sợi nhỏ vừa ăn theo thớ mít, chỉ cần một ít dầu phụng khử lên xào với ít gia vị là được. Nhà nào khá giả thì trộn mít với tôm, thịt. Tôm rửa sạch, bỏ vỏ, ướp với một ít gia vị sau đó xào nhanh cho tôm chín. Thịt ba chỉ rửa sạch, luộc chín và thái sợi vừa ăn. Cho mít non, tôm, thịt vào thố trộn chung với rau răm, húng quế, húng lủi, lạc giã dập, nêm gia vị vừa ăn.

Khi ăn mít non trộn thì không thể thiếu bánh tráng.

Ăn mít trộn không thể thiếu bánh tráng nướng cùng chén nước mắm chanh tỏi ớt. Bẻ miếng bánh tráng, xúc một ít mít trộn, nêm với ít nước mắm và thưởng thức, món ăn thơm ngon, bánh tráng giòn rụm, mít non ngọt, bùi như thịt gà, các vị cay, mặn, ngọt hòa lẫn vào nhau làm cho món ăn thêm phần đậm đà và thi vị. Vị chát chát của mít non, vị bùi béo của đậu phụng và vị ngọt của tôm khô quyện vào nhau hòa với tiếng bánh tráng giòn rôm rốp ăn mãi đến quên thôi! Ngoài ra, còn có các món mít luộc chấm mắm, hoặc nấu canh mít cho vào ít lá é cũng là món ăn mà ngày xưa bà con làng ta coi đây là món ngon ra phết.

Trở lại với câu ca ngày xưa nói về “Mít non gửi xuống, cá chuồn gửi lên”. Cá chuồn và mít non không mầu mè sang trọng, mà mộc mạc dân dã như tâm hồn người dân xứ Quảng. Cá chuồn có nhiều ở biển miền Trung. Thông thường cá được kho, chiên hoặc nấu canh. Thịt cá thơm, chắc, ngọt đậm đà. Khi nhìn vào mâm cơm xuất hiện đĩa cá chuồn là biết mùa hè đang tới. Vào mùa này, các chợ xứ Quảng tràn ngập cá chuồn.

Cá chuồn có thể ăn tươi hay phơi khô, vừa ngon, vừa rẻ. Hình dáng cá thuôn dài, lưng xanh, bụng trắng và dễ nhận nhất là nó có cặp cánh dài tới đuôi. Cá chuồn xanh tơi trên lưng có sọc vàng nhỏ xòe cánh, trong có những hình rẻ quạt vàng rực, loại này nhỏ nhưng thơm và béo hơn cá chuồn cổ.

Theo các bà, các mẹ nội trợ xưa kể lại: Cá chuồn tanh tanh kèm với vị chát chát của mủ mít tự nhiên thấy hài hòa. Thế nhưng, đâu phải ai cũng có được cái cơ may gặp cả mít non và cá chuồn tươi. Dân miền núi ngày trước thì sẵn mít đấy, nhưng muốn có cá chuồn thì cũng ba bốn ngày đường, giao thông cách trở mà. Và ngược lại, dân miền biển muốn có mít non, cũng lâu không kém. Vậy là, hai bên phải đợi nhau, phải trông chờ vào “ai về” nên cá thì ươn, mít thì héo. Tiếc nuối cái công vận chuyển mít xuống – cá lên, tiếc nuối cái nồi canh mơ ước không thành, người dân xứ Quảng đã sáng tạo ra một món ăn là mít non kho cá chuồn.

Để có cá chuồn kho với mít non, trước hết làm cá thật sạch, xắt khúc ướp gia vị gồm nén, nghệ tươi, hành tím, ớt trái, ít muối và vị tinh… Khử dầu với hành củ đập giập, cho cá vào lấy mùi và thêm nước liền sau đó. Kho đi một lượt, cho mít non héo xắt hình tam giác nhỏ bằng hai ngón tay, thêm ít nước và đun sôi đi, sôi lại. Khi mít nhừ, nước cạn, cho chút mỡ vào đun sôi lại ta có được nồi cá chuồn kho mít ngon tuyệt vời.

Ngoài món cá chuồn kho với mít non, còn có món cá chuồn chiên cũng ngon không kém. Cá chuồn sau khi làm sạch, xẻ dài cá theo sống lưng, dần xương sống cho mềm; giã củ nén, hành, tỏi, ớt, nghệ tươi, muối bột, gia vị… trộn chung với nước mắm ngon quết đều vào bụng cá, gấp đôi cá thành hình ếch ngồi, lấy lá chuối tươi tước sợi buộc cá lại rồi cho vào chảo chiên vàng, mùi thơm của nó lan tỏa khắp nơi.

Cá chuồn kho với mít non, tuy là một món ăn đơn giản nhưng ẩn chứa trong đó là nghĩa tình giữa miền xuôi và miền ngược. Thông điệp “gởi xuống – gởi lên” là cách để giao hảo với nhau, để lưu luyến một cái tình thể hiện qua một món ăn.

 

Phạm Trường Chiến

Thành phố Đà Nẵng

Hồng Anh sưu tầm

 

Xem thêm...

Khám phá những danh lam thắng cảnh Vườn Quốc gia Banff, AB Canada

Khám phá những danh lam thắng cảnh

Vườn Quốc gia Banff, AB Canada.

Công viên quốc gia Banff là một báu vật quốc gia lớn của Canada, thu hút hàng triệu du khách mỗi năm. Bao gồm một phần của dãy núi Rocky, công viên là nhà hồ ngọc đẹp phản ánh những đỉnh núi tuyết phủ, cùng với các sông băng và rừng. Kể từ năm 1985, nó đã được đưa vào danh sách các di tích tự nhiên và văn hóa bảo vệ của UNESCO.

Các thị trấn nhỏ đẹp như tranh vẽ của Banff là thị trấn duy nhất trong công viên và là trung tâm chính của hoạt động. Các Icefields Parkway, chảy quanh co cho 230 km qua 3.000 mét núi cao, kết nối Banff và Vườn Quốc gia Jasper về phía bắc. Các điểm nổi bật chính của hành trình ấn tượng này cùng các Parkway là nổi tiếng thế giới Lake Louise, các quý tộc, tìm kiếm khách sạn Canadian Pacific Château Lake Louise, và rất lớn Columbia vùng băng đá. Du khách cũng có cơ hội nhìn thấy một số động vật hoang dã của Canada. Công viên là nơi có một số lượng lớn các loài gấu đen, nai sừng tấm, tuần lộc, chó sói, hải ly, và gấu xám Bắc Mỹ


The Town của Banff

Nằm ở cuối phía nam của công viên quốc gia Banff, thị trấn bé nhỏ này, được bao quanh bởi các dãy núi, là một điểm đến du lịch chính ở Alberta. Nó được dành cho ngành công nghiệp du lịch với tất cả các loại cho bạn lựa chọn, cửa hàng thú vị, và nhà hàng nằm trong khoảng từ bình thường đến cao cấp. Vào mùa hè, các đường phố được đóng gói với khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới những người đến để xem các Rockies Canada, và vào mùa đông, thị trấn duy trì bầu không khí sống động của nó như trượt tuyết đổ về Banff để tận hưởng những sườn núi gần đó


 Banff Springs Hotel

Một trong những điểm nổi bật chính ở Banff là Banff Springs Hotel. Khách sạn lịch sử này được xây dựng vào năm 1888 và ngày nay là biểu tượng của Banff. Sau khi kế hoạch là khu phức hợp khách sạn lớn nhất thế giới, truyền thống này được thiết kế, lâu đài giống như Grand Hotel vẫn còn lưu giữ nhiều sự quyến rũ của những ngày đầu của du lịch đường sắt. Trong những ngày đó chỉ rất tốt công việc phải làm du khách có thể đủ khả năng để làm cho cuộc hành trình vào khu vực sau đó vẫn còn xa xôi của dãy núi Rocky Mountains Canada.

Khách sạn được đặt ra trên riêng của mình trong một khu rừng với tầm nhìn đẹp ra môi trường xung quanh. Dưới Banff Springs Hotel, dễ dàng đi bộ từ trung tâm thành phố Banff, các sông Bow nhào lộn trên một vách đá như gia tăng.

Sulphur Mountain
 
Đối với quan điểm tuyệt vời của thị trấn Banff và toàn bộ thung lũng, du khách có thể đi Sulphur Mountain Gondola lên Sulphur Mountain. Khu vực đỗ xe chỉ là bốn cây số bên ngoài Banff. Vào một ngày đẹp trời, có một cái nhìn tuyệt vời từ ba sàn sân thượng và nhà hàng trên đỉnh núi. Có những lựa chọn cũng đi bộ ở phía trên, bao gồm cả các Banff SummitWalk, một đường mòn một km dễ dàng dẫn đến các di tích lịch sử Trạm Vũ trụ Quốc gia Ray của Canada và trạm khí tượng cao điểm của Sanson
 
 Lake Louise
 

Những viên ngọc quý của Vườn Quốc gia Banff là Hồ Louise với lung linh của nó nước màu ngọc lam xanh và xung quanh ngọn núi tuyết phủ tăng lên đến độ cao 3.000 mét. Mặc dù nước là quá lạnh để tắm, nó là lý tưởng cho chèo thuyền. Ở cuối phía tây của hồ Louise, núi Victoria (3.469 mét), mọc ở uy nghi tráng lệ. Một quan điểm ngoạn mục có thể có từ các Fairmont Château Lake Louise nổi tiếng hay các bờ biển ở phía trước của khách sạn. Một đường mòn trải nhựa chạy dọc theo mép nước với khung cảnh đẹp của hồ, núi, sông băng, và Château.

 Château Lake Louise


Năm 1890, tuyến đường sắt Thái Bình Dương Canada được xây dựng đầu tiên Château Lake Louise trên băng tích ở cuối hồ. Dễ dàng truy cập bằng đường sắt, Lake Louise và các vùng nông thôn xung quanh nhanh chóng phát triển thành một trung tâm du lịch. Từ đây, cuộc thám hiểm bắt đầu ra để khám phá các khu vực đá trên lưng ngựa. Leo núi từ Anh và Mỹ đã leo lên trên đỉnh núi chưa được biết đến. Các khách sạn lớn hiện nay được xây dựng vào năm 1924 sau khi một đám cháy phá hủy tiền thân gỗ nhỏ hơn của nó. Trong những ngày đầu, con ngựa hướng huấn luyện viên - sau này được thay thế bằng xe điện - vận chuyển khách từ nhà ga xe lửa ở dưới thung lũng khách sạn sáu cây số.

Trong những năm 1920, một con đường được xây dựng từ Banff Lake Louise. Trong Bow River Valley, ngôi làng kỳ nghỉ của Lake Louise phát triển với gần 400 cư dân thường trú

Tăng xung quanh Hồ Louise

 

Nổi tiếng từ rất nhiều hình ảnh và bưu thiếp, Lake Louise là một điểm khởi đầu cho một số phần thưởng đi, là tốt nhất trong số đó là có lẽ đến Plain of Six sông băng. Một đi bộ rất phổ biến dẫn đếnhồ Agnes (sự khác biệt ở độ cao 365 mét), nằm ​​ở một vị trí đẹp như tranh vẽ giữa hai ngọn đồi tròn được gọi là ong. Leo vất vả tới đỉnh của một trong những ong được thưởng bằng một cái nhìn tuyệt vời trên toàn bộ khu vực. Vào mùa hè, hồ Agnes Teahouse cung cấp thực phẩm và đồ uống cho người đi bộ


2.Lake Louise Ski Resort

 
Lake Louise Ski Resort là khu nghỉ mát trượt tuyết nổi tiếng nhất ở Alberta, phục vụ cho trượt tuyết từ khắp nơi trên thế giới. Nó có trượt tuyết cho tất cả các cấp khả năng với địa hình bao gồm bát mở, chạy chuẩn bị chu đáo, và trượt tuyết cây. Máy chạy trên sườn núi có thể nhìn thấy từ các hồ và Chateau Lake Louise

3.Moraine Lake

 Hình ở mặt sau của hóa đơn cũ Canada hai mươi đô la, Moraine Lake trong Thung lũng các Peaks Mười được cho là ấn tượng như Hồ Louise, nhưng thu hút ít khách. Có một cái nhìn tuyệt vời sau một dọc theo con đường dài 13 km dẫn từ Lake Louise lên đến Moraine Lake. Các nước màu ngọc lam-màu đẹp như tranh vẽ được bao quanh bởi mười đỉnh núi, cao từng hơn 3.000 mét, tạo thành Wenkchemna Glacier. Nhà trọ và xuồng cho thuê có sẵn tại mộc mạc Moraine Lake Lodge.


Một đường mòn 1,5-km-dài chạy dọc theo bờ biển phía tây bắc. Leo ngắn lên Rockpile Trail là rất có giá trị và cung cấp tầm nhìn tốt nhất của hồ. Một phổ biến, mặc dù tăng căng thẳng dẫn từ hồ để Sentinel Pass, một trong những đèo núi cao nhất trong Công viên quốc gia Banff


Sunshine Village Ski Resort

 Sunshine Village nằm chỉ là một đoạn ngắn lái xe bên ngoài thị trấn Banff và là một trong hai khu nghỉ mát trượt tuyết hàng đầu tại Alberta, cùng với Hồ Louise. Khu nghỉ mát này cung cấp một loạt các địa hình và chạy cho người mới bắt đầu để trượt tuyết cao cấp. Vào mùa hè, khu vực này là mở cửa cho người đi bộ đường dài có thể đi xe buýt đến các khu vực trên. Phong cảnh ở đây quanh năm lộng lẫy
 
Icefields Parkway

Các Icefields Parkway (Quốc lộ 93) là một trong những xa lộ phong cảnh đẹp nhất ở Canada. Nó đi qua phía bắc của công viên quốc gia Banff và một phần phía nam của công viên quốc gia Jasper, và tạo thành một liên kết giữa Trans-Canada Highway 1 và Yellowhead lộ 16. Không giống như các Trans-Canada Highway bận rộn, các Icefields Parkway là hoàn toàn và chỉ đơn giản là một chuyến đi ngắm cảnh qua phong cảnh núi cao tráng lệ.


Giữa Lake Louise và Jasper, đường sau một thung lũng hẹp chạy hướng bắc-nam cho 230 km giữa những đỉnh núi phủ băng của dãy chính của dãy núi Rocky. Nhìn ra thường xuyên với những nơi đậu xe cung cấp cơ hội để thưởng thức các quan điểm ngoạn mục, và mảng giải điền vào các nền tảng về phong cảnh và lịch sử địa phương. Bighorn cừu và dê núi - xuống ở bên đường hoặc trên các đỉnh núi - thác nước lãng mạn, các vùng nước màu ngọc lam lung linh của hồ núi, icefields lờ mờ, và đỉnh núi phủ tuyết trắng làm cho tất cả cho một cuộc hành trình của nhiều vô hạn.

 Bow Lake

Bow Lake, 34 km về phía bắc của hồ Louise, nằm ​​dưới Crowfoot Glacier (hình như chân của một con quạ và nhìn thấy rõ ràng từ đường) và Bow Glacier. Các hồ vẫn còn và nước sạch trong gương cao chót vót, đỉnh núi phủ đầy tuyết của sự chia lục địa. Những núi băng này là một phần của đạiWaputik vùng băng đá. Có dạo đáng yêu cùng hồ đến một thác nước ở chân của Bow Glacier (nửa ngày) hoặc hồ Helen và Catherine Hồ tại Dolomite đèo về phía đông (cả ngày).

Hồ Peyto

Tại 2.068 mét, Bow đèo là đèo cao nhất trong Công viên quốc gia Banff và rừng đầu nguồn giữa các hệ thống sông của miền Bắc và Nam sông Saskatchewan. Một con đường nhánh ngắn dẫn đến quan điểm Hồ Peyto tuyệt vời, và còn có một điểm Lookout tuyệt vời mà có thể đạt được trên bàn chân khoảng một cây số từ khu vực đậu xe. Hồ Peyto là màu xanh ngọc độc đáo của nhiều trong số các hồ sông băng ăn trong khu vực này. Đó là đặc biệt đáng yêu vào giữa đến cuối mùa hè, khi đồng cỏ núi Bow của Summit đều được trải thảm hoa dại.

Một con đường dài, dốc từ đèo Bow dẫn xuống 2,5 km Hồ Peyto, được đặt tên theo các hướng núi Bill Peyto, người đã bắt đầu khám phá khu vực này vào năm 1894 và mất ngựa gói vật tư phía bắc qua Bow Summit

 Bow Valley Parkway
 
48-km-dài Bow Valley Parkway, chạy giữa Banff và Lake Louise, cung cấp một lối đi khác tới Trans-Canada Highway bận rộn. Tuyến đường này có rất nhiều quan điểm cũng như cắm trại dã ngoại và các trang web. Cao chót vót ở trên tất cả là Castle núi, mà đỉnh Eisenhower là cao 2,728 mét. The Bow Valley Parkway cũng cung cấp một cơ hội tuyệt vời để xem một số động vật hoang dã của công viên. Một trong những điểm dừng phổ biến nhất dọc theo đại lộ là Johnston Canyon

Johnston Canyon
Khoảng 26 km dọc theo Bow Valley Parkway là lối vào Johnston Canyon với hai thác nước của nó. Một đường mòn dẫn qua hẻm núi, với cây cầu dọc theo vách đá dốc cho phép người xem cảm nhận được là trong một trong những hẻm núi độc đáo. Những con đường vẫn tiếp tục trên một số sáu cây số về phía xa của hẻm núi, dẫn đến Pots Ink, một nhóm các lò xo. Hai trong số này được đặc biệt nổi bật bởi màu xanh-màu xanh lá cây của các nước. Hầu hết du khách chỉ cần dính vào mức độ thấp hơn, trong khi những người có nhiều thời gian và năng lượng mất trên đi bộ vất vả hơn để các Pots Ink. Johnston Canyon là một trang web ấn tượng trong cả mùa hè và mùa đông, mặc dù nó thấy rất ít du khách ngoài mùa hè

Hồ Minnewanka

Hồ Minnewanka, 11 km về phía đông bắc của Banff, là hồ lớn nhất trong các công viên quốc gia và một thắng cảnh thường lui tới của cừu Bighorn. Một đường mòn đi bộ nổi tiếng dẫn dọc theo bờ biển và lên sườn núi xung quanh. Hồ Minnewanka là hồ duy nhất trong công viên mà thuyền máy được phép. Nó cũng là đáng giá đi vào Hai Jack Hồ - nơi ca nô có thể được thuê - và Johnson Hồ

Kim Phượng st

 

 

Xem thêm...

Hình ảnh Hà Nội xưa (1884-1885) những năm đầu thế kỷ 20

Hình ảnh Hà Nội xưa (1884-1885)

qua ống kính bác sĩ HOCQUARD

 

Những tấm hình quý giá về Hà Nội xưa giai đoạn 1884 đến 1885 qua ống kính của ông bác sĩ Hocquard được trung tâm tồn trữ dữ liệu thuộc địa ở Aix en Provence xuất bản.

 

Vào năm 1884 bác sĩ Hocquard đặt chân đến giải đất hình chữ S, ông đi theo đoàn lính viễn chinh của Pháp đến để xâm chiếm Việt Nam. Ngoài công việc chính là một bác sĩ quân y thì ông Hocquard cũng là một nhiếp ảnh gia, giai đoạn này những tấm hình về thành Hà Nội được ông ghi lại thì Pháp xắp chiếm được hết Việt Nam khi triều đình nhà Nguyễn đã không còn sức chống đỡ, nên nó mang một ý nghĩa rất lớn vì nó là những tấm ảnh duy nhất còn ghi lại được hình ảnh về Thành Hà Nội xưa.

Một đồn lính của quân viễn chinh Pháp tại phía bắc thành Hà Nội

Điện Kính Thiên nhìn từ xa

Điện Kính Thiên trong thành Hà Nội lúc này cũng bị quân Pháp biến thành đồn trấn thủ

Phía ngoài cửa bắc thành Hà Nội vào năm 1884

Phía trong cửa Bắc thành Hà Nội

Toàn cảnh 1 đồn nhỏ trong thành Hà Nội

Hà Nội xưa nhìn từ hồ Gươm

Đền Ngọc Sơn và cầu Thê Húc

Cầu Thê Húc xưa

Đường vào đền Ngọc Sơn bên bờ hồ Gươm

Văn Miếu Quốc Tử Giám năm 1884

Đường phố Hà Nội năm 1884

Phố Hàng Đồng xưa

Phố hàng sắt khi xưa

khu phố bán kim chỉ

Phố hàng mây ngày nay là phố Mã Mây

Phố Hàng Gai

Phố cổ Hàng Chĩnh nơi bán gốm sứ

Chợ bán thuốc nam ngày nay là phố thuốc bắc nằm trong khu phố cổ Hà Nội 

Một nhà dòng thiên chúa giáo

Xóm nhỏ làm giấy gần Hà Nội

 

Hình ảnh Hà Nội giản dị

những năm đầu thế kỷ 20

 

Những bức ảnh dưới đây ghi lại cảnh và người Hà Nội những năm đầu thế kỷ 20, một Hà Nội với vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc rất khác lạ…

Một Hà Nội 36 phố phường ở đầu thế kỷ 20 hiện lên với vẻ đẹp đơn sơ, giản dị; những người phụ nữ khi đó vẫn còn mặc áo tứ thân, đội nón quai thao ra đường... Đó là một Hà Nội của nhịp sống chậm rãi, đây đó vẫn còn hiện hữu nét thôn quê, dân dã với những vẻ đẹp xưa cũ chứa đựng biết bao hoài niệm:

Phố Hàng Bông, Hà Nội, năm 1903.

Phố Hàng Đào.   

     Xe điện chạy trên phố Hàng Đào.

    Phố Hàng Bè.   

Chợ hoa Hàng Lược.

Những món đồ chơi bày bán dịp Tết Trung thu trên phố Hàng Mã.  

Cửa hàng bán đồ vàng mã trên phố Hàng Mã.

Phố Hàng Chén.

  Phố Hàng Bạc                        

 

Ảnh chụp phụ nữ Hà Nội khoảng năm 1919-1926. 

Người kéo xe tay.

Một gia đình đang ngồi đan rổ.

Cô gái ngồi ăn trầu.

Những cậu bé chơi đùa bên chiếc xe gỗ tự chế.

 

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

 

 

    

 

 

 

 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này