Du lịch

Du lịch (280)

Bún Bò Huế- Bún Bò Bà Đào Đà Nẵng

Bún Bò Huế

Bún Bò Bà Đào Đà Nẵng

****

Bún Bò Huế

Bún không phải chỉ đơn thuần là một món ăn truyền thống của Huế, nhưng đối với người Huế, bún còn là một phần lối sống “Kiểu Huế”. Kiểu Huế là nghèo mà vẫn sang, vui rộn rã mà vẫn man mác buồn, ngoài mặt phẳng lặng mà trong lòng dậy sóng, không soi bóng mình trong gương mà soi bóng mình trong đôi mắt của người thương, bè bạn, xóm giềng.. Người ngọai quốc như ông Foulon cũng nhận xét về sự mâu thuẫn của Huế: “Tóc tang cười nụ, vui mừng thở than!”(Lê Văn Lân dịch).

Huế mâu thuẫn từ buổi mới vào đời, đài các từ ngày mới có tên. Tên đất thì nhỏ như nốt ruồi son: Ô, Rí, Huế… mà tên người lại dài lướt thướt như mái tóc mây dài chấm gót: Công Tằng Tôn Nữ Thị Sông Hương, Nguyễn Khoa Hoàng Thành, Tôn Thất Quỳnh Phương…

Huế quá trầm lặng và chật như cái bể cạn mà phải chứa những tâm hồn bão nổi sông hồ, nên dân Huế ngoài mặt hiền khô mà trong lòng cưu mang những bến bờ viễn xứ, sẵn sàng phản kháng và rực lửa đấu tranh “dấy loạn” như Lục Vân Tiên ra đường thấy việc bất bằng chẳng tha.

Cái dấy loạn bão liệt nhưng nên thơ và lý tưởng quá đà của những tâm hồn lãng mạn kiểu Huế chỉ làm cho Huế thành đất dấy nghĩa nhưng không thể nuôi lớn Huế thành căn cứ địa, chiến khu như Tân Sở, Ba Lòng. Xưa vua Hàm Nghi và vua Duy Tân chỉ có những phút huy hoàng và chợt tắt ở Huế, để rồi suốt canh thâu le lói ở phương nào. 

Tô bún bò Huế cũng là một biểu hiện của văn hóa Huế vì đây cũng là một sự “dấy nghĩa” trong truyền thống nấu ăn khi cho bò nổi heo chìm trong cùng một nồi, trộn lẫn hai tính chất mâu thuẩn “bò nấu thì teo, heo nấu thì nở” thành một thể hài hòa. Huế đã dùng sả để “chuyên trị” thịt bò chứ không dùng ngủ vị hương để chuyên trị như truyền thống lâu đời ở Trung Hoa và miền Bắc.

Tô bún Huế mang hưong vị “rất Huế” để mà cảm nhận và thưởng thức như cảm nhận và thưởng thức mùi khói sóng buổi chiều trên sông Hương. Tự nhiên như: “Nó ngon thì tại nó ngon. Có chồng thì phải nuôi con, thờ chồng”.

Cái dễ giận nhất của người Huế là “mình cảm thấy…” mà không cần lý luận. Bởi vậy, hình như càng đem lý tính để phân tích các món ăn Huế, cái hiểu về hương vị thực tế càng xoải cánh bay xa…

Bún Bò Huế. Ai ở xa nghe như thể Huế là vùng đất thổ sản của bò, giống miền Nam Mỹ Texas . Thật ra, tìm một trại bò trên đất Huế cũng khó như tìm lá Diêu Bông của Hoàng Cầm.

Tô bún bò Huế cũng là phản ánh cái tham vọng thu nhỏ của người Huế vì muốn dùng cái “lượng” giới hạn để đạt tới cái “phẩm” vô cùng. Bởi vậy, ngoài những chất liệu cay chua ngọt bùi của trần gian, tô bún Huế còn được “nêm” thêm ít nhiều gia vị vô hình của cái tâm chủ quan và cái linh của hoàn cảnh Bà Bún.

Suốt cả thời thơ ấu, tôi sống ở làng, quanh năm chỉ có “Đây xóm nghèo quê tôi khi nắng lên…” là đẹp nhất.
Hàng năm, sau dịp Tết, người trong làng lại bắt đầu chuẩn bị lễ đầu năm. Mẹ tôi lễ vào ngày 19 tháng giêng để kịp ngày 20 đi coi giò gà và dự lễ tế Bà Bún tại làng Vân Cù.

Mỗi năm, tôi được ăn bún khá nhiều lần nhưng hai lần trọng đại nhất và ngon nhất là trong dịp lễ đầu năm của mẹ tôi và trong ngày lễ tế Bà Bún tại Vân Cù.

Làm sao tôi quên được những buổi sáng hai mươi tháng giêng. Từ sáng tinh mơ còn lạnh cóng, mẹ tôi đã cẩn trọng nhúng bộ giò gà khô queo trong tô rượu trắng, gói trong giấy bổi, lâm râm cầu nguyện rồi chuẩn bị lên đường bói quẻ đầu năm..

Tôi là con trai út, nên được thương nhất nhà và thường bị gọi là “cái đuôi của mạ” vì mẹ tôi đi đâu tôi cũng lon ton dòi chạy theo.

Sau vụ coi giò gà tại nhà thầy Kiên ở Hương Cần thì mặt trời đã lên quá đọt tre. Mẹ tôi tiếp tục cuộc hành hương cuốc bộ đầu năm về làng Vân Cù. Từ Hương Cần về Vân Cù phải qua một cánh đồng lúa rộng, tôi phải chạy lúp xúp theo mẹ mướt mồ hôi, mặc dầu trời tháng giêng trên quê tôi lạnh đến nỗi “giêng hai cắn tay không ra máu!”.

Sau nầy tôi bỗng khám phá ra thêm một bí mật về cái ngọn tuyệt vời của bún xáo Vân Cù trong ngày lễ Bà Bún một phần cũng là do cánh đồng trống nầy vì vượt qua cho được dặm trường thiên lý nầy thì cái bụng đã trống trơn.


Muốn nói đến Bún Bò Huế thì đừng quên trước hết phải nói đến con bún, vì tô bún là một tổng hợp hài hòa giữa con bún và nước bún. Thiếu một trong hai là kể như có Adam mà không có Eva, có Phạm Lãi mà thiếu Tây Thi! Và, nói đến con bún Huế thì không thể không nhắc đến chiếc nôi của bún là làng Vân Cù.. Làng Vân Cù nằm cạnh sông Bồ, là con sông ăn thông với sông Hương qua nhánh sông Đào.

Vân Cù cách Huế chừng 10 cây số về phía Tây Bắc. Từ xưa, Vân Cù là lò bún tập thể cung cấp bún cho cả Huế, Thừa Thiên, ra tới Quảng Trị và có khi vào đến Quảng Nam, Đà Nẵng. Hầu hết người làng Vân Cù tuy sống về nghề nông nhưng ai cũng có lò bún trong nhà.


Cũng như rất nhiều nghề thủ công khác ở Huế như nghề Thợ Rèn ở Làng Hiền Lương, nghề Đan Thúng Mủng ở làng Bồ La, nghề Thợ Vàng ở làng Kế Môn, nghề Nuôi Tằm ở làng Dương Sơn, nghề Chằm Nón ở làng Hương Cần, nghề Đan Nôi Bội ở làng Liễu Hạ, nghề Gạch Ngói ở làng Nam Thanh… nghề Làm Bún ở làng Vân Cù là một công việc làm ăn truyền thống và độc đáo riêng của từng đơn vị sản xuất gia đình trong làng, có tính cách cha truyền con nối từ đời nầy qua đời khác.

Tất cả dây chuyền sản xuất đều làm bằng tay với những dụng cụ thô sơ, nhưng thành phẩm thường đạt đến mức tinh luyện mà người khác làng khó lòng bắt chước nổi.
Thủy tổ của nghề làm bún tại Vân Cù là một bà, tục gọi là Bà Bún.

Thời gian đã xoá nhòa danh sách của những người muôn năm cũ nên chẳng còn ai nhớ tên thật của Bà Bún. Trong những câu chuyện dân gian truyền miệng về cuộc đời của Bà Bún, tôi còn nhớ mãi chuyện kể của bác Cửu Am với mẹ tôi rằng:

Vào một thời xa lắc xa lơ, khi có những người Đàng Ngoài theo chân chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp, có một nhóm người đến định cư trong vùng những Tháp Chàm cổ xưa đã đổ nát nên sau nầy có tên là làng Cổ Tháp, thuộc huyên Hương Điền.

Trong số đó có một người thiếu nữ đẹp, có lẽ cũng mắt lá răm, môi cắn chỉ, má lúm đồng tiền… nên rất được nhiều người mến chuộng. Trong lúc mọi người chuyên sống bằng nghề canh tác làm ruộng thì người thiếu nữ nầy miệt mài chuyên nghề làm bún.

Bún nàng ngon quá hay vì nàng xinh quá mà làm cho bao người ăn quên cả đường về. Rượu không say bún say mới ngại… Vì vậy nên nhiều người ganh tỵ. Rồi một dạo dân trong vùng bị mất mùa liên tiếp 3 năm.

Người ta cúng, tế cầu thần linh cứu giúp. Gặp cơ hội nầy, kẻ xấu bụng tung tin rằng, mất mùa là do thần linh quở phạt vì Cô Bún đã đem gạo là “hạt ngọc của Trời, phơi mao ngậm sữa” ra mà ngâm, mà chà, mà xát, mà nghiến nát ra để làm bún. Thế là nhà nông bắt đầu nổi giận.

Hội Đồng Thị Tộc của làng họp bàn và ra lệnh cho Cô Bún phải bỏ nghề làm bún hay sẽ bị trục xuất ra khỏi làng, nhưng Cô Bún quyết sống chết với nghề nên chấp nhận ra đi.

 

Vì bản chất hiền lương và thuần hậu nên Cô Bún được làng ban ân cho phép chọn lựa hướng đi và cử năm người thanh niên mạnh nhất trong làng theo áp tải. Mỗi thanh niên sẽ cõng cái cối đá làm bún của Cô đi một chặng đuờng cho đến khi mệt đuối sức thì người khác tới thay cho đến hết người thứ năm là vùng đất mới của Cô Bún.

Cứ thế, đoàn người đi về hướng Đông cặp theo sông Bồ không nghỉ. Nơi người trai làng thứ năm khuỵu xuống với cái cối đá trên vai là làng Vân Cù sau nầy. Nơi đây đã trở thành “đất lành chim đậu” cho Bà Bún lập nghiệp và truyền nghề làm bún đời đời qua bao nhiêu biến cố thăng trầm của đất nước và dân tộc..

Người ta thường ví von “mềm như bún” nhưng cái mềm Đông Phương lại là cái dẻo dai bền bỉ để sống còn trên bước đường vạn dặm. Thân gái dặm trường, Bà Bún đã vượt Hoành Sơn vào Huế. Chim đã về núi, Bà đã về dất nhưng Bún Huế vẫn còn tươi rói với nhân gian như có người đã hát nửa chơi, nửa thiệt: “Hoành sơn nhất đái chim về cội. Vạn đại dung thân đọi bún bò”.

Một “xưởng bún” điển hình ở làng Vân Cù thường bao gồm một cái xay để xay bột, một cái cối có chày đạp, lò nấu , chảo lớn, rây bột, khuôn bún và một số dụng cụ để khuấy, vớt, đong, đựng bột và bún trong từng chặng đường sản xuất.

Từ hột gạo măng tơ biến ra con bún nõn nà cũng phải cần đến bàn tay, không phép mầu nhưng cũng phải khéo léo và cần cù, của bà tiên lao động. Sợi bún bắt đầu từ hột gạo. Gạo trắng ngâm nước lạnh qua đêm sẽ “mục” ra và được đem xay hay giã nhuyễn thành bột.

Tiếp theo, bột gạo được “rây” để lọc ra phần mịn nhất tinh bột của gạo. Bột gạo nguyên chất được rưới nước sôi để nhồi thành một khối bột gọi là “trái bột”. Trái bột gạo được luộc chín sơ, rồi vớt ra và đem trộn với bột lọc theo tỷ lệ cứ 30 lon gạo (khoảng 10 ki-lô), trộn với 2 ki-lô bột lọc.

Tổng hợp bột gạo và bột lọc nầy lại được giã, trộn rất nhuyễn cho tới khi trái bột đạt tới mức “vừa đai, vừa đẻo” là đuợc. Giai đoạn cuối cùng là khối bột mượt mà và dẻo quẹo được đưa vào khuôn bún. Dưới sức ép, những đường bột tuôn ra theo lỗ đục sẵn dưới đáy khuôn bún, rơi vào nồi nước sôi và chín thành bún. Bún được vớt ra, xả sạch với nước lạnh và sẵn sàng để ăn.

Bún tự nó đã là một món ăn thanh đạm của người Huế, nhất là vùng quê. Bún Vân Cù được làm ra dưới ba hình thức: Bún con, bún lá và bún mớ.

Bún con hay bún vắt là một lọn bún quấn lại với nhau, dài vừa nắm tay như cuộn chỉ thêu, rất tiện lợi cho việc ăn uống đơn giản và đạm bạc trên nương, ngoài đồng, giữa đường.

Chỉ cần một chút nước mắm ớt và năm, bảy con bún vắt thì bác nông phu trên đường về, chị chủ quán rộn ràng giữa chợ, em bán hàng rong lang thang… có thể tay cầm con bún chấm vào nước mắm ăn ngon lành ngay trên “hiện trường” vừa ngon miệng, vừa ấm lòng, vừa khỏi lơ là công việc..

Bún lá là một lớp bún trải trên lá chuối tươi, cuộn tròn cỡ bằng cái bánh tráng trung bình. Bún trắng nổi trên lá xanh mang vẻ đẹp trinh nguyên nên vừa bắt mắt, vừa bắt miệng. Bún lá thường là đơn vị bún cho cá nhân và gia đình: Mỗi người một rá, mỗi lá một tô.

Bún mớ, còn gọi là bún “ngảo” hay bún kí-lô. “Ngảo” là cái rổ nhỏ thường dùng như một đơn vị đo lường ở các vùng quê của Huế trong khi “kí lô” là đơn vị đo lường mới xuất hiện sau này. Bún mớ là bún sản xuất đại trà với số lượng lớn để buôn bán, đổi chác trên thị trường.

Thật ra cả ba loại bún cơ bản là giống nhau, đều có màu ngà đục khi sống và màu trắng trong khi đã luộc chín. Người ta thường dùng danh từ “bún tươi” để chỉ bún mang trực tiếp ra từ lò và “bún luộc” để chỉ con bún được luộc chín từ bún khô.

Con bún Huế điển hình có độ dai vừa phải, không “đai hoai” như bột lọc nhưng cũng không bở rệt như bột gạo. Thường người ta dùng đinh 3 phân ( khoảng 1/8 inch) để đục lỗ thoát trong khuôn bún hay để ước lượng độ lớn của con bún.

Trong thực tế, bún lớn hay nhỏ là do bàn tay khéo léo của người cầm “rây”. Muốn sợi bún nhỏ, ngay khi những con bún sống đang chảy xuống nồi nước sôi để thành bún chín, chỉ cần đưa cái khuôn đầy bột lên cao; muốn có con bún to thì hạ khuôn xuống thấp.

Bún nhỏ là bún kim để làm bún khô hay bún Tàu dùng nấu canh và bún to hơn là bún thô dùng để xào trộn thức ăn trong những dịp giỗ, Tết. Bún con và bún lá thường được cho là ngon hơn có lẽ vì được sản xuất đầu nước nên láng lẩy và tươi tắn hơn: “Bún đầu nước thì ngon, con đầu nước thì dại (?)”.

Ngoài cơm và khoai sắn, có thể nói rằng, bún nói chung là món ăn truyền thống được phổ biến rộng rãi nhất đối với người Việt Nam ở trong nước cũng như khắp năm châu. Các loại bún truyền thống miền Bắc thì có bún riêu, bún thang, bún mộc, bún ốc….

Bún từ Đàng Ngoài đã theo bước chân Nam tiến đi vào Đàng Trong, rồi chọn đất Thuận Hóa làm nơi nghỉ bước và đâm chồi nẩy lộc thành bún Huế. Bún Huế gồm nhiều loại, mỗi loại có một lịch sử và tính chất độc đáo khác nhau:

Bún nước mắm, bún mắm nêm, bún giấm nuốc, bún riêu, bún xáo, bún măng, bún thịt nướng, bún chả tôm, bún bò, bún giò… và bún bò giò heo. Bún bò Huế, tức là bún bò giò heo được ưa chuộng và phổ biến nhất.

Theo thời gian và không gian, bún bò Huế có lúc và có nơi chỉ còn là một cái tên nhưng phẩm chất, đặc tính, mùi vị… đã hoàn toàn biến đổi. Nhiều người vẫn tẩn mẩn tự hỏi, không biết tô bún bò Huế thời vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và tô bún thời vua Bảo Đại thoái trào năm 1954 có gì khác nhau trong cung đình và ngoài phố chợ.

Có điều rõ ràng là khách ăn bún Huế sẽ cảm thấy tô bún An Hoà khác hẳn tô bún An Cựu, nơi nầy có thêm lát chả, nơi kia có thêm miếng huyết, nơi nọ có chút rau thơm và chuối cây xắt mỏng lơ thơ. Càng đi xa, tô bún ở Đà Nẵng không giống tô bún Sài Gòn; tô bún Huế Ca-li khác xa tô bún Huế Texas .

Trước 1975, tôi có một người ông bà con, quê ở làng Lương Quán, Nguyệt Biều. Mọi người kêu ông là “Ôn Tứ”, có lẽ vì ông làm quan tứ phẩm của triều đình. Cứ một năm vài ba lần, ông sai tôi chở qua cung An Định để vấn an “Đức Từ”, đó là bà Từ Cung, thân mẫu của cựu hoàng Bảo Đại.

“Ôn Tứ” tuổi trên 70 mà vẫn còn đẹp lão như một tiên ông với da dẻ hồng hào và tóc trắng như mây, nhưng hễ cứ mỗi lần tôi khen ông là ông lại nói với giọng nửa như tự hào, nửa như ăn năn:

– Ôn sống thọ đây là tại trời đày vì tội phạm thượng, dám ăn đồ ăn của vua!

Ai cũng biết thuở trước, ông là người hầu cận thân tín của vua Bảo Đại từ Việt Nam qua đến Pháp.. Tôi nghe lạ, hỏi ông, ông giải thích:

– Ngài Ngự làm vua, nhưng là người Tây học. Ngài xử sự công bằng và lịch sự với tất cả mọi người. Hồi còn ở trong Đại Nội, thường có các cận thần hay hoàng thân quốc thích nấu đủ món sơn hào hải vị dâng lên Ngài ăn khuya.

Ngài nhận, nhưng sau đó sợ bị mập nên Ngài cứ đưa hết cho ôn ăn. Con coi, ôn ăn hoài cao lương mỹ vị của hoàng đế, “tội to” như rứa mà Trời không phạt răng được!

Trong những lần ngồi đợi ông vấn an đức Từ Cung, trong cái mát lạnh thâm u của cung An Định, tôi có dịp nghe các cuộc mạn đàm của giới thân cận cung đình về các món ăn Huế mà giới quý tộc quan tâm. Bún bò Huế vẫn thường được nhắc đến nhiều nhất.

Đặc biệt là cuộc thi nấu các thức ăn đem ra đấu xảo tại chợ Tết Gia Lạc có từ thời Minh Mạng, do Định Viễn Công Nguyễn Phước Bình, con thứ tư của vua Gia Long lập ra. Chợ Gia Lạc nằm giữa chợ Mai và chợ Nam Phổ ngày nay và cũng là vùng đất có Tùng Thiện Vương và Tuy LýVương, hai vị hoàng thân nghệ sĩ đã vang bóng một thời.

Lúc đầu chợ chỉ mở ra cho các người trong thân nhân phủ đệ, sau thấy đông vui hấp dẫn, dân thường trong vùng lân cận như Dương Nổ, Nam Phổ, Thế Lại, Ngọc Anh… tìm đến và cũng được các ông hoàng bà chúa cho vào tham gia buôn bán và tổ chức các trò chơi.

Hàng năm đến ngày 23 tháng Chạp, chợ Mai đông buổi sáng và chợ Nam Phổ đông buổi chiều để nhường chỗ cho chợ Gia Lạc tưng bừng vui hội Tết. Đông vui và nhộn nhịp nhất là trong ba ngày mồng một, mồng hai và mồng ba Tết Nguyên Đán. Đây là phiên chợ của hàng con vua cháu chúa, nhưng đồng thời cũng mở rộng ra cho bàng dân thiên hạ đến vui Xuân.

Theo tương truyền, trong một năm, món bún bò giò heo của Mệ Lựu đã chiếm giải nhất và được phê là “Thập toàn. Ngũ đắc”. Thập toàn là mười diều hoàn thiện của một món ăn ngon, đại khái như: ngọt ngào, thơm tho, đậm đà, bổ dưỡng, tinh khiết, bắt mắt, khéo chọn, khéo tay, khéo nấu, khéo bày, bún bò Huế còn được đánh giá cao là vì tính chất bình dân và phổ thông trong bá tính:

Mọi người ai cũng biết được, ai cũng ăn được, ai cũng nấu được, ai cũng tìm được vật liệu ngay tại địa phương, ai cũng có thể có dịp mua được (ngũ đắc). Phải chăng vì bún bò giò heo cũng mang tính truyền thống dân gian như bánh chưng, bánh dày thuở trước.

Nếu gặp một người Huế nào đó ở vào lứa tuổi trung niên hoặc già hơn mà hỏi thăm thế nào mới thật là bún bò Huế và bún bò nơi mô ở Huế là ngon nhất, chắc chắn sẽ có hơn chín mươi phần trăm trả lời là, “bún bò Mụ Rớt”.


“Bún bò Mụ Rớt có nêm sâm nhung quế phụ vô hay răng mà ngon dữ rứa?”. Một lần nào đó đã có người tò mò lên tiếng. Rồi cũng có người đáp lại, “Có chi mô, mụ Rớt cũng ra chợ Đông Ba mua rau, mua thịt như mình nhưng mụ nấu ngon vì có hoa tay”.

Hoa tay? Hoa tay của ông đồ Vũ Đình Liên là để thảo những nét chữ như rồng bay, phượng múa, nhưng hoa tay của mụ Rớt là để nấu những tô bún bò thanh nhã, ngọt ngào “ăn ngậm mà nghe”.

Chừ ri hỉ….!
Cứ tưởng tượng mình đang ở Huế.


Vừa thức dậy sau giấc ngủ trưa, một buổi trưa không biết ở thời nào, một buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao, có cu gáy và bướm vàng nữa chứ… Và, có tiếng ve đất cuối mùa kêu sau vườn nhưng nghe như xa lắc.

Nắng xế cuối mùa của Huế thường phai như màu tóc muối tiêu. Rồi có tiếng xe đạp của ai đó phanh lại trước sân, ba bốn đứa bạn thân rủ nhau đi ăn bún. Con đường Chi Lăng dẫn về Gia Hội chen giữa hai hàng phố cũ với những căn nhà xưa kiểu Tàu pha một căn hai chái, cột mệ cột con đề huề trông thâm nghiêm nhưng thấp bé một cách tội tình.

Trước khi rẽ qua đuờng Ngự Viên đi ngang “mả ông trạng” sau lưng chùa Diệu Đế, hãy ghé lại một căn nhà dãy phố bên phải: Đó là tiệm bún bò Mụ Rớt. Huế làm ăn theo lối “hữu xạ tự nhiên hương”, không bảng hiệu, không quảng cáo mà chỉ cần nghe tiếng tìm vào.

Khách vô tiệm tự nhiên và lặng lẽ như ghé lại bến đò. Cứ tìm bàn nào trống, ngồi xuống trên chiếc ghế đẩu không có chỗ dựa lưng, ngó một loáng bâng quơ người quen và người lạ, sẽ có người hỏi:
– Mấy o, mấy cậu thời bún chi?

Khách chỉ có lựa chọn giữa bún khô và bún nước:
– Dạ, cho mấy tô bún nước

Lát sau, mấy tô bún bò giò heo bốc khói, mùi thơm tỏa ra dìu dịu, được bưng ra đặt trên bàn. Bún được nấu nướng từ sau bức tường của dãy nhà ngang trông vào có vẻ phòng the hơn là bếp núc.

Tô bún bò Huế mới thoạt nhìn, có vẻ đạm bạc và thanh lịch như chiếc áo dài phin trắng nõn nà. Tô bún chỉ lớn hơn bàn tay búp măng xoè ra một tí. Nước bún trong để lộ những tép bún trắng nằm sóng soãi vươn lên miệng tô.

Nước bún không mỡ màng, không bị vẩn đục vì gia vị. Vài loáng ớt màu đỏ nhạt, quyện với dầu sả nổi đốm sao trên mặt tô không che được miếng giò heo búp, mỏng bằng hai phần lóng tay.

Miếng giò heo trắng ngả màu vàng với lớp da mỏng, ôm khoanh thịt nạc và mảnh xương tròn ở giữa như nhụy hoa nằm bắt mắt và mời gọi, nửa chìm nửa hở trong tô bún. Che mái cho tô bún là ba bốn lát thịt bò bắp xắt mỏng, những lát bò bắp với thớ thịt chắc nịch nâu đỏ và những đường vân vàng nhạt của nạm, gầu, gân, sách.

Trên bàn đã có sẵn đũa tre, muỗng sành, nước mắm, ớt tương và rau hành chanh múi. Một dĩa nhỏ hành củ trắng phau và hành lá, rau thơm xanh mưót điểm thêm ngò ta xắt mỏng để rắc lên mặt tô bún cho thêm nồng nàn hương vị.

Rau hành của bún không phải là rau sống cuả phở, rau chỉ đóng vai trò “nước hoa” cho tô bún. Trên một góc dĩa là ớt tươi xắt lát. Cái cay của ướt tươi là đậm đà, mọng nước, đủ sức khống chế những cao thủ ớt đã nếm đủ vị giang hồ mà vẫn còn thấy nhạt.

Cạnh đó là dĩa ớt tương nhỏ xíu màu huyết dụ; ớt tương của bún bò Mụ Rớt cũng được liệt vào hàng “gia vị bún bò bắc đẩu”, nhìn thì có cái vẻ mềm như nhung với màu đỏ sẫm, điểm những hột ớt vàng hoe nhưng nếm vào mới biết thế nào là cái “hiền” của Huế.

Gắp một tí ớt tương đầu múi đũa bỏ vào tô là ớt từ từ bung ra như nhụy hoa trên mặt nước bún. Hoa hồng thường có gai, nên nhụy hoa bún cũng làm cho biết bao người cay giọt ngắn, giọt dài!

Cung cách nêm tô bún trước khi ăn cũng thể hiện phần nào phong thái của người ăn. Vẻ e dè chờ đợi của khách mới, dáng khoan thai của giới nhàn du, sự xông xáo của người đói bụng, cách lịch lãm của kẻ từng quen… là những biểu hiện thường tình trước tô bún.

Khi đã nêm xong, húp một muỗng nước bún khai vị để cảm nhận được cái chất ngọt thanh pha đủ mùi gia vị. Mùi sả, mùi ruốc, mùi xương hầm, mùi thịt luộc, mùi chanh, mùi rau, mùi tiêu hành nước mắm… đã biến chất, đã quyện vào nhau tạo thành mùi bún bò có sức hấp dẫn lạ lùng riêng của nó.

Miếng giò heo thanh nhã trong tô bún với lớp da mỏng có bìa da úp quanh miếng thịt nạc như đài hoa chưa nở nên thường gọi là giò “búp”. Cắn miếng giò, những sợi thịt trắng vừa béo, vừa ngọt vẫn còn thơm mùi thịt tươi mới chín nhẹ nhàng bốc hơi trên hai cánh mũi.

Gắp lát thịt bò bắp. Lát thịt bò mỏng với những đường gân, sứa thịt và viền mỡ dòn tan giữa hai kẻ răng và vị ngọt béo miên man trên đầu lưỡi. Tô bún bò Huế vơi dần nửa như thách thức, nửa như mời gọi khách rằng, chưa cạn hết tô chưa gác đũa.

Tô bún bò Mụ Rớt được xem là đặc trưng cho tô bún Huế là vì nó mang những nét thanh đạm và đơn giản. Có thể nói cái thanh của bún Huế ví như những nét đan thanh của tà áo trắng, tà áo dài mỏng manh cửa đóng then gài ngỡ như là tử cấm thành của phái đẹp thần kinh, nhưng lại kín đáo phô bày trọn vẹn những nét đẹp trên thân thể của người mặc.

Người mặc áo Kimono của Nhật chỉ cần một khuôn mặt đẹp, nhưng người mặc áo dài Việt Nam khó mà che dấu được những nét mỹ miều hay thô thiển của thân hình.. Cũng tương tự như vậy, một tay nấu bún “hạng lông” có thể nấu một tô bún thập cẩm với tấp nập thịt thà rau cải rềnh rang như chiếc áo Kimono, nhưng lại khó có thể nấu một tô “bún-bò-áo-trắng” kiểu Huế thoạt nhìn tưởng như là quá đơn giản mà ẩn dấu lắm công phu.


Linh hồn của tô bún bò Huế là nước bún. Nước bún là nước được hầm từ xương heo, xương bò, gà tươi, và có khi là cây, củ… Phần khó nhất trong việc nấu nước bún là giữ cho nước trong, ngọt thanh, không mỡ màng, không lềnh bềnh gia vị.

Những “trường phái” bún bò khác nhau ở Huế thường dấu bí quyết nấu nước bún vừa trong vừa ngọt, nhưng tất cả đều có điểm cơ bản khá giống nhau là cách chọn xương hầm, cách luộc tái rồi đổ nước đầu tiên, cách vớt và lọai bỏ bọt thải đúng lúc, đúng điệu, thường là yếu tố quyết định trình độ cao thấp của “tay nghề”.
Bún sợi thật sự là bún tươi, trắng ngà, có độ dẻo và độ lớn vừa phải.

Thịt heo trong tô bún chỉ đơn giản một lát giò có đủ da, đủ nạc và xương. Giò luộc vừa chín, không quá lửa làm cong queo, mềm nhũn, thoang thoảng gia vị vừa ăn; thơm nhưng không mất mùi thịt heo nguyên thủy.
Thịt bò trong tô bún là bò bắp luộc vừa chín, xắt lát mỏng, xào nhẹ lại với đồ màu và tránh tình trạng quá lửa làm “bò teo, heo nở”.

Gia vị chủ lực của bún bò Huế là sả, ruốc và ớt, nước mắm. Tinh dầu của cây sả có mùi thơm rất nồng, đủ mạnh để làm trung hòa mùi ruốc và giúp cho mùi thịt trộn tiêu hành nước mắm trở nên dịu và ngào ngạt hơn.

Dầu sả nhẹ hơn dầu mỡ nên làm cho nước bún nổi sao óng ánh, tránh được những váng mỡ nặng nề làm cho người ăn ái ngại. Một cây sả tươi cần chọn đoạn giữa vừa thơm, vừa phong phú tinh dầu. Đừng quên sả gốc nồng và chát, sả ngọn ít thơm và dễ làm cho nước bún nhiễm màu xanh của lá.

Trong nồi bún, nếu sả quyết định cho hương thì ruốc quyết định cho vị. Ruốc phải đánh loãng và thải hết chất bã. Ruốc nêm lúc nước còn lạnh để khỏi nặng mùi. Ruốc nêm đúng phân lượng sẽ làm cho nước bún có vị ngọt đậm đà và mùi thơm phảng phất chất mắm muối quen thuộc của đồ ăn Việt Nam.

Ruốc nêm thiếu, nước bún sẽ “ỏn”, nghĩa là lạt lẽo, kém vị, thiếu mùi như nước ốc. Ruốc nêm thừa, nước bún sẽ “hăng”, nghĩa là mùi vị nặng nề, không tỏa ngát quanh tô bún mà có vẻ như chìm lỉm trong nồi nước bún.

Bên cạnh kỹ thuật và kinh nghiệm của người nấu, chất liệu cũng đóng một vai trò quan trọng cho hương vị của tô bún Huế. Chẳng hạn như thịt heo nấu bún Huế thường lấy từ thịt heo cỏ. Đó là giống heo nhỏ nuôi bằng rau, chuối nấu với cám gạo cốt để vừa lấy phân, vừa lấy thịt.

Heo càng lớn càng dài ra và thịt rắn lại chứ không phát triển “sồ sề” như giống heo mẹo nuôi trong kỹ nghệ lấy thịt sau nầy. Giò heo do đó vừa chắc, vừa thơm, vừa ít mỡ. Giò heo lý tưởng cho tô bún là giò sau: “Nấu giò sau, cho nhau giò trước”.

Ngoài ra, rau hành, gia vị… thường được các bà Huế nêm theo kiểu “luyện công” nên mọi thứ đều được tính toán chi li vừa đủ phân lượng cần thiết. Có dịp nhìn một bà Mỹ vào bếp với dáng kích động như muốn nhảy “Disco” với soong chảo, một bà Nam nếm đồ ăn trên lò, miệng chưa tắt nụ cười vui sau câu cải lương mùi mẫn….

mới thấy được hình ảnh tay cầm đũa, mắt đăm đăm, môi chút chíp nêm đi nếm lại như đang “truyền tâm ấn” của một bà Huế trước nồi bún đang sôi là “thục nữ thần kinh”. Chính yếu tố địa phương, hoàn cảnh và tâm lý đã làm cho tô bún bò Huế trở thành ngon và độc đáo hơn vì nó được chuẩn bị, phục vụ và thưởng thức trong mức độ vừa đủ về lượng cũng như về phẩm.

Sự dễ dãi về hoàn cảnh sinh hoạt và phong phú về điều kiện vật chất có vẻ như có một tác dụng nghịch chiều cho tiến trình tạo nên cái vẻ thanh nhã truyền thống của tô bún bò Huế.

Bún bò Huế càng tiến về Nam càng được thêm thắt như tà áo trắng biến thành áo gấm với phượng vẽ rồng thêu. Bún Huế chỉ cần vượt đèo Hải Vân vào Đà Nẵng là đã đổi khác: Tô lớn hơn, mỡ màng và thịt, gân, rau hành nhiều hơn. Bún Huế tiến vào Sài Gòn thành tô “phở bún” xe lửa tàu bay với nước béo, rau sống, giá sống, thịt chả ê hề.

Chính bún bò Mụ Rớt Huế vào Nam cũng đã chuyển mình thành “bún bò Mụ Rớt Nam Bộ”. Bún bò Huế càng được chiếu cố rộng rãi chừng nào, sự “sáng tạo” và biến thể càng nẩy mầm trăm hoa dua nở chừng đó.

Đến nỗi, một người thích “khảo” về các món ăn miền Trung gần đây như ông Đinh Miên đã phải lên tiếng “xóa óa” khi nhắc về bún bò Huế tại Mỹ trong bài “Cơm Việt, Quê Người”: “Đi đâu cũng nghe bún bò Huế chính gốc mà không biết gốc gì, nên gốc gì cũng đặng!” (Việt IX – 95).

Ông Đinh Miên thuộc về trường phái “chịu chơi” khi luận về bún Huế. Ông cởi mở đón nhận sự chuyển mình của tô bún với vẻ cười cợt hồn nhiên như người đã biết là không thể tắm hai lần trên cùng một giòng sông.

Cũng có người muốn “ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng” lên tiếng cho rằng, tại sao những món ăn truyền thống của thế giới như Pizza của Ý, Kabob của Ba Tư, Taco của Mễ, Kentucky Fried Chicken của Mỹ, Mì Triều Châu của Tàu…

đi đâu cũng nghe cùng một hương vị, mà Bún Bò Huế lại có người nấu Sở kẻ nêm Tần như vậy, sợ một ngày kia “mất giống” tìm đâu!? Có lẽ không ai trả lời được câu hỏi đó vì món ăn là một phần của văn hóa mà gốc của văn hóa là con người. Khi đất nước và con người còn đó thì ngại gì tô bún đổi thay.

Tuổi già của Huế thích lui về sống ẩn dật với quê hương, gần gũi với bà con làng xóm và mồ mã tổ tiên, nhưng tuổi trẻ lại thích bay xa tới những phương trời mơ ước. Niềm ước mơ của một đứa trẻ lớn lên sau lũy tre làng như tôi là làm sao được lên Huế học.

Thành phố Huế cách làng tôi chưa đầy một giờ đi xe đạp nhưng đối với tôi thời nhỏ nó vừa thực vừa mộng như một vùng đất hứa. Có những buổi chiều đứng đầu ngõ nhìn những người lên Huế sắm hàng với các món đồ gói trong giấy, trong hộp đầy màu sắc gọi là “đi Dinh mới về”, tôi ước chi mình sẽ được lên Dinh


Tuy không có quy định thành văn nhưng con đường duy nhất để được lên Dinh ăn học đối với tuổi trẻ ở làng như tôi là phải thi đậu “Càng Cua” (concours) trước đã, đó là kỳ thi tuyển học sinh vào lớp đệ thất trường công mà trong toàn tỉnh Thừa Thiên chỉ có thành phố Huế mới có.

Mẹ tôi thường nhắn gởi: “ Chuyến ni mà con thi đậu “càng cua”, cực mấy mạ cũng gắng lo cho con lên Dinh học”.

Mẹ tôi dắt tôi lên Huế hai ngày trước khi thi “càng cua”, đi qua đi lại trước trường Hàm Nghi (ngày xưa là Quốc Tử Giám) nhiều lần cho quen đường đi nước bước. Tôi ở lại nhà chị Quyến tôi nơi đường Ô Hồ. Buổi sáng ngủ dậy, chị kêu gánh bún vào ăn điểm tâm..

Gánh bún õng ẹo trên đôi vai o gánh bún, có khói và hơi bốc nhè nhẹ xung quanh như một đầu máy xe lửa xuống đèo. Nghe chị đặt hàng, tôi có cảm giác hơi là lạ:

– O múc cho tô “trung”, bún vừa, nước xắp xắp thôi. Cho giò nạc búp, thêm cái ngoéo. Đổi huyết lấy bò bắp xắt vô. Khoát bớt ớt màu, bỏ hành rau răm rươi rươi thôi, ớt tương nước mắm bỏ riêng…

Người bán bún chừng như đã quá quen thuộc với lối đặt hàng rắc rối đó nên làm thinh múc bún. Nồi bún nóng thân tròn, miệng uốn trông như chiếc lư đồng cổ không nắp không chân, đặt trên lò lửa riu riu đỏ. Tay o cầm cái vá cán dài, quây một vòng trong nồi bún với dáng tay nhẹ nhàng và điệu nghệ như cô vũ nữ Thái múa điệu cánh sen. Cái vá dừng ở đâu trong nồi nước bún là “bắt” được ngay miếng thịt, miếng giò đang cần, chính xác như ra-đa tìm thủy lôi.

Một lát sau o mới hỏi:
– Ai ăn rứa?

Chị tôi trả lời một cách hãnh diện:
– Thằng em tôi dưới làng lên ở lại thi “càng cua”.

Tự nhiên o bán bún coi bộ quan tâm:
– Nì, nói chuyện vô duyên chơ học trò đi thi không nên ăn giò búp: búp hoài không nở thì mần ăn chi nữa. Để tui múc cho một cặp giò ngoéo: ngoéo trước, ngoéo sau thì rớt đi mô được, thi đậu chắc nụi!

Chị tôi coi bộ cảm động ra mặt vì gặp được “Thầy”… bún, nên nhiệt liệt ủng hộ ngay:
– May có o nhắc chớ không thì khổ em tui rồi. Rứa! Múc ngoéo vô đi o!

Thật tôi không ngờ bún Huế “linh” như vậy, nên hôm đó ăn tô bún Huế mà cảm thấy trân trọng và ngất ngây như uống rượu thánh.

Về làng, tôi thường ăn bún với nước mắm ớt.. Mẹ tôi có mấy lu ruốc bự bành ky để ở nhà dưới, nước mắm nhĩ trong vắt nằm một lớp trên mặt. Đem lúa đổi lấy bún vắt hay bún lá, rồi múc nước mắm nhĩ từ trong lu ruốc, ra vườn hái ớt xé vào.

Bún tươi chấm với nước mắm nhĩ pha thêm ớt trái mùa Xuân ăn ngon “nhức răng”. Thêm vào đó, một năm đôi ba lần được ăn bún với nước xáo lòng gà, thịt bò nên chú bé quê trong tôi cũng đã bằng lòng lắm với cuộc đời đầy đãi ngộ nầy rồi.

Nay được ăn tô bún Huế với những thịt thà thơm phức, với cách nấu bún công phu, cách múc bún điệu nghệ… làm cho tôi cảm thấy được “lây” cái văn minh sang cả của người thành phố.
Ngày đi thi, tôi dậy sớm trước khi gà gáy lại, hồi hộp chờ trời sáng để tới trường thi, nhưng trong lòng cũng cảm thấy thinh thích khi nghĩ đến tô bún Huế với cặp giò ngoéo có lớp da mềm mềm bao quanh những thớ gân dòn tan như ăn ổi đỏ ở làng.

Hình như mới có hai buổi sáng trôi qua mà tôi nghe như đã bị phố phường cám dỗ. Buổi sớm tôi nghe mẹ tôi bàn bạc to nhỏ với chị tôi, rồi tiếp theo đó có người gánh gánh xôi vào trước hiên. Nhìn dĩa xôi đậu xanh chấm muối mè bày ra trước mặt, tôi bắt đầu hoang mang. Mẹ tôi hối:
– Ráng ăn xôi đậu muối mè đi con!

Khi tôi ngao ngán ngáp dài kêu mệt quá và muốn ăn bún chứ xôi đậu, muối mè khô khan quá nuốt không vô, mẹ tôi dịu dàng an ủi:


– Con thi xong rồi, ưng ăn bún cả gánh mạ cũng cho. Con di thi “càng cua” mà ăn bún vô trơn, nói trời không nghe lỗ miệng, chớ nó truột di thì thi hỏng mất! Lúc trước mấy cậu con thi chi hỏng nấy là vì không nghe lời mệ ngoại, cứ dè ngày thi cử mà ăn bún không kiêng cử nên thi trợt tuốt luốt, phải xếp sách vở về quê đi cày. Chừ con gắng ăn xôi đậu, xôi muối mè dính mô chắc nấy, trời mới cho con đậu.

Tôi rướn cổ nuốt cho hết dĩa xôi mè vì thương mẹ hơn là sợ thi trượt. Tới ngày treo bảng, nghe loa đọc tên nhưng tôi không tin là mình đậu “càng cua” thứ nhì trường Hàm Nghi trong số hơn một nghìn thi sinh dự tuyển và có hai trăm trúng tuyển năm đó.

Suốt một đời, tôi không làm sao quên được hình ảnh mẹ tôi với hai hàng nước mắt sung sướng chảy dài trên đôi má phong trần vì lặn lội gieo neo nuôi con. Mẹ tôi nói như đã nắm được bí mật cuộc đời:
– Chộ chưa! Con nghe lời mạ, ăn xôi đậu nên mới thi đậu. Còn thằng Tý xóm Bàu, thằng Rô xóm Cụt, Thằng Lúi lò rèn to béo xắp hai con, nghe nói mỗi đứa ăn hai tô bún để đi thi nên trượt tuốt luốt..

Xôi đậu

Tôi muốn nói cho mẹ tôi biết bọn thằng Tý, thằng Rô, thằng Lúi… suốt cả mùa Xuân trốn học, thu sách vở trong bụi tre lá ngà đầu làng đi chơi; trong khi tôi học thuộc cháo sách Sử Ký của Trần Đinh, giải hết 1000 bài toán đố của Một Nhóm Giáo Viên, đọc nhuyễn 50 Bài Luận Mẫu và Tâm Hồn Cao Thượng của Hà Mai Anh…

Thế nhưng nghỉ sao tôi lại thôi, vì mẹ cũng có một khung trời riêng của mẹ mà tôi chỉ dám núp sau áo mẹ để lặng im chiêm ngưỡng chứ không dám thả cánh chim lý luận làm huyên náo khung trời đó và làm mẹ buồn lòng.


Từ đó về sau nầy, tôi thường cố “cữ” ăn bún mỗi lần có thi cử. Ngay cả hơn 30 năm sau, khi tóc đã điểm bạc trên bước đường lưu lạc ở quê người, có những lần đi thi chuyên môn, đi phỏng vấn việc làm, đi thi tốt nghiệp trong trường đại học Mỹ, tôi vẫn “kiêng” ăn bún nhưng chỉ tìm cách né tránh âm thầm chứ không dám nói ra vì sợ bị chọc quê.

Thật ra, mỗi lần đụng đến thi cử là tôi lại nhớ mẹ đến quặn lòng, nên tôi cử ăn bún để được cái cảm giác ấm áp thiêng liêng như hôm đó mình đang có mẹ thật gần

Đến khi lên Huế học, những huyền thoại về bún bò Huế càng có vẻ mọc cành mọc lá sum sê hơn. Thế giới học trò cũng nhỏ bé và xinh xinh như thành phố. Phía sau trường Hàm Nghi của tôi là Viện Bảo Tàng và nhà thờ Nguyễn Phước Tộc hay là Tôn Nhân Phủ..

Bên kia đường là cửa Hiển Nhơn vào Đại Nội. Kế đó, có hai trường văn nghệ nhất Huế, đó là trường Quốc Gia Âm Nhạc và Cao Đẳng Mỹ Thuật mà lũ học sinh nghịch ngợm của chúng tôi thường chọc mấy anh chị sinh viên bằng cách gọi là “Trường Kèn” và “Trường Cọ”.

Sinh viên hai trường Kèn Cọ thường la cà ở quán cà phê Tôn, nơi đó, thật ra chỉ là một chiếc xe kiểu xe sinh tố đặt mé trái trước Tôn Nhân Phủ do vợ chồng bác Tôn đứng bán bún bò và cà phê.

Giới nghệ sĩ lang thang thường bàn luận một cách công khai rằng, ngày nào vợ chồng bác Tôn không cãi nhau là ngày đó bún bò không ngon vì thiếu đi cái “tinh thần hào sảng” của cặp vợ chồng bác Tôn khi nấu bún.

Bún Bò An Cựu (TPHCM)

Giới văn nghệ sĩ cà phê Tôn còn đi xa hơn khi kháo nhau rằng nếu lỡ một mai kia, lịch sử thành thơ đưa họ lên làm lãnh tụ, thì họ sẽ đặt tên con đưòng từ Vỹ Dạ lên Ga Huế là “Đường Cơm Hến” và đường từ cầu An Cựu lên cầu Trường Tiền là “Đại Lộ Bún Bò” vì mỗi buổi sáng tinh sương, dọc trên con đường nầy có cả đoàn bún gánh phát xuất từ An Cựu tỏa ra khắp thành phố Huế.

Khói xanh đun nồi bún bay phơ phất trên đường như một sự mời gọi êm đềm: Bún bò An Cựu, cơm hến Đò Cồn, trứng lộn Chợ Dinh, bánh canh Nam Phổ… Cũng may hay cũng buồn, lịch sử không phải là thơ nên tuy Huế có những con đường tình cảm mang tên kỷ niệm và giai nhân bất thành văn như đường Hàng Me, đường Áo Trắng, nhưng vẫn chưa có tên đại lộ Bún Bò.

Bản thân tôi từ một vùng quê ruộng đồng lên tỉnh học, sau mấy năm học đòi văn hóa Huế, cũng bị nhiễm bún bò rất nặng.. Tôi đã ưu tư nhiều về sự hiện diện của bún bò giò heo kể từ khi làm quen với một cô hàng xóm nhân dịp cô đi xe đạp, vạt áo dài tung bay phất phới và cuốn theo chiều gió mà quấn vào trong giây “sên”, trong “ổ líp”.

Tôi bèn ra tay cứu khổn phò nguy gỡ áo em ra và không quên bôi thêm dầu sên lên tay lên mặt cho ra vẻ lẫm liệt, can trường. Tên cô là Mộng Hoàng, tất nhiên có cái họ đi trước rất chi là thế gia vọng tộc.

Chỉ mới cái tên thôi cũng đủ biến tôi thành Trương Chi bên cạnh Mỵ Nương đi xe đạp mất rồi. ễ làng, tôi đi từ xóm trong ra xóm ngoài để sưu tầm những tên giai nhân đẹp nhất thì cũng chỉ có những Nguyễn Thị Gái, Trần Thị Chắt, Lê Thị Dẹp… đào đâu ra có Mộng, có Hoàng.

Cầu Trường Tiền- Huế

Những buổi sáng, tôi và Hoàng vẫn đạp xe đạp song song chung đường từ Thành Nội, qua cầu Trường Tiền, rồi Hoàng vào Đồng Khánh và tôi vào Quốc Học. Đôi ba lần Hoàng quay sang phía tôi cười, một phiến ớt màu bún bò tí ti đỏ chói nằm trong góc chiếc răng khểnh trắng nõn nà của Hoàng. Tự nhiên tôi cảm thấy hơi mất đi cái cảm giác thanh thoát khi nhìn sự hiện diện vô duyên của ớt màu nằm trên chiếc răng khểnh duyên dáng đã làm tôi xao xuyến bao lần.

Tôi lên tiếng, nhẹ nhàng như nắng, sợ làm vỡ những giọt sương tình cảm long lanh. Rồi cả hai đứa dừng lại, đứng khuất sau gốc cây long não, tôi xé mảnh giấy trắng nhất trong tập vở học trò, vo lại thành cây tăm và nín thở khêu chút ớt màu bún bò vô tình nằm chênh vênh không đúng chỗ. Hai đứa nói nhỏ như ngại hàng long não đứng nghe.. Hoàng vùng vằng sợ tôi nhìn sâu hơn đáy mắt:


– Ngó dữ chưa tề, dị chết!

Tôi thanh minh như Vương Tử Trực:
– Coi tề, không ngó chộ mô mà khêu!

Khi lên xe đạp đi tiếp, Hoàng phàn nàn, cái phàn nàn mà tôi cho rằng đáng lẽ ra là một sự biết ơn:
– Me phiền dễ sợ! Sáng mô cũng bắt Hoàng ăn bún bò ớn phát sợ luôn.

Cái “ớn phát sợ” của Hoàng lại là cái ước mơ ngoài tầm tay của đám học trò nghèo như tôi. Cứ tưởng tượng mỗi buổi sáng, khi trời Huế còn lành lạnh mà được ăn một tô bún bò giò heo, có váng mỡ vàng mơ ngã hồng trên mặt, nêm thêm một “múi đũa” ớt tương màu huyết dụ chắc sẽ sáng mắt sáng lòng mà học một nhớ mười.

So với một chén cháo gạo với muối trắng của tôi hay một chén cơm chan chút nước mắm ớt của tụi bạn cùng hoàn cảnh ăn điểm tâm trước khi đi học, tự nhiên một cảm giác hơi buồn buồn pha chút tủi thân lặng lẽ dâng lên trong lòng. Bún bò tự nó không có giai cấp, nhưng giai cấp tự nó có bún bò: Phận nghèo bấm bụng nằm co. Giàu thời nem chả, bún bò giò heo!

Sông Hương và cầu Trường Tiền Huế

Tuổi trẻ của Huế êm đềm và dễ hòa diệu sống như giòng sông Hương. Tôi đã quên rất nhanh hình ảnh tô bún bò của Hoàng và chén cháo gạo của tôi. Hai đứa chưa bao giờ dám nói thương nhau mà chỉ lửng lơ nói chuyện đã cùng “thương con đường đi học”.. Mỗi cô gái Huế đều có một bà chúa trong hồn và mỗi cậu con trai Huế đều có một ông hoàng trong bụng. Bà chúa thì thích sang mà ông hoàng thì thích ngọt, cho nên tôi đã nhẹ dạ nghe Hoàng dỗ ngọt mà hẹn hò lần đầu lên chùa Thiên Mụ và về ăn bún bò Kim Long.

Chúng tôi đã phạm vào hai điều tối kỵ làm tan vỡ bao nhiêu mối tình đầu đẹp như mơ của Huế: Đó là hẹn hò lần đầu không được lên chùa Thiên Mụ và không được ăn bún. Đồi Linh Mụ là đất thần kinh, nơi để chiêm bái chứ không phải là nơi tính chuyện ân tình hò hẹn.. Tình cảm trai gái chớm mầm trên đất thánh thì sẽ không bén rễ trong tim người.

Còn ăn bún là trơn tru, không níu kéo như gừng cay muối mặn, nên cuộc tình rồi cũng theo bún mà trôi đi! Rất có thể bà Linh Mụ đã nhìn thấy tôi và Hoàng hò hẹn, cho nên mới “xui” về Kim Long ăn bún. Bởi vậy, nên tới Hè, Hoàng giã từ Đồng Khánh, chuyển qua Jeanne d’Arc để chuẩn bị đi Tây.

Kỷ niệm chia tay cũng êm đềm mà nhức buốt như những cơn mưa phùn tháng Giêng của Huế. Hoàng gởi cho tôi cuốn sổ lưu bút có giấy pơ-luya màu xanh, màu trắng, màu hồng; có thắt nơ tím với câu thơ tiếng Tây quá quen thuộc với tuổi học trò của Huế ghi nắn nót ở trang đầu: “Partir, c’est mourir un peu!… Ra đi là chết trong lòng một ít. Biết nói sao bây giờ?!”.

Tôi là học trò ban B (Toán – Lý Hóa toàn ròn) nên trong đầu lúc nào cũng lùng bùng ròng những đạo hàm và ẩn số của thầy Trần Tuệ và thầy Hồng Giũ Lưu. Huế lại là vùng đất ưa hò vay trả. Đào đâu cho ra chút văn chương man mác nòi tình mà đáp lại cho Hoàng đây. Tôi bỏ cả việc đi trại Hè để cố đào cho ra dăm câu thơ nếu không “ác liệt” thì ít ra cũng có vẻ môn đăng hộ đối với Hoàng.

Bên tê dẫn thơ Tây thì bên ni phải trích thơ Mỹ. Tôi vô thư viện, tìm mục thơ tình lãng mạn để kiếm vài câu làm thuốc. Thơ tình chết tiệt rủ nhau trốn đâu mất cả. Bí quá, bỗng vớ được vài câu thơ đề tựa cuốn sách của Helen Steiner Rice, tôi thấy như mở cờ trong bụng:

“Somebody loves you than you know. And will always be with you wherever you go!” (Ai nào thấu hết tình ai.. Chân mây góc biển thương hoài ngàn năm). Và, để phụ đề Việt ngữ tôi chọn hai câu thơ của Hàn Mặc Tử, đọc đi đọc lại đắc ý nổi da gà: “Người đi một nửa hồn tôi mất, Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ!”.


Kèm với thơ thẩn là cái lược bằng gỗ trầm hương, vật kỷ niệm của mẹ, tôi xin và tặng lại cho Hoàng mà bỗng tự cảm thấy mình sâu sắc như một người tình trong chuyện thần thoại;Năm 1992 về lại con đường cũ, đọc thơ Xuân Hoàng mà nhớ bâng khuâng đốm ớt bún bò và nét cười răng khểnh:

Tôi đi trên đường Lê Lợi dọc sông Hương
Nắng trong suốt lọc qua hai hàng long não
Đất nước đổi thay qua bao mùa giông bão
Con đường xưa vẫn dáng dấp diệu kỳ…

Hơn mười năm, tôi mới có dịp trở lại chen chân trên đường phố Huế vào một buổi chiều 29 Tết. Đi trong nắng cuối Đông dìu dịu thương quen của Huế mà cứ ngỡ như mình mới xa Huế hôm qua. Nghĩ đến mai xa Huế tự nhiên tôi có cảm gíác như mình là kẻ phụ tình với Huế. Huế vẫn lặng lẽ chờ đợi như người tình trăm năm mà tôi thì cứ dứt áo ra đi lang bạt kỳ hồ.

Rồi quả đất cũng tròn và thế giới nầy cũng nhỏ nên “những kẻ phụ tình với Huế” vẫn có lúc gặp nhau ở quê người như một sự tình cờ của định mệnh. Hơn 30 năm sau, rất tình cờ, tôi gặp lại Mộng Hoàng ở Little Sàigòn, Quận Cam Ca-li. Tôi nhận ra Hoàng, bà chủ tiệm ăn có tên vừa Tây vừa Huế, nhờ chiếc răng khểnh “thương bắt chết” vẫn tô điểm cho nụ cười duyên dáng ngày xưa.

Tất nhiên, tôi từ phương xa ghé vào đây cũng vì món “bún bò Huế chính gốc”. Nhắc chuyện cũ, cả hai đứa cùng cười ngặt nghẽo. Giọng Hoàng tuy phảng phất một chút âm vang trời Tây nhưng vẫn chưa phai màu Huế:
– Thời nớ, răng tụi mình dễ thương dễ sợ hí!

Tôi cười cười nhắc lại:
-Sau nớ, còn ai khêu ớt trên răng cho Hoàng nữa không?

Mắt Hoàng bỗng thoáng một chút trầm tư “nhắc làm chi sương khói thuở xa xăm” và ánh lên màu kỷ niệm:
– Lạ chưa tề. Nhắc chi nữa, dị chết!

Tôi nhìn Hoàng. Mắt bâng quơ đậu trên vài ba sợi tóc loà xòa điểm bạc. Hoàng biết và ngúng nguẩy che đi. Hoàng nói thật bất ngờ, giọng trang đài như đọc câu thơ tình thời cổ:
– Chải lược trầm hương nên sớm thành tóc bạc!

Tôi hiểu Hoàng nói gì nhưng phản ứng như anh học trò cả ngố:
– Thơ của ai rứa Hoàng?

Hoàng trả lời “mần đày”:
-Thơ ai? Thơ ông cai bến đò!

Đàn bà Huế mà đã “mần đày” thì Tần Thủy Hoàng cũng phải biết rằng mình đã lỡ vô tình, cần lẳng lặng chui vào ổ rơm nằm ngủ qua đêm.

Rứa đó! Dân Huế suốt đời vẫn là những đứa trẻ thơ mỗi lần nhớ Huế, nhớ những kỷ niệm đã thiu thiu ngủ trong ký ức và trên quê mẹ của mình.

Xa quê, rủ nhau ăn một tô bún bò Huế nấu bằng heo Mỹ, bò Anh, ruốc Tàu, bún Nhật…. Miếng ăn có thể khác nhau vì ngon hay dở, nhưng nỗi nhớ quê nhà thì vẫn hiu hắt giống nhau trong cùng thẳm của mỗi tấm lòng. Bún bò Huế đã vượt sông Mỹ Chánh ra Bắc, vượt đèo Hải Vân vô Nam, vượt trùng dương sang Âu tới Mỹ.

Giữa những phố phường xa lạ quê người, đọc trên một tấm biển của một tiệm ăn nào đó có ghi “Bún Bò Huế”, người Việt tha hương nào mà khỏi thấy lòng mình ấm lại. Bún Bò Huế không còn là riêng của Huế mà hương sả nồng, vị ớt cay, mùi ruốc mặn đã thấm vào mạch đất quê hương và lòng dân tộc Việt đầy yêu thương nhưng cũng lắm đoạn trường chưa có ngày sum họp.

Xuân Hoàng

Bún Bò Bà Đào Đà Nẵng

Trước năm 1975. Đà Nẵng có rất nhiều nhà hàng, quán ăn. Nhưng nói đến món bún bò, thì những người có tâm hồn ăn uống. Chắc chắn cũng đôi lần ghé thăm quán bún bò của Bà Đào! Có lẽ lâu ngày thành thói quen, Bà con gọi tên quán là Bún Bò Bà Đào? Đơn vị tôi ở mãi tận Sơn Trà.

Muốn đi sang Đà Nẵng, phải đi bộ hay quá giang xe nhà binh ra ngã ba Sơn Trà. Sau đó đón xe Lam hay xe Đò đến bến đò An Hải. Từ đây đi phà sang bên kia sông Hàn, mới tới phố Đà Nẵng. Mặc dù cách xa nhiều cây số.

Phải mất khá nhiều thời gian. Nhưng tuần nào tôi cũng ghé Bún Bò Bà Đào một, hoặc hai lần thì mới mãn nguyện. Dẫu cho hôm đó trời mưa to, gió lớn, bão bùng cũng không bao giờ tôi lùi bước trước nguy nan. Đơn giản một điều “chỉ vì ghiền bún bò.”

Quán Bún Bò Bà Đào nằm trên đường Trần Bình Trọng, gần Café Rừng với mấy cái mả đá màu nâu ở đầu đường. Quán chỉ bắt đầu bán vào khoảng 3 giờ chiều. Thực khách ghiền bún bò thường phải đợi rất lâu, vì quán lúc nào cũng đông khách đứng sắp hàng chờ. Nếu không chờ được thì đi các quán khác cũng nằm gần đó.

Bà Đào có nét lai Ấn Độ, các cô con gái của bà cô nào nhìn cũng đều có nét duyên dáng, dễ thương, trong đó có một em tên Đ.. là đẹp nhất, theo con mắt thơ ngây, chỉ biết nhìn thôi, chẳng biết gì của tôi! Lúc đó em Đ..đang học lớp Đệ Tam Trường Trung Học Tư Thục Phan Thanh Giản, tọa lạc kế bên trường Trung Học Công Lập Phan Chu Trinh.

Nghe nói, em Đ..bây giờ đã lập gia đình. Tháng 10, năm 1992. Trước khi rời Sài gòn đi định cư Hoa Kỳ theo chương trình H.O. Tình cờ tôi gặp em ở gần Bệnh Viện Nguyễn Văn Học -Bình Thạnh (Gia Định). Hai đứa chỉ kịp vẫy tay, vẫy tay chào nhau một lần cuối, không kịp một lời từ giã.

Nổi tiếng nhất của quán Bún Bò Bà Đào là món giò móng. Tôi đã chết mê, chết mệt vì nó. Đặc biệt là món ớt sa tế và ớt ngâm giấm, mà không nơi nào có thể sánh bằng. Tô bún bò nóng hổi, vừa ăn, vừa húp, vừa thổi, vị nồng nồng, cay cay làm nước mắt ràn rụa. Nhất là những hôm trời se se lạnh, có một chút mưa bụi vào những tháng cuối năm thì thật tuyệt vời.

Nhiều khi trong bóp hết tiền, cầm thẻ lương chưa được, hoặc Sĩ Quan Thủ Quỹ Sư Đoàn 1 Không Quân là Trung úy HBT, hay Sĩ Quan Kế Toán là Thiếu úy TVH, biệt danh “Thượng Toạ Thích Tâm Cự”, có chuyện bực trong mình không chịu phát sớm.

Lúc đó gương mặt giả bộ mếu máo, năn nỉ, xin bà cho ăn thiếu. Bà lúc nào cũng vui vẻ chấp thuận cho một tín đồ trung thành bún bò, mà không thắc mắc gi cả! Thường thường, mỗi tô chỉ được trang điểm một cái móng. Riêng tôi, thì được bà luôn luôn cho ba, hoặc bốn móng, mà chỉ tính giá bình thường.

Có lẽ bà thương hại cho một tín đồ bún bò đã bỏ công khổ nhọc lặn lội trèo xe Lam từ Sơn Trà, vượt bến đò Sông Hàn, và cuốc bộ mấy chục phút mới đến được quán của bà?

Thành phố Đà Nẵng xưa

Tôi tu ở núi Sơn Trà gần 3 năm. Tính tới, tính lui trên hai bàn tay thì tôi đã thưởng thức món bún bò giò móng không biết bao nhiêu lần! Khi có lệnh thuyên chuyển về Sàigòn, tôi cứ lưỡng lự, vì nghĩ rằng sẽ không còn được tiếp tục thưởng thức Bún Bò Bà Đào nữa!

Cũng như mỗi lần ngồi ăn bún bò, được ngằm các con gái bà mà biết bao chàng trai tứ xứ bị ngây ngất, trong số đó có các bạn khoá 7/68 KQ và tôi. Cuối cùng, tôi cũng phải giã từ Đà Nẵng thân yêu mà trong lòng bịn rịn, với một nỗi buồn khôn nguôi. Không biết là tại thèm bún bò, hay nhớ các con gái xinh đẹp của bà?

Năm 1979, khi được về phép từ Nông Trường Đức Huệ – Long An, nằm giáp biên giới Cambodge. Tình cờ, tôi gặp bà Đào và em Đ.. đang đứng ở bến xe đò Chợ Lớn Mới. Tôi chạy đến chào. Bà nhận ra tôi ngay; dù da dẻ tôi lúc này đen đúa, ẩm mốc mùi phèn.

Tóc tai thì dài bờm xờm, lưng đeo balo dính đầy bùn đất, hai tay khệ nệ hai cái “len” là dụng cụ dùng để đào đất đắp nền nhà và đào kinh. Nhìn tôi giống như tài tử đóng vai chánh trong phim “Zimbo” về thành.

Bà cho biết bây giờ đã giải nghệ bún bò và chuyển sang đi buôn chuyến Đà Nẵng & Sài gòn. Bà cũng vừa mới tạm nghỉ đi buôn vì bị thương, sau tai nạn lật xe đò ở Cam Ranh. Tôi cho bà địa chỉ nhà tôi. Thỉnh thoảng bà và em Đ.. vào Sài gòn giao hàng đều ghé nhà thăm tôi.

Lúc này tôi đã là “Thầy Giáo, Tháo Giầy” bất đắc dĩ. Dạy học để che mắt thế gian! Mỗi lần ghé thăm, bà thường cho tôi mấy chục tré. Đây là một đặc sản của Đà Nẵng, giống như nem Thủ Đức, nhưng có bỏ thêm riềng thái chỉ, trộn nhiều tỏi, được gói vuông vắn trông rất đẹp mắt.

Trước năm 1975, Tré Bà Đệ sản xuất ở số 53 Nguyễn Hoàng, gần Bệnh Viện Đa Khoa Đà Nẵng nổi tiếng là ngon nhất, với hương vị đặc trưng không nơi nào bắt chước được.
Bà kể cho tôi nghe khoảng giữa tháng 3 năm 1975. Trong lúc tình hình chiến sự Vùng 1 đã bắt đầu giai đoạn căng thẳng.

Nhờ quen biết với một Trưởng Phi Cơ của một phi đoàn thường biệt phái công tác ở vùng 1 và 2. Một nửa gia đình bà đã theo phi cơ AC-119K vào Sàigòn trước. Bà liền thuê một căn nhà ở vùng Lăng Cha Cả để tạm trú.

Nhưng sau đó bà quyết định không di tản ra nước ngoài và quay trở về sum họp cùng toàn thể gia đình. Bà cùng các con tiếp tục khôi phục lại quán bún bò. Được một thời gian ngắn, phải tự động dẹp quán, vì tình hình kinh tế khó khăn, bà con phải lo chạy gạo, kiếm cơm hàng ngày chưa đủ, thì làm sao dám ăn với uống ở ngoài được; chưa kể thuế má cao và nhiều phức tạp khác. Nên bà và các con chuyển sang đi buôn chuyến Đà Nẵng – Sài gòn và ngược lại.

Chợ Hàn Đà Nẵng xưa

Gần Tết năm Nhâm Tuất 1982, bà và em Đ.. vào Sàigòn để giao hàng và mua sắm. Không hiểu sao lần này bà ghé nhà tôi lâu hơn? Tình cờ bà hỏi tôi:”Cháu định bao giờ mới lập gia đình. Khi nào cháu lấy vợ nhớ báo cho bác biết, để bác mừng nghen.”

Im lặng một hồi lâu. Tôi trả lời bà: “Thưa bác, cháu không hộ khẩu, không nghề nghiệp, còn tương lai đang ở cuối nẻo đường hầm thì làm sao nuôi nỗi vợ con, mà bày đặt đám cưới, với đám xin. Ai mà gả con cho cháu là họ muốn làm khổ đời con gái họ. Chắc cháu ở vậy suốt đời thôi !“ Đến đây. Bà không nói gì thêm, kéo tay em Đ.. đứng dậy và chào tôi ra về. Đó cũng là lần cuối tôi gặp bà.

Tôi muốn viết thêm nhiều tình tiết éo le nữa, nhưng xin tạm dừng ở đây. Theo lời mấy bà con Đà Nẵng ở San José cho biết. Bà đã mất cách đây vài năm. Họ cũng cho biết thêm, một trong các con gái của bà hiện đang tiếp tục nối nghiệp bún bò. Tôi tin rằng dù chất lượng đến đâu, cũng không bao giờ còn đầy đủ hương vị đậm đà như thuở nào.

Mỗi lần ở San José có họp mặt đồng hương Quảng Nam Đà Nẵng, tôi đều đến tham dự, tự coi mình là đứa con thân yêu của Đà Nẵng. Tôi xem Đà Nẵng là quê hương thứ hai của tôi. Một nơi đã cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp.

Đặc biệt món giò móng của Bún Bò Bà Đào, cũng như tuổi trưởng thành của tôi cũng bắt đầu từ nơi đây. Hy vọng một ngày rất gần, tôi sẽ về thăm Đà Nẵng và sẽ tìm mọi cách để tìm gặp các con của bà, Chắc là bây giờ có người đã lên chức bà nội ,hay bà ngoại?

Tôi muốn được đốt một nén nhang để nhớ đến bà, một bà Mẹ Đà Nẵng thân yêu, mà món giò móng độc đáo do bà nấu. Tôi không bao giờ tìm lại được ở bất cứ nơi chân trời góc bể nào, cho dù tôi có tiền muôn, bạc biển…

Cứ hai năm, tôi về Sàigòn một lần để thăm thân mẫu tôi đã ngoài 90 tuổi đang sống ở đây. Bà nằm một chỗ đã lâu, sau khi bị té gãy xương hông. Bà may mắn được các con cháu gần bên thay phiên chăm sóc, lo lắng, nên tuổi già cũng phần nào đỡ tủi thân. Mỗi lần tôi về thăm. Bà dường như khoẻ hẳn ra.

Về Sàigòn lần này, ngoài việc thăm thân mẫu, tôi nhất quyết đi Đà Nẵng như đã dự tính. Thứ nhất là thăm lại môt nơi đã mang đến cho tôi biết bao nhiêu kỷ niệm khó quên trong đời quân ngũ.

Thứ hai là được đốt một nén nhang trước bàn thờ bà Đào như lòng đã tự hứa. Tuy nhiên, về đến nơi bề bộn đủ thứ việc, do đó tôi không thể rời Sài Gòn được và trong lòng tôi rất áy náy, bức rức vì không thực hiện đúng như lời đã hứa.

Sông Hàn xưa

Còn một tuần trước khi tôi về lại San José. Hôm đó là cuối tháng 07, năm 2008. Bầu trời Sài gòn mây mù và u ám, thỉnh thoảng có môt chút mưa bụi rơi nhẹ. Tôi đạp xe đạp rời nhà từ Tân Định đến Công Viên Tao Đàn để xem các em Hướng Đạo Việt Nam sinh họat ở đây.


Hướng Đạo là một phong trào giáo dục rất hiệu quả, đào tạo thanh thiếu niên trở thành những công dân tốt và hữu dụng cho đất nước, các hướng đạo sinh biết rèn luyện cho chính bản thân, cũng như giúp ích cho xã hội mà trước năm 1975 từ Sài gòn đến hầu hết các tỉnh, thành phố rất là phổ biến.

Một câu nói mà anh chị em Hướng Đạo không bao giờ quên trong đời “ Hướng Đạo một ngày, là Hướng Đạo mãi mãi..” Để nhận ra nhau anh chị em hướng đạo chào nhau bằng cách giơ cao bàn tay phải lên, ba ngón giữa thẳng, nhắc nhở Hướng Đạo Sinh về ba điều của lời hứa:

“Làm bổn phận đối với Tín Ngưỡng Tâm Linh và Quốc Gia tôi – Giúp đỡ mọi người bất cứ lúc nào – Tuân theo Luật Hướng Đạo”. Ngón tay cái đè lên ngón tay út, ngụ ý rằng người mạnh phải có bổn phận bênh vực, che chở ngưới yếu, kẻ thế cô, người lâm hoạn nạn hoặc đang gặp khó khăn.

Ngoài ra, anh chi em Hướng Đạo khi gặp nhau ở bất cứ nơi đâu còn bắt tay trái, vì tay trái là phía của trái tim, để biễu lộ tình cảm thắm thiết, thân thiện giửa tình hướng đạo với nhau và sẳn sàng giúp đỡ nhau khi hữu sự.

Sau ngày 30 tháng 04, năm 1975 phong trào hướng đạo hoàn toàn bị triệt để cấm. Hiện nay, chính quyền không cấm và cũng không cho phép chính thức hoạt động. Các đoàn Hướng Đạo thường tập họp ở các công viên trong thành phố để sinh hoạt vào mỗi Chúa Nhật.

Nhìn các em hồn nhiên vui đùa, ca hát, tập thắt gút dây, thực tập truyền tin Morse, Sémaphore, cùng các trò chơi lành mạnh khác.Tôi như tìm lại được hình ảnh của mình thời thơ ấu, mà tôi tưởng như đã đánh mất từ lâu.Tình cờ, tôi gặp một người đứng kế bên.

Qua trao đổi vài câu chuyện xã giao, nghe anh phát âm giọng Đà Nẵng, tôi đến bắt tay chào làm quen. Anh cho biết, hiện đang làm việc ở Đà Nẵng, mấy hôm nay vào Sài gòn thăm bà chị ruột từ Pháp về, vi bà chị không có nhiều thì giờ ra ngoài nớ.

Hôm nay bà chị hẹn gặp ở công viên Tao Đàn, nên đến đây đợi, thấy các em mặc đồng phục, sinh hoạt ngồ ngộ, nên hiếu kỳ đến xem cho biết. Sau đó anh hỏi tôi có biết gì về Đà Nẵng không?

Tôi trả lời anh, ngày xưa tôi đã từng phục vụ gần ba năm ở Trung Tâm 2 Kiểm Báo tức Đài Radar Sơn Trà – Đà Nẵng – KBC 6526. Còn được gọi là Panama, Monkey Mountain hay Núi Khỉ, vì nơi đây có rất nhiều khỉ, chúng thường di chuyển từng đàn mấy chục con, đặc biệt là trên mình chúng có những đốm màu xám, nâu, vàng… mà dân địa phương gọi là con Vá Hoàng.

Đài kiểm báo Sơn Trà xưa ( núi khỉ)


Đơn vị tôi đóng trên núi Sơn Trà. Quanh năm, suốt tháng mây mù bao phủ. Có nhiều con suối nhỏ chảy dài từ trên cao xuống, với những cái tên rất thơ mộng: Suối Tình, Suối Mơ, Suối Mộng, Suối Hẹn Hò, Suối Đa Tuyền, Suối Tiếc Thương.. Nghe đồn có đôi tình nhân trẻ vì gia đình cấm cản. Họ đã đến đây cùng chết, để giữ trọn lời thề chung thủy?

Những tháng vào mùa hè, đường đi lên núi, phía bên phải là sườn núi với bông trang nở đỏ rực, còn bên trái là vực sâu, hoa sim tím mọc ngút ngàn, và trên cao ánh nắng mặt trời xuyên qua những lớp sương mù bay lơ lững, tạo nên một bức tranh thiên nhiên đẹp hữu tình, mà các hoạ sĩ, dù tài ba đến mấy cũng không thể nào vẽ được.

Sơn Trà cách Đà Nẵng khoảng hơn 10 cây số đường chim bay. Tuy nhiên, tuần nào tôi cũng đều ghé Bún Bò Bà Đào, để thưởng thức cho bằng được món bún bò đặc biệt này. Chỉ có một lần duy nhất, suốt một tuần lễ tôi phải nằm ở Sơn Trà tử thủ vì trận bão Hester thổi qua Đà Nẵng, trước sinh nhật tôi một ngày. Tôi nhớ hôm đó là ngày Thứ Hai 25 tháng 10, năm 1971.

Đây là trận bão lớn nhất chưa từng xảy ra trong vòng 27 năm. Trận bão đã gây thiệt hại vô cùng khốc liệt cho thành phố thân yêu của tôi.

Nhiều nhà cửa đổ nát hoang tàn, bay cả nóc, cây cối tróc gốc gãy nghẽn cả đường xá, xe cộ không thể di chuyễn được, mọi sinh hoạt hàng ngày bị tê liệt hoàn toàn, nên tôi đành phải nằm tại phòng ở Sơn Trà ăn mì kim chi Đại Hàn để tưởng nhớ đến Bún Bò Bà Đào và cầu xin ơn trên che chở cho quán của bà, cũng như bà con Đà Nẵng tránh được thiên tai này.

Anh cười và nói với tôi “Vậy anh là đệ tử trung thành của bà Đào rồi!” Tôi mới nói với anh, dù bây giờ xa Đà Nẵng đã nhiều năm, bước chân tôi đã đi qua nhiều nơi, thưởng thức biết bao món ngon vật lạ trên cõi đời này, nhưng tôi vẫn không thể quên được hương vị đặc biệt của Bún Bò Bà Đào ngày nào.

Tôi hỏi anh có biết bà Đào không? Anh cho tôi biết bà Đào đã mất từ lâu! Nghe đâu khoảng tháng 2, năm 2001? Hiện nay cô con gái út của bà đang là chủ một quán bún bò nằm trên đường NCT, thành phố Đà Nẵng.

Quán vẫn lấy tên là Bún Bò Bà Đào. Tôi hỏi thêm “Anh có cách nào giúp để tôi có thể liên lạc được với các con của bà không?” vì tôi không còn nhiều thời gian lưu lại Sàigòn, và có lẽ khó còn dịp nào khác nữa!

Sông Hàn xưa


Anh bảo tôi chờ một chút. Sau đó lấy điện thoại cầm tay gọi ra Đà Nẵng. Vài phút sau, đứa em gái của anh gọi vào cho biết, vừa mới gọi tới quán bún bò và họ cho số điện thoại của một trong các con của bà đang sinh sống ở Sàigòn.

Thú thật, tôi mừng vô hạn, tưởng chừng như tìm lại được một báu vật đã thất lạc từ lâu! Tôi vội vàng cám ơn anh và gọi ngay số điện thoại mà em gái anh vừa cho.

Đầu dây bên kia là một giọng nữ. Cô hỏi “Làm sao tôi có số điện thoại này?” Tôi trả lời“ Tôi muốn nói chuyện với con bà Đào, vì tôi là chỗ thân tình với gia đình bà từ lâu.”

Cô cho biết tên Đ.. Tôi nhận ngay ra một giọng nói rất quen thuộc ngày nào, dù đã nhiều năm xa cách. Tôi giới thiệu tên tôi, nói lên ước nguyện của tôi là muốn được đến đốt nhang trước bàn thờ bà Đào một lần vì nghe bà mất cách đây nhiều năm. Nay có dịp về Sài gòn, nên phải thực hiện cho được lời đã hứa.

Đ.. cho tôi địa chỉ ở Cây Quéo – Bình Thạnh. Tôi vội tìm đến nơi ngay chiều hôm đó. Tôi gõ cửa mà trong lòng hồi hộp vô cùng.

Một lúc sau, có tiếng lách cách tra vào ổ khóa. Em Đ..ra mở cửa sắt. Em ngước nhìn lên, ngạc nhiên vì không ngờ tôi xuất hiện bất ngờ nơi đây. Cả hai ôm chằm lấy nhau vì quá mừng rỡ.

Tôi đã gặp lại em Đ.. bằng xương bằng thịt, nét duyên dáng vẫn như thuở nào, dù hương thời gian đã làm em thay đổi rất nhiều, Bao nhiêu năm rồi, chứ đâu phải mới hôm qua? Sau đó em mời tôi đi lên lầu, nơi đây đặt bàn thờ bà, để tôi được đốt một nén nhang cho thoả lòng mong ước từ lâu.

Cầm nén nhang trên tay. Tôi chúc Bà được an nghỉ nơi cõi bình yên và khấn nguyện “Xin bà có linh thiêng, hãy phù hộ cho các bạn tôi và tôi, những người đã từng thưởng thức món bún bò độc đáo do bà nấu, luôn luôn an bình trong cuộc sống khó khăn hàng ngày, biết thương yêu và giúp đỡ nhau khi cần thiết.”

Tôi kể cho em Đ.. nghe, trước khi về thăm Sàigòn, tôi có viết một bài về ” Bún Bò Bà Đào” để tặng các bạn tôi, những người trai trẻ trưởng thành trong chiến tranh, từng phục vụ ở vùng địa đầu giới tuyến, với những lần vào sanh ra tử, và đã từng biết hương vị Bún Bò Bà Đào.

Chợ Hàn xưa

Ngoài ra, bà Đào còn có những cô con gái thanh tú, đoan trang, trong số đó có em Đ.. đang ngồi nói chuyện trước mặt tôi. Em đã làm biết bao đấng anh hùng, hào kiệt khắp nơi một thời ngắm nghía, trong số đó dĩ nhiên là có tôi!

Mỗi lần anh chàng nào đến quán, ít ai ăn một tô, thường thường là kêu hai tô. Riêng tôi, ngoài hai tô như thường lệ, tôi còn gọi thêm một tô đặc biệt mang về Sơn Trà, để dành cho sáng mai điểm tâm.

Em hỏi vì sao tôi biết Mạ mất. Tôi trả lời là do các bà con Quảng Nam Đà Nẵng nói lại, khi tôi đến tham dự họp mặt đồng hương Quảng Nam Đà Nẵng được tổ chức ở San José. Tôi vẫn mong ước được đốt một nén nhang trước bàn thờ bà để tưởng nhớ đến bà, vì tôi xem bà như bà Mẹ thứ hai trong đời.

Em nghe tôi nói, mà hai hàng nước mắt rưng rưng. Tôi vội đưa khăn tay cho em lau. Em nói trong thổn thức. Bây chừ, ước chi Mạ em còn sống để nhìn thấy anh và được nghe những lời anh nói, thì hạnh phúc biết chừng nào!

Sau đó em đã kể cho tôi nghe về những khó khăn, gian truân mà gia đình em đã gặp sau cơn đại hồng thủy. Em nói, thỉnh thoảng bà vẫn nhắc đến tên tôi, không biết bây giờ tôi trôi dạt nơi mô? đã có vợ con gì chưa? hay là chọn kiếp không nhà, mùa đông thiếu chăn êm ?

Tôi rất mừng, khi được em cho biết bây giờ cả gia đình đều có cuộc sống tương đối ổn định. Tất cả anh chị em đều có công ăn việc làm tốt đẹp, cơ ngơi đàng hoàng. Riêng, người con gái út tên H… đang nối nghiệp bún bò của bà. Quán vẫn được bà con thương tình đến ủng hộ như ngày xưa.

Chia tay em về. Trong lòng tôi cảm thấy lâng lâng, thoáng một nỗi buồn man mác. Tôi vừa đi, vừa khẽ hát nho nhỏ trong cơn mưa lất phất của buổi chiều Sàigòn.

Thuở ấy có em anh yêu cuộc đời,
Yêu đôi môi hồng điểm nét son tươi.
Yêu đôi tay ngà làn má thắm, tóc xanh buông lả lơi,
Nhớ em nhớ bao thuở ấy.


Thuở ấy có em anh chưa từng sầu,
Chưa đi âm thầm ngoài phố đêm thâu.
Chưa mang hoang lạnh ngoài bến vắng,
Hỡi em em về đâu, cho đời mình luôn nhớ nhau.


(Thuở Ấy Có Em – Nhạc Sĩ Huỳnh Anh )

Tôi nguyện trong lòng. Lần tới về Sàigòn, dù bân rộn đến đâu tôi cũng phải đi Đà Nẵng. Tìm đến quán bún bò của con gái bà, để quay về với kỷ niệm ngày nào. Kỷ niệm của một thời hồn nhiên và tuyệt vời nhất, mà bây giờ chỉ còn trong tiềm thức.

 

Trần Đình Phước
(San José – California 2014)

-----------

Hồng Anh sưu tầm

Hình Internet

 

 

Xem thêm...

CỬU TRẠI CÂU THIÊN ĐƯỜNG HẠ GIỚI TRỞ LẠI

  Khu du lịch Cửu Trại Câu chính thức mở cửa đón khách  
 
Cửu Trại Câu mở cửa từ ngày 27/9/2019 với 85% công viên đã khôi phục hiện trạng trước khi động đất xảy ra. Cửu Trại Câu (tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc) đã chính thức mở cửa đón du khách sau gần 2 năm đóng cửa bảo trì.
 
Thành Đô được điểm tô bằng những công trình, di tích cổ xưa. Những khu phố cổ, những ngôi chùa có tuổi đời hơn 1000 năm tuổi, những ngôi nhà tranh nằm giữa rừng trúc… tất cả hợp thành khung cảnh truyền thống trong những bộ phim kiếm hiệp nổi tiếng. Đến đây, du khách sẽ tham quan Vũ Hầu Từ - ngôi chùa thờ vị quân sư lỗi lạc Khổng Minh Gia Cát Lượng đời Tam Quốc. Chùa được bày trí theo bố cục điện vũ, bên ngoài khuôn viên chùa trồng cây tùng, cây bách trông rất trang nghiêm và cổ kính.Rời Thành Đô, du khách sẽ tiếp tục lên đường đến với Cửu Trại Câu – một vùng núi non hùng vĩ ở độ cao 4.000m so với mặt nước biển, có cảnh quan thiên nhiên được xếp vào loại độc nhất vô nhị ở Trung Quốc. Đến đây, du khách sẽ choáng ngợp trước vẻ đẹp của hàng trăm hồ nước lớn nhỏ từ các ghềnh thác đổ về. Đặc biệt màu nước trong hồ có thể thay đổi tùy theo ánh sáng của mặt trời phản quang vào buổi sáng hay buổi chiều...
 
Trung Quốc Công viên quốc gia Cửu Trại Câu (Tứ Xuyên) mở cửa trở lại nhưng chỉ giới hạn 5.000 khách tham quan mỗi ngày.
Theo đại diện Thuận Phong Travel, hai năm cải tạo sau động đất, khoảng 85% thắng cảnh trong Cửu Trại Câu đã sẵn sàng chào đón khách tham quan. Tuy nhiên, du khách không thể tự do đến Cửu Trại Câu mà phải đi theo đoàn do các công ty du lịch được cấp phép tổ chức.
Mỗi hộ chiếu chỉ được mua một vé tham quan Cửu Trại Câu và phải đặt trước trên trang web chính thức của khu du lịch này.
Các khu vực được mở cửa bao gồm: Thụ Chính Câu (trừ hồ Lửa), Tắc Tra Câu và một phần Nhật Tắc Câu (từ Nặc Nhật Lãng đến hồ Ngũ Hoa).
Những điểm nổi bật của Cửu Trại Câu đều nằm trong khu vực tham quan như: thác Nặc Nhật Lãng, hồ Ngọa Long, hồ Ngũ Sắc, hồ Gương, hồ Thụ Chính, hồ Song Long...
Hình ảnh có liên quan
 
 
 
 

    Lưu Diệc Phi ✿ Tiểu Long Nữ (Thần Điêu Đại Hiệp)  

 
【Lưu Diệc Phi】Tiểu Long Nữ (Thần Điêu Đại Hiệp) Liu Yi Fei great actress and
perfect singer in her own movies.
Hình ảnh có liên quan
Cửu Trại Câu
Từng là phim trường của những bộ phim đình đám như "Tây du kí" và "Thần điêu đại hiệp",
Cửu trại câu chắc chắn không xa lạ gì với những fan mê phim kiếm hiệp.
Khi xem phim, nhiều bạn đã không ít lần ồ lên trước vẻ đẹp tuyệt mỹ của cảnh sắc,
nhiều bạn ngỡ ngàng trước cảnh đẹp mê hồn của vùng đất này.
Kết quả hình ảnh cho Thần điêu đại hiệp hd youtube

'Thiên đường hạ giới' Cửu Trại Câu lúc vào thu

Cửu Trại Câu được mệnh danh là một trong những thiên đường hạ giới, thu hút đông đảo du khách khắp nơi tới thưởng lãm hàng năm.

'Thien duong ha gioi' Cuu Trai Cau luc vao thu hinh anh 1
Cửu Trại Câu là khu du lịch sinh thái nổi tiếng nằm ở huyện Cửu Trại thuộc phía bắc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc.
'Thien duong ha gioi' Cuu Trai Cau luc vao thu hinh anh 2

Đây được xem là một trong những thắng cảnh bậc nhất Trung Quốc, xếp hạng 5 các khu bảo tồn đa dạng sinh học thế giới.

'Thien duong ha gioi' Cuu Trai Cau luc vao thu hinh anh 3

Cảnh sắc 4 mùa đều mang vẻ đẹp mê hoặc, nhưng mùa thu mới là thời điểm đẹp nhất, với thảm lá chuyển sắc vàng rực bên dòng nước trong xanh nhìn xuống tận đáy.

'Thien duong ha gioi' Cuu Trai Cau luc vao thu hinh anh 4

Cửu Trại Câu được hình thành trên dãy núi đá vôi trầm tích thuộc các cạnh của cao nguyên Tây Tạng, nổi tiếng nhờ hệ thống các hồ đa sắc và thác nước nhiều tầng

.
'Thien duong ha gioi' Cuu Trai Cau luc vao thu hinh anh 5

Cửu Trại Câu bao gồm 3 thung lũng xếp theo hình dạng chữ Y là Nhật Tắc Câu, Tắc Tra Câu và Thụ Chính Câu. 

'Thien duong ha gioi' Cuu Trai Cau luc vao thu hinh anh 6

Dọc theo các thung lũng có rất nhiều hồ nước, thác nước đẹp, từng xuất hiện trong nhiều bộ phim truyền hình nổi tiếng như Anh hùng, Tây du ký...

'Thien duong ha gioi' Cuu Trai Cau luc vao thu hinh anh 7

Cửu Trại Câu có 114 hồ lớn nhỏ và hơn 17 thác nước.

'Thien duong ha gioi' Cuu Trai Cau luc vao thu hinh anh 8

Các hồ nước có rất nhiều màu, và những màu này phản quang ánh nắng mặt trời theo thời gian các buổi trong ngày, tạo nên cảnh tượng đẹp mắt.

'Thien duong ha gioi' Cuu Trai Cau luc vao thu hinh anh 9

Mùa thu có không khí mát mẻ, dễ chịu với độ cao dao động từ 2.00-4.500 m so với mực nước biển.

'Thien duong ha gioi' Cuu Trai Cau luc vao thu hinh anh 10

Thác nước Trân Châu tuyệt đẹp xuất hiện trong bộ phim nổi tiếng Tây du ký.

'Thien duong ha gioi' Cuu Trai Cau luc vao thu hinh anh 11

Đặc biệt, có khoảng 70 km đường gỗ trong Cửu Trại Câu, nối liền các điểm tham quan, dành cho những du khách thích đi bộ thong dong. Các con đường này được xây dựng theo nhiều kiểu, nhưng đều đẹp, lãng mạn và là nơi tuyệt vời để ghi lại những khuôn hình thơ mộng.

'Thien duong ha gioi' Cuu Trai Cau luc vao thu hinh anh 12

Thắng cảnh này đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1992, và khu dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 1997

'Thien duong ha gioi' Cuu Trai Cau luc vao thu hinh anh 13

Dù mỗi mùa đều có nét riêng và vẻ đẹp khác nhau, vào mùa thu nơi đây cảnh sắc được đánh giá là đẹp nhất, lãng mạn nhất.

'Thien duong ha gioi' Cuu Trai Cau luc vao thu hinh anh 14

Bạn có thể tìm mua các loại thuốc bắc, nấm, thảo dược của người dân tộc Tạng A Ba sống ở đây. Thịt bò yak cũng rất ngon và nhiều đạm. 

Nếu thích các đồ thủ công mỹ nghệ như đan lát, thêu, tranh vẽ, bạn cũng có thể mua về làm kỷ niệm hoặc làm quà tặng vì các sản phẩm của người Tạng và Khương nổi tiếng khắp tỉnh Tứ Xuyên

.
'Thien duong ha gioi' Cuu Trai Cau luc vao thu hinh anh 15

Tuy nhiên, với đặc sản là những món cay xé lưỡi, cộng thêm cách nấu nướng nhiều dầu mỡ, các món ăn ở vùng này không hợp với khẩu vị của người Việt Nam. Bạn cũng nên chuẩn vị thêm đồ ăn mang theo.



 
Ý nghĩa của địa danh Cửu Trại Câu có nghĩa là 9 cái trại của người Tạng. Quần thể thác cao hơn 2000- 3000 mét so với mực nước biển và hệ thực động vật phong phú, nơi đây là địa điểm du lịch vô cùng hấp dẫn với bạn bè năm châu. Được tạo nên bởi thể đối xứng hình chữ Y với ba con câu (con kênh) là Nhật Tắc Câu, Tắc Tra Oa Câu và Thụ Chính Câu nên Cửu Trại Câu là một không gian đa chiều, đa sắc, đa âm. Bước chân đến vùng đất này, du khách bắt gặp ngay Thụ Chính Câu được ví như chiếc cổng chào đưa du khách vào hành trình khám phá. Thụ Chính Câu có chiều dài 13,8 km bao gồm 40 bến nước chiếm 40% số bến toàn Cửu Trại Câu. Chỉ mới mở màn hành trình thôi mà ta đã thấy một mặt nước trong vắt, xuyên suốt xanh thăm thẳm.

Cửu Trại Câu thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, nằm trong khu vực Châu tự trị dân tộc Tạng A Bá
và dân tộc Khương, huyện Cửu Trại Câu, cách Thành Đô 400 km.
 
Cửu Trại Câu có nghĩa là 9 cái trại của người Tạng.
 
Truyền thuyết kể rằng, Cửu Trại Câu chính là những mảnh vỡ từ chiếc gương được làm
từ gió và trăng của nam thần Đạt Qua tặng nữ thần Yêu Lạc Sắc Mô.
 
Quần thể thác cao hơn 2000 – 3000 mét so với mực nước biển và hệ thực động vật phong phú.



Hình ảnh có liên quan



 
Khắp không gian ngập tràn tiếng gió ngân vang, tiếng chim lảnh lót…
và cứ thế suốt dọc đường đi cảnh nối cảnh như trong một bức tranh thủy mặc.
 
Hồ Thuỷ Cung có độ sâu 40 – 50 mét. Rừng lá phong đỏ, lá tùng vàng,
 lá trúc xanh, hòa quyện cùng sắc trời soi mình trong làn nước trong vắt.
 
Trong một khe núi dài hơn 5km có tới 108 hồ nước tạo thành một chuỗi ngọc lấp lánh.
 
Xung quanh là các dãy núi tuyết trắng xoá, xen giữa là những dòng nước biếc
tạo nên một khu thắng cảnh như trong chuyện cổ tích.
 
Nước ở Cửu Trại trong vắt, xanh thăm thẳm, nhìn tới tận đáy hồ cách 30m, lấp lánh
 dưới ánh nắng mặt trời khiến khung cảnh hai bên hồ càng thêm lung linh, huyền ảo.
 
Mỗi hồ có một vẻ đẹp riêng và được tự nhiên sắp đặt thành những cảnh đẹp tuyệt mỹ, trong đó
 có hồ Công Chúa, hồ Lưu Mao, hồ Hoả Hoa, hồ Quý Tiết, hồ Ngũ Hoa, hồ Gấu Trúc, hồ Tiễn Trúc…
 
Nơi này còn có rất nhiều cánh rừng nguyên sinh với hơn 200 loại cây, chủ yếu là
Vân sam, hồng sam, thông dầu, hồng đuôi ngựa, song tử diệp, phong, liễu đỏ, đỗ quyên…
 
...và còn nhiều loài thú quý hiếm, trong đó có loài Gấu Trúc (Panda).

Ở Cửu Trại có khoảng 17 thác nước, trong đó có thác Nhược Nhật
rộng 100m, cao hơn 20m, nước đổ ầm ầm cả ngày lẫn đêm.
 
Không phải vô tình mà người ta đặt cho Thành Đô cái biệt danh mỹ miều là Thiên đường nơi hạ giới. Nhìn từ xa, Thành Đô trông giống như một ốc đảo xanh được bao quanh bởi những dòng sông, con suối, núi non, vẽ nên bức tranh sơn thủy hữu tình. Thành Đô còn được điểm tô bằng những công trình, di tích cổ xưa. Những khu phố cổ, những ngôi chùa có tuổi đời hơn 1000 năm tuổi, những ngôi nhà tranh nằm giữa rừng trúc… tất cả hợp thành khung cảnh truyền thống trong những bộ phim kiếm hiệp nổi tiếng. Cửu Trại Câu thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, nằm trong khu vực Châu tự trị dân tộc Tạng A Bá và dân tộc Khương, huyện Cửu Trại Câu, cách Thành Đô 400 km.

Hùng vĩ nhất là thác nước Thụ Chính, đây là thác nước được tạo thành bởi
sự kéo dài của 40 hồ nước, xuyên qua một cánh rừng rậm.


 
Hồ Thuỷ Cung có độ sâu 40 – 50 mét. Nhìn từ xa ngỡ như lòng hồ khe khẽ sóng gợn, lại gần thấy tĩnh lặng không chút động. Các bờ kè cát trắng óng ánh trong sắc nắng đầu thu, uốn như mình con rồng dát bạc dang phơi nắng. Khi gió khẽ lướt nhẹ qua hàng cây, người ta thấy hình ảnh con rồng đang uống nước.
 
Rời cổng chào một đoạn rất xa, bạn sẽ đang tiến vào thẳng trái tim Cửu Trại. Do sự kết hợp
của một phần thác Nặc Nhật Lãng, hồ Kính, hồ Trân Châu, hồ Ngũ Hoa, thác Gấu Trúc, hồ Gấu Trúc,
hồ Rừng Trúc mà nơi đây lắng đọng tất cả tinh hoa của Cửu Trại Câu.


 
Mùa xuân tuyết trắng đậu trên cành lá, dòng thác tuyết vẫn không ngừng chảy,
mơ hồ cảm nhận như tiếng đàn tưng bừng.
 
Mùa hạ, thác tuôn xối xả, nước cuốn vội vã tất cả như hoà cùng nhau điểm nhịp trống cuộc đời.

 
Mùa thu non thanh, nước bích, lá phong thắm đỏ, nhuộm vàng liêu xiêu rơi trong gió bạn sẽ không nỡ ra đi.
 
Cứ như là cảnh tiên dưới hạ giới ấy nhỉ?
 
Chỉ miêu tả nhiêu đây chắc không áp - phê, chi bằng mí bạn hãy tự mình khám phá để được xem tận nơi,
nhìn tận cảnh. Đến thử một lần xem sao !


 
Khe Cửu Trại nổi tiếng với những hồ nước xanh biếc, thác nước, bãi cát,
những cảnh rừng nguyên sinh, đỉnh núi tuyết và bãi đá hoa cương
 
Trong một khe núi dài hơn 5km có tới 108 hồ nước tạo thành một chuỗi ngọc lấp lánh
Thời điểm ghé thăm Cửu Trại Câu đẹp nhất trong năm là vào mùa thu
 
Khi những hàng cây đã bắt đầu chuyển màu trên cành và mặt hồ
trong soi bóng mảng trời xanh ngắt trên cao.
 
Cửu Trại được gọi là vùng đất “biển hồ” với 108 hồ ao lớn nhỏ, mặt hồ
trong xanh, phẳng lặng như mặt gương soi.
 
Như bức tranh thu.
 
Năm 1990, Cửu Trại Câu được Cơ quan Du lịch quốc gia Trung Quốc đánh giá
là địa chỉ đứng đầu trong 40 khu du lịch tốt nhất Trung Quốc.
 
Hùng vĩ nhất là thác nước Thụ Chính, đây là thác nước được tạo thành bởi
sự kéo dài của 40 hồ nước, xuyên qua một cánh rừng rậm.

Ở Cửu Trại có khoảng 17 thác nước, trong đó có thác Nhược Nhật rộng 100m,cao hơn 20m, nước đổ ầm ầm cả ngày lẫn đêm.

Một góc Hoàng Long: Những hồ nước có đáy màu xanh này được tạo nên
trong khoảng thời gian từ 100 đến vài trăm năm.
 
Khu bảo tồn tự nhiên Cửu Trại Câu nằm giữa các ngọn núi của tỉnh Tứ Xuyên, có nhiều loài động thực
vật quý hiếm. Hàng triệu du khách đã tới để đắm mình trong làn nước trong vắt và xanh như ngọc bích.
 
Đông tàn, xuân tới, các thác nước bắt đầu tấu những bản nhạc chào đón mùa xuân.
 
Nước chảy tràn trong Kính Hồ vào tháng sáu, mở đầu mùa mưa ở Cửu Trại Câu. 80%
lượng mưa trong khu bảo tồn trút xuống từ từ tháng 5 tới tháng 10.
 
Nơi bao bọc biết bao huyền thoại và truyền thuyết.

Lá cây nhuộm vàng trên dòng thác Thu Chính.
 
Thượng Quý Hồ, nơi náu mình của những con rồng phun lửa trong truyền thuyết.
Đây cũng là nguồn nước của những người dân Tây Tạng sống trong khu bảo tồn này.
 
Hồ Ngũ Sắc đóng băng vào mùa đông. Truyền thuyết kể rằng, nữ thần Semo của người Tây
Tạng đã dừng chân nơi đây để rửa mặt. Mỹ phẩm của nàng mãi mãi lưu lại trong lòng hồ.

Bình minh vươn mình trên 10 tầng tháp Trân Châu.
 
Trời đất giao hòa và tĩnh lặng trên hồ Ngũ Hoa. Người Trung Hoa gọi đây là cảnh sắc
thần tiên và cho rằng, dưới vòm trời, không nơi đâu khả dĩ sánh được với Trại Cửu Câu.

 
Đây là một trong những bí mật vẻ đẹp và màu sắc của nước ở Cửu Trại Câu, khác với HuangLong màu sắc nền đất tạo ra, ở CTC màu sắc có lẽ do những loại rêu, những cây thông già chìm trong nước và các loại thủy thực vật ... tạo ra, màu sắc biến ảo vô cùng và hấu hết mọi người đã đến đây đều cho rằng màu nước ở CTC không nơi đâu có thể so sánh được (?!)...

 
Cửu Trại Câu được UNESCO công nhận là Di sản thế giới (1992) và là một trong những điểm du lịch hút khách nhất ở Trung Quốc. Ảnh: pixabay.
Cửu Trại Câu (Tứ Xuyên, Trung Quốc) được UNESCO công nhận là Di sản thế giới (1992) và là một trong những điểm du lịch hút khách nhất ở Trung Quốc. Ảnh: pixabay.
Theo các nhà nghiên cứu địa chất, Cửu Trại Câu được hình thành trên vùng trầm tích đá vôi cao 4.000 mét so với mực nước biển, tạo nên một hệ sinh thái phong phú. Với 114 hồ nước long lanh giữa vùng núi rộng lớn, Cửu Trại Câu là điểm đến đa màu sắc, quyến rũ và huyền ảo.
Không gian đầy màu sắc của Cửu Trại Câu khi thu sang. Ảnh: pixabay
Không gian đầy màu sắc của Cửu Trại Câu khi thu sang. Ảnh: pixabay.
Sau trận động đất 7 độ vào ngày 8/8/2017, Cửu Trại Câu bị hư hại nặng nề và buộc phải đóng cửa. Đến ngày 8/3/2018, Di sản thế giới từng được UNESCO công nhận mở cửa thử nghiệm một số hạng mục. Tuy nhiên, công viên này tiếp tục đóng cửa vào ngày 28/6/2018 vì lo sợ các rủi ro địa chất có thể xảy ra.
Trước khi trận động đất xảy ra, nơi đây đón 20.000 du khách mỗi ngày.

HÀNH TRÌNH NGHẸT THỞ TỚI CỬU TRẠI CÂU, HOÀNG LONG

Với việc cuốc bộ gần chục cây số ở độ cao gần 4.500 m tới hồ Ngũ Sắc, nhiều du khách phải thở oxy hoặc nằm vật ra đường nghỉ khi tham quan khu du lịch Hoàng Long và Cửu Trại Câu (Trung Quốc)

Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 1

Cửu Trại Câu - 'Thiên đường nơi hạ giới'

Được hình thành trên vùng núi đá vôi trầm tích, Cửu Trại Câu có hàng trăm hồ nước và khoảng 100 ghềnh thác lớn nhỏ đẹp như tranh vẽ.
Nơi đây có 9 ngôi làng của người Tạng (tỉnh Tứ Xuyên) nên người ta quen gọi là "Cửu Trại". Toàn bộ diện tích của khu bảo tồn vào khoảng 60.000 ha, nằm ở độ cao khoảng 2.500 m so với mực nước biển, bao gồm 3 thung lũng xếp theo hình dạng chữ Y mang tên Nhật Tắc Câu, Tắc Tra Câu và Thụ Chính Câu.
"Thiên đường nơi hạ giới" là câu nói ví von phổ biến của người Trung Quốc về Cửu Trại Câu. Khu bảo tồn sinh quyển thế giới này được UNESCO công nhận từ năm 1992.
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 2
Bao quanh Cửu Trại Câu là những dãy núi bị tuyết phủ quanh năm, được gọi là núi Tuyết Sơn.
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 3
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 4
Hồ Thu Chính, một trong những điểm tham quan đầu tiên khi đặt chân đến Cửu Trại Câu.
Đoàn du lịch chúng tôi có mặt tại điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc những ngày đầu tháng 5 mùa hè. Dường như không hề quá lời để thừa nhận Cửu Trại Câu là "nơi phải đến một lần trong đời". Theo thông tin từ công ty du lịch Vietravel, với một tour du lịch trọn gói 6 ngày 5 đêm giá trên 20 triệu đồng, tha hồ được chụp các bức ảnh đẹp, thoải mái check-in thì nơi đây rất xứng đáng cho người yêu phong cảnh ở Việt Nam cân nhắc, lựa chọn.
 
Chỉ mới 9 tháng trước (ngày 8/8/2017), Cửu Trại Câu bị một trận động đất kinh hoàng, 7 độ richter khiến ít nhất 24 người chết và 500 người bị thương. Lúc xảy ra sự cố có gần 60.000 người ở hiện trường, trong đó có 40.000 du khách trong nước và quốc tế đang tham quan. Theo lời anh A Bảo - hướng dẫn viên du lịch thì họ bị mắc kẹt không còn đường về và phải nhờ sự cứu hộ của trực thăng mất rất nhiều thời gian mới có thể thoát ra khỏi khu vực này. 
 
Khi phóng viên có mặt tại đây một ngày đầu tháng 5, đường đi vẫn còn ngổn ngang gạch đá, được vun vén gọn vào một bên lề đường và phủ bạt che chắn. Xung quanh đó còn nhiều con suối, hồ bị cạn nước do dòng chảy bị đất đá ngăn lại cùng nhiều nguyên nhân khác. Riêng thác nước hùng vĩ Nuoriliang, một trong những thắng cảnh nổi bật nhất của Trung Quốc, là trường quay trong bộ phim Tây Du Ký, nay chỉ toàn bùn đất, gạch đá từ trên cao dội xuống, là địa điểm không thể đặt chân đến. Hầu hết du khách bị cảm giác tiếc nuối vì không được một lần nhìn thấy nó.
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 5
Dọc đường ở Cửu Trại Câu vẫn ngổn ngang gạch đá sau trận động đất hồi tháng 8/2017.
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 6
Song Long, điểm dừng chân mới đưa vào sử dụng trong công viên Cửu Trại Câu.
Cửu Trại Câu đóng cửa từ trận động đất đó khoảng 7 tháng. Ngày 8/3/2019 vừa qua, Chính phủ Trung Quốc mới cho phép khu du lịch nổi tiếng này đón khách trở lại. Tuy nhiên, các đoàn khách cả trong nước lẫn quốc tế chỉ được tham quan một phần thay vì toàn bộ như trước. Những địa điểm được phép đặt chân tới là hồ Trường Hải, hồ Kính Hải, hồ Ngũ Sắc và hồ Thu Chính.
Anh Dương Trạch Cường, Trưởng đoàn khảo sát du lịch người Trung Quốc cho biết khi đến Cửu Trại Câu vào dịp tháng 10, 11 cảnh sắc sẽ đẹp hơn rất nhiều bởi ngoài mặt hồ nước xanh ngắt còn được tô điểm bởi màu vàng, đỏ của lá cây trên các triền núi.
Tuy nhiên, với những gì được chứng kiến, du khách Việt Nam nào đã dành trọn kỳ nghỉ lễ 30/4 cho chuyến đi Cửu Trại Câu vừa qua là điều không hề lãng phí, thậm chí nhiều người đã cảm thấy rất mãn nhãn.
Về phía đoàn du lịch có sự góp mặt, may mắn có mặt đúng vào ngày nắng to vàng vọt, trời xanh ngắt, đẹp đẽ, tiết trời không quá lạnh dù ở độ cao hơn 4.000 m. Khác hẳn với một buổi chiều hôm trước khi đoàn vừa tới khách sạn, mưa rơi nặng hạt, thời tiết xầm xì, rất đáng lo ngại.
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 7
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 8
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 9
Hồ Kính Hải, điểm dừng chân có màu nước xanh soi bóng như gương. 
Bên trong công viên Cửu Trại Câu, tại hồ Kính Hải, những dải mây trắng lượn lờ trên ngọn núi cao từ 3.000 - 4.500 m, soi mình xuống hồ nước rộng mênh mông với màu xanh sẫm màu kỳ lạ khiến một số chị em phụ nữ trầm trồ chạy khắp ven bờ tìm góc ảnh đẹp nhất. Dọc đường đi xuất hiện nhiều cảnh đẹp hơn cả một số điểm chính thức được dừng chân nhưng ôtô không được phép đỗ lại. Mọi người ngồi trên xe đành giơ các thiết bị quay chụp qua cửa kính và bấm bụng tiếc nuối.
Nước các hồ ở Cửu Trại Câu có màu xanh gần giống nước biển ở nhiều hòn đảo nhưng đậm hơn và mang sắc thái rất khác. Màu sắc này được tạo nên bởi sự hình thành từ những khoáng chất đặc biệt. Chính vì vậy, dù thời tiết có nắng hay mưa, mặt nước hồ "thiên đường nơi hạ giới" vẫn không thay đổi.
Tôi nửa tiếc nuối nửa ao ước, giá như bây giờ là mùa thu sẽ chụp được những bức ảnh "đỉnh cao" bởi sự pha trộn sắc màu vàng, đỏ của lá cây với màu xanh của trời và nước.
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 10
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 11
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 12
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 13
Hồ Trường Hải có hình lưỡi liềm, là hồ lớn nhất và sâu nhất khu thắng cảnh này, với độ sâu tới 103 m và dài 7,5 km. Do bị ngược ánh sáng mặt trời vào buổi chiều, hồ hiện lên qua ảnh bị nhạt màu đi khá nhiều. Phía xa là dãy núi tuyết trắng tạo nên khung cảnh đa sắc màu.
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 14
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 15
Hồ Ngũ Sắc không còn mang nhiều màu và bị cạn nước kể từ sau trận động đất hồi tháng 8/2017. Truyền thuyết kể rằng, nữ thần Semo của người Tây Tạng đã dừng chân nơi đây để rửa mặt. Mỹ phẩm của nàng mãi mãi lưu lại trong lòng hồ.
Cửu Trại Câu xanh ngắt nhìn từ trên cao Danh thắng Cửu Trại Câu là một trong 5 điểm đến hấp dẫn nhất Trung Quốc. Nơi đây vừa mở cửa đón khách trở lại sau trận động đất 7 độ richter cách đây 9 tháng.

Đi bộ 7 km trong điều kiện thiếu không khí ở Hoàng Long

Hoàng Long (tiếng Anh là Huanglong) không phải là điểm đến dự tính ban đầu của đoàn du lịch chúng tôi. Tuy nhiên, được quảng cáo là nơi đẹp như tiên cảnh, là "đối thủ" cạnh tranh của Cửu Trại Câu, cả đoàn quyết định "đầu tư" thời gian thêm hơn nửa ngày nữa để khám phá.
Từ Cửu Trại Câu đến Hoàng Long mất khoảng 100 km, đường đồi núi ngoằn ngoèo, nhiều đoạn xóc nảy người. Khi đến nơi, chúng tôi được hướng dẫn di chuyển bằng cáp treo chừng 5 phút lên một ngọn núi, rồi từ đó tiếp tục đi bộ tới hồ Ngũ Sắc, danh thắng mà chúng tôi khi trở về nhận xét là "phê" nhất toàn bộ hành trình.
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 16
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 17
Di chuyển bằng cáp treo lên đỉnh núi rồi tiếp tục cuốc bộ hơn 3 km để tới hồ Ngũ Sắc - Hoàng Long nằm phía sau ngôi đền.
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 18
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 19
Hồ Ngũ Sắc tự nhiên, có mỏ khoáng sản nên phát quang, cộng thêm sự phản chiếu của núi non và rừng xuống mặt nước nên nó hiện lên đa sắc, từ màu xanh lá cây, màu lam, màu xanh dương, màu vàng đến màu ngọc lam sáng.
Danh lam thắng cảnh này được UNESCO ghi nhận là kho tàng di sản thế giới bởi một thung lũng hẹp với nhiều hồ nước đa màu sắc. Hồ Ngũ Sắc - Hoàng Long là một hồ nước lớn tự nhiên, bên trong có mỏ khoáng sản tạo ra sự phát quang, cộng thêm sự phản chiếu của núi non và rừng xuống mặt nước. Nhờ đó nó hiện lên đa sắc với các màu xanh lá cây, lam, xanh dương, vàng hay ngọc lam sáng. Ngay sát hồ là một ngôi đền. Bước tới đây bạn sẽ có cảm giác như sắp trèo lên tới đỉnh núi tuyết đang phủ một màu trắng xoá.
Chưa kịp nhìn thấy hồ Ngũ Sắc, tiến sát gần chân núi tuyết trắng, các nam thanh nữ tú ai nấy đều òa lên sung sướng, thi nhau phô diễn với những bức hình đẹp. Được biết, trong số những người này, họ phần lớn đều từng đi du ngoạn nhiều nước trên thế giới nhưng với việc sau khi trải qua chặng đường gian khổ mới đến được đây, nhìn thấy khung cảnh như thế này không phải là điều ai cũng từng được trải qua. Lúc đó, chúng tôi có cảm giác như chỉ bước thêm vài trăm mét nữa là có thể lên được đỉnh Tuyết Sơn.
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 20
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 21
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 22
Để lên được "thiên đường" thứ 2 của hành trình, nhóm phóng viên và các du khách khác đều phải trải qua một chặng đường đi bộ hết lên dốc lại xuống đồi, vừa đi vừa về là hơn 7 km trong điều kiện không khí loãng và tiết trời khá lạnh, (khoảng 9 độ C). Có những thời điểm chúng tôi chỉ bước chân được 20 m lại phải ngồi nghỉ, cứ thế liên tiếp, một phần do vác đồ nghề máy ảnh trên vai nặng hơn 10 kg. Dọc hành trình, khá nhiều du khách khác dù đi người không cũng phải nằm lăn ra đất hoặc ghế bên đường vì quá sức. Một số phụ nữ thậm chí cả nam giới phải dùng biện pháp thở oxy tại một ngôi nhà dịch vụ gần đó.
 
Nhiều nhóm du khách cứ bước chân mãi mà không thấy tới, dọc đường gặp các đoàn người đi ngược chiều họ thường dùng tiếng Trung Quốc để hỏi: "Còn xa không?", "Bao nhiêu phút nữa tới nơi?"... Câu trả lời duy nhất của chúng tôi là động viên, không dám nói cụ thể bao xa vì sợ họ không đủ kiên nhẫn: "Cố lên, còn quãng đường ngắn nữa thôi". 
Điều khiến nhiều người thắc mắc suốt cả chặng đó là không thấy dịch vụ xe điện chở khách như ở các điểm du lịch khác? Lẽ ra thay vì xây dựng con đường bộ hành như thế này có thể làm thêm lối cho xe điện? Câu trả lời được Ban quản lý khu di tích Hoàng Long trả lời ngay cho chúng tôi, đó là vào năm 2019, dự án này sẽ hoàn thành. Du khách đến đây sẽ không phải cuốc bộ mệt nhọc hàng tiếng nữa mà sẽ chỉ mất 20 phút ngồi trên xe điện để tới hồ Ngũ Sắc và chân núi Tuyết Sơn.
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 23
Đích đến hồ Ngũ Sắc dưới chân núi Tuyết Sơn. Từ đây trở về bến, du khách có thể chọn đường bộ hoặc trở lại ga cáp treo với quãng đường đi bộ hơn 3 km để mua vé chiều về (rẻ hơn chiều lên).
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 24
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 25
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 26
Nhiều thanh niên lẫn người cao tuổi đều nằm vật thở dốc vì không khí loãng, thiếu oxy. Nếu không mặc đủ áo ấm ở độ cao 4.000 m này rất dễ bị sốc, cảm.
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 27
Dịch vụ thở oxy dọc lối lên hồ Ngũ Sắc - Hoàng Long.

Đường đến Thiên đường nơi hạ giới

Để có mặt ở Cửu Trại Câu, du khách Việt Nam chỉ có một lựa chọn duy nhất là sử dụng đường bay của Vietnam Airlines từ Hà Nội tới thành phố Chengdu (Thành Đô) với gần 2 giờ đồng hồ. Thành Đô cách Hà Nội hơn 1.000 km (1.100-1.200 km, tương đương với TP.HCM). Nếu du khách xuất phát từ Sài Gòn phải nối chuyến ra Nội Bài rồi bay tiếp tới Thành Đô.
Có mặt tại thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên, du khách tiếp tục di chuyển quãng đường hơn 400 km bằng xe khách 45 chỗ ngồi khoảng 8 - 10 tiếng tùy vận tốc để đặt chân tới khách sạn gần công viên Cửu Trại Câu.
Nằm trong chương trình thúc đẩy tăng trưởng du lịch, 8 năm qua Chính phủ Trung Quốc đã cho khởi công xây dựng tuyến đường sắt cao tốc 350 km/h nối Lan Châu với Thành Đô, dài 463 km đi qua khu vực Cửu Trại Câu. Sau khi hoàn thành, dự án này góp phần rút ngắn thời gian từ 21 tiếng đồng hồ như hiện nay bằng đường bộ xuống còn 4 tiếng với đường sắt. Riêng việc di chuyển từ thủ phủ của Tứ Xuyên tới "Thiên đường nơi hạ giới" sau này sẽ chỉ còn hơn 1 giờ đồng hồ.
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 28
Đường phố Thành Đô qua khung cửa khách sạn.
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 29
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 30
Dọc đường từ Thành Đô tới Cửu Trại Câu có nhiều hầm xuyên núi. Hầm dài nhất lên tới 15 km.
Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 31
Khu khách sạn để nghỉ qua đêm trên đường từ Cửu Trại Câu về Thành Đô. Do đường sá nhỏ hẹp, tối tăm, ôtô không được phép di chuyển vào buổi tối.
Theo thống kê của ngành du lịch nước này, trước thời điểm tháng 8/2017, mỗi ngày khu du lịch Cửu Trại Câu đón từ 20.000 du khách trở lên, trong đó 80% là người Trung Quốc, 20% là du khách quốc tế. Sự cố động đất cách đây 9 tháng cũng khiến thắng cảnh này bị ảnh hưởng ít nhiều. Kể từ thời điểm mở của đón khách trở lại hồi tháng 3/2018, nơi đây vẫn bị hạn chế với khoảng 2.000 lượt người mỗi ngày.

Hanh trinh nghet tho toi Cuu Trai Cau hinh anh 32

Khám phá thiên đường hạ giới Cửu Trại Câu ở Trung Quốc

Cửu Trại Câu hấp dẫn du khách thập phương đến để thăm quan những hồ nước tuyệt đẹp có một không hai ở Trung Quốc. Bài viết dưới đây sẽ phần nào giúp bạn có được thông tin và ngắm nhìn những hình ảnh thơ mộng, lãng mạn của khu bảo tồn thiên nhiên này.

Cửa Trại Câu ở đâu?

Cửu Trại Câu là khu du lịch thắng cảnh, vườn quốc gia thuộc châu tự trị dân tộc Khương, dân tộc Tạng A Bá, ở miền Bắc tỉnh Tứ Xuyên, được hình thành trên vùng núi đá vôi trầm tích.
Cửu Trại Câu
Điểm đến nổi tiếng ở Tứ Xuyên, Trung Quốc
 
Tại đây có hàng trăm hồ nước và những ghềnh thác lớn nhỏ. Điều đặc biệt ở đây chính là 3 thung lũng xếp theo hình chữ Y mang tên Nhật Tắc Câu, Tắc Tra Câu và Thụ Chính Câu. Khu bảo tồn thiên nhiên này nằm cuối phía Nam của dãy núi Dân Sơn, cách Thành Đô khoảng hơn 300km về phía Bắc. Tại đây có 9 ngôi làng của người Tạng nên được mọi người gọi là Cửu Trại.
Cửu Trại Câu
Phong cảnh thiên nhiên say đắm lòng người

Phương tiện đi lại khi đến Cửu Trại Câu

Để đến được Cửu Trại Câu thì bạn cần đi qua trung chuyển tại Thành Đô, sau đó bạn có thể thuê xe dến đây với khoảng cách gần 560km. Từ Thành Đô, Tứ Xuyên bạn bắt tiếp chuyến xe đi trung tâm thành phố Xinamen hoặc bến xe Chandianzi, giá vé khoảng 145 tệ/người (vào khoảng 484.000 đồng/người).
Cửu Trại Câu
Cửu Trại Câu

Giá vé vào tham quan khu thắng cảnh Cửu Trại Câu

Giá vé vào tham quan khu du lịch sinh thái Cửu Trại Câu trong mùa cao điểm là 300 tệ (vào khoảng 1 triệu đồng/người). Tuy nhiên, từ giữa tháng 11 trở đi sẽ là mùa thấp điểm, vé vào cổng giảm chỉ còn 80 – 100 tệ (vào khoảng 270.000 – 330.000 đồng/người).
Cửu Trại Câu
Điểm đến không thể bỏ qua ở Trung Quốc

Thời điểm nên du lịch Cửu Trại Câu Trung Quốc

Phong cảnh ở đây hấp dẫn du khách với bốn mùa quanh năm, mỗi mùa đều mang đến một vẻ đẹp khác nhau. Vào mùa xuân khi tuyết bắt đầu tan thì cũng là lúc du khách đến đây sẽ được tận hưởng không khí, thời tiết dễ chịu nhất và có thể ngắm nhìn những loài hoa đủ loại màu sắc trên thung lũng.
Cửu Trại Câu
Mùa Xuân ở Cửu Trại Câu
 
Vào mùa hè, du khách sẽ có được trải nghiệm thú vị tại các hồ nước và cảm nhận không khí mát mẻ, đầy sức sống.
Cửu Trại Câu
Không khí mát mẻ mùa hè
 
Còn khi đến đây vào mùa thu, bạn sẽ được chiêm ngưỡng cảnh sắc màu vàng thơ mộng. Hầu hết du khách đều muốn ghé tham quan Cửu Trại Câu vào mùa thu để có thể tận mắt ngắm trọng khung cảnh có một không hai này.
Cửu Trại Câu
Thời điểm thích hợp để du lịch Cửu Trại Câu
 
Mùa đông Cửu Trại Câu ở Trung Quốc đều được bao phủ bằng tuyết trắng, tạo nên một không gian thơ mộng làm say đắm lòng người.  
Cửu Trại Câu
Thời tiết mùa đông cũng đẹp, lãng mạn không kém

Thiên đường Cửu Trại Câu thu hút du khách

Cửu Trại Câu ở Trung Quốc nằm trên độ cao dao động từ 2.000- 4.500m so với mực nước biển với tổng diện tích 54.297ha, trong đó có hơn 80% diện tích là rừng. Nơi đây có đến hơn 200 loài chim cũng như một số loài thực vật và động vật quý hiếm như gấu trúc khổng lồ, khỉ vàng,…Từ lâu, Cửu Trại Câu đã nổi tiếng với những kỳ quan tuyệt đẹp, đặc biệt là những thác nước hùng vĩ, những đỉnh núi phủ tuyết trắng,…
Cửu Trại Câu
Kỳ quan thiên nhiên có một không hai
 
Với 114 hồ lớn nhỏ và hơn 17 thác nước, theo kinh nghiệm đi Cửu Trại Câu của nhiều người thì bạn sẽ không thể đi hết tất cả các địa điểm tham quan này chỉ trong 1 ngày, nên bạn cần lựa chọn kỹ các địa điểm mà mình muốn đế nhất nhé!
Cửu Trại Câu

Địa điểm tham quan khi đến Cửu Trại Câu

Hồ Trường Hải

Với vị trí cao nhất, là điểm tận cùng và cũng là hồ lớn nhất trong hệ thống du lịch Cửu Trại Câu với chu vi 7,5km, sâu hơn 100m. Nước hồ được tích tụ từ băng tan trên những đỉnh núi xung quanh.
Cửu Trại Câu
Hồ Trường Hai ở Cửu Trại Câu Trung Quốc

Trân Châu Than

Đây là thác nước ngọc trai, trong những thác ở Cửu Trại Câu thì Trân Châu Than có được vị trí ngay trước cánh rừng nguyên sinh hoang sơ. Thác nước là điểm đến lý tưởng để du khách có thể đi bộ và ngắm nhìn khung cảnh xung quanh.
Cửu Trại Câu
Khung cảnh hoang sơ, dân dã

Hồ Ngũ Sắc

Nhắc đến hồ Ngũ Sắc thì phần nào bạn đã biết đến đây là hồ có các màu xanh lá cây, lam, xanh dương, vàng hay ngọc lam. Tất cả đã làm nên một bức tranh sinh động, hoang sơ và hấp dẫn du khách đến tham quan.
Cửu Trại Câu
Điểm thăm quan độc đáo ở Cửu Trại Câu

Con đường gỗ ở Cửu Trại Câu

Trong những cung đường lớn dành cho các tuyến xe bus và nối liền giữa các điểm tham quan của Cửu Trại Câu là con đường gỗ nổi tiếng. Đến đây, du khách có thể thoải mái tản bộ và ngắm cảnh xung quanh.
Cửu Trại Câu
Thu hút đông đảo du khách thập phương

Hồ Gấu Trúc

Với làn nước trong xanh, hồ Núi Trúc được biết đến là địa điểm tham quan thú vị của Cửu Trại Câu. Du khách đến đây sẽ bị say đắm trước cảnh đẹp lãng mạn trước cảnh đẹp  của Hồ Gấu Trúc.
Cửu Trại Câu
Phong cảnh hữu tình tuyệt đẹp

Mua gì ở Cửu Trạc Câu?

Du khách có thể tìm mua các loại thuốc bắc, nấm, thảo dược của người dân tộc Tạng A Ba sống ở Cửu Trại Câu. Những món ăn đặc sản địa phương như: thịt bò Yak cũng rất ngon và nhiều đạm, sườn bò lông dài khun khói, các loại khoai,…Nếu có đến đây du lịch thì nhớ thử qua những món đặc sản hấp dẫn này nhé!
đặc sản Cửu Trại Câu
Món ăn truyền thống của con người Cửu Trại Câu Trung Quốc
 
Nếu bạn là người thích các đồ thủ công mỹ nghệ như đan lát, thêu, tranh vẽ thì bạn cũng có thể mua về làm kỷ niệm hoặc làm quà tặng vì các sản phẩm của người Tạng và Khương nổi tiếng khắp tỉnh Tứ Xuyên về cho bạn bè, gia đình,…
Đồ thủ công ở Cửu Trại Câu
Những món đồ thủ công được khâu tỉ mỉ
 
Với những thông tin về Cửu Trại Câu ở trên đã phần nào giúp bạn có được những thông tin cần thiết cho chuyến tham quan tại địa điểm nổi tiếng ở Trung Quốc này. Hi vọng bạn sẽ có nhiều trải nghiệm thú vị và hấp dẫn tại đây với gia đình, bạn bè.
Hình ảnh có liên quan
 
 
 
     (Ảnh: ST)    
 
    Sưu tầm & tổng hợp by Nguyễn Ngọc Quang   
 
 
Xem thêm...

Malta: Quốc đảo của Công Giáo

Malta:

Quốc đảo của Công Giáo

   

 

Cộng hoà Malta là một Giáo Hội lớn. Phải có dịp tự đến và khám phá thì mới thấy quốc gia này thú vị như thế nào. Quốc đảo Địa Trung Hải có lịch sử đức tin Công Giáo từ lâu đời.

Malta 6

Thật vậy, vào năm 60 SCN, trên đường đến Rôma kháng án, Thánh Phaolô Tông Đồ đã bị đắm tàu ở phía bắc đảo Malta và nghỉ đông ở hòn đảo. Thánh Tông Đồ sống sót cách thần kỳ sau khi bị rắn độc cắn và được tôn sùng như một vị thần; ngài chữa lành bệnh tật, thu phục nhiều linh hồn, rửa tội cho chúa đảo và đặt làm Giám Mục đầu tiên cũng là vị Thánh đầu tiên của Malta, Thánh Publiô.

Ngay từ thế kỷ đầu của Kitô Giáo cho đến tận hôm nay, Malta là một trong những Giáo Hội nhiệt thành và bình an nhất của thế giới Công Giáo. Malta chỉ rộng 316 km2, tức chỉ bằng 3/4 huyện Củ Chi của Tp. HCM, và số dân số chưa đến 500.000 người.

Tuy vậy, bạn phải mất 2 năm để đi hết các nhà thờ ở Malta nếu mỗi ngày đi một nhà thờ, và nếu chỉ đi lễ Chúa Nhật thôi thì mất 14 năm để đi được tất cả số đó: 732 ngôi nhà thờ.

Hòn đảo nhỏ nhất của quốc gia là hòn Comino cũng có một ngôi nhà nguyện trang nghiêm, và ngạc nhiên là hòn đảo nhỏ bé này chỉ có 4 tín hữu. Theo niên giám Toà Thánh năm 2004, 97% người Malta là tín hữu Công Giáo, và Công Giáo Rôma là quốc giáo của nước này.

Hãy cùng khám phá một số nhà thờ được nhiều người tham quan nhất.

1. Nhà thờ Thánh Phaolô Đắm Tàu (thủ đô Valletta)

Malta 2

Cửa chính của ngôi thánh đường cổ kính và đáng yêu nhất Malta nằm trên một con đường nhỏ hẹp, thậm chí hẹp đến nỗi khó mà chụp được toàn diện mặt tiền nhà thờ. Trong nhà thờ lưu giữ hai thánh tích nghìn năm: a phần xương cổ tay của Thánh Phaolô, và một phần cây cột mà Thánh Phaolô đã chết trên đó khi chịu tử đạo ở Rôma.

Vào lễ Thánh Phaolô Đắm Tàu (10/2), ngày lễ được yêu thích ở Malta, một bức tượng Thánh Phaolô được kiệu quanh thành phố Valletta với kèn trống inh ỏi và hoa giấy được rải khắp đường xá.

2. Nhà thờ đồng chính toà Thánh Gioan Tẩy Giả (thủ đô Valletta)

Malta 3

Được xây dựng bởi các Hiệp Sĩ dòng Thánh Gioan vào khoảng năm 1578, nhà thờ này là trụ sở của dòng cho đến khi dòng bị giải thể, và thập niên 1820 nhà thờ Thánh Gioan Tẩy Giả trở thành đồng chính toà với nhà thờ chính toà Thánh Phaolô ở cố đô Mdina.

Mặt tiền nhà thờ Thánh Gioan Tẩy Giả đã phản ảnh một nội thất tốn kém: những trang hoàng đầy cuốn hút, không một centimet vuông nào mà không có tô vẽ, chạm trổ, đính cẩm thạch, thảm thêu, và nhất là bức hoạ vô giá "Thánh Gioan bị trảm quyết" của danh hoạ Caravaggio. Dưới nền nhà thờ là gần 400 hiệp sĩ đã được chôn cất.

3. Nhà thờ giáo xứ Chúa Giêsu Biến Hình (làng Lija)

Malta 4

Giáo xứ của làng Lija được khai lập năm 1594, và nhà thờ Đấng Cứu Thế của giáo xứ được xây dựng sau đó 100 năm. Tiền đường nhà thờ, giống như nhiều nhà thờ ở Malta khác, đẹp với vẻ đơn sơ, không loè loẹt. Trong nhà thờ, những bức tường màu đỏ bên hông bàn thờ là nổi bật nhất. Nhà thờ chứa đựng bức hoạ nổi tiếng "Chúa Giêsu biến hình" của hoạ sĩ Mattia Preti.

4. Vương Cung Thánh Đường Đền Thánh Quốc Gia Đức Trinh Nữ Ta' Pinu (làng Gharb, tỉnh Gozo)

Ở phía tây Gozo, hòn đảo lớn thứ nhì của nước Malta, nơi thủ phủ Victoria/Rabat của tỉnh, một phong cảnh đẹp thu hút người nhìn: từ đỉnh cao của khu vực, bạn có thể chiêm ngắm phong cảnh bên dưới được điểm tô với làng mạc và nhà thờ.

Đi về phía bắc tầm 10 phút, nhà thờ Đức Mẹ Ta' Pinu đứng trơ trọi giữa không gian. Đây là ngôi thánh đường thường được chọn làm nơi tổ chức hôn lễ nhất Malta.

Nhà thờ đã tồn tại sau vài lần người muốn phá huỷ nhờ những chuyện kỳ lạ. Nó bắt đầu có tên Ta' Pinu (nghĩa là "của Pinu") khi Pinu Gauci hiến tặng bức hoạ danh tiếng "Đức Trinh Nữ Mông Triệu" vào khoảng năm 1600. Ngày nay bức ảnh được đặt trong một phòng nguyện nhỏ biệt lập phía sau cung thánh.

Năm 1883, có hai người địa phương đã được nghe tiếng Đức Mẹ phát ra từ bức ảnh: Đức Mẹ kêu gọi một người tên là Kharmni Grima đọc 3 kinh Kính Mừng mỗi ngày để kính 3 ngày Đức Mẹ ở trong mồ trước khi hồn xác lên trời; Đức Mẹ kêu gọi một người khác là Francesco Portelli sùng kính vết thương ẩn khuất của Chúa Giêsu khi vác Thập Giá.

Nhiều phép lạ đã xảy ra tại nhà thờ này và số khách hành hương ngày càng tăng không ngừng. Năm 1932, Đức Giáo Hoàng Piô XI ban tước Vương Cung Thánh Đường cho nhà thờ.

Năm 1990, Thánh Gioan Phaolô II viếng thăm nhà thờ và dâng kính Đức Mẹ 5 ngôi sao bằng vàng. Năm 2010, bức ảnh Đức Trinh Nữ được mang đến Valletta và được Đức Bênêđictô XVI dâng một bông hồng vàng.

Năm 2017, những bức vẽ mosaic được trang trí bên hông nhà thờ mô tả các mầu nhiệm Mân Côi và cảnh trí của Gozo.

5. Đền Thánh Đức Mẹ Mellieha (Mellieha)

Malta 1

Đền Thánh nằm trên đỉnh đồi nhìn ra vịnh Mellieha.

Đền Thánh được tin là đã được nhiều Giám Mục thánh hiến từ thế kỷ thứ 5.

Thật là một nơi thu hút và khó lìa xa. Có một bức tường được bao phủ bởi những vật dâng kính: các bảng tạ ơn dâng lên Đức Mẹ Mellieha, có cả những vật rất biểu tượng như quần áo trẻ em đến mũ bảo hiểm để nói lên những ơn lành mà người ta đã nhận được khi cầu xin Mẹ nơi đây.

Bức tường khác khắc hoạ những khung cảnh nhiệm màu của biển cả: bão, quái vật biển, tàu thuyền bị sóng vùi, và ở trên cùng là Đức Mẹ và Chúa Giêsu Hài Đồng trên một đám mây cao đang trông xuống.

Bên kia đường là một hầm nguyện thú vị: Đức Mẹ Hang Động, được xây dựng bởi một người Sicilia rất yêu mến Đền Đức Mẹ Mellieha, bên trong đặt một bức tượng Đức Mẹ bị chặt đầu do quân Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ như một chứng tích về thời kỳ quân Thổ xâm lược Malta.

Một hành trình đến Malta là một kỷ niệm rất đáng nhớ và đầy thú vị, nơi Thánh Phaolô đã chạy xung quanh và thay đổi mọi thứ, nơi mà mọi cảnh vật, câu chuyện và con người đều khiến bạn cảm thấy tin, cậy, mến không phải chỉ là ba nhân đức đối thần, mà là điều làm nên quốc gia Malta, điều giải thích cho việc làm thế nào mà sau bao thế kỷ khốn đốn vì bị hàng chục ngoại bang xâm lược, họ vẫn sốt sắng với đức tin Công Giáo và niềm nở chào đón mọi du khách.

Theo Aleteia

Gioakim Nguyễn lược dịch

----------

TÌM HIỂU VỀ QUỐC ĐẢO MALTA

 

 

MALTA nằm thuộc Địa Trung Hải, Malta có nhiều bãi biển tuyệt đẹp với làn nước xanh biếc, trong vắt đặc trưng. Vào mùa hè, nước ấm rất thích hợp để bơi lội. Mùa đông, nơi đây là điểm tham quan bằng thuyền lý tưởng.

 Malta là quốc đảo xinh đẹp nằm gần khu vực trung tâm biển Địa Trung Hải, bao gồm 7 hòn đảo. Là một nước nhỏ cách Ý khoảng 93km, nhưng Malta nổi tiếng với những khu du lịch, những danh lam thắng cảnh đẹp mê hồn. Nơi đây có hơn 100 khách sạn hiện đại, rất nhiều nhà hàng và trung tâm giải trí trên một diện tích chỉ vẻn vẹn có 316km2.

 

Malta – quốc đảo đầy nắng và ẩn chứa nhiều bí mật - Ảnh 1.
Malta – quốc đảo đầy nắng và ẩn chứa nhiều bí mật - Ảnh 2.
Malta – quốc đảo đầy nắng và ẩn chứa nhiều bí mật - Ảnh 3.
 
Malta được coi là một trong những cái nôi cổ nhất của nền văn minh Địa Trung Hải. Malta còn được xem như một điểm du lịch ấn tượng với những câu chuyện lịch sử, hầm tối thời Trung cổ, những lâu đài và thánh đường cổ kính.
 
Thủ đô Valletta đồng thời là di sản thế giới được xây dựng từ năm 1566. Những đường phố nhỏ hẹp trong lòng Valletta chứa đựng trong đó nhiều kiệt tác kiến trúc nghệ thuật mang đậm phong cách Châu Âu cổ điển như những lâu đài mang xu hướng nghệ thuật xứ Baroc, những pháo đài và những tòa nhà có từ thời Trung Cổ, di tích lịch sử của những kim tự tháp thời cổ đại và hơn 30 di tích thời tiền sử.
 
Malta – quốc đảo đầy nắng và ẩn chứa nhiều bí mật - Ảnh 4.
Malta – quốc đảo đầy nắng và ẩn chứa nhiều bí mật - Ảnh 5.
Malta – quốc đảo đầy nắng và ẩn chứa nhiều bí mật - Ảnh 6.
 
Trên đảo Malta có những hiện tượng huyền bí hấp dẫn du khách. Nếu nhìn từ trên cao xuống đảo sẽ thấy hàng trăm giao thông hào như những luống cày chạy song song và cuối cùng hòa vào làm một ở phía chân trời xa tít.
 
Những "luống cày" rộng từ 63cm đến 123cm, nhiều sâu 70cm. Câu hỏi được đặt ra là ai đã mất công đào những giao thông hào như vậy và nhằm mục đích gì? Ngoài ra, trên đảo Malta còn có một số cung điện bằng đá khối khổng lồ. Điều hết sức ngạc nhiên là không có bất cứ dấu hiệu nào chứng tỏ có người đã từng sống trong khu vực này…

 

Với vị trí địa lý được thiên nhiên ưu đãi, Malta là nơi các nhà đạo diễn nổi tiếng thế giới thường xuyên lựa chọn để quay phim, đưa Malta trở thành một Hollywood thu nhỏ của châu Âu.
 
Nếu bạn yêu thích series phim Game of Thrones, bạn nên đến thăm Tu viện St Dominic, cổng Mdina, pháo đài Ricasoli, cung điện San Anton… Đây là những địa điểm tại Malta được nhà sản xuất bom tấn lấy cảm hứng làm bối cảnh phim.
 
Malta – quốc đảo đầy nắng và ẩn chứa nhiều bí mật - Ảnh 8.
Malta – quốc đảo đầy nắng và ẩn chứa nhiều bí mật - Ảnh 9.
 
Là "trái tim của Đại Trung Hải", Malta có quá nhiều bãi biển đẹp có thể nhắc tới. Bạn có thể ngâm mình trong làn nước mát mẻ tại bể bơi St Peter hoặc tụ tập với bạn bè trên bãi biển cát vàng ở đảo Ghajn Tuffieha.
 
Các vùng nước trong mát tạo nên nhiều điểm lặn biển lý tưởng nhất ở châu Âu. Hãy chắc chắn lặn qua các hang động và rặng san hô của đảo Comino để trải nghiệm nơi mà nước biển có màu xanh lam đẹp nhất.

 

 

► ◄  Kim Kỳ sưu tầm  ► ◄

 
Xem thêm...

Những địa danh người Sài Gòn đều biết

Những địa danh người Sài Gòn đều biết 

✧✧✧

Những tên gọi như ngã tư Bảy Hiền, Ngã Ba Ông Tạ, vòng quay Lăng Cha Cả, Ngã Ba Chú Ía, vòng xoay Cây Gõ ( cầu chữ Y), ngã năm Chuồng Chó… được đặt cho các nút giao thông nổi tiếng ở Sài Gòn vốn dĩ xuất phát từ những biểu tượng một thời ngày xưa.

Ngã Tư Bảy Hiền ngày xưa

Ngã Tư Bảy Hiền

 Ngã tư Bảy Hiền, giao lộ nổi tiếng của TP.HCM. Hằng ngày, khi đi qua đây nhiều người vẫn hay nhắc với tên Bảy Hiền. Tuy nhiên, ông là ai? Đối với một số người vẫn là một điều bí ẩn. 

Là một điền chủ giàu có và thương người, luôn ra tay cứu giúp người nghèo khổ, khi về thế giới bên kia, tên ông được người đời nhớ mãi và đặt thành địa danh ‘ngã tư Bảy Hiền’.
Ngã tư Bảy Hiền, giao lộ nổi tiếng của TP.HCM gắn với các trục đường Trường Chinh – Cách Mạng Tháng Tám – Hoàng Văn Thụ - Lý Thường Kiệt (P.3, Q.Tân Bình). Hằng ngày, khi đi qua đây nhiều người vẫn hay nhắc với tên Bảy Hiền. Tuy nhiên, ông là ai? Đối với một số người vẫn là một điều bí ẩn. 
 
Để giải mã địa danh này, những ngày qua Thanh Niên đã tìm hiểu và gặp được một người là cháu đời thứ 3 của ông, đó là ông Trần Văn Đức (80 tuổi, ngụ số 4 Trường Chinh, P.3, Q.Tân Bình). Ông Đức cho biết: “Sinh ra và sống ngay ngã tư Bảy Hiền từ xưa đến nay. Ông Bảy Hiền tên thật là Trần Văn Hiền, ông bác của tui. Ông nội tui là Trần Văn Nghĩa với ông Hiền là hai anh em ruột”.
Ngã Tư Bảy Hiền ngày nay
 
Theo ông Đức, ông Bảy Hiền trước đây là điền chủ nổi tiếng giàu có và thương người. Ông ở trong một biệt thự lớn ở ngay góc ngã tư sát Trung tâm văn hóa Q.Tân Bình bây giờ. Khi đó, con đường ở ngã tư này rất nhỏ, nhà ông ngăn cách với đường bằng hàng rào cây kiểng được cắt bằng rất đẹp. Nhà có đất rộng và thuê nhiều người làm.
 
Đất dọc theo đường Hoàng Văn Thụ hướng lên đường Cộng Hòa và ngang theo đường Hoàng Hoa Thám bây giờ đều là ruộng lúa, hoa màu của ông.
Nổi tiếng là người giàu có nhưng ông Hiền rất thương người. Khi xưa, vào ngày rằm hàng tháng, ông đăng báo thông tin thí bạc giúp đỡ người nghèo. Những đồng bạc xu điếu đựng đầy hai thúng được người nhà để trước cổng và phân phát.
 
Tuy nhiên vào một hôm mọi người tập trung chen lấn đông quá khiến hai đứa trẻ đi theo chết ngạt. Sự việc diễn ra, ổng rất đau buồn và kể từ đó không đăng báo phát tiền nữa mà hễ ai có khó khăn thì đến ngã tư vào nhà trình bày hoàn cảnh khó khăn ông sẽ giúp đỡ.
 
“Sở dĩ ngã tư có tên như ngày nay là vì ông bác tui tên Hiền, sinh thứ bảy gọi là Bảy Hiền. Khi mất thì ngã tư này cũng được người đời nhớ ơn và đặt theo tên ổng. Khi ổng mất, thì được chôn ở khu vực Lăng Cha Cả.
 
Đến năm 1945, người dân ở miền ngoài di cư vào Sài Gòn sinh sống, làm nhà lấn vào khu vực Lăng Cha Cả. Thấy vậy, chính quyền chế độ cũ mới ra luật nhà nào lấn vào khu vực lăng bao nhiêu mét thì hàng tháng phải trả bấy nhiêu tiền (khi đó 100 tiền/ thước)”, ông Đức cho biết.
 
Ngã Ba Ông Tạ
 
Ngã ba Ông Tạ ở quận Tân Bình thì ai cũng biết. Ở đây nổi tiếng về món thịt chó bao đời. Thế nhưng ít người biết tên ngã ba được đặt theo tên vị lương y chuyên bán và chữa bệnh bằng thuốc nam nổi tiếng Sài Gòn trong những năm thế kỷ XX. Đến nay, nhiều người vẫn còn truyền tụng về ông về tài năng, đức độ và lòng yêu thương con người.
 
Ngã Ba Ông Tạ ngày xưa
 
Nhắc đến địa danh ngã ba ông Tạ, nhiều người sống lâu đời trên đường Phạm Văn Hai (P.5, Q.Tân Bình) vẫn còn nhớ rất rõ.
Theo bà Tô Thị Mai (78 tuổi, ngụ 20 Lưu Văn Trú, P.5) ông Tạ trước đây có mở một hiệu thuốc tên Đông Y Thủ Tạ nằm góc đường Phạm Văn Hai - Cách Mạng Tháng Tám bây giờ. 
 
Ông là người thầy thuốc giỏi và nổi tiếng. Đa phần người bệnh tìm đến cơ sở của ông khám bệnh và lấy thuốc về uống đều khỏi. Tiếng lành đồn xa, nên hàng ngày có nhiều người khắp các tỉnh Nam Kỳ và đồng bằng Sông Cửu Long tìm về chữa bệnh, thành thử cửa hiệu ông không ngớt người ra vào hằng ngày.
 
Ngoài chữa bệnh, ông còn là nhà hảo tâm thường xuyên giúp đỡ người nghèo. Trước cửa hàng bán thuốc ông luôn để một thùng nhôm đựng tiền lẻ. Một số người khi tìm về đây chữa bệnh nghèo khó ông đều không lấy phí, thậm chí còn bốc tiền lẻ giúp đỡ tiền ăn uống và tiền xe đò về quê.
 
Thời chiến tranh, nhiều phụ nữ có con nhưng không có điều kiện nuôi đều đem đến hiệu thuốc để lại và thầy nhận nuôi, cho ăn học lớn khôn nên người.
Khi thầy thuốc Thủ Tạ qua đời, đám tang ông có rất đông người tập trung về viếng. Quan tài được kéo bằng cỗ xe ngựa 6 con, chạy từ nhà lên ngã tư Bảy Hiền vòng theo đường Cộng Hòa xuống vòng xoay Lăng Cha Cả và về chôn tại nhà. Sau khi mất, hiệu thuốc được truyền lại cho con cháu tiếp tục phát triển, đến nay vẫn còn.
 
Ngã ba Ông Tạ trước đây là giao lộ giữa đường Lê Văn Duyệt – Thoại Ngọc Hầu (nay là Cách Mạng Tháng Tám – Phạm Văn Hai), khi ông mất, nhiều người qua đây đều nhớ và tiếc thương ông Thủ Tạ, từ đó ngã ba này cũng gọi với tên thân thuộc là ngã ba Ông Tạ.
 
Ngã Ba Ông Tạ ngày nay
 
Theo Lương y Nguyễn Văn Huệ, cháu nội Ông Tạ, trong thời kỳ người Pháp đô hộ ngã ba này được dựng lên một cái tháp cao để người dân từ các khu vực Củ Chi, Hóc Môn vào Sài Gòn buộc phải qua đây để lính kiểm soát, gọi là ngã ba Tháp.
 
“Ông nội tôi tên là Trần Văn Bỉ (1918 - 1983) quê Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang). Sau khi tu và học nghề thuốc ở núi Bà Đen (Tây Ninh), ông về Sài Gòn và nhận thấy ngay ngã ba này có một vị trí thuận lợi do có chùa và xung quanh đều là đất trống, nên chọn nơi đây làm điểm khám chữa bệnh. Với kiến thức học được trên núi ông đã dùng những cây thuốc nam chữa bệnh và chuyên chữa cho trẻ con và phụ nữ”, Lương y Huệ cho biết.
 
Theo Lương y Nguyễn Văn Huệ, Ông Tạ chữa rất nhiều bệnh, được mọi người tin tưởng tìm đến. Nhiều người mới kể nhau ở ngã ba này có một ông thượng tọa khám bệnh rất giỏi và chuyên trị về thuốc nam, chỉ cần đến đây được ông chữa thì đa phần sẽ hết bệnh.
 
Vì vậy sau khi ông mất đi thì tên ngã ba Tháp cũng được người dân đọc thành ngã ba Ông Tạ.
Vào những năm 1954, người dân miền Bắc di cư vào khu vực buôn bán và hình thành ngôi chợ tại khu vực này cũng đặt tên thành chợ Ông Tạ, từ đó gắn với địa danh người Sài Gòn xưa cho đến nay.
 
Sau 1975, trong quá trình đô thị hóa, khu chợ này cũng được dời về gần cuối đường Phạm Văn Hai và lấy theo tên đường. Trên đất khu chợ cũ cũng được xây nên một ngôi trường khang trang phục vụ dạy học.
 
Mộ thầy thuốc nam Thủ Tạ hiện được đặt trong một lăng tẩm cao hơn 5 m
trong hẻm trên đường Phạm Văn Hai và được con cháu thờ cúng.
 

Vòng xoay Lăng Cha Cả (ngã 6 Cộng Hòa)

Vòng xoay này nằm gần Ngã tư Bảy Hiền cũng thuộc phường 4 (quận Tân Bình), một trong những nút giao thông quan trọng của TP. HCM. Đây là điểm giao cắt của một số trục đường lớn như Cộng Hòa, Hoàng Văn Thụ, Trần Quốc Hoàn, Lê Văn Sỹ, Bùi Thị Xuân. Vòng xoay được xây dựng khá nổi bật với quả địa cầu hai màu xanh, đỏ, đường kính khoảng 2 mét.

Theo tư liệu được ghi chép lại, nơi đây vốn là khu vực lăng mộ 2.000 m2 của giám mục người Pháp có tên Bá Đa Lộc.

Vòng xoay Lăng Cha Cả năm 1970 nhìn từ máy bay 

Ông Bá Đa Lộc tên thật là Pierre Pigneaux (sinh năm 1741, quốc tịch Pháp). Năm 1765, sau khi ông được sắc phong linh mục thì sang Việt Nam truyền giáo và phò tá Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn. 

Trong trận vây thành Quy Nhơn – Thị Nại năm 1799, Bá Đa Lộc qua đời, ông được đưa về an táng ở gần nhà cũ thuộc thành Gia Định, nằm khu Vườn Xoài – Tân Sơn Nhất, phía Tây Bắc Sài Gòn. Được trọng vọng, coi như bậc công thần có công lớn nên Nguyễn Ánh cho xây khu lăng mộ Bá Đa Lộc bề thế.

Sang thế kỷ 20, nơi này được sáp nhập vào vùng ngoại ô Sài Gòn, sau đó được phát triển với việc xây dựng sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (phía bắc lăng Cha Cả), bến xe lớn (phía tây). Với những thay đổi này, ngôi lăng bị thu hẹp lại làm điểm tròn nằm lọt giữa đường Võ Tánh, tuy vậy khu mộ vẫn được giữ gìn đến năm 1980.

Vòng xoay Lăng Cha Cả hiện tại chỉ còn vòng tròn với quả địa cầu ở giữa.
 
Từ năm 1980 – 1983, khu lăng mộ này được giải tỏa và di hài của Giám mục Bá Đa Lộc được giao lại cho tổng lãnh sự Pháp đưa về nước. Còn lại là điểm tròn làm vòng xoay (bùng binh) lưu thông trên đường Hoàng Văn Thụ – Lê Văn Sỹ ngày nay và người dân vẫn quen gọi với tên vòng xoay Lăng Cha Cả. Về sau nơi này được gọi với tên ngã 6 Cộng Hòa khi được xây dựng cầu vượt vào năm 2013 để giảm ùn tắc giao thông.
 
 Ngã ba Chú Ía (Vòng xoay Nguyễn Thái Sơn)

Đến hiện tại, người dân vẫn hay gọi khu vực này là ngã 6 Chú Ía. Giao lộ này được xem là nỗi kinh hoàng về tình trạng ùn tắc giao thông vào giờ tan tầm ở TP. HCM hiện tại. Đây là điểm nối giữa các tuyến đường Nguyễn Kiệm, Nguyễn Thái Sơn, Hoàng Minh Giám, Phạm Văn Đồng thuộc phường 3 (quận Gò Vấp).

Vòng xoay Nguyễn Thái Sơn ở hiện tại là ngã ba Chú Ía trước đây.

Một nhà nghiên cứu lịch sử cho hay, trước 1975, Hía là tên của một người Hoa làm nghề thủ công và có cửa hàng Bách hoá lớn ở khu vự ngã 3 này nên người Sài Gòn gọi khu vực này thành ngã ba Chú Hía. Trải qua thời gian, người dân nhập cư vào đây rồi phát âm này dần biến mất chỉ còn "Chú Ía" cho đến nay. 
 
Hiện tại, ngã ba Chú Ía mở rộng thành ngã 6 với tên gọi mới là Ngã Sáu Nguyễn Thái Sơn, khi xuất hiện vòng tròn ở giữa thì gọi vòng xoay Nguyễn Thái Sơn. Tuy nhiên với nhiều người Sài Gòn, họ vẫn quen với tên gọi ngã ba Chú Ía, một số người thì gọi ngã 6 Chú Ía khi qua khu vực này.
 
Vòng xoay Cây Gõ (cầu vượt thép chữ Y)
 
Vòng xoay Cây Gõ là một trong những nút giao thông quan trọng thuộc quận 6 (TP. HCM) và thường xuyên xảy ra tình trạng ùn tắc khi chưa xây dựng cầu vượt thép. Đây là điểm giao giữa các tuyến đường, Hồng Bàng, Phú Thọ, 3/2. 
 
Vòng xoay Cây Gõ trước khi xây dựng cầu vượt thép chữ Y 
 
Lý giải về tên gọi Cây Gõ được đặt tại vòng xoay này, cũng không có nhiều tài liệu ghi chép lại, tuy nhiên nhiều người dân sống lâu năm ở đây cho biết trước đây ở khu vực này khi chưa được khai hoang, cây cối vẫn mọc um tùm, điển hình nhất là loài cây gõ.
 
Về sau khu vực này được khai hoang, hàng loạt cây gõ cũng được chặt bỏ để xây dựng đô thị. Vòng xoay cũng được hình thành và người dân đặt tên vòng xoay Cây Gõ để tạo sự thân quen.
 
 
Vòng xoay Cây Gõ hiện tại được xây dựng cầu vượt thép dài nhất TP. HCM.
 
Năm 2013, cầu vượt chữ Y được xem là cầu vượt thép dài nhất thành phố chính thức khánh thành, đã giảm tải được áp lực giao thông tại khu vực này.
 
Ngã năm Chuồng Chó (ngã 6 Gò Vấp)
 (Trang Nguyên)
 
Người Sài Gòn tuổi trung niên trở lên hầu như ai cũng biết Ngã năm Chuồng Chó, một cái tên địa danh truyền miệng có từ thời người Pháp lập nên trung tâm huấn luyện chó cho việc tuần tra và cảnh giới.
Trung tâm này toạ lạc tại góc trái đường Võ Di Nguy (sau là Nguyễn Kiệm) sát giao lộ ngã năm gồm đường Quang Trung (lúc xưa là đường làng nhỏ), Nguyễn Oanh (đường dẫn vào trại lính không có dân cư), Phạm Ngũ Lão và đường Nguyễn Văn Nghi (trước là Gia Long) đi đến chợ Gò Vấp.
 
 Ngã năm Chuồng Chó nhìn từ không ảnh (góc cuối ảnh)
hồi thập niên 1960 (Nguồn: Manhhaiflicks)

Tên gọi Ngã năm Chuồng Chó tôi nghe người lớn trong xóm kháo nhau từ hồi còn bé, mãi đến tuổi đôi mươi tôi mới có dịp đặt chân đến nơi này ba bốn lần. Khi đó nơi đây đã hình thành các khu dân cư chen chúc không như những gì mà cha của người bạn đồng nghiệp với tôi kể lại vào thuở gia đình ông đặt chân lên mảnh đất Gò Vấp sinh sống vào thời thập niên năm mươi.

Nghề nghiệp của chúng tôi được đi đây đi đó trong cái thành phố rộng lớn này, gặp nhiều cái tên địa danh không sao hiểu được, nghe nhiều câu chuyện của người cố cựu lớn tuổi, âu cũng là điều thú vị.

Khu vực Ngã năm này phát triển rất nhanh vào cuối thập niên bảy mươi. Mới chỉ cách đó chừng hơn mươi năm thôi, một vùng đất còn trống trải hai bên lộ, đa số trồng hoa màu (từ đầu đường Quang Trung) mà đã đông đúc dân cư.

Ngay cả cái xã An Phú Ðông mà tụi tôi đi công tác thực hiện bản đồ hiện trạng, ăn dầm nằm dề cả tháng ở nhà dân khi đó vẫn còn là một làng thuần nông nghiệp chuyên trồng đậu phộng. Ăn đậu phộng bảy món mỗi ngày, cuối tuần thằng bạn rủ về nhà chơi, sẵn đập vài trái lựu đạn (hột vịt lộn) bồi bổ.

Khi có đồng lương thì ghé tiệm mì, hình như là Chí Phát (đến nay vẫn còn), làm tô mì vịt tiềm thêm thố gà ác hầm thuốc bắc, rồi về nhà uống trà sen, nghe ông già thằng bạn kể chuyện xóm giềng.

Ngã năm Chuồng Chó (Q.Gò Vấp) được đặt tên

theo một trường huấn luyện quân khuyển xưa

Những địa danh bắt đầu từ nhà người bạn trên đường Nguyễn Kiệm lui về là Ngã ba Chú Ía (Hía) nổi danh gái làng chơi một thời, trở ngược là Ngã năm Chuồng Chó, rẽ phải qua Nguyễn Văn Nghi đi thẳng xuống Cầu Hang, trở ra đi tiếp trên đường Quang Trung xuống phía dưới, rẽ trái ra Ngã tư Cầu Cống, rẽ phải đi Xóm Mới và còn nhiều địa danh khác khắp nơi làm Gò Vấp trở nên hấp dẫn đối với tôi, một người thích la cà đây đó.

Những nơi này tôi vẫn thường nhắc trong các câu chuyện về Sài Gòn mà tôi từng viết như giữ gìn chút hoài niệm xa xưa. Ngã năm Chuồng Chó tôi cũng từng nhắc đến nhưng hôm nay tôi muốn ghi lại vài chuyện được nghe từ miệng cha của người bạn ngày trước.

Ngã năm Chuồng Chó chẳng qua là nơi đây có một trại huấn luyện chó hình thành vào năm 1945. Khi đó người Pháp sử dụng chó như một phương tiện tuần tra, cảnh giới an ninh thành phố. Có thể gọi chúng là cảnh khuyển thì đúng hơn.

Cha người bạn kể rằng, thời gian gia đình ông mới đến đây định cư thì phía bên kia đường Nguyễn Kiệm chỗ trung tâm huấn luyện chó vẫn còn rào dây thép gai chứ không như sau này vào thời Việt Nam Cộng Hòa cho xây tường kín.

Chó sủa rân trời, sau hàng rào dây thép là các dãy chuồng chó mái tôn, ban ngày chúng được ra sân huấn luyện đủ trò, đánh hơi, tấn công người, chạy nhảy, lùng sục. Ngồi trên ban công nhà nhìn qua xem rất thích mắt.

Bực mình nhất là mỗi khi chúng được nghỉ ngơi về chuồng vào buổi trưa. Luyện tập mệt nhoài, vậy mà khi ở trong chuồng, đám cảnh khuyển lại thi nhau sủa. Có con hăng tiết sủa liên tục làm cha người bạn muốn ngủ trưa mà chẳng được.

Những người lính huấn luyện chó trong một buổi tập gồm

nhiều chủ nhân đại diện các quân chủng (Ảnh: LIFE)

Do có một dãy chuồng chó, ai ai cũng nhìn thấy từ ngoài đường nên cái tên Ngã năm Chuồng Chó từ đó mà hình thành từ cửa miệng của các anh lơ xe buýt, xe thổ mộ. Thậm chí cái địa danh này còn viết bên hông xe buýt vàng có trạm dừng tại đây đi Cầu Hang.

Cái tên Ngã năm Chuồng Chó nghe hay hơn, nghe bình dân hơn nếu nó tự dưng được gọi Ngã năm Trường Chó theo đúng định danh của trường huấn luyện chó. Thật ra, ngày xưa khi chưa có trường huấn luyện cảnh khuyển, nơi đây được gọi là Ngã năm Hàng Ðiệp vì các con đường giao nhau đều có những cây điệp to lớn không biết trồng từ lúc nào.

Chỉ biết rằng những hàng điệp này biến mất khi thành phố mở rộng tới Gò Vấp nguyên là một quận nông nghiệp ngoại thành vào thập niên 1950. Nói đến chuyện mất đi những hàng điệp cũng là lẽ tự nhiên khi phát triển đường phố, cũng như Gò Vấp khi xưa nghe nói có nhiều cây vấp, nhưng đến Gò Vấp thì chẳng thấy cây vấp nào còn sót lại.

Sẵn tôi bổ sung thêm chuyện địa danh ngã tư ngã năm ở Gò Vấp có nhắc đến ở trên; từ trên đường Quang Trung chạy qua khỏi nhà thờ Hạnh Thông Tây một chút thì có Ngã ba Cây Trâm. Nhưng các bạn đến đây chẳng thấy cây trâm nào cũng đừng thắc mắc.

Sau khi Pháp rút quân về nước, chính quyền lâm thời tiếp quản trại cảnh khuyển này nhưng không còn hoạt động huấn luyện nhiều như trước. Vài năm sau (1964), người Mỹ đưa quân vào Sài Gòn, lập nhiều căn cứ quân sự ngoại vi thành phố cũng như bảo vệ an ninh cho sân bay Tân Sơn Nhất, nhu cầu sử dụng chó trinh sát, phát hiện bom mìn nhiều hơn.

Trung tâm huấn luyện chó được nâng lên một quy mô cao hơn, thành lập đội quân khuyển cấp Tiểu đoàn trực thuộc Cục Hậu Cần của Bộ Tổng Tham Mưu. Tiểu đoàn quân khuyển của Mỹ huấn luyện có nhiệm vụ bổ sung chó trinh sát cho các cơ sở quan trọng như sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Biên Hoà, Ðà Nẵng, Tổng kho Long Bình và các đơn vị trinh sát, bảo vệ yếu nhân. Xin nói thêm một chút, ngoài trường huấn luyện quân khuyển ở Gò Vấp, còn một trại nữa ở Cát Lái.

Ngã Năm Chuồng chó ngày nay

Tôi có đọc được một bài viết về đội quân khuyển Việt Nam Cộng Hòa của tác giả Phan Hạnh ghi lại như sau: “Trước khi quân đội Hoa Kỳ bắt đầu tham chiến tại Việt Nam, từ năm 1960 người Mỹ đã ý thức rõ và tiên liệu được rằng các căn cứ Không Quân và các phi trường quân sự sẽ là mục tiêu bị tấn công.

Một dự án nghiên cứu và phát triển quân khuyển cho các đơn vị Không Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam được đề ra tại một trại huấn luyện chó ở Gò Vấp từng do người Pháp sử dụng trước đó. Tháng Bảy năm 1965, 40 quân khuyển Mỹ đầu tiên được đưa đến bố trí tại 3 phi trường lớn nhất là Sài Gòn, Biên Hòa và Ðà Nẵng.

Ðến cuối năm, con số này tăng thêm, nâng tổng số quân khuyển lên 99 con. Qua đến Tháng Chín năm 1966, có hơn 500 quân khuyển Mỹ phục vụ tại 10 căn cứ”.

Trong bài viết, câu chuyện cảm động nhất là chú chó Nemo thuộc giống Shepherd của Ðức đến Sài Gòn vào đầu năm 1966. Vào cuối năm 1966 khi làm nhiệm vụ cùng với binh nhất Không quân Robert Thorneburg tại vòng đai ngoài của phi trường Tân Sơn Nhất gần khu nghĩa địa quân đội.

Nemo phát hiện có vấn đề trong ngôi miếu nhỏ chồm lên sủa liên hồi cảnh báo. Hai viên đạn từ trong bóng tối sau ngôi miếu nhỏ, một viên bắn trúng Nemo xuyên từ sát dưới mắt phải trổ ra mõm và một viên khác trúng vai binh nhất Thorneburg.

Nhưng con Nemo vẫn còn sức lao vào tấn công hạ gục bốn đặc công núp sau miếu. Nemo được đưa về Mỹ trị thương và nghỉ hưu vĩnh viễn với công trạng anh hùng. Cho đến khi chết vì tuổi tác năm 1973, Nemo được chôn và dựng tượng tại Dog Center thuộc Căn cứ Không quân Lackland ở San Antonio, Texas.

 
Ngã Năm Chuồng Chó ngày nay

Nhưng câu chuyện được nghe kể lại của cha người bạn tôi thì cảm thương hơn nhiều. Số là những ngày cuối cùng của cuộc chiến 1975, đội quân khuyển của Mỹ huấn luyện tại Ngã năm Chuồng Chó không cùng theo những binh sĩ cuối cùng trở về cố hương.

Cha người bạn nghe một bác sĩ thú y làm việc bên trại huấn luyện cho biết, những chú chó tinh khôn bị tiêm thuốc để không trở về mang theo những mầm bệnh lạ của vùng nhiệt đới bị nhiễm ở Việt Nam. Trong trường huấn luyện chỉ còn một ít chó bản địa tồn tại cho đến năm 1994 thì Trung tâm huấn luyện chó nghiệp vụ được giải tán.

Ngôi trường huấn luyện chó không còn, rồi liệu cái tên Ngã năm Chuồng Chó sẽ còn chăng khi hiện nay nơi đây xuất hiện thêm một con đường mới mở, đường Trần Thị Nghỉ kết nối từ ngã năm vào đường Phan Văn Trị để điều tiết lưu lượng giao thông lúc nào cũng kẹt xe vào giờ cao điểm. Vùng này đã trở thành Ngã sáu. Ngã sáu gì đây, nói trống trơn chẳng ai biết.

------------

Hồng Anh st tổng hợp

Hình Internet

 
 
Hình ảnh Sài Gòn 1969 Đường Hàm Nghi
Xem thêm...
Theo dõi RSS này