Chén Trà Ngày Xuân

 

Ngày Xuân mà thiếu trà là thiếu hương vị đậm đà của Xuân. Người xưa coi trà như lẽ sống, người nay cũng lấy trà làm bạn tri âm.
Một người bạn hiền, một khung cảnh ấm áp, thư thái, nâng chén trà ngon, cho nhau một chút tình đời, ý đạo, còn gì thú vị hơn! trà còn đem lại sự an lạc, thư giãn sau những giờ phút lao động mệt nhọc, căng thẳng. Uống trà để lấy lại thăng bằng tâm lý, cơ hội thưởng thức một thú vui, là nghệ thuật giữ cho tâm hồn thanh cao, an tĩnh.

Các cụ ta từng có cái nhìn tinh tế “nhất thủy - nhì trà - tam bôi - tứ bình - ngũ quần anh”. Để có chén trà ngon, loại trà chỉ xếp vào hàng thứ hai, mà quan trọng hàng đầu là nước pha trà, phải là nước tuyết tan, nước mưa hứng giữa trời, nước suối thiên nhiên, hoặc nước giếng sâu. Cách đun nước cũng kén chọn. Không đun nước bằng củi, bằng dầu, mà phải đun bằng than để không làm mất đi mùi vị của trà. Cũng không đun nước sôi sùng sục, mà chỉ sôi sủi tăm, sôi đầu nhang, nhiệt độ khoảng trên 800C, để trà không bị mất mùi, không bị cháy khê.

Quan trọng thứ ba, là chỉ uống trà bằng chén nhỏ (chén hạt mít, chén mắt trâu), và trước khi rót trà cần tráng chén bằng nước sôi để làm nóng và sạch chén. Ấm pha trà đứng hạng thứ tư. Tùy vào số lượng người thưởng thức trà mà chọn kiểu bình, kiểu ấm khác nhau, độc ẩm, song ẩm, hay quần ẩm. Ấm đã được làm nóng, nhưng cũng cần rửa trà bằng một ít nước sôi, gọi là “tráng”, sau đó đổ đi cho nước mới vào để trà nở đều và đậm hương vị.
Phong cách mời trà của người Việt cũng khá công phu. Sau khi tráng chén bằng nước sôi cho sạch và giữ nhiệt, người ta xếp các chén vào sát nhau thành một vòng tròn. Đó là thể hiện sự gắn bó giữa con người với nhau, thể hiện tình làng nghĩa xóm, cũng như mong ước cuộc sống viên mãn, đầy đủ. Khi rót trà theo hình tròn, mỗi chén rót một chút, từ đầu đến cuối, rồi vòng ngược lại. Rót như thế làm cho chén trà nào cũng đậm nhạt như nhau, thể hiện sự bình đẳng giữa chủ và khách trong hưởng thụ tinh túy của thiên nhiên, trong quan hệ xã hội, thể hiện ý nghĩa cái đạo của trà Việt.

 Trong tất cả các thức uống, có thể nói uống trà được xem là nghệ thuật tinh tế nhất. Cùng một đồi chè, nhưng chè hướng Đông bao giờ cũng ngon hơn chè hướng Tây, bởi chè hướng Đông được đón nhận những tia nắng mặt trời buổi sớm. Hơn nữa, vườn chè cũng theo bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông mà có hương vị khác nhau. Tuyệt hảo là chè Xuân, còn gọi là chè tiền minh (trước tiết thanh minh).

Khi cái giá rét của mùa Đông vừa qua đi, những tia nắng ấm đầu tiên của mùa Xuân vừa ló rạng, thì những đọt non cũng bừng nhú trên những cành chè mảnh mai. Thứ đọt non ấy nếu hái lúc tinh mơ, khi cả đồi chè còn chìm trong sương, rồi đem về “sao suốt” thì hương thơm ngào ngạt như chõ xôi nếp cái, vị ngọt về sau bền vấn vít mãi trong cổ họng như ngậm đường phèn. Các cụ bảo “uống một tách trà, đi xa vạn dặm” là vậy.

Kỳ công nhất là cách thưởng thức trà sen Hồ Tây của người Hà Nội và trà cung đình Huế. Uống trà sen đúng cách là ngồi trên sập gỗ, dưới mái hiên, giữa đầm sen bát ngát. Ngày nay, giữa chốn phồn hoa náo nhiệt, người Hà Nội vẫn tìm được chốn thanh bình, đặc biệt khi mùa sen nở, nhiều người rủ nhau lên Hồ Tây uống chè sen sớm. Từ sáng tinh mơ đã có mấy chiếc thuyền nhỏ thoắt ẩn thoắt hiện giữa đầm sen, tinh nhanh tìm kiếm những búp sen “hé miệng sáo” lấp ló sau những tấm lá rộng. Phải hái nhanh, nhẹ nhàng thì búp sen mới không nhàu nát.
Độc đáo là cách ướp ngay tại đầm sen. Khi hoàng hôn rải nắng vàng lên mặt hồ, người ta chèo thuyền chọn những bông sen chớm nở, lén bỏ vào một nhúm trà nhỏ. Sớm hôm sau khi bình minh chưa hé rạng, người ta ra hái bông sen vừa ướp về. Ấm trà không chỉ có chè ướp trong sen, mà còn có cả tua sen và gương sen. Trà sen ngon phải qua nhiều công đoạn ướp sấy cầu kỳ. Một ấm trà sen có thể uống hàng chục tuần trà. Uống trà sen sáng sớm là thú chơi tao nhã của người Hà Nội. Chẳng thế mà có câu “bán dạ tam bôi tửu, bình minh nhất trản trà” (nửa đêm nhấm nháp ba chung rượu, sáng sớm nhâm nhi một chén trà) và “rượu ngâm nga, trà liền tay”.

Thú vị hơn nữa khi thưởng thức loại trà hoa nghệ thuật, bỗng thấy một bông hoa nở bung trong ấm trà, trà độc đáo ghép với các loại hoa hồng, nhài, sen, cúc, mẫu đơn… Chế biến hoàn toàn làm thủ công.

Sau khi khử bớt vị chát của chè, người ta tỉ mỉ xoắn từng búp chè rồi ghép lại thành bông hoa, mỗi bông chừng 3 - 3,5g, vừa đủ pha một ấm. Toàn bộ nguyên liệu đều từ tự nhiên, búp chè hảo hạng cao cấp, dây buộc ghép từng búp chè cũng bằng cỏ mần trầu có tác dụng chữa bệnh. Tùy yêu cầu của khách, có thể ghép chè với các loại hoa rồi ướp hương, tẩm sấy 3 lần cho búp khô, hòa quyện với hương hoa mà vẫn giữ được màu sắc tự nhiên của loại hoa. Cầu kỳ như thế, nên người thợ giỏi cũng chỉ làm được 20-25 búp trà nghệ thuật trong mỗi ca 8 tiếng đồng hồ. Mặc dù giá 1 kg trà hoa nghệ thuật trên 10 triệu đồng, nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu rất lớn của khách trong và ngoài nước, nhất là khách sành trà đến từ Nhật Bản, Trung Quốc...

 

Vào dịp lễ Tết, chủ và khách vui vẻ chuyện trò đàm đạo về cuộc đời bên ấm trà nóng hổi, hương thơm, vị đậm. Đó là một nét văn hóa thể hiện lòng mến khách rõ nét của dân tộc ta. Khi tách trà được nâng lên cũng chính là lúc những tâm tình giữa chủ và khách đã gắn quyện để rồi kéo dài,có khi thâu đêm suốt sáng…

Thưởng thức trà là một trong những hình thức ẩm thủy có mặt ở nước ta từ rất lâu. Theo nhiều tài liệu khảo cứu, cây chè được cư dân nước ta canh tác từ trước thời các vua Hùng. Bằng chứng là ở vùng đồi núi Suối Giang (Yên Bái) vẫn còn dấu tích của một rừng chè hoang với hàng chục nghìn cây chè dại, trong đó có nhiều cây thân to đến mấy người ôm. Cùng với sự phát triển của điều kiện vật chất cũng như khả năng tư duy, nhận thức về cuộc sống, nghệ thuật uống trà của ngừơi dân nước ta cũng được nâng tầm qua từng thời đại và ngày một phong phú hơn.

“Rượu ngâm nga, trà liền tay”, “Bán dạ tam bôi tửu / Bình minh nhất tàn tra”…, ông bà ta quả có rất nhiều câu nói mô tả về nghệ thuật thưởng thức trà, đặc biệt là vào những ngày lễ tết. Một cách rõ rang, vùng đất Hà Thành luôn được xem là nơi có nghệ thuật thưởng thức trà vào lọai cầu kỳ và mang nhiều ý nghĩa bậc nhất nước ta. Nếu người dân ở các vùng khác thường chỉ uống trà “chay” với phương cách chế biến thô sơ, thì người Hà Nội lại thích uống trà ướp hương sen, hương nhài, hương cúc… Đơn cử, trà sen được người Hà Nội chế biến theo công thức cứ khỏang một cân trà sẽ được ướp với khỏang 1.000 hoa sen chưa nở, nhiều người thậm chí còn không dùng nước lã bình thường để pha trà mà dung nước mưa trong hoặc nước sương mai đọng trên lá sen! Nhưng dân dã và tiện lợi hơn hết là thưởng thức chè xanh ở nông thôn. Lá chè tươi sau khi rửa sạch sẽ được đun sôi với nước, để nguội âm ấm rồi thưởng thức bằng bát sành, điểm thêm dăm ba thanh kẹo đậu phộng.

Có ba hình thức thưởng thức trà quen thuộc không chỉ ở nước ta, mà còn nhiều nước khác trên thế giới là độc ẩm, đối ẩm và quần ẩm.

- Độc ẩm là uống trà một mình, trong im lặng, người uống có thể thỏa sức suy tư, nghĩ ngợi về những điều mà mình quan tâm hay đơn giản chỉ là muốn tìm một không gian riêng. 

- Đối ẩm lại là cách thưởng thức trà với chỉ một người nào đó mà mình tri âm tri kỷ. Những buổi “trà dư tửu hậu” như thế hoàn toàn khác khác xa với cung cách uống trà của người Nhật Bản, bởi không quá nghi thức, cũng không quá chừng mực trong cách ăn nói, mà rất thâm tình, gần gũi. 

- Cuối cùng, quần ẩm là cách thưởng thức trà trong không khí ấm cúng, vui tươi giữa những người thân yêu hoặc bè bạn. Đây được xem là những giây phút rất có ý nghĩa trong mỗi gia đình, đặc biệt là những ngày đầu Xuân.

Dù cách chế biến cũng như thưởng thức trà có khác nhau ở mỗi vùng cũng như mỗi quốc gia, song thông điệp mà hình thức ẩm thủy này muốn nhắn gửi là không khác. Danh từ “trà đạo” xuất hiện như thế chứng minh cho điều đó. Cái cốt lõi của trà đạo ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… đều là hướng đến sự thanh tao, sự quân bình âm dương, sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, cây cỏ… Ngày nay, trà đạo Nhật Bản rất nổi tiếng bởi đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thú uống trà với chất Thiền trong đạo Phật. Hình thức thưởng thức trà này do một vị cao tăng tên là Eisai (1141-1215) đề xướng, thông qua cuốn sách nổi tiếng của mình là “Kissa Yojoki”.

Thưởng thức trà không chỉ là sự tận hưởng về mặt tinh thần trong mối tâm giao với những người xung quanh, mà còn là một phương pháp giúp tăng cường sức khỏe rất hiệu quả. Những lợi ích tiêu biểu của trà là:

1. Kéo dài tuổi thanh xuân và chống lại tác hại từ môi trường.
2. Có lợi cho sức khỏe trí não nhờ hàm lượng vừa phải caffeine cũng như nhiều họat chất bổ não khác.
3. Giúp giảm nguy cơ tim mạch, đột quỵ, chứng máu vón cục… nhờ khả năng làm mềm và co giãn mạch máu.
4. Giúp hệ xương chắc khỏe, từ đó phòng tránh bệnh loãng xương.
5. Giúp răng, nướu trắng khỏe, nhờ chứa nhiều fluoride và tannin.
6. Tăng cường hệ miễn nhiễm, giúp chống lại các bệnh do vi khuẩn gây ra.
7. Hạn chế nguy cơ ung thư nhờ vào hai hoạt chất polyphenol và antioxidant.
8. Giúp phòng tránh tăng cân vì có khả năng thúc đẩy quá trình trao đổi chất trong cơ thể, từ đó kích thích cơ thể tiêu hao năng lượng nhanh và hiệu quả hơn.
9. Kích thích tiêu hóa và bảo vệ đường tiêu hóa khỏe.
10. Giúp da dẻ hồng hào, láng mịn.


Để việc thưởng thức trà mang lại kết quả tốt nhất chúng ta nên lưu ý ba nguyên tắc sau:

(1) Không nên uống trà quá nóng, tốt nhất là từ 60 đến 65oC;
(2) Không uống trà khi bụng quá đói, vì có thể gây cồn cào, chóng mặt và tiêu hao dưỡng chất từ thực phẩm (nhất là chất sắt);
(3) Không nên uống trà đã để qua đêm, vì có thể gây đau bụng.

 

 

 Hồng Vân sưu tầm

Chỉnh sửa lần cuối vào %PM, %04 %079 %2015 %19:%02
back to top