Kim Quy

Kim Quy

Truyện ngắn: Cây cầu biên giới

  • Đăng tại Truyện

Cây Cầu Biên Giới

Truyện Ngắn của Minh-Đạo và Nguyễn Thạch-Hãn

 

Ngày ấy đã xa lắm rồi.


Tôi mới đến vùng này,là một Thiếu Úy trẻ măng vừa đổi về đơn vị mới thành lập. Tiểu Đoàn mới, từ sĩ quan đến binh lính, hầu hết là những thành phần khó sài từ các đơn vị khác gởi về. Dĩ nhiên tôi cũng ở trong thành phần bất hảo đó. Từ miền biển bị đưa lên miền núi và chỉ huy một đám quân gồm đủ mọi thành phần. Tôi còn đang buớc những bước đi chập chững của nghề chỉ huy thì phải tung ra chiến trường. Ngày ấy, cũng trên con lộ này, tôi dẫn hai con Gà Cồ Đại Pháo 105 ly để yểm trợ cuộc hành quân trực thăng vận tái chiếm quận lỵ Phú Nhơn mà Bắc Quân vừa mới tràn ngập đêm hôm trước.
Ngã ba này bình thường chỉ có vài quán cóc lèo tèo để bán đồ ăn thức uống cho xe đò chạy đường Pleiku - Phú Bổn hay Pleiku - Banmêthuot. Hôm đó dân chạy loạn từ Phú Nhơn ra rất đông, từ những làng Thượng, hoặc mấy khu dinh điền và dân làm ăn buôn bán chung quanh quận lỵ. Dân chúng thấy lính đi tái chiếm quận, họ rất mừng rỡ, người hỏi thăm, người cho quà bánh. Đổi lại, đám lính tặng dân chúng thuốc lá và những đồ hộp Quân Tiếp Vụ. Dân ở quận nhỏ xa xôi cũng nghèo khổ như lính vậy thôi.
1
Từ sáng sớm, lo đốc thúc tải đạn, sửa soạn xe cộ, đại bác, hàng trăm thứ phải làm cho một cuộc trực thăng vận, cho nên bao tử còn trống rỗng. Phi cơ câu súng đại bác phải xin từ căn cứ Mỹ Ớ Quy Nhơn lên, nên chờ cũng còn lâu. Tôi rủ anh chàng Chuẩn Uý Trung Đội Phó kiêm Đề Lô vào quán bên đường kiếm cái gì lót bụng. Dân quận lỵ bu lại hỏi thăm tình hình, chừng nào có thể về quận được ? Đánh nhau có lâu không ? Toàn những câu hỏi mà chỉ có Trời mới trả lời được.
- Mấy anh ấy đi giải toả quận Phú Nhơn phải không ông chủ.
- Tôi đoán vậy, cô thử hỏi mấy ổng coi.
Tôi quay lại, người vừa hỏi là một thiếu nữ độ đôi mươi, nàng mặc chiếc áo dài trắng học trò đang hỏi thăm người chủ quán, tôi hỏi lại cô gái:
- Sao cô đoán tụi này đi giải toả Phú Nhơn ?
- Em mới từ Tuy Hòa lên Pleiku hôm qua. Sáng nay đáp xe đò vô quận, không ngờ kẹt từ sáng đến giờ.
- Cô cũng ở quận Phú Nhơn sao ?
- Em dạy Ớ trường tiểu học Phú Nhơn, còn nhà em ở Tuy Hòa.
- Cô nên về Pleiku kiếm chỗ ngủ đỡ qua đêm nay.
- Em không có ai quen Ớ Pleiku cả, vả lại em nóng lòng không biết nhà cửa, trường ốc ra sao ?
- Cô có lo lắng thì cũng chẳng làm gì được, tốt hơn hết là kiếm chỗ nào nghỉ đỡ qua đêm nay, chờ giải toả xong mới về được.
- Đám học trò của em chạy ra đây cũng đông lắm, em không thể bỏ chúng được. À này các anh đừng pháo vào trường học nghe.
Tôi vỗ vai Châu Đề Lô vừa cười vừa nói:
- Cái đó cô phải nhờ ông Châu mới được, ổng chỉ đâu là nơi đó thành bình địa.
Châu vội lên tiếng:
- Trường của cô giáo tụi này không dám đụng tới.
Tôi chế diễu Châu:
- Bạn hứa một mình chứ không có tôi can dự trong đó đâu nghe. À nãy giờ mình nói chuyện mà quên giới thiệu. Tôi tên Lập, anh bạn này tên Châu. Thưa qúy danh cô là ...
- Em tên là Quỳnh Hoa, các anh hứa là phải giữ lời đó à nghe !
Tôi chọc ghẹo Quỳnh Hoa:
- Nếu tụi này giữ lời hứa thì Quỳnh Hoa phải đền cái gì mới được chứ ?
Tôi nhìn người con gái nước da trắng hồng, mịn màng như trứng gà bóc, đôi môi đỏ như cánh bích đào, cặp mắt to đen láy trông thật thông minh lanh lẹ, mái tóc thề phủ xoã ngang lưng, nụ cười tươi như hoa với hàm răng đều đặn như những hạt bắp vừa đủ lớn. Nhìn Quỳnh Hoa đứng giữa đám học trò nhà quê lem luốc bẩn thỉu, tôi có cảm tưởng nàng là bà tiên giáng trần, đang cầm cây đũa thần gõ trên đầu đám chúng sinh đầy đau khổ. Nàng rất bạo dạn tuy hơi lo lắng, nhưng không có cái e lệ như những cô gái xứ kinh kỳ. Tôi tự nhủ:
- Bông hoa vương giả này sao lại mọc ở chốn rừng hoang mông quạnh này nhỉ ?
Quỳnh Hoa thấy tôi nhìn cô chăm chú, có vẻ mắc cỡ đôi má càng hồng hào thêm, còn đang phân vân chưa biết trả lời ra sao, Châu vội đề nghị:
- Thôi bữa nào giải toả xong, đãi tụi này một bữa cơm nhà quê được không Qùynh Hoa ?
- Em nấu ăn dở lắm, nhưng em sẽ đãi các anh một chầu bún bò Huế, được không ?
Tôi làm bộ nuốt nước miếng:
- Ôi chao, chưa đánh mùi mà đã thèm nhỏ dãi rồi.

Hình minh họa


2
Có tiếng trực thăng từ xa vọng lại. Tôi từ giã Quỳnh Hoa rồi vội vã đốc thúc anh em binh lính để cuộc di chuyển được mau chóng. Bình, anh chàng tài xế xe jeep của tôi chạy lại hỏi:
- Mình cần về hậu cứ lấy thêm gì nữa không Ông Thầy ?
- Chắc đủ rồi, vả lại cũng không còn kịp nữa.
Tôi móc túi đưa cho Bình một ít tiền lẻ và nói:
- Em vào trong quán mua vài gói mì và một hộp trà, tối nay mình ăn mừng chiến thắng.
- Bình cầm tiền, nheo mắt chọc tôi:
- Cái cô hồi nãy coi bộ chịu đèn Ông Thày lắm rồi đó nghe.
Tôi thấy thích thú trong lòng nhưng cũng làm bộ chống chế:
Trời bắt đầu đổ mưa lâm râm khi trực thăng vừa bốc hai khẩu đại bác. Những cơn mưa trên miền núi thường dai dẳng và mang theo gío lạnh thấm đến tận xương tủy của những người lính Pháo Thủ, vừa thiếu ăn vừa phải làm việc cực nhọc. Tôi thầm hỏi liệu đêm nay trực thăng có kịp đổ quân để bảo vệ hai con gà cồ của mình không ?
Hai khẩu đại bác cùng với 4 túi đạn 105 li và chiếc xe Jeep được thả xuống một ngọn đồi trọc. Dưới cơn mưa tầm tã, đất đỏ lầy lội, đám pháo thủ thoăn thoắt làm việc: Hì hục đẩy hai khẩu pháo lại gần nhau, khuân vác đạn dược, dựng cây truyền tin, nhắm hướng súng. Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, Những trái đạn đầu tiên đã được gởi đi liên tục để dọn bãi đáp cho hai tiểu đoàn Bộ Binh đổ bộ xuống mục tiêu.
Trận tái chiếm quận Phú Nhơn hôm đó đã thành công hoàn toàn nhưng Châu Đề Lô đã bị thương nặng, một mảnh đạn B40 của địch quân đã chọc một lỗ lủng lớn ở bụng của hắn. Tóan Pháo Binh được di chuyển về phía sau quận hành chánh để sãn sàng yểm trợ cho lực lượng bảo vệ quận.

Tỉnh Gia Lai VN


3
Một buổi sáng, sau khi sửa sang tuyến phòng thủ tạm ổn định, tôi ghé thăm Quỳnh Hoa. Ngôi trường chỉ bị thiệt hại nhẹ. Anh em quân nhân trong quận đang gíup tay sửa sang những chỗ bị tàn phá. Tôi đến bên lớp học của Qùynh Hoa, nàng đang say sưa tập hát cho các em nhỏ. Có tiếng một em bé báo động:
- Thưa cô có Ông Lính tới kiếm.
Nàng quay lại, gật đầu chào. Tôi ướm thử xem nàng còn nhận ra tôi không:
- Ông Lính kính chào Cô Giáo, Cô Gíao còn nhớ Ông Lính này không ?
Nàng không thể nhịn cười được lối diễu cợt của tôi, nhưng cũng không chịu thua:
- Ông Lính đi đâu mà lạc vô đây ?
- Ông Lính đi lạc vào Thiên Thai đó ạ, không biết Tiên Nữ có cho Ông Lính xem rừng Đào Tiên không.
- Ông Lính tỉnh lại đi, đây là chốn phàm tục, đâu có nàng Tiên nào đâu.
- Chứ Quỳnh Hoa không phải là Tiên sao?
Nàng nghe tôi khen không khỏi e thẹn:
- Anh Lập làm Qùynh Hoa mắc cỡ quá hà! Người ta xấu như ma mà so sánh với Tiên, anh có mơ ngủ không đấy? Anh Châu có khỏe không anh Lập?
- Châu bị thương nặng đang nằm Ớ quân Y viện Pleiku.
- Trời ơi, có nguy hiểm lắm không anh?
Thấy mặt Qùynh Hoa biến sắc, tôi thấy hơi ganh với bạn mình, nhưng vội trấn an:
- Chắc không đến nỗi nào, nhưng phải nằm nhà thương một thời gian.
- Hôm nào anh có đi thăm anh Châu cho em đi theo với nghe.
Tôi tự nhủ thầm sao nàng dễ xúc cảm như vậy nên hứa đại cho xong chuyện:
- Cuối tuần tôi phải về hậu cứ nhân tiện ghé đón Quỳnh Hoa đi thăm Ông Châu luôn thể, cô có chịu không ?
- Gia đình ảnh đã biết chưa vậy anh Lập ?
- Gia đình ảnh Ớ Pleiku đã được thông báo rồi.
Tôi hỏi thăm qua loa về trường ốc và gia cảnh của nàng rồi vội vã cáo lui, hẹn gặp lại sáng thứ Bảy. Qùynh Hoa hiện Ớ trọ tại nhà bà Hiệu Trưởng, một người bạn cũ của gia đình nàng. Chồng Bà cũng là một cựu quân nhân giải ngũ, có tiệm tạp hóa ngoài chợ.
Sáng thứ Bảy, Tôi cho tập họp Trung Đội, giao doanh trại cho Ông Thượng Sĩ Thường Vụ rồi hối đám quân xa chuẩn bị xe cộ về hậu cứ lãnh lương thực và đạn được. Tôi gọi Bình vào văn phòng rồi dặn:
- Bình à, coi lại xe cộ, xăng dầu đầy đủ, bữa nay mình về hậu cứ đồng thời ghé thăm ông Châu luôn thể. À hôm nay có một người bạn xin qúa giang nữa nghe.
- Ai vậy Ông Thầy ?
- Cô giáo bữa mình gặp ngoài Ngã Ba Hàm Rồng đó nhớ không em.
- Ồ, vậy em phải rửa xe cho thật sạch mới được.
- Lính tác chiến mà chú mày làm như lính thành phố không bằng, không sợ tụi hậu cứ nó cười sao ?
- Sức mấy mà tụi nó dám cười Thầy Trò mình.
Tôi ghé lại nhà Quỳnh Hoa, nàng đã chờ sẵn, vẫn chiếc áo dài trắng hôm nào. Nét mặt vui vẻ, nụ cười tươi như hoa trông mới duyên dáng làm sao chứ ! Nàng bước ra cửa đón tôi:
- Chào anh, mời anh vào trong nhà uống miếng nước đã.
- Chào cô Qùynh Hoa, cám ơn cô để khi khác, thôi chúng ta lên đường kẻo trễ.
Đến hậu cứ, tôi nhận tiếp liệu rồi hẹn tất cả tập trung lúc 2 gìơ chiều để trở ra Phú Nhơn. Tôi chở Quỳnh Hoa vào bệnh viện. Châu vẫn còn thiếp trong giấc ngủ mê, khuôn mặt trắng bệch, hơi thở yếu ớt. Tôi có cảm tưởng thần chết đang lảng vảng đâu đây. Bà mẹ của Châu nhìn thấy chúng tôi thì không cầm nổi nước mắt. Bà bắt đầu thút thít khóc. Tôi tự hỏi trong những ngày qua người mẹ đau khổ này đã đổ bao nhiêu nước mắt cho đứa con yêu dấu của mình. Chiến tranh thật tàn nhẫn ! Nó như một con qủy luôn luôn cười cợt trên sự đau khổ của con người. Nó lấy xác chết làm chiến lợi phẩm. Qùynh Hoa nhìn thấy Châu, bỗng hai hàng lệ tuôn trào. Tôi đưa chiếc khăn tay, nàng cầm lấy, che lên mắt và đi vội ra ngoài. Tôi không ngờ nàng qúa thương tâm như vậy đối với một người bạn mới quen. Tôi an uỉ Bà Mẹ của Châu mấy câu rồi vội vã đi tìm Qùynh Hoa. Nhìn nàng đứng dựa chiếc cột ngoài hành lang bệnh viện, đôi vai rung lên từng hồi, có lẽ nàng đã qúa xúc cảm. Tôi chẳng biết làm sao để an ủi nàng. Miệng lưỡi cứng đơ, chân tay thừa thãi, tôi lặng lẽ đến bên nàng, mắt tôi cũng bắt đầu nhòe lệ, tôi ôm lấy đôi vai bé bỏng của nàng. Qùynh Hoa quay mặt lại và úp mặt vào vai tôi khóc nức nở như một đứa con nít. Có lẽ những đau khổ thầm kín lâu nay được dịp tuôn ra đi theo dòng nước mắt. Tôi để mặc nàng khóc cho đã đời. Một vài người đi ngang dòm chúng tôi với đôi mắt dò hỏi rồi bỏ đi. Chuyện khóc lóc có lẽ qúa bình thường ở đây. Nàng khóc một lúc rồi bắt đầu im lặng, chỉ còn những tiếng nấc nghẹn ngào. Tôi an uỉ nàng:
- Em đừng khóc nữa, anh Châu chắc không đến nỗi nào đâu, Mẹ ảnh nói Bác Sĩ cho hay ảnh đã qua cơn hiểm nghèo rồi chỉ chờ bình phục thôi.
Nàng thì thầm bên tai tôi:
- Em nhớ Ba em hồi đó, cũng nằm ở Bệnh Viện này, trong cơn hấp hối, nên không cầm nổi nước mắt, xin anh tha lỗi cho em.
- Anh xin lỗi em, không ngờ cuộc thăm viếng này đã gợi cho em những đau đớn như vậy.
- Anh đừng nói vậy, anh không có lỗi gì cả, chỉ vì em tủi thân đó thôi.
Khi đã tỉnh trí, nhìn thấy một bên vai áo tôi ướt đẫm nước mắt, có lẽ thấy hơi ngượng ngùng nên đẩy nhẹ tôi ra và lí nhí mấy lời xin lỗi. Tôi vội dìu nàng ra xe và rủ ra ngoài phố kiếm ăn. Tôi dẫn Quỳnh Hoa vào quán như một đôi tình nhân gắn bó bên nhau. Những cặp mắt nhìn soi bói của đám thực khách mà qúa nửa là lính tráng khiến nàng hơi bối rối. Tôi nhìn nàng với đôi mắt nồng nàn, thầm cám ơn Thượng Đế đã cho tôi có dịp làm quen với người con gái dễ thương và thùy mỵ như vậy. Sự hiện diện của nàng trong đời sống khiến tôi thấy những gánh nặng trên vai nhẹ nhàng hơn. Qùynh Hoa là một dòng suối ngọt, một bóng mát, một hy vọng, một nơi yên nghỉ êm đềm cho linh hồn thể xác mệt mỏi của tôi trong cuộc chiến tàn nhẫn đầy máu và nước mắt này. Tôi vẫn cảm thấy rằng sau nét mặt vô tư ngây thơ, Quỳnh Hoa có một sức thu hút kỳ lạ, giống như một vùng đất mới chứa đầy những bí mật quyến rũ đối với những nhà thám hiểm. Đúng vậy, nàng chính là sự thiêng liêng kỳ bí, một vườn Địa Đàng cho riêng tôi. Tôi vẫn chưa hiểu tại sao nàng qúa thương tâm khi thăm Châu trong bệnh viện nên muốn tìm hiểu thêm:
- Qùynh Hoa ở Phú Nhơn lâu chưa ?
- Độ gần một năm thôi, em ra trường sư phạm cấp tốc rồi xin đổi về đấy ngay.
- Sao em không xin dạy ở gần nhà có phải tiện hơn không ?
- Ngày xưa, Ba em làm Quận Trưởng Phú Nhơn. Người đã bỏ cả cuộc đời để xây dựng cái quận đèo heo hút gío này. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, dân chúng từ miền ven biển và từ ngòai Bắc di cư lên đây lập nghiệp, đã được chính quyền tận tình giúp đỡ. Nhưng rồi trong một cuộc đi thăm đồn điền của một xã phía Tây Quận Lỵ, Ba em đã lọt vào ổ phục kích và bị sát hại. Em lớn lên, muốn tiếp nối cái hoài bão của Ba em là nâng cao dân trí để họ có thể hiểu được ý nghĩa của sự tự do, dân chủ, công bình và lẽ phải.
Tôi thầm nghĩ những danh từ tự do, dân chủ thật qúa mơ hồ đối với những người lính tác chiến, với đám dân quê nghèo thất học ở đây. Gia đình, vợ con, miếng cơm manh áo, mạng sống có lẽ gần gũi hơn. Tôi thấy vừa kính nể vừa thương hại người con gái mới lớn mang trong lòng một hoài bão qúa lý tưởng, qúa to lớn. Nàng đúng là một Tiên Nữ mà Thượng Đế đã gởi xuống cõi trần đầy khổ đau này.


4
Sau nhiều lần đi thăm Châu, chúng tôi thấy gần gũi nhau hơn. Tôi tìm thấy ở nàng một niềm vui, một ước mơ, một mái ấm gia đình cho tương lai. Vùng đất hoang vu này trở nên tươi mát đáng yêu bởi vì chỗ nào cũng thấy đoá Hoa Quỳnh nở rộn ràng.
Chúng tôi đã yêu nhau, có núi rừng và con sông nhỏ chảy qua quận lỵ làm chứng. Con sông thật hiền hoà và dễ thương như người tôi yêu. Bên bờ sông những hàng cây Phượng Vĩ nở đỏ rực mỗi mùa hè. Mùa mưa nước phù xa đỏ ửng từ trên ngàn chảy cuồn cuộn xuống ngập gần hết cây cầu sắt nhỏ bắc qua sông. Cây cầu nhỏ sơ sài có vài nhịp, bề ngang chỉ đủ cho một chiếc xe đò qua lại. Mùa nắng, nước cạn trơ những bãi cát trắng tinh. Người ta đào cát thành những vũng nước trong, gánh về để uống. Giữa lòng sông nước trong vắt nhìn thấy cát và sỏi tận dưới đáy, nước chảy lững lờ. Mấy chàng Pháo Thủ thường ra tắm sông để được chiêm ngưỡng những nàng thôn nữ cao nguyên ngực no tròn và rất tự nhiên. Tôi yêu núi rừng Cao Nguyên, mỗi buổi sáng thức dậy đứng trên đồi nhìn chung quanh chỉ thấy một màu xanh rì, mênh mông như biển cả. Tôi yêu con sông bé nhỏ, tôi yêu cây cầu sắt cũ kỹ đưa người qua sông, tôi yêu hàng cây Phượng Vĩ học trò, tôi yêu sân trường tiểu học Phú Nhơn, tôi yêu con đường nhựa bé bỏng chạy qua quận lỵ và băng qua núi rừng Cao Nguyên. Tôi yêu và yêu rất nhiều, bởi vì ở đâu cũng thấy hình bóng của nàng. Tôi yêu lắm những buổi chiều hai đứa dẫn nhau ra bờ sông, lang thang dưới những hàng cây xanh um, hoặc ngồi trên thành cầu nhìn dòng nước hững hờ trôi. Nàng ngồi bên tôi, đong đưa hai hàng chân trắng muốt, cười nói vô tư như một Thiên Thần. Trời Đất, Vũ Trụ, Thời Gian như ngừng hẳn, ôi đẹp đẽ và thanh bình đất nước tôi!
Ở đó, bấy giờ, không nghe tiếng súng nổ, không nghe tiếng gầm gừ của máy bay phản lực, không gian hoàn toàn yên tĩnh.
Chúng tôi đã dệt những giấc mộng tương lai đơn sơ và êm đềm.
- Qùynh Hoa ơi, mai này chiến tranh chấm dứt, anh sẽ cất một căn nhà bên bờ sông này, em sẽ tiếp tục dạy học, còn anh sẽ biến vùng đất màu mỡ này thành một đồn điền trù phú, em có chịu không ?
- Anh trồng cho em một vườn trái cây mít , ổi, xoài, đu đủ, mảng cầu nghe anh.
- Ừ, anh sẽ trồng bất cứ cây gì em muốn.
- Anh hứa thương em và chiều chuộng em như ngày xưa Ba yêu thương và chiều chuộng em nghe.
- Anh hứa.
- Anh đừng bỏ em, như Ba đã bỏ em một mình, em sợ lắm.
- Không, anh sẽ không bỏ em một mình.
- Nghe anh nói thơ mộng và sung sướng qúa, cám ơn Trời Phật đã cho em gặp anh. Có lẽ Ba đã run rủi em gặp anh đó. Lập ơi em thương anh lắm, anh biết không?
- Sao em thương anh nhiều dữ vậy ?
- Không biết nữa, có lẽ em thấy anh giống Ba em. Anh chiều chuộng em, anh là người lớn, bao dung, đại lượng, biết nhiều, hiểu nhiều. Anh biết không, hôm em gặp anh đi hành quân, em thấy anh oai hùng qúa, giống như Ba em ngày xưa. Mấy Ông Lính thương anh lắm phải không ?
- Không mấy ông ấy ghét anh lắm.
- Cái mặt xạo, ai mà ghét anh. Anh nhiều đào lắm phải không ? nói cho em nghe đi.
- Có mình em thương anh thôi, thiệt đó.
Tôi ngồi bên nàng, uống từng giọt tình yêu ngọt ngào, nghe trái tìm mình đập từng điệu nhạc run rảy trên lối vào Thiên Đường chỉ có hai đứa chúng tôi. Nàng đã dạy cho tôi biết mơ mộng, thấy đời đáng yêu hơn, những thứ đó tôi đã đánh mất từ khi mới lớn, từ khi bước chân vào quân ngũ, tôi vẫn nghĩ tuổi trẻ của tôi đang đi vào ngõ cụt và chỉ còn những giấc mơ hãi hùng. Đời tôi thật trống rỗng nếu không có nàng. Tôi thấy yêu thương nàng qúa đỗi. Qùynh Hoa vẫn còn vẽ những giấc mơ của nàng nhưng tôi không còn nghe gì cả, chỉ thấy cánh môi hồng mấp máy, hơi thở thơm tho mùi mía lùi phà trên mặt tôi. Bất chợt, tôi ôm và hôn nàng say đắm, người nóng bừng như có dòng điện chạy ào ạt từ tim lên đầu. Nàng đẩy nhẹ tôi ra:
- Coi kìa, người ta cười mình đó.
- Ai mà dám cười mình.
Nàng đánh trống lảng, bâng quơ hỏi tôi:
- Anh ơi, cây cầu này có tên không anh.
- Anh cũng chẳng biết nữa, hay là mình đặt cho nó một cái tên làm kỷ niệm nghe.
- Em cho anh đặt đó.
- Ừ, hay là mình gọi là Cây Cầu Biên Giới nghe em.
- Cái tên nghe cũng hay đấy, nhưng mà nghe có vẻ chia ly qúa. Giống như trong bài “Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu” của Nguyễn Văn Đông vậy.
Tôi phì cười:
- Mới thương nhau mà em đã nghĩ đến chuyện chia ly rồi.
- Nhưng mà em sợ lắm, thời buổi chiến tranh... Lỡ mai này, anh bỏ em ở đây một mình, em buồn lắm đó.
- Không, anh sẽ không bỏ em một mình, anh sẽ xin với Mẹ để cưới em, chúng ta mãi mãi bên nhau.
Nàng reo lên sung sướng như một đứa con nít, mắt sáng ngời những tia hy vọng, rồi ôm lấy tôi. Ôi mùi thơm ngọt ngào, tôi làm bộ đẩy nhẹ nàng ra.
Thật không ngờ, nơi rừng rú hoang vu nguy hiểm này ai nghe đến cũng rợn tóc gáy. Bạn bè, người thân, lâu không gặp nhau, hỏi tôi bây giờ Ớ đâu, tôi trả lời ở quận Phú Nhơn tỉnh Cheo Reo, ai cũng lè lưỡi chọc tôi bộ hết đất rồi sao lên miền Thượng ở vậy, tôi chỉ cười khì. Bây giờ tôi đã có lý do để trả lời họ ... Bởi vì tôi mê hoa Qùynh, thế thôi.
- Anh làm gì ngồi thừ ra thế, hãy nói nữa về tương lai của chúng ta cho em nghe đi.
- Anh đang sung sướng qúa nên làm một bài thơ kỷ niệm.
- Ồ, anh biết làm thơ nữa sao? Hãy đọc em nghe đi, 
Chiều về thấp thóang bên sông,
Thấy Qùynh thơm ngát thấy lòng xôn xao.
Nàng cười rũ rượi, hai tay đánh liên hồi vào vai tôi. Một ngày như mọi ngày trôi qua, trong thung lũng tình yêu, bên cây câu biên giới, nỗi chết đã tạm chịu rút lui, để nhường chỗ cho tình yêu hoa bướm ngọt ngào. Tôi lấy con dao găm đeo bên mình khắc câu thơ trên thành cầu sắt để đánh dấu một chặng đường yêu đương…

Thành phố Gia Lai VN


5
- Anh muốn vào chợ hay đến nhà ai ở quận Phú Nhơn ?
Tiếng người tài xế kéo tôi về thực tại. Giấc mơ thật ngắn ngủi, như cuộc tình của chúng tôi.
- Anh cho tôi lại trường tiểu học.
Quang cảnh vẫn không thay đổi mấy, ngôi trường tiểu học vẫn như xưa. thời gian như ngừng trôi Ớ quận lỵ nhỏ bé này. Phố chợ đìu hiu vẫn còn kia, hàng rào kẽm gai chung quanh doanh trại nơi tôi đóng quân vẫn còn đó, nhưng chẳng ai biết đến một người con gái đẹp như hoa Qùynh đã từng in dấu chân nơi chốn này. Hình ảnh ngày xưa vẫn còn đủ chỉ thiếu một người. Tôi hối người tài xế chạy ra phía cây cầu. Chiếc cầu sắt nhỏ bé đầy dấu kỷ niệm, tôi như trong giấc mơ, Chàng Tú Uyên ngày xưa khi tỉnh giấc không thấy người đẹp trong tranh đâu nữa, chắc cũng ngỡ ngàng như tôi hôm nay thôi. Tôi bước lên cầu, ngồi đúng vào chỗ ngày xưa chúng tôi đã từng có một thời mơ mộng. Tôi ngồi bệt xuống, hai chân đong đưa, mắt nhìn xa xăm trên những ngọn phượng vĩ bên sông, cố tìm chút nắng vàng ngày xưa của một buổi chiều tà. Tìm mãi cũng chẳng thấy đâu, không thấy một dấu tích gì của nàng. Nơi thành cầu này tôi đã hôn những nụ hôn đầu tiên trong đời, vẽ những giấc mơ .Đúng là cây câu chia ly như nàng đã nói. Bây giờ nàng ở đâu, hay đã bỏ xác trên tỉnh lộ Số Bảy trên đường di tản về Tuy Hoà. Ồ phải rôì, tôi phải tìm lại bài thơ có lẽ đó là kỷ niệm duy nhất còn lại của tôi với nàng. Tôi dò từng tấc sắt trên thành cầu, bài thơ còn đó nhưng đã dài hơn hai câu:
Chiều về chiều vẫn một mình,
Trách người năm cũ bỏ tình bơ vơ.
Tôi bay về Hoa Kỳ lòng buồn miên man, bao nhiêu háo hức của ngày trở lại Việt Nam đã tiêu tan đâu mất chỉ còn lại sự mệt mỏi và chán chường. Tôi đã đi mọi nơi, để tìm tung tích của Quỳnh Hoa nhưng cũng không có tin tức gì. Ngày ấy nếu tôi không bị kẹt ngoài Huế, chắc chúng tôi đã chết bên nhau hay cùng nhau lênh đênh trên con tàu vượt biên. Thời gian thấm thoát trôi đi, tóc tôi đã bắt đầu điểm bạc. Mỗi lần đi đâu, thấy bóng dáng mái tóc thề và chiếc áo dài trắng lòng tôi lại xôn xao như ngày nào bên chiếc Cầu Biên Giới.

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

Những phát minh tình cờ

Những phát minh tình cờ

╭⊱ꕥ ❤️ ꕥ⊱╮

 

 

Trong suốt chiều dài lịch sử có nhiều sản phẩm rất hữu dụng và nổi tiếng lại ra đời theo một cách hoàn toàn bất ngờ.

Khoai tây lát chiên giòn (năm 1853)

Câu chuyệnvề sản phẩm này đến từ George Crum, một đầu bếp người Mỹ gốc Phi tại khu nhà nghỉ Moon’s Lake House Lodge ở Saratoga Springs (New York). Một ngày trong năm 1853, Crum đối mặt với một vị khách hàng cực kỳ khó tính. Theo nguồn tin thì danh tính của vị khách đó là ông trùm ngành đường sắt Cornelius Vanderbilt. Vị khách hàng luôn mồm chê món khoai tây của đầu bếp Crum rằng nó quá dày, nhũng nước và nhạt nhẽo, và đòi đổi món khác. Mặc dù đầu bếp Crum thừa sức để cắt các lát khoai tây mỏng hơn, nhưng ông khách vẫn không chịu, cho rằng ăn không ngon.

Không muốn lâm vào cảnh đấu khẩu, đầu bếp Crum quyết định “dạy” cho ông khách một bài học thú vị: Crum đã thái các lát khoai tây mỏng tang rồi chiên nó ngập trong chảo dầu cho đến khi khoai tây giòn đến độ chỉ cần đâm nĩa cũng đủ làm khoai tây nát bét, rồi phủ lên khoai tây một xíu muối bột. Vừa trông thấy món ăn, Cornelius Vanderbilt đã vớ lấy và đánh chén hết miếng này sang miếng khác, tấm tắc khen món ăn ngon tuyệt và gọi nhiều thêm. Tiếng lành đồn xa, đầu bếp Crum tóm lấy cơ hội quảng bá món “Khoai tây chiên Saratoga” và mở một nhà hàng cho riêng mình, chuyên bán món này.

Saccharin, chất làm ngọt nhân tạo (năm 1877)

Một đêm năm 1877, nhà hóa học người Nga Constantin Fahlberg bị lôi cuốn vào nghiên cứu của mình từ phòng thí nghiệm ở Đại học Johns Hopkins (Baltimore, Maryland). Fahlberg vội vã trở về nhà dùng bữa cơm tối quên luôn cả chuyện rửa tay.

Tại bàn ăn, Fahlberg cầm một khoanh bánh mì nướng, cắn một miếng nhưng bỏ nó xuống ngay. Chuyện khủng khiếp gì đã xảy ra? Khoanh bánh mì tự nhiên có vị ngọt. Fahlberg đột nhiên nhớ rằng ông quên rửa tay sau khi làm xong thí nghiệm. Thứ chất bí ẩn nào làm cho mọi thứ trở nên ngọt? Hào hứng với khám phá bất ngờ của mình, Fahlberg rời bữa ăn tối và hộc tốc quay trở lại phòng thí nghiệm, tỉ mỉ kiểm tra các thành phần của hắc ín. Fahlberg nhanh chóng nếm thử mọi thứ trên bàn làm việc của mình. Cuối cùng nhà hóa học đã tìm ra “anh bạn lạ”: một cái cốc bị đun quá lâu. Bạn đọc thử tưởng tượng mà xem, nếu như Fahlberg rửa sạch tay trước khi rời phòng thí nghiệm thì thế giới có lẽ mãi mãi sẽ chẳng ai biết đến chất tạo ngọt nhân tạo.

Coca-cola (năm 1886)

Trong lúc tìm cách để trị dứt bệnh đau đầu và cảm giác nôn nao, nhà hóa học John Pemberton đến từ thành phố Atlanta (tiểu bang Georgia, Mỹ) đã bất ngờ pha chế ra một ly sirô làm từ rượu vang và tinh chất coca và ông đặt tên món uống mới là “Vang coca Pháp của Pemberton”. Khoảng năm 1885, thành phố Atlanta cấm bán rượu, buộc nhà hóa học Pemberton phải nghĩ ra cách để sản xuất ra một món uống dạng si rô có thành phần coca được pha loãng.

Chuyện kể rằng, một nhân viên pha chế bất cẩn ngay tại vòi soda, thay vì dùng nước vòi thì người nhân viên dùng nước soda lạnh. Người ta tin rằng việc này là một dụng mưu của nhà hóa học Pemberton nhằm kiểm nghiệm quá trình nghiên cứu của mình. Nhiều người đã đem các mẫu nhỏ tới nguồn soda Willis Venables ở trung tâm thành phố Atlanta để thẩm định hương vị. Dù theo cách nào đi nữa thì cuối cùng một loại đồ uống thú vị cũng kịp chào đời.

Tia X (năm 1895)

Trong phòng thí nghiệm tối om vào một ngày của năm 1895, nhà vật lý người Đức – Wilhelm Conrad Rontgen đang bận rộn thử nghiệm các ống tia cực âm – tương tự như bóng đèn huỳnh quang của chúng ta ngày nay – nhằm điều tra xem cách truyền điện qua khí. Ông cẩn thận tháo 1 ống cực âm không khí rồi nhét một loại khí đặc biệt vào bên trong, rồi truyền một dòng điện cao áp qua ống. Trước sự ngạc nhiên khôn tả của Rontgen khi cái ống cực âm để cách ông vài mét bỗng đột nhiên phát ra thứ ánh sáng huỳnh quang xanh lục.

Quả là không bình thường khi mà thứ ánh sáng lại phát ra từ hộp các-tông màu đen dày được phủ lên ống cực âm. Thứ ánh sáng huỳnh quang xanh lục đó là tia X, được sinh ra thông qua một cách bí ẩn nào đó. Kêu vợ, bà Bertha, làm đối tượng thử nghiệm, nhà phát minh Rontgen khám phá ra rằng những tia X có thể đi xuyên qua các mô của cánh tay, nổi rõ hình xương tay. Việc Rontgen đột nhiên khám phá ra tia X đã trở thành một sự kiện chấn động toàn cầu. Cũng ngay trong năm 1895, người ta đã dùng tia X trong việc chẩn đoán gãy xương.

Nón kem (năm 1904)

Vào cuối thế kỷ 19, khi kem trở thành món ăn thông dụng đối với tầng lớp bình dân, các loại giấy, thủy tinh và kim loại thường được sử dụng để đựng kem. Những người bán hàng rong thường múc kem cho vào cốc và người mua chỉ cần trả vài xu là tha hồ liếm sạch kem trước khi trả lại cốc cho chủ quán. Cũng có khi khách hàng lấy luôn cốc hoặc quăng nó đâu đó.

Tại Hội chợ thế giới năm 1904 tổ chức ở St Louis (tiểu bang Missouri, Mỹ) có sự tham dự của hơn 50 tiệm kem và hàng tá các quầy kem. Kem tươi bán rất chạy vì thời tiết khá nực, nhưng một phần là do kem được đựng bên trong một lớp bánh lót! Người chủ tiệm kem Arnold Fornachou bán ra các tách kem bằng giấy, còn người chủ hàng bên cạnh – một người Syria tên là Ernest Hamwi, thì bán ra các miếng bánh lót để kem có thể cuộn gọn bên trong, khi ăn kem người ta ăn luôn cả lớp bánh lót đựng kem.

Peniciline (năm 1928)

Vào ngày 3/9/1928, trong lúc đang dọn dẹp phòng thí nghiệm tại Bệnh viện St Mary’s ở thủ đô London (Anh) sau khi trở về từ kỳ nghỉ, nhà Vi trùng học người Scotland-Alexander Fleming đã lờ mờ nhận ra có một chuyện rất lạ: một cái khuôn lên mốc xanh bị nhiễm vi khuẩn từ đĩa thí nghiệm nằm ngay trong một góc phòng thí nghiệm, đĩa đã không rửa khi Fleming rời phòng đi. Fleming có ý định vất bỏ cái đĩa ủ mầm vì ông nhận thấy rằng cái khuôn nấm mốc dường như đang hòa tan vi khuẩn tụ cầu trên đĩa, tạo ra một vòng tròn không mang mầm bệnh trên khuôn.

Bằng cách nào đó, một bào tử khuôn nấm mốc đã rơi vào trong đĩa ủ – có lẽ do cửa sổ phòng thí nghiệm mở toang, hoặc có lẽ là khi Fleming mở toang cửa nhà để đi xuống tầng dưới lấy cà phê – và bắt đầu sinh trưởng. Sau các xét nghiệm xa hơn, Fleming đã khám phá ra rằng có một số thứ trong khuôn đã làm chận lại sự sinh trưởng của vi khuẩn. Nếu không vội vàng đi nghỉ mát, có lẽ Fleming sẽ rửa sạch cái đĩa ủ và ngày hôm nay chúng ta cũng sẽ không có một trong những loại kháng sinh được sử dụng thông dụng nhất thế giới.

Lò vi sóng (năm 1946)

Trong lúc thử nghiệm vi sóng ngay trước một thiết bị radar vào năm 1946, kỹ sư kiêm chuyên gia về radar trong thời Chiến tranh thế giới thứ II, ông Percy Spencer (người bỏ học từ năm 12 tuổi) đã để thanh sôcôla trong túi áo và nó từ từ tan chảy. Cho rằng vi sóng là căn nguyên khiến sôcôla bị chảy thành nước, Spencer và các đồng nghiệp bắt đầu thử nghiệm đun nóng các thực phẩm khác nhằm tìm hiểu về tác động làm ấm tương tự có thể nhìn thấy bằng mắt thường.

Khi Spencer thử nghiệm với các hạt ngô thì ngay lập tức bỏng ngô văng khắp phòng. Kế đó, ông quyết định đun nóng 1 quả trứng. Bằng cách khoét một cái lỗ ở cạnh bên chiếc ấm đun nước, Spencer đã đặt quả trứng bên trong ấm và cho vi sóng đi lên mặt ấm. Quả trứng được nấu chín rất nhanh khiến ông Spencer không biết cách điều chỉnh nhiệt độ, và khiến cho quả trứng nổ tung vào mặt một đồng nghiệp khác khi người này đang dòm vào trong ấm. Cuối cùng đã có một giải pháp thay thế cho các loại lò điện và lò gas thông thường. Với lò vi sóng, thực phẩm được nấu chín cực nhanh, chiếc lò vi sóng đầu tiên trên thế giới đã ra đời như thế đó.

Khóa dán (năm 1955)

Hơn 60 năm trước, chiếc khóa dán đã được cấp bằng sáng chế. Loại móc nối và móc khóa là sản phẩm được cả thế giới sử dụng cho rất nhiều việc khác nhau, từ việc ngăn chặn áo khoác mở ra, cho đến ngừa miếng đệm rơi khỏi ghế. Phát minh này ra đời hết sức tình cờ. Khoảng năm 1955, sau khi dẫn chó đi dạo bộ trong cánh rừng, kỹ sư điện người Thụy Sỹ, ông George De Mestral, nhận thấy rằng các cạnh sắc của quả cây ngưu bàng bám dính lên quần áo của ông cũng như lông con chó.

Quan sát các cạnh sắc dưới kính hiển vi, ông De Mestral nhìn thấy có hàng ngàn cái móc nhỏ xíu có thể dễ dàng dính chặt lên các vòng nhỏ trong quần áo. Nguồn cảm hứng này khiến cho De Mestral nảy sinh ý tưởng tạo ra loại khóa 2 mặt, như sau này ông viết về phát minh của mình: “Một mặt có các móc cứng như cạnh sắc, mặt kia lại có các vòng mềm mại như các sợi vải trong quần của tôi”. Kỹ sư De Mestral đã thử nghiệm với đủ loại vật liệu nhằm giúp cho ông phát triển ra một loại khóa dán mạnh nhất. Cuối cùng, nylon là vật liệu hoàn hảo. Và thế là khóa dán – một sự kết hợp của “nhung” và “móc” – đã ra đời.

Giấy ghi chú (từ 1968 đến 1974)

Vào năm 1968, nhà hóa học Spencer Silver (làm việc tại Công ty sản xuất và khai khoáng Minnesota ở St Paul, tiểu bang Minnesota, Mỹ), người được cho là phát minh ra chất kết dính mạnh mẽ dùng cho ngành công nghiệp hàng không vũ trụ, nhưng cuối cùng ông đã phát minh ra một thứ ít tên tuổi hơn. Kỳ lạ thay, những khối cầu acrylic được tạo ra không dễ gì mà phá hủy, và độ dính nó rất cao ngay cả khi đã sử dụng vài lần. Buổi đầu, Silver muốn bán chất kết dính như một thứ bề mặt dính dùng cho bất kỳ ai muốn gắn nó lên bảng thông báo.

Ông hình dung cách người ta dán chúng lên bảng và lột ra sau đó mà không cần đụng móng tay vì có thể sẽ làm tan nát mảnh giấy dán. Ý tưởng này chỉ trở thành một sản phẩm thực sự cho mãi đến năm 1974, khi nhà hóa học Art Fry nảy ra một ý tưởng: tại sao không dùng chất kết dính “ít dính” của ông Silver dán trên các mảnh giấy? Fry bắt đầu cắt các mẩu giấy nhỏ và dán chúng lên nhau. Sau đó, một vài mẫu giấy dán được gửi tới cho công chúng và hiệu quả tức thì, ít nhất 90% số người được phát mẫu giấy ghi việc đã phản hồi và muốn mua thêm. Ngày hôm nay, loại giấy ghi chú vẫn thuần túy một màu vàng.

 

Hồng Anh sưu tầm

Dữ kiện về rượu

Dữ kiện về rượu

~~<><><><>~~

Rượu được cho là món quà chất lỏng của Thượng đế tặng cho nhân loại, được nhiều người thuộc mọi thành phần xã hội thưởng thức từ bao thế kỷ nay. Nhưng rượu cũng là con dao hai lưỡi: Nó có thể làm cho người nhát đảm thêm hăng hái, cho người thiếu sáng kiến được thêm tính sáng tạo, mà cũng làm hủy hoại cuộc đời một con người. Sau đây là một số dữ kiện về rượu có thể bạn chưa biết:

‘Beer Day’

Iceland là quốc gia tiêu thụ rượu tăng tới 35% trong thời gian từ 1992 đến 2012, và có một ngày lễ chính thức vào đầu Tháng Ba gọi là Beer Day.

 

Ngày này có nguồn gốc lịch sử. Bắt đầu là năm 1915, Iceland có luật cấm rượu. Không lâu sau đó, Tây Ban Nha dọa rằng nếu Iceland không bắt đầu tái nhập cảng rượu của Tây Ban Nha thì họ sẽ ngưng nhập cảng cá tuyết muối của Iceland. Đây là cú tát mạnh vào nền kinh tế Iceland.

Iceland phải nhượng bộ, và tới năm 1921, lệnh cấm rượu vang đỏ từ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha được bãi bỏ. Tuy nhiên bia vẫn còn cấm cho mãi tới ngày 1 tháng 3 năm 1989, ngày mà Iceland tuyên bố dân chúng được mua bia trở lại. Hôm đó, dân chúng lũ lượt đổ ra đường phố ăn mừng, và từ đó ngày này trở thành hội bia cả nước.

Tuổi uống rượu hợp pháp

Tuổi được uống rượu ở Mỹ đã có thay đổi: từ 18 tuổi trước kia đến quy định hiện nay là 21. So với nhiều nước khác trên thế giới, giới hạn tuổi như thế là vô lý: Có tới 19 nước không giới hạn tuổi, trong đó có Sierra Leone và Campuchia; một số nước như Antigua, Barbuda và Cộng hòa Trung Phi khắt khe hơn đôi chút: tuổi được uống rượu là từ 10 và 15 tuổi.

Tuy nhiên, không có đâu khe khắt hơn 16 nước, như Afghanistan, Somalia, và Pakistan, không cho uống rượu ở bất cứ tuổi nào. Còn ở Iran, lệnh cấm rượu được thiết đặt sau cuộc cách mạng 1979, có hai người uống rượu đã bị kết án tử hình năm 2012, trước đó họ đã bị đánh 80 hèo cũng vì uống rượu.

Rượu ở bữa điểm tâm

Một số nước trên thế giới có truyền thống say sưa ngay từ bữa ăn sáng.

Xưởng rượu Black Isle Brewery ở Scotland mới cho xuất xưởng Cold Turkey, một thứ bia đậm dành cho dân uống khi ăn sáng. Tuy độ rượu chỉ là 2.8%, nhưng nhiều người Scotland lo ngại là với chiều hướng này, dân nhậu càng được khuyến khích thêm, mà mức độ tiêu thụ rượu rất cao đã xếp Scotland vào hạng uống nhiều thứ 8 trên cả thế giới.

Còn dân Đan Mạch thì thích uống một ly Gammel Dansk cùng với cà phê vào buổi sáng.

Kế đến là bữa điểm tâm của nhiều người xứ Bavaria – một bang ở phía đông nam nước Đức – thế nào cũng có một chai lớn bia lạnh. Họ có riêng một thuật ngữ để chỉ chuyện đó: fruhschoppen có nghĩa “uống rượu trước buổi trưa”.

Nước Mỹ thời thuộc địa

Thói quen uống rượu của người Mỹ có lẽ bắt nguồn từ thời Hoa Kỳ còn là thuộc địa của nước Anh. Thời đó, trung bình mỗi người Mỹ uống 8 ounces rượu một ngày. Uống bia hoặc rượu táo trong bữa ăn sáng là chuyện thường. Và cả trẻ con cũng có lúc uống rượu.

Vào thời gian đó, các sông ngòi ở Âu châu thường bị ô nhiễm, gây ra nhiều bệnh tật, có khi là bệnh nặng. Vì lẽ đó, họ dùng rượu thay nước, và truyền thống này lan sang cả vùng Tân Thế giới. Whiskey thường được dùng để “chữa” bệnh viêm thanh quản và đau bụng; rượu brandy nóng để trị bệnh tả; còn đàn bà có thai muốn cho bớt khó chịu thì làm một shot rượu mạnh.
John Adam, quốc phụ dựng nước, mỗi sáng đều làm một ly rượu táo nặng, còn John Hancock được biết là đã buôn lậu rượu. Trước đó cả trăm năm, vào năm 1622, công ty Virginia Company ở London đã viết cho Thống đốc Francis Wyatt ở Jamestown, phàn nàn rằng thuộc địa bị thiệt hại vì thói say sưa.

Rượu được cho là món quà chất lỏng của Thượng đế tặng cho nhân loại, được nhiều người thuộc mọi thành phần xã hội thưởng thức từ bao thế kỷ nay. Nhưng rượu cũng là con dao hai lưỡi: Nó có thể làm cho người nhát đảm thêm hăng hái, cho người thiếu sáng kiến được thêm tính sáng tạo, mà cũng làm hủy hoại cuộc đời một con người. Sau đây là một số dữ kiện về rượu có thể bạn chưa biết:

Thú vật say xỉn

Loại sóc nhỏ có đuôi nhọn như cây viết ở Mã Lai chịu được thứ rượu nặng nhất thế giới. Còn loài dơi ăn trái cây và những con culi chậm chạp lại thích ăn những thứ trái đã lên men và mật hoa.

 

Nhưng theo một cuộc nghiên cứu năm 2006 thì loài khỉ nâu (rhesus macaques) có thói uống cho đến khi say mèm té gục. Những con nào thích say sưa thường sống cu ky một mình và uống li bì cho đến chiều tối, chẳng khác gì con người.

Khỉ vervet, còn gọi là khỉ xanh, đã quen mùi với chất ethanol trong những cây mía lên men có khắp vùng Carribê và khỉ ít tuổi uống nhiều hơn khỉ già.

Danh sách thú vật say sưa còn dài, từ những con bướm thích uống bia để tăng cường bộ phận sinh tinh (spermatophores) cho đến những con ruồi đực uống say bí tỉ khi bị từ chối không cho giao phối.

Bệnh dịch Waragi ở Uganda

Năm 2010, trong khoảng 3 tuần lễ, có hơn 100 người Uganda chết sau khi uống thứ rượu chuối nấu lậu ở nhà có pha thêm methanol. Trước khi chết, những người này hoặc bị mù, hoặc suy thận và suy gan. Sau vụ này, hàng trăm nhà dân bị khám xét tìm rượu nấu lậu.

Rượu này người Uganda gọi là waragi, chế bằng chuối, hạt kê hoặc mía, giá rẻ chỉ bằng một phần sáu giá rượu chính thức được phép bán. Chính phủ ra luật cấm sản xuất waragi, mà thị trường waragi chiếm tới 80% số lượng rượu trong nước.

Luật này cũng mau trở thành vô hiệu. Đối với người vi phạm lần đầu, mức tiền phạt chỉ bằng $1.50 USD, và các nhà chính trị từ chối không muốn săn tìm người nấu lậu vì làm mất thu nhập của nhiều gia đình, mà họ cũng mất phiếu khi bầu cử. Luật thì có đó nhưng người dân vẫn tiếp tục nấu waragi bằng bất cứ thứ hóa chất nào họ có được, do đó số tử vong tiếp tục tăng.

Rượu và thai nghén

Từ lâu, đã có cuộc tranh luận xem các bà bầu có nên uống một chút rượu, chẳng hạn 1 ly rượu vang. Cuộc nghiên cứu mới đây tại Đan Mạch cho thấy phụ nữ uống mỗi tuần một ly rượu vang, thì đẻ con có tính tình và cảm xúc tốt hơn những người mẹ kiêng cữ không uống, trong khi CDC ở Mỹ khuyến cáo các bà bầu nên hoàn toàn kiêng rượu.

Nhiều bác sĩ cho rằng thỉnh thoảng uống một ly cũng vô hại cho thai nhi. Bác sĩ Marjorie Greenfield, giáo sư sản khoa và phụ khoa, cho biết không có bằng chứng thấy uống chút ít là nguy hiểm, và uống mỗi tuần từ 1 đến 2 drinks đều ok.

Rượu được cho là món quà chất lỏng của Thượng đế tặng cho nhân loại, được nhiều người thuộc mọi thành phần xã hội thưởng thức từ bao thế kỷ nay. Nhưng rượu cũng là con dao hai lưỡi: có thể làm người nhát đảm thêm hăng hái, cho người thiếu sáng kiến được thêm tính sáng tạo, mà cũng làm hủy hoại cuộc đời một con người. Sau đây là một số dữ kiện về rượu có thể bạn chưa biết:

Yếu tố di truyền

Nghiên cứu cho thấy chứng ghiền rượu bị chi phối do các yếu tố vừa môi trường vừa di truyền. Một nhóm đặc biệt có mức độ tiêu thụ rượu cao là người Mỹ bản địa, ta quen gọi là mọi da đỏ. Theo Bác sĩ Ting-Kai Li, giáo sư y khoa và sinh hóa, thì tình trạng đó là do sự biến đổi gene được di truyền: họ không có các gene bảo vệ cho phép sự hấp thụ chất acetaldehyde.

 

Nếu acetaldehyde không được phân hóa khi hấp thụ, sẽ tích tụ và đưa tới các hậu quả xấu về sinh lý. Sự tích tụ acetaldehyde cũng có thể kích thích việc uống rượu.

Dĩ nhiên còn có yếu tố môi trường, nhưng dù do bất cứ yếu tố nào thì người da đỏ cũng là nhóm có số tử vong vì rượu cao nhất so với các nhóm dân tộc ở Mỹ.

Hậu quả của say rượu

Ai cũng biết rằng lạm dụng rượu là có hại. Về y học, khi ta nói đến bệnh xơ gan là ta nghĩ đến rượu, nhưng thực tế, xơ gan chỉ là một trong những bệnh tật do lạm dụng rượu mà ra. Chẳng hạn, ghiền rượu có thể làm giảm thiểu khả năng của cơ thể không hấp thụ được vitamin B1 (thiamine), do đó lượng vitamin này trong cơ thể giảm đi.

Vì thiếu B1 nên tạo ra hậu quả trầm trọng trên hệ thống thần kinh gọi là triệu chứng Wernicke-Korsakoff syndrome. Đây là căn bệnh thần kinh có thể làm cho cơ thể không phối hợp được các động tác như đi, đứng…, làm lệch lạc thị giác (như nhìn ra hai hình, mắt không theo kịp chuyển động). Triệu chứng nói trên còn có thể gây ra lẫn lộn và mất trí nhớ.

Có lẽ bệnh đe dọa đến mạng sống nhất khi ghiền rượu là chứng suy tim sung huyết (congestive heart failure) do cardiomyopathy bị dãn nở, tức là trái tim bị dãn ra quá mức, trông giống như một trái banh khi chụp X-quang, làm ảnh hưởng đến khả năng bơm máu đi khắp thân thể.

Kế hoạch “đầu độc” của Liên bang

Trong những ngày từ 25 đến 27 tháng 12 năm 1926, thành phố New York có 31 người chết vì rượu và vô số người khác bị bệnh nặng. Lúc đầu người ta tưởng chỉ là vì ngộ độc do rượu, nhưng hóa ra là do nhà nước.

Khi luật cấm rượu có hiệu lực năm 1920, giới thi hành luật bắt đầu làm biến thái rượu kỹ nghệ bằng cách thêm vào những hóa chất độc hại. Kế hoạch này nhằm ngăn chặn dân không tinh chế lại chất lỏng đó để uống. Sau một thời gian, các bar bí mật nở rộ, nên lực lượng chống rượu của chính phủ phát triển một thể thức biến thái mới làm cho rượu thuộc loại kỹ nghệ có mức độc hại tăng gấp đôi.

Tạp chí Time trong một bài báo năm 1927 nói rằng chỉ cần uống 3 drinks thứ rượu do nhà nước chế tạo cũng đủ gây mù lòa. Chính phủ tuyên bố người nào uống rượu là tự do ý thích, chính phủ không nhận trách nhiệm.

Việc cấm rượu kết thúc 5 năm sau, và tính tới lúc đó, việc này đã cướp đi sinh mạng của ít nhất 10 ngàn người do tranh chấp băng đảng và uống rượu lậu.

 

-Hình minh họa

 

Phượng Nghi

 

 

Kim Quy sưu tầm

Theo dõi RSS này