Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1024)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (24)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (66)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (215)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Ôi Phi Công… danh tiếng muôn đời - Yên Sơn

Ôi Phi Công… danh tiếng muôn đời

Yên Sơn

~~~oo0oo~~~

 

Ôi Phi Công… danh tiếng muôn đời - Yên Sơn

Câu chuyện phiếm


Mào đầuchuyện phiếm là chuyện đọc cho vui, xem rồi bỏ mong đừng ai phiền lòng.
Khi nắng chiều sắp tắt ngoài hiên, có một chàng trai trẻ vừa qua tuổi dậy thì (*),
nhìn vào bóng đêm rồi tủm tỉm cười một mình khi ôn lại chuyện năm xưa…



Ngồi lẩm bẩm hát bài Không Quân Hành Khúc của nhạc sĩ Văn Cao, đến câu “ôi phi công danh tiếng muôn đời”, tôi chợt mỉm cười tự hỏi “vì sao phi công lại được danh tiếng muôn đời?” Có quả thật phi công danh tiếng hay chỉ là câu hát của ông nhạc sĩ ưu ái tặng anh em? Hơn bảy năm vui buồn đời phi công tôi chưa từng nghe bất cứ một ai trang trọng nói như vậy; có chăng cũng chỉ là câu lặp đi lặp lại vô số lần “đừng làm mất mặt không quân” hoặc “đừng làm mất mặt phi công”.

Mot phi tuan chien dau co F-5A

Đừng làm mất mặt Không Quân. Đừng làm mất mặt Phi Công. Đừng làm mất mặt Hải Quân. Đừng làm mất mặt Nhảy Dù. Đừng làm mất mặt Mũ Xanh. Đừng làm mất mặt Mũ Nâu. Đừng làm mất mặt Thiết Giáp. Đừng làm mất mặt lính Sư Đoàn. Đừng làm mất mặt Trinh Sát. Đừng làm mất mặt binh chủng. Đừng làm mất mặt KBC. Đừng làm mất mặt Địa Phương Quân. Đừng làm mất mặt Nghĩa Quân. Đừng làm mất mặt Quân Cảnh. Đừng làm mất mặt Cảnh Sát quốc Gia … thậm chí còn có “đừng làm mất mặt Nhân Dân Tự Vệ hoặc Xây Dựng Nông Thôn”… Nói tóm lại, quân binh chủng nào cũng có niềm tự hào, cũng có cái hãnh diện rất riêng của họ. Tập thể Quân Đội Miền Nam Việt Nam luôn luôn căn dặn nhau giữ gìn lễ nghi quân cách thật đáng trân trọng.

Tôi không dám lạm bàn về danh tiếng của những anh em các quân binh chủng khác; càng không dám lạm bàn về những phi công tiền bối của mình! Chắc chắn các tiền bối phải toàn vẹn về mọi mặt mới lọt chân vào thế giới của lớp người đi mây về gió.

Kể từ ngày thành lập Không Quân VNCH (xem Phần Phụ Lục ở cuối bài), ngày 1/7/1955, cho tới lúc tôi được lọt vào trong cổng Phi Long, tháng 12/1968, chỉ có 13 năm thôi nhưng đó là một khoảng cách thênh thang, cách biệt trùng trùng. Bởi lẽ tháng 8/1965, thay vì chuẩn bị thi vào đại học, tôi lại nghe theo lời ong tiếng ve, hăm hở nộp đơn xin làm phi công, rồi ê chề lọt sổ phải trở lại học đường với ve sầu, với phượng vĩ. Cho đến 3 năm sau, khi Không Quân có nhu cầu bành trướng nhanh chóng, tôi mới có cơ hội hát bài ca hạnh ngộ. Mà thật tình tôi đâu có yếu đuối, vàng vọt gì cho cam; ngược lại, ngoại hình tôi rất cân đối trên trung bình, thể lực của một võ sĩ thường xuyên đấu võ đài, sức lực của một gã con trai bẽ gãy ngà voi… thế mà bị rớt đài vì lý do sức khỏe! Lý do sức khỏe chỉ là ba chiếc răng trám! “Mấy ổng” giải thích, răng trám khi lên cao độ sẽ bị hành hạ đau nhức!!! Tôi cố gắng giải thích rằng chỉ bị mẻ trên mặt chứ không phải bị đau răng nhưng ông nha sĩ lạnh lùng nói “no sir, rớt!” Khó khăn là thế!

Ôi Phi Công… danh tiếng muôn đời – dòng sông cũ

Số là trước khi nộp đơn đi Không Quân, tôi nghe nói là phải có sức khỏe hoàn hảo mới có hy vọng. Tôi biết là tôi rất mạnh khỏe nhưng tôi cũng đi nhà thương khám sức khỏe tổng hợp trước cho chắc ăn. Tất cả đều vượt tiêu chuẩn, tim gan phèo phổi ngon lành, chỉ có ba chiếc răng hàm bị mẻ trên mặt răng. Tôi xin ông nha sĩ trám lại cho bằng phẳng dù nha sĩ nói không cần thiết nhưng tôi muốn “toàn vẹn” nên quả quyết phải làm. Lý do răng hàm mẻ không phải bị đau răng, bị sâu răng mà vì tôi hay biểu diễn nhai ly thủy tinh! Đâu ngờ trò chơi ngu xuẩn của thanh niên mới lớn làm tôi phải lao đao hết mấy năm dài! Như vậy, điều kiện tiên quyết để trở thành phi công KLVNCH là sức khỏe phải hoàn hảo ngoài học lực tối thiểu phải có Tú Tài I trở lên, hồ sơ an ninh phải trong sạch, có nghĩa là gia cảnh không liên hệ tới Cộng sản, không có tư tưởng nửa chừng xuân.

Phi công cũng phải trải qua các thời kỳ huấn luyện quân sự gắt gao; phải qua khóa huấn nhục kinh hoàng. Khóa này cũng nhằm huấn luyện cho một người biết kính trên nhường dưới, biết tình nghĩa bạn bè, biết thương yêu đồng đội; rèn luyện một ý chí sắt thép, thể chất kiên cường để đáp ứng mọi hiểm nguy, gian khó. Mục tiêu của khóa cũng huấn luyện sự khiêm cung, hòa nhã với mọi người mọi giới và trang bị một mẫu người xứng đáng cho một binh chủng hào hùng, để có đủ điều kiện thực hiện câu châm ngôn của binh chủng, “Không bỏ anh em, không quên bè bạn”.

Sau khi “sống sót” qua các khóa huấn luyện này, phi công tương lai được đưa về các trường sinh ngữ quân đội và phải học thông suốt khóa huấn luyện sinh ngữ cấp tốc khoảng nửa năm dài. Trong tất cả sách giáo khoa đều nói về một đời sống văn minh tây phương; dạy cho khóa sinh những kiến thức phổ thông nơi xứ người; dạy cách giao tiếp, cách đối xử với người bản xứ, dạy ăn cho thanh cảnh, dạy chơi cho thanh lịch. Muốn ra trường, khóa sinh phải có một trình độ hiểu biết thực tiễn bằng sự thi cử khó khăn.

Ôi Phi Công… Danh Tiếng Muôn Đời – Yên Sơn

Thi đậu khả năng sinh ngữ xứ mình, phi công tương lai được cho may trang phục đại lễ, tiểu lễ và sắm sửa đồ tuế nhuyễn cho phù hợp với nơi đến để lên đường xuất ngoại và học sinh ngữ tiếp về ngành nghề cho thành thạo. Xong giai đoạn này mới bắt đầu học bay. Học bay từ phi cơ sơ đẳng nhất đến phi cơ tối tân nhất mà Không Quân Việt Nam có được, tùy theo tài khóa và theo từng khả năng của mỗi người. Trong suốt thời gian học tập nơi xứ người, việc học hỏi những điều mới lạ và thi cử dường như vô tận. Có nghĩa là không ai biết chắc được mình sẽ trở thành phi công cho tới khi được ông thầy trang trọng gắn cánh bay trên ngực áo trong một buổi đại lễ mãn khóa.

Sau gần một năm rưởi học hỏi, luyện tập gian khổ nơi xứ người, chàng về nước ngẩng cao đầu trình diện đơn vị, chào kính cấp trên đúng lễ nghi quân cách và tiếp tục được huấn luyện thêm mấy tháng nữa mới có thể theo các đàn anh “vượt trên lưng gió quyết chiến thắng”.

Phi công ngày ngày làm “đàn chim bay trên cao xanh”, hòa mình trong một không gian vô tận, mắt nhìn xa, lòng rộng mở. Vì luôn sống với khung cảnh đó nên một phi công biết làm thơ, biết viết văn cũng là một chuyện bình thường. Bình thường như biết ca hát, biết nhảy đầm. Phi công sống trong thời chinh chiến không cần lo nghĩ đến tương lai vì có thể sáng cất cánh đi chiều thôi không về nữa cũng là chuyện bình thường. Cái may mắn của phi công là dù có gian lao, có hiểm nguy đến đâu cũng là “lính thành phố”. Lính thành phố nên làm mòn nhẵn từng con đường, từng cổng trường, từng khuôn viên đại học cho đến một ngày “đi không ai tìm xác rơi”, quên mất đường về!

Phi công sống một cuộc sống hào hùng, “lúc đất nước muốn bao người con thân yêu ra đi, nuối tiếc tấm thân làm chi”. Vâng, hoàn toàn không nuối tiếc, chơi xả láng sáng không cần về, phi vụ phải hoàn tất tốt đẹp. Phi công được rèn luyện phải hào hoa, được dạy ăn phải thanh cảnh, dạy chơi phải thanh lịch cho nên bị người đời hay nói rằng “phi công hào hoa bay bướm”. Đâu phải phi công “bay bướm” mà phi công bị các phe kẹp tóc chọn lựa làm mục tiêu. Không phải “mèo khen mèo dài đuôi” chứ nếu tôi đứng ở chỗ của phe kẹp tóc, tôi sẽ không ngại nói to lên rằng “tại sao không chứ. Họ là con cưng của đất nước; họ thuộc lớp người nhìn xa hiểu rộng, họ là lính thành phố, họ biết ăn nói nhã nhặn, xả giao thanh lịch, sức khỏe hoàn hảo, thành thạo nếp sống văn minh, và họ rất tếu…” (không tếu sao được, ngay cả khi thần chết đứng trước mắt chàng vẫn còn có thể ba hoa “để ông cho chúng mầy sinh Bắc tử Nam”) ! Vì thế, phi công bị ganh ghét cũng là chuyện bình thường. Thậm chí có người hát nhại lời “ôi phi công… mang tiếng muôn đời”, hoặc bôi bác “hào hoa anh lính Không Quân, chỉ còn cái quần cũng bán để chơi”… cũng là điều dễ hiểu. Vâng, dù đói nghèo cỡ nào cũng rán “thanh lịch”, dù có lén mua xôi nắm, bánh mì sữa để kẹp đi bay nhưng lúc nào mặt mũi cũng tươi tỉnh, áo quần cũng bảnh bao vì chúng tôi được dạy dỗ rất kỹ rằng “chơi cho thanh lịch mới là chơi, chơi cho đài các xứng đời phi công”… nhưng đâu đến nỗi phải “bán quần” để chơi! Đểu thật!

Dù sao đi nữa, những nét uy dũng trên đây xin trang trọng dành riêng cho các bậc phi công tiền bối trước năm 1968. Từ đó trở về sau, Không Quân tuyển mộ ào ạt dù tiêu chuẩn tối thiểu vẫn còn nhưng được các ông cân đo đôi khi cố tình không thấy những cái nhón chân vô tình, vài tô phở lẻ tẻ, vài ly trà đá cối cho đỡ khát… có sá gì. Các thành phố lớn của miền Nam Việt Nam như Saigon, Biên Hòa, Cần Thơ, Đà Nẵng… đi đâu cũng nhan nhãn Không Quân. Nếu không quen biết thì Không Quân nào cũng vẫn là Không Quân. Nhưng dường như lũ Phi công nhí chúng em bị tụt giá rẻ rề dù vẫn phải phấn đấu kịch liệt để sinh tồn qua những đoạn đường chiến binh gian khó như các anh. Nhưng dù sao, con nhà tông không có lông cũng có cánh; chúng em vẫn bay bổng như mơ, vẫn hiên ngang đi vào lửa đạn dù biết “đi không ai tìm xác rơi, dù thân mồ quên lấp chìm”, và vẫn hãnh diện ké với cụm chữ dễ thương “ôi phi công danh tiếng muôn đời”. Cám ơn ông nhạc sĩ Văn Cao. Cám ơn Không Quân VNCH. Cám ơn người dân hiền hòa miền Nam nước Việt đã dành nhiều hảo cảm đối với Phi Công.

Phần Phụ Lục:

Để giúp mọi người tỉm hiểu thêm về Không Lực VNCH, tác giả xin trích dẫn trong cuốn số 4 thuộc Bộ Quân Sử VNCH do Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu (Khối Quân Sử) thực hiện do Cơ Sở Đại Nam xuất bản năm 1972.

Ôi Phi Công… danh tiếng muôn đời - Yên Sơn

LỊCH SỬ KHÔNG LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA

Ngành KQVNCH được thành lập bởi dụ số 9, ngày 25-6-1951. Tuy nhiên, mãi đến ngày thành lập Bộ Tổng Tham Mưu, một cơ quan phụ trách về Không Quân (KQ) gọi là Ban KQ mới được tổ chức trong thành phần của bộ tham mưu này.

Tháng 4-1952, Trung tâm huấn luyện KQ thành lập tại Nha Trang, ngành KQ mới được kể là thành hình qua việc tổ chức hai khóa huấn luyện hoa tiêu và cơ khí viên đầu tiên. Khóa hoa tiêu mở ngày 1-10-1952 với 9 khóa sinh sĩ quan và 6 khóa sinh hạ sĩ quan. Khóa cơ khí viên mở tháng 11 với 26 hạ sĩ quan học viên.

Trong giai đoạn đầu, ngành KQ chỉ được quy định ở một mức quân số gồm 40 sĩ quan, 120 hạ sĩ quan và 500 binh sĩ. Quân số này vừa đủ để tổ chức một cơ cấu KQ gồm có:
– Một cơ quan chỉ huy là Ban KQ, sau đổi thành Phòng KQ thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, dưới quyền một sĩ quan Pháp.
– Một trung tâm huấn luyện đào tạo phi công, quan sát và cơ phí viên.
– Một phi đội liên lạc có nhiệm vụ liên lạc và chuyên chỡ hàng không.

Trung tâm huấn luyện KQ năm 1952 đào tạo được 40 vừa hoa tiêu vừa cơ khí viên; năm 1953 số lượng tăng gấp đôi. Cũng trong thời gian này, một số sĩ quan và hạ sĩ quan được gửi qua Pháp du học.

Trong năm 1953, ngoài phi đội liên lạc tại Tân Sơn Nhất (TSN), phi đội trợ chiến và quan sát số 1 thành lập tại TSN và phi đội trợ chiến và quan sát số 2 tại Nha Trang (1-3-1953).

Những loại phi cơ thông thường mà sĩ quan KQVN đầu tiên được sử dụng là các loại phi cơ quan sát MS.500, Cessna L19A, Morane Saulnier, Marcel Dassault 315.

Đầu năm 1954, Ban KQ đổi thành Phòng KQ, nhưng cơ quan này vẫn giữ nhiệm vụ quản trị nhân viên chứ chưa có quyền hành gì cả.

Tháng 7-1955, ngành KQVN mới được giao cho sĩ quan VN điều khiển. Chức Phụ tá KQ được đề ra thay cho trưởng phòng KQ và chức vụ này tạm kiêm Tư lệnh KQ để lo phát triển cho ngành này trong lúc Pháp đang rút khỏi VN. Bộ Tư lệnh KQ coi như đã thành hình và hoạt động từ lúc này.

Khu truc co AD5, phi doan 514

Trước khi ngành KQ được chuyển giao, đệ nhất phi đoàn vận tải được thành lập tại TSN (1-6-1955) được gọi là Căn Cứ Trợ Lực KQ số 1. Khi tiếp nhận phi trường Đà Nẵng, Đệ nhất Phi đội trợ chiến và quan sát ở TSN được chuyển ra đây; trước đó Bộ Tư Lệnh KQ bối rối không ít vì không có phương tiện tiếp thu, đã định giao phi trường này cho hàng không dân sự đảm trách. Cuối năm 1955, KQVN thành lập Đệ Nhất phi đoàn tác chiến và liên lạc nhưng phi đoàn này chỉ thực hiện trên giấy tờ, sau phải giải tán vì thiếu phương tiện.

Năm 1956, các căn cứ trợ lực KQ số 2 và số 3 được thành lập liên tiếp tại TSN và Biên Hòa. Mỗi căn cứ lúc ấy được tổ chức: một bộ chỉ huy, các cơ cấu hành quân, một ban công vụ và một ban quân y. Ngoài ra, để điều hành hệ thống không lưu, các phòng không lưu và các đài kiểm soát được thiết lập tại khắp các phi trường. Ngành KQ đã có những hoạt động riêng biệt trên không kể từ chiến dịch Đinh Tiên Hoàng, là chiến dịch tiểu trừ phiến loạn tại Miền nam.

Tính tới cuối năm 1956,ngành không lực của quân đội Quốc gia đã có các căn cứ, đơn vị máy bay thuộc đủ mọi loại như sau:

Căn cứ trợ lực KQ số 1 Nha Trang:

Trung tâm huấn luyện KQ:

21 máy bay Morane Saulnier
13 máy bay Cessna L19A

Phi đội liên lạc và trợ chiến số 2

5 máy bay quan sát MS.500
16 Cessna L19A

Căn cứ trợ lực KQ số 2 TSN:

Phi đội liên lạc:

3 máy bay Dakota DC3
3 máy bay Beechcraft
2 Cessna L19A
1 máy bay MS.500
6 máy bay Marcel Dassault 315

Phi đoàn vận tải:

21 máy bay Dakota DC3

Căn cứ trợ lực số 3 Biên Hòa:

Căn cứ Biên Hòa

13 Cessna L19A
2 Máy bay MS.500
3 máy bay Dakota DC3

Phi đoàn chiến đấu:

Hình thức

Căn cứ Đà Nẵng:

Phi đội quan sát và trợ chiến:

12 máy bay MS.500
16 Cessna L19A

Tổng cộng: 69 chiếc Cessna L19A, 26 chiếc Dakota DC3, 21 chiếc Morane Saulnier, 20 chiếc quan sát MS.500, 6 chiếc Marcel Dassault và 3 chiếc Beechcraft.

Mời quý vị cùng nghe bản Không Quân Hành Khúc:

 

 

(*) 60 chưa phải là già,
65 chỉ mới vừa qua dậy thì

 

Yên Sơn

 

 

Xem thêm...

NỒI CANH CHUA CỦA MÁ

NỒI CANH CHUA CỦA MÁ

✧✧✧✧

 
canh chuaNgày xưa nhà tôi nghèo lắm, đến bữa ăn gia đình thường quây quần bên mâm cơm đạm bạc, không có người ăn trước người ăn sau, bởi nếu như vậy thức ăn sẽ không đủ cả cho gia đình mười người con.
Anh em có một thông lệ ngầm là mỗi tháng phải nấu hai lần canh chua, đó là ngày Ba tôi lãnh lương và ngày anh em chúng tôi đề nghị.
Mỗi lần nghe Ba tôi nói với Má: “Bà ơi mai nấu canh chua nghe bà” dường như đêm đó tôi không ngủ được, thử hỏi một thằng con trai còn non và chưa xanh vừa tròn mười lăm tuổi… ngày mai xách giỏ lẽo đẽo đi chợ với Má, thì ôi thôi “còn có danh gì với núi sông“ nữa.
Vào chợ, Má lựa chọn tỉ mỉ, cá phải là cá còn sống, rau phải tươi ngon, trái me không được già hay non quá, khóm mua nguyên trái vừa chín tới, bạc hà mới cắt phải còn mủ, lấy móng tay bấm vào phải xốp…

Tìm Hiểu Cách Nấu Canh Chua Cá Lóc Đơn Giản Mà Ngon Ngây Ngất

Việc mua nguyên liệu, Má đã cẩn thận, thì công đoạn nấu nồi canh chua còn công phu hơn nữa, để cạo lớp nhớt trên mình con cá Hú (Ú) phải là nước sôi vừa “reo” sau đó chà xát với muối tránh mùi tanh, cá cắt ra từng khứa bằng nhau để vào rỗ cho ráo nước không được để trên dĩa cá đọng nước sẽ không ngon, trái me cạo sạch và dằm me bên ngoài lấy nước chua tuyệt đối không dằm me trong nồi canh chua, khóm và các rau khác xắt ra đều để thứ tự trong rỗ…

Khi nghe tiếng xe đi làm về của Ba tôi ngoài cửa, Má tôi mới bắt đầu nấu nồi canh chua, Má nói nồi canh chua không được nấu sớm hay trễ quá sẽ mất đi mùi vị của nồi canh chua, giống như trái cây chín tới khi ăn mới cảm nhận được cái ngon của nó.

Tôi không quên được tiếng húp xì sụp, những giọt mồ hôi chảy dài của anh em tôi bên mâm cơm bởi vị ngon của tô canh chua.
”Bà nấu ngon quá“ Ba tôi khen.
Nhìn chồng và các con ăn, tôi thấy gương mặt Má tôi hạnh phúc và mãn nguyện.
Có lần Má tôi hỏi:
“Theo con nguyên liệu nào quan trọng nhất của nồi canh chua?”.
Tôi liền đáp: “Cá, me, bạc hà phải không Má“.
Má từ tốn nói: “Nếu chỉ có cá, me, bạc hà là nguyên liệu chính để quyết định nồi canh chua ngon, theo Má như vậy thì chưa đủ, con thử nghĩ nếu canh chua thiếu chút ớt hay hành, ngò, giá … thì hương vị của canh chua như thế nào?. Tuy những nguyên liệu đó không sánh được với nguyên liệu khác, nhưng nó là yếu tố quan trọng làm kết dính những mùi vị khác để hình thành nồi canh chua ngon.”

 Nằm lòng cách nấu canh chua chuẩn vị - tắm tắc khen ngon ngay từ miếng đầu

Những điều Má tôi nói, giúp tôi hiểu ra được nhiều vấn đề trong đó có việc học của tôi, trong lớp tôi chỉ giỏi toán, lý, hóa, sinh ngữ còn những môn khác tôi không cho là quan trọng.

Từ dạo đó tôi ít đi chơi chăm học hơn những môn kém, đi học về tôi phụ giúp Má nhiều hơn và việc học của tôi tiến bộ.
Tôi nghĩ “Trong cuộc sống có những vật bình thường ở cạnh mình, mình không gìn giữ, trân trọng khi mình cần nó đã thất lạc hay bị mất đi làm mình tiếc nuối khôn nguôi.”
Ba năm sau!
Vào một chiều mưa muộn, Má tôi đã bỏ anh em tôi ra đi mãi mãi!
Tạo hóa rất công bằng và oan nghiệt, tạo hóa ban tặng cho tôi một người Mẹ để tôi sống trong yêu thương, giận hờn, vòi vĩnh và tạo hóa đòi lại người Mẹ của tôi, chưa cho anh em tôi đủ trưởng thành để được báo hiếu.
Từ ngày Má mất, gia đình tôi ít tiếng đùa vui, anh em tự chăm sóc cho nhau, đi học về tôi nấu nướng chính cho gia đình. Riêng ba tôi tóc bạc nhiều, ít nói và trầm mặc.

Có những lần tôi chợt thức giấc nửa đêm thấy Ba ngồi ngoài sân nhìn vào cõi xa xăm, tôi biết Ba tôi đang nhớ Má lắm, Ba thật cô đơn như chết nửa tâm hồn.
Tháng năm dần qua, anh em tôi ra đời làm việc, người thành đạt, người công chức, người giáo viên cuộc sống ổn định.
Riêng tôi, hành trang ra đời là nồi canh chua của Má, cái nồi canh chua dân miền Nam ai cũng nấu được, chỉ khác nhau sự nêm nếm, tùy theo khẩu vị mọi người khi ăn xong chỉ khen ngon hay dở mà thôi.

Cách nấu canh chua cá chuẩn vị Nam Bộ - Bếp Eva

Nồi canh chua của Má cũng dung dị như bao nồi canh chua khác. Nhưng với tôi nồi canh chua của Má lại có tính triết lý dạy cho tôi biết vận dụng trong cuộc sống và ngộ ra được nhiều điều.

Ở công ty, tôi biết coi trọng chị nấu bếp, anh lái xe, người bảo vệ… Tôi không coi tôi là một khúc cá, me và bạc hà để quyết định nồi canh chua, chính họ - ngò, ớt, hành… là những nguyên liệu quan trọng kết dính để phát triển công ty, và tôi đã thành công.
Với con tôi, tôi là người cha, người bạn, người thầy và cả là người em nữa.
Mọi người tin tôi không? “Bố ơiiiiiii tắm con”
“ Yes Sirrrrrr “ !!!

Được Má chỉ dẫn phương thức nấu nhưng tôi chưa bao giờ nấu được nồi canh chua ngon như Má tôi.
Nhân ngày họp mặt, anh em đề nghị tôi nấu nồi canh chua, tôi tận dụng mọi kỹ năng của mình để hoàn thành nồi canh chua thật to đãi các anh em.
Đang ăn cơm, tôi thấy mọi người ăn trầm ngâm và đăm chiêu, đến khi đứa em út thốt lên một câu “Ăn canh chua làm em nhớ Má!“, từng đôi đũa để chầm chậm xuống bàn, mọi người từ từ đứng dậy không nói với nhau lời nào, tôi biết anh em đang hoài niệm lại ngày Má còn sống bên tuổi ấu thơ của chúng tôi.

Canh chua cá miền Nam đánh bay nắng nóng


Nồi canh chua của tôi nhạt nhẽo!
Nồi canh chua tôi nấu dư thừa của người có tiền, còn Má tôi phải đi từ đầu chợ đến cuối chợ trả giá, mua con cá vừa phải, xin thêm người bán cọng ngò trái ớt … vì túi tiền eo hẹp.
Nồi canh chua, tôi nấu nhanh chóng vì có người giúp việc.
Nồi canh chua của Má tự tay làm có pha mồ hôi và nước mắt vì khói củi cay xè.
Canh chua của tôi vừa ăn có nhạc du dương, còn canh chua của Má chỉ có mồ hôi và tiếng xì xụp, đũa muỗng lanh canh của mười đứa con đang đói.
Canh chua của Má tràn ngập thương yêu có sự đợi chờ chồng và các con về trong hạnh phúc đầy mãn nguyện, còn canh chua của tôi thì mau chóng, no nê và thừa thải.

Cơm Bắc tự chọn cho bữa trưa công sở Sài Gòn

Má tôi luôn luôn là người ăn sau cùng, có lần nghe thằng Út nói lại với tôi:
“Má mút lại những cái xương cá của anh em mình đó anh!”
Em hỏi Má, Má quay đi chỗ khác và nói
“Tụi con ăn phí quá!”
Đây là bài học có lẽ tôi không bao giờ quên cho đến khi xuôi tay nhắm mắt.
Nếu tôi được một điều ước, tôi sẽ ước Má tôi sống lại để anh em tôi được phụng dưỡng Má, dù tạo hóa có lấy đi bao nhiêu tuổi thọ của tôi cho điều ước đó tôi cũng vui vẻ chấp nhận, mãi được ôm Má vào lòng và gọi hai tiếng: “Má Ơi”.

Đỗ Cường

Phương Tuyền sưu tầm

 

Xem thêm...

TẾT TRUNG THU - Phạm Anh Dũng

  TẾT TRUNG THU    

  Phạm Anh Dũng  

Trung thu có nghĩa là giữa mùa Thu. Tết Trung Thu (Mid-Autumn Festival) là ngày Tết vào giữa mùa Thu, ngày 15 tức là ngày Rằm tháng Tám, của mỗi năm âm lịch (lunar calendar). Không nên nhầm với Lễ Trung Nguyên vào ngày 15 tháng Bảy.

Có thể nói Tết Trung Thu là ngày lễ lớn thứ hai của Việt Nam, sau Tết Nguyên Đán.

Ngoài Trung Hoa và Việt Nam, nhiều quốc gia Á Đông khác đều có ngày lễ tương tự như Tết Trung Thu này, tuy mỗi quốc gia có mừng ngày vui một cách khác nhau, khác ít hay khác nhiều. Thí dụ ở Đại Hàn là Lễ Tạ Ơn Chusok, ở Nhật Bản là Hội Zyuyoga…

1. NGUỒN GỐC TẾT TRUNG THU

Tết Trung thu: Nguồn gốc và ý nghĩa

Tết Trung Thu có lẽ bắt nguồn từ nước Trung Hoa. Có nhiều chuyện được truyền tụng về nguồn gốc của Tết Trung Thu, nhưng câu chuyện Đường Minh Hoàng Du Nguyệt Điện sau đây có lẽ được nhiều người biết.

Hàng ngàn năm trước, bên Trung Hoa, đời nhà Đường, vua Đường Minh Hoàng (713 Đường Minh Hoàng -741 Tây Lịch), nhớ Dương Quí Phi đã qua đời, thành đi dạo chơi vườn Ngự Uyển, vào một đêm Rằm tháng Tám. Nhìn mặt trăng to và đẹp, ông Vua ngắm trăng, mê thích quá và tự nhiên buột miệng nói ra ước muốn được đi thăm mặt trăng. Tình cờ một ông Tiên (có chỗ nói là Đạo sĩ La Công Viễn và có chỗ lại  là Pháp Sư Diệu Pháp Thiện) nghe được và đã dùng cầu vồng nối lên mặt trăng cho vị Vua được lên Cung Trăng. Ở trên Cung Trăng, nhà Vua được xem các Tiên Nữ hát và múa “Tây Thiên Điệu Khúc.”  Trong đám tiên nữ múa, nhà vua nhìn thấy cả hình ảnh Dương Quý Phi. Khi quay về lại quả đất, vua nhớ lại và họp thêm “Khúc Hát Bà La Môn” do Trương Kính Thuật, Tiết Độ Sứ Tây Lương, vừa triều tiến cùng lúc, để chế thành thành “Khúc Nghê Thường Vũ Y” (Nghê là cầu vồng, Thường là xiêm váy). Rồi thương nhớ Dương Quí Phi, vua mở tiệc có cung nữ múa hát.  Và để nhớ lại dịp được đi thăm mặt Trăng, nhà vua đặt ngày Rằm Tháng Tám mỗi năm là ngày Tết Trung Thu cho mọi người cùng vui mừng đón và ngắm trăng. Cũng vì vậy, ngày Tết này còn được gọi là Tết Trông Trăng.

Một chuyện khác cũng hay được nhắc và cho là nguồn gốc Tết Trung Thu. Ngày xưa ở Trung Hoa, thời Tây Hán, đang lúc chiến tranh, hết lương thực, Lưu Tú phải cầu xin nhờ Thượng Đế, thành quân lính tìm được khoai môn và bưởi để ăn trong dịp rằm tháng tám. Về sau Lưu Tú dẹp được giặc, lên làm vua Quang Võ, nhà Hậu Hán và ông đã nhớ tổ chức lễ tạ ơn mỗi năm vào ngày này.

Dần dần Tết Trung Thu thành ngày lễ lớn ở Trung Hoa. Đó thường trùng với dịp gặt lúa thành cũng là dịp mừng vui hàng năm của các nông gia. Sau một thời gian bỏ hết thì giờ và công sức cực nhọc gặt lúa, đây là lúc bỏ thì giờ làm lễ tạ ơn trời phật, thần tiên mặt trăng.

Tết Trung Thu của Việt Nam thì khác vì trở thành một ngày lễ chính của trẻ em và cũng là lúc người lớn để ý săn sóc đến con cái còn nhỏ. Tuy nhiên, người lớn cũng có những thú vui cùng dịp. Họ sửa soạn thức ăn, thức uống rượu hay trà, để làm tiệc ngắm trăng. Sau khi trẻ con đi ca hát, rước đèn Trung Thu về thì “phá cỗ” lúc mặt trăng lên cao nhất.

2. TRĂNG TRUNG THU VÀ TIÊN TRI

Tết Trung Thu có nguồn gốc từ đâu? Bạn trẻ có biết hay không?

Ngày Rằm tháng Tám Âm Lịch, Tết Trung Thu, trăng tròn lớn và sáng. Ngày xưa, dịp Trung Thu, khi ngắm trăng, người ta nhìn màu sắc để đoán tương lai năm sau.

Nguời ta tin là nếu màu trăng vàng thì năm tới sẽ trúng mùa màng tốt, và do đó có câu:

“Muốn ăn lúa tháng Năm, trông trăng Rằm Tháng Tám.”

Khi trăng màu xanh thì sẽ bị thiên tai. Và, nếu trăng màu cam thì đất nước sẽ thanh bình.

3. ĐÈN TRUNG THU

Tìm hiểu văn hóa ngày Tết trung thu ở Trung Quốc - Dịch vụ visa 24/7

Tết Trung Thu đặc biệt có đèn Trung Thu. Các đèn Trung Thu được chế tạo cho trẻ em với thiên hình vạn trạng như đèn lồng, đèn xếp, đèn quả dưa, đèn ngôi sao, đèn mặt trăng, đèn con cá (nhất là đèn cá chép), đèn con giống, đèn kết hoa… Đủ thứ loại đèn, sặc sỡ muôn màu.

Một trong những loại đèn Trung Thu đáng kể nhất là đèn kéo quân, loại đèn có hình ảnh của quân sĩ và tướng tá quay quanh trục đèn. Bài dân ca “Đèn Cù” có thể bắt nguồn từ cái đèn kéo quân.

Những ngày gần đến Tết, trẻ em đã được thắp đèn ở nhà. Một hai tối trước và đúng tối ngày Rằm tháng Tám, các trẻ em rủ nhau đi rước đèn Trung Thu. Các em cầm đèn Trung Thu có ngọn nến thắp sáng ở giữa, đi thành từng đoàn ngoài ngõ khắp đường phố, vừa đi vừa đồng ca hát, thật là náo nhiệt.

Trước 1975, đèn Trung Thu nổi tiếng sản xuất từ Phú Bình, quận 11 của Sài Gòn. Những người làm đèn Trung Thu ở đây là dân di cư năm 1954 từ làng Báo Đáp, tỉnh Nam Định, Bắc Việt. Họ đã làm đèn Trung Thu bán cho cả nước.

Nhưng, đèn Trung Thu đầu tiên ở Việt Nam là bắt đầu ở Hội An, Trung Việt từ xưa khoảng thế kỷ 16 hay 17, khi người Trung Hoa di dân sang lập nghiệp tại thành phố này. Đèn Trung Thu Hội An thay vì bọc giấy thì dùng lụa Hà Đông, làm ánh sáng đẹp hơn.

4. ĐỒ CHƠI TRUNG THU KHÁC CHO TRẺ CON

Những ký ức về Tết Trung Thu xưa khiến ai nhớ lại cũng bồi hồi, xao xuyến |  Tin tức trẻ

Những ngày Trung Thu cũng là lúc trẻ con hay được cho đồ chơi. Ngoài đèn Trung Thu kể trên, có đủ loại đồ chơi khác nhau.

Đáng kể nhất là Ông Tiến Sĩ Giấy là một đồ chơi bằng giấy làm thành người đàn ông, trông có vẻ có… học thức cao. Ông Tiến Sĩ Giấy thường được để vào chỗ giữa và cao nhất trong mâm cỗ Trung Thu gồm những món ăn uống ngon nhất là bánh trái, hoa quả của ngày lễ. Chữ “tiến sĩ giấy” dùng sau này, để ám chỉ những người muốn “lòe” người khác, tự cho mình có bằng cấp, mà thật không có bằng, là từ đây mà ra.

Những đồ chơi cho trẻ con đặc biệt khác trong dịp Trung Thu làm bằng giấy bồi, có đủ thứ và đươc chế thành các hoa quả, đình chùa, người…

Rồi phải kể đến các con giống, tức là thú vật kể cả con thiềm thử… nặn bằng bột và được tô đủ màu.

Xong đến các mặt nạ giả những nhân vật trong truyện xưa nổi tiếng của Trung Hoa, như Tôn Ngộ Không (khỉ), Trư Bát Giới (heo)… trong truyện Tây Du Ký hay Quan Công, Trương Phi… trong truyện Tam Quốc Chí.

Dĩ nhiên còn rất nhiều đồ chơi khác nhau như súng phun, trống bỗi, chong chóng, dao kiếm bằng nhựa… và không thể nào kể hết được.

5. BÁNH TRUNG THU

Phân biệt bánh trung thu giả, kém chất lượng để an tâm đón lễ trăng rằm

Bánh ngon, đặc biệt nhất trong dịp lễ này dĩ nhiên là bánh Trung Thu (mooncakes). Được biết bánh Trung Thu có thể bắt nguồn từ thời Trung Hoa bị người Mông Cổ xâm nhập. Vì bị người Nguyên cai trị, người Trung Hoa âm mưu nổi dậy, định vào một ngày rằm tháng 8. Để tập hợp các lực lượng nổi dậy cùng lúc, một trong những người cầm đầu là Lưu Bá Ôn  đã cho bán bánh và trong ruột bánh có mảnh giấy đề “đêm 15 tháng 8 khởi nghĩa”, như là một cách truyền tin. Nhờ vậy người dân nhiệt liệt hưởng ứng và đã lật đổ đươc chính thể cai trị hà khắc của người Mông Cổ. Từ đó bên Trung Hoa có tục lệ mỗi năm họp gia đình ăn bánh ngày rằm tháng 8 để kỷ niệm chuyện này.
Bánh Trung Thu lúc đầu tròn như mặt trăng, được gọi là bánh “đoàn viên” vì là bánh cho cả gia đình ăn, khi đoàn tụ ngắm trăng.

Ngày nay, bánh Trung Thu gồm hai loại bánh dẻo có nhân đậu, hạt sen hay bánh nướng có nhân thập cẩm. Khi làm vỏ bánh Trung Thu phải đổ bột vào khuôn để bánh có hình mặt trăng, mặt trời, hoa quả… và cần thợ làm bánh khéo tay.

Bánh dẻo màu trắng, tượng trưng cho mặt trăng. Bánh dẻo có vỏ làm bằng bột nếp. Nhân hạt sen hay đậu xanh, vỏ cam… Bánh dẻo ngọt và thơm.

Bánh nướng màu vàng, tượng trưng cho mặt trời. Bánh nướng có vỏ là bột mì. Nhân bánh nướng thường thập cẩm như lòng đỏ trứng muối, thịt heo, lạp xưởng, hạt dưa… Bánh nướng hương vị mặn mà.

Bánh Trung Thu mua để cho gia đình ăn, nhưng cũng là quà mọi người mua biếu họ hàng, người thân hoặc để biếu các người ân nhân hay “ân nhân.”

6. TRÁI CÂY TRUNG THU

Cách bày mâm ngũ quả Trung thu đơn giản nhưng vẫn hút mắt

Trong ngày Tết, người ta hay bày cỗ bàn với nhiều món trái cây tươi, như chuối, hồng, thị, na, mía… nhưng đặc biệt nhất là bưởi. Ngày xưa tép bưởi được phơi khô, xiên vào tre hay dây thép, phơi thật khô và đêm Trung Thu đem ra đốt cho sáng. Tép bưởi cũng dùng để xếp đặt xây thành hình các con thú vật, thường là hình con chó. Nước hoa bưởi được dùng pha vào vỏ bánh dẻo cho thơm.

Tạm kể thêm vào chỗ này một món ăn ngon mùa Thu, không thể thiếu trong dịp Trung Thu ở ngoài Bắc, là cốm thơm dẻo và ngon, nhất là cốm làng Vòng.

7. MÚA LÂN HAY MÚA SƯ TỬ

Những trò chơi dân gian không thể thiếu trong dịp Tết Trung thu | My Aloha

Trung Thu có những trò chơi. Vui nhộn nhất là Múa Sư Tử hay Múa Lân (Unicorn Dance), thường thấy ở ngày Tết Trung Thu (và ở những ngày Tết Nguyên Đán). Lân là một trong bốn con vật quý. Theo triền thuyết, Tứ Quý gồm Long Lân Qui Phượng. Lân tức là kỳ lân với kỳ là con đực và lân là con cái. Đầu lân có một sừng rất to. Nhìn thoáng qua đầu lân giống đầu sư tử thành ở miền Bắc Việt gọi là múa sư tử. Đám múa lân có một người cầm đội một đầu lân to bằng giấy màu sắc sặc sỡ. Đầu lân nối với đuôi lân là một mảnh vải màu dài do một người khác cầm. Hai người này, người ở đầu lân múa đầu và người ở đuôi lân phất đuôi,  theo nhịp trống và thanh la. Thường có thêm một người thứ ba đeo mặt nạ giả làm Ông Địa (Earth Lord). Ông Địa,  có mặt tròn xoe như mặt trăng trông vui và ngộ nghĩnh, vẫy quạt, đùa, trêu gọi cho con lân đuổi bắt.

Có thêm những người khác trong đám múa lân đi theo để đánh thanh la, cầm cờ nhiều màu, cầm kiếm, cầm côn…
Khi con lân đi qua một nhà nào có treo tiền ở cao, nó dừng lại để trèo lên cao lấy tiền. Các người thuộc đám múa lân sẽ khéo léo đứng trồng lên nhau, đội và đưa lân lên cao để con lân sẽ “há miệng” rồi “ngậm” xong “nuốt” tiền thưởng.

Bên Trung Hoa, không có múa lân nhưng có điệu múa rồng (Dragon Dance).

8. HÁT TRỐNG QUÂN

Hát trống quân Dạ Trạch - làn điệu cổ hồi sinh

Ở miền Bắc, ngày xưa, vào dịp Tết Trung Thu, thanh niên thanh nữ thường rủ nhau hát Trống Quân. Hai bên nam nữ hát đố, đối đáp với nhau, nhiều khi là những câu hát hò ứng khẩu,  nhưng vẫn có ý tưởng và theo vần, thường theo thể thơ Lục Bát. Họ hát và đập vào sợi dây gai hay dây thép căng trên một chiếc thùng rỗng, thành ra những tiếng động giống như tiếng trống làm nhịp, thường là ba nhịp “thình thùng thình” cho câu hát.

Hát Trống Quân, đặc biệt của và chỉ có ở Việt Nam, nghe nói bắt nguồn từ thời vua Lạc Long Quân đời Hồng Bàng.
Vua Quang Trung, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, trong chuyến đem quân ra Bắc đại phá quân Thanh, đã cho quân giả làm con gái, để rồi như là trai gái hai bên hát trống quân, cho quân lính đỡ nhớ nhà.  Và từ đó ông cũng đã làm hát trống quân trở thành thịnh hành trong dân gian.

9. THƠ TRUNG THU

Ông Trăng Chị Hằng | Bài thơ Ông Trăng Chị Hằng

Xin kể 4 câu của Tản Đà:

“Có bầu có bạn can chi tủi
Cùng gió cùng mây thế mới vui
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười”

10. TRUYỆN CỔ TÍCH TRUNG THU

Viết đoạn văn ngắn kể về đêm hội Trung thu - Tập làm văn lớp 3 (13 mẫu)

Tết Trung Thu cũng là lúc ông bà hay kể chuyện cổ tích cho con cháu.

Truyện cổ tích Trung Hoa về mặt trăng hay được nhắc đến trong dịp Tết Trung Thu là chuyện Hậu Nghệ-Hằng Nga. Hằng Nga (có chỗ gọi là Thường Nga) là vợ Hậu Nghệ và cả hai đều là thần tiên sống trên trời. Lúc đó có Ngọc Hoàng Thượng Đế có 10 người con là 10 mặt tròi, chiếu sức nóng quá độ xuống quả đất. Để cứu dân khỏi sức hủy hoại của sức nóng, Hậu Nghệ đã bắn cung làm rơi 9 mặt trời chỉ để lại một. Vì vậy Hậu Nghệ và Hằng Nga bị Ngọc Hoàng đầy xuống trần gian. Hậu Nghệ gặp và được tiên Tây Vương Mẫu cho viên thần dược, trường sinh bất tử, uống vào là bay lên trời, lại  thành tiên. Nhưng Hậu Nghệ không uống vì muốn ở dưới trần với vợ yêu Hằng Nga và Hậu Nghệ đưa thuốc cho Hằng Nga giữ. Bồng Mông là người xấu, tấn công Hằng Nga để lấy viên thuốc. Hằng Nga sợ thuốc lọt vào kẻ gian đành tự nuốt viên thuốc. Sau khi uống thuốc, Hằng Nga biến thành tiên bay lên mặt trăng, xa cách với Hậu Nghệ mãi mãi. Trên mặt trăng Hằng Nga sống ở Cung Quảng Hàn, gặp và làm bạn với một con thỏ trắng đẹp gọi là Thỏ Ngọc (Ngọc Thố).

Một trong những chuyện cổ tích khá nổi tiếng là chuyện Cá Hóa Long, chuyện của một con cá chép nhờ sự cố gắng mà đã được biến thành rồng. Câu chuyện thường dùng để khuyến khích trẻ em học tính chuyên cần cố gắng, để được thành công trong tương lai.

Chuyện cổ tích về chú Cuội như sau. Ngày xưa nhà Cuội có cây đa. Một hôm chú Cuội đi vắng nhà, không biết sao, cây đa bật gốc bay lên trời. Chú Cuội vừa về đến, nhảy lên bám rễ đa níu lại nhưng không được và bị cuốn theo lên mặt tăng luôn. Nhìn lên mặt trăng, người ta dường như thấy có bóng cây đa và bóng người ngồi dưới gốc coi như là Chú Cuội.

Một chuyện cổ tích khác, cũng về Chú Cuội nhưng lại có… vợ, hay được nhắc đến trong dịp Trung Thu, là Chuyện Chị Hằng. Ngày xưa có người tên là Chú Cuội tìm được một cây đa ở sau nhà có mãnh lực làm lành những vết thương. Vì cây đa có phép lạ như vậy, không ai được phép tiểu tiện ở gốc cây. Vợ của Chú Cuội là Chị Hằng, một lần tình cờ quên và không nhịn được đã tiểu tiện vào cây. Sau đó Chị Hằng leo lên cành cây ngồi và bất thình lình, cây đa mọc thật nhanh, thật cao lên đến mặt Trăng đem theo Chị Hằng. Từ đó chị Hằng, bị phạt, phải sống trên Cung Trăng mãi mãi.

11. ĐỒNG DAO CA DAO TRUNG THU

Trailer "Khúc Đồng Dao đêm rằm" diễn ra ngày 06,07,08 tháng 9 năm 2014 tại  Nhà hát tuổi trẻ - YouTube



Một trong những bài đồng dao Trung Thu ngày xưa là:

“Ông giẳng ông giăng
Xuống chơi với tôi
Có bầu có bạn
Có ván cơm xôi
Có nồi cơm nếp
Có tệp bánh chưng
Có lưng hũ rượu
Có chiếu bám dù
Thằng cu xí xoài
Bắt trai bỏ giỏ
Cái đỏ ẵm em
Đi xem đánh cá
Có rá vo gạo
Có gáo múc nước
Có lược chải đầu
Có trâu cầy ruộng
Có muống thả ao
Ông sao trên trời …”

Ca dao hay được nhắc đến trong dịp Trung Thu:

“Thằng Cuội ngồi gốc cây đa
Bỏ trâu ăn lúa gọi cha ời ời
Cha còn cắt cỏ trên trời
Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên”

Ý nghĩa bài ca dao là không nên bỏ những chuyện nhỏ, nhưng thực tế đi lo những chuyện lớn,  nhưng viển vông.

Ca dao khác về “thằng Cuội”:

“Thằng cuội đứng giữa cung trăng
Cầm rìu cầm rựa đốn săng kiền kiền”

“Săng” là cây gỗ (tiếng miền Trung), còn “kiền kiền” là một loại gỗ tốt. Ý nghĩa chắc là ai cũng phải làm việc, ngay cả Cuội cũng phải đốn gỗ mà sống.

Câu ca dao tình tứ sau thì dễ hiểu:
“Trăng tròn chỉ có đêm rằm
Tình ta tháng tháng năm năm vẫn tròn”

12. NHẠC NHI ĐỒNG TRUNG THU

Nhạc Trung Thu Hay Nhất 2020 - RƯỚC ĐÈN THÁNG TÁM ♫ ĐÊM TRUNG THU | Liên  Khúc Vui Tết Trung Thu - YouTube

Về sau này, khi có đài phát thanh radio, vào dịp Trung Thu,nhiều bài hát về trẻ em thường được trình bày. Nhiều nhất là những bài nhạc Tuổi Thơ do nhạc sĩ Lê Thương sáng tác như Thằng Cuội:

“Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng cuội già
Ôm một mối mơ…
…Có con dế mèn
Suốt trong đêm thâu
Hát xẩm không tiền
Nên nghèo xác xơ…
… Các em thích cười
Muốn lên cung trăng
Cứ hỏi Ông Trời
Cho mượn cái thang”

Các bài khác cho nhi đồng của Lê Thương hay được hát vào dịp Trung Thu là  Ông Ninh Ông Nang, Tuổi Thơ …
Nhưng, bài tân nhạc nổi tiếng, hay được hát nhất vào dịp Trung Thu là bài Rước Đèn Tháng Tám:

“Tết Trung Thu đốt đèn đi chơi
Em đốt đèn đi khắp phố phường
Lòng vui sướng với đèn trong tay
Em múa ca trong ánh trăng rằm
Đèn ông sao với đèn cá chép
Đèn thiên nga với đèn bươm bướm
Em rước đèn này đến cung Trăng
Đèn xanh lơ với đèn tím tím
Đèn xanh xanh với đèn trắng trắng
Trông ánh đèn rực rỡ muôn màu”

Bài hát này, từ xưa vẫn biết của nhạc sĩ Văn Thanh. Tuy là gần đây có nghe nói nhạc sĩ Văn Thanh cải chính cho biết bài này do Vân Thanh cũng là nhạc sĩ Đức Quỳnh (tác giả bài nhạc luân vũ Thoi Tơ phổ thơ Nguyễn Bính) sáng tác.

 

 Phạm Anh Dũng 

2010
Santa Maria, California USA

*****

Nghe/xem video nhạc Nguyệt Ghẹo (thơ Sóng Việt Đàm Giang, nhạc Phạm Anh Dũng) Hạnh Nguyên hát, Quang Đạt hòa âm:

 

 

Xem thêm...

Đồng Khánh Ngày Xưa – Lê Quang Kết

Đồng Khánh Ngày Xưa 

Lê Quang Kết

Đồng Khánh Ngày Xưa – Lê Quang Kết

Nhiều người Huế ngày trước thuờng ngâm nga câu hát:“ Cô gái nữ sinh Đồng Khánh kia ơiCô đi về đâu tan buổi học rồi? Cô xuôi Đập Đá hay về Nam Giao Cô về Bến Ngự hay về Đông Ba Cô về Vĩ Dạ hay ngược Kim Luông…Tôi mơ một bóng khi về đơn côiÁo dài dáng đẹp tóc còn buông lơi Ghi một kỷ niệm cuộc đời trong tôi”. Nhạc sĩ Thu Hồ ngày đó có lẽ yêu một nàng Đồng Khánh da diết mới viết ra những dòng lãng mạn và yêu thương đến thế! Đồng Khánh ngày xưa…Ôi chao! đẹp lắm, hay lắm, lạ lắm, thơ mộng lắm, tuyệt vời lắm…Đồng Khánh ngày xưa…đã níu chân biết bao lãng tử – biết bao chàng trai hào hoa, lịch lãm trong Nam ngoài Bắc.Trường ra đời từ năm 1917- mang tên một ông vua triều Nguyễn mệnh yểu Đồng Khánh (1885-1888)- chỉ trị vì có ba năm thì mất.Thầy Tôn Thất Bình nói với dân Văn khoa chuyện cũ cung đình: Vua Đồng Khánh hay chú ý ngoại diện, thường chăm sóc trang điểm -có tới năm cung nữ chải chuốt bộ móng tay, thay quần áo, thoa dầu thơm, vấn khăn lụa…Có phải vì thế mà tên trường được đặt là Đồng Khánh? Đúng thế không biết! Sau này người ta bảo ông vua nhu nhược- chấp nhận sự đô hộ của người Pháp, phải đổi tên trường – có lúc là Trưng Trắc và giờ đây tên gọi là Hai Bà Trưng.

Đồng Khánh ngày xưa...



Cách đây hai năm Đồng Khánh tròn chín mươi năm – một chặng dài của bao biến động lịch sử – một khoảng lặng của bao tâm hồn thiếu nữ khi nhớ về trường xưa tình cũ.Chị họ tôi – năm nay đã ngoài 70, học Đồng Khánh từ thuở thập kỷ 60 của thế kỷ trước. Mắt chị đã mờ – vậy mà ngày nào cũng giở tập lưu bút, mân mê chiếc áo dài trắng cũ sờn vai và tập bưu ảnh nhập nhòa của một thời nữ sinh nhiều mơ mộng.Giọng từ tốn chậm rãi như các mệ trong tam cung lục viện xưa – chị đăm đăm nhìn phía xa xăm :“ Nữ sinh giờ chán lắm, không bằng chút cheo tụi tao Đồng Khánh Huế ngày xưa…”.Rồi chị thâm trầm: “Thầy dạy văn năm đệ nhị đã gieo vào lòng tình yêu văn chương cho chị và cả gia đình – không có thầy chị chẳng biết chi mô…
Câu chuyện ngày xưa Trang Tử, cơ nghiệp thiêu rồi ngồi gõ khúc bồn ca…hay là một Thánh thi Cao Bá Quát khinh thế ngạo mạn – một Bà Huyện Thanh Quan quý tộc, đài các – một Hồng Hà nữ sĩ với bản dịch Chinh phụ ngâm tuyệt tác- ai đọc rồi chẳng cần cất công đi tìm nguyên tác…Hiệu trưởng trường Đồng Khánh ngày ấy – cô Thân Thị Giáng Châu- đối với chị là một phụ nữ tuyệt vời- thần tượng cho cả thế hệ chị và lớp lớp phụ nữ thời ấy…”Tôi học Hàm Nghi – vốn là trường Quốc Tử Giám trong Thành Nội.Ngày đó nam nữ học riêng. Chỉ có một số trường sau này như: Kiểu Mẫu, Gia Hội và các trường tư mới có chuyện nam nữ chung lớp.Ai trong lứa chúng tôi cũng mơ được làm quen với một nàng Đồng Khánh- coi đó là niềm hãnh diện, tự hào để khoe với bạn bè khi cao hứng. Điều này quả là chuyện khó, mấy nàng Đồng Khánh lạnh như băng – thâm trầm như biển sâu – nói như anh Mường Mán:“ Tội tui lắm! cách cho vài bướcĐừng đi gần hai đứa sóng đôiXa xa cho kẻo bạn tui cườiMai vô lớp cả trường dị nghị…”.

Xứ Huế lưới trời lồng lộng, yêu lắm cũng chỉ để trong lòng – không dám mô – họa chăng chỉ là lá thư vụng về và bài thơ viết dở.Có chị Vĩnh Liêm- Đồng Khánh (1957-1964) qua đò Thừa Phủ hai buổi đi về.- Chuyện rằng:Có chàng Quốc Học “bốn mắt” để ý chị từ lâu nhưng chẳng dám ngỏ lời. Có hôm vừa tới bến – đò đã chống sào, chàng chỉ chờ đợi có thế để đưa tay cho chị bắt, chỉ việc nhảy xuống đò là có thể kịp buổi học.Nhưng không “nam nữ thọ thọ bất thân” nên đành ngậm ngùi, bất lực trông theo con đò rời bến- đành chấp nhận trễ buổi học và tất nhiên là hôm đó chị bị phạt cấm túc tới mấy buổi. Sau này chị Liêm bảo:“Sau bao thăng trầm bể dâu nếm đủ mùi vị ngọt bùi cay đắng của cuộc đời, nhớ về kỷ niệm xưa, tui tự trách mình sao quá vô tình trước một tấm lòng.Những lúc buồn tui để hồn bồng bềnh trôi theo dòng Hương giang, ghé lại bến bờ cũ. Ký ức bỗng hiện lên hình ảnh một nữ sinh áo trắng tóc thề đội nón bài thơ có quai ruy băng tím và anh chàng thi sĩ bốn mắt đang đưa tay ra chực nắm tay cô. Một niềm hạnh phúc nho nhỏ chợt đến, tui mỉm cười và triết lý một mình: Ừ nhỉ, thời gian cũng có hai chiều…”Bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư được nhiều người thích nhưng lớp nữ sinh Đồng Khánh ngày ấy tâm đắc nhất:
“ Em tan trường vềĐường mưa nho nhỏChim non dấu mỏDưới cội hoa vàng…Anh đi theo hoàiGót giầy thầm lặngĐường chiều úa nắngMưa nhẹ bâng khuâng…”.***** NGÀY XƯA HOÀNG THỊ *****

hu239

Original song : Thái Thanhhttps://www.youtube.com/watch?v=vG4qBpCXPdQ

Bài thơ chưa kịp phổ nhạc (nhạc sĩ Phạm Duy) đã được chép tay chuyền nhau và nằm ở trang vở đẹp nhất trong cặp sách của các nàng nữ sinh Đồng Khánh. Danh từ riêng Hoàng Thị đã thành danh từ chung cho những cặp đôi học trò đưa nhau về mỗi buổi tan trường nơi xứ Huế mộng mơ…Bữa nớ chàng nào hoàng thị mi rứa? Ngày qua tao thấy mi hoàng thị đó nghe? Chàng và nàng hoàng thị đẹp đôi ghê? Tao méc cho coi- hôm nớ mi và cái anh trắng trắng hiền hiền hoàng thị đó nghe…Không biết chị Ngọ có còn không, giờ đang nơi đâu, nghĩ gì về câu chuyện hoàng thị thuở xưa? Gần đây có người nhận mình là chàng trai đã làm quen với chị những năm Sài Gòn cũ – một Nguyễn Quang Minh nào đó của những năm 1963,1964…Anh Minh ơi! Ngày ấy phải có tới hàng ngàn ngàn chàng trai xứ Huế làm thơ gởi chị Ngọ- mong mình được là Phạm Thiên Thư để được hoàng thị với cô nàng Đồng Khánh trong mơ. Chao ôi, tình yêu tuổi học trò sao mà đẹp thế, hồn nhiên thế, mơ mộng đến thế!?Mối tình học trò nhiều hoa mộng. Yêu em từ dạo ấy, thuở Đồng Khánh ngày xưa, tình yêu mong manh nhưng trong sáng- đẹp như ánh pha lê. Tan trường, áo dài tung bay trong gió, tập vở ôm nghiêng, mưa Huế lất phất, em dịu dàng nhẹ bước. Có chàng trai lẳng lặng theo sau, từng ngày từng ngày trôi qua, chẳng dám ngỏ lời, chỉ dám tặng em chùm hoa nhỏ. Cô ép vội cành hoa vào trang vở và môi nở nụ cười bâng khuâng…Mùa hạ tới rồi thu sang mang theo nỗi buồn- chàng lên đường nhập ngũ, con đường kỷ niệm xưa nhạt nhòa trong ký ức…Một ngày nào chàng trở lại con đường xưa, lang thang tìm lại dấu chân của ngày tháng cũ nhưng quanh chỉ còn lại những dư âm nghẹn ngào, anh nghe tiếng lòng ngẩn ngơ, nuối tiếc:

Chùm ảnh: Đẹp như nữ sinh xứ Huế | Áo dài, Việt nam

Mười năm rồi Ngọ tình cờ qua đây cây xưa vẫn gầy phơi nghiêng ráng đỏ áo em ngày nọ phai nhạt mấy màu?chân tìm theo nhau còn là vang vọng đời như biển động xóa dấu ngày qua”.
Lời thơ và ca khúc vang lên giai điệu cuối: “Ai mang bụi đỏ đi rồi…”. Thế mà âm vang trong chàng vẫn còn vọng lại:… Em tan trường về, em tan trường về… Dễ thương lắm, man mác lắm, tha thiết lắm người ơi…Lục lọi trong thư tịch cổ, một người Pháp sống ở Huế thời bảo hộ đã có một phát ngôn thú vị: “Huế là nơi cái chết mỉm cười, vui tươi thổn thức” ( Le deil sourit, la joie soupire). Đó là nơi thanh thản dạo chơi trên lăng tẩm cung đình triều Nguyễn nếu người lữ khách mệt mỏi lo toan, nhưng lại là điệu buồn ai oán nếu du khách thả hồn theo làn điệu ca Huế trên dòng Hương. Quả là một nhận xét khá độc đáo.Ngược dòng lịch sử, Huế là đất một chuyện tình – gắn với số phận lênh đênh của nàng công chúa dưới thời Trần- Huyền Trân. Năm 1306, cô ngàn dặm ra đi theo Chiêm vương Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô và Rí. Xin Trịnh Kiểm vào trấn thủ Thuận Hóa, Chúa Nguyễn Hoàng trong lần tuần du trên xứ Hà Khê đã được nữ thần phán bảo: Hãy thắp lên nén nhang xuôi dòng Hương từ Thiên Mụ về, nhang tàn sẽ là đất thiêng nơi dựng đế nghiệp…

dong-khanh


Dưới triều đại Hoàng đế Quang Trung, Huế lại đón nhận thêm một vị công chúa từ đất Thăng Long thanh lịch của nhà Lê về Phú Xuân làm Bắc cung Hoàng hậu, và cũng nơi này – khúc “ Ai tư vãn” khóc người anh hùng áo vải cờ đào nổi tiếng của bà đã ra đời…Hình như là thế. Đất Huế gắn chặt với huyền thoại và số phận của những phụ nữ tài hoa mệnh bạc.Đến thời hiện đại trước 1975, một huyền thoại mới đầy huyền hoặc thơ mộng lại xuất hiện trên đất Huế- nữ sinh Đồng Khánh. Tan trường áo trắng tung bay, tóc thề trước gió, vành nón nghiêng che trắng cả bến đò Thừa Phủ và Tràng Tiền mười hai nhịp. Tất cả đã làm nên một xứ Huế diệu kỳ.Ngôi trường mang tên Đồng Khánh đã bất tử trong lòng những ai yêu Huế, hiểu Huế. Đi tới nơi mô những thế hệ Đồng Khánh ngày xưa vẫn mang trong lòng nỗi nhớ khôn nguôi. Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt, Sài Gòn, Hà Nội, Cần Thơ… và ở nước ngoài: Pháp, Mỹ, Canada, Anh, Úc… đâu đâu cũng hội hè ái hữu Đồng Khánh – chuyện xưa Đồng Khánh. Nhiều chị nhiều nàng tự nguyện xin được vào hội dù chẳng phải Đồng Khánh ngày xưa…Họ vẫn hồn nhiên nhưng đau đáu về một thời thiếu nữ thầm lặng mối tình đầu.Đồng Khánh ngày xưa.. là một thế giới huyễn hoặc của riêng Huế, của cô gái Huế. Tên gọi Đồng Khánh đã không còn, con đò Thừa Phủ đã thuộc về kỷ niệm, những tà áo trắng tinh khôi thuở ấy đã thuộc về dĩ vãng…Tìm đâu bóng dáng những Chiêm nương váy tím cỏ hoa lau lách nguyên sơ với man điệu buồn. Tìm đâu ngọn nguồn mối tình Khắc Chung- Huyền Trân rỉ máu…Thôi thì … thôi thì…nói như chàng Trịnh – nhạc sĩ của đất Huế đẹp và thơ: Ngày sau sỏi đá cũng cần có nha.

ĐỒNG KHÁNH NGÀY XƯA

 
Khi viết về Huế, ai cũng nói Huế rất đẹp: Rằng Huế có sông Hương núi Ngự rất nên thơ, có cung điện, lâu đài, đền tạ và lăng tẩm cổ kính của các vị đế vương nước ta thấm đẫm tinh thần dân tộc và còn nhiều, nhiều nữa… và nhất là phải nói về những cô gái Huế xinh xắn, dịu dàng, đoan trang, khả ái, nhất là nữ sinh trường Đồng Khánh, đã khiến cho:

Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không đành.

Tôi có nghe nói qua về màu áo tím của nữ sinh Đồng Khánh Huề nhưng sau này đã đổ lại màu trắng nên tìm hiểu đôi chút về trường ĐK :
..."Thành lập năm 1917, Trường Đồng Khánh ban đầu là Tiều học. Về sau, sĩ số gia tăng, Trường trở thành Trung Tiểu học, lấy tên là Collège Đồng Khánh. Kiến trúc của Trường tương tự như kiến trúc Trường Quốc Học. hai bên có dãy nhà lầu, giữa có nhà chơi. Trường cũng sơn màu hồng nhưng dáng dấp thanh nhã hợp với bản chất phụ nữ hơn.
....Như đã trình bày Trường Đồng Khánh ban đầu chỉ có bậc Tiểu học, sau thêm Trung học đến lớp Đệ Tứ. mãi đến năm 1956, Tiểu học được bãi bỏ chỉ còn lại bậc Trung học và từ đó mang tên là "Nữ Trung học Đồng Khánh".

Những năm đầu tiên của Trường, nữ sinh của Trường mặc đồng phục màu tím nên trường được gọi là Trường áo tím. Về sau, cũng dưới thời Pháp thuộc đồng phục được đồi thành màu xanh nước biển (bleu marine).
Bắt đầu từ Đệ nhất Cộng hoà đồng phục là màu trắng."
Nữ sinh ĐK có dịu dàng, đoan trang như thế nào không biết nhưng cô nữ sinh ĐK mà Mường Mán viết trong bài thơ thì thật là dễ thương, chơn chất, nhưng chắc không dễ bảo. Mời các bạn cùng đọc:(LKH)
 
ĐỒNG KHÁNH NGÀY XƯA
thơ Mường Mán
 
Răng mờ cứ theo tui hoài rứa 
Cái ông ni có dị chưa tề 
Sáng chiều trưa hai buổi đi về 
Đưa với đón làm răng không biết 
Oâi đôi mắt sao mà tha thiết 
Đừng nhìn làm ngượng bước chân tui 
Lá thơ tình ông gởi làm chi 
Thầy mạ biết rầy la tui chết 
Oâng tán tỉnh làm chi không biết 
Tui như ma quỷ dưới âm ty 
Nói hoài lời hoa mỹ làm chi 
Tui còn nhỏ chuyện tình răng biết được 
Tội tui lắm cách cho vài bước 
Đừng đi gần hai bóng chung đôi 
Xa xa cho kẻo bạn tui cười 
Mai vào lớp cả trường dị nghị 
Thôi được rồi đưa lá thơ đây 
Mai tan trường đợi ở gốc cây 
Tui sẽ tới trả lời cho biết.

 
MƯỜNG MÁN.
 
 
16864137_1844081899140868_6520877672540171618_n
16864196_1847584398790618_1958294530791220890_n
17098513_1847586725457052_1693679423719351110_n
 
Clip video: Kỷ niệm 100 năm trường Nữ Sinh Đồng Khánh
Clip video: Kỷ niệm 100 năm trường Nữ Sinh Đồng Khánh
Lan Chi sưu tầm
 
 
 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này