Du lịch

Du lịch (276)

Cancun nắng vàng biển xanh

Cancun, Mexico

 

******

 

 

Cancun là một thành phố ven biển ở các địa điểm du lịch được gọi là Mexico Caribbean, bang Quintana Roo , trên bán đảo Yucatan. Nhờ có những bãi biển tuyệt đẹp, lại giữ được nhiều kiến trúc Maya đặc sắc, du lịch Cancun cực kỳ hấp dẫn với khu sinh thái thiên nhiên được bảo tồn; khu nghỉ mát với hàng trăm khách sạn và nhà hàng mang đủ mọi phong cách kiến trúc.
 
 
Khám phá kim tự tháp cổ đại của người Maya, rạn san hô dài thứ hai thế giới, bãi biển vô tận và tiệc tùng thâu đêm ở thị trấn thân thiện trên bán đảo Yucatan này.

Thị trấn nghỉ mát trên bờ biển Caribbe về phía đông nam của Mexico là thỏi nam châm thu hút thợ lặn, ngư dân, những người yêu thích lịch sử và những người ham vui. Một điểm đến quen thuộc kể từ sau cuộc bùng nổ du lịch những năm 1980, sức hấp dẫn toàn cầu của Cancun nay đã vượt xa danh tiếng “Kỳ nghỉ xuân’ lừng lẫy của nơi đây trước kia. Vô vàn các hoạt động dưới nước, lịch sử và văn hóa hàng trăm năm tuổi của người Maya, Mexico và vùng Caribbe, đây là lý do khiến Cancun trở thành điểm đến lý tưởng cho mọi du khách.

Nằm trên bán đảo Yucatan, Cancun nhìn ra Vịnh Mexico. Ngay ngoài khơi là một rạn san hô khổng lồ, thu hút khách du lịch tới với Cancun để trải nghiệm một trong những điểm bơi lặn nổi tiếng nhất Mexico. Lặn thẳng từ bờ biển tại Playa Tortugas để khám phá các loài cá và thực vật biển rực rỡ sắc màu của địa phương. Cùng lập nhóm với các thợ lặn khác tại Cancun để thuê tàu và trải nghiệm lặn dùng bình dưỡng khí hay bơi với cá heo tại Playa Delfines. Khu vực Vịnh là thiên đường cho những người câu cá, và có thể dễ dàng đặt tour thuê thuyền câu ở Aquaworld, ngay trên bãi biển.

Khu vực xung quanh Cancun có ý nghĩa rất lớn đối với người Maya, những người sở hữu truyền thống của vùng đất này. Du khách sẽ thấy một số địa điểm khảo cổ học lịch sử trong khu vực, trong đó có El Rey Ruins nằm giữa khuôn viên khách sạn Cancun. Thăm quan Bảo tàng Maya Cancun hiện đại để tìm hiểu về lịch sử văn hóa phong phú của vùng đất này, và khám phá lý do người Maya tin rằng thế giới sẽ diệt vong vào năm 2012.

Từ bãi biển trung tâm thành phố, lên phà đến Isla Mujeres gần đó, hòn đảo nghỉ ngơi ít bị ảnh hưởng bởi tác động của du lịch hiện đại hơn Cancun. Tại đây, du khách có thể chinh phục khu rừng trong Công viên đá ngầm quốc gia Garrafon hay thư giãn trên một trong những bãi biển yên tĩnh của hòn đảo.

Vị trí địa lý của Cancun giúp nơi đây giữ được nhiệt độ ấm áp trong suốt những tháng mùa đông, đặc biệt trong khoảng từ Tháng Mười Hai đến Tháng Tư. Những tháng mùa hè có thể cực kỳ nóng, và mùa mưa bắt đầu khi thu về, đây là thời điểm ghé thăm không lý tưởng chút nào. Cancun có nhiều loại hình giao thông công cộng hoạt động hiệu quả, tiếng Anh được sử dụng rộng rãi và khu vực thành phố là nơi du lịch an toàn nhất cho du khách tới Mexico. Du khách có thể dễ dàng tới Cancun bằng dịch vụ xe buýt và phà đường dài cung cấp bởi sân bay quốc tế.

Trước khi đáp xuống phi trường Cancun, chiếc máy bay chở chúng tôi chợt đảo cánh một vòng ra khơi như cố tình muốn giới thiệu với du khách cảnh thành phố biển đẹp bậc nhất Mexico. Mọi người nhìn ra bên ngoài và trầm trồ khen ngợi. Dưới kia, vùng biển nước xanh như ngọc đang ôm lấy dải bán đảo có bờ cát trắng mịn trải dài, có những khách sạn lộng lẫy ẩn hiện dưới hàng thùy dương rợp bóng.

Thư viện ảnh của chỗ nghỉ này

 Khách sạn mà chúng tôi ngụ nằm tận... trong rừng! Chính xác hơn là trong một khu rừng bần, đước giữa đầm lầy. Đường đi, khách sạn, hồ tắm, khu giải trí... được xây ngay trên  đầm. Cancun ở cùng vĩ độ với Việt Nam nên xem ra thiên nhiên, cảnh quan cũng có nhiều nét tương đồng. Ngoài diện tích xây dựng, vẻ hoang sơ đặc trưng của đầm lầy vẫn còn được giữ nguyên vẹn. Ban đêm ộp oạp tiếng ếch nhái, ễnh ương, còn ban ngày chim chóc bay lượn hàng đàn, chẳng bao giờ dứt tiếng hót. Nhìn xuống đám bùn là thấy ngay những con còng nhỏ xíu đang miệt mài kiếm ăn.

  

 Khách sạn thật ra là một khu gồm nhiều căn nhà hai tầng bằng gỗ lợp rơm, mang phong cách kiến trúc Maya Nội thất là sự kết hợp hài hòa giữa tiện nghi hiện đại và phong cách bài trí địa phương. Ngoài cây totem trước sân, lối trang trí bằng những hoa văn, hình vẽ và những bức tượng kiểu Maya cổ làm tôi có cảm giác như mình đang lạc vào một bộ lạc xưa.

Khách sạn còn có một vườn rộng nuôi cá sấu, thiên nga... Ra xa một chút là đến khu vực nước trong, nơi có những chiếc xuồng sẵn sàng đưa du khách đi tìm hiểu đời sống động, thực vật trong rừng đước... Buổi tối, màn múa lửa truyền thống Maya sẽ làm nên đêm Trung Mỹ huyền bí. Nhạc phảng phất âm điệu nhạc ở đảo Hawaii, còn màn nhảy múa thì hơi giống các vũ điệụ Nam Mỹ  thời hiện đại.

 

 Một nền văn minh đã qua

Cancun thuộc bán đảo Yucatan nằm trong vịnh Mexico  cái nôi của nền văn minh Maya. Vương triều Maya ở đây đã hiện diện trên 5.000 năm trước, trở nên hùng mạnh và phát triển rực rỡ trong khoảng từ thế kỷ XII đến thế kỷ XV. Di tích lịch sử còn lại đến ngày nay là một kim tự tháp và vô số đền đài kéo dài từ Cancun đến Tulum.

Kim tự tháp Chichen Ltza - Top 7 địa điểm du lịch Mexico đẹp và nổi tiếng nhất

 Nhờ có những bãi biển tuyệt đẹp, lại giữ được nhiều kiến trúc Maya đặc sắc, đầu những năm 1970, Cancun được Chính phủ Mexico xây dựng thành điểm đến du lịch. Hơn mười năm sau, một loạt những khu du lịch, nghỉ dưỡng đẳng cấp quốc tế đã thay đổi hẳn bộ mặt thành phố và đời sống người dân.

Ngày nay, cộng đồng người Maya ở Cancun chỉ còn khoảng 175.000 người. Từ khi du lịch phát triển, họ làm việc tại các khách sạn, lái xe bus, taxi... đời sống trở nên dễ chịu hơn. Trẻ em Maya học tiểu học bằng cả tiếng Maya và tiếng Tây Ban Nha.

Cancun ngày nay bao gồm khu vực thành phố với khoảng 600 ngàn dân hầu như sống nhờ vào du lịch; khu sinh thái thiên nhiên được bảo tồn; khu nghỉ mát với hàng trăm khách sạn và nhà hàng mang đủ mọi phong cách kiến trúc.

 Cách Cancun khoảng gần mười cây số có đảo Isla Mujeres dài, cản được sóng nên biển thường khá êm. Đảo Isla Mujeres cũng là nơi du khách ngồi du thuyền ngoạn cảnh hoặc đi câu cá, đi bơi, lặn. Cách Cancun khoảng 70 cây số về phía Nam còn có Playa Del Carmen, một thị trấn mang dáng dấp thành phố biển Tây Ban Nha. Nơi đây cũng hấp dẫn du khách nhờ các cửa hàng chuyên bán các đồ vật mang tính ma thuật, thần bí của người da đỏ.

    

 Điểm tham quan đáng nhớ nhất đối với tôi là Tumlum  - một tòa thành bằng đá - nơi ở của hoàng gia Maya. Tuy đã đổ nát một phần nhưng những gì còn lại cũng đủ cho hậu thế phải nghiêng mình thán phục: Kiến trúc vừa đồ sộ, uy nghi, vừa đẹp từ mọi góc nhìn. Tòa thành nguy nga này có đủ vọng gác, hải đăng, quần thể cung điện, tu viện...

Lịch sử kể lại rằng vào thời phồn thịnh của vương quốc, tu viện có lúc là nơi ở của hàng ngàn tu sĩ. Trong những dịp lễ tế thần hằng năm, các tu sĩ đến đây, hướng về tổ tiên và đấng tối cao để nhận được lời chỉ bảo. Sau đó, những đoàn tăng sĩ phải chia phe... đá banh. Nghe nói phe nào thắng thì người đứng đầu được phong anh hùng và được đem ra chặt đầu tế thần

Cancun còn có một ngọn tháp được cho là xây trước hoặc cùng thời với các kim tự tháp Ai Cập. Chúng tôi đón xe buýt đến tháp trong cái nắng nóng gay gắt mùa hè. Đã vậy, gần đến nơi mới biết trạm dừng của xe buýt còn cách tháp đến hơn hai cây số! Sau nửa tiếng cuốc bộ trên con đường mòn đầy ổ gà, thỉnh thoảng lại gặp vài con dốc nhiều sỏi trơn, đá lởm chởm, cuối cùng sự mệt mỏi của cả nhóm nhường chỗ cho cảm giác thán phục đến... ngất ngây.

Trước mắt chúng tôi là một quần thể kiến trúc quy mô, kỳ vĩ. Những hình vẽ, phù điêu đẹp một cách huyền bí gợi lên trong lòng mỗi người muôn ngàn tưởng tượng về một nền văn minh đã từng rất rực rỡ.

 Ngày 22-10-2005, bãi biển Cancun bị cơn bão Wilma với sức gió 270km/giờ tàn phá nặng nề. Và nhiều du khách tưởng như sẽ không còn dịp để ghé thăm lại và nghỉ ngơi tại nơi này. Tuy nhiên, chỉ một năm sau đó, với hàng tỉ USD tiền đầu tư, Cancun đã trở lại với quy mô hoành tráng và hiện đại hơn trước.

Trong đó, hấp dẫn nhất là bảo tàng điêu khắc dưới nước đầu tiên trên thế giới. Có khoảng 400 tác phẩm điêu khắc đủ mọi chủ đề, phong cách được đặt dưới biển. Khách muốn tham quan tất nhiên phải mặc đồ lặn, vậy mà người mua vé vẫn đông nườm nượp. Xem ra giới làm du lịch ở Cancun rất rành tâm lý khách Âu Mỹ: đi du lịch là để tìm những cảm giác có một không hai!
 
 
 
 
 

 
Sau một ngày vùng vẫy giữa biển xanh, buổi chiều chúng tôi thong thả đi dạo trên những con phố nhỏ và nhìn thấy nhiều nét bình dị đáng yêu giữa một thành phố Trung Mỹ : ban nhạc đường phố biểu diễn say sưa dù chỉ có một vài khán giả, những người bán hàng ăn ở các góc phố miệng luôn mỉm cười và luôn sẵn lòng hướng dẫn khách cách làm món Mexico rồi vừa nhâm nhi món bánh quesadilla ngon tuyệt vừa nhìn ngắm du khách đủ mọi quốc tịch đang qua lại, chuyến đi của chúng tôi đã có thêm một kỷ niệm đáng nhớ!
 
Tháng 10,2018

 Kim Phượng st.

 

 

    

 

Xem thêm...

18 ngôi làng thơ mộng đẹp như tranh, ai cũng mơ ước được đặt chân tới dù chỉ một lần

18 ngôi làng thơ mộng đẹp như tranh, ai cũng mơ ước được đặt chân tới dù chỉ một lần

Đôi khi, chúng ta muốn trốn tránh sự náo nhiệt ồn ào của chốn đô thị hay những cảnh quan nổi tiếng đông người mà đi đến một nơi xa xôi để tìm kiếm cho mình một cuộc hành trình yên bình. Chuyến đi mà có thể sẽ lưu lại cho mọi người một kỷ niệm khó quên trong cuộc đơi. Những ngôi làng nhỏ với dân số chưa đến 3000 người là một địa điểm đến thú vị mà hiếm hoi, nơi mà có cảnh sắc tuyệt vời cùng với dấu vết lịch sử và sự tĩnh lặng. Đúng là rất đáng để ghé thăm.

1. Làng chài Reine, Na Uy 

Làng chài nhỏ Reine tọa lạc ở quần đảo Lofoten của Na Uy là một trong nhưng cảnh đẹp khó tìm kiếm nhất trên thế giới. Ngoài việc đi dạo qua những bãi biển và thưởng thức Bắc Cực quang (hiện tượng quang học xuất hiện ở trên bầu trời của khu vực vĩ độ cao ở Bắc bán cầu, thường thấy là ánh sáng như màn sóng màu vàng lục, có khi có thêm màu hồng, lam, xám, tím …), du khách có thể lựa chọn hoạt động như đi bộ đường dài hay chèo thuyền Kayak, câu cá.

Làng chài Reine, Na Uy (Ảnh được chụp bởi Petr Šmerkl) (Ảnh: Wikipedia Commons)

2. Làng Cầu Vồng tại Đài Loan

Làng Cầu Vồng là một nơi có những hình vẽ hoa văn màu ở thành phố Đài Trung, Đài Loan. Hoàng Vĩnh Phụ – một cựu chiến binh già là người đã sáng tác ra những bức tranh trên tường và đất tại nơi đây. Ông còn có danh xưng là “ông nội Cầu Vồng”, ông đã đưa với một làn gió mới, thay đổi bộ mặt cho cả làng mà vì thế nên ngôi làng không bị chính quyền phá bỏ. Sau khi “giải cứu” thành công làng Cầu Vồng, chính quyền thành phố sau đó đã xây dựng thành công viên, hiện nay ngôi làng chỉ có hai vợ chồng Hoàng Vĩnh Phu sinh sống. Đến ngày hôm nay, địa điểm này đã trở thành một điểm đến du lịch hấp dẫn với cả người dân trong nước lẫn khách du lịch quốc tế.

Làng Cầu Vồng tại Đài Loan (Ảnh được chụp bởi Anh Dương) (Ảnh: flickr)

3. Thị trấn Hallstatt

Nằm giữa ven hồ Hallstatt ở Áo và dãy núi Dachstein cao chót vót, nó được coi là “thị trấn nhỏ đẹp nhất thế giới” – Hallstatt. Du khách có thể thưởng thức cảnh đẹp thuần khiết bên hồ khi ngồi trên phà, tìm hiểu về lịch sử khai thác muối của nó hoặc đi bộ dọc theo đường mòn Echerntal.

Thị trấn Hallstatt (Ảnh được chụp bởi Ncsakany) (Ảnh: flickr)

4. Ngôi làng Popeye của Malta

Ngôi làng Popeye của Malta được xây dựng với mục đích ban đầu là để dựng vài cảnh cho bộ phim “Popeye” năm 1980, sau đó nó trở thành một công viên giải trí. Tại đây, du khách có thể tham gia mọt chuyến du lãm trên thuyền hay đi thăm nhà máy chưng cất rượu.

Ngôi làng Popeye của Malta (Ảnh được chụp bởi Tobias Scheck) (Ảnh: flickr)

5. Ngôi làng trên đồi Wengen

Ngôi làng miền núi Wengen quyến rũ nằm ở thủ đổ Berne, miền trung của Thụy Sĩ. Tại đây có các ngôi nhà gỗ cùng biệt thự với đầy đủ sự tiện nghi thoải mái. Nơi du khách có thể chơi lượn dù, phiêu lưu đi bè, đi bộ dọc theo thung lũng xanh ngát.

Ngôi làng trên đồi Wengen (Ảnh được chụp bởi Teck Wee) (Ảnh: Wikipedia Commons)

6. Làng dân gian Hahoe

Làng dân gian Hahoe ở Gyeongsangbuk-do, Hàn Quốc đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Các tòa nhà cổ của thời đại Joseon được xây dựng theo phong thủy và có một bố cục hình hoa sen.

Làng dân gian Hahoe (Ảnh được chụp bởi Jordi Sanchez Teruel) (Ảnh: flickr)

7. Làng Giethoorn

Giethoorn, được gọi là “Venice của Hà Lan”, là một ngôi làng ven sông với cảnh sắc đẹp như tranh vẽ. Ngôi làng nằm ở trung tâm của hệ thống kênh đào Overijssel, với đường thủy đạo dài 88 km cho phép quý khách đến thăm những ngôi nhà cổ kính, bảo tàng và những quán ăn.

Làng Giethoorn (Ảnh được chụp bởi PhotoBobil) (Ảnh: Wikipedia Commons)

8. Làng Júzcar

Júzcar là một ngôi làng nhỏ ở tỉnh Andalucia của Tây Ban Nha. Trong năm 2011, để quay bộ phim 3D “The Smurfs”, các bức tường màu trắng của toàn bộ ngôi làng đã được sơn lại toàn bộ bởi màu xanh da trời , với mái nhà màu đỏ, tràn đầy sắc thái với các câu chuyện cổ tích. Nơi này sản xuất rất nhiều nâm và bạn có thể bắt gặp những Smurfs (Xì trum) ở góc phố.

Làng Júzcar (Ảnh được chụp bởi Nukamari) (Ảnh: flickr)

9. Ngôi làng ven biển Kalk Bay

Ngôi làng ven biển Kalk Bay nằm ở thị trấn Cape, Nam Phi, nơi bạn có thể mua sắm và ăn vô số các loại hải sản. Chạy dọc theo con đường chính, bạn có thể ghé thăm các cửa hàng đồ cổ, quán cà phê, phòng trưng bày và nhà hàng.

Ngôi làng ven biển Kalk Bay (Ảnh được chụp bởi Wesley Nitsckie) (Ảnh: flickr)

10. Làng Bremm của Đức

Làng Bremm của Đức nổi tiếng về sản xuất rượu vang. Ngoài việc tham quan các vườn nho và khám phá ẩm thực, du khách cũng có thể tận hưởng các chuyến đi bộ đường dài, đạp xe và đi phà.

Làng Bremm của Đức (Ảnh được chụp bởi Francisco Javier Garcia Orts) (Ảnh: flickr)

11. Làng chài Woods Hole

Woods Hole – một làng chài nhỏ nằm ở Cape Cod, Massachusetts, Hoa Kỳ. Làng có rất nhiều hồ cá, viện nghiên cứu Woods Hole Ocean và nó cũng thuận tiện để di chuyển đến Vườn nho Martha.

Woods Hole (Ảnh được chụp bởi Pam Wilmot) (Ảnh: Wikipedia Commons)

12. Thị trấn Bourtange

Ở phía đông của Groningen, nằm phía bắc Hà Lan gần biên giới nước Đức, có thị trấn mang tên Bourtange – một thị trấn hình ngôi sao nhỏ có từ năm 1593 trong cuộc chiến “80 năm”. Vào thời điểm đó, cứ điểm của thị trấn cũng có hình ngôi sao. Ngoài việc tham quan các địa điểm chiến trường, các tòa nhà thời Trung Cổ và tham quan kênh đào, du khách có thể ghé thăm bốn bảo tàng, một số nhà hàng và cửa hàng tạp hóa lịch sử.

Thị trấn Bourtange (Ảnh được chụp bởi Kashif Pathan) (Ảnh: flickr)
Thị trấn Bourtange (Ảnh được chụp bởi Arch) (Ảnh: flickr)

13. Làng Gordes 

Gordes là một ngôi làng thời Trung cổ dưới chân dãy núi Vaucluse ở Pháp, còn được gọi là “Thành phố đá”. Khi các ngôi sao điện ảnh và nghệ sĩ đến Provence, họ sẽ không bỏ lỡ điểm thu hút khách du lịch này: dọc theo những tảng đá cuội hẹp, bạn có thể đến tu viện Sénanque, bạn có thể đi thăm nơi sản xuất mật ong, tinh dầu hoa oải hương và quá trình sản xuất rượu ngọt.

Làng Gordes (Ảnh được chụp bởi Vincent Brassinne) (Ảnh: flickr)

14. Ngôi làng Tây Giang Thiên Hộ Miêu Trại

Ngôi làng Tây Giang Thiên Hộ Miêu Trại nằm ở phía đông nam khu vực tự trị huyện Lôi Sơn, thị trấn Tây, Quý Châu, Trung Quốc. Đây là một khu vực trọng yếu trong danh lam thắng cảnh Nam Sơn, được bảo tồn nhiều nhất, đông dân nhất, giá trị cảnh quan và giá trị nghiên cứu nhất. Khu phức hợp tòa nhà bằng gỗ nhìn ra những ngọn đồi trải dài và ruộng bậc thang tươi tốt.

Ngôi làng Tây Giang Thiên Hộ Miêu Trại (Ảnh được chụp bởi Utpala) (Ảnh: flickr)

15. Làng Monsanto

Tại thị trấn mới của Idania, Bồ Đào Nha, trên một vách đá ở Serra da Estrela, có một ngôi làng từ thời Trung Cổ mang tên là Monsanto. Người dân được xây dựng ngôi nhà của mình giữa những tảng đá granit dọc theo những con phố hẹp, bạn sẽ thấy những tảng đá được sử dụng làm tường, sàn nhà, mái nhà hay thâm chí cả cổng nhà.

16. Làng Bibury

Bibury, nằm ở Gloucestershire, nép mình trên sông Cologne nước Anh. Ngôi làng có nhà nghỉ bằng đá 600 năm tuổi với từng căn phòng nhỏ nhỏ như tổ ong, được gọi là “ngôi làng đẹp nhất nước Anh” bởi sự trang trí đến từ bậc thầy nghệ thuật William Morris. Nó cũng được coi là một trong những điểm đến du lịch đẹp nhất trong khu vực Cotswolds của miền trung nước Anh.

Làng Bibury (Ảnh được chụp bởi Anguskirk) (Ảnh: flickr)

17. Thôn Hoàng

Thôn Hoàng, tỉnh An Huy, nằm ở phía tây nam của núi Hoàng Sơn, nơi có hơn 140 ngôi nhà trong các triều đại nhà Minh và nhà Thanh được bảo tồn. Trong số đó, “Tam điêu” của Thừa Chí Đường được gọi là “cố cung nơi dân gian”, cực kỳ tinh xảo tráng lệ. Thôn Hoàng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Thôn Hoàng (Ảnh được chụp bởi John Skiller) (Ảnh: flickr)

18. Ngôi làng Gásadalur

Ngôi làng Gásadalur nằm ở rìa của một vách đá cao nhìn ra Bắc Đại Tây Dương ở Quần đảo Faroe. Trước khi đường hầm được khoan vào năm 2004, nó chỉ có thể được ghé thăm bằng thuyền, bằng trực thăng. Các nhà thám hiểm sẽ có một các nhìn khó quen tại nơi đây.

Ngôi làng Gásadalur (Ảnh được chụp bởi Stig Nygaard) (Ảnh: flickr)

Theo epochtimes.com

Uyển Vân biên dịch

Hồng Vân sưu tầm

 

Xem thêm...

HUẾ - Thăm Hiếu Lăng - Lăng Vua Minh Mạng -Hành Trình Xuyên Việt Trip # 14a

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 14a

HUẾ - Thăm Hiếu Lăng - Lăng Vua Minh Mạng:

** Nam Mai **

HUẾ - Thăm Hiếu Lăng - Lăng Vua Minh Mạng: Chiều thứ hai ngày 16 tháng 1 năm 2017. Lăng Minh Mạng còn được gọi là Hiếu Lăng, do vua Thiệu Trị cho xây dựng, nằm trên núi Cẩm Kê (sau đổi thành núi Hiếu Sơn), gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 18km. Lăng Minh Mạng được xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 thì hoàn thành, huy động tới mười nghìn thợ và lính để xây dựng lăng. Ngày 20 tháng 8 năm 1841, thi hài vua Minh Mạng được đưa vào chôn ở Bửu Thành, nhưng công việc xây lăng mãi cho đến đầu năm 1843 mới được hoàn tất.

Di tích lăng Minh Mạng là một quần thể kiến trúc quy mô với khoảng 40 công trình bề thế gồm cung điện, lầu đài, đình tạ... được xếp đặt cân đối trên một trục dọc theo đường Thần đạo dài 700m, bắt đầu từ Đại Hồng Môn đến chân La Thành gồm: cửa chính, sân chầu, nhà bia, sân tế, Hiển Đức Môn, điện Sùng Ân,Trung Đạo Kiều, hồ Trừng Minh, Minh Lâu, hồ Tân Nguyệt, cổng tam quan Quang Minh Chính Trực và cuối cùng là Bửu Thành (mộ vua Minh Mạng). Lăng có diện tích 18 ha (nhưng diện tích cấm địa quanh lăng là 475 ha), xung quanh lăng có La Thành bao bọc. Xen giữa những công trình là nhiều hồ nước ngát hương sen và những quả đồi rợp bóng thông, tạo nên một phong cảnh hữu tình.

Bi Đình nằm trên đồi Phụng Thần Sơn, bên trong có bia "Thánh Đức Thần Công" bằng đá Thanh ghi bài văn bia của vua Thiệu Trị viết về tiểu sử và công đức của vua cha Minh Mạng.

Bia Thánh Đức Thần Công

Mở đầu khu vực tẩm điện là Hiểu Đức Môn.

Hiểu Đức Môn mở đầu cho khu vực tẩm điện, được giới hạn trong một lớp tường thành hình vuông biểu trưng của mặt đất (từ ý niệm trời tròn, đất vuông).

Tòa Minh Lâu nhìn từ phía sau (từ phía Trung Đạo Kiều)

Khu vực tẩm điện là nơi thờ cúng vua. Mở đầu khu vực tẩm điện là Hiểu Đức Môn; điện Sùng Ân nằm ở trung tâm thờ bài vị của Vua và Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu; Hoàng Trạch Môn là công trình kết thúc khu vực tẩm điện.

Điện Sùng Ân (nơi có bài vị của Vua và Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu).

Bửu Thành là một quả đồi thông hình tròn, bao quanh bởi tường thành, phía trong sâu bên dưới là mộ vua. Ở chính giữa hồ Tân Nguyệt có một cây cầu mang tên Trung Đạo kiều, nối Minh Lâu với Bửu Thành và đường dạo quanh lăng, phía sau Bửu Thành là một rừng thông xanh thăm thẳm. Bửu Thành chính là ranh giới bảo vệ nơi yên nghỉ của vua Minh Mạng.

Hồ Trừng Minh

Hiện nay, kiến trúc Lăng tuy có phần đổ nát một chút, nhưng chỉ với một mức độ nhẹ hơn so với những Lăng khác. Theo chủ ý của Ban bảo vệ di tích cố đô Huế và những quy tắc bắt buộc của UNESCO là nhằm không trùng tu các di sản, cố ý để tạo ra nét nguyên sơ với vẻ hoang toàn mặc cho rêu phong của thời gian bao phủ sẽ làm cho di tích càng tăng thêm giá trị.

Chúng tôi đến thăm Lăng vào khoảng hơn 3:00 giờ chiều, đến 5:30 thì trở về khách sạn để nghỉ ngơi cho lại sức vì đã đi bêu nắng hơn 2 tiếng đồng hồ rồi. Đúng 6:30 chiều thì cậu Quang đến đón đi ăn cơm tối. Tối nay N đi ăn Cơm Hến tại quán cơm có tên là Tý Hon bên Cồn Hến. Chẳng cần nói thì các bác cũng biết là mấy cái quán dân dã này nó ra sao rồi.

Đây là quán Cơm Hến đây ạ. N lại cũng chẳng nhớ hương vị của Cơm Hến chính gốc tại Huế nó như thế nào nửa các Bác.

Đến 8:00 giờ tối, N và MT xuống Lễ Tân nhờ khách sạn tìm giùm cho 2 chiếc "xích lô tốt"(tốt ở đây có nghĩa là khách sạn phải bảo đãm là họ sẽ không chở 2 bà đi luôn 1 lèo qua TQ đấy ạ). N và MT muốn được "trải nghiệm" 1 chuyến Huế City Tour by Cyclo vào buổi tối để xem thành phố ban đêm nhìn ra sao, vì thế bác tài nói sẽ chở cho đi xem phố "Huế Cổ" trong nửa giờ và nửa giờ còn lại thì xem phố"Huế Mới". Mới đầu thì 2 bà muốn ngồi chung 1 chiếc xe để nói chuyện cho vui và sẽ không bị lạc nhau nếu đi 2 xe. Nhưng sau cùng thì phải đi 2 chiếc vì họ lấy có 200 ngàn VND cho 1 giờ thôi à. Trời ơi chỉ có hơn $8.00 đô la/ 1 giờ, mà cả hai cùng đòi leo lên một chiếc xe với 2 bà cân nặng cộng lại cả mấy trăm lbs thì họ chịu sao cho thấu!!!

Leo lên xích lô thì trời cũng đã chập choạng tối, bác tài xích lô bắt đầu đạp xe đi vào hướng Kinh Thành và Đại Nội. Vừa đi bác tài vừa "thuyết trình" cho biết là xe đang đi qua đường nào phố nào trong thành phố, lại kể cho biết những sinh hoạt trên đường phố, cũng như chỉ dẫn cả những di tích cổ nằm trên đường đi nửa .... N còn nhớ hình như là tới đoạn đường ở ngã ba Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tôn thì bác có chỉ cho N xem 1 cái miếu và cho biết đây là Miếu Âm Hồn rất nổi tiếng tại Huế.

N đã có tìm hiểu thêm để biết cho rỏ ràng, cặn kẻ hơn lời kể vắn tắt của bác tài, thì ra Miếu Âm Hồn là nơi để cúng Âm Hồn vào mỗi năm tại thành phố. Tại Huế hàng năm vào ngày 23 tháng 5 Âm lịch là một ngày rất đặc biệt của toàn thễ người dân thành phố Huế. Tục "Cúng Âm Hồn" tại Huế cho ngày thất thủ Kinh đô (ngày 23 tháng 5 AL) được xem là ngày cúng cô hồn lớn nhất trong cả nước. Vào ngày này tại Huế, từ các gia đình cho đến thôn, xóm, phường .... có rất nhiều rạp, nhiều bàn cúng được dựng lên ở trước cửa nhà để làm lễ cúng âm hồn. Đó chính là ngày để tưởng nhớ sự kiện “Thất thủ Kinh đô 23 tháng 5”, một ngày không thễ quên đối với mỗi người con dân xứ Huế. Cách đây hơn 133 năm, vào tối 22 qua rạng ngày 23 tháng 5 Âm Lịch năm Ất Dậu (tức là đêm mồng 4 rạng ngày mồng 5 tháng 7 năm 1885), Thượng Thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết và Đề Đốc Trần Xuân Soạn đã chỉ huy 20.000 binh lính mở cuộc tấn công đánh thẳng vào sào huyệt quân Pháp ở đồn Mang Cá và khu Tòa Khâm bên bờ sông Hương, Tôn Thất Thuyết bố trí cuộc tấn công rất chu đáo, quân ta cũng chiến đấu rất gan dạ, song do khí giới thô sơ sút kém quá, nên cuộc chiến đã bị thất bại. Quân triều đình không giữ nổi thành phải tháo chạy về phía Lục Bộ và tràn ra cửa Đông Ba thì bị toán quân Pháp từ phía Cửa Trài tiến lên bao vây. Quân Pháp thừa cơ tấn công vào Kinh đô Huế, và một cuộc giết chóc tàn bạo chưa từng có đã xảy ra, khiến cho hàng nghìn quan quân và dân chúng đã chết trong cảnh binh đao hỗn loạn, khoảng 9300 binh lính và thường dân đã bị thương vong. Hầu như không có gia đình nào là không có người bị tử nạn trong đêm binh biến này. Kể từ đó, ngày 23/5 Âm lịch đã trở thành ngày “giỗ chung” của người dân xứ Huế. Vào ngày này, họ cúng cho tất cả những người bị tử nạn như quân sĩ, dân chúng, quan lại, thợ thầy ... đã bị chết do nhiều nguyên do: hoặc bị dày đạp, chen lấn nhau mà chết, hoặc bị đạn của quân Pháp hoặc bị ngã xuống thành khi tìm cách leo ra khỏi thành, hoặc sẩy chân rơi xuống ao hồ dày đặc trong thành, nhất là hồ Tịnh Tâm… trong khoảng thời gian từ 02g đến 04g sáng ngày 23/5 Âm Lịch năm Ất Dậu 1885.

Thường là trước cổng hoặc giữa sân nhà, mâm cúng lễ được bày biện giữa trời, với hai bàn thượng và hạ. Đồ cúng thường không thể thiếu: hương đèn, cau trầu, rượu trắng, cháo trắng, các loại hoa quả, hạt nổ, gạo, muối, các loại giấy cúng, con gà trống luộc và xôi, chè, khoai sắn…

Mâm lễ cúng vào ngày "Cúng Âm Hồn" (Hình lấy từ Internet).

 

Ðặc biệt, trong lễ cúng 23 tháng 5 này, mọi người bao giờ cũng phải nhớ có một bình nước lớn và một đống lửa đốt bên cạnh bàn thờ cúng. Người ta tin rằng các âm hồn sẽ đến uống nước và sưởi ấm bên đống lửa, vì nhiều người trong biến cố đã bị chết khát, chết lạnh lẽo dưới ao, hồ, sông, suối trong rạng ngày 23 tháng 5.

Ở Huế, có khá nhiều miếu âm hồn được lập nên bởi những người con của đất Thần kinh. Nhỏ thì các am thờ cô hồn, lớn hơn thì các miếu của cả làng xóm lập nên. Người dân thường làm lễ cúng trong ngày 23/5 tại Miếu Âm Hồn của phường Thuận Lộc cạnh giao lộ ngã tư đường Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tôn, hay tại Miếu ở phường An Hòa cạnh khu đất xưa từng là nơi hành quyết bêu đầu các anh hùng chống lại triều đình, hoặc tại các khu lăng mộ tập thể ở đường Nguyễn Khoa Chiêm, và ở nghĩa trang 12 vòng mộ tập thể tại Cồn mồ Trà Am nối dài thành phố Huế…

Tập tục cúng âm hồn đã trở thành một nét đặc trưng trong bản sắc văn hóa của chốn Thần Kinh bắt đầu từ những năm sau biến cố thất thủ kinh đô và kéo dài cho đến bây giờ. Trải qua hơn 130 năm, dù Huế có nhiều sự biến đổi nhưng tập tục này vẫn được gìn giữ và chưa bao giờ bị gián đoạn. Tuy hình thức tổ chức cúng lễ có chút khác nhau so với từng thời điểm lịch sử, song ý nghĩa của nó vẫn được giữ nguyên. Việc làm này đã thể hiện được tình đồng bào, tấm lòng nhân đạo và tính nhân văn sâu sắc của người dân xứ Huế.

Hình chụp Miếu Âm Hồn nằm ở đường Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tôn ở phía đông nội thành, cách cửa Đông Ba chừng 300 mét. Miếu Âm Hồn là ngôi miếu có lịch sử lâu đời nhất gắn liền với ngày lễ này. Miếu được xây dựng vào năm 1895 (10 năm sau ngày kinh đô thất thủ), hằng năm tại đây vẫn tổ chức lễ cúng âm hồn để tưởng nhớ những người tử nạn sau biến cố thất thủ Kinh Đô. (hình Internet).

Nghĩ đi, nghĩ lại thì thấy thật quả là tội nghiệp cho con dân của vùng đất Thừa Thiên - Huế, vì ngoài cái tang chung trong cuộc đại biến Kinh Thành thất thủ năm Ất Dậu 1885 làm chết hàng ngàn người vô tội ra, thì một lần nửa vào 83 năm sau, vào năm Mậu Thân 1968 người con dân Huế lại phải hứng chịu thêm một cuộc giết chóc tàn bạo, cũng không kém gì cuộc tàn sát dã man của quân Pháp vào năm 1885. Chuyện thất thủ kinh đô với chuyện giết chóc kinh hoàng lần thứ nhất vào năm 1885 thì chỉ xảy ra trong vòng có một ngày, còn chuyện tang tóc đổ nát trên Huế của 83 năm sau đó không chỉ là một ngày mà đã bị kéo dài tới cả tháng trời trong cảnh u ám của đất trời với những cơn mưa phùn lạnh lẽo, đêm cũng như ngày. Nhớ lại, trong biến cố Tết Mậu Thân đã có đến hơn 6,000 người bị giết chết - con số này chỉ tính riêng thôi ở tại Huế. Họ đã bị giết chết một cách tức tưởi, oan khiên bởi những người mang cùng màu da vàng máu đỏ với họ ngay vào ngày đầu năm Tết Mậu Thân 1968. Vào năm đó, trong những giờ phút thiêng liêng nhất của năm cùng tháng tận, tiếng súng đã ròn rã vang lên khắp các nẻo gần xa tại Huế thay cho tiếng pháo giao thừa truyền thống, tiếng súng đã chen lẫn với tiếng pháo, rượu hồng đã hòa vào máu đỏ, bánh chưng bánh tét đã trộn lẫn với thịt người .... Ôi, nếu đem chuyện thất thủ đời xưa ra so sánh với chuyện thất thủ thời nay thì thiệt hại về tài sản và sinh mạng cũng như tang thương phải nhân lên đến gấp mấy lần. Đấy là một tội ác có một không hai trong lịch sử Việt Nam nói chung và của Thừa Thiên-Huế nói riêng. Qua hai cuộc tàn sát mà thành phố Huế đã phải gánh chịu, điều này cho thấy rằng cư dân Huế hiện đang sống chung với những hài cốt nằm quanh quất đâu đó trên các bãi biền, ruộng vườn, hay nương dâu hoặc dưới ngay những móng nhà của cư dân thành phố, hoặc dưới nền nhà của các khách sạn hiện nay cũng không chừng ..... Thật sự tưởng nhớ, tiếc thương và xin kính cẩn nghiêng mình trước hàng vạn các oan hồn Việt Nam tại Huế đã ngã xuống và vĩnh viễn im hơi lặng tiếng trong cuộc đại biến Kinh đô thất thủ năm 1885 cũng như trong biến cố Tết Mậu Thân năm 1968.

Tại Huế nhà nào cũng có miếu thờ cô hồn trận vong 1968 như hình dưới đây, có nhiều nhà có tới 8 miếu trước sân. (Hình: Liêu Thái/Người Việt lấy từ Internet

Hình chụp khi xe từ trong Đại Nội bắt đầu ra khỏi cổng Kinh Thành vào buổi tối.

Bây giờ thì xin được trở lại với chuyện đi dạo buổi tối bằng cyclo tối nay .... sau một hồi chạy quanh quẩn qua lại trên nhiều con đường thì xe bắt đầu đi vào cổng của Kinh Thành để vào Đại Nội. So với ban ngày có nhiều xe cộ lớn nhỏ chạy vào, lại cộng thêm với một số lượng lớn du khách vào thăm Đại Nội nên đã làm cho Kinh Thành nhìn có vẻ nhộn nhịp và có nhiều sức sống hơn là khi nhìn vào buổi tối như bây giờ. Bắt đầu trời tối thì trên đường cũng vắng không còn nhiều người qua lại nửa, phần lớn số du khách đã ra khỏi Hoàng Thành nên cảnh vật nhìn càng thấy thêm vắng lặng. Vì là khu phố cổ nên hầu hết nhà cửa trong Kinh thành đều là nhà ở của dân chúng chứ không có hàng quán kinh doanh gì nhiều ...... cho nên cả khu vực trong Kinh Thành vào ban đêm nhìn thấy tối lù mù, chỉ thỉnh thoảng mới thấy lóe lên vài ánh đèn yếu ớt chiếu hắt ra từ trong sân của các ngôi nhà ..... với một không gian hoang vắng u tịch như vầy làm cho mình tự nhiên chợt cảm nhận thấy cái buồn tênh của cảnh .... rồi tự dưng bỗng mường tượng thấy cái ghê rợn của sự chết chóc hình như đang quanh quẩn đâu đây ...... cái khắc khổ tĩnh lặng của ban đêm hòa với nét tuyệt mỹ của thiên nhiên chung quanh càng làm cho Kinh thành nhìn có thêm phần huyền bí lạ lùng ...... Lúc này tự nhiên trời lại lất phất mưa nhè nhẹ ..... nói thật với các bác là bỗng dưng N cảm thấy lạnh toát từ lưng xuống chân rồi tự nhiên thấy sợ hãi vu vơ với một cảm giác rất khó tả..... nên trong bụng chỉ mong cho xe mau mau đi ra khỏi khu vực bên trong Kinh Thành càng nhanh chừng nào thì càng tốt chừng ấy. Nói thật, nửa giờ trong khu vực "phố cổ" mình chẳng thấy gì nhiều vì trời tối mà ánh sáng bên trong Kinh Thành lại không có nhiều ..... nói tóm lại thì chẳng thấy có gì hấp dẫn mà chỉ thấy có ..... sợ! Chắc tại N yếu bóng vía nên bị thần hồn nát thần tính thôi.

 Sau đó bác tài đạp xe lên cầu Tràng Tiền (hình chụp buổi tối thiếu ánh sáng nên không được đẹp lắm) rồi bác cho xe đi vào khu "phố Huế mới".

Bác tài gọi là khu "phố Huế mới" để phân biệt với khu "phố Huế cổ" trong Kinh thành. Bác nói tại khu phố Huế mới bây giờ mọi người dân đều cất nhà ra mặt tiền để làm phố buôn bán, hoặc kinh doanh quán ăn nên đèn điện sáng choang, du khách người mình và khách Tây du lịch đi lại đông đảo nhìn rất vui. Lại thêm có nhiều người thức thời họ bỏ tiền ra đầu tư mua đất, mua nhà củ đập đi để xây thành ra nhiều khách sạn cao tầng rất đẹp và rất hiện đại nên đã không còn nhận ra một thành phố Huế nho nhỏ cổ kính như xưa tại khu phố mới này nửa. Khu này dành riêng cho khách du lịch nên nhộn nhịp ồn ào tới tận đêm khuya.

Sau một tiếng đồng hồ ngồi trên Cyclo chạy quanh quẩn để xem Huế by Night thì N và MT quay về khách sạn, nghỉ ngơi cho sớm để lấy sức lên đường đi tiếp vào sáng mai.

Viết xong ngày August 20-2018 lúc 10:00 pm.

Bài kế tiếp: Trúc Lâm Bạch Mã và Huyền Không Sơn Thượng.

 

 ** Nam Mai **

 

 

Xem thêm...

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 14

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 14

*** Nam Mai ***

HUẾ -Thăm Bia Quốc Học - Đàn Nam Giao - Thăm Kinh Thành (Đại Nội): Thứ hai ngày 16 tháng 1 năm 2018

Rời Thánh Địa La Vang ở Quảng Trị vào chiều ngày Chủ Nhật khoảng 5:45 pm, Group 4 bắt đầu lên đường đến thành phố Huế - đến đây lúc 6:30 pm và check in vào Green Hotel Huế (tại số 2 đường Lê Lợi, phường Vĩnh Ninh, tp Huế) . Huế là thành phố trực thuộc tỉnh Thừa Thiên, là đô thị cấp quốc gia của Việt Nam và từng là kinh đô của Việt Nam dưới triều nhà Nguyễn (1802 - 1945). Thành phố tọa lạc hai bên bờ hạ lưu sông Hương, nằm về phía Bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 105 km, cách cửa biển Thuận An 14 km, cách sân bay Phú Bài 14 km và cách cảng nước sâu Chân Mây 50 km. (chú thích: Cảng nước sâu Chân Mây là chỗ mà hiện nay họ đã xây dựng để làm (Port) nơi cho các du thuyền Cruiseships như Royal Caribbean, Princess Cruise Lines .... ghé đổ du khách lên bờ vào thăm Việt Nam). Vào thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, vì vị trí của thành phố Huế nằm rất gần với khu vực giới tuyến giữa 2 miền Nam Bắc, nên Huế đã trở thành một vị trí rất dễ bị tấn công trong chiến tranh Việt Nam. Trong vụ tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, thành phố Huế và nhiều danh lam thắng cảnh của thành phố đã bị thiệt hại rất nặng nề, nhưng rất may là cũng còn có một số thắng cảnh và di tích lịch sử không bị thiệt hại trầm trọng đáng kể.

Huế có địa hình khá phức tạp, bao gồm cả núi rừng, đồng bằng, đầm phá và vùng ven biển. Trước đây, vùng đất miền Trung thuộc về Vương quốc cổ Champa với một nền văn hóa phát triển khá phồn thịnh. Nhưng đến đầu thế kỷ thứ 19 thì toàn bộ dải đất này thuộc về Đại Việt, trong đó có Huế. Đầu thế kỷ 19, nhà Nguyễn lên trị vì đất nước, đóng đô ở Huế, đã cho xây tại Huế một công trình vĩ đại đó là Kinh thành Huế. Có thể nói, văn hóa nghệ thuật nước ta phát triển khá rực rỡ dưới thời nhà Nguyễn. Hàng trăm công trình chùa chiền, lăng tẩm, đền miếu đã được xây dựng trên thành phố Huế, cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại và là một kho tàng văn hóa lịch sử rất có giá trị.

Với những công trình lịch sử và văn hóa như thế, nên thành phố Huế hiện nay là một điểm rất hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước muốn đến. Đến với Huế, người ta sẽ đắm chìm vào một khung cảnh vừa lãng mạn vừa cổ kính của những lăng tẩm, đền đài, sông núi ..... mang những nét nghệ thuật đặc sắc của một vùng miền văn hóa lâu đời. Trong cuộc sống hàng ngày, Huế có những nét đặc biệt từ lối sống cho đến các phong tục tập quán, đều là những điều rất thú vị nên đã thu hút rất nhiều du khách khi đến đây. Ngoài những di tích lịch sử có giá trị, Huế cũng được thiên nhiên ưu ái ban cho rất nhiều thắng cảnh xinh đẹp, từ núi rừng Bạch Mã đến biển Thuận An, Lăng Cô, hay con sông Hương mơ màng chảy bên núi Ngự Bình đã tạo thành những biểu tượng lâu đời và riêng biệt của đất Huế.

Đúng 8:15 am, Cậu Quang đến đón 4 bà của group 4. Theo chương trình, buổi sáng mọi người sẽ được đưa đi xem Bia Quốc Học, Đàn Nam Giao và Kinh Thành Huế. Sau buổi ăn trưa, sẽ viếng thăm Hiếu Lăng của Vua Minh Mạng.

Bia Quốc Học:

Công trình này nguyên bản là một kiến trúc tưởng niệm, có tên là Đài chiến sỹ trận vong, Bia được xây dựng và khánh thành từ năm 1920 dưới thời vua Khải Định để tưởng niệm những binh sỹ người Pháp và người Việt ở các tỉnh Trung Kỳ đã tham chiến và tử trận trong Thế chiến thứ nhất (1914-1918). Khi xưa, mặt trước thân bia có ghi khắc tên họ của 31 người Pháp và 78 người Việt, sau thời Pháp thuộc thì phần này đã bị đục xoá, nhưng kiến trúc bia thì vẫn được giử lại. Vì đây là một công trình kiến trúc với nét đẹp truyền thống phong cách Huế, nhìn rất hài hòa với cảnh quan của sông Hương và trường Quốc Học cho nên kiến trúc Bia vẫn được giử cho đến ngày nay. Do vị trí công trình Bia toạ lạc trước cổng trường Quốc học (phía bên kia đường Lê Lợi, sát bờ Nam sông Hương) nên người dân Huế lâu nay vẫn quen gọi là Bia Quốc Học, chứ thực ra công trình này không liên quan gì đến Trường Quốc Học.

Những ngày đầu năm 2017 (vào thời điểm group 4 có mặt tại đây), đã nghe có dư luận và báo chí trong nước xôn xao về công trình Bia Quốc Học đang được trùng tu, và sau gần 3 tháng trùng tu với tổng kinh phí gần 3 tỷ đồng, bia Quốc Học bỗng được phủ lên một màu sơn vàng chói lạ mắt, những hoa văn trang trí vốn được làm rất tinh tế trên bia trước kia nay đã bị cạo xóa, nhìn không còn thấy gì là nét cổ kính như trước nửa. Có rất nhiều ý kiến trái chiều về việc trùng

tu công trình này, tựu trung ở vấn đề là khi tu tạo lại công trình, họ không tôn trọng nguyên gốc di tích, nên đã tạo ra một màu sắc mới nhìn rất phản cảm làm mất hẳn đi vẻ cổ kính sẵn có, khiến công trình cổ mà lại trông như mới .....

Hình N chụp bia Quốc Học vào thời điểm công trình sắp được hoàn thành (chụp ngày 16/1/2017)

v

Hình Bia Quốc Học củ (hình Internet)

Image result for Hình Bia Quốc Học củ

Tin mới nhất hiện nay về Đài tưởng niệm Chiến sĩ trận vong (hay thường được gọi là Bia Quốc Học do nằm trước cổng trường Quốc Học Huế). Cho rằng trải qua 100 năm xây dựng, công trình đã bị xuống cấp hư hỏng nghiêm trọng, vì thế vào tháng 11/2016, UBND thành phố Huế quyết định trùng tu bia Quốc học và giao cho trung tâm Công viên cây xanh Huế làm chủ đầu tư với số tiền tu bổ là gần 3 tỷ đồng và sẽ hoàn thành trong vòng 3 tháng. Tiếc rằng, sau khi hoàn thành việc trùng tu chưa được một năm (bia làm xong tháng 2-2017), thì vào cuối tháng 12 năm 2017 người ta thấy công trình này đã bị xuất hiện nhiều vết nứt đủ kích cở xung quanh hệ thống tường và các bậc thang lên xuống rồi.

Liên quan đến vấn đề này, giới chức "có thẩm quyền" thừa nhận đúng là có việc xuất hiện các vết nứt tại công trình Bia Quốc Học. Theo ông giải thích, nguyên nhân xuất hiện các vết nứt có thể là do bia được xây dựng trên nền gạch cũ (!!!!). Ông cũng cho biết, đơn vị thi công đang kiểm tra để sửa chửa lại. (Lời bàn Mao Tôn Cương : Hy vọng là việc sửa chửa sẽ không làm tốn thêm nhiều vào công quỹ (tiền thuế) của dân nửa, cũng như là nếu có sửa chửa lại thì cũng nên làm việc cho đúng đắn, cho có lương tâm, đừng nên ăn uống nhiều quá để rồi lại phá hại thêm cho những di tích lịch sử văn hóa từ xưa còn sót lại. Mong lắm thay!!!!).

Hình chụp tại Trường Quốc Học Huế (trường nằm đối diện với Bia Quốc Học). Trường Quốc Học là một ngôi trường nổi tiếng ở cố đô Huế, thành lập vào ngày 23 tháng 10 năm 1896.

Hình Sông Hương được chụp khi đứng tại vị trí của Bia Quốc Học.

Mọi người chụp vài tấm hình kỷ niệm tại trường Quốc Học và Bia Quốc Học, sau đó thì đến thăm Đàn Nam Giao. Đàn Nam Giao triều Nguyễn được xây dựng vào năm 1803, đặt tại làng An Ninh dưới thời vua Gia Long. Năm 1806, đàn được dời về phía nam của kinh thành Huế, trên một quả đồi lớn thuộc làng Dương Xuân, nay thuộc phường Trường An, tp Huế. Đây là nơi các vua nhà Nguyễn tổ chức lễ tế trời đất vào mùa xuân hàng năm. Đây là đàn Nam Giao duy nhất còn hiện hữu ở Việt Nam (dù trong tình trạng không còn nguyên vẹn), và cũng là đàn tế duy nhất còn tồn tại trong số nhiều đàn tế cổ ở Huế.

Lễ tế Nam Giao là nghi lễ quan trọng bậc nhất dưới chế độ quân chủ vì chỉ nhà vua mới có quyền làm lễ tế Giao, tức là tế Trời Đất, nhằm khẳn định tính chính thống của triều đại, uy quyền của Hoàng đế tuân theo mệnh trời mà cai trị dân chúng. Do vậy, hầu như các triều đại nhà Nguyễn đã cho xây dựng và duy trì đàn Nam Giao và đều tổ chức lễ tế Giao. Đàn Nam Giao đã được khởi công xây dựng vào ngày 25 tháng 3 năm 1806. Sau khi hoàn thành, vua Gia Long lần đầu tiên tổ chức lễ tế Giao tại đây vào ngày 27 tháng 3 năm 1807. Trong suốt 79 năm độc lập của nhà Nguyễn (1807 - 1885), đàn Nam Giao luôn là nơi tổ chức nghi thức tế Giao đều đặn vào mùa xuân hàng năm. Nhưng từ năm 1886 đến năm 1890, triều đình Huế không có tổ chức lễ tế Giao. Bắt đầu lại từ năm 1891, cứ ba năm một lần, vua Nguyễn lại đến tế Trời Đất ở đàn tế. Lễ tế cuối cùng của triều Nguyễn tại đây là vào ngày 23 tháng 3 năm 1945. Tính ra, đã có 10 trong tổng số 13 vị vua nhà Nguyễn đích thân tế hoặc sai người tế thay với 98 buổi đại lễ được tổ chức ở đàn Nam Giao. Sau khi nhà Nguyễn chính thức cáo chung vào tháng 8 năm 1945, đàn Nam Giao không được sử dụng đúng mục đích, dần dần bị đổ nát, hoang phế xuyên suốt qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam ác liệt. Năm 1977, đàn Nam Giao nhà Nguyễn đã bị xâm hại một cách nghiêm trọng khi chính quyền tỉnh Bình - Trị - Thiên cho xây dựng một đài tưởng niệm liệt sĩ bằng gạch ốp đá rửa, cao chừng 10m, công trình này được xây ngay chính giữa nền Viên Đàn. Ngày 22 tháng 12 năm 1977, khối "tân cổ cưỡng duyên" này đã được khánh thành với sự hiện diện của Bí thư Tỉnh ủy Bùi San. Thời gian đó, thủ trưởng ngành Văn hóa tỉnh Bình Trị Thiên, người có trách nhiệm quản lý các di tích lịch sử - văn hóa trong tỉnh này, Ty trưởng Ty Văn hóa là Nhạc sĩ Trần Hoàn lại không hề có hành động nào ngăn chặn vụ việc phá đàn Nam Giao tai tiếng này. Không chỉ nền Viên Đàn mà khu vực Trai Cung cũng bị biến dạng khi trở thành nơi đặt máy xay xát của công ty Lương thực thành phố Huế, nền nhà Khoản Tiếp cũng bị biến ra thành trụ sở Ủy ban nhân dân xã Thủy Xuân. Trước những vụ việc này xảy ra, dư luận Huế bày tỏ bất bình bằng câu ca dao mà nhiều năm sau vẫn còn được truyền tụng: "Trần Hoàn cùng với Bùi San. Hai thằng hợp tác phá đàn Nam Giao". Tuy vậy phải đến 15 năm sau, nhận thấy việc tùy tiện cải biến công trình đàn Nam Giao là sai lầm trầm trọng nên đến ngày 15 tháng 9 năm 1992, UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế mới có quyết định di dời đài tưởng niệm liệt sĩ đến một địa điểm khác để khôi phục trở lại nguyên dạng cho đàn Nam Giao, đồng thời giao cho Trung tâm Bảo Tồn Di Tích Cố Đô Huế nhiệm vụ bảo vệ, lập hồ sơ, và làm công tác trùng tu. Song sau đó, việc trùng tu vẫn chưa được diễn ra, đàn Nam Giao có khi được dùng làm bãi tập lái ô tô, có lúc lại biến thành thao trường của quân đội Việt Nam.

Ngày 11 tháng 12 năm 1993, đàn Nam Giao được nằm trong danh sách 16 di tích có giá trị toàn cầu nổi bật thuộc quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Giá trị của đàn Nam Giao triều Nguyễn nay được cộng đồng quốc tế công nhận, điều này đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử tồn tại của đàn Nam Giao.

Hình chụp Đàn Nam Giao (ngày 16/1/2017)

Sau khi đi vòng vòng chung quanh xem và chụp hình tại Đàn Nam Giao xong, thì chúng tôi bắt đầu đến thăm Kinh Thành và Đại Nội Huế.

Kinh thành Huế được xây dựng dưới thời vua Gia Long, là vị vua khai quốc của triều đại nhà Nguyễn. Công cuộc khảo sát để xây dựng Kinh Thành Huế bắt đầu từ năm 1803, chính thức khởi công vào năm 1805, và hoàn chỉnh vào khoảng năm 1832 dưới thời vua Minh Mạng. Có thể nói, Kinh Thành Huế là một trong những thành tựu vĩ đại của vua Gia Long và triều Nguyễn. Kinh Thành Huế được xây dựng trên diện tích khoảng 520 ha, có chu vi 10km, cao 6,6m và dày 21m. Thành có kiến trúc hình ngôi sao tiêu biểu theo phong cách Vauban (Citadel of Life), xây khúc khuỷu với những pháo đài phòng thủ được xếp đặt gần như đều nhau trên mặt thành. Thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối thời vua Gia Long thành mới được cho ốp gạch như chúng ta thấy ngày hôm nay. Bên ngoài vòng thành có đào một hệ thống thành hào sâu để bảo vệ chạy dọc theo chân thành. Hệ thống hào sâu này có tác dụng như là chướng ngại vật, vừa có chức năng phòng thủ vừa có chức năng giao thông bằng đường thủy.

Kinh Thành Huế có tất cả 13 cửa ra vào kể cả đường bộ và đường thủy. Trên mặt thành ngày xưa có tới 24 pháo đài. Kinh thành liên lạc với bên ngoài qua 8 cửa trổ theo 8 hướng: Chính Ðông, Chính Tây, Chính Nam, Chính Bắc, Tây Bắc, Tây Nam, Ðông Bắc, Ðông Nam. Ở hai bên Kỳ Ðài còn có hai cửa Thể Nhơn và Quảng Ðức. Ngoài ra còn có hai cửa bằng đường thủy ở hai đầu sông Ngự Hà là Ðông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan. Phía Hoàng Thành ở góc đông bắc có một thành nhỏ, thời Gia Long gọi là Thái Bình, đến thời Minh Mạng đổi thành Trấn Bình Ðài có chu vi gần 1km, bên ngoài có hào rộng ăn thông với hào của Hoàng Thành.

Hình chụp 1 trong số 13 cổng vào của Kinh thành Huế ngày 16/1/2017 (một trong những cửa thành vẫn còn giữ nguyên được hình dáng và kiến trúc ban đầu).

Kinh Thành Huế, Hoàng Thành Huế và Tử Cấm Thành Huế: ba tòa Thành lồng vào nhau được xếp đặt cân đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hoành Thành và các Cung điện bên trong đều được xếp đặt trên một trục đối xứng gọi là trục Thần Đạo. Trong đó chính giữa trục Thần Đạo có các công trình chỉ được dành riêng cho Vua như cửa Ngọ Môn, cầu Trung Đạo, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, Cửa Hòa Bình. Hai bên trục Thần Đạo tính từ trong ra ngoài được xếp đặt tuân theo nguyên tắc: Tả Văn, Hữu Võ, Nam Tả, Nữ Hữu hay Tả Chiêu Hữu Mục (bên trái trước, bên phải sau, lần lượt theo thời gian..)

Hoàng Thành Huế là vòng thành thứ 2 bên trong Kinh Thành Huế, có chiều dài mỗi mặt thành khoảng 600m và gần như là vuông. Chiều cao khoảng 4m, và dày 1m được xây bằng gạch vồ. Hoàng Thành chính là trái tim, là trung tâm chính trị và là nơi quan trọng nhất của Kinh thành Huế, nơi đặt các cung điện, ngai vàng, miếu thờ ..... cũng là nơi ở và làm việc của Hoàng gia triều Nguyễn. Hoàng Thành và Tử Cấm Thành được gọi chung là Đại Nội. Hoàng Thành được xây dựng vào năm 1804 dưới thời vua Gia Long nhưng mãi đến năm 1833 mới hoàn chỉnh hệ thống cung điện với khoảng 147 công trình lớn nhỏ khác nhau. Hoàng Thành được trổ 4 cửa để ra vào gồm: Cửa Ngọ Môn nằm ở phía nam được xem là cửa chính của Hoàng Thành Huế, là cửa quan trọng nhất trong 4 cửa của Hoàng thành, cửa dành để cho vua đi trong các dịp lễ quan trọng và là nơi đặt lễ đài là lầu Ngũ Phụng được xem như là bộ mặt của Quốc gia, nơi diễn ra các buổi lễ quan trọng như lễ đón sứ thần của các nước, lễ xướng tên sỹ tử đỗ Tiến Sỹ trong cuộc thi Đình tại Kinh Thành, lễ Ban Sóc (lễ phát lịch hàng năm của nhà vua cho năm mới ) và lễ Duyệt Binh.... Cửa phía Bắc được đặt tên là cửa Hòa Bình, tả hữu hai bên là cửa Hiển Nhơn và cửa Chương Đức. Các cầu và hồ xung quanh hoàng thành đều có tên gọi là Kim Thủy. Cửa Ngọ Môn gồm có 2 phần chính là Đài Cổng và lầu Ngũ Phụng:

Ở phần Đài Cổng nhìn từ ngoài vào sẽ thấy có 3 cổng: Cổng chính giữa đặt tên là Ngọ Môn và được dành riêng cho Vua, hai cửa hai bên được đặt tên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn dành cho quan văn và quan vỏ theo nguyên tắc Tả Văn Hữu Vỏ. Đặc biệt hai bên cánh chữ U có 2 cửa vòng nhỏ chỉ thấy được từ phía trong nhìn ra ngoài đó là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn. Hai cửa vòng nhỏ này chỉ dành cho voi ngựa, quân lính và đoàn tùy tùng khi vua xuất hành qua cửa Ngọ Môn.

Phần lầu Ngũ Phụng là công trình kiến trúc đẹp nhất trong quần thể Hoàng Thành Huế được xây dựng trên nền đài của cửa Ngọ Môn.

Lầu Ngũ Phụng có mặt bằng hình chữ U dựa theo nền móng của cửa Ngọ Môn gồm 2 tầng lầu và 2 tầng mái. Lầu được dựng trên nền cao 1,14m xây dựng trên nền đài của cửa Ngọ Môn. Khung của lầu được dựng trên 100 cây cột gỗ Lim tượng trưng cho bách tính trăm họ trong thiên hạ, trong đó có 48 cây cột xuyên suốt hai tầng lầu. Hệ thống mái dưới chạy quanh lầu xuyên suốt để che nắng che mưa cho tất cả các phần lan can phía dưới. Hệ thống mái của tầng trên được chia làm 9 bộ mái, trong đó bộ mái ở chính giữa cao hơn 8 bộ mái của 2 bên, được dành riêng cho Vua ngự. Bộ mái giữa chỗ Vua ngự được lợp bằng ngói Hoàng Lưu Ly màu vàng tượng trưng cho nhà vua, 8 bộ mái còn lại chia đều cho hai bên được lợp mái Thanh Lưu Ly màu xanh ngọc được dành cho các quan ngồi.

Xin được nói thêm rằng có một sự kiện quan trọng cũng liên quan đến Cửa Ngọ Môn, đó là vào ngày 30/8/1945 - tại đây chính là nơi đã diễn ra lễ thoái vị của vua Bảo Ðại – vị vua cuối cùng của Việt Nam.

Hình dưới đây được lấy từ Internet để các bạn có thễ nhìn rỏ cả 3 cổng chính (cổng cho Vua & Quan đi) lẫn 2 cổng vòng chữ U (cho quân lính, voi, ngựa đi) và màu sắc của mái ngói Hoàng Lưu Ly và Thanh Lưu Ly trên lầu Ngũ Phụng Đài.

Hình chụp trước Cửa Ngọ Môn

Điện Thái Hoà là cung điện nằm trong khu vực Đại Nội của kinh thành Huế. Đó là một công trình kiến trúc quan trọng nhất trong quần thể Hoàng Thành Huế. Là nơi đặt ngai vàng của các vị vua nhà Nguyễn, là trung tâm chính trị của cả nước trong 143 năm thời gian nhà Nguyễn trị vì. Điện Thái hòa được đặt ở Trung Tâm khu vực Hoàng Thành, theo phong thủy là nơi trung tâm của vũ trụ. Điện quay mặt về hướng chánh nam được nối với cửa Ngọ Môn bằng một cây cầu đá bắt qua hồ Thái Dịch được gọi là cầu Trung Đạo, xưa kia cầu Trung Đạo chỉ dành riêng cho vua đi. Các quan văn vỏ phải đi hai lối hai bên tả hữu để vào sân chầu hay còn gọi là sân Đại Triều Nghi. Phía đầu và cuối cầu Trung Đạo được dựng hai chiếc cổng có hình lưỡng Long chầu Nhật. Phía trước điện Thái Hòa là sân Đại Triều Nghi, nơi thiết hành lễ Đại Triều vào các ngày mồng 1 và 15 hàng tháng, và cũng được dùng cho các buổi triều nghi quan trọng như lễ Đăng Quang, Sinh Nhật Vua, hay những buổi đón tiếp sứ thần chính thức. Điện được xây dựng vào năm 1805 thời vua Gia Long. Năm 1833 khi vua Minh Mạng quy hoạch lại hệ thống kiến trúc cung đình ở Đại Nội, trong đó có việc cho dời điện về mé nam và làm lại cho thêm đồ sộ và lộng lẫy hơn.

Phía sau Ngọ Môn là Điện Thái Hòa và khu vực bên trong Ngọ Môn

Điện Thái Hòa và sân Đại Triều Nghi

Điện Thái Hòa và Sân Đại Triều Nghi (Chỉ có các quan Tứ trụ và những hoàng thân quốc thích của nhà vua mới được phép vào điện diện kiến. Các quan khác có mặt đông đủ và đứng xếp hàng ở sân Đại triều theo cấp bậc và thứ hạng từ nhất phẩm đến cửu phẩm, quan văn đứng bên trái, quan vỏ đứng bên phải. Tất cả các vị trí đều được đánh dấu trên hai dãy đá đặt trước sân chầu).

Ở trước Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu (phía tây nam Hoàng hành Huế) là nơi có đặt chín cái đỉnh bằng đồng của nhà Nguyễn, những đỉnh này được gọi là Cửu Đỉnh. Tất cả đều được đúc ở Huế vào cuối năm 1835, hoàn thành vào đầu năm 1837. Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với mỗi vị hoàng đế của triều Nguyễn, chúng có trọng lượng khác nhau và hình chạm khắc bên ngoài đỉnh cũng khác nhau. Chín đỉnh đó là: Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh, Chương Đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị Đỉnh, Thuần Đỉnh, Tuyên Đỉnh, Dụ Đỉnh, và Huyền Đỉnh.

Chín đỉnh được sắp thành một hàng ngang dưới thềm Hiển Lâm Các, nằm theo thứ tự các án thờ trong Thế Miếu. Riêng Cao Ðỉnh của vua Gia Long thì đặc biệt được đặt nhích về phía trước 8 đỉnh kia một khoảng gần 3m, vì vua Minh Mạng cho rằng Gia Long là vị vua có công lớn nhất đối với triều đại.

 Hiển Lâm Các là một đài lưu niệm, nơi ghi công những vị khai quốc công thần đã sáng lập ra triều Nguyễn. Hiển Lâm Các được xây dựng từ năm 1821 – 1822 dưới thời vua Minh Mạng, tọa lạc phía tây nam của Hoàng Thành nằm phía trước của Thế Miếu

Hình chụp Thế Tổ Miếu

Thế Tổ Miếu thường gọi là Thế Miếu tọa lạc ở góc tây nam bên trong Hoàng thành Huế, là nơi thờ các vị vua triều Nguyễn. Đây là nơi triều đình đến cúng tế các vị vua quá cố, nữ giới trong triều (kể cả hoàng hậu) không được đến tham dự các cuộc lễ này. Bên trong miếu, ngoài án thờ vua Gia Long và 2 Hoàng hậu đặt ở gian giữa, các án thờ của các vị vua còn lại đều theo nguyên tắc "tả chiêu, hữu mục" để sắp đặt. Tuy nhiên, theo gia pháp của họ Nguyễn, các vị vua bị coi là "xuất đế" và "phế đế" đều không được thờ trong tòa miếu này, do đó trước năm 1958, bên trong Thế Tổ Miếu chỉ có 7 án thờ của các vị vua dưới đây: 1. Án thờ Thế Tổ Cao Hoàng Đế (vua Gia Long) và 2 Hoàng hậu Thừa Thiên, Thuận Thiên ở gian chính giữa. 2. Án thờ Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế (vua Minh Mạng) và Hoàng hậu Tá Thiên ở gian tả nhất (gian thứ nhất bên trái, tính từ gian giữa). 3. Án thờ Hiến Tổ Chương Hoàng Đế (vua Thiệu Trị) và Hoàng hậu Nghi Thiên ở gian hữu nhất (gian thứ nhất bên phải, tính từ gian giữa). 4. Án thờ Dực Tông Anh Hoàng Đế (vua Tự Đức) và Hoàng hậu Lệ Thiên ở gian tả nhị (gian thứ hai bên trái). 5. Án thờ Giản Tông Nghị Hoàng Đế (vua Kiến Phúc) ở gian hữu nhị (gian thứ hai bên phải). 6. Án thờ Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế (vua Đồng Khánh) và Hoàng hậu Phụ Thiên ở gian tả tam (gian thứ ba bên trái). 7. Án thờ Hoằng Tông Tuyên Hoàng Đế (vua Khải Định) và Đoan Huy Hoàng thái hậu ở gian hữu tam (gian thứ ba bên phải).

Đến tháng 10 năm 1958, án thờ 3 vị vua chống Pháp vốn bị liệt vào hàng xuất đế không được thờ trong Thế Tổ Miếu là các Vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân đã được hội đồng Nguyễn Phúc Tộc rước vào thờ ở Thế Tổ Miếu. Hiện nay án thờ vua Hàm Nghi được đặt ở gian tả tứ (gian thứ tư bên trái). Án thờ vua Thành Thái đặt ở gian tả ngũ (gian thứ năm bên trái), còn án thờ vua Duy Tân đặt ở gian hữu tứ (gian thứ tư bên phải). Còn các án thờ vua Dục Đức, Hiệp Hòa và Bảo Đại đến nay vẫn chưa có mặt trong Thế Tổ Miếu.

Thái Miếu hôm nay vào lúc group 4 đến đây đã đóng cửa không cho du khách vào thăm viếng, vì bên trong gia đình Hoàng Tộc đang cúng bái cho ngày Giỗ Kỵ của một nhà Vua (có nói tên mà N quên không ghi xuống note), cho nên mọi người chỉ được đứng bên ngoài nhìn vào và chụp hình thôi. (bình thường họ không có đem cờ lọng bàn ghế bày ra trước sân Thế Miếu như đã nhìn thấy trong hình đâu).

Tại cố đô Huế hiện còn lưu giữ và trưng bày 15 chiếc vạc đồng là những tác phẩm nghệ thuật thể hiện trình độ kỹ thuật đúc và mỹ thuật tuyệt vời, trong số đó, có 11 chiếc được đúc từ thời các chúa Nguyễn, còn 4 chiếc được đúc vào thời vua Minh Mạng

Cung Diên Thọ chính điện

Diên Thọ Cung là biệt điện của Hoàng Thái Hậu (Mẹ Vua) hoặc Thái Hoàng Thái Hậu (Bà Nội Vua) được xây dựng sớm nhất trong Đại Nội, từ năm 1804. Đây là cung điện quy mô nhất còn lại tại cố đô Huế. Cung Diên Thọ gồm hơn 10 tòa nhà được xây trong một khuôn tường thành hình chữ nhật rộng khoảng 100m, dài 150m, cao quá đầu người. Hiện nay, Cung Diên Thọ chỉ còn lại một số công trình như : Cung Diên Thọ, Điện Thọ Ninh, Tạ Trường Du, Am Phước Thọ và Lầu Tịnh Minh. Các công trình này được nối liền với nhau bằng hệ thống Trường Lang, nối tiếp với Trường Lang ở Tử Cấm Thành.

 Một phần nội thất trong Cung Diên Thọ

Tạ Trường Du (nằm trong cung Diên Thọ).

Đây là ngôi nhà thủy tạ nằm trên một hồ nước hình chữ nhật, dài 28m, rộng 20m, được xây dựng năm 1849. Tạ Trường Du nằm ở bờ Bắc của hồ, mặt quay về hướng Nam. Tòa nhà bằng nửa diện tích hồ. Nền lát gạch hoa, vách bằng gỗ, trổ nhiều của sổ. Nội thất chạm trổ tinh xảo. Trên bờ nóc chắp bầu rượu bằng pháp lam. Quanh tạ xây lan can, mặt trước có cầu nối với bờ Nam hồ. Hai bên hồ đắp hai hòn non bộ, trên có am nhỏ và cầu nối

Hình chụp nội thất trong cung của Hoàng Gia, phía cuối là 1 cái kiệu đang được trưng bày.

Trong Tử Cấm Thành có một hệ thống Trường lang dài hơn 900m đã tồn tại trên 200 năm, nhưng do các biến động của lịch sử và chiến tranh nên các hệ thống trường lang đã bị phá hủy một cách trầm trọng nay chỉ còn lại dấu tích nền móng. Trong những năm qua, Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã phục hồi, tu bổ hành lang, phục hồi các bức tranh treo tường tại các Trường lang để từng bước phục hồi diện mạo các công trình trong khu vực Đại Nội.

Hình chụp dưới đây là một vài Trường Lang trong Tử Cấm Thành dùng để nối liền các cung điện với nhau từ cung nọ sang cung kia (N có nhiều hình chụp hệ thống Trường Lang với những kiểu cách khác nhau rất đẹp, nhưng trong khuôn khổ bài này không thễ post lên hết được).

Chương Đức Môn là cửa thành phía Tây của Hoàng Thành Huế

Hình chụp tại Chương Đức Môn 

Bây giờ mình nói chuyện của 4 bà trong lúc đi thăm viếng Đại Nội nha. Hôm nay là một ngày nắng ráo, nóng cao độ mà trời lại đứng gió nên thời tiết vô cùng oi bức. Suốt mấy tiếng đồng hồ chạy tới chạy lui, chạy qua chạy lại từ cung nọ sang cung kia đến mướt cả mồ hôi. Xem một lúc thì .... "tẩu hỏa nhập ma", mệt quá sức nên chẳng nhớ là mình đã xem cái gì, quên sạch hết cả tên các cung điện vì thấy sao cung nào cũng giống cung nào, rồi đường đi thì quanh qua quanh lại .... đến một lúc thì ..... chẳng biết là mình đang ở đâu nửa. Hai chân đã mỏi nhừ mà người thì mệt lã vì nóng quá sức .... N yêu cầu cậu Quang cho ra về ăn trưa, sau đó được nghĩ ngơi lấy sức để mà còn đi ..... bêu nắng vào buổi chiều tại Hiếu Lăng. Nhưng khỗ nổi trong group có 1 một O là Mỹ Thiện, cô này cứ nhất định bắt cậu Quang phải dẫn cô đi tìm cho bằng được "cái vườn Ngự Uyển" của Hoàng gia, vì cô nói đã xem trên YouTube có video chiếu và chính tận mắt cô đã được xem cái vườn Ngự Uyển này trên YouTube rồi, cô đã xem video, thì hôm nay cô muốn được chính mắt nhìn thấy nó!Trời đất ơi, ba bà lếch thếch đi theo cô và cậu Tour Guide giửa trưa nắng chang chang muốn tắt thở luôn mà có tìm thấy cái vườn Ngự Uyển nào đâu, hỏi nhân viên làm việc trong các phòng tại Đại Nội thì người nói có vườn Ngự Uyển, người lại nói không ..... mỗi người chỉ 1 nẻo ..... cứ thế nghe theo lời họ chỉ để đi tìm, khỗ nổi trong Đại Nội từ chỗ nọ sang chỗ kia rất xa, đã chạy hết từ Nam lên Bắc rồi lại từ Đông sang Tây nhưng có tìm thấy vườn tược gì đâu ..... Cô này là giòng giỏi Hoàng Gia chính tông (Mẹ của cô là cháu nội của ngài Tuy Lý Vương -Tuy Lý Vương là con trai thứ 11 của vua Minh Mạng) nên khi vào Đại Nội cô đi xem xét rất kỷ lưởng, chỗ nào cũng coi, cũng đọc cẩn thận chứ không như N chỉ xem tổng quát và đại khái, sau đó còn lo mắt trước mắt sau tìm chỗ có cảnh đẹp để chụp ảnh thôi. Thấy cậu Quang không tìm ra vườn Ngự Uyển cho cô, cô vẫn nhất định phải đi tìm cho bằng được. Ôi giời, N oải quá bèn năn nỉ xin được ngồi lại để nghỉ mệt tại 1 băng ghế ở Trường Lang chứ không muốn đi nửa vì đã hết sức rồi, khi nào mọi người xem xong vườn Ngự Uyển thì đến chỗ hẹn gọi N vậy. Ôi, ngồi chờ mòn mỏi mà chẳng thấy ai trở lại ...... vì đã đở mệt nên N đi lần lần vào những dảy nhà hai bên để xem trong lúc chờ đợi cho đở sốt ruột. Theo như bản sơ đồ thì trước kia đây là vị trí của Điện Cần Chánh (nơi vua làm việc hàng ngày) – điện Cần Chánh là một công trình kiến trúc bằng gỗ có quy mô gần bằng điện Thái Hòa - nhưng cung điện này hiện nay đã hư hại hòan toàn. Tại đây bây giờ chỉ còn sót lại có hai trong số rất ít các công trình còn lại của Tử Cấm Thành, đó là hai tòa nhà Tả Vu và Hữu Vu. Đây là nơi để cho các quan chuẩn bị các nghi thức trước khi thiết triều: Tả Vu là toà nhà dành cho các quan văn, còn Hữu Vu là toà nhà dành cho các quan võ. Ngày nay Tả Vu được sử dụng làm nhà bảo tàng lưu giữ những bức hình của hoàng cung, những vật dụng của vua quan nhà Nguyễn, còn tại Hữu Vu thì họ cho mở ra một dịch vụ kinh doanh "hóa trang chụp hình" cho du khách. Trời đất, không hẹn mà lại gặp đúng vào chỗ mình muốn tìm, thế là N đi ngay vào tòa nhà Hữu Vu. Dịch vụ vắng tanh như chùa Bà Đanh, nên khi thấy có khách vào, mọi người bèn xông tới mời chào săn đón quý khách ưng chịu hóa trang làm ..... Hoàng Hậu để chụp hình các bác ạ. He he he ....dịp may hiếm có, đang mệt vì nóng nực ngoài kia thì vào chỗ mát mẻ này mình giả dạng làm .... Hoàng Hậu chơi vậy! Họ hỏi N "thế cô muốn có 2 thị nữ hay là 8 thị nữ hầu?" Thôi rườm rà làm chi, 2 thị nữ hầu là được rồi! Giả dạng Hoàng Hậu có 2 thị nữ hầu thì phải trả 650 ngàn VND (khoảng gần $30.00 đô) nhé các bác. Xong, họ dẫn vào phòng thay quần áo, và lần này N vẫn bị "offer" làm ..... Hoàng Thái Hậu! (không được làm Hoàng Hậu mặc áo vàng vì tướng mình coi bệ vệ quá, và lại hơi .... già, nên phải làm Hoàng Thái Hậu mặc áo đỏ). Đang thay quần áo chưa xong, quay qua quay lại thì đã thấy có 2 thị nữ áo quần chỉnh tề cầm quạt đứng sẳn sàng để .... hầu rồi. Post cái hình lên đây cho các bác xem ..... cười chơi cho thoải mái tinh thần chút nha.

Các bác thấy sao ???? Chưa làm Hoàng Thái Hậu Việt Nam bao giờ nên không biết trang phục chính xác của đời trước nó như thế nào ..... riêng N khi nhìn vào cái hình này thì ..... hm! thấy mình hơi bị giống Tàu như trong mấy cái phim bộ các bác ạ !!!! (thiệt mà! chỉ cần thay đổi kiểu tóc thôi thì mình sẽ nhìn ra y chang như cái bà Queen Mother mặt ác ác trong cung cấm Tàu ngày xưa ạ).

Khoảng 12:00 hơn thì mọi người trở lại tìm N để ra về. Rốt cuộc quý vị đó chạy đông, chạy tây bêu nắng cật lực giửa trưa nhưng cuối cùng có tìm ra được cái vườn Ngự Uyển nào đâu! Theo như N biết thì trong Hoàng Thành họ đâu đã phục hồi lại cái vườn Ngự Uyển mà mình hòng mong tìm được nó.

Đúng 12:35 trưa thì mọi người ra xe rời khỏi Đại Nội. Và lại thễ theo lời yêu cầu của 3 O Huế kia, N lại phải theo mọi người đi ăn .... Bún Bò Huế cho bữa trưa các bác ạ. Chơi trò "dân chủ" thì phải theo đúng luật, thiểu số phải phục tùng đa số, 3 O kia là "đa số" nên họ chọn chỗ nào thì "thiểu số" là N phải tuân theo, cấm cãi! Trong thời gian ở Huế, 3 O Huế kia muốn tìm lại "hương vị quê hương ngày xưa" nên ăn sáng, ăn trưa, ăn tối gì gì .... các bà đều muốn đi xơi các món Huế của ngày xưa, nhưng muốn ăn các món đích thực dân giả và ngon đúng cách như ngày xưa thì phải vào các quán nho nhỏ, lụp xụp, tồi tàn "như ngày xưa" thì mới tìm lại được đúng hương vị, còn nếu chọn các nhà hàng sạch sẽ sang trọng một chút thì chắc gì đã tìm lại được "hương vị của ngày xưa" phải không ạ. Cậu Quang TG là người Đà Nẳng nhưng ngỏ ngách nào của Huế, địa chỉ quán ăn dân dã nào tại Huế cậu đều thuộc nằm lòng. Vào đúng bữa, cậu chỉ cần hỏi "hôm nay các cô muốn ăn món gì?", thế là lúc thì Bún Bò Huế, lúc thì Cơm Hến, cơm Âm Phủ, lúc thì Bánh Bèo Chén + thêm Nem, Tré, lúc thì Bánh Xèo + thêm Nem lụi, lúc thì Bánh nọ, Bánh kia ..... và tùy theo những món của các bà chọn thì Cậu sẽ đưa đúng vào chỗ ..... có quán nổi tiếng tại địa phương về món đó ..... phải công tâm mà nói thì cũng có những quán ăn rất ngon, nhưng chỉ hiềm một nổi là nhiều quán có hơi bị lụp xụp, tồi tàn .... và có khi còn nhìn thấy cả dơ dơ nửa ..... Trưa nay thì 4 bà vào ăn Bún Bò Huế tại số 19 đường Lý Thường Kiệt, và N thì cũng lại không nhớ là nó có ngon hay không nửa, mà chỉ nhớ là giửa trưa nóng nắng chang chang, quán nho nhỏ hẹp hẹp lại không có quạt .... trời ..... ăn một tô BBH cay líu lưỡi xong thì mình đổ cả mồ hôi mẹ lẫn mồ hôi con!

Mọi người sau khi ăn trưa xong thì trở về khách sạn nghỉ ngơi, cậu Quang hẹn đúng 3:00 giờ chiều thì sẽ đến đón đi thăm Hiếu Lăng - Lăng Vua Minh Mạng.

 

Viết xong ngày August 15-2018

Bài kế tiếp: HUẾ - Thăm Hiếu Lăng (HTXV #14a)

 

Nam Mai  ***

 

Lăng Khải Định thuộc xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách Tp. Huế 10km. Lăng Khải Định có diện tích nhỏ hơn so với lăng của các vua tiền nhiệm nhưng công phu, lộng lẫy hơn; kết hợp tinh xảo hai nền kiến trúc, văn hoá Đông - Tây. Tổng thể của Lăng là một khối nổi hình chữ nhật vươn cao tới 127 bậc. Núi đồi, khe suối của một vùng rộng lớn quanh Lăng được dùng làm các yếu tố phong thủy: tiền án, hậu chẩm, tả thanh long, hữu bạch hổ, minh đường, thủy tụ, tạo cho lăng Khải Định một ngoại cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Giá trị nghệ thuật cao nhất của Lăng là phần trang trí nội thất cung Thiên Định. Ba gian giữa trong cung đều được trang trí phù điêu ghép bằng sành sứ và thủy tinh màu. Đặc biệt chiếc Bửu tán trên pho tượng đồng, nặng 1 tấn với những đường lượn mềm mại, thanh thoát khiến người xem có cảm giác làm bằng nhung lụa rất nhẹ nhàng. Bên dưới Bửu tán là pho tượng đồng Khải Định được đúc tại Pháp năm 1922 theo yêu cầu của nhà vua.

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này