Du lịch

Du lịch (268)

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 17

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 17

__Nam Mai __

 

Đà Nẳng - Mũi Vi Rồng Bình Định - Qui Nhơn: Thứ năm ngày 19 tháng 1 năm 2017.

Sáng sớm, bốn bà thu xếp check out khỏi khách sạn Bắc Cường tại Đà Nẳng và đúng 8:30 sáng thì Cậu Quang đã có mặt để cả đoàn lên đường đến thành phố Qui Nhơn. Cậu Tour Guide cho biết hôm nay mình sẽ lái xe trên một lộ trình khoảng hơn 300 km và mất khoảng gần 5 tiếng. Sẽ đi bằng đường cao tốc thẳng quốc lộ 1A. Sẽ đi ngang qua Hội An của Quảng Nam, qua Quảng Ngãi rồi vào Bình Định, sau cùng sẽ nghỉ đêm tại thành phố Qui Nhơn.

Đúng 9:35 sáng, xe đi đến cầu Cửa Đại thuộc tỉnh Quảng Nam. Thấy cái cầu đẹp quá nên mọi người muốn ngừng xe để ngắm cảnh 2 bên và ..... chụp hình.

Được biết, cầu Cửa Đại là cây cầu lớn nhất tỉnh Quảng Nam bắc qua sông Thu Bồn nối liền hai xã: Cẩm Thanh (của thành phố Hội An) và Duy Nghĩa (của huyện Duy Xuyên), được khởi công xây dựng vào năm 2009 và khánh thành vào năm 2016. Cầu Cửa Đại được xây bằng bê tông cốt thép và bê tông cốt thép dự ứng lực (prestressed concrete), với tổng chiều dài toàn tuyến là 18,3km, với mức vốn đầu tư là 3,450 tỷ đồng. Phần cầu dài 1,482m, rộng 25,5m. Phần đường dẫn 2 đầu cầu có mặt cắt ngang 38m, tổng chiều dài là 16,8km, điểm đầu nối với đường ven biển thành phố Đà Nẵng - Hội An, điểm cuối nối với xã Bình Đào, huyện Thăng Bình (Quảng Nam). Cầu Cửa Đại là công trình có kỷ lục về bề rộng nhịp đúc hẫng với khẩu độ 150 mét dài nhất nước VN hiện nay. Ngoài con đường nhựa thẳng tắp trải dài, ở 2 bên cầu có lối đi bộ và lan can vững chắc bảo đảm an toàn cho mọi người. Nơi đây giờ đã trở thành điểm du lịch và hóng mát lý tưởng cho người dân địa phương và các du khách.

Được biết, dự án cầu có tổng mức đầu tư ban đầu là 2,480 tỷ đồng, với thời gian dự kiến thi công là 3 năm 6 tháng. Tuy nhiên, do thời gian thi công kéo dài, giá cả biến động, đến khi hoàn thành thì công trình đã tăng tổng mức đầu tư lên đến 3,450 tỷ đồng, vượt hơn số tiền phê duyệt lúc ban đầu gần 1.000 tỷ đồng. N nghĩ rằng mặc dù kinh phí xây cầu có tốn kém thật vì có làm thì phải có ăn, nhưng N thấy những dự án xây cầu cống vẫn là rất tốt và thực dụng, có ích lợi cho dân chúng nhiều hơn so với những công trình khác. Tại khu vực này trước khi có cầu, người dân hai bên qua lại nếu không di chuyển qua sông bằng những con đò chòng chành với nguy hiểm rình rập trên sông nước thì phải đi vòng lên quốc lộ 1 mất thêm hàng chục km nửa. Cầu Cửa Đại và tuyến đường ven biển là hệ thống hạ tầng giao thông quan trọng của tỉnh Quảng Nam và khu vực chung quanh, nhằm khai thác 70 km bờ biển và 20,000 ha đất ven biển ở phía Nam của tỉnh Quảng Nam. Cầu không những giúp lưu thông hai bên bờ sông Thu Bồn được thông suốt mà đồng thời còn có chức năng cứu hộ, cứu nạn, đường thoát lũ, phòng tránh thiên tai, và còn đóng vai trò kết nối du lịch giữa các địa phương ven biển, nối liền hai bờ di sản thế giới là phố cổ Hội An và khu đền tháp Mỹ Sơn ... Cầu Cửa Đại và tuyến đường ven biển cũng góp phần rút ngắn khoảng cách từ thành phố Tam Kỳ ra thành phố Đà Nẵng (và ngược lại) khoảng 9 km so với Quốc lộ 1, nên cũng ít nhiều góp phần giảm bớt đi phương tiện giao thông trên tuyến đường Quốc lộ 1.

10:15am rời cầu Cửa Đại, trước khi lên đường Cậu Quang cho biết là xe sẽ đổi đường để đi ngang qua thành phố Tam Kỳ (là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam) đưa mọi người đến xem Tượng Đài Mẹ Thứ. Ai cũng hào hứng tán thành đi xem địa điểm này vì lâu nay xem báo trên mạng cũng đã nghe nhắc nhiều đến tượng đài này (kể cả về điểm tốt lẫn điểm xấu) nên ai cũng muốn được xem tận mắt coi cái tượng đài này nó ra sao.

Được biết, Tượng Đài Mẹ Thứ được lấy nguyên mẫu hình ảnh từ bà mẹ Việt Nam Anh Hùng Nguyễn Thị Thứ, xây dựng với tổng diện tích 15ha trên đỉnh núi Cấm, ở thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Tượng đài làm bằng chất liệu đá sa thạch, được Hội đồng Nghệ Thuật chọn từ phác thảo của họa sĩ Đinh Gia Thắng và kiến trúc sư Nguyễn Luận. Tượng đài được làm thành hình cánh cung dài 81m (theo đường cong là 101m), chính giữa khối tượng đài là chân dung Mẹ Nguyễn Thị Thứ cao 18m, phần thấp nhất của cánh cung cao 5,83m. Tượng đài được làm rỗng, bên trong khối tượng là nhà tưởng niệm có diện tích 400m², có bia ghi danh gần 50.000 bà mẹ Việt Nam trên khắp cả nước để giới thiệu về hình ảnh, cuộc đời và sự cống hiến của các Mẹ đối với Tổ quốc. Trong lòng khối đá sa thạch dài 78m là nhà bảo tàng các Mẹ Việt Nam anh hùng có tổng diện tích 397m² bao gồm phòng trưng bày, phòng khách, và khu bảo quản.

Đứng dưới đất trước khu tượng đài mà nhìn lên chỗ người đứng thắp hương dưới chân tượng thì sẽ thấy người đứng trên ấy bé tí như con kiến đủ thấy là cái tượng đài to ra sao rồi.

Dọc theo lối chính lên tượng đài, du khách sẽ nhìn thấy hai bên đường đi là 30 ngọn đèn đá, tượng trưng cho 30 năm trường kỳ kháng chiến được làm bằng đá sa thạch. Hai bên tượng đài có hai thảm hoa lớn với diện tích 600m² được trang trí nhiều họa tiết, với sắc thái của 54 dân tộc sống trên dải đất Việt Nam. Trước mặt tượng đài chính có một hồ nước lớn khoảng 1.000m². Phía sau tượng đài là một bãi cỏ rộng và một vườn đá.

Hình dưới đây được lấy ở Internet (vì máy của N không thễ chụp bao quát hết được toàn cảnh khu tượng đài). Post hình này lên để các bạn ai chưa có dịp đến đây, xem hình này để thấy được sự to lớn của tượng đài.

Mặt trước tượng đài Mẹ Thứ có xây 8 trụ "huyền thoại" cao khổng lồ, mỗi trụ cao 9 mét, đường kính trung bình hơn 1,2 mét làm bằng đá sa thạch, các trụ đều khắc họa hình ảnh và ghi công lao các bà Mẹ ở khắp mọi miền đất nước. Tượng đài này đã được Chính phủ đưa vào danh mục công trình văn hóa cấp quốc gia.

Trước đây đọc báo mình có thấy dân chúng trong nước bàn tán về kinh phí đầu tư của chuyện xây dựng tượng đài này. Đó là ban đầu tổng số vốn đầu tư của dự án được dự kiến là hơn 81 tỷ đồng. Tuy nhiên, trước thời điểm khởi công xây dựng (ngày 27 tháng 7 năm 2009) dự án đã đội lên 120 tỷ đồng, trong đó được hỗ trợ từ Chính phủ là 50 tỷ và huy động của tỉnh Quảng Nam được 61 tỷ. Trong năm 2011, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam đã quyết định bổ sung thêm cho dự án 330 tỷ đồng, nâng tổng số tiền đầu tư từ ngân sách Trung Ương và ngân sách Tỉnh lên hơn 410 tỷ đồng, tức là tăng gấp 5 lần số tiền đã được phê duyệt lúc ban đầu, để nhằm xây dựng một công trình "sẽ trở thành tượng đài lớn nhất Đông Nam Á". Theo thăm dò ý kiến trên mạng của báo VnExpress, từ chiều 20/9 đến chiều 22/9, chỉ có 5% ý kiến là "nên làm", nhưng có đến 52% ý kiến là "không nên xây tượng đài", và 41,5% ý kiến là "làm với quy mô vừa phải". Việc xây dựng một tượng đài hết sức đồ sộ và tốn kém quá mức trong khi đó còn có rất nhiều Mẹ Việt Nam Anh Hùng vẫn đang phải sống trong cảnh thiếu thốn và cực khỗ vào lúc tuổi già đã khiến dư luận có nhiều phê phán không tốt lắm cho công trình này. Vì thấy có nhiều ý kiến không đồng tình về số tiền kinh phí bỏ ra quá lớn trong khi tỉnh còn nghèo, cũng như còn nhiều trường hợp trẻ em đi học không có cầu phải lội qua sông, nên đến tháng 10 năm 2011, UBND tỉnh Quảng Nam đã yêu cầu Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tạm dừng dự án công trình tượng đài này để chờ ý kiến của Thủ tướng NTD. Tuy nhiên sau đó công trình xây dựng tượng đài vẫn tiếp tục và sau 7 năm, vào khoảng tháng 3 năm 2015, các phần chính của tượng đài hầu như đã hoàn thành và tượng đài đã được khánh thành vào ngày 24 tháng 3 năm 2015 quý vị ạ. Tượng đài Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng là tượng đài lớn nhất cả nước và cũng lớn nhất trong toàn vùng Đông Nam Á hiện nay.

Thật là khâm phục, khâm phục! Việt Nam mình đã không làm thì thôi, làm gì thì cũng phải thật to thật lớn các bạn nhỉ? Hầm chui Hải Vân cũng dài nhất Đông Nam Á nhé, Cầu Cửa Đại cũng có kỷ lục về bề rộng nhịp đúc hẫng với khẩu độ 150 mét dài nhất nước VN hiện nay nhé, tượng đài Mẹ Nguyễn thị Thứ cũng lớn nhất toàn vùng Đông Nam Á nhé. Hm, cái gì lớn nhất và đạt kỷ lục thì cũng tốt thôi, nhưng nếu có thêm được lợi ích cho dân, cho nước thì mới xứng đáng là hạng nhất phải không ạ? À, ngoài ra còn có Chùa Bái Đính ở Ninh Bình cũng lớn nhất toàn vùng Đông Nam Á nhé, rồi Chùa Ba Vàng ở Quảng Ninh cũng lớn nhất nước hiện nay nửa nè .... nhưng nghe nói không lâu sau này thì các chùa trên sẽ bị thua Chùa Tam Chúc ở thị trấn Ba Sao (tỉnh Hà Nam) nha, vì chùa này dự định xây để sẽ trở thành một ngôi chùa lớn nhất thế giới với một quần thể có diện tích lên tới 5.000 ha. Nghe nói, ngôi chùa này sẽ được tạc 1200 bức tượng phù điêu gắn giáp chung quanh tường bằng dung nham núi lửa bởi những người thợ tài ba được mướn đem về từ Nam Dương và Ấn Độ để hoàn thành công trình này, và chùa cũng sẽ sở hữu nhiều báu vật trên thế giới nửa đấy các bác. Nghe kể hấp dẫn quá mình cũng muốn được nhìn xem tận mắt một lần cái chùa này cho thỏa chí tò mò, nhưng nói gì thì nói, khi có dịp được đi xem các di tích lịch sử chùa chiền trong nước, N vẫn thích vào lễ tại những ngôi chùa cổ nhỏ xíu xiu đã có từ trăm năm nay hơn các bác ạ. Vào những ngôi cổ tự này thì sẽ thấy củ kỷ xiêu vẹo trông nghèo nàn lắm, nhưng không hiểu sao khi vào những nơi chốn này mình vẫn thấy tâm hồn thanh tịnh hơn nhiều các bác ạ.

Ngừng xem Tượng Đài Mẹ Thứ khoảng một tiếng thì chúng tôi lại tiếp tục lên đường theo chương trình đã định. Lúc 12:30 thì ngừng ăn trưa ở Quán Nhung tại Quảng Ngãi. Hôm nay cậu Quang giới thiệu cho chúng tôi món Cơm Gà. Thực đơn duy nhất chỉ có món gà luộc và cơm trắng thôi (hình như cơm được nấu bằng nước luộc gà nên cơm rất mềm và béo), gà tại đây thịt rất ngọt, dai vừa phải và quán chế biến nước chấm rất ngon. Nghỉ ăn cơm trưa khoảng 1 tiếng thì chúng tôi lại lập tức lên đường vì nghe nói đường còn xa lắm. Ngồi trên xe lâu dài bị bó chân bó cẳng rất tù túng, nhưng ai cũng thích thú vì có cơ hội được nhìn ngắm cảnh đồi núi đồng ruộng hai bên đường với những thửa ruộng xanh ngắt cùng những sinh hoạt của dân mình trên những thửa ruộng ấy. Có lúc chúng tôi quay hẳn cửa kính xuống để được hít thở mùi mạ xanh ngắt của hương đồng cỏ nội và cảm thấy vô cùng yêu mến mãnh đất quê hương trên con đường thiên lý dài vô tận này.

Sau cùng thì không nhịn được, mọi người đã yêu cầu cậu Quang ngừng xe lại để cho chúng tôi được đứng xuống, đứng thơ thẩn tận mắt ngắm nhìn cái khung cảnh này và hít thở cái không khí ngai ngái mùi đất mẹ này.

Rồi lại lên xe tiếp tục đi, trên "con đường đi không biết bao giờ đến" xa vời vợi này thì mọi người bắt đầu lên cơn buồn ngủ các bác. Buồn ngủ không phải vì hết thích thú ngắm nhìn phong cảnh hay hết cảnh đẹp để xem, mà là vì chúng tôi đang bị .... đưa vỏng ạ, chúng tôi đang buồn ngủ vì ai cũng đang bị .... say xe vì bị đưa vỏng các bác ơi .....

Các bạn nào hay đọc HTXV của N, chắc là không quên chuyện N đã kể về cách lái xe của hầu hết cánh tài xế lái xe đường trường bên VN mình phải không? Bên Việt Nam có 1 kiểu lái xe đường trường rất là nguy hiểm, mà N thấy chỉ có ở bên VN, bên Nga, bên TQ là hình như mới có kiểu này, nhưng cánh tài xế bên Việt Nam mình mới là hạng thứ dử, là nhất hạng, bên này họ gọi là lái xe kiểu "đánh vỏng". Không cần biết là xe gì, xe lớn như "xe công" (container), xe truck 18 bánh, xe khách 45 chỗ hoặc xe giường nằm chở khách xuyên qua các thành phố của các hảng xe , xe chở hàng hạng vừa .... hoặc là loại xe hơi nhỏ cở 16 chỗ, SUV 7 chỗ hay là xe du lịch nhỏ 4 chỗ (nói tóm lại là xe hơi) ..... thì họ đều luôn luôn có kiểu lái đánh vỏng như thế này .... Cách lái xe này chỉ thấy có trên đường trường xuyên tỉnh lộ (o phải đường trong phố). Đường trường xuyên tỉnh bên VN thường là chỉ có 2 lanes, 1 lane chạy lên (là xe mình) và 1 lane chạy xuống là xe đối diện với xe của mình (nó nằm bên tay trái), khi tham gia giao thông trên những con đường thiên lý này, thì họ cứ chạy ..... và khi chạy gần đến đít của cái xe trước mặt, thay vì chạy kiểu như bên Mỹ là cứ lái bình thường theo sau đít cái xe trước của mình (traffic flow) đi, nhưng ở VN không có đâu nha ..... bất kể là xe lớn, xe nhỏ gì khi chạy đến gần đít cái xe trước mặt, thì ông tài xế đằng sau này sẽ nhắm nhắm rồi mắt trước mắt sau .... lái đánh vòng 1 cái vèo qua bên kia lane (tay trái), tức là đi hẳn vào đường của xe đối diện, để vượt lên qua mặt cái xe đang lái chận đường xe của ông ta, cho dù cái xe bị vượt là xe tải 18 bánh ông ta cũng không màng. Nếu đường bên kia vắng tanh không có xe nào đi lên thì cũng ok đi, nhưng có nhiều tài xế đã thấy rỏ ràng trước mắt mình bên kia lane có xe đối diện đang lù lù tiến tới, nhưng ông tài xế này vẫn coi như không, vẫn cứ "vô tư" cho xe mình "đánh vỏng" qua lane của xe đối diện mình như thường .... và khi hai xe chạy gần sát vào đầu nhau (sắp head on) thì .... lúc đó cả 2 xe đều chạy chậm lại và họ nhường nhau cho 1 xe vượt qua. Hú hồn hú vía! Các bác thấy sao? nếu xe đối diện xe mình là 1 cái xe 18 bánh, xe chở khách 45 chỗ hay là xe container cồng kềnh rất là khó để kềm thắng khi xe đang chạy nhanh ... hoặc rủi xui nhằm hôm thằng cha tài xế bên kia buồn ngủ không nhìn thấy xe mình đang sửa soạn head on và không phản ứng nhanh được để nhường, hoặc thằng chả đang giận vợ con, bồ bịch gì đó đang muốn tự tử, hoặc là đang trên đường đổ đèo, cua đèo, có sương mù mà họ lái đánh vỏng kiểu như vậy ..... thì các bác đang ngồi trên xe có thấy muốn ...... "xả nước cứu thân" không? khổ 1 cái là họ không có làm 1 lần đâu, trên đường thiên lý thì chuyện "đánh vỏng" này xảy ra đều đều suốt chuyến đi là chuyện thường. Họ cứ đánh qua đánh lại, rồi lại đánh qua đánh lại ..... đều đều trên đường làm cho người ngồi trên xe thấy chóng mặt như là đang bị đưa vỏng vậy đó. Đây là cái cách lái xe đường trường của hầu hết 95% - 98% cánh tài xế bên Việt Nam đó. N có hỏi chú Dũng (tài xế tour miền Bắc của 4 bà) rằng: "tại sao bên VN có kiểu lái đánh vỏng nguy hiểm quá như vậy? tại sao không lái theo kiểu "traffic flow" bình thường cho an toàn? thì chú Dũng nói "cánh tài xế cho rằng nếu không đánh vỏng để vượt qua mặt chạy cho nhanh, mà cứ lái chạy theo đuôi lề mề như vậy thì không biết chừng nào mới đến nơi!!!!". N nghĩ trong bụng rằng chạy nhanh theo kiểu này họa may chỉ có nhanh vào quan tài mà thôi.

Các bạn, khi bắt đầu vào tour của miền Trung từ Đồng Hới trở đi thì chúng tôi đã thấy thoải mái được một chút, không còn bị căng thẳng lo sợ vì đường đi sẽ không còn phải vượt qua những con đèo nguy hiểm kiểu Tứ Đại Đỉnh Đèo của VN như cái đoạn 10 ngày tour giáp biên giới TQ mà chúng tôi đã trải qua ở miền Bắc nửa. Thay vào đó là đường xa lộ đi rất tốt, đường đồng bằng nên không có chuyện vượt đèo nguy hiểm nửa. Có lẽ vì thấy đường rộng, tốt, không vượt đèo nên cánh tài xế càng ỷ y và càng có thói quen lái xe "kiểu đánh vỏng" nhiều hơn. Biết vậy, nên chúng tôi cũng có nhắc nhỡ cậu Quang tour guide và cậu Lý tài xế rồi, nhưng vẫn chứng nào tật nấy, khi thấy chúng tôi lơ là không luôn miệng nhắc là cậu tài xế lại cho chúng tôi "lên ruột" như thường. Hôm nay vì chỗ phải đến còn xa mới tới, chắc cậu tài xế sốt ruột muốn cho mau tới nơi nên cậu ấy đã "vượt kỷ lục đánh vỏng" các bác! N là người có tật xấu là không bao giờ ngủ được mỗi khi đã ngồi trên xe hay trên máy bay, thế mà hôm nay N bị say xe lăn ra ngủ mê mệt không biết trời đất gì cả. Đến lúc N bị đánh thức dậy vì nghe có tiếng lao xao bàn tán, thì mới biết là xe đã vào địa phận Bình Định và hiện tại cậu Quang, cậu Lý đang cho xe chạy tới, chạy lui tìm đường và đã ngừng xe đến mấy lần hỏi đường để đi tìm ..... Mũi Vi Rồng rồi. Lúc này đã 4:00 giờ chiều và lại không thấy .... Ông Mặt Trời đâu cả! Chết rồi, đường trường xa đi gần cả ngày trời để đến địa điểm này chỉ có mỗi một chuyện rất quan trọng là chụp hình tại Mũi Vi Rồng, giờ phút này Mũi Vi Rồng chưa thấy đâu mà mặt Trời thì đã .... tà tà ngã bóng về Tây thì làm sao đây???

Theo như chỉ dẫn thì Mũi Vi Rồng nằm ở tại thôn Tân Phụng, thuộc xã Mỹ Thọ. Thôn này nằm cách thành phố Quy Nhơn khoảng 70km về phía Bắc và cách thị trấn Phù Mỹ, Bình Định khoảng 20km về phía Đông. Xe chúng tôi mới đầu còn chạy ngoài đường lớn, sau một lúc thì được hướng dẫn chạy quanh co vào những con đường nhỏ và cuối cùng thì phải ngừng xe để đi bộ xuyên vào khu nhà dân ở một xóm chài để tìm Mũi Vi Rồng các bác ạ. Họ chỉ dẫn là đi hết thôn này thì sẽ nhìn thấy những ngọn núi đá hiện ra trước mắt, xung quanh là mặt biển xanh và sẽ thấy cảnh trời quang đãng bao trùm tạo nên một không gian hoang vu rất đẹp và Mũi Vi Rồng nằm tại khu đấy.

Tại thôn này người ta chuyên sinh sống bằng nghề đánh bắt cá. Vì là ngư trường phong phú bậc nhất vùng, nên biển Tân Phụng luôn tấp nập những ghe thuyền đánh bắt cá lớn nhỏ, đem lại một nguồn hải sản rất lớn. Mới đầu khi thấy chúng tôi đến, dân khu xóm chài đã hỏi "sao đến trễ thế? thuyền đã về hết rồi! ", hóa ra họ tưởng chúng tôi đến là để xem và chụp hình cảnh thuyền chài trở về sau 1 ngày ra khơi đánh cá. Chắc là lúc trước cũng đã có những nhóm nhiếp ảnh đến đây chụp hình rồi thì phải, nghe nói thế bọn này lại thấy tiếc thầm nghĩ cũng tại mình ham chơi ghé ngừng lề mề trên đường mấy lần, vì nếu đến sớm hơn một chút thì vừa được chụp Mũi Vi Rồng, vừa được chụp cảnh đoàn thuyền lủ lượt ngoài khơi trở về đem cá lên bờ cùng với những ánh nắng của "giờ vàng" chiếu long lanh trên mặt nước biển thì tốt biết mấy. Thôi thì cũng đã trễ rồi, chuyện trước mắt là phải tìm cho ra Mũi Vi Rồng, nếu không Trời sập tối xuống thì lại .... xôi hỏng bỏng không cho cả chuyến đi là cái chắc! Cậu Tour Guide có lẽ lần đầu tiên bị khách đòi đưa đến chỗ này, cho nên chính cậu cũng lờ vờ như 4 bà, không biết đường nào để tìm cả. Lần mò đi xuyên tới xuyên lui, đi qua vào cả trong nhà dân, có lúc bị nước biển ngập lên đến mắc cá chân, dẫn mãi vào những con đường đầy cỏ dại cao ngập đầu ..... đến một lúc chúng tôi đã muốn bỏ cuộc đi về luôn cho rồi .... nhưng đến phút sau cùng thì thấy mất .... 1 bà là chị Thanh An. Thế là vừa phải đi tìm Mũi Vi Rồng, vừa để đi tìm chị này .....

Chui vào con đường này để tìm Mũi Vi Rồng theo lời dân trong thôn đã chỉ thì sợ lắm các bác, chỉ sợ bị rắn cắn thôi. Ở cái hình này, N vừa đi vừa réo gọi tên chị TA om sòm vì không biết chị ấy biến đi đàng nào, MT thì lót tót theo sau lưng N nên đã chụp được cái hình này. Các bác, may thay đi ra hết con đường nguy hiểm nhìn thấy trong cái hình này thì ..... "đại công cáo thành!".

Mũi Vi Rồng đã hiện ra trước mắt mọi người với một ghềnh đá nhô ra biển chừng 20m, nhìn từ xa trông phiến đá tựa như một con rồng muốn vươn ra biển lớn. Ngày đêm sóng vỗ đập vào ghềnh tạo ra khung cảnh hết sức kì vỹ, cứ như miệng rồng đang phun nước trắng xóa. Phải nói rằng thiên nhiên đã rất kì công khi đẽo khắc những ghềnh đá nơi đây.

He he he .... trong cái hình trên, các bác có nhìn ra ... Con Rồng (Mũi Vi Rồng) không ạ? Lúc chui ra khỏi con đường cỏ cao chằng chịt sợ đến chết người để ra được tới cái chỗ này .... cậu Quang chỉ cho mọi người những phiến đá ngoài xa xa và bảo "đấy, Mũi Vi Rồng đấy! các cô chụp hình cho lẹ, không Trời tối mất rồi!". Nói thật, lúc đầu N cứ đứng ngẩn người, nhìn tới, nhìn lui, xoay qua, xoay lại mãi .... mà không nhìn ra được cái Mũi Vi Rồng đâu cả các bác ạ. Thế nhưng cũng phải lật đật chụp thôi, mặt Trời gần lặn mất tiêu rồi! hà hà .... nhìn mãi, mãi mãi .... thì bây giờ N cũng đã nhận ra được nó rồi. Đấy, cái phiến đá từ trên cao bên tay trái của hình kéo dài xuống mỏm đá nhỏ tí tẹo nhìn thẳng ở góc 12 giờ trên hình (đối diện với cái tàu) .... là cái "Mũi Vi Rồng" đấy ạ! Đã bảo rồi, học chụp hình, học nhiếp ảnh, chơi nghệ thuật thì cái con mắt, cái đầu của mình là phải .... có nhiều óc tưởng tượng 1 tí! chứ cứ người trần mắt thịt như N thì ..... hm, chả thế mà hình chụp ra chẳng được đẹp mấy và không có hồn là phải rồi! Vì mãi ... mãi mãi N mới nhận thấy ra cái "Mũi Vi Rồng" cho nên N đã bị lỡ mất cái cơ hội chụp được nhiều hình, chụp được nhiều góc cạnh của Mũi Vi Rồng vì trời sụp tối mau quá.

Ở cái hình này, từ trên tay trái của hình kéo dài thẳng xuống mõm đá dưới biển người ta đặt tên cho phiến đá này là Mũi Vi Rồng đấy các bạn.

Họ kể rằng MŨI VI RỒNG hay còn gọi là Mũi Rồng, bởi hình dáng núi trông như một con Rồng khổng lồ đã được thiên nhiên chạm trổ và điêu khắc. Cái tên này cũng bắt nguồn từ truyền thuyết, xưa kia Mũi Vi Rồng nguyên là một khối, hình giống vi cá chép nên được người dân gọi là “Đá Vảy Rồng”. Tướng Cao Biền đời nhà Đường, khi đi tìm vùng đất có vượng khí ở nước ta để trấn yểm thì phát hiện ra Mũi Vi Rồng, nơi có linh khí kết tụ nên đã phù phép chém đứt để trừ hậu họa. Long mạch bị chém đứt, vảy rồng rơi, máu rồng đổ tạo thành những hòn đá son nhỏ. Họ kể, cho đến ngày nay, khi đến khám phá Mũi Vi Rồng chỉ cần tinh ý là bạn sẽ có thể tìm ra những hòn đá son nằm lẫn trong cát. Hà hà, từ chỗ tụi N đứng để chụp được cái Mũi Vi Rồng này mà còn muốn leo trèo đi khám phá mọi thứ như họ chỉ thì coi bộ sẽ rất khó khăn vì đá mọc lổm chổm rất khó leo. Nội cái chuyện muốn di chuyển tư thế đứng để chụp cho được nhiều góc cạnh của Mũi Vi Rồng cũng còn khó nửa là, hơn nửa trời cũng đã gần tối rồi nên thật rất tiếc, thôi thì đành đứng nhìn ngắm cảnh cho đã con mắt rồi có chụp được gì thì mình cũng coi những hình ảnh chụp được hôm nay như là bonus thôi.

Non nước Mũi Vi Rồng là một sự kết hợp tuyệt vời của tạo hóa: phía trên là vách đá sừng sững với những cây dứa, cây gai... mọc vững chắc; phía dưới là một vực sâu với những tiếng sóng vỗ rì rào, nhìn xa xa về phía Đông là những đoàn thuyền đánh cá căng buồm cùng gió khơi, nhìn toàn cảnh thì đẹp ơi là đẹp. Xin thú thật với các bác là thiệt tình trong bụng của N là N muốn tìm cách leo lên đứng trên cái mõm đá ở chính giửa của cái Mũi Vi Rồng này dơ hai tay lên trời "tạo dáng" để chụp 1 cái hình đem về "dọa" các bác chơi, nhưng mà "lực bất tòng tâm"(vì sẽ không leo được mà sẽ phải .... bò và lết ạ, và sẽ rất là .... đau cái bàn tọa vì đá lổm chổm), với lại trên đường đi ham chơi quá cứ ngừng xe hoài nên bị Trời phạt, khi đến nơi tìm hoài chẳng tìm ra được nó ngay mãi cho đến khi Trời gần tối thì mới tìm ra. Nay muốn leo lên thì phải có giờ lâu lâu một chút, nhưng dù N có muốn làm gan để leo lên thì mọi người cũng chẳng cho leo đâu nên đành phải ..... xù thôi!!!

Hình dáng phiến đá trông như một con rồng khổng lồ được thiên nhiên chạm trổ và điêu khắc, chung quanh có những phiến đá nhiều hình dáng và màu sắc khác nhau.

Đứng ở đầu đỉnh Mũi Vi Rồng mà ngắm về bãi biển Tân Phụng sẽ thấy phong cảnh đẹp như một bức tranh thủy mạc.

Từ thôn Tân Phụng đi về hướng Đông Nam qua bãi cát trước thôn để ngắm những đoàn thuyền đánh cá phía xa xa vào buổi hoàng hôn thì đẹp ơi là đẹp.

Dọc bãi biển vòng cung đẹp tuyệt vời của thôn Tân Phụng, xã Mỹ Thọ

Chúng tôi lẫn quẫn ở đây vừa ngắm cảnh vừa chụp hình, vừa đi vòng vòng thăm khu dân cư của người địa phương mãi đến trời xẩm tối mới lưu luyến rời khỏi nơi này. Chuyến đi xa xôi dông dài nguyên cả một ngày trời lái xe hôm nay tính ra thu hoạch không được theo ý mình, nhưng cũng không thễ nói được là nó thành công hay thất bại, vì mục đích ban đầu là đi để được nhìn ngắm tận mắt và ghi chụp lại những hình ảnh đẹp của quê hương mà mình chỉ được nghe, được nhắc qua sách vở báo chí, vậy nếu ngắm tận mắt thì mình cũng đã được ngắm rồi, chỉ vì là chuyến đi lần đầu nơi địa danh lạ chưa biết rỏ đường đi nước bước nên hơi bị "trục trặc kỷ thuật" một chút, do đó kết quả không được như ý muốn 100% mà thôi. Tuy nhiên thay vào đó thì chúng tôi cũng đã có nguyên một ngày dài được tận mắt ngắm nhìn quê hương đất nước trải dài từ làng nọ qua đến làng kia, tỉnh nọ qua đến tỉnh kia thật là thích thú rồi còn gì nửa, vì vậy cho nên cũng chẳng có gì đáng để phàn nàn các bạn ạ.

Rời thôn Tân Phụng, xã Mỹ Thọ tại Bình Định vào lúc trời xẩm tối, chúng tôi trực chỉ thành phố Qui Nhơn và tối nay group 4 sẽ qua đêm tại thành phố này.

Đây là khách sạn Group 4 nghỉ qua đêm tại Qui Nhơn

Bãi biển nằm trước mặt Saigon-Qui Nhơn Hotel chụp vào buổi sáng ngày hôm sau.

Đến Qui Nhơn, mọi người check in khách sạn, nghỉ ngơi lấy sức để ngày hôm sau sẽ đi xem một vài thắng cảnh tại Qui Nhơn, và sau đó sẽ lên đường đi thăm 3 tỉnh miền Tây Nguyên là Pleiku-Kontum-Ban Mê Thuộc.

Viết xong ngày March 5-2019

Bài kế tiếp: Qui Nhơn - Tháp Đôi - Mộ Hàn Mặc Tử - Ghềnh Đá Đĩa - Pleiku

 

Nam Mai  ____

Related image

 

 

 

Xem thêm...

MỘT CHUYẾN LÃNG DU - Tôn Nữ Thu Nga

MỘT CHUYẾN LÃNG DU 

Tôn Nữ Thu Nga

Sau hai tuần du ngoạn bằng thuyền qua Bắc Hải, chúng tôi bắt đầu chuyến đi riêng của mình: xuyên Âu Châu bằng xe lửa để đến địa điểm cuối là Paris trước khi về Mỹ.

Từ thuở nhỏ, mộng tang bồng bị gieo vào trí óc do cha tôi và những cuốn sách du ký, các cuốn báo “Thế giới tự do” ông mang về nhà cho con cái đọc. Vì thế, bây giờ có ai trách rằng tại sao tôi đi chu du thế giới mãi thì tôi đổ lỗi cho ông già. Lúc còn trẻ tuổi, tôi mơ ước một ngày nào đó, mình được đeo ba lô, nhảy xe lửa nhẩn nha trôi qua những con đường làng, những thành phố nhỏ của Châu Âu, tự do như một đám mây. Lần này, tuy không còn trẻ nữa, thế nhưng tôi cũng như một đám mây, lại phiêu bồng trong mùa xuân mới của Châu Âu.

Tallinn old town Estonia

Từ Copenhagen, tôi và Tuấn đáp xe lửa Deutsche Bahn Intercity Express về Hamburg. Xe lửa Âu Châu thoạt đầu thì có vẻ phức tạp vì trạm xe lửa tại các thành phố chính rất rộng lớn, chia ra nhiều tầng nhiều nhánh, có tầng toàn là tiệm ăn, tầng khác là các tiệm bán áo quần, mỹ phẩm, giày dép, đủ mọi thứ cho các bà ưa thích mua sắm. Ngoài những tầng khác còn dùng để đậu xe; đường rầy cũng nằm nhiều tầng khác nhau. Tuy nhiên, chỉ cần nhìn vào những chi tiết trên vé hoặc ghé lại các quầy chỉ dẫn là bạn sẽ tìm được chuyến xe của mình, toa nào mình sẽ lên và cả số ghế nếu có đặt chỗ trước. Trong trạm xe có nhiều bảng điện tử liệt kê giờ giấc khởi hành, xe chạy đúng giờ nên hành khách không phải chờ lâu. Chỉ có những du khách như chúng tôi, khi nào cũng ráng đến sớm cho chắc ăn vì dù sao mình cũng đang đi thám hiểm xứ lạ quê người. Hành khách tại vùng Bắc Âu rất lịch sự, không dành nhau hoặc chen lấn, đàn ông tôn trọng phụ nữ nên hay nhường bước cho các nàng. Trái lại, thấy ông xã tôi hai tay kéo hai cái hành lý lớn, anh lúng túng khi phải bước xuống thang cuốn; một cô gái trẻ, da nâu, tóc vàng thật xinh đã khiêng hộ anh một valise. Dễ thương quá chừng!

Trên đường qua Hamburg, cảnh đồng quê thật xanh tươi vì đang mùa xuân, những cánh đồng vàng hoa Colza (hạt dùng ép ra dầu Canola) nở rộ xen lẫn giữa màu xanh của lúa mì hoặc các loại cây xanh đang đơm chồi nẩy lộc. Những cánh đồng Canola là phong cảnh của Bắc Âu và Đức xưa nay, ai cũng thích màu vàng tươi thắm này và nhiều du khách hay chọn mùa xuân để đi thăm cảnh đồng quê Châu Âu khi hoa rộ nở, cùng lần với các loại hoa xuân khác như hoa Uất Kim Hương, hoa Anh Túc, hoa Đỗ Quyên, Hoa Sơn lựu (Rhododendron), …

Cánh đồng xuân

Vì phải xuyên qua biển, tàu lửa chui vào một chiếc phà khổng lồ, trên phà có đường rầy, ngay bên cạnh những xe hàng lớn đã đậu sẵn. Vì sự an toàn, hành khách buộc phải lên tầng trên của phà 45 phút để hóng gió, ăn uống hoặc mua sắm nếu muốn. Tới giờ, họ sẽ báo hiệu cho khách trở xuống xe lửa để chạy tiếp. Tôi vác một cái ghế xếp, ngồi ôm máy ảnh, gác chân lên lan can phà, tha hồ chụp ảnh bến tầu lúc phà khởi hành rồi ung dung nhàn hạ chụp ảnh mấy con chim biển sà thật thấp trên đầu mong kiếm thức ăn. Chả mấy chốc, tàu lửa lại chạy ngang qua các cánh đồng rực rỡ, các thành phố nhỏ có từng khu nhà xinh xắn vây quanh một tháp nhà thờ cao vun vút. Chúng tôi ghé và ở lại Hamburg 3 ngày, sau đó lại ghé Cologne chơi 2 ngày. Đó cũng là những ngày rất thích thú mà tôi phải để dành cho một bài viết khác.

Từ Cologne, chúng tôi lên tàu Thalys để về Paris, xe chạy rất nhanh 300km giờ nên chỉ ba giờ mười lăm phút là tới Gare du Nord. Ngồi trên xe tôi cố gắng chụp ảnh những làng quê, các ga nhỏ và nhất là những graffiti đầy màu sắc trên các vách đá ven theo đường rầy, chỉ khi nào xe chạy thật chậm vào ga hoặc ngừng lại vài phút đón khách tôi mới có vài tấm hình rõ ràng, ngoài ra vì xe chạy quá nhanh, dù có để tốc độ máy thật cao tôi cũng bấm máy không kịp, mà có kịp chăng nữa thì hình ảnh cũng mờ nhạt, run rẩy!!!

Sau hơn ba tuần không được đi xe hơi riêng, chỉ thong dong như chim cánh cụt, hôm nay chúng tôi được chị Bích và anh Hóa ra tận ga đón về nhà. Ngồi trên xe cảm thấy thoải mái thật sự khi anh chạy ra khỏi trung tâm thành phố Paris. Khu vực quanh ga thật là hỗn tạp; người và xe cộ lúc nhúc ồn ào. Nghĩ tới chuyện bị phá hoại, tấn công, gài mìn lại càng bi quan nhiều về tình hình chính trị và người tỵ nạn tại xứ này. Trước ngày chúng tôi đi, con gái tôi lo lắng bắt viết xuống cả lịch trình của cha mẹ cho cháu cất giữ, có rủi ro gì còn biết ngã đi tìm. Chưa khi nào lũ con lại lo lắng như vậy khi chúng tôi lặn lội bốn phương trước những năm thế giới bị khủng bố, nhất là những biến động gần đây tại Âu Châu. Tôi và Tuấn thường hay biện luận rằng: nếu mình tới số thì ở nơi nào cũng chết cả, chi bằng được chết trong lúc mình đang sung sướng vui chơi.

Anh Hóa chở chúng tôi về nhà anh chị tại Torcy,nhà anh là chốn nương thân của chúng tôi trong 5 ngày tới. Torcy là một làng nhỏ về phía đông của Paris, cách trung tâm Paris 22km. Làng này có ngôi nhà thờ nhỏ rất xinh ngay giữa phố, bên kia đường là các tiệm cà phê, bánh mì, tiệm hoa… Trong làng có ba chợ Á Đông và tiệm ăn Việt. Tuy vậy, thức ăn ngoài tiệm không ngon bằng thức ăn Việt của chị Bích nấu ở nhà.

Nhà anh chị trồng rất nhiều hoa hồng, hoa tường vi và nhiều loại hoa đẹp. Hoa xuân nở rộ khắp vườn, có những cây hoa hồng đầy cả hoa, cao hơn hiên nhà, thơm ngát hương gió. Tôi cầm máy ảnh, len lỏi ngoài vườn tìm hoa để chụp; nào là mẫu đơn, uất kim hương, hoa chuông, tử la lan, hoa lồng đèn, hoa ti gôn, hoa quỳnh, hoa giấy, hoa cẩm tú cầu và hoa diên vĩ, hoa đổ quyên, hoa lưu ly tím và còn nhiều loại hoa đẹp không kể xiết, mọc len lỏi trong vách, khe đá, bậc thềm. Phía trước nhà có cây hạt dẽ và cây anh đào, trái anh đào còn nhỏ xíu, xanh bóng như viên ngọc bích.

Căn nhà tại thành phố Torcy

Vì chúng tôi đã thăm nhiều danh lam thắng cảnh của nước Pháp và thành phố Paris trong những chuyến đi trước, chuyến này anh Tuấn muốn dành thời giờ để thăm viếng các anh chị họ và tiệc tùng yến ẩm với nhau để ôn chuyện ngày xưa. Tôi thì muốn đi thăm các làng của mấy ông họa sĩ lừng danh nên chúng tôi lập một thời khóa biểu cho cả hai mục đích.

Buổi chiều thứ nhất, anh chị dẫn chúng tôi đi bộ ra phố uống cà phê. Tôi xách theo vài máy ảnh, trong túi có thêm cái điện thoại di động để chụp hình gửi liền cho lũ con. Ai cũng phải chờ tôi vì tôi vừa đi vừa mê mải chụp ảnh các con đường cây xanh chạy song song thật xinh, công viên mát mẻ có các vòm hoa tuyết cầu dễ thương và ngôi nhà thờ cổ kính. Chị Bích thích chụp ảnh nên không nề hà, chỉ có anh Tuấn là hay nhăn nhó vì sợ mụ vợ mình làm phiền mọi người… như thường lệ vì tánh đam mê chụp ảnh. Dùng giải khát xong, chúng tôi đi bộ về, vì thấy tôi mệt, anh Hóa và Tuấn thương tình đi nhanh về trước, lấy xe ra đón hai bà vợ.

Mấy hôm nay thời tiết ở đây trở nên nóng ấm, buổi tối chúng tôi phải mở cửa sổ vì cần hơi gió, may mà không có muỗi nên không bị cắn. Sáng dậy vừa mở mắt tôi nghe tiếng ong bay vù vù, thì ra có một chú ong vừa mập vừa đen xâm nhập vào từ cửa sổ, sợ quá tôi vớ tấm khăn trãi giường trùm kín lên đầu. Sau khi bay mấy vòng do thám, chú ong thấy không có gì hấp dẫn nên bay trở ra ngoài. Mừng quá, tôi vội nhỏm dậy đi đóng cửa sổ, nhanh nhẩu quá nên lăn tòm xuống nền nhà, may mà cái giường chỉ cách mặt đất nửa thước nên tôi hạ cánh an toàn và nguyên vẹn. Đóng được cửa sổ rồi mới ngồi xuống ôm bụng cười khì.

Dùng điểm tâm bằng cà phê, bánh mì baguette, fromage, pâté và bánh ngọt chị Bích mới mua từ tiệm bánh đầu đường. Thật ra thì bên nhà tại California chúng tôi cũng thường ăn như vậy nhưng có một điểm khác là phải lái xe đi xa mới có bánh mì nóng mới ra lò, còn không thì nướng lại bánh mì đông lạnh. Cái thú khác biệt là ở Pháp hoặc Đức, mình chỉ cần tản bộ chút xíu ra phố là được ăn sướng như …Tây!

Van Gogh ngày tháng cuối

Hôm nay chúng tôi đi Auvers sur Oise (làng Auvers trên sông Oise), cách Torcy 65 cây số. Làng Auvers hướng Tây Bắc, ngoại ô Paris, cách Paris chỉ 35 cây số. Địa danh này liên hệ với một số họa sĩ nổi tiếng. Người được nổi danh và nhắc đến nhiều nhất là Vincent Van Gogh. Một họa sĩ tôi rất ngưỡng mộ , tranh ông vẽ chưng bày tại nhiều Bảo Tàng Viện khắp thế giới và có nhiều tấm giá có thể từ 80 đến 150 triệu US dollars.

Thời gian ông sống tại Auvers Sur Oise chỉ 3 tháng cuối đời, trước khi ông tự sát vì bệnh tâm thần ở tuổi 37. Trong thời gian này, ông đã vẽ 77 bức tranh.Tôi muốn tới đây để nhìn ngắm tận mắt những quang cảnh Van Gogh đã nhìn thấy quanh làng trong tháng 5 cho tới tháng 8 năm 1890. Khoảng thời gian ông đã vẽ những bức tranh linh động và màu sắc rực rỡ nhất, khi ông đang ở trong trạng thái xuất thần tột độ trước khi kết liễu cuộc đời mình bằng các viên đạn bắn vào ngực, trên cánh đồng lúa mì. Hai ngày sau ông lìa đời tại phòng trọ của mình tại Auberge Ravoux , căn nhà số 8 Rue de la Sansonne. Trước nhà trọ là tòa thị chính của Auvers, cơ sở này đã được Van Gogh vẽ lại trong một bức tranh, đến bây giờ là 127 năm vẫn không thay đổi.

Bờ Tường Vi

Từ đường Sansonne, chúng tôi rẽ vào con lộ nhỏ thoai thoải dẫn lên đồi. Tôi sung sướng ngất ngây vì cảnh đẹp, mê mải chụp hình các vách tường rêu mốc cũ xưa, dọc theo chân tường. Hoa diên vĩ tím nở hoa màu tím đậm, tím nhạt hay ngả sắc hồng; gợi nhớ bức tranh Irises (Paul Getty Museum). Tôi hình dung người họa sĩ với mái tóc đỏ hoe, ngồi sau giá vẽ, vạch lên khung vải những lằn sơn mạnh mẽ thắm tươi để lưu lại cho đời một mùa xuân miên viễn. Tôi cũng đi trên con đường theo bước chân ông, nhìn ngàn hoa đua nở trong tháng năm, nhìn những bức tường loang lỗ phủ đầy hoa hồng để nhớ luôn cả câu “bờ tường vi…” trong bài ca “Hà Nội ngày tháng cũ” của Song Ngọc. Quá khứ bao giờ cũng tuyệt diệu, thế nhưng Van Gogh càng tuyệt diệu hơn khi ghi lại được những hình ảnh của quá khứ bằng màu sắc hiện thực với tâm tư sôi động của mình. Ngợi khen nước Pháp đã bảo tồn Auvers như trăm năm trước để ngày hôm nay tôi được chiêm ngưỡng những cảnh thật trong tranh.

Nhà thờ Notre Dame tại Auvers

Nhà thờ Notre Dame của làng Auvers ngự trị trên ngọn đồi thấp, tuy vậy đứng trong sân nhà thờ có thể nhìn ra xa quang cảnh phố, mái ngói cổ kính và dòng sông Oise nước trong xanh phản chiếu màu lá cây hai bên bờ. Căn nhà thờ này cũng hiện diện trong một bức tranh, màu sắc cũng tương tự như cảnh thật. Phía bên phải của nhà thờ, tôi thấy một vạt hoa Oải Hương màu tím nhạt, thơm nhẹ trong gió, mấy con ong bay nhảy trong đám hoa, tuy sợ ong chích, tôi cũng cố gắng chụp cận cảnh ong hút mật hoa. Sau khi bước lui ra xa, tôi chợt thấy có một khung cửa gỗ bạc màu sương gió, giữa bức tường loang lổ, vôi tróc khá hoang tàn, cạnh đó là một gốc hoa hồng xum xuê những đóa hồng nhạt và một vạt oải hương tím. Tôi vội vàng chụp vài tấm, vừa dùng máy chuyên nghiệp vừa dùng máy điện thoại di động. Tấm hình trong điện thoại là tấm tôi ngắm nhìn hoài, dù vui dù buồn, đớn đau hay giận dữ, khi nhìn vào tấm ảnh ấy, lòng tôi thường dịu lại ngay tức khắc, có lẽ nhờ màu sắc nhu hòa hay sự cô quạnh và đơn giản của tấm ảnh có khả năng xoa dịu tâm hồn mình. Họa sĩ Van Gogh ngày xưa dùng sơn và cọ, bây giờ tôi dùng máy ảnh, cùng ghi lại những bức tranh hoài cảm. Nếu Van Gogh sống trong hiện tại, có thể ông cũng vác máy hình đi lang thang khắp bốn phương trời như chúng tôi.

Ra khỏi khuôn viên nhà thờ, tôi rẽ qua phía trái. Trời bắt đầu mưa lâm râm, tôi ôm máy hình che trước ngực, rảo bước trên con đường nhỏ, hai bên là rặng cây xanh. Góc đường có tấm bảng chỉ dẫn hướng đi về phía mộ của Vincent và Theo Van Gogh (Theo là em trai của Vincent, người đã cận kề săn sóc anh mình nhiều năm cho đến ngày Vincent tạ thế – Theo cũng chết trẻ vì bệnh, mới 33 tuổi, sáu tháng sau Vincent Van Gogh). Theo con đường trước mặt, chúng tôi đi bộ trong mưa, lúc mưa nặng hạt, chúng tôi kiếm được một băng đá dưới tàng cây rậm ngồi lại trú mưa, lúc bớt mưa lại chụp ảnh cho nhau trên con đường mòn, hai bên là cánh đồng lúa mì còn xanh nhưng trĩu hạt. Vào thời điểm tháng 5 , 1889, Vincent Van Gogh đã vẽ bức tranh “Green wheat Field” và “ Wheat Field with Rising Sun”  tại St. Remy. Tháng bảy, khi lúa chín vàng, lũ quạ đen kéo về kiếm ăn tại cánh đồng lúa mì của Auvers là lúc Vincent Van Gogh vẽ bức tranh “Wheatfield with crows”. Trong tranh, đường mòn uốn cong giữa hai cánh đồng, trên đường cỏ còn xanh nhưng lúa mì đã chín vàng trong bầu trời mùa hạ xanh đậm, vần vũ vài đám mây trắng, bầy quạ đen từ chân trời bay đến như hồ hởi, vồ vập trên mâm cổ, chúng dang đôi cánh, lượn lờ như đám mây đen trên cánh đồng vàng thắm. Tôi đã ngừng tại con đường mòn phía trái của bức tranh, để chụp tấm ảnh hoang tàn đầy cỏ dại trên con đường đất ấy, một con đường ngày xưa tôi thoáng thấy trong tranh.

Bức tranh Wheatfield with Crows được cho rằng đó là bức tranh cuối cùng Van Gogh vẽ, trước khi tự kết liễu đời mình.

Đi được nửa cánh đồng, gió bỗng thổi mạnh , mưa ào ạt đổ xuống, ướt nhưng không lạnh. Chúng tôi chạy như ma đuổi về phía cổng nghĩa địa vì thấy có chỗ trú mưa, không phải lo cho mình mà sợ mấy cái máy ảnh bị ướt. Ha ha, ông Vincent ơi, nếu mưa làm loãng sơn thì làm sao ông vẽ được những tấm tranh với sắc màu tuyệt diệu? Ông cũng phải chạy đi tìm chỗ trú mà thôi!

Mưa dứt, tôi rảo quanh tìm ngôi mộ Van Gogh. Thấy hai ngôi mộ của hai anh em nằm bên nhau; mộ được phủ kín bằng dây Ivy, hai tấm bia đá giản dị có khắc tên năm sinh và năm mất. Tuy mộ không bề thế xa hoa như các ngôi mộ trong khu nghĩa địa nhỏ này, nhưng đó là địa điểm được viếng thăm nhiều nhất.Tôi đi quanh quẩn chụp hình những ngôi mộ khác, nhiều ngôi mộ phủ đầy hoa, cả giả lẫn thật, có nhiều cành hoa bằng sứ thật xinh. Có ngôi mộ thật xưa, rêu mốc đen sì nhưng lại có cây hoa hồng rũ bóng thật đẹp, những đóa hoa hồng tươi đậm làm tấm hình tôi chụp có một sự tương phản đặc biệt giữa đời sống và sự chết, giữa quá khứ và hiện tại.

Đi bộ về phố, ba người đồng hành bương bả đi kiếm tiệm ăn, tôi thủng thẳng đi sau, ngó trời ngó đất, bỗng dưng khi nhìn xuống chân, tôi thấy một cái nắp kim loại tròn, màu bạc, đường kính khoảng 1 tấc. trên có khắc chữ Vincent. Tôi bèn rút điện thoại di động, chụp cái hình để sau này tìm hiểu tại sao lại có dấu hiệu này trên đường mình đi. Khi tôi nhìn lại tấm hình thì thấy nửa bàn chân mình đang bước tới, tính xóa đi để chụp tấm khác, không hiểu sao tôi lại ngần ngừ, tấm hình cũng lạ, có cái bàn chân đi tìm dấu tích của Vincent Van Gogh. Tôi bèn chụp thêm vài tấm nữa; vì ống kính của điện thoại rất rộng nên tôi phải né ra xa mới không thấy bàn chân mình trong ấy. Sau này nhìn lại, tấm ảnh với nửa bàn chân có nhiều ý nghĩa hơn là tấm hình kỷ niệm tên ông Vincent. Chỉ có nửa bàn chân thôi, tấm ảnh kỷ niệm đơn giản ấy đã biến thành một tấm ảnh nghệ thuật.

Thăm thêm vài di tích và chụp thêm mấy tấm ảnh căn nhà trọ Ravoux Inn, tòa thị sảnh và các quán cà phê lộ thiên chúng tôi giã từ Auvers. Nài nỉ tài xế cho xuống bờ sông Oise, tôi hí hửng chạy một mạch ra tận bờ, chụp ảnh dòng sông xanh như ngọc thạch. Hai bên bờ sông, rặng cây mùa xuân mượt mà rũ tóc xanh non, trên chiếc bè gỗ, bọn trẻ con chơi đùa, nhảy bơi trong dòng nước mát. Ôi tuổi xuân trong mùa xuân, sao mà sung sướng quá! Aurevoir Mr. Van Gogh!

Dòng sông Oise

Vườn hoa mùa xuân của Monet

Hôm nay trời có mây mù, ánh sáng thiên nhiên cũng trung dung giữa hai thái cực trong thế giới ánh sáng của bình minh và hoàng hôn mà họa sĩ Monet đã tận dụng trong kỹ thuật vẽ. Vì đường đang bị sửa chữa nên chúng tôi phải đi vòng vo tam quốc một chút khi du hành tới Giverny, nơi họa sĩ Monet sống, xây dựng vườn hoa, hồ sen để vẽ tranh trong nhiều năm. Đi vòng vo thì khổ cho tài xế nhưng tôi thích lắm. Trước hết là phải đi qua một cái làng xưa cổ, có nhà thờ (dĩ nhiên) rất xinh xắn ngay giữa làng, sau đó là con đường ngoằn ngoèo xuyên qua làng, nhà trong làng phần lớn bằng đá, vách tường cũng bằng đá; hoa leo trèo khắp nơi rất duyên dáng và tôi may mắn được xuống xe 5 phút để chụp hình; lực sĩ chạy bộ trong thế vận hội chắc cũng chào thua khi thấy vận tốc vừa chạy vừa chụp của tôi. Trong lúc tôi đang chờ phút tái sinh thì xe lại chạy qua những làng xóm khác, cũng yên lặng, cây cối cũng xanh tươi nhưng không có đặc tính, tôi không còn hứng thú chụp hình nữa nên lăn quay ra ngủ.

Đến Giverny, xe đậu ngay dưới một cây hoa hồng trắng khổng lồ, tôi hớn hở nhảy ra khỏi xe ngắm nghía loại hoa đặc biệt này, hoa trồng thật nhiều và cao nên chỗ đậu xe khá im mát. Ra khỏi khu xe đậu, sau hàng rào hoa là bảo tàng viện, những sườn đồi thoai thoải quanh viện phủ đầy hoa Anh Túc màu đỏ. Trong một tấm tranh của Monet, ông vẽ đồi hoa Anh Túc có cô gái cầm dù, đi bộ với một cô bé gái chỉ cao hơn thân hoa chút xíu, đội mũ lát có dây ruban cùng màu với hoa. Ẩn hiện sau rặng cây xanh là tòa biệt thự, có lẽ hai tiểu thơ này là người trú ngụ tại căn biệt thự nọ và đang đi dạo trong cánh đồng hoa dưới bầu trời xuân xanh biếc có những cụm mây trắng lững lờ bay. Xa xa trên đồi, có hai người khác cũng đang đi ngắm hoa, quang cảnh trong tranh thật an bình (Coquelicots, La promenade). Bây giờ, tại Giverny, khu vực bảo tàng viện cũng có cánh đồng hoa poppy gần giống đồng hoa tại Argenteuil, du khách lũ lượt thay nhau chụp ảnh, kêu réo chí chóe tiếng Tiều, tiếng Quảng. Thấy vậy chúng tôi chỉ nhìn xem chút xíu qua hàng rào rồi theo bảng chỉ dẫn đi kiếm nhà cụ Monet (Monet thọ đến 86 tuổi).

Vườn hoa của họa sĩ Monet

Monet sống tại Giverny từ năm 1883, ông mua nhà và bắt đầu xây dựng một vườn hoa cùng với hồ hoa súng (Nympheas). Năm 1899 ông bắt đầu vẽ loạt tranh hoa súng và chiếc cầu Nhật Bản ông xây trên ao. Trong vòng 20 năm, ông đã vẽ rất nhiều bức tranh hoa súng trên hồ, và trở thành lừng danh vì ngày nay ai cũng nhớ tới tên ông qua những bức tranh này. Tranh ông vẽ treo khắp thế giới trong các viện bảo tàng hoặc các bộ sưu tập tư nhân, giá cả thì cũng mấy mươi triệu đô la một tấm. Ngày nay, toàn khu vực được  Foundation Monet quản trị vì cả khuôn viên được hiến cho Academie Des Beaux-Art từ năm 1966 do con trai của Monet là Michael Monet.

Nhà của họa sĩ Monet

Căn nhà được trùng tu lại rất đẹp, tường màu hồng và cửa màu xanh lá cây, trên lối đi bộ quanh nhà, có các thân dây leo, lá xanh rậm quấn quít duyên dáng trên hàng cột bên hiên. Trong nhà bạn có thể thấy phòng ông dùng để vẽ tranh, phòng ngủ của ông và thân nhân, phòng ăn, phòng bếp v.v. phòng nào cũng trang hoàng thanh nhã, màu sắc hài hòa. Trong bếp có dụng cụ nấu ăn sáng loáng treo trên tường đủ làm các nội trợ mê hồn.

Bếp nhà Monet

Toàn thể khuôn viên chia làm hai phần: vườn hoa trước nhà gọi là Clos Norman và khu vườn Nhật phía bên kia đường, xuyên qua một địa đạo để tránh con đường bên trên.

Chúng tôi tha thẩn trong khu Clos Norman chụp hình hoa đã đời, vị trí nào cũng xinh tươi đáng chụp cả nên không rời bước được. Thế nhưng khi qua bên khu vườn Nhật thì quang cảnh lại càng thích thú muôn phần. Bên này là vị trí họa sĩ Monet vẽ cảnh chiếc cầu Nhật Bản, hồ hoa súng và các bức tranh khổ lớn đang được luân phiên triển lãm tại những viện bảo tàng danh tiếng khắp thế giới. Tôi đã được ngắm ba bức tranh hoa súng khổ lớn tại MOMA (Museum of Modern Art in New York) năm 2008 và tấm ảnh chiếc cầu Nhật Bản trên hồ hoa súng tại Metropolitan Musewm of Art trong cùng thời điểm.

cầu Nhật Bản

Trong khu vực này, bạn có thể dạo quanh  hồ, lạch nước và những chiếc cầu nho nhỏ rất xinh xắn bắt qua dòng nước quanh co, bóng phản chiếu trên mặt nước, khi phẳng lặng, khi lăn tăn nhăn nhúm theo cơn gió nhẹ . Trên đường đi, có rặng tre xanh mướt, đủ loài hoa khoe sắc thắm trang điểm lối đi, có hoa Tử Đằng rủ bóng trên cầu, tha hồ mà chụp ảnh. Trên hồ, hoa súng đang nở rộ, có màu hồng đậm, nhạt, vàng hay trắng trên chùm lá tròn xanh tía trải mong manh trên nước, vài người làm vườn đứng trên thuyền nan nhỏ, dùng lưới vớt rong quanh quẩn trong hồ.

 

Dạo chơi mãi lâu, thấy gần giờ đóng cửa, chúng tôi ra về, trên đường ra khu đậu xe, chị Bích ngồi chờ chúng tôi trong quán cà phê xinh xắn, chúng tôi sà xuống bàn, thở dốc, gọi thức uống và ăn mấy cái bánh beignet nhỏ xíu nhưng ngon tuyệt. Trên đường về, ba hành khách ngủ gà gật để một mình tài xế là anh Hóa lái xe chạy bon bon trên xa lộ; đôi khi tôi chợt tỉnh, nhìn ra cảnh đồng quê, nóc nhà xưa của các làng mạc nho nhỏ thật thơ mộng lướt qua nhanh như thời gian tôi lang bạt tại Âu Châu. Chuyến đi nào tôi cũng luyến tiếc, không muốn về nhà.

Có người nói chuyến đi này của tôi là một chuyến hành hương để tìm thăm các họa sĩ nổi tiếng, nhưng tôi thì cho rằng đây là một chuyến đi cho thỏa mộng giang hồ lãng tử của mình và dù có ráng đi tìm lại hồn mình thì tôi cũng chỉ tìm ra được cái hồn lãng tử mà thôi. Vì thế, tôi còn phải ra đi nhiều lần nữa!


Tôn Nữ Thu Nga    
California- San Dimas, July 21, 2017.
Chú Thích: Tài liệu từ Wikipedia and museum brochures. Ảnh tư liệu Nhiếp Ảnh Gia Tôn Nữ Thu Nga

 

Ánh Tuyết st

Xem thêm...

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 16

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 16

*** Nam Mai ***

HUẾ - Đồi Vọng Cảnh - Thành phố ma An Bằng - Đầm Lập An (Huế) - Biển Lăng Cô - Đà Nẳng: Thứ tư ngày 18 tháng 1 năm 2017.

Đồi Vọng Cảnh tại Huế:

Khi nói đến Huế, người ta thường hay nhắc đến Sông Hương, Núi Ngự, chùa Thiên Mụ và Lăng Tẩm của các vua chúa nhà Nguyễn .... ngoài ra còn có một địa điểm thơ mộng nửa là Đồi Vọng Cảnh cũng hay được nhắc đến. Trước đây (dĩ nhiên là khi còn ở cái tuổi mơ mộng, suốt ngày ôm mấy cuốn tiểu thuyết của Nhã Ca, Túy Hồng viết về những chuyện tình của Huế), N đã đọc đâu đó hay là đã từng nghe nhắc đến chuyện những cặp tình nhân thường hay đưa nhau lên đây để thề non, hẹn biển .... Khi ấy N rất là tò mò, không biết cái đồi Vọng Cảnh này nó thơ mộng và hấp dẫn ra sao mà cặp nào cũng ưng đưa nhau đến đây vậy. Mấy lần trước ghé Huế, muốn lên xem đồi Vọng Cảnh mà thời giờ eo hẹp quá không đi dông dài được, lần này thì N nhất định cho địa điểm này vào chương trình để được xem cho thỏa chí tò mò của mình. Ngoài ra, trong buổi sáng cuối cùng còn ở tại Huế hôm nay .... mọi người cũng đã đồng ý với nhau là sẽ cho vào chương trình một địa điểm rất thú vị cần phải đi xem tận mắt cho thỏa chí tò mò nửa, đó là .... Thành Phố Ma An Bằng. Vậy thì sáng hôm nay mời các bạn theo chân Group 4 đi viếng thăm Đồi Vọng Cảnh và Thành Phố Ma An Bằng trước khi rời Huế để lên đường đi Đà Nẳng nhé.

Đúng 8:30 sáng, Group 4 check out khỏi hotel và Cậu Quang đã có mặt để đón 4 bà khởi hành đi xem đồi Vọng Cảnh. Đồi này cách trung tâm thành phố khoảng 7 km, tọa lạc ở phía Nam thành phố Huế, nằm trên đường Huyền Trân Công Chúa, thuộc phường Thủy Biều.

Trước khi cho vào chương trình để đi xem địa điểm này, N cũng có tìm hiểu qua chút ít về nó rồi. Thấy nói đồi Vọng Cảnh được xem là một nơi ngắm nhìn Cố Đô từ trên cao đẹp nhất. Đặc biệt, đây là nơi lý tưởng nhất nếu bạn đến ngắm cảnh tại nơi này vào lúc bình minh hay buổi hoàng hôn, thì sẽ được nhìn thấy những tia nắng chiếu rọi qua từng tán lá với những ánh nắng lấp lánh chiếu trên dòng sông Hương, thời gian thích hợp nhất để chiêm ngưỡng trọn vẹn vẻ đẹp núi sông từ đồi Vọng Cảnh là vào lúc chiều tà khi hoàng hôn buông xuống, khoảng 5:00 giờ vào mùa Đông và 6:00 giờ vào mùa Hè. Vào khoảng thời gian này mặt trời sẽ từ từ khuất dần sau núi non chập chùng với những áng mây ngã sang màu đỏ, và bầu trời lúc đó sẽ nhuộm một màu vàng óng ả đẹp tới mê hồn. Hm! đó là những gì N đã "researched" được, nhưng hôm nay mình lại khởi hành lúc 8:30 thì bình minh .... đã qua rồi. Còn cái thứ hai (mà N tin chắc là các bạn mê chụp hình nào cũng thèm thuồng) đó là chịu khó chờ cho đến khi .... chiều tà hầu xem cảnh mặt trời lặn để may ra có thễ chộp được một vài tấm ảnh với một bầu trời nhuộm vàng óng ả đẹp hết biết .... thì chắc là tụi N không chờ được rồi, vì theo chương trình mình chỉ còn được ở đây có 1/2 ngày thôi ạ. Tỷ dụ nếu như cứ "cố đấm ăn xôi" chịu khó ở lại chờ đến khi chiều tà, nhưng ngộ nhỡ đến chiều mà .... Trời mưa thì chắc là hỏng bét! Thôi thì thuận giờ nào đành xem giờ đó vậy, thử xem đồi Vọng Cảnh nó thơ mộng và hấp dẫn ra sao mà các cô cậu nào cũng đưa nhau lên đây vậy nhé các bạn.

Để lên đồi Vọng Cảnh cũng không quá khó khăn, từ trung tâm thành phố tới đây chỉ độ khoảng 20 phút thôi. Đường tới đây khá đẹp và dễ đi, hai bên đường trồng nhiều thông xanh biếc, càng lên cao càng mát gió thổi vi vu bên tai. Xe đang chạy ngon lành, tự nhiên nghe thấy có tiếng 1 bà la lên "ơi, ngừng! ngừng xe! ngừng xe! ". Hết hồn! tưởng có bà nào làm rớt máy ảnh hay cell phone ra khỏi xe, hóa ra, có 1 bà (không phải N nha) nhìn thấy ở hai bên ven đường, người ta đang phơi nhang, và hai bên đường có nhiều tiệm bán nhang với đủ màu xanh đỏ rất đẹp mắt, cùng với nón lá và các đồ mỹ nghệ làm bằng tay ..... À, hóa ra đồi Vọng Cảnh Huế nằm trên quảng đường của làng hương (làng làm nhang) và làng nón truyền thống của xứ Huế. Mọi người xin với cậu Quang và bác tài Lý cho ngừng tại đây để xem cho biết.

Họ bày nhang để bán và phơi nhang ngay trên đường xe chạy các bác ạ.

Bà bán hàng chỉ cách cho N se cọng nhang để làm ra cây nhang đây ạ

Ngừng chỗ bán và làm nhang khoảng 15 phút thì mọi người lại tiếp tục lên đường. Khi tụi N đến tới chân đồi Vọng Cảnh thì .... thấy vắng hoe, khung cảnh điều hiu hút gió, cây cỏ lơ thơ, lác đác có vài .... con bò được thả rong lên sườn đồi cho ăn cỏ. Hổng thấy có du khách nào lai vảng đến đây .... ngoài 4 bà của group 4 thôi các bác. Có thễ vì nơi đây không phải là điểm du lịch quá phổ biến nên ... không gặp cảnh người chen người chăng??? Hm! nếu vậy thì chắc có lẽ chính điều này đã giúp nơi đây vẫn giữ được nguyên vẻ yên bình tĩnh lặng, êm đềm đúng chất Huế mộng mơ đây chăng!!!

Tụi N lần mò leo lên đỉnh đồi, nhưng vừa đi thì phải vừa ngó trước ngó sau vì sợ dẫm phải .... mìn (phân bò đó các bác). Ở dưới chân đồi từ từ leo lên .... nhìn bao quát chung quanh thì cảnh vật cũng chẳng có chi gọi là hấp dẫn vì chỉ thấy toàn là phân bò, rồi cỏ dại và rác rưởi .... lưng chưng đồi thì có một vài cái mộ cổ bỏ hoang, vài cái lô cốt củ kỷ hoang phế lâu đời bằng đá .... nó làm cho ta có cái cảm giác e dè hơi sợ, sợ như mình đang đi nhầm vào một chỗ hoang tàn không có người chăm sóc, chứ không phải là chỗ đã từng được mọi người nhắc đến là một trong những chỗ có cảnh đẹp tại cố đô .... Nhưng khi leo lên đến tận đỉnh đồi rồi .....thì thấy mở ra trước mắt mình là một cảnh sông núi bao la nhìn cũng đẹp và cũng thơ mộng phết. Trước mặt là con sông Hương hiền hoà thơ mộng với dòng nước trong xanh đang quanh co uốn lượn. Hai bên bờ xa xa nhìn thấy cây cối xinh tươi, N lại đoán mò chắc đây là những khu vườn cây ăn trái như cam, nhãn, quýt, thanh trà xen lẫn bóng thông của nhà dân chúng ở chung quanh khu này chăng? Lên đến đây, N chụp được đúng có 3 cái ảnh thôi nhé các bác, sẽ post lên để các bác nhìn xem cho biết Đồi Vọng Cảnh hiện nay.

Vì mình không có đến đây vào lúc bình minh cũng như vào buổi chiều tà nên đã không chiêm ngưỡng được cái vẻ đẹp thực sự của nó, tuy nhiên nhìn bao quát chung quanh quang cảnh này thì có thễ nói rằng cảnh cũng rất thơ mộng và nhất là lại rất vắng vẻ nên chả thế mà những cặp tình nhân đều ưa thích chỗ này là phải rồi. Chẳng có ai léo hánh lên đến đây cả nên N lại nghĩ ..... vì thế mà khi xưa các cô cậu hay đưa nhau lên đây tâm tình để khỏi bị .... hàng xóm làm phiền chăng??? Ơ kìa, bây giờ N mới nhớ ra là ba O đi với N lên xem đồi Vọng Cảnh hôm này đều là các O Huế cả, thế mà N lại quên không phỏng vấn ba O ấy rằng khi xưa đã có từng lên ngắm cảnh trên này hay không, và cảnh xưa nó có khác với cảnh bây chừ hay không chứ.

Ở giửa lưng chừng đồi, có cái mộ cổ nằm đây

Hình chụp từ đỉnh đồi nhìn xuống giòng sông Hương

Chung quanh gốc cây chỗ N đứng thì toàn là cỏ dại cao chằng chịt nên không dám đi xa để khám phá vì sợ rắn cắn các bác ạ.

Thành phố Ma An Bằng - Huế:

Nếu đã một lần đến cố đô Huế, bạn hẳn sẽ không khỏi ngỡ ngàng bởi những lăng mộ rộng lớn được sơn son thiếp vàng, chạm trổ tinh tế của các vị Vua đời nhà Nguyễn. Từ bao đời nay, người Huế luôn xem trọng chuyện mộ phần khi về cõi vĩnh hằng để gửi thác cả về thể xác lẫn linh hồn. Những người Huế ở tuổi xế chiều sẽ tính đến việc tìm một phần đất, thường là ở địa thế cao ráo, để được con cháu xây mộ khi họ về bên kia thế giới. Và để thưởng ngoạn khu lăng mộ bề thế nhất ở Huế, mời các bạn cùng với N đến thăm làng An Bằng.

Cách thành phố Huế khoảng 36 km, xuôi theo tỉnh lộ 49B từ Huế về phía Đà Nẵng, sẽ đi qua làng An Bằng, xã Vinh An, huyện Phú Vang, Thừa Thiên-Huế. Làng này nằm ở ven bờ biển, đã nổi tiếng nhiều năm nay vì thu hút nhiều du khách ghé thăm dù không phải là một địa danh du lịch. Trước đây, làng An Bằng là một làng chài nghèo, cuộc sống của người dân chỉ nhờ vào những chiếc thuyền đánh cá nhỏ ngoài biển khơi, ông bà tổ tiên quanh năm thiếu thốn, đã từng có người trong làng làm ăn không đủ sống phải đi làm thuê cho các vùng lân cận. Sau cuộc đổi đời vào tháng 4 năm 1975, nhiều người trong làng đã bỏ quê cha đất tổ vượt biên qua xứ người. Cùng với bản tính chịu khó và siêng năng cần cù, sau này hầu hết họ đều trở nên giàu có. Trong thời kỳ cuối thập niên 70, những gia đình có người vượt biên đi nước ngoài, thì người còn ở lại của gia đình đó phải sống trong cảnh cực khổ ê chề, cha mẹ vợ con anh em bị trù dập và chịu nhiều điều khổ nhục, nhiều người đã đổ bệnh mà chết. Kể từ năm 1990 sau thời kỳ mở cửa, những người con xa quê mới tìm cách liên lạc với gia đình, từ đó mới có những chuyến về thăm nhà để lo lắng bù đắp tiền bạc cho những người còn ở lại và làng An Bằng thật sự đã được thay da đổi thịt từ đây. Những ngôi nhà đồ sộ bắt đầu mọc lên dành cho người sống còn ở lại, cùng với những ngôi lăng mộ chạm trổ cầu kỳ cũng được xây dựng cho những người đã chết. Vì khi những người con xa quê trở về mang theo sự giàu có, họ không những sẽ lo cho người sống đầy đủ, mà họ còn có bổn phận báo hiếu cho ông bà cha mẹ anh em, là những bậc sinh thành đã nuôi dưỡng họ, cũng như những người đã chịu biết bao đắng cay tủi nhục, bị hành hạ thể xác cũng như tinh thần vì có người thân vượt biên ra nước ngoài mà thời điểm đó đã bị kết tội là “phản bội tổ quốc”. Vì vậy bây giờ người sống thì được bù đắp bằng một cuộc sống sung túc, nhà cửa khang trang, và người chết thì phải được Mồ yên Mả đẹp, đó chính là sự báo hiếu đối với ông bà tổ tiên, và coi như là tấm lòng của họ hướng về quê cha đất tổ. Khu nghĩa địa An Bằng rộng khoảng 40,000 m2 trải dài đến gần biển, có khoảng chừng cả nghìn ngôi mộ có diện tích rộng từ 40 – 400 m2, có lăng còn có cổng cao đến 7- 8 m. Không ai có thễ chắc chắn rằng có bao nhiêu lăng mộ đã được xây dựng cầu kỳ đồ sộ tại nghĩa trang này, vì thậm chí những người thợ nề chuyên xây lăng mộ ở đây cũng không thể nhớ nổi con số chính xác là bao nhiêu, chỉ có thễ ước tính rằng làng An Bằng hiện nay có khoảng chừng trên dưới 3000 lăng mộ, mỗi ngôi mộ có chi phí trung bình khoảng 30.000 USD. Một nét lạ và độc đáo ở đây là khi nhà này xây ngôi lăng thấp mà có nhà khác xây lăng cao hơn, thì họ sẽ tự phá ngôi lăng này đi và xây lại cho cao hơn ngôi lăng kia, rồi bên kia thấy như vậy cũng sẽ phá đi và xây lại cái khác cho cao hơn nữa... Có ngôi xây rồi vài năm sau lại được đập ra để xây lại, cái xây sau bề thế hơn cái xây trước. Có lăng vừa xây xong thì bị đập, xây lại cái mới cho to hơn vì... không bằng người ta. Trùng trùng điệp điệp, san sát nối đuôi nhau, các ngôi mộ đủ màu sắc, đủ hình dáng trải dài trên đồi cát bao la khiến cho ta như bước vào một vùng đất thâm sâu, bí hiểm. Nét độc đáo của làng lăng không chỉ về quy mô của những phần mộ, mà còn về cách kiến trúc xây dựng lăng mộ nửa. Phong cách kiến trúc rất đa dạng gồm từ Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Nho giáo, Lão Giáo, Hồi giáo, cho đến kiểu cách Châu Âu … lại còn kết hợp thêm những nét đặc trưng của kiến trúc lăng mộ ở Huế được các thợ xây sáng tạo theo ý nguyện của gia chủ.

Đây là hình N lấy từ YouTube/Flycam để cho các bạn có cái nhìn bao quát chỉ một phần nhỏ của Nghĩa Trang khi từ trên cao nhìn xuống (hình làm tư liệu nên nhìn không được đẹp lắm

Sau khi leo xuống khỏi đồi Vọng Cảnh thì group 4 bắt đầu lên đường tìm đến Thành Phố Ma An Bằng lúc 9:20 sáng. Đường đi từ đồi Vọng Cảnh đến làng An Bằng chỉ khoảng 40 km và lái xe chỉ mất trên dưới một tiếng thôi. Nhưng chắc đây là lần đầu tiên Cậu Quang Tour Guide "bị" khách đòi hướng dẫn đi xem địa điểm này, cho nên thấy cậu Lý (tài xế) và cậu Quang cũng hơi bị lúng túng vì cứ thấy chạy tới chạy lui và ngừng xe để hỏi thăm đường vào Nghĩa Trang từ người dân sống trong vùng này đến mấy lần mà vẫn chưa vào được. Không biết có phải là vì càng ngày nghĩa trang càng phát triễn rộng lớn, nếu lâu lâu mới đến một lần thì sẽ không tìm ra được ngay đường vào cổng chính của nghĩa trang, hay là cậu Tour Guide chưa từng đến đây bao giờ cho nên chúng tôi đã khá vất vả để tìm được đường chính vào Nghĩa Trang các bác ạ.

Sau cùng, có một người dân làng chỉ đường là đi lối tắt phía sau nhà thờ An Bằng thì cũng vào được nghĩa trang để xem các ngôi lăng mộ. Sẳn dịp này thì mọi người cùng muốn vào thăm nhà thờ An Bằng luôn cho biết.

Hình chụp phía trước mặt Giáo Xứ An Bằng - Xã Vinh An, Huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Hôm nay không có Lễ nên mọi người không vào bên trong nhà thờ được.

Tấm bia ghi Lược Sử Giáo Xứ An Bằng

Mọi người phải đi vòng ra sau lưng nhà thờ - rồi đi đường tắt vào Nghĩa Trang

Đáng lẽ ra cậu Quang phải biết đường đưa khách đi vào từ cổng chính của Nghĩa Trang, vì ở đó mình sẽ được nhìn thấy 1 cái cổng Tam Quan được xây dựng đồ sộ rất đẹp, rồi từ đó mới bắt đầu tủa ra đi xem những lăng mộ ở chung quanh. Và khi xem thì chắc là mình cũng chỉ xem được một số lăng vòng vòng gần ngay chỗ mình vào thôi, vì nghĩa trang quá rộng lớn đến hơn 3000 ngôi mộ trải dài ra đến tận bờ biển, người ta nói rằng đi 3 ngày 3 đêm cũng chưa xem hết nơi này thì làm sao mình có đủ giờ và đủ sức để mà xem cho hết. Tên gọi là "thành phố ma" vì bởi ở đây là một vùng thôn quê nhưng lăng mộ mọc lên san sát không kém gì đô thị và đặc biệt là lăng mộ ở đây được người ta xây cao hơn nhà người ở. Với quan niệm “sống cái nhà, thác cái mồ”, những người dân ở làng An Bằng đã đua nhau xây dựng lăng mồ với những kiến trúc đồ sộ, quy mô bậc nhất cả nước.

Bây giờ đang là ban trưa nắng chang chang, nghĩa địa vắng tanh chẳng có ai. Len lỏi qua những lối đi nhỏ giữa mênh mông cõi "người âm" mà mình lại không hề có một chút cảm giác rùng rợn hay ớn lạnh gì mà thay vào đó là sự kinh ngạc và tò mò các bác ạ.

 

Đi giữa những ngôi mộ với đủ màu sắc và kiểu dáng vào giữa trưa, nhưng không ai cảm thấy rợn người mà còn thấy vui mắt và tò mò, muốn xem người ta đã xây nên những ngôi nhà cho người đã mất với những kiểu dáng như thế nào.

Thay vì cảm giác rờn rợn khi đi vào nghĩa địa, giờ là cảm giác thích thú để xem cái nào đẹp nhất, to nhất và đồ sộ nhất. Những ngôi mộ ở đây được xây vô cùng công phu và tỉ mỉ. Hình dáng được sử dụng nhiều nhất là hình ảnh nguyên mẫu các khu lăng tẩm triều Nguyễn với phiên bản thu nhỏ, nhưng nhìn rất chuẩn với tầng lầu son gác tía, cột rồng phượng quấn quanh, đá cẩm thạch lát nền, vô cùng xa hoa lộng lẫy về màu sắc, các nét chạm khắc tinh xảo đến khó tin, thế mới thấy thợ Việt Nam của mình khéo tay vô cùng các bác ạ.

Càng đi loanh quanh thì mình lại càng kinh ngạc, các ngôi mộ đủ các hình thù kiểu dáng, đủ các màu sắc hoa văn, đủ các kích cỡ to nhỏ nằm sát cạnh bên nhau giống như khu nhà ở cho những người đã mất. Còn có cả cây cối, hoa lá mọc xanh um rất tốt tươi. Có điều mà N nhận xét được và thầm thấy tiếc là những lăng mộ ở đây không được đặt nằm cho ngay hàng thẳng lối như những nghĩa trang ở bên Mỹ mà mình vẫn thấy. Ở đây, lăng mộ họ muốn xây muốn đặt ra sao thì tùy ý của gia chủ, nên cái thì được đặt quay ngang, cái thì quay dọc .... cái đặt ngược, cái đặt xuôi ... đầu đuôi của các lăng cứ loạn hết cả lên nên nhìn hơi mất trật tự và thấy cũng kém đẹp đi một phần. Không hiểu lăng mộ được đặt lung tung cả lên như vậy là vì vấn đề phong thủy hay là vì sao nữa.

Ngay giửa buổi trưa nắng chang chang, nhìn đến hoa cả mắt vì những màu sắc và các hình khối của những lăng mộ chung quanh mình, đi lang thang bao nhiêu vòng mỏi cả chân vẫn xem chưa hết, và rồi thì cuối cùng không biết đường để quay lại chỗ củ, nếu không có cậu Quang đi tìm gom mấy bà quay trở lại thì chắc là vẫn còn lang thang lạc cả lối ra ngoài các bác ạ. Nghe người dân cho biết là trong nghĩa trang còn có chùa An Bằng nằm sát bờ biển, nơi đây có tượng Quan Âm Bồ Tát nhìn ra biển khơi lộng gió suốt ngày đêm. N đoán là những người con bỏ xứ vượt biên ra đi, nay trở về xây chùa và dựng tượng Phật Bà Quan Âm Bồ Tát để trả ơn Phật Bà đã giử gìn cho họ trong những chuyến hành trình đầy gian khổ thời gian trước đây chăng?

Hình tượng Phật Bà Quan Âm Bồ Tát nhìn ra biển khơi đặt ở sát bờ biển trong nghĩa trang An Bằng. N không đi xem được Chùa và tượng Phật Bà vì từ chỗ N đứng đi đến chỗ tượng Phật Bà rất xa nên N đã lấy hình trên YouTube/Flycam post cho các bạn xem đỡ vậy.

Đến bây giờ thì mọi người đành phải tạm biệt “thành phố ma”. Lúc này trưa nắng, bụng đói nhưng mọi người đều thỏa chí tò mò vì đã được nhìn thấy tận mắt những gì đã nghe, thật là không bỏ công cho chuyến đi vào thăm khu nghĩa trang này. Rời làng An Bằng, trên đường đi cậu Quang cho biết sẽ dừng cho mọi người thăm Đầm Lập An, Bãi biển Lăng Cô, rồi sẽ vượt đèo Hải Vân trước khi đến Đà Nẳng.

Đầm Lập An:

Ra khỏi Thành Phố Ma An Bằng, chúng tôi khởi hành đi Đà Nẳng. Trên đường đi thì Cậu Quang cho xe ghé vào Đầm Lập An để mọi người xem cho biết cũng như chụp vài tấm ảnh làm kỷ niệm. Chỉ chụp ảnh kỷ niệm để biết rằng group 4 đã có ghé đến đây thôi, chứ muốn chụp ảnh cho đẹp thì chúng ta sẽ phải canh giờ để tới đây vào lúc bình minh hoặc là lúc hoàng hôn, vì đầm Lập An đẹp nhất là vào thời khắc hoàng hôn và bình minh. Lúc hoàng hôn, khi mặt trời bắt đầu ngã bóng sau dãy núi Bạch Mã, khung cảnh đầm lúc này sẽ vô cùng huyền ảo, trên mặt nước phẳng lặng sẽ dần xuất hiện những gam màu vàng đỏ, xanh thẫm… đan xen nhau như một tấm lụa sặc sỡ nhiều màu sắc. Mặt nước lúc này sóng sánh ánh vàng, khung cảnh sẽ trở nên ảo diệu, mơ màng, huyền ảo như không có thật. N lại thấy tiếc sau khi biết được những thông tin này của đầm Lập An các bác ạ.

Đầm Lập An (hay còn được gọi là Đầm An Cư) là một đầm nước lợ lớn ở xứ Huế và là một phần của vịnh Lăng Cô, thuộc huyện Phú Lộc. Đầm có vị trí khá đẹp khi nằm dưới chân đèo Phú Gia với bán kính rộng 15km2 nằm gần trục đường quốc lộ 1A đoạn qua thị trấn Lăng Cô, trên con đường nối từ Huế đến Đà Nẵng. Bao quanh đầm là dãy núi Bạch Mã hùng vĩ, phía trước đầm là vịnh Lăng Cô với màu nước xanh như ngọc.

Hình chụp đầm Lập An khoảng giửa trưa 12:00 giờ

Đặc sản của đầm là Hàu. Hàu ở đây được sản xuất theo phương thức đặc biệt, đó là nuôi cấy trên những chiếc lốp xe buộc vào sào tre. Việc nuôi hàu rất đơn giản, người ta chỉ cần mua những chiếc vỏ lốp xe máy đã hỏng được thải ra, đem về chà cho thật sạch, sau đó xẻ lốp làm đôi. Các lốp xe này được móc vào một thanh tre, rồi đóng những chiếc cọc xuống lòng đầm, treo thanh tre nằm ngang, những chiếc lốp xe nằm sâu dưới nước, cách đáy đầm chừng 10cm, lốp nọ cách lốp kia khoảng 30cm. Sau khi con hàu bám vào lốp xe sẽ sinh sôi, phát triển thành từng chùm. Hàu ở đầm Lập An nổi tiếng ngon và béo bùi. Khi thủy triều rút, người dân ở đây sẽ đi khai thác hàu – một loài đặc sản nức tiếng ở đầm Lập An.

Rời đầm Lập An, mọi người chỉ ghé nhanh qua bãi biển Lăng Cô để chụp vài tấm hình kỷ niệm và lên đường đi Đà Nẳng ngay. Hình chụp biển Lăng Cô.

Rời Lăng Cô, mọi người đều muốn đến Đà Nẳng cho nhanh (vì đói rồi!) nên lần này group 4 không muốn vượt đèo nửa, mà quyết định sẽ chui qua đường hầm Hải Vân cho an toàn hơn. Đường đi trong hầm rộng rải sáng sủa cho nên mọi người đều cảm thấy thoải mái và yên tâm vô cùng.

Đúng 1:10 pm thì xe của chúng tôi bắt đầu chui ra khỏi đường hầm đèo Hải Vân. Hầm Hải Vân nằm trên quốc lộ 1 ở ranh giới tỉnh Thừa Thiên-Huế và thành phố Đà Nẵng. Hầm Hải Vân đi xuyên qua núi với chiều dài 6,28 km là hầm đường bộ dài nhất khu vực Đông Nam Á, dùng để thay thế cho đường đèo Hải Vân vốn có những khúc cua uốn lượn khuỷu tay khuất tầm nhìn nên có nhiều đoạn rất nguy hiểm cho xe cộ khi vượ

Hình đường hầm Hải Vân (hình Internet)

Vào đến địa phận thành phố Đà Nẳng thì đã 2:00 giờ chiều, mọi người đều đói quá sức rồi nên cậu Quang cho mọi người đi ăn ngay trước khi check in vào khách sạn. Biết N về VN, mấy người bạn của N quê ở Đà Nẳng có dặn là nhớ đến ĐN để ăn món đặc sản của ĐN là món thịt heo phay cuốn bánh tráng chấm mắm nêm, nên trưa nay cậu Quang đưa 4 bà đến thẳng quán Trần tại số 4 đường Lê Duẫn để mọi người được thử món này.

Với rau xà lách xanh (nghe giới thiệu là đã được trồng bằng phương pháp thủy canh) sắp trên miếng bánh tráng mỏng kẹp bánh ướt, gắp một miếng thịt cho vào giữa, trên cùng là mấy lát dưa chuột, chuối chát và đủ thứ các loại rau thơm, cuộn cho thật chặt lại rồi chấm mắm nêm ớt tỏi, xong nhai thật chậm để nghe được hương vị mặn mòi của món bánh tráng cuốn thịt heo miền Trung từ từ tan trên lưỡi và trôi dần vào cổ mình. Ôi trời ơi, thiệt là quá đã! Đĩa thịt heo nhìn rất đẹp mắt với những lát thịt heo dài và có hai lớp mỡ da ở hai đầu. Đĩa rau xanh ngắt họ cho thật đầy đặn, dùng với chén bát màu trắng tinh nhìn sạch sẽ tạo cho thực khách cảm giác rất ngon miệng cho từng cuốn bánh tráng, cộng thêm món mắm nêm được chế biến công phu, có hương vị rất đặc biệt và nhất là không có mùi tanh tí nào cả nên mình không phải lo là Tào Tháo Lão Gia sẽ có cơ hội xuất hiện tại nơi đây được.

Các bác, hình dưới đây N lấy từ Internet post lên để mô tả cho thật đầy đủ món ăn này. Sorry các bác, vì đói lại gặp đúng tủ món ăn mình ưng ý nên N .... mãi lo ăn, quên cả chụp hình. Đến lúc no nê, thức ăn trên bàn hết sạch thì chừng đó mới nhớ ra là .... quên chụp hình lại để sau này còn kể chuyện cho mọi người nghe.

Bốn bà vừa ăn vừa trò chuyện trong một không gian đặc trưng ẩm thực, quán ăn rất đẹp, sạch sẽ, rộng rãi thoáng mát, bụng lại đói nên không biết là mình đã xơi .... quá tải! Cho món thịt cuốn bánh tráng, Cậu Quang gọi riêng "từng phần" cho mỗi người một đĩa thịt thật to (thịt nhiều gần gấp 3 lần cái đĩa trong hình nha), thế mà tụi này chén sạch bách không chừa lại miếng nào cả. Thấy 4 bà ăn xong, cậu Quang lại xuất hiện và cho biết là sẽ order thêm cho mỗi người 1 tô Mì Quảng nửa để giới thiệu thêm một món đặc sản miền Trung mà quán Trần cũng rất nổi tiếng với món mì Quảng này. Mọi người vội vàng .... xin thôi, vì bụng không còn chỗ chứa nửa. Cậu Quang cười quá chừng, cậu bảo rằng bình thường với cái đĩa thịt lớn từng ấy thì phải 2 người ăn mới hết một phần, đàng này cháu thấy các cô chén mỗi người đến tận 1 đĩa lận, thì cháu tưởng các cô .... chưa no! Trời, nếu biết rằng còn món mì Quảng cần phải thử nửa thì mình đã để dành bụng, ăn bớt thịt cuốn đi một tí rồi. Đúng là quê xệ, chắc cậu ấy tưởng mình ... chết đói nên ăn dữ quá! Nhưng quả là có đói thật, vì đến hơn 2:00 giờ chiều mới được ăn trưa mà lỵ! (cũng xin nói thêm rằng trong suốt chuyến đi, bình thường vào những bữa ăn, tụi này đều mời Tour Guide và Tài Xế vào bàn ngồi ăn chung, chứ không để cho họ tự ăn và trả tiền lấy. Tuy nhiên N để ý một điều là hễ khi nào mình ăn ở những quán dọc đường dân dã bình dân thì 2 cậu đều không từ chối lời mời của mình, nhưng khi bọn này được đặt bữa trước ở những quán ăn sang trọng, mắc mỏ thì không bao giờ 2 cậu chịu ngồi ăn chung cho dù chúng tôi có năn nỉ hết lời).

Tối nay, chúng tôi sẽ qua đêm tại Đà Nẳng, nên giờ cậu Quang cho mọi người check in vào khách sạn Bắc Cường (gần bãi biển Mỹ Khê).

Trên đường đến khách sạn để check in, ai cũng mệt và buồn ngủ díp mắt lại vậy mà cũng phải chiều ý N để ghé lại Nhà thờ chính tòa Đà Nẵng (còn gọi là Nhà thờ Con Gà) cho N chụp cái hình này, vì N biết rằng có rất nhiều anh chị em trong Diễn Đàn GNST là dân Đà Nẳng và chắc chắn là ai cũng muốn được nhìn lại cái nhà thờ này.

Check in xong xuôi thì đã hơn 3:00 giờ chiều. Cậu Quang để cho mọi người tự do muốn đi bộ ra ngắm bãi biển Mỹ Khê hay là nghỉ ngơi gì đó thì tùy ý, và hẹn đúng 6:30 sẽ đến đón mọi người đi ăn tối. Theo chương trình thì Đà Nẳng chỉ là điểm để Group 4 dừng chân qua đêm trước khi đi Qui Nhơn (thay vì từ Huế đi thẳng Qui Nhơn thì đường quá xa sẽ bị mệt, nên phải dừng nghỉ đêm tại Đà Nẳng rồi sáng hôm sau sẽ đi Qui Nhơn), vì vậy group 4 sẽ không có chương trình thăm viếng địa điểm du lịch nào tại Đà Nẳng cả . Bốn bà đều OK vì ai cũng đã nhiều lần ghé Đà Nẳng rồi nên hôm nay sau khi check in vào khách sạn thì mọi người đều ..... thăng luôn đến gần giờ ăn tối mới thức dậy.

Các bác, buổi ăn tối hôm nay các O kia lại yêu cầu cậu Quang cho đi ăn tại một quán ăn dân dã bình dân nhưng thật nổi tiếng của người dân bản xứ tại đây ạ. Vì vậy, cậu Quang đã giới thiệu mọi người đến ăn tại quán Bánh Xèo Bà Dưỡng, cậu quảng cáo tuy là quán bình dân nhưng rất ngon và nổi tiếng tại Đà Nẳng, du khách ở xa đều ghé đến đây. Các bác mình thổ công tại Đà Nẳng có biết quán này không và đã có ai vào đây ăn chưa ạ?

Muốn vào quán này thì phải đi vào trong một con hẻm nhỏ nhỏ và vào sâu tít trong cùng mới thấy.

Hình chụp khu bếp quán bánh xèo Bà Dưỡng và cũng là mặt tiền của tiệm đây. Sâu vào bên trong trước mặt anh nhân viên mặc áo đỏ (phía bên tay phải của hình) là chỗ xếp bàn ghế cho khách ngồi ăn.

Quán chỉ bán duy nhất là bánh xèo, nem nướng và bò lá lốt. Quán rất đông, đông thực sự, chưa thấy quán bánh xèo nào mà nó đông khách như thế này. Do lượng khách đông quá nên khi khách vào nhân viên chưa kịp dọn sạch bàn, vì vậy bàn nhìn thấy như bị mỡ mỡ, dơ dơ, rác rưởi thì đầy ở dưới chân làm mình hơi sợ nên ăn uống không thấy thoải mái lắm. Đi ăn mà cảm thấy như đi chiến đấu vì khách chung quanh mình, người thì đứng lên, ngồi xuống, tự chạy tới chạy lui, kêu này gọi nọ nên thấy rất ồn, không gian quán thì có rộng rãi nhưng do khách quá đông nên cảm thấy quán hơi chật, và thấy cả hơi dơ dơ nửa. Nhân viên phục vụ chậm và không để ý gì đến khách lắm, may mà nhờ có cậu Quang, cậu Lý tự đi bưng nước và tự đi lấy các thứ chứ mình mà chờ nhân viên phục vụ thì chắc còn lâu mới tới lượt mình ăn.

Khi vào quán bạn không cần gọi món, nhân viên sẽ tự động đem bánh xèo ra bàn cho bạn tùy theo số người ngồi trên bàn. Còn nem lụi thì họ cứ tự động đem ra 20 cái mỗi bàn chứ không cần hỏi khách muốn bao nhiêu. Cậu Quang bảo nem ăn bao nhiêu sẽ tính tiền bấy nhiêu, chứ không phải họ đem ra 20 cây thì bạn phải trả tiền hết 20 cây. Nếu mình ăn không hết thì họ sẽ lấy lại để dồn riêng ra một đống, sau đó đem chỗ thừa đấy qua cho bàn khác. N nhận xét cách làm ăn này thấy có vẻ không được sạch sẻ cho lắm, vì những xâu nem lụi của những người khách ăn lúc trước họ đã cầm lên, đặt xuống, mó máy tay chân vào rồi ăn không hết, sau đó quán lại đem chỗ còn thừa này qua cho mình thì nem đã nguội ngắt, nguội ngơ, cũng như làm cho mình cảm thấy thức ăn dư này không được sạch cho lắm.

Bánh xèo thì ăn cũng được, bò lá lốt có ăn và ngon hay không thì N không nhớ nửa, nem lụi vì ăn thừa lại của người khác nên hơi nguội và ....dơ, nhưng nước chấm của hiệu này pha rất ngon, rất đặc biệt, không đụng hàng với quán nào khác. Mình nghĩ đây cũng là điều làm nên thương hiệu của quán, cho nên quán mới nổi tiếng như vậy. Nếu được chấm điểm, N sẽ chấm 20/100 điểm cho không gian quán, sự sạch sẽ và cách phục vụ. Còn thức ăn có ngon hay không, N chỉ cho từ 40 đến 50/100 điểm thôi. Có thễ nếu được ngồi ăn những món này ở một không gian thoải mái hơn, sạch sẽ hơn thì chắc là mình sẽ cảm thấy thức ăn ngon lành hơn là cái số 40, 50 điểm này phải không các bác? Hỏi rằng sẽ có trở lại hay không? Chắc chắn là NO rồi, sorry vậy.

Ăn tối xong, trước khi về ngủ, cậu Quang đưa mọi người ra bến sông Hàn để hóng gió cho tiêu cơm và ngắm Đà Nẳng by Night của cậu. Mọi người ra thăm Cầu Tình Yêu của Đà Nẳng. Cầu này nằm ở bờ Đông sông Hàn, trên đường Trần Hưng Đạo, quận Sơn Trà, nằm về phía đầu cầu Rồng. Một vị trí rất thuận lợi cho khách du lịch đến ngắm cảnh. Trai thanh, gái tú tại cầu Tình Yêu ở Đà Nẳng bây giờ cũng văn minh và bạo phết. Họ ôm nhau xà nẹo để âu yếm rồi hôn nhau ngay trên cầu trước mắt mọi người các bác ạ (không phải chỉ có 1 cặp này thôi đâu, mà còn có nhiều cặp khác nửa) làm mình ....hơi ngượng nên chỉ dám nhìn lén họ bằng có .... một con mắt thôi à!

Vài hình ảnh N chụp bên bờ sông Hàn.

Khoảng 9:30 pm thì mọi người trở về khách sạn để sửa soạn ngủ nghỉ cho sớm vì ngày mai sẽ là một ngày lái xe rất dài cho group 4 khi chúng tôi lên đường đi Qui Nhơn, lộ trình là sẽ đi ngang qua Hội An, Quảng Nam, Quảng Ngãi rồi vào Bình Định. Thật tình ra thì 4 bà mù tịt về đường đi, chỉ nghe cậu Quang nói sơ qua trước hành trình cho nói địa điểm chúng tôi muốn đến hơi bị ngược đường, vì sau khi đến thăm chỗ mình muốn coi ở Bình Định xong là phải đi tới Qui Nhơn để nghỉ đêm, để tiện đường khởi hành cho chương trình vào ngày hôm sau. Nói tóm lại là mình sẽ tốn rất nhiều thì giờ ngồi trên xe cho hành trình của 2 ngày sắp tới. Chắc các bác đang thắc mắc không biết bọn này đi đâu phải không ạ? Chúng tôi muốn đi xem Mũi Vi Rồng tại Bình Định đấy các bác. Thôi thì bây giờ chúc mọi người ngủ ngon để lấy sức cho ngày mai, rồi mình sẽ cùng nhau đi khám phá Mũi Vi Rồng tại Bình Định nhé.

Viết xong ngày Feb. 25-2019 @ 10:00 pm

Bài kế tiếp: Đà Nẳng - Mũi Vi Rồng tại Bình Định - Qui Nhơn.

 

Nam Mai  ______

 

 

Xem thêm...

Sài Gòn & tuổi thơ tôi

Sài Gòn & tuổi thơ tôi

Trần Mộng Tú

Tôi xa quê hương ở vào tuổi không quá trẻ dại để dễ quên và cũng không quá già để chỉ dành toàn thời giờ cho một điều mất mát, rồi đau đớn. Tôi ở vào tuổi mà khi bước đến vùng đất mới, đời sống đã như lôi tôi đi trong một cơn lốc trên những con đường khác nhau trước mặt, hầu như không ngưng nghỉ. Tôi chóng mặt, nhưng tôi vẫn biết tôi là ai và tôi ở đâu trên quê người, nên những lúc tôi phải ngưng lại để thở là những lúc hồn quê nôn nao thức dậy trong tôi.

Mỗi lần nhớ đến quê nhà là nhớ đến Sài Gòn trước tiên. Sài Gòn không phải là phần đất dành riêng cho người miền Nam nữa. Ðối với người miền Bắc di cư vào Nam năm 1954, hay người miền Trung chạy giặc Cộng năm 1968, thì Sài Gòn chính là phần đất quê nhà đáng nhớ nhất.

 Tôi lớn lên, sống cả một thời niên thiếu ở Sài Gòn. Ði học, dậy thì, yêu đương, mơ mộng, làm việc, lấy chồng, khóc, cười rồi chia ly với Sài Gòn.

Tôi nhớ lại hồi bé theo Bố Mẹ di cư vào Sài Gòn. Ba tôi làm việc ở Nha Ðịa Chánh, nên từ những căn lều bạt trong trại tiếp cư Tân Sơn Nhất, gia đình tôi được dọn vào ở tạm một khu nhà ngang trong sở của Ba ở số 68 đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng) sau lưng Bưu Ðiện. Tôi đi học, đi bộ băng qua hai con đường là tới trường Hòa Bình, bên hông nhà thờ Ðức Bà. Tôi vào lớp Ba. Ngày đầu tiên cắp sách đến lớp, ma sơ dĩ nhiên là người Nam, hồi đó còn mặc áo dòng trắng, đội lúp đen. Sơ đọc chính (chánh) tả:

Hoa hường phết (phết là dấu phẩy)

Cái tai của con bé con Bắc kỳ không quen với phát âm miền Nam nên “hoa hường” thành “qua tường” và phết thành một chữ nữa. tôi viết: Qua tường phết.

Bài chính tả dài một trang của tôi chắc chắn là ăn một con số 0 mầu đỏ to tướng vì nguyên bài bị gạch xóa bằng mực đỏ lè. Tôi như một người ngoại quốc nghe tiếng Việt. Nhưng tôi học thuộc lòng trong sách thì giỏi và thuộc nhanh lắm. Khi khảo bài tôi được điểm tốt, mặc dù bạn học chung lớp khó hiểu con nhỏ Bắc kỳ đọc cái gì. Ma sơ cứ nhìn sách, nghe tôi đọc làu làu, biết là tôi có thuộc bài. Tôi nhớ một bài học thuộc lòng về thành phố Sài Gòn như thế này:

 

Sài Gòn vòi nước bùng binh

Này bảng báo hiệu này vòng chỉ tên

Trụ đèn, dây thép, tượng hình

Lính canh, cảnh sát giữ gìn công an

Mặc dầu đường rộng thênh thang

Ngựa xe đi lại luật hành phải thông

Mặc dầu đường rộng mênh mông

Mũi tên chỉ rõ bảng trông dễ tìm

Trần Hưng, Lê Lợi, Chu Trinh…

 

Trần Hưng là đường Trần Hưng Ðạo, Chu Trinh là đường Phan Chu Trinh, viết tắt trong bài học thuộc lòng. Từ bài học đó, tôi hiểu được hai chữ “bùng binh” là gì.

Ngôi trường đó tôi chỉ học hết lớp Ba, sau đó Bố Mẹ tôi tìm được nhà ở bên Thị Nghè, tôi được đi học lớp Nhì, lớp Nhất ở trường Thạnh Mỹ Tây, có rất nhiều bạn cũng Bắc kỳ di cư như tôi.

Kỷ niệm về Sài Gòn tôi nhớ nhất là lần đầu tiên con bé Bắc kỳ tròn xoe mắt, nhìn thấy đồng bạc xé làm hai, nếu chỉ muốn tiêu một nửa. Mua cái bánh, gói kẹo nào cũng chỉ xé hai đồng bạc. Xé rất tự nhiên, tiền mới hay tiền cũ gì cũng xé. Người mua xé, mua; người bán xé để trả (thối) lại. Tôi đã biết bao lần, vào những buổi tối mùa Hè, mẹ cho một đồng, hai chị em mua ngô (bắp) nướng của người đàn bà, ngồi dưới chân cột đèn điện trước cửa sở Ðịa Chánh với cái lò than nhỏ xíu, bán bắp nướng quẹt hành mỡ.

Dưới ánh sáng hắt lờ mờ của bóng đèn từ trên cao xuống, cái lò than nhỏ xíu, thơm lừng mùi bắp non. Gọi là lò, thực sự chỉ có mấy cục than hồng để trong một miếng sắt cong cong, bên trên có cái vỉ bằng dây thép, rối tung, những cái bắp được xếp lên đó, bà bán hàng trở qua, lật lại. Ðôi khi cũng là một cái lò gạch nhỏ đã vỡ, mẻ mất mấy miếng rồi, không thể kê nồi trên đó, bà hàng mang ra để nướng bắp.

Hai chị em đứng líu ríu vào nhau (anh và chị lớn không có tham dự vào những sinh hoạt của hai đứa em nhỏ này), cầm tờ giấy bạc một đồng, đưa ra. Tôi luôn luôn ngần ngừ không dám xé, đưa cho bà bán hàng; bà cầm lấy, xé toạc làm hai, khi tôi chỉ mua một cái bắp. Bà đưa phần nửa tiền còn lại để chúng tôi có thể cất đi, tối mai lại ra mua bắp nữa.

Mỗi lần thấy đồng bạc bị xé, tuy không phát ra tiếng động, tôi cũng giật mình đánh thót một cái như nghe thấy đồng bạc của mình bị bể hay bị gẫy. Cảm tưởng như mất luôn cả phần tiền đưa ra và phần giữ lại. Phải mất bao nhiêu lần nhìn đồng tiền bị xé mới quen mắt cái hình ảnh “Ðồng bạc xé hai” này và tin là nửa kia vẫn dùng mua bán được.

Bẻ cái bắp làm đôi, tôi với em tôi chia nhau. Ngon ơi là ngon! Bắp dẻo, thơm mùi lửa than, thơm mùi hành mỡ. Chị em tôi ăn dè sẻn từng hạt bắp một. Ăn xong chúng tôi dắt nhau đi tìm ve sầu ở những thân cây me trong bóng tối. Buổi tối ve sầu mùa Hạ chui ở đất lên, bò lên các thân me lột xác. Chúng tôi bắt những con chưa kịp lột cho vào cái hộp (không) bánh bích quy đã mang theo sẵn, đó là những con ve mới ngơ ngác bò lên khỏi mặt đất, mang về nhà.

Thuở thơ dại những trò chơi này là cả một thế giới thơ mộng và đầy hấp dẫn. Chị em tôi mang hộp ve sầu vào giường ngủ, ban đêm những con ve này sẽ chui ra bò lên màn, lột xác. Ðêm chúng tôi đi vào giấc ngủ, thì ve chui ra, lột xác xong bỏ lại những vệt dài nhựa thâm đen trên những cánh màn tuyn trắng toát. Khi chúng tôi thức dậy nhìn thấy, chưa kịp dụi mắt tìm mấy con ve, đã thấy mẹ đứng ở ngoài màn với cái chổi phất trần trên tay. Chúng tôi chưa bị roi nào thì đã có bố đứng bên, gỡ cái chổi ở tay mẹ mang đi, trong lúc những cái lông gà trên chổi còn đang ngơ ngác.

Sài Gòn còn cho tuổi thơ của chúng tôi biết thế nào là cái ngọt ngào, thơm mát của nước đá nhận. Trong sân trường tiểu học Thạnh Mỹ Tây, tôi được ăn cái đá nhận đầy mầu sắc đầu tiên. Một khối nước đá nhỏ, đặt trên một lưỡi dao bào, bào vào cái ly bên dưới, khi đầy ly, ông bán hàng ấn (nhận) nước đá ép xuống, đổ ngược ly lại, lấy cái khối nước đá xôm xốp, có hình dáng cái ly ra. Rắc si-rô xanh đỏ, có khi còn có mầu vàng và mầu xanh lá cây với vị bạc hà nữa. Gọi là nước đá nhận. Học trò trẻ con, bạn thân, sung sướng chia nhau ở sân trường, mỗi đứa mút một cái, chuyền tay nhau. Nước đá nhận, bánh kẹo ở sân trường trong những giờ ra chơi đều được mua bằng đồng bạc xé hai này.

Ba tôi bảo cầm đồng tiền xé hai một cách tự nhiên như thế quả là một điều rất dung dị, xuề xòa, dễ dãi mà chỉ người miền Nam mới có được. Xé tiền mà như xé một tờ giấy gói hàng, giấy gói bánh, như xé một tờ báo.  Mảnh xé ra có giá trị lúc đó, mảnh còn lại cũng vẫn còn giá trị sau này. Người Hà Nội cầm tờ giấy bạc rách, thì vuốt cho thẳng thắn lại, có khi lấy hạt cơm dẻo miết lên chỗ rách cho dính vào nhau, rồi cẩn thận gấp lại trước khi cho vào túi. Một thời gian sau, tiền không xé nữa, được thay bằng đồng bạc “50 su” bằng nhôm, hình tròn, một mặt có hình Tổng thống Ngô Ðình Diệm, mặt sau là hình khóm trúc. (Biểu hiệu cho Tiết Trực Tâm Hư).

Cuộc di cư 1954 đó giúp cho người Việt hai miền Nam, Bắc hiểu nhau hơn. Người Bắc sống và lớn lên ở Sài Gòn ở thế hệ chúng tôi học được cái đơn sơ, chân phương của người miền Nam, và ngược lại những bạn học người Nam của tôi cũng học được cách ý tứ, lễ phép (đôi khi đến cầu kỳ) của người miền Bắc. Tôi đã được nghe một người miền Nam nói: Sau 1975 thì chỉ có những người Bắc di cư 54 là đồng bào của người miền Nam mà thôi. Hóa ra những người Bắc sau này ở ngoài cái bọc (đồng bào) của bà Âu Cơ hay sao? Nếu thật sự như thế thì thật đáng buồn!

Sài Gòn đầu thập niên 60 vẫn còn có xe ngựa đưa những bà mẹ đi chợ. Người xà-ích lúc đó chưa biết sợ hãi trên những con đường còn mù sương buổi sáng. Tiếng lóc cóc của móng ngựa chạm xuống mặt đường như đánh thức một bình minh. Tôi nhớ có chỗ gọi là Bến Tắm Ngựa, mỗi lần đi qua hôi lắm. Sau vài mươi năm xe thổ mộ ở Sài Gòn không còn nữa, chỉ còn ở lục tỉnh.

Sài Gòn với xích lô đạp, xích lô máy, taxi, vespa, lambretta, velo, mobilette là những phương tiện di chuyển mang theo đầy nỗi nhớ. Kỷ niệm thơ mộng của một thời trẻ dại, hương hoa và nước mắt. Sài Gòn với những cơn mưa ập xuống thình lình vào tháng Năm tháng Sáu, tiếng mưa khua vang trên những mái tôn, tắm đẫm những hàng me già, ướt sũng những lối đi vào ngõ nhà ai. Sài Gòn với mùa Hè đỏ rực hoa phượng vĩ in xuống vạt áo học trò, với những  hoa nắng loang loang trên vai áo bà ba của những bà mẹ, là những mảng ký ức ngọt ngào trong tâm của chúng tôi.

Mỗi tuổi đời của tôi đi qua như những hạt nắng vàng rắc xuống trên những hàng me bên đường, như mưa đầu mùa rụng xuống trên những chùm hoa bông giấy. Những tên đường quen thuộc, mỗi con phố đều nhắc nhở một kỷ niệm với người thân, với bạn bè. Chỉ cần cái tên phố gọi lên ta đã thấy ngay một hình ảnh đi cùng với nó, thấy một khuôn mặt, nghe được tiếng cười, hay một mẩu chuyện rất cũ, kể lại đã nhiều lần vẫn mới. Ngay cả vệ đường, chỉ một cái bước hụt cũng nhắc ta nhớ đến một bàn tay đã đưa ra cho ta níu lại.

Âm thanh của những tiếng động hàng ngày, như tiếng chuông nhà thờ buổi sáng, tiếng xe rồ của một chiếc xích lô máy, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng chuông leng keng của người bán cà rem, tiếng gọi nhau ơi ới trong những con hẻm, tiếng mua bán xôn xao khi đi qua cửa chợ, vẻ im ắng thơ mộng của một con đường vắng sau cơn mưa… Tất cả làm nên một Sài Gòn bềnh bồng trong nỗi nhớ.

Sài Gòn mỗi tháng, mỗi năm, dần dần đổi khác. Chúng tôi lớn lên, đi qua thời kỳ tiểu học, vào trung học thì chiến tranh bắt đầu thấp thoáng sau cánh cửa nhà trường. Ðã có những bạn trai thi rớt Tú Tài phải nhập ngũ. Những giọt nước mắt đã rơi xuống sân trường. Sau đó, với ngày biểu tình, với đêm giới nghiêm, với vòng kẽm gai,với hỏa châu vụt bay lên, vụt rơi xuống, tắt nhanh, như tương lai của cả một thế hệ lớn lên giữa chiến tranh.

Sài Gòn như một người tình đầu đời, để cho ta bất cứ ở tuổi nào, bất cứ đi về đâu, khi ngồi nhớ lại, vẫn hiện ra như một vệt son còn chói đỏ. Sài Gòn như một mảnh trầm còn nguyên vẹn hương thơm, như một vết thương trên ngực chưa lành, đang chờ một nụ hôn dịu dàng đặt xuống.

Sài Gòn khi đổi chủ chẳng khác nào như một bức tranh bị lật ngược, muốn xem cứ phải cong người, uốn cổ ngược với thân, nên không còn đoán ra được hình ảnh trung thực nguyên thủy của bức tranh.

Sài Gòn bây giờ trở lại, thấy mình trở thành một du khách trên một xứ sở hoàn toàn lạ lẫm. Tôi thương Sài Gòn và thương cho chính mình, đã hư hao một chốn để về.

 

Hình Internet

Hồng Anh sưu tầm

Xem thêm...
Theo dõi RSS này