Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1289)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (64)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (353)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Buổi Trình Diễn Áo Dài Truyền Thống của Hội Ảnh Việt Nam - Houston 2020

Buổi Trình Diễn Áo Dài Truyền Thống

của Hội Ảnh Việt Nam - Houston 2020

.✿•• .✿•.•❤•.✿•.✿•

Theo thông lệ tốt đẹp từ nhiều năm, cứ gần đến Tết Nguyên Đán, Hội Ảnh Việt Nam Houston lại tổ chức sinh hoạt triển lãm tranh của các hội viên. Hội Ảnh Việt Nam Houston được thành lập cách đây 27 năm và đây là lần thứ 21 Hội tổ chức triển lãm nhiếp ảnh nghệ thuật tại khuôn viên Hong Kong City Mall, một trung tâm mua bán lớn nhất của cộng đồng người Việt tại thành phố Houston. Lồng trong những sinh hoạt nghệ thuật là buổi trình diễn thời trang áo dài truyền thống Việt Nam do quý hội viên, quý thân nhân và thân hữu đảm trách. Kim Phượng rất vui được góp mặt  cùng các chị em NAG- HAVH khác hiện diện trong buổi trình diễn này.
 
Xin kính gởi Diễn Đàn GNST vài hình ảnh do anh Trần Đào Khôi ghi lại.
 
Xin cám ơn chị Hồng Vân đã giúp thực hiện 1 video clip rất công phu và đầy nghệ thuật.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
   
 
 
 
 
 
 
 
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
TÌNH XUÂN - Lê Đức Long - Vũ Khanh ♡ ♡♪♫•*¨*•.¸¸♪♫•*¨♪♫•*¨*♡ ♡
HỘI ẢNH VIỆT NAM - HOUSTON Mừng Xuân CANH TÝ (2020) 
 
 
 
Kim Phượng
Houston Jan, 21/2020
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Xem thêm...

Mỗi Năm Hoa Đào Nở... - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Mỗi Năm Hoa Đào Nở...

  Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Image result for Mỗi Năm Hoa Đào Nở... - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 Một bình rượu, một khay trà

Một đôi bạch lạp, giấy hoa bút vàng
Nghe hơi gió chuyển mùa sang
Tuổi già cám cảnh đôi hàng rụng rơi   
                                              

Chuyện em muốn thưa với bác năm cùng tháng tận buồn tình khề khà thơ lão bạn thâm căn cố cựu. Chưa kịp nghe hơi gió chuyển mùa sang, chợt nhớ trong nhà có một khay trà đâu đó. Chả là nhăm thu trước sắm nắm được bộ ấm cổ giả Giang Tô gan gà. Mới quá mất vui, em bèn chôn dưới gốc cây mai, và nhủ thầm: Mai này bộ ấm trà lạc tinh cũ rích, thua gì bộ ấm Mạnh Thần của cụ Nguyễn trong Vang bóng một thời.

Tạm hiểu em vừa thêu dệt xong cái khuôn của bài khảo chữ này, thưa bác.

Chẳng giấu gì bác, bấy lâu nay em sáng dăm ba chén, chiều làm một vài chung. Tỉnh giấc mơ trần, em lại trở về trần ai một cõi cùng ba khóm tùng, bụi trúc, rồi thẫn thờ với ai ra bến nước trông về Bắc, chỉ thấy mây trôi chẳng thấy làng. Mặc dù chẳng biết quê nhà mịt mùng ở nơi đâu, chỉ bàng bạc đến cành đào đất Bắc năm xưa đeo đẳng với em không thôi. Bởi dòm cành đào nghiêng ngả trên báo Tết, bụng dạ lại chộn rộn tợn, mặc dù chả biết hoa đào năm ấy nó… cười nhăn nhở gió đông ở khổ nào (Đề tích sở kiến xứ - Thôi Hộ). Cuối năm ôn cố tri tân, dều người ra với ông thầy tu để tóc dài, mặc áo nâu sòng. Một ngày ông ngồi bó gối ngoài vườn đằng sau chợ Tân Định ngắm cái gò mối nổi u, từ khoẻn vườn ông bật ra câu thơ (trong bài Động Hoa Vàng) lên non cuốc sỏi trồng hoa, xuôi thuyền lá trúc la đà câu sương. Từ gò mối, ông đùn ra câu thơ (trong bài Ðưa Em Tìm Động Hoa Vàng) rằng xưa có gã từ quan, lên non tìm động hoa vàng ngủ say. Đến câu động nam hoa có thiền sư, đổi kinh lấy rượu tâm hư uống tràn.

Related image

Vậy chứ thông thiên địa nhân viết nho như bác, nhờ bác kiến ngã giùm phải chăng Nam Hoa đây là Nam Hoa kinh của người Trang Tử. Nếu vậy Trang Tử đâu phải thiền sư mà là… đạo sĩ. Em lại nghĩ quẩn khi không ông thầy tu mang con chim gì gì ấy vào thơ con chim chết dưới… cội hoa, tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao. Dám là…con hạc lắm ạ! Bác cười ruồi mà rằng em ngồi không nên rồ chữ, sao không gọi con hạc là… con vạc. Bởi ông thầy tu “lên non cuốc sỏi trồng hoa” rồi bước xuống bờ kinh lấy nước tưới hoa hỏi con vạc hỏi con vạc đậu bờ kinh, cớ sao lận đận cái hình không hư. Con vạc bèn đáp vạc rằng thưa bác Thiên Thư, khoác chi cái áo thầy tu ỡm ờ.

Nom dòm bác cũng hóm gớm, tuy nhiên trộm thấy bác mặt ngầy ngật như say thuốc lào ấy! Ấy bu nó là dân “ri cư” Cái Sắn, để em bảo bu nó dọn thuốc lào mời bác sơi. Nhắc đến hai chữ “ri cư”, em nhớ năm 75 qua đây, năm hết Tết đến ngồi ngoài vườn nhìn cây cảnh qua ngày tháng thiếu vắng, em bất giác bồi hồi không thấy hoa nở chẳng biết xuân về hay chưa. Nhưng vạn sự giai không ấy là thơ của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm mà người sau thuổng đỡ làm nhạc tân thời. Đó là hai câu thấy nguyệt tròn thì kế tháng, nhìn hoa nở mới hay xuân trong bài Thú tiêu dao của cụ Trạng. Bất tri tam bách dư niên hậu, hậu sự cụ Trạng mang dây ba-trạc, đầu đội mũ sắt, đeo ba lô vào rừng, gác súng M16 bên vai, chằm bằm ngắm hoa mai nở mà chính mình cũng chả hay. Nhẽ này Sấm Trạng Trình chả luận bàn tới. Bậy thật, thưa bác.

Tiết xuân năm nay điểm tí nắng hanh, em ghé vựa cây thửa cây mai về trồng. Chung quy tại em tối ngày vất vưởng với cái đĩa Mai Hạc của cụ Nguyễn Du có câu thơ nghêu ngao vui thú yên hà, mai là bạn cũ hạc là người quen. Nói cho ngay hai câu thơ đây trong bài Thú Yên Hà và... cũng của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm khi cụ cáo lão về hưu. Bác khẽ đánh mắt một cái gật gù ra ý cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm từ dịch lý qua dịch học để có Mai Hoa dịch số, tới cụ Nguyễn Du với người tình ba năm tên Hồ Phi Mai ngẫm ngợi thế mà hay: Vì có trùng một tên… mai. Ấy mà hay thật cũng nên, vì đang em đậm đà với cả hai cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du đều có cái thú ăn thịt… cầy như em. Như cụ Trạng với thịt chó ăn hoài gặp… chó dại. Còn cụ Nguyễn Du viết… nguyên con trong Hành lạc từ tội gì ngàn năm lo, có chó cứ làm thịt, có rượu cứ nghiêng bầu, được thua trên đời chưa dễ biết. Ấy thế mà sống trên đời gần chót đời, để rồi bây giờ bỗng dưng em ôm rơm rặm bụng với… con hạc chết tiệt của ông thiền sư ăn mặn vừa rồi.

Từ con hạc, em mạn phép bác nhai văn nhá chữ với Mai thê, hạc tử, và Hạc nhi. Để rồi nỗi buồn chạm mặt đó là điển tích điển cố và hình tượng chim hạc đã lững thững đi vào văn học Trung Hoa từ 3000 năm qua Mai hạc kinh: Vì hạc có thể sống hơn sáu mươi năm, thọ nhất trong các loài điểu thú, dài hơn tuổi ngũ thập tri thiên mệnh của người Tàu thời xưa. Bởi thế hạc biểu tượng cho chữ thọ, để có tuổi hạc, tuổi vàng. Nếu Nam Tào Bắc Đẩu có sổ toẹt thì thôi cũng đành… “hạc nội mây ngàn” để… cưỡi hạc về quê. Bằng vào nhiễu sự ấy, các danh họa Trung Hoa thường kết hợp hạc đậu trên cây tùng, với nỗi niềm có thêm cây tùng thì sống… dai dẳng hơn. Nhưng khổ nỗi đó là bố cục chéo cẳng ngỗng, vì giống hạc lẩn thẩn ở đầm lầy, không sống ở trong rừng và không đậu được trên cây vì móng chân của hạc quá ngắn.

Related image

Bác ngúc ngắc đầu ra điều chuyện chẳng ra chuyện với con hạc ở bên Tàu, nhưng bác nào có mục sở thị con hạc Tàu bay lạc qua nước ta thì khác. Số là thời Xuân Thu, có tượng Liên hạc khắc con hạc đứng ngay đơ giữa đài sen. Ngẫu sự con hạc Tàu bay qua ải Nam Quan sang nước ta, hạc rời bỏ tòa sen nhảy tót lên lưng con rùa, chỉ vì “hai chữ thọ” gặp nhau nên ca dao ta có câu “Thương thay thân phận con rùa, lên đình đội hạc xuống chùa đội bia”. Vì vậy vô phép vô tắc, em xin thưa với bác trước, nếu bác có hạc nội mây ngàn, em sẽ vào… chùa dâng hương cúng bác. Ở chùa, hạc là quan văn nên nhảy tót lên bàn thờ lo việc nhang đèn. Trong khi ấy với trường thi và quan trường, cử nhân là “cử” người ra làm quan, tú tài là người có “tài” ra giúp nước. Thời nhà Nguyễn, thi hương không đỗ để làm Hương cống hay cử nhân, mà chỉ đội sổ là tú tài làm lại viên ở huyện, ở phủ. Tên được yết ở bảng vẽ cành mai là… Mai bảng.

Chuyện chẳng ra chuyện như chó nhai giẻ rách thế đấy, thưa bác.

Nói về hạc mà em không phang ngang bửa củi đến Hoàng Hạc lầu trong thi ca của văn học Trung Hoa là… có tội với thi nhân đời Đường: Kiến trúc này nằm trên đỉnh núi Hoàng Hạc ở Nam Trường Giang. Chủ nhân họ Tân giao du rộng, nên các văn nhân mặc khách thường lui tới đây uống rượu ngắm cảnh… hạc nội mây ngàn.

Related image

Cứ theo gia phả của cụ Ngộ Không thì cụ cao tằng tổ tổ họ Phí theo sách Thái Bình vũ ký ghi: Có người nước Thục tên Phí Văn Vỹ, theo sách Đồ kinh tu thành tiên, thường cưỡi hạc và nghỉ ngơi ở lầu này nên đặt tên là Hoàng Hạc lầu. Từ tích theo sách Đồ kinh, một họa sĩ nào đó để lại trên tường bức tranh Vũ hạc, vẽ hạc múa sống động…như thật. Người Thôi Hiệu nghe tiếng, bèn tìm đến đề thơ Hoàng Hạc lầu có câu “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản – Bạch vân thiên tải không du du”.     

Thơ thẩn như vậy là nhất với chiếu hoa một cõi, nhưng nghe óc ách sao ấy. Phải đợi đến cụ Tản Đà chỉ cần vẩy mực nhẹ hai câu cái hạc bay lên vút tận trời, trời đất từ nay xa cách mãi. Thế là hạc bay cái vù, lại bay đẹp nữa mới tuyệt bút. Nhưng chả phải đợi cụ Tản Đà, trước đó người Lý Bạch mon men tới uống rượu ngắm hoa và cũng bon chen thơ thẩn “Hơàng Hạc Lâu trung xuy ngọc địch - Giang thành ngũ nguyệt lạc mai hoa”. Xin thưa với bác thi hào, thi bá Trung Hoa có gật gịa hạc vàng, hạc trắng gì gì chăng nữa thì câu: Giang thành ngũ nguyệt lạc mai hoa, em hiểu lơ mơ lỗ mỗ là ngắm mai rụng vào tháng năm. Với em quanh quẩn nơi xó vườn, nên đóan chừng người Lý Bạch ực rượu, ngất ngư làm thơ ngắm… mai hoang, mai dại đấy thôi, thưa bác.

Bác lễnh đễnh cây mai này bác đã nhòm thất tận mắt ở bên… Nhật, tên nó là Toyo Ashitaba Nishiky. Cây mai Nhật đây có hai màu hồng hồng và đỏ như xác pháo. Bác thở ra Đường thi, đường mòn khó nhai lắm. Vì có tích Lý Bạch thấy Thôi Hiệu viết thơ lên vách bèn khóc thét lên rằng “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc - Thôi Hiệu đề thơ tại thượng đầu” nên… tịt, do đó ấy chỉ là giai thoại. Như giai ngẫu Trương Kế đậu thuyền giữa đêm khuya, bỗng nghe tiếng đại hồng chung bật ra hai câu thơ cuối trong Phong kiều dạ bạc. Để cụ Tản Đà lại vất vả diễn thơ thuyền ai đậu bến Cô Tô, nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San. Nhưng cụ núi Tản sông Đà nào có hay sư ông, chú tiểu bộ mất ngủ sao, giữa khuya khua chuông ầm ĩ thì ông cố nội ai mà ngủ được hả bác.

Related image

Đang luận về thơ Đường, em chợt nhớ bức tranh Đạp tuyết tầm mai của Ngô Tuấn Khanh vẽ lão ông đội nón mê, tay nắm gậy lom khom đi tìm… hoa mai. Em lại vất vưởng tới bức Thạch đào của Vương Du vẽ đào với chim. Được thể em ba điều bốn chuyện vùng Lào Kai có loài chim ngói ăn đào từ bên Tàu, chúng tha hột về và đánh rơi trên tiền núi biên thùy. Hạt đâm chồi, mọc cây, có cây cổ thụ sống cả trăm năm, thân cây ba, bốn người ôm không xuể. Các cụ ta chặt cành đào đặt góc bếp trong đêm Ba Mươi để trừ ma quỷ. Sau thấy hoa đào đỏ như xác pháo, tượng trưng cho ngày Tết. Tháng Giêng rét đài, Tháng Hai rét lộc, Tháng Ba rét Nàng Bân, mùa đông càng rét mướt, hoa đào càng càng rộ hoa đỏ tươi. Mỗi năm thời tiết mỗi đổi thay, đang đông lại chứa thu, trong đông lại ẩn xuân. Chính sự nghịch lý của đất trời đã làm hỏng sự tuần hoàn của những cánh đào, hoa không thắm mà lại hồng hồng. Nên được gọi là… đào mơ.           

Ừ thì mộng với mơ cho lắm, cũng đến lúc bác và em nên dãi nắng dầm mưa với cây mai của miền Nam mưa nắng hai mùa với Tháng Sáu trời mưa, trời mưa không dứt. Số là họ hàng hang hốc nhà mai nhiễu sự gì đâu với tên cũ xưa là… Lạp Mai, xuất xứ từ… Chân Lạp. Nặng nợ với sử thi, chúa Nguyễn Hoàng rong ruổi theo chân người Chàm xuôi Nam. Nhà chúa mang cây mai vàng từ núi Cổ Mông tức núi Hoàng Mai (cụ Đào Tấn) thuộc đất Bình Định, theo cuộc Nam tiến lưu lạc vào Hà Tiên. Vùng này có giống mai trắng bốn cánh là một loại mai hiếm và quý, vỏ cây hơi đỏ được tìm thấy ở núi Bình San, khu lăng tẩm họ Mạc. Mai năm cánh mọc trong rừng sâu là giả mai, thân cao, cành sần sùi. Mai ở trên núi được gọi là lãnh mai, cây thấp, cành mảnh mai. Thời tiết càng nóng, mai càng nở vàng đậm.

hoa mai baum ochna

Ở Biên Hòa, xưa kia là Cù Lao Phố, ở vùng núi Châu Thới (suối Lồ Ồ), Bửu Long cũng có lãnh mai hoa và lá nhỏ do cụ Đào Tấn mang từ Bình Định vào. Riêng bạch mai rất hiếm, theo cụ Vương Hồng Sển chỉ có một cây duy nhất lại ở trong… trại tù Cây Mai. Em xin phép bác vẽ rắn thêm chân, bởi cụ Vương ngồi nhà vẽ vời ấy thôi. Vì sau 75, sử gia Phạm Văn Sơn bị tù trong trại tù Cây Mai, ông nom dòm ấy là… cây mù u. Em năng chặt bị cây mù u người Nam kêu là “cây sầu đâu”, người Trung gọi là “cây sầu đông”, người Bắc ới là “cây xoan” vì hoa màu tím, em mà nói sai bác cứ vả mồm em nha.

Bác thủng thỉnh rằng “rết” chứ chả là... rắn từ Tàu có câu họa xà thiêm túc. Vì Ta học Tàu chữ nghĩa cường điệu như Việt điểu sào Nam chi nên cụ Phan Bội Châu lấy hiệu là Sào Nam. Như giai thoại Trương Kế, bác đưa em xuống thuyền ở “Ông già Bến Ngự” chỗ cụ Phan ngồi câu cá, em chả thấy tổ chim nào ở phía Nam gì sất. Bác dẫn em lên chùa gần đấy ắt nghe sư đánh chuông… giữa trưa. Chùa núp bóng cây sung già cỗi, có nhà sư ẩn tu gõ mõ sớm chiều đem lại sự lắng dịu trong lòng người… “ẩn sĩ”. Cây sung tượng trưng cho ẩn sĩ, vì hoa… ”ẩn núp” trong trái gọi là ẩn hoa.

Theo em chữ nghĩa dùi đục chấm mắm cáy em chả dòm thấy ẩn tu, ẩn sĩ với thân cây sung sù sì, quả xanh non dầy như rận bám dái trâu. Thế nên mạn phép bác, em… cóc cáy về mấy cái tên ngữ danh đi với địa danh như… ”Giang mai” và… ”Xiêm la”, ấy bác đừng bốc nhằng là… ”tiêm la” nha, tội chết. Bác nắng nỏ là “bồ dục” chứ chả phải là… dùi đục. Dạ thì bồ dục chấm mắm cáy với tên gọi cỏ cây, em cứ đồng bái quê mùa cây trái giống cái vú bò, gọi là cây vú bò. Quả giống dái dê, kêu cà giựt là cà dái dê. Mai, đào, mận, mơ cùng một giuộc, nên mới có câu cành mai, gốc đào, chồi mận, lá mơ. Mai là tên dân dã, chữ Hán gọi là lý. Mơ là chữ Nôm, chữ Nho là đào. Các cụ đặt tên con gái bằng tên các lòai hoa Đào, Mai, Lan, Lý, rồi gật gù… mặn mà cả tư, thế đấy thưa bác.

Qua tên họ, em gà gật trở lại cụ cao tằng tổ tổ họ Phí của cụ Ngộ Không với họ Tàu tàu, Lưu Bị chả ra Lưu Bị, Tào Tháo chả ra Tào Tháo, tào lao thì có. Vì ăn khoai môn ngứa miệng, em buồn răng ngứa miệng với cụ cửu huyền thất tổ của họ Phí là cụ danh họa Phí Mễ chỉ vẽ… đá. Vẽ rồi cụ cúi đầu lạy hòn đá là… nhạc gia. Thế là em với một ngón tay mổ chữ như cò mổ ruồi trên bàn gõ, mõ sớm chuông chiều bài tạp chữ này. Thề đứa nào nói láo ông táo đội nồi cơm, em ớ ra mình đang ngồi trong vườn hậu duệ, hậu thân của cụ Phí Mễ chỉ toàn đá là đá có tên... Thạch trúc gia trang.  

Related image

Bác dạy... “phí“ thật, vì cũng là cái danh sao không… rách chuyện với giai thoại lưu danh thiên cổ Nhất chi mai của sư Tuệ Kỷ đời Đường “Tiền thôn thâm tuyết lý - Tạc dạ sổ chi khai”, là ngoài đầu thôn, trong tuyết dầy, đêm qua có mấy cành mai nở. Sau Trịnh Cốc thay chữ “sổ” bằng chữ “nhất”, từ… nhất tự thiên kim Tuệ Kỷ cúi đầu nhận Trịnh Cốc là… nhất tự sư. Cũng là sư, thiền sư Mãn Giác, tôn sư của vua Lý Nhân Tông, có bài Cáo tật thị chúng thâm viễn hơn “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận - Đình tiền lạc dạ nhất chi mai”, diễn nôm là đừng ngỡ xuân tàn hoa rụng hết, đêm qua sân trước lạc một cành mai. Ở đây “xuân tàn” là trầm luân, “hoa lạc tận” là hư vô, giữa mê và ngộ, phân ra hữu và vô, có và không. “Nhất chi mai” chính là giác ngộ với trong sinh có diệt, trong diệt có sinh. Các cụ nhà Nho ta xưa … thiền sư mả thế đấy. Khác hẳn thiền sư thời nay rằng thưa bác Thiên Thư -  Khoác chi cái áo thầy tu ỡm ờ.

Thêm chuyện đời Trần “Nhất chi mai”… lạc đường vào lịch sử: Chuyện là trên thuyền Hồ Quý Ly đọc truyện Quảng hàn cung lý nhất chi mai giống chuyện cổ tích của ta trên cung trăng có chú cuội và cây đa. Ngày nọ vua Trần nghỉ ở điện Thanh Thử, nhân đó vua ra câu đối Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế, với nghĩa trước điện Thanh Thử có cả ngàn cây quế. Hồ Quý Ly nhớ lại chuyện chú cuội và cây đa liền đối ngay: Quảng Hàn cung lý nhất chi mai. Vua giật mình hỏi sao biết chuyện vua đang sửa sọan dựng cung… Quảng Hàn cho công chúa tên… Nhất Chi Mai. Họ Hồ tình thực trả lời, vua Trần cho là số trời nên gả công chúa cho, sau Hồ Quý Ly soán ngôi nhà Trần.

Vô hình chung sử nhà lật sang chương khác: Vì… một cành mai.

Năm mới nói chuyện cũ, em muốn eo sèo với người trăm năm nặng nợ với mai.

Thời Tự Đức, nhân quy kỳ hà nhật thị, lão tận cố hương mai, trên đường hồi cố quận, cụ Cao Bá Quát ghé thăm bạn đồng liêu là cụ Đào Tấn ở Đào mai viên, thuộc Bình Đinh. Cụ Đào Tấn làm quan đến chức Thượng thư bộ Công, là người chuộng mai cụ để lại bộ Mộng mai từ lục, bút hiệu Mai Tăng. Trong đó cụ đề cao cái thanh nhã của mai với Tứ đức: “Cao, tú, nhã và đạm”. Mai cũng biểu tượng tình bằng hữu qua câu Tuế hàn tam hữu: “Mai, tùng và trúc”. Cụ Cao Bá Quát, về lại chốn cũ cố viên hồi thủ bất tăng bi, bạn xưa chẳng còn nữa, ngoài nỗi buồn hiu quạnh cùng những gửi gấm niên nào của cụ Đào Tấn với mai mốt non mai ta gửi xác, để cho mai dỗ giấc mai tăng. Cụ Cao tìm đến chân núi Hòang Mai viếng mộ chí của cụ bạn già đã quá vãng để lại câu di cảo mai sơn tha nhật tàng mai cốt, ưng hữu mai hoa tác mộng hồn.

***

Từ nấm mộ cụ Mai Tăng u lên dưới chân núi Hoàng Mai, tiếp đến em sa đà tới gò mối của thiền sư mặc áo nâu sòng, đầu để tóc dài đã đẩy đưa em đến với bác qua câu: chân chim nào đậu bên cồn, ngược xuôi có kẻ lại buồn dấu chim (Ðưa em tìm động hoa vàng – PTThư). Khúc cuối bài tạp chữ này, em thêm chữ, bớt câu lặn lội theo những bước chim di của một người di tản buồn qua truyện ngắn dưới đây, thưa bác…

(…) Truyện viết về một cụ ông Bắc Kỳ 54 đành chọn nơi này làm quê hương thứ hai, cuối đời nhờ con cái để lại cho căn nhà cũ che mưa che nắng. Một ngày, cụ bắt gặp một đàn kiến lũ lượt từ ngoài vườn bò vào nhà. Cụ tẩn mẩn ngắm chúng hàng giờ và bâng khuâng vì thấy chúng giống như cụ chạy loạn trên đất Bắc năm nảo năm nào. Lát sau, chúng lếch thếch vác cơm nguội rơi rớt của cụ ra ngoài. Nhìn đàn kiến, cụ hình dung đến cuộc di cư vào Nam tay gánh tay gồng như mới đâu đây.

Buồn tình cụ lẩn thẩn theo chúng ra ngơài vườn. Nhìn tổ kiến u lên một đống, cụ chẳng hoang tưởng như lên non tìm động hoa vàng… ngủ quên. Cụ ngồi bệt xuống mấy cọng cỏ, tỉ tê với chúng những chuyện gần xa của quê cha đất tổ. Cụ lan man với chúng qua khóm tre bụi chuối, nhà ngang, nhà chái bàng bạc ao vườn này kia, kia nọ.

Image result for Mỗi Năm Hoa Đào Nở... - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Cụ rì rầm với đàn kiến về 40 năm bèo giạt mây trôi của cụ: Cụ vào đến Cái Sắn, chưa rít hết điếu thuốc lào ba sô 8 thì đụng đầu cái chát năm Ất Mão 1975, lại tay xách nách mang xuống thuyền khăn gói gió đưa lếch thếch qua mảnh đất này và cụ cày như…vạc. Cụ thở ra, bây giờ sắp bước qua năm Ất Mùi 2015. (…)     

Vội năm vội tháng ai lại vội ngày, trời chưa tối đất, còn sớm chán mà, hượm hãy về thưa bác. Chết chửa đã bấy lâu nay bác tới nhà, vườn rộng rào thưa khó đuổi gà, để em bảo bu nó bắt… con vịt làm tiết canh. Trong khi chờ đợi, em thông ống điếu mời bác sơi thuốc cái đã… Thuốc lào ba sô 8 Cái Sắn của bu nhà em đấy, thưa bác.             

Với năm Ất Mùi tới đây, vậy là đã 40 năm chẵn, bất chợt em chợt dạ quan hoài đến một vũng tang thương nước lộn trời vào cái năm 75. Thế nên em vay mượn hình bóng cụ ông trong những ngày chập choạng nắng quái chiều hôm, suốt ngày quanh quẩn trong vườn nhà. Thêm đất trời buồn rười rượi như cơm nguội chiều đông, với chuyện của cụ ông, em lại hiu hắt đến Nguyễn Bính qua Hành phương Nam với quê ta xa mãi bên kia biển, chỉ thấy tơi bời mây trắng vương.

Vương vấn với chúa Nguyễn Hoàng mở mang bờ cõi về phương Nam: Cây mai đi đến đâu, dân tộc Chàm mất đất đến đó. Chơ vơ còn lại là những tháp Chàm qua những lớp sóng phế hưng. Cũng qua một vũng tang thương nước lộn trời, bác và em như những người viễn xứ u hơài vọng cố hương trong những ngày cuối năm hình ảnh ngày nào còn đang lẩn khuất. Năm 54 xuôi Nam theo những bước chim di của chúa Tiên, bác và em chỉ mang theo hoa đào năm ấy còn cười gió đông qua tâm tưởng. Năm 75 vượt biên, vượt biển qua đây, với lịch sử là một cuộc tái diễn không ngừng, cả hai bỗng khi không hóa thân vong quốc như người Chàm lúc nào không hay, thưa bác.

Bác và em, khác gì “Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân - Tương phùng hà tất tằng tương thức”, là cùng một lứa bên trời lận đận, gặp gỡ nhau lọ đã quen nhau. Nay nhân giải cầu vong niên cửu trùng tri ngộ, cùng hoài cố quận qua cành mai, nhánh đào.

Mỗi năm hoa đào nở
Lại nhớ cánh mai vàng
Related image

Bác làm như trầm luân trong bể phù sinh và thở hắt ra sẵn cái mạch quê hương bản quái vạn kiếp tha phương nghìn đời thêm thảm ấy, thì… Ừ thôi thì một ngày nào đó không có mây sao có mưa, bác và em hãy hồi bản trạch để giối già một lần cho nhẹ mình nhẹ mẩy tưởng tượng ta về nơi bản trạch, con còng ẩn nhẫn bò quanh quẩn. Hay ta về tắm lại dòng sông cũ, truy tầm mê mỏi lý sơ nguyên. (Tô Thùy Yên).

Chẳng giấu gì bác, em hơn một lần đã

ta về tắm lại dòng sông cũ…                                                                    
Thì về với bến sông xưa
Hút tàn điếu thuốc mà chưa gọi đò
Nhìn theo ngọn khói vu vơ
Nhớ thương thì có, đợi chờ thì không                                                                
 
Thạch trúc gia trang
Ất Mùi 2015
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
(cắt tỉa cho Tết năm 2020)                                                                                  

Nguồn: Cung Vĩnh Viễn, Hồ Tấn Nguyên Minh, Tô Hoài, Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Thái Văn Kiểm, Xuân Sách

 

Thanh Hương sưu tầm

 

Image result for Mỗi Năm Hoa Đào Nở... - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Xem thêm...

Ý Nghĩa Các Loại Tranh Treo Ngày Tết - Đỗ Chiêu Đức

Ý Nghĩa Các Loại Tranh Treo Ngày Tết

  Đỗ Chiêu Đức

♤■♤■♤♤■♤■♤

 

1. Về tranh Cửu Ngư Đồ 九魚圖:

Cửu 九 là số Chín, lại đồng âm với từ Trường Cửu 長久 là lâu dài. Ngư 魚 là Cá lại đồng âm với Dư 餘 (âm Quan Thoại) là Dư Dả, Có Thừa, lại vẽ chung với hoa sen là Liên Hoa 蓮花, đồng âm với Liên 連 là Liên Tục 連續, không gián đoạn. Nên tranh Cửu Ngư vẽ chung với hoa Sen, có nghĩa là: Luôn luôn sung túc dư dả có thừa liên tục mãi mãi!

 2. Tranh Cá Chép:

Tất cả các tranh cá đều có nghĩa là "Hữu Dư 有餘 "(do âm Quan Thoại Dư 餘 và Ngư 魚 đồng âm). Có Cá tức là Có Dư, Dư ăn dư để. Tranh Cá còn mang 2 Ý chính sau:

* Như Ngư Đắc Thuỷ 如魚得水: Ta nói là "Như Cá gặp nước!". Chỉ Như Ý, Thuận Lợi.

* Như Hóa Long Ngư 如化龍魚: là "Như Cá Hóa Rồng"chỉ sự đổi đời, thay đổi hoặc thành công vượt bực.

Ngoài ra còn rất nhiều loại tranh cá khác như:

* Ông Câu ôm con cá lớn với hàng chữ: Ngư Ông Đắc Lợi chỉ trong năm sẽ được cái lợi như của Ngư Ông, cái lợi nhẹ nhàng ít tốn nhiều công sức như trong thành ngữ "Cáp Bạng Tương Tranh, Ngư Ông Đắc Lợi". 蛤蚌相爭,漁翁得利。" Ta nói là "Ngao Sò tranh nhau, ngư ông được lợi".

* Tranh các đứa bé ôm con cá, lấy Ý "Tử Tôn Hữu Dư", vừa có nghĩa "Con Cháu có Thừa" vừa có nghĩa "Có thừa Con Cháu!". Tranh nầy thường có hàng chữ "Niên Niên Hữu Dư 年年有餘 ". Có nghĩa: Mỗi năm đều dư ăn thừa mặc.



3. Tranh Hoa Mẫu Đơn:

Nhớ bài Học Thuộc Lòng hồi nhỏ, Á Nam Trần Tuấn Khải đã viết:

... Mẫu Đơn hương kín thơm xa,
Liễu rơi trước gió ngỡ là bướm bay...

Hương kín thơm xa, nên Mẫu Đơn được phong tặng là Phú Quý Chi Hoa (Hoa tượng trưng cho sự Phú Quý). Ngoài ra, Hoa Mẫu Đơn còn được xem như là một loài hoa Vương Giả Không Sợ Quyền Uy, theo tích sau đây:

Khi đã lên ngôi và xưng là Châu Thiên Tử xong. Có một năm vào cuối đông khi Tết gần kề, Võ Tắc Thiên thấy mai vàng trong cung đều nở hoa rực rỡ, đang cơn tửu hứng, bèn cất bút viết lên một đạo Thánh Chỉ của nhà Vua thành một bài thơ như thế nầy để ra lệnh cho Chúa Xuân:

明朝遊上苑,火急報春知;
花須連夜發,莫待曉風吹。

Minh triêu du Thượng Uyển,
Hỏa tốc báo xuân tri.
Hoa tu liên dạ phát,     
Mạc đãi hiểu phong xuy!

Có nghĩa:

Sáng mai ta du Thượng Uyển,
Hỏa tốc báo Chúa Xuân hay,
Hoa phải nở liền đêm lạnh,
Trước khi gió sớm hây hây!

Nói cũng lạ, sáng sớm hôm sau, Võ Tắc Thiên dẫn hết quần thần ra Ngự Hoa Viên để ngắm hoa, thì tất cả các hoa đều nở rộ trong đêm cả rồi, muôn hồng ngàn tía, sắc màu rực rỡ khắp nơi. Võ Tắc Thiên rất đẹp Ý, duy chỉ có một loài hoa không chịu nở, chính là Mẫu Đơn đó vậy! Võ giận cho loài hoa dám không tuân chỉ, mới hạ lệnh nhổ hết cả ngàn gốc Mẫu Đơn và ra lệnh đày xuống vùng Mang Sơn của đất Giang Nam. Và... "Nói cũng lạ", năm sau Mẫu Đơn bén rễ và nở đầy cả đồi núi Giang Nam một dãy...

Trở lại với tranh hoa Mẫu Đơn, thường thì trên bức tranh luôn luôn có kèm theo 4 chữ "Hoa Khai Phú Quý" nên không cần phải giải thích nữa!

 4. Tranh Hoa Sen:

Sen là Liên 蓮 đồng âm với Liên 連 là  Liên Tục. Sen cũng còn được gọi là Hà Hoa chữ Hà 荷 đồng âm với chữ Hòa 和, là Hòa Thuận, Hòa Hợp.

Ngoài ra, Sen còn là biểu tượng của người Quân Tử trong sạch thanh cao, do câu nói "Liên xuất tự trọc nê, hữu Quân tử chi thanh đức 蓮出自濁泥,有君子之清德。Có nghĩa: Sen mọc ra từ bùn sình dơ dáy, nhưng lại có cái đức thanh cao của người quân tử. Trong tiếng Việt ta cũng có câu khen tặng bông sen là: "Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" mà! Nên...

Tranh Sen chỉ để tặng cho những người làm các nghề thanh cao chính trực, như Nhà Văn, nhà Giáo, nhà Báo, Luật Sư...



5. Tranh Tùng Bách:

Tùng Trúc Mai là "Tuế hàn tam hữu" 歲寒三友. Cuối năm mùa đông lạnh lẽo, các loại cây cỏ khác đều chết rụi cả, chỉ có 3 người bạn Tùng, Trúc và Mai là còn xanh tốt và phát triển mà thôi! nên Tùng Bách tượng trưng cho sự bền bĩ, dẻo dai, chịu đựng bất chấp thời tiết khắc nghiệt, vẫn vươn lên xanh tốt như thường! Ngoài ra, Tùng Bách còn có thân cây to lớn, tán lá rộng rãi là nơi núp bóng và che chở lí tưởng cho các thảo mộc thấp hèn yếu đuối khác dễ "núp bóng tùng quân!".

Tranh Tùng Bách thường có 4 chữ "Tùng Bách Trường Thanh" 松柏長青. Có nghĩa Tùng Bách luôn luôn trường kỳ xanh tốt. Thích hợp để tặng cho Khai trương, Tân gia, Chúc Thọ. Nếu Chúc Thọ thì chỉ thích hợp tặng cho đàn ông, không thích hợp tặng cho các bà.

 

6. Tranh Hoa Lan:

Lan có nét đẹp thanh thoát, mềm mại, đầy tính nghệ thuật. Hoa Lan lại có mùi hương thoang thoảng nhẹ nhàng dễ làm say đắm ngất ngây lòng người. Chả trách từ xưa cổ nhân đã ca ngợi: "Lan sanh ư u cốc, vi vương giả chi hương 蘭生於幽谷為王者之!Có nghĩa: Hoa Lan sanh ra trong những sơn cốc thâm u, nhưng lại có mùi hương của bậc vương giả! Trong Cung Oán Ngâm Khúc Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều cũng đã từng thương tiếc:

Lan mấy đóa lạc loài sơn dã,
Uổng mùi hương vương giả lắm thay!

Tranh Hoa Lan chỉ thích hợp dùng để trang trí phòng khách, thư phòng... và chỉ thích hợp dùng để tặng cho các Bà các Cô mà thôi!


7. Tranh Rồng Ngựa Hổ:

Rồng Ngựa là Long Mã, linh hoạt và uyển chuyển như Rồng, nhanh nhẹn và xông xáo như Ngựa. Hai con vật: Một Huyền thoại, một thực tế tượng trưng cho sự hoạt động mạnh mẽ liên tục không ngừng nghỉ, không chồn chân, không lười biếng. Đó là cái tinh thần của Long và Mã. Các công ty, công xưởng, khi khai trương hoặc khi nghỉ Tết vào thường hay dán câu "Long Mã Tinh Thần" ở nơi làm việc và sản xuất để nhắc nhở nhân viên, công nhân phải làm việc lại với cái tinh thần xông xáo như rồng như ngựa vậy!

Về Tranh thì... trừ phi những người tuổi Thìn, hoặc tuổi Dần thì mới tìm mua tranh Rồng và Cọp, còn bình thường thì không ai dại gì rước Cọp về nhà, càng không có ai dám tặng Cọp cho người khác, nhất là lại vào dịp Tết nhất. Cọp là dã thú hung ác không thích hợp để treo và tặng. Nhưng nếu lỡ... có một bức tranh cọp trong nhà, thì nhớ treo làm sao cho cái đầu cọp hướng ra ngoài, để cọp... giữ nhà, chớ treo cọp quay đầu vào, nó sẽ... cắn hết những người trong nhà đó! Tranh vẽ cọp thường có 4 chữ: Khiếu Chấn Sơn Hà 嘯震山河. Có nghĩa: Tiếng gầm thét vang động cả núi sông! để chỉ cái Uy Vũ của Chúa Sơn Lâm.

Tranh Rồng, nếu có treo và tặng cho ai, thì cũng thường thấy 4 chữ "Vọng Tử Thành Long 望子成龍。" Có nghĩa: Ước mong cho con cháu mình, hoặc chúc cho con cháu người có được thành tựu vượt bực, trở mình hóa thân thành rồng!

Ngựa là tranh thường thấy nhất, 2 con, 4 con, 6 con, hoặc 8 con gọi là Bát Tuấn Đồ. Dễ tặng dễ treo vì luôn có 4 chữ Mã Đáo Thành Công 馬到成功, không cần phải giải thích mà ai nấy đều thích, đều mua, đều tặng, đều treo... nhan nhản khắp nơi!.

 

8. Tranh Dê:

Mùi: Đứng hàng thứ 8 trong Thập nhị Địa Chi, cầm tinh con Dê, từ Hán Việt là Dương 羊, đồng âm với Dương 陽 là Thái Dương, là Dương Khí sanh ra từ trời đất.
       Theo sách Chu Dịch. Sau tiết Đông Chí thì khí âm hàn bắt đầu tiêu thoái, và khí dương thì bắt đầu sanh trưởng, ta thường nghe các Thầy Bói gọi là Âm Tiêu Dương Trưởng, đêm sẽ ngắn dần, ngày sẽ dài thêm ra, cho nên Tháng Mười Một là tháng Tý, thuộc quẻ Phục 復 là Nhất Dương Sanh, Tháng Mười Hai là Tháng Sửu, thuộc quẻ Lâm 臨 là Nhị Dương Sanh, và Tháng Giêng là Tháng Dần, thuộc quẻ Thái 泰 là Tam Dương Sanh. Vì thế nên Tết Nguyên Đán của tháng Giêng mới dùng câu Tam Dương Khai Thái 三陽開泰 mà chúc mừng cho năm mới mở ra vận hội mới, lấy Ý chữ Thái là Lớn, là Thông, như trong tiếng Việt ta thường nói "Hết vận Bỉ rồi thời lại Thái", hoặc "Bỉ cực thì Thái lai" và "Hết cơn Bỉ Cực, đến hồi Thái lai". Có nghĩa: Hết lúc Bế tắt, nghèo khó thì đến lúc Hanh Thông, khá giả.....

Vì 2 chữ Dương đồng âm, nên ta thường gặp những bức tranh vẽ hình 3 con dê thay thế cho khí dương của trời đất mà chúc nhau bằng câu Tam Dương Khai Thái như ta thường thấy!

Tranh Dê rất thích hợp tặng nhau trong dịp Tết, để chúc cho đầu năm mở ra vận hội mới lớn hơn, phát đạt hơn năm rồi!.

9. Liễn Treo, Câu Đối:

Liễn treo và Câu đối ngắn để chúc Tết thì nhiều vô số kể! Tiêu biểu như:

Nghinh Xuân Tiếp Phúc 迎春接福: Đón Xuân đón luôn Phước vào nhà.

Hoa Khai Phú Quý 花開富貴: Hoa nở tượng trưng cho sự phú quí của gia đình.

Trúc Báo Bình An 竹報平安: Tre Trúc luôn xanh tốt trong mùa đông như đem lại bình an cho mọi người.

Mai Khai Ngũ Phúc 梅開五福: Hoa mai nở 5 cánh như mang đến 5 cái phước cho gia đình (5 cái phước đó là: Thọ, Phú, Khang ninh, Du hảo đức và Khảo chung mệnh. 五福 是: 寿,富,康寜,攸好德,考终命。Sống lâu, giàu có, mạnh khỏe, được tiếng tốt và chết an lành. Đó là 5 cái phước mà mọi người đều mong mỏi.)

Trúc Báo Tam Đa 竹報三多: Một chi nhỏ của nhánh trúc thường có 3 lá, như điềm báo mang đến 3 cái nhiều (Tam Đa) mà người ta thường mong mỏi. Đó là: Đa Phúc, Đa Thọ, Đa Nam Tử 三多 是:多福,多寿,多男子。Nhiều phước, nhiều thọ, nhiều con trai.

Vạn Sự Như Ý 萬事如意, An Khang Thịnh Vượng 安康盛旺, Cung Chúc tân Xuân 恭賀新禧 ....

Đặc biệt năm Dê, thịnh hành thêm câu: Tam Dương Khai Thái 三陽開泰 !
                       
Ghi Chú:

Xin được nói thêm về 3 chữ "Nói cũng lạ"....

Sau khi lỡ "ra lệnh" cho Chúa Xuân bắt hoa phải nở suốt đêm để ngày mai mình đi ngắm hoa xong, thì Võ Tắc Thiên cũng ngầm... ra lệnh luôn cho những người trồng hoa trong vườn Thượng Uyển với sự phối hợp của Quân đội dùng vải căng lều để căng lều cho tất cả những nơi trồng hoa trong vườn. Đoạn cho nổi lửa nấu nhiều nồi nước khổng lồ trong vườn Thượng Uyển để tạo một luồn noãn lưu ấm áp khắp nơi, nhờ thế các hoa như ở trong các greenhouse ấm áp của mùa đông ở MỸ hiện nay... Nhờ thế các loài hoa mới nở kịp cho bà ta ngắm, và bà ta mới có dịp diệu võ dương oai với quần thần để chứng tỏ cái Chơn Mạng Thiên Tử của mình!

Đây cũng là cái cơ trí hơn người của Võ Tắc Thiên, chả trách bà ta là Nữ Hoàng Đế duy nhất trong lịch sử Trung Hoa cổ đại.
                                                                     

Đỗ Chiêu Đức

Hồng Vân sưu tầm

 

Image result for Ý Nghĩa Các Loại Tranh Treo Ngày Tết - Đỗ Chiêu Đức

Xem thêm...

CHÙM HOA TÍM

CHÙM HOA TÍM

 Truyện ngắn của Nguyễn Minh Phúc

Mãi đến sau nầy, khi tất cả qua đi và tôi bình tâm lại thì mọi chuyện đã chấm dứt. Cái ga xép cạnh thị trấn heo hút hàng ngày xì xịch đoàn tàu tỏa khói đen ngòm đã thay bằng nhiều ngôi nhà lầu hai tầng khang trang, rọi mấy ô cửa kính màu trà từ xa đã nhìn thấy.

Những cây hoa dại màu tím sẩm rải rác mọc từng chùm theo lối đi dọc đường ray. Không biết tên nó là gì, làm sao chúng có thể sống và nở hoa được dưới ánh nắng gắt mùa hè đầy bụi bặm ở đây. Mùi ngai ngái khó chịu ở sân ga thường giống nhau xộc vào mũi làm tôi thoáng rùng mình, chỉ muốn thoát khỏi không gian ngột ngạt của buổi trưa cháy nắng không cơn gió thổi qua…
 

***

… Lần đầu tôi đến thị trấn nhỏ nầy khi tốt nghiệp xong khóa sư phạm ngắn ngày mà người ta bắt học chỉ mấy tháng. Mớ kiến thức chấp vá như bọt xà phòng nên tôi chỉ nhận dạy các lớp tiểu học mà đám trò lớn tồng ngồng gần như thầy giáo.

Mười đồng nghiệp trạc tuổi tôi suốt ngày quẩn quanh trong mấy lán trại lơ thơ, nhếch nhác như đám học trò ham đi rẫy và uống rượu hơn là đi học. Không hiểu sao tôi lại trụ đây được gần ba năm mặc dù đến cuối khóa, đếm đi đếm lại chỉ còn non nửa giáo viên ở lại trường.

Trong các cô giáo đồng nghiệp, tôi thân với Thơ. Cô ở gần nhà và chung khóa ra trường trở về đây dạy học một lúc với tôi. Thơ không đẹp nhưng có duyên, nhất là giọng nói có sức cuốn hút kỳ lạ. Mái tóc cô cắt ngắn tôn lên vầng trán thông minh nhưng bướng bỉnh, miệng cười tươi tắn, ánh mắt luôn nhìn thẳng người đối diện.

Những ngày nghỉ dạy, phần vì buồn, phần không làm gì, tôi thường rủ cô lang thang ra thị trấn cách vài cây số. Chúng tôi đèo nhau trên chiếc xe đạp cà tàng, quẩn quanh ở mấy quán nước, ghé vào chợ chỉ nhóm vài tiếng đồng hồ buổi sáng và sau cùng là đến ga xép, chờ con tàu từ xa lừng lững về ga cùng bánh xe nghiến trên đường ray và tiếng còi tàu kéo lên hồi dài trước khi dừng lại. Không biết tôi đợi gì ở con tàu kia nhưng cứ hướng mắt vào những người xuống sân ga. Thơ cũng vậy. Hình như trong chúng tôi ai cũng có niềm riêng nào đó chỉ mình hiểu.

Chúng tôi ngồi ở ghế phòng chờ, mắt đuổi theo những người khách. Chuyến tàu chỉ dừng lại ga một lát, lơ thơ vài người lên xuống rồi nhanh chóng rời bến, bỏ lại sân ga chúng tôi cùng những người bán rong. Nắng chang chang hắt vào mặt, trên các quầy vé và trần nhà đầy bụi bám.

Chúng tôi im lặng hồi lâu, không ai nói với ai câu gì. Chỉ sau khi con tàu nặng nề phun một làn khói trắng từ đầu toa và từ từ chuyển bánh rời ga, tôi nhìn sang Thơ, bất giác thấy mắt cô nhòa lệ. Còn tôi.. Một cõi lòng trống rỗng, nặng nề, tựa như hy vọng nào đó bị đánh rơi, cố dấu tiếng thở dài thất vọng và cuối cùng hai đứa đứng lên lầm lũi đạp xe về.

Thật ra, Thơ với tôi chỉ là bạn, một tình bạn đúng nghĩa. Cô ấy đã có người yêu. Ba năm trời dạy chung trường, tôi biết cô đang chờ Thiệp. Mối tình với Thiệp nghe đâu nhiều bất trắc nhưng cuối cùng, cô vượt qua được. Thiệp đang chờ làm xong thủ tục ly dị người vợ cũ sống không hạnh phúc và hứa ngày nào sẽ đến với cô. Có lẽ, cô chờ những chuyến tàu là vậy. Không biết ngày nào nhưng cô chắc chắn anh ấy sẽ đến.

Tình yêu làm cho người ta vững tin, chờ đợi, thiết tha hy vọng dù có thể dau khổ, mỏi mòn. Tôi biết điều nầy vì trong mắt Thơ, Thiệp là người duy nhất không ai thay thế. Tình yêu là điều mà không phải ai cũng giải thích được. Tại sao người nầy chứ không phải người khác trong tim Thơ. Tôi chịu…

Càng ngày, hình như tôi càng nghĩ nhiều về Thơ. Chúng tôi gập nhau thường xuyên, khi thì ở lớp, khi họp hội đồng và những ngày nghỉ đèo nhau ra thị trấn đợi tàu về. Có ai đó trong trường nói về mối quan hệ này. Tôi bối rối nhưng Thơ tỉnh bơ, xem như không chuyện gì xảy ra. Có lần tôi hỏi Thơ.

-Anh nghe người ta đồn đại về chúng ta? Em ngại không?

- Kệ người ta, mình là bạn đâu phải gì phải sợ, phải phân bua! Hay anh sợ? Thơ ngoặc lại.

Tôi cố dấu tiếng thở dài:

-Không! Nhưng dẫu sao… mình… không nên ra thị trấn nữa… Ở đó… đám học trò của anh… hay chĩa mũi vào chuyện của người khác…

-Tùy anh. Thơ nhìn tôi, mắt ánh lên vẻ coi thường. Khi nào Thiệp đến, em sẽ giới thiệu cho anh biết người em yêu. Anh ấy không nhút nhát như anh…

Tôi nghe lòng đau nhói và hỗ thẹn nhưng làm như không chuyện gì xảy ra. Trong mắt Thơ, tôi là người bạn yểu điệu thậm chí yếu ớt. Nhưng biết làm gì hơn khi tôi không có sự can đảm, mạnh mẽ như Thơ muốn. Ngay từ nhỏ tôi đã rụt rè, do dự về mọi thứ. Chắc đó là nhược điểm của một thằng đàn ông, tôi biết nhưng không khác được vì tính tôi vốn thế. Tình cảm tôi với Thơ cũng vậy. Yêu cô ấy nhưng không hề dám mở miệng.

Từ ngày không còn đèo cô ra thị trấn để đón những chuyến tàu, tôi như đánh mất thứ gì, hụt hẫng, trống vắng, tựa như đã lầm lẫn và ân hận về những gì đã nói với cô. Ngày nghỉ dài lê thê. Tôi nằm thượt trong phòng, buổi cơm cũng không buồn ăn, thơ thẩn trong cảm giác vừa cay đắng vừa tiếc nuối.

Thời gian trôi đi, chậm và buồn trong thị trấn heo hút, ngôi trường nhếch nhác, học sinh đi học ngày càng ít. Hình như chẳng ai quan tâm đến chúng tôi. Với lại, trường vắng tênh, lèo tèo dăm bảy chục học sinh thì có gì đặc biệt. Thi thoảng, tôi vẫn vào thị trấn nhưng một mình.

Sân ga vắng vẻ chỉ nhốn nháo một chút khi con tàu dừng lại rồi trở về với cơn ngái ngủ thường lệ. Những chùm hoa vẫn nở tím ngắt như run lên mỗi lần bánh xe sắt chạy qua tạo thành đợt sóng, lấp loáng nắng trưa trên sân ga buồn man mác.

Có hôm tôi đến sân ga từ rất sớm. Khi con tàu nặng nề chuyển bánh, một cô gái từ phòng đợi bước ra và tôi nhận ra ngay là Thơ. Cô đang lấy khăn tay chầm chập lau nước mắt và nhìn quanh quất. Tôi muốn chạy lại nói điều gì đó nhưng hai chân nặng như chì và cuối cùng, hình như có gì ngăn lại, tôi quyết định không gập cô lần nữa, lên xe đi thẳng. Tối ấy, tôi uống rượu say mèm. Trước mặt, chập chờn trong ánh sáng của cây đèn cầy cháy dở, tôi thấy cô đứng trước mặt đôi mắt buồn đẫm nước.

Thiệp cuối cùng rồi cũng tới trong chuyến tàu tôi không hề mong đợi. Anh chàng trông vẻ bề ngoài cao lớn, miệng rộng, khá hoạt bát, nghe nói làm chức gì đó bên xuất khẩu, kiếm được khá nhiều tiền. Tạng đàn ông như vậy nhiều cô mê là phải. Tôi mừng thầm cho Thơ, cố dấu nỗi thất vọng riêng mình.

Từ ngày có Thiệp, Thơ vui hẳn, gương mặt lúc nào cũng đẹp ra. Cô và Thiệp ở hẳn trong khu nhà tập thể. Họ như đôi chim cu, lúc nào cũng quấn quýt, say đắm bên nhau. Hạnh phúc của người nầy đôi khi lai là nỗi buồn của người kia, tôi trong tâm trạng ấy. Thôi thì mình chấp nhận, tôi tự an ủi và làm vui khi họ đến nhà hoặc thi thoảng gập hai người sánh vai đi đâu đó,

Cuộc sống cứ trôi đơn điệu và buồn tẻ. Những ngày nghỉ, chỉ một mình, tôi ra ga mà không biết làm gì. Tôi có hẹn đưa đón ai đâu, thơ thẩn đi trên con đường ray sau khi tàu chạy, nhìn những cây hoa dại mọc trên những lối đi.

Những bông hoa nở tím thẩm từng chùm, mọc hai bên đường ray như cố vươn ra, quấn vào tôi theo mỗi bước chân. Thỉnh thoảng tôi cúi xuống, hái một vài bông, vò nát ra. Chúng có mùi ngai ngái, cay xè hắt vào mặt mũi làm nước mắt tôi ưá ra. Tôi buồn và nhớ Thơ.

Ở ga xép nầy, không biết bao lần, tôi và em ngồi đây đợi chuyến tàu về, cùng lang thang trên con đường ray, hái những chùm hoa dại. Giữa nắng rát và bụi mịt mờ, không hiểu sao chúng vẫn nở hoa, bướng bỉnh lê dài cành ra dù mỏng manh, yếu ớt. Tôi tự hỏi mà không thể trả lời. Giá mà có Thơ ở đây. Cô ấy biết nhiều chuyện, thế nào cũng tìm cách giải thích cho tôi. Lúc nầy, với tôi, em cần thiết biết chừng nào.

Ít lâu sau khi chung sống với nhau, khu tập thể thường nghe tiếng cãi vã, tiếng mắng mỏ và tiếng vỡ rổn rảng vang từ phòng Thơ ngày càng nhiều. Hình như cô và Thiệp có chuyện. Có hôm họp hội đồng, tôi thấy mặt Thơ đậm vết bầm, mắt cô hoe đỏ. Nhiều lời bình phẩm đoán già đoán non từ đám giáo viên chúng tôi nhưng không ai biết chuyện gì. Một hôm, sau cuộc họp, Thơ kêu tôi ra nói nhỏ:

-Lát nữa em muốn gặp anh! Về chỗ anh nhé!

-Ừ! Cũng được… Tôi đồng ý, trong thâm tâm cũng rất muốn gặp cô.

Chúng tôi ngồi cạnh nhau trong phòng tôi. Thơ nói trong tiếng khóc:

-Em khổ lắm, anh ơi! Chưa bao giờ em tuyệt vọng bằng lúc nầy…

-Em cứ kể anh nghe… Tôi bùi ngùi nói. Dù sao em cũng nhẹ bớt khi tâm sự với bạn bè…

Như không còn chịu nổi sự nín nhịn lâu ngày, Thơ gục đầu vào vai tôi nức nở:

-Anh Thiệp… Anh ấy… Thực ra, Anh ấy không hề yêu em…

-Có chuyện ấy sao? Không phải đâu. Một người từ thành phố thôi vợ, bỏ tất cả công việc về đây với em, sao laị có chuyện ấy được. Nhưng sao em lại nói thế, anh không tin. Tôi nói và ngồi thừ ra.

Thơ nhìn tôi, cái nhìn của ngày chúng tôi còn thân nhau, thường đèo nhau ra ga đón tàu vào những hôm nghỉ dạy, ám ảnh tôi nhiều đêm không ngủ. Cô nói trong những giọt nước mắt đọng lại quanh mi:

-Em biết diều ấy. Trái tim em mách bảo em biết rõ về Thiệp. Hình như tính tình, cách sống em không hợp với Thiệp thì đúng hơn. Em đã cố chịu đựng nhưng rồi không thể. Chúng em lúc nào cũng xào xáo. Thiệp bắt em phải nghỉ dạy, về thành phố với anh ấy… Mà em lại thích ở đây. Không ai có thể bắt em rời bỏ nơi nầy được.

Tôi thật sự không biết nói gì để an ủi Thơ. Tốt hơn hết, với cô gái bướng bỉnh và đầy cá tính nầy thì nên im lặng vì trước sau gì, cô ấy cũng tìm cách giải quyết chóng vánh những vướng mắc. Theo tôi, cuộc hôn nhân của Thiệp và cô ấy xuất phát từ tình yêu, chắc sau những sóng gió tạm thời, mọi việc sẽ đâu vào đấy.

Nghĩ vậy nhưng không phải. Mỗi ngày qua, mâu thuẫn giữa họ càng gay gắt. Tôi biết được điều nầy vì mỗi lần xảy ra chuyện, Thơ đều kể tôi nghe. Phụ nữ họ có cách nói chuyện sao đó mà ta không dứt ra được. Ngồi nghe Thơ tâm sự hàng giờ những điều không liên quan gì đến mình để cuối cùng, trước khi chi tay, tôi đành xuôi tay buông tiếng thở dài bất lực.

Họ chia tay đột ngột như lúc nồng nàn chờ đợi nhau theo những chuyến tàu. Thiệp bỏ đi bất ngờ giống như anh đến. Người ngỡ ngàng nhất không phải Thơ mà là tôi. Tình yêu sao lại dễ cắt đứt nhanh chóng và đột ngột như vậy? Họa có Thơ điên. Sống với một anh tráng điển trai, có sự nghiệp, tương lai như vậy mà đùng một cái lại chia tay, quả tôi không hiểu.

Kể từ ngày Thiệp đi, Thơ thường hay lại chỗ tôi chơi, không nói gì chuyện cũ. Cô muốn quên Thiệp và cuộc tình nông nổi kia. Chúng tôi lại cùng đèo nhau ra thị trấn và vào ga vào những ngày nghỉ. Bên Thơ, tôi như tìm lại được niềm vui, hạnh phúc mà có lúc tưởng mất đi mãi mãi.

Chúng tôi lần theo đường ray nóng bỏng giữa nắng trưa đầy bụi mù, hái những chùm hoa tím đầy dưới chân và tranh nhau xem ai hái nhiều hơn. Chúng tôi đuổi bắt, chạy nhảy và tung lên trời những chùm hoa, chán chê nô đùa và sau cùng vào quán quen uống nước rồi đèo nhau về. Không biết Thơ nghĩ gì nhưng ánh mắt cô lấp lánh, đôi má hồng đỏ và nụ cười tươi tắn.

Có hôm tôi và Thơ còn đi xa hơn. Sau cái nhà kho vắng tênh của sân ga, tôi ôm cô, đắm đuối trên miệng, trên môi. Thơ ngã người vào tôi, nhắm mắt lại trao những chiếc hôn nóng bỏng. Chiếc áo cô mặc trễ xuống đủ cho tôi thấy làn da trắng mịn, nõn nà hiện ra trên bờ ngực mẩy.

Tôi dúi mặt vào đó, say đắm hít hà. Mùi vị nồng nàn của da thit và hương thơm quyến rũ từ người Thơ làm tôi ngây ngất. Tình yêu diệu kỳ, thơ mộng quá. Tôi như bay lên cùng hạnh phúc của mình. Trước mặt tôi ánh nắng nhún nhảy trên sân ga và những chùm hoa tím dường như rực rỡ hơn trên đường ray dài tít tắp.

Tôi và Thơ yêu nhau được một năm và vẫn thường ra ga vào những ngày nghỉ. Sân ga buồn tênh, ngột ngạt trong nắng trưa khi đoàn tàu đi ngang qua tỏa khói mịt mù. Những cánh hoa tím dại vẫn mọc cạnh đường ray ngày càng nhiều. Chúng vẫn sống mặc nắng rát và gió bụi.

Nhưng mối tình tôi thì không. Thơ chỉ xem tôi như một điều gì đó lấp khoảng trống tuyệt vọng mình khi tình yêu đổ vỡ. Chỉ thời gian sau, Thiệp xuất hiện trở lại và họ làm lành với nhau. Thơ đồng ý theo anh về thành phố. Tôi như người bị đánh cắp tình yêu (hay tôi lấy cắp tình yêu của họ ) hụt hẫng, chán chường. Ngày Thơ đi, tôi tiễn cô ra ga. Chúng tôi hầu như không nói gì. Lúc tàu sắp chạy, tôi chỉ nói với cô một câu:

-Dù thế nào, anh cũng không quên sân ga buồn tẻ nầy. Cả em nữa… Thơ ơi…

Đôi mắt cô đẫm nước nhưng gương mặt thì hân hoan. Có trời mà hiểu phụ nữ. Tình yêu làm họ đau xót, ngậm ngùi nhưng nhanh chóng phôi pha khi lấy chồng. Hay họ giấu đâu đó trong cõi lòng ngàn ngăn kéo khép mở, làm sao biết được.

Tôi đứng chôn chân trên sân ga khi con tàu mang Thơ đi chỉ còn một chấm đen nhỏ xíu. Và về ngang qua đường ray. Những bông hoa tím vươn dài theo bước chân. Tôi cúi xuống hái, vò nát trong lòng bàn tay. Ôi, những bông hoa thời yêu nhau say đắm của chúng tôi. Kỷ niệm đâu đó ùa về. Chiếc tàu mang tình yêu đi mãi, chỉ còn tôi trên sân ga và những chùm hoa tím buồn tênh.

Tôi rời trường mấy năm sau đó. Công việc ở nơi làm mới cuốn tôi ngày này đến ngày khác, thị trấn bé nhỏ và sân ga buồn tênh năm xưa lãng quên dần trong trí nhớ. Thơ giờ đang sống bên chồng hạnh phúc ở thành phố, sát chỗ làm của tôi.

Thỉnh thoảng tôi vẫn thường gặp họ trên đường. Cô và Thiệp đèo nhau trên chiếc xe gắn máy, mặt mày hớn hở, vui tươi. Chạnh nhớ tình yêu xa xưa và chiếc xe đạp lọc cọc ngày nào, tôi nghe lòng chùng xuống.
 

 

…Mới đây, tôi có dịp ngang qua thị trấn. Giờ nó thay đổi quá nhiều sau thời đất nước mở cửa. Nhà cao tầng, khách sạn, nhà hàng bung ra như nấm sau mưa khiến không còn nhận ra nơi cũ. Sân ga hiu hắt buồn tẻ đã dời đi và thay vào đó là những căn biệt thự mới xây nằm rải rác trên sườn đồi.

Chẳng hiểu sao những đường ray là còn nguyên vẹn nằm chỏng chơ, đứt khúc trên lối đi ghồ ghề, trơ ra những thanh tà vẹt đoạn còn đoạn mất. Tôi bùi ngùi nhìn vào sân ga. Bây giờ là chỗ người ta đang xây dựng chung cư mới.

Ánh nắng chói chang, nóng hổi tỏa xuống buổi trưa ngột ngạt đầy nắng. Tiếng động cơ, tiếng máy nổ, tiếng người hò hét vang động trên sân ga đìu hiu vắng vẻ ngày nào.

Dưới nắng trưa, những chùm hoa tím sẫm vươn theo đường ray, ánh lên sắc màu rực rỡ. Chúng vẫn nở hoa dưới cái nóng như thiêu đốt và đầy bụi mùa hè.

Không hiểu sao lòng tôi cứ bồi hồi nhớ bao kỷ niệm ngày xưa đầy ấp ứ ./.

 

Ngọc Lan st

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này