Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1330)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (75)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (70)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (362)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Rượu Đế Trong Dân Gian Tây Nam Bộ Dưới Góc Nhìn Văn Hóa - Bùi Túy Phượng

Rượu Đế Trong Dân Gian Tây Nam Bộ Dưới Góc Nhìn Văn Hóa

Bùi Túy Phượng

1. Khó có thể biết được rượu ra đời từ lúc nào, ở đâu, song nói về rượu, về tác dụng chữa bệnh, về văn hóa uống rượu thì tất cả các dân tộc trên thế giới đều có. Ở Việt Nam, rượu gắn với sinh hoạt cộng đồng, với các nghi lễ, hội hè, đình đám, với những lời thề ước, nhưng nếu uống rượu quá đà cũng gây nhiều phiền lụy... Chính vì vậy, chẳng biết tự bao giờ, rượu đã đi đời sống văn hóa của người bình dân và bằng cách này hay cách khác nó đã tồn tại trong cộng đồng người Việt nói chung, trong đó có người dân đồng bằng sông nước Cửu Long.
 
Theo Cơ sở văn hoá Việt Nam của Trần Quốc Vượng (chủ biên), Nxb Giáo Dục, H. 2006, phần được coi là Tây Nam Bộ có diện tích khoảng 4.000 km2, chủ yếu là vùng đồng bằng sông Cửu Long, một số đảo (lớn nhất là đảo Phú Quốc) cùng một vài dãy núi thấp ở phía Tây An Giang, Kiên Giang. Lịch sử hình thành vùng đất này gắn liền với bước chân những người đi mở cõi thế kỷ XVII – XVIII
 
Tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ con cá vùng cũng kinh
 
Gắn liền với đời sống sinh hoạt hàng ngày thức uống của họ ngoài nước mưa, nước giếng, họ còn dùng trà hay các thứ rễ cây, lá cây pha nước để giải khát. Rượu cũng là loại đồ uống không thể thiếu đối với người lao động bình dân. Rượu là đồ uống, nhưng không phải là nước, chức năng của nó không đơn thuần chỉ là giải khát, và đương nhiên rượu cũng được chế biến kỳ công hơn là nước có sẵn từ tự nhiên. Xét về góc độ văn hóa, rượu đã tạo nên một đặc trưng thú vị!
Bùi Túy Phượng. Rượu đế trong dân gian Tây Nam Bộ dưới góc nhìn ...
 2. Cách nấu rượu: Để có được rượu ngon tuyệt hảo người ta phải chăm chút từng hạt nếp, cục men, từng động tác chưng cất, pha chế để được loại rượu ngon nhất. Chọn nếp là bước quan trọng đầu tiên. Muốn được rượu trong thì nếp phải ''rặt'', tuyệt đối không được lộn hạt gạo nào. Thường là nếp mỡ và nếp mù u và nếp than đen tuyền, ... Sau khi chọn nếp ngon, đem nấu thành cơm nếp, để nguội (còn âm ấm) thì rắc men vào (giã nhuyễn) vào ủ kín. Men rượu nguyên thủy được mài rễ thảo mộc hoặc men bí truyền chế từ các vị thuốc bắc: quế khâu, đinh hương, trần bì, quế chi, đại hồi cộng thêm nhãn lồng, trầu hương... Sau ba đêm, men đã lên, người ta chan nước vào ủ kín lại như lúc đầu, để thêm ba đêm sau nữa thì nấu.
 
Lò nấu rượu đắp bằng đất sét. Cơm rượu được cho vào trã (loại nồi bằng đất nung lớn), dùng rơm, rạ, củi khô đun lên, hỗn hợp cơm rượu có nước bay hơi, người ta cho hơi nước ấy gặp lạnh (nước lạnh này chứa trên cái việm sành) thì ngưng lại thành giọt rượu, cứ thế hứng vào chai, ve, can nhựa, …
Trần Minh Thương. Từ rượu trong văn hóa Tây nam bộ... - Văn hóa học
 
Lúc trước nấu bằng rơm, trấu nên phải mất cả ngày trời mới xong một mẻ rượu, nay nấu bằng than đá nên nhanh hơn, chỉ cần khoảng 4 tiếng đồng hồ là xong (một tiếng đun sôi, 3 tiếng chưng cất rượu).
 
Rượu lấy được lúc đầu gọi là rượu gốc, nước trong veo, cao độ, cứ thế dần về sau nước rượu nhạt dần. Khi nấu xong, tùy theo yêu cầu và mục đích dùng người ta pha “nước gốc”“nước ngọn” chung vào nhau, cũng có khi để nguyên rượu gốc mà dùng, hay pha thêm nước cho nồng độ lạt bớt đi!
 Xin được nói thêm ngày nay, nhiều người đã thay nếp bằng gạo để nấu rượu, chất lượng của loại rượu này đương nhiên thấp hơn so với nguyên thủy!
 
3. Tên gọi các loại rượu: Rượu nấu bằng nếp như chúng tôi đã miêu tả nên tên gọi đầu tiên của nó là rượu nép. Dân gian còn gọi bằng nhiều tên khác như rượu trắng, rượu đế, …
 Rượu trắng là dựa vào màu sắc của nước rượu. Cũng loại rượu ấy, nhưng nhiều người nấu nếp than (loại nếp hạt đen) làm cơm rượu (xin nói thêm cơm rượu này cũng là cơm nếp ngon, được vò viên tròn nhỏ cỡ đầu ngón chân cái, ủ men, chan nước đường, dùng ăn chơi lũ nhàn nhã, thức ăn này có loại men riêng, còn “cơm rượu” dùng để nấu rượu ít người “ăn nổi” bởi nồng độ men của nó “nặng” hơn nhiều!), nghiền nát cho thêm nước có đường vào pha chung tạo thành loại rượu có màu hồng sẫm, được gọi là rượu nếp than.
 Rượu nếp than đậm đặc rồi chôn xuống đất, … mấy tháng đào lên uống rất ngon hơn nhiều lần, dân nhậu gọi là “lão tửu”!
 Rượu trắng, rượu nếp than còn có những tên gọi khác: rượu đế, nước mắt quê hương!
Bộ nồi nấu rượu thủ công bằng than củi – Nồi chưng cất tinh dầu KAG
 Tên gọi rượu đế được nhiều bậc lão nông tri điền miệt này giải thích rằng: Đầu thập niên 1860, Pháp đến xâm chiếm vùng Sài Gòn – Gia Định, sau đó lấn dần toàn cõi Nam Kỳ Lục Tỉnh. Chúng ngang nhiên “cấm người bản xứ nấu rượu” nhưng lại buộc dân ta uống “rượu Tây!”. Bà con ta tất nhiên là không chịu để bọn thực dân đô hộ lộng quyền nên quyết định… nấu rượu lậu. Rượu lậu vừa rẻ lại vừa ngon hơn rượu của Nhà nước thực dân, cơm rượu được cho vào các hũ sành rồi đem giấu trong những lùm tranh, lùm đế ở xa nhà, hoặc khi thấy Tây đoan đến bắt, nghe động thì bê tất cả nồi rượu, bình rượu chạy vội giấu dưới đồng cỏ hoang dại mọc toàn cây đế, một loài cây giống cỏ năn, cỏ lác, cỏ tranh, hay lau sậy mọc cao vút đầu. Từ đó, dân gian gọi rượu này là rượu đế!
 Nhưng xem ra không mấy bợm nhậu hiểu tường tần nguyên lai của hai tiếng rượu đế này. Họ chỉ gọi rượu đế là rượu vua. Dân nhậu tự xưng là con Ngọc Hoàng, mà con Ngọc Hoàng thì không phải sợ ai cả!
 
Hiu hiu gió thổi đầu non
Mấy thằng cha uống rượu là con Ngọc Hoàng
 
Đặc sản rượu đế có rượu đế Gò Đen. Gò Đen là một địa danh Bến Lức, tỉnh Long An. Rượu đế Gò Đen có từ thời Pháp thuộc. Vì sao Gò Đen lại được coi là ''đệ nhất tửu''? Truyền rằng, trước đây, dân Gò Đen nấu rượu bằng tất cả cái tâm.
 Người Gò Đen cẩn thận trong các bước nấu rượu. Nếp được ngâm đến ngày thứ bảy thì mới bắt đầu cất rượu. Rượu đế Gò Đen dễ nhận biết. Dân sành rượu thường dùng cách lắc chai để nhận biết rượu ngon hay dở. Rượu ngon khi lắc chai sẽ nổi bọt và phân thành 3 tầng rõ rệt, bọt lại chậm tan.
 
''Mỹ tửu'' Gò Đen ''chinh phục'' người uống bởi rượu trong như nước mưa. Mỗi khi rót rượu vào ly, tiếng rượu chảy, vị cay nồng đã đủ làm say, làm khao khát lòng người uống.
Rượu trắng - Wikiwand
 
Để đánh giá chất lượng rượu, người bình dân miệt này còn truyền tai câu hát:
 
Rượu ngon bởi vì men nồng
Người khôn bởi vị giống dòng mới khôn.
 
Rượu đế được đem ngâm với bìm bịp (một loài chim mà theo kinh nghiệm dân gian là một phương thuốc có tác dụng bổ thận tráng dương), gọi là rượu bìm bịp, ngâm với con tắc kè (loài bò sát, đã được thẩm định là có chức năng chữa bệnh gân cốt) gọi là rượu tắc kè, … Tương tự thế, rượu đế ngâm với chuối hột (trái chuối hột chín, loại chuối rừng cho trái nhỏ, vỏ dày, nhiều hột đen, được đem về ép phơi khô, nướng sơ qua lửa than rồi cho vào keo đổ rượu đế vào ngâm) một tháng sau, rượu có màu đỏ au, gọi là rượu chuối hột; rượu ngâm với rễ nhàu, hoặc trái nhàu chín tạo nên màu vàng nhạt, gọi là rượu nhàu! (Nhàu ở đây còn được bợm nhậu chơi chữ, uống vô… nhào luôn!)
 Riêng rượu rắn thì có nhiều loại tam xà, ngũ xà, nhiều khi người sành điệu chỉ ngâm trong hũ duy nhất một con… hổ mang chúa! Rượu ngâm thuốc bắc cũng rất đa dạng, những năm gần đây dân miệt này cũng rất hảo loại… Minh Mạng thang!
 Ngoài những thứ rượu đế ngâm hoặc để nguyên chất uống, nhiều người còn ngâm rượu để bóp chân tay, gân cốt, … thứ này không phổ biến, thường chỉ có các thầy thuốc nam, hoặc các thầy dạy võ mới sử dụng!
 
4. Rượu trong lễ nghi, phong tục: đối với người miệt sông nước, bất cứ nghi lễ nào cũng không thể thiếu… rượu!
 
Đối với đời người, lễ đầy tháng, thôi nôi cho trẻ con mới sinh cũng dùng rượu để cúng mười hai mụ bà, mười ba đức thầy, cầu mong cho trẻ mau lớn, khỏe mạnh!
 Trong lễ cưới, hỏi của nam nữ thanh niên, rượu luôn luôn có mặt. Cách đây gần thế kỷ, khi đi mời khách đến dự đám cưới, đám hỏi, nhiều gia đình khá giả, hiểu lễ nghĩa thường cho người mặc áo dài, chít khăn đóng, mang theo mâm trầu rượu đến nơi thì kính cẩn rót rượu mời gia chủ và sau đó mới trình thưa chuyện. Ngày nay, trong thiệp hồng báo tin vui, người ta vẫn dùng câu… Vui lòng đến dự tiệc Rượu, chung vui cùng gia đình chúng tôi, …. Trong mọi hoạt động lẽ nghi của đám cưới, đám nói, luôn luôn có một chiếc bình nhỏ và hai chiếc chung nhỏ (gọi là mâm trầu rượu). Muốn nói gì, thưa chuyện gì chủ lễ đều phải rót rượu để trình rồi mới thưa chuyện, …
 
Cũng từ đó mà đôi tân lang tân giai nhân vui mừng ra mặt khi dâng chung rượu cho đấng sanh thành:
 
Rượu lưu li chân quỳ tay rót,
Cha mẹ uống rồi nối gót theo anh.
 
Trong lễ tang, rượu cũng được dùng cúng tế, lễ cúng đám giỗ thì sau ba tuần rượu, hai tuần trà mới được… lui mâm! Khi đốt áo quần vàng mả, đồ đốt cháy hết người ta rưới vào đó ít rượu với tâm niệm để người dưới suối vàng… nhận lễ!
 Trong các lễ hội cúng đình, cúng miễu, rượu cũng luôn luôn có mặt, và giữ vai trò quan trọng về mặt nghi lễ! (Trừ lễ Phật ở chùa, bởi rượu là thứ giới cấm của Phật giáo)
 Rượu ngon chắt để bàn thờ
Ba bốn năm không lạt (nhạt), sao giờ lạt đi?
 
5. Rượu để uống
 
Như chúng tôi vừa nói, rượu chủ yếu là để uống. Các hình thức uống rượu, mục đích của việc uống rượu vốn rất đa dạng, phong phú.
 5.1. Uống rượu… một mình: chỉ một người, một bình rượu đế nhâm nhi để giản gân cốt sau một ngày đào mương, vét cỏ, làm vườn, cấy ruộng, … Hay người trong cuộc có chuyện buồn đau trong đời không thể bày tỏ cùng cộng đồng, người ta cũng mượn rượu để giải khuây.
 
Hồ Xuân Hương ngày trước đã có câu thơ nổi tiếng miêu tả tình cảnh đó: Chén rượu hương đưa say lại tỉnh (Tự Tình)
Rượu càng uống cảng tỉnh, mới là nỗi đau lên đã lên đến tận cùng!
 5.2. Rượu uống với bạn bè để vui vẻ: dân gian thường nói trà tam rượu tứ. Uống rượu, ít khi một mình. Thường mâm rượu có hai, ba, bốn, … thậm chí cả… chục người cùng nhau “nâng ly, cạn chén”. Người dân miệt sông nước Cửu Long có đặc tính hào phóng mỗi khi rượu đã vào. Có khi lúc đầu mâm rượu bày trước cửa sân nhà chỉ vài người, sau một hồi, … gặp bất cứ ai đi ngang (không phân biệt quen hay lạ) đều được gia chủ mời vô… uống! Chuyện cười ra nước mắt cũng xảy ra: những vị khách “trên trời rơi xuống” này, uống đã, say lăn ra ngủ. Khi tỉnh lại cả chủ lẫn khách không ai nhận ra ai, bởi họ chẳng… quen nhau!
 
Mỗi khi có khách ở xa đến chơi thì gần như chắc chắn sẽ có… nhậu, bởi khách đến nhà không gà thì vịt, vậy mà! Đồ ăn, thức nhấm sang thì:
 
Bắt con cá lóc nướng trui
Làm mâm rượu trắng đãi người phương xa.
 
Nhiều lúc cao hứng chỉ vài cần vài con khô cá sặc, khô cá trê, thậm chí chỉ là trái chuối chát, trái khế, trái me dốt với chén mắm ruốc, vài cục muối, mấy trái ớt, … họ cũng nhậu được!
Về chỗ nhậu thì trong nhà, ngoài vườn, trên bờ mương, đầu ruộng, … miễn là có chỗ ngồi được là xong.
 Ở miệt này, thường uống bằng ly (loại dùng uống trà), kích cỡ lớn nhỏ khác nhau. Uống rượu cũng có nhiều cách. Chơi nguyên táo, tức là uống cạn cả ly; cưa hai cho đậm đà tình nghĩa, tức là người trước uống nửa ly, người sau uống nửa ly còn lại. Theo cách uống này, thì ai lớn tuổi hơn được kính trọng mời uống, người nhỏ hơn uống sau. Có khi, để tỏ rõ sự sòng phẳng trong bàn nhậu họ tự giao ai bưng ly nấy uống, như vậy đỡ tốn tiền đò! (tức chuyền tới chuyền lui)
 
Nếu như ở nhiều nơi ngoài miền Bắc trong mâm rượu, mỗi người được “phân” một chung, rượu rót đầy ai muốn uống sao thì tùy lượng, còn ở vùng này ít khi uống rượu cách đó, cả mâm chỉ dùng chung một ly. Bàn rượu cử “chủ xị” làm người cầm chai rót và chuyền. Chủ xị thường phải công bằng, chuyền cho đủ và không được quên ai, kỵ nhất là “quên mình” (nếu xảy ra, sẽ bị coi là ăn gian, bị phạt nặng). Muốn “từ chức”, chủ xị phải tự uống 3 ly, ai cãi chủ xị, nếu sai cũng bị phạt 3 ly, nếu chủ xị (tức bỏ qua ai đó trong mâm), sẽ bị phạt, … Uống rượu thì phải cạn đáy, ai uống còn sót lại chút ít, bị cho là “kê tán”… sẽ bị cười, bị mất danh của… người nhậu!
 Ai đến sau, hoặc về trước cũng bị phạt theo “luật” vào ba, ra bảy (đi trễ uống liên tiếp 3 ly, về trước thì phải “nốc”… 7 ly!), ...
Dân gian thương hiệu ký
 
Đánh giá tửu lượng, dân ăn nhậu truyền nhau bài vè:
 
Một ly nhâm nhi tình bạn
Hai ly giải cạn tình sầu
Ba ly mũi chảy tới râu
Bốn ly nằm đâu gục đó
Năm ly cho chó ăn chè
Sáu ly ai nói nấy nghe
Bảy ly le le lội nước,
Tám ly chân bước chân quỳ
Chín ly còn gì mà kể
Mười ly khiêng để xuống xuồng
Xem ra, đây chỉ là bài vè dùng để chế nhạo người có tửu lượng yếu, mới có bảy, tám, … ly đã bước, đã quỳ! Sự thật, có người tửu lượng đến 1 – 2 lít là chuyện… thường! (đương nhiên còn tùy theo chất lượng nồng độ của rượu nữa!)
 
Ngoài uống, rượu còn dùng pha với để tắm cho trẻ con mà dân gian cho là phòng gió độc, chóng trúng nước! Rượu dùng để tẩy rửa những nơi có mùi xú khí!
 
6. Mấy điều suy ngẫm
 6.1 Những nét đẹp
Rượu trở thành “đối tượng” để người hiện tại giao tiếp với người khuất mặt. Mượn men rượu nhờ thánh thần chứng kiến con cháu hiện tiền làm ăn, chung sống vẹn tình trọn nghĩa.
 Giúp con người thêm mạnh mẽ giữa vùng hoang vu thời mở cõi, giúp con người khuây khỏa tinh thần, …
 Rượu thắt chặt tình thâm thủ túc, bằng hữu, người lạ hóa quen, nhiều khi nhờ một ly rượu… tình cờ.
 Trong bữa rượu sự công bằng, nét đẹp trọng tình giữ nghĩa vẫn còn được lưu giữ qua từng ly rượu mời, rượu uống.
Rượu giúp con người thêm khỏe mạnh nếu uống với lưu lượng vừa phải, hợp lý.
Rượu cũng mang lại những giá trị kinh tế cho người miệt đồng. Hèm rượu được nông dân dùng nuôi heo tăng thêm thu nhập, nhiều gia đình thoát nghèo nhờ mô hình đó, …
Bùi Túy Phượng. Rượu đế trong dân gian Tây Nam Bộ dưới góc nhìn ...
 
6.2. Những mặt hạn chế
 Không phải nói nhiều, dân gian đã cảnh báo ngay:
 
Rượu nhạt uống lắm cũng say,
Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm
 
Điều thường gặp là “rượu vào, lời ra", nói nhiều, nói dài nhưng không ý thức hết điều đã nói, gây chuyện “đa ngôn đa quá" (nhiều lời thì càng nhiều lầm lỗi). Chí ít, cũng phiền nhiễu đến người xung quanh:
 
Ở đời chẳng biết sợ ai,
Sợ thằng say rượu nói dai tối ngày.
 
Sai be bét không làm chủ được mình, gây rối trật tự, … thậm chí dẫn tới phạm pháp, để lại những hậu quả không lường!
Nhiều người, mượn rượu để đánh giá con người “nam vô tửu như kỳ vô phong” một cách cực đoan, khích bác, vô lý, gây mất đoàn kết, hiềm khích không trọn vẹn của tình làng nghĩa xóm!
Uống rượu không điều độ, bỏ công ăn việc làm, hao tiền tốn của thiệt hại không nhỏ về kinh tế. Dân gian phê phán những con người ấy, thế này:
 
Rượu chè, cờ bạc lu bù,
Hết tiền đã có mẹ thằng cu bán hàng
 
Hay:
 
Giàu đâu những kẻ ngủ trưa
Sang đây những kẻ say sưa tối ngày
 
Về sức khỏe, rượu gây nhiều tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe cho con người, các chứng bệnh nan y phần lớn có nguyên nhân do rượu gây nên!
 Không thể tách rượu ra khỏi đời sống, nó đã trở thành nét sinh hoạt độc đáo, thú vị mà người bình dân tạo nên. Vấn đề là làm sao người dùng đủ “tỉnh táo” sử dụng nó một cách hiệu quả và hợp lý nhất!

 
Bùi Túy Phượng
 
 *********

Trong các loại rượu đế , ta có Rượu Đế Gò Đen , ngoài ra còn có  Rượu Phú Lễ

Đặc Sản Rượu Đế Gò Đen Long An - Hương Vị Khó Quên

 Rượu Phú Lễ

Phú Lễ (Bến Tre) có 6 cái nổi tiếng: rượu đế, nghề đan lát, 505 phụ nữ không chồng, chiến khu Lạc Địa, ngôi đình Phú Lễ 180 tuổi, và cái nổi tiếng cuối cùng của xứ này là tuy có 5 cái nổi tiếng vừa nêu, đáng lý phải là gói du lịch hấp dẫn khách với nhiều ngôi làng còn nguyên nét cổ sơ, nhưng lại ít ai biết đến.

Chắc là chờ vài năm nữa, để rượu Phú Lễ trở thành “vị đại sứ” cho nó kịp đi khắp năm châu.

Những ngôi làng ở Phú Lễ còn giữ nguyên nét cổ xưa, nếu được bảo tồn chất lượng, sẽ trở thành những ngôi làng “miền Trung”, xứ Quảng, với hệ thống đường đất đỏ cũ kỹ, giữa miền Nam. Ba Tri sẽ trở thành bảo tàng làng cổ.

Ở đây, nhà của người dân phần đông là nhà rọi – loại nhà cột chống thẳng lên đầu kèo, chia không gian nhà làm hai – đặc trưng của những người dân miền Trung nghèo. Vả, ở cái xứ họ chọn làm nơi sinh sống “tị địa”, họ cũng đến bằng tay trắng, cũng nghèo, lại không có nhiều cây rừng, làm sao sắm nổi nhà rường – loại nhà cột chống ở trính và kèo chịu lực bằng trụ lỏng – rất tốn cây. Đặc trưng “tị địa” đến nay vẫn còn mạnh làng nào làng nấy sống, ít khi người dân làng này sang làng khác.

 Cảnh giác với rượu “mù” - Báo Long An Online

Gần đây Phú Lễ được nhiều người biết đến hơn khi tỉnh Bến Tre đầu tư vào một dự án 77 triệu đồng để phục hồi danh giá của rượu Phú Lễ vốn có tiếng từ thời Tây, lại dần dần lụi tàn chất lượng vào thời lương thực thiếu thốn sau năm 1975. Công trình kéo dài 18 tháng để chuẩn hóa công thức làm hồ men và thời gian kháp rượu. Ông Nguyễn Văn Chí, mọi người quen gọi là Ba Chí, cho biết tới nay, có khoảng 100 hộ nấu rượu, có khả năng sản xuất mỗi ngày 5.000 lít rượu.

Nhiều ý kiến cho rằng rượu Phú Lễ ngon tùy thuộc vào 4 yếu tố:

Một là: men; hai là, nước giếng của vùng này. Bởi vậy khi người con gái lấy chồng sang xứ khác vẫn không nấu được loại rượu giống y như ngày còn ở với mẹ. Ba là, nếp trồng trên chính vùng đất này. Một số nhà kháp thử bằng nếp khác, rượu đã không ngon bằng. Và bốn là, do những cái tỉn ủ cơm để lâu hằng trăm năm, chăng?

Rượu Gò Đen - Món Ngon ở Long An

Rượu Phú Lễ có thể xếp vào hàng danh đế ngang hàng với làng Vân, Kim Long, Bàu Đá và Gò Đen.

Nghề đan lát ở Phú Lễ cũng là nghề có hàng trăm năm tuổi, và nhiều người dân hiện nay vẫn thực hành nghề này kiếm sống qua liên kết với những công ty làm hàng thủ công mỹ nghệ. Chị Trần Thị Lan, phó chủ tịch hội phụ nữ xã cho biết, các công ty Thanh Bình, Ngọc Ẩn đến liên hệ với địa phương bàn chuyện gia công sản xuất cho họ. Người dân chỉ cần bỏ công ra làm theo mẫu mã họ mang đến rồi được trả tiền theo sản phẩm đã làm. Niềm hy vọng nghề truyền thống ở đây vẫn tiếp tục sống và rồi sản phẩm của họ có lúc bán trực tiếp đến tay du khách.

Đình Phú Lễ cũng là một trong những di tích khá cao tuổi, một thời gian chiến tranh, được người dân làng tháo dàn trò cất. Và đến năm 1950 mới ráp lại. Đình được phong di tích văn hóa năm 1993, là một quần thể gồm 11 ngôi nhà, mỗi năm có hai lễ hội lớn là lễ hạ điền (còn gọi là lễ Kỳ Yên) tháng 3 và lễ thượng điền tháng 11. Qui mô của đình cũng nói lên được phần nào một thời trù phú của người dân làng.

Rượu Phú Lễ - Việt nam Mỹ Tửu | Rượu

Phú Lễ cũng là nơi lưu giữ một trữ lượng ca dao, dân ca phong phú, từ hò, lý, vè, nói thơ, hát bội đến điệu hát sắc bùa.

Từ đình Phú Lễ đi vài cây số là vào sâu căn cứ Lạc Địa. Gọi là Lạc Địa vì ai vào đây cũng có thể đi lạc và phải vái ông địa, một bô lão trong làng cắt nghĩa. Ông cụ còn kể lại kinh nghiệm: “Theo đường trâu đi thì ra được, không theo đường trâu thì không biết đường ra, dầu cho có ở đây mấy chục năm trời”. Đây là khu vực có gần 400 đìa lớn, đìa nhỏ không tính. Hiện đìa được giao khoán để nuôi cá. Tỉnh đã đầu tư vào đây 2,8 tỉ đồng để từng bước biến nơi này thành khu du lịch sinh thái.

Ý định là vậy nên con đường đất đỏ chính trong làng đã sắp sửa bị gạt sổ bởi qui hoạch đường liên huyện biến nó thành đường nhựa để du khách dễ tiếp cận với khu du lịch sinh thái Lạc Địa hơn? Nhưng người ta quên nghĩ rằng, du khách không nhất thiết phải đến đây để tìm phong vị đường nhựa . Và ba cái làng Phú Thạnh, Phú Lợi, Phú Khương, ngày mai nếu không có kế hoạch bảo tồn hợp lý sẽ hư mất. Và Ba Tri mất đi một mảng lớn về cái hấp dẫn du khách cộng hưởng với khu mộ các danh nhân văn hóa Võ Trường Toản, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu; sân chim Vàm Hồ và những bến sông.

Theo SGTT

 Hoàng Điệp ST.

 

Xem thêm...

Tô Mì Quảng nhớ đời

    Tô Mì Quảng nhớ đời    

Bùi Bích Hà - Viết tặng nhà văn PXĐ.

Top 3 quán mì quảng Hội An ngon đúng điệu nhất định phải ghé

   Nhạc Đà Nẵng - Thành phố tuổi thơ tôi   
 
Bố mẹ chồng tôi quê quán Hà Đông nhưng gia đình lập nghiệp ở Hà Nội, buôn bán gỗ. Cửa hàng có tên là Đông Khê. Vụ kinh tế suy thoái năm 1930, ông bà gặp thời cơ, mua được ngôi nhà lầu bề thế ở ngay Cột Đồng Hồ của Ông Bạch Thái Bưởi, một doanh nhân giầu có, làm chủ hãng tàu biển lớn nhất Việt Nam, chuyên chở người và hàng hóa bằng thủy lộ khắp vùng sông biển trong nước và ra tới các quốc gia lân cận.
 
Quê hương là gì hở mẹ? Kỳ 48: Món mì Quảng chị nấu
 
Năm 1954, đất nước bị chia đôi. Bố chồng tôi lúc ấy đang ốm nặng nên không muốn ra đi, mẹ chồng tôi phải ở lại trông nom ông cùng với ba chị gái của nhà tôi. Ba người con trai thì hai người anh nhà tôi di cư theo sở làm, riêng nhà tôi còn đi học, bố mẹ chồng tôi giao cho anh thứ hai trông nom. Khi Hà Nội bị tiếp thu, ngôi nhà ở Cột Đồng Hồ bị trưng dụng để chia cho dân từ ngoại thành hay khu chiến về. Mẹ chồng tôi và các chị cố thủ, cả nhà thu mình vào 2 gian phòng ở một góc lầu một, có balcony thoáng mát nhờ gió từ sông Hồng thoảng vào. Sở dĩ được như vậy không phải vì nhà có người ốm nặng nên chính phủ cách mạng có sự quan hoài mà vỉ ngoài bà chị cả nhà tôi an phận tu hành, hai bà chị còn lại xinh đẹp nên được hai ông cán bộ về thành mót vợ xin cưới. Mẹ chồng tôi bấm bụng phải gả cả hai chị để được yên thân, may ra giữ được ngôi nhà mà chính phủ nói là chỉ mượn tạm. Mà đúng vậy thật, sau khi bố mẹ chồng tôi người bệnh trầm kha, người xót con tiếc của, theo nhau về bên kia thế giới, nếu không có hai ông rể cán bộ thì may mắn lắm mới giữ được một phòng.
 
Lần đầu tôi về Hà Nội thăm hai chị năm 2001, các bậc cầu thang đi lên balcony ngày xưa lót đá hoa bây giờ sứt sẹo, không chỗ nào còn nguyên vẹn, gạch bên trong vỡ ra như xà bần, ngổn ngang chắn hết lối đi. Người qua đường những lúc tối tăm tạt vào đấy tiểu tiện nên mùi khai váng óc. Cái bao lơn bề ngang chừng một thước được cắt ra một khúc làm phòng tắm, nước từ cái vòi nước chảy ri rỉ suốt ngày vào cái xô bên dưới để có nước dùng cả ngày cho nhu cầu thổi nấu và vệ sinh.
 
Cách nấu mì quảng bằng tiếng anh – How to make mi quang – Ngon 24h
 
Đại khái gia cảnh bên chồng tôi sau làn sóng di cư ồ ạt 1954 cho đến chung cuộc miền Bắc dựa thời cơ chiếm được miền Nam là như thế. Không hiểu trước đó vì duyên nghiệp nào mà một nhánh dòng họ Lê Quang trong gia phả nhà anh lại trôi dạt tới Tourane và lập nghiệp ở đấy. Đám cưới ở Huế xong, trước khi về lại Saigon, nhà tôi đưa tôi vào Đà Nẵng (Tourane ngày xưa) dặn là chúng tôi sẽ gặp chú Đốc Lê Quang Ngoạn, một người trong họ đã gần 70 nhưng vai vế phải gọi nhà tôi là anh. Theo nhà tôi, Chú là người rất có tình, tuy xa xôi cách trở song Chú vẫn giữ liên lạc thân thiết với phần gia tộc ngoài Bắc trước và sau khi đất nước bị chia cắt. Nhà tôi ngại Chú có tuổi mà phải đi xa nên không mời Chú dự đám cưới khiến Chú nghe tin thì buồn trách. Có lẽ vì vậy, nhà tôi vốn quý mến Chú nên muốn chúng tôi gặp Chú để thân chinh tạ lỗi. Ra đón chúng tôi là một ông già người tầm thước, vóc vạc gầy, mỏng nhưng rắn rỏi, đôi mắt tinh anh và giọng nói mạnh mẽ, rất tương phản với râu tóc bạc trên khuôn mặt xương của ông. Ông mặc áo dài vải trắng, quần trắng, đội khăn xếp, thưa gửi anh chị rất lễ phép, tề chỉnh. Sau câu thăm hỏi đầu tiên: “Chú khỏe chứ ạ?” đến câu thứ hai thì tôi không cách nào nghĩ được tôi thuộc hàng chị của ông già trước mặt nên tuy tôi gọi ông là Chú nhưng lại xưng mình là cháu. Chú cười, nhắc tôi: “Em là em của anh chị.”
 
Những món ngon từ thịt gà phải thử một lần khi đến Hội An - đi cho ...
 
Trong câu chuyện hàn huyên tối hôm ấy, Chú ngỏ lời mời vợ chồng tôi sáng mai vào Hội An (xưa là Faifo) trước vãn cảnh, sau thăm vợ chồng ông Bang trưởng bang người Hoa, có tiệm buôn bán ngay phố Chùa Cầu, có mấy đứa con là học trò của Chú nay đã tốt nghiệp trung học, đứa ra Huế đứa vào Saigon học đại học cả. Hóa ra Chú Ngoạn là Đốc học (tương tự như Chức Giám Đốc khu Học chánh sau này) ở Tourane nên người dân ở đây gọi chú là Cụ Đốc Ngoạn.
 
Ngôi nhà chúng tôi bước vào giữa buổi trưa tháng ba nắng chang chang mà mát như quạt vì cửa lớn ở mặt tiền và cửa ra cái sân nhỏ chỗ nhà ngang thẳng vào nhà trong đều mở rộng. Theo bản năng, tôi ngẩng nhìn lên cao và nội vi ngôi nhà, thấy rui, mè, kèo cột ngang dọc đều bằng gỗ có những chỗ chạm trổ rất tinh vi. Màu gỗ không đỏ, cũng không đen tuyền, có lẽ là mầu nâu đậm. Tôi đoán hẳn là gỗ quý và được săn sóc kỹ vì những nét chạm sắc sảo, mặt gỗ sáng không bám bụi. Chúng tôi được mời ngồi trên tấm phản lớn kê sát tường bên phải nhìn ra khoảng sân lát gạch tàu, hẹp mà dài, gần cái cửa nhiều cánh rời, kéo ra, xếp lại được, lúc đó thu gọn vào một góc. Sau tuần trà thơm nhấm nháp từng ngụm nhỏ trong mấy cái chén hạt mít mỏng tang, bên ngoài màu gan gà, bên trong màu sứ trắng tinh, ông Bang trưởng trịnh trọng báo tin là chúng tôi được mời ăn trưa bằng món mì Quảng, đặc sản nổi tiếng của Hội An. Tôi sinh trưởng ở Huế, ăn đủ thập cẩm bát âm món Huế nhưng chưa bao giờ nghe nói đến mì Quảng. Chú Đốc Ngoạn đoán chừng ý nghĩ của tôi nên chú rôm rả giới thiệu với những lời khen ngợi lên tận mây xanh.
 
Khi chị người nhà bưng ra mọi thứ trên cái khay gỗ lớn, có 5 cái tô kiểu không to lắm, miệng loe và sâu lòng, thoáng nhìn thấy rất bắt mắt với màu xanh non của rau tươi, màu ngà của những khoanh hoa chuối thái thật mỏng, màu đỏ của những con tôm lột vỏ kiểu bắc cầu, màu nâu hồng của thịt rim, màu vàng chanh của những sợi mì và trên tất cả những thứ đó là một dúm lổn nhổn những loại gia vị gì tôi không biết, làm bay lên mùi thơm lẫn với mùi bánh tráng gạo mè nướng, mùi đậu phụng rang khiến bao tử tôi lập tức cồn cào.
 
Gia chủ khéo léo ngỏ lời bằng thứ tiếng Việt phát âm theo cách người Hoa nhưng rất lưu loát, đại khái cho biết đây là món ăn đặc sản của Faifo, có lẽ không ngon bằng cao lương mỹ vị mà chúng tôi đã thưởng thức qua ở những tửu lầu trong Saigon/Chợ Lớn nhưng ông tin rằng chúng tôi ăn một lần sẽ nhớ mãi vì sẽ không tìm được ở đâu khác.
 
Mọi người cầm đũa và không ai có muỗng cả. Tôi chờ xem ông bà Bang trưởng làm thế nào nhưng họ không hành xử cùng một cung cách. Trong khi bà chủ nhà dùng đũa khều mỗi thứ một tí và ăn rất nhỏ nhẹ, ý tứ thì ông Bang trưởng mạnh tay trộn đều mọi thứ trong tô và ăn từng miếng to. Những sợi mì vàng nhạt mình dẹt, lớn ngang hơn sợi phở một chút, mềm nhưng không nhũn. Có lẽ mì được nhuộm bằng nước nghệ tươi nên có mùi thơm nhẹ. Những con tôm tươi quắn lại, đưa cái lưng còn chút vỏ ở giữa đỏ ong, chỉ nhìn cũng đoán được độ dòn và săn chắc của nó dưới tay người đầu bếp hoặc sử dụng cái chảo rang sao cho con tôm già lửa, vừa mắm muối mà không được khét; hoặc cái nồi rim sao cho miếng ba rọi thái bằng hai lóng tay, chỗ mỡ phải trong như miếng mứt bí, chỗ nạc phải vừa nước màu, đỏ thẫm mà không bị thâm. Tô mì Quảng không nấu có nước lèo, chỉ xâm xấp nước từ nồi thịt và tôm rim, chan vừa đủ để quyện vào mỗi miếng và của thực khách.
 
Mì Quảng Thi - 251 Hoàng Diệu, Đà Nẵng - Đánh giá về nhà hàng ...
Cái mượt mà của sợi mì cắn giữa hai hàm răng, vị ngọt mát của cải tươi xé nhỏ, mùi thơm của rau húng, tía tô, diếp cá, vị chát của hoa chuối và của rau má non, trộn lẫn với chút ngậy của lạc rang vừa tới nhai cùng với miếng thịt rim se sắt, của bánh tráng nướng lẫn vào mình con tôm thoang thoảng mùi nước sông. Cái tổng thể công phu và hòa điệu kỳ lạ có tên là mì Quảng ấy ngấm vào vị giác khiến thực khách không còn nghĩ gì khác ngoài thưởng thức món ăn đang làm tâm hồn họ lâng lâng khoái cảm. Tôi cố ghi nhận và phân tích các thành tố làm thành tô mì Quảng nhưng vẫn có một cái gì trong đó vượt khỏi tầm hiểu biết của tôi cho tới khi xong bữa, gia chủ cười và giải thích: “Ông Đốc đây chỉ ăn mì Quảng do chúng tôi thết đãi cả mười năm nay nhưng tôi chưa bao giờ tiết lộ bí mật.” Chiêu một ngụm trà, ăn một miếng bánh khảo nhân thịt thực sự là thổ sản của Faifo, rồi ông Bang Trưởng thong thả nói tiếp, hướng về tôi: “Khi nào tính mời khách thì chiều hôm trước, tôi ra lò heo quay của người bạn, đặt mua tựa như phần nước sốt quay gà trong chảo quay sau khi đã lấy con gà ra. Đàng này, sau khi lấy con heo ra khỏi lò quay, người ta treo ngược nó lên, phía dưới đặt sẵn cái tượng, để nó róc hết mỡ lẫn với phần gia vị ướp trước khi quay vào đó. Mỗi tô mì Quảng chuẩn bị xong, được nhà bếp rưới lên trên chừng một muỗng canh thôi là đủ cho tô mì dậy mùi thơm cách đặc biệt.” Chẳng thế mà lúc nẫy ông Bang trưởng đã quả quyết là sẽ không ở đâu có tô mì Quảng thứ hai như hôm nay ăn ở nhà ông.
 
Đăng ký vệ sinh ATTP cho quán mỳ quảng # Nghi Minh 0909708082 #
 
Tôi nhớ mãi những thước phim như một giấc mơ qua hơn nửa thế kỷ không chỉ vì hương vị hiếm hoi của món ăn mà vì cái Tình khá lạ của một người từ đâu lưu lạc đến đất nước tôi, vừa hết sức giữ gìn văn hóa, truyền thống, gốc gác của tổ tiên trong cách ăn ở, vừa gắn bó và hòa nhập trọn vẹn với quê người bằng cả tấm lòng. Tôi ở Mỹ hơn ba mươi năm, chưa một lần nào có ý nghĩ hay tự tay làm một món trong thực đơn của người Mỹ để mời bạn bè, cho chính tôi hay cho các con dù chỉ gọi là có và không tệ quá để bị lũ trẻ lắc đầu chê dở, nói gì đến trau chuốt từng chi tiết nhỏ như tô mì Quảng đẹp tựa tranh tĩnh vật của ông Bang trưởng ở Faifo?
 
Tất cả những nhân vật có mặt cùng tôi hôm đó nay đã về thiên cổ, kể cả ông bà chủ nhà ngày ấy đã trọng tuổi. Cùng với ông, thế hệ những người Hoa tử tế, cần cù, lấy chữ tín làm đầu và trọng nghĩa khinh tài như phần đông đồng bào tôi thế kỷ trước, giờ đây chỉ còn là kỷ niệm, hệt như tô mì Quảng ở nhà ông không còn tìm thấy ở đâu nữa.
 
Năm 2009, tôi về Huế thăm mộ phụ thân rồi đi Đà Nẵng và Hội An xem đèn nhân mùa trăng. Buổi chiều, tôi đi lại con phố xưa ở một đầu Chùa Cầu. Lưng chừng khoảng gần giữa con đường xương sống này, bên phải từ Chùa Cầu đi xuống, bước chân tôi ngập ngừng trước ngôi nhà bằng gỗ hầu như vẫn còn nguyên vẻ đẹp quý phái của nó. Một người mặc sắc phục không biết là gì, ngồi trên cái tràng kỷ ở cửa thu lệ phí của khách muốn “tham quan” nhà Truyền Thống của Hội An. Tôi trả một mỹ kim đổi lấy tấm phiếu nhỏ rồi đi vào trong. Ngôi nhà bây giờ trống rỗng, lạnh lẽo, khiến tôi ngờ ngợ. Tuy nhiên, phần gỗ chạm trổ công phu trang trí trên cao bề ngang ngôi nhà vẫn còn nguyên tuy trông cũ kỹ và ảm đạm khác xưa. Không khí phảng phất mùi những cái rương quần áo lâu ngày không có bàn tay người chạm vào. Tôi đi ngơ ngẩn trong ký ức bồng bềnh một cảm xúc không rõ rệt, đến chỗ cửa xuống nhà ngang thì quay ra. Chắc chắn bi kịch đổi đời 30/4/1975 đã diễn ra khốc liệt ở nơi này, các vai trò thay bậc đổi ngôi trong cơn lốc lịch sử thân phận ra sao và bây giờ còn hay đã mất?
 
Năm 2014, tôi về VN nghĩ là lần cuối nên muốn nhìn lại kỹ hơn ngôi nhà Truyền Thống. Lệ phí vào cửa bây giờ là $5 mỹ kim, không bán tại cửa mà bán ở một cái bàn giấy đầu Chùa Cầu. Người gác cửa lúc này chắc không có lợi lộc gì nên cáu bẩn như “khỉ ăn mắm tôm.” Tôi nén lòng, đi ngược phố để đền chỗ bán vé nhưng không có ai làm nhiệm vụ. Một cô du khách Nhật Bản lưng đeo balô, nói được tiếng Anh, than thở: “Sao tiền vào cửa đắt thế? Sinh viên như chúng tôi muốn được cơ hội học hỏi đành chịu.” Tôi không định chờ nên trao cho cô tờ $5 cầm sẵn ở tay và nói: “Tôi phải đi một nơi khác, cô cầm lấy cái này vào thay tôi.”
 
Năm đó, “tham quan” Chùa Cầu cũng phải trả lệ phí $3 cho một lượt từ bên này sang bên kia hay ngược lại, không còn tự do như vài năm trước. Chính quyền đánh thuế mọi thứ, mỗi năm mỗi lên giá, không miễn trừ tình yêu quê hương, nỗi nhớ nhung và kỷ niệm của những người dân thỉnh thoảng trở về.
 
Tôi quay lại khách sạn, tự nhủ lòng: “Thôi nhé, vĩnh biệt Faifo.”
 
Bùi Bích Hà
Mùa dịch Covid19 / 24-05-2020
 


Huyền Trang

    Huyền Trang sưu tầm    
Ảnh minh họa

Xem thêm...

Vai Trò Của Người Soạn Ca Khúc và Ý Nghĩa Của Ca Từ

Vai trò của người soạn Ca Khúc

và ý nghĩa của Ca Từ

Tuyền Linh

music sheet

Vai Trò Của Người Soạn Ca Khúc và Ý Nghĩa Của Ca Từ

Trong nhiều năm trở lại đây, vấn đề ca từ trong một số ca khúc đương đại Việt Nam đã làm cho khán thính giả yêu âm nhạc quan tâm khá nhiều.
Trong bài nầy, người viết không có ý kiến gì về kỹ thuật hòa âm, giai điệu, tiết tấu, mà chỉ đơn thuần đề cập đến ca từ trong một số ca khúc Việt Nam đang được thịnh hành.
Như chúng ta đã biết, ca khúc trong âm nhạc là một bộ môn văn nghệ có sức lôi cuốn mãnh liệt đối với con người. Ca khúc nói lên cái hay, cái đẹp của con người và thiên nhiên trong vũ trụ bao la rộng lớn. Bằng hình thức cụ thể hay trừu tượng, ca khúc có thể miêu tả ( musique descriptive ) hay mô phỏng ( musique imitative ) một cách sinh động và hùng hồn những sinh hoạt đời thường xảy ra hàng ngày trong cộng đồng xã hội. Ngoài ra, ca khúc còn có thể nói lên những ý niệm, những tư tưởng sâu xa, uyên bác – cho con người những mỹ cảm ( emotion esthétique ) , là thứ khoái cảm đặc biệt của con người ở trên muôn vật : một chiếc lá vàng rơi rụng cuối Thu, một ánh sao băng trong bầu trời đêm u tịch, tia ráng chiều rọi xuống đàn mục đồng đang nằm vắt vẻo trên lưng trâu suốt nẻo đường về; bước chân khập khiễng của bà mẹ già đang lần tìm mộ con trong nghĩa trang để thắp nén nhang thương nhớ – tiếng suối reo, tiếng chim hót, tiếng ve râm ran giữa buổi trưa hè … Tất cả những âm thanh và hình ảnh ấy là những giao ngộ hữu hình hay vô hình của con người với con người và của con người với thiên nhiên, sự vật – nó thật sự không thể thiếu trong chúng ta. Chẳng phải một “ Mùa Thu Không Trở Lại” của ns Phạm Trọng Cầu được ra đời đó sao ? Như thế, ta thấy ca khúc đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần của con người. Vậy người viết ca khúc nên nghĩ gì, làm gì ?
 Tại sao âm nhạc đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người?
Trước khi nói đến vai trò và sứ mệnh của người viết ca khúc, tưởng cũng nên định nghĩa và phân tích sơ qua về danh từ ca khúc. Định nghĩa một cách nôm na, dựa trên hai chữ ca khúc ( pièce chantée ), ta thấy rõ danh từ nầy được chia làm hai phần : lời ca và khúc nhạc. Cũng dựa theo định nghĩa và phân tích trên, ta thấy giá trị một ca khúc cũng chia làm hai phần : một nửa cho giai điệu tiết tấu và một nửa cho ca từ. Vậy để có một ca khúc có giá trị đích thực thì người viết ca khúc phải hoàn thành tác phẩm của mình có đủ cả hai phẩm chất nêu trên. Tuy thế, nếu nghĩ cho thật sâu, sát thì ảnh hưởng của ca từ đến tinh thần và tư tưởng người nghe nhiều hơn giai điệu. Một ca khúc có phần hòa âm nghèo nàn, giai điệu tiết tấu gập ghềnh trắc trở, khi được tấu lên, cùng lắm làm cho người nghe nhàm chán, và tất nhiên, sau đó họ sẽ quên ngay. Trái lại, phần ca từ dù không hay, nhưng lời ca có phần tượng hình, không trong sáng, thì không nhiều cũng ít có ảnh hưởng đến người nghe, nhất là giới trẻ. Trong thực tế cuộc sống, ta thấy cái xấu, cái dở bao giờ cũng ảnh hưởng đến tuổi trẻ mạnh hơn cái tốt, cái hay. Vậy văn nghệ sĩ nói chung và người viết ca khúc nói riêng phải làm gì để giúp họ vượt qua lằn ranh giữa xấu và tốt nầy, để họ chọn được hướng sống đúng ? Theo thiển ý của tôi, người văn nghệ sĩ phải có hướng đi đúng trước đã.
Âm nhạc và Đời sống: Tình ca đất nước - Chương trình phát thanh ...
 Trong lãnh vực văn hóa nghệ thuật, người viết ca khúc đóng một vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng đất nước. Vì lẽ ấy, ta không nên áp dụng triệt để quá khẩu hiệu “ nghệ thuật vị nghệ thuật “ mà quên đi nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta. Đành rằng sáng tác ca khúc là một việc làm cá nhân của người nhạc sĩ, nhưng người viết ca khúc chân chính cũng không nên độc lập với đời, ngồi trong tháp ngà mà sáng tác; nên thực tiễn cuộc sống để viết lên những ca khúc hay cho đời đơm hoa kết trái. Hãy gần gũi với khẩu hiệu “ nghệ thuật vị nhân sinh “ để chia sẻ với người, với đời. Âm nhạc cho con người nghe để phát sinh hứng thú, để được nhìn xa hiểu rộng, để cảm thông tư tưởng và kết liên. Người viết ca khúc đừng nên mải mê với rung cảm cá nhân mà quên bẵng đi thực tại xã hội, cộng đồng. Chúng ta đừng quên rằng cá nhân là một thực tại của xã hội, liên quan mật thiết đến xã hội, chẳng thể nào tách mình ra ngoài xã hội được. Dù muốn hay không muốn cũng tương quan ảnh hưởng lẫn nhau. Ca khúc là một tác phẩm văn nghệ và cũng là con đẻ của xã hội, văn nghệ lạc hướng thì xã hội băng hoại. Văn nghệ sĩ nói chung và nhạc sĩ nói riêng nên lãnh một sứ mệnh trong công tác giáo dục xã hội, vạch hướng đi trong sáng cho xã hội, xây dựng xã hội, bởi văn nghệ ảnh hưởng rất sâu xa đến xã hội. Một nhạc sĩ sáng tác nên cần có sự cọ xát thực tiễn, có thế mới xúc động tâm tình để sáng tác. Sáng tác một ca khúc không chỉ giải bày tâm tư cho riêng mình mà còn có nhiệm vụ giải bày tâm tư của người khác trong cộng đồng xã hội nữa. Ca khúc chính là gạch nối gắn liền giữa nhạc sĩ với đời, vì nhạc sĩ chẳng những là kỹ sư âm thanh mà còn là kỹ sư tâm hồn của mình và của cả đại chúng. Người nhạc sỹ dùng kỹ thuật âm thanh cùng ý nghĩa lời ca để giúp đời nhìn rõ đường lối chân chính trong cuộc sống. Một ca khúc hay là một ca khúc kết tinh được tình ý sâu sắc, chẳng những nói lên được vẻ đẹp cá nhân mà còn cho người thưởng thức thấy được cái thật, cái đẹp của xã hội nữa. Nghệ thuật thơ văn hay âm nhạc bao giờ cũng nói lên được cái thật, cái đẹp ( thật ngoài vũ trụ, thật trong khoa học khách quan, và nhất là trong tâm lý ) hợp với đạo lý, mong làm đẹp cho tâm tính con người. Cái thật, cái đẹp vào đời nào, thời nào cũng được tôn vinh cả. Tiếc thay, ý thức được cái đẹp và cái thật lại bị hạn chế trong con người. Từ sự hạn chế nầy đã đưa đến sự nhận định sai lầm về giá trị cái đẹp, cái thật của một số người làm văn nghệ khiến họ lai căng, lạc hướng. Thậm chí có ca sĩ đã thành danh vững vàng, tuổi cũng đã gần lão bà mà còn ăn mặc hở rốn, hở đùi lên sân khấu nhún nhảy, lắc lư trông thật tội nghiệp. Tiếc quá ! Tiếc quá ! ! ! Xin đừng lẫn lộn cái thật, cái đẹp của một bức tranh khỏa thân với cái thật của một ca sĩ hở rốn, hở đùi trên sân khấu. Nhãn quan tự nó đã có sự phân tích , lý luận, đam mê lẫn cám dỗ riêng của nó.
 Nieuw festival voor klassieke muziek | NU - Het laatste nieuws het ...
 Trở lại vấn đề sáng tác ca khúc, những năm gần đây một số nhạc sĩ trẻ vẫn đam mê “ nghệ thuật vị nghệ thuật “, có khuynh hướng cá nhân trong các đề tài sáng tác. Gặp thời buổi công nghệ điện tử phát triển, họ ngồi trước màn hình internet để:
“ chiều chiều lang thang internet, em thì đi vào một trang web buồn…” hay “ triệu thông tin vẫn nghe lạc loài, cố quên hết căn phòng trống tin anh, chờ e-mail lãng du một mình…” Còn nhiều….nhiều những ca từ đại loại như thế nầy nằm trong các ca khúc đang được phổ biến trên thị trường Âm Nhạc ở nước ta.
 
Chẳng ai phản đối việc ca tụng tình yêu đôi lứa. Tình yêu đôi lứa là một đề tài rất đẹp trong âm nhạc, nó có sức hút mãnh liệt đến tâm tư tình cảm con người, bởi máu còn chảy thì trái tim vẫn còn réo gọi. Đẹp và lãng mạn biết bao một “ Mùa Thu không trở lại “ của ns Phạm Trọng Cầu, một “ Hương xưa “ của ns Cung Tiến, một “ Thu hát cho người “ của ns Vũ Đức Sao Biển, và còn biết bao ca khúc hay nói về tình yêu đôi lứa không thể kể hết được.
 5 thể loại nhạc giúp tăng hiệu suất làm việc - Thegioibantin.vn
 Thật ra thì cũng có rất nhiều nhạc sĩ trẻ tài năng, nhưng hình như cũng chưa thoát ra được vòng quay quá mạnh của nền kinh tế thị trường nên chưa định được cho mình một hướng đi riêng, có ý nghĩa làm đẹp đời. Tiếc quá ! ! ! Biết bao là đề tài sinh động trong đời sống thực tiễn và trong thiên nhiên muôn màu muôn vẻ để khai thác: nào là thiên tai bão lũ, giặc đói, giặc nghèo, trẻ em mồ côi khuyết tật, tệ nạn xã hội….Nghệ thuật chính là địa hạt của rung cảm trong cảm thông và chia sẻ, nhất là lãnh vực âm nhạc.
Tôi còn nhớ một nhà văn Tây phương nào đó đã nói:” Nếu con người không còn biết đau khổ thì nghệ thuật sẽ hết thức ăn và sẽ chết. Nước mắt của nhân loại chính là thứ sương lộ mầu nhiệm tưới cho cõi trần thế lầm than nầy mọc lên những bông hoa hương sắc diệu kỳ. Đó chính là những tác phẩm nghệ thuật “. Vậy tại sao ta cứ ngồi một chỗ, chôn mình trong các phòng trà ngập tràn bia rượu và khói thuốc, không ra ngoài nhìn trời cao bể rộng, nhìn cánh đồng lúa chín ngập tràn nước lũ, nhìn những cánh rừng bị chặt phá một cách thảm thương, nhìn tận mắt các em nhiễm chất độc da cam để cảm thông, chia sẻ ? Tình người, tình đời ở đó, tình yêu đôi lứa cũng phát sinh từ đó. Chẳng phải nhạc phẩm ” Tiếng sông Hương “ của ns Phạm Đình Chương được ra đời đó sao, và “ Em đâu biết ” của ns Thế Hiển, rồi “ Về đâu? Hỡi em yêu” của ns Thanh Hà-Xuân Qùy, và ” Đứa trẻ lang thang” của ns Chu Hoàng Thông v.v…
 Guide to compose piano music
 Người soạn ca khúc đóng một vai trò rất quan trọng trong việc chuyển tải tư tưởng và cảnh tình đến thính giả mà ca từ là phần cốt lõi. Dù ca khúc được viết với tiết tấu đương đại cách mấy đi nữa cũng không thể nằm ngoài quy luật nầy. Có thế giá trị đích thực của ca khúc mới vượt qua không gian và thời gian để sống mãi trong lòng người nghe. Có những nhạc phẩm ca từ không cao siêu, nhưng lời ca giản dị, mộc mạc dễ hiểu cũng được người nghe đón nhận một cách hoan hỉ, chân tình. Là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với con người, nhưng không phải người nào cũng đòi hỏi phải được ăn cao lương mỹ vị. Con người vốn thích nghi với hoàn cảnh, một dĩa rau muống luộc chấm với mắm nêm cũng cho được một bữa cơm ngon miệng với gia đình nghèo khó. Còn gì mộc mạc và lãng mạng bằng một “ Nắng Chiều “ của ns Lê Trọng Nguyễn, một “ Tiếng Lòng “ của ns Hoàng Trọng, một “ Bài Thơ Hoa Đào “ của ns Hoàng Nguyên…. Một ca khúc hay không bắt buộc phải có ca từ cao xa, siêu thực mà cần có nội dung rõ ràng để người nghe cảm nhận được tình, ý của tác giả muốn nói gì, gởi gắm gì trong tác phẩm của mình. Món ăn không cần cao lương mỹ vị, nhưng phải lành, sạch, hợp với khẩu vị thì ăn vào hẳn là ngon miệng, dễ tiêu hóa. Ngược lại, dù cao lương mỹ vị mà trộn lẫn nhiều thứ chua, cay, mặn, ngọt quá thì ăn vào ắt phải khó tiêu, mà đã không tiêu hóa được thì sinh ra đầy hơi, thương thực.
Gần đây, không hiểu vô tình hay cố ý mà một số nhạc sĩ trẻ sáng tác ca khúc có khuynh hướng nặng về phần tiết tấu hơn ca từ. Chẳng hiểu sự việc đáng tiếc nầy xảy ra do chủ quan hay khách quan (?) Dẫu vì lý do nào đi nữa, cũng mong những ai có tâm huyết hãy xem lại vấn đề để các tài năng trẻ có hướng đi đúng hơn trong việc soạn ca khúc.
 
 
Tuyền Linh - Nguyễn Văn Thơ
 
Một số cách thưởng thức âm nhac
 
Xem thêm...

Con Gái Hà Nội Xưa

Con Gái Hà Nội Xưa

Con gái Hà Nội xưa dưới góc nhìn của một người con Sài Gòn - Trí ...

Mẹ tôi nể phục mấy cô gái Hà Nội lắm. Dưới con mắt của người nhà quê ra Hà Nội làm việc vặt, bà thấy các thiếu nữ nơi đây ứng xử khôn khéo, nói năng lễ độ, và khuôn phép lắm. Đó là chưa kể thêu thùa may vá, nữ công gia chánh… Nói chung là đảm. Mỗi khi thấy mấy cô Sài Gòn tân thời quá, tự nhiên quá, bà lại chép miệng, con gái Hà Nội đâu có thế. Bà nói riết, nói riết… khiến tôi ngờ… bà muốn thằng con của bà nên đi tìm một thiếu nữ Hà Nội.
     Nhưng thế giới của tôi lại khác. Tôi sinh ra ở Sài Gòn, lớn lên ở Sài Gòn, bạn bè Sài Gòn, trong đầu tôi, nếu có, cũng chỉ là con gái Sài Gòn cho hợp… thủy thổ.

3315 1 ConGaiHNXuaVuTheThanh

     Mà con gái Bắc (di cư 54) hồi đó gớm lắm, vờn qua vờn lại, làm duyên, đá lông nheo, õng ẽo làm điêu đứng con trai Nam Kỳ đến là khổ. Một thanh niên xứ Biên Hòa đã phải cay đắng thế này:

Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc
Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền,
Nhớ khiêm nhường nhưng thâm ý khoe khoang,
Nhớ duyên dáng ngây thơ mà xảo quyệt…
(Nguyễn Tất Nhiên)

Con gái Tổng đốc khiến bao công tử nhà giàu mê đắm

     Tôi không có ý kiến gì về bài thơ trên, mà cũng chẳng dại gì có ý kiến. Mấy bà mấy cô Bắc Kỳ đọc bài thơ trên có nổi cơn tam bành rủa xả, thì chắc cũng chỉ mình rủa mình nghe thôi, chứ tác giả, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên chết rồi, chết trong một chiếc xe hơi cũ kỹ ở sân chùa bên California.
Dù sao cũng nên đọc tiếp thêm vài câu nữa mới thấy “cảm thương” cho tác giả:

…Ta vẫn nhớ dặn dò lòng tha thiết,
Nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ
Nên yêu đương bằng gương mặt khờ khờ
Nên hùng hổ để đợi giờ thua thiệt…

Người Hà Nội trước năm 1954 "ăn diện" thế nào?

     Những ngày sau 75, trên tivi Sài Gòn là những đoàn quân “chiến sĩ gái”, bước theo nhịp quân hành, chiếu cận cảnh với đôi mắt rực lửa căm hờn, giọng nói lanh lảnh. Cảm giác đầu tiên của tôi với các cô gái Bắc Kỳ (thứ thiệt) là… ớn lạnh. Tôi cười, “Đấy con gái Hà Nội của mẹ đấy…” Bà cụ lại thở dài, chép miệng… “Hồi trước đâu có thế…”
     Dĩ nhiên, mẹ tôi không thể phát hiện cái trò đánh lận rẻ tiền của thằng con, tỉnh bơ xem tất cả các cô Bắc Kỳ đều là các cô Hà Nội.
     Thực ra trong đầu tôi cũng có một chút gì đó mơ hồ về con gái Hà Nội. Biết tả thế nào nhỉ! Có thể là hình ảnh dịu dàng đằm thắm của cô Liên trong Gánh Hàng Hoa, hay thiếu nữ tân thời một cách bảo thủ, không sao thoát ra khỏi vòng lễ giáo của cô Loan trong Đoạn Tuyệt. Tôi cảm được nỗi cô đơn của Loan khi thả bộ trên bờ đê Yên Phụ… Đại loại là tôi đã nhìn thiếu nữ Hà Nội qua lăng kính của những tiểu thuyết trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi được học thời trung học..

3315 2 ConGaiHNVTT

     Cũng chẳng dừng ở đấy đâu. Khi đọc “Tuấn, chàng trai nước Việt”, một thứ tiểu thuyết hồi ký của Nguyễn Vỹ, tôi biết thêm rằng, các cô nữ sinh Hà Nội cũng lãng mạn ra rít. Họ kín đáo lập ra hội “Ái Tino”. Tino Rossi là ca sĩ người Pháp lừng danh thưở đó, và là thần tượng của vô số thiếu nữ, chẳng riêng gì thiếu nữ Hà thành. Cái “hội” kín đáo, chỉ lèo tèo dăm ba cô thế thôi, nhanh chóng tan hàng, và rồi mạnh ai người nấy tam tòng tứ đức, xuất giá tòng phu, công dung ngôn hạnh… Cái “lãng mạn tân thời” chỉ là đóm lửa, và họ nhanh chóng quay lại với sự thanh lịch, nề nếp theo giáo dục của gia đình.

con gai ha thanh va nhung quy tac nghiem khac: di nhe noi khe, an chuoi phai be doi - 7
     Năm 1980, lần đầu tiên tôi ra Hà Nội công tác. Anh bạn đồng nghiệp trạc tuổi, tốt nghiệp từ Đông Đức, chở tôi trên chiếc Simson lòng vòng Hà Nội. Nơi đầu tiên tôi muốn ghé thăm là phố Khâm Thiên. Anh bạn tròn xoe mắt, “Làm gì còn hố bom mà ghé thăm”. Tôi chợt hiểu vì sao anh bạn ngạc nhiên, nhưng không thể giải thích. Môi trường giáo dục trong Nam ngoài Bắc khác nhau..

Con gái Việt Nam thời xưa - 1960s. Retro girl VietNam - Hình ảnh ...
     Cái máu phóng đãng đã dẫn tôi đến phố Khâm Thiên, chứ không phải bom rơi đạn lạc ở đó. Đến, dù chỉ để nhìn vài căn nhà xiêu vẹo, cũng thỏa đôi chút tò mò về một thời vang bóng. Phong lưu tài tử giai nhân, đúng, nhưng không phải cách phong lưu của Vân Hạc trong Lều Chõng của Ngô Tất Tố. Anh chàng Vân Hạc khi chờ kết quả thi, ra vào chốn ả đào để vui say bè bạn, để trấn an nhau, để bốc nhau, để chờ ngày bảng vàng ghi tên.

con gai ha thanh va nhung quy tac nghiem khac: di nhe noi khe, an chuoi phai be doi - 4


     Tôi nhớ đến kiểu cách phong lưu của Cao Bá Quát, một tay chơi thứ thiệt, khi làm sơ khảo trường thi, tiếc bài thi hay mà phạm húy, đã dùng muội đèn để sửa. Việc lộ, bị kết án giảo giam hậu, ông phải đi dương trình hiệu lực, nghĩa là đi làm phục dịch cho phái đoàn đi công tác nước ngoài.    Con người tài hoa này, mang theo nỗi cô đơn đến phố ả đào giải sầu bên chén rượu, làm vài bài hát nói, đào nương hát, mình gõ nhịp…

Giai nhân nan tái đắc
Trót yêu hoa nên dan díu với tình
Mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh
Rầu rĩ lắm xuân về oanh nhớ…


3315 3 ConGaiHNVTTCũng lần đầu ở Hà Nội, buổi chiều chập choạng tối, lang thang ở phố Huế, tôi thấy một bà đi xe đạp ngược chiều, bị cảnh sát ngoắc lại. Bà năn nỉ thông cảm? Không. Bà phân bua? Không. Bà cãi tay đôi với cảnh sát rằng, nhất định mình đúng. Lương và nhu yếu phẩm phân phối còn không đủ sống, đâu dễ gì chịu nộp phạt. Đôi co với nhau mà cả hai vẫn một mực xưng hô… đồng chí. Tôi phì cười. Hà Nội có những điều không nằm trong trí tưởng tượng của một người Sài Gòn, lần đầu ra Hà Nội như tôi..
     Bây giờ, Hà Nội khác xa rồi. Hà Nội nhiều nhà cao tầng, cầu vượt. Hà Nội nhiều xe hơi hơn, Hà Nội giàu hơn. Hà Nội không còn những cảnh cãi tay đôi với cảnh sát buồn cười như thế nữa. Hà Nội văn minh hơn, nhưng có thể họ phải “cãi tay đôi” với chính mình, khi mà còn những cảnh thanh niên thiếu nữ “à la mode” hái hoa, giẫm hoa bẻ cành để chụp ảnh, hay gào thét tung hô thần tượng minh tinh Hàn Quốc. Đó là chưa kể bún mắng cháo chửi, rải rác vẫn còn đâu đó. Thương hiệu chăng? Tôi chịu! Ăn ngon mà nghe chửi, thôi thà ăn độn dễ nuốt hơn.

Tôi có bà bạn già (hơn tôi) là dân Hà Nội mấy đời. Cha bà là một trong số rất ít người xong bậc đại học thời Tây. Sau 54, nhà đông con, xoay sở không nổi, ông bố định cho 2 đứa con lớn tạm nghỉ học, đi làm rồi học bổ túc sau. Nhưng bà mẹ thì không, nhất quyết không. Bà đến gặp ông bà bác sĩ nhà bên mượn… tiền để các con tiếp tục ăn học. Họ cùng ở trong thành như bà, không vướng bận con cái, còn chút của ăn của để, đồng ý cho vay tín chấp, một thứ tín chấp tình người, thời nay khó tìm. Tôi hiểu ra, dân trí thức Hà Nội xưa có kiểu chơi “chẳng giống ai” (lúc này). Họ kín đáo giúp đỡ nhau trong những tình huống khắc nghiệt. Trong họ dường như chất “nhân” và lòng tự trọng được rèn luyện qua giáo dục, giấy rách phải giữ lấy lề. Mực đen và bão tố không thể vấy bẩn hay phá sập. Những năm sau 75, trong Sài Gòn tôi cũng thấy vài trường hợp như thế.

3315 4 ConGaiHNVTT

     Bà bạn (già) này, về chuyên môn, thì kiến thức mênh mông chứ chẳng vừa. Ăn nói nhẹ nhàng, nhưng quyết liệt khi cần. Vậy mà cư xử thì cứ dạ dạ,..cám ơn. Bà nói chuyện với tôi cũng thế, cũng dạ dạ… cám ơn. Tôi cười, sao chị khách sáo thế. “Không phải đâu, tôi được giáo dục trong nhà từ nhỏ như thế. Các anh chị em tôi cũng đều như vậy chứ chẳng riêng tôi. Hồi đi học, chỉ vì dạ dạ… cám ơn mà chúng tôi bị phê bình là tiểu tư sản. Ông bà cụ dạy con nghiêm khắc lắm. Tôi là con gái, đi học về là phải tập tành bếp núc, ăn trái chuối là phải bẻ đôi. Ở trường là chuyện khác, còn về nhà là đâu ra đó, vào khuôn phép.” Tôi cũng nhận ra sự “khách sáo chân thành” của bà, chứ không phải khách sáo đãi bôi.
     Dạo sau này, vì công việc tôi thường ra Hà Nội. Đi ăn hàng với bè bạn ở đó thì không sao, nhưng hễ đi một mình là bị chặt (giá), dù chỉ là chai nước tinh khiết, 10.000 đồng ở quán ven đường phố cổ. Bị chặt riết thành quen. Tôi nhủ thầm, lần nào ra Hà Nội mà không bị chặt coi như trúng số. Dù tôi cũng có vài người bạn thân ở Hà Nội, nhưng giữa tôi và Hà Nội, dường như vẫn còn khoảng cách nào đó. Tôi đến Hà Nội như một kẻ xa lạ, đến như đi nước ngoài không cần visa.
     Sài Gòn dễ hội nhập. Cứ ở Sài Gòn là thành người Sài Gòn. Chưa thấy mình là người Sài Gòn, ở lâu thêm chút nữa cũng biến thành người Sài Gòn. Sài Gòn đồng hóa con người nhanh lắm.

3315 5 ConGaiHNVTT

     Nhưng Hà Nội có lẽ khác, người ta đồng hóa Hà Nội như vũ bão, đồng hóa cạnh tranh từ nhiều nguồn khác nhau để tạo ra một văn hóa Hà thành hiện đại khó mô tả. Còn người Hà Nội (thứ thiệt) đành phải co cụm, khép kín, và giáo dục con cái theo cách riêng của họ để bảo tồn… di sản. Giáo dục từ gia đình mới tạo ra gốc rễ, chứ không phải là quy tắc ứng xử, hay giàu sang, quyền thế.
Hà Nội nhiều hồ. Hà Nội đẹp vì hồ vào những buổi sáng thật sớm, khi trời còn nhá nhem. Sáng lên, Hà Nội biến mất. Con gái Hà Nội (xưa) chắc cũng thế. Cuộc đời dâu bể đã làm họ biến mất, nhưng thực ra cũng chỉ lẩn quất, âm thầm đâu đó thôi.

 Nét duyên của người con gái Hà thành xưa
     Năm ngoái, đi ngang qua ngõ nhỏ trong khu phố cổ, tôi ghé tiệm tạp hóa mua chai nước lạnh. Bà bán hàng dễ cũng gần 70, đưa chai nước: “Thưa, của ông đây, giá 5.000. Cám ơn ông…” Tai tôi lùng bùng. Trong tiềm thức có cái gì nghe quen quen, đọc đâu đó rồi. Đã dợm chân đi, nhưng cũng quay lại: “Thưa bà, bà là người Hà Nội?”. “Vâng ạ, nhà tôi ở ngõ này đã ba đời rồi, từ thời ông nội tôi ra làm quan ở đây”.
     Mẹ tôi nói đúng về con gái Hà Nội. Họ hiếm hoi, ẩn mình như giọt nước đọng ở mặt dưới của lá cây sau cơn mưa. Có duyên mới gặp, phải tìm mới thấy.

 

Vũ Thế Thành

Kim Phượng sưu tầm

Con gái Việt thời nay rất sợ việc làm dâu' - Cộng đồng mạng ...

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này