Khoa học kỹ thuật

Khoa học kỹ thuật (197)

Dược sĩ đầu tiên của nước Mỹ

Dược sĩ đầu tiên của nước Mỹ

Sean Bảo

 

Lời giới thiệu: Ở những nơi có người Việt đông đảo, chúng ta có thể nhận thấy khá nhiều gương mặt trẻ người Việt ở những quầy thuốc. Ngành Dược là một trong những ngành được nhiều sinh viên gốc Việt chiếu cố, có lẽ nhờ lương cao và không “nặng nhọc” tay chân. Tuy nhiên, học Dược cũng cần những tiêu chuẩn cao, đặc biệt là trí nhớ thật tốt… Chúng ta thử trở lại ngày xưa, những người Dược sĩ đầu tiên của đất Mỹ làm việc ra sao….

duoc-si-dau-tien-cua-nuoc-my3
Chân dung Dufilho và bằng dược sĩ số 001 của tiểu bang Louisiana.

Ở Mỹ, Pharmacy ngày xưa gọi là Apothecary, nghĩa là cửa hàng, nhà kho, nơi đơn giản được điều hành bằng chủ nhân có 6 tháng thực tập kiến thức y khoa sơ sài. Thời ấy chưa có các tiêu chuẩn và luật lệ trong việc chữa, phòng bệnh và bán thuốc. Nhưng bắt đầu vào năm 1804, sau khi nước Mỹ mua được vùng đất Trung Mỹ gọi là Louisiana Purchase từ Pháp, thì tiểu bang Louisiana là nơi đầu tiên đã thay đổi lịch sử dược khoa nước Mỹ,

New Orleans là thành phố đô hội và phát triển nhất nước vào những năm 1800. Cửa ngõ vào nước Mỹ với thương cảng từ vịnh Mễ Tây Cơ và con sông cả Mississippi, nơi còn lại dấu tích huy hoàng của cựu đế quốc Pháp và văn minh Châu Âu, nơi rộn ràng tấp nập thương buôn và di dân tụ về từ hơn 25 quốc gia trên thế giới, trong số đó có cả người nô lệ và kẻ giang hồ tứ xứ. Những chiếc tàu thương buôn tấp nập làm nên thủ đô tráng lệ sầm uất, nhưng cũng mang đến những dịch bệnh kinh hoàng, trong đó có bệnh sốt vàng da do muỗi lây lan. Với vùng đầm lầy và khí hậu ẩm thấp, dịch lan rộng nhiều lần từ năm 1796, gia đình Thống đốc lãnh thổ Louisiana là William C.C. Claiborne nhiễm bệnh, vợ và con gái mất, 5 năm sau người vợ thứ nhì cũng nhiễm bệnh qua đời.

Dịch bệnh tiếp tục hoành hành hàng năm, có nơi cao đến 1,300 người chết trong một tuần. Mùa hè năm 1853, 1 phần 5 số người di dân Irish ở Baton Rouge chết vì dịch. Nhà người chết bị phong tỏa và treo lá cờ vàng cảnh báo, người ta còn gọi sốt vàng da là yellow jack (thủy thủ gọi jack là lá cờ).

duoc-si-dau-tien-cua-nuoc-my2
Các phẩm vật Voodoos dùng cúng trừ tà, chữa bệnh
 Louisiana là tiểu bang đầu tiên đòi hỏi dược sĩ phải có bằng hành nghề. Sau khi Thống đốc Claiborne thành lập một hội đồng giám thị y khoa năm 1816, khảo thí vấn đáp 3 giờ đồng hồ trong một kỳ thi đầu tiên ở Cabildo trong khu quảng trường Jackson. Người dược sĩ đầu tiên được cấp bằng là Louis Dufilho Jr., một dược sĩ di dân người Pháp. Sau khi tốt nghiệp trường thuốc ở Paris, Dufilho đến Mỹ định cư ở Louisiana. Năm 1823 ông mở pharmacy.

Ngoài những thứ thuốc thông dụng để chữa bệnh, trong pharmacy của ông vẫn có phổ biến những con đỉa sống, thuốc phiện, nước soda như coke để pha thuốc uống và ngay cả các phương thức gọi hồn, cúng vong, trừ tà đuổi quỷ mà người nô lệ Haiti mang theo đến New Orleans gọi là Voodoo. Ông không phải là phù thủy, thầy cúng như các người di dân trong bộ lạc Châu Phi, nhưng Dufilho cũng bán các phẩm vật và cỏ cây, củ rễ cho dân thành phố mua về cúng bái, phù phép…

duoc-si-dau-tien-cua-nuoc-my4
Đỉa sống dùng hút máu trong pharmacy

Các dược sĩ thời ấy cũng là bác sĩ, họ khám bệnh và cho thuốc. Các dược sĩ pha chế thuốc men thời hoang sơ ấy cũng như các vị bán thuốc Bắc, thuốc Nam xứ mình. Họ dùng cây cỏ, rễ, lá, khoáng chất trong thiên nhiên, động vật, ngay cả côn trùng để làm thuốc. Giã trong cối đá bằng chày, nghiền nát, dùng bột vo lại thành viên thuốc, hay pha vào soda, syrup. Cối chày nghiền thuốc ngày nay còn được dùng làm biểu tượng cho Pharmacy.

Những lọ nước có nhiều màu được trưng bày sau các cửa kính của pharmacy, khách bộ hành đi ngang đều ngước nhìn. Những chai nước màu thủy tinh này về sau được cải tiến cho đẹp và bắt mắt bằng các quả cầu treo gọi là “show globes”, chúng như các đèn chùm, hắt ra ánh sáng khi dọi đèn vào.

Show globes đã được dùng ở Châu Âu từ thế kỷ 14, trở thành biểu tượng cho pharmacy cũng như các ống màu trắng đỏ xoay quanh biểu tượng cho các tiệm hớt tóc barber. Ở tầng trệt, dọc tường là hàng đống các chai lọ thuốc trên các ngăn kệ, có cả các dụng cụ sắc bén để cưa xương, xẻ da và các loại hóa chất. Các tấm bảng ghi phương thức điều trị, nước hoa, mỹ phẩm và ngay cả các phẩm vật cúng bái cho việc cầu hồn. Tầng lầu có phòng ngủ, nghiên cứu của chủ nhân, phòng cho bệnh nhân với thiết bị và dụng cụ gây mê.

Cũng trong pharmacy đầu tiên này ở Louisiana có bán whiskey, thời cấm rượu của Mỹ đã dành cho các y, dược sĩ được phép bán rượu, cồn, thuốc phiện như là thuốc mua toa. Ngay cả vào đầu thế kỷ 19, phụ nữ bị quặn bụng hành kinh còn dùng băng vệ sinh nhúng với thuốc phiện và cây cà dược để giảm đau. Ðằng sau vườn có một sân trồng các cây làm thuốc, cũng như chúng còn được dùng trong y khoa ngày nay.

duoc-si-dau-tien-cua-nuoc-my5
Louis Dufilho Jr. Pharmacy ở New Orleans.

Dược sĩ đều pha hay cho uống thuốc với soda. Các bồn phun soda như quầy giải khát với đủ các mùi vị, có khi pha cồn và cả thuốc phiện. Thuốc phiện, laudanum và heroin dùng giảm ho, đau, gây mê, trị tiêu chảy và được dùng phổ biến điều trị hầu như bá bệnh. Bệnh nhân vào pharmacy mua các con đỉa, đem đến bác sĩ để cho đỉa hút các máu được xem là độc gây bệnh, hay cho là bị dư máu.

Thời ấy các y sĩ chữa trị bằng nhiều phương pháp thô sơ lạ kỳ.Họ làm cho bệnh nhân nôn tháo ra, cho uống thủy ngân… Nhưng phổ biến là trích máu, cho chảy hết máu được xem là “độc” trong người bệnh nhân ra bằng con đỉa hút. Từ ngàn năm trước, cứ nhức đầu hay sốt nóng thì bác sĩ làm việc đầu tiên là cho máu chảy từ tĩnh mạch. Họ dùng dao hay gỗ vót nhọn xẻ da và hứng máu trong chậu. Nếu có các con đỉa hút máu thì hiệu quả hơn, vì khi hút máu đỉa tiết nước bọt gây tê và chất chống đông máu.

Cái chết của vị Tổng thống Mỹ đầu tiên George Washington cũng do mất máu nhiều vì phương thức điều trị y khoa cổ điển này. Sáng ngày 13 tháng 9, 1799 ông thức dậy với cổ họng đau rát và sau đó mệt dần. Ngày hôm trước ông đã bị cảm lạnh khi đi tuần tra trong đồn điền dưới trời băng tuyết. Ông cho người trích gần 2 ly máu. Ngày sau, 3 vị bác sĩ đến và tiếp tục trích máu. Trong vòng 16 giờ đồng hồ hơn 3 lít máu chảy ra đã lấy đi mạng sống của ông. Vào đến cuối những năm 1800 thì phương pháp điều trị này mới chấm dứt.

duoc-si-dau-tien-cua-nuoc-my1
Toa thuốc bằng vải được lưu trữ trong pharmacy

Khi những người di dân đến vùng Tân Thế Giới, họ vượt qua mọi khó khăn, bệnh dịch, chống chọi với thổ dân và tồn tại lập nên thuộc địa Jamestown đầu tiên năm 1607, thì mãi đến năm 1752 bệnh viện đầu tiên mới được xây ở Pennsylvania. Hẳn nhiên trong bệnh viện này có pharmacy. Sau đó thì toàn quốc có chừng 170 bệnh viện. Năm 1821, 5 năm sau khi Dufilho nhận bằng dược sĩ đầu tiên của nước Mỹ thì trường Ðại học dược Philadelphia đầu tiên của nước Mỹ ra đời. William Procter Jr. là dược sĩ tốt nghiệp trường thuốc này năm 1837, ông xuất bản cuốn sách thuốc đầu tiên

The American Journal of Pharmacy, 1852, mục đích chính dùng thuốc chủ yếu trong chữa bệnh nhắm vào 3 phương pháp: tẩy độc tố trong cơ thể, làm cho nôn tháo ra và toát mồ hôi. William Procter Jr. được xem là cha đẻ củangành dược ở Mỹ. Nhưng xét về thời gian và tấm bằng của tiểu bang Louisiana, thì Dufilho, một người di dân Pháp, mới thực sự là dược sĩ đầu tiên của Mỹ.Bằng luật pháp, Louisiana là tiểu bang đầu tiên trong nước quy định giấy phép hành nghề dược, dược sĩ phải được trang bị kiến thức khoa học hiện đại sau nhiều năm học hành và thực tập. Thay vì mê tín và lạc hậu, dùng súng cà nông bắn lưu huỳnh vào không khí để xua đuổi “khí độc”, Dufilho đã dùng ký-ninh, thuốc được tìm thấy trong vỏ cây Cinchona ở Peruđể điều trị sốt vàng da và tả lị.

Ông có người em trai bị mất vì sốt vàng da, nên ông lao vào chăm sóc chữa trị cho hơn 130 ngàn bệnh nhân bị bệnh dịch. Ông cũng nghiên cứu và chế tạo các phương thuốc từ cây cỏ, các công thức và tỉ lệ các dược phẩm được ghi chép tỉ mỉ, các toa thuốc chỉ định bọc trong những túi vải của từng khách hàng bệnh nhân còn được lưu lại trong pharmacy của ông. Dufilho còn tham gia Hiệp hội Howard, tiền thân của Hội Chữ Thập Ðỏ. Ðóng góp không nhỏ của ông đã làm thay đổi nền tảng dược khoa và phương thức điều trị cho bệnh nhân.

duoc-si-dau-tien-cua-nuoc-my
George Washington được điều trị bằng trích máu năm 1799

Pharmacy của Dufilho ngày nay được trùng tu và bảo tồn như cách đây 200 năm. Những cối, chày nghiền thuốc; những kệ chứa đầy chai, lọ, hũ; cân đo lường, các cưa xương và khoang sọ, ghế khám sản phụ và các loại thuốc sử dụng thời ấy. Du khách có thể thấy chân dung của ông với tấm bằng dược sĩ đầu tiên mang số 001 của Hội đồng Dược khoa Louisiana, chỉ cách vài góc phố từ bến sông Mississippi, nằm trong khu French Quarter, tiếng nhạc Jazz âm vang trong thành phố cổ, hương Cafe du Monde nồng nàn. Và dấu tích lịch sử của Dufilho, một người di dân Pháp được xem là dược sĩ đầu tiên của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ – đất nước của những người di dân.

 

New Orleans Pharmacy Museum - Louis J. Dufilho,

Jr. was America's First Licensed Pharmacist.

 

* ◄ ◊ ► ◄ ◊ ► ◄ ◊ ► ◄ ◊ ► ◄ ◊ *

 

Hồng Anh st

Xem thêm...

10 phát minh vĩ đại của phụ nữ làm thay đổi cả thế giới

10 phát minh vĩ đại của phụ nữ

làm thay đổi cả thếgiới

Phụ nữ không chỉ tạo nên một nửa thế giới bằng sự dịu dàng và chu đáo trong căn bếp của mỗi gia đình. Họ còn có thể dùng trí thông minh và tấm lòng biết cảm thông của mình để tạo ra những phát minh khiến cuộc sống của chúng ta trở nên nhẹ nhàng, thoải mái và an toàn hơn nhiều lần.

1. Hệ thống sưởi bằng năng lượng Mặt trời cho nhà riêng

Hệ thống sưởi đóng một vai trò vô cùng quan trọng vào mùa đông, ở các nước phương Tây. Tuy nhiên, hệ thống sưởi bằng những nhiên liệu thông thường như ga hoặc điện rất đắt đỏ. Đó là lý do tại sao, hệ thống sưởi bằng năng lượng mặt trời được chào đón nồng nhiệt khi nó ra đời.

Người khai sinh ra hệ thống này là nhà vật lý học người Hungary TS. Maria Telkes, bà cũng là nhà khoa học tiên phong trong các nghiên cứu liên quan đến năng lượng mặt trời. Vào những năm 1940, bà đã cộng tác với nữ kiến trúc sư Eleanor Raymond, để xây dựng nên ngôi nhà đầu tiên được sưởi hoàn toàn bằng năng lượng thiên nhiên.

Hệ thống sưởi của bà sử dụng một chất hóa học có khả năng kết tinh và giữ nhiệt, khi chất hóa học này được chiếu xạ, nó có khả năng giữ cho nhiệt độ căn phòng được ổn định. Hệ thống sưởi này không cần dùng đến bất kì sự hỗ trợ nào từ điện, mà vẫn có thể giữ cho một căn nhà 5 phòng tại Dover (Hoa Kỳ) được ấm cúng suốt cả mùa đông.

2. Túi giấy

Trước năm 1968, người ta thường sử dụng những chiếc bì thư để đựng đồ. Tuy nhiên diện tích nhỏ hẹp là điểm bất lợi chính của bì thư. Margaret Knight, một công nhân dệt sợi đã đưa ra ý tưởng về một chiếc túi giấy có đáy vuông vào năm 1870. Đồng thời, cô đã phát minh ra một chiếc máy cắt, gấp và tạo đáy hình vuông cho chiếc túi. Kiểu đáy này đã giúp phân phối đồng đều trọng lượng của đồ đạc lên đáy túi, khiến chiếc túi đựng được nhiều đồ hơn và cũng trở nên chắc chắn hơn.

Không may, Margaret nhận ra ý tưởng của cô đã bị Charles Annan đánh cắp, nhưng cô đủ bằng chứng để bảo vệ ý tưởng của mình. Cô sử dụng phác hoạ và các ghi chú để chứng minh rằng sáng chế đó là của cô và cô đã chiến thắng trong cuộc chiến pháp lý dài, để có được quyền sở hữu sáng chế của mình.

3. Bỉm dùng một lần

Phát minh này thuộc về một bà nội trợ của Mỹ, bà Marion Donovan. Phát minh của bà đã được cấp 4 bằng sáng chế. Bà Donovan trong khi chăm sóc con gái sơ sinh đã nhận thấy sự bất tiện của việc cuốn tã vải cho trẻ nhỏ, bà nảy ra sáng kiến: Dùng rèm nilong trong nhà tắm khâu cùng với mảnh vải tã để làm nên chiếc bỉm đầu tiên cho con gái.

Bà cũng lập nên một công ty nhỏ để kinh doanh sản phẩm do mình phát minh. Trong giai đoạn đầu, những chiếc bỉm của bà không được công chúng đón nhận. Tuy nhiên, bà Donovan không nản chí, bà cải tiến cho chiếc bỉm thành không thấm nước và đứng bán các sản phẩm mới ở đại lộ Saks Fifth. Cuối cùng, bà cũng có thể bán sáng chế của mình cho tập đoàn Keko với giá 1 triệu USD.

4. Hệ thống truyền tín hiệu không dây

Ngoài việc là một diễn viên xinh đẹp trên màn ảnh, bà Hedy Lamar còn là một nhà sáng chế. Học được kỹ thuật công nghệ từ người chồng là ông Fritz Mandel, một nhà buôn vũ khí làm việc cho Đức Quốc xã, sau này bà đã vận dụng kiến thức ấy và cùng với nhà soạn nhạc Geogre Antheil, sáng chế ra thiết bị chống nhiễu sóng vô tuyến cho các thiết bị điều khiển tên lửa.

Ý tưởng của bà là một phát minh vượt thời đại, đó là một sóng vô tuyến luôn luôn di chuyển tần số khiến cho chúng trở nên không thể bị chặn lại.

Được cấp bằng sáng chế vào tháng 8 năm 1942, nhưng 20 năm sau, trong vụ khủng hoảng tên lửa Cuba, phát minh này mới được ứng dụng rộng rãi. Đây chính là tiền thân của những phát kiến gắn liền với cuộc sống hiện đại của chúng ta như mạng Wifi và sóng Bluetooth. Đồng thời nó được áp dụng trong các hệ thống điện thoại di động, mã hóa vệ tinh.

5. Bà mẹ của những nhà lập trình

Đô đốc Grace Murray Hopper là một nhà khoa học máy tính và cũng là sĩ quan trong Hải quân Hoa Kỳ. Bà không chỉ viết nên trình biên dịch máy tính cho chiếc máy tính đầu tiên (máy Mark I, có kích cỡ bằng cả một căn phòng) mà còn là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “bugging” và “debugging”, những thuật ngữ mà ta vẫn dùng cho tới ngày nay.

Từ năm 1967 đến năm 1977, bà là Giám đốc Văn phòng Thông tin quy hoạch hệ thống Hải quân Hoa Kỳ. Đây cũng là khoảng thời gian bà phát triển “ngôn ngữ lập trình COBOL”, một trong những thành công lớn nhất trong sự nghiệp của bà. COBOL được lấy từ các chữ cái đầu của từ Common Business-Oriented Language. Mục đích của COBOL là hướng đến thương mại, tài chính và các hệ quản lý của các công ty và chính phủ.

COBOL rất dễ viết, dễ đọc lại dễ sửa hoặc viết thêm vào. Năm 2006, công ty nghiên cứu thị trường công nghệ thông tin Gartner thông báo: hiện tại 60% các chương trình máy tính chuyên nghiệp được viết hằng ngày bởi ngôn ngữ COBOL.

6. Áo giáp kevlar

Đây là một phát minh mang tính “tình cờ” của nhà hóa học Stephanie Kwolek. Vào năm 1966, bà Stephanie Kwolek được giao nhiệm vụ tìm ra một chất liệu mới bền hơn để chế tạo các loại lốp xe. Trong quá trình tổng hợp chất mới theo yêu cầu này, bà Kwolek đã phát hiện ra một loại sợi đanh, cứng, có độ bền vững gấp 5 lần thép và đặc biệt không bắt lửa.

10 năm sau khi sợi Klevar được phát hiện, các nhà nghiên cứu đã phát triển mẫu áo chống đạn súng ngắn sử dụng loại sợi đặc biệt này. Vào năm 1975, những chiếc áo giáp chống đạn đầu tiên chính thức được trang bị tại nhiều sở cảnh sát tại Mỹ.

Ngày nay, người ta còn dùng sợi Klevar trong việc chế tạo khoảng 200 vật dụng quan trọng khác, ví dụ như: lốp xe, giày cho lính cứu hỏa, gậy khúc côn cầu, găng tay bắt dao, cáp quang, nệm chống cháy, bọc thép cho xe hơi và được dùng làm vật liệu để sản xuất cano.

7. Máy rửa bát

Bà Josephine Cochrane đã phát minh ra chiếc máy rửa bát vào năm 1886. Trái ngược hẳn với những gì người ta có thể tượng tượng ra, bà Cochrane không phải quá lo lắng về việc rửa bát, bà sống trong một gia đình sung túc với đầy đủ những người giúp việc.

Tuy nhiên không hài lòng với sự thiếu cẩn trọng của người làm đối với những món đồ sứ tinh tế, kết hợp với dòng máu của một kĩ sư cơ khí (được truyền từ ông nội và bố) bà đã tự mình mày mò và sáng chế ra chiếc máy này. Máy rửa bát của bà là sử dụng nước nóng và áp suất để làm sạch các vết bẩn. Đây chính là những nhân tố tạo nên sự tối ưu của chiếc máy so với những máy rửa bát đã được sáng chế ra từ trước đó. Cơ chế hoàn hảo này vẫn còn được sử dụng cho tới ngày nay.

8. Kính gạt nước

Năm 1903 là năm đầu tiên bà Mary Anderson đưa ra ý tưởng về một cần gạt kính hoạt động bằng tay. Nhưng đáng buồn thay, phát minh của bà lại bị bỏ qua vào thời điểm đó. Tuy đã được cấp bằng sáng chế, nhưng chiếc cần gạt nước của bà lại không được sử dụng rộng rãi.

Chỉ cho tới thời kì hiện đại, người ta mới nhìn thấy sự cần thiết của chiếc cần này cho việc đảm bảo an toàn khi lái xe trong những điều kiện thời tiết xấu. Và thật bất ngờ, chiếc cần gạt nước tự động đầu tiên cũng là sáng chế của một phụ nữ – bà Charlotte Bridgwood.

9. Xuồng cứu hộ

Một ngày nọ của năm 1882, Maria Beasely đứng trông ra biển và nói: “Người ta thực ra là không nên phải chết vì những tai nạn hàng hải nữa”. Và thế là bà phát minh ra chiếc xuồng cứu hộ đầu tiên. Bà còn sáng chế ra một loại máy chế tạo thùng chứa bằng gỗ (barrel) và sáng chế này giúp bà trở nên rất giàu có.

10. Máy làm kem

Phát kiến “vĩ đại” đối với nền ẩm thực thế giới này thuộc về một phụ nữ Hoa Kỳ, bà Nancy Johnson. Năm 1843, bà Johnson đã tạo nên chiếc máy làm kem đầu tiên trong lịch sử. Chiếc máy của bà là một thùng gỗ với phần lõi ở trong là một xi lanh (hoặc một hộp nhỏ) bằng nhôm. Khoảng trống giữa hai lớp thùng sẽ được lấp đầy bằng đá lạnh. Kem sẽ được “quay” trong thùng lạnh này cho đến khi đạt được kết cấu như chúng ta vẫn quan sát.

Cấu trúc máy làm kem của bà hoàn hảo tới mức, nó vẫn được sử dụng cho tới ngày nay.

 

Nguồn ảnh: herplacemuseum

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

Xem thêm...

10 Chiếc cầu nước kỳ lạ và độc đáo nhất thế giới

10 Chiếc cầu nước kỳ lạ và

độc đáo nhất thế giới

□◇□□◇□□◇□

Có rất nhiều điều kỳ vĩ trên thế giới mà thật đáng tiếc nếu bạn chưa từng được nhìn thấy, dù là trực tiếp hay gián tiếp. Trong bài này là câu chuyện về một cây cầu sẽ khiến bạn phải ngạc nhiên vì vẻ đẹp của nó.

Năm 2002, cả thế giới ngả mũ bái phục trước Veluwemeer Aqueduct – một kiến trúc sư thiên tài đã nối liền vùng lục địa của Hà Lan với Flevoland, một hòn đảo nhân tạo

Có rất nhiều ý kiến được đưa ra thảo luận, bao gồm hoặc xây dựng một hầm ngầm dưới nước, hoặc một cây cầu bình thường. Tuy nhiên các dự án xây dựng này quá tốn kém và mất thời gian.

Ý tưởng chủ đạo là làm sao giao thông trên cạn và dưới nước được lưu thông, không bị tắc nghẽn bởi tàu phà.
Ý tưởng giao thông bình thường trên cạn và dưới nước được vận hành. 
Cây cầu nước này cũng có phần đường dành cho khách bộ hành,
đặc biệt nó có hai bên đường đi bộ ở làn đường cao tốc.
    
Cuối cùng, người ta đưa ra một quyết định dường như không tưởng, đó là xây dựng một cây cầu nước. Cây cầu nước này cũng có phần đường dành cho khách bộ hành, đặc biệt nó có hai bên đường đi bộ ở làn đường cao tốc. Hiện nay, hơn 28.000 xe ô tô đi lại dưới cây cầu sâu 10 mét này, và tàu bè thì thoải mái đi lại nhờ phần nước bao phủ bên trên cầu. 

Cầu nước (được hiểu là “con sông này nằm trên con sông kia”) là cấu trúc cầu mang theo kênh mương để tàu bè có thể di chuyển được qua những dòng sông, thung lũng, đường sắt và đường bộ.

1_ Cầu nước Pontcysyllte – Anh
 
Cầu nước Pontcysyllte nằm trong hệ thống dẫn nước từ kênh Llangollen đến các mỏ than ở Denbighshire và hệ thống kênh rạch ở xứ Wales, bắc qua thung lũng sông Dee. Bắt đầu xây dựng năm 1795 và hoàn thành năm 1805, công trình này được cho là cây cầu nước dài nhất và cao nhất ở Britain.
 
 
Ngoài ra, nó còn được liệt kê vào nhóm công trình Hạng mục I (Grade I Listed Building) và là Di sản Thế giới được UNESCO công nhận. Cầu nước Pontcysyllte được xây dựng bởi Thomas Telford và William Jessop. Cầu Pontcysyllte cấu tạo gồm một máng chứa nước làm bằng thép dài khoảng 307 mét, rộng 3,4 mét và sâu 1,6 mét, nằm trên 18 trụ đỡ được xây bằng đá cao 38m.
 
Đường kéo tàu thuyền được gắn trên mặt nước, cùng các cạnh bên được gắn bằng những trụ đúc bằng gang. Ngoài ra, trên cầu còn có hành lang dành cho người đi bộ. Việc xây dựng kết hợp những vật liệu như thép và đá làm cho chiếc cầu trở nên nhẹ nhàng, giúp những chiếc thuyền nhỏ và hành khách có thể di chuyển dễ dàng qua nó. Khi mới được đưa vào sử dụng, cầu nước Pontcysyllte tạo điều kiện thuận lợi cho ngành công nghiệp khai thác tại Denbighshire. Tuy nhiên ngày nay, cây cầu nước này chỉ sử dụng để phục vụ hành khách đến thăm quan.
 
2_ Cầu nước Håverud – Thụy Điển
 
Cầu nước Håverud là một trong những thành tựu kỹ thuật lớn nhất lúc bấy giờ. Giữa những năm 1860, cầu nước Håverud được xây dựng với mục đích là cây cầu bắc qua hệ thống kênh đào Dalsland, giúp cho tàu thuyền qua lại giữa hồ Vänern với khu vực trung tâm của Dasland và vùng hồ phía Tây Nam của quận Värmland.  
 
 
Công trình này là hệ thống máng nước bằng thép dài 33,5m, được ghép lại với nhau bằng 33.000 chiếc đinh tán. Ngày nay, hệ thống kênh đào Dalsland là một địa điểm thu hút rất nhiều du khách bởi cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, kết hợp với hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ và đường sắt trên cao. Du khách có thể ngồi thuyền hoặc đi bộ trên chiếc cầu nước này để ngắm nhìn dòng thác đang chảy ở phía dưới và những phương tiện giao thông đường bộ đang chạy ở phía trên.

3_ Cầu nước Magdeburg – Đức
Người Đức đã khởi công xây dựng từ năm 1997 đến năm 2003 để hoàn thiện 918m cầu nước bắc qua sông Elbe nằm gần thị trấn Magdeburg. Các kỹ sư xây dựng hệ thống kênh đào đã kết nối kênh đào Elbe-Havel với kênh đào Mittelland, giúp rút ngắn thời gian di chuyển giữa 2 kênh này từ khoảng cách 12km xuống còn 1km.
 
Được khởi công xây dựng từ năm 1905 nhưng bị trì hoãn do Chiến tranh thế giới lần thứ hai, cho đến tận năm 1997 cầu Magdeburg mới được xây dựng trở lại và hoàn thành vào năm 2003.  
 
 
Sau khi hợp nhất nước Đức, những tuyến đường giao thông trên nước được ưu tiên xây dựng lại. Năm 1997, công trình này được xây lại, kéo dài trong 6 năm với chi phí lên tới 500 triệu euro. Cây cầu nước Magdeburg này sẽ kết nối cảng nội địa của Berlin với các cảng nằm dọc trên sông Rhine. Với tổng chiều dài 918 mét, cây cầu cần 24.000 tấn thép và 68.000m khối bê tông gồm 3 đoạn dài 228m, rộng 34m và sâu 4,25m. Ngày nay, cầu nước Magdeburg được xem là cây cầu nước hiện đại nhất thế giới.

4_ Cầu nước Ringvaart Haarlemmermeer – Hà Lan 
 
Nằm gần Roelofarendsveen (thị trấn nằm phía tây Hà Lan), kênh đào Ringvaart bắc qua đường cao tốc A4 bằng một cây cầu nước. Cầu nước Ringvaart Haarlemmermeer được xây dựng vào năm 1961, do vậy nó là một cây cầu nước lâu đời nhất ở Hà Lan. Năm 2006, công trình xây dựng hoàn thành xong hai phần: hướng về phía đông có làn đường cao tốc mới mở rộng theo phía bắc và hướng về phía tây là đường sắt cao tốc HSL-Zuid mới. Cây cầu nước này dài 1,8km.
 
5_ Cầu nước Pont du Sart – Bỉ 
 
Cầu nước Pont du Sart là cây cầu mang nước từ kênh Centrumkanaal (nằm phía Tây Vương quốc Bỉ) vượt qua giao lộ đường N55 và N535 gần thị trấn Houdeng-Goegnies. 
 
 Hệ thống dẫn nước này được xây dựng bằng bê tông có chiều dài 498m và rộng 46m, trọng lượng khoảng 65.000 tấn được nâng đỡ bởi 28 trụ bê tông và đường kính mỗi trụ là 3m.
 
6_ Cầu nước Veluwemeer – Hà Lan
 
Veluwemeer là cầu nước cắt ngang đường cao tốc N032 nằm gần thị trấn nhỏ Harderwijk, miền Đông Hà Lan. Nó là một phần nhỏ của hồ Veluwemeer, đồng thời giúp kết nối phần đại lục của Hà Lan với hòn đảo mang tên Flevoland (được biết đến là một trong những công trình nhân tạo vĩ đại nhất thế giới). 
 
Cầu nước Veluwemeer có chiều dài 25 mét, mỗi ngày có khoảng 28.000 lượt xe cộ đi qua. Cây cầu nước này được mở cửa thông xe vào năm 2002.

7_ Cầu nước Briare – Pháp
 
Cầu nước Briare mang nước từ kênh đào Latéral à la Loire vượt qua sông Loire đến sông Seine của Pháp. Từ giữa năm 1896 đến năm 2003, cầu nước Briare được xem là hệ thống cầu dẫn nước dài nhất thế giới cho đến năm 2003, cầu nước Magdeburg tại Đức được đưa vào sử dụng đã lấy đi vị trí số 1 của nó.
 
 
Cầu nước Briare được xây dựng trên 14 trụ cầu. Những trụ cầu này là những dầm thép đơn hỗ trợ kênh thép chứa hơn 13.000 tấn nước, có độ sâu 2,2m và rộng 6m cho phép tàu thuyền cùng lưới rộng 1,8 mét có thể đi qua được. Chiều rộng của cầu nước là 5,2 mét và chiều dài của hệ thống dẫn nước này là 662,7 mét.

8_ Cầu nước Naviduct Krabbersgat – Hà Lan
 
 
Cầu nước Naviduct Krabbersgat ở Hà Lan là hệ thống dẫn nước hỗ trợ tàu bè qua lại giữa hồ Markermeer và hồ Ijsslmeer, được tích hợp bởi một cơ chế khóa 2 chiều vì mực nước giữa 2 hồ có sự chênh lệch cao thấp. Đây là dự án lớn độc đáo gồm một tàu khóa với một đường hầm giao thông đường bộ được hình thành để giảm bớt tắc nghẽn giao thông cho cả xe cộ lẫn giao thông du lịch biển. 
 
 
Kiến trúc khổng lồ này có chiều dài 125 mét và chiều rộng 25 mét. Bên cạnh đó, 1.450 m3 đất được di dời đi thay vào đó là 20.000 m3 bê tông. Cầu nước Naviduct Krabbersgat được khánh thành vào năm 2003.

9_ Cầu nước Edstone – Anh
 
Cầu nước Edstone là một trong ba cây cầu nước nằm trên 6km của kênh Stratford-upon-Avon ở Warwickshire. Khác với những cây cầu nước khác, đường kéo tàu lại nằm ở phía dưới đáy kênh. Với chiều dài là 145m, cầu nước Edstone là cây cầu dẫn nước dài nhất nước Anh. Nó chảy qua một đường nhỏ nằm giữa đường sắt Birmingham và đường sắt North Warwickshire.
 
 10_ Cầu nước Langdeel – Hà Lan
 
Cầu nước Langdeel nằm trên đường cao tốc N31, gần thành phố Leeuwarden ở phía bắc Hà Lan. Cầu nước này cùng tên với hệ thống kênh chảy qua. 
 
 
Bắt đầu xây dựng năm 2004, cây cầu nước Langdeel được hoàn thành vào năm 2007. Cầu dẫn nước này có độ sâu 2,78 mét (9 ft), rộng 25 mét (82 ft) và dài 110 mét (360 ft). Ngoài ra, nó còn được xây trên ba hàng cột bê tông.
 
 
 
Hồng Anh st
 
 
 
 
 
 
 
 
Xem thêm...

Một số điều hành khách đi máy bay ít biết

Các sân bay thường rất rộng lớn và phải mất nhiều giờ để có thể khám phá hết được tất cả mọi khu vực. Tuy nhiên, đó chỉ là “tầm nhìn ngắn”, chúng ta vẫn chưa thể nhìn được toàn cảnh của toàn bộ sân bay. Để làm được điều này, cần phải có “tầm nhìn xa trông rộng” – góc nhìn tốt nhất để có thể biết được toàn cảnh của một sân bay chính là từ trên cao.
 
Cùng chiêm ngưỡng hình ảnh ấn tượng của 15 sân bay trên thế giới khi nhìn từ không trung:

  Sân bay quốc tế Munich (Đức) được bao quanh bởi đồng ruộng và những thị trấn nhỏ  

sân bay Munich International Airport is surrounded by fields and small towns.

Sân bay quốc tế Kansai được xây dựng trên một hòn đảo nhân tạo giữa vịnh Osaka, Nhật Bản.

sân bay Kansai International Airport is built on a landfill island in Osaka Bay, Japan.(

Sân bay quốc tế Kuwait bừng sáng trong ánh đèn đêm ở thành phố Kuwait.

Kuwait International Airport is particularly bright against the lights of Kuwait City.

Sân bay quốc tế Aden lớn thứ 2 ở Yemen, có 1 đường băng dài 3.100 m.

Aden International Airport is Yemen

Dải màu xanh kéo dài ở phía tây bắc là đường băng của sân bay Senegal ở Dakar.

The long, green line in the northwest is the runway of Senegal

Sân bay Santa Cruz bận rộn nhất ở Bolivia.

Santa Cruz

Sân bay trên đảo Norfolk kết nối người dân và khách du lịch với đất liền Úc.

The airport on Norfolk Island connects residents and travelers with the Australian mainland.

Sân bay quốc tế Logan, thành phố Boston, Massachusetts (Mỹ) có diện tích 2.384 mẫu Anh với 6 đường băng.

Clouds hover over Boston

Sân bay quốc tế Los Angeles (LAX) là một trong những sân bay bận rộn nhất thế giới.

Sân bay Istanbul ở Thổ Nhĩ Kỳ nằm trong nhóm sân bay hàng đầu về lưu lượng khách quốc tế.

Sân bay Alaska ở Anchorage (Alaska) được bao quanh bởi rừng.

Alaska
(Ảnh: Visible Earth/NASA)

Sân bay quốc tế Hurghada ở Ai Cập hoà lẫn vào sa mạc.

Hurghada International Airport in Egypt blends into the desert.
(Ảnh: Visible Earth/NASA)

Sân bay quốc tế Buenos Aires ở Argentina với hai bên là thành phố.

And Buenos Aires
(Ảnh: Shane Kimbrough/Twitter)

Sân bay LaGuardia ở New York khi nhìn từ trên cao.

Same with LaGuardia Airport in New York.(
Ảnh: Shane Kimbrough/Twitter)

Sân bay quốc tế Dallas-Forth Worth lớn hơn cả toàn bộ đảo Manhattan

Dallas-Fort Worth International Airport is bigger than the entire island of Manhattan — the fourth largest airport in the world.
(Ảnh: Visible Earth/NASA)

Theo This Is Insider

  ░▌░◕░▌  
 
 
    Sưu tầm by Nguyễn Ngọc Quang   
db43c148
 
 
Photo:
https://lh3.googleusercontent.com/GqNtWhY8v-xotPQI0GtIk23Va6TsC9xIj1Oa2K1z307lZIVaRfWyyhGl-YpfY47epemCvC2nseoH8OYkkPE1e2IAo80Gmp1LfsU4dw=w284-h57-rw
Xem thêm...
Theo dõi RSS này