Khoa học kỹ thuật

Khoa học kỹ thuật (208)

Kiến Trúc Sư tài ba: Ngô Viết Thụ

Kiến Trúc Sư tài ba:

Ngô Viết Thụ

BM  
 
Khôi nguyên La Mã, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ sinh năm 1927 trong một gia đình nghèo ở  Lang Xá, xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Cha ông là Ngô Viết Quang, một giáo sư Trường Kỹ thuật Huế và là một nhà Nho học uyên thâm.
 
Ông cũng là người thiết kế kiến trúc và trang trí cho một số công trình của dòng họ tại Huế. Lớn lên trong môi trường đó, Ngô Viết Thụ rất giỏi về Hán Nôm và cũng là một thợ tiện có tay nghề cao.

Hết trung học, ông thi đậu Cao đẳng kiến trúc Đà Lạt (một campus của Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương) và khăn gói lên đường. Lạ đường lạ xá, ông thấy một thiếu nữ bên đường bèn hỏi thăm. Mà người đó chính là Võ Thị Cơ, mối nhân duyên tiền định sau này thành phu nhân của ông.

Sau này cha của Võ Thị Cơ muốn tìm một sinh viên thật giỏi và có đạo đức, để làm gia sư dạy kèm cho con cô con gái cùng mấy đứa em trong nhà. Và chàng sinh viên mà ông ưng ý lại chính là Ngô Viết Thụ.

Ngày đó, Ngô Viết Thụ nổi tiếng là một chàng sinh viên kiến trúc học giỏi và đẹp trai. Lúc đầu anh chỉ mới xem cô gái Võ Thị Cơ khi ấy như người em, cho nên dù quen và đi chơi với cô gái nào, cũng về kể lại hết cho cô nghe. Nhưng với thời gian, anh nhận ra cô là người có phẩm hạnh đáng quý hơn hết, vì vậy mà tình cảm giữa hai người dần dần nảy nở, phát triển và làm đám cưới vào năm 1948.

BM
Vợ chồng Ngô Viết Thụ
 
Đám cưới với chàng sinh viên nghèo được cha cô Cơ hết sức ủng hộ vì yêu quý người tài. Và vì nhà có điều kiện nên giúp con rể tiền bạc đi qua Pháp du học. Người vợ trẻ vì không muốn chồng áy náy vì phải nhờ vả nhà mình nên đã xin nghỉ học ở nhà phụ giúp cha mẹ buôn bán.

Kiến trúc sư Thụ cảm ân tình của vợ, không dám ham chơi như các bạn đồng học tại Paris, mà dành hết thời gian vào việc học mong có ngày thành tài. Sau này ông kể có nhiều buổi dạ vũ tại đại học xá, âm nhạc vang vọng, các bạn sinh viên cử các cô đầm lên gõ cửa phòng để trêu ghẹo người nhưng ông vẫn lặng lẽ ngồi trong phòng miệt mài vẽ các đồ án, bên cạnh tấm hình vợ bồng con gái đầu lòng.
 
Ảnh và chữ ký của KTS. Ngô Viết Thụ (năm 1949)

Tại Pháp, Ngô Viết Thụ miệt mài học tập ở trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris. Trong quá trình đó, ông xuất sắc đoạt giải Paul Bigot do Viện Hàn lâm tổ chức. Năm 1955, ông bảo vệ đồ án tốt nghiệp kiến trúc sư xuất sắc D.P.L.G.

BM
 
Cũng năm 1955, Học viện Hội họa và Điêu khắc tổ chức “Giải thưởng lớn Rôma” thường được gọi là giải “Khôi nguyên La Mã”. Đây là giải thường có truyền thống lâu đời từ năm 1663 ở Pháp dưới thời vua Louis XIV, dành cho những tài năng trẻ trong lĩnh vực âm nhạc, hội họa, điêu khắc và kiến trúc.
 
Vì là giải thưởng rất danh giá và lâu đời nên cuộc thi quy tụ được hàng trăm thí sinh xuất sắc nhất châu Âu.

Ngô Viết Thụ được ưu tiên mời tham gia cuộc thi này. Vì trước đó ông đã đoạt giải Paul Bigot do Viện Hàn lâm tổ chức nên không cần tham gia vòng ngoài mà trực tiếp vào thi 3 vòng sau cùng. Ngô Viết Thụ đã xuất sắc vượt qua 2 vòng liền để lọt vào vòng chung kết với 10 thí sinh còn lại.

Để chuẩn bị cho bài thi của mình, Ngô Viết Thụ đã miệt mài vẽ kiến trúc công trình Ngôi thánh đường trên Địa Trung Hải. Đến lúc chỉ còn 1 tuần nữa là hết hạn thì ông mới nhận ra rằng mình đã mắc sai lầm khi chọn phương án thiết kế theo phong cách cổ điển. Ông quyết định bỏ hết phương án đã vẽ trong thời gian trước đó, để thay bằng một phương án hoàn toàn mới.

BM
 
Đồ án đoạt giải Premier Grand Prix de Roma
của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (1955)
 
Ông đã tự thiết kế một thiết bị nhỏ giúp ông một mình vẽ nhanh một đồ án trên một diện tích giấy rộng trên 10 thước vuông mà chỉ mất chưa đầy 1 tuần. Đồ án tuyệt vời này đã giúp ông thành người Việt Nam đoạt giải “khôi nguyên La Mã” với số phiếu 28/29.
 
Nhà báo lúc đó còn điều tra và giải thích rằng 1 phiếu nghịch mà Ngô Viết Thụ nhận được là do trong số 29 vị giám khảo có 1 vị có học trò cùng tranh tài, nên ông ta chỉ bỏ phiếu thuận duy nhất cho học trò của mình.

Khi kết quả được công bố, bạn bè của Ngô Viết Thụ, chủ yếu là người Pháp, đã sung sướng công kênh ông lên vai trên những con phố ở Paris trong niềm vui sướng vô hạn. Cho đến tận hôm nay, Ngô Viết Thụ là người châu Á duy nhất đoạt được giải thưởng “Khôi nguyên La Mã” này.

BM

Trở về phụng sự cho đất nước

Năm 1955, ngay sau khi biết tin đoạt giải, Ngô Viết Thụ chạy ra bưu điện gửi hai điện tín về Huế cho cha mẹ và về Đà Lạt cho vợ con. Gia đình ông rất hãnh diện và nhận được nhiều lời khen tặng và chúc mừng của người thân, bạn bè và chính quyền thời đó.

Lúc này danh tiếng của Ngô Viết Thụ đã bay xa. Rất nhiều công ty ở Pháp, Ý và châu Âu mời ông về làm việc với mức thu nhập rất cao. Ông cũng hoàn toàn có thể cùng vợ và gia đình đến định cư ở châu Âu.
 
Nhưng khi Giáo sư Nguyễn Phúc Bửu Hội đến thăm cha của ông ở Huế và nhắn lời của  lãnh đạo chính quyền Sài Gòn lúc đó muốn mời ông về Việt Nam giúp đất nước, cha của ông viết một bài thơ và nhờ Giáo sư Hội mang giúp sang cho  con trai kèm theo hai trái xoài trong vườn nhà. Nhận thơ cha, Ngô Viết Thụ hiểu ý và họa lại bằng bài thơ Cá gáy hóa long, đại ý nói mình không quên nguồn gốc và sẽ về giúp đất nước...

BM

Không màng danh lợi 

Tổng thống Ngô Đình Diệm đã mời ông về nhận chức Bộ trưởng bộ Xây Dựng vào năm 1960, khi ông mới 24 tuổi. Bộ này vào thời ấy nắm luôn cả Xổ số Kiến thiết vốn đang hái ra tiền.
Vốn không quen với việc làm quan, Ngô Viết Thụ rất băn khoăn và chia sẻ điều này với vợ. Vợ khuyên ông không nên nhận vì ông vốn là người giỏi nghệ thuật sáng tạo chứ không phải là chính khách.

Ông liền từ chối vị trí này, nhưng trước thịnh tình của Tổng thống, ông nhận làm cố vấn và sẽ mở “Văn phòng tư vấn kiến trúc và chỉnh trang lãnh thổ” cho phủ tổng thống. Từ đó Việt Nam Cộng Hòa không có Bộ Xây dựng, việc quy hoạch do ông Ngô Viết Thụ cùng văn phòng của ông nghiên cứu phát triển, rồi Tổng nha Kiến Thiết nghiên cứu thực hiện.
 Những công trình nổi tiếng

Một trong những công trình lớn đầu tiên của ông được xây dựng là Dinh Độc Lập – biểu tượng của Sài Gòn lúc đó. Ông không chỉ thiết kế theo phương tây hiện đại mà còn kết hợp với cả kiến thức và văn hóa phương đông.

 
Dinh Độc lập Sài Gòn – KTS Ngô Viết Thụ, 1961 – 1966
 
 
Toàn thể dinh Độc Lập được làm theo hình chữ 吉 (CÁT). (Ảnh dinhdoclapgovvn)
 
 

Lầu thượng là Tứ phương vô sự lầu hình chữ khẩu (口) mang ý nghĩa đề cao tự do ngôn luận và giáo dục. Giữa chữ khẩu (口) có cột cờ tạo thành chữ 中 (TRUNG) mang ý nghĩa tận trung với đất nước.

Trước tiền sảnh, Nét gạch ngang được tạo bởi mái hiên 3 lầu tứ phương, cùng bao lơn danh dự tạo thành 3 nét gạch ngang như chữ 三 (TAM), nối liền với nét sổ xuống tạo thành chữ VƯƠNG (王).

Ngay ở giữa tầng cuối, có một tầng thượng nhỏ khiến chữ VƯƠNG (王) thành chữ 主 (CHỦ), với ý nghĩa người chủ của Dinh Độc Lập chỉ là Chủ trong nhiệm kỳ của mình, sau có thể sẽ lại đổi Chủ.

Cũng ngay trước tiền sảnh, các bao lơn lần 2 và lầu 3 kết hợp với mái hiên lối vào chính cùng 2 cột bọc gỗ phía dưới mái hiên tạo thành hình chữ (興) (HƯNG).

 
Ngô Viết Thụ
Chợ Đà Lạt năm 1970.

Ngô Viết Thụ cũng thiết kế chợ Đà Lạt với 3 tầng lầu, bố cục hình chữ H hài hòa, đẹp mắt, khiến chợ Đà Lạt luôn là điểm đến của khách du lịch thập phương.

Ngô Viết Thụ
Mô hình ĐH Nông Lâm. (Ảnh từ hcmuaf.edu.vn)

Đại học Nông Lâm được thiết kế theo hình chữ 農 (NÔNG) nhắc nhở “Vụ Nông Vi Bản” nghĩa là lấy nông nghiệp làm gốc . Đại học Nông Lâm trước đây có khắc tên của của người thiết kế là ông Ngô Viết Thụ, tuy nhiên sau này đã bị dời đi.

Ngô Viết Thụ)
Viện điện tử ở Đà Lạt – KTS Ngô Viết Thụ, 1962 – 1965

Viện nguyên tử Đà Lạt (Nay thuộc viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam). Đây là lò phản ứng duy nhất ở Đông Dương do KTS Ngô Viết Thụ thiết kế. Thiết kế chính là lò phản ứng ở giữa, xung quanh là các phòng làm việc của viện hình vòng cung.

Nhà thờ Phủ Cam (1963)

một công trình giàu tính biểu đạt, mặt đứng như một cuốn kinh thánh mở rộng,

hình thức đường nét kiến trúc mới mẻ, hiện đại.

Ngô Viết Thụ
Trường ĐHSP Huế (tiền thân là Viện ĐH Huế) nhìn từ trên cao,
hai tòa nhà chữ Y là giảng đường. KTS Ngô Viết Thụ thiết kế 1961 – 1963
Ngô Viết Thụ
Mô hình Quần thể Việt Nam Quốc Tự,
chỉ xây dựng được khoảng 1/8 vì lý do thời cuộc. (Ảnh từ designs.vn)

“Văn phòng tư vấn kiến trúc và chỉnh trang lãnh thổ” của Ngô Viết Thụ được mở tại 104 Nguyễn Du và số 8 Nguyễn Huệ, Sài Gòn. Ông đã thiết kế nhiều công trình lớn như:
 
-Dinh Độc Lập (1961-1966)
-Viện Đại học Huế (1961-1963)
-Viện Nguyên tử Đà Lạt nay thuộc Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (1962-1965),
-Làng Đại học Thủ Đức (1962)
-Công trường Mê Linh (1961), cùng một số công trình lớn không những không thể xây dựng do thời cuộc.
Ngoài ra ông còn thiết kế hàng chục công trình cho các tỉnh thành khác.   

Nhà thờ Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng (1962)
 
Ngô Viết Thụ cũng là người châu Á đầu tiên trở thành Viện sĩ Danh dự của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (H.F.A.I.A.) cùng thời với một số kiến trúc sư danh tiếng như J.H.. Van den Broek, Arne Jacobsen, Steen Eiler Rasmussen, Hector Mestre, Amancio Williams, Hernan Larrain-Errazuriz, Emilio Duhart H., Jerzy Hryniewiecki và John B. Parkin.

Sau tháng 4/1975, Ngô Viết Thụ phải đi học tập cải tạo 1 năm. Cuộc sống đột nhiên lâm cảnh khốn khó, bà Lâm Thị Cơ phải tần tảo một mình vất vả nuôi con..
 
Đến lúc Ngô Viết Thụ hết hạn cải tạo về nhà thì vợ ông đã rất yếu vì vất vả, bà ra đi năm 1977 trong sự thương tiếc vô hạn của ông cùng gia đình. Năm đó ông Thụ mới 51 tuổi. Bạn bè có giới thiệu cho ông nhiều người khác nhưng ông vẫn quyết ở vậy.

BM
Trường Đại học Sư phạm Huế. (1961-1963)
 
Trong những năm tháng này, ông thiết kế Ty Thủy lợi Đắc Lắc (1976), Bệnh viện Sông Bé 500 Giường (1985), Khách sạn Century Huế (1990), phác thảo chùa Trúc Lâm Đà Lạt (sau này do một nhóm KTS Lâm Đồng tiếp tục thực hiện phần khai triển chi tiết và thi công).
 
Trên quy mô rộng hơn, ông cộng tác trong Quy hoạch Tổng Mặt Bằng của Hà Nội (đến năm 2000), và Quy hoạch Hải Phòng. Ông là thành viên ban giám khảo quốc tế trong cuộc thi thiết kế quy hoạch Nam Sài Gòn (1993)
 
Ông cũng là một nghệ sĩ điêu khắc (tác phẩm điêu khắc kim loại đặt trước toà đô chánh, nay không còn), và sành sỏi các loại nhạc cụ dân tộc như đàn nguyệt, đàn tranh, đàn kìm và sáo, và là một nhà thơ có tài, để lại hàng trăm bài thơ và bài viết.

Ông qua đời ngày 9 tháng 3 năm 2000 tại nhà riêng số 22 Trương Định, Quận 3, TP. HCM do tai biến mạch máu não. Ban tổ chức đám tang KTS Ngô Viết Thụ đã cho dừng linh cửu xe tang trước cổng Dinh Độc Lập để vong hồn ông được nhìn lại lần cuối tác phẩm ông đắc ý nhất trong số các tác phẩm kiến trúc mà ông đã thực hiện trong suốt cuộc đời.

BM
 
Ông bà có tám người con nhưng chỉ có một người con theo nghề kiến trúc sư là KTS Ngô Viết Nam Sơn. Anh TN Tiến sĩ Quy hoạch và Kiến trúc tại Đại học Washington (Mỹ) và bằng Thạc sĩ Quy hoạch & Kiến trúc ở Đại học California tại Berkeley (UC Berkeley, Mỹ).
 
Anh từng thành công với nhiều dự án lớn ở Mỹ như đại học Washington tại Seattle. Đại học California tại San Francisco; dự án quy hoạch khu nhà ở thương mại cao cấp Lachine ở Montreal (Canada); quy hoạch xây dựng Phố Đông và hai bờ sông Hoàng Phố (Thượng Hải - Trung cộng); quy hoạch đô thị mới Filinvest (Philippines); Almaden Plaza, San Jose (Mỹ)...; thành viên nhóm thiết kế khu đô thị Nam Sài Gòn, quy hoạch khu đô thị Hà Nội Mới, quy hoạch lại Đà Nẵng, Phú Quốc… 

KTS Ngô Viết Thụ thật là một trí thức lớn, tinh hoa của dân tộc. Người vô cùng tài ba, đức độ, sống trọn tình, vẹn nghĩa với gia đình, đất nước và được công nhận trên trường quốc tế. Chuyện về ông là câu chuyện về một con người tài năng, yêu nước, một gia đình tử tế trung hậu, chuộng nghĩa tình và không coi trọng bạc tiền.
 
BM
BM

Ngoài kiến trúc, ông còn chứng tỏ năng lực xuất sắc của mình trong lĩnh vực hội họa với các bức tranh nổi tiếng Thần tốc, Hội chợ, Bến Thuyền, và bộ tranh Sơn hà cẩm tú. Bộ tranh này và được treo trong Dinh Độc Lập, gồm có 7 bức, mỗi bức dài 2 m và rộng 1 m.

Ông tổ chức nhiều triển lãm cá nhân về quy hoạch, kiến trúc, điêu khắc, và hội họa, trong đó có triển lãm tại Tòa Đô chính (Năm 1960), tại Nhà Triển lãm Công viên Tao Đàn (Năm 1963) và tại Viện Kiến trúc Philippines ở Manila (Năm 1963), triển lãm lưu động tại Viện Smithsonian và một số thành phố khác tại châu Âu (Hàn lâm viện Pháp tại Rome và Paris năm 1956, 1957, 1958) và tại Mỹ (Năm 1963).

 

KTS-Ngo-Viet-Thu-16

Một trong 7 bức của bộ tranh Sơn hà cẩm tú được treo ở Dinh Độc Lập

KTS-Ngo-Viet-Thu-17

Tranh sơn dầu vẽ hoa ngày Tết năm 1972

KTS-Ngo-Viet-Thu-18

Ông cũng là một nghệ sĩ điêu khắc (Tác phẩm điêu khắc kim loại đặt trước toà đô chánh, nay không còn), và sành sỏi các loại nhạc cụ dân tộc như đàn nguyệt, đàn tranh, đàn kìm và sáo, và là một nhà thơ có tài, để lại hàng trăm bài thơ và bài viết.

Ngô Viết Nam Sơn, con trai Ngô Viết Thụ

 

Ngô Viết Nam Sơn Ashui Awards 2019

 Con trai của KTS Ngô Viết Thụ - KTS Ngô Viết Nam Sơn cũng là một người nổi tiếng trong giới kiến trúc Việt Nam và thế giới. Ông có định hình phong cách riêng, tuy nhiên có rất nhiều tư tưởng ông học tập từ cha mình. Ông tự hào chia sẻ về người cha đáng kính:

"Thiết kế của KTS Ngô Viết Thụ thể hiện quan niệm kiến trúc Việt Nam hiện đại, không sao chép các chi tiết của kiến trúc cổ điển, nhưng vẫn hài hòa và mang bản sắc văn hóa dân tộc, hoàn toàn đi theo hướng khác với các đóng góp thiết kế dinh của các KTS danh tiếng cùng thời, trong đó đa số hoặc theo xu hướng kiến trúc cổ điển Pháp hoặc mang nặng ảnh hưởng kiến trúc tôn giáo và cung đình.

Ngoài ra, Dinh Thống Nhất đánh dấu sự khởi đầu cho phong cách kiến trúc mang dấu ấn riêng của KTS Ngô Viết Thụ sau này trong các công trình Đại học Nông nghiệp Thủ Đức, Trụ sở Hàng không Việt Nam, Tổ hợp Khách sạn Hương Giang I và II...

Trong các tác phẩm của ông, các yếu tố mỹ thuật và kỹ thuật luôn mang tính đổi mới và sáng tạo, nhưng điều quan trọng hơn, mỗi tác phẩm đều ẩn tàng một bản sắc độc đáo và triết lý sâu sắc.

KTS-Ngo-Viet-Thu-15

KTS Ngô Viết Nam Sơn

Khi thiết kế dinh Độc Lập, nhiều người hiểu sai, cho rằng cha tôi thiết kế riêng cho ông Ngô Đình Diệm. Thực ra không phải vậy, ông xây dựng chung cho những vị nguyên thủ quốc gia, chính vì vậy mà khu ở của thủ tướng không làm gì hết.

Ông quan niệm vị trí thủ tướng chỉ là tạm thời. Về mặt phong thuỷ, đa số công trình của các vị vua ngày xưa đều xây dựng theo triết lý bá đạo, tức là làm sao có lợi nhất cho chủ nhân, mà không tính đến chuyện gây hại cho người khác.

Ông áp dụng khoa chiết tự vào thiết kế mặt đứng để nhắc nhở những ai chủ trì tại đó phải có tài đức của một nhà lãnh đạo (chữ Vương, và chữ Tam - tượng trưng cho Nhân, Minh, và Võ đức), giữ vững chủ quyền đất nước (chữ Chủ), đảm bảo tự do ngôn luận của người dân (chữ Khẩu), trung với quốc dân (chữ Trung), và làm sao cho đất nước ngày càng hưng thịnh (chữ Hưng)...

Cha tôi theo quan điểm vương đạo, tức là làm sao cho cộng đồng phát triển tốt, khi cộng đồng phát triển tốt, trong đó sẽ có mình. Nhiều người cho rằng trục chính đi thẳng vào dinh là xấu, nhưng cha tôi vẫn làm, và dùng hồ nước để hoá giải.

Ông cho rằng làm vua thì phải làm gương, phải đứng ra gánh vác, chiếu không ngay, không ngồi. Tôi tự hào về cha, và ảnh hưởng nhiều về phong cách Á Đông kết hợp với kiến trúc cổ điển Pháp trong các công trình kiến trúc của ông.

Ba tôi chỉ dạy cái thần thái - linh hồn trong một tác phẩm. Ba không bao giờ chỉ tôi vẽ cửa làm sao, vẽ cầu thang như thế nào… Ba dạy tôi chí hướng và cách tư duy ý tưởng, chứ không dạy về kỹ thuật, bởi kỹ thuật thì có giới hạn. Tôi hầu như học kỹ thuật ở trường.

Khi hai cha con đi chơi với nhau, khi nhìn thấy một công trình, ba tôi sẽ nói dấu ấn làm nên thần thái của công trình là gì. Điểm này được, điểm này chưa được và tại sao? Ba tôi thường bắt cái tinh thần của một tác phẩm để nói với tôi hơn là đi vào chi tiết kỹ thuật. Bởi vì chi tiết thì qua thời gian có thể thay đổi. Còn tinh thần cốt cách của tác phẩm thì bền lâu hơn.

Càng về sau thì tôi càng thấy cách dạy của ba tôi là đúng. Vì nếu tôi học từ ba cách vẽ kiến trúc thời đó, có lẽ thời nay không còn phù hợp.Vì mỗi thời, mỗi thế hệ có cách diễn đạt, đường hướng và gu thẩm mỹ riêng".

 

 
Kim Quy st tổng hợp.
 
Bên trong Dinh Độc Lập
 
 
Xem thêm...

Ký hiệu đô la ra đời như thế nào

Ký hiệu đô la ra đời như thế nào

 

Ký hiệu đồng đô la ($) là biểu tượng có uy lực lớn nhất thế giới
 tượng trưng cho điều lớn hơn đồng tiền nước Mỹ rất nhiều.
 
Đó là chữ viết tắt cho giấc mơ Mỹ và toàn bộ chủ nghĩa tiêu thụ cùng chủ nghĩa hàng hóa gắn liền với nó, có ý nghĩa tức thì về hoài bão tươi sáng, lòng tham vô độ và chủ nghĩa tư bản lan tràn.
 
Nó đã được đưa vào văn hóa đại chúng (hãy nghĩ đến ca nhạc sỹ Mỹ Ke$ha khi cô bắt đầu sự nghiệp, hay bất cứ những chiếc áo phông thời trang nào) và được các nghệ sỹ vay mượn (Salvador Dali thiết kế một bộ râu dựa vào nó, Andy Warhol vẽ nó trên tấm mica và in lụa, tạo ra những tác phẩm nghệ thuật biểu tượng mà bản thân chúng bán được rất nhiều tiền).
 
BM
 
Nó được sử dụng rộng rãi trong mã hóa máy tính và nó giúp tạo nên hình mặt cười miệng ngậm tiền với đôi mắt sáng rỡ và chiếc lưỡi thè ra.
 
Tuy nhiên, bất chấp tính thông dụng ở nhiều lĩnh vực như vậy, nguồn gốc của ký hiệu đô la còn lâu mới rõ ràng với những giả thiết cạnh tranh với nhau, trong đó có giả thiết về đồng tiền xu của người Bohemia, Những Cây cột của Hercule và những thương gia bị quấy nhiễu.
 
Tượng trưng cho nước Mỹ?
 
BM
 
Ký hiệu đô la được in ra đầu tiên trên một máy in ở Philadelphia
vào những năm 1790 và là công trình của Archibald Binny
 
Người chị em bé nhỏ của đồng đô la, đồng cent vô giá trị, được tượng trưng một cách hợp lý bằng chữ 'c' viết thường bị gạch qua một nét, nhưng trong ký hiệu đô la lại không có chữ 'D' nào.
 
Nếu bạn phải tìm ra những chữ cái ẩn giấu trong đó, bạn có thể nhìn ra một chữ 'S' với chữ 'U' ép nhỏ và bớt cong lên tạo thành nét dọc trong chữ 'S'. Thật ra, giả thiết này giải thích cho nguồn gốc của quan niệm sai lầm phổ biến nhất về nguồn gốc ký hiệu này: có phải nó tượng trưng hai chữ cái đầu tiên trong United States (tức là nước Mỹ)?
 
Đó là điều mà nhà văn, triết gia và là người có lập trường tự do nổi tiếng ở Mỹ Ayn Rand tin tưởng.
 
Trong một chương trong tiểu thuyết Atlas Shrugged của bà, được xuất bản vào năm 1957, một nhân vật hỏi nhân vật khác ký hiệu đô la tượng trưng cho điều gì.
 
  
Câu trả lời như sau: 'cho thành tựu, thành công, năng lực, sức mạnh sáng tạo ở con người, và chính là vì những lý do này mà nó được dùng như là một thương hiệu của sự khét tiếng. Nó tượng trưng cho những chữ viết tắt của United States'.
 
Có vẻ như là Rand đã sai, không chỉ bởi ít nhất là mãi cho đến năm 1776, nước Mỹ vẫn còn được gọi là United Colonies of America, và đã có những ý kiến cho rằng ký hiệu đô la đã được sử dụng trước khi nước Mỹ ra đời.
 
 
BM
 
Trái phiếu gốc này do cựu tổng thống Hoa Kỳ George Washingtom ký vào năm 1792,
là văn bản tài chính đầu tiên ở Mỹ sử dụng ký hiệu đồng đô la
 
Ký hiệu đồng bảng Anh có lịch sử từ 1.200 năm trước, khi nó lần đầu được người La Mã sử dụng như là chữ viết tắt cho 'libra pondo', đơn vị đo lường khối lượng cơ bản của đế chế này.
 
Bất cứ một nhà chiêm tinh nghiệp dư nào cũng sẽ nói cho bạn biết rằng trong tiếng Latin libra có nghĩa là cái cân, và libra pondo dịch theo nghĩa đen có nghĩa là 'cân nặng một pound'.
 
Trong xứ Anh (England) Anglo-Saxon, pound đã trở thành đơn vị tiền tệ, tương đương với - ngạc nhiên chưa - một pound (cân Anh) bạc.
 
Nói cách khác, đó là của cải lớn. Nhưng bên cạnh tên gọi La Mã, người Anglo-Saxon đã mượn ký hiệu này, một chữ cái 'L' tinh xảo.
 
Hai vạch ngang xuất hiện sau đó để thể hiện rằng đó là một chữ viết tắt, và một tấm séc tại Bảo tàng Ngân hàng Anh quốc ở London cho thấy ký hiệu đồng pound đã có hình thức như hiện nay kể từ năm 1661, tuy rằng cần phải mất nhiều thời gian nó mới được chấp nhận rộng rãi.
 
Từ đồng tiền Bohemia
 
BM
  
Trong khi đó, đồng đô la có lịch sử ngắn hơn nhiều.
 
Vào năm 1520, Vương quốc Bohemia bắt đầu đúc những đồng tiền bằng bạc khai thác từ một mỏ ở Joachimsthal - vốn được dịch thoát từ tiếng Đức ra tiếng Anh thành 'Joachim's valley', tức thung lũng của Joachim.
 
Một cách lôgíc nếu không muốn nói là thiếu sức tưởng tượng, đồng tiền này được gọi là 'joachimsthaler' mà sau đó được rút ngắn lại thành 'thaler'. Cách dùng đó tiến tới lan rộng ra khắp thế giới.
 
Chính là phiên bản Hà Lan, đồng 'daler', đã băng qua Đại Tây Dương trong túi và trên cửa miệng của những người di dân đầu tiên, và ngày nay cách phát âm tiếng Anh kiểu Mỹ của từ 'dollar' vẫn giữ được âm hưởng từ chữ 'daler' này.
 
Mặc dù đồng tiền này tương đối trẻ, nhưng ta vẫn không có câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi ký hiệu đồng đô la đến từ đâu.
 
 
Dường như không ai bỏ công ra để vẽ ra nó và hình dáng của nó vẫn thay đổi - đôi khi nó có tới hai vạch đứng xuyên qua, và ngày càng chỉ có một vạch. Không phải là không có nhiều giả thiết ganh đua với nhau. Chẳng hạn, quay trở lại quan niệm rằng có một chữ U và một chữ S ẩn giấu trong ký hiệu, có người cho rằng hai chữ này đại diện cho chữ 'units of silver', tức đơn vị bạc.
 
BM
 
Một trong những câu chuyện bí truyền nhất về nguồn gốc đồng đô la cũng liên hệ ký hiệu $ với đồng 'thaler' của người Bohemia. Câu chuyện kể về con rắn trên cây thánh giá với Thiên chúa trên đó. Bản thân biểu tượng này là sự gợi nhắc đến câu chuyện nhà tiên tri Moses cuốn một con rắn đồng quanh một cây cột để chữa trị cho những người bị rắn cắn. Do đó, có ý kiến cho rằng đồng đô la xuất phát từ ký hiệu đó.
 
Cho đến peso Tây Ban Nha
 
Tuy vậy, một giả thiết khác tập trung vào Những Cây cột của Hercules, một cụm từ do người Hy Lạp cổ đại chế ra để mô tả những mỏm đất nằm về hai bên lối vào Vịnh Gibraltar.
 
 
Các cây cột này được thể hiện trên huy hiệu quốc gia của Tây Ban Nha, và trong các Thế kỷ 18 và 19, chúng xuất hiện trên đồng đô la Tây Ban Nha vốn còn được biến đến là đồng peso.
 
BM
 
Các cây cột có những tấm biểu ngữ quấn xung quanh trong hình chữ S và không cần phải ngắm nghía nhiều để thấy nó giống với ký hiệu đồng đô la.
 
Giả thiết được chấp nhận rộng rãi nhất thật sự có dính đến đồng tiền Tây Ban Nha và nó kể lại như sau: ở các thuộc địa Bắc Mỹ, giao thương giữa người Mỹ gốc Tây Ban Nha và người Mỹ gốc Anh rất sôi động, và đồng peso là đồng tiền chính thức ở Mỹ cho đến năm 1857.
 
Do đó, các sử gia nói rằng nó thường được rút gọn thành các chữ cái đầu tiên là 'P' và chữ 'S' viết nhỏ đặt kế bên. Dần dần, nhờ vào nét nguệch ngoạc của những thương nhân và những người ghi chép vội vàng, chữ 'P' đã nhập vào chữ 'S' và mất đi nét cong để chỉ còn lại nét thẳng đứng như một cái cột đâm thẳng xuống ngay giữa chữ 'S'. Một đô la Tây Ban Nha có giá trị đâu đó xung quanh một đô la Mỹ, do đó dễ dàng nhận ra ký hiệu có thể đã được chuyển đổi như thế nào.
 
Chắc chắn là một sự mỉa mai, mặc dù không hề ngạc nhiên, là một biểu tượng nội tại của đặc tính quốc gia Mỹ như vậy lại có nguồn gốc từ một quốc gia khác.
 
Nhưng cho dù nó ra đời như thế nào đi nữa, chắc chắn đó là sự sáng tạo của người Mỹ: có thể ông không là người duy nhất sáng tạo ra nó, nhưng thư từ của Oliver Pollock, một thương gia giàu có gốc Ireland và là người ủng hộ ban đầu của Cách mạng Mỹ, đã khiến ông được các sử gia xem như là người khởi nguồn ký hiệu này.
 
Còn về ký hiệu đô la được in ra đầu tiên, đó là trên một máy in ở Philadelphia vào những năm 1790 và là công trình của một người Mỹ yêu nước nhiệt thành - hay ít nhất là một người Scotland chống đối nước Anh quyết liệt - có tên là Archibald Binny, người mà ngày nay được nhớ đến là người sáng tạo ra kiểu chữ Monticello.
 
 
Hepzibah Anderson
 

10 điều ít biết về đồng đôla Mỹ

Đồng xu được ngâm dung dịch hóa học, tờ tiền giấy bị làm giả nhiều nhất là 20 USD, hay tổng thống còn sống không được in hình lên tiền... là những điều ít biết về đồng đôla Mỹ.

1. Đồng xu được ngâm dung dịch hóa học trước khi đúc

Cũng giống như chân giò hay trứng ướp gia vị, đồng xu Mỹ được ngâm trước khi đem đi đúc. Tuy nhiên, không giống thức ăn, chúng được ngâm trong loại hỗn hợp dung dịch hóa học đặc biệt. Dung dịch này có tác dụng làm sạch và sáng bề mặt của đồng xu trống.

2. Hình kim tự tháp ở mặt sau đồng đô la biểu trưng cho sự phát triển của quốc gia

Nói về các biểu tượng và hình nghệ thuật trên đồng đôla Mỹ, nhiều thuyết ra đời. Một trong những thuyết này cho rằng, Hội tam điểm đã sử dụng những biểu tượng này để bí mật truyền tải thông điệp quyền lực.

Tuy nhiên, trên thực tế, các biểu tượng này được giải thích hợp lý hơn. Vì các biểu tượng này được tạo ra từ khi nước Mỹ ra đời, nên có thể lý giải rằng, họ tin đất nước sẽ tiếp tục phát triển thịnh vượng. Những nhà sáng lập nước Mỹ có niềm tin vào người dân, và niềm tin này được chất chứa trong hình kim tự tháp trên tờ tiền đôla.

3. Cơ quan mật vụ Mỹ ban đầu được thành lập để chống nạn làm tiền giả

Nhiều người tin rằng, Cơ quan mật vụ Mỹ được thành lập để bảo vệ tổng thống. Cơ quan bí ẩn này được thành lập 2 tuần sau khi tổng thống Abraham Lincoln bị ám sát. Tuy nhiên, thực tế là cơ quan này được thành lập để chống nạn tiền giả. Vào những năm 1800, mỗi bang của Mỹ đều có tiền tệ riêng, nên làm tiền giả là việc vô cùng béo bở và dễ dàng. Thời tổng thống Lincoln tại vị, một phần ba tiền tệ của Mỹ được cho là giả. Bởi vậy, Sở mật vụ Hoa Kỳ được thành lập.

4. Sản xuất một đồng 5 xu tốn kém hơn một đồng 10 xu

Ban đầu, tiền xu Mỹ được làm từ đồng. Khi giá đồng bắt đầu tăng, người ta chuyển sang dùng kẽm, sau đó lại chuyển sang niken. 10 năm trước, chi phí để sản xuất một đồng 5 xu là 11,2 cent, trong khi đó chi phí sản xuất một đồng 10 xu và 25 cent lần lượt là 5 cent và 11 cent.

5. Tiền rất bẩn

Theo nghiên cứu, mặt tiền giấy chứa trung bình khoảng 3.000 loại vi khuẩn, đa số các loại này là vô hại nhưng cũng có chứa vi khuẩn gây mụn và vi khuẩn miệng. Nguyên nhân là tiền được qua tay hàng nghìn người và truyền vi khuẩn khắp nơi. Vì vậy, bạn nên rửa tay sau khi chạm vào tiền.

6. Hình tổng thống còn sống không được in trên tiền

Khi Washington trở thành tổng thống Mỹ, người ta muốn đưa mặt ông lên tiền đôla. Tuy nhiên, ông từ chối và cho rằng, thật không hay khi in mặt một thống thống còn sống trên tiền. Ngày nay, luật Mỹ quy định rằng, các thổng thống phải qua đời 2 năm trước khi được cân nhắc in mặt lên tiền đôla.

7. Tờ tiền có mệnh giá lớn nhất từng được sản xuất là 100.000 USD

Đồng tiền mệnh giá 100.000 USD được phát hành bởi Cục Khắc dấu và In ấn (BEP), nhưng chỉ dùng thay thế cho vàng trong giao dịch giữa các ngân hàng dự trữ liên bang. Tờ tiền mệnh giá lớn nhất trong lịch sử này được in trong khoảng thời gian ngắn, từ ngày 18/12/1934 tới 9/1/1935, với hình tổng thống Wilson ở mặt trước.

8. Vòng đời của một tờ đô la tùy thuộc vào mệnh giá của nó

Tùy thuộc vào nhu cầu đối với từng mệnh giá, vòng đời của một tờ tiền ngắn dài khác nhau. Đồng 1 USD được dùng khá thường xuyên, vì vậy, vòng đời của nó kéo dài khoảng 18 tháng trước khi ngừng lưu thông. Những tờ tiền mệnh giá 50 hay 100 USD thường được lưu thông khoảng 9 năm, bởi chúng không được dùng nhiều như những tờ mệnh giá 1, 10 hay 20 USD.

9. Tiền USD thực chất được làm từ linen và cotton

Chất liệu làm tiền đô la Mỹ gồm 25% linen và 75% cotton chứ không phải  bằng giấy như nhiều người lầm tưởng. Năm 2009, hơn 21.000 kiện bông được dùng để in tiền.

10. Đồng tiền bị làm giả nhiều nhất là 20 USD

Về mặt logic, nếu một người muốn làm tiền giả, họ sẽ làm giả những tờ có mệnh giá lớn. Tuy nhiên, trên thực tế những tên làm giả cho rằng, chúng có thể thành công hơn với tờ 20 USD. Việc dùng một đồng 20 USD để mua vé xem phim sẽ ít bị nghi ngờ hơn việc dùng một đồng100 USD. Trên thực tế, nhiều người thường mang các đồng 20 USD trong ví. Hiếm người ra đường với một ví đầy tờ 100 USD.

 

 

Kim Quy tổng hợp

Hình Internet

 

Xem thêm...

Bàn về công nghệ viễn thông 5G

Bàn về công nghệ viễn thông 5G

 ▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

 
BM
Thế giới đang bước vào giai đoạn công nghệ viễn thông 5G
 
Trước tiên, xin mạn phép giải nghĩa cho những người bình thường, ít quan tâm đến những thuật ngữ. Chữ G trong 2G, 3G, 4G và 5G mà chúng ta thường nghe gần đây, là viết tắt của chữ Generation, nghĩa là thế hệ. 5G là thế hệ thứ 5 của công nghệ điện thoại di động. Mng 5G, nếu hiện giờ được phát triển ở VN thì cũng không khác nào việc xây dựng đường cao tốc cho bò đi như một số nơi ở ngoài Bắc hiện nay. Có bao nhiêu người VN hiện nay đang có nhiều hơn một chục thiết bị thông minh, luôn kết nối với internet tại nhà? Không phải tôi có ý xem thường người dân Việt, nhưng đây lại là sự thật.
 
BM
 
Cũng có nghĩa rằng nó là một bước tiến mới của một công nghệ đã có từ cách đây vài chục năm, chứ không phải là một phát minh mới mẻ gì - như cách mà một số bài báo hoặc cá nhân thường hay ca ngợi, rằng Huawei là một hãng dẫn đầu trong công nghệ này. Thực tế là họ chỉ sản xuất và bán hàng giá rẻ hơn rất nhiều so với các đối thủ cạnh tranh trong cùng lĩnh vực mà thôi. Bạn nào muốn phản bác điều này và cho rằng Huawei là nhà phát minh hàng đầu đối với 5G thì tôi xin có lời khuyên là, hãy tìm hiểu về các sản phẩm cũng như giải pháp công nghệ của hãng Cisco, rồi tìm hiểu thêm xem Huawei có sử dụng bao nhiêu phần trăm công nghệ của Cisco - trước khi phản bác những điều tôi vừa nói.
 
Khác biệt giữa 5G và các thế hệ trước đó
 
BM
 
Với ước muốn nội dung của bài viết được mọi giới đón đọc rộng rãi, không phân biệt nghành nghề. Tôi sẽ không đi quá sâu vào chi tiết mà chỉ nhấn mạnh vào những thứ căn bản nhất để mọi người cùng hiểu về 5G.

Cái khác căn bản nhất về mặt kỹ thuật, là mỗi khi chúng ta dùng điện thoại để truyền đi một cái gì đó, như âm thanh hoặc hình ảnh, thì cái điện thoại sẽ mã hóa cái ta muốn truyền, trước khi phóng chúng vào không trung. Nói một cách dễ hiểu là những hình ảnh và âm thanh ấy được "phiên dịch" sang một loại "ngôn ngữ" trước khi truyền đi trong không gian. Các trụ antenna sẽ nhận những thông tin đã được mã hóa rồi truyền đi tiếp, ở phía người nhận thì cái điện thoại của họ sẽ nhận rồi "phiên dịch" ngược trở lại, cho ra âm thanh hoặc hình ảnh như lúc ban đầu.
 
BM
 
Các thế hệ của công nghệ điện thoại di động đều sử dụng các loại " ngôn ngữ" khác nhau. "Ngôn ngữ" của mỗi thế hệ mới đều được cải tiến và phát triển để có thể chuyển tải nhiều hơn loại "ngôn ngữ" thường dùng của những thế hệ trước đó. Các máy điện thoại đời mới thì phải có khả năng tương thích ngược, nghĩa là biết nghe và hiểu loại ngôn ngữ của thế hệ trước đó, trong khi những loại điện thoại của thế hệ trước thì không có khả năng này. Đó là lý do mà một cái điện thoại 4G có thể bắt được sóng 4G nếu ở trong vùng phủ sóng 4G, nhưng khi ra khỏi vùng phủ sóng 4G thì nó tuột xuống thành 3G hoặc 2G. Điện thoại 2G thì dù có ở giữa vùng phủ sóng 4G, cũng chỉ có thể gửi và nhận thông tin ở tầm 2G mà thôi.
 
Tại sao các nhà cung cấp dịch vụ không dùng những trụ thu phát sóng đã có sẵn?
 
BM
Mỗi một thế hệ của công nghệ thông tin di động đều sử dụng một vài loại tầng số khác nhau. Riêng với thế hệ thứ 5 này, sóng thu phát của nó có đặc điểm là không thể đi xa như các thế hệ trước đó mà chỉ giới hạn trong phạm vi vài trăm thước mà thôi, như một thứ luật bù trừ cho khả năng truyền dữ liệu nhanh và nhiều của nó.

Các điểm thu phát sóng, tức các trụ antenna, đối với những thế hệ trước đây, là những tháp cao ngất hàng trăm mét và to lớn, có khả năng phát sóng đến vài kilomet, thì ở thế hệ thứ 5 này, các trụ thu phát sóng sẽ nhỏ hơn và được gắn trên những cột đèn điện dọc theo đường phố - và thật nhiều. Đây cũng sẽ là khuyết điểm của công nghệ 5G. Dân cư bên ngoài những thành phố lớn sẽ khó mà có cơ hội được sử dụng loại đường truyền internet thế hệ mới này. Một hệ thống antenna thu phát sóng của 5G sẽ cần đến hàng ngàn antenna nhỏ thay vì chỉ vài trụ antenna to lớn như hiện nay. Lắp đặt và nhất là bảo dưỡng hệ thống này tốn kém hơn nhiều so với các thế hệ trước đó.
 
BM

Đó cũng chính là lý do mà người Mỹ đã nghiên cứu và phát triển một cách thức truyền tải thông tin mới, đưa các trạm thu phát sóng lên không gian, thay vì gắn chết dưới mặt đất. Google thử nghiệm bằng các khinh khí cầu, rồi đến Facebook với những loại máy bay không người lái cỡ nhỏ xài năng lượng mặt trời và bây giờ là SpaceX với các vệ tinh mini. Trong lúc Trung cộng vẫn loay hoay với các trụ thu phát sóng gắn dưới mặt đất và bị hạn chế trong những thành phố lớn. Đó là lý do mà trong một bài viết cách đây mấy ngày, tôi đã mĩa mai rằng người Tàu bay lên mặt trăng chỉ để ... trồng khoai lang.
 
BM
5G có cần cho Việt Nam hoặc người Việt có cần đến 5G hay chưa?

Từ nhiều tháng qua, chắc các bạn đã đọc rất nhiều những bài báo nói về 5G, thậm chí là có tin 5G đang được thử nghiệm ở Hà Nội. 
Như đã nói ở đầu bài, tôi sẽ tránh đi quá sâu vào chi tiết với những từ chuyện môn như tốc độ Gb là gì và nó nhanh cỡ nào. Chỉ xin được đơn giản hóa bằng cách thí dụ để so sánh. 
 
BM
  
Mng 5G, nếu hiện giờ được phát triển ở VN thì cũng không khác nào việc xây dựng đường cao tốc cho bò đi như một số nơi ở ngoài Bắc hiện nay. Có bao nhiêu người VN hiện nay đang có nhiều hơn một chục thiết bị thông minh, luôn kết nối với internet tại nhà? Không phải tôi có ý xem thường người dân Việt, nhưng đây lại là sự thật. 
 
Có bao nhiêu người ở VN đang xài Ring hay các sản phẩm tương tự ( Một thứ chuông cửa có video và thường trực kết nối internet). Có bao nhiêu người có mỗi phòng trong nhà một cái TV và mỗi cái TV đều có Chromecast hoặc Roku hay Apple hoặc Fire Stick để xem phim độ phân giải cao trực tuyến? 
 
Có bao nhiêu gia đình VN hiện tại đang trang bị những thiết bị như Amazon Echo hay Google Home nhận lệnh bằng giọng nói? Có bao nhiêu thiết bị Nest dùng cho hệ thống máy lạnh và sưởi tự động trong nhà ở VN hiện nay? Bao nhiêu gia đình có nhà để xe trang bị cửa đóng mở bằng hệ thống điều khiển qua internet...?
 
BM

Tất cả những thứ mà tôi vừa kể là những món vật dụng của thời đại Vạn Vật Kết Nối (Internet of Things). Ở giai đoạn đầu tiên của thời đại này, trung bình mỗi nhà sẽ có khoảng vài chục thiết bị luôn được kết nối với mạng internet ở tốc độ cao. Chuyện này chưa hiện hữu ở VN, dù cho chúng ta đã có vài chục triệu người đang xài FB.

Cũng cần biết rằng, hiện có khoảng phân nửa dân số Mỹ vẫn đang xài 3G chứ khoan nói tới 4G, huống hồ gì chuyện 5G? Ngay cả người viết bài này, vốn đang sinh sống tại một thành phố lớn, thủ phủ của một tiểu bang lớn nhất nhì nước Mỹ, bao vây bởi các đại công ty như IBM, Samsung và là nơi tập trung của nền công nghệ kỹ thuật cao, vậy mà chỉ cần ra xa lộ chạy vài chục cây số thì vẫn có khả năng rớt vào khu vực chỉ có mạng 2G mà thôi. Cơn sốt 5G dâng cao độ, phần lớn đến từ nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của những đại công ty và các chiến dịch quảng cáo của họ. Vào những ngày đầu của tháng 6 năm 2019 này, hiện giờ thị trường thế giới cũng chỉ có chưa tới 10 loại điện thoại có trang bị 5G. iPhone XI của Apple sắp sửa ra mắt cũng sẽ không có 5G.
 
BM
  
Trong toàn bộ những vật dụng linh tinh của thời đại Vạn Vật Kết Nối. Thứ quan trọng nhất cần phải có 5G chính là những loại xe tự động lái vì chúng có nhu cầu "nói chuyện và trao đổi thông tin" với nhau ngay lập tức trên đường phố và 5G thỏa mãn được điều này. 
 
Một hệ thống đường phố với hàng ngàn chiếc xe cần phải luôn luôn và lập tức kết nối với nhau để tránh gây ra tai nạn. Các trụ antenna thu phát sóng dày đặc theo cột đèn đường và trụ điện, luôn kết nối với nhau ở trong một chu vi thật gần, bảo đảm được cho mạng lưới này, thay vì hành khách của những chiếc xe không người lái phải đánh cược mạng sống của họ vì nguy cơ bị mất sóng từ những tháp antenna truyền thống, vốn ở xa hàng kilomet và luôn bị các tòa nhà cao tầng cản trở.

Tóm lại, với nhu cầu kết nối vài cái điện thoại, dăm cái máy tính bảng, thêm cái TV và máy tính để bàn. Người VN chưa cần đến mạng 5G trong một tương lai có thể nhìn thấy được. Hãy nhớ lại cái thí dụ của đường cao tốc và những con bò.
 
BM

Còn Huawei với những lời ca tụng lẫn hăm dọa, rằng họ sẽ thống trị và dẫn đầu thế giới với công nghệ 5G? Hãy để cho người Tàu được vui với giấc mơ của họ. Có câu "Ước mơ không bị đánh thuế, hoặc không tốn tiền.". Hãy tin tôi, riêng giấc mơ 5G của người Tàu sẽ tốn bộn bạc chứ không ít đâu.
 
Thanh Hương sưu tầm
   
BM
 
 
Xem thêm...

Nhà phát minh tài năng và tâm huyết Việt trên đất Nhật

Nhà phát minh tài năng và

tâm huyết Việt trên đất Nhật

Mang trong mình niềm đam mê nghiên cứu vì con người, đem lại sự sống cho những sinh linh bé nhỏ, chàng trai du học sinh người Việt năm nào giờ đây đã trở thành nhà phát minh đồng thời là một doanh nhân thành công trên đất Nhật.
 
Chàng sinh viên xứ Huế trên đất Nhật
 
BM  
 
Ông Trần Ngọc Phúc (tên tiếng Nhật: Kazufuku Nitta) sinh năm 1947 trong một gia đình khá giả ở Huế. Về sau, gia đình ông chuyển vào Sài Gòn sinh sống. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, ông sang Nhật theo học ngành hóa công nghiệp tại Đại học Tokai năm 1968 bằng chi phí của cha mẹ.
 
BM
Ông Trần Ngọc Phúc (tên tiếng Nhật: Kazufuku Nitta).
 
Sau khi tốt nghiệp đại học năm 1974, ông nhận được học bổng dành cho nghiên cứu sinh của hội The Asian Students Cultural Association và xin vào thực tập tại hãng chế tạo thiết bị y khoa Senko Medical Instrument Manufacturing. Ông dự định mang những kiến thức mình đã học hỏi được về áp dụng cho Việt Nam.
 
Ban đầu, sau khi sang Nhật ông thường liên lạc với gia đình ở Việt Nam qua điện thoại. Nhưng chiến tranh tiếp diễn, sau năm 1975 ông hoàn toàn mất liên lạc với gia đình tại Sài Gòn. Vốn được sinh ra trong một gia đình khá giả ở Việt Nam, cha mẹ chiều theo mơ ước của ông, gửi ông sang học tại Nhật và ông luôn mang trong mình tâm niệm sẽ mang những điều mình học hỏi được quay trở về xây dựng quê hương. Bởi vậy, việc mất liên lạc với gia đình đã khiến tinh thần của ông bị khủng hoảng trầm trọng. Ông nghĩ rằng mình đã mất quê hương và sẽ chẳng bao giờ có cơ hội trở về.
 
Những suy nghĩ tiêu cực bủa vây lấy ông, đến nỗi ông phải tránh đến gần cửa sổ trong các toà cao ốc, vì chỉ e trong lúc phẫn chí sẽ đi tìm cái chết. Sau hơn một tháng bế tắc và khủng hoảng, nhờ sự khích lệ của bạn bè, ông quyết định ở lại Nhật và tiếp tục làm việc.
 
Đam mê nghiên cứu vì sinh mạng con người
 
BM
  
Quyết định ở lại Nhật Bản, ông hiểu rằng không phải ai cũng dễ dàng sống được ở một vùng đất mới. Để tạo chỗ đứng trên mảnh đất xứ Phù Tang, ông muốn tìm cho mình con đường chưa ai từng đi, làm việc chưa ai từng làm.
 
Khi ông vào phòng hồi sức cấp cứu của trẻ em, nhìn những đứa trẻ bé bỏng trong lồng kính ông nghĩ: “đây là thiên thần xuống trần gian nhưng bị gãy cánh” và ông muốn giúp các thiên thần có thể sải đôi cánh của mình khi đến thế giới này. Vì vậy, ông đã quyết định dấn thân vào con đường chế tạo máy hô hấp nhân tạo cho trẻ sơ sinh mà không một ai ở Nhật Bản dám làm lúc đó.
 
Theo thống kê năm 1975, tỉ lệ tử vong của các bé sinh non có cân nặng từ 500gr đến dưới 1kg tại Nhật Bản gần 90%, thuộc hàng cao nhất các nước phát triển trên thế giới. Đây vốn là một bài toán hóc búa đối với các bác sĩ, bởi buồng phổi của các bé còn quá yếu ớt. 
 
BM
 
Nhìn những đứa trẻ bé bỏng trong lồng kính… ông đã quyết định dấn thân vào con đường chế tạo máy hô hấp nhân tạo cho trẻ sơ sinh mà không một ai ở Nhật Bản dám làm lúc đó.
 
Lựa chọn con đường này, những khó khăn ban đầu không ít. Rất nhiều người phản đối việc làm này của ông vì cho đây là việc không thể. May mắn thay, Giám đốc công ty Senko Ika đã tạo điều kiện cho ông đi học những kiến thức liên quan đến hô hấp ở một trường đại học Y trong khoảng 1 năm, sau đó là thực tập ở một số đại học Y khác. Ông cũng phải tự mày mò học thêm, tự nghiên cứu ngày đêm vì lúc bấy giờ ở Nhật Bản chưa có ai nghiên cứu về ngành này.
 
Sau thời gian học tập, ông trở về công ty cũ làm việc ở bộ phận nghiên cứu gây mê và hô hấp. Ông dành 10 năm để cống hiến cho công ty đã có công đào tạo, giúp đỡ mình.
 
 
Năm 1982, ông thuyết phục vợ cùng giúp ông thành lập công ty Metran Co, Ltd. bằng tiền hưu trí, tiền tiết kiệm và vay ngân hàng để theo đuổi mơ ước làm giảm số tử vong của các trẻ sinh thiếu tháng. Ông dồn hết tâm sức vào việc chế tạo “Máy hô hấp nhân tạo dao động cao tần số HFO (High Frequency Oscillatory Ventilation)” thích hợp cho hai lá phổi mong manh của các bé sơ sinh.
 
BM
Công ty Metran Co, Ltd.
 
Sau bao nỗ lực và cố gắng cuối năm 1982, ông chế tạo thành công máy HUMMINGBIRD 1. Máy thở này của công ty Metran đã đoạt giải nhất trong cuộc thi do hội The U.S. National Institutes of Health đặt ra tại Mỹ. Đây được xem là điều đã làm nên nền tảng cho công ty của ông.
 
 
BM
Máy thở tần số cao “Humming Bird” – Thế hệ đầu tiên.
 
 
Từ thành công ban đầu có được, ông cố gắng nghiên cứu, phát minh và phát triển máy đều đặn, hết cái này đến cái khác. Kết quả ông đã thành công trong việc chế tạo máy dùng cho cả trẻ em và người lớn.
 
BM
 
Hiện tại, Công ty Metran tại Nhật Bản có khoảng 50 nhân viên. Công ty tuy nhỏ nhưng đối với ông, khi làm việc trong lĩnh vực y khoa, điều cần nhất là trách nhiệm với xã hội và con người.
 
 
Bởi “Thi ân mà không cần đáp trả”, đây là điều ông đã học được từ cha mẹ mình.
 
BM
Công ty tuy nhỏ nhưng đối với ông, khi làm việc trong lĩnh vực y khoa, điều cần nhất là trách nhiệm với xã hội và con người.
 
Kết quả thống kê tại Nhật cho thấy theo đà hoàn thiện của máy thở HFO, tỉ lệ tử vong của trẻ sinh non tại Nhật giảm dần trong hơn một thập niên qua. Đối với trẻ sinh non cân nặng 900gr, số tử vong năm 1990 là 150 cháu thì đến năm 2005 chỉ còn dưới 50 cháu. Đối với trẻ nặng 600 gam thì tử suất năm 1990 là 400 cháu và năm 2005 chỉ còn 200 cháu. Đặc biệt đối với trẻ nhẹ hơn 400gr thì tử vong từ 1.000 cháu năm 1990 chỉ còn dưới 500 cháu vào năm 2005.
 
 
Năm 2007, em bé nhỏ nhất sinh ra tại Nhật Bản chỉ nặng 265gr, có thể nằm trên bàn tay của người lớn. Những đứa trẻ đặc biệt như thế này, nếu dùng máy hỗ trợ hô hấp thông thường thì rất khó cứu sống và để lại nhiều di chứng. Nhưng sử dụng máy hỗ trợ hô hấp do ông nghiên cứu thì tỷ lệ các cháu sống sót mà không để lại di chứng rất cao.
 
BM
Năm 2007, em bé nhỏ nhất sinh ra tại Nhật Bản chỉ nặng 265gr.
 
 
Với những con số như thế, dễ hiểu tại sao thiết bị này hiện được trang bị tại 90% các trung tâm chăm sóc trẻ sơ sinh toàn nước Nhật với hơn 1.400 máy đang vận hành. Ngoài ra, các máy này đã được xuất khẩu đến hơn 20 quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam.
 
BM
 
Dễ hiểu tại sao thiết bị này được trang bị tại 90% các trung tâm chăm sóc trẻ sơ sinh toàn nước Nhật với hơn 1.400 máy đang vận hành.
 
Sau rất nhiều kỳ tích mà những chiếc máy hỗ trợ hô hấp của ông tạo ra, ngày 25/11/2017, một đài truyền hình của Nhật Bản đã thực hiện chương trình mà thông qua đó, ông Trần Ngọc Phúc đã gặp được hai cháu bé sinh non nhờ có thiết bị của ông mà được cứu sống và giờ đây đã lớn khôn, khỏe mạnh.
 
Gia đình của hai bé coi ông như ân nhân. Cuộc gặp gỡ đầy niềm hạnh phúc vui sướng cho cả ông và gia đình hai bé. Các cháu biểu diễn kiếm đạo và piano cho ông xem, chia sẻ ước mơ của chúng cho ông nghe. Sản phẩm nghiên cứu của mình đã cứu được những đứa trẻ như vậy, có lẽ đó là một trong những món quà tuyệt nhất đối với ông.
 
Đặc biệt, tháng 7 năm 2012, công ty của ông đã được Nhật hoàng Akihito lựa chọn để ghé thăm. Nhật hoàng đã cảm ơn vì có những doanh nghiệp như ông đang nỗ lực để bảo vệ trẻ em Nhật Bản. Hàng năm, Nhật hoàng chỉ chọn 3 doanh nghiệp vừa và nhỏ làm điểm đến trong lịch trình bận rộn của mình vì vậy, việc được Nhật Hoàng ghé thăm là một sự ghi nhận đối với những cống hiến của ông trên đất Nhật.
 
BM
 
Sau 33 năm thành lập và phát triển, Công ty Metran đã nhận được nhiều giải thưởng lớn của Chính phủ và các địa phương ở Nhật Bản. Năm 2007, Metran được Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản chọn là một trong 300 công ty có tiềm năng phát triển mạnh nhất.
 
Năm 2012, Metran đạt “Giải thưởng sáng tạo lớn” lần thứ 4 của Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản dành cho “Dụng cụ hô hấp nhân tạo bảo vệ sinh mệnh của trẻ siêu sinh non”.
 
BM
Công ty Metran đã nhận được nhiều giải thưởng lớn của Chính phủ và các địa phương ở Nhật Bản.
 
Nối tiếp thành công, tháng 11 năm 2018 ông tiếp tục nhận được huân chương mặt trời mọc tia sáng bạc, phần thưởng cao quý cho nỗ lực của ông suốt 50 năm sống tại nước Nhật.
 
Triết lý kinh doanh coi trọng đạo đức
 
BM
  
Trở thành một nhà phát minh đã khó, làm doanh nhân còn khó hơn. Để đạt được thành công như ngày hôm nay, ông đã từng phải trải qua những giờ phút khó khăn trên con đường đi đến thành công của mình.
 
Ông luôn tâm niệm “kinh doanh cũng như là tập kiếm đạo”: là đạo nên cách suy nghĩ, đạo đức đều nằm trong đó. Mình phải có sự trung tín, luôn luôn có lòng trung thành với mục đích cao cả, với đạo lý và giữ chữ tín ở đời dù gặp khó khăn thế nào đi chăng nữa.
 
 
Năm 1993, một biến cố đã xảy đến khi ông muốn mở rộng quy mô công ty bằng việc niêm yết lên sàn chứng khoán, ông đã mời 3 nhà đầu tư vào làm chung với hy vọng họ sẽ giúp công ty thành công hơn nữa. Nhưng ông đã nhầm, các nhà đầu tư nôn nóng muốn có lợi nhuận nhanh nhất có thể nhưng điều này đi ngược lại với triết lý kinh doanh của ông là phải phát triển một cách bền vững.
 
BM
Sản phẩm nghiên cứu của ông đã cứu được rất nhiều người.
 
Không cùng chí hướng, ông quyết định dừng hợp tác với họ. Lúc này, ba đối tác quay ra liên kết với nhau nhằm đánh sập Metran. Đứng trước khó khăn, ông vẫn vững tin vào con đường mình đã chọn, ông vay tiền ngân hàng mua lại toàn bộ cổ phiếu mà người ta đã bỏ vào. Sau biến cố, ông càng nhận thức sâu sắc hơn về đạo kinh doanh, ông cho rằng “vấn đề lợi tức và đạo đức, khi nào cũng phải cân bằng trong đó”.
 
Tấm lòng luôn hướng về quê hương
 
Cơ duyên trở về Việt Nam của ông Trần Ngọc Phúc bắt đầu không lâu sau khi ông thành lập Metran. Lúc đó, ông đang cùng Bệnh viện Nhi trung ương quốc gia Nhật Bản nghiên cứu về máy móc thiết bị y tế, ông đã được Bệnh viện Nisseki Hiro liên lạc với Bệnh viện Nhi trung ương quốc gia Nhật Bản về ca mổ tách rời hai cháu Việt – Đức. Vì biết ông Phúc là người Việt Nam nên Bệnh viện Nhi trung ương quốc gia Nhật Bản đề nghị ông tham gia việc này.
 
Năm 1988, khi tham gia hỗ trợ cho cuộc phẫu thuật tách cặp song sinh Việt – Đức, ông có nhân duyên gặp gỡ với bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, nguyên Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ (TP HCM). Qua những cuộc trò chuyện cùng bác sĩ Phượng, ông biết rõ hơn về tình hình đất nước sau giải phóng vẫn chưa hoàn toàn hồi phục, nhiều lĩnh vực đang gặp khó khăn, trong đó có y tế. Nhờ sự giúp đỡ của bác sĩ Phượng, ông đã trở lại thăm quê hương. Ông đoàn tụ cùng gia đình sau một thời gian dài xa cách.
 
BM
Anh Nguyễn Đức (thứ ba, từ trái sang) cùng vợ con hội ngộ êkíp mổ 30 năm trước.
 
Lúc ông về Việt Nam đã không còn như xưa, gia đình ông đã mất hết của cải và phải chật vật tìm mọi kế để sinh nhai. Với bổn phận người con trưởng trong gia đình, ông đã đưa các em của mình sang Nhật để chúng có cơ hội học tập và trau dồi kiến thức trong lĩnh vực y khoa và thực phẩm. Các em trai, em gái của ông sau khi về lại Việt Nam đều mang những kiến thức học được vào kinh doanh và cũng tạo được mối tương quan mật thiết với Nhật bản.
 
 
Trực tiếp chứng kiến những khó khăn thách thức mà Y tế Việt Nam phải đối mặt, ông đã liên hệ với những người bạn là các bác sỹ trên toàn nước Nhật, xin cung cấp các thiết bị y tế cần thiết để hỗ trợ cho các bệnh viện của Việt Nam.
 
Ông sử dụng sản phẩm do mình nghiên cứu để giúp đỡ những đứa trẻ sinh thiếu tháng, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa. Đồng thời, ông cũng nhờ sự hỗ trợ của những bác sĩ tại Nhật và Mỹ, khi có thời gian cùng ông về Việt Nam.
 
Trước hết, ông tổ chức các buổi giảng dạy, truyền đạt kinh nghiệm cho những bác sĩ trẻ, sau đó là các hội thảo để các bác sĩ Việt Nam hiểu được các cách chữa trị mới trên thế giới. Chỉ sau này, khi Y tế Việt Nam đã từng bước phát triển rõ rệt và có sự hỗ trợ của rất nhiều giáo sư ngoài nước, vì sức khỏe có hạn cũng như muốn dành thời gian cho nghiên cứu khoa học, ông Phúc mới dừng tổ chức các hội thảo sau 13 năm thực hiện.
 
BM
Ông tổ chức các buổi giảng dạy, truyền đạt kinh nghiệm cho những bác sĩ trẻ, sau đó là các hội thảo để các bác sĩ Việt Nam hiểu được các cách chữa trị mới trên thế giới.
 
Hiện tại trên cương vị là Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Nhật Bản, ông Trần Ngọc Phúc mong muốn Hội có thể đưa ra những giải pháp giúp đỡ cộng đồng người Việt có cuộc sống tốt hơn, hỗ trợ cho người Việt trong những tình huống khó khăn… Đồng thời, ông cũng đang ấp ủ ước mơ xây dựng một kênh truyền hình dạy tiếng Việt tại Nhật.
 
Theo ông, người Việt tại Nhật sống rải rác nên nếu mở trường dạy học sẽ không đáp ứng được hết nhu cầu mong muốn dạy tiếng Việt cho các thế hệ thứ 2, thứ 3. Gìn giữ tiếng Việt là gìn giữ cốt lõi bản sắc văn hóa Việt, bởi vậy nhiệm vụ này luôn được ông và Hội người Việt tại Nhật chú trọng.
 
 
BM
Trên cương vị Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Nhật, ông mong muốn Hội có thể đưa ra những giải pháp giúp đỡ cộng đồng người Việt có cuộc sống tốt hơn, hỗ trợ cho người Việt trong những tình huống khó khăn.
 
“Bước đến tuổi 70, tôi muốn dành thời gian cho gia đình nhỏ bé của mình, cống hiến cho cộng đồng, nhưng đam mê nghiên cứu vẫn chưa bao giờ ngừng lại trong tôi. Tôi đang nghiên cứu các thiết bị giúp đỡ cho bệnh nhân tại Việt Nam. Các ý tưởng của tôi luôn muốn phụng sự cho Tổ quốc mình”, ông chia sẻ
 
 
BM
 
Tài năng cùng triết lý nhân sinh cao đẹp mà ông gửi gắm trong các sản phẩm của mình đã và đang cứu sống hàng nghìn trẻ em sinh non trên thế giới. Với đạo đức và nhân cách của một người con đất Việt ông đã mang đến hạnh phúc cho những người làm cha làm mẹ đồng thời góp phần làm rạng danh đất nước hình chữ S.
 
 
 
 
Tâm Liên
 
Ngọc Lan sưu tầm
 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này