Khoa học kỹ thuật

Khoa học kỹ thuật (196)

10 phát minh vĩ đại của phụ nữ làm thay đổi cả thế giới

10 phát minh vĩ đại của phụ nữ

làm thay đổi cả thếgiới

Phụ nữ không chỉ tạo nên một nửa thế giới bằng sự dịu dàng và chu đáo trong căn bếp của mỗi gia đình. Họ còn có thể dùng trí thông minh và tấm lòng biết cảm thông của mình để tạo ra những phát minh khiến cuộc sống của chúng ta trở nên nhẹ nhàng, thoải mái và an toàn hơn nhiều lần.

1. Hệ thống sưởi bằng năng lượng Mặt trời cho nhà riêng

Hệ thống sưởi đóng một vai trò vô cùng quan trọng vào mùa đông, ở các nước phương Tây. Tuy nhiên, hệ thống sưởi bằng những nhiên liệu thông thường như ga hoặc điện rất đắt đỏ. Đó là lý do tại sao, hệ thống sưởi bằng năng lượng mặt trời được chào đón nồng nhiệt khi nó ra đời.

Người khai sinh ra hệ thống này là nhà vật lý học người Hungary TS. Maria Telkes, bà cũng là nhà khoa học tiên phong trong các nghiên cứu liên quan đến năng lượng mặt trời. Vào những năm 1940, bà đã cộng tác với nữ kiến trúc sư Eleanor Raymond, để xây dựng nên ngôi nhà đầu tiên được sưởi hoàn toàn bằng năng lượng thiên nhiên.

Hệ thống sưởi của bà sử dụng một chất hóa học có khả năng kết tinh và giữ nhiệt, khi chất hóa học này được chiếu xạ, nó có khả năng giữ cho nhiệt độ căn phòng được ổn định. Hệ thống sưởi này không cần dùng đến bất kì sự hỗ trợ nào từ điện, mà vẫn có thể giữ cho một căn nhà 5 phòng tại Dover (Hoa Kỳ) được ấm cúng suốt cả mùa đông.

2. Túi giấy

Trước năm 1968, người ta thường sử dụng những chiếc bì thư để đựng đồ. Tuy nhiên diện tích nhỏ hẹp là điểm bất lợi chính của bì thư. Margaret Knight, một công nhân dệt sợi đã đưa ra ý tưởng về một chiếc túi giấy có đáy vuông vào năm 1870. Đồng thời, cô đã phát minh ra một chiếc máy cắt, gấp và tạo đáy hình vuông cho chiếc túi. Kiểu đáy này đã giúp phân phối đồng đều trọng lượng của đồ đạc lên đáy túi, khiến chiếc túi đựng được nhiều đồ hơn và cũng trở nên chắc chắn hơn.

Không may, Margaret nhận ra ý tưởng của cô đã bị Charles Annan đánh cắp, nhưng cô đủ bằng chứng để bảo vệ ý tưởng của mình. Cô sử dụng phác hoạ và các ghi chú để chứng minh rằng sáng chế đó là của cô và cô đã chiến thắng trong cuộc chiến pháp lý dài, để có được quyền sở hữu sáng chế của mình.

3. Bỉm dùng một lần

Phát minh này thuộc về một bà nội trợ của Mỹ, bà Marion Donovan. Phát minh của bà đã được cấp 4 bằng sáng chế. Bà Donovan trong khi chăm sóc con gái sơ sinh đã nhận thấy sự bất tiện của việc cuốn tã vải cho trẻ nhỏ, bà nảy ra sáng kiến: Dùng rèm nilong trong nhà tắm khâu cùng với mảnh vải tã để làm nên chiếc bỉm đầu tiên cho con gái.

Bà cũng lập nên một công ty nhỏ để kinh doanh sản phẩm do mình phát minh. Trong giai đoạn đầu, những chiếc bỉm của bà không được công chúng đón nhận. Tuy nhiên, bà Donovan không nản chí, bà cải tiến cho chiếc bỉm thành không thấm nước và đứng bán các sản phẩm mới ở đại lộ Saks Fifth. Cuối cùng, bà cũng có thể bán sáng chế của mình cho tập đoàn Keko với giá 1 triệu USD.

4. Hệ thống truyền tín hiệu không dây

Ngoài việc là một diễn viên xinh đẹp trên màn ảnh, bà Hedy Lamar còn là một nhà sáng chế. Học được kỹ thuật công nghệ từ người chồng là ông Fritz Mandel, một nhà buôn vũ khí làm việc cho Đức Quốc xã, sau này bà đã vận dụng kiến thức ấy và cùng với nhà soạn nhạc Geogre Antheil, sáng chế ra thiết bị chống nhiễu sóng vô tuyến cho các thiết bị điều khiển tên lửa.

Ý tưởng của bà là một phát minh vượt thời đại, đó là một sóng vô tuyến luôn luôn di chuyển tần số khiến cho chúng trở nên không thể bị chặn lại.

Được cấp bằng sáng chế vào tháng 8 năm 1942, nhưng 20 năm sau, trong vụ khủng hoảng tên lửa Cuba, phát minh này mới được ứng dụng rộng rãi. Đây chính là tiền thân của những phát kiến gắn liền với cuộc sống hiện đại của chúng ta như mạng Wifi và sóng Bluetooth. Đồng thời nó được áp dụng trong các hệ thống điện thoại di động, mã hóa vệ tinh.

5. Bà mẹ của những nhà lập trình

Đô đốc Grace Murray Hopper là một nhà khoa học máy tính và cũng là sĩ quan trong Hải quân Hoa Kỳ. Bà không chỉ viết nên trình biên dịch máy tính cho chiếc máy tính đầu tiên (máy Mark I, có kích cỡ bằng cả một căn phòng) mà còn là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “bugging” và “debugging”, những thuật ngữ mà ta vẫn dùng cho tới ngày nay.

Từ năm 1967 đến năm 1977, bà là Giám đốc Văn phòng Thông tin quy hoạch hệ thống Hải quân Hoa Kỳ. Đây cũng là khoảng thời gian bà phát triển “ngôn ngữ lập trình COBOL”, một trong những thành công lớn nhất trong sự nghiệp của bà. COBOL được lấy từ các chữ cái đầu của từ Common Business-Oriented Language. Mục đích của COBOL là hướng đến thương mại, tài chính và các hệ quản lý của các công ty và chính phủ.

COBOL rất dễ viết, dễ đọc lại dễ sửa hoặc viết thêm vào. Năm 2006, công ty nghiên cứu thị trường công nghệ thông tin Gartner thông báo: hiện tại 60% các chương trình máy tính chuyên nghiệp được viết hằng ngày bởi ngôn ngữ COBOL.

6. Áo giáp kevlar

Đây là một phát minh mang tính “tình cờ” của nhà hóa học Stephanie Kwolek. Vào năm 1966, bà Stephanie Kwolek được giao nhiệm vụ tìm ra một chất liệu mới bền hơn để chế tạo các loại lốp xe. Trong quá trình tổng hợp chất mới theo yêu cầu này, bà Kwolek đã phát hiện ra một loại sợi đanh, cứng, có độ bền vững gấp 5 lần thép và đặc biệt không bắt lửa.

10 năm sau khi sợi Klevar được phát hiện, các nhà nghiên cứu đã phát triển mẫu áo chống đạn súng ngắn sử dụng loại sợi đặc biệt này. Vào năm 1975, những chiếc áo giáp chống đạn đầu tiên chính thức được trang bị tại nhiều sở cảnh sát tại Mỹ.

Ngày nay, người ta còn dùng sợi Klevar trong việc chế tạo khoảng 200 vật dụng quan trọng khác, ví dụ như: lốp xe, giày cho lính cứu hỏa, gậy khúc côn cầu, găng tay bắt dao, cáp quang, nệm chống cháy, bọc thép cho xe hơi và được dùng làm vật liệu để sản xuất cano.

7. Máy rửa bát

Bà Josephine Cochrane đã phát minh ra chiếc máy rửa bát vào năm 1886. Trái ngược hẳn với những gì người ta có thể tượng tượng ra, bà Cochrane không phải quá lo lắng về việc rửa bát, bà sống trong một gia đình sung túc với đầy đủ những người giúp việc.

Tuy nhiên không hài lòng với sự thiếu cẩn trọng của người làm đối với những món đồ sứ tinh tế, kết hợp với dòng máu của một kĩ sư cơ khí (được truyền từ ông nội và bố) bà đã tự mình mày mò và sáng chế ra chiếc máy này. Máy rửa bát của bà là sử dụng nước nóng và áp suất để làm sạch các vết bẩn. Đây chính là những nhân tố tạo nên sự tối ưu của chiếc máy so với những máy rửa bát đã được sáng chế ra từ trước đó. Cơ chế hoàn hảo này vẫn còn được sử dụng cho tới ngày nay.

8. Kính gạt nước

Năm 1903 là năm đầu tiên bà Mary Anderson đưa ra ý tưởng về một cần gạt kính hoạt động bằng tay. Nhưng đáng buồn thay, phát minh của bà lại bị bỏ qua vào thời điểm đó. Tuy đã được cấp bằng sáng chế, nhưng chiếc cần gạt nước của bà lại không được sử dụng rộng rãi.

Chỉ cho tới thời kì hiện đại, người ta mới nhìn thấy sự cần thiết của chiếc cần này cho việc đảm bảo an toàn khi lái xe trong những điều kiện thời tiết xấu. Và thật bất ngờ, chiếc cần gạt nước tự động đầu tiên cũng là sáng chế của một phụ nữ – bà Charlotte Bridgwood.

9. Xuồng cứu hộ

Một ngày nọ của năm 1882, Maria Beasely đứng trông ra biển và nói: “Người ta thực ra là không nên phải chết vì những tai nạn hàng hải nữa”. Và thế là bà phát minh ra chiếc xuồng cứu hộ đầu tiên. Bà còn sáng chế ra một loại máy chế tạo thùng chứa bằng gỗ (barrel) và sáng chế này giúp bà trở nên rất giàu có.

10. Máy làm kem

Phát kiến “vĩ đại” đối với nền ẩm thực thế giới này thuộc về một phụ nữ Hoa Kỳ, bà Nancy Johnson. Năm 1843, bà Johnson đã tạo nên chiếc máy làm kem đầu tiên trong lịch sử. Chiếc máy của bà là một thùng gỗ với phần lõi ở trong là một xi lanh (hoặc một hộp nhỏ) bằng nhôm. Khoảng trống giữa hai lớp thùng sẽ được lấp đầy bằng đá lạnh. Kem sẽ được “quay” trong thùng lạnh này cho đến khi đạt được kết cấu như chúng ta vẫn quan sát.

Cấu trúc máy làm kem của bà hoàn hảo tới mức, nó vẫn được sử dụng cho tới ngày nay.

 

Nguồn ảnh: herplacemuseum

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

Xem thêm...

10 Chiếc cầu nước kỳ lạ và độc đáo nhất thế giới

10 Chiếc cầu nước kỳ lạ và

độc đáo nhất thế giới

□◇□□◇□□◇□

Có rất nhiều điều kỳ vĩ trên thế giới mà thật đáng tiếc nếu bạn chưa từng được nhìn thấy, dù là trực tiếp hay gián tiếp. Trong bài này là câu chuyện về một cây cầu sẽ khiến bạn phải ngạc nhiên vì vẻ đẹp của nó.

Năm 2002, cả thế giới ngả mũ bái phục trước Veluwemeer Aqueduct – một kiến trúc sư thiên tài đã nối liền vùng lục địa của Hà Lan với Flevoland, một hòn đảo nhân tạo

Có rất nhiều ý kiến được đưa ra thảo luận, bao gồm hoặc xây dựng một hầm ngầm dưới nước, hoặc một cây cầu bình thường. Tuy nhiên các dự án xây dựng này quá tốn kém và mất thời gian.

Ý tưởng chủ đạo là làm sao giao thông trên cạn và dưới nước được lưu thông, không bị tắc nghẽn bởi tàu phà.
Ý tưởng giao thông bình thường trên cạn và dưới nước được vận hành. 
Cây cầu nước này cũng có phần đường dành cho khách bộ hành,
đặc biệt nó có hai bên đường đi bộ ở làn đường cao tốc.
    
Cuối cùng, người ta đưa ra một quyết định dường như không tưởng, đó là xây dựng một cây cầu nước. Cây cầu nước này cũng có phần đường dành cho khách bộ hành, đặc biệt nó có hai bên đường đi bộ ở làn đường cao tốc. Hiện nay, hơn 28.000 xe ô tô đi lại dưới cây cầu sâu 10 mét này, và tàu bè thì thoải mái đi lại nhờ phần nước bao phủ bên trên cầu. 

Cầu nước (được hiểu là “con sông này nằm trên con sông kia”) là cấu trúc cầu mang theo kênh mương để tàu bè có thể di chuyển được qua những dòng sông, thung lũng, đường sắt và đường bộ.

1_ Cầu nước Pontcysyllte – Anh
 
Cầu nước Pontcysyllte nằm trong hệ thống dẫn nước từ kênh Llangollen đến các mỏ than ở Denbighshire và hệ thống kênh rạch ở xứ Wales, bắc qua thung lũng sông Dee. Bắt đầu xây dựng năm 1795 và hoàn thành năm 1805, công trình này được cho là cây cầu nước dài nhất và cao nhất ở Britain.
 
 
Ngoài ra, nó còn được liệt kê vào nhóm công trình Hạng mục I (Grade I Listed Building) và là Di sản Thế giới được UNESCO công nhận. Cầu nước Pontcysyllte được xây dựng bởi Thomas Telford và William Jessop. Cầu Pontcysyllte cấu tạo gồm một máng chứa nước làm bằng thép dài khoảng 307 mét, rộng 3,4 mét và sâu 1,6 mét, nằm trên 18 trụ đỡ được xây bằng đá cao 38m.
 
Đường kéo tàu thuyền được gắn trên mặt nước, cùng các cạnh bên được gắn bằng những trụ đúc bằng gang. Ngoài ra, trên cầu còn có hành lang dành cho người đi bộ. Việc xây dựng kết hợp những vật liệu như thép và đá làm cho chiếc cầu trở nên nhẹ nhàng, giúp những chiếc thuyền nhỏ và hành khách có thể di chuyển dễ dàng qua nó. Khi mới được đưa vào sử dụng, cầu nước Pontcysyllte tạo điều kiện thuận lợi cho ngành công nghiệp khai thác tại Denbighshire. Tuy nhiên ngày nay, cây cầu nước này chỉ sử dụng để phục vụ hành khách đến thăm quan.
 
2_ Cầu nước Håverud – Thụy Điển
 
Cầu nước Håverud là một trong những thành tựu kỹ thuật lớn nhất lúc bấy giờ. Giữa những năm 1860, cầu nước Håverud được xây dựng với mục đích là cây cầu bắc qua hệ thống kênh đào Dalsland, giúp cho tàu thuyền qua lại giữa hồ Vänern với khu vực trung tâm của Dasland và vùng hồ phía Tây Nam của quận Värmland.  
 
 
Công trình này là hệ thống máng nước bằng thép dài 33,5m, được ghép lại với nhau bằng 33.000 chiếc đinh tán. Ngày nay, hệ thống kênh đào Dalsland là một địa điểm thu hút rất nhiều du khách bởi cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, kết hợp với hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ và đường sắt trên cao. Du khách có thể ngồi thuyền hoặc đi bộ trên chiếc cầu nước này để ngắm nhìn dòng thác đang chảy ở phía dưới và những phương tiện giao thông đường bộ đang chạy ở phía trên.

3_ Cầu nước Magdeburg – Đức
Người Đức đã khởi công xây dựng từ năm 1997 đến năm 2003 để hoàn thiện 918m cầu nước bắc qua sông Elbe nằm gần thị trấn Magdeburg. Các kỹ sư xây dựng hệ thống kênh đào đã kết nối kênh đào Elbe-Havel với kênh đào Mittelland, giúp rút ngắn thời gian di chuyển giữa 2 kênh này từ khoảng cách 12km xuống còn 1km.
 
Được khởi công xây dựng từ năm 1905 nhưng bị trì hoãn do Chiến tranh thế giới lần thứ hai, cho đến tận năm 1997 cầu Magdeburg mới được xây dựng trở lại và hoàn thành vào năm 2003.  
 
 
Sau khi hợp nhất nước Đức, những tuyến đường giao thông trên nước được ưu tiên xây dựng lại. Năm 1997, công trình này được xây lại, kéo dài trong 6 năm với chi phí lên tới 500 triệu euro. Cây cầu nước Magdeburg này sẽ kết nối cảng nội địa của Berlin với các cảng nằm dọc trên sông Rhine. Với tổng chiều dài 918 mét, cây cầu cần 24.000 tấn thép và 68.000m khối bê tông gồm 3 đoạn dài 228m, rộng 34m và sâu 4,25m. Ngày nay, cầu nước Magdeburg được xem là cây cầu nước hiện đại nhất thế giới.

4_ Cầu nước Ringvaart Haarlemmermeer – Hà Lan 
 
Nằm gần Roelofarendsveen (thị trấn nằm phía tây Hà Lan), kênh đào Ringvaart bắc qua đường cao tốc A4 bằng một cây cầu nước. Cầu nước Ringvaart Haarlemmermeer được xây dựng vào năm 1961, do vậy nó là một cây cầu nước lâu đời nhất ở Hà Lan. Năm 2006, công trình xây dựng hoàn thành xong hai phần: hướng về phía đông có làn đường cao tốc mới mở rộng theo phía bắc và hướng về phía tây là đường sắt cao tốc HSL-Zuid mới. Cây cầu nước này dài 1,8km.
 
5_ Cầu nước Pont du Sart – Bỉ 
 
Cầu nước Pont du Sart là cây cầu mang nước từ kênh Centrumkanaal (nằm phía Tây Vương quốc Bỉ) vượt qua giao lộ đường N55 và N535 gần thị trấn Houdeng-Goegnies. 
 
 Hệ thống dẫn nước này được xây dựng bằng bê tông có chiều dài 498m và rộng 46m, trọng lượng khoảng 65.000 tấn được nâng đỡ bởi 28 trụ bê tông và đường kính mỗi trụ là 3m.
 
6_ Cầu nước Veluwemeer – Hà Lan
 
Veluwemeer là cầu nước cắt ngang đường cao tốc N032 nằm gần thị trấn nhỏ Harderwijk, miền Đông Hà Lan. Nó là một phần nhỏ của hồ Veluwemeer, đồng thời giúp kết nối phần đại lục của Hà Lan với hòn đảo mang tên Flevoland (được biết đến là một trong những công trình nhân tạo vĩ đại nhất thế giới). 
 
Cầu nước Veluwemeer có chiều dài 25 mét, mỗi ngày có khoảng 28.000 lượt xe cộ đi qua. Cây cầu nước này được mở cửa thông xe vào năm 2002.

7_ Cầu nước Briare – Pháp
 
Cầu nước Briare mang nước từ kênh đào Latéral à la Loire vượt qua sông Loire đến sông Seine của Pháp. Từ giữa năm 1896 đến năm 2003, cầu nước Briare được xem là hệ thống cầu dẫn nước dài nhất thế giới cho đến năm 2003, cầu nước Magdeburg tại Đức được đưa vào sử dụng đã lấy đi vị trí số 1 của nó.
 
 
Cầu nước Briare được xây dựng trên 14 trụ cầu. Những trụ cầu này là những dầm thép đơn hỗ trợ kênh thép chứa hơn 13.000 tấn nước, có độ sâu 2,2m và rộng 6m cho phép tàu thuyền cùng lưới rộng 1,8 mét có thể đi qua được. Chiều rộng của cầu nước là 5,2 mét và chiều dài của hệ thống dẫn nước này là 662,7 mét.

8_ Cầu nước Naviduct Krabbersgat – Hà Lan
 
 
Cầu nước Naviduct Krabbersgat ở Hà Lan là hệ thống dẫn nước hỗ trợ tàu bè qua lại giữa hồ Markermeer và hồ Ijsslmeer, được tích hợp bởi một cơ chế khóa 2 chiều vì mực nước giữa 2 hồ có sự chênh lệch cao thấp. Đây là dự án lớn độc đáo gồm một tàu khóa với một đường hầm giao thông đường bộ được hình thành để giảm bớt tắc nghẽn giao thông cho cả xe cộ lẫn giao thông du lịch biển. 
 
 
Kiến trúc khổng lồ này có chiều dài 125 mét và chiều rộng 25 mét. Bên cạnh đó, 1.450 m3 đất được di dời đi thay vào đó là 20.000 m3 bê tông. Cầu nước Naviduct Krabbersgat được khánh thành vào năm 2003.

9_ Cầu nước Edstone – Anh
 
Cầu nước Edstone là một trong ba cây cầu nước nằm trên 6km của kênh Stratford-upon-Avon ở Warwickshire. Khác với những cây cầu nước khác, đường kéo tàu lại nằm ở phía dưới đáy kênh. Với chiều dài là 145m, cầu nước Edstone là cây cầu dẫn nước dài nhất nước Anh. Nó chảy qua một đường nhỏ nằm giữa đường sắt Birmingham và đường sắt North Warwickshire.
 
 10_ Cầu nước Langdeel – Hà Lan
 
Cầu nước Langdeel nằm trên đường cao tốc N31, gần thành phố Leeuwarden ở phía bắc Hà Lan. Cầu nước này cùng tên với hệ thống kênh chảy qua. 
 
 
Bắt đầu xây dựng năm 2004, cây cầu nước Langdeel được hoàn thành vào năm 2007. Cầu dẫn nước này có độ sâu 2,78 mét (9 ft), rộng 25 mét (82 ft) và dài 110 mét (360 ft). Ngoài ra, nó còn được xây trên ba hàng cột bê tông.
 
 
 
Hồng Anh st
 
 
 
 
 
 
 
 
Xem thêm...

Một số điều hành khách đi máy bay ít biết

Các sân bay thường rất rộng lớn và phải mất nhiều giờ để có thể khám phá hết được tất cả mọi khu vực. Tuy nhiên, đó chỉ là “tầm nhìn ngắn”, chúng ta vẫn chưa thể nhìn được toàn cảnh của toàn bộ sân bay. Để làm được điều này, cần phải có “tầm nhìn xa trông rộng” – góc nhìn tốt nhất để có thể biết được toàn cảnh của một sân bay chính là từ trên cao.
 
Cùng chiêm ngưỡng hình ảnh ấn tượng của 15 sân bay trên thế giới khi nhìn từ không trung:

  Sân bay quốc tế Munich (Đức) được bao quanh bởi đồng ruộng và những thị trấn nhỏ  

sân bay Munich International Airport is surrounded by fields and small towns.

Sân bay quốc tế Kansai được xây dựng trên một hòn đảo nhân tạo giữa vịnh Osaka, Nhật Bản.

sân bay Kansai International Airport is built on a landfill island in Osaka Bay, Japan.(

Sân bay quốc tế Kuwait bừng sáng trong ánh đèn đêm ở thành phố Kuwait.

Kuwait International Airport is particularly bright against the lights of Kuwait City.

Sân bay quốc tế Aden lớn thứ 2 ở Yemen, có 1 đường băng dài 3.100 m.

Aden International Airport is Yemen

Dải màu xanh kéo dài ở phía tây bắc là đường băng của sân bay Senegal ở Dakar.

The long, green line in the northwest is the runway of Senegal

Sân bay Santa Cruz bận rộn nhất ở Bolivia.

Santa Cruz

Sân bay trên đảo Norfolk kết nối người dân và khách du lịch với đất liền Úc.

The airport on Norfolk Island connects residents and travelers with the Australian mainland.

Sân bay quốc tế Logan, thành phố Boston, Massachusetts (Mỹ) có diện tích 2.384 mẫu Anh với 6 đường băng.

Clouds hover over Boston

Sân bay quốc tế Los Angeles (LAX) là một trong những sân bay bận rộn nhất thế giới.

Sân bay Istanbul ở Thổ Nhĩ Kỳ nằm trong nhóm sân bay hàng đầu về lưu lượng khách quốc tế.

Sân bay Alaska ở Anchorage (Alaska) được bao quanh bởi rừng.

Alaska
(Ảnh: Visible Earth/NASA)

Sân bay quốc tế Hurghada ở Ai Cập hoà lẫn vào sa mạc.

Hurghada International Airport in Egypt blends into the desert.
(Ảnh: Visible Earth/NASA)

Sân bay quốc tế Buenos Aires ở Argentina với hai bên là thành phố.

And Buenos Aires
(Ảnh: Shane Kimbrough/Twitter)

Sân bay LaGuardia ở New York khi nhìn từ trên cao.

Same with LaGuardia Airport in New York.(
Ảnh: Shane Kimbrough/Twitter)

Sân bay quốc tế Dallas-Forth Worth lớn hơn cả toàn bộ đảo Manhattan

Dallas-Fort Worth International Airport is bigger than the entire island of Manhattan — the fourth largest airport in the world.
(Ảnh: Visible Earth/NASA)

Theo This Is Insider

  ░▌░◕░▌  
 
 
    Sưu tầm by Nguyễn Ngọc Quang   
db43c148
 
 
Photo:
https://lh3.googleusercontent.com/GqNtWhY8v-xotPQI0GtIk23Va6TsC9xIj1Oa2K1z307lZIVaRfWyyhGl-YpfY47epemCvC2nseoH8OYkkPE1e2IAo80Gmp1LfsU4dw=w284-h57-rw
Xem thêm...

Những phát minh tình cờ

Những phát minh tình cờ

╭⊱ꕥ ❤️ ꕥ⊱╮

 

 

Trong suốt chiều dài lịch sử có nhiều sản phẩm rất hữu dụng và nổi tiếng lại ra đời theo một cách hoàn toàn bất ngờ.

Khoai tây lát chiên giòn (năm 1853)

Câu chuyệnvề sản phẩm này đến từ George Crum, một đầu bếp người Mỹ gốc Phi tại khu nhà nghỉ Moon’s Lake House Lodge ở Saratoga Springs (New York). Một ngày trong năm 1853, Crum đối mặt với một vị khách hàng cực kỳ khó tính. Theo nguồn tin thì danh tính của vị khách đó là ông trùm ngành đường sắt Cornelius Vanderbilt. Vị khách hàng luôn mồm chê món khoai tây của đầu bếp Crum rằng nó quá dày, nhũng nước và nhạt nhẽo, và đòi đổi món khác. Mặc dù đầu bếp Crum thừa sức để cắt các lát khoai tây mỏng hơn, nhưng ông khách vẫn không chịu, cho rằng ăn không ngon.

Không muốn lâm vào cảnh đấu khẩu, đầu bếp Crum quyết định “dạy” cho ông khách một bài học thú vị: Crum đã thái các lát khoai tây mỏng tang rồi chiên nó ngập trong chảo dầu cho đến khi khoai tây giòn đến độ chỉ cần đâm nĩa cũng đủ làm khoai tây nát bét, rồi phủ lên khoai tây một xíu muối bột. Vừa trông thấy món ăn, Cornelius Vanderbilt đã vớ lấy và đánh chén hết miếng này sang miếng khác, tấm tắc khen món ăn ngon tuyệt và gọi nhiều thêm. Tiếng lành đồn xa, đầu bếp Crum tóm lấy cơ hội quảng bá món “Khoai tây chiên Saratoga” và mở một nhà hàng cho riêng mình, chuyên bán món này.

Saccharin, chất làm ngọt nhân tạo (năm 1877)

Một đêm năm 1877, nhà hóa học người Nga Constantin Fahlberg bị lôi cuốn vào nghiên cứu của mình từ phòng thí nghiệm ở Đại học Johns Hopkins (Baltimore, Maryland). Fahlberg vội vã trở về nhà dùng bữa cơm tối quên luôn cả chuyện rửa tay.

Tại bàn ăn, Fahlberg cầm một khoanh bánh mì nướng, cắn một miếng nhưng bỏ nó xuống ngay. Chuyện khủng khiếp gì đã xảy ra? Khoanh bánh mì tự nhiên có vị ngọt. Fahlberg đột nhiên nhớ rằng ông quên rửa tay sau khi làm xong thí nghiệm. Thứ chất bí ẩn nào làm cho mọi thứ trở nên ngọt? Hào hứng với khám phá bất ngờ của mình, Fahlberg rời bữa ăn tối và hộc tốc quay trở lại phòng thí nghiệm, tỉ mỉ kiểm tra các thành phần của hắc ín. Fahlberg nhanh chóng nếm thử mọi thứ trên bàn làm việc của mình. Cuối cùng nhà hóa học đã tìm ra “anh bạn lạ”: một cái cốc bị đun quá lâu. Bạn đọc thử tưởng tượng mà xem, nếu như Fahlberg rửa sạch tay trước khi rời phòng thí nghiệm thì thế giới có lẽ mãi mãi sẽ chẳng ai biết đến chất tạo ngọt nhân tạo.

Coca-cola (năm 1886)

Trong lúc tìm cách để trị dứt bệnh đau đầu và cảm giác nôn nao, nhà hóa học John Pemberton đến từ thành phố Atlanta (tiểu bang Georgia, Mỹ) đã bất ngờ pha chế ra một ly sirô làm từ rượu vang và tinh chất coca và ông đặt tên món uống mới là “Vang coca Pháp của Pemberton”. Khoảng năm 1885, thành phố Atlanta cấm bán rượu, buộc nhà hóa học Pemberton phải nghĩ ra cách để sản xuất ra một món uống dạng si rô có thành phần coca được pha loãng.

Chuyện kể rằng, một nhân viên pha chế bất cẩn ngay tại vòi soda, thay vì dùng nước vòi thì người nhân viên dùng nước soda lạnh. Người ta tin rằng việc này là một dụng mưu của nhà hóa học Pemberton nhằm kiểm nghiệm quá trình nghiên cứu của mình. Nhiều người đã đem các mẫu nhỏ tới nguồn soda Willis Venables ở trung tâm thành phố Atlanta để thẩm định hương vị. Dù theo cách nào đi nữa thì cuối cùng một loại đồ uống thú vị cũng kịp chào đời.

Tia X (năm 1895)

Trong phòng thí nghiệm tối om vào một ngày của năm 1895, nhà vật lý người Đức – Wilhelm Conrad Rontgen đang bận rộn thử nghiệm các ống tia cực âm – tương tự như bóng đèn huỳnh quang của chúng ta ngày nay – nhằm điều tra xem cách truyền điện qua khí. Ông cẩn thận tháo 1 ống cực âm không khí rồi nhét một loại khí đặc biệt vào bên trong, rồi truyền một dòng điện cao áp qua ống. Trước sự ngạc nhiên khôn tả của Rontgen khi cái ống cực âm để cách ông vài mét bỗng đột nhiên phát ra thứ ánh sáng huỳnh quang xanh lục.

Quả là không bình thường khi mà thứ ánh sáng lại phát ra từ hộp các-tông màu đen dày được phủ lên ống cực âm. Thứ ánh sáng huỳnh quang xanh lục đó là tia X, được sinh ra thông qua một cách bí ẩn nào đó. Kêu vợ, bà Bertha, làm đối tượng thử nghiệm, nhà phát minh Rontgen khám phá ra rằng những tia X có thể đi xuyên qua các mô của cánh tay, nổi rõ hình xương tay. Việc Rontgen đột nhiên khám phá ra tia X đã trở thành một sự kiện chấn động toàn cầu. Cũng ngay trong năm 1895, người ta đã dùng tia X trong việc chẩn đoán gãy xương.

Nón kem (năm 1904)

Vào cuối thế kỷ 19, khi kem trở thành món ăn thông dụng đối với tầng lớp bình dân, các loại giấy, thủy tinh và kim loại thường được sử dụng để đựng kem. Những người bán hàng rong thường múc kem cho vào cốc và người mua chỉ cần trả vài xu là tha hồ liếm sạch kem trước khi trả lại cốc cho chủ quán. Cũng có khi khách hàng lấy luôn cốc hoặc quăng nó đâu đó.

Tại Hội chợ thế giới năm 1904 tổ chức ở St Louis (tiểu bang Missouri, Mỹ) có sự tham dự của hơn 50 tiệm kem và hàng tá các quầy kem. Kem tươi bán rất chạy vì thời tiết khá nực, nhưng một phần là do kem được đựng bên trong một lớp bánh lót! Người chủ tiệm kem Arnold Fornachou bán ra các tách kem bằng giấy, còn người chủ hàng bên cạnh – một người Syria tên là Ernest Hamwi, thì bán ra các miếng bánh lót để kem có thể cuộn gọn bên trong, khi ăn kem người ta ăn luôn cả lớp bánh lót đựng kem.

Peniciline (năm 1928)

Vào ngày 3/9/1928, trong lúc đang dọn dẹp phòng thí nghiệm tại Bệnh viện St Mary’s ở thủ đô London (Anh) sau khi trở về từ kỳ nghỉ, nhà Vi trùng học người Scotland-Alexander Fleming đã lờ mờ nhận ra có một chuyện rất lạ: một cái khuôn lên mốc xanh bị nhiễm vi khuẩn từ đĩa thí nghiệm nằm ngay trong một góc phòng thí nghiệm, đĩa đã không rửa khi Fleming rời phòng đi. Fleming có ý định vất bỏ cái đĩa ủ mầm vì ông nhận thấy rằng cái khuôn nấm mốc dường như đang hòa tan vi khuẩn tụ cầu trên đĩa, tạo ra một vòng tròn không mang mầm bệnh trên khuôn.

Bằng cách nào đó, một bào tử khuôn nấm mốc đã rơi vào trong đĩa ủ – có lẽ do cửa sổ phòng thí nghiệm mở toang, hoặc có lẽ là khi Fleming mở toang cửa nhà để đi xuống tầng dưới lấy cà phê – và bắt đầu sinh trưởng. Sau các xét nghiệm xa hơn, Fleming đã khám phá ra rằng có một số thứ trong khuôn đã làm chận lại sự sinh trưởng của vi khuẩn. Nếu không vội vàng đi nghỉ mát, có lẽ Fleming sẽ rửa sạch cái đĩa ủ và ngày hôm nay chúng ta cũng sẽ không có một trong những loại kháng sinh được sử dụng thông dụng nhất thế giới.

Lò vi sóng (năm 1946)

Trong lúc thử nghiệm vi sóng ngay trước một thiết bị radar vào năm 1946, kỹ sư kiêm chuyên gia về radar trong thời Chiến tranh thế giới thứ II, ông Percy Spencer (người bỏ học từ năm 12 tuổi) đã để thanh sôcôla trong túi áo và nó từ từ tan chảy. Cho rằng vi sóng là căn nguyên khiến sôcôla bị chảy thành nước, Spencer và các đồng nghiệp bắt đầu thử nghiệm đun nóng các thực phẩm khác nhằm tìm hiểu về tác động làm ấm tương tự có thể nhìn thấy bằng mắt thường.

Khi Spencer thử nghiệm với các hạt ngô thì ngay lập tức bỏng ngô văng khắp phòng. Kế đó, ông quyết định đun nóng 1 quả trứng. Bằng cách khoét một cái lỗ ở cạnh bên chiếc ấm đun nước, Spencer đã đặt quả trứng bên trong ấm và cho vi sóng đi lên mặt ấm. Quả trứng được nấu chín rất nhanh khiến ông Spencer không biết cách điều chỉnh nhiệt độ, và khiến cho quả trứng nổ tung vào mặt một đồng nghiệp khác khi người này đang dòm vào trong ấm. Cuối cùng đã có một giải pháp thay thế cho các loại lò điện và lò gas thông thường. Với lò vi sóng, thực phẩm được nấu chín cực nhanh, chiếc lò vi sóng đầu tiên trên thế giới đã ra đời như thế đó.

Khóa dán (năm 1955)

Hơn 60 năm trước, chiếc khóa dán đã được cấp bằng sáng chế. Loại móc nối và móc khóa là sản phẩm được cả thế giới sử dụng cho rất nhiều việc khác nhau, từ việc ngăn chặn áo khoác mở ra, cho đến ngừa miếng đệm rơi khỏi ghế. Phát minh này ra đời hết sức tình cờ. Khoảng năm 1955, sau khi dẫn chó đi dạo bộ trong cánh rừng, kỹ sư điện người Thụy Sỹ, ông George De Mestral, nhận thấy rằng các cạnh sắc của quả cây ngưu bàng bám dính lên quần áo của ông cũng như lông con chó.

Quan sát các cạnh sắc dưới kính hiển vi, ông De Mestral nhìn thấy có hàng ngàn cái móc nhỏ xíu có thể dễ dàng dính chặt lên các vòng nhỏ trong quần áo. Nguồn cảm hứng này khiến cho De Mestral nảy sinh ý tưởng tạo ra loại khóa 2 mặt, như sau này ông viết về phát minh của mình: “Một mặt có các móc cứng như cạnh sắc, mặt kia lại có các vòng mềm mại như các sợi vải trong quần của tôi”. Kỹ sư De Mestral đã thử nghiệm với đủ loại vật liệu nhằm giúp cho ông phát triển ra một loại khóa dán mạnh nhất. Cuối cùng, nylon là vật liệu hoàn hảo. Và thế là khóa dán – một sự kết hợp của “nhung” và “móc” – đã ra đời.

Giấy ghi chú (từ 1968 đến 1974)

Vào năm 1968, nhà hóa học Spencer Silver (làm việc tại Công ty sản xuất và khai khoáng Minnesota ở St Paul, tiểu bang Minnesota, Mỹ), người được cho là phát minh ra chất kết dính mạnh mẽ dùng cho ngành công nghiệp hàng không vũ trụ, nhưng cuối cùng ông đã phát minh ra một thứ ít tên tuổi hơn. Kỳ lạ thay, những khối cầu acrylic được tạo ra không dễ gì mà phá hủy, và độ dính nó rất cao ngay cả khi đã sử dụng vài lần. Buổi đầu, Silver muốn bán chất kết dính như một thứ bề mặt dính dùng cho bất kỳ ai muốn gắn nó lên bảng thông báo.

Ông hình dung cách người ta dán chúng lên bảng và lột ra sau đó mà không cần đụng móng tay vì có thể sẽ làm tan nát mảnh giấy dán. Ý tưởng này chỉ trở thành một sản phẩm thực sự cho mãi đến năm 1974, khi nhà hóa học Art Fry nảy ra một ý tưởng: tại sao không dùng chất kết dính “ít dính” của ông Silver dán trên các mảnh giấy? Fry bắt đầu cắt các mẩu giấy nhỏ và dán chúng lên nhau. Sau đó, một vài mẫu giấy dán được gửi tới cho công chúng và hiệu quả tức thì, ít nhất 90% số người được phát mẫu giấy ghi việc đã phản hồi và muốn mua thêm. Ngày hôm nay, loại giấy ghi chú vẫn thuần túy một màu vàng.

 

Hồng Anh sưu tầm

Xem thêm...
Theo dõi RSS này