Kim Quy

Kim Quy

Dược sĩ đầu tiên của nước Mỹ

Dược sĩ đầu tiên của nước Mỹ

Sean Bảo

 

Lời giới thiệu: Ở những nơi có người Việt đông đảo, chúng ta có thể nhận thấy khá nhiều gương mặt trẻ người Việt ở những quầy thuốc. Ngành Dược là một trong những ngành được nhiều sinh viên gốc Việt chiếu cố, có lẽ nhờ lương cao và không “nặng nhọc” tay chân. Tuy nhiên, học Dược cũng cần những tiêu chuẩn cao, đặc biệt là trí nhớ thật tốt… Chúng ta thử trở lại ngày xưa, những người Dược sĩ đầu tiên của đất Mỹ làm việc ra sao….

duoc-si-dau-tien-cua-nuoc-my3
Chân dung Dufilho và bằng dược sĩ số 001 của tiểu bang Louisiana.

Ở Mỹ, Pharmacy ngày xưa gọi là Apothecary, nghĩa là cửa hàng, nhà kho, nơi đơn giản được điều hành bằng chủ nhân có 6 tháng thực tập kiến thức y khoa sơ sài. Thời ấy chưa có các tiêu chuẩn và luật lệ trong việc chữa, phòng bệnh và bán thuốc. Nhưng bắt đầu vào năm 1804, sau khi nước Mỹ mua được vùng đất Trung Mỹ gọi là Louisiana Purchase từ Pháp, thì tiểu bang Louisiana là nơi đầu tiên đã thay đổi lịch sử dược khoa nước Mỹ,

New Orleans là thành phố đô hội và phát triển nhất nước vào những năm 1800. Cửa ngõ vào nước Mỹ với thương cảng từ vịnh Mễ Tây Cơ và con sông cả Mississippi, nơi còn lại dấu tích huy hoàng của cựu đế quốc Pháp và văn minh Châu Âu, nơi rộn ràng tấp nập thương buôn và di dân tụ về từ hơn 25 quốc gia trên thế giới, trong số đó có cả người nô lệ và kẻ giang hồ tứ xứ. Những chiếc tàu thương buôn tấp nập làm nên thủ đô tráng lệ sầm uất, nhưng cũng mang đến những dịch bệnh kinh hoàng, trong đó có bệnh sốt vàng da do muỗi lây lan. Với vùng đầm lầy và khí hậu ẩm thấp, dịch lan rộng nhiều lần từ năm 1796, gia đình Thống đốc lãnh thổ Louisiana là William C.C. Claiborne nhiễm bệnh, vợ và con gái mất, 5 năm sau người vợ thứ nhì cũng nhiễm bệnh qua đời.

Dịch bệnh tiếp tục hoành hành hàng năm, có nơi cao đến 1,300 người chết trong một tuần. Mùa hè năm 1853, 1 phần 5 số người di dân Irish ở Baton Rouge chết vì dịch. Nhà người chết bị phong tỏa và treo lá cờ vàng cảnh báo, người ta còn gọi sốt vàng da là yellow jack (thủy thủ gọi jack là lá cờ).

duoc-si-dau-tien-cua-nuoc-my2
Các phẩm vật Voodoos dùng cúng trừ tà, chữa bệnh
 Louisiana là tiểu bang đầu tiên đòi hỏi dược sĩ phải có bằng hành nghề. Sau khi Thống đốc Claiborne thành lập một hội đồng giám thị y khoa năm 1816, khảo thí vấn đáp 3 giờ đồng hồ trong một kỳ thi đầu tiên ở Cabildo trong khu quảng trường Jackson. Người dược sĩ đầu tiên được cấp bằng là Louis Dufilho Jr., một dược sĩ di dân người Pháp. Sau khi tốt nghiệp trường thuốc ở Paris, Dufilho đến Mỹ định cư ở Louisiana. Năm 1823 ông mở pharmacy.

Ngoài những thứ thuốc thông dụng để chữa bệnh, trong pharmacy của ông vẫn có phổ biến những con đỉa sống, thuốc phiện, nước soda như coke để pha thuốc uống và ngay cả các phương thức gọi hồn, cúng vong, trừ tà đuổi quỷ mà người nô lệ Haiti mang theo đến New Orleans gọi là Voodoo. Ông không phải là phù thủy, thầy cúng như các người di dân trong bộ lạc Châu Phi, nhưng Dufilho cũng bán các phẩm vật và cỏ cây, củ rễ cho dân thành phố mua về cúng bái, phù phép…

duoc-si-dau-tien-cua-nuoc-my4
Đỉa sống dùng hút máu trong pharmacy

Các dược sĩ thời ấy cũng là bác sĩ, họ khám bệnh và cho thuốc. Các dược sĩ pha chế thuốc men thời hoang sơ ấy cũng như các vị bán thuốc Bắc, thuốc Nam xứ mình. Họ dùng cây cỏ, rễ, lá, khoáng chất trong thiên nhiên, động vật, ngay cả côn trùng để làm thuốc. Giã trong cối đá bằng chày, nghiền nát, dùng bột vo lại thành viên thuốc, hay pha vào soda, syrup. Cối chày nghiền thuốc ngày nay còn được dùng làm biểu tượng cho Pharmacy.

Những lọ nước có nhiều màu được trưng bày sau các cửa kính của pharmacy, khách bộ hành đi ngang đều ngước nhìn. Những chai nước màu thủy tinh này về sau được cải tiến cho đẹp và bắt mắt bằng các quả cầu treo gọi là “show globes”, chúng như các đèn chùm, hắt ra ánh sáng khi dọi đèn vào.

Show globes đã được dùng ở Châu Âu từ thế kỷ 14, trở thành biểu tượng cho pharmacy cũng như các ống màu trắng đỏ xoay quanh biểu tượng cho các tiệm hớt tóc barber. Ở tầng trệt, dọc tường là hàng đống các chai lọ thuốc trên các ngăn kệ, có cả các dụng cụ sắc bén để cưa xương, xẻ da và các loại hóa chất. Các tấm bảng ghi phương thức điều trị, nước hoa, mỹ phẩm và ngay cả các phẩm vật cúng bái cho việc cầu hồn. Tầng lầu có phòng ngủ, nghiên cứu của chủ nhân, phòng cho bệnh nhân với thiết bị và dụng cụ gây mê.

Cũng trong pharmacy đầu tiên này ở Louisiana có bán whiskey, thời cấm rượu của Mỹ đã dành cho các y, dược sĩ được phép bán rượu, cồn, thuốc phiện như là thuốc mua toa. Ngay cả vào đầu thế kỷ 19, phụ nữ bị quặn bụng hành kinh còn dùng băng vệ sinh nhúng với thuốc phiện và cây cà dược để giảm đau. Ðằng sau vườn có một sân trồng các cây làm thuốc, cũng như chúng còn được dùng trong y khoa ngày nay.

duoc-si-dau-tien-cua-nuoc-my5
Louis Dufilho Jr. Pharmacy ở New Orleans.

Dược sĩ đều pha hay cho uống thuốc với soda. Các bồn phun soda như quầy giải khát với đủ các mùi vị, có khi pha cồn và cả thuốc phiện. Thuốc phiện, laudanum và heroin dùng giảm ho, đau, gây mê, trị tiêu chảy và được dùng phổ biến điều trị hầu như bá bệnh. Bệnh nhân vào pharmacy mua các con đỉa, đem đến bác sĩ để cho đỉa hút các máu được xem là độc gây bệnh, hay cho là bị dư máu.

Thời ấy các y sĩ chữa trị bằng nhiều phương pháp thô sơ lạ kỳ.Họ làm cho bệnh nhân nôn tháo ra, cho uống thủy ngân… Nhưng phổ biến là trích máu, cho chảy hết máu được xem là “độc” trong người bệnh nhân ra bằng con đỉa hút. Từ ngàn năm trước, cứ nhức đầu hay sốt nóng thì bác sĩ làm việc đầu tiên là cho máu chảy từ tĩnh mạch. Họ dùng dao hay gỗ vót nhọn xẻ da và hứng máu trong chậu. Nếu có các con đỉa hút máu thì hiệu quả hơn, vì khi hút máu đỉa tiết nước bọt gây tê và chất chống đông máu.

Cái chết của vị Tổng thống Mỹ đầu tiên George Washington cũng do mất máu nhiều vì phương thức điều trị y khoa cổ điển này. Sáng ngày 13 tháng 9, 1799 ông thức dậy với cổ họng đau rát và sau đó mệt dần. Ngày hôm trước ông đã bị cảm lạnh khi đi tuần tra trong đồn điền dưới trời băng tuyết. Ông cho người trích gần 2 ly máu. Ngày sau, 3 vị bác sĩ đến và tiếp tục trích máu. Trong vòng 16 giờ đồng hồ hơn 3 lít máu chảy ra đã lấy đi mạng sống của ông. Vào đến cuối những năm 1800 thì phương pháp điều trị này mới chấm dứt.

duoc-si-dau-tien-cua-nuoc-my1
Toa thuốc bằng vải được lưu trữ trong pharmacy

Khi những người di dân đến vùng Tân Thế Giới, họ vượt qua mọi khó khăn, bệnh dịch, chống chọi với thổ dân và tồn tại lập nên thuộc địa Jamestown đầu tiên năm 1607, thì mãi đến năm 1752 bệnh viện đầu tiên mới được xây ở Pennsylvania. Hẳn nhiên trong bệnh viện này có pharmacy. Sau đó thì toàn quốc có chừng 170 bệnh viện. Năm 1821, 5 năm sau khi Dufilho nhận bằng dược sĩ đầu tiên của nước Mỹ thì trường Ðại học dược Philadelphia đầu tiên của nước Mỹ ra đời. William Procter Jr. là dược sĩ tốt nghiệp trường thuốc này năm 1837, ông xuất bản cuốn sách thuốc đầu tiên

The American Journal of Pharmacy, 1852, mục đích chính dùng thuốc chủ yếu trong chữa bệnh nhắm vào 3 phương pháp: tẩy độc tố trong cơ thể, làm cho nôn tháo ra và toát mồ hôi. William Procter Jr. được xem là cha đẻ củangành dược ở Mỹ. Nhưng xét về thời gian và tấm bằng của tiểu bang Louisiana, thì Dufilho, một người di dân Pháp, mới thực sự là dược sĩ đầu tiên của Mỹ.Bằng luật pháp, Louisiana là tiểu bang đầu tiên trong nước quy định giấy phép hành nghề dược, dược sĩ phải được trang bị kiến thức khoa học hiện đại sau nhiều năm học hành và thực tập. Thay vì mê tín và lạc hậu, dùng súng cà nông bắn lưu huỳnh vào không khí để xua đuổi “khí độc”, Dufilho đã dùng ký-ninh, thuốc được tìm thấy trong vỏ cây Cinchona ở Peruđể điều trị sốt vàng da và tả lị.

Ông có người em trai bị mất vì sốt vàng da, nên ông lao vào chăm sóc chữa trị cho hơn 130 ngàn bệnh nhân bị bệnh dịch. Ông cũng nghiên cứu và chế tạo các phương thuốc từ cây cỏ, các công thức và tỉ lệ các dược phẩm được ghi chép tỉ mỉ, các toa thuốc chỉ định bọc trong những túi vải của từng khách hàng bệnh nhân còn được lưu lại trong pharmacy của ông. Dufilho còn tham gia Hiệp hội Howard, tiền thân của Hội Chữ Thập Ðỏ. Ðóng góp không nhỏ của ông đã làm thay đổi nền tảng dược khoa và phương thức điều trị cho bệnh nhân.

duoc-si-dau-tien-cua-nuoc-my
George Washington được điều trị bằng trích máu năm 1799

Pharmacy của Dufilho ngày nay được trùng tu và bảo tồn như cách đây 200 năm. Những cối, chày nghiền thuốc; những kệ chứa đầy chai, lọ, hũ; cân đo lường, các cưa xương và khoang sọ, ghế khám sản phụ và các loại thuốc sử dụng thời ấy. Du khách có thể thấy chân dung của ông với tấm bằng dược sĩ đầu tiên mang số 001 của Hội đồng Dược khoa Louisiana, chỉ cách vài góc phố từ bến sông Mississippi, nằm trong khu French Quarter, tiếng nhạc Jazz âm vang trong thành phố cổ, hương Cafe du Monde nồng nàn. Và dấu tích lịch sử của Dufilho, một người di dân Pháp được xem là dược sĩ đầu tiên của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ – đất nước của những người di dân.

 

New Orleans Pharmacy Museum - Louis J. Dufilho,

Jr. was America's First Licensed Pharmacist.

 

* ◄ ◊ ► ◄ ◊ ► ◄ ◊ ► ◄ ◊ ► ◄ ◊ *

 

Hồng Anh st

Những nhà văn tài danh bị “tước đoạt” giải Nobel!

Những nhà văn tài danh bị

“tước đoạt” giải Nobel!

 

Nhà văn vĩ đại Philip Roth, qua đời vào ngày Thứ Ba 22 tháng 5 năm 2018 vừa qua, mà không nhận được giải Nobel văn học. Phải chăng đây lại là một sai lầm khác của Viện Hàn Lâm Văn học Thụy Điển đã bỏ quên nhiều tác giả xứng đáng một cách oan uổng?

Nhà văn Philip Roth

Philip Roth

Bây giờ thì đã quá muộn. Philip Roth đã mất ngày 22 tháng 5 năm 2018 (1933-2018) mà không hề nhận được giải Nobel văn học, một giải thưởng mà ông rất xứng đáng được trao. Philip Roth được nhiều người xem là nhà văn Mỹ vĩ đại nhất trong nhiều thập niên qua. Không còn nghi ngờ gì nữa, ông đã bị Viện Hàn Lâm Văn học Thụy Ðiển chống đối vì đã viết quá nhiều về tình dục. Các tác phẩm của ông viết về “Do Thái” đôi khi làm cho người đọc dựng tóc gáy. Bản thân ông cũng là người gốc Do Thái, nhưng sách của ông đã thu hút hàng triệu độc giả. Các tác phẩm như The Human StainMy Life As a ManAmerican Pastoral…, danh mục những kiệt tác của ông khá dài. Viện Hàn Lâm Văn học Thụy Ðiển đã bỏ qua, nhưng độc giả thì không!  

 

Marcel Proust

Nếu tổ chức một cuộc thi chọn nhà vô địch viết câu dài nhất, nhà văn Pháp Marcel Proust (1871-1922) có nhiều cơ may đoạt giải nhất. Dù bạn thích ông ta hay không, dù bạn có đọc được tác phẩm của ông hay không, phong cách độc đáo và duy nhất của ông cũng bao trùm nền văn học lúc sinh thời. Tác phẩm của ông viết về thời gian, sự tồn tại trống rỗng, tình yêu, ghen tuông, đôi khi khốc liệt, đầy tham vọng, nhưng cũng lắm lúc dịu dàng, tuyệt vời. Ðối với những độc giả bên ngoài nước Pháp, ông được xem là nhà văn vĩ đại nhất của Pháp, hầu hết sinh viên khoa văn ở các trường đại học trên toàn thế giới đều hâm mộ ông. Thế mà có đến 16 người Pháp nhận được giải Nobel văn học, còn Marcel Proust thì không!

nhung-nha-van-tai-danh7
Nhà văn Marcel Proust

James Joyce

Có nhiều bức tượng của James Joyce được dựng lên khắp nơi trên đất nước Ái Nhĩ Lan.

Tất nhiên, quyển tiểu thuyết hiện đại Ulysses của James Joyce được người đọc yêu thích nhất. Ðiều này đã rõ mười mươi. Nhà văn Ái Nhĩ Lan, James Joyce (1882-1941), là một trong những cây viết hiếm hoi được thừa nhận là đã cùng với Proust và Céline, sáng tạo ra trào lưu tiểu thuyết hiện đại. James Joyce đã uốn, vặn ngôn ngữ, sáng chế ra ngữ điệu để hình thành văn xuôi mà chúng ta chưa bao giờ đọc. Nói gì thì nói, quyển tiểu thuyết Ulysses, tập truyện ngắn Dubliners hay tác phẩm A Portrait of the Artist as a Young Man là những tác phẩm chính của ông. James Joyce là cây viết cừ khôi khi miêu tả tâm lý dằn vặt mà các nhân vật trong tác phẩm của ông phải trải nghiệm. Ðược giảng dạy trong trường học, các tác phẩm của ông có sức ảnh hưởng hàng trăm tác giả trẻ… Thế mà James Joyce vẫn không nhận được giải Nobel văn học!

nhung-nha-van-tai-danh6
Tượng nhà văn James Joyce.

Virginia Woolf

Nữ tác giả người Anh, Virginia Woolf (1882-1941), đi sâu vào chỗ thầm kín, tối tăm của các nhân vật sống thời trước mình với lối hành văn cách tân, sắc sảo. Ðưa ra những thông điệp và phân tích về nữ quyền trước cả các đồng nghiệp nam giới, tác phẩm của Virginia Woolf đã nhận được lời khen từ công chúng và những nhà phê bình. Theo chủ nghĩa lý tưởng, lời văn của bà thay đổi trong tiểu thuyết Mrs DallowayOrlando hay The Wavesđã thể hiện sự thành công trong mô tả sự thân mật khó diễn đạt bằng lời nói, mà vẫn giữ được sự bẽn lẽn, e lệ, tính nhân bản và chiều sâu. Cũng thế, Virginia chưa bao giờ được trao giải Nobel văn học! 

nhung-nha-van-tai-danh5
Nhà văn Virginia Woolf

Franz Kafka

Rời bỏ quê hương, mất phương hướng trong cuộc sống, đối diện với bộ máy quan liêu nghiền nát con người một cách lạnh lùng đôi khi lại chính là xã hội. Franz Kafka (1883-1924), người mang 2 dòng máu Áo – Hung, đã thấy tình trạng tiêu cực trên và là người đầu tiên mô tả, phơi bày nó ra công chúng. Các tác phẩm “Die Verwandlung” (The Metamorphosis), “Das Urteil” (The Verdict), Das Schloss (The Castle)… đã đưa ông lên ngang tầm với các nhà văn lớn của thế kỷ. Trong các tác phẩm của mình, Franz Kafka phải vật lộn với những cơn ác mộng của một thực tế kỳ lạ. Ông có tầm nhìn xa trông rộng, hiện đại, siêu hình, táo bạo… nhưng như thế vẫn chưa đủ để được trao giải Nobel văn học. Hầu hết tác phẩm của ông được xuất bản sau khi ông qua đời.

nhung-nha-van-tai-danh4
Nhà văn Franz Kafka

André Malraux

André Malraux đích thực là người mạo hiểm. Tự học, chống chủ nghĩa phát xít, tham gia kháng chiến, dấn thân, từng là Bộ Trưởng Bộ Văn hóa, và được công nhận là danh nhân Pháp… André Malraux (1901-1976) đã sống trong thời kỳ mà nước Pháp bị giày xéo, nghiêng ngửa bởi 2 cuộc chiến tranh thế giới. Năm 1936, cùng với những người Cộng hòa Tây Ban Nha, ông đứng lên chống lại nhà độc tài Tây Ban Nha, Francisco Franco. Tất cả sự việc này đều được nêu lên trong các tác phẩm của ông như Les ConquérantsLa Condition HumaineL’Espoir… Nước Pháp đã trao tặng ông giải thưởng Goncourt, công chúng Pháp ca ngợi ông. Còn Viện Hàn Lâm văn học Thụy Ðiển lại làm ngơ!

nhung-nha-van-tai-danh3
Nhà văn André Malraux 

Milan Kundera

Thường đặt cược, nhưng không bao giờ thắng. Sinh năm 1929, nhà văn Tiệp Khắc Milan Kundera nằm trong số những cây bút thường gây cho mọi người có cảm giác như sắp được trao giải thưởng… Liệu cho đến chết chăng? Lời văn của ông nhẹ nhàng, ngắn gọn nhưng súc tích, chuẩn xác, nêu bật nét đẹp bên trong của các nhân vật. Ông phê phán một cách trong sáng chủ nghĩa Cộng sản mà ông là nạn nhân bị lưu đày đi nước Pháp. Milan Kundera là một trong số những nhà văn hiếm hoi được nhà xuất bản Pléiade uy tín phát hành tác phẩm lúc sinh thời. La PlaisanterieThe Unbearable Lightness of Being, hay L’Art du roman là những tác phẩm để đời của ông, và đã được dịch ra trên 40 ngôn ngữ… Năm nay ông đã 89 tuổi… Ðây là thời điểm trao giải Nobel văn học cho ông hoặc là không bao giờ…!

nhung-nha-van-tai-danh2
Nhà văn Milan Kundera 

David Herbert Lawrence 

Rõ ràng là tình dục và giải Nobel không thể đồng hành cùng nhau. Nhưng đối với nhà văn người Anh, David Herbert Lawrence (1885-1930), không phải chỉ có thế: những truyện ngắn về du lịch mô tả không giống những bờ biển Ðịa Trung Hải như trong truyện Sardaigne et Méditerranée của Lawrence viết năm 1921. Với những người vô cảm trước vẻ đẹp của biển, Lawrence còn có nhiều truyện và thơ… Ngoài ra còn có truyện Lady Chatterley’s Lover  là tác phẩm được những người đương thời cho là khiêu dâm. Những đứa con tinh thần này mang đến cho tác giả nhiều phiền toái không chỉ lúc bấy giờ mà cả về sau này. Và cũng như các tác giả trên, Lawrence không bao giờ nhận được giải Nobel văn học vì khuynh hướng sáng tác thiên về tình dục của ông. 

nhung-nha-van-tai-danh1
 Nhà văn David Herbert  Lawrence

Các nhà văn Phi châu

Ðây là sự bất công tập thể… Ðành rằng Wole Soyinka (Nigeria), Naguib Mahfouz (Ai Cập), Nadine Gordimer và John Maxwell Coetzee (Nam Phi) đã nhận được giải Nobel… Nhưng tất cả chỉ có thế, tức 4 giải Nobel trao cho 4 nhà văn, trong suốt một thế kỷ, của cả một châu lục rộng lớn đã sản sinh ra nhiều tác giả lớn như Chinua Achebe (Nigeria), Ngugi Wa Thiongo (Kenya), người đã viết bằng tiếng Kikuyu thuộc miền Trung và Nam Kenya. Trong khi đó thì số giải Nobel văn học mà các nhà văn Pháp nhận được là 16 và Thụy Ðiển là 8 !

Những ngườichưa xứng đáng

 

Bob Dylan

Nếu các tác giả xứng đáng được trao giải Nobel văn học nhưng lại bị “tước đoạt”, có lẽ một phần tại vì có nhiều nhà văn không xứng đáng chút nào nhưng lại được nhận… Wislawa Szymborska, Ba Lan (giải Nobel 1996) hay Mo Yan, Trung quốc (giải Nobel 2012) mà sự kiểm duyệt thầm lặng được thực hiện bởi nhà chức trách trong nước đã để lại một vài tì vết. Các giải Nobel được trao trong thập niên 1930 cũng đã để lại ít nhiều tai tiếng. Bob Dylan (giải Nobel 2016) là nhà thơ và nhà soạn lời nhạc (parolier) tài năng, nhưng trao cho Bob Dylan giải Nobel 2016 đồng nghĩa với việc bỏ lỡ cơ hội trao giải cho Philip Roth hay Milan Kundera!

nhung-nha-van-tai-danh
Nhà thơ, soạn lời nhạc Bob Dylan 

ĐDH (Australia)

Theo L’éditiondusoir

Ngọc Lan st

Nhà sách Khai Trí xưa

 

 Nhà sách Khai Trí xưa

Kỷ niệm của cậu học trò ăn cắp sách

 

Ông Nguyễn Hùng Trương

( Chủ nhân nhà sách Khai Trí)

 

 Nhắc tới Sài Gòn xưa, ngoài những công trình kiến trúc, con người,… thì sách cũng là một phần không thể thiếu. Khi bàn về sách thì mọi người sẽ không bỏ qua phần sách đó của nhà xuất bản nào. Bữa nay, Sài Gòn Năm Xưa sẽ nói về nhà sách kiêm nhà xuất bản Khai Trí. Chủ của nhà sách tên là Nguyễn Hùng Trương, được mọi người hay gọi với tên ông “Khai Trí”.

Ông “Khai Trí” - Nguyễn Hùng Trương, sinh năm 1926 tại Thủ Đức. Thuở nhỏ, ông thường nhịn ăn sáng, dùng 2 đồng xu mẹ cho để mua báo đọc. Lên Sài Gòn học trung học ở Petrus Ký, ông được sắm cho chiếc xe đạp cũ để cuối tuần đạp về nhà, đầu tuần trở lên với món tiền đủ để tiêu xài dè sẻn trong tuần. Nhưng cứ mỗi chiều thứ hai là ông tiêu sạch số tiền đó vào sách báo rồi cả tuần nhịn ăn sáng, chỉ uống nước lã cho đỡ đói.

Sách ông mua hầu hết là sách báo nước ngoài, vào thập niên 1940 ông đã gây dựng được một tủ sách có giá trị. Bạn bè đến chơi, thấy ông có nhiều sách hay thường nhờ ông mua giùm. Có lần, chỉ 5 người nhờ nhưng ông mua đến 10 cuốn để được hưởng 30% hoa hồng. Số sách dư ra, ông đem ký gửi ở quán sách. 3 hôm sau, người chủ quán hỏi ông sách loại đó còn không, nếu còn thì đem tới tiếp vì sách gửi trước đã bán hết rồi. 

Từ đó, ông nảy ra ý định mua sách báo ở nước ngoài về gửi bán. Sách ông chọn là loại sách có giá trị, quý hiếm, nhiều người cần mà trong nước không có bán. Lúc đầu mua mỗi thứ vài chục cuốn, thấy bán chạy ông mới tăng số lượng lên, có khi cả nghìn cuốn. Có người nói rằng ông Khai Trí khởi nghiệp bằng chiếc xe đẩy bán sách, thường đậu trước trường Chassesloup Laubat (nay là trường THPT Lê Quý Đôn) đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai).
 
~~<><><><>~~

Nếu tôi nhớ không lầm, đó là vào khoảng giữa năm 1959 hay 1960, báo chí đăng tin về một cậu học sinh khoảng chừng 14 -15 tuổi, gương mặt thông minh đĩnh ngộ và câu chuyện ở nhà sách Khai Trí (báo chí giấu tên và cũng không cho biết trường cậu bé học, thật ra cậu là học sinh trường Pétrus Ký).

Thời chúng tôi còn học trung học, tức dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, sách tiếng Việt ít nên muốn thi đậu bắt buộc phải dùng sách tiếng Pháp, như Toán hình học, Toán đại số, Toán vật lý… Học lớp Đệ tứ (lớp 9 bây giờ) mà làm hết cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs gồm 1.144 bài thì nhất, đi thi trung học chắc ăn như bắp.

Nhà sách Khai Trí xưa.

Thời ấy các tiệm sách lớn như Khai Trí chẳng hạn không có nhân viên bảo vệ mặc đồng phục ngồi gác ở cửa như bây giờ, mà có các nhân viên giả làm khách hàng, trông nom, ngăn chặn những người muốn ăn cắp sách.

Buổi sáng hôm ấy, cậu học sinh này cứ lang thang mở coi hết cuốn này đến cuốn khác ở chỗ các giá sách tiếng Pháp. Việc lấm lét nhìn tới nhìn lui của cậu bé khiến nhân viên trông coi khu sách tiếng Pháp nghi ngờ. Lúc cậu đi ra, họ giữ lại, sờ ngực áo cậu và lôi ra một cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs quý giá đã nói ở trên.

– Tại sao cậu ăn cắp sách?

Cậu bé tái mặt không nói nên lời. Chiếc phù hiệu trên ngực áo cậu cho biết cậu học trường Pétrus Ký, một trong bốn trường trung học công lập lớn nhất rất nổi tiếng tại Sài Gòn lúc bấy giờ: Gia Long, Trưng Vương, Pétrus Ký, Chu Văn An.

– Hừ, học sinh trường Pétrus Ký mà ăn cắp sách! Tôi gọi cảnh sát đến bắt để cậu chừa cái thói đó đi!

Họ lôi cậu bé tới chỗ quầy thâu tiền của cô thâu ngân viên, nhờ cô giữ cậu giùm rồi đi gọi cảnh sát. Cậu bé sợ hãi khóc như mưa như gió:

– Lạy chị, nhà em nghèo không có tiền mua sách, chị nói với chú ấy tha cho em đừng gọi cảnh sát…

Cậu bé khóc quá khiến cô thâu ngân viên cũng thấy mủi lòng:

– Ba má em làm gì mà nghèo?

– Ba em chết, má em quét chợ An Đông…

– Mẹ quét chợ An Đông mà con học Pétrus Ký? Em học đến đâu rồi?

– Dạ thưa quatrième année. Chị tha cho em, nếu cảnh sát bắt, đưa giấy về trường em bị đuổi học tội nghiệp má em…

– Các em quen với tiếng Pháp lắm phải không?

– Dạ.

– Bởi vậy nên mới lấy trộm sách Pháp. Bằng bấy nhiêu mà đã học lớp Đệ tứ, sắp thi Trung học là giỏi lằm. Nhưng chú ấy đã đi gọi cảnh sát thì biết làm sao…

Cậu bé sợ quá lại khóc…

 Từ đầu đến giờ có một ông đã lớn tuổi, ăn mặc lịch sự vẫn đứng theo dõi câu chuyện. Thấy cô thâu ngân nói thế, ông bảo cô ta:

– Thôi được, cuốn sách giá bao nhiêu để tôi trả tiền. Học trò nghèo mà, lấy một cuốn sách, lỡ bị đuổi học tội nghiệp…

Cô thâu ngân viên chưa biết giải quyết thế nào thì đúng lúc đó ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhà sách mà mọi người vẫn gọi là ông Khai Trí, từ ngoài đi vô.

Nhà sách Khai Trí xưa - Kỷ niệm của cậu học trò ăn cắp sách
Ông Khai Trí (trái).

Thấy chuyện lạ, ông dừng lại hỏi chuyện gì. Cô thâu ngân viên thuật lại sự việc và ông khách cũng đề nghị trả tiền như ông đã nói với cô thâu ngân. Ông Khai Trí cầm cuốn sách lên coi sơ qua rồi nói:

– Phải học trò giỏi mới dùng tới cuốn sách này chứ kém không dùng tới. Cám ơn lòng tốt của ông nhưng để tôi tặng cậu ta, không lấy tiền và sẽ còn giúp cậu ta thêm nữa…

Ông trao cuốn sách cho cậu bé, thân mật vỗ vai khuyên cậu cố gắng học hành rồi móc bóp lấy tấm danh thiếp, viết vài chữ, ký tên và đưa cho cậu:

– Từ nay hễ cần sách gì cháu cứ đem danh thiếp này đến đưa cho ông quản lý hay cô thâu ngân, cô ấy sẽ lấy cho cháu. Ngày trước bác cũng là học sinh trường Pétrus Ký mà…

Ông bắt tay, cám ơn ông khách lần nữa rồi đi vào trong.

Ba năm sau, nghe nói cậu bé đậu xong Tú tài phần II, được học bổng du học nước ngoài, hình như sang Canada.

 

๑▬▬▬▬●▬▬▬▬๑

 

 

Ông Nguyễn Hùng Trương

và nhà sách Khai Trí

Nguyễn Ngọc Chính

Khi đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 sau Hiệp Ðịnh Geneve (20/7/1954), nhà sách Khai Trí đã có mặt tại Sài Gòn từ hai năm trước đó. Tôi di cư sớm hơn, vào Ðà Lạt năm 1953 và trong những chuyến về chơi thủ đô, nhà sách Khai Trí là một trong những địa điểm tôi thường lui tới để thỏa mãn tính tò mò, tìm hiểu về thế giới sách vở tại đây.

Dạo đó, mỗi chiều cuối tuần người Sài Gòn thường rủ nhau đi “bát phố” Bonard, hết đi lên rồi lại đi xuống, suốt con đường từ Quốc Hội (sau này đổi là Nhà Hát Lớn) đến chợ Bến Thành. Kể từ thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, Bonard được đổi tên thành Lê Lợi. Ðặc biệt con đường này chỉ đông người phía bên phải theo hướng từ tòa nhà Quốc Hội đi đến cuối đường là chợ Bến Thành.

 Ðường Lê Lợi đông người “bát phố” vì trên suốt con đường có nhiều địa chỉ nổi tiếng… Nhà hàng Givral nằm ngay góc Catinat (đường Tự Do, sau 1975 đổi là Ðồng Khởi) và Bonard. Nơi này được mệnh danh là “Khu tứ giác Eden” gồm Passage Eden có rạp ciné Eden của gia đình họ Huỳnh Phú, đầu kia của tứ giác là nhà hàng Givral (góc Tự Do và Lê Lợi)…

Khu tứ giác này ngày nay đã biến mất hình dạng, để lại cho những người Sài Gòn xưa nhiều nuối tiếc. Kiến trúc “hiện đại” đã làm mất đi những đường nét cổ kính từ thời Pháp thuộc của Sài Gòn. Vẫn biết cuộc sống là luôn thay đổi nhưng ở một chừng mực nào đó thì vẫn còn đọng lại đâu đây những nuối tiếc, hoài cổ.


Tập san Sử Ðịa số cuối cùng.

Rồi sau này, năm 1962, có rạp Rex, “rạp cinê đầu tiên có máy lạnh,” có “thang cuốn” của tỷ phú Ưng Thi được khai trương theo mô hình rạp Rex tại Paris. Rex nằm ngay ngã tư Lê Lợi-Nguyễn Huệ lúc nào cũng dập dìu “tài tử giai nhân” đi xem phim hoặc không tiền thì đi… nhìn người ta xem phim!

Xuống đến ngã tư Lê Lợi-Pasteur có tiệm kem Mai Hương, ngày nay là kem Bạch Ðằng. Ðây là địa chỉ dừng chân của những người trung lưu, không đủ tiền ngồi Givral vốn dành cho giai cấp thượng lưu, “quý tộc,” kể cả những trai thanh gái lịch con nhà giàu.

Ði thêm vài bước nữa là đến tiệm sách Khai Trí, giang sơn của giới “mọt sách” bình dân; vì nếu “trí thức” hơn, người ta ghé vào nhà sách Xuân Thu trên đường Catinat (Tự Do). Xuân Thu có gắn máy lạnh và chuyên bán sách báo nhập từ nước ngoài với giá cao, và dĩ nhiên chỉ dành cho giới “quý tộc.”

Lần đầu tiên nghe đến tên Khai Trí không hiểu sao tôi lại nghĩ ngay đến Hội Khai Trí Tiến Ðức ngày xưa tại Hà Nội (1). Nhà sách ở Sài Gòn cũng như hội đoàn ngoài Hà Nội đã cùng một mục đích “khai tâm mở trí” cho người Việt thời Pháp thuộc cũng như thời VNCH.

Ðường Lê Lợi cũng có thể gọi tên là con đường “văn hóa” vì ngay cạnh Khai Trí (số 60-62 Lê Lợi), còn có nhiều nhà sách khác như Dân Trí, Thanh Tuân và Phúc Thành nằm chen vai thích cánh bên nhau. Tuy cùng cạnh tranh trên đường Lê Lợi nhưng Khai Trí vẫn nổi bật vì chiếm hẳn hai căn nhà bề thế; hơn nữa việc nổi tiếng còn do tài lèo lái và quản lý của người chủ. Ðó là ông Nguyễn Hùng Trương nhưng người ta ít biết đến tên ông mà chỉ gọi là: “Ông Khai Trí.”


Nhà sách Khai Trí xưa

Người ta nói ông Khai Trí khởi nghiệp buôn bán “sách vở” bằng 1 chiếc xe đẩy, hình như trước cổng trường Chasseloup Laubat đường Hồng Thập Tự, nay là trường Lê Quý Ðôn, đường Nguyễn Thị Minh Khai. Trong cuộc phỏng vấn của Phan Hoàng tại Sài Gòn được đăng trên báo Tiền Phong năm 2001 mang tựa đề “Vua sách Khai Trí” trở lại TP Hồ Chí Minh,” ông Nguyễn Hùng Trương kể lại thời kỳ khởi nghiệp trên bước đường kinh doanh sách của mình:”Từ khi còn rất nhỏ, tôi đã mê sách hơn mọi thứ khác. Càng lớn lên thì niềm đam mê sách càng tăng.

Tôi nhớ một ngày nọ có mấy anh bạn đồng môn đến nhờ tôi mua giùm năm cuốn sách về văn học Pháp. Tôi cũng đang cần một cuốn để lưu, nên gởi thư cho nhà xuất bản xin mua sáu cuốn. Ông giám đốc nhà xuất bản gởi thư hồi âm rằng, nếu tôi mua từ mười cuốn trở lên thì sẽ được trừ 30% giá bìa. Nhẩm tính tôi thấy nếu mua luôn mười cuốn thì số tiền chẳng hơn sáu cuốn chưa chiết khấu là bao, nên mượn tiền gởi mua đủ. Nhận sách, tôi đưa mấy anh bạn năm cuốn, tôi lưu một cuốn, còn bốn cuốn đem ký gởi.

Khoảng ba ngày sau tôi ra thăm chừng, không ngờ sách đã bán hết, ông chủ tiệm trả tiền và nói rằng nếu có sách gì cần bán thì cứ đem đến ký gởi… Từ đó, tôi nảy ra ý định tìm các loại sách báo có giá trị, quý hiếm đặt mua ngay tại cơ sở rồi mang ra hiệu sách ký gởi. Rồi khi để dành được số tiền kha khá tôi bắt đầu nghĩ tới chuyện mở nhà sách. Năm 1952, sau một thời gian chuẩn bị vốn liếng và mặt bằng, tôi đã khai trương nhà sách Khai Trí.”

 

Tài sản quý giá nhất của ông Khai Trí là sách báo. Sài Gòn khi đó có khoảng ba mươi tờ nhật báo, hàng chục tuần báo và nguyệt san, bán nguyệt san. Ông tìm mua hết và đóng bìa cứng để lưu trữ. Ðặc biệt hơn cả, ông sưu tập được bộ Paris Match của Pháp từ số 1 cho đến ngày 30 tháng 4, 1975, trong đó có nhiều hình ảnh, tư liệu quý giá về cuộc chiến tranh của Pháp ở Ðông Dương.

Ngoài ra, kho lưu trữ của ông còn 4,000 trang bản thảo từ điển tiếng Việt và gần 300 bản thảo sách nằm trong kế hoạch in thì bị “nửa đường đứt gánh.”Theo lời ông, thật đáng tiếc là kho sách báo ấy hiện bị thất lạc gần hết. Ông nói, tại Mỹ, bộ tạp chí Paris Match nếu còn giữ được thì giá không dưới nửa triệu đô-la.


Ông Khai Trí và nhàn văn Nhật Tiến.

Cũng từ trong nước, nhà văn quá cố Nguyễn Thụy Long, tác giả cuốn tiểu thuyết Loan Mắt Nhung, đã viết về ông Nguyễn Hùng Trương như sau: “Tiệm sách của ông tại đường Lê Lợi mang tên Khai Trí bị nhà nước quản lý, nay mang tên Phahasa của nhà nước. Thuở đó, sau khi các sĩ quan chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị đi cải tạo trước, đến lượt những văn nghệ sĩ bị bắt, tác phẩm thiêu đốt và họ đều bị coi là kẻ có tội, đương nhiên bị bôi nhọ, kết tội là Biệt Kích Văn Nghệ. Ông Khai Trí cũng bị coi là tội phạm, liệt vào hàng văn nghệ sĩ và bị bỏ tù, vì người chiến thắng cho ông là người kinh doanh và phát triển cái văn hóa đồi trụy. Những người đã từng sống ở miền Nam trước giải phóng, ai cũng biết đến ông. Gọi là ông Khai Trí mà quên cái tên cúng cơm của ông là Nguyễn Hùng Trương, ông làm được nhiều công việc lợi ích cho văn hóa Việt Nam, cả đời ông đam mê công việc ấy. Và ông quen biết rất nhiều văn nghệ sĩ ở miền Nam, kể cả những văn nghệ sĩ Bắc di cư 1954.

 

Nhiều vị học giả, nhiều nhà văn nhà thơ, tất cả đều quí mến ông. Có vị nói với tôi, “Ông Khai Trí không khen được thì thôi, chớ có gì đâu để mà nói xấu, để chê bai.” Ðúng vậy, ông Khai Trí là người làm sách, làm văn hóa, kinh doanh mặt hàng ấy, nhưng không thể coi ông là hàng “đầu nậu” xuất bản sách, trái lại rất trân trọng, vì tư cách của ông, con người vừa khiêm nhượng vừa tốt lành của ông.


Ông “Khai Trí” Nguyễn Hùng Trương

với kho sách của ông, ở những năm cuối đời.

Khai Trí là nhà sách bán lẻ nhưng cái tên Khai Trí còn xuất hiện như một nhà xuất bản, nhà phát hành và đồng thời là nhà xuất nhập cảng sách.Ngoài việc xuất bản sách,ông còn chủ trương in tuần báo Thiếu Nhi (Chủ nhiệm: Nguyễn Hùng Trương, Chủ biên: Nhật Tiến) rồi tập san Sử Ðịa (2) do Nguyễn Nhã làm Chủ biên. Ông tâm sự với Phan Hoàng: “Trong tất cả các loại sách, tôi đặc biệt nặng lòng với sách thiếu nhi.Từ năm 1971 tới 1975, tôi chọn lọc xuất bản 300 đầu sách trong bộ Tuổi thơ dành riêng cho các cháu nhỏ.Bên cạnh đó, tôi còn xuất bản tuần báo Thiếu nhi với sự cộng tác của nhiều nhà văn, nhà báo, nhà giáo có uy tín và tâm huyết với trẻ em. Ðây là công việc mà tôi thích thú nhất!”

 

Trên diễn đàn Talawas, tác giả Làng Ðậu bày tỏ lòng tri ân và thành kính với người đã góp công không nhỏ giáo dục và đào tạo một thế hệ thiếu nhi tại miền Nam với “tuần báo giải trí và giáo dục thiếu nhi” như đã ghi trên bìa mỗi số: “Về hình thức, trang bìa và trang cuối của tờ Thiếu Nhi lúc nào cũng được trình bày rất công phu, dùng kỹ thuật in offset, một kỹ thuật tiến bộ (và cũng đắt tiền) nhất thời bấy giờ. Trang bìa thường in hình vẽ của họa sĩ Vi-Vi về các đề tài khác nhau. Có lẽ bức tranh tôi thích nhất là bức Ông đồ, bức tranh này sau đó cũng đã được lên khung trong một bộ tem dưới cái tên cúng cơm của họa sĩ Vi-Vi: Võ Hùng Kiệt.

 

Nếu như trang đầu của tờ báo là một sự trang trọng cần thiết thì trang cuối, ngược lại, đem lại cho độc giả vô vàn thú vị qua các câu chuyện bằng tranh màu nổi tiếng dịch lại từ tiếng nước ngoài, như truyện Tin-Tin, truyện Asterix Obelix, truyện của Walt Disney… Những truyện tranh này đã được chọn lọc rất kỹ trước khi đăng nên có chất lượng cao về nội dung giáo dục. Họa sĩ Vi-Vi cũng có góp phần vẽ minh họa một số truyện tranh Việt Nam.


 Tuần san Thiếu Nhi

Tờ Thiếu Nhi không bao giờ bị khô khan bởi vì nó luôn có các kỳ thi “đố vui có thưởng,” các chuyện cười do độc giả gửi tới cũng như các bài thơ, văn, nhạc, họa của nhiều tác giả, cả già lẫn trẻ. Mục “Truyện cổ tích” cũng thu hút người đọc bằng các truyện của Tô Hoài, Nhật Tiến và nhiều cây bút cừ khôi khác. Ðặc biệt thú vị là hai mục: “Trả lời thắc mắc” và “Tay ngọc bên bếp hồng.”

 

Cũng xin nhắc lại vài câu thuộc loại “hoa thơm cỏ lạ” được giới thiệu trong vô vàn danh ngôn mà tờ Thiếu Nhi đã cho phổ biến trên mặt báo: “Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan” (Ðức Phật), “Lấy chí nhân thay cường bạo, đem đại nghĩa thắng hung tàn” (Nguyễn Trãi) hay “Sự học như con thuyền ngược nước, không tiến ắt lùi”… Làng Ðậu, “độc giả nhí ngày đó,” viết: “Tiền lời của nhà sách khi bán các mặt sách khác đã được đem qua để bù lỗ cho tờ Thiếu Nhi. Có lẽ riêng đối với tôi, một thằng bé đen đủi không quen biết, ông đã hành sử ‘bù lỗ nhiều hơn’; khi tôi hỏi mua 3 tờ Thiếu Nhi vì không đủ tiền mua nhiều, thì đã được ông cho thêm mấy tờ mà tôi muốn.”

 

Ðối với độc giả người lớn, ông Khai Trí “bảo trợ” tập san Sử Ðịa của một nhóm giáo sư và sinh viên trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn. Số đầu tiên ra mắt bạn đọc năm 1966 và số cuối cùng năm 1975 mang chủ đề “Ðặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa,” một đề tài nóng bỏng sau sự kiện ngày 19 tháng 1, 1974, Hải Quân Trung Cộng chiếm quần đảo Hoàng Sa (Paracells) khi ấy đang thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa.


Tập san Sử Ðịa phát hành 3 tháng một kỳ, ra được tổng cộng 29 số báo cho đến ngày Sài Gòn thất thủ năm 1975. Ðây là nguồn tài liệu phong phú trong việc khảo cứu, sưu tầm về sử ký và địa lý Việt Nam. Tác giả những bài viết trên tập san Sử Ðịa là những nhân vật nổi tiếng của miền Nam như Hoàng Xuân Hãn, Phan Khoang, Thái Văn Kiểm, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Ngu Í…

 

Khai Trí còn là một nhà xuất bản chuyên in tự điển của miền Nam. Nếu nhà xuất bản Thời Thế in cuốn Việt Nam Tân Từ Ðiển của Thanh Nghị dầy 1069 trang thì Khai Trí đã phát hành một loạt từ điển như Pháp Việt Tự Ðiển của Ðào Ðăng Vỹ với độ dầy lên đến 1276 trang; Anh Việt-Việt Anh Từ Ðiển của Nguyễn Văn Khôn…

 

Thậm chí có những cuốn tự điển rất cần cho việc nghiên cứu nhưng lại khó tiêu thụ trên thị trường nhưng Khai Trí vẫn mạnh dạn xuất bản, chẳng hạn như bộ Hán Việt Từ Ðiển của Thiều Chửu hay Hán Việt Tân Từ Ðiển của Nguyễn Quốc Hùng.

 

Nguyên tắc của kinh doanh nói chung là nhắm vào tiền lãi thu về nhưng một nhà kinh doanh có “tâm” hay có “đạo đức kinh doanh” là biết dung hòa giữa một bên là “lợi nhuận” và phía bên kia là “lợi ích” của xã hội. Ông Nguyễn Hùng Trương là nhà kinh doanh biết kết hợp cả hai cái “lợi” để đóng góp cho nền văn hóa của miền Nam. Ông còn giúp đỡ nhiều anh em văn nghệ sĩ gặp hoàn cảnh khó khăn bằng cách mua tác phẩm của họ, dù chưa in nhưng ông vẫn trả tiền đầy đủ theo kiểu “tiền trao cháo múc.” Ngoài ra, ông tài trợ cho nhiều tờ báo hồi đó ở Sài Gòn, chẳng hạn như tờ nhật báo Sống của Chu Tử.


Theo Kaviti, ông Nguyễn Hùng Trương, sinh năm 1926 tại Thủ Ðức, nhưng cũng có người nói ông sinh tại Biên Hòa. Thời thơ ấu của ông rất cơ cực, thường nhịn ăn sáng và dùng 2 đồng xu mẹ cho để mua báo đọc. Lên trung học ông vào trường Petrus Ký với một chiếc xe đạp cũ.

 

Báo Thanh Niên viết về ông Khai Trí: “Hết sức quảng bác nhưng ông lại rất ít nói về mình, nên ít người biết ông chính là tấm gương sống động: từ hai bàn tay trắng trở thành người kinh doanh ngành sách lớn nhất và uy tín nhất miền Nam.”

 

Trong những ngày đầu Sài Gòn đổi chủ, có người thấy ông chủ Khai Trí trải tấm nylon lớn trên vỉa hè ngay trước cửa nhà sách Khai Trí để bán nốt các số báo Thiếu Nhi còn sót lại. Tờ Thiếu Nhi vốn là báo khổ to, nhưng đến gần 1975 thì nó đã co nhỏ và thu bé mình lại, chỉ còn như một cuốn sổ tay mỏng lét nhưng vẫn giữ nguyên tôn chỉ và mục đích.

 

Năm 1976, chính quyền mới mở đợt “cải tạo văn hóa” tiếp theo sau đợt cải tạo “ngụy quân, ngụy quyền.” Nhà sách Khai Trí bị truất hữu và tịch thu, kho sách 60 tấn bị tiêu hủy. Chủ nhân Nguyễn Hùng Trương bị bắt trong chiến dịch tháng 4, 1976 và đưa đi cải tạo tại trại Z30C Hàm Tân vì tội “biệt kích văn nghệ.”


Một số nhân vật khác trong ngành phát hành sách báo như ông Nguyễn Văn Chà, chủ nhân nhà tổng phát hành Nam Cường, ông Tư Bôn (Paul) chủ nhân cơ sở phát hành Thống Nhất rồi ông chủ các nhà phát hành Ðồng Nai, Ðộc Lập cũng cùng chung số phận vì đã hoạt động trong lãnh vực sách báo “văn chương đồi trụy”…

 

Năm 1991, ông Khai Trí xuất cảnh sang Hoa Kỳ để đoàn tụ cùng gia đình. Theo nhà văn Nhật Tiến, ông Nguyễn Hùng Trương dự định mở lại nhà Khai Trí, nhưng điều trớ trêu là hầu hết các tác phẩm của Khai Trí đã “được” một số nhà xuất bản hải ngoại in lại mà không hề nghĩ đến chuyện… bản quyền!

 

Theo Phạm Phú Minh, một điểm khó khăn nữa là ông Khai Trí vừa thiếu vốn lại thiếu cả nhân lực để gây dựng lại nhà xuất bản tại Mỹ: “Ông Võ Thắng Tiết, giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ ở Nam California, đã tiếp xúc nhiều với ông Khai Trí thời gian ông mới qua Mỹ, cho biết rằng các con của ông Khai Trí nói thẳng rằng họ có thể góp ít vốn cho ông theo khả năng của họ, nhưng hoàn toàn không thể giúp được gì ông, vì ai cũng có công việc cả rồi, không thể nào bỏ việc để cùng cha phiêu lưu theo giấc mộng của ông.”

 

Hình như ông Khai Trí có gặp ông Nguyễn Tấn Ðời để bàn việc góp vốn cho chương trình văn hóa nhưng không đạt được kết quả. Ông Võ Thắng Tiết cho biết, trong số sách vở ông Khai Trí đã chuyển được sang Mỹ có nhiều thứ rất giá trị, như bộ sưu tập đầy đủ của báo Tri Tân và báo Nam Phong, tập san Sử Ðịa thời VNCH cũng không thiếu một số nào, tất cả sắp xếp rất ngăn nắp và khoa học.


Sau năm năm sống tại Mỹ, ông Nguyễn Hùng Trương biết rõ là mình chẳng làm được những gì mong ước cho nên năm 1996 ông Khai Trí về lại Việt Nam để sống luôn tại đây. Nghe nói nhà nước Việt Nam có chủ trương trả lại nhà cửa đã tịch thu năm 1975, ông về nước với đề nghị nhà nước trả lại các cơ sở cho ông; và ông sẽ cùng nhà nước thực hiện các nhà sách tân tiến theo lối Mỹ, trong đó có gian uống cà phê xem sách, có gian thiếu nhi để các em thoải mái tìm tòi…

 

Nhưng những gì ông “nghe nói” đã không đúng với thực tế. Nhà sách Khai Trí của ông đã thành nhà sách quốc doanh Sài Gòn. Nhà khác của ông thì bị chia chác cho cán bộ đã 20 năm qua, họ bán đi bán lại nhiều lần, giá cả càng ngày càng cao. Cuối cùng người ta “cho lại” một phòng trong một căn nhà cũ của ông; và ông sống ở đó, cho đến ngày qua đời, với giấc mộng lớn không bao giờ thực hiện.

 

Con người có niềm đam mê mãnh liệt với sách báo ấy đã ra đi lúc 5 giờ 15 ngày 11 tháng 3, 2005, linh cữu quàn tại nhà riêng số 237 Ðiện biên Phủ (đường Phan Thanh Giản cũ). Nguyện vọng của gia đình là tiền phúng điếu sẽ tặng cho quỹ từ thiện thành phố.

 

Lúc còn sinh thời ông Nguyễn Hùng Trương đã có lần chán nản khi được hỏi bao giờ người ta trả lại nhà sách Khai Trí cho ông.Câu trả lời của ông là.. “năm 3000”! Chẳng khác nào khi diễn tả một chuyện không bao giờ có thể xảy ra, người Sài Gòn thường nói chờ đến… “Tết Congo”!

 



Nhà sách Khai Trí năm xưa giờ là Nhà sách Sài Gòn.

 

▬▬▬▬ Kim Quy st ▬▬▬▬

 

 

 

Theo dõi RSS này