Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1245)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (56)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (342)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Những họa sĩ nổi tiếng và ảnh hưởng nhất Việt Nam

Những họa sĩ nổi tiếng và

 ảnh hưởng nhất Việt Nam

Khi tìm hiểu về hội họa Việt Nam, đặc biệt là về nền mỹ thuật hiện đại, chúng ta thường nghe đến nhóm tứ kiệt “Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn” hay nhóm tứ trụ thế hệ thứ hai bao gồm “Nghiêm – Liên – Sáng – Phái”. Họ là ai? Đâu là những họa sĩ nổi tiếng nhất của Việt Nam? Bài viết này sẽ cho bạn biết thêm về các danh họa của Việt Nam, những người mà tên tuổi của họ vang đến tầm quốc tế.

1. Nguyễn Gia Trí (1908 – 1993)


Được mệnh danh là “cha đẻ những bức tranh sơn mài tân thời của Việt Nam”, Nguyễn Gia Trí là cây đại thụ lớn nhất của nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam (nhất Trí). Ông là người đi đầu trong việc chuyển những bức tranh sơn mài từ trang trí thành những tuyệt phẩm nghệ thuật.

Ông Gia Trí đã để lại một vẻ đẹp sơn mài lộng lẫy tôn giáo, cổ điển, bởi ông là người duy nhất đã khám phá ra linh hồn của sơn mài truyền thống, khiến nó không còn tầm thường nữa mà đài các, quí phái.

Vẻ đẹp thiếu nữ trong tranh ông được diễn tả tài hoa là hiện thân của khát vọng tự do, mộng mơ. Tuy chưa được công nhận là Bảo vật Quốc gia nhưng tất cả các tác phẩm của ông dường như đã được ngầm coi là bảo vật và bị cấm đem khỏi lãnh thổ Việt Nam.


Tác phẩm “Vườn Xuân Trung Nam Bắc” đã đạt được nhiều kỷ lục: kích thước lớn nhất, phối hợp nhiều chất liệu truyền thống và được nhà nước mua với giá cao nhất (100.000 USD, tương đương 600 triệu đồng Việt Nam thời điểm đó).

Đó là tác phẩm được ghép từ 9 mảnh ván làm vóc, được họa sĩ Nguyễn Gia Trí sáng tác trong gần 20 năm và cũng là tác phẩm cuối cùng của ông.

Phong cách nghệ thuât: Ông là người đi đầu trong việc chuyển những bức tranh sơn mài từ trang trí thành những tuyệt phẩm nghệ thuật và từ đó ông đã được mệnh danh là “người cha đẻ những bức tranh sơn mài tân thời của Việt Nam”.

Ông phối hợp lối in khắc với những phương thức sơn mài mới, đồng thời áp dụng các nguyên tắc cấu trúc tranh vẽ phương Tây, để tạo những bức họa hiện đại mang đầy tính chất dân tộc.


Tác phẩm chính: Thiếu nữ trong vườn, Vườn xuân Trung Nam Bắc, Thiếu nữ bên hoa phù dung.

Tác phẩm sơn mài “Vườn xuân Trung Nam Bắc” của họa sĩ Nguyễn Gia Trí.

Tác phẩm “Thiếu nữ bên hoa phù dung”

2. Tô Ngọc Vân (1906-1954)


Nghệ danh: Tô Tử
Trong danh sách tứ kiệt, “Nhì Vân” chính là để nói Tô Ngọc Vân. Họa sĩ Tô Ngọc Vân là một danh họa là niềm tự hào trong làng nghệ thuật của Việt Nam, tên ông còn được đặt cho một đường phố ở thủ đô Hà Nội và ở Thành phố Hồ Chí Minh. Ông đã để lại cho hội họa nước nhà những tác phẩm đặc sắc mang tầm quốc tế.


Kiệt tác “Thiếu nữ bên hoa huệ” được Tô Ngọc Vân sáng tác vào năm 1943, khi ông đang giảng dạy tại Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. “Thiếu nữ bên hoa huệ” mô tả cảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đang nghiêng đầu một cách đầy duyên dáng, khơi gợi về phía lọ hoa huệ trắng.

Hình dáng cô gái kết hợp với những chi tiết và màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn dịu nhẹ. Đáng tiếc là kiệt tác này giờ bị lưu lạc không biết ở đâu.  Còn bức “Hai thiêu nữ và em bé” đã chính thức được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2013, hiện kiệt tác hội họa này đang được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Phong cách nghệ thuât: Tô Ngọc Vân được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam. Thông qua kỹ thuật, ông đã cố gắng diễn tả được vẻ đẹp của duyên dáng người Việt Nam đương thời mà tiêu biểu là chân dung thiếu nữ.
Tác phẩm chính: Thiếu nữ bên hoa huệ, Hai thiêu nữ và em bé, Thiếu nữ với hoa sen.

Tranh sơn dầu “Thiêu nữ bên hoa huệ” của Tô Ngọc Vân.

Tranh “Hai thiếu nữ và em bé” của Tô Ngọc Vân.

3. Nguyễn Tường Lân (1906-1946)


Ông là một trong bộ tứ họa sĩ nổi tiếng thời kỳ đầu của nền mỹ thuật Việt Nam: “Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn”. Vì chiến tranh, không còn nhiều thông tin và tư liệu về Nguyễn Tường Lân, tranh của ông còn sót lại cũng còn rất ít.

Ông được xem là một trong số ít các họa sĩ đương thời có khả năng đưa các màu nguyên chất vào một sự hài hòa mang tính hư cấu, tượng trưng, giản dị và nhã nhặn, kể cả đối với tranh lụa.

Ngay từ thập niên 1940, bằng nhịp điệu phóng khoáng của những vệt bút lớn chạy trên sơ đồ trang trí, Nguyễn Tường Lân đã sớm phá cách để đi đến phong cách nghệ thuật trừu tượng hóa.


Ông học khóa 04 trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau khi tốt nghiệp, ông mở xưởng vẽ tại Hà Nội. Ông thuần thục hầu hết các chất liệu từ sơn dầu, sơn mài, lụa cho tới khắc gỗ, bột màu…Mặc dù sáng tác được nhiều tác phẩm nhưng số còn giữ lại được chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Có lẽ cũng chính vì vậy mà hình ảnh mà chỗ đứng của ông trong bộ tứ khá mờ nhạt, mong manh dù rằng ông là một họa sĩ kỳ tài của Việt Nam.

Phong cách nghệ thuât: Thuần thục hầu hết các chất liệu sơn dầu, sơn mài, lụa, khắc gỗ, bột màu, chì than, Nguyễn Tường Lân đã sáng tác nhiều tác phẩm, tuy nhiên cho đến nay, rất ít ỏi các tác phẩm của ông còn sót lại.
Tác phẩm chính: Chợ miền núi, Hiện vẻ hoa, Đôi bạn

Tranh “Đôi bạn” của họa sĩ Nguyễn Tường Lân.

Tranh của Nguyễn Tường Lân minh họa cho câu thơ “Vầng trăng ai xẻ làm đôi”.

4. Trần Văn Cẩn (1910 – 1994)


Là người thứ tư trong danh sách tứ kiệt của nền hội họa Việt Nam (tứ Cẩn), Trần Văn Cẩn đã để lại cho nền mỹ thuật nước nhà những tác phẩm tiêu biểu, có giá trị cao về nghệ thuật và giàu tính nhân văn.


“Em Thúy” là một bức tranh sơn dầu được Trần Văn Cẩn sáng tác năm 1944. Có thể nói đó là đỉnh cao nghệ thuật Trần Văn Cẩn và cũng là đỉnh cao nghệ thuật Việt Nam. Với lối biểu hiện chân thực, nhẹ nhàng, không khoa trương, cường điệu.

Trần Văn Cẩn đã níu kéo và lưu giữ người xem bằng vẻ đẹp thơ ngây, trong trắng. Ông không hề quan tâm đến trường phái khi vẽ mà chỉ cốt nêu lên cái thần thái của nhân vật.

Phong cách nghệ thuât: Ông cũng là một trong số ít các họa sỹ có sự thể nghiệm với nhiều chất liệu, thể loại khác nhau và chất liệu, thể loại nào cũng có tác phẩm thành công.

Ông cũng là một trong những họa sỹ đi đầu trong việc thể nghiệm, sáng tạo từ chất liệu sơn ta để làm tranh sơn mài, đưa sơn mài thành một chất liệu hội họa nổi tiếng, mang đặc trưng nghệ thuật của hội họa dân tộc Việt Nam.
Tác phẩm chính: Em Thúy

Tranh “Em Thúy” của họa sĩ Trần Văn Cẩn.

5. Nguyễn Tư Nghiêm (1922-2016)


Nguyễn Tư Nghiêm cũng là hoạ sĩ hiếm hoi của nền mỹ thuật Việt Nam có bảo tàng riêng, tọa lạc tại 90 B2 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm. Giới phê bình nghệ thuật thời bấy giờ từng nhìn nhận, tranh của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm phối hợp bút pháp hiện đại với tư duy cổ truyền, địa phương, tạo nên bản sắc riêng.

Đường nét, màu sắc, nhịp điệu, không khí luôn luôn được phong cách hóa, dựa theo họa tiết trống đồng Đông Sơn, hoa văn đồ gốm Lý Trần, tranh tượng dân gian, kiến trúc đình chùa, nhịp điệu chèo tuồng, múa hát truyền thống. Kỹ thuật tạo hình, cho dù hiện đại và cách điệu, vẫn gợi lên được khí hậu tín ngưỡng dân tộc – và các nền văn hóa lân cận Đông Nam Á.

Phong cách nghệ thuât: Chất liệu mạnh nhất của Nguyễn Tư Nghiêm là sơn mài truyền thống nhưng không mài, và về sau là bột màu, giấy dó. Chủ đề hay gặp trong tranh ông là những điệu múa cổ, Thánh Gióng, Kiều, và những con giáp. Màu ông yêu thích là màu của dân gian Việt Nam.
Tác phẩm chính: Điệu múa cổ, Xuân hồ Gươm, 12 con giáp

Tranh sơn màu Xuân hồ Gươm” của Nguyễn Tư Nghiêm.

Tranh bột màu “12 con giáp” của Nguyễn Tư Nghiêm.

6. Dương Bích Liên (1924-1988)

Họa sĩ Dương Bích Liên là một họa sĩ người Hà Nội đã dẹp bỏ nhiều ham muốn dành cho một ham muốn sáng tạo: không vợ con, không say sưa vật chất, không tiền gửi tiết kiệm, không địa vị chính quyền, chưa một lần ra nước ngoài hoặc triển lãm riêng trong nước.

Giữa một phố lớn đông vui mà cuộc sống của ông vẫn xa cách, ẩn dật, lặng lẽ trong đời sống và tư duy sáng tạo nghệ thuật. Trong căn gác nhỏ hẹp nơi ông ở chỉ là những tiện nghi tận cùng để sống: một chiếc giá vẽ sơn dầu, một bát sơn cánh gián, một chiếc giường cá nhân, một hai chiếc xoong nồi tối thiểu và một vài cuốn sách nước ngoài nguyên bản.

Trong căn gác lúc nào cũng yên tĩnh, có cửa sổ lớn nhìn thẳng vào trời xanh, không quét vôi tường lại bao giờ, ngày tết không hoa cắm và cửa thường xuyên không khóa lúc ông đi bộ ra quán rượu ông quen, lúc ông đi vẽ xa … cứ thế ông sống đơn độc, xa lạ với những nơi tụ họp, những lễ nghi gặp mặt. “Cô đơn là số phận của đời tôi” ông nói vậy. “Tôi là kẻ bộ hành trên sa mạc, chẳng hiểu tôi sẽ vẽ ra sao những tác phẩm sắp tới”ông nói vậy.


Dương Bích Liên không có ý dày công cất giữ những sáng tạo của mình. Khi chết, ông muốn được đốt hết những bức tranh đã vẽ. Tác phẩm của ông còn lại ngày hôm nay là hàng trăm bức tranh, chủ yếu là do bạn bè quý mến ông và nâng niu cất giữ.

Phong cách nghệ thuât: Dương Bích Liên dày công nghiên cứu các phong cách, trào lưu nghệ thuật thế giới. Mọi chất liệu đều được ông thể hiện nhuần nhuyễn, độc đáo, siêu thoát đặc biệt là các thể loại sơn mài, sơn dầu, phấn đấu và chì than.

Ông thiên về vẽ chân dung, rất nổi tiếng với đề tài thiếu nữ. Ông đặc biệt thành công với những tác phẩm về chân dung thiếu nữ. Người ta thường nói “Phố Phái, gái Liên” để nói đến việc khi xem tranh phố thì nên xem tranh của Bùi Xuân Phái, còn xem tranh về thiếu nữ thì Dương Bích Liên là người vẽ đẹp nhất.
Tác phẩm chính: Cô Mai tranh sơn dầu

 

 

Tranh sơn dầu “Cô Mai” của Dương Bích Liên.

7. Nguyễn Sáng (1923-1988)


Nguyễn Sáng là cây đại thụ của sơn mài Việt Nam, có nhiều đóng góp tiêu biểu cho hội họa Việt Nam hiện đại. Ông khai thác thành công phong cách nghệ thuật hội họa hiện đại châu Âu, nhưng vẫn không xa rời nghệ thuật dân gian và cổ truyền Việt Nam. Nghệ thuật của ông là sự kết hợp hài hòa giữa tính hiện đại và tinh hoa của dân tộc.


Nguyễn Sáng là một người lữ hành cô độc đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Trong sáng tác ông thăng hoa, bay bổng chừng nào thì trong cuộc sống thường nhật ông vật lộn, túng quẩn chừng ấy.

Khi những người cùng thời với ông, buồn cho số phận còn được tình yêu chia sẻ, mất tình yêu còn được cuộc sống đền bù… thì ông "chẳng có gì ngoài một tấm lòng và hai bàn tay trắng".

Chính cái nỗi "khó sống" ấy là nguyên cớ cho Nguyễn Sáng dồn hết mọi nỗi niềm, tâm tư vào tranh, nhờ vào đấy mà chúng ta có một kho tàng nghệ thuật vô giá. Như một tín đồ của mỹ thuật giáo, ông thà tuẫn đạo chứ nhất định không chịu cải đạo. Sự tôn sùng cái đẹp, coi cái đẹp là mục đích của nghệ thuật, chi phối toàn bộ hoạt động nghệ thuật của ông.

Phong cách nghệ thuât: Nguyễn Sáng dùng nét vẽ của mình. Ngoài ra, ông còn vẽ theo nhiều đề tài khác nhau, như phụ nữ và hoa, cảnh đẹp vừa cổ kính vừa lộng lẫy của chùa chiền, cảnh núi rừng thâm u mà hùng vĩ, cảnh nông thôn bình dị, hiền hòa, cảnh ghi lại những trò chơi dân gian.

Hai tác phẩm của Nguyễn Sáng

8. Bùi Xuân Phái (1920-1988)


Bùi Xuân Phái họa sĩ nổi tiếng nhất Việt Nam với tranh phố. Tranh phố của ông vừa cổ kính lại rất hiện thực, thể hiện rõ hồn cốt của phố cổ Hà Nội những thập niên 50, 60, 70. Các mảng màu trong tranh Phái thường có đường viền đậm nét, phố không những trở thành chính nó mà còn gần hơn với con người, từ bề mặt đến cảnh quan đều có chiều sâu bên trong. Ngoài phố cổ, ông còn vẽ các mảng đề tài khác, như: chèo, chân dung, nông thôn, khỏa thân, tĩnh vật… rất thành công.

Với những gam màu rực rỡ, những hình vẽ kỳ thú gắn với làng quê Việt Nam đã luôn theo suốt ông trong cuộc đời một nghệ sĩ, tạo nên niềm đam mê hội hoạ ngay từ ngày còn thơ bé.

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, danh họa Bùi Xuân Phái đã vẽ nhiều thể loại, nhiều chân dung, phong cảnh, sinh hoạt khác nhau, phản ánh khá sinh động và chân thật từng giai đoạn của dân tộc. Những bức tranh của danh họa Bùi Xuân Phái đều mang phong cách riêng và để lại những dấu ấn đặc biệt trong nền mỹ thuật Việt Nam.

Nhưng đề tài phố cổ Hà Nội là đề tài ông đã gắn bó hơn 40 năm, bởi đó là nơi chứa đựng nhiều kỷ niệm vui buồn, thăng trầm cuộc đời ông.

Phong cách nghệ thuât: Ông chuyên về chất liệu sơn dầu, đam mê mảng đề tài phố cổ Hà Nội. Ngay từ lúc sinh thời, sáng tạo của ông đã được quần chúng mến mộ gọi dòng tranh này là Phố Phái.
Tác phẩm chính: Phố cổ Hà Nội,  Xe bò trong phố cổ…

Tranh sơn dầu Phổ cổ Hà Nội

9. Nguyễn Phan Chánh (1892-1984)


Ông là một người đã tạo ra một diện mạo tranh lụa Việt Nam không lẫn vào bất kỳ một phong cách nào đối với các nước có nền tranh lụa lớn nhất thế giới như Trung Quốc và Nhật Bản.

Tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh thắm đượm tình yêu thương con người lao động, đặc biệt là hình tượng người phụ nữ và tình mẹ con được thể hiện nhiều trong tác phẩm của ông. Thành công của Nguyễn Phan Chánh là do ông biết kết hợp lối vẽ truyền thống dân tộc với kiến thức khoa học cơ bản của hội hoạ Châu Âu.

Phong cách nghệ thuât: Ông là người đầu tiên mang vinh quang về cho tranh lụa Việt Nam. Ông được coi là người chiết trung phương pháp tạo hình phương Tây và họa pháp tranh lụa phương Đông.
Tác phẩm chính: Chơi ô ăn quan, Người bán gạo

Tranh “Chơi ô ăn quan” của Nguyễn Phan Chánh.

Tranh “Người bán gạo” của Nguyễn Phan Chánh được bán với giá 390.000USD.

10. Vũ Cao Đàm (1908-2000)


Nhiều tác phẩm điêu khắc của ông được coi là mẫu mực của điêu khắc Việt Nam hiện đại trong đó có hai bức tượng hiện được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam là “Chân dung” và “Thiếu nữ cài lược”.

Sống ở Pháp, sáng tác kết hợp tư tưởng Đông – Tây với chủ đề Việt Nam, tác phẩm của Vũ Cao Đàm từ sớm đã tìm được chỗ đứng trên thị trường quốc tế. Tranh của Vũ Cao Đàm thể hiện ảnh hưởng của mỹ thuật miền Nam nước Pháp – Thời cực thịnh của trường phái Ấn tượng.

Bằng những sáng tác giàu tìm tòi, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật truyền thống phương Đông và hội họa phương Tây, Vũ Cao Đàm đã góp phần nâng cao vị thế của người họa sĩ Việt Nam với bạn bè quốc tế.

Phong cách nghệ thuât: Ông nổi tiếng với các tác phẩm điêu khắc, tranh lụa, sơn dầu.
Tác phẩm chính: Thiếu nữ cài lược, Chân dung

Cô gái cài lược (Tête d’Indochinoise). Bằng Đồng,

khoảng 1927-28 Bảo tàng Quai Branly, Paris  

11. Lê Phổ (1907-2001)


Lê Phổ là họa sĩ bậc thầy Việt Nam và trên thế giới theo trường phái hậu với nhiều tác phẩm đắt giá. Ông còn được nhiều người gọi là “danh họa Việt Nam trên đất Pháp” và được coi là “cây đại thụ” trong làng nghệ thuật vẽ tranh Việt Nam. Những tác phẩm của ông thường có giá cao nhất trên thị trường nghệ thuật thế giới đối với một họa sĩ Người Việt.

Phong cách nghệ thuât: Chất liệu chính là sơn dầu và lụa. Chủ đề chính là hoa, phụ nữ mơ màng, quý phái.
Tác phẩm chính: Hoài cố hương, Kim Vân Kiều, Bức rèm tím, Thiếu phụ, Thiếu nữ bên hoa lan, Tĩnh vật, Paysage du Tonkin, Bình hoa mẫu đơn, Lòng mẹ, Giai nhân màu áo nắng.

Tranh “Hoài Cố Hương” của Lê Phổ có giá bán khoảng 222.325 USD.

Tranh sơn dầu “Nhìn Từ Đỉnh Đồi” của họa sĩ Lê Phổ được bán với giá 840.000USD.

Các bức tranh của các họa sĩ kể trên đều thuộc hàng vô giá, hoặc là được trưng bày trong Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, hoặc là đã được bán đấu giá với những cái giá rất cao. 

 

Nguồn: Tổng hợp Internet

 

Hồng Vân sưu tầm

Tranh Vũ Cao Đàm

Xem thêm...

TRÁI TIM BÀ MẸ

TRÁI TIM BÀ MẸ

❤️❤️❤️

- Kính tặng tất cả mọi người nhân Mùa Báo Hiếu.

 

          Trước bàn thờ Tổ Tiên, tôi đứng yên lặng thật lâu, để quán chiếu, để đi sâu vào đời sống của hiện tại và từ đó, nhìn lại quá khứ của nhiều thế hệ ông bà, cha mẹ nhiều đời trải dài xuống, cho đến hôm nay. Trong lòng nao nao, nhiều cảm khái, xúc động. Thật sự, có được thân người rất là khó và tự nhiên, lại nghĩ nhiều đến công ơn sinh thành, dưỡng dục cưu mang của cha mẹ…

 Công dưỡng dục thâm ân dốc trả

Nghĩa sanh thành, đạo cả mong đền…..

 Ngoài trời đang có những cơn mưa đổ về, tràn lan, tầm tả, tạo cho cả bầu trời khoác áo u tịch, thừa ứ nước. Không gian như rộng lớn hơn, có chiều sâu thẳm, những hình ảnh nầy mang dáng dấp như chiều sâu đại dương của tấm lòng các bà Mẹ.

 Mỗi năm khi mùa Vu Lan trở về, hình như đều có những cơn mưa lê thê, rộn ràng như thế. Những cơn mưa nặng hạt hay như những cơn mưa rào, thoáng qua trên bầu trời- có phải chăng là những giọt nước mắt hạnh phúc hay buồn đau vì con do tình yêu của Mẹ.

 Ôi những bà Tiên đã làm nên chùm ảnh tuyệt đẹp, như bóng mát che phủ cho cuộc đời, nay ở đâu ?

 Ngày xưa, lúc còn bé, chúng ta thường được nghe kể chuyện cổ tích và nói đến những bà Tiên. Một bà Tiên thật đẹp, thật dịu hiền. Bà Tiên đầy quyền phép, hay cứu giúp hoặc che chở, chia sẻ, an ủi và chuyển đổi khổ đau của những người khốn khổ và bà có mặt ở mọi nơi nơi, khi thấy có người đau khổ, bất hạnh cần giúp.

 Chúng ta đem lòng ngưỡng mộ, khâm phục, ao ước có ngày mình sẽ gặp được bà Tiên để xem hình dáng, nét dịu hiền, tấm lòng thương yêu con người của bà như thế nào? Và sự ao ước nầy nối tiếp với sự chờ mong khác; tại sao mình không thể nào gặp được bà Tiên? Bà ở nơi đâu? Bà là người thật hay chỉ là một mơ ước, một giấc mơ trong tâm khi đời sống có quá nhiều nổi bất hạnh…

Nhưng chúng ta lại vô tình quên rằng mình đang rất hạnh phúc, rất đầy đủ, rất may mắn v.v…vì đã bỏ quên người Mẹ đang sống, có thực- Một bà Tiên đẹp dịu hiền hơn tất cả, hơn cả những bà Tiên trên vũ trụ nầy và Mẹ đang có mặt, bên mình, cạnh sát mình với tất cả tấm lòng thương con vô bờ bến.

 Nói đến Mẹ là nói đến tình thương, nói đến tấm lòng với tình yêu rộng lớn mà không có gì có thể so sánh được. Người ta thường nói tấm lòng thương con của Mẹ sâu như là đại dương, là biển rộng; nhưng chiều sâu của đại dương có thể đo được, vì là hiện tượng vật chất, còn tâm Mẹ là tấm lòng, là tình yêu, là tinh thần, là sự sống.

 Vũ trụ muôn màu, vực sâu không đáy

Tấm lòng mẹ cấy ngọt trái tim đời

Nếu một hôm nào, mẹ không còn nữa

Dòng sữa ngọt cạn khô nguồn đất sống

Người dù tài sắc, ôm đời viễn mộng

Trái tim không còn, trời đất còn không???….

 Minh Thanh

 Biết bao nhiêu lời ca tụng, tán dương. Biết bao nhiêu văn thơ đã viết, đã nói về tình Mẹ, nhưng đó chỉ là ngôn ngữ- viết hay nói về lòng Mẹ, chứ không phải là nội dung sống thực của tấm lòng của Mẹ.

 Mỗi người chúng ta khi nói hay nghĩ đến tình Mẹ, thì từ trong ký ức biết bao nhiêu hình ảnh, thơ mộng, đầy ấp kỷ niệm tự nhiên xuất hiện, không cần phải suy nghĩ, gợi nhớ. Vì tuổi thơ của mỗi con người đều đầy ấp hình bóng thân thương, thiêng liêng nầy.

 Năm ngoái, khi về thăm Mẹ đau nặng. Có nhiều lúc, ngồi bên người, nhìm tấm thân còm cỏi của một bà cụ già, lòng se thắt lại. Vẫn biết cuộc đời là vô thường, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng thời gian đã làm thay đổi Mẹ nhiều đến như vậy.

Tấm thân đó, ánh mắt, nụ cười, lời nói, tấm lòng đó …tất cả như chứa một nội dung sâu thẳm của tấm lòng bà Mẹ. Một điều khó thể diễn tả bằng ngôn ngữ hay lời nói. Mẹ à! Con thuơng Mẹ- đó chỉ là lời nói tạm gọi được. Tôi muốn tiếp cận để sống lại…

 “ - Má còn nhớ câu hò ru con ngày xưa không? Sao trong tiềm thức con, nó cứ văng vẳng những tiếng hò, tiếng hát thật đẹp đó…..

 - Má chịu thua rồi con ạ, không thể hát hò gì được. Má già quá rồi, sống được đến giờ đã là may. Nhìn đàn con má lớn lên, nên người, đó là hạnh phúc quá lớn mà trong cuộc đời má có được. Dù các con có như thế nào, có ở phương trời nào, có chức vụ gì trong xã hội hay không v.v.. cũng là con của ba má. Ngày xưa, má có thể để nhiều thời gian để ôm ấp, để hò những câu ca dao…để ru con ngủ….

 Gió mùa thu, mẹ ru con ngủ

Năm canh dài, thức đủ năm canh…

 Ví dầu, cầu ván đóng đinh

cầu tre lắc lẻo, gập ghềnh khó đi

Khó đi, mẹ dắt con đi

Con thi trường học, mẹ thi đường đời….

 Giờ thì chỉ còn đôi mắt mờ, bàn tay còm cỏi, còn nhịp đập trái tim của bà Mẹ, đó là tiếng hò mà má theo các con đến trọn đời…”

 Có những lời ru mà tôi đã nghe biết bao nhiêu lần, đơn giản, nhẹ nhàng, lập đi lập lại, nhưng ngọt lịm tình thương. Nay từ lời nói của Mẹ như mở toang vùng trời êm ấm đó, tuôn tràn một chất sữa ngọt, êm dịu, ấp áp. Nước mắt tôi chảy dài theo câu nói của Mẹ.

Đã lớn rồi và qua bao nhiêu là sóng gió cuộc đời, đã làm cho trái tim của tôi có vỏ bọc ngoài là cứng rắn, can đảm, tích cực, nên tôi không muốn khóc. Nhưng có gì đâu, đây là nước mắt của hạnh phúc, nước mắt của người con biết mình còn Mẹ, đang hưởng thụ tấm lòng chân tình, thương yêu của bà Mẹ. Tôi muốn gục đầu vào lòng Mẹ để sống lại hương thơm, hơi ấm tình mẫu tử.

 Có một bà tiên,

Vui chơi trên thiên giới

một hôm vô tình để rớt trái tim

bà bỏ cuộc vui, đi xuống dương trần

đi tìm lại trái tim

để biến thành người mẹ hiền

đôi tay mẹ là bảo bọc ân cần

mẹ là dóng sông ngọt ngào, màu mỡ phù sa

mẹ là ruộng lúa vắt nguồn sữa mạch nha

là bóng mát che con khi nắng hạn

là trái tim nồng chia sẻ, ôm ấp đời con

để rồi trần gian là quê của mẹ

mẹ quên lối đi về

vì đàn con mẹ,

vì trái tim của mẹ, còn ở nơi đây….

 Minh Thanh

 Trái tim mang dấu ấn kỳ diệu, bởi vì trong trái tim là máu, là thịt, là dòng sữa ngọt ngào, Mẹ đã chia sớt cho con, còn ghi khắc những tình cảm cao thượng : nhẩn nại, thương yêu, đùm bọc, tha thứ, chở che, bao dung….

 Phải là trái tim với nhịp đập của bà Mẹ đối với những đứa con, nên bà đi tìm, tìm trái tim, tìm và bảo vệ, trân quí vì đó là sự sống của con bà, của bà. Trên đường đời của mỗi người con, khi thất bại, khi đau khổ, khi cô đơn…chúng ta mới nghĩ đến Mẹ để cầu cứu, để che chở, chia xẻ…tình yêu Mẹ đối với con vẫn không hề suy giảm, dù đứa con của mình như thế nào.

 Nói đến Mẹ là nói đến đủ điều, nói đến tình thương yêu, và nói bao nhiêu cũng không đủ, bởi vì đời sống của Mẹ cho nhiều hơn nhận, và khi nhận là nhận những sự thiệt thòi vì chồng vì con.

 «  Thuở nhỏ, xa xưa quá, lúc đó vào khoảng 5-6 tuổi, tôi bị sốt nặng do lòng bàn tay bị mụt đinh, sưng búp, lớn gấp đôi lúc thường. Mủ mưng nhiều, đau không chịu được. Tôi nhớ lúc đó mình đã khóc, kêu rên và sau đó mê sảng.

Đau quá thì làm sao cười vui được. Khi giật mình tỉnh dậy, tôi biết mình đang trong nhà thương. Bàn tay bị băng lại. Cơn nóng sốt giảm nhiều. Tôi có cảm giác mặt mình bỗng mát rượi, do chiếc khăn ướt đang lau.

 Mẹ tôi đang ngồi kế bên, thức suốt đêm, lo lắng, mắt đỏ hoe. Vừa lau mặt, lau người tôi, Mẹ vừa thầm cầu nguyện cho con mình đừng bị gì nguy hiểm, nếu có gì thì để Mẹ thế cho….Ôi ! Cơn đau, cơn sốt của tôi sao lại là của Mẹ. Một thâm tình bao dung, bảo bọc.

Tôi cảm thấy ấm cúng quá, lời nói nhẹ nhàng, chân tình của Mẹ như khắc sâu trong tâm tôi. Chỉ có Mẹ bên cạnh cũng đã đầy đủ, bình an lắm rồi »

 Tôi có đọc được đâu đó bài viết về Mẹ như sau, không biết tác giả là ai, nhưng thấy có nhiều điều đáng suy ngẩm, thâm thúy, xin ghi chép ra đây để chia sẻ. Tôi nghĩ rằng tác giả cũng muốn nhìn thấy được như vậy: 

 «  Tình Thương Yêu của Mẹ 

 

-Khi 1 tuổi, Mẹ cho ăn và tắm cho bạn, còn bạn thì khóc cả đêm.

-Khi 2 tuổi, Mẹ tập cho bạn đi nhữngbước đầu tiên, khi đi được thì bạn lại bỏ chạy đi mất khi Mẹ gọi.

-Khi 3 tuổi, Mẹ nấu cho bạn những món ăn với tất cả tình yêu thương thì bạn đáp lại bằng cách hất chén dĩa xuống sàn nhà

-Khi 4 tuổi, Mẹ đưa cho bạn những cấy bút chì màu, bạn lại dùng chúng đi bôi trét và vẽ bậy khắp nơi.

-Khi 5 tuổi, Mẹ mặc áo đẹp cho bạn đi chơi, còn bạn lại tìm cách lăn lê trên đất bẩn.

-Khi 6 tuổi, Mẹ dẫn bạn đến trường, còn bạn cứ mãi cằn nhằn: "con không đi học đâu!"

-Khi 7 tuổi, Mẹ mua cho bạn nhiều đồ chơi để rồi bạn lại vứt chúng lăn lóc khắp nơi.

-Khi 8 tuổi, Mẹ mua cho cây kem, bạn ăn làm chảy kem ướt hết vạt áo.

-Khi 9 tuổi, Mẹ thuê cô giáo dạy đàn cho bạn còn bạn thì luôn phụng phịu và miễn cưỡng tập đàn.

-Khi 10 tuổi, Mẹ cả ngày lái xe đưa bạn đi hết nơi này đến nơi khác vui chơi cùng bạn bè, mỗi khi tới nơi bạn nhảy ra khỏi xe mà chẳng bao giờ ngoái đầu nhìn lại.

-Khi 11 tuổi, Mẹ đưa bạn và bạn bè của bạn đi xem phim, bạn lại đi chọn chỗ ngồi cách Mẹ mấy dãy ghế để gần bạn mình hơn.

-Khi 12 tuổi, Mẹ dặn bạn đừng xem TV quá nhiều, còn bạn thì đợi cho đến khi Mẹ rời khỏi nhàmới mở TV xem cho thỏa thích.

-Khi 13 tuổi, Mẹ nói: "Để Mẹ cắt tóc cho con," bạn trả lời: "Mẹ không có khiếu thẩm mỹ."

-Khi 14 tuổi, Mẹ trả tiền cho bạn đi trại hè một tháng, còn bạn lại quên chẳng hề viết cho Mẹ một tấm thiệp từ chỗ nghỉ hè.

-Khi 15 tuổi, Mẹ bạn đi làm về và mong bạn ôm hôn Mẹ, còn bạn thì đóng chặt cửa ở trong phòng riêng.

-Khi 16 tuổi, Mẹ khuyên bạn để tâm học hành tạo dựng tương lai, còn bạn thường xuyên đi chơi mỗi khi có cơ hội.

-Khi 17 tuổi, trong khi Mẹ mong chờ một hồi âm điện thoại quan trọng thì bạn ôm điện thoại trò chuyện suốt buổi.

-Khi 18 tuổi, Mẹ đã rơi lệ vui mừng trong ngày lễ tốt nghiệp trung học của bạn, còn bạn thì ở lại vui chơi với bạn bè cho đến sáng hôm sau mới về nhà.

-Khi 19 tuổi, Mẹ đau lòng khi bạn muốn rời khỏi tổ ấm để mướn nhà ở riêng.

-Khi 20 tuổi, Mẹ hỏi bạn về người yêu, bạn trả lời: "Đó không phải là việc của Mẹ!"

-Khi 21 tuổi, Mẹ gợi ý về định hướng sự nghiệp trong tương lai, đáp lại bạn nói: "Con chẳng muốn giống như Mẹ!"

-Khi 22 tuổi, Mẹ dự lễ tốt nghiệp đại học của bạn, sau buổi lễ bạn hỏi ngay: "Liệu Mẹ có thể trả tiền cho chuyến du lịch của con không"

-Khi 23 tuổi, Mẹ đến thăm bạn, còn bạn luôn tìm cách tránh né vì cảm thấy ngượng ngùng trước bạn bè.

-Khi 24 tuổi, Mẹ gặp người yêu chưa cưới của bạn và nhắc nhở hai bạn về chuyện gia đình, bạn nhăn nhó càu nhàu: "Thôi mà Mẹ!"

-Khi 25 tuổi, Mẹ giúp trả tiền đám cưới của bạn rồi Mẹ khóc và nói với bạn rằng: "Mẹ yêu thương con biết bao!"

-Khi 30 tuổi, Mẹ ước ao có cháu để bồng bế, bạn trả lời Mẹ: "Thời nay mọi điều đã khác!" Khi 40 tuổi, Mẹ rủ bạn đi mừng sinh nhật bà nôị của bạn, còn bạn trả lời: "Bây giờ con rất bận!"

-Khi 50 tuổi, Mẹ sức khỏe đã yếu dần và muốn bạn thường xuyên đến chăm sóc, trong khi bạn đang phải mải mê tìm đọc cuốn sách: "Những gánh nặng cha mẹ phải chịu đựng khi nuôi con.

 

 . . . Và rồi một ngày kia, Mẹ âm thầm nhắm mắt ra đi. Một cảm giác chưa bao giờ xảy ra với bạn trước đó: bạn như thấy sấm chớp nổ tung trong tim mình. Bạn đã mất hết cả một bầu trời yêu thương trong đời người...”

 Bạn ạ! Có phải là tất cả tình yêu của Mẹ đặt trên sự hy sinh, hay chữ « Nhẩn », điều mà mỗi người chúng ta khó làm nổi. Khó quá, nhưng chỉ tại vì con, Mẹ đã vượt qua mọi thử thách, ích kỷ của mình, để là bà Mẹ.

 Từ trong bụng Mẹ, ta đã thấm nhuần ân đức của tinh thương yêu và khi chào đời, dòng sữa Mẹ đã nâng niu, đôi tay mở rộng, dòng máu luân lưu trong cơ thể của ta cũng là của Mẹ, vì đó là trái tim của người.

 Dòng sữa ngọt ngào đã tuôn chảy nuôi lớn thân thể con, nuôi con, săn sóc con, che chở con trong những lúc khó khăn, vấp ngả, vực con dậy, thoát ra khỏi những niềm đau v.v…Mẹ không cần phải nói, vì đó là tâm hồn của Mẹ.

 Tình Mẹ còn biến xa hơn, phổ quát và chỉ khi có những hoạn nạn, đau thương của những người thân, chúng ta mới nhìn thấy rõ được trái tim của Mẹ rỉ máu.

 Tôi có đọc một câu chuyện ngắn, đơn giản, nhưng lại biểu lộ đến sự cao rộng, bao la của tình Mẹ. Xin được nêu ra đây:

 “ Một gia đình đi tắm biển. Trong lúc các con đang vui đùa, làm những hình bằng cát trên bải biển. Từ xa, có một bà già, trên tay cầm cái bị, đang đi rảo bước trên bải cát. Mắt nhìn xuống, thỉnh thoảng, bà cúi xuống nhặt một cái gì đó, rồi bỏ vào giỏ. Cứ tuần tự như vậy, như không để ý đến mọi chuyện chung quanh.

 Khi đi ngang qua những đứa bé đang đùa giỡn trên cát, bà dừng lại nhìn, mỉm cười và muốn đến với các đứa nhỏ đang hồn nhiên vui đùa. Nhưng người cha của các đứa bé vội chạy lại, kéo các đứa con qua một bên, không cho đến gần bà già. Mắt trừng trừng nhìn bà già, sợ bà làm hại con mình, vì nghĩ là bà già điên.

 Bà già chỉ nhìn các đứa nhỏ, miệng mỉm cười, rồi lại tiếp tục đi và làm lại những động tác như cũ trên bải cát.: thỉnh thoảng cúi xuống lượm vật gì trên bải cát, rồi bỏ vào giỏ của bà.

 Người cha hỏi những người sống ở đây lâu: Bà đó là ai vậy? Phải bà bị điên không?

 Có người cho biết rằng: Đây là bà già bình thường, không có điên. Trước đây, bà có đứa con gái và một hôm, đứa con đi tắm biển. Khi con bà vui đùa trên bải biển, vô tinh dẫm phải miểng chai vỡ, máu chảy ra nhiều. Nhưng không ngờ, con bà bị nhiểm trùng, sốt, không cứu chữa kịp và qua đời vì bị tetanus ( phong đòn gánh).

 Đau khổ vì sự mất mát đứa con yêu quí duy nhất. Và cũng từ đó, mỗi ngày, người ta đều thấy bà cầm cái bị và đi luợm mảnh chai, kiếng vỡ hay vật gì đó có thể làm nguy hại những đứa bé nhỏ, sợ giống như đã làm chết con của bà .”

Trong cuộc bể dâu của đất nước, sau năm 1975. Mẹ đã khóc dài theo năm tháng, tần tảo, hy sinh, biến tấm thân mảnh khảnh, yếu đuối, chuyển tất cả tấm lòng trở thành sức mạnh để nuôi con, lo cho chồng đang lâm cảnh bất hạnh, chua cay, tù tội của cuộc đời.

Tôi nghĩ rằng lịch sử của Việt Nam sẽ không bao giờ quên được hình ảnh nầy. Cao đẹp quá, kỳ diệu quá và lịch sử của nhân loại cũng thêm được nét đẹp kỳ vĩ, văn hoá nhân bản- đó là tình mẹ.

 Lòng hiếu thảo đã được nhân lên khi bắt được nguồn sống của Phật giáo, vì Đạo Phật đề cao hạnh hiếu , vì đó cũng chính là nền tảng đầu tiên để bước làm người.

 Đức Phật đã nhìn xuyên suốt qua kiếp sống của con người, trải qua nhiều đời nhiều kiếp và có nhân duyên chằng chịt lẫn nhau. Nếu gốc rễ của vô minh do ba độc tố: si-tham-sân làm cho con người luân chuyển trong 6 cõi, thì tình thương của bà Mẹ trong lúc mang thai, lúc sanh con và lúc nuôi dưỡng con v.v…là sự khai nguyên cho một tình yêu thương vị tha, hy sinh sẽ tác động đến tâm thức con người., kéo dài cho đến lúc vào đời.

 Cho nên, Đạo Phật đặt nặng trên nền tảng con người, với những bước chân đầu tiên từ cha mẹ- là bậc sinh thành. Công ơn đó nặng quá, bao la vô tận, làm ấm áp cuộc đời.

 Trong nhiều kinh sách, Phật vẫn thường giảng dạy về hạnh hiếu của con người, của người con Phật.                                   

 "Tâm Hiếu là tâm Phật,

 Hạnh Hiếu là hạnh Phật".

   Mẹ dạy cho chúng ta biết yêu thương, bảo bọc, bao dung v.v..qua những việc làm nhỏ nhặt của người, nhưng đó là dấu ấn đậm trong tâm thức con trẻ, để sau nầy trở thành những nhân tố làm ích nước, lợi người.

 Con người thiếu tâm hồn, thiếu tình thương, sẽ không thể cho cuộc đời nhiều hạnh phúc, vì chúng ta không có để mà cho. Tất cả những yếu tố làm cho cuộc đời có an lạc, hạnh phúc.

 Trước cuộc đời nhiều biến động, khổ đau. Xã hội thay đổi trầm trọng, băng hoại. Bao nhiêu chủ thuyết, lý thuyết cố tình đẩy con người rời xa những giá trị tâm linh, biến đổi qua khuynh hướng hưỡng thụ.

Đi quá mức của bình thường là sự tác hại: từ quảng cáo, truyền hình, truyền thông, internet v.v…nâng cao vai trò của bạo lực, của vị ngã, tự do cá nhân quá độ, tạo thành những dây chuyền đẩy xã hội vào vòng trầm luân đau khổ của hiện tại, và tương lai. Phương tiện trở thành cứu cánh, nhưng khi phương tiện đã đặt sai, thì cứu cánh sẽ đổ vỡ.

 Mùa Vu Lan trở về khi những cơn mưa đổ xuống, tắm gội và rửa sạch những ô nhiểm, bụi bậm của những ngày oi bức. Sự đau khổ sẽ làm cho con người bình tĩnh lại, đặt lại vấn đề cho những lý thuyết vọng tưởng, phá bỏ tình yêu thương của hiện tại.

 Khi sống gần bên Mẹ, chúng ta ít bao giờ biết về giá trị của tình Mẹ, đôi vòng tay ấm áp của bà. Chúng ta hờ hững vì nghĩ là phải như vậy và là bình thường, nhưng rồi một ngày nào đó, khi làn gió vô thường đi qua, lúc đó, chúng ta hối hận thì đã muộn rồi.

 Nếu bạn hạnh phúc còn có Mẹ, hãy kề cận và nắm chặt lấy tay của Mẹ. Nắm lấy thời gian quí báu nầy, hạnh phúc chỉ là những gì đơn giản, êm đềm, đơn sơ, có mặt bên cạnh. Đừng tìm hạnh phúc quá xa, cao vời vợi, vì đó chỉ là ảo ảnh, không thực.

 Đừng quan trọng hoá khi đang cài trên áo màu hoa hồng đỏ hay trắng, đừng đánh mất mình cho những kỷ niệm của một ngày, một giờ; trong khi Vu Lan là ngày tưởng niệm, gợi nhớ, báo đáp thâm ân, nhưng không chỉ là dành cho một ngày, một giờ, một phút hay một nơi chốn nào đó v.v..mà là miên viễn khi chúng ta còn mang thân phận hữu tình.

 Hãy sống thật với giây phút hiện tại, để mở tung và nối tiếp cho tương lai, trong tình yêu bao la của Mẹ và để thực hiện hạnh hiếu. Đó là gia tài vô giá mà Cha Mẹ lưu truyền và là tinh thần cao đẹp của Ý nghiã Vu Lan qua “ phương tiện thiện xảo” thể hiện bởi Ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên.

 Tình yêu thương nếu được nhân rộng, phổ biến, phải chăng sẽ đem lại cho cuộc đời, vũ trụ, thế giới sống trong bình an, hạnh phúc. Tất cả đều khởi hành từ trái tim của bà Mẹ vừa khi có mặt đứa bé tượng hình trong bụng và khi chào đời. Đó là quan niệm của chúng tôi, nhiều khi không đúng với bạn? Bạn nghĩ sao?.....

 

 Mùa Báo Hiếu năm 2007

 Cư Sĩ Liên Hoa

 

 

Mấy lời nhân Ngày Vu Lan nhớ Mẹ
 

Có lẽ tôi là người bất hạnh nhất trên thế gian nầy, bởi lẽ, từ khi sinh ra cho đến hôm nay, tôi chưa bao giờ thấy được mặt Mẹ mình. Chiến tranh đã cướp mất Mẹ tôi khi tôi còn quá bé. Tôi cố mường tượng mặt mũi Mẹ tôi – qua tôi – nhưng nghẹt nỗi, tôi giống Cha tôi như khuôn đúc nên đành chịu.

Chắc lúc đương thời, Mẹ tôi yêu Cha tôi lắm thì phải. Với tôi, không có gì đau xót bằng không biết được mặt người sinh ra mình. Đó là một bất hạnh lớn đối với tôi. Từ khởi điểm nầy, hình như trong tôi nẩy sinh ra những oán hận sân si. Oán hận ai? Sân si ai? Tôi cũng chẵng rõ.

Có thể là chiến tranh, có thể là những ai đang hạnh phúc bên Mẹ chăng? Thật nghịch lý, tôi vẫn cầu mong cho họ hạnh phúc đó mà! Oán hận…sân si…tôi không có bản tâm như thế, nhưng tôi lại mang nội tâm khép kín khó lý giải. Thật đáng buồn !

Tôi viết tự khúc MẸ ƠI như một lời tạ lỗi với Mẹ mình, đồng thời thương tặng cho những ai cùng cảnh ngộ như tôi. Tôi thiển nghĩ, ngôn ngữ âm nhạc chính là những ngôn ngữ trừu tượng đánh thức tâm hồn tôi và giúp những ai đó, đã và đang hạnh phúc bên Mẹ hiểu được ơn sâu người sinh ra mình, đồng thời hiểu được về tôi – về một người bất hạnh, không biết được mặt Mẹ mình ra sao.

Bởi sự cảm âm nhạc là sự cảm trong tâm tư riêng của mỗi người, không nguyên tắc,không quy luật, không ràng buộc. Vì thế, sự thể hiện sẽ bao la, vô tận… Và, biết đâu, chính trạng thái sân si của tôi – người chẳng bao giờ biết được mặt Mẹ mình - lại dễ yêu đối với âm nhạc (?)



NGUYỄN VĂN THƠ

 

Hồng Anh st 

MẸ ƠI


Nhạc và lời : Nguyễn văn Thơ

Hòa âm Nguyễn Ngọc Anh
Ca sĩ : Mạnh Hùng

 

 

Xem thêm...

Những kiệt tác của Danh họa Lê Phổ

Những kiệt tác của

Danh họa Lê Phổ

 

<><><><> 

 

Họa sĩ Lê Phổ (1907-2001)

 

Họa sĩ Lê Phổ được coi là họa sĩ bậc thầy Việt Nam và trên thế giới theo trường phái hậu ấn tượng với nhiều tác phẩm đắt giá. Ông còn được nhiều người gọi là "Danh họa Việt Nam trên đất Pháp".

Nhiều người khác còn coi ông là "cây đại thụ" trong làng nghệ thuật vẽ tranh Việt Nam. Những tác phẩm của ông thường có giá cao nhất trên thị trường nghệ thuật thế giới đối với một họa sĩ Người Việt. Phần lớn các bức tranh của ông được bán đấu giá tại nhà đấu giá nghệ thuật Christie’s International Hồng Kông

Tên khai sinh:  Lê Phổ

Ngày sinh: 2 tháng 8, 1907 tại Thanh Xuân, Hà Nội

Ngày mất: 12 tháng 12, 2001 tại Pháp

Phong cách nghệ thuật:  Chất liệu chính là sơn dầu và lụa. Chủ đề chính là hoa, phụ nữ mơ màng, quý phái

Tác phẩm chính: Hoài cố hương, Kim Vân Kiều, Bức rèm tím, Thiếu phụ, Thiếu nữ bên hoa lan, Tĩnh vật, Paysage du Tonkin, Bình hoa mẫu đơn, Lòng mẹ, Giai nhân màu áo nắng.

 

Ông sinh ra tại thôn Cự Lộc, xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, về sau là huyện Hoàn Long, (nay thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội). Cha họa sĩ Lê Phổ là quan đại thần Lê Hoan, người được sử sách xem là có công lao giúp chính quyền thực dân Pháp đàn áp nghĩa quân Đề Thám.

Tuổi thơ họa sĩ Lê Phổ không hạnh phúc, mồ côi mẹ lúc 3 tuổi và mô côi cha lúc 8 tuổi. Năm 1937, ông sang Pháp và định cư tại đó. Họa sĩ Lê Phổ cưới vợ người Pháp là bà Paulette Vaux, phóng viên báo Life & Time ở Paris vào năm 1947. Bà Vaux, vợ họa sĩ cho biết: "Ông không kể với con cái về tuổi thơ của mình, ông trầm lặng và sống nội tâm. Ông không nhớ gì về cha mình ngoại trừ việc biết cha mình hút thuốc phiện".

Với thân thế được sinh ra trong gia đình thế tục, họa sĩ Lê Phổ có lối sống thiên về nội tâm với tính cách nhạy cảm, tinh tế. Họa sĩ có dáng người cao, gầy, mắt luôn nhìn xa vắng, ít nói, giọng nói thanh tao và luôn mặc những bộ quần áo là phẳng phiu.

 

 

 Năm 1925, họa sĩ Lê Phổ trúng tuyển khoá 1 Trường Đại học Mỹ thuật Đông Dương. Ông là một trong 10 sinh viên Việt Nam được giáo sư Victor Tardieu (một họa sĩ am hiểu sâu sắc các trường phái nghệ thuật châu Âu) xếp vào nhóm sinh viên "tinh hoa" của khóa học và đồng thời hướng đi theo trường phái nghệ thuật Á Đông trong suốt 5 năm học.

Họa sĩ Lê Phổ đã chịu ảnh hưởng rất sâu sắc trường phái nghệ thuật này khi còn là chàng thanh niên Hà Nội 18 tuổi. Trong mộc cuộc phỏng vấn, vợ ông, bà Vaux cho biết: "Họa sĩ xem giáo sư Tardieu giống như cha tinh thần. Ông ngưỡng mộ và rất gần gũi với Tardieu. Tardieu đã đặt nền móng cho những thành công trong hội hoạ của ông".

 

Họa sĩ Lê Phổ

Năm 1928, ông cùng với các họa sĩ Vũ Cao Đàm, Mai Trung Thứ tổ chức triển lãm tranh đầu tiên tại Hà Nội. Năm 1931, họa sĩ Lê Phổ sang Pháp để trang trí một số triển lãm ở Paris.

Sau đó 1 năm, ông được cấp học bổng sang học tại Trường Mỹ thuật Paris. Do đó, ông có điều kiện tìm hiểu nhiều nước châu Âu, tiếp xúc và làm quen với nhiều trường phái nghệ thuật, trong đó trường phái Ấn tượng đã ảnh hưởng đến các tác phẩm nghệ thuật sau này của họa sĩ.

Năm 1933, họa sĩ trở về Hà Nội tham gia giảng dạy ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

 Năm 1937, họa sĩ lại sang Paris, trung tâm nghệ thuật của châu Âu để phụ trách gian hàng Đông Dương tại triển lãm quốc tế. Tại Pháp, ông thực sự bị cuốn hút với vẻ đẹp hoa lệ và các trường phái nghệ thuật đa dạng, do đó họa sĩ đã xin định cư tại đất nước hình lục lăng.

Năm 1938, lần đầu tiên họa sĩ Lê Phổ tổ chức triển lãm phòng tranh của riêng cá nhân mình với các tác phẩm như tranh vẽ các người đẹp Việt Nam hoặc đang say sưa bên rực rỡ các sắc hoa, hoặc đang mơ màng bên trang sách; hoặc tranh thiếu nữ đọc thư tình trong vườn, những cô gái đang phơi áo... được công chúng phương Tây đón nhận nồng nhiệt.

Giáo sư Victor Tardieu và những sinh viên “tinh hoa” của khóa 1,

trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (họa sĩ Lê Phổ ở bìa trái)

 

Bà Paulette Vaux và con gái

 Họa sĩ Lê Phổ cho rằng các chất liệu tranh lụa có một số nhược điểm không chỉ về khuôn khổ mà về chất liệu màu sắc chưa bộc lộ những lời tác giả muốn thể hiện. Đó là lý do ông đã chuyển sang vẽ tranh sơn dầu.

Ngoài việc thay đổi chất liệu vẽ, nội dung được ông nhắc tới cũng mở rộng, phóng khoáng và thoải mái hơn. Ví dụ rõ nét đó là người phụ nữ trong tranh của họa sĩ dần vượt ra ngoài lễ giáo ngàn năm để mang một sắc màu "thế tục".

Tranh Lê Phổ giàu tính biểu cảm, đề tài và lối thể hiện vừa gần gũi, chân thực, nhưng cũng rất đài các, cao sang. Màu tươi sáng, hấp dẫn thị giác nên được phần đông giới thưởng ngoạn yêu thích.

Tranh của Lê Phổ có “khí chất” Á Đông rất rõ, và riêng biệt, không bị trộn lẫn, nên được nhiều khách phương Tây sưu tầm. Ông đã vận dụng rất khéo các chủ đề phổ quát của văn hóa phương Tây - nhất là chủ đề từ kinh thánh, rồi lồng ghép vào khung cảnh Á Đông, hoặc Việt Nam.

Họa sĩ Lê Phổ bên tác phẩm

Về tính lịch sử, tranh của ông ra đời trong thời kỳ nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam mới chân ướt chân ráo bước ra thế giới, nhất là mảng tranh trước 1945. Ông học khóa đầu tiên của Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, tiên phong tiếp thu nền hội họa phương Tây để rồi cũng là một trong những người đầu tiên đưa nền nghệ thuật Việt Nam hiện đại ra thế giới.

Tác phẩm của Lê Phổ đã được đấu giá thường xuyên trên các nhà đấu giá lớn, nên tranh ông đã có thị trường ổn định, rộng khắp châu Âu, châu Mỹ, châu Á, có một lượng các nhà sưu tập nhất định. Khi ông qua đời, tranh ngày càng hiếm (trừ khi bị nạn nhái tranh, chép tranh phá hỏng), nên giá phải cao lên.

 Tranh của ông có thể nói là đại diện cho mỹ thuật Đông Dương nói chung và nhất là của “bộ tứ” tại Pháp, gồm Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu. Trong suốt cuộc đời của mình, dù định cư tại Pháp từ năm 1937 và từ đó không còn về thăm lại quê hương, họa sĩ Lê Phổ luôn nhắc về những tình cảm sâu đậm của mình với quê hương, đất nước.

Trong tranh của ông, những đặc trưng về Việt Nam, Á Đông được thể hiện qua nét vẽ những người phụ nữ hoà mình với tự nhiên và trẻ thơ. Một hình ảnh khác thường xuất hiện là những bông hoa. Nhà phê bình Waldemar nhận xét Lê Phổ thể hiện nỗi nhớ quê hương bằng hàng ngàn bông hoa. Bà Vaux, vợ ông tâm sự: "Ông yêu hoa, và hoa luôn xuất hiện trong tranh của ông ở cả hai giai đoạn trong tranh lụa và sơn dầu".

 Bức “Nhìn từ đỉnh đồi” vẽ năm 1937 đạt mức giá 840.000 đô la Mỹ

(~18,3 tỉ đồng) hôm 22/11/2014 trong cuộc bán đấu giá tại nhà

đấu giá nghệ thuật Christie’s International Hồng Kông.

Đây là kỷ lục mới về tranh đắt nhất của một họa sĩ người Việt

Vào tháng 9 năm 1993, khi tuổi đã cao, họa sĩ Lê Phổ bày tỏ lòng biết ơn sâu nặng bằng một “món quà”. Họa sĩ nói: “Tôi ở Pháp 60 năm nay, tôi mang quốc tịch Pháp nhưng không lúc nào tôi không nhớ đến quê hương. Vì thế tôi đã để riêng ra 20 bức tranh lựa chọn rất cẩn thận để biếu Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam”.

 

Tác phẩm “Hoài cố hương” được nhà đấu giá Sotheby’s

đưa ra năm 2006 tại Singapore, có giá bán khoảng

360.000 Đô La Singapore (tương đương 4,7 tỷ đồng)

Bức “Chân dung thiếu phụ và hoa sen” vẽ năm 1939,

đạt mức giá 1.240.000 đô la Hồng Kông (gần 3,5 tỉ đồng)

Bức “Mẹ và con” nhà đấu giá Christie’s định giá khoảng 130.000 USD

và đã từng đạt mức giá 1.160.000 đô la Hồng Kông (hơn 3,2 tỉ đồng)

Bức “Gia đình nhỏ” vẽ năm 1940. Tác phẩm từng đạt

mức giá 740.000 đô la Hồng Kông (khoảng 2 tỉ đồng)

Bức “Những chú chim” được mua với giá

625.000 đô la Hồng Kông (hơn 1,7 tỷ đồng)

Bức “Đi tắm” được thực hiện năm 1937-1938,
có giá 562.500 đô la Hồng Kông (gần 1,6 tỉ đồng)
 
 
Bức “Hai chị em gái” được thực hiện năm 1940 đạt mức giá
250.000 đô la Hồng Kông (hơn 700 triệu đồng)
 
 
“Bức màn tím”, vẽ từ 1942-1945 đã được bán đấu giá
với mức giá 2,9 triệu đô la Hồng Kông
 
 
“Chân dung một cậu bé Việt Nam” từng đạt mức giá
225.000 đô la Hồng Kông (631 triệu đồng)
 

“Nắng trong nhà”, có giá 225.000 HKD (614 triệu đồng)

"Tĩnh vật với hoa quả”, vẽ năm 1963, đã được bán thành công

với giá 350.000 HKD (khoảng 955 triệu đồng)

“Nho và rượu vang”, vẽ năm 1950, được mua

với giá 200.000 HKD (gần 546 triệu đồng)

 

Hồng Anh st  

Xem thêm...

Bình phong – Nét kiến trúc độc đáo trong đời sống văn hóa Huế

 

Bình phong

 Nét kiến trúc độc đáo trong đời sống văn hóa Huế

 

 Từ lâu trong kiến trúc nhà xưa của Huế, những bức bình phong luôn mang trong mình nhiều ý nghĩa độc đáo về mặt phong thủy và nghệ thuật. Trải qua thời gian, bình phong Huế trở thành một nét đẹp kiến trúc và lối sống của người dân nơi đây.

Bình phong trong kiến trúc Huế xưa

Ở Việt Nam, có lẽ không nơi nào vẫn còn giữ được nhiều kiểu bình phong như ở Huế. Đến Huế, mọi người có thể dễ dàng bắt gặp muôn hình vạn trạng hình ảnh của những bức bình phong từ các cung đình, phủ đệ, đình làng, miếu mạo,… cho đến những ngôi nhà vườn xưa của người dân.

Tuy chỉ là một yếu tố nhỏ trong tổng thể kiến trúc nhà xưa, nhưng bình phong được sử dụng nhiều trong các công trình kiến trúc khác nhau đã cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của nó đối với đời sống tinh thần của người dân nơi đây.


Bức bình phong cổ tại đình làng Kim Long (phường Kim Long, TP Huế) 


Bình phong là hiện thân của lối kiến trúc mang đậm tính dân gian. Theo quan niệm tâm linh, phong thủy và trong đời sống văn hóa Huế, những bức bình phong tạo thành các yếu tố “triều”, “án” có chức năng gia tăng tính bền vững của đất cuộc, ngăn chặn các uế khí, độc khí, hỏa khí xâm nhập nội thất, làm hại gia chủ, khiến cho căn nhà trở nên ấm cúng, an toàn hơn. Cũng vì lý do này mà trong kiến trúc, các bức bình phong được xây dựng ngay trước mặt tiền của nhà, nằm ngay sau cửa ngõ.

Xét về cấu tạo, thông thường mỗi bức bình phong gồm có ba phần khác nhau. Phần đế thường được xây cao bằng bể cạn đặt phía trước, nếu không có bể cạn thì có thể xây thấp hơn. Phần nhiều đều được xây thành khối chữ nhật đơn giản hoặc thêm hình vân mây sóng nước.

Phần thân thường được xây dựng đối xứng, trên đó thường ghi câu đối với các biểu tượng theo mô típ tứ quý, bát quả,.. ở giữa ghi chữ Thọ, chữ Phước hoặc hình tứ linh (Long, lân,quy, phụng). Phần đỉnh có thể có hoặc không, nhưng nếu có thường có họa tiết “song Long chầu nhật”.

Theo nhận xét của các nhà nghiên cứu, bình phong không dùng để cầu lộc, tiền tài mà chỉ cầu sự may mắn, trường tồn. Đây là lý do tại sao từ trước nay không hề thấy chữ Lộc được dùng trang trí trên các bình phong.


Bức bình phong của nhà thờ họ Mai Văn (đường Nguyễn Phúc Nguyên, TP Huế)

được làm tinh xảo từ kỹ thuật khảm sành sứ dưới đôi tay các nghệ nhân xứ Huế.


Dù giàu hay nghèo, trong khuôn viên nhà của Huế xưa thường có cho mình một bức bình phong án ngữ ngay mặt tiền ngôi nhà. Tùy theo nhu cầu, điều kiện, những bức bình phong cũng được làm từ những chất liệu khác nhau như gỗ, gạch, mây, đá, cây cảnh, tre, trúc.. nhưng phổ biến nhất vẫn là những bức bình phong xây bằng gạch đá được trang trí, chạm trổ công phu bằng cách ghép sành sứ.

Những mảnh gốm sứ, mảnh chai được cắt tỉa theo hình dáng và màu sắc khác nhau sau đó được các nghệ nhân gắn lại bằng những chất kết dính như vôi hàu, mật mía tạo nên những hình tượng cầu kỳ, đẹp mắt. Đây là một trong những kỹ thuật xây dựng độc đáo thể hiện bàn tay tài hoa của những nghệ nhân khảm sành xứ Huế.

Hiện nay ở Huế, những bức bình phong được làm theo cách này còn khá nhiều tại Kim Long hay lăng Tự Đức. Đó đều là những bức bình phong khảm sành sứ được đánh giá đẹp nhất nước. Không chỉ có ý nghĩa về mặt phong thủy, về sau bình phong còn kiêm thêm chức năng trang trí mỹ thuật trong kiến trúc nhà cổ truyền thống.


Một bức bình phong hàng trăm năm tuổi tại phủ thờ Khoái Châu Quận Công.


Cần bảo tồn một nét kiến trúc độc đáo

Bình phong là một nét kiến trúc đặc trưng, thể hiện nét văn hóa riêng độc đáo của người dân Cố đô Huế. Nói về bình phong cổ xứ Huế, không thể không kể đến “Bình phong long mã”, một trong những kiểu bình phong được sử dụng phổ biến nhất.

Trong nhận thức của mình, người Huế xưa nay thường hiểu “long mã”  (ngựa hóa rồng) là hóa thân của kỳ lân, một trong bốn tứ linh. Đây là con vật mình ngựa, đầu rồng, lưng mang bát quái tiên, là con vật không có thật mà là sản phẩm trí tưởng tượng của con người. Long mã cũng được xem là linh vật của Phật giáo khi cõng trên lưng Luật Tạng, một trong ba bộ phận của Tam tạng kinh.

Trải qua thời gian, hình ảnh của Long mã có nhiều biến đổi về cách thể hiện nhưng đều mang ý nghĩa là linh vật báo hiệu điềm tốt lành, là biểu tượng của sự thông thái, trường thọ. Sự nguy nga đường bệ, hạnh phúc vô song.

Chính vì vậy hình tượng Long mã được sử dụng nhiều ở đình chùa, miếu mạo của Huế. Được thể hiện trên các bức hoành phi, các bức bình phong vừa để trang trí vừa có ý nghĩa phong thủy trừ tà, khử trược.


Hình tượng Long mã (ngựa hóa rồng) được sử dụng nhiều

trong kiến trúc bình phong ở Huế.


Bức “Bình phong long mã” nổi tiếng có thể dễ dàng bắt gặp khi đến Huế có lẽ là bức bình phong trước Trường Quốc Học Huế với hình tượng Long mã màu xanh trong tư thế tung vó cưỡi mây vẫn ngoái đầu nhìn lại.

Được xây dựng từ thời vua Thành Thái (1896), nằm tọa lạc ở địa thế đẹp, hướng mình ra sông Hương, Phu Văn Lâu, Đại nội.


Bức bình phong trước Trường Quốc Học Huế được xây dựng từ thời vua Thành Thái (1896)

là một trong những bức “Bình phong long mã” nổi tiếng.


Hiện nay ở Cố đô Huế vẫn còn rất nhiều bức bình phong cổ có nhiều giá trị về mặt kiến trúc và văn hóa. Tuy nhiên cũng có thể nhận thấy một thực tế đáng lo ngại là dưới sự ảnh hưởng của đô thị hóa cùng sự mất dần đi nhà vườn truyền thống, số lượng các bình phong cũng giảm dần thấy rõ.

Bên cạnh đó, việc cải tạo hay xây mới nhưng không nắm rõ, hài hòa với tổng thể kiến trúc ngôi nhà cũng làm giảm đi ít nhiều giá trị và ý nghĩa của những bức bình phong.

Để gìn giữ nét kiến trúc dân gian độc đáo này, việc nghiên cứu và tìm cách bảo tồn là việc làm cần thiết và đáng được lưu tâm. Bảo tồn kiến trúc bình phong Huế không chỉ là bảo tồn, gìn giữ một nét kiến trúc Huế xưa mà còn phát huy một nét đẹp trong lối sống và tâm thức của người dân xứ Huế.

Ý Nghĩa Của Những Bức

Bình Phong Xứ Huế

Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.

Muôn màu, muôn vẻ … bình phong

Xưa nay, người Huế vẫn tin theo “dịch lý” và “phong thủy ” vào hàng nhất nước. Nhà vườn ở Kim Long, Vỹ Dạ, Phước Tích luôn luôn tập hợp một hệ thống kiến trúc sắp xếp theo chiều Bắc-Nam. Tuy rộng hẹp khác nhau, nhưng nhà nào cũng có kiến trúc tổng thể giống nhau, từ cổng, ngõ, bình phong, hòn non bộ, bể cạn, sân, nhà.

Cổng xây bằng gạch, lối vào ngõ thường được trồng những hàng râm bụt hoặc chè tàu cắt xén cẩn thận. Lối đi vào không bao giờ nhìn trực diện vào nhà chính, che cho lối đi là tấm bình phong, người vào nhà phải rẽ hướng khác để vào sân nhà.

Bức bình phong xứ Huế thường được làm bằng vôi, gạch, hay chè tàu, bông cẩn. Sau bức bình phong thường là hòn non bộ và bể cạn – yếu tố minh đường trong phong thủy làm nên một vũ trụ thu nhỏ theo quan niệm hướng nội.Vẫn còn rất nhiều bình phong cổ rải rác trên địa bàn Thừa Thiên Huế.

Một nhà vườn hơn 100 năm, ở xã Phú Thượng, huyện Phú Vang còn giữ đầy đủ:

cổng, ngõ, bình phong, hòn non bộ, bể cạn, sân, nhà.

Bạn nên đến thăm Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, đây vẫn còn giữ được một số ít bức bình phong cổ (bằng gỗ quý) tuyệt đẹp, càng ngắm, càng có cảm giác như bị mê hoặc, do chúng hội tụ được những điều thần bí của phong thủy.

Trong thuyết phong thủy, bình phong tạo thành các yếu tố “triều”, “án”, có chức năng chủ yếu là gia tăng tính bền vững của cuộc đất, ngăn chặn khí xấu và các yếu tố bất lợi cho gia chủ. Về sau bình phong còn thêm chức năng trang trí mỹ thuật trong kiến trúc nhà cổ truyền thống.

Sau bình phong là hòn non bộ và bể cạn (yếu tố phong thủy).

Bức bình phong cổ ở xứ Huế gồm đủ loại chất liệu như gỗ, đan mây, vải, đá, gạch… song phổ biến nhất là loại bình phong xây bằng gạch đá, có kích thước lớn, ở ngoài trời.

Thường được trang trí công phu bằng cách chạm trổ, ghép sành sứ với các biểu tượng và mô típ: phúc- lộc- thọ- hỷ hay các linh vật như long, lân, quy, phụng, long mã… Làm nên giá trị mỹ thuật của bình phong cổ xây bằng đá gạch, không thể không kể đến công lao sáng tạo, truyền nghề của các nghệ nhân khảm sành sứ “giỏi nhất” thời Nguyễn, trên đất Phú Xuân- Thuận Hóa, như cụ Bát Mười, ông Trương Cửu Lập.

Nghệ thuật trang trí khảm sành sứ thường được sử dụng để trang trí ở cổng chùa đình, nóc mái, cửa sổ, đặc biệt là bình phong.

Bình phong long mã tại đình làng Dưỡng Mông, xã Phú Mỹ.

Đỉnh cao của nghệ thuật khảm sành sứ là sử dụng những mảnh gốm sứ, mảnh chai cắt tỉa theo hình dáng và màu sắc, được gắn khảm rất tinh tế, bằng những chất kết dính (vôi hàu, mật mía đường) cùng những phụ gia kết nhuyễn (giấy dó, nhựa bông cẩn, dây tơ hồng).

Hiện nay tại lăng Tự Đức còn giữ được nhiều bức bình phong khảm sành sứ đẹp nhất nước, tiêu biểu là chiếc bình phong phía sau Ích Khiêm Các- thuộc Khiêm Cung, còn khá nguyên vẹn.

Nghệ thuật đan xen phong thủy

Người xưa tin rằng “long mã” là hóa thân của kỳ lân, một trong tứ linh (long, lân, quy, phụng), là linh vật báo hiệu điềm lành; là biểu tượng của sự thông thái, trường thọ, hạnh phúc.

Thời Nguyễn, từ cung đình đến dân gian, đều chịu ảnh hưởng truyền thuyết “long mã” khá sâu đậm, hình nó được thêu trên võ phục hàm “nhất phẩm”.Ngoài ra, trong Phật giáo, long mã là linh vật cõng trên lưng Luật Tạng, một trong ba phần cốt tủy của kinh sách nhà Phật (Tam Tạng Kinh).

Huế vốn là kinh đô của nhà Nguyễn, lại là nơi tập trung nhiều chùa chiền Phật giáo, nên trong nghệ thuật kiến trúc Huế, hình ảnh long mã xuất hiện rất nhiều. Hình ảnh “long mã” vừa để trang trí, vừa có công dụng phong thủy, ngăn chặn khí xấu và các yếu tố bất lợi cho gia chủ.

Chữ “thọ” được lồng vào hình tròn nằm giữa bình phong.

Trên bình phong cổ, có một điều không mấy ai chú ý về chữ “thọ” được lồng vào hình tròn nằm chính giữa trung tâm. Đây là điểm nhấn vừa trang trí vừa là cái gương, qua đó người khách có thể báo trước với chủ nhà về sự hiện diện của mình.

Đồng thời, người chủ nhà khi đã sửa soạn xong việc đón tiếp, sẽ đứng trước cửa, người khách nhìn qua ô tròn đó và biết mình nên đi vào, tránh sự cập rập cho việc tiếp đón. Chi tiết này là một sự tinh tế trong văn hóa ứng xử.

Cho đến nay, những bức bình phong xứ Huế vẫn giữ chức năng mỹ thuật đan xen với phong thủy, một phong cách độc đáo trong kiến trúc nhà Huế. Nhà giàu sang thì xây dựng bình phong bằng gạch, đá kiên cố.

Nghèo khó thì làm bình phong bằng cây kiểng như chè tàu, dâm bụt, tre trúc… Nhà cửa có thể sửa sang, nâng cấp nhưng các bức bình phong hàng trăm năm tuổi, đều được con cháu gìn giữ nguyên trạng…

Bình phong Phủ Đệ ở Huế

 

Cố đô Huế vốn nổi tiếng với nghệ thuật kiến trúc cảnh quan mang đậm tính chất nhân văn và phong thủy. Trong các yếu tố của nghệ thuật kiến trúc phủ đệ Triều Nguyễn ở Huế, bình phong đương nhiên là một yếu tố không thể thiếu.

Nơi lưu giữ những ánh hào quang quá vãng

Phủ đệ là tên gọi chung chỉ những ngôi nhà được dựng lên khi các hoàng tử, công chúa đến tuổi trưởng thành, được phép ra ở riêng. Phủ là nơi ở của các hoàng tử sau khi lập gia đình.

Tùy theo tước vị của chủ nhân được Triều đình phong là tước công hay tước vương mà phủ ấy được gọi là Công phủ hay Vương phủ. Đệ là lối gọi tắt của từ đệ trạch, là nơi ở của Công chúa sau khi hạ giá, tức là Công chúa đã được gả chồng.

Khi những ông hoàng, bà chúa ấy qua đời, tòa chính đường trong phủ, nơi ở của các ông hoàng, bà chúa lúc sinh thời trở thành nơi thờ tự vong linh của chính họ. Do vậy, phủ đệ là chứng nhân lịch sử của thời vàng son danh gia vọng tộc của lớp vương tôn, công nữ quyền quý xưa.

Điển hình các phủ đệ Tùng Thiện vương, Tuy Lý vương, Kiên Thái vương, Mỹ Hóa công luôn được xem là di sản văn hóa sống động của đất cố đô, có từ Triều Nguyễn và vẫn còn tồn tại khá nguyên vẹn cho đến ngày nay.

Bình phong Phủ thờ Khánh Quận Công.

Nghệ thuật đan xen phong thuỷ

Bình phong bắt nguồn từ các yếu tố “triều”, “án” trong phong thủy, chức năng chủ yếu là gia tăng tính bền vững của cuộc đất, ngăn chặn khí xấu và các yếu tố bất lợi xâm nhập vào phủ đệ.

Ngoài ra, bình phong còn thực hiện chức năng trang trí mỹ thuật và trở thành một nhân tố không thể thiếu trong kiến trúc phủ đệ. Tuy có quy mô diện tích rộng hẹp khác nhau tùy theo tước vị của chủ nhân phủ đệ nhưng phủ đệ nào cũng có kiến trúc tổng thể giống nhau, từ cổng, ngõ, bình phong, hòn non bộ, bể cạn, sân và nhà thờ.

Bình phong phủ đệ là một công trình kiến trúc mang nhiều giá trị về mặt thẩm mỹ, văn hoá nghệ thuật; đồng thời tập hợp các yếu tố tạo hình, các yếu tố này kết hợp chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau trong một chỉnh thể thống nhất.

Phủ đệ có thể trùng tu, tôn tạo qua các giai đoạn khác nhau nhưng các bức bình phong hàng trăm năm tuổi đều được con cháu gìn giữ nguyên trạng. Các đề tài trang trí bình phong phủ đệ ẩn luôn chứa nhiều giá trị tạo hình độc đáo, đi kèm là ý nghĩa tâm linh tinh tế với những biểu trưng nhất định.

Các đề tài trang trí bình phong được thể hiện trên chất liệu nề vữa, khảm sành sứ nên dù bị phôi pha theo thời gian nhưng vẫn nhận ra nét tinh tế, tỉ mỉ, khéo léo ở từng chi tiết được các nghệ nhân sắp xếp một cách chính xác, phối màu hài hòa và có tính nghệ thuật cao. 

Bình phong Phủ thờ Kiên Thái Vương.

Kiểu thức trang trí và những ý nghĩa biểu tượng

Trong quan niệm người Việt, rồng luôn là con vật linh thiêng, biểu tượng cho quyền uy, sức mạnh. Môtip rồng trang trí trên bình phong phủ Tùng Thiện vương, Kiên Thái vương được thể hiện khá đa dạng, có bố cục đơn hoặc xuất hiện cùng nhiều môtip khác. Hình rồng về cơ bản mang nét tạo hình: miệng rồng hé mở lộ răng nhọn, tóc xõa hình nan quạt, thân chạm vảy đơn hoặc kép.

 Người xưa tin rằng “long mã” là hóa thân của kỳ lân, một trong tứ linh (long, lân, quy, phụng), là linh vật báo hiệu điềm lành; là biểu tượng của sự thông thái, trường thọ và hạnh phúc nên hình tượng của long mã xuất hiện nhiều trong kiến trúc bình phong.

Đề tài trang trí hình lân hay long mã, người nghệ nhân cung đình xưa luôn tạo dáng cho chúng như đang chạy trên mặt nước, thể hiện biểu cảm của con vật linh. Trong cấu trúc long mã ở bình phong phủ Tuy Lý vương, Phú Bình quận vương, các nhịp điệu của hình thể long mã được tính toán thật tỷ lệ sao cho khép kín mặt phẳng của bình phong và tạo được ấn tượng sinh động, phản ánh chức năng biểu tượng cho chủ nhân của công trình.

Bình phong Phủ thờ Tuy Lý Vương.

Môtip phụng xuất hiện không nhiều bằng hình tượng long mã, rồng nhưng cũng được người ta tin rằng nó mang biểu tượng của phụ nữ. Dưới ý thức hệ Nho giáo, vai trò của người phụ nữ không được đề cao nên hình tượng phụng cũng được trang trí một cách khiêm tốn trên bình phong, thường xuất hiện trong dáng ngậm hàm thư đang bay, nằm trong biểu tượng của hệ thống bát bửu.

 Môtip rùa xuất hiện ít nhưng ở các vị trí khác nhau, chúng được tạo dáng khác nhau. Lúc thì trên lưng rùa đội hòm sách hoặc cuốn thư, thanh gươm, cây bút… Đôi khi rùa được tạo dáng đội hình bát quái theo quan niệm vũ trụ quan Đông phương.

Phần trang trí ô vuông chữ nhật trên bình phong phủ đệ được đặt đăng đối, hài hòa về kích thước và màu sắc. Những vị trí này thường được trang trí bằng các môtip như hoa mai, hoa cúc, phật thủ, đề tài bát bửu và một số môtip hoa lá thiêng có tính chất tượng trưng, mang theo những biểu tượng ý nghĩa riêng.

Tuy được cách điệu bằng nghệ thuật tạo hình nhưng hình bát bửu là hình ảnh của các vật cụ thể như đồng tiền, ô trám, gương đàn, sáo sách, tù và, hình quạt, lá, khánh, mang ý nghĩa gắn với sự giàu sang.

Những loại hình của bộ bát bửu nêu trên đều được tạo hình bằng kỹ thuật điểm dải lụa uốn lượn bay bổng trong không gian, làm giảm đi sự khô cứng. Hình ảnh các loại quả như đào, lựu, quả Phật thủ biến thể thành đầu rồng, phụng cũng được thể hiện rất trau chuốt.

Các mảng trang trí về đề tài tứ thời ở các ô, hộc trên bình phong phủ Tuy Lý vương đã tạo nên cảm giác hài hoà giữa trang trí và hình khối thẩm mỹ của kiến trúc một cách rõ nét với tính định hướng tâm linh lắng đọng.

Trang trí chữ Thọ cách điệu kỹ hà và hoa văn dây trong ô hộc dài kết hợp với hoa văn mai rùa tượng trưng cho sự bền vững trường tồn mãi mãi. Thêm vào đó, hình hổ phù cũng được đắp nổi, gắn sành sứ bằng nề ngõa tạo hình cùng với mây xoắn trở thành biểu tượng của sự no đủ, bền vững.

Bình phong Phủ thờ Phú Bình Quận Vương.

Trên đỉnh mái bình phong phủ Mỹ Hóa công, hình tượng đôi rồng chầu về biểu tượng mặt trời, các nét khảm sành sứ tỉ mỉ, tinh xảo, đuôi và vẩy rồng ở đây mang dáng vẻ hiền hòa, gần gũi. Đó là sự kết hợp lưỡng long chầu nhật, lưỡng long chầu nguyệt đi cùng với môtip mây.

Với kiến trúc bình phong, hình tượng rồng, mặt trăng, mặt trời, mây là những biểu tượng gắn với tầng trên, hoạt động của trời. Việc trang trí trên kiến trúc những môtip này cũng là thể hiện mong ước của con người có cuộc sống mưa thuận gió hòa, đảm bảo cho sự tồn tại và sinh trưởng của cư dân trồng lúa nước có đời sống gắn liền với thiên nhiên. Phía dưới đế bình phong có các họa tiết trang trí hoa văn mây, sóng nước, các hoa dây đan vào nhau trải dài phía dưới chân.

 Đỉnh cao của nghệ thuật khảm sành sứ

Nghệ thuật khảm sành sứ được sử dụng phổ biến trên bình phong phủ đệ Tuy Lý vương, Tùng Thiện vương, Kiến Thái vương... Đó là những mảnh gốm sứ, mảnh chai cắt tỉa theo hình dáng và màu sắc, được gắn khảm rất tinh tế, bằng những chất kết dính (vôi hàu, mật mía đường) cùng những phụ gia kết nhuyễn (giấy dó, nhựa bông cẩn, dây tơ hồng).

Các nghệ nhân cung đình xưa đã sử dụng kỹ thuật ghép khảm sành sứ trên chất liệu nề ngõa, tạo ra mối quan hệ khăng khít như chất kết dính, làm tăng thêm nét thẩm mỹ cho tổng thể kiến trúc bình phong, xóa đi ranh giới cứng nhắc, xù xì của chất liệu để làm toát lên tinh thần mềm mại, sinh động dưới mỗi môtip trang trí.

Các chất liệu trong kỹ thuật nề ngõa, khi được kết hợp với nhiều chất liệu khác, tạo nên một bức tranh có vẻ đẹp hấp dẫn. Để tạo được hình tượng sống động, nghệ nhân phải có những chuẩn bị công phu về vật liệu, màu sắc nề họa, các vật phẩm trang trí khác.

Bình phong Phủ thờ Tùng Thiện Vương.

Qua các kiểu thức trang trí tạo hình tại bình phong phủ đệ, chúng ta có thể nhận thấy hoa văn trang trí đa dạng về kiểu thức, khác biệt, tinh tế và rất phong phú về đề tài.

Những giá trị nghệ thuật trang trí bình phong phủ đệ bổ sung một phần đáng kể trong nghệ thuật trang trí Triều Nguyễn được thể hiện trên nhiều chất liệu tạo hình như nề vữa, khảm sành sứ.

Sự kết hợp này khá nhuần nhuyễn và tạo nên một tổng thể tạo hình nhất quán, hợp lý trên cùng một công trình kiến trúc, góp phần vào việc mở rộng hơn nữa về ngôn ngữ nghệ thuật trang trí Triều Nguyễn nói riêng, trong mạch nguồn nền mỹ thuật truyền thống dân tộc nói chung.

 

= Kim Quy tổng hợp & sưu tập =

Xem thêm...
Theo dõi RSS này