Khoa học kỹ thuật

Khoa học kỹ thuật (176)

Tại sao bầu trời có màu xanh?

Tại sao bầu trời có màu xanh?

Ai cũng biết bầu trời có màu xanh, nhưng không phải mọi người đều biết vì sao bầu trời lại có màu xanh.
Trên không trung trái đất, có một tầng khí quyển rất dày bao trùm cả trái đất.
Lớp không khí đó chỉ là một màu trong suốt, vậy màu "xanh da trời" ấy từ đâu đến?

Lý giải nguyên nhân bầu trời có màu xanh

Ánh sáng khả kiến (ánh sáng nhìn thấy được) là một phần của phổ điện từ mà mắt người có thể nhìn thấy được.
Ánh sáng từ mặt trời hay bóng đèn điện được gọi là ánh sáng trắng.
 
Tại sao bầu trời có màu xanh?
 
Ánh sáng mặt trời có 7 gam màu: đỏ, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Mỗi màu sắc tương ứng với 1 bước sóng, tần số và mang năng lượng khác nhau. Ánh sáng tím có bước sóng ngắn nhất trong dải quang phổ khả kiến. Điều này đồng nghĩa với việc tần số và năng lượng của ánh sáng tím là cao nhất trong dải quang phổ khả kiến. Ngược lại, ánh sáng đỏ có bước sóng dài nhất, tần số thấp nhất và sẽ mang ít năng lượng nhất.

Ánh sáng trong không khí

Ánh sáng di chuyển trong không gian theo đường thẳng nếu không có gì làm nó bị nhiễu loạn. Khi ánh sáng di chuyển vào trong bầu khí quyển, nó tiếp tục đi theo đường thẳng cho đến khi gặp phải các hạt bụi nhỏ hoặc các phân tử khí cản lại. Kể từ lúc này, những gì xảy ra với ánh sáng phụ thuộc vào bước sóng của nó và kích thước của những vật mà nó chiếu vào.
Những hạt bụi và nước trong không khí có kích thước lớn hơn so với bước sóng của ánh sáng khả kiến. Khi ánh sáng chiếu vào những hạt có kích thước lớn hơn, nó sẽ bị phản xạ lại theo nhiều hướng khác nhau hoặc bị các vật cản hấp thu. Do các màu sắc khác nhau trong ánh sáng đều bị phản xạ lại từ các hạt theo cùng một hướng nên ánh sáng phản xạ từ các hạt cản vẫn là ánh sáng trắng và chứa tất cả các màu ban đầu.
 
Ngoài bụi và nước, trong khí quyển cũng chứa các phân tử khí. Các phân tử khí này có kích thước nhỏ hơn so với bước sóng của ánh sáng khả kiến. Nếu ánh sáng trắng chiếu vào các phân tử khí, thì chuyện không đơn giản như khi chiếu vào bụi hay các hạt nước.
Khi ánh sáng chiếu vào phân tử khí, "một phần" của nó có thể bị phân tử khí hấp thụ. Sau đó, các phân tử khí sẽ bức xạ ánh sáng theo nhiều hướng khác với ban đầu. Sở dĩ có khái niệm "một phần" xuất hiện ở đây là vì sẽ có một số bước sóng trong ánh sáng trắng (tương ứng với các màu sắc) dễ bị hấp thụ, một số bước sóng khác khó bị hấp thụ hơn. Nói cách khác, một số bước sóng ngắn (như màu xanh dương) sẽ bị hấp thụ nhiều hơn so với các bước sóng dài (như màu đỏ).
 
Tại sao bầu trời có màu xanh?
Nhà vật lý học người Anh John William Strutt, 3rd Baron Rayleigh (1842-1919) 
Người đề xuất phương trình xác định hệ số tán xạ Rayleigh giúp lý giải nguyên nhân bầu trời có màu xanh​
 
Quá trình trên được gọi là tán xạ Rayleigh. Hiện tượng được đặt theo tên của người phát hiện ra nó: Lord John Rayleigh, một nhà vật lý học người Anh. Vào năm 1871, Rayleigh đã đưa ra phương trình tính hệ số tán xạ của một vật tỷ lệ nghịch với bước sóng ánh sáng (ký hiệu là lamda) mũ 4. Nói cách khác, ánh sáng có bước sóng càng ngắn thì càng bị tán xạ nhiều hơn và ngược lại.

Đã có thể trả lời câu hỏi ban đầu: Màu xanh của bầu trời là do tán xạ Rayleigh

Do bước sóng của ánh sáng (100~1000 nm) lớn hơn so với kích thước của các phân tử khí (10 nm) nên chúng ta có thể áp dụng công thức tán xạ Rayleigh cho hiện tượng tán xạ ánh sáng trong khí quyển của Trái Đất.
Tại sao bầu trời có màu xanh?
 
Khi ánh sáng đi vào khí quyển của Trái Đất, hầu hết những bước sóng dài đều không bị các phân tử khí hấp thụ nên có thể đi xuyên qua. Một ít ánh sáng đỏ, cam, vàng có thể bị ảnh hưởng của không khí. Tuy nhiên, một lượng lớn bước sóng ngắn đã bị các phân tử khí hấp thụ. Ánh sáng bước sóng ngắn bị hấp thụ sau đó sẽ được tán xạ ra ngoài theo rất nhiều hướng khác nhau.
Tại sao bầu trời có màu xanh?
 
Lúc này, ánh sáng xanh sẽ tán xạ khắp bầu trời. Vào ban ngày, cho dù bạn đứng ở bất cứ đâu và nhìn theo hướng nào thì một số ánh sáng xanh bị tán xạ luôn hướng tới mắt của bạn. Do đó, khi bạn ngước nhìn lên phía trên đầu mình thì bầu trời sẽ luôn có màu xanh.
 
Nếu bạn chú ý kỹ hơn, thì khi nhìn càng gần về phía đường chân trời thì bầu trời có vẻ nhạt màu hơn. Đó là do, để đến được vị trí của bạn, ánh sáng xanh sau khi bị tán xạ phải đi qua thêm nhiều lớp không khí. Một phần tiếp tục bị tán xạ theo nhiều hướng khác. Do đó, có ít ánh sáng xanh từ phía gần chân trời tiến đến vị trí của bạn hơn so với lượng ánh sáng xanh từ đỉnh đầu bạn.
 
Tại sao bầu trời có màu xanh?
 
Một điểm khác đáng chú ý là chắc chắn nếu theo dõi đến đây, các bạn sẽ có thắc mắc rằng: Bước sóng của màu tím và màu chàm thậm chí còn ngắn hơn màu xanh, vậy lẽ ra bầu trời phải có màu tím chứ? Câu trả lời đã sẵn sàng cho các bạn.
 

Vậy tại sao bầu trời không phải là màu tím? Đó mới là bước sóng ngắn nhất mà!

Một nguyên nhân chính là do hoạt động của mắt người trong việc nhìn thấy màu sắc. Mắt người nhạy cảm với ánh sáng có bước sóng từ 380 đến 740 nm. Trên võng mạc bình thường có 10 triệu tế bào que cảm biến ánh sáng và 5 triệu tế bào hình nón phát hiện ra màu sắc. Mỗi tế bào nón có chứa sắc tố giúp phản ứng với từng loại bước sóng khác nhau. Có 3 loại tế bào nón chính tương ứng với các loại bước sóng ngắn, trung bình và dài. Chúng ta cần phải sử dụng cả 3 loại tế bào này để nhìn thấy màu sắc chính xác nhất.
Mỗi tế bào nón có phản ứng với các bước sóng tối đa là: 570 nm đối với bước sóng dài, 543 đối với bước sóng trung bình, và 442 nm đối với bước sóng ngắn. Dù vậy, 3 loại tế bào nón này có thể phản ứng với số bước sóng trên diện rộng và chồng chéo nhau. Điều này có nghĩa là sẽ có trường hợp 2 quang phổ khác nhau có thể gây ra cùng 1 phản ứng trên các tế bào nón.
2 quang phổ khác nhau nhưng cùng tạo 1 phản ứng giống nhau trên tế bào nón được gọi là đồng phân dị vị. Trở lại vấn đề bầu trời, khi bầu trời là một hỗn hợp giữa màu xanh và tím. Các tế bào nón trong mắt người sẽ phản ứng khi nhìn thấy hỗn hợp này thành hỗn hợp của màu xanh và trắng. Và cuối cùng, tín hiệu đưa về hệ thần kinh chỉ là màu xanh. Điều này tương tự như thủ thuật trộn màu đỏ và xanh lá để thành màu vàng vậy.
Dù vậy, một số loài động vật nhìn bầu trời không phải có màu xanh như con người. Ngoài con người và một số loại linh trưởng, hầu hết các loài động vật khác đều có 2 loại tế bào hình nón trong võng mạc. Do đó, các loài động vật này, như chim chẳng hạn, sẽ nhìn thấy bầu trời là màu tím.

Tại sao chúng ta nhìn thấy mặt trời có màu vàng?

Trên Trái Đất, chúng ta nhìn thấy mặt trời vào ban ngày có màu vàng. Nếu bạn đi ra không gian hoặc lên trên Mặt Trăng, bạn sẽ nhìn thấy Mặt Trời có màu trắng. Tại sao vậy? Đó đơn giản là do: Trong vũ trụ không có bầu khí quyển để tán xạ ánh sáng mặt trời.
Trên Trái Đất, một vài bước sóng ngắn của ánh sáng mặt trời (xanh dương hoặc tím) đã bị các phân tử khí hấp thụ và loại bỏ ra khỏi chùm ánh sáng chiếu trực tiếp từ mặt trời tới mắt người. Do đó, các màu còn lại cùng nhau xuất hiện chính là màu vàng.

Cuối cùng: Tại sao hoàng hôn có màu đỏ?

Khi mặt trời bắt đầu lặn, ánh sáng cần phải đi một đoạn đường dài hơn qua không khí trước khi đến vị trí mà bạn nhìn thấy. Lúc này, sẽ có càng nhiều ánh sáng bị phản xạ và tán xạ hơn. Càng có ít ánh sáng trực tiếp từ mặt trời tiếp cận tới vị trí của bạn, thì bạn sẽ nhìn thấy mặt trời càng ít phát sáng hơn. Cũng trong thời điểm này, màu sắc của mặt trời bắt đầu có sự thay đổi, từ màu vàng lúc ban ngày bắt đầu chuyển dần sang cam và sau đó đến đỏ.
 
Tại sao bầu trời có màu xanh?
Nguyên nhân chính là: Mặc dù lượng ánh sáng xanh vẫn bị tán xạ như lúc ban ngày nhưng bị tán xạ nhiều lần do phải xuyên qua lớp không khí dày mới tới được mắt người. Bên cạnh đó, các bước sóng dài (cam, vàng) trong chùm sáng chiếu trực tiếp đến vị trí của bạn ngày một ít đi. Các bước sóng dài phải vượt qua quãng đường dài hơn so với ban ngày để trực tiếp đến với vị trị của bạn. Chỉ còn lại ánh sáng đỏ ít bị tán xạ được truyền thẳng đến mắt nhiều hơn.
Do đó, bạn sẽ nhìn thấy bầu trời ngày càng đỏ dần lên. Sau khi Mặt Trời đã khuất sau đường chân trời, chúng ta không thấy trực tiếp ánh sáng của Mặt Trời; nhưng nếu có các đám mây trên cao, chúng sẽ phản xạ lại ánh sáng đỏ xuống mặt đất, tạo nên cảnh tượng tuyệt đẹp của hoàng hôn.

Kết

Tại sao bầu trời có màu xanh?
 
Cuối cùng thì chúng ta đã tìm được câu trả lời cho các câu hỏi ban đầu. Một lần nữa, các hiện tượng tưởng chừng như hiển nhiên lại ẩn chứa bên trong nó nhiều vấn đề như vậy. Thật sự là bất cứ điều gì đều có nguyên nhân của nó. Dĩ nhiên, con người ta vẫn đang ngày đêm nghiên cứu để cố gắng lý giải thêm thật nhiều hiện tượng xung quanh mà trước đây chưa có lời giải đáp. Đó là mong ước của tất cả chúng ta và đặc biệt là các nhà khoa học. Mỗi người đều có nhiều câu hỏi tại sao cho riêng mình.
 
Nguyễn Ngọc Quang (ST) Tổng hợp
Xem thêm...

Silicon Valley hơn Đức ở điểm nào ?

Silicon Valley hơn Đức ở điểm nào ?

Những doanh nghiệp hàng đầu thế giới về công nghệ như Apple, Facebook, Google hay Microsoft đều là công ty của Mỹ. Người ta cũng thấy nhiều trường hợp thành công tương tự ở Thung lũng Silicon Valley. Thế nhưng theo quan sát của Wiwo, vẫn chưa có làn sóng doanh nghiệp công nghệ như vậy tại Đức. Vậy đâu là nguyên nhân ?

Từ một doanh nghiệp ở trong gara trở thành doanh nghiệp tầm cỡ thế giới:

Apple chỉ là một ví dụ về sự thành công của Silicon Valley.

Hãy nhìn vào một trường hợp cụ thể: Catalin Voss, một sinh viên Đức đang theo học tại đại học Stanford (Mỹ) đã mô tả về những giá trị mà ngôi trường của mình đem lại: “Tôi đã được truyền thụ rằng đôi khi thất bại lại đem lại may mắn”. Thất bại mà lại may mắn ư? Nghe có vẻ trái ngược nhưng chính đây là tinh thần mà môi trường đại học Mỹ đem lại cho các sinh viên của mình. Bản thân Voss cũng là một con người xuất sắc, anh theo học ở  đây từ năm 17 tuổi và trước đó, khi còn nhỏ đã tự học lập trình, đặc biệt là những ứng dụng trên điện thoại. Giờ đây, Voss đang thiết lập một công ty riêng của chính mình mang tên Sension với sản phẩm công nghệ chính là một ứng dụng nhận biết tâm trạng thông qua các biểu hiện trên gương mặt nhờ trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence). Công nghệ này hữu ích trong việc tìm hiểu suy nghĩ của những người mắc chứng tự kỷ. GAIA, một công ty của Toyota, đã mua công nghệ này.

Không chỉ Voss mà nhiều gương mặt tài năng khác được đào tạo trong môi trường có tinh thần “thất bại là may mắn” cũng có khả năng đạt được thành công như vậy. Tuy nhiên cũng phải công bằng mà nói, Stanford đã dành một khoảng kinh phí gần sáu tỷ euro chỉ để hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp, qua đó khuyến khích tinh thần này, nghĩa là gấp trên mười lần so với đại học Hannover (Đức).

Câu chuyện của Catalin Voss có thể gây ngạc nhiên ở Đức nhưng nó lại quá bình thường với Silicon Valley, nơi dường như quy tụ các doanh nghiệp công nghệ toàn cầu. Apple, Google và Facebook đặt trụ sở chính tại đây, bên cạnh những Tesla, nhà tiên phong về ô tô điện hay Uber, Airbnb, những cái tên mới nổi nhưng đã có sức lan tỏa trên thế giới.

Tại sao làn sóng doanh nghiệp công nghệ lại bắt nguồn từ  Silicon Valley?

Nhiều doanh nghiệp công nghệ đều trưởng thành từ các trường đại học liền kề Valley. Có thể thấy mô hình kinh doanh của các ông lớn ở Silicon Valley đều dựa trên tinh thần đổi mới sáng tạo. Các doanh nghiệp công nghệ này không chỉ đem lại sản phẩm mới hay tạo dựng thị trường mới mà còn phá bỏ cả những sản phẩm đang tồn tại trên thị trường, ví dụ bằng một ứng dụng trên điện thoại, Uber tấn công vào thế giới tắc xi, Airbnb thách thức các chuỗi khách sạn kinh điển, iPhone của Apple đánh bại nhà sản xuất điện thoại di động Nokia.

Tại sao điều này xảy ra ở Silicon Valley mà không diễn ra ở Berlin hay Tokyo, nơi cũng có nhiều trường đại học nổi tiếng, các nhà đầu tư mạo hiểm và các cố vấn giầu kinh nghiệm, và điều gì là cốt lõi của nó?

“Silicon Valley đơn thuần là một địa danh cố định trên bản đồ, ẩn chứa trong nó là một cách tư duy”, Chuhee Lee, nhà nghiên cứu về phương tiện di chuyển trong tương lai của hãng Volkswagen ở Silicon Valley, nhận xét. “Ai không trải qua thất bại thì khó có thể được tôn trọng thật sự tại nơi này”.

Người Mỹ thích hành động

Rene van den Hoevel, giám đốc phụ trách Phòng Thương mại Đức - Mỹ, lý giải: “Những gì diễn ra ở Mỹ nhanh đến chóng mặt. Người Mỹ không chờ cơ hội, đơn giản là họ hành động ngay. Thế mạnh của họ chính là sự năng nổ”. Còn ông  Stefan Schlüter, Tổng lãnh sự Đức ở San Francisco, nhấn mạnh: “Ở Stanford, không giáo sư kinh tế nào mà lại không đặt chân vào lĩnh vực kinh tế, họ có thể tự lập một startup hay tham gia với tư cách cố vấn”.

Doanh nghiệp như Volkswagen từ lâu đã đề cao  tinh thần của Silicon Valley. “Chúng ta cầm có thêm một chút tinh thần của Silicon Valley”, cuối năm 2015 nhà lãnh đạo tập đoàn VW Matthias Müller đã lớn tiếng kêu gọi. Song người ta có thể kêu gọi suông không mà vẫn đem lại hiệu quả? “Cũng có một vài điểm mà chúng ta có thể học hỏi được”, Ferdinand Dudenhöffer, phụ trách Trung tâm nghiên cứu ô tô CAR của trường ĐH Duisburg-Essen nói, tuy nhiên ông cũng lưu ý là chỉ đơn giản đưa về Đức một vài công ty đầu tư mạo hiểm, thiết lập mấy doanh nghiệp khởi nghiệp thì ngần ấy là chưa đủ.

Dudenhöffer nhận thấy ở Mỹ còn có những vấn đề đóng vai trò quan trọng thúc đẩy khởi nghiệp như chính sách của nhà nước tạo bệ phóng như mở ra các cuộc thi về công nghệ. Nhiều công nghệ trong số đó đã được nhiều cơ quan chính phủ để mắt đến như trường hợp công nghệ về ô tô robot và vật thể bay không người lái được Bộ Quốc phòng Mỹ mua đứt. “Điều này không có ở Đức”, Dudenhöffer nhận xét.

Tại Mỹ những điều tiết trong chính sách của nhà nước buộc người ta phải đổi mới. Ngay từ những năm 1970, quy định về khí thải của Mỹ buộc các doanh nghiệp sản xuất ô tô phải áp dụng hệ thống lọc than hoạt tính ba chiều mà giờ đây vẫn được sử dụng rộng rãi. “Ở Đức mọi điều đều diễn ra ngược lại. Người ta tìm cách đưa dầu diesel sang thế kỷ 21 và nghĩ rằng đó là sáng tạo, mặc dù ai cũng biết đến tác hại của việc dùng dầu diesel như thế nào. Nguyên nhân là ở Đức, thuế đánh vào dầu diesel thấp”.

Sau những thành công của mình, trường đại học Stanford còn được đọc trại ra là “Farm” (nông trại) vì người ta tin rằng sẽ còn gặt hái được những vụ mùa bội thu startup từ nông trại đó.

 

Xuân Hoài lược dịch

 

Kim Quy st

 

Xem thêm...

10 Phim có kinh phí cao nhất

10 Phim có kinh phí cao nhất

Thời gian gần đây có “lời đồn” trên internet rằng hai phim Avengers: Infinity Wars, Part 1 và Part 2 sẽ có số vốn đầu tư tổng cộng là $1 tỷ bạc. Nếu điều này là sự thật, thì phần ba và bốn của bộ “Avengers” sẽ là những phim mắc tiền nhất trong lịch sử.

Làm phim là thực hiện một công trình tốn kém – ngoài những chi phí như dàn dựng phim trường, dụng cụ, trang trí, và kỹ xảo ở hiện trường, còn phải trả lương cho các tài tử, chuyên viên kỹ thuật, người thiết kế, và những nhân công khác. Sau khi phim được quay xong, họ còn phải tính tới chuyện cắt xén và cho vào kỹ xảo effects nữa. Kỹ nghệ làm phim là một nền kinh doanh khổng lồ, và số tiền đầu tư đã tiếp tục tăng dần trong những năm gần đây.

Cho danh sách này, chúng tôi chọn sắp xếp những phim dựa theo con số ước đoán. Trong khi nhiều phim không công bố chính xác số ngân quỹ, chúng ta vẫn có thể biết được con số đại khái dựa vào những cuộc phỏng vấn và báo cáo về tài chánh đã được bỏ ra cho một phim. Vì lý do này, bất cứ chi phí nào chưa được kiểm chứng sẽ có dấu “~” trước con số.

Trong hai mươi năm qua, các nhà làm phim và sản xuất phim đầu tư nhiều tiền hơn vào công trình của họ và sự đầu tư tiền với tốc độ “kinh hoàng”.

Sau đây là 10 phim tốn tiền nhất đã từng được làm

10. Avatar (2009)

Chi phí: $237 triệu

Hóa ra, Avatar không mắc tiền như nhiều khán giả nghĩ. Lúc đầu, các phóng viên suy rằng cuốn phim đẹp mắt này có thể tốn từ $280 tới $500 triệu. Tuy nhiên, hãng Fox đã chính thức công bố chi phí sản xuất, tiết lộ rằng cuốn phim có ngân quỹ là $237 triệu.

Avatar đã khai phá kỹ thuật hoạt họa mô-cáp. Ðội làm phim của James Cameron đã phát triển kỹ thuật và phần mềm cho motion capture trong 14 tháng trước quá trình quay phim. Ông ta cũng thuê hơn 900 người của hãng Weta Digital để làm việc với kỹ xảo hậu kỳ. Những kỹ thuật đó thật sự cần thiết để làm giấc mộng của Cameron thành sự thật.

Avatar là phim đầu tiên thu vào hơn $2 tỷ trên toàn cầu, và đến nay vẫn còn là phim có mức thu cao nhất từ xưa tới nay

 

9. The Hobbit: An Unexpected Journey (2012) / The Hobbit: The Desolation of Smaug (2013) / The Hobbit: The Battle of Five Armies (2014)

Chi phí: ~$248.3 triệu (mỗi phim)

Bộ ba The Hobbit tốn tổng cộng $745 triệu để làm – trong khi một số nhà nghiên cứu chia giá phim không đồng đều, suy đoán rằng tập thứ ba, The Hobbit: The Battle of Five Armies (2014), tốn nhiều hơn. Tuy nhiên, cả ba phim được quay liền nhau, và chuyện phân chia chi phí giữa ba phim thật khó khăn. Ngay cả khi chi phí được chia đồng đều, tất cả ba phim “Hobbit” cũng xuất hiện trên danh sách 10 phim mắc tiền nhất. Chi phí cao của phim do phim được quay trong dạng 3D và ở tốc độ 45 khung một giây.

8. Pirates of the Caribbean: Dead Man’s Chest (2006) / Pirates of the Caribbean: At World’s End (2007)

Chi phí: ~$250 triệu (mỗi phim)

Phim Pirates of the Caribbean thứ nhì và thứ ba được quay chung với nhau. Tuy nhiên, khi làm như vậy, Disney phải tốn tới $500 triệu. Ngay cả khi chi phí này được chia đều giữa hai phim, cả hai vẫn nằm trong danh sách những phim tốn kém nhất.

7. Harry Potter and the Half-Blood Prince (2009)

Chi phí: ~$250 triệu

Là cuốn phim thứ 6 trong bộ có 8 phim, Harry Potter and the Half-Blood Prince có chi phí cao nhất nếu tính theo từng phim một. Ðáng lẽ cuốn phim cuối của bộ, Harry Potter and the Deathly Hallows cũng sẽ có chi phí cao tương tự, nhưng nó được chia ra làm hai phần (hai phim riêng biệt) và đã giảm tiền sản xuất một cách đáng kể.

6. The Amazing Spider-Man 2 (2014)

Chi phí: ~$255 triệu

Một phần chi phí của phim này đi vào tiền lương của các tài tử. Ngoài vai chính Spider-Man (Andrew Garfield) và Gwen Stacy (Emma Stone) từ phim số 1, cuốn phim Spider-Man thứ nhì còn có nam tài tử có tên tuổi (được giải Oscar) Jamie Foxx trong vai Electro. Cuốn phim được quay hoàn toàn ở tiểu bang New York và bằng loại phim 35mm.

5. Spider-Man 3 (2007)

Chi phí: $258 triệu

Hãng Sony đã công khai xác nhận chi phí sản xuất của Spider-Man 3 là $258 triệu. Phim này đã thu vô $890.9 triệu và là cuốn phim thành công nhất trong bộ ba.

4. Tangled (2010)

Chi phí: ~$260 triệu

Tangled là một phim ca nhạc khôi hài sử dụng kỹ thuật hoạt họa 3D. Tangled là cuốn phim hoạt họa mắc nhất từ trước tới giờ, với chi phí được ước lượng khoảng $260 triệu.

3. John Carter (2012)

Chi phí: $306.6 triệu

Ngân quỹ đồ sộ của phim John Carter là một trong những lý do chính tại sao nó bị thất bại nặng nề tại phòng bán vé. Trong khi tốn hơn $300 triệu, nó thu vào chỉ có $284.1 triệu.

2. Avengers: Age of Ultron (2015)

Chi phí: $330.6 triệu

Hậu kỳ của phim Avengers đầu tiên của Joss Whedon rất thành công. Nó có thành phần tài tử “toàn sao” gồm Robert Downey Jr. trong vai Iron Man, Scarlett Johansson trong vai Black Widow, và Chris Evans trong vai Captain America.

1. Pirates of the Caribbean: On Stranger Tides (2011)

Chi phí: $410.6 triệu

Pirates of the Caribbean: On Stranger Tides (2011) là phim đầu tiên và duy nhất tốn hơn $400 triệu để sản xuất. Vai chính của phim (Captain Jack Sparrow) là tài tử “đắt tiền” Johnny Depp, và Penelope Cruz trong vai Angelica.

Phim này được quay ở Anh và Hawaii. Nó được dùng kỹ thuật 3D tương tự như đã được dùng cho Avatar của James Cameron, và tận dụng khoảng 1,200 cảnh tạo bằng computer. Với số vốn $410.6 triệu, On Stranger Tides dứt khoát là cuốn phim đắt tiền nhất trong lịch sử. Và sự đầu tư đó coi có vẻ xứng đáng, vì nó đã thu vào hơn một tỷ đô-la ($1,046 tỷ) tại phòng bán vé.

By MP

 

Kim Quy st

 

Xem thêm...

Xe hơi Sài Gòn xưa

Xe hơi Sài Gòn xưa

Trang Nguyên

Tôi thường đem xe đi thay nhớt tại garage nhỏ của chú Ba Tam ở Fort Worth. Tự dưng cách đây mấy tháng, chú hỏi tôi ở Việt Nam bây giờ có công ty sản xuất xe hơi không? Câu trả lời có thì cũng không đúng, mà không thì cũng sai luôn. Tôi nhớ không lầm hồi mấy năm trước ở ngoài Bắc có công ty xe hơi Vinaxuki bị phá sản. Mang danh công ty xe hơi nội địa nhưng máy móc của Nhật, bánh xe Đài Loan, chỉ có khung sườn, bửng trước sau được làm trong nước với mục đích nội địa hóa xe hơi nhưng cũng chỉ đạt được chưa tới 40%. Giá thành rẻ chỉ bằng một phần ba xe nhập cảng. Tuy vậy, người ta vẫn thích mua xe ngoại cho dù mắc tiền. Nó vừa sang, đẹp lại an toàn. Không trách người ta sao sính ngoại.

Sài Gòn Xe hơi Công ty thuộc công ty mẹ Citroen của Pháp nơi

sản xuất xe nội địa hóa La Dalat – Nguồn: Anhxuasg

Chú Ba kể, hồi trước có Sài Gòn Xe hơi Công ty ở đường Lê Thánh Tôn Q.1. Chú từng làm nhân viên kỹ thuật đóng thùng xe La Dalat. Công ty này nguyên là chi nhánh hãng Citroën của Pháp. Chiếc La Dalat được tiếng là hàng nội địa nhưng máy móc, bánh xe, thắng, trục chuyển động nhập từ Pháp; người Việt mình làm kèn, hộp đèn, ghế ngồi và khung thùng, lại lấy tên thương hiệu của thành phố sương mù Ðà Lạt. Ban đầu dân Sài Gòn thích xe hơi nhưng túi tiền hạn hẹp nên “kết” loại xe này lắm. Xe nhẹ, đơn giản, ít hao xăng dầu, máy bền lại dễ sửa chữa, đặc biệt là giá rẻ bằng phân nửa xe nhập từ Nhật Bổn. Cuộc triển lãm ra mắt sản phẩm La Dalat hồi năm 1970 ở vườn Tao Ðàn đã thu hút nhiều đơn đặt hàng nên công ty sản xuất ồ ạt. Công việc làm không xuể, nhân công phải làm đêm làm ngày để cung cấp xe ra thị trường. Không biết việc buôn bán ra sao, đến năm 73 thì xe tồn kho rất nhiều, nhân viên làm tại công ty nếu mua thì được hưởng ưu đãi giảm giá so với thị trường.

Một quảng cáo trên báo xe La Dalat năm 1973 khi dòng xe hơi rẻ tiền này

gặp vấn đề thị trường tiêu thụ – Nguồn: Citroen2CVDalat

Câu chuyện của chú Ba khiến tôi quan tâm, bởi thời ấy tuy chưa biết nhiều về các loại xe hơi nhưng tôi đã nghe người lớn kháo nhau về chiếc La Dalat, và tôi từng thấy nhiều xe này chạy trên đường phố Sài Gòn. Chiếc xe hơi “Made in Vietnam” trông ngầu, đường nét góc cạnh giống xe Jeep, mui vải có thể tháo ra thành mui trần để tà tà bát phố. Có xe mui kín bốn chỗ ngồi, hoặc loại đòn xe dài mà chú Ba Tam nói rằng La Dalat sản xuất đến bốn kiểu xe khác nhau. Ðúng là như vậy. Nhiều người thích xe hai chỗ hơn, phía sau chở hành lý đồ đạc về quê hay đi du lịch miền biển miền núi đều sành điệu. Tôi nhớ mấy tấm bích chương quảng cáo dán ở vách tường bên hông tòa nhà đầu đường Nguyễn Huệ và bến Bạch Ðằng vẽ hình chiếc La Dalat trong khung cảnh miền quê mùa xuân Quý Sửu năm 1973. Bây giờ tôi bắt gặp lại hình ảnh này trên trang mạng lòng vẫn còn thấy mới như ngày nào khi chương trình quảng cáo rầm rộ trên đài phát thanh với lời xướng ngôn viên trầm ấm: “La Dalat cày sâu cuốc bẫm để phục vụ quý vị”.

Hãng bán xe hơi thương hiệu Vauxhall của Anh tại Sài Gòn năm 1952 – Nguồn: Anhxuasg

Vấn đề quảng cáo rầm rộ hồi đầu xuân năm 1973 và việc chú Ba Tam mua xe La Dalat được giảm giá tại công ty nói lên phần nào việc sản xuất loại xe theo phương châm “Facile À Fabriquer, Facile À Financer” (Dễ sản xuất, Dễ trả tiền) của công ty gặp vấn đề rắc rối về tiêu thụ chứ không như từ khi khởi đầu quá trình sản xuất, Citroën đã chủ quan về chuyện giá thành rẻ thu hút người tiêu thụ ham thích chiếc xe thực dụng và dễ sửa chữa này. Thật ra năm 1973 Sài Gòn Xe hơi Công ty không còn cho xuất xưởng các loại xe La Dalat như báo chí ca tụng. Xe hơi nội địa La Dalat được sản xuất mỗi năm một ngàn chiếc cho đến thời điểm năm 1975 thì chấm dứt thời hoàng kim, lúc ấy miền Nam đã sản xuất ra chiếc xe hơi nội địa hóa đến 40% (tính ra có đến 5,000 chiếc).

Theo tư liệu và bản báo cáo thống kê sản xuất của Công ty Citroën tại Pháp về việc chế tạo dòng xe mới cho Việt Nam, thì La Dalat nguyên thủy do hai người Pháp tên là Letoquin và Lechanteur – chủ nhân của Công ty xe hơi và gắn máy ở Bờ biển Ngà, trực thuộc công ty mẹ Citroën – mang chiếc xe hơi hai sức ngựa (2CV) Baby Brousse về Sài Gòn cải tiến bộ khung một chút cho phù hợp thời tiết bản địa. Bản vẽ được phác thảo vàSài Gòn Xe hơi Công ty chịu trách nhiệm sản xuất một số phụ tùng tại chỗ để nội địa hóa mang tên La Dalat. Nói chung, dòng xe Citroën 2CV được sản xuất ở nhiều nước trên thế giới như Hy Lạp, Iran, Indonesia, Chile, Việt Nam… mỗi quốc gia có tên xe khác nhau nhưng đều dựa vào mẫu Baby Brousse sản xuất tại thành phố Abidjan Bờ biển Ngà. Thống kê sản xuất cho thấy năm 1970 ở Việt Nam xuất xưởng 30 chiếc giới thiệu ra thị trường, năm 71 sản xuất 2,385 chiếc nhưng qua năm 1972 chỉ còn 450 chiếc và ngưng sản xuất vào năm 1973. Tổng cộng La Dalat mà công ty mẹ gọi đúng tên là Citroën Dalat sản xuất được 2,895 chiếc, không có con số bán ra và số tồn kho.

Sài Gòn cuối thập niên 60 có đủ loại xe hơi nhưng xe Jeep quân đội

cũng có khá nhiều – Nguồn: Anhxuasg

Chú Ba Tam nghĩ rằng, thoạt đầu dân chúng ưa chuộng vì giá rẻ, mẫu mã bề ngoài trông bắt mắt nhưng nội thất không có gì đặc biệt, đơn điệu nên sức thu hút giảm dần. Trong thời điểm này, xe Nhật, Mỹ và châu Âu nhập cảng vào Sài Gòn nhiều mẫu đẹp, hấp dẫn hơn. Người có đủ tiền mua xe mới (La Dalat giá 650,000 ngàn trong khi Mazda, Toyota giá chừng 1.1 – 1.3 triệu) nhưng vẫn thích đi mua xe cũ qua sử dụng được năm bảy năm, giá còn phân nửa bằng với mua mới chiếc La Dalat. Hơn nữa, đầu năm 1970 cho đến năm 1975 là thời kỳ đồng bạc VNCH mất giá kinh khủng (1USD = 275 năm 70; = 550 năm 72; = 750 năm 75). Trong khi thời điểm năm 72 giá vàng là 49USD/ounce tức 61USD/lượng tương đương 33,550 đồng VN. Ðồng tiền mất giá, nhu cầu mua xe cần cân nhắc, ngoại trừ những người có nhiều tiền và muốn chơi trội mua xe hơi lý le. Dân thương buôn làm ăn lớn nhỏ, công chức làm ra tiền đều tích lũy vàng hoặc quy đổi đô la chợ đen cất giữ. Còn một điều tác động không thể thiếu đã làm giảm sức mua xe hơi, các dòng xe gắn máy Nhật và Vespa của Ý sản xuất tại Pháp du nhập vào Sài Gòn rất nhiều, thuận tiện di chuyển và có chỗ đậu xe.

Tới đây, chúng ta đã giải mã phần nào về chiếc La Dalat một thời từng được người dân ca tụng lại “chết yểu” một cách đáng thương không phải vì biến động chính trị năm 1975 mà do kinh tế thời cuộc trước đó. Còn thắc mắc của tôi về chuyện tại sao lại không đặt tên sản phẩm xe hơi “Made in Vietnam” là Saigon mà lại dùng tên Ðà Lạt? Liệu có phải đó là tên thành phố Ðà Lạt hay chỉ là chữ Dalat trùng hợp ngẫu nhiên. Câu hỏi này theo chú Ba Tam nói ở trên, là tên Ðà Lạt viết theo tiếng ngoại quốc. Không thấy tài liệu nào giải thích. Ngay cả phòng triển lãm xe hơi tại vương quốc Bỉ, lưu giữ chiếc xe La Dalat đời 71 cũng dùng tên chính thức Citroën Dalat.

Một tai nạn trên con đường trung tâm Sài Gòn – Nguồn: Anhxuasg

Dẫu sao thì La Dalat đã để lại dấu ấn cho niềm tự hào lần đầu tiên người Việt Sài Gòn chế tạo được 40% phụ tùng, góp phần làm nên tên tuổi dòng xe hơi “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt”. Với số lượng gần 2,900 chiếc La Dalat góp một phần nhỏ trong nền giao thông miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào. Theo thống kê của ngành giao thông VNCH đến năm 1974 có tổng cộng 258,514 xe lưu thông trong đó có 35,384 xe vận tải lớn, 64,229 xe hơi châu Âu, Mỹ, Nhật, phần còn lại là xe taxi hiệu Citroën, Renault, Peugeot và xe jeep, xe vận tải nhà binh trong thời Mỹ mang vào miền Nam với mục đích quân sự.

Chỉ riêng con số xe hơi lưu thông trên 35 tỉnh và Ðô thành Sài Gòn cho thấy người có xe hơi riêng thật ít ỏi so với quãng thời gian hơn 70 năm (tính đến thời điểm 1975) kể từ khi người ta ghi nhận năm 1907 chỉ có 2 chiếc xe hơi nhập vào Việt Nam, một của người Pháp, và chiếc thứ hai thuộc về Thầy Năm Tú (Pierre Tú) chủ gánh cải lương Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho. Sang đến thập niên 20 Sài Gòn có chừng 100 chiếc (tính riêng xe hơi) của các quan chức sắc tai to mặt lớn hoặc điền chủ hay người làm ăn giàu có. Xe hơi nói chung bao gồm xe đò xe tải đã xuất hiện khá nhiều (theo thống kê của Tạp chí Nature, năm 1926 Nam kỳ có 5,678 ô tô các loại, Trung kỳ có 966 xe, Bắc kỳ có 2,866 xe).

Citroen Dalat đời 1971 trưng bày tại Autosalon ở Bỉ – Nguồn: Citroen2CVDalat

Dân giàu Sài Gòn bắt đầu chuộng xe hơi, nhiều hãng, garage, đại lý phụ tùng xe hơi buôn bán mở ra khá nhiều trên đường Trần Hưng Ðạo, Gia Long, Lê Thánh Tôn, Tôn Thất Ðạm ngay từ đầu thập niên 30. Xe hơi các loại của châu Âu (nhiều nhất là Pháp) được ưa chuộng. Nhưng sang đến thập niên 60, người ta lại thích các loại xe Mỹ nhập vào. Các dòng xe hơi Mỹ như Austin, Ford, Lincoln, Cadillac, Dodge… máy mạnh chạy khỏe lấn ép dòng xe Nhật Toyota, Mazda, Nissan… lúc đó không phải là xe tốt bền như bây giờ nhờ phát triển cải tiến kỹ thuật từ thập niên 70.

 

˜*. ˜”*°.˜”*°••°*”˜.°*”˜ Hồng Anh st˜”*°.˜”*°••°*”˜.°*”˜ .

Xem thêm...
Theo dõi RSS này