Khoa học kỹ thuật

Khoa học kỹ thuật (183)

Ai mới thực sự là người đầu tiên chế tạo ra máy bay?

Ai mới thực sự là người đầu tiên

chế tạo ra máy bay?

Nếu như câu trả lời của bạn là anh em nhà Wright thì bạn không hẳn là đúng mà cũng không hẳn là sai. Người đầu tiên chế tạo ra máy bay là anh em nhà Wright (1900) - đó là kiến thức phổ biến nhất hiện nay.

Tuy nhiên, người đầu tiên lái máy bay lại không phải là anh em nhà Wright đâu, mà là một người tên Alberto Santos-Dumont. Liệu có lầm lẫn gì ở đây chăng?

Trên thực tế, những cái "đầu tiên" trong lịch sử không phải lúc nào cũng được quy định rõ ràng. Muốn biết được người đầu tiên chế tạo ra máy bay, ta cần phải xét đến tất cả những khía cạnh như: máy bay có chạy bằng năng lượng hay không, có điều khiển được hay không, nó phải bay được bao xa, bao lâu hoặc lên tới được độ cao bao nhiêu...

Và dưới đây là danh sách các "ứng cử viên" nổi bật nhất cho vị trí "nhà phát minh máy bay đầu tiên" cũng như chi tiết các ý tưởng của họ.

1. Kiến trúc sư, họa sĩ... Leonardo da Vinci

Leonardo Da Vinci.

Thông qua hàng trăm ghi chép của thiên tài toàn năng người Ý này, ta có thể thấy rõ ước muốn được chao liệng trên bầu trời của ông. Vào năm 1485, ông đã phác họa bản thiết kế một chiếc máy bay dựa trên cấu tạo của chim và dơi.

Một trang phác thảo máy bay của Leonardo da Vinci (1452-1519).

Chiếc máy này bao gồm đôi cánh rất to gắn với một khung gỗ. Người lái sẽ phải nằm sấp xuống phía bên trong và điều khiển đôi cánh chuyển động lên xuống bằng một tay quay gắn với nhiều que và ròng rọc.

Tuy nhiên, chưa có ghi chép nào chứng thực là ông đã dựng được chiếc máy bay này. Hơn nữa theo các chuyên gia ngày nay thì vì không có động cơ, chiếc máy bay khó có thể nào cất cánh. Và nếu Leonardo thử bay xuống từ trên cao, rất có khả năng ông sẽ không còn lành lặn.

Cấu tạo của máy bay do thiên tài Leonardo da Vinci nghĩ ra.

2. Kỹ sư người Pháp - Clément Ader

Clément Ader

Sau 4 năm lên ý tưởng và nghiên cứu tài liệu, vào năm 1886, kỹ sư người Pháp - Clément Ader (1841 - 1925) đã thiết kế chiếc máy bay có hình thù nửa dơi, nửa máy hơi nước mang tên Éole.

Khi được vận hành thử vào năm 1890, nó đã bay lên được một vài mét nhờ động cơ hơi nước trọng lượng thấp.

Máy bay "Éo le" của Clément Ader.

Sau đó, Ader bắt đầu chế tạo một chiếc máy bay mới mang tên Avion II. Dù Ader nói rằng ông đã bay thử nó vào năm 1892, nhưng rốt cục không ai tin ông cả, và cũng không có bằng chứng chứng minh điều này. Thậm chí, người ta cho rằng dự án này đã bị bỏ giữa chừng.

3. Nhà thiên văn học Samuel Langley

Samuel Langley

Vào năm 1891, nhà thiên văn học người Mỹ - Samuel Langley (1834 - 1906) bắt đầu bắt tay vào thiết kế mô hình máy bay vận hành bằng động cơ hơi nước và xăng.

Đến năm 1896, ông hoàn thành và đặt tên cho chiếc máy bay không người lái này là Aerodrome số 5. Sử dụng hệ thống hơi nước một xi-lanh, nó đã bay được 1 km phía trên dòng sông Potomac sau đó hạ cánh xuống nước.

Máy bay Aerodrome Number 5 của Samuel Langley.

6 tháng sau, anh em của nó, Aerodrome số 6 thì bay được đến 1,5km.

Và người anh em của nó - Aerodrome Number 6.

Lại nói về Clément Ader. Học hỏi từ Langley, Ader đã cho ra mắt chiếc máy bay đời thứ 3 của ông, có tên gọi Avion III. Được lên ý tưởng từ năm 1982, nó có hình dáng to, đẹp và ra dáng loài dơi hơn Éole. Nhưng vào năm 1897, dù chưa cất cánh, nó đã gặp sự cố và hư hỏng nặng; từ đó Ader không còn thiết tha với việc chế tạo máy bay nữa.

Và thế là Langley trở thành người dẫn đầu ngành hàng không thế giới. Nhờ các mối quan hệ chính trị của mình, ông được Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ và Viện Smithsonian trao tặng 70.000 đôla (hơn 1,5 tỷ đồng theo tỉ giá hiện tại) để tiếp tục nghiên cứu và chế tạo máy bay.

Với số tiền đó, năm 1898, Langley bắt tay vào chế tạo một chiếc máy bay mới mang tên 50-hp Aerodrome A. Sau hai lần chạy thử, một phần của nó đã bị kẹt vào máy phóng và chìm luôn xuống sông. Tóm lại là thất bại!

Chiếc máy bay 50-hp Aerodrome A của Samuel Langley.

4. Nhà phát minh người Đức - Karl Jatho

Karl Jatho

Cũng vào năm 1897, một nhà phát minh người Đức tên Karl Jatho (1873 - 1933) đã dựng nên một chiếc máy bay ba lớp, nhìn vào giống như người lái bị mấy lớp đĩa kẹp vậy. Dù không có hệ thống điều khiển, nó đã bay được lên khoảng 1m và di chuyển được 18m.

Vào năm 1903, chiếc máy bay mới chỉ có hai lớp của ông đạt được độ cao 3m và đi được 60m nhưng vẫn chưa có hệ thống điều khiển. Jatho thừa nhận rằng, máy bay của ông chỉ đơn giản là quá yếu nên không thể bay cao và nhanh hơn được.

Chiếc máy bay của Karl Jatho.

5. Anh em nhà Wright

Anh em nhà Wright.

Sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc đến anh em nhà Wright trong danh sách này. Từ năm 1899 đến năm 1902, hai anh em Orville và Wilbur Wright hì hục thiết kế, bay thử và hoàn thiện các phiên bản tàu lượn của mình ở North Carolina. Sang năm 1903, họ chạy thử chiếc máy bay mang tên Flyer cải tiến từ tàu lượn bằng đường trượt.

Wilbur đã điều khiển Flyer bay lên cao tận 34 m. Nhưng khi hạ cánh, bánh lái phía trước của nó lại bị hư hỏng nặng.

Chiếc máy bay Flyer của anh em nhà Wright.

Ba ngày sau, sau khi sửa lại bánh lái, họ đặt đường ray trượt trên nền đất phẳng và bay 4 lượt. Orville và Wilbur thay phiên nhau điều khiển. Lượt bay sau lại có thời gian dài hơn lượt bay trước và không gặp bất kỳ sự cố nào cả. Lượt cuối cùng đạt được độ cao 3m và di chuyển được đến 260m.

Xui xẻo thay, trên đường về kho đựng, Flyer bị gió thổi lộn vòng và hư hỏng nặng. Hai anh em nhà Wright không sửa Flyer mà làm một máy bay khác, mang tên Flyer II.

Máy bay Flyer II.

Flyer II được công bố với báo chí vào năm 1904. Lần này, họ thực hiện các chuyến bay thử tại trường bay Huffman Prairie ở Dayton. Vì gió ở đây khá nhẹ, họ đã dựng nên một máy phóng. Flyer II đã đạt kỷ lục khi bay vòng quanh được tận 5 phút.

Năm 1905, Flyer III chính thức cất cánh. Wilbur đã lái nó qua 40 km trong vòng 38 phút trước khi hạ cánh vì cạn nhiên liệu. Nghĩa là phi công muốn dừng lúc nào cũng được.

Và máy bay Flyer III.

Một tuần sau đó, Liên đoàn Thể thao hàng không Thế giới (FAI) được thành lập ở Paris. Họ treo thưởng cho các hạng mục, như bay được trên 25 m hay đến 100 m chẳng hạn. Tuy nhiên không rõ vì lý do gì, máy bay anh em nhà Wright lại không đủ tiêu chí nhận thưởng.

5. Phi công Alberto Santos-Dumont

Phi công người Brazil này chính là nhân vật đã được vinh danh tại Olympic Rio 2016. Lúc bấy giờ, sau khi đã chế tạo thành công khí cầu có động cơ, ông chuyển sang chế tạo máy bay vào cuối năm 1905 với đích ngắm là giải thưởng của FAI.

Năm 1906, ông cho chạy thử chiếc máy bay 14-bis của mình. Nó di chuyển được khoảng 7m trong vòng tay tán thưởng của mọi người xung quanh. Hơn một tháng sau đó, nó bay được 60m và nhận được giải thưởng đầu tiên của FAI.

Nhờ được gắn thêm cánh phụ để dễ giữ thăng bằng hơn, 14-bis sau đó đã bay được tận 220m.

Chiếc máy bay 14-bis của Alberto Santos-Dumont (1873 - 1932).

Nhiều người đã chỉ ra thiếu sót trong các tiêu chí nhận giải của 14-bis và cho rằng FAI đã thiên vị Santos-Dumont vì lúc này ông đang sống ở Pháp.

Giờ chắc bạn đã đoán ra được lý do vì sao Alberto Santos-Dumont lại được tưởng niệm ở lễ khai mạc Olympic rồi nhỉ? Dù 14-bis ra đời và bay sau Flyer của anh em nhà Wright đến 3 năm, lại có thời gian bay ngắn hơn và khó điều khiển hơn, nhưng nó lại được cho là có chuyến bay thành công đầu tiên trên thế giới vì được công nhận bởi FAI.

Vậy rốt cuộc ai là người đầu tiên chế tạo máy bay? Câu trả lời là ở bạn thôi. Dù sao thì khoa học và lịch sử không phải lúc nào cũng là nhân tố quyết định mọi vấn đề.

 

 

Ngọc Lang st  ˜*. ˜”*°.˜”*°••°*”˜.°*”˜ 

 

Xem thêm...

Tên Người Việt trên nhà máy đúc tiền Hoàng gia Canada

Tên Người Việt trên nhà máy đúc tiền

Hoàng Gia Canada

Tiến Sĩ TRƯƠNG CÔNG HIẾU

Tiến Sĩ Trương Công Hiếu nguyên là cựu học sinh trường Jean-Jacques Rousseau ở Saigon, sau khi đậu Tú Tài II Ban Toán năm 1959, Ông được học bổng sang Hoa Kỳ để theo học ngành kỹ thuật tại trường Đại Học New York. Ông là sinh viên đậu Thủ Khoa khi lấy bằng kỹ sư và theo học lấy bằng Master về Kỹ Sư Hóa Học của trường Đại Học New York. Năm 1964 Ông trở về Việt Nam đi dạy ở trường Cao Đẳng Hóa Học và trường Cán Sự Hóa Học ở Phú Thọ và được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng của trường nầy. Sau 3 năm là giáo sư ở trường Hóa Học nói trên Ông trở lại Hoa Kỳ để lấy bằng Tiến Sĩ Kỹ Sư vào năm 1971.

Giáo Sư Trương Công Hiếu và các sinh viên Trường Cao Đẳng Hóa Học Phú Thọ 1-Feb-1966

Sau 1971 Ông rời Mỹ sang định cư ở Canada đảm trách chức vụ kỹ sư tại nhiều công ty lớn:

* / Ông là Giám Đốc Kỹ Thuật của Công Ty Groupe Victoriaville, Québec, Công Ty sản xuất bàn ghế lớn nhất ở Québec, Canada.

*/ Ông làm Giám Đốc Sản Xuất của Công Ty Bombardier. Công Ty Bombardier chuyên sản xuất xe chạy trên tuyết (Snowmobile), xe chạy dưới đường hầm (Subway), máy bay Canadair Regional Jet (loại máy bay jet bay đường ngắn).

*/ Năm 1978 Ông vào làm việc cho Công Ty Đúc Tiền Kim Loại Hoàng Gia Canada (Royal Canadian Mint). Nơi đây ông được giữ nhiều trọng trách trông coi về phần kỹ thuật đúc tiền kim loại và đến năm 1980 Ông được bổ nhiệm làm Giám Đốc Kỹ Thuật của Công Ty Đúc Tiền Kim Loại Hoàng Gia Canada.

Năm 2006 Ông được đề cử làm Tổng Giám Đốc Kỹ Thuật Ban Khảo Cứu của Công Ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada (Royal Canadian Mint).

Royal Canadian Mint

Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nã Đại, là Tổng Công Ty của chính phủ Canada, được thành lập vào năm 1908 tại Ottawa để sản xuất tiền kim loại cho Canada và tinh chế vàng ròng được vận chuyển từ rất nhiều mỏ vàng ở Quebec, Ontario, Manitoba, phía Bắc Alberta và British Columbia.

Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại chuyên sản xuất tiền xu lưu hành và đồng phôi với cao độ dập tự động cho hơn 80 quốc gia trên thế giới tại cơ sở đúc tiền ở Winnipeg.Những kỹ thuật chuyên sản xuất những loại tiền xu lưu niệm, những loại tiền kim loại quý như vàng, bạc, bạch kim, palladium để đầu tư trên thế giới đều được sản xuất tại cơ sở lịch sử Ottawa.

Năm 2008 Canada tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày thành lập Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nã Đại (Royal Canadian Mint) để đánh dấu sự thành công của Công Ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada được nổi danh là một công ty hàng đầu của thế giới về những kỹ thuật và những phát minh hiện đại, những hiểu biết sâu rộng về khoa học và kỹ thuật đúc tiền.

Trong quyển sách: "Lịch Sử 100 Năm của Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nã Đại", "ROYAL CANADIAN MINT 100 YEARS OF HISTORY" Tiến Sĩ Trương Công Hiếu đã được ghi nhận là người đầu tiên trên thế giới đã thay đổi hệ thống đúc tiền bằng những kỹ thuật dùng kim loại và thép để làm cho đồng tiền mỏng hơn, nhẹ hơn và không bị rỉ sét.

Ngày nay những kỹ thuật hiện đại của Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại do Ông phát minh đã thay đổi tất cả tiền lưu hành hiện tại của nước Canada. Ông là người đầu tiên và duy nhất phát minh kỹ thuật in màu trên tiền kim loại lưu hành giống như in mầu trên giấy bạc bằng cách sử dụng tia laser để đổi màu trên tiền kim loai... 

Những phát minh mới về kỹ thuật đúc tiền của Ông hiện nay đã tạo nhiều ảnh hưởng về hình thức và phương cách đúc tiền kim loại trên thế giới như: tinh chế vàng nguyên chất 4 số 9 (.9999) làm tiêu chuẩn quốc tế từ năm 1982, và kỹ thuật lọc vàng 5 số 9 (.99999), kỹ thuật mạ đa lớp trên thép ( kỹ thuật nầy đang được xữ dụng trong tiền kim loại của hơn 35 nước trên thế giới ).

Ngoài ra Ông cũng là người đã phát minh [COLOR=maroon]kỹ thuật sản xuất tiền xu với hình ảnh ba chiều (hologram), và dùng kiến thức DNA trong tiền lưu hành và vàng để bảo mật và định tính xác thực đồng tiền vàng ròng của Canada lưu hành ở bất cứ nơi nào trên thế giới qua hệ thống vệ tinh điện thoại di động (smartphone).

Tiến Sĩ Trương Công Hiếu là người có nhiều phát minh và sáng chế trong ngành kỹ thuật đúc tiền kim loại với hơn 10 bằng sáng chế đã được nhiều nước trên thế giới và Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nã Đại ghi nhận là quá xuất sắc.

Hiện nay tiền xu ở các nước như: Canada , Singapore, New Zealand, Barbados , Ghana, Ethiopia , Thailand, Philippines , Venezuela, Panama, Albania, United Arab Emirates… cũng đang dùng những kỹ thuật của Ông. Chính phủ Mỹ cũng đã bình chọn kỹ thuật của Ông để đưa vào áp dụng trong chương trinh tuyển lựa kim loại mới cho ngành tiền tệ của Mỹ, do Thượng và Hạ Nghị Viện Mỹ chấp thuận cho phép chánh phủ Obama thay đổi tiền tệ Mỹ trong tương lai.

Trong quyển sách: "Chuyện Kể Về Các Cuộc Triển Lãm Tiền Xu Quốc Tế", "STORY OF WORLD MONEY FAIR" được xuất bản vào năm 2012, tác giả Albert M Beck, Chủ Tịch và Sáng Lập Viên của Hội Chợ Quốc Tế Tiền Tệ Berlin tại Đức đã viết và bình luận về Tiến Sĩ Trương Công Hiếu như sau:

"Trong 40 năm vừa qua người mà có công lao nhiều nhất trong sự tiến bộ về nghành đúc tiền trên thế giới, người đã đóng góp nhiều nhất về những kiến thức mới về nghành đúc tiền trên thế giới chính là Tiến Sỉ Hieu C. Truong của Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại".

Ông M. Beck cũng đưa thêm lời bình luận: " Tôi cho rằng ông Hieu C. Truong là người có công nhiều nhất đối với ngành kỹ thuật đúc tiền kim loại của thế giới. Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nã Đại cũng công nhận rằng Tiến Sỉ Trương Công Hiếu là người kỹ sư nổi tiếng nhất trên thế giới và là người hiểu biết nhiều nhất trong kỹ thuật đúc tiền. Theo tôi ai muốn biết kỹ thuật đúc tiền sẽ đi về hướng nào trong tương lai thì nên hỏi ông Hiếu ".

Để tiếp tục lưu danh là một Công Ty dẫn đầu thế giới về kỹ thuật đúc tiền và để thành công trong những lảnh vực phát triển các công nghệ mới hầu phục vụ ngành công nghiệp đúc tiền của thế giới và cũng để tôn vinh và ghi nhớ những công trạng của Tiến Sỉ Trương Công Hiếu đối với Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại, Royal Canadian Mint đã cho xây dựng một Trung Tâm Khảo Cứu Xuất Sắc và Hiện Đại với ngân sách 10 triệu đô la tại Winnipeg và đặt tên cho cơ sở khảo cứu về kỹ thuật đúc tiền vừa mới xây dựng nầy là:

TRUNG TÂM KHẢO CỨU XUẤT SẮC Tiến Sĩ TRƯƠNG C. HIẾU 
( Dr. HIEU C. TRUONG CENTER OF EXCELLENCE)
Royal Canadian Mint, Winnipeg, Manitoba, Canada (Hình do TS Hiếu cung cấp) 

Cơ sở khảo cứu nầy đã được khánh thành vào ngày 13 tháng 6 năm 2013 cùng lúc với nhà máy mạ thứ hai được xây dựng với ngân sách 70 triệu đôla. Tất cả những cơ sở nầy là nơi mà những kỹ thuật mới nhất về đúc tiền trong lảnh vực khoa học, trong lảnh vực tự động hóa qua máy vi tính, trong kiến thức mới nhất với điện tín vệ tinh, phát triển phần mềm, khoa học vật liệu trong việc quản lý tiền tệ, trong lảnh vực thông tin liên lạc bằng điện thoại hoán chuyển thói quen của người tiêu dùng ... tất cả những phát minh mới về tiền tệ của Tiến Sỉ Trương Công Hiếu sẽ được đưa vào áp dụng và sẽ được phát triển tại nơi nầy để phục vụ cho các thế hệ trong tương lai.

Trung Tâm Khảo Cứu mới nầy cũng sẽ là nơi được dùng để đào tạo các kỹ sư, các nhà quản lý và các giám đốc của các Nhà Máy Đúc Tiền trên thế giới. Những người đi tu nghiệp sẽ được đưa đến Trung Tâm nầy để học các kỹ thuật căn bản cũng như các kỹ thuật hiện đại về đánh tiền, vì từ trước đến nay kỹ thuật nầy chưa từng được giảng dạy tại một trường đại học nào trên thế giới. Trung Tâm Khảo Cứu nầy cũng sẽ là nơi hội tụ của các kỹ sư, các nhà khảo cứu trên thế giới tìm đến với nhau để cùng nhau hợp tác khảo cứu về môn đúc tiền.

Ngoài việc phục vụ cho đất nước Canada, Tiến Sĩ Trương Công Hiếu cũng tham gia và ủng hộ các chương trình họat động của Cộng Đồng Việtnam tại Canada. Ông làm có vấn cho các tổ chức: Thể Thao Người Việt Bắc Mỹ lần thứ IX được tổ chức tại Ottawa năm 1981, Ủy Ban Lập Đền Kỹ Niệm của Liên Đoàn Hội Người Việt, bao gồm 11 Hội Người Việt của các địa phương khắp nước Canada, Ủy Ban xây dựng Trung Tâm Văn Lang, ngân sách do chánh phủ Ontario, Canada tài trợ. Trung Tâm Văn Lang là một chung cư gồm 80 căn hộ được xây dựng lên để nâng đở, trợ giúp cho những bô lão người Việt và những hộ gia đình có nguồn lợi tức thấp có được nơi ổn định cho đời sống. Ông cũng cộng tác với Hội Phật Giáo Người Việt xây dựng lên Chùa Từ Ân với kiến trúc thuần túy của một ngôi chùa Việt Nam tại thủ đô Ottawa.

Tiến sĩ Trương Công Hiếu được coi là một công dân Canada gốc Việt gương mẫu, thành công, là một trong những người có công đầu đưa Royal Canadian Mint Công Ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada trở thành nỗi tiếng thế giới về kỹ thuật đúc tiền bằng phương pháp hiện đại.

Những nỗ lực không ngừng nghỉ

Trở về nước năm 1964, ông Trương Công Hiếu dạy học tại trường Cao Đẳng Hóa Học và trường Cán Sự Hóa Học thuộc Trung tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, được bổ nhiệm làm hiệu trưởng Trường Cán Sự Hoa Học Phú Thọ.

Năm 1967 ông trở lại Hoa Kỳ, lấy bằng tiến sĩ kỹ sư năm 1971. Sau đó, ông sang Canada làm giám đốc kỹ thuật Groupe Victoriaville, một công ty chuyên sản xuất bàn ghế và vật dụng bằng nhựa ở Quebec.

Năm năm sau, rời Groupe Victoriaville, ông Trương Công Hiếu sang làm giám đốc sản xuất cho công ty Bombardier của Đức ở Canada, chuyên sản xuất loại xe chạy trên tuyết (Snowmobile), xe chạy dưới đường hầm(subway) và phi cơ y phản lực đường bay ngắn (Canada Air Regional Jet).

Đến năm 1978, tiến sĩ Trương Công Hiếu vào làm việc cho Royal Canadian Mint, Công Ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada. Đây là lúc khả năng chuyên môn của một tiến sĩ hóa học phát huy tối đa, đưa ông đến những chức vụ và những phát minh vô cùng quan trọng:

“Tôi làm ở Bombadier 3 năm với tư cách giám đốc của nhà máy sản xuất, sau đó tôi mới gia nhập Công Ty Đánh Tiền Hoàng Gia Canada, vì bằng kim loại nên phải dùng là “đúc tiền, dập tiền hay đánh tiền.”

Tiến sĩ Trương Công Hiếu làm việc ở Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Royal Canadian Mint.

Hình do TS Hiếu cung cấp. 

Tưởng cần biết Royal Canadian Mint Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Canada được thành lập năm 1908 tại thủ đô Ottawa. Đây là cơ sở lâu đời chuyên sản xuất tiền kim loại đồng thời tinh chế vàng ròng từ các tỉnh bang chuyển về như Quebec, Ontario, Manitoba, Bắc Alberta và British Columbia.

Công việc ở Công Ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada hoàn tàn khác với công việc của hai công ty Groupe Victoriaville và Bombadier mà tiến sĩ Trương Công Hiếu đã từng làm qua. Với ông, chỉ một kinh nghiệm duy nhất mang theo khi còn làm với công ty Bombardier là khả năng và mức độ chính xác:

Khi còn làm máy bay thì tất cả mọi việc phải thật là chính xác , vậy thì đúc tiền cũng phải thật là đúng, thật là chính xác. Có thể nói là trước tôi chỉ dùng cái năng lực kỹ sư thôi, rồi khi mà qua nhà máy in tiền thì mới dùng năng lực và kiến thức tiến sĩ của mình tại vì nó cao hơn và khó hơn. Ngành đúc tiền không có đại học nào trên thế giới dạy, mỗi quốc gia đều bảo mật kỹ thuật của mình hết.”

Thoạt đầu, tiến sĩ Trương Công Hiếu giữ chức giám đốc sửa chữa máy móc và sản xuất khuôn đúc tiền. Sau một thời gian, ông được đôn lên chức Giám Đốc Kỹ Thuật (Director Of Emgineering):

“Có những cái phải theo kịp những nhà máy đánh tiền khác trên thế giới, phải tự mình phát minh ra chứ đâu có trường nào dạy, lúc làm việc thì mình lấy kiến thức của mình để thử thêm, mình mở rộng thêm. Nhiều khó khăn chứ không phải là không có, khó khăn tự mình phải vượt qua chứ không có sự dìu dắt của ai hết.”

Trong 35 năm phục vụ trong Công Ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada, tiến sĩ Trương Công Hiếu là người lần lượt sửa đổi và thực hiện những kỹ thuật mới mà chưa một nhà máy đúc tiền nào trên thế giới có được lúc đó:

Tôi phải tự chế cái máy đó ra, lúc mà đưa cái ý đó thì không có ai tìn mình có thể làm được hết tại vì nó quá mới và không có căn cứ nào cho biết rằng có thể thành công được hết.”

Ông cũng là người đầu tiên đã phát minh kỹ thuật in màu trên đồng tiền kim loại lưu hành bằng cách sử dụng tia laser để đổi màu trên tiền kim loại:

“Ngay cái đồng tiền bên Mỹ chưa có mà bên Canada đã có rồi là đồng tiền 2 đô la Canada mà có 2 màu vàng và trắng. Hiện nay thì nhiều nước trên thế giới đã dùng cái hình thức mà tôi là người đầu tiên trên thế giới có bằng sáng chế và đưa kỹ thuật đó vào ngành đúc tiền.”

Rạng danh người di dân Việt Nam

Năm 2006, tiến sĩ Trương Công Hiếu được bổ nhiệm chức Tổng Giám Đốc Kỹ Thuật Ban Khảo Cứu, trở thành viên chức cao cấp nhất trong lãnh vực đúc tiền của Canada.

Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Royal Canadian Mint chuyên sản xuất tiền xu để lưu hành và đồng phôi với cao độ dập tự động cho hơn 80 quốc gia trên thế giới tại cơ sở đúc tiền ở Winnipeg.

Bên cạnh đó, kỹ thuật đúc tiền xu để lưu niệm và những đồng quí kim có giá trị cao như vàng, bạc, bạch kim... gọi chung là tiền đầu tư trên thế giới, thì được sản xuất tại cơ sở lịch sử Ottawa.

Tiến sĩ Trương Công Hiếu làm việc ở Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Royal Canadian Mint.

Hình do TS Hiếu cung cấp. 

Nói một cách khác, cơ sở đúc tiền chính trực thuộc Bộ Tài Chính nằm ở Ottawa và có một nhà máy lọc vàng cũng ở Ottawa. Nhà máy đúc tiền thứ ba ở thành phố Winnipeg, nơi một cơ sở hiện đại được xây lên từ 2013 là Trung Tâm Khảo Cứu Xuất Sắc Tiến Sĩ Trương Công Hiếu, Dr. Hieu Truong Center Of Excellence, khánh thành năm 2013, để vinh danh người đã cải tiến kỹ thuật và hệ thống đúc tiền xu lưu hành lẫn tiền kim loại dành cho lưu niệm.

Suốt 35 năm làm việc cho Royal Canadian Mint Nhà Máy Đúc Tiền Canada, tiến sĩ Trương Công Hiếu có 10 bằng sáng chế được chi nhận là xuất sắc.

Tính đến lúc này, ngoài Canada, nhiều cơ sở đúc tiền xu trên thế giới như Singapore, New Zealand, Barbados, Ghana, Ethiopa, Thái Lan, Philippines, Venezuela, Panama, Albanie, United Emirates đang sử dụng kỹ thuật đúc tiền qua công trình phát minh của tiến sĩ Trương Công Hiếu.

Năm 2012, tác giả quyền sách có tên Story Of World Money Fair Chuyện Kể Về Những cuộc Triển Lãm Tiền Xu Thế Giới, ông Albert M. Beck, chủ tịch kiêm sáng lập viên của Hội Chợ Quốc Tế Về Tiền tệ tại Berlin, Đức, viết rằng “Trong 40 năm qua người bỏ công lao nhiều nhất cũng như đóng góp rất nhiều kiến thức mới nhất vào ngành đúc tiền trên thế giới chính là tiến sĩ Trương Công Hiếu của Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Canada”.

Có thể nói không ngoa rằng tiến sĩ Trương Công Hiếu là trường hợp người Việt Nam duy nhất hoạt động trong lãnh vực đúc tiền ở một đất nước tân tiến như Canada với một chức vụ cao trọng cấp và nhiều bằng sáng chế có giá trị thực dụng:

“Tôi không dám nói là tôi thành công nhưng chính phủ Canada cho rằng chúng tôi thành công. Tại vậy nên chính phủ Canada để tên tôi lên trên nhà máy.”

Còn nhớ hồi 2015, khi cuộc khủng hoảng di dân với cả triệu người Syria và dân các nước phụ cận đổ dồn vể Châu Âu, chính phủ Canada cam kết nhận 25.000 người tị nạn Trung Đông và đến tháng Hai 2016 thì chương trình hoàn tất.

Bước qua tháng Giêng 2016, tiến sĩ Trương Công Hiếu được mời đến trụ sở Royal Canadian Mounted Police, Cảnh Sát Liên Bang Canada, trong một buổi thuyết trình có tên Diversification And Inclusion, Đa Dạng Và Hội Nhập.

Mục đích của buổi thuyết trình, theo diển giả Trương Công Hiếu, là thông điệp đừng nên coi rẻ người di dân hay tị nạn mà chính phủ Canada mong muốn dân chúng thông hiểu:

“Cảnh sát cũng thấy chuyện này xảy ra thành họ muốn tránh. Điều tôi muốn nói ở đây là phải thận trọng, coi thường, đánh đập di dân là không được. Di dân cũng gặp nhiều khó khăn chứ không phải mọi việc đều tươi sáng hết.

Tôi cũng cho họ một vài thí dụ như hồi còn nhỏ con tôi đi ngoài đường bị đánh tại nó là dân da vàng, nó còn bị nói là “đi về nước mày đi”. Mình đừng nên lấy cái đó mà khổ sở hay thù ghét người Canada, mình phải ngó về cái phương thức hay hơn, tốt hơn. Làm thế nào mình thăng tiến trong lãnh vực chuyên môn của mình, làm cách nào cho đất nước Canada được thăng tiến.Thì người nghe họ cũng biết rằng di dân cũng có công trong nền kinh tế và sự phát triển của Canada vậy.

Đối với những người Canada gốc Việt, tiến sĩ Trương Công Hiếu đã làm rạng danh di dân Việt trên đất nước Canada mà họ nhận là quê hương tươi đẹp thứ hai của mình.

 

Kim Quy st

Xem thêm...

Chiêm Ngưỡng Những Đồ Vật Bằng Vàng Có Giá Trị Hàng Triệu Đô La Trên Thế Giới

Chiêm Ngưỡng Những Đồ Vật Bằng Vàng Có Giá Trị Hàng Triệu Đô La Trên Thế Giới

٠ Ƹ̵̡Ӝ̵̨̄Ʒ ٠ 

 

Chỉ biết đến tên mà chưa bao giờ được chiêm ngưỡng được hình ảnh thì đây là dịp bạn được thưởng thức những của độc trên thế giới. Chỉ là mô hình ô tô thôi mà giá trị của nó gấp bao nhiêu lần sản phẩm thật. Thật quá bất ngờ với những đồ vật đắt giá với trị giá lên đến hàng triệu đô la .

1- Lamborghini

Đồ vật bằng vàng đắt nhất thế giới là một chiếc Lamborghini làm từ 500kg vàng nguyên chất, kết hợp cùng bạch kim và được làm tăng thêm giá trị với kim cương. Giá trị ước tính của chiếc Lamborghini này là 62 triệu đôla. Mặc dù đây là phiên bản nhỏ hơn chiếc xe nguyên bản nhưng lại có đắt hơn nhiều lần.

  1. iPhone 5 kim cương đen

iPhone 5 kim cương đen là chiếc điện thoại đắt nhất được chế tạo trên thế giới với giá trị 15 triệu đôla. Nó được Stuart Hughes sáng tạo ra và mất 9 tuần để hoàn thiện. Chiếc điện thoại làm bằng vàng, được gắn với những viên kim cương đen 26 carat, màn hình làm từ kính sapphire và logo quả táo ở mặt sau được làm từ 53 viên kim cương quý.

  1. Đồng hồ bỏ túi

Một đồng hồ bỏ túi bằng vàng được Philippe Patel thiết kế với giá trị ước tính khoảng 11 triệu đôla. Phải mất gần 5 năm để hoàn thành thiết kế này. Đồng hồ làm từ vàng 18karat tinh khiết, có 24 tính năng. Đây là chiếc đồng hồ phong cách, tinh tế và xứng đáng với số tiền mà người mua bỏ ra để sở hữu nó.

  1. Cây thông Noel

Cây thông Noel Abu Dhabi sẽ khiến ngày Giáng sinh của bạn trở nên sang trọng hơn bao giờ hết. Đó là một cây thông Noel đắt tiền nhất thế giới được đặt ở Abu Dhabi với giá 11 triệu đôla. Cây cao gần 13 mét, được tô điểm với 181 đồ trang trí bằng kim cương, đá quý và những hộp quà gói bằng giấy vàng đặt ở gốc cây.

  1. Phỉnh Poker

Poker là trò cờ bạc nổi tiếng thế giới. Tất cả những tay chơi poker chắc chắn sẽ muốn sở hữu phỉnh poker thiết kế bởi Geoffrey Parker, được bán với giá 7,5 triệu đôla. Nó được làm từ vàng trắng 18 carat cùng 384 viên kim cương với những miếng lót bằng da cá sấu.

  1. Bugatti Veyron kim cương

Mô hình chiếc xe Bugatti Veyron này có giá trị ước tính khoảng 4 triệu đôla, đắt hơn nhiều lần giá một chiếc xe thật. Đây là thiết kế của Stuart Hughes, nặng 7kg, làm từ vàng 24 carat và kim cương. Xe có chức năng lái và được bày trong nhà như một món đồ trang trí sang trọng.

  1. Nhà vệ sinh và giấy vệ sinh bằng vàng

Nhà vệ sinh và giấy vệ sinh là những vật dụng không thể thiếu trong mỗi ngôi nhà. Nhưng chỉ những triệu phú đôla mới có khả năng sở hữu nhà vệ sinh bằng vàng với giá trị ước tính 2,5 triệu đôla và cuộn giấy vệ sinh cũng bằng vàng với giá ước tính 1,3 triệu đôla. Đây là một phòng vệ sinh đặt tại Hong Kong của tập đoàn công nghệ vàng. Các bức tường của nó làm bằng vàng cùng rất nhiều đồ trang trí. Trong mỗi nhà tắm đều có một chai champagne như một món quà tặng cao cấp.

  1. Đồng tiền vàng Elizabeth

Có rất nhiều đồng tiền quý có giá trị trên thế giới nhưng đồng tiền vàng Elizabeth này làm hoàn toàn từ vàng tinh khiết 99%. Trọng lượng của đồng xu vàng này là 90kg, với giá trị ước tính 997 nghìn đôla. Trên mặt của đồng xu là hình nữ hoàng Elizabeth với vòng nguyệt quế đội trên đầu.

Hồng Vân sưu tầm

 

 

Xem thêm...

Tại sao bầu trời có màu xanh?

Tại sao bầu trời có màu xanh?

Ai cũng biết bầu trời có màu xanh, nhưng không phải mọi người đều biết vì sao bầu trời lại có màu xanh.
Trên không trung trái đất, có một tầng khí quyển rất dày bao trùm cả trái đất.
Lớp không khí đó chỉ là một màu trong suốt, vậy màu "xanh da trời" ấy từ đâu đến?

Lý giải nguyên nhân bầu trời có màu xanh

Ánh sáng khả kiến (ánh sáng nhìn thấy được) là một phần của phổ điện từ mà mắt người có thể nhìn thấy được.
Ánh sáng từ mặt trời hay bóng đèn điện được gọi là ánh sáng trắng.
 
Tại sao bầu trời có màu xanh?
 
Ánh sáng mặt trời có 7 gam màu: đỏ, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Mỗi màu sắc tương ứng với 1 bước sóng, tần số và mang năng lượng khác nhau. Ánh sáng tím có bước sóng ngắn nhất trong dải quang phổ khả kiến. Điều này đồng nghĩa với việc tần số và năng lượng của ánh sáng tím là cao nhất trong dải quang phổ khả kiến. Ngược lại, ánh sáng đỏ có bước sóng dài nhất, tần số thấp nhất và sẽ mang ít năng lượng nhất.

Ánh sáng trong không khí

Ánh sáng di chuyển trong không gian theo đường thẳng nếu không có gì làm nó bị nhiễu loạn. Khi ánh sáng di chuyển vào trong bầu khí quyển, nó tiếp tục đi theo đường thẳng cho đến khi gặp phải các hạt bụi nhỏ hoặc các phân tử khí cản lại. Kể từ lúc này, những gì xảy ra với ánh sáng phụ thuộc vào bước sóng của nó và kích thước của những vật mà nó chiếu vào.
Những hạt bụi và nước trong không khí có kích thước lớn hơn so với bước sóng của ánh sáng khả kiến. Khi ánh sáng chiếu vào những hạt có kích thước lớn hơn, nó sẽ bị phản xạ lại theo nhiều hướng khác nhau hoặc bị các vật cản hấp thu. Do các màu sắc khác nhau trong ánh sáng đều bị phản xạ lại từ các hạt theo cùng một hướng nên ánh sáng phản xạ từ các hạt cản vẫn là ánh sáng trắng và chứa tất cả các màu ban đầu.
 
Ngoài bụi và nước, trong khí quyển cũng chứa các phân tử khí. Các phân tử khí này có kích thước nhỏ hơn so với bước sóng của ánh sáng khả kiến. Nếu ánh sáng trắng chiếu vào các phân tử khí, thì chuyện không đơn giản như khi chiếu vào bụi hay các hạt nước.
Khi ánh sáng chiếu vào phân tử khí, "một phần" của nó có thể bị phân tử khí hấp thụ. Sau đó, các phân tử khí sẽ bức xạ ánh sáng theo nhiều hướng khác với ban đầu. Sở dĩ có khái niệm "một phần" xuất hiện ở đây là vì sẽ có một số bước sóng trong ánh sáng trắng (tương ứng với các màu sắc) dễ bị hấp thụ, một số bước sóng khác khó bị hấp thụ hơn. Nói cách khác, một số bước sóng ngắn (như màu xanh dương) sẽ bị hấp thụ nhiều hơn so với các bước sóng dài (như màu đỏ).
 
Tại sao bầu trời có màu xanh?
Nhà vật lý học người Anh John William Strutt, 3rd Baron Rayleigh (1842-1919) 
Người đề xuất phương trình xác định hệ số tán xạ Rayleigh giúp lý giải nguyên nhân bầu trời có màu xanh​
 
Quá trình trên được gọi là tán xạ Rayleigh. Hiện tượng được đặt theo tên của người phát hiện ra nó: Lord John Rayleigh, một nhà vật lý học người Anh. Vào năm 1871, Rayleigh đã đưa ra phương trình tính hệ số tán xạ của một vật tỷ lệ nghịch với bước sóng ánh sáng (ký hiệu là lamda) mũ 4. Nói cách khác, ánh sáng có bước sóng càng ngắn thì càng bị tán xạ nhiều hơn và ngược lại.

Đã có thể trả lời câu hỏi ban đầu: Màu xanh của bầu trời là do tán xạ Rayleigh

Do bước sóng của ánh sáng (100~1000 nm) lớn hơn so với kích thước của các phân tử khí (10 nm) nên chúng ta có thể áp dụng công thức tán xạ Rayleigh cho hiện tượng tán xạ ánh sáng trong khí quyển của Trái Đất.
Tại sao bầu trời có màu xanh?
 
Khi ánh sáng đi vào khí quyển của Trái Đất, hầu hết những bước sóng dài đều không bị các phân tử khí hấp thụ nên có thể đi xuyên qua. Một ít ánh sáng đỏ, cam, vàng có thể bị ảnh hưởng của không khí. Tuy nhiên, một lượng lớn bước sóng ngắn đã bị các phân tử khí hấp thụ. Ánh sáng bước sóng ngắn bị hấp thụ sau đó sẽ được tán xạ ra ngoài theo rất nhiều hướng khác nhau.
Tại sao bầu trời có màu xanh?
 
Lúc này, ánh sáng xanh sẽ tán xạ khắp bầu trời. Vào ban ngày, cho dù bạn đứng ở bất cứ đâu và nhìn theo hướng nào thì một số ánh sáng xanh bị tán xạ luôn hướng tới mắt của bạn. Do đó, khi bạn ngước nhìn lên phía trên đầu mình thì bầu trời sẽ luôn có màu xanh.
 
Nếu bạn chú ý kỹ hơn, thì khi nhìn càng gần về phía đường chân trời thì bầu trời có vẻ nhạt màu hơn. Đó là do, để đến được vị trí của bạn, ánh sáng xanh sau khi bị tán xạ phải đi qua thêm nhiều lớp không khí. Một phần tiếp tục bị tán xạ theo nhiều hướng khác. Do đó, có ít ánh sáng xanh từ phía gần chân trời tiến đến vị trí của bạn hơn so với lượng ánh sáng xanh từ đỉnh đầu bạn.
 
Tại sao bầu trời có màu xanh?
 
Một điểm khác đáng chú ý là chắc chắn nếu theo dõi đến đây, các bạn sẽ có thắc mắc rằng: Bước sóng của màu tím và màu chàm thậm chí còn ngắn hơn màu xanh, vậy lẽ ra bầu trời phải có màu tím chứ? Câu trả lời đã sẵn sàng cho các bạn.
 

Vậy tại sao bầu trời không phải là màu tím? Đó mới là bước sóng ngắn nhất mà!

Một nguyên nhân chính là do hoạt động của mắt người trong việc nhìn thấy màu sắc. Mắt người nhạy cảm với ánh sáng có bước sóng từ 380 đến 740 nm. Trên võng mạc bình thường có 10 triệu tế bào que cảm biến ánh sáng và 5 triệu tế bào hình nón phát hiện ra màu sắc. Mỗi tế bào nón có chứa sắc tố giúp phản ứng với từng loại bước sóng khác nhau. Có 3 loại tế bào nón chính tương ứng với các loại bước sóng ngắn, trung bình và dài. Chúng ta cần phải sử dụng cả 3 loại tế bào này để nhìn thấy màu sắc chính xác nhất.
Mỗi tế bào nón có phản ứng với các bước sóng tối đa là: 570 nm đối với bước sóng dài, 543 đối với bước sóng trung bình, và 442 nm đối với bước sóng ngắn. Dù vậy, 3 loại tế bào nón này có thể phản ứng với số bước sóng trên diện rộng và chồng chéo nhau. Điều này có nghĩa là sẽ có trường hợp 2 quang phổ khác nhau có thể gây ra cùng 1 phản ứng trên các tế bào nón.
2 quang phổ khác nhau nhưng cùng tạo 1 phản ứng giống nhau trên tế bào nón được gọi là đồng phân dị vị. Trở lại vấn đề bầu trời, khi bầu trời là một hỗn hợp giữa màu xanh và tím. Các tế bào nón trong mắt người sẽ phản ứng khi nhìn thấy hỗn hợp này thành hỗn hợp của màu xanh và trắng. Và cuối cùng, tín hiệu đưa về hệ thần kinh chỉ là màu xanh. Điều này tương tự như thủ thuật trộn màu đỏ và xanh lá để thành màu vàng vậy.
Dù vậy, một số loài động vật nhìn bầu trời không phải có màu xanh như con người. Ngoài con người và một số loại linh trưởng, hầu hết các loài động vật khác đều có 2 loại tế bào hình nón trong võng mạc. Do đó, các loài động vật này, như chim chẳng hạn, sẽ nhìn thấy bầu trời là màu tím.

Tại sao chúng ta nhìn thấy mặt trời có màu vàng?

Trên Trái Đất, chúng ta nhìn thấy mặt trời vào ban ngày có màu vàng. Nếu bạn đi ra không gian hoặc lên trên Mặt Trăng, bạn sẽ nhìn thấy Mặt Trời có màu trắng. Tại sao vậy? Đó đơn giản là do: Trong vũ trụ không có bầu khí quyển để tán xạ ánh sáng mặt trời.
Trên Trái Đất, một vài bước sóng ngắn của ánh sáng mặt trời (xanh dương hoặc tím) đã bị các phân tử khí hấp thụ và loại bỏ ra khỏi chùm ánh sáng chiếu trực tiếp từ mặt trời tới mắt người. Do đó, các màu còn lại cùng nhau xuất hiện chính là màu vàng.

Cuối cùng: Tại sao hoàng hôn có màu đỏ?

Khi mặt trời bắt đầu lặn, ánh sáng cần phải đi một đoạn đường dài hơn qua không khí trước khi đến vị trí mà bạn nhìn thấy. Lúc này, sẽ có càng nhiều ánh sáng bị phản xạ và tán xạ hơn. Càng có ít ánh sáng trực tiếp từ mặt trời tiếp cận tới vị trí của bạn, thì bạn sẽ nhìn thấy mặt trời càng ít phát sáng hơn. Cũng trong thời điểm này, màu sắc của mặt trời bắt đầu có sự thay đổi, từ màu vàng lúc ban ngày bắt đầu chuyển dần sang cam và sau đó đến đỏ.
 
Tại sao bầu trời có màu xanh?
Nguyên nhân chính là: Mặc dù lượng ánh sáng xanh vẫn bị tán xạ như lúc ban ngày nhưng bị tán xạ nhiều lần do phải xuyên qua lớp không khí dày mới tới được mắt người. Bên cạnh đó, các bước sóng dài (cam, vàng) trong chùm sáng chiếu trực tiếp đến vị trí của bạn ngày một ít đi. Các bước sóng dài phải vượt qua quãng đường dài hơn so với ban ngày để trực tiếp đến với vị trị của bạn. Chỉ còn lại ánh sáng đỏ ít bị tán xạ được truyền thẳng đến mắt nhiều hơn.
Do đó, bạn sẽ nhìn thấy bầu trời ngày càng đỏ dần lên. Sau khi Mặt Trời đã khuất sau đường chân trời, chúng ta không thấy trực tiếp ánh sáng của Mặt Trời; nhưng nếu có các đám mây trên cao, chúng sẽ phản xạ lại ánh sáng đỏ xuống mặt đất, tạo nên cảnh tượng tuyệt đẹp của hoàng hôn.

Kết

Tại sao bầu trời có màu xanh?
 
Cuối cùng thì chúng ta đã tìm được câu trả lời cho các câu hỏi ban đầu. Một lần nữa, các hiện tượng tưởng chừng như hiển nhiên lại ẩn chứa bên trong nó nhiều vấn đề như vậy. Thật sự là bất cứ điều gì đều có nguyên nhân của nó. Dĩ nhiên, con người ta vẫn đang ngày đêm nghiên cứu để cố gắng lý giải thêm thật nhiều hiện tượng xung quanh mà trước đây chưa có lời giải đáp. Đó là mong ước của tất cả chúng ta và đặc biệt là các nhà khoa học. Mỗi người đều có nhiều câu hỏi tại sao cho riêng mình.
 
Nguyễn Ngọc Quang (ST) Tổng hợp
Xem thêm...
Theo dõi RSS này