Khoa học kỹ thuật

Khoa học kỹ thuật (189)

Chiêm Ngưỡng Những Đồ Vật Bằng Vàng Có Giá Trị Hàng Triệu Đô La Trên Thế Giới

Chiêm Ngưỡng Những Đồ Vật Bằng Vàng Có Giá Trị Hàng Triệu Đô La Trên Thế Giới

٠ Ƹ̵̡Ӝ̵̨̄Ʒ ٠ 

 

Chỉ biết đến tên mà chưa bao giờ được chiêm ngưỡng được hình ảnh thì đây là dịp bạn được thưởng thức những của độc trên thế giới. Chỉ là mô hình ô tô thôi mà giá trị của nó gấp bao nhiêu lần sản phẩm thật. Thật quá bất ngờ với những đồ vật đắt giá với trị giá lên đến hàng triệu đô la .

1- Lamborghini

Đồ vật bằng vàng đắt nhất thế giới là một chiếc Lamborghini làm từ 500kg vàng nguyên chất, kết hợp cùng bạch kim và được làm tăng thêm giá trị với kim cương. Giá trị ước tính của chiếc Lamborghini này là 62 triệu đôla. Mặc dù đây là phiên bản nhỏ hơn chiếc xe nguyên bản nhưng lại có đắt hơn nhiều lần.

  1. iPhone 5 kim cương đen

iPhone 5 kim cương đen là chiếc điện thoại đắt nhất được chế tạo trên thế giới với giá trị 15 triệu đôla. Nó được Stuart Hughes sáng tạo ra và mất 9 tuần để hoàn thiện. Chiếc điện thoại làm bằng vàng, được gắn với những viên kim cương đen 26 carat, màn hình làm từ kính sapphire và logo quả táo ở mặt sau được làm từ 53 viên kim cương quý.

  1. Đồng hồ bỏ túi

Một đồng hồ bỏ túi bằng vàng được Philippe Patel thiết kế với giá trị ước tính khoảng 11 triệu đôla. Phải mất gần 5 năm để hoàn thành thiết kế này. Đồng hồ làm từ vàng 18karat tinh khiết, có 24 tính năng. Đây là chiếc đồng hồ phong cách, tinh tế và xứng đáng với số tiền mà người mua bỏ ra để sở hữu nó.

  1. Cây thông Noel

Cây thông Noel Abu Dhabi sẽ khiến ngày Giáng sinh của bạn trở nên sang trọng hơn bao giờ hết. Đó là một cây thông Noel đắt tiền nhất thế giới được đặt ở Abu Dhabi với giá 11 triệu đôla. Cây cao gần 13 mét, được tô điểm với 181 đồ trang trí bằng kim cương, đá quý và những hộp quà gói bằng giấy vàng đặt ở gốc cây.

  1. Phỉnh Poker

Poker là trò cờ bạc nổi tiếng thế giới. Tất cả những tay chơi poker chắc chắn sẽ muốn sở hữu phỉnh poker thiết kế bởi Geoffrey Parker, được bán với giá 7,5 triệu đôla. Nó được làm từ vàng trắng 18 carat cùng 384 viên kim cương với những miếng lót bằng da cá sấu.

  1. Bugatti Veyron kim cương

Mô hình chiếc xe Bugatti Veyron này có giá trị ước tính khoảng 4 triệu đôla, đắt hơn nhiều lần giá một chiếc xe thật. Đây là thiết kế của Stuart Hughes, nặng 7kg, làm từ vàng 24 carat và kim cương. Xe có chức năng lái và được bày trong nhà như một món đồ trang trí sang trọng.

  1. Nhà vệ sinh và giấy vệ sinh bằng vàng

Nhà vệ sinh và giấy vệ sinh là những vật dụng không thể thiếu trong mỗi ngôi nhà. Nhưng chỉ những triệu phú đôla mới có khả năng sở hữu nhà vệ sinh bằng vàng với giá trị ước tính 2,5 triệu đôla và cuộn giấy vệ sinh cũng bằng vàng với giá ước tính 1,3 triệu đôla. Đây là một phòng vệ sinh đặt tại Hong Kong của tập đoàn công nghệ vàng. Các bức tường của nó làm bằng vàng cùng rất nhiều đồ trang trí. Trong mỗi nhà tắm đều có một chai champagne như một món quà tặng cao cấp.

  1. Đồng tiền vàng Elizabeth

Có rất nhiều đồng tiền quý có giá trị trên thế giới nhưng đồng tiền vàng Elizabeth này làm hoàn toàn từ vàng tinh khiết 99%. Trọng lượng của đồng xu vàng này là 90kg, với giá trị ước tính 997 nghìn đôla. Trên mặt của đồng xu là hình nữ hoàng Elizabeth với vòng nguyệt quế đội trên đầu.

Hồng Vân sưu tầm

 

 

Xem thêm...

Tại sao bầu trời có màu xanh?

Tại sao bầu trời có màu xanh?

Ai cũng biết bầu trời có màu xanh, nhưng không phải mọi người đều biết vì sao bầu trời lại có màu xanh.
Trên không trung trái đất, có một tầng khí quyển rất dày bao trùm cả trái đất.
Lớp không khí đó chỉ là một màu trong suốt, vậy màu "xanh da trời" ấy từ đâu đến?

Lý giải nguyên nhân bầu trời có màu xanh

Ánh sáng khả kiến (ánh sáng nhìn thấy được) là một phần của phổ điện từ mà mắt người có thể nhìn thấy được.
Ánh sáng từ mặt trời hay bóng đèn điện được gọi là ánh sáng trắng.
 
Tại sao bầu trời có màu xanh?
 
Ánh sáng mặt trời có 7 gam màu: đỏ, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Mỗi màu sắc tương ứng với 1 bước sóng, tần số và mang năng lượng khác nhau. Ánh sáng tím có bước sóng ngắn nhất trong dải quang phổ khả kiến. Điều này đồng nghĩa với việc tần số và năng lượng của ánh sáng tím là cao nhất trong dải quang phổ khả kiến. Ngược lại, ánh sáng đỏ có bước sóng dài nhất, tần số thấp nhất và sẽ mang ít năng lượng nhất.

Ánh sáng trong không khí

Ánh sáng di chuyển trong không gian theo đường thẳng nếu không có gì làm nó bị nhiễu loạn. Khi ánh sáng di chuyển vào trong bầu khí quyển, nó tiếp tục đi theo đường thẳng cho đến khi gặp phải các hạt bụi nhỏ hoặc các phân tử khí cản lại. Kể từ lúc này, những gì xảy ra với ánh sáng phụ thuộc vào bước sóng của nó và kích thước của những vật mà nó chiếu vào.
Những hạt bụi và nước trong không khí có kích thước lớn hơn so với bước sóng của ánh sáng khả kiến. Khi ánh sáng chiếu vào những hạt có kích thước lớn hơn, nó sẽ bị phản xạ lại theo nhiều hướng khác nhau hoặc bị các vật cản hấp thu. Do các màu sắc khác nhau trong ánh sáng đều bị phản xạ lại từ các hạt theo cùng một hướng nên ánh sáng phản xạ từ các hạt cản vẫn là ánh sáng trắng và chứa tất cả các màu ban đầu.
 
Ngoài bụi và nước, trong khí quyển cũng chứa các phân tử khí. Các phân tử khí này có kích thước nhỏ hơn so với bước sóng của ánh sáng khả kiến. Nếu ánh sáng trắng chiếu vào các phân tử khí, thì chuyện không đơn giản như khi chiếu vào bụi hay các hạt nước.
Khi ánh sáng chiếu vào phân tử khí, "một phần" của nó có thể bị phân tử khí hấp thụ. Sau đó, các phân tử khí sẽ bức xạ ánh sáng theo nhiều hướng khác với ban đầu. Sở dĩ có khái niệm "một phần" xuất hiện ở đây là vì sẽ có một số bước sóng trong ánh sáng trắng (tương ứng với các màu sắc) dễ bị hấp thụ, một số bước sóng khác khó bị hấp thụ hơn. Nói cách khác, một số bước sóng ngắn (như màu xanh dương) sẽ bị hấp thụ nhiều hơn so với các bước sóng dài (như màu đỏ).
 
Tại sao bầu trời có màu xanh?
Nhà vật lý học người Anh John William Strutt, 3rd Baron Rayleigh (1842-1919) 
Người đề xuất phương trình xác định hệ số tán xạ Rayleigh giúp lý giải nguyên nhân bầu trời có màu xanh​
 
Quá trình trên được gọi là tán xạ Rayleigh. Hiện tượng được đặt theo tên của người phát hiện ra nó: Lord John Rayleigh, một nhà vật lý học người Anh. Vào năm 1871, Rayleigh đã đưa ra phương trình tính hệ số tán xạ của một vật tỷ lệ nghịch với bước sóng ánh sáng (ký hiệu là lamda) mũ 4. Nói cách khác, ánh sáng có bước sóng càng ngắn thì càng bị tán xạ nhiều hơn và ngược lại.

Đã có thể trả lời câu hỏi ban đầu: Màu xanh của bầu trời là do tán xạ Rayleigh

Do bước sóng của ánh sáng (100~1000 nm) lớn hơn so với kích thước của các phân tử khí (10 nm) nên chúng ta có thể áp dụng công thức tán xạ Rayleigh cho hiện tượng tán xạ ánh sáng trong khí quyển của Trái Đất.
Tại sao bầu trời có màu xanh?
 
Khi ánh sáng đi vào khí quyển của Trái Đất, hầu hết những bước sóng dài đều không bị các phân tử khí hấp thụ nên có thể đi xuyên qua. Một ít ánh sáng đỏ, cam, vàng có thể bị ảnh hưởng của không khí. Tuy nhiên, một lượng lớn bước sóng ngắn đã bị các phân tử khí hấp thụ. Ánh sáng bước sóng ngắn bị hấp thụ sau đó sẽ được tán xạ ra ngoài theo rất nhiều hướng khác nhau.
Tại sao bầu trời có màu xanh?
 
Lúc này, ánh sáng xanh sẽ tán xạ khắp bầu trời. Vào ban ngày, cho dù bạn đứng ở bất cứ đâu và nhìn theo hướng nào thì một số ánh sáng xanh bị tán xạ luôn hướng tới mắt của bạn. Do đó, khi bạn ngước nhìn lên phía trên đầu mình thì bầu trời sẽ luôn có màu xanh.
 
Nếu bạn chú ý kỹ hơn, thì khi nhìn càng gần về phía đường chân trời thì bầu trời có vẻ nhạt màu hơn. Đó là do, để đến được vị trí của bạn, ánh sáng xanh sau khi bị tán xạ phải đi qua thêm nhiều lớp không khí. Một phần tiếp tục bị tán xạ theo nhiều hướng khác. Do đó, có ít ánh sáng xanh từ phía gần chân trời tiến đến vị trí của bạn hơn so với lượng ánh sáng xanh từ đỉnh đầu bạn.
 
Tại sao bầu trời có màu xanh?
 
Một điểm khác đáng chú ý là chắc chắn nếu theo dõi đến đây, các bạn sẽ có thắc mắc rằng: Bước sóng của màu tím và màu chàm thậm chí còn ngắn hơn màu xanh, vậy lẽ ra bầu trời phải có màu tím chứ? Câu trả lời đã sẵn sàng cho các bạn.
 

Vậy tại sao bầu trời không phải là màu tím? Đó mới là bước sóng ngắn nhất mà!

Một nguyên nhân chính là do hoạt động của mắt người trong việc nhìn thấy màu sắc. Mắt người nhạy cảm với ánh sáng có bước sóng từ 380 đến 740 nm. Trên võng mạc bình thường có 10 triệu tế bào que cảm biến ánh sáng và 5 triệu tế bào hình nón phát hiện ra màu sắc. Mỗi tế bào nón có chứa sắc tố giúp phản ứng với từng loại bước sóng khác nhau. Có 3 loại tế bào nón chính tương ứng với các loại bước sóng ngắn, trung bình và dài. Chúng ta cần phải sử dụng cả 3 loại tế bào này để nhìn thấy màu sắc chính xác nhất.
Mỗi tế bào nón có phản ứng với các bước sóng tối đa là: 570 nm đối với bước sóng dài, 543 đối với bước sóng trung bình, và 442 nm đối với bước sóng ngắn. Dù vậy, 3 loại tế bào nón này có thể phản ứng với số bước sóng trên diện rộng và chồng chéo nhau. Điều này có nghĩa là sẽ có trường hợp 2 quang phổ khác nhau có thể gây ra cùng 1 phản ứng trên các tế bào nón.
2 quang phổ khác nhau nhưng cùng tạo 1 phản ứng giống nhau trên tế bào nón được gọi là đồng phân dị vị. Trở lại vấn đề bầu trời, khi bầu trời là một hỗn hợp giữa màu xanh và tím. Các tế bào nón trong mắt người sẽ phản ứng khi nhìn thấy hỗn hợp này thành hỗn hợp của màu xanh và trắng. Và cuối cùng, tín hiệu đưa về hệ thần kinh chỉ là màu xanh. Điều này tương tự như thủ thuật trộn màu đỏ và xanh lá để thành màu vàng vậy.
Dù vậy, một số loài động vật nhìn bầu trời không phải có màu xanh như con người. Ngoài con người và một số loại linh trưởng, hầu hết các loài động vật khác đều có 2 loại tế bào hình nón trong võng mạc. Do đó, các loài động vật này, như chim chẳng hạn, sẽ nhìn thấy bầu trời là màu tím.

Tại sao chúng ta nhìn thấy mặt trời có màu vàng?

Trên Trái Đất, chúng ta nhìn thấy mặt trời vào ban ngày có màu vàng. Nếu bạn đi ra không gian hoặc lên trên Mặt Trăng, bạn sẽ nhìn thấy Mặt Trời có màu trắng. Tại sao vậy? Đó đơn giản là do: Trong vũ trụ không có bầu khí quyển để tán xạ ánh sáng mặt trời.
Trên Trái Đất, một vài bước sóng ngắn của ánh sáng mặt trời (xanh dương hoặc tím) đã bị các phân tử khí hấp thụ và loại bỏ ra khỏi chùm ánh sáng chiếu trực tiếp từ mặt trời tới mắt người. Do đó, các màu còn lại cùng nhau xuất hiện chính là màu vàng.

Cuối cùng: Tại sao hoàng hôn có màu đỏ?

Khi mặt trời bắt đầu lặn, ánh sáng cần phải đi một đoạn đường dài hơn qua không khí trước khi đến vị trí mà bạn nhìn thấy. Lúc này, sẽ có càng nhiều ánh sáng bị phản xạ và tán xạ hơn. Càng có ít ánh sáng trực tiếp từ mặt trời tiếp cận tới vị trí của bạn, thì bạn sẽ nhìn thấy mặt trời càng ít phát sáng hơn. Cũng trong thời điểm này, màu sắc của mặt trời bắt đầu có sự thay đổi, từ màu vàng lúc ban ngày bắt đầu chuyển dần sang cam và sau đó đến đỏ.
 
Tại sao bầu trời có màu xanh?
Nguyên nhân chính là: Mặc dù lượng ánh sáng xanh vẫn bị tán xạ như lúc ban ngày nhưng bị tán xạ nhiều lần do phải xuyên qua lớp không khí dày mới tới được mắt người. Bên cạnh đó, các bước sóng dài (cam, vàng) trong chùm sáng chiếu trực tiếp đến vị trí của bạn ngày một ít đi. Các bước sóng dài phải vượt qua quãng đường dài hơn so với ban ngày để trực tiếp đến với vị trị của bạn. Chỉ còn lại ánh sáng đỏ ít bị tán xạ được truyền thẳng đến mắt nhiều hơn.
Do đó, bạn sẽ nhìn thấy bầu trời ngày càng đỏ dần lên. Sau khi Mặt Trời đã khuất sau đường chân trời, chúng ta không thấy trực tiếp ánh sáng của Mặt Trời; nhưng nếu có các đám mây trên cao, chúng sẽ phản xạ lại ánh sáng đỏ xuống mặt đất, tạo nên cảnh tượng tuyệt đẹp của hoàng hôn.

Kết

Tại sao bầu trời có màu xanh?
 
Cuối cùng thì chúng ta đã tìm được câu trả lời cho các câu hỏi ban đầu. Một lần nữa, các hiện tượng tưởng chừng như hiển nhiên lại ẩn chứa bên trong nó nhiều vấn đề như vậy. Thật sự là bất cứ điều gì đều có nguyên nhân của nó. Dĩ nhiên, con người ta vẫn đang ngày đêm nghiên cứu để cố gắng lý giải thêm thật nhiều hiện tượng xung quanh mà trước đây chưa có lời giải đáp. Đó là mong ước của tất cả chúng ta và đặc biệt là các nhà khoa học. Mỗi người đều có nhiều câu hỏi tại sao cho riêng mình.
 
Nguyễn Ngọc Quang (ST) Tổng hợp
Xem thêm...

Silicon Valley hơn Đức ở điểm nào ?

Silicon Valley hơn Đức ở điểm nào ?

Những doanh nghiệp hàng đầu thế giới về công nghệ như Apple, Facebook, Google hay Microsoft đều là công ty của Mỹ. Người ta cũng thấy nhiều trường hợp thành công tương tự ở Thung lũng Silicon Valley. Thế nhưng theo quan sát của Wiwo, vẫn chưa có làn sóng doanh nghiệp công nghệ như vậy tại Đức. Vậy đâu là nguyên nhân ?

Từ một doanh nghiệp ở trong gara trở thành doanh nghiệp tầm cỡ thế giới:

Apple chỉ là một ví dụ về sự thành công của Silicon Valley.

Hãy nhìn vào một trường hợp cụ thể: Catalin Voss, một sinh viên Đức đang theo học tại đại học Stanford (Mỹ) đã mô tả về những giá trị mà ngôi trường của mình đem lại: “Tôi đã được truyền thụ rằng đôi khi thất bại lại đem lại may mắn”. Thất bại mà lại may mắn ư? Nghe có vẻ trái ngược nhưng chính đây là tinh thần mà môi trường đại học Mỹ đem lại cho các sinh viên của mình. Bản thân Voss cũng là một con người xuất sắc, anh theo học ở  đây từ năm 17 tuổi và trước đó, khi còn nhỏ đã tự học lập trình, đặc biệt là những ứng dụng trên điện thoại. Giờ đây, Voss đang thiết lập một công ty riêng của chính mình mang tên Sension với sản phẩm công nghệ chính là một ứng dụng nhận biết tâm trạng thông qua các biểu hiện trên gương mặt nhờ trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence). Công nghệ này hữu ích trong việc tìm hiểu suy nghĩ của những người mắc chứng tự kỷ. GAIA, một công ty của Toyota, đã mua công nghệ này.

Không chỉ Voss mà nhiều gương mặt tài năng khác được đào tạo trong môi trường có tinh thần “thất bại là may mắn” cũng có khả năng đạt được thành công như vậy. Tuy nhiên cũng phải công bằng mà nói, Stanford đã dành một khoảng kinh phí gần sáu tỷ euro chỉ để hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp, qua đó khuyến khích tinh thần này, nghĩa là gấp trên mười lần so với đại học Hannover (Đức).

Câu chuyện của Catalin Voss có thể gây ngạc nhiên ở Đức nhưng nó lại quá bình thường với Silicon Valley, nơi dường như quy tụ các doanh nghiệp công nghệ toàn cầu. Apple, Google và Facebook đặt trụ sở chính tại đây, bên cạnh những Tesla, nhà tiên phong về ô tô điện hay Uber, Airbnb, những cái tên mới nổi nhưng đã có sức lan tỏa trên thế giới.

Tại sao làn sóng doanh nghiệp công nghệ lại bắt nguồn từ  Silicon Valley?

Nhiều doanh nghiệp công nghệ đều trưởng thành từ các trường đại học liền kề Valley. Có thể thấy mô hình kinh doanh của các ông lớn ở Silicon Valley đều dựa trên tinh thần đổi mới sáng tạo. Các doanh nghiệp công nghệ này không chỉ đem lại sản phẩm mới hay tạo dựng thị trường mới mà còn phá bỏ cả những sản phẩm đang tồn tại trên thị trường, ví dụ bằng một ứng dụng trên điện thoại, Uber tấn công vào thế giới tắc xi, Airbnb thách thức các chuỗi khách sạn kinh điển, iPhone của Apple đánh bại nhà sản xuất điện thoại di động Nokia.

Tại sao điều này xảy ra ở Silicon Valley mà không diễn ra ở Berlin hay Tokyo, nơi cũng có nhiều trường đại học nổi tiếng, các nhà đầu tư mạo hiểm và các cố vấn giầu kinh nghiệm, và điều gì là cốt lõi của nó?

“Silicon Valley đơn thuần là một địa danh cố định trên bản đồ, ẩn chứa trong nó là một cách tư duy”, Chuhee Lee, nhà nghiên cứu về phương tiện di chuyển trong tương lai của hãng Volkswagen ở Silicon Valley, nhận xét. “Ai không trải qua thất bại thì khó có thể được tôn trọng thật sự tại nơi này”.

Người Mỹ thích hành động

Rene van den Hoevel, giám đốc phụ trách Phòng Thương mại Đức - Mỹ, lý giải: “Những gì diễn ra ở Mỹ nhanh đến chóng mặt. Người Mỹ không chờ cơ hội, đơn giản là họ hành động ngay. Thế mạnh của họ chính là sự năng nổ”. Còn ông  Stefan Schlüter, Tổng lãnh sự Đức ở San Francisco, nhấn mạnh: “Ở Stanford, không giáo sư kinh tế nào mà lại không đặt chân vào lĩnh vực kinh tế, họ có thể tự lập một startup hay tham gia với tư cách cố vấn”.

Doanh nghiệp như Volkswagen từ lâu đã đề cao  tinh thần của Silicon Valley. “Chúng ta cầm có thêm một chút tinh thần của Silicon Valley”, cuối năm 2015 nhà lãnh đạo tập đoàn VW Matthias Müller đã lớn tiếng kêu gọi. Song người ta có thể kêu gọi suông không mà vẫn đem lại hiệu quả? “Cũng có một vài điểm mà chúng ta có thể học hỏi được”, Ferdinand Dudenhöffer, phụ trách Trung tâm nghiên cứu ô tô CAR của trường ĐH Duisburg-Essen nói, tuy nhiên ông cũng lưu ý là chỉ đơn giản đưa về Đức một vài công ty đầu tư mạo hiểm, thiết lập mấy doanh nghiệp khởi nghiệp thì ngần ấy là chưa đủ.

Dudenhöffer nhận thấy ở Mỹ còn có những vấn đề đóng vai trò quan trọng thúc đẩy khởi nghiệp như chính sách của nhà nước tạo bệ phóng như mở ra các cuộc thi về công nghệ. Nhiều công nghệ trong số đó đã được nhiều cơ quan chính phủ để mắt đến như trường hợp công nghệ về ô tô robot và vật thể bay không người lái được Bộ Quốc phòng Mỹ mua đứt. “Điều này không có ở Đức”, Dudenhöffer nhận xét.

Tại Mỹ những điều tiết trong chính sách của nhà nước buộc người ta phải đổi mới. Ngay từ những năm 1970, quy định về khí thải của Mỹ buộc các doanh nghiệp sản xuất ô tô phải áp dụng hệ thống lọc than hoạt tính ba chiều mà giờ đây vẫn được sử dụng rộng rãi. “Ở Đức mọi điều đều diễn ra ngược lại. Người ta tìm cách đưa dầu diesel sang thế kỷ 21 và nghĩ rằng đó là sáng tạo, mặc dù ai cũng biết đến tác hại của việc dùng dầu diesel như thế nào. Nguyên nhân là ở Đức, thuế đánh vào dầu diesel thấp”.

Sau những thành công của mình, trường đại học Stanford còn được đọc trại ra là “Farm” (nông trại) vì người ta tin rằng sẽ còn gặt hái được những vụ mùa bội thu startup từ nông trại đó.

 

Xuân Hoài lược dịch

 

Kim Quy st

 

Xem thêm...

10 Phim có kinh phí cao nhất

10 Phim có kinh phí cao nhất

Thời gian gần đây có “lời đồn” trên internet rằng hai phim Avengers: Infinity Wars, Part 1 và Part 2 sẽ có số vốn đầu tư tổng cộng là $1 tỷ bạc. Nếu điều này là sự thật, thì phần ba và bốn của bộ “Avengers” sẽ là những phim mắc tiền nhất trong lịch sử.

Làm phim là thực hiện một công trình tốn kém – ngoài những chi phí như dàn dựng phim trường, dụng cụ, trang trí, và kỹ xảo ở hiện trường, còn phải trả lương cho các tài tử, chuyên viên kỹ thuật, người thiết kế, và những nhân công khác. Sau khi phim được quay xong, họ còn phải tính tới chuyện cắt xén và cho vào kỹ xảo effects nữa. Kỹ nghệ làm phim là một nền kinh doanh khổng lồ, và số tiền đầu tư đã tiếp tục tăng dần trong những năm gần đây.

Cho danh sách này, chúng tôi chọn sắp xếp những phim dựa theo con số ước đoán. Trong khi nhiều phim không công bố chính xác số ngân quỹ, chúng ta vẫn có thể biết được con số đại khái dựa vào những cuộc phỏng vấn và báo cáo về tài chánh đã được bỏ ra cho một phim. Vì lý do này, bất cứ chi phí nào chưa được kiểm chứng sẽ có dấu “~” trước con số.

Trong hai mươi năm qua, các nhà làm phim và sản xuất phim đầu tư nhiều tiền hơn vào công trình của họ và sự đầu tư tiền với tốc độ “kinh hoàng”.

Sau đây là 10 phim tốn tiền nhất đã từng được làm

10. Avatar (2009)

Chi phí: $237 triệu

Hóa ra, Avatar không mắc tiền như nhiều khán giả nghĩ. Lúc đầu, các phóng viên suy rằng cuốn phim đẹp mắt này có thể tốn từ $280 tới $500 triệu. Tuy nhiên, hãng Fox đã chính thức công bố chi phí sản xuất, tiết lộ rằng cuốn phim có ngân quỹ là $237 triệu.

Avatar đã khai phá kỹ thuật hoạt họa mô-cáp. Ðội làm phim của James Cameron đã phát triển kỹ thuật và phần mềm cho motion capture trong 14 tháng trước quá trình quay phim. Ông ta cũng thuê hơn 900 người của hãng Weta Digital để làm việc với kỹ xảo hậu kỳ. Những kỹ thuật đó thật sự cần thiết để làm giấc mộng của Cameron thành sự thật.

Avatar là phim đầu tiên thu vào hơn $2 tỷ trên toàn cầu, và đến nay vẫn còn là phim có mức thu cao nhất từ xưa tới nay

 

9. The Hobbit: An Unexpected Journey (2012) / The Hobbit: The Desolation of Smaug (2013) / The Hobbit: The Battle of Five Armies (2014)

Chi phí: ~$248.3 triệu (mỗi phim)

Bộ ba The Hobbit tốn tổng cộng $745 triệu để làm – trong khi một số nhà nghiên cứu chia giá phim không đồng đều, suy đoán rằng tập thứ ba, The Hobbit: The Battle of Five Armies (2014), tốn nhiều hơn. Tuy nhiên, cả ba phim được quay liền nhau, và chuyện phân chia chi phí giữa ba phim thật khó khăn. Ngay cả khi chi phí được chia đồng đều, tất cả ba phim “Hobbit” cũng xuất hiện trên danh sách 10 phim mắc tiền nhất. Chi phí cao của phim do phim được quay trong dạng 3D và ở tốc độ 45 khung một giây.

8. Pirates of the Caribbean: Dead Man’s Chest (2006) / Pirates of the Caribbean: At World’s End (2007)

Chi phí: ~$250 triệu (mỗi phim)

Phim Pirates of the Caribbean thứ nhì và thứ ba được quay chung với nhau. Tuy nhiên, khi làm như vậy, Disney phải tốn tới $500 triệu. Ngay cả khi chi phí này được chia đều giữa hai phim, cả hai vẫn nằm trong danh sách những phim tốn kém nhất.

7. Harry Potter and the Half-Blood Prince (2009)

Chi phí: ~$250 triệu

Là cuốn phim thứ 6 trong bộ có 8 phim, Harry Potter and the Half-Blood Prince có chi phí cao nhất nếu tính theo từng phim một. Ðáng lẽ cuốn phim cuối của bộ, Harry Potter and the Deathly Hallows cũng sẽ có chi phí cao tương tự, nhưng nó được chia ra làm hai phần (hai phim riêng biệt) và đã giảm tiền sản xuất một cách đáng kể.

6. The Amazing Spider-Man 2 (2014)

Chi phí: ~$255 triệu

Một phần chi phí của phim này đi vào tiền lương của các tài tử. Ngoài vai chính Spider-Man (Andrew Garfield) và Gwen Stacy (Emma Stone) từ phim số 1, cuốn phim Spider-Man thứ nhì còn có nam tài tử có tên tuổi (được giải Oscar) Jamie Foxx trong vai Electro. Cuốn phim được quay hoàn toàn ở tiểu bang New York và bằng loại phim 35mm.

5. Spider-Man 3 (2007)

Chi phí: $258 triệu

Hãng Sony đã công khai xác nhận chi phí sản xuất của Spider-Man 3 là $258 triệu. Phim này đã thu vô $890.9 triệu và là cuốn phim thành công nhất trong bộ ba.

4. Tangled (2010)

Chi phí: ~$260 triệu

Tangled là một phim ca nhạc khôi hài sử dụng kỹ thuật hoạt họa 3D. Tangled là cuốn phim hoạt họa mắc nhất từ trước tới giờ, với chi phí được ước lượng khoảng $260 triệu.

3. John Carter (2012)

Chi phí: $306.6 triệu

Ngân quỹ đồ sộ của phim John Carter là một trong những lý do chính tại sao nó bị thất bại nặng nề tại phòng bán vé. Trong khi tốn hơn $300 triệu, nó thu vào chỉ có $284.1 triệu.

2. Avengers: Age of Ultron (2015)

Chi phí: $330.6 triệu

Hậu kỳ của phim Avengers đầu tiên của Joss Whedon rất thành công. Nó có thành phần tài tử “toàn sao” gồm Robert Downey Jr. trong vai Iron Man, Scarlett Johansson trong vai Black Widow, và Chris Evans trong vai Captain America.

1. Pirates of the Caribbean: On Stranger Tides (2011)

Chi phí: $410.6 triệu

Pirates of the Caribbean: On Stranger Tides (2011) là phim đầu tiên và duy nhất tốn hơn $400 triệu để sản xuất. Vai chính của phim (Captain Jack Sparrow) là tài tử “đắt tiền” Johnny Depp, và Penelope Cruz trong vai Angelica.

Phim này được quay ở Anh và Hawaii. Nó được dùng kỹ thuật 3D tương tự như đã được dùng cho Avatar của James Cameron, và tận dụng khoảng 1,200 cảnh tạo bằng computer. Với số vốn $410.6 triệu, On Stranger Tides dứt khoát là cuốn phim đắt tiền nhất trong lịch sử. Và sự đầu tư đó coi có vẻ xứng đáng, vì nó đã thu vào hơn một tỷ đô-la ($1,046 tỷ) tại phòng bán vé.

By MP

 

Kim Quy st

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này