Khoa học kỹ thuật

Khoa học kỹ thuật (189)

Xe hơi Sài Gòn xưa

Xe hơi Sài Gòn xưa

Trang Nguyên

Tôi thường đem xe đi thay nhớt tại garage nhỏ của chú Ba Tam ở Fort Worth. Tự dưng cách đây mấy tháng, chú hỏi tôi ở Việt Nam bây giờ có công ty sản xuất xe hơi không? Câu trả lời có thì cũng không đúng, mà không thì cũng sai luôn. Tôi nhớ không lầm hồi mấy năm trước ở ngoài Bắc có công ty xe hơi Vinaxuki bị phá sản. Mang danh công ty xe hơi nội địa nhưng máy móc của Nhật, bánh xe Đài Loan, chỉ có khung sườn, bửng trước sau được làm trong nước với mục đích nội địa hóa xe hơi nhưng cũng chỉ đạt được chưa tới 40%. Giá thành rẻ chỉ bằng một phần ba xe nhập cảng. Tuy vậy, người ta vẫn thích mua xe ngoại cho dù mắc tiền. Nó vừa sang, đẹp lại an toàn. Không trách người ta sao sính ngoại.

Sài Gòn Xe hơi Công ty thuộc công ty mẹ Citroen của Pháp nơi

sản xuất xe nội địa hóa La Dalat – Nguồn: Anhxuasg

Chú Ba kể, hồi trước có Sài Gòn Xe hơi Công ty ở đường Lê Thánh Tôn Q.1. Chú từng làm nhân viên kỹ thuật đóng thùng xe La Dalat. Công ty này nguyên là chi nhánh hãng Citroën của Pháp. Chiếc La Dalat được tiếng là hàng nội địa nhưng máy móc, bánh xe, thắng, trục chuyển động nhập từ Pháp; người Việt mình làm kèn, hộp đèn, ghế ngồi và khung thùng, lại lấy tên thương hiệu của thành phố sương mù Ðà Lạt. Ban đầu dân Sài Gòn thích xe hơi nhưng túi tiền hạn hẹp nên “kết” loại xe này lắm. Xe nhẹ, đơn giản, ít hao xăng dầu, máy bền lại dễ sửa chữa, đặc biệt là giá rẻ bằng phân nửa xe nhập từ Nhật Bổn. Cuộc triển lãm ra mắt sản phẩm La Dalat hồi năm 1970 ở vườn Tao Ðàn đã thu hút nhiều đơn đặt hàng nên công ty sản xuất ồ ạt. Công việc làm không xuể, nhân công phải làm đêm làm ngày để cung cấp xe ra thị trường. Không biết việc buôn bán ra sao, đến năm 73 thì xe tồn kho rất nhiều, nhân viên làm tại công ty nếu mua thì được hưởng ưu đãi giảm giá so với thị trường.

Một quảng cáo trên báo xe La Dalat năm 1973 khi dòng xe hơi rẻ tiền này

gặp vấn đề thị trường tiêu thụ – Nguồn: Citroen2CVDalat

Câu chuyện của chú Ba khiến tôi quan tâm, bởi thời ấy tuy chưa biết nhiều về các loại xe hơi nhưng tôi đã nghe người lớn kháo nhau về chiếc La Dalat, và tôi từng thấy nhiều xe này chạy trên đường phố Sài Gòn. Chiếc xe hơi “Made in Vietnam” trông ngầu, đường nét góc cạnh giống xe Jeep, mui vải có thể tháo ra thành mui trần để tà tà bát phố. Có xe mui kín bốn chỗ ngồi, hoặc loại đòn xe dài mà chú Ba Tam nói rằng La Dalat sản xuất đến bốn kiểu xe khác nhau. Ðúng là như vậy. Nhiều người thích xe hai chỗ hơn, phía sau chở hành lý đồ đạc về quê hay đi du lịch miền biển miền núi đều sành điệu. Tôi nhớ mấy tấm bích chương quảng cáo dán ở vách tường bên hông tòa nhà đầu đường Nguyễn Huệ và bến Bạch Ðằng vẽ hình chiếc La Dalat trong khung cảnh miền quê mùa xuân Quý Sửu năm 1973. Bây giờ tôi bắt gặp lại hình ảnh này trên trang mạng lòng vẫn còn thấy mới như ngày nào khi chương trình quảng cáo rầm rộ trên đài phát thanh với lời xướng ngôn viên trầm ấm: “La Dalat cày sâu cuốc bẫm để phục vụ quý vị”.

Hãng bán xe hơi thương hiệu Vauxhall của Anh tại Sài Gòn năm 1952 – Nguồn: Anhxuasg

Vấn đề quảng cáo rầm rộ hồi đầu xuân năm 1973 và việc chú Ba Tam mua xe La Dalat được giảm giá tại công ty nói lên phần nào việc sản xuất loại xe theo phương châm “Facile À Fabriquer, Facile À Financer” (Dễ sản xuất, Dễ trả tiền) của công ty gặp vấn đề rắc rối về tiêu thụ chứ không như từ khi khởi đầu quá trình sản xuất, Citroën đã chủ quan về chuyện giá thành rẻ thu hút người tiêu thụ ham thích chiếc xe thực dụng và dễ sửa chữa này. Thật ra năm 1973 Sài Gòn Xe hơi Công ty không còn cho xuất xưởng các loại xe La Dalat như báo chí ca tụng. Xe hơi nội địa La Dalat được sản xuất mỗi năm một ngàn chiếc cho đến thời điểm năm 1975 thì chấm dứt thời hoàng kim, lúc ấy miền Nam đã sản xuất ra chiếc xe hơi nội địa hóa đến 40% (tính ra có đến 5,000 chiếc).

Theo tư liệu và bản báo cáo thống kê sản xuất của Công ty Citroën tại Pháp về việc chế tạo dòng xe mới cho Việt Nam, thì La Dalat nguyên thủy do hai người Pháp tên là Letoquin và Lechanteur – chủ nhân của Công ty xe hơi và gắn máy ở Bờ biển Ngà, trực thuộc công ty mẹ Citroën – mang chiếc xe hơi hai sức ngựa (2CV) Baby Brousse về Sài Gòn cải tiến bộ khung một chút cho phù hợp thời tiết bản địa. Bản vẽ được phác thảo vàSài Gòn Xe hơi Công ty chịu trách nhiệm sản xuất một số phụ tùng tại chỗ để nội địa hóa mang tên La Dalat. Nói chung, dòng xe Citroën 2CV được sản xuất ở nhiều nước trên thế giới như Hy Lạp, Iran, Indonesia, Chile, Việt Nam… mỗi quốc gia có tên xe khác nhau nhưng đều dựa vào mẫu Baby Brousse sản xuất tại thành phố Abidjan Bờ biển Ngà. Thống kê sản xuất cho thấy năm 1970 ở Việt Nam xuất xưởng 30 chiếc giới thiệu ra thị trường, năm 71 sản xuất 2,385 chiếc nhưng qua năm 1972 chỉ còn 450 chiếc và ngưng sản xuất vào năm 1973. Tổng cộng La Dalat mà công ty mẹ gọi đúng tên là Citroën Dalat sản xuất được 2,895 chiếc, không có con số bán ra và số tồn kho.

Sài Gòn cuối thập niên 60 có đủ loại xe hơi nhưng xe Jeep quân đội

cũng có khá nhiều – Nguồn: Anhxuasg

Chú Ba Tam nghĩ rằng, thoạt đầu dân chúng ưa chuộng vì giá rẻ, mẫu mã bề ngoài trông bắt mắt nhưng nội thất không có gì đặc biệt, đơn điệu nên sức thu hút giảm dần. Trong thời điểm này, xe Nhật, Mỹ và châu Âu nhập cảng vào Sài Gòn nhiều mẫu đẹp, hấp dẫn hơn. Người có đủ tiền mua xe mới (La Dalat giá 650,000 ngàn trong khi Mazda, Toyota giá chừng 1.1 – 1.3 triệu) nhưng vẫn thích đi mua xe cũ qua sử dụng được năm bảy năm, giá còn phân nửa bằng với mua mới chiếc La Dalat. Hơn nữa, đầu năm 1970 cho đến năm 1975 là thời kỳ đồng bạc VNCH mất giá kinh khủng (1USD = 275 năm 70; = 550 năm 72; = 750 năm 75). Trong khi thời điểm năm 72 giá vàng là 49USD/ounce tức 61USD/lượng tương đương 33,550 đồng VN. Ðồng tiền mất giá, nhu cầu mua xe cần cân nhắc, ngoại trừ những người có nhiều tiền và muốn chơi trội mua xe hơi lý le. Dân thương buôn làm ăn lớn nhỏ, công chức làm ra tiền đều tích lũy vàng hoặc quy đổi đô la chợ đen cất giữ. Còn một điều tác động không thể thiếu đã làm giảm sức mua xe hơi, các dòng xe gắn máy Nhật và Vespa của Ý sản xuất tại Pháp du nhập vào Sài Gòn rất nhiều, thuận tiện di chuyển và có chỗ đậu xe.

Tới đây, chúng ta đã giải mã phần nào về chiếc La Dalat một thời từng được người dân ca tụng lại “chết yểu” một cách đáng thương không phải vì biến động chính trị năm 1975 mà do kinh tế thời cuộc trước đó. Còn thắc mắc của tôi về chuyện tại sao lại không đặt tên sản phẩm xe hơi “Made in Vietnam” là Saigon mà lại dùng tên Ðà Lạt? Liệu có phải đó là tên thành phố Ðà Lạt hay chỉ là chữ Dalat trùng hợp ngẫu nhiên. Câu hỏi này theo chú Ba Tam nói ở trên, là tên Ðà Lạt viết theo tiếng ngoại quốc. Không thấy tài liệu nào giải thích. Ngay cả phòng triển lãm xe hơi tại vương quốc Bỉ, lưu giữ chiếc xe La Dalat đời 71 cũng dùng tên chính thức Citroën Dalat.

Một tai nạn trên con đường trung tâm Sài Gòn – Nguồn: Anhxuasg

Dẫu sao thì La Dalat đã để lại dấu ấn cho niềm tự hào lần đầu tiên người Việt Sài Gòn chế tạo được 40% phụ tùng, góp phần làm nên tên tuổi dòng xe hơi “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt”. Với số lượng gần 2,900 chiếc La Dalat góp một phần nhỏ trong nền giao thông miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào. Theo thống kê của ngành giao thông VNCH đến năm 1974 có tổng cộng 258,514 xe lưu thông trong đó có 35,384 xe vận tải lớn, 64,229 xe hơi châu Âu, Mỹ, Nhật, phần còn lại là xe taxi hiệu Citroën, Renault, Peugeot và xe jeep, xe vận tải nhà binh trong thời Mỹ mang vào miền Nam với mục đích quân sự.

Chỉ riêng con số xe hơi lưu thông trên 35 tỉnh và Ðô thành Sài Gòn cho thấy người có xe hơi riêng thật ít ỏi so với quãng thời gian hơn 70 năm (tính đến thời điểm 1975) kể từ khi người ta ghi nhận năm 1907 chỉ có 2 chiếc xe hơi nhập vào Việt Nam, một của người Pháp, và chiếc thứ hai thuộc về Thầy Năm Tú (Pierre Tú) chủ gánh cải lương Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho. Sang đến thập niên 20 Sài Gòn có chừng 100 chiếc (tính riêng xe hơi) của các quan chức sắc tai to mặt lớn hoặc điền chủ hay người làm ăn giàu có. Xe hơi nói chung bao gồm xe đò xe tải đã xuất hiện khá nhiều (theo thống kê của Tạp chí Nature, năm 1926 Nam kỳ có 5,678 ô tô các loại, Trung kỳ có 966 xe, Bắc kỳ có 2,866 xe).

Citroen Dalat đời 1971 trưng bày tại Autosalon ở Bỉ – Nguồn: Citroen2CVDalat

Dân giàu Sài Gòn bắt đầu chuộng xe hơi, nhiều hãng, garage, đại lý phụ tùng xe hơi buôn bán mở ra khá nhiều trên đường Trần Hưng Ðạo, Gia Long, Lê Thánh Tôn, Tôn Thất Ðạm ngay từ đầu thập niên 30. Xe hơi các loại của châu Âu (nhiều nhất là Pháp) được ưa chuộng. Nhưng sang đến thập niên 60, người ta lại thích các loại xe Mỹ nhập vào. Các dòng xe hơi Mỹ như Austin, Ford, Lincoln, Cadillac, Dodge… máy mạnh chạy khỏe lấn ép dòng xe Nhật Toyota, Mazda, Nissan… lúc đó không phải là xe tốt bền như bây giờ nhờ phát triển cải tiến kỹ thuật từ thập niên 70.

 

˜*. ˜”*°.˜”*°••°*”˜.°*”˜ Hồng Anh st˜”*°.˜”*°••°*”˜.°*”˜ .

Xem thêm...

Khám phá bí mật về nơi “lưu trữ” cả thế giới

Khám phá bí mật về nơi

“lưu trữ” cả thế giới

Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia ở Washington sẽ là một thế giới thu nhỏ, tất cả mọi thứ trong môi trường tự nhiên thì đều được sưu tầm.

Một ngày ở Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia ở Washington (Mỹ) bắt đầu với việc các

nhân viên sẽ đi kiểm tra lại một lượt hơn 126 triệu mẫu vật có trong này.

Chúng gồm số lượng lớn thực vật, động vật, hóa thạch, khoáng chất, đá và

các đồ tạo tác khác từng tồn tại qua hàng ngàn năm văn minh nhân loại.

Công sức sưu tầm và sắp xếp đã được hàng trăm nhân viên và các nhà

khoa học bỏ ra để có được một không gian lưu giữ khoa học như thế này.

Một góc của phòng lưu trữ các loài côn trùng có trên Trái Đất.

Họ cho rằng việc quy tụ các bộ sưu tập lại như thế này đóng một vai trò quan trong trong việc thúc đẩy sự hiểu biết, giải quyết các vấn đề về khoa học tự nhiên và giải thích nguồn gốc sinh học của loài người cho thế hệ tương lai".

Bộ sưu tập đầy đủ các giống thực vật, có những loại chắc chắn bạn chưa được nhìn thấy bao giờ.

Thảm thực vật phong phú.

Góc "nhỏ" đầy đủ các loại chuột trên thế giới.

Các bộ xương cá voi ở Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Quốc gia được xem là đầy đủ và quy mô nhất.

Những bộ xương nặng hàng tấn được lưu trữ trên kệ và chỉ di chuyển được bằng các băng chuyền.

Từ loại trên trời đến động vật dưới nước đều có mặt đầy đủ ở bảo tàng này.

Không gian rộng lớn phía trong gian trưng bày các biểu tượng của lịch sử văn minh nhân loại.

Việc có được một bộ sưu tập gần như đầy đủ về nhân loại, từ môi trường tự nhiên cho đến các cảnh quan, kiến trúc, quần áo,dụng cụ lao động của con người đã và đang giúp nơi này trở thành điểm đến lý tưởng cho các nhà khoa học và người tham quan.

 

Nam Mai sưu tầm

Xem thêm...

Tấm huy chương vàng Olympic đã được sản xuất như thế nào?

 Tấm huy chương vàng Olympic

đã được sản xuất như thế nào?

Tấm huy chương vàng Olympic luôn là mục tiêu và niềm khao khát chinh phục của hàng nghìn vận động viên tham gia Thế vận hội Olympic 2016 đang diễn ra ở Rio (Brazil) năm nay. Bởi lẽ, đó là niềm tự hào của cả một quốc gia, và là niềm vinh dự lớn trong sự nghiệp của mỗi vận động viên.

Được biết đến với chất liệu sản xuất đặc biệt cùng sự kỳ công trong quá trình chế tạo, những tấm huy chương Olympic 2016 ở Rio là một trong những vật được nhiều người hâm mộ quan tâm tìm hiểu.

 

Cần khẳng định rằng, quy trình tạo ra bộ huy chương cho Olympic Rio 2016 là sự kết hợp giữa nghệ thuật và khoa học.

Một đội ngũ khoảng 100 người bao gồm cả những nhà điêu khắc và thợ máy đã làm việc bí mật tại xưởng đúc tiền Brazil để chế tác 5.130 tấm huy chương phục vụ cho Olympic.

Nhà điêu khắc người Brazil - Nelson Neto Carneiro - với hơn 41 năm kinh nghiệm làm việc tại xưởng đúc tiền ở Brazil vinh dự đón nhận trọng trách cao cả này.

Với thiết kế hình tròn truyền thống, các tấm huy chương Olympic Rio 2016 toát lên sự hoàn hảo. Một mặt của các huy chương được khắc hình nữ thần chiến thắng Nike trên nền ngôi đền Hy Lạp cổ Parthenon, mặt kia được dập nổi thời gian và địa điểm diễn ra Olympic 2016 - Rio. 

Ít ai biết rằng, tấm huy chương của Olympic Rio 2016 là những tấm huy chương có kích thước lớn nhất từ trước đến nay với đường kính 8,5cm, dày 6mm và nặng 0,5kg - nặng hơn gần 100gr so với các loại huy chương ở Thế vận hội Olympic London 2012.

Bên cạnh đó, để gia tăng độ cứng cho tấm huy chương, các nhà chế tạo đã pha trộn thêm các thành phần kim loại cho tấm huy chương chứ không sử dụng vàng ròng.

Cụ thể, với một tấm huy chương, người chế tạo đã thêm vào đó 494gr bạc và 6gr vàng nguyên chất. Với tỉ giá vàng như hiện nay thì giá trị của một tấm huy chương vàng Olympic trên thị trường rơi vào khoảng 587 USD (khoảng 26 triệu VND).

Trong khi đó, một tấm huy chương bạc được làm từ 92,5% bạc nguyên chất. Huy chương đồng Olympic 2016 chứa 475gr đồng (93,7% đồng nguyên chất) và 25gr kẽm nguyên chất 3%.

Và quy trình tạo nên thành phẩm tinh tế này hết sức cầu kỳ. Đầu tiên, Nelson Neto Carneiro đã phải chế tạo ra bộ khung đất sét, sau đó sao chép và in 3D để tạo thành những bộ khung kim loại. Phần khuôn đúc được thiết kế bằng máy tính.

Khuôn kim loại này được đặt dưới kính hiển vi để kiểm tra chất lượng trước khi chuyển đến nhà máy.

Tại đây, các công nhân dùng một máy ép có sức nén 550 tấn, dập 3 lần để tạo ra những biểu tượng xung quanh tấm huy chương.

Và để tạo độ bóng, đẹp cho tấm huy chương vàng, những tấm huy chương này sẽ được "tắm vàng" trước khi xuất xưởng.

Mặc dù được pha thêm kim loại khác nhưng những tấm huy chương vàng tại Olympic vẫn mang một vẻ đẹp long lanh như thật.

Được biết, lần cuối cùng, huy chương vàng Olympic được làm bằng vàng nguyên chất là tại Olympic mùa hè 1912 diễn ra ở Stockholm, Thụy Điển.

 

Nguồn: CNN, Reuters

 

Kim Quy st

Xem thêm...

Những đồng tiền may mắn trên thế giới

Những đồng tiền may mắn

trên thế giới

Ở Nhật, mọi người thường bỏ đồng 5 yên vào ví để luôn được rủng rỉnh tiền bạc, còn Singapore luôn mang theo đồng 1 đôla may mắn bên mình với niềm tin đây là tín vật linh thiêng.

Dưới đây là một số đồng tiền được coi là may mắn trên thế giới

Đồng 1 đôla Singapore

Vào khoảng những năm 80 của thế kỷ trước, Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu đã cho phát hành đồng tiền xu mệnh giá 1 đôla Singapore với hai mặt được chạm khắc tỉ mỉ in hình bát quái gần mép đồng tiền.

Ngay sau khi được phát hành, đồng xu này đã được coi là biểu tượng may mắncho tất cả những người sở hữu. Đa số người dân Singapore luôn mang theo đồng tiền xu 1 đôla bên mình với niềm tin đây chính là tín vật linh thiêng.

Ngoài ý nghĩa về mặt tâm linh, với người dân Singapore, đồng xu 1 đôla còn là biểu tượng cho Tài khí.

Đồng 5 Yên của Nhật Bản

Đồng xu 5 Yên của Nhật được làm từ đồng thau và kẽm, có đường kính 22mm, dày 1,5 mm, nặng 3,75g và có một lỗ tròn ở giữa rộng 5mm.

Theo tiếng Nhật, đồng 5 Yên đọc là “gô-en”, trùng âm với một Hán tự có ý nghĩa là “kết duyên”. Vì thế, đồng 5 Yên này được nhiều người xem như đồng xu may mắn, nhất là khi lỗ tròn ở giữa được mọi người xem như “cửa sổ nhìn về tương lai”.

Theo những lời truyền tai ở Nhật Bản, người nhận lương tháng đầu tiên nếu bỏ đồng 5 Yên vào ví sẽ luôn được rủng rỉnh về sau này.

Khi tặng ví cho người khác, người Nhật cũng luôn nhớ để vào trong một đồng xu 5 Yên với mong muốn chủ nhân của chiếc ví sau này sẽ không phải lo về tiền bạc.

Đồng bạc “hòa bình” của Mỹ

Dù chỉ có giá trị 1 USD nhưng đồng xu “hòa bình” mang ý nghĩa rất lớn trong đời sống của người dân Mỹ.

Đồng xu này được lưu hành những năm 1921 - 1935 ở Mỹ và được xem là đồng xu may mắn bởi có chạm khắc hình Nữ thần Tự do.

Ngoài ra, ý nghĩa may mắn còn nằm ở khái niệm của người phương Tây cho rằng “còn 1 USD trong túi nghĩa là bạn luôn có tiền”.

Đồng 1 đôla Canada

Còn được gọi thân mật với cái tên Lucky Loonie (chú chim may mắn).

Đồng xu 1 đôla ánh vàng 11 cạnh của Canada được đưa vào sử dụng lần đầu năm 1987.

Tại Thế vận hội Mùa đông năm 2002 ở Salt Lake (Mỹ), Trent Evans - một vận động viên trong đội tuyển hockey của Canada – đã bí mật đặt một đồng Lucky Loonie xuống lớp băng trên sân thi đấu. Sau đó, cả hai đội hockey nam và nữ của nước này đều giành được huy chương vàng.

Sau câu chuyện trên, Lucky Loonie đã trở thành đồng xu may mắn ở Canada. Các vận động viên nước này cũng thường có thói quen bí mật mang theo một đồng Lucky Loonie trong các cuộc thi đấu quốc tế và coi đó là "bùa hộ mệnh" của mình.

Đồng vàng “thiên thần” của Pháp

Truyền thuyết kể rằng khi Augustine Dupre - người thiết kế đồng xu vàng“thiên thần 100 Francs” - bị kết án tử hình, ông đã nắm đồng xu này trong tay để cầu nguyện.

Viên đao phủ khi nhìn thấy đã cho phép ông đổi đồng xu này để nhận lấy sự sống. Từ đó, việc sở hữu đồng xu vàng “thiên thần” được xem là biểu tượng của sự may mắn ở Pháp.

Tương truyền, Hoàng đế Pháp Napoleon Bonaparte cũng từng giữ bên mình một đồng xu vàng “thiên thần” trong suốt hành trình chinh phục châu Âu cho tới khi ông thất lạc nó. Đó là thời điểm ngay trước khi diễn ra trận chiến Waterloolịch sử.

Đồng 1 xu của Ireland

Những người Ireland gốc tin rằng đồng một xu (Penny) của nước mình mang lại may mắn cho bất cứ ai nhận được. Một mặt của đồng xu in hình đàn hạc, biểu tượng quốc gia của Ireland.

Trước đây, những người bán hàng ở Ireland thường có phong tục trả lại đồng một xu cho khách tới mua để chúc họ may mắn với món đồ vừa lựa chọn.

Bên cạnh đó, còn một lý do khác khiến đồng tiền này nổi tiếng là việc nó chỉ được đúc trong khoảng thời gian nhất định (từ năm 1928-1968). Sau đó, tất cả các đồng 1 xu đều bị thu hồi và nấu chảy. Chỉ một số ít được người dân giữ lại và cất đi làm kỷ niệm.

Nhiều năm sau, đồng một xu trở nên quý hiếm và được các nhà sưu tập Ireland ráo riết săn lùng.

Đồng 6 xu của Anh

Đồng 6 xu của Anh, với những họa tiết chạm khắc cực kỳ công phu và độc đáo, được coi là một trong những đồng xu may mắn nổi tiếng nhất thế giới.

Mặt trước đồng tiền là hình ảnh Nữ hoàng Elizabeth II, mặt sau in hình 4 biểu tượng đại diện các quốc gia hợp thành Vương quốc Anh gồm bông hồng nước Anh, cỏ ba lá Ireland, cành tỏi tây xứ Wales và cành khế của Scotlands.

Suốt nhiều thế kỷ, các cô dâu ở Vương quốc Anh tin rằng vào giờ làm lễ trong ngày cưới, nếu đặt đồng 6 xu này trong gót giày thì cuộc hôn nhân sẽ được sung túc. Do vậy, ngoài việc dùng để mừng tuổi đầu năm, đồng 6 xu này còn được dùng làm quà tặng cho các cô dâu.

Đồng 5 xu của quần đảo Falkland/Malvinas

Falkland/Malvinas là quần đảo tranh chấp giữa Anh và Argentina, nằm ở phía Nam Đại Tây Dương, cách bờ biển Argentina khoảng 650km và cách Anh gần 8.000km.

Falkland/Malvinas có diện tích hơn 12.000km2 với khoảng gần 3.000 người ở. Quần đảo này từ lâu được coi là điểm trung chuyển chiến lược và dồi dào nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Đồng 5 xu lưu hành trên quần đảo Falkland/Malvinas được xem là vật may mắn đối với các thủy thủ và người dân trên đảo.

Đồng tiền được chạm khắc hình chim hải âu lớn đang sải cánh bay. Đây được xem là biểu tượng hạnh phúc khi trở về nhà của các thủy thủ hay người đi biển dài ngày vì sự xuất hiện của những chú chim hải âu là dấu hiệu chỉ báo đất liền đang ở phía trước.

Đồng một Pfennig của Đức

Đồng một Pfennig là một trong những biểu tượng may mắn của người Đức.

Theo quan niệm của người Đức thời xưa, đồng tiền này có khả năng chống lại tà phép, xua đuổi phù thủy khỏi làng và do vậy nó cũng hay được gắn lên cửa nhà để trấn yểm.

Ngày nay, đồng một Pfennig còn có tên gọi là "một cent" và hay được người dân dùng làm quà tặng vì ý nghĩa của nó trong đời sống tinh thần.

Đặc biệt, đồng một Pfennig được xem là mang lại vận may to lớn nhất khi bạn vô tình tìm thấy trên đường.

Đồng Buffalo Nickels – Mỹ

Đồng Buffalo Nickels còn gọi là Hobo Nickels, có hình ảnh thổ dân da đỏ ở một mặt và mặt kia là bò rừng Mỹ. Thời xưa, dù Buffalo Nickels chỉ có giá trị 5 xu nhưng với hình ảnh chạm khắc đặc biệt, nó có thể dùng để đổi lấy một chiếc chăn ấm, một bữa ăn hay nơi nghỉ ngơi qua đêm cho những người vô gia cư.

 

Ngọc Lang st

Xem thêm...
Theo dõi RSS này