Khoa học kỹ thuật

Khoa học kỹ thuật (176)

Chuyện cây bút chì

Chuyện cây bút chì

Sean Bảo

Có một dụng cụ mà ai cũng dùng nó nhiều lần trong đời. Thomas Edison đã dùng nó để phác thảo những sáng chế khoa học, John Steinbeck đã dùng đến 60 cây trong một ngày (với cuốn Phía Tây Vườn Địa Đàng tốn đến 300 cây), Vincent Van Gogh dùng nó để tạo nên những tuyệt tác, Chopin dùng nó kẽ nên những giai điệu bất tử. Tướng Ulysses Grant dùng nó để vạch nên những chiến thắng, ngay cả Thủ tướng Phổ Otto von Bismarck dùng nó để nhồi thuốc lá vào ống vố… Hẳn bạn đoán ra đó là cây bút chì. Cây bút chì quen thuộc mà mỗi trẻ em giàu nghèo đều cầm trên tay để học bài học đầu đời. Và nó sẽ được dùng để vạch đo nên những tấm ván hòm, kết thúc một đời người khi về trong lòng đất.

Tiếng Anh gọi là pencil, từ tiếng Latin “penicillus” là “cái đuôi nhỏ” (một cọ nhỏ làm từ lông lạc đà dùng để viết vào thời xa xưa.) Nghe đâu cây bút chì ra đời một cách ngẫu nhiên. Ðầu những năm 1500s, tại ngôi làng Seathwaite ở thành phố Borrowdale, Anh Quốc, một cơn bão qua đêm, sáng hôm sau người chăn cừu đi xem cánh đồng, thấy dưới gốc cây bị quật ngã phơi ra đống than đen từ lòng đất. Thoạt tiên họ nghĩ là than đốt, sau đó đám than graphite này dính đen vào tay và khó tẩy rửa. Họ bèn dùng da thú bọc các thỏi than graphite này và dùng để đánh dấu các gia súc. Từ đó cây bút chì ra đời. Gọi graphite là than chì chớ thật sự không có chì trong lõi bút.

 

Cây bút chì đầu tiên được tìm thấy ở Ðức vào thế kỷ 17 có hình dẹp, to như cây bút chì cho thợ mộc, thợ nề. Sau đó ở Nuremberg, Ðức Quốc bút chì được sản xuất hàng loạt vào năm 1662. Bút được làm tròn và nhỏ cho vừa tay cầm. Những di dân đầu tiên đến Mỹ đều dùng bút chì nhập từ Ðức. Chiến tranh giành độc lập xảy ra, nguồn nhập cảng bị cắt, William Monroe một thợ mộc ở Massachusetts là người Mỹ đầu tiên sản xuất bút chì từ 1812. Sau đó công ty Dixon Ticonderoga nhập cuộc và tồn tại đến nay. Henry David Thoreau, nhà triết học đa tài nổi tiếng với bài luận Civil Disobedience (Sự bất tuân dân sự) năm 1849 cùng gia đình mở xưởng làm bút chì khi graphite được tìm thấy ở New Hampshire 1920, do graphite ở đấy vụn và mềm, ông đã nghĩ cách trộn thêm đất sét Bentonite để nâng cao  phẩm chất bút chì.

Cây bút chì xưa nhất được tìm thấy ở Đức năm 1630  – Image Faber-Castell

Gỗ bọc lõi chì từ cây Red Cedar, sau này thì dùng gỗ Incense Cedar. Gỗ Cedar vì chúng không biến dạng khi khô, sứa gỗ thẳng và mềm, dễ gọt, không sướt da. Bút chì được đánh dấu ký hiệu từ H (viết tắt của Hardness – Ðộ cứng) đến B (Blackness – Ðộ đen đậm) và F (Fineness – Ðộ mịn, nhỏ nét). 9H là viết chì nhạt và cứng nhất đến 9B là bút chì mềm và đen đậm nhất. Phổ biến là HB #2. Là cây bút chì quen thuộc, tiêu chuẩn của học sinh khi làm bài. Phân loại bút chì này còn dựa vào độ cứng của viết chì để lại trên mặt giấy khi viết/vẽ ở độ nghiêng 45 độ. Nó còn tùy thuộc vào nhà sản xuất ở Châu Âu hay Mỹ, vào độ pha của đất sét. Cấu tạo cây bút chì vô cùng đơn giản và hơn 500 năm qua chúng vẫn như thế. Một thanh graphite nằm trong cây gỗ có cục tẩy. Bút chì từ dạng tròn sang 6 cạnh để khỏi lăn tròn trên mặt bàn nghiêng. Màu sắc thì nhiều, nhưng phổ biến vẫn là màu vàng, như màu xe bus chở học sinh, cũng để nổi bật ra trong đống dụng cụ học đường.

Hễ nơi nào có trang giấy thì phải cần bút chì. Thiếu bút chì thì trang giấy vô hồn. Sẽ không có những vần thơ ngút ngàn, không có những câu chữ mượt mà, không có những trang sách hay, những hình vẽ đẹp, những phát minh làm đời sống tiến bộ, những đường bay của phi thuyền, những hải trình thám hiểm miền đất mới… Mà không riêng gì cho viết vẽ. Bút chì được dùng hầu như mọi nơi. Từ sân đánh golf đến trang Sudoku hay Ô chữ, từ những tính toán đến đo đạc, từ những đống gạch đá xây dựng đến kiến trúc tuyệt vời. Khi còn tuổi học trò ai mà không nhớ cây bút chì được làm trâm cài cho mái tóc thơm mùi bồ kết, bút chì làm thước kẻ, dùng gãi lưng, dùng đục lỗ… Có khi đắn đo với bài toán khó hay câu thơ tình thì ngậm trên môi hay cắn đến in dấu răng, có khi giắt trên tai hay xoay giữa 2 ngón tay một cách vô thức. Với bút chì, học trò sẽ còn làm quen nét chữ nghiêng nghiêng, nét chữ hình thành nên một chữ viết riêng biệt đầy cá tính sau này, riêng biệt như là chữ ký của mỗi người. Các đứa trẻ ngày nay có lẽ quen với các bàn phím hay bút Stylus mà đánh mất đi nét chữ đẹp.

Phân loại bút chì theo độ cứng và độ đậm nhạt của ruột chì

Nhắc đến Stylus là nói đến cây bút thời đại kỹ thuật số. Khi mà giấy trắng và sách vở được thay thế bằng tablet, bằng các màn hình cảm ứng. Stylus như cây bút viết chữ thay thế cho bàn phím, cây Stylus làm cây cọ vẽ, làm con mouse. Ði xa hơn thế, với các ứng dụng biến đổi giọng nói thành chữ viết, với Google Home và Amazon Echo, Alexa… các AI (trí thông minh nhân tạo) này thì người ta e rằng vài chục năm nữa giấy trắng, cuốn sách và cây bút chì sẽ biến mất. Ấy vậy mà bút chì vẫn được sản xuất hàng chục tỉ cái mỗi năm trên thế giới. Faber Castell là một thương hiệu bút lâu đời của Ðức, ra đời năm 1761 và tiếp tục sản xuất đến nay. Blackwing là hiệu bút chì ở California của Palomino (sau này Faber Castell mua lại) luôn được mọi người yêu thích bởi  phẩm chất than chì, thiết kế cổ điển, cục tẩy hình dẹp có thể thay thế và tên tuổi của những nhân vật nổi tiếng đã sử dụng nó.

Bút chì sẽ tồn tại bởi nhiều lý do. Cũng như bút mực, bút bi, khi cầm bút, những ý tưởng và hình ảnh từ đầu óc và tâm hồn được trải bày. Nhưng với bút chì có thể tẩy xóa và viết, vẽ lại. Các nét vẽ có thể được nhấn mạnh nhẹ để có độ đậm nhạt, tạo ra chiều sâu cho hình ảnh. Có khi bằng cục tẩy, có khi bằng ngón tay xoa nhẹ, tranh bút chì luôn gây ấn tượng người xem về tính nguyên thủy và sự mộc mạc của nó. Trong các chuyến du hành vào vũ trụ, ở môi trường không trọng lực, chỉ có các bút chì mới viết được, còn các bút bi thì mực không chảy. (Ai có thói quen viết bài khi nằm trên giường, thì chỉ có cây bút chì là dùng được vào lúc ấy.)  Khác với cây bút Stylus hiện đại. Dù các nét vẽ bút chì không được chuyển đổi thành những pixel và những vector sắc sảo, tiện lợi cho các ứng dụng. Dù các nét ngang dọc đậm nhạt của bút chì không được thẳng thớm, hoặc tẩy xóa sạch sẽ, chính xác và nhanh chóng cho các designer bằng cây Stylus. Bút chì phác thảo vẫn là nền móng cho mọi tác phẩm, cho mọi ý tưởng. Chừng nào còn những trang giấy trắng háo hức, những khung vải bố đợi chờ, hay những cuốn sách lao xao những ý tưởng đắm say, thì bút chì vẫn còn đó thủy chung.

Một trong nhiều công dụng của bút chì – nguồn xcsunnyhaircom

Có một câu chuyện ngụ ngôn về cây bút chì. Một người thợ làm bút chì đã dặn dò: “Có năm thứ mà ngươi cần biết trước khi ta gửi ngươi ra đời. Luôn nhớ năm điều này và không bao giờ được quên:

– Thứ nhất: Ngươi có thể làm được nhiều thứ vĩ đại nhưng chỉ khi ngươi nằm trong tay một người nào đó.

– Thứ hai: Thỉnh thoảng ngươi phải bị cắt gọt một cách hết sức đau đớn, nhưng ngươi phải cần điều này vì nó làm cho ngươi trở thành ngày càng hữu ích hơn.

– Thứ ba: Ngươi có thể sửa chữa bất cứ lỗi lầm nào mà ngươi đã gây ra.

– Thứ tư: Phần quan trọng nhất sẽ luôn nằm bên trong ngươi.

– Và thứ năm: Trên mỗi mặt phẳng mà ngươi được sử dụng lên, ngươi sẽ để lại dấu vết. Bất kể điều kiện ra sao ngươi vẫn phải tiếp tục công việc của mình.

Hay là một đoạn đối thoại cảm động sau đây giữa bút chì và cục tẩy:

– Bút chì: Ôi! Tôi thật có lỗi.

– Cục tẩy: Cho việc gì? Anh đâu làm gì sai?

– Bút chì:  Tôi xin lỗi vì đã làm bạn hư hao. Mỗi khi tôi mắc lỗi lầm, bạn luôn bên cạnh để xóa nó. Và bạn ngày càng gầy ốm, nhỏ đi mỗi lần…

– Cục tẩy: Ðúng thế! Nhưng tôi không phiền hà. Bạn biết đó! Tôi sinh ra để làm việc ấy, để giúp bạn mỗi khi bạn sai. Cho dẫu một ngày kia tôi hao mòn rồi mất, thì bạn sẽ thay thế tôi bằng “cục tẩy” khác mới hơn. Vì thế đừng buồn.

Wacom Bamboo Stylus

Có thể bạn tìm thấy trong đoạn đối thoại đó hình ảnh của cha mẹ là cục tẩy và con cái là cây bút chì, hay là hình ảnh của tình yêu thương bất vụ lợi đầy cao cả của nhân loại nghìn đời. Hoặc có chút ví von chút lãng mạn, thì xem trang giấy trắng như người trinh nữ, có nét bút mực là thành gái có chồng, hằn sâu vết màu ái ân, mất đi cái ngàn vàng. Còn bút chì thì như người tình, đi vào trang giấy trắng chỉ như những nụ hôn ngọt ngào. Với cục tẩy, mọi lỗi lầm và kỷ niệm quá khứ sẽ được xóa đi trên trang đời tình ái của nàng. Trang giấy dù không phẳng phiu vẫn còn trong trắng – như người trinh nữ. Hãy cứ yêu nhau nhẹ nhàng như bút chì cọ vào trang giấy. Không vừa lòng nhau thì tẩy xóa vu vơ. Một mai khi trang giấy không còn thì bút chì vẫn còn đó. Ðể tô mày, vẽ mắt cho nàng như Trương Vô Kỵ. Bạn nhỉ.

 

Ngọc Lan st

 

Xem thêm...

Kinh ngạc với khả năng đa ngôn ngữ của con người: người nói được hơn 100 thứ tiếng?

Kinh ngạc khả năng đa ngôn ngữ của con người:

người nói được hơn 100 thứ tiếng?

 

 

“Hiểu một ngôn ngữ không có nghĩa là vận dụng thành thạo nó”, Clarisa M, một cô gái người Tây Ban Nha nhưng hiện đang sinh sống ở Úc chia sẻ.

Clarisa cho biết, cô tỏ ra khá khó khăn khi cố gắng nói tiếng mẹ đẻ của mình. Sau 35 năm xa quê hương, Clarisa đã phải học lại một phần tiếng Tây Ban Nha, mà theo cô, chỉ còn sót lại “trong sâu thẳm của tiềm thức”.

Khả năng đa ngôn ngữ không chỉ giới hạn ở những thiên tài

Học ngoại ngữ không phải là một điều dễ dàng, và đối với nhiều người, có thể nói trôi chảy là một cuộc hành trình không ngừng nghỉ.

Sebastian Heine

Một trường hợp đáng ngạc nhiên về người biết nhiều thứ tiếng là Sebastian Heine, người Đức, người được coi là “Tháp Babel của nhân loại”.  Ở tuổi 22, anh sinh viên về triết học Ấn-Đức có thể giao tiếp ít nhất 35 ngôn ngữ khác nhau, trong số đó anh thích tiếng Pashto của một dân tộc thiểu số ở Trung Đông.

Tháp Babel – sự tích ra đời các thứ tiếng trên thế giới theo Kinh Thánh. Tranh của họa sĩ Pieter Brueghel the Elder (1563).

Tuy rất nhiều người gọi anh là một thiên tài, nhưng anh Sebastian khẳng định rằng mình không phải như vậy, mà chỉ đơn thuần là một cá nhân khá tâm huyết với việc học các loại ngôn ngữ mới.

Sebastian cho biết, tình yêu ngôn ngữ đã nảy nở khi anh lên 7 tuổi, khi đó anh đã được tiếp xúc với tiếng Hy Lạp và coi nó như một trò chơi. Hiện tại, Sebastian đã đặt ra một mục tiêu “khiêm tốn” là học hai ngôn ngữ mới mỗi năm.

Trở thành người đa ngôn ngữ… vì bị mẹ phạt

Trường hợp của Jorge Fernandez, tuy không sở hữu nhiều ngôn ngữ như Sheine, nhưng khả năng của Jorge khiến nhiều người phải thán phục. Khi 18 tuổi, thanh niên người Peru này có thể nói và viết thành thạo cả chục thứ tiếng khác nhau, bao gồm tiếng Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Rumani, Ý, Bồ Đào Nha, Hà Lan, tiếng Catalan , Galicia và Mandarin.

Ảnh minh họa

Theo Jorge, sự say mê ngôn ngữ của anh bắt đầu khi bị mẹ phạt (tịch thu điện thoại) do có điểm kém ở trường. Fernandez đột nhiên thấy mình không có việc gì để làm nên anh đã có mong muốn được giao tiếp với nhiều người.

Một khóa học tiếng Pháp bắt buộc đã khơi dậy sự tò mò và niềm đam mê của Fernandez, sau đó, anh tiếp tục tự học với tiếng Ý và Rumani. Tiếp đó là 9 ngôn ngữ khác, và Fernandez đã đặt mục tiêu có thể nói trôi chảy 25 ngôn ngữ.

Vậy đâu là giới hạn của con người?

Thành thạo hơn 30 thứ tiếng khác nhau chắc hẳn đã khiến nhiều người rất ấn tượng rồi. Tuy nhiên ai là người biết nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới? Một người có thể biết tối đa bao nhiêu ngôn ngữ ? Hơn 40 ngôn ngữ hay thậm chí là 50?

Ảnh minh họa

Ziad Youssef Fazah đến từ Lebanon có thể hiểu hơn 60 ngôn ngữ khác nhau ở mức độ cơ bản. Tất nhiên như Clarisa đã nói ở trên, “Hiểu một ngôn ngữ không có nghĩa là vận dụng thành thạo nó”. Điều này cũng đúng cho Fazah, ông phải thường xuyên trau dồi và thực hành các ngôn ngữ đã học được để không quên mất những gì đã học.

Những nhân vật nổi tiếng biết nhiều thứ tiếng trong lịch sử

Dường như ngay khi chúng ta hiểu biết về những hạn chế của trí óc con người, thì sẽ  luôn có vài người tiến xa hơn.

Nói trôi chảy nhiều ngôn ngữ thì phải nhắc tới Đức Hồng Y Guiseppe Caspar Mezzofanti và nhà ngôn ngữ học John Bowring, những người đã vượt khá xa khỏi những điều mà phần lớn chúng ta cho là không thể.

Đức hồng y sinh ngày 17 tháng 9 năm 1774. Ông có khả năng sử dụng thành thạo 38 ngôn ngữ và gần 100 thứ tiếng địa phương. Ngoài ra ông còn có một sự hiểu biết cơ bản về rất nhiều loại ngôn ngữ khác. Người ta đã xác định được rằng, nhìn chung, vị Hồng y này biết được khoảng 100 loại hình giao tiếp khác nhau.

Còn Bowring, một trong những nhà ngôn ngữ học uyên bác nhất mà chúng ta từng biết còn “đáng sợ” hơn nữa. Ông được cho là có vốn hiểu biết cơ bản với trên 200 loại ngôn ngữ khác nhau, trong đó thông thạo khoảng 100. Và cho đến nay, người ta chưa tìm thấy một ai có khả năng diễn giải ngôn ngữ tốt như Bowring.

Bowring sinh vào năm 1792. Ông là thống đốc của Hồng Kông và là một người thích đi du lịch. Ông đã được phong tước Quý tộc (Gentleman of the Bath Order) và là một thành viên của Hiệp hội Hoàng gia Anh (Royal Society) và Hiệp hội Địa lý Hoàng gia Anh (Royal Geographical Society)

Mở rộng giao tiếp

Tuy không thông thạo nhiều ngôn ngữ như những nhân vật biết nhiều thứ tiếng được đề cập ở trên, một số nhân vật lịch sử đương đại cũng có thể thông thạo nhiều thứ tiếng. Không ngạc nhiên gì khi những nhân vật này cũng được biết đến như các nhà giao tiếp vĩ đại.

Chức vụ Giáo hoàng đã có một lịch sử lâu dài gắn liền với khả năng đa ngôn ngữ, và truyền thống đó đã được truyền thừa cho tới ngày nay.

Đức Giao hoàng Gioan Phaolô II có thể nói thông thạo tiếng Ba Lan, Hy Lạp cổ đại, tiếng Latin, Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, tiếng Anh, tiếng Esperanto, tiếng Đức, và có một kiến thức cơ bản của tiếng Séc, Lithuania, Nga, Hungary, Nhật Bản, Tagalog, và một số ngôn ngữ châu Phi.

Giáo hoàng Benoit XVI thì thành thạo khoảng chục ngôn ngữ khác nhau.

Các nhà văn đa ngôn ngữ James Joyce (tác giả loạt tiểu thuyết nổi tiếng Ulyxơ) và J.R.R. Tolkien (tác giả loạt tiểu thuyết nổi tiếng The Hobbit và The Lord the Rings) mỗi người đều thành thạo 13 thứ tiếng.

Tương tự như hai tác giả nổi tiếng trên, nhà khảo cổ học Jean-François Champollion – cũng thông thạo 13 thứ tiếng, ông đã giúp giải mã chữ tượng hình Ai Cập cổ đại ghi trên phiến đá Rosetta vào năm 1822, nhờ kiến thức sâu rộng về tiếng Copte.

Nhờ kiến thức sâu rộng trong ngôn ngữ Copte (tiếng Ai Cập cổ), nhà khảo cổ học người Pháp Champollion đã giúp giải mã chữ tượng hình Ai Cập cổ đại. (Angel Navarrete / AFP / Getty Images)

Một trong số những nhân vật thần đồng khác mà chúng ta không thể bỏ qua là nhà ngôn ngữ học Kenneth Locke Hale, người có một khả năng tuyệt vời với việc học ngôn ngữ một cách cực nhanh và cực chính xác.

Trong khi nghiên cứu về cú pháp và từ vựng tại MIT, Hale đã quan tâm đến các ngôn ngữ ít được nghiên cứu và đang có nguy cơ bị biến mất, chẳng hạn như Hopi, Navajo, và Walpiri ở Úc. Hale thông thạo tổng cộng 50 ngôn ngữ khác nhau.

Thế giới ngôn ngữ rất hấp dẫn, và có rất nhiều lợi ích khi thông thạo nhiều ngôn ngữ. Trong thực tế, trên thế giới có nhiều người biết nhiều ngoại ngữ hơn là người chỉ biết một thứ tiếng, và chỉ có một vài nước trên thế giới như Mỹ không yêu cầu học một ngôn ngữ thứ hai ở trường.

   Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng càng trẻ bao nhiêu, thì việc học một ngôn ngữ mới càng dễ dàng bấy nhiêu.

Học ngôn ngữ mới không chỉ  giúp chúng ta xích lại gần hơn với phần còn lại của thế giới; mà còn đem đến cho chúng ta những hiểu biết và thẩm thấu được các nền văn hóa cũng như bề dày lịch sử của một nền văn minh hoàn toàn khác biệt mà chỉ có thông qua ngôn ngữ, ta mới có thể tiếp cận được. Vốn dĩ ngôn ngữ không bao giờ tách biệt khỏi văn hóa, khỏi lịch sử một nền văn minh. “Văn dĩ tải đạo”, trong văn có chở đạo, học ngôn ngữ là học được văn, được đạo…Còn gì quý hơn?

Xuân Hà (biên dịch từ Epoch Times France)

 Lan Chi ST

 

Xem thêm...

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản

 20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản

Dù là một trò chơi điện tử, chiếc xe hơi hay nhân vật hoạt hình; những phát minh trên của người Nhật Bản đã thay đổi một phần nào diện mạo của thế giới trong suốt nhiều năm qua.

Nhật Bản là quốc gia của những nhà sáng chế. Tuy nhiên, nếu bạn chỉ biết tới những con rô bốt, máy tính xách tay hay những chiếc ô tô chất lượng cao, còn quá nhiều thứ bạn chưa biết về những phát minh sinh ra từ xứ sở mặt trời mọc.

Hãy cũng nhìn xem, Nhật Bản đã mang đến những món đồ, thiết bị, công cụ nào mà khiến cả thế giới thay đổi theo chiều hướng tích cực như vậy.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 1.

Từ điển Oxford đã đưa từ "selfie" trở thành một từ chính thức vào năm 2013. Tuy nhiên, những chiếc gậy tự sướng đã có mặt từ trước đó khá lâu. Chiếc gậy selfie đầu tiên được đăng ký bản quyền vào đầu những năm 1980 bởi 2 nhà thiết kế người Nhật Bản, Hiroshi Ueda và Yujiro Mima.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 2.

Toyota Corolla là chiếc xe bán chạy nhất mọi thời đại. Nó được đưa ra thị trường lần đầu vào năm 1966 và sớm trở nên thịnh hành trên toàn thế giới. Với phiên bản thế hệ 10, Corolla đã bán được 44,1 triệu chiếc ô tô.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 3.

Pokemon được phát minh bởi Satoshi Tajiri vào năm 1995. Không cần phải nói cũng biết, nó đã trở thành hiện tượng trên toàn thế giới như thế nào. Nhiều người đánh giá, sự nổi tiếng của Pokemon cũng ngang ngửa Harry Potter trên phạm vi toàn cầu.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 4.

Thiết bị điện tử mang tên PlayStation 2 được ra đời vào năm 2000 bởi hãng Sony tại Nhật Bản. Đây được coi là thiết bị điện tử gia đình bán chạy nhất mọi thời đại với khoảng 155 triệu bản đã được bán ra. Ra đời 6 năm sau PlayStation 1, đã có hơn 3,800 tựa game được phát hành kể từ khi máy này được ra mắt.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 5.

Karaoke là một trong những thú vui giải trí phổ biến nhất trên thế giới. Máy karaoke đầu tiên được phát minh tại Nhật Bản vào năm 1971, bởi một tay trống tên Daisuke Inoue.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 6.

Shinkansen là hệ thống tàu cao tốc có thể đạt tới vận tốc 400kmh. Đây được coi là chiếc tàu cao tốc đầu tiên trên thế giới.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 7.

Sudoku là một trò chơi ô chữ được phát minh bởi Maki Kaji vào năm 1984. Từ Nhật Bản, nó đã lan rộng ra toàn thế giới. Mục đích của trò chơi là điền một ô lưới kích cỡ 9x9, sao cho mỗi hàng, mỗi cột, mỗi ô 3x3 có đầy đủ số từ 1 đến 9.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 8.

Thiết bị VHS (hệ thống đầu băng gia đình) được ra đời tại Nhật Bản vào năm 1976. Đây được coi là một phát minh vô cùng sáng tạo vào thời điểm đó, cho phép người xem TV có thể ghi lại các chương trình. Ngoài ra, bạn có thể mua hoặc thuê băng VHS về nhà xem.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 9.

Nhật Bản là "kinh đô" đồ ăn giả trên thế giới. Những món đồ ăn bằng nhựa được phát minh bởi Takizo Iwasaki từ đầu thế kỷ 20. Chúng được sử dụng để làm mẫu trong các nhà hàng. Đồ ăn giả giờ đây được làm bằng nhựa và xuất hiện rất nhiều nơi trên thế giới.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 10.

"Câu chuyện của Genji" là một truyện của Nhật Bản, được coi là những cuốn tiểu thuyết hiện đại đầu tiên trên thế giới. Nó được viết bởi nữ sĩ Murasaki Shikibu vào đầu thế kỷ 11 với nội dung về cuộc sống và tình yêu của hoàng tử Genji.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 11.

Hệ thống định vị trên ô tô được ra mắt lần đầu vào năm 1981 bởi công ty Honda. Tuy còn nhiều nhược điểm khi mới được ra mắt nhưng đây được coi là tiền đề phát triển cho nhiều hệ thống định vị sau này.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 12.

Máy nghe nhạc Sony Walkman đã thay đổi cách chúng ta nghe nhạc. Nó cho phép người nghe có thể vừa nghe nhạc, vừa đi đường. Sony đã thông báo về những chiếc Walkman từ năm 1979 và sau một tháng, tất cả các cửa hàng đều bán hết veo. Sau đó, nó đã trở thành hiện tượng toàn cầu.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 13.

Shigetaku Kurita đã phát minh ra hệ thống cảm xúc (emojis) vào những năm cuối 1990 và áp dụng với điện thoại di động tại Nhật Bản. Ban đầu, emojis không để dành cho việc nhắn tin mà để dự báo thời tiết một cách đơn giản. Giờ đây, emojis đã trở thành một phần trong ngôn ngữ hàng ngày và từ này cũng đã được vào từ điển hồi năm 2015.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 14.

Epson HX-20 là máy tính xách tay đầu tiên trên thế giới. Ra mắt vào năm 1982, chiếc máy tính này gồm một bàn phím, một màn hình LCD, một máy in và chỗ sạc điện.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 15.

Công việc in 3D phát triển từ những năm 1980, khi chiếc máy in 3D đầu tiên được phát minh bởi Hideo Kodama tại Nhật Bản.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 16.

Năm 1955, công ty điện tử Toshiba đã ra mắt nồi cơm điện đầu tiên trên thế giới. Giờ đây, bạn có thẻ thấy nồi cơm điện ở bất cứ đầu trên toàn cầu.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 17.

Máy tính bỏ túi là một phát minh của Nhật Bản từ năm 1970 và đã được sử dụng trên phạm vi toàn cầu.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 18.

Dưa hấu vuông là một món quà đắt tiền tại Nhật Bản. Tuy nhiên, người ta đã phát triển ra chúng vì những lý do thực tế (việc vận chuyển, sắp xếp...). Những quả dưa hấu vuông được phát minh vào năm 1978 bởi Tomoyuki Ono.

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 19.

Vào những năm 1990, 3 nhà khoa học Nhật Bản đã sử dụng các ống bán dẫn để chế tạo ra một loại đèn rất sáng có ánh sáng xanh. Công nghệ đèn LED là một phát minh mang tính cách mạng và được sử dụng trong nhiều sản phẩm như TV, di động, máy tính...

20 phát minh tuyệt vời của Nhật Bản đã thực sự thay đổi thế giới - Ảnh 20.

Dù không phải quê hương của mỳ nhưng mì gọi được ra đời lần đầu tiên tại Nhật Bản vào năm 1958. Giờ đây, sản phẩm này đã được bày bán trên toàn thế giới và là món ăn không thể thiếu của nhiều gia đình.

Ngọc Lang sưu tầm

Ảnh bìa cảnh biển tuyệt đẹp và thơ mộng cho timeline facebook 2016

Xem thêm...

Vì sao biểu tượng của ngành Y lại là con rắn?

Vì sao biểu tượng của

ngành Y lại là con rắn?

Nhiều người thắc mắc, tại sao biểu tượng trong ngành Y dược lại là con rắn mà không phải là con vật hay thực thể khác? Khi thì thấy hai con, lúc lại một con rắn quấn quanh một cây gậy, có khi thì cái ly (hay gặp trong ngành dược)?

Để trả lời cho đến tường tận câu hỏi trên kỳ thực là một câu chuyện dài và rất phức tạp, vì các nhà nghiên cứu Cổ học và Y khoa đã tranh cãi về nguyên uỷ của biểu tượng ấy suốt nhiều thập kỷ qua, nói chung chưa hẳn ngã ngũ nhưng cũng đã có dấu hiệu sáng tỏ.

Từ truyền thuyết về rắn…

Theo truyền thuyết cổ Hy Lạp, Esculape – con trai của thần Apollo (thần Thái Dương) và Coronis, con gái vua Phlégyas xứ Thê-bê – được xem là ông tổ của ngành Y dược. Esculape không những có khả năng chữa bệnh mà còn có cả biệt tài làm cho người chết sống lại.

Thần Esculape (tiếng Latin) còn có tên gọi khác là Asclépios (tiếng Hy Lạp) nhiều khả năng chào đời ở Thessalie thuộc miền Bắc Hy Lạp vào khoảng năm 1260 trước Công nguyên. Truyền thuyết cho rằng, mẹ ông qua đời khi đang còn mang thai ông và cha ông đã phải mổ lấy con ra khỏi bụng mẹ.

Vì mẹ mất nên Esculape bị đem bỏ lên núi gần thành phố Epidaure, nhờ được dê cho bú và chó canh chừng nên đã sống sót. Sau đó ít lâu, Esculape được cha mang đến cho Chiron, vị Nhân Mã (đầu người, hình ngựa) nuôi dạy. Do bản tính ưa quan sát và lớn lên trong khung cảnh thiên nhiên nên Esculape sớm nhận ra các loại cây cỏ có dược tính chữa bệnh hoặc có thể cải tử hoàn sinh.

Tranh: Thần Apollo giao Asclépios cho nhân mã Chiron.

Tác giả: Christopher Unterberger, người Áo.

Cũng theo truyền thuyết, một ngày nọ, Esculape trên đường đi thăm bạn gặp một con rắn, ông đã đưa cây gậy ra và con rắn liền bám lấy rồi bò lên quấn quanh cây gậy. Esculape thấy vậy đã cầm cây gậy đập xuống đất để giết chết con rắn. Ngay sau đó, ông lại thấy một con rắn khác bò tới cứu, miệng ngậm một loại thảo dược và sử dụng nó giúp con rắn đã chết sống lại. Từ đó, Esculape để tâm tìm kiếm các loại cây cỏ trong núi để chữa bệnh cho con người.

Thần Zeus, chúa tể của các vị thần Hy Lạp cổ đại, sợ Esculape quá tinh thông y học sẽ giúp cho loài người trở thành bất tử nên sai anh em nhà Cyclopes tạo mũi tên sấm sét để trừng phạt. Nhờ thần Apollo kêu xin, thần Zeus đã tha tội và cho Esculape tham dự vào hàng tinh tú trong chòm sao Nhân mã (Sagittaire). Từ đó, Esculape được xem như thần bổn mệnh của các thầy thuốc.

Một bức tượng Esculape cùng cây gậy và con rắn
(ảnh: Wiki)

Đến ông tổ của ngành y dược

Thần Esculape lấy vợ là Lampetie và sinh được 2 con gái là Hygeia và Panacée, 3 con trai là Thelesphore, Machaon và Podalire. Tất cả 5 người con của ông đều tạo dựng được danh tiếng không kém cha.

Một bức tượng nữ thần Hygeia

Cũng theo truyền thuyết, Hygeia đã nuôi rắn thần để chữa bệnh và về sau trở thành nữ thần biểu tượng cho việc giữ gìn sức khỏe con người, do đó môn vệ sinh học được đặt tên là Hygène. Cô con gái thứ hai – Panacée – là nữ thần có khả năng chữa mọi bệnh tật, do đó thuốc chữa bệnh được gọi là Panacée. Hai người con trai đều tham gia cuộc chiến thành Troy và đã được Homère ca ngợi trong tập trường ca Iliad. Machaon có tài chữa mọi vết thương cho các chiến binh, còn Podalire là một thầy thuốc ngoại khoa tài năng. Con trai của Podalire là Hipocoon, tổ tiên của Hippocrate, sau này được tôn vinh là bậc y tổ của thế giới.

Trong nhiều thế kỷ, có thể vào thời kỳ Pindare, đầu thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên; Esculape mới được tôn thờ như một vị thần linh của y học Hy Lạp. Cũng có lẽ từ thời điểm này, những đền thờ đầu tiên được xây dựng để ghi ơn ông, đồng thời còn được dùng làm nơi khám chữa bệnh. Chữ Esculape về sau đã trở thành danh từ chung để chỉ những người hành nghề y dược.

Để tưởng nhớ Esculape, hậu thế đã dựng bức tượng của ông, tay cầm chiếc gậy làm bằng cây nguyệt quế và một con rắn quấn chung quanh. Con rắn này có tên là Elaphe longissima, một loài rắn lành có màu sắc đẹp, sống phổ biến ở châu Âu. Cũng theo truyền thuyết, loài rắn đã được đưa đến La Mã để cứu nguy cho người dân bị nạn dịch hạch đang gieo rắc nỗi khiếp đảm lúc bấy giờ. Có người còn cho rằng, những con rắn của thần Esculape đã chữa bệnh cho người bằng cách liếm các vết thương của người bệnh trong lúc họ đang ngủ.

Và biểu tượng của ngành Y – dược

Dựa vào truyền thuyết trên, ngành y đã dùng biểu tượng con rắn quấn quanh cây gậy phép của Esculape. Con rắn quấn quanh cây gậy tượng trưng cho sự khôn ngoan, khả năng chữa trị bệnh và kéo dài tuổi thọ.

Trong biểu tượng của ngành dược cũng sử dụng con rắn này nhưng nó quấn quanh một cái ly hoặc cốc có chân cao. Chiếc ly/cốc tượng trưng cho chén thuốc của nữ thần sức khỏe Hygeia, bên trong có chứa đựng chất dịch được chiết xuất từ các loại cây cỏ. Con rắn tượng trưng cho sức khỏe và sự trẻ trung. Biểu tượng của ngành dược nhanh chóng được quốc tế công nhận giống như biểu tượng con rắn và cây gậy của ngành y.

Hiện còn có một cách lý giải khác về cây gậy thần và con rắn trong biểu tượng của ngành Y: Gậy thần gồm một bó đũa (hoặc chiếc đũa) chế từ cây nguyệt quế (tượng trưng cho sự vinh quang và được người La Mã sử dụng làm mũ đội cho các binh sĩ thắng trận trở về). Hai con rắn hoặc có khi một con ôm quanh hai bên cây gậy là biểu tượng của thần Hermès (thần thoại Hy Lạp) và sau này là thần Mecure của người La Mã, vị thần điều hành sức khoẻ và sự mua bán. Các con rắn vừa biểu tượng cho sự thận trọng, tính khôn khéo vừa đại diện cho sự cân bằng về tâm thần và thể xác của các nhà hiền triết cổ đại. Các thầy thuốc và dược sĩ Châu Âu đã lấy hình tượng con rắn và gậy thần làm biểu trưng cho nghành Y…

Văn minh thủy tổ” đều là do Thần truyền?

Ngày nay nhiều người cho là mê tín khi nhắc đến các vị Thần, nhưng khi tra lại lịch sử, người ta phải thừa nhận rằng sự khởi đầu của bất kỳ nền văn minh nào trên thế giới cũng đều gắn với các vị Thần, các truyền thuyết và thần thoại.

Câu chuyện về biểu tượng ngành y cũng đã gợi ý rằng chính là các vị Thần đã khai sáng ra cái gốc của y học hiện đại ngày nay. Không chỉ Tây Y, mà Đông y cũng vậy, được khai sáng bởi Thần Nông từ hơn 5000 năm trước đây.

Thần Nông, thủy tổ của nông nghiệp và Đông y (tranh vẽ qua Epoch Times)

Rất nhiều “dấu ấn của Thần” còn để lại cho đến nay. Theo thống kê, chữ Hán hiện đại có khoảng 1000 thành ngữ thường dùng, trong đó có trên 280 thành ngữ chứa chữ “Thần”. Ví dụ: “Tâm khoáng Thần di” (Tạm dịch: Tâm trí thanh thản, lòng dạ thảnh thơi), “Thần thanh khí mậu” (Tạm dịch: Tinh thần thanh sạch, khí tiết phong phú), “Thần sắc tự nhược” (tạm dịch: Thần sắc vẫn tự nhiên), “Thần thái hồng hào, sáng láng”, “Quỷ phủ Thần thông” (chỉ tài nghệ điêu luyện), “Tập trung tinh thần”, “Toàn thần quán chú” (Tạm dịch: Hết sức chăm chú)…

Người xưa đối với “Thần” đều tỏ lòng tôn kính, bởi vì trước hết đó là những vị có cốt cách và phong thái đạo đức cao thượng phi phàm, hoặc là đã “Đắc Đạo”, thông thấu được lý trời, làm ra những “Thần tích”, để lại những “Thần ngôn”… cho con người.

Khoa học hiện đại cũng mang lại nhiều bằng chứng về văn minh nhân loại, văn minh tiền sử. Tuy nhiên ai có thể mở lòng để nhìn nhận một cách khách quan các bằng chứng lịch sử này? Và chỉ khi đó, người ta mới có thể nhận thức thêm về con người, sinh mệnh, vũ trụ, đồng thời đưa ra được những giải pháp trị liệu phù hợp hơn. Đối diện với làn sóng bệnh tật và sức khỏe nhân loại đang suy thoái, việc này dường như cấp bách hơn bao giờ hết.

 

Đình Vũ (Theo Trithuc)

 

Hồng Anh sưu tầm

Xem thêm...
Theo dõi RSS này