Khoa học kỹ thuật

Khoa học kỹ thuật (195)

Gia đình có "gene" đạt giải Nobel

Gia đình có "gene" đạt giải Nobel

Marie Curie là nữ khoa học gia đầu tiên đạt giải Nobel, đồng thời cũng là người đầu tiên đạt giải 2 giải Nobel trên 2 lĩnh vực khác nhau. Với gia đình của Marie Curie, cái duyên với giải Nobel thật kỳ lạ.

Hai vợ chồng 3 giải Nobel

Marie Curie - nhà khoa học thiên tài có một gia đình nhiều duyên nợ với giải Nobel.

Theo BBC, Maria Salomea Skłodowska (1867-1934) là một nhà vật lý và hóa học nổi tiếng người Ba Lan. Do đam mê khoa học từ nhỏ, khi đến tuổi trưởng thành, bà đến Paris vừa học vừa kiếm tiền.

Tại đây, bà nên duyên cùng Pierre Curie, một nhà khoa học tài ba - người tiên phong trong lĩnh vực tinh thể học , từ học, điện học và phóng xạ học. Chính Pierre Curie đã làm Marie Curie (tên sau kết hôn) thoát suy nghĩ vốn có do định kiến xã hội: phụ nữ không thể làm khoa học.

Vợ chồng Marie Curie cùng nhận Nobel Vật lý năm 1903.

Năm 1903, bà nhận giải Nobel Vật lý cùng chồng cho các nghiên cứu về bức xạ. Nhưng đáng tiếc, chỉ 3 năm sau, Pierre Curie mất đột ngột do tai nạn giao thông.

Marie Curie tiếp tục nghiên cứu, và vào năm 1911 bà nhận giải Nobel Hóa học cho công trình tìm ra 2 nguyên tố phóng xạ radium và polonium. Trong đó, polonium được bà đặt tên để tưởng nhớ đất nước Ba Lan của mình (Poland).

Tiếp nối con đường của mẹ - 2 giải Nobel

Irène Curie (phải) từ nhỏ đã đam mê khoa học như cha mẹ.

Theo Hội đồng hóa học Hoàng gia Anh, Irène Curie sinh năm 1897 tại Paris là người con đầu của Marie Curie và Pierre Curie. Sinh ra trong gia đình có "truyền thống" khoa học, Irène Curie nhanh chóng phát triển khả năng tư duy và nuôi dưỡng niềm đam mê hóa học từ nhỏ.

Sau khi tốt nghiệp trung học, bà xin vào phụ tá cho mẹ mình ở Viện nghiện cứu Radium ở Paris.

Năm 1925, nhóm nghiên cứu của 2 mẹ con có thêm sự tham gia của nghiên cứu sinh Frédéric Joliot từ trường Collège de France. Irène Curie và Frédéric Joliot yêu nhau và trở thành vợ chồng.

Irène Curie cùng chồng nghiên cứu và giành Nobel, hệt như cha mẹ trước đây.

Từ đó, 2 người cùng nhau nghiên cứu các hiện tượng phóng xạ tự nhiên, phóng xạ nhân tạo và vật lý hạt nhân.

Các phát hiện của họ về sự va chạm của các hạt nơtron vào hạt nhân các nguyên tố nặng là nền tảng cho các nhà khoa học kế cận tìm ra phản ứng phân tách hạt nhân.

Năm 1935, 2 vợ chồng đạt giải Nobel Hóa học cho những công trình về phát xạ nhân tạo - sự tiếp nối công trình của mẹ mình về các nguyên tố phóng xạ tự nhiên.

 Người con "ngoại đạo" và giải Nobel hòa bình

Cô con gái út của mẹ Marie Curie không theo khoa học mà chọn con đường viết lách và hoạt động xã hội.

Theo The New York Times, người con còn lại của bà, Eve Curie (1904 - 2007) dù rất yêu quý mẹ mình nhưng không theo đuổi con đường khoa học của gia đình.

Eve Curie thích các môn xã hội và thích viết lách, về sau theo nghiệp nhà văn, nhà báo và nghệ sỹ piano. Sau khi mẹ bà qua đời, Eve Curie là người chấp bút viết một cuốn tiểu sử về nhà khoa học vĩ đại Marie Curie.

UNICEF đạt giải Nobel Hòa bình trong thời gian con rể của Marie Curie làm giám đốc.

Năm 1954, bà kết hôn cùng Henry Richardson Labouisse (1904-1987), một nhà ngoại giao và nhà hoạt động xã hội người Mỹ. Ông là giám đốc Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) trong 4 năm 1965-1969.

Bất ngờ thay, chính trong năm 1965, tổ chức UNICEF được trao tặng Giải Nobel Hòa bình cho công việc khích lệ tình thương tương trợ giữa các quốc gia. Trên vai trò giám đốc, người con rể của Marie Curie vinh dự thay mặt UNICEF nhận giải thưởng cao quý này.

Sinh nghề tử nghiệp

Sau khi mất, Marie Curie được vinh danh ở rất nhiều nơi trên thế giới - (Ảnh: GETTY IMAGES).

Do hoạt động trong lĩnh vực phóng xạ, cả 2 mẹ con Marie Curie và Irène Joliot-Curie đều mắc phải những căn bệnh liên quan đến công việc và mất lần lượt vào các năm 1934 và 1956.

Theo trang thông tin chính thức của Giải Nobel, Marie Curie mất do bệnh suy tủy xương - căn bệnh làm cho các việc tế bào tủy mất dần khả năng tạo máu khiến cơ thể suy giảm nghiêm trọng một trong ba hoặc cả ba tế bào hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu.

Trong khi đó, Irène Joliot-Curie mất do căn bệnh ung thư bạch cầu. Bạch cầu trong cơ thể tăng đột biến nên chúng thiếu "thức ăn" trầm trọng, dẫn đến việc phải ăn cả hồng cầu. Từ đó, hồng cầu trong cơ thể bị phá hoại dần dẫn đến thiếu máu và tử vong.

Không giống với mẹ và chị gái, Ève Curie Labouisse sống đến 103 tuổi. Tháng 12/2004, khi tổ chức sinh nhật lần thứ 100 cho bà, đích thân Tổng thư ký Liên hiệp quốc bấy giờ - ông Kofi Annan - đã đến chúc mừng.

 

Hồng Anh sưu tầm

 

Xem thêm...

Giải thưởng Nhiếp ảnh gia quốc tế - Sony World Photography Awards

Giải thưởng Nhiếp ảnh gia quốc tế 

□◇□□◇□□◇□

Sony World Photography Awards

Năm 2018 là năm thứ 11 diễn ra cuộc thi nhiếp ảnh gia uy tín quy mô toàn cầu này. Cuộc thi Sony World Photography năm nay xác lập kỷ lục với 319.561 bức ảnh dự thi. Các nhiếp ảnh gia gồm cả chuyên nghiệp và nghiệp dư được chia làm bốn thành phần: chuyên nghiệp, mở rộng, nhiếp ảnh gia trẻ, học sinh.

Tất cả những người đạt giải đều nhận được phần thưởng là một máy ảnh kỹ thuật số tiên tiến của Sony. Nhiếp ảnh gia của năm sẽ được trao tặng 25.000 USD tiền mặt, và nhiếp ảnh gia mở rộng của năm sẽ được thưởng 5.000 USD.

Dưới đây là những bức ảnh giành giải thưởng Sony World Photography Awards 2018, mỗi bức ảnh đạt giải sẽ được trình bày với danh nghĩa giải thưởng của quốc gia nơi nhiếp ảnh gia mang quốc tịch

#1 Martin Stranka, Giải thưởng Quốc gia Cộng hòa Séc

(Ảnh: Brendon Cremer)

#2  Brendon Cremer, Giải thưởng Quốc gia Nam Phi

(Ảnh: Brendon Cremer)

#3 Paranyu Pithayarungsarit, Giải thưởng Quốc gia Thái Lan

(Ảnh: Paranyu Pithayarungsarit)

#4 Suphakaln Wongcompune, Giải thưởng Quốc gia Thái Lan

Ảnh: Suphakaln Wongcompune)

#5 Isabelle Bacher, Giải thưởng Quốc gia Áo

(Ảnh: Isabelle Bacher)

#6 Kyaw Win Hlaing, Giải thưởng Quốc gia Myanmar

(Ảnh: Kyaw Win Hlaing)

#7 Chin Boon Leng, Giải thưởng Quốc gia Singapore

(Ảnh: Chin Boon Leng)

#8 Wenjie Qiao, Giải thưởng Quốc gia Hoa Kỳ

(Ảnh: Wenjie Qiao)

#9  Lynn Wu, Giải thưởng Quốc gia Đài Loan

(Ảnh: Lynn Wu)

#10 Petar Sabol, Giải thưởng Quốc gia Croatia

(Ảnh: Petar Sabo)

#11  Junghye Lee, Giải thưởng Quốc gia Hàn Quốc

(Ảnh: Junghye Lee)

#12 Veselin Atanasov, Giải thưởng Quốc gia Bulgaria

(Ảnh: Veselin Atanasov)

#13 Takashi Nakazawa, Giải thưởng Quốc gia Nhật Bản

(Ảnh: Takashi Nakazawa)

#14 Au Hin Man, Giải thưởng Quốc gia Hong Kong

(Ảnh: Au Hin Man)

#15 Ales Krivec, Giải thưởng Quốc gia Slovenia

(Ảnh: Ales Krivec)

#16 Zeyar Htun, Giải thưởng Quốc gia Myanmar

(Ảnh: Zeyar Htun)

#17 Chul-Ui Song, Giải thưởng Quốc gia Hàn Quốc

(Ảnh: Chul-Ui Song)

#18 Vinh Dao, Giải thưởng Quốc gia Việt Nam

(Ảnh: Vinh Dao)

#19 Mikkel Beiter, Giải thưởng Quốc gia Đan Mạch

(Ảnh: Mikkel Beiter)

#20 Jonatan Banista, Giải thưởng Quốc gia Trung Mỹ

(Ảnh: Jonatan Banista)

#21 Thu Huynh, Giải thưởng Quốc gia Việt Nam

(Ảnh: Thu Huynh)

#22 Jianguang Zhou, Giải thưởng Quốc gia Trung Quốc

(Ảnh: Jianguang Zhou)

#23 Erika Valkovicova, Giải thưởng Quốc gia Slovakia

(Ảnh: Erika Valkovicova)

#24 Marie Moroni, Giải thưởng Quốc gia Pháp

(Ảnh: Marie Moroni)

#25 Abdulla Al-Mushaifri, Giải thưởng Quốc gia Qatar

(Ảnh: Abdulla Al-Mushaifri)

#26 Manuel Armenis, Giải thưởng Quốc gia Đức

(Ảnh: Manuel Armenis)

#27 Lennart Hessel, Giải thưởng Quốc gia Thụy Điển

(Ảnh: Lennart Hessel)

#28 Chris Round, Giải thưởng Quốc gia Úc

(Ảnh: Chris Round)

 

╭⊱ Ngọc Lan sưu tầm ⊱╮

 

Xem thêm...

Bác sĩ VN tị nạn lừng danh thế giới

Bác sĩ VN tị nạn lừng danh thế giới

Bác sĩ gốc Việt Phạm Sĩ 

Ông Phạm Sĩ từng học để trở thành bác sĩ ở Sài Gòn, thì ước mơ bỗng bị tan vỡ bởi cuộc chiến. Câu chuyện lưu lạc của ông đến nước Mỹ đã được nhật báo Lebanon Daily News tường thuật vào đầu tháng Năm, với nội dung như sau.

Ông thoát khỏi Việt Nam vào ngày 30 tháng Tư, 1975, ngày Sài Gòn và cả miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản. Ông có mặt trên một chiếc thuyền, bị tách rời khỏi đất nước, bỏ lại những người thân trong gia đình, và chỉ có bộ quần áo trên người.

Bốn mươi năm sau đó, Phạm Sĩ là một bác sĩ giải phẫu tim mạch tài ba hiếm hoi của thế giới, và là nhà nghiên cứu y khoa từng viết hơn 170 bài nghiên cứu và tham gia ca mổ ghép tim và gan cho cựu Thống Đốc Bob Casey của tiểu bang Pennsylvania.
 
Bác sĩ Phạm Sĩ được ngồi cạnh vị Giáo Sư ân nhân Owen Moe (bên trái) và Viện Trưởng Lewis Thanye của
trường Lebanon Valley College trong đêm trao giải thưởng 27 tháng Tư, 2018 tại trường này.
 
Nhưng theo ông Phạm Sĩ nói, câu chuyện tay trắng làm nên sự nghiệp của ông chỉ có thể xảy ra là nhờ lòng nhân đạo của thị xã Annville và trường đại học nhỏ bé chuyên về khoa học và nghệ thuật tại thung lũng Lebanon này, được tỏ bày dành cho những người tị nạn chiến tranh cách đây hơn bốn thập niên.

Ông Phạm Sĩ kể rằng ông đã lớn lên cảm thấy bất lực trong một đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh. Ông ước ao có thể chữa lành những vết thương mà bạn bè ông phải chịu đựng do bom đạn gây ra. Vì vậy ông vào Sài Gòn để học ngành bác sĩ.

Nhưng đến năm 1975, cuộc chiến diễn biến tệ hơn cho phía Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi, quân cộng sản Bắc Việt nhanh chóng xâm nhập và cưỡng chiếm miền Nam. Cha mẹ ông hồi đó sống ở miền Trung, và họ bị kẹt trong sự kiểm soát cộng sản khi cuộc xâm lăng tiến đến gần Sài Gòn.
 
 
Ông Phạm Sĩ nói, “Tôi biết chế độ cộng sản là gì và tôi biết dân chủ là gì, vì vậy tôi đã lựa chọn rời khỏi đất nước để rồi thành người tị nạn.”

Bác sĩ giải phẫu tim mạch Phạm Sĩ đang nhận giải thưởng Distinguished Alumnus (Cựu Sinh Viên Xuất Sắc) của trường Lebanon Valley College vào ngày 27 tháng Tư, 2018.

Những người tị nạn được đưa tới đảo Guam, nơi họ ở lại cho tới tháng Sáu 1975, khi họ được phép đến trại Fort Indiantown Gap, nơi chứa 15,000 người tị nạn.
 
Ông nói, “Hồi đó tôi không có gì cả. Tôi chỉ có một bộ quần áo trên người.”

Những người tị nạn không được phép rời khỏi trại Gap, cho đến khi họ có được một người Mỹ bảo trợ, và những người độc thân như ông Sĩ đều nằm cuối danh sách mà sự ưu tiên là dành cho những gia đình. Tuy vậy, đến tháng Tám năm ấy, trường Lebanon Valley College (LVC) tạo một cơ hội cho 12 học sinh tị nạn được ghi danh và có được nơi ăn chốn ở, thông qua sự kết hợp giữa chương trình học bổng Pell Grants, chương trình vừa học vừa làm, một học bổng và một khoản tiền vay nhỏ. Thậm chí trường đại học này còn cung cấp các lớp học tiếng Anh bổ túc cho các sinh viên.

Giáo Sư Hóa Học Danh Dự Owen Moe, thời đó là một giáo sư nghiên cứu tại LVC, đã không lập tức để ý tới Phạm Sĩ. Cho đến khi họ bắt đầu cùng nhau làm việc trên các dự án, ông mới xác định ông Sĩ thuộc hạng sinh viên có thể vươn lên tới hàng đầu trong chức nghiệp.

Ông Moe nói, “Anh ấy có sự quyết tâm, và phải đối phó trước nhiều trở ngại. Anh đã tìm cách vượt qua mọi trở ngại đó.”
 
Owen Moe Professor Emeritus of Chemistry at Lebanon Valley College
 
Ông Phạm Sĩ nói rằng thầy Moe là một người dìu dắt tuyệt vời và là một niềm khích lệ lớn cho ông. Lúc đó ông rất biết ơn vì có cơ hội hoàn tất việc học tại một trường đại học Mỹ, với các giáo sư trực tiếp giảng dạy. Nhưng ít nhất mỗi tuần một lần, ông vẫn thức dậy và nghĩ rằng mình vẫn còn ở Việt Nam. Nơi đó cha mẹ ông đang sống dưới ách cai trị của cộng sản, và không biết ông còn sống hay đã chết.
 
Phạm Sĩ nói, “Chiến tranh làm cho người ta mau trưởng thành hơn. Đó là một vấn đề sống còn - bạn phải lớn lên, chiến đấu và tìm cách sống sót.”

Ông tốt nghiệp từ trường Lebanon Valley College, sau đó từ trường y khoa, và nhanh chóng vươn lên vượt qua hàng ngũ nghề nghiệp, trở thành trưởng khoa cấy ghép tim, phổi và tim nhân tạo, tại trường y khoa thuộc đại học University of Miami, ngoài những công việc khác. Ông đã công bố hơn 170 bài báo khoa học, giúp thành lập những phương pháp để ngăn chặn sự việc cơ thể tìm cách loại bỏ những bộ phận cấy ghép tim và phổi, và giúp một giải pháp được tiến xa hơn trong việc một phương thay thế phẫu thuật tim hở, theo thông tin do trường LVC cung cấp.
Cựu thống đốc Robert Casey của Pennsylvania.
 
Vào năm 1993, ông là thành viên của một nhóm thực hiện ca cấy ghép gan và tim lần thứ bảy trên thế giới, mà bệnh nhân là cựu thống đốc Robert Casey của Pennsylvania.

Hiện nay ông đang làm việc cho Mayo Clinic tại Minnesota.

Tuy nhiên, những thành tựu mà ông Phạm Sĩ hãnh diện nhất sẽ không xuất hiện trong các cuốn sách lịch sử: đó là cung cấp các ca mổ cần thiết cho di dân, cho những người nghèo cư ngụ trong thành phố, và những người không có khả năng trả tiền giải phẫu.

Chính ở đó, ông Phạm Sĩ cảm thấy như thể đã hoàn thành sứ mạng ban đầu của ông: là sửa chữa những cơ thể bị phá hỏng, giống như những cơ thể mà cuộc chiến Việt Nam đã tìm cách hủy hoại. Ông cũng có cơ hội để chăm sóc các cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam. Trong số đo có một đại tá về hưu, người đã giúp lập một trại tị nạn nơi mà ông Phạm Sĩ từng ở.

Vì ông đam mê giúp đỡ người bệnh, một trong những thách thức chuyên nghiệp lớn nhất của ông là đối phó với thất bại sau một ca mổ có mức rủi ro cao.
 
Ông nói, “Bạn phải nói chuyện với các người thân trong gia đình, bạn biết đấy, nói cho người thân biết rằng bệnh nhân không thể qua khỏi. Thật khó, rất khó. Bạn phải học cách đối phó với chuyện đó và rồi tiếp tục đi tới. Nếu không, chuyện đó có thể trở nên khó khăn về mặt tâm lý.”

Mấy năm sau khi đến Mỹ, ông Sĩ mới có thể gửi thư cho cha mẹ thông qua một người bạn sống ở Canada. Bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được nối lại vào cuối thập niên 1980, và trong thập niên 1990, ông đưa cha mẹ sang Mỹ để sống với ông trong một thời gian.

Đến lượt ông dẫn con cái về Việt Nam và tới các quốc gia nghèo kém khác, để các con ông có thể hiểu được sự may mắn mà chúng có được ở đất nước Hoa Kỳ này.
 
 
Ông đã nhận được giải thưởng cựu sinh viên xuất sắc của LVC, tại một buổi lễ ngày 27 tháng Tư, và ông rất vui khi lãnh thưởng. Thực vậy, ông ghi nhận công lao của cả trường LVC lẫn cộng đồng Annville đã đón tiếp những người tị nạn trắng tay như ông.

Ông nói, “Dân chúng Mỹ rất rộng lượng, giúp đỡ rất nhiều.” 

Vị bác sĩ này hy vọng mọi thành công của ông sẽ khích lệ những di dân khác, để họ không bị nản lòng khi theo đuổi ước mơ của họ.
Ông nói, “Mọi sự sẽ tốt đẹp hơn. Thời gian sẽ chữa lành nhiều vết thương.”
 
 
Ngọc Lan sưu tầm
 
 
 
Xem thêm...

Thiên nghi và thời hoàng kim của thiên văn học cổ đại

Thiên nghi và thời hoàng kim

của thiên văn học cổ đại

 

*¸.✬*´´☽*.*´´☽*¸.*´´☽*.*´´☽

 

 

Một trong những công cụ thiên văn học đầu tiên chính là thiên nghi. Nó có khả năng mô tả sự chuyển động của các vì tinh tú trên bầu trời một cách chính xác, có thể biểu diễn cả kinh độ và vĩ độ cũng như các đặc điểm thiên văn khác như đường hoàng đạo…

Thiên văn học là một môn khoa học tự nhiên nghiên cứu các vật thể và hiện tượng huyền bí. Thiên văn học có bao hàm rất nhiều ngành khoa học khác như vật lý, toán học, hóa học, tất cả là nhằm mục đích giải thích cặn kẽ, thấu đáo nguồn gốc các hiện tượng, sự vật cũng như quá trình diễn hóa của chúng. Đối tượng nghiên cứu của thiên văn học bao hàm các hành tinh, mặt trăng, sao, thiên hà, và sao chổi. Các hiện tượng thiên văn học nghiên cứu còn bao gồm cả các vụ nổ siêu tân tinh, tia gamma, và bức xạ vi sóng vũ trụ. Thông thường, các hiện tượng bắt nguồn từ bên ngoài khí quyển trái đất là phạm vi nghiên cứu của thiên văn học.

Ảnh chụp tinh vân của NASA. (Ảnh qua Wikipedia)

Thiên văn học có thể nói là ngành khoa học tự nhiên lâu đời nhất. Các nền văn minh sớm nhất được ghi chép lại trong lịch sử nhân loại như văn minh Babylon, Hy Lạp, Ấn Độ, Ai Cập, Nubi, Iran, Trung Hoa và Maya đều có nhắc tới các phương pháp quan sát bầu trời đêm. Trong lịch sử, thiên văn học bao hàm nhiều phương pháp phong phú như thuật đo sao, thiên văn hàng hải, thiên văn quan sát, làm lịch…

Thiên nghi

Một trong những công cụ thiên văn học đầu tiên chính là thiên nghi.

Thiên nghi. (Ảnh qua Google Art & Culture)

Bức ảnh phía trên là một trong những thiên nghi lâu đời nhất còn lưu giữ. Quả cầu vàng nạm ngọc trai bao gồm ba phần, phần đế, khung và thân quả cầu. Các viên ngọc trai trên quả cầu tượng trưng cho hai tám cung hoàng đạo như trong truyền thống Trung Hoa, ngoài ra còn có 300 chòm sao, và hơn 2.200 ngôi sao. Theo thiên văn học cổ Trung Hoa, các chòm sao được chia ra làm ba Viên gồm Tử Vi Viên, Thái Thi Viên, và Thiên Thị viên. Giữa đế thiên nghi này có la bàn. Đây là một tuyệt tác của thiên văn học cổ đại.

Thiên nghi đã trở thành một trong những biểu tượng của thiên văn. Nó là mô hình mô tả các vật thể trên bầu trời, gồm các đường khung hình cầu, trung tâm là mặt trời và trái đất, có biểu diễn cả kinh độ và vĩ độ cũng như các đặc điểm thiên văn khác như đường hoàng đạo.

Thiên nghi cũng không phải chỉ do một dân tộc sáng tạo ra. Nghiên cứu lịch sử ra đời và phát triển của thiên nghi có thể thấy nó là phát minh riêng rẽ của người Hy Lạp và Trung Hoa cổ đại. Thậm chí thiên nghi còn xuất hiện trong cả thế giới Hồi giáo và châu Âu thời Trung Cổ.

Quốc kỳ Bồ Đào Nha cũng có thể hiện thiên nghi cách điệu. (Ảnh qua Wikipedia)

Quốc kỳ của Bồ Đào Nha cũng có thể hiện thiên nghi cách điệu. Thậm chí, hình tượng thiên nghi cũng xuất hiện trên huy hiệu của nước này, gắn liền với các khám phá của Bồ Đào Nha trong Thời đại thám hiểm (thời đại mà người châu Âu khám phá thế giới từ thế kỷ 15 tới thế kỷ 17).

 Thiên nghi trong văn hóa Trung Hoa

Trong lịch sử Trung hoa, các nhà thiên văn học đã chế tạo ra thiên nghi để hỗ trợ việc quan sát các vì tinh tú. Người Trung Quốc cũng sử dụng thiên nghi trong việc lập và tính toán lịch.

Theo Needham, thiên nghi được người Trung Quốc phát minh ra sớm nhất nhờ hai nhà thiên văn học là Thạch Thân và Cam Đức vào thế kỷ 4 trước Công Nguyên, khi họ tự làm ra được một dụng cụ hình cầu có một vòng dây thép. Thiên nghi thô sơ này giúp họ đo đạc được khoảng cách tới cực Bắc. Tuy nhiên một nhà Hán học người Anh tên là Christopher Cullen lại cho rằng loại công cụ này lần đầu tiên được phát minh ra là vào thế kỷ 1 trước Công Nguyên.

Người Trung Hoa sử dụng thiên nghi trong thiên văn học. (Tranh qua Wikipedia)

Dưới thời Tây Hán (202 TCN – 9 SCN), các nhà thiên văn học Lạc Hạ Hoành, Chi Tiên Ư Vọng, và Cảnh Thọ Xương lại tiếp tục cải tiến thiên nghi. Vào năm 52 TCN, nhà thiên văn học Cảnh Thọ Xương lần đầu tạo ra vòng xích đạo cố định của thiên nghi. Tiếp theo vào thời Đông Hán (23-220 SCN), vào năm 84 TCN, hai nhà thiên văn học là Phó An và Cổ Quỳ đã lắp thêm vòng xích đạo.

Vào năm 125 SCN, nhà thiên văn học, diễn giả, và phát minh nổi tiếng Trương Hành là người đã hoàn thiện thiên nghi với các vòng chân trời và kinh tuyến. Thiên nghi chạy bằng nước đầu tiên trên thế giới là do Trương Hành chế tạo ra, ông đã sử dụng đồng hồ nước để vận hành thiên nghi. Trương Hành cũng là người thống kê 2.500 vì sao trên bầu trời Trung Hoa. Ông đã đưa ra các lý thuyết về mặt trăng và mối liên hệ với mặt trời. Đặc biệt ông đã bàn luận về hình dạng tròn của mặt trăng, và mặt trăng tỏa sáng là nhờ sự phản chiếu ánh mặt trời, cũng như bản chất của hiện tượng nhật thực và nguyệt thực.

Thiên nghi trong văn hóa cổ Hy Lạp

Nhà thiên văn học Hipparchus người Hy Lạp (khoảng hơn 100 năm TCN) tin rằng Eratosthenes (276-194 TCN) là người phát minh ra thiên nghi. Tên gọi của công cụ này trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là vòng tròn, và nó có các khung xương làm bằng các vòng tròn kim loại nối các cực lại với nhau, tượng trưng cho đường xích đạo, hoàng đạo, kinh tuyến và vĩ tuyến.

Thông thường, quả bóng tròn tượng trưng cho trái đất hoặc mặt trời được đặt vào vị trí trung tâm. Nó được sử dụng để mô tả chuyển động của các vì sao xung quay trái đất. Trước khi người châu Âu phát minh ra kính viễn vọng vào thế kỷ 17, thiên nghi là thiết bị cơ bản của tất cả các nhà thiên văn học dùng để xác định vị trí của các vì sao.

Tranh mô tả một người phụ nữ bên cạnh các dụng cụ từ nghệ thuật, âm nhạc, toán học,

điêu khắc cho tới thiên văn học. (Tranh qua Wikipedia)

Khi còn ở dạng thô sơ nhất, bao gồm một vòng tròn cố định trong đường hoàng đạo, thì thiên nghi là một trong những dụng cụ thiên văn cổ đại nhất. Trong quá trình phát triển dần dần, nó xuất hiện thêm các vòng tròn cố định khác mô tả đường kinh tuyến. Vòng đầu tiên là đường phân, vòng thứ hai là điểm chí. Các bóng hình vòng tròn được sử dụng làm kim chỉ vị trí của mặt trời, kết hợp với các góc chia. Nhiều vòng tròn được kết hợp lại với nhau tượng trưng cho quy luật vận hành của vũ trụ, và nó được gọi là thiên nghi.

Có lẽ Eratosthenes đã sử dụng thiên nghi đông chí để đo độ chéo của đường hoàng đạo. Hipparchus có lẽ đã sử dụng một thiên nghi bốn vòng. Ptolemy mô tả công cụ của mình trong cuốn Syntaxis.

Thiên nghi do người Hy Lạp chế tạo và được sử dụng làm giáo cụ ngay từ thế kỷ thứ 3 TCN. Khi trở nên chính xác và to hơn, thì nó được sử dụng làm công cụ quan sát.

Châu Âu và Hồi giáo thời Trung Cổ

Các nhà thiên văn học người Ba Tư và Ả rập đã chế tạo phiên bản nâng cấp thiên nghi của người Hy Lạp vào thế kỷ thứ 8, được ghi lại trong Luận thuyết Dhat al-Halaq hay Dụng cụ với các vòng tròn của nhà thiên văn học người Ba Tư tên là Fazari.

Abbas Ibn Firnas được cho là đã chế tạo ra một dụng cụ với các vòng nhẫn khác (thiên nghi) vào thế kỷ thứ 9, thiên nghi này được trao cho vua Caliph Muhamad (trị vì từ năm 852-886).

Thiên Nghi. (Tranh qua Wikipedia)

Đo độ hình cầu, một biến thể của đo độ và thiên nghi được phát minh vào thời Hồi giáo Trung Cổ. Những tài liệu lâu nhất mô tả thiên nghi là vào thời của nhà thiên văn học người Ba Tư, tên là Nayrizi (892-902).

Các nhà thiên văn học người Hồi giáo cũng tự phát minh ra quả cầu thiên văn để giải quyết các vấn đề trong thiên văn. Ngày nay, toàn thế giới còn lại 126 dụng cụ tương tự, cái cổ nhất là vào thế kỷ 11. Độ cao của mặt trời, sự chuyển động của các vì sao được tính toàn bằng cách chỉnh vị trí quan sát trên vòng tròn kinh tuyến trên quả cầu.

Các chòm sao trên bầu trời được ghi lại. (Tranh qua Wikipedia)

Thiên nghi xuất hiện trở lại ở Tây Âu thông qua Al-Andalus vào cuối thế kỷ 10 nhờ nỗ lực của Gerbert d’Aurillac, Giáo hoàng Sylvester II (999-1003). Giáo hoàng Sylvester II đã ứng dụng các ống nhìn trong thiên nghi để định vị vị trí của sao Bắc Đẩu và ghi lại các đo đạc về đường chí tuyến và xích đạo.

 Thời kỳ Phục Hưng

Những cải tiến tiếp theo cho loại công cụ này được Tycho Brahe (1546-1601) thực hiện, thiên nghi nâng đã được chuyển thành thiết bị đo độ cao thiên thể được mô tả trong tác phẩm về thiên văn của ông.

Bức tranh vẽ một học giả cầm thiên nghi. (Tranh qua Wikipedia)

Thiên nghi là một trong các công cụ cơ khí đầu tiên và phức tạp nhất. Sự phát triển của nó đã đem lại nhiều tiến bộ về kỹ thuật cũng như trong việc thiết kế các dụng cụ cơ khí. Các nhà khoa học thời kỳ Phục Hưng và các nhân vật quan trọng thường hay thuê vẽ chân dung. Trong bức họa, họ thường hay cầm một quả cầu thiên nghi, biểu trưng cho trí tuệ và tri thức của mình.

Mặc dù ngày nay, nhờ kính thiên văn, các vệ tinh và các phần mềm kỹ thuật số chính xác, các nhà thiên văn học không còn phải dựa vào thiên nghi để tính toán vị trí các ngôi sao. Tuy nhiên khi ngắm nhìn những tuyệt tác thiên nghi ấy, người ta không khỏi thán phục trí tuệ của người cổ đại.

 

Kim Quy sưu tầm

Đài thiên văn lớn của Châu Âu quang học và hồng ngoại E-ELT

xây dựng ở khu vực có độ cao 3.046 m thuộc Cerro Amazones ở Chile.

Xem thêm...
Theo dõi RSS này