Sức khỏe & sắc đẹp

Sức khỏe & sắc đẹp (166)

Những loại rau nấu chín càng có lợi cho sức khỏe

Những loại rau nấu chín càng có lợi cho sức khỏe

 *******

Những loại rau nấu chín càng có lợi cho sức khỏe

Rau củ quả là những thực phẩm bổ dưỡng lành mạnh. Đa số các loại rau khi ăn tươi sống sẽ giữ được nguyên vẹn các chất dinh dưỡng như vitamin, khoáng chất, chất xơ và nhiều hợp chất lành mạnh. Dù vậy một số nhóm rau khi nấu chín sẽ càng tốt cho sức khỏe.

Khi đun nấu một vài loại rau sẽ hoạt hóa các chất chống oxi hóa. Đôi khi, nhiệt sẽ phá vỡ thành tế bào để giải phóng thêm dưỡng chất và dễ tiêu hóa hơn. 

  • Rau bina: Chất acid oxalat trong rau làm giảm khả năng hấp thu sắt và canxi, song bị phân giải dưới nhiệt độ cao. Bởi vậy khi nấu lên cơ thể sẽ dễ hấp thu những chất này.
  • Image result for Rau bina: Chất acid oxalat trong rau làm giảm khả năng hấp thu sắt và canxi, song bị phân giải dưới nhiệt độ cao. Bởi vậy khi nấu lên cơ thể sẽ dễ hấp thu những chất này.
  • Nấm: Nhiều dưỡng chất như kali, niacin, kẽm, magie đều tăng gấp đôi khi nấu.
  • Image result for nấm rơm
  • Cà rốt: Carotenoid là chất chống oxi hóa rất mạnh trong cà rốt, nghiên cứu cho thấy hàm lượng chất này tăng 14% khi luộc hoặc hấp nhừ. Ngược lại chiên xào cà rốt sẽ làm giảm lượng carotenoid.
  • Related image
  • Măng tây: Nhiều nghiên cứu cho thấy hàm lượng dinh dưỡng trong măng tây gia tăng khi nấu. Các chất chống oxi hóa bên cạnh sáu dưỡng chất khác sẽ tăng thêm 16%. Nghiên cứu khác thấy rằng nấu măng tây làm tăng gấp đôi hàm lượng phenolic acid, giúp làm giảm nguy cơ mắc một số bệnh mãn tính nghiêm trọng.
  • Related image
  • Cà chua: Nấu cà chua thực chất giúp gia tăng hàm lượng lycopene, một chất chống oxi hóa làm gia tăng sức khỏe tim mạch, giảm tỷ lệ mắc bệnh tim và bệnh mãn tính khác.
  • Related image
  • Bông cải xanh và bắp cải: ăn tươi sống bông cải xanh và bắp cải có thể gây nhiều vấn đề tiêu hóa như đau bụng, đầy hơi, chướng bụng. Rau họ nhà cải nấu chín không những dễ tiêu hóa mà còn hoạt hóa enzym làm gia tăng các hợp chất chống bệnh tật.

Related image

Mỗi thực phẩm đều có nhiều biện pháp chế biến khác nhau. Hấp luôn là một trong những phương thức tuyệt vời để giải phóng và duy trì giá trị dinh dưỡng. Ngược lại chiên xào có xu hướng làm giảm giá trị dinh dưỡng của thực phẩm. Thời gian đun nấu cũng đóng vai trò thiết yếu, càng đun nhanh món ăn càng có giá trị dinh dưỡng cao.

 

Những loại rau củ nên tránh nấu chín

Rau củ là thực phẩm bổ dưỡng thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, việc bạn chế biến có đúng cách hay không cũng ảnh hưởng rất nhiều đến những dưỡng chất có trong thực phẩm, và bạn cần biết rằng có nhiều l

1. Củ cải đường

Củ cải đường sẽ mất đi khoảng 25% folate nếu chúng được nấu chín. Ăn sống thực phẩm này để đảm bảo nguyên vẹn các hợp chất có lợi cho não bộ. Do vậy các chuyên gia khuyên ăn củ cải đường sống để đảm bảo nguyên vẹn các hợp chất có lợi cho não bộ. Bạn có thể dùng củ này chế biến thành món salad ngon miệng.

2. Ớt

Có chứa một lượng lớn vitamin C có thể cải thiện khả năng miễn dịch, ngăn chặn hiệu quả các bệnh khác nhau. Vitamin C trong ớt đỏ dễ bị mất đi khi bạn nướng trên 375 độ C hoặc chiên. Do đó, bạn chỉ nên ăn ớt sống hoặc làm gia vị cho các món không sử dụng nhiệt.

3. Dưa chuột

Dưa chuột chứa vitamin C, B và các chất khoáng. Các chất dinh dưỡng có trong lớp vỏ cũng rất dồi dào. Vì vậy, bạn nên ăn dưa chuột tươi sống càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, để loại bỏ thuốc trừ sâu từ thức ăn. Tốt nhất bạn nên nhúng cà chua trong nước muối từ 15 đến 20 phút và sau đó rửa bằng nước sạch.

4. Cà tím

Cà tím là loại quả dồi dào selenium. Loại cà này chống lại quá trình oxy hóa, duy trì hoạt động bình thường của các tế bào nội bộ, nâng cao khả năng miễn dịch và giúp cơ thể kháng nhiều bệnh khác nhau. Nhiều người bất ngờ khi loại quả này được khuyên dùng để ăn sống hoặc không nên xào nấu kỹ. Thật vậy, nếu nấu chín cà tím sẽ bị giảm đáng kể lượng chất dinh dưỡng chứa trong nó.

5. Cà chua

Lượng vitamin A dồi dào trong cà chua có tác dụng tốt đến thị lực và làn da con người. Cà chua được khuyên dùng nên ăn sống và tránh ăn quả xanh. Khi ăn cà chua lạnh, không nên thêm đường vì vị ngọt có thể ảnh hưởng đến sự thèm ăn, món này cũng không tốt cho các bệnh nhân tiểu đường, béo phì và huyết áp cao.

Ngoài ra, dùng cà chua làm các món rau trộn có nước sốt nên ăn ngay sau khi được chế biến, nếu để lâu các vitamin chứa trong nó có thể bị phá hủy.

6. Rau cần tây

Rau cầu tây giàu chất xơ, kali, vitamin B2, tốt cho hệ tiêu hóa, giúp ngăn ngừa mệt mỏi và loét miệng. Cần tây nên ăn sống hoặc làm gỏi, trộn salad, tránh nấu chín bằng nhiệt vì sẽ làm bay hơi các chất dinh dưỡng.

7. Súp lơ

Nhiều người có thói quen chế biến bông cải xanh thành những món xào, tuy nhiên khi nấu chín chúng thì sẽ khiến cho myrosinase biến mất, đây là một loại enzyme có trong bông cải xanh và chúng có tác dụng làm sạch những chất ung thư có trong gan, vì thế nên không nên nấu chín đối với loại thực phẩm này.

8. Hành tây

Hành tây thường khiến chúng ta cay mắt khi cắt chúng lúc còn sống. Nhưng đừng vì như vậy mà ghét bỏ chúng nhé. Khi bạn ăn sống hành tây, những hợp chất có trong chúng như chất chống oxy hóa, lưu huỳnh giúp cơ thể chống lại các bệnh ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt đấy.

Khi nấu chín hành tây, những chất này sẽ giảm dần hoặc mất đi và không có tác dụng gì nữa khi chúng ta ăn vào. Tốt nhất chỉ nên làm hành tây với những món không cần chế biến ở nhiệt độ cao.

Thanh Thủy sưu tầm

 Image result for rau củ hình bìa

 

 

 

 

 

Xem thêm...

Sử dụng kem chống nắng có an toàn không ?

Sử dụng kem chống nắng có an toàn không ?

 

*******

Image result for Sử dụng kem chống nắng có an toàn không ? 

 Chúng ta thường có xu hướng phơi nắng lâu hơn khi đã bôi kem chống nắng, đây có thể là một lý do khiến tỷ lệ ung thư da tăng lên
 Bôi kem chống nắng là cách cơ bản để bảo vệ làn da khỏi tia cực tím (UV) khi ta tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
 Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây cho rằng có những nguyên liệu sử dụng để sản xuất kem chống nắng cần được cải thiện.
 Ung thư hắc tố là một trong những bệnh ung thư nguy hiểm nhất. Dù đây là dạng ung thư da rất hiếm gặp nhưng số ca mắc bệnh đang ngày càng gia tăng trên toàn thế giới.
 Kể từ đầu những năm 1990, tỷ lệ ung thư hắc tố ở Anh đã tăng lên trong mọi nhóm tuổi. Tỷ lệ mắc các loại ung thư da khác cũng cao hơn.
 Chỉ riêng tại Mỹ, con số các trường hợp ung thư da không phải hắc tố đã tăng khoảng 77% trong hai thập niên qua.
 
BM 
Tiếp xúc với tia cực tím là nguyên nhân chính gây ra các dạng ung thư da thường gặp nhất. Và một trong những cách hiệu quả nhất để ngăn ngừa ung thư, tất nhiên, là sử dụng kem chống nắng.
 
"Bất kỳ cuộc thảo luận nào về kem chống nắng cũng cần phải được bắt đầu với việc thừa nhận rằng có những bằng chứng thuyết phục cho thấy kem ngăn ngừa được ung thư da," Richard Weller, chuyên gia danh dự chuyên tư vấn về da liễu tại Đại học Edinburgh, nói.
 
Đây là lý do vì sao mà tuy tỷ lệ ung thư da đang tăng ở một số nước, nhưng lại giảm ở những quốc gia khác - đặc biệt là ở những nước chú trọng nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc sử dụng kem chống nắng.
 
"Tỷ lệ ung thư da đang tăng trong các nhóm người cao tuổi - do da của họ đã bị tổn thương từ hàng chục năm trước, hồi họ còn trẻ, chứ gần đây mọi thứ đã khoa học hơn, có kem chống nắng bảo vệ da," Adele Green, khoa học gia cao cấp của nhóm nghiên cứu về ung thư và cộng đồng tại Viện Nghiên cứu Y tế QIMR Berghofer ở Úc, nói. "Các quốc gia có tỷ lệ ung thư da giảm thì đã có những khoản đầu tư mạnh mẽ nhất vào việc nâng cao nhận thức về căn bệnh này, như New Zealand, Đan Mạch, Mỹ và Úc."
 
BM
  Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu vẫn bày tỏ quan ngại rằng, mặc dù là vũ khí quan trọng không thể chối cãi trong cuộc chiến chống ung thư da, nhưng công thức làm kem chống nắng có lẽ cần được cải thiện để bao gồm các thành phần nguyên liệu an toàn hơn - và, tệ hại hơn cả là có một số loại kem chống nắng có thể gây hại cho sức khỏe của chúng ta.
 
Đầu năm nay, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) - cùng với Ủy ban Châu Âu là hai cơ quan quản lý toàn cầu về thành phần kem chống nắng trên toàn thế giới - đã loại bỏ 14 trong số 16 hóa chất có trong kem chống nắng khỏi GRASE (danh mục các chất thường được công nhận là an toàn và hiệu quả).
 
Vậy rốt cuộc bản chất vấn đề là như thế nào?
 
Bộ lọc kép
 
BM
  
Có hai loại bộ lọc UV được sử dụng cho kem chống nắng. Sử dụng phổ biến nhất là các chất lọc hữu cơ, vốn có khả năng hấp thụ tia cực tím và chuyển đổi chúng thành bức xạ an toàn hơn.
 Các chất lọc vô cơ như titan dioxide và oxit kẽm - được thừa nhận rộng rãi là an toàn - thì phản xạ và phân tán tia cực tím ra khỏi da.
 
BM
Các loại kem chống nắng được sử dụng phổ biến nhất là các chất lọc hữu cơ, hấp thụ bức xạ UV và chuyển đổi thành một loại bức xạ an toàn hơn
 
Từ lâu nay ta đã biết rằng một số chất lọc hữu cơ thẩm thấu được qua da rồi ngấm vào máu. Điều này tự thân nó không có nghĩa là kem chống nắng là không an toàn, nhưng buộc chúng ta phải quan tâm đến các tác động bất lợi tiềm tàng của chất lọc UV phổ biến nhất trên toàn thế giới: chất oxybenzone.
 
"Chúng ta chưa biết gì nhiều về tác động của việc tiếp xúc có hệ thống đối với những hoạt chất hoạt động tích nhất" trong kem chống nắng, FDA viết trong bản phúc trình đề cập đến những tác động khi có lượng lớn kem chống nắng được thẩm thấu qua da, ngấm vào cơ thể.
 
BM
  
Các nhà khoa học của FDA tập trung nghiên cứu vào bốn thành phần nguyên liệu được sử dụng trong kem chống nắng ngấm được qua da, trong đó có oxybenzone, và kết luận rằng việc hấp thụ kem chống nắng vào cơ thể có lẽ không còn chỉ là mối quan ngại trên lý thuyết. Tuy nhiên, việc thử nghiệm mới chỉ được tiến hành ở quy mô rất rất nhỏ - trên 24 người.
 
Kết quả thử nghiệm trên chuột
 
Một số nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và thử nghiệm trên chuột phát hiện ra rằng một số chất lọc UV hữu cơ, trong đó có oxybenzone, cũng như các thành phần có chứa paraben và phthalate vốn có ngay cả trong các loại kem chống nắng sử dụng bộ lọc UV vô cơ, bị nghi là gây rối loạn nội tiết: các hóa chất ngấm vào cơ thể và ảnh hưởng đến hormone của chúng ta. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu trên con người nào củng cố cho kết quả này.
 
Laura Vandenberg, phó giáo sư Trường Khoa học Sức khỏe Cộng đồng và Y tế thuộc Đại học Massachusetts Amherst, nói rằng hầu hết các chất gây rối loạn nội tiết đều ảnh hưởng đến thai nhi và bào thai nam.
 
BM
  
Cụ thể là việc tiếp xúc nhiều với phthalates được chứng minh là gây rối loạn sự phát triển của bộ phận sinh dục nam. Điều này có thể dẫn đến các vấn đề về sức khỏe sinh sản sau này trong cuộc sống, chẳng hạn như gây giảm số lượng tinh trùng hoặc tăng nguy cơ ung thư tinh hoàn. Tuy nhiên, tác hại này chỉ xảy ra trong các trường hợp sử dụng liều dùng rất cao.
 
Những hợp chất này không chỉ có trong kem chống nắng. Phthalate cũng có thể được tìm thấy trong nhiều loại mỹ phẩm khác, trong đó có một số loại xà phòng, dầu gội đầu, sơn móng tay và keo xịt tóc, còn paraben có trong nhiều sản phẩm chăm sóc tóc và đồ mỹ phẩm trang điểm.
 
Trong khi đó, Vandenberg qua quá trình nghiên cứu của mình nhận thấy rằng oxybenzone có thể ảnh hưởng đến kích thước tuyến vú ở chuột cái. Oxybenzone cũng được phát hiện có trong sữa chuột cái. Điều đó có nghĩa là nó cũng có thể ngấm được vào mô vú, Vandenberg nói, từ đó có thể ảnh hưởng đến sự phát triển, chức năng sinh sản và sức khỏe của chuột cái.
 
  Tuy nhiên, chúng ta cần luôn luôn hết sức thận trọng khi liên hệ các kết quả nghiên cứu trên chuột vào con người, David Leffell, giáo sư da liễu và phẫu thuật tại Trường Y Yale, người không tham gia vào nghiên cứu trên, nói.
 
Các nhà phê bình khoa học cũng cho biết, nghiên cứu cho thấy tác dụng phụ của chất lọc UV đối với loài gặm nhấm chỉ xuất hiện khi chúng được cho dùng liều dùng cao hơn nhiều so với liều lượng sử dụng ở con người.
 
Chẳng hạn như hồi năm 2011, một nhóm các nhà nghiên cứu đăng bài trên tạp chí Environmental Health Perspectives đã giải thích về kết quả một nghiên cứu từ năm 2001. Trong nghiên cứu đó, các nhà nghiên cứu quan sát thấy việc cho chuột con ăn oxybenzone khiến tử cung của chúng tăng kích thước lên 23%.
 
Image result for Sử dụng kem chống nắng có an toàn không ?
Một người phụ nữ phải bôi kem chống nắng hàng ngày trong vòng từ 34 đến 277 năm thì mới đạt đến lượng oxybenzone tương tự được sử dụng cho chuột trong một nghiên cứu
Các nhà nghiên cứu thực hiện việc tìm hiểu hồi 2011 tính toán rằng để đạt đến lượng oxybenzone tích lũy tương đương như đã thí nghiệm trên chuột, một phụ nữ vóc dáng trung bình ở Mỹ sẽ phải bôi kem chống nắng hàng ngày trong khoảng từ 34 đến 277 năm, tùy thuộc vào số lần họ bôi kem chống nắng mỗi ngày.
Ngay cả như vậy thì một số nghiên cứu vẫn cho kết quả rằng các chất lọc UV hữu cơ cũng có thể ảnh hưởng đến con người.
 
Image result for Sử dụng kem chống nắng có an toàn không ?
 
Trong một công trình thực hiện từ năm 2015, các nhà nghiên cứu đã theo dõi trên 500 cặp vợ chồng đang cố gắng thụ thai và phát hiện ra rằng các ông chồng có nồng độ chất lọc UV loại benzophenone cao hơn bình thường thì khả năng bà vợ thụ thai trong mỗi kỳ rụng trứng sẽ thấp hơn 30%.
 
"Chỉ cần những thay đổi nhỏ về chất lượng tinh dịch đã làm giảm cơ hội thụ thai," tác giả của nghiên cứu Germaine Louis, giáo sư về sức khỏe cộng đồng và toàn cầu tại Đại học George Mason, Virginia, Hoa Kỳ, nói.
 
BM
Một nghiên cứu gần đây đã nêu ra ý kiến liệu các chất lọc UV loại benzophenone với nồng độ cao hơn bình thường có thể làm giảm cơ hội thụ thai hay không
Mặc dù đây là một phát hiện quan trọng, nhưng nghiên cứu này vẫn có những hạn chế, Leffell lưu ý, và đó chính là điều mà Louis cũng thừa nhận trong bài báo.
Những hạn chế này đến từ việc mẫu nghiên cứu chỉ là một lần xét nghiệm nước tiểu trong khi nồng độ của các chất lọc UV có thể có nhiều khác biệt do nồng độ của chúng giảm khá nhanh trong cơ thể con người.
 
BM
  
Dù rằng việc lo ngại về các tác động lâm sàng của một số chất benzophenone là hợp lý, bất kể nguồn gốc của chúng từ đâu, nhưng Leffell nói thêm rằng nghiên cứu này vẫn không đưa ra bất kỳ kết luận chắc chắn nào.
 
Vitamin D
Ngoài mối lo ngại về thành phần của kem chống nắng, người ta còn ngờ rằng chúng ngăn cơ thể con người tạo ra vitamin D, thứ mà chúng ta chủ yếu nhận được từ việc tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời.
Dù sao thì tình trạng thiếu vitamin D cũng phổ biến hơn là ta tưởng - liệu có thể nào kem chống nắng chính là nguồn cơn gây ra tình trạng này?
 
BM 
  
Đây không thể là nguyên nhân chính, Rachel Neale, phó giáo sư tại QIMR Berghofer, nói. "Tình trạng bị cháy nắng thì khác với tiến trình tạo ra vitamin D, và có bằng chứng mạnh mẽ cho thấy việc bôi kem chống nắng không ảnh hưởng gì mấy tới mức độ vitamin D trong cơ thể," Neale nói.
 
"Cơ thể chúng ta rất giỏi trong việc tổng hợp vitamin D. Và việc bôi kem chống nắng không hề giống như việc chúng ta bị nhốt vào trong một căn phòng kín bưng. Kem chống nắng che chắn các bức xạ UV có hại từ Mặt Trời song vẫn cho phép một số tia nắng có lợi xuyên qua."
Một hội đồng gồm 13 chuyên gia hàng đầu từ khắp nơi trên thế giới họp vào năm 2018 để thảo luận về sự cân bằng giữa vitamin D và chức năng chống nắng, và kết luận rằng kem chống nắng khó có khả năng ảnh hưởng đến tình trạng vitamin D của người trưởng thành khỏe mạnh.
 
BM
Việc dùng kem chống nắng khó có thể tác động đến tình trạng vitamin D của người trưởng thành khỏe mạnh
 
Đối với những người quan tâm đến việc cơ thể cần tạo đủ vitamin D, Neale vẫn khuyên nên bôi kem chống nắng mỗi ngày cho những người sống ở những nơi có nắng gắt quanh năm, ví dụ như nước Úc.
 
Nhưng ở những nơi không có nhiều ánh nắng mặt trời cho lắm, như ở Vương quốc Anh chẳng hạn, thì bà cho rằng chúng ta tương đối dễ dàng có được vitamin D khi tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời, bởi vì việc bôi kem chống nắng chỉ cần thiết khi bạn ở ngoài trời trong một thời gian dài.
 
Những lo ngại xung quanh việc kem chống nắng ngăn chặn việc sản xuất vitamin D cũng có thể bị cường điệu hóa bởi vì rất ít người sử dụng kem chống nắng đúng cách, theo Weller.
 
Liều lượng khuyên dùng là 2mg / cm2 cho da người, tương đương khoảng sáu muỗng cà phê, được xác định trên mức độ chống nắng của một sản phẩm (SPF). Hầu hết mọi người chỉ dùng khoảng một phần tư định lượng đó, ông nói.
 
Nên phơi nắng hay nên bôi kem chống nắng?
 
  
Song phơi nắng liệu có thể mang lại lợi ích gì khác ngoài vitamin D không?
Điều quan trọng cần lưu ý là bất kỳ ý kiến nào nhấn mạnh đến tác dụng tích cực tới sức khỏe từ việc tiếp xúc với ánh sáng mặt trời thay vì là các nguy cơ, rủi ro, cũng đều là thứ lý thuyết đang gây tranh cãi - và điều đó không thể phủ nhận cảnh báo rằng tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời sẽ là tăng nguy cơ ung thư da, bất kể là chúng ta tiếp xúc theo cách thức thế nào.
 
Tuy nhiên, một lợi ích có thể có, là bức xạ UV giải phóng oxit nitric - phân tử được cơ thể ta sản xuất ra nhằm làm giãn mạch máu và giảm huyết áp, và điều đó có nghĩa là kem chống nắng quả là có thể cản trở những lợi ích này, theo Weller.
 
BM
  "Bằng chứng ngày càng rõ rệt cho thấy oxit nitric là rất quan trọng đối với sức khỏe tim mạch và có lẽ là nó giúp làm giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch, mà điều này thì quan trọng hơn nhiều so với việc ngăn ngừa ung thư da," ông nói.
 
Weller lập luận rằng việc giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch quan trọng hơn việc giảm tỷ lệ ung thư da bởi vì tuy tỷ lệ của cả hai bệnh đang gia tăng trên toàn cầu nhưng số ca tử vong do bệnh tim cao hơn nhiều.
BM
 
Bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong số một trên toàn cầu - 17,9 triệu người chết vì căn bệnh này vào năm 2016, trong khi chỉ có 132.000 ca ung thư da hắc tố và hai đến ba triệu ca ung thư da loại khác được chẩn đoán mỗi năm.
 
Melanoma - ung thư da hắc tố là loại nguy hiểm hơn so với các loại ung thư da khác, thì có tỷ lệ sống sót khoảng 92%, và các chuyên gia nói rằng tử vong do ung thư da không phải khối u hắc tố là chuyện hiếm khi xảy ra.
 
Image result for Sử dụng kem chống nắng có an toàn không ?
 
Tuy nhiên, Weller thừa nhận rằng lập luận của ông đang gây tranh cãi, và có bằng chứng rất mạnh mẽ cho thấy dùng kem chống nắng rõ ràng là có lợi cho sức khỏe con người.
 
Trong khi đó, một số ý kiến cho rằng sự tự tin mà kem chống nắng mang lại cho chúng ta có thể là một lý do khiến tỷ lệ ung thư da đang tăng lên, đặc biệt là ở các thế hệ lớn tuổi. Bôi kem chống nắng thường khiến chúng ta tự tin phơi nắng lâu hơn so với khi chúng ta không bôi, Leffell nói.
 
"Khi hỏi chuyện các bệnh nhân, có vẻ như họ không có thói quen thường xuyên bôi lại kem chống nắng khi ở ngoài trời, mà đây là điều mà chúng ta cần phải làm. Các hóa chất hoạt động như một bồn lọc đối với năng lượng tia cực tím UV, và bồn lọc này hữu hạn, sẽ cạn kiệt dần dần," ông nói.
 
Thế giới động vật
 
Đây không chỉ là vấn đề sức khỏe con người mà các nhà khoa học đang nghiên cứu. Hàng chục công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng các chất lọc UV có nguy cơ gây hại cho sinh vật biển. Nhiều trong số các hóa chất này có thể gây ô nhiễm cho động vật biển có vú, chim biển, cá và san hô.
 
Related image
Khu nghỉ dưỡng sinh thái Xcaret ra nội quy yêu cầu du khách phải đổi sang dùng các loại kem chống nắng có phân hủy sinh học cao hơn
 
Tuy cả các chất lọc vô cơ, như titan dioxide, cũng có thể gây tác động, nhưng một trong những thủ phạm độc hại nhất là oxybenzone - lý do khiến cho một số điểm du lịch, như công viên sinh thái Xcaret và Xel-Ha của Mexico, đã ra nội quy theo đó du khách phải đổi sang sử dụng loại kem chống nắng có khả năng phân hủy sinh học cao hơn.
 
"Các hóa chất như oxybenzone có thể đóng vai trò là chất gây rối loạn nội tiết và gây ra thay đổi giới tính ở cá, làm giảm sự tăng trưởng hoặc giảm sản lượng trứng," Cheryl Woodley, nhà khoa học nghiên cứu tại Cơ quan Khí tượng và Hải dương Quốc gia Hoa Kỳ, nói.
 
BM
  "Ô nhiễm trong môi trường do các hóa chất trong kem chống nắng gây ra có thể làm giảm khả năng phục hồi trước các sự kiện biến đổi khí hậu và thậm chí góp phần gây ra sự suy giảm khả năng sinh sản đối với các sinh vật biển, bao gồm san hô và cá, khiến chúng có thể tuyệt chủng ở từng khu vực chỉ sau vài thế hệ, do gây giảm khả năng thụ thai và sinh sản."
 
Trong một nghiên cứu được thực hiện với các cộng đồng san hô ở vùng biển Hong Kong, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng nồng độ kem chống nắng cao lên khi con người có nhiều hoạt động ở bờ biển. Một số mẫu san hô chứa nồng độ đủ cao để gây biến dạng và tử vong ở san hô chưa trưởng thành.
 
Vậy, những người quan tâm về sức khỏe của họ, hoặc của hệ sinh thái biển phải làm gì?
 
Cho đến khi có nghiên cứu đưa ra kết luận dứt khoát về tác hại tiềm tàng của các chất lọc UV khi được hấp thụ vào cơ thể chúng ta, hoặc các lựa chọn thay thế không chứa các thành phần có thể gây hại cho sức khỏe, thì các chuyên gia đều thống nhất rằng chúng ta cần che nắng mỗi khi trực tiếp ra ngoài trời nắng
 
BM
Cách lành mạnh nhất để làm như vậy - cho cả bản thân và cho hệ sinh thái tự nhiên - là mặc quần áo, tìm bóng râm và tránh ánh nắng giữa trưa.
Nhưng vào những thời điểm không thể làm vậy, chúng ta nên bảo vệ cơ thể bằng kem chống nắng và nhất thiết phải bôi kem đúng cách.
Đối với những ai lo ngại về tác động tiềm tàng của các chất lọc UV được hấp thụ vào da người hoặc dùng cho thế giới tự nhiên, thì kem chống nắng được làm từ các chất lọc vô cơ có thể là lựa chọn tốt hơn.
 
Điều này nghe thì đơn giản, nhưng tỷ lệ ung thư da đang gia tăng cho thấy thông điệp này thực sự đã "vào tai này ra tai kia".
 
Jessica Brown
 
Bích Hòa ST
 
BM
Xem thêm...

Con người đi tìm thuốc trường sinh

Con người đi tìm thuốc trường sinh

Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức

Mè được xem như là loại thực phẩm “cải lão hoàn đồng, trường thọ bất lão,”

là “kho báu dinh dưỡng” thường xuất hiện trong các món ăn của Nhật Bản. (Hình: nhatngusenko)

 

Nhà Xuân vừa mở thọ diên,
Chén pha Giếng Cúc, bàn chen Non Đào.
Nguyễn Huy Tự

 

Giấc mộng trường sinh, bất tử đã được ghi nhận từ thuở hoang sơ, khi con người còn ăn lông ở lỗ. Trong huyền thoại thần tiên, trong niềm mê tín dân gian, trong nguồn cảm hứng xuất thần của văn nhân thi sĩ hay luận lý của triết gia. Tân, Cựu Ước, kinh Koran cũng có nhắc tới nguồn nước trường sinh.

 

Nó là động lực thúc đẩy những nhà thám hiểm lặn lội đi tìm suối nước vĩnh cửu ở vùng đất lạ, cũng như  là mục tiêu nghiên cứu của các khoa học gia xưa nay.

Nó đã tạo cơ hội làm giầu cho những lang băm, những tên lường gạt rao bán vịt trời giữa chợ với môn thuốc trường sinh bất tử.

Nó ám ảnh mọi người, mọi giống. Ai cũng mong mỏi sống mãi không già, thoát khỏi  những tàn phá của cơ thể do thời gian, giữ mãi  được những nét thanh xuân đầy nhựa sống. Ai cũng nghĩ là ở đâu đó, có môn thuốc mà khi uống vào ta sẽ thi gan cùng tuế nguyệt. Ta chỉ việc cố gắng, kiên nhẫn tìm là sẽ thấy nó.

Nhân dịp Xuân về, chúng tôi mời quý vị, ta lang thang vào cái vườn địa đàng này. Biết đâu lại may mắn nhặt được vài trái đào của Tây Vương Mẫu rơi rớt đó đây; uống lén được chút rượu Kim Tương. Để rồi cùng nhau bách niên giai lão, tiếp tục mè nheo người bạn đường sung sức…

Trường sinh trong Triết học

Đi trước các dân tộc khác, người Trung Hoa xa xưa đã có một khái niệm, một triết lý về sự sống lâu.

Lão Tử từng quan niệm là nếu một sự vật có thể biến thành sự vật khác thì với con người, sự chết cũng có thể thành bất tử. Như con nòng nọc có đuôi kia biến thành con cóc, con nhái, con sâu róm lột xác thành con bướm. Đạo Lão cho con người sống là nhờ sự hoà hợp của âm/dương, nếu giữ được sự hòa hợp này thì cuộc sống kéo dài.

Quan niệm này đã và vẫn là căn bản cho Y thuật Trung Hoa cùng các nước chịu ảnh hưởng văn hóa quốc gia này như Việt Nam, Triều Tiên. Lão cũng khuyên người ta phải tiết kiệm sinh lực bằng vô vi, tập phép hô hấp để tăng dưỡng khí cho não bộ, ăn nhiều trái cây, kiêng rưọu, thịt và sống cho phải đạo.

Câu chuyện người Luigi Cornaro, sanh năm 1470, sống cuộc đời phóng đãng hơn 30 năm. Thầy thuốc nói nếu tiếp tục như vậy sẽ không qua được tuổi 50. Ông ta bèn thay đổi nếp sống, tiết mực hơn và kết quả là sống tới tuổi 103, để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm giá trị về bảo vệ sức khỏe. Hai trăm năm sau, nhiều người đã áp dụng lối sống của Cornaro.

Triết gia Plato, thọ 81 tuổi, khuyên ta không được rượu chè say sưa, nhất là ở tuổi trung niên, nếu muốn trường thọ.

Thủy tổ nền y học Tây Phương Hippocrates, sống tới 80 tuổi, nhắc nhở con người nên từ từ, dung hòa ở mọi lãnh vực để giữ gìn nhựa sống. Nhất là từ khi đặt chân lên ngưỡng cửa 60.

Có người muốn kéo dài sự sống thì cũng có người quan niệm ngược lại.

Sinh, Lão, Bệnh, Tử là lẽ thường của tạo hóa, hà cớ chi phải bận tâm quá đáng.

Sự chết cũng tốt cho loài người. Tre già măng mọc, đèn cạn dầu đèn tắt.

Và đã hưởng hết lạc thú rồi thì cầu sống lâu làm gì?

 

Trường sinh trong huyền thoại

Huyền thoại Hy Lạp, Ấn Ðộ, La Mã ghi lại nhiều giai thoại trường sinh thần tiên.

Nàng Eos yêu Tithonus hết mình, muốn cùng chàng bên nhau mãi mãi. Nàng xin Thần lãnh đạo Thiên Đường Zeus cho chàng được bất tử. Tithonus sống mãi, nhưng càng sống lâu càng trở nên đau yếu, bệnh hoạn và phải nuôi trong phòng riêng. Eos trở nên buồn, vì  nàng đã quên không xin cho chàng vừa sống lâu vừa giữ được vẻ thanh xuân. Nàng đi kiếm người tình khác.

Người Ả Rập hay kể cho nhau nghe câu chuyện nhân vật quen thuộc El Khidr với Giếng Nước Vĩnh Cửu: Một hôm tình cờ El Khidr rửa con cá khô trong giếng nước, con cá tự nhiên quẫy động, sống lại. Không bỏ lỡ cơ hội, El Khidr nhẩy xuống giếng tắm và trở thành bất tử .

Hy Lạp xưa cũng có suối nước vĩnh cửu trong rừng Jupiter, mà, theo tục truyền, ai tắm nước đó sẽ được phục hồi tuổi trai tráng và khỏe mạnh.

 

Trường sinh trong văn học, nghệ thuật

Văn nhân thi xưa nay cũng khao khát sự trường thọ.

Thi sĩ Hy lạp Hesiod tả hình ảnh đầy hấp dẫn của giống người Golden Race, sống lành mạnh tới cả trên trăm tuổi. Đến khi chết, họ ra đi một cách nhẹ nhàng, thoải mái như đi vào giấc ngủ say.

Pindar tả cảnh thiên đường trường thọ của dân chúng trong một hải đảo giữa biển Atlantic: sống cả ngàn năm trong hoan lạc, không biết gì đến đau yếu, bệnh tật.

Trong tiểu thuyết Lost Horizon xuất bản năm 1933, James Hilton tả cảnh sống thiên đường của dân chúng ở vùng Shangri-La.

Trong sách Metamorphoses, thi sĩ La Mã Ovid kể lại chuyện vua Aeson của Hi Lạp được phục hồi sức khoẻ bằng cách chích vào tĩnh mạch một hỗn hợp điều chế từ máu cừu đực chưa thiến, da rắn, thịt cú và rễ nhiều thảo mộc khác nhau.

 

Trường sinh với các nhà thám hiểm

Nhiều nhà thám hiểm cũng đã giương cờ đi khắp năm châu bốn bể để tìm thuốc trường sinh.

Juan Ponce de Leon, người Tây Ban Nha, đã lên đường thám hiểm Tân Thế Giới với hy vọng kiếm được thuốc hồi xuân. Ông ta đã già yếu, không thỏa mãn được cô vợ trẻ sung sức. Đồng thời ông ta cũng muốn kiếm thần dược dâng Quốc Vương Ferdinand II. Không kiếm ra thuốc, nhưng ông ta đã tìm ra tiểu bang phì nhiêu, hiền hòa Florida năm 1513. Ông qua đời vì vết thương bị nhiễm độc trong khi giao tranh với thổ dân gốc Indian vào tuổi 63.

Tần Thủy Hoàng Đế, sau khi gồm thâu lục quốc, dựng nên nghiệp Đế, muốn bất tử để trị vì trăm họ. Ông đã phái các phương sĩ Từ Phước và Lư Sinh căng buồm ra Biển Đông tìm thần dược. Lư Sinh, Từ Phước không tìm ra linh dược, nhưng đã lánh nạn và tìm được những mùa Xuân bất tận cho nhiều thế hệ con cháu trên đất Phù Tang mầu mỡ.

Năm 1498, Columbus tuyên bố là đã tìm ra miền vĩnh cửu ở dọc theo bờ biển Venezuela, gần đảo Trinidad.

Trường sinh với căn bản khoa học

Bên cạnh những ý kiến, dữ kiện khó tin, nhiều người đương thời đã có cái nhìn nghiêm túc hơn về sự hóa già và phương cách trì hoãn diễn biến này.

Tu sĩ dòng Franciscan kiêm khoa học gia Roger Bacon đã lý luận rằng con người già vì sự mất bớt nhiệt năng bẩm sinh. Nếu sống hợp lý cộng với thuốc men hiệu nghiệm, ta có thể trì hoãn sự mất mát này và sống lâu hơn. Ông ta hỗ trợ thuốc chế từ thịt rắn, tim hươu nai và một vài thảo mộc trong rừng ở Nam Phi hay nước san hô, ngọc trai. Nhưng phương thức mà ông ta ưa thích nhất là hít sinh khí hơi thở của trinh nữ.

Người Do Thái khi xưa cũng tin rằng con gái là phương thuốc chữa bệnh tốt. Vua David, khi về già không được khỏe, cơ thể lạnh toát, đắp bao nhiêu chăn cũng không đủ ấm. Thần dân bèn đặt Người nằm cạnh những thiếu nữ với ý định là để chân khí từ thiếu nữ tiếp sức cho vua cha. Và Ngài khỏe ra.

Boerhaave, danh y người Đức, sống từ 1668 tới 1738, cũng khuyên viên thị trưởng Amsterdam là  nếu muốn lấy lại sinh lực thì hãy nằm giữa hai thiếu nữ còn trinh.

Công dụng hơi thở thiếu nữ cũng thấy ghi trong ngôi mộ cổ của một lão nhân Ai cập, nói rằng ông ta sống tới tuổi 115 là nhờ những hơi thở này.

Nhà luyện kim kiêm y sĩ Paracelsus của Đức, vào thế kỷ 16 đã tin tưởng rằng lão hóa là do sự thay đổi hóa chất trong cơ thể như sự rỉ sét của kim loại. Ông ta khuyên nên ăn uống cân bằng, sống tại vùng khí hậu ôn hòa, dùng những thuốc do ông ta chế.

Theo Leonardo Da Vinci, con người mau già là do hậu quả của mạch máu dầy lên, máu lưu thông khó khăn, dinh dưỡng suy giảm.

Những thế kỷ  kế tiếp, việc tìm kiếm phương thức trì hoãn sự lão hóa mang ít nhiều tính cách khoa học hơn và được thực hiện bởi nhiều nhà chuyên môn quan tâm đến vấn đề này.

Mùa Thu năm 1885, Charles Ed. Brown Sequard, 72 tuổi, nguyên giáo sư Đại Học Harvard, hùng hồn trình bày trước các học giả uy tín của College of France. Ông ta cho hay là đã lấy lại được sinh lực, thỏa mãn đòi hỏi tình dục cuả người vợ trẻ bằng cách dùng nước tinh chế từ ngọc hành loài chó. Y giới mọi nơi vội vàng áp dụng môn thuốc này, nhưng hiệu quả không được như lời nói.

Sau Thế Chiến Thứ Nhất, viên y sĩ người Nga, Serge Vernof, sang Pháp và cấy tế bào ngọc hành cho nhiều người để tăng cường sinh lý.

Ở Mỹ, mấy năm sau, John Romulus Brinkly cũng áp dụng phương pháp này cho thân chủ, kiếm được nhiều tiền, mua đài phát thanh và ra tranh cử chức thống đốc tiểu bang Arkansas.

Descartes, Benjamin Franklin, Francis Bacon, Christopher Hufeland… với nhiều công sức nghiên cứu đều tin tưởng là sự lão hóa  và sự tử vong sẽ bị khoa học khuất phục. Hufeland còn khuyên ta nên tránh sự tức giận, sự tự hủy hoại và  coi chúng là kẻ thù của trường thọ.

 

Các nghiên cứu hiện đại

Jean Martin Charcot, y sĩ Pháp, được nhiều người coi là cha đẻ của Lão-khoa-học, xuất bản cuốn sách đầu tiên về khoa này năm 1867 nhan đề Clinical Lectures on Senile and Chronic Diseases. Tác giả đề nghị nghiên cứu diễn tiến sự hóa già, nguyên nhân già, thay đổi cơ thể khi về già.

Bác Sĩ Ignatz Leo Nascher vận động để các trường Y Khoa đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu vấn đề liên quan tới hóa già.

Sir Peter  Medawar và Sir Mac Farlane Burnet là những người đầu tiên lưu ý tới ảnh hưởng của gene trong sự lão hóa.

Quá trình lão hóa có thể bị đảo ngược từ DNA. (Hình minh họa: Google)

Sau Thế Chiến Thứ Hai, tốc độ nghiên cứu về vấn đề già phát triển mạnh. Tờ báo uy tín Journal of Gerotology ấn hành số đầu tiên vào năm 1946 ở Hoa Kỳ.

Từ năm 1970, tại Mỹ, do sự đòi hỏi của dân chúng, các khoa học gia và chính trị gia liên kết thúc đẩy chính phủ trợ cấp nhiều hơn nữa cho việc nghiên cứu các vấn đề về lão hóa. Do sự ủng hộ tích cực củaThượng Nghị Sĩ Alan Cranton, cơ quan Quốc Gia Tuổi Già (National Institute of Aging) được chính thức thành lập năm 1976. Cơ quan này có ngân sách cao tới cả nửa tỷ Mỹ kim và chuyên chú về các vấn đề liên quan tới người cao tuổi.

Ngày nay, trên thị trường thương mại, ta có thể kiếm được nhiều sản phẩm được công nhận bởi cơ quan có thẩm quyền về y khoa học, hoặc được người chế ra quảng cáo là có công hiệu trì hoãn sự lão hóa.

Nhớ lại vào giữa thập niên năm mươi, đồng bào ta ở Việt Nam nhiều người đua nhau  dùng thuốc Gerovital-KH3. Thuốc này được một y sĩ Lỗ Ma Ni điều chế và nghe nói các nhân vật nổi danh như Tưóng De Gaulle, Thủ Tướng Adenauer, văn hào Sommerset Maugham cũng có dùng. Gerovital vẫn còn được bán tự do ở Âu Châu, nhưng không được cơ quan Dược Phẩm Hoa kỳ công nhận giá trị chống lão hóa.

Nhiều người hiện đang dùng các loại sinh tố, khoáng chất, anti-oxidant, các loại kích thích tố, Q-10, Glutathione, Melantonin, Sod, DHEA, Omega-E,… Và được giới thiệu là có thể làm chậm sự lão hóa.

Các khoa học gia đang đi xa hơn trong công việc này. Họ nhắm vào việc thay đổi gene trong nhiễm thể tế bào, việc giới hạn tác hại của các phó sản trong biến hóa căn bản của tế bào.

Đi xa hơn nữa, họ nghĩ tới chuyện thay thế những bộ phận hư hao bằng bộ phận tạo ra do chính tế bào của mình, được nuôi dưỡng, cấu tạo trong phòng thí nghiệm hay trên bào thai, để tránh hiện tượng khước từ thông thường. Một ngày nào đó, biết đâu ta lại chẳng tân trang được cơ thể con người và chỉ cần đưa đi kiểm tra định kỳ mười năm một lần, như một chiếc xe hơi.

Kết luận

Trở lại với thực tại, ta thấy tuổi thọ con người đã tăng đáng kể trong hơn trăm năm qua.

Chừng nửa thế kỷ nữa, Hoa Kỳ sẽ có khoảng 75 triệu người trên 65 tuổi trong tổng số trên dưới ba trăm triệu dân. Tại các quốc gia khác, số người cao tuổi cũng tăng theo cùng nhịp độ. Đó là thành qủa những tiến bộ tuyệt vời của khoa học cũng như sự thay đổi nhân sinh quan của loài người.

Nhà bác học người Pháp, Louis Pasteur, năm 1856, đặt nền móng cho việc tiêu diệt hầu hết các bệnh truyền nhiễm, nguyên nhân tử vong cao ở các thế kỷ trước, đã là người có công đầu trong việc tăng gia tuổi thọ.

Rồi khi sống lâu, loài người lại phải đối phó với những khó khăn mới gây ra do môi trường cũng như do thói quen, những bệnh nan y. Con người đã ý thức được vấn nạn đó và đang ứng phó rất hiệu nghiệm, tài tình.

Do sự tăng gia số, người cao tuổi sẽ có nhiều mầu sắc mới, sinh hoạt mới trong gia đình, xã hội. Những người trên 70 tuổi sẽ có nhiều việc để bận rộn trong khoảng thời gian trên dưới 30 năm còn lại của cuộc đời. Sẽ có nhiều người, 70, 80 tuổi còn đi làm, hoặc đi học để cập nhật kiến thức.

Tỷ lệ lão niên nữ sẽ cao hơn nam vì sống lâu hơn. Sẽ có nhiều cặp nhân tình đầu bạc sống chung để nương tựa, đầm ấm với nhau. Sẽ có nhiều trường hợp con cái dọn về ở với cha mẹ già để các cụ bớt đơn côi.

Kỹ nghệ phục vụ nhu cầu người cao tuổi sẽ phát triển mạnh. Hãng du lịch sẽ phát triển mạnh để thảo mãn nhu cầu người già.

Đồng thời, khối cử tri của người cao tuổi sẽ có ảnh hưởng nhiều tới các vấn đề trọng yếu của quốc gia. Người già sẽ lấy lại được sự trân trọng như trong thời kỳ Nữ Hoàng Anh Quốc Victoria xưa kia.

Và trong tương lai, khoa học nghiên cứu sẽ hướng nhiều vào việc “tăng đời sống cho năm tháng chứ không chỉ tăng năm tháng cho cuộc đời” (adding life to years, not just adding years to life). Để nhân loại sống trong  thế kỷ thứ hai mươi mốt với tinh thần “Sống lâu, Sức khoẻ, mọi vẻ mọi hay.”

Đó sẽ là những chén rượu Kim Tương, những trái Bàn Đào mà chúng ta mong đợi.

 

Hồng Anh sưu tầm

-Hình minh họa-Internet

 

 
 
Xem thêm...

Cuộc "đại chiến" chung quanh nước hoa Chanel N°5

Cuộc "đại chiến" chung quanh

nước hoa Chanel N°5

N°5 Chanel Paris được xem là một "sáng tác hoàn hảo", bạn đồng hành của những người đàn bà tân thời,

táo bạo và yêu chuộng tự do hồi đầu thập niên 1920.

Mật vụ của Đức Quốc Xã, điệp viên Mỹ, các quan chức cao cấp nhất của Pháp dưới chế độ Vichy trong Thế Chiến Thứ Hai, bóng dáng của thủ tướng Anh Churchill và nghị lực của một người đàn bà xuất chúng đã góp phần viết nên huyền thoại nước hoa Chanel N°5.

Với chiếc lọ vuông vắn, N°5 Chanel Paris được xem là một "sáng tác hoàn hảo", bạn đồng hành của những người đàn bà tân thời, táo bạo và yêu chuộng tự do hồi đầu thập niên 1920. Cho đến tận ngày nay, Chanel N°5 vẫn là những món quà làm đẹp lòng phụ nữ.

Nhưng đằng sau những lọ nước hòa đầy nữ tính ấy, là cả một "một cuộc đại chiến", những màn đấu trí giữa nhà tạo mẫu thời trang Coco Chanel với hai cộng tác viên giúp bà đi vào lịch sử của nền công nghiệp nước hoa.

Sự hình thành

Ngược dòng thời gian, vào năm 1920, nhà tạo mẫu thời trang đã thành danh, Coco Chanel, có ý tưởng tạo ra một loại nước hoa cho phái đẹp, nhưng đó phải là "một sáng tác" đưa nước hoa lên hàng nghệ thuật và một "cuộc cách mạng" trong làng nước hoa thế giới. Để đạt đến đích, bà cộng tác với Ernest Beaux, ông vua nước hoa phục vụ hoàng gia Nga. Beaux sống và làm việc ở thành phố Grasse, nơi có những bông hoa nhài trắng muốt với hương thơm khác tất cả những giống nhài ở bất kỳ nơi nào trên thế giới.

Lionel Paillès, một chuyên gia về các loại nước hoa trên thế giới kể lại, Coco Channel có tầm nhìn xa. Bà yêu cầu Beaux tạo ra một mùi hương cho phụ nữ và một mùi hương đầy nữ tính. Cho tới thời bấy giờ, mỗi loại nước hoa thường gắn liền với hương của một loài hoa, như là hoa hồng, hoa nhài ... Chanel muốn đoạn tuyệt với xu hướng đó. Chịu ảnh hưởng của trường phái lập thể trong hội họa, Coco Chanel quan niệm, nước hoa mang tên bà phải có những mùi hương lập thể và trừu tượng.

Khi đặt tên cho nước hoa đầu tiên của mình, Chanel giải thích, bà luôn trình làng các bộ sưu tập thời trang vào ngày 05/05. Đúng ngày này năm 1921, nhà may Chanel trình làng lọ N°5 đầu tiên. Những lọ nước hoa có hình dáng tựa như những chai rượu whisky lập tức chinh phục giới thượng lưu.

Là một nữ doanh nhân nhậy bén, Chanel tìm cách để N°5 đến được với công chúng một cách rộng rãi nhưng có chọn lọc. Qua sự trung gian của chủ nhân cửa hàng Galerie Lafayette, Coco Chanel cộng tác với hai em nhà Wertheimer. Pierre và Paul Wertheimer có gốc Do Thái, là chủ hãng mỹ phẩm Bourjois. Năm 1924, công ty Parfums Chanel đặt tại Pantin, ngoại ô Paris, bắt đầu đi vào hoạt động.

Coco Chanel đã trao cho hai anh em nhà Wertheimer quyền sản xuất và phân phối nước hoa N°5. 70 % cổ phần thuộc về Paul và Pierre Wertheimer ; 20 % thuộc về chủ nhân Galerie Lafayette và 10 % dành cho Coco Chanel.

Mọi phí tổn đều do gia đình Wertheimer đài thọ. Chanel không phải bận tâm về bất kỳ điều gì. Trở nên giàu có, bà dành thời gian cho các bộ sưu tập thời trang. Bà giàu có đến mức ở hẳn trong khách sạn Ritz sang nhất Paris thời đó. Năm 1929, N°5 được bán ra trên toàn thế giới, trong đó Mỹ là một thị trường hết sức quan trọng.

Chuỗi dài của những trận chiến

Trở thành một trong những người đàn bà giàu có nhất, nổi tiếng nhất, thế lực nhất ..., nhưng Chanel bắt đầu cảm thấy gia đình Wertheimer làm giàu nhờ cái tên của bà. Coco Chanel thay đổi thái độ với hai cộng tác viên thân tín và đắc lực nhất. Nhưng trong cuộc đọ sức này, Coco bị thua ở hiệp một. Chanel mất chức chủ tịch công ty mang tên bà.

Về cuộc sống riêng tư, nổi tiếng là một người phụ nữ đa tình, Coco thay tình nhân như thay áo. Ngoài 50 tuổi, lần đầu trong đời, Mademoiselle Chanel nhận được lời cầu hôn. Rủi thay, vị hôn phu của bà đột tử.

Theo lời Rhonda Garelick, tác giả cuốn tiểu sử về Chanel, cái tang này cướp đi đam mê sáng tác của Coco. Khi Thế Chiến Thứ Hai mở màn, Coco Chanel trụ lại Paris, dưới ách Đức Quốc Xã. Hai anh em Wertheimer sang Mỹ tị nạn. Là những thương gia khôn ngoan, trước khi đáp tàu thủy sang định cư ở New York, gia đình Wertheimer đã chuyển nhượng toàn bộ hãng nước hoa Parfums Chanel cho một người bạn thân tín là Félix Amiot. Ông này là người Pháp "thuần túy" và là nhà sản xuất chiến đấu cơ nổi tiếng. Máy bay Amiot 351 trong tay quân đội Pháp, là cơn ác mộng của ban tham mưu ở Berlin.

Đặt chân đến miền đất tự do là New York, hai anh em Wertheimer mua lại một nhà máy cũ kỹ ở New Jersey, cách đảo Manhattan một con sông, biến địa điểm này thành nhà máy sản xuất nước hoa Chanel thay thế cho cơ sở ở Pantin đã bị phá hủy. Nhưng để có được nước hoa N°5 thì không thể thiếu giống hoa nhài mà chỉ thành phố Grasse của Pháp mới có được.

Và thế là Wertheimer thuê ông trùm gián điệp Mỹ, Herbert Gregory Thomas, một trong những cột trụ của cơ quan tình báo Hoa Kỳ, OSS, tiền thân của CIA đến tận Grasse. Với vali chứa đầy vàng, Herbert Gregory Thomas sang Bồ Đào Nha, một quốc gia trung lập, rồi từ Bồ Đào Nha tìm đường sang Pháp, vượt qua mọi trạm kiểm duyệt của Đức Quốc Xã. Vài tháng sau, ông trở lại New York, với hành lý gồm 300kg tinh dầu hoa nhài của vùng Grasse. Tất cả đã sẵn sàng cho việc sản xuất nước hoa N°5 ngay trên đất Mỹ, để bán cho người Mỹ. Coco Chanel hoàn toàn không hay biết về dự án mở xưởng nước hoa Chanel tại New York của anh em nhà Wertheimer.

Pierre Wertheimer.Source:newyorksocialdiarycom

Chanel mở mặt trận chống Wertheimer

Tại Paris, dưới những năm tháng bị quân phát xít chiếm đóng, Chanel tiếp tục cuộc sống xa hoa. Một trong những người tình của bà là trùm mật vụ Đức Quốc Xã. Khi biết rằng những lọ N°5 được sản xuất trên đất Mỹ để bán cho người Mỹ và lại đắt như tôm tươi, Coco vô cùng phẫn nộ. Bà huy động từ người tình đến toàn bộ những mối quen biết ở cấp cao nhất để "tiêu diệt hai thằng Do Thái Wertheimer" - những từ ngữ mà chính Chanel đã thốt lên.

Trước tiên, Chanel cho ra đời một loại nước hoa mới để "át" tiếng thơm của N°5 cho dù biết rằng vì hợp đồng với hãng Parfums Chanel, bà không được làm điều đó mà không có sự đồng ý của Félix Amiot, chủ nhân tập đoàn nước hoa này. Nhưng Coco Chanel không sợ bị kiện ra tòa, vì bà tin tưởng vào những mối quen biết rất rộng của mình.

Ở hiệp thứ nhì, Coco Chanel huy động những người bạn sành điệu, gièm pha những lọ nước hoa N°5 sản xuất tại Mỹ, phao tin rằng đấy là những chai N°5 giả hiệu.

Ở hồi thứ ba, Chanel khai thác lá bài Do Thái để chiếm đoạt lại hãng nước hoa Parfums Chanel do hai anh em Wertheimer lập ra và đã nhờ Félix Amiot đứng tên trong thời gian họ tị nạn tại Mỹ. Hồ sơ pháp lý liên quan đến hãng nước hoa Chanel được trình lên đến cấp cao nhất trong chính quyền Vichy thời đó. Sau nhiều tháng tranh cãi, Coco ghi được một bàn thắng quan trọng : giới chức hành chính nghi ngờ anh em nhà Wertheimer mượn tên Amiot làm tấm bình phong để luồn lách luật của Đức Quốc Xã.

Nhưng theo lời sử gia Jean Marc Dreyfus đại học Manchester, Anh Quốc, ông Félix Amiot là một người vô cùng khôn ngoan. Ông vừa cộng tác với quân Đức, vừa tài trợ cho phong trào kháng chiến Pháp. Amiot là nhà sản xuất ra những chiếc chiến đấu cơ. Chế độ của Hitler đặt mua 360 chiếc máy bay ném bom AMIOT351. Ký hợp đồng với Berlin, Félix Amiot không quên đả động tới hồ sơ Parfums Chanel. Berlin điện về cho Paris. Năm 1941, chính quyền Pháp mở lại vụ kiện hãng nước hoa Chanel. Coco thua Félix.

Nhưng Chanel đâu dễ đầu hàng. Bà huy động người tình trùm mật vụ phát xít thường xuyên đi về giữa Paris và Berlin. Coco sang tận Berlin, nói chuyện trực tiếp với lãnh đạo tình báo Đức Quốc Xã và hợp tác với cơ quan này dưới biệt danh F71-24. Nhiệm vụ của Coco Chanel là sang Madrid, bắt lại đường dây liên lạc với một người bạn thâm niên là Winston Churchill, thuyết phục thủ tướng Anh ký hòa ước song phương với Hitler.

Chanel with Winston Churchill (far right) and his son.

Source:betterthannylundblogspotcom

Những lá thư Chanel liên tiếp gửi cho Churchill không được hồi âm. Âm mưu của Coco Chanel bị lộ. Tháng Giêng 1944, Coco rời Madrid, về lại Paris. Mật vụ Pháp theo dõi bà. Gió đã xoay chiều. Tháng 08/1944, quân đồng minh giải phóng thủ đô Paris. Nước Pháp tính sổ với những ai từng cộng tác với Đức Quốc Xã. Coco Chanel không là một ngoại lệ. Bà bị bắt ngày 29/08/1944. Nhưng sau hai giờ hỏi cung, người phụ nữ lịch sự và sang trọng này được trả tự do, nhờ một lá thư gửi gắm có chữ ký của chính thủ tướng Anh, Winston Churchill.

Được tự do, Coco Chanel mở rộng cửa hàng sang trọng của bà trên khu phố Cambion, quận 1, Paris, mời lính Mỹ vào mua những lọ Chanel N°5 còn lại. Amiot hoàn lại cho họ hãng nước hoa Parfums Chanel khi gia đình Wertheimer từ New York trở lại Pháp. Pierre và Paul Wertheimer trao cho Coco Chanel ngân phiếu với một món tiền khổng lồ, tương đương với 10 % doanh thu từ những chai nước hoa N°5 vuông vắn bán ra trên đất Mỹ suốt những năm tháng chiến tranh.

Trận chiến giữa Chanel và anh em nhà Wertheimer như không để lại vết hằn. Cho đến tận ngày nay, toàn bộ đế chế Chanel, từ mỹ phẩm, nước hoa đến thời trang và cả đồ trang sức đều thuộc về những người thừa kế của Pierre và Paul Wertheimer.

Nước hoa Chanel 5 : Cả một trời hoa

 Natalie Portman in Grasse, France 

Vượt mọi thời đại, nước hoa Chanel Số 5 vẫn là món quà thanh lịch được phái nữ ưa chuộng nhất. Sang năm nước hoa Chanel N°5 tròn 100 tuổi. Trong mười thập niên qua, chai nước hoa mình dẹp, hình chữ nhật với cái tên đơi giản và dễ gọi trong bất kỳ ngôn ngữ nào vẫn là món quà tặng thanh lịch và trang nhã nhất đối với phái đẹp.

Bất ngờ hơn nữa khi biết rằng mỗi năm trên thị trường xuất hiện thêm khoảng 400 loại nước hoa mới hoa. Vậy mà khi nói đến nước hoa Pháp, ai ai cũng nghĩ ngay đến lọ Chanel Số 5, trước cả « J’adore » của Christian Dior, hay « Angel » của nhà tạo mẫu Thierry Muggler.

Ở vào thời kỳ của « những năm điên cuồng » đầu thế kỷ trước, nhà tạo mẫu Gabrielle Chanel táo bạo muốn cho ra đời một loại nước hoa mang tên nhà may của bà. Đó phải là « một loại nước hoa rất nữ tính dành riêng cho phái đẹp ».

Khi nhà làm nước hoa Ernest Beaux giới thiệu với chủ nhân nhà may Chanel nhiều loại mẫu có thể được vinh dự mang tên bà, thì người được cả thế giới biết tới với cái tên thân mật là Coco đã chọn mẫu số 5. Những chai Chanel Số 5 được ra đời từ đó.

Cũng phải nói thêm số 5 là số hên của Gabrielle : năm nào cũng vậy nhà may Chanel trình làng những kiểu áo mới vào ngày mồng 5 tháng 5. Coco tin rằng số 5 sẽ mang lại may mắn cho loại nước hoa đầu tiên của bà.

 Tất cả các hiệu nước hoa thời đó chỉ gợi lên một mùi hương của một loài hoa quý, riêng Chanel Số 5 thì đem lại cả một rừng hoa cho phái đẹp : một chút nồng nàn gợi cảm của những nụ hồng tháng 5, một góc thanh tao của những cánh lan rừng hay một chút nhẹ nhàng của những bông nhài đến từ các miền đất nóng.

100 năm qua, nhà may Chanel không hề thay đổi công thức làm nên tên tuổi của những chai nước hoa Số 5. Có thay đổi chăng là Chanel cho ra đời thêm các loại « nước thơm » nhẹ hơn, trong hơn so với nguyên thủy một chút.

Bí quyết thành công thứ nhì của nước hoa Số 5 là nhà may Chanel luôn sử dụng một cách tài tình hình ảnh đẹp để chinh phục con tim của nữ giới.

 

 

Chanel No.5 là huyền thoại 

 

Phát minh bởi bậc thầy nước hoa và nhà tiên phong về thời trang

Đầu thập niên 1920, sau khi gặt hái nhiều thành công trên thị trường may mặc, Coco Chanel bắt đầu nghĩ đến việc tấn công vào thị trường mỹ phẩm. Sau một buổi gặp gỡ với một công tước Nga cùng vợ chồng họa sĩ Tây Ban Nha tại Monte Carlo (Pháp), bà đã nhen nhóm ý tưởng phải phát minh ra ngay một mùi hương là sự kết hợp giữa nét cổ điển của Pháp, thượng lưu của Nga và sự bay bổng, hiện đại của Tây Ban Nha. Ý tưởng ấy càng thôi thúc mãnh liệt khi người tình của Coco Chanel là đại công tước Nga Dmitri Pavlovich giới thiệu bà với Ernest Beaux - một bậc thầy về nước hoa ở bờ biển Riviera, Pháp.

Ernest Beaux thời đó làm việc cho A. Rallet & Co, một công ty nước hoa nổi tiếng trong giới hoàng gia Nga về khả năng tạo nên những mùi hương "chết người". Một trong số hương thơm đình đám nhất khi ấy được Hoàng hậu Nga Alexandra Feodorovna vô cùng yêu thích là Rallet O-De-Kolon No.1 Vesovoi (gọi tắt là Rallet No. 1) - mùi hương kết hợp giữa hoa hồng và nhài.

Hình ảnh nàng Marilyn Monroe gợi cảm trên giường với chai nước hoa Chanel No. 5

trở thành biểu tượng về đẳng cấp và sự quyến rũ một thời. Ảnh: Pinterest.


Chanel No. 5 ra đời vào cuối hè, đầu thu 1920, chỉ vài tháng sau khi Ernest Beaux nhận đơn hàng từ Coco Chanel. Nó dựa trên mùi hương cơ bản của Rallet No. 1. Để tạo ra thứ chất lỏng huyền thoại này, ông đã tổng hợp 80 loại hương liệu khác nhau. Nhưng mùi hương cơ bản của Chanel No. 5 là sự góp mặt của 5 nguyên liệu chính: hoa hồng, hoa nhài xứ Grasse, hoa cam đắng (neroli), gỗ đàn hương và aldehydeKhi hợp tác, Ernest Beaux được huyền thoại thời trang liên tục nhắc nhở rằng: "Tôi muốn tạo ra một loại nước hoa mang mùi đặc trưng của phụ nữ. Tôi muốn trao cho phụ nữ một mùi hương nhân tạo. Nhân tạo theo ý tôi ở đây là được tổng hợp từ nhiều loại hương liệu khác nhau".

Ngoài nước hoa số 5, Ernest Beaux phát minh ra các loại hương thơm khác được đánh số tương ứng từ 1 - 4 và 20 - 24. Tuy vậy, chỉ có duy nhất một mùi hương được Coco Chanel lựa chọn. Trong buổi ra mắt công chúng năm 1921, bà đã chọn luôn tên gọi cho chất lỏng huyễn hoặc này là Chanel No 5. "Tôi giới thiệu các thiết kế của mình vào ngày 5/5. Vì vậy, chúng tôi để mẫu nước hoa số 5 này giữ đúng cái tên vốn có, nó ẩn chứa sự may mắn", Coco giải thích.

Ban đầu, Chanel No. 5 được trao miễn phí cho mọi khách tới cửa hàng quần áo của Chanel. Phòng thử đồ tại đây cũng được xịt loại nước hoa này để gây ấn tượng với các "thượng đế". Đến cuối Chiến tranh thế giới thứ II năm 1945, Chanel No. 5 đã trở thành nước hoa bán chạy nhất thế giới. Hình ảnh những chàng lính Mỹ đứng xếp hàng dài trên phố Cambon, Paris để mua nước hoa cho vợ trước khi về nhà trở thành dấu ấn khó phai trong lịch sử thời trang lúc bấy giờ. Với giá bán khoảng 300 USD cho khoảng 30 ml nước hoa, Chanel No. 5 trở thành "quái vật" trong làng hương liệu thời đó.

Vào thập niên 1950, hai họa sĩ nổi tiếng Andy Warhol và Salvador Dali biến mùi hương huyền thoại trở thành cảm hứng cho tác phẩm của mình. Hình ảnh nàng Marilyn Monroe gợi tình trên giường, không mặc thứ gì ngoài mùi hương phù phiếm của nhà mốt Pháp khiến cho tên tuổi của Chanel No. 5 bước lên một đẳng cấp mới. Đến cuối những năm 1950, với những gì gặt hái được, chai nước hoa huyền thoại của Chanel được Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại ở New York, Mỹ cho trưng bày như một cách tôn vinh.

Quy trình sản xuất tinh vi

Chanel No. 5 được tạo ra không phải là sự kết hợp tạp nham giữa các loài hoa, xạ hương. Trước khi sở hữu những giọt tinh chất thơm tho ấy, Coco Chanel, Ernest Beaux cùng các đồng sự cũng đã phải tốn không ít công sức để nắm trong tay những nguyên liệu tốt nhất.

Hai nguyên liệu chính của Chanel No. 5 là hoa hồng và nhài chỉ được lấy gần như duy nhất từ các cánh đồng hoa Rose De Mai ở quận Grasse thuộc xứ Provence, Pháp. Hai loại hoa này ở đây được đánh giá cao nhất về mùi hương.

Tuy vậy, nhà mốt Pháp không đặt hàng vô tội vạ. Chanel chỉ chấp nhận nhập hoa từ họ nhà Muls - một gia tộc sở hữu những cánh đồng hoa lớn nhất quận Grasse. Mỗi năm, họ phải cung cấp từ 50 tấn hoa hồng và 20 tấn hoa nhài cho nhà sản xuất. Các chuyên gia cho biết cứ mỗi 350 - 400 bông hoa, nhà mốt sẽ có khoảng 1 kg cánh hoa để làm hương liệu.

 

Những bông hoa tốt nhất được chắt lọc từ cánh đồng Rose De Mai

để tạo nên chai nước hoa Chanel No. 5. Ảnh: Blogspot.

Christopher Sheldrake, giám đốc nghiên cứu và phát triển của Chanel, cho biết số lượng hoa nhài mà hãng mua chiếm một phần ba thế giới. Mỗi lần mua, thương hiệu Pháp lấy số lượng đủ dùng cho cả năm chứ không phải theo mùa. Tất cả được cất trữ trong nhà máy của Chanel nằm ở phía Bắc nước Pháp. Những năm gần đây, giá hoa nhài ở Grasse tăng từ 7-10 lần so với bình thường nên nhà mốt buộc phải tìm các nguồn cung cấp khác từ Ấn Độ và Ai Cập. Tuy nhiên, Chanel kiểm soát chất lượng rất chặt chẽ.

"Mỗi năm, chúng tôi chỉ đưa ra một danh sách cố định nhà cung cấp. Họ phải gửi cho hãng mẫu thử để kiểm nghiệm. Chúng tôi đánh giá các mẫu thử ấy giống như cách các công ty sản xuất rượu thử nguyên liệu", ông giám đốc cho biết.

Một trong yếu tố điều làm nên sự đặc biệt của Chanel No. 5 là aldehyde. Đây là hương liệu nhân tạo đầu tiên được sử dụng trên nước hoa. Nó là một hợp chất hóa học hữu cơ gốc rượu, có tác dụng kích thích phát huy mùi hương của nước hoa. Tuy vậy, liều lượng các hương liệu tự nhiên và nhân tạo chứa trong chai nước hoa nổi tiếng của thương hiệu Pháp không phải dễ bắt chước. Theo ông Christopher Sheldrake, công thức gốc của Chanel No. 5 hiện chỉ có ba người - là những nhân vật cấp cao của hãng - nắm rõ.

Bậc thầy về marketing

Để giữ vị trí huyền thoại xuyên một thế kỷ, Chanel No. 5 không chỉ nhờ đến những tinh hoa sáng tạo mà còn vì chính sách quảng bá lão luyện của nhà mốt qua các thời kỳ. "Phụ nữ không dùng nước hoa thì không có tương lai" - tuyên ngôn của Coco Chanel gần như trở thành bài học thuộc lòng cho các thế hệ phái đẹp mỗi khi bước xuống phố.

Suốt hơn 100 năm, trong mỗi chiến dịch quảng cáo, Chanel lại đưa ra một hình tượng người phụ nữ thay đổi tương ứng với thời đại nhưng lại cầm trên tay một chai nước hoa duy nhất. Tất cả như khẳng định sự trường tồn của thứ tinh chất màu nâu vàng đầy mê hoặc ấy. Đó là một Gabrielle Chanel (Coco Chanel) quyết liệt vào những năm 1937, Marilyn Monroe gợi cảm vào 1952, Suzy Parker yêu kiều những năm 1957, Catherine Deneuve tươi mới vào 1972, Carole Bouquet sexy năm 1997, Nicole Kidman quyến rũ vào những năm 2004, và sau này là Gisele Bundchen.

Với sức cạnh tranh khốc liệt của thị trường thời trang, các nhà mốt đua nhau cho ra đời những loại nước hoa mới với nhiều biến tấu, thử nghiệm hơn. Dù vậy, với hương thơm tinh tế cùng triết lý về phong cách sống mà Chanel "gieo rắc" cho những người sùng bái, No. 5 chưa phải lo lắng đến việc phải bước xuống ngai vàng trong thế giới của những mùi hương.

Những biểu tượng về phong cách như Gisele Bundchen được Chanel chọn

 là gương mặt đại diện cho dòng nước hoa huyền thoại. Ảnh: Chanel.

 

Ngọc Lan sưu tầm

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này