Nguyễn Thị Tê Hát

Nguyễn Thị Tê Hát

Thimphu, thủ đô Bhutan

Thimphu, thủ đô Bhutan

Sưu tầm by Jacqueline Lữ Hồng Quyên 

Bhutan king and queen greet well-wishers

Image result for Thimphu, thủ đô Bhutan photos
Related image

William and Kate's Official Visit to Bhutan

 
Related image
Hoàng tử William và Công nương Kate Middleton.
Related image
Công chúa Nhật Bản khoe tài bắn cung tại Bhutan –
Công chúa 
 
duyên dáng trong trang phục truyền thống của người Bhutan và tham gia lễ hội bắn cung tại thủ đô Thimphu. 

Princess Mako Visits Bhutan - 

Related image
Image result for Thimphu, thủ đô Bhutan photos

Kate Middleton vs Jetsun Pema

Image result for Thimphu, thủ đô Bhutan photos

The Beautiful Queen of Bhutan - Jetsun Pema

 
Image result for Thimphu, thủ đô Bhutan photos

Jetsun Pema trở thành hoàng hậu Vương quốc Bhutan vào tháng 10/2011 khi kết hôn với Vua Jigme Khesar Namgyel Wangchuck. Khi đó, cô mới 21 tuổi. Ảnh: Instagram

  | Queen Jetsun Pema of Bhutan : style and fashion |  

Thimphu, thủ đô không đèn xanh đỏ ở Bhutan

  Sưu tầm by Jacqueline Lữ Hồng Quyên  

Buổi luyện tập vũ điệu Cham tại Thimphu. (Hình: ATNT Tours & Travel)
 
Thimphu là thành phố lớn nhất và cũng là thủ đô của Bhutan. Tuy là thủ đô, nhưng Thimphu không có “phi trường quốc tế” để đón tiếp du khách.
Có thể vì vùng thung lũng Thimphu không đủ rộng để các chuyến bay đến đây có thể lên xuống dễ dàng. Vì thế khi du khách đến Bhutan, tất cả các chuyến bay đều phải đáp xuống Paro Airport, cách xa thủ đô Thimphu hơn 50 cây số về phía Tây Nam.
Related image
Thủ đô Thimphu nhỏ bé bởi vì diện tích Bhutan chỉ vào khoảng 40,000 cây số vuông. Nhưng Bhutan càng ngày càng được thế giới biết đến qua những triết lý sống bình dị, có các nếp giá trị văn hóa riêng biệt, có phong thái kiến trúc Dzong đặc thù và những thắng cảnh thiên nhiên hùng vĩ của dãy núi Himalayas.
 
Trước năm 1952, Thimphu hãy vẫn còn một làng mạc hơn là thành phố vì kinh đô của Bhutan trước đó là Punakha. Nhà vua thứ ba của vương triều Bhutan hiện tại đã quyết định thiên đô từ Punakha về Thimphu năm 1952. Tuy vậy phải đợi đến chín năm sau (1961) thủ đô Thimphu mới chính thức hoạt động và được liên tục xây dựng phát triển, để ngày nay “ngôi làng Thimphu mới” có được dáng vẻ một “thành phố thủ đô.”
 
Dân số Thimphu ngày nay cũng đã tăng lên hơn 110,000 dân. Số lượng xe cộ vào 2018 cũng tăng lên nhiều so với đầu thập niên 2010. Thủ đô Thimphu đã phát triển từ từ chứ không vội vã phát triển nhanh chóng ồn ào như những quốc gia chậm tiến khác.
 
Tháp đồng hồ bốn mặt được dựng ngay giữa “square”
Thành phố vẫn chưa có một ngọn đèn xanh đèn đỏ nào để kiểm soát sự giao thông xe cộ trên các trục giao thông chính (cho đến 2018), ngoại trừ một trạm cảnh sát duy nhất nằm ngay trung tâm thành phố. Ở đây các nhân viên cảnh sát đã liên tục thay phiên nhau hướng dẫn các dòng xe đến từ bốn phía vào những lúc trước sau giờ làm việc.
 
Related image
Nhân viên cảnh sát hướng dẫn các dòng xe

 

Chung quanh khu trung tâm, các tòa building mới của tư nhân lẫn chính quyền vẫn đang được phát triển xây cất. Nhưng tất cả các kiến trúc xây dựng đều chịu sự kiểm soát của thành phố, vì thế nơi đây không có các tòa nhà cao tầng, không có các kiến trúc hiện đại xen lẫn vào kiến trúc đặc thù Bhutan.
 
Khu phố chính của Thimphu không lớn lắm, một cổng chào theo kiến trúc Bhutan đón bạn từ điểm đầu của con phố. Con đường phố thị này cũng không quá dài, chỉ chừng khoảng hai cây số. Chính giữa là một quảng trường nho nhỏ “Clock Tower Square” nằm ngay giữa con đường, được xem như trung tâm thành phố. Đây cũng là một điểm hẹn hò dễ dàng nhất cho du khách khi mới đặt chân đến Thimphu.
 
Một tháp đồng hồ bốn mặt được dựng ngay giữa “square,” gần đó là hai dãy “vòng quay cầu nguyện” (wheels of life) của Phật Giáo Bhutan vừa là một kiến trúc Bhutan làm đẹp cho quảng trường, vừa là “vòng cầu nguyện” cho các tín đồ Phật Giáo lạc bước đến đây.
Đường vào thủ đô Thimphu. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Xa hơn một chút là các coffee shop, quán hàng và các cửa hàng souvernir gift dành cho du khách. Nếu tóc bạn đã dài, bạn có thể tìm đến một tiệm hớt tóc nằm đâu đó trong góc phố vì cắt tóc ở Thimphu giá rất rẻ, chỉ có $1 cho đàn ông. Nhưng không vì giá rẻ mà bộ tóc của bạn trông như “bò liếm” sau khi cắt!
 
Người thợ cắt tóc ở đây quả là rất khéo tay chuyên nghiệp. Bạn muốn cắt tóc bằng kéo hay bằng bằng tông đơ tùy theo ý bạn. Nhưng chỉ cần hơn năm phút họ cắt xong cho bạn một bộ tóc dễ nhìn và đẹp. Tiệm thì quá nhỏ nên thường không có dịch vụ gội đầu. Ngay cả sau khi bạn nhuộm tóc (chỉ có $4), bạn cũng đành phải để nguyên bộ tóc nhuộm về đến khách sạn mới gội đầu được.
 
Những buổi chiều cuối ngày ở Thimphu, người dân thường hay họp nhóm chợ chiều vội vã ở ngay các góc đường hay trước các cửa hàng trên con phố chính. Người ta chắc hẳn vừa mới hái gặt các loại cây trái rau khoai ở vườn nhà và đem ra đây họp cảnh chợ chiều. Chợ chiều Thimphu không có nghĩa là cảnh tan chợ vào buổi chiều mà nó lại là cảnh họp chợ buổi chiều bán ra những nông sản dành cho bữa ăn tối!
Thimphu có lẽ vẫn chưa muốn ảnh hưởng văn hóa Âu Mỹ len lỏi vào thành phố, hiếm hoi lắm du khách có thể bắt gặp một tiệm cà phê “Illy” hay Swiss Bakery nằm hơi xa khuất. Tuy nhiên không ít du khách đều tụ tập về đây để thưởng thức bánh cheese cake và một ly cà phê sau buổi dạo phố. Có lẽ đây là một không gian Âu Mỹ mà du khách có thể tìm được ở Thimphu.
 
Dạo quanh thủ đô, nếu bạn tìm kiếm một chút ảnh hưởng văn hóa Tây phương ở Thimphu thì có lẽ khó khăn, nhưng nếu bạn muốn tìm hiểu về văn hóa-tôn giáo-phong tục của Bhutan thì Thimphu được xem như là thành phố thể hiện đầy đủ được các điều bạn muốn biết. Nhưng trước hết, có vài hình ảnh mà bạn lúc nào cũng gặp dù bạn đi bất cứ hang cùng ngõ hẻm trong xứ sở Bhutan.
 
Vua Jigme Khesar Namgyel Wangchuk và hoàng hậu Jetsun Pema trong ngày cưới
Đó là hình ảnh nhà vua “điển trai” Jigme Khesar Namgyel Wangchuk và hoàng hậu trẻ đẹp Jetsun Pema. Ông là vị vua thứ năm trong triều đại Wangchuck, mới được vua cha đời thứ tư truyền ngôi vào năm 2008 lúc ông 28 tuổi.
 
Vua cha tên là Jigme Singye Wangchuck, lên ngôi năm 1972 lúc chỉ mới 16 tuổi, nhưng ông là người có nhiều tư tưởng cải cách dân chủ cho đất nước Bhutan. Tìm được một người như ông ở thế kỷ 21 này quả thực không dễ chút nào (có lẽ ông sánh ngang tầm với cựu Tổng Thống Thensen bên Miến Điện).
Thủ đô Thimphu, Bhutan nhìn từ trên đồi tượng Phật Buddha Dordenma. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Ông tiếp tục con đường cải cách của vị vua Bhutan III không may mất sớm, từ bỏ triều đại Quân Chủ và thay thế quyền hành của vua bằng quyền hành Quốc Hội (Quân Chủ Lập Hiến) cho người dân Bhutan. Ngày nay, người dân đã tự mình bầu ra người đại diện cho mình vào Quốc Hội.
Sau đó ông thoái vị và trao ngôi vua Bhutan lại cho thái tử. Ông cũng là người đề xướng ra phương hướng Gross National Hapiness (GNH – Tổng Sản Lượng Hạnh Phúc Quốc Dân) song song với Gross National Production (GNP).
 
Chính phủ Bhutan chú ý đến GNP nhưng rất chọn lọc để giữ thăng bằng giữa sự phát triển kinh tế cho đất nước và bảo tồn văn hóa truyền thống của Bhutan. Mặc dù ông đã thoái vị nhưng hình ảnh của ông vẫn còn được treo rất nhiều nơi, người dân Bhutan vẫn dành cho ông một sự tôn kính đặc biệt.
 
Tashichoe Dzong
Nếu bạn có dịp đứng trên bất cứ một ngọn đồi cao nào nhìn xuống Thimphu Valley, bạn sẽ thưởng ngoạn được hình ảnh rất đẹp của thung lũng Thimphu.
 
Hình ảnh của Tashichoe Dzong (còn gọi là Thimphu Dzong), Bhutan’s Parliament, Royal Palace, Thimphu Museum, con sông Wangchuu và kiến trúc màu sắc nhà cửa trong thành phố tạo ra một hình ảnh hết sức đẹp dưới khu vực bình nguyên thung lũng. Thành phố không nhà cao vút, không có những con đại lộ đầy xe, du khách không nhìn thấy chút môi trường không khí ô nhiễm giữa thủ đô Thimphu, không “ô nhiễm âm thanh” tiếng còi xe inh ỏi, không tiếng huyên náo ầm ĩ như những thành phố “tào lao” bên kia dãy núi Himalayas.
 
Tashichoedzong (Thimphu Dzong) được xây dựng từ thế kỷ 16 bên cạnh  dòng sông Wang Chuu, đây cũng là nơi chính quyền Bhutan khởi đầu làm việc sau khi thiên đô về Thimphu từ 1952. Dzong là một kiến trúc đặc biệt của Bhutan, vừa là thành lũy, vừa là nơi hành chính, vừa là nơi cử hành nghi lễ tôn giáo.
Một điểm văn hóa quan trọng của Bhutan thường được cử hành và vui chơi trong các Dzong là lễ hội Tshechu Festival. Các điệu vũ Cham Dances thường được các vũ công trong trang phục “gho” (trang phục truyền thống của nam giới) và “kira” (trang phục truyền thống của nữ giới) tập luyện công phu và trình diễn vào khoảng Tháng Chín, Tháng Mười hằng năm với sự tham dự của nhà vua.
 
Tôi may mắn được chứng kiến một buổi luyện tập Cham Dances ngay trong sân đình Tashichoedzong. Tuy chỉ là buổi luyện tập nhưng lối vũ mạnh mẽ nhưng không kém phần uyển chuyển của phái nam hòa hợp với sự dịu dàng lả lơi của phái nữ đã khiến người xem cảm nhận hết sức thích thú, giai điệu âm nhạc trong vũ điệu cho người thưởng ngoạn cảm giác dễ chịu lôi cuốn vào trong buổi lễ. Chỉ tiếc một điều, trong buổi tập luyện, tất cả các vũ công đã không đeo ”mặt nạ” nên người thưởng thức đã không thể nào cảm nhận được hết điểm văn hóa tâm linh độc đáo này của Bhutan.
 
Vào những ngày lễ hội hay cuối tuần, đàn ông thanh niên Bhutan thường hay tụ họp vui chơi thể thao với nhau. Bắn cung và phóng phi tiêu là hai môn thể thao mà du khách thường hay bắt gặp ở các công viên, sân trường. Đứng xem họ thi nhau bắn cung hay phóng phi tiêu, bạn lại có dịp học thêm được một điểm văn hóa khác của họ.
Bắn cung là một môn thể thao thông dụng cho thanh niên Bhutan. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Cây cung của người Bhutan khác hẳn cây cung của người Nhật và cũng không giống cây cung mà người Trung Hoa sử dụng xưa kia. Cây cung người Bhutan dùng chỉ dài chừng 1.5 mét, được thiết kế khá gọn ghẽ và bắn đi rất xa.
 
Thi bắn cung hay phóng phi tiêu được chia ra làm hai nhóm, mỗi nhóm chừng sáu người. Đích của cuộc thi bắng cung được đặt cách xa người bắn 145 mét (còn đích của thi phóng phi tiêu đặt cách xa người phóng vào khoảng 40 mét). Người nào bắn/ phóng trúng đích thì cả hai bên tụ lại cùng hát và đá nhịp như là để mừng người “thiện nghệ.” Trò chơi thể thao này sẽ hứng thú rất nhiều nếu có thêm các cổ động viên nữ, người bắn trúng được buộc thêm các dải vải vào dây lưng và dĩ nhiên là “chàng”sẽ được các “nàng” để ý đến nhiều hơn.
 
Ngoài ra, Thimphu còn có các điểm du lịch nổi tiếng như National Memorial Choeten, tượng Phật đồng ngồi Shakyamuni Buddha Dordenma, và National Animal of Bhutan là những điểm xứng đáng thưởng ngoạn.
 
National Memorial Choeten
National Memorial Choeten hay còn được biết qua tên Thimphu Choeten, là một bảo tháp do Queen Phuntsho Choden Wangchuck cho xây năm 1974 để làm nơi tưởng nhớ người con của bà và cũng là vị vua thứ ba của triều đại Wangchuck.
 
Ông là vị vua đã quyết định thiên đô từ Punakha về Thimphu, có tư tưởng Quân Chủ Lập Hiến thay thế cho chế độ Quân Chủ. Ông mất sớm, vừa mới 45 tuổi nên nhiều người dân tiếc thương ông. Nhưng người con nối ngôi ông tuy trẻ, lên ngôi chỉ mới 16 tuổi nhưng cũng là một nhân tài, vượt qua cả ông. Kiến trúc bảo tháp Thimphu Choeten dành cho vị vua thứ ba được xem là một biểu tượng tôn giáo tại Bhutan.
Đứng từ Thimphu Dzong, du khách hướng tầm mắt nhìn lên trên các sườn đồi. Tầm mắt bạn sẽ chạm ngay một tượng Phật màu vàng nâu ngồi lặng lẽ trên đồi cao uy nghi, ánh mắt Phật hướng về phía bên dưới thung lũng trần gian.
 
Shakyamuni Buddha Dordenma
Đó chính là tượng Phật bằng đồng Shakyamuni Buddha Dordenma, tượng được đúc bằng đồng chen lẫn với vàng cao hơn 51 mét. Tượng sau khi hoàn tất đã trở thành tượng Phật-ngồi-bằng-đồng lớn nhất thế giới, vượt qua tượng Phật ngồi bên Hồng Kông.
Lên trên đồi ngắm tượng Phật mới nhận thấy tượng không nhỏ chút nào, tượng được thiết kế theo phong thái “Tiểu Thừa” nên hai vai tượng to và ngang, phần eo của tượng nhỏ và thon hẳn lại. Phần sân trước tượng Phật vẫn chưa hoàn thành nên vẫn chưa có thể hình dung ra hết không gian Buddha Dordenma như thế nào!
 
Thủ đô Thimphu, Bhutan nhìn từ trên đồi tượng Phật Buddha Dordenma. 
(Hình: ATNT Tours & Travel)
Nhưng đứng từ trên độ cao hơn 100 mét nhìn xuống không gian Thimphu Valley, quả là một không gian tuyệt đẹp. Nghe nói để xây dựng tượng Buddha Dordenma, người ta dự định  tiêu tốn khoảng $100 triệu, một số tiền không hề nhỏ cho những người nghèo.
 
Những người giàu có bên các xứ gốc Trung Hoa đã quyên góp hơn $50 triệu cho chương trình. Bây giờ (2018) tượng Phật Buddha Dordenma đã gần như hoàn thành 95%. Không hiểu Phật Dordenma ra đời liệu có mang hạnh phúc cho người dân Bhutan? Hay tham vọng Hán hóa Á Châu của con người Hán vẫn nằm trong tâm-phật-Trung-Hoa được gửi sang “tượng Phật ngồi” để dòm ngó nhà hàng xóm.
 
Kinh nghiệm của Việt Nam, Lào, và Miến Điện có giúp cho Bhutan những bài học đáng giá! Nhưng có lẽ người dân Bhutan cũng đã nhìn thấy được tâm địa của chính quyền Trung Cộng nên họ cũng cảnh giác nhiều về điểm này. Bạn có biết du khách từ Trung Cộng đều vắng mặt ở Bhutan ngay ở thời điểm hiện tại (2018), du khách Trung Cộng “tàn phá” tất cả mọi nơi chốn họ đặt chân đến.
 
Thimphu chưa phải là thành phố đẹp nhất của Bhutan, nhưng Thimphu cho du khách một nét nhìn đẹp về văn hóa, tôn giáo, phong tục, lễ phép, dịu dàng của đất nước Bhutan. Thimphu cũng có các quán bar quán pub về đêm, và còn có nhiều điều chưa nói hết trong bài viết này!
 (TG: Trần Nguyên Thắng)
 
Related image
Image result for Thimphu, thủ đô Bhutan photos
Image result for Đường vào thủ đô Thimphu. photos

CƠM GÀ HẢI NAM cách nấu đúng điệu

Image result for CƠM GÀ HẢI NAM photos

     CƠM GÀ HẢI NAM     

 Chỉ với cách nấu cơm gà Hải Nam cực ngon và đơn giản này thôi bạn cũng đã kéo được ông xã ở nhà rồi đấy. 
Món cơm gà Hải Nam nổi tiếng tưởng chừng sẽ rất cầu kì nhưng cách thực hiện không mấy khó khăn đâu nhé! Nếu chưa tin, bạn có thể thực hiện theo hướng dẫn sau đây.
 
Món cơm gà hải nam

Nguyên liệu:

  • Gà ta: 1 con
  • Gạo: 6 cốc (dùng cốc đong gạo đi kèm nồi cơm)
  • Tỏi: 1 củ
  • Gừng: 1 củ lớn
  • Muối, đường
  • Nước mắm, chanh
  • Rau dùng để nấu canh (tùy thích)

Sơ chế:

  • Gà làm sẵn mua về để nguyên con, rửa sạch. Lạng bớt phần mỡ bên trong con gà. Phần mỡ này sẽ được dùng để nấu cơm.
  • Vo sạch phần gạo rồi để ra rổ cho thật ráo.
  • Lột vỏ củ tỏi và băm nhuyễn.
  • Gừng cạo vỏ rồi giã nhuyễn để ra bát.

Cách làm cơm gà Hải Nam:

– Cho nước vào một nồi lớn, nấu sôi. Tiếp đến thả con gà vào luộc khoảng 30 phút. Nếu khi thả gà vào mà nước không ngập hết gà, bạn hãy dùng đũa trở gà để gà chín đều.
– Trong quá trình luộc gà, để biết gà chín hay chưa, bạn dùng đũa chọc vào gà, nếu không thấy nước màu đỏ chảy ra nữa có nghĩa là gà đã chín. Gà chín bạn vớt ra đĩa rồi để nguội, khi gà đã nguội, bạn chặt thành miếng vừa ăn.
– Tiếp đến, bạn lấy một chiếc nồi khác, cho phần mỡ gà đã lạng ra ở trên vào thắng cho ra dầu rồi cho tỏi băm vào phi thơm, cho phần gạo đã vo vào xào chung khoảng chừng 5 phút. Sau đó, bạn vớt phần mỡ gà và múc một lượng vừa đủ nước luộc gà cho vào nồi, đậy kín nắp lại để nấu cơm. Cơm nấu chín bạn xới lên để cơm thật tơi xốp nhé!
– Phần gừng đã giã nhuyễn, bạn trộn thêm 4 muỗng canh nước mắm, 1 muỗng canh nước chanh, 3 muỗng canh nước và 4 muỗng canh đường, khuấy đều và nếm cho vừa ăn.
– Nước luộc gà, bạn nêm cho vừa ăn hoặc cũng có thể thêm vài loại rau để làm nước canh ăn kèm với cơm.
– Cuối cùng, bạn bày gà lên đĩa, xới cơm và ăn kèm với nước mắm gừng cùng nước canh gà.
Cơm gà hãi nam nổi tiếng
Món cơm gà Hải Nam chuẩn vị 
 
Cơm gà Hải Nam thơm ngon từ chỗ mềm ngọt của hạt cơm do được nấu bằng nước luộc gà, thịt gà ngọt vị và nước chấm thơm lừng. Tất cả quyện vào nhau một cách chặt chẽ tạo thành món ăn ngon có đủ cả hương, sắc và vị.

Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore

Chẳng cần đến Singapore, bạn vẫn có thể tự làm món cơm nổi tiếng ở đất nước này với bí quyết sẽ được bật mí ngay sau đây

 
Nếu có dịp ghé thăm vùng đất này, hẳn bạn sẽ phải dạo chơi qua khu Maxwell Food Center - là một khu ăn uống nổi tiếng tại Singapore. Các cửa hàng trong khu này đa số mở vào buổi chiều tối nhưng luôn có đông người qua lại chật ních từ sáng tới đêm. Nổi tiếng trong khu này, cứ ai đi qua đều phải thưởng thức là món cơm gà Hải Nam.
Đây là một món khoái khẩu của người dân Singapore với sốt chan được làm từ nước luộc gà và nêm nếm khá vừa miệng. Khi ăn gà cùng cơm hoàn toàn không có cảm giác khô vì món cơm được nấu tơi, hạt trắng ngần ăn khá dậy mùi cùng thịt gà luộc mềm thơm nức mũi. Bạn sẽ không phải xuýt xoa ao ước được đi Singapore để nếm thử vì bây giờ chúng mình sẽ mách bạn ngay cách làm cơm gà Hải Nam chuẩn vị từ đảo quốc này nhé.

       Cách làm cơm gà Hải Nam:       

Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 1.
Bước 1:
- Đầu tiên, bạn đun một nồi nước cho thêm chút muối để luộc gà.
- Cắt lấy hai cẳng chân rồi thả vào nồi nước.
    
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 2.
Bước 2:
- Tiếp đó, bạn rắc một chút muối vào trong ruột gà và xát đều bên ngoài.
*Lưu ý: Nhớ cắt bỏ phần mỡ ở phao câu gà ra trước nhé!
    
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 3.
Bước 3:
- Cho tiếp gừng và hành vào trong ruột gà rồi bạn dùng tăm bó chặt phao câu lại.
- Sau đó, thả gà vào nồi nước sôi vài phút.
    
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 4.
Bước 4:
- Luộc gà thêm 10 phút rồi tắt bếp.
- Đậy nắp nồi lại, để gà ngâm trong 45 phút.
    
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 5.
Bước 5:
- Bây giờ, bạn đổ gạo thơm Thái và gạo nếp vào một cái bát to.
- Vo rửa gạo thật sạch rồi để ngâm nước trong một tiếng.
    
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 6.
Bước 6:
- Giờ thì thái các phần ớt đỏ, ớt chỉ thiên và gừng, tỏi cho vào máy xay.
    
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 7.
Bước 7:
- Cho thêm nước cốt quất, muối, đường, dấm trắng và nước luộc gà vào.
- Trộn đều hỗn hợp này với máy xay nhé.
    
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 8.
Bước 8:
- Đổ hỗn hợp vừa xay ra bát rồi cho thêm dầu mè vào khuấy đều lên.
    
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 9.
Bước 9:
- Tiếp đó, bạn đổ gạo đã ngâm ra bát, để ráo nước.
*Lưu ý: Nhớ lọc qua rây để chắt hết nước khỏi gạo.
    
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 10.
Bước 10:
- Đổ dầu vào chảo rồi cho thêm gừng, tỏi thái lát vào.
    
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 11.
Bước 11:
- Đổ thêm gạo vào chảo đảo đều rồi đổ phần gạo này ra nồi cơm.
    
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 12.
Bước 12:
- Cho thêm lá dứa cùng một chút muối và nước luộc gà vào nồi.
- Bật nồi lên nấu chín cơm như thường.
    
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 13.
Bước 13:
- Giờ thì bạn chuyển gà sang nồi nước đá để 15 phút cho nguội gà.
    
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 14.
Bước 14:
- Khi gà nguội, bạn rút hết phần ruột từ phao câu ra.
- Chặt các phần gà từ cổ, ức, cánh, đùi...   
 
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 15.
Bước 15:
- Xếp dưa chuột xung quanh đĩa gà rồi đặt phần gà vừa chặt lên đĩa.
    
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 16.
Bước 16:
- Múc nước luộc gà rồi cho thêm nước tương, đường và dầu mè vào khuấy đều.
- Sau đó rưới lên phần gà vừa xếp đĩa, cho thêm vài lá mùi lên trên.
    
Sẽ là thiếu sót nếu bạn chưa biết cách làm món cơm gà Hải Nam ai cũng thích khi đến Singapore - Ảnh 17.
Bước 17:
- Cuối cùng, bạn mở nồi cơm lên và lọc hết lá dứa, gừng, tỏi ra.
- Để cơm 5 phút ra ngoài cho nguội rồi vê thành các nắm cơm tròn khoảng 6cm.
    
Vậy là món cơm gà Hải Nam đã hoàn thành xong rồi các bạn ơi!
 
 Bon Appétit  
 
*Phần thịt gà:
- 1 con gà
- 1,5 lít nước
- 20gr gừng (thái lát)
- 15gr muối
 
*Phần nước sốt gà:
- 60ml nước luộc gà
- 60ml nước tương
- 15ml dầu mè
- 15gr đường
 
*Phần cơm:
- 450gr gạo thơm Thái
- 50gr gạo nếp
- 1 lít nước luộc gà
- 4 nhánh lá dứa (cuộn nhỏ lại)
- 20gr gừng (thái lát)
- 2 củ tỏi (bổ đôi)
- 8gr muối
- 30ml dầu
 
*Phần sốt ớt:
- 3 quả ớt đỏ
- 3 quả ớt chỉ thiên
- 30gr gừng
- 5 tép tỏi
- Nước cốt 5 quả quất
- 30gr dấm trắng
- 8gr muối
- 15gr đường
- 60ml nước luộc gà
- 15ml dầu mè
 
*Phần trang trí:
- 2 quả dưa chuột (thái lát tròn)
- Vài lá rau mùi
 
   Thu Trang sưu tầm    

Người Chàm trong mắt tôi

Image result for Người Chàm photos

  Người Chàm trong mắt tôi  

 by Nguyễn Ngọc Chính

Image result for Từ Công Phụng Người Chàm photos Related image

Một ngày biếc thị thành ta rời bỏ

Quay về xem non nước giống dân Chàm

(Chế Lan Viên)

Ngoài tên gọi “Chàm” ta còn dùng các danh xưng như “Chăm”, “Hời”, “Chiêm Thành”… để chỉ một dân tộc đã từng có một quốc gia độc lập, hùng mạnh trong lịch sử, có nền văn hóa phát triển và là hậu duệ của các cư dân nền văn hóa Sa Huỳnh thời kì đồ sắt.

Ngoài Việt Nam, người Chàm ngày nay còn tản mát đi các nước như Campuchia, Mã Lai, Thái Lan và Hoa Kỳ. Dân số tại Việt Nam theo điều tra năm 1999 là 132.873 người và theo tài liệu của Ủy ban Dân tộc năm 2008 là khoảng hơn 145.000 người, xếp thứ 14 về số lượng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Vấn đề đặt ra là giữa “Chàm” và “Chăm” thuật ngữ nào đúng? Thật ra thì từ năm 1979 người miền Nam mới thấy xuất hiện chữ “Chăm” từ chính quyền mới sau 30/4/1975. Trước đó, từ miền Trung trở vào Nam, chữ “Chàm” đã từng xuất hiện trong các địa danh, tên gọi cũng như danh từ riêng như Tháp Chàm, Cù Lao Chàm, giếng Chàm, vàng Chàm…  

Để chỉ người Chàm, người Việt tại miền Nam còn dùng những tên gọi như “Hời”, “Chiêm”, “Người đàng thổ” (khác với Người đàng quêlà người Việt)… Theo một giải thích thì những chữ đó được dùng một cách “miệt thị” nhưng tôi thiết nghĩ đó là một nhận xét sai lệch, suy diễn bất hợp lý.

Trước năm 1975 đã có những công trình học thuật như Từ điển Chàm – Việt – Pháp (của Cham Dohamide và Dorohiêm), Nguyễn Khắc Ngữ nghiên cứu về dân tộc học qua tác phẩm “Mẫu hệ Chàm”hoặc học giả Thiên Sanh Cảnh có một loạt bài về “Đám ma Chàm”… Rõ ràng là chữ Chàm ở đây không thể nào được dùng một cách “miệt thị” trong nghiên cứu.

Lại nữa, một số tác giả người gốc Chàm đã dùng chữ Chàm hay Chiêm trong bút hiệu của mình như Khaly Chàm, Chiêm Nhân… Không lý nào các tác giả đó lại tự miệt thị mình! Nhưng một khi nhận xét về sự “miệt thị” này xuất phát từ những người “có quyền” thì nó trở thành một quyết định và ngành văn hóa chỉ biết gọi là Chăm thay vì Chàm như lúc trước.

Trong bài viết “Tiếng Chăm của bạn” trên Tuyển tập Tagalau [1], Inrasara cho rằng: “Dù sao, quy định của Nhà nước vẫn phải được tuân thủ. Tuân thủ, nhưng nếu có ai dùng từ “Chàm” trong bài viết, nhất là khi có người viết đúng các tên gọi cũ như Trung tâm Văn hóa Chàm, Ma Lâm Chàm chẳng hạn, ta phải chấp nhận và không biên tập. Bởi sự thể không có gì sai hay miệt thị người Chàm cả”.

Tagalau 12: Tuyển tập Sáng tác – Sưu tầm – Nghiên cứu văn hóa Chàm

Khi còn nhỏ, người Chàm trong mắt tôi là những ông “Hời” ngồi bán thuốc dạo bên cạnh những chiếc giỏ đặc biệt… kiểu Chàm. Họ là những người có vẻ “thần bí” với những câu tiếng Việt lơ lớ, một cách rao hàng vừa tức cười nhưng cũng không kém phần… đe dọa: “Này, ngồi xuống đây tôi coi bệnh cho, mặt của anh có bệnh rồi…”. Tôi sợ lắm nên không trả lời, vội bước đi mà không dám ngoảnh đầu trở lại.

Lớn lên khi tìm hiểu thêm, người Chàm ở Ninh Thuận lại cùng quê hương với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu! Thêm một phát hiện khiến nhiều người phải ngạc nhiên, trong đó có tôi, về mối tương quan giữ chiếc áo dài của người Chàm và người Việt.

Các nhà nghiên cứu cho thấy chiếc áo dài Việt Nam là sự  tổng hợp từ chiếc áo dài của người Chàm và chiếc “xường xám” của Thượng Hải. Theo Bùi Minh Đức trong Từ điển tiếng Huế, NXB Văn Học, 2009:

“Chiếc áo dài của đàn bà Việt Nam khởi phát từ thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (cuối thế kỷ XVIII) với nền tảng là chiếc áo dài phụ nữ Chàm, kết hợp với chiếc áo tứ thân ở Bắc… Áo dài hai vạt của đàn bà Huế có được là do ảnh hưởng Chàm…”

Lê Quý Đôn viết: “Chúa Nguyễn Phúc Khoát hùng cứ ở xứ Đàng Trong, sau khi chiếm trọn nước Chiêm Thành, mở mang bờ cõi về phương Nam… Để chứng tỏ tinh thần độc lập, Chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã chú trọng đến vấn đề cải cách xã hội, phong tục mà điều quan trọng là cải cách về y phục…”

Lần tìm trong “Đại Nam thực lục tiền biên”  ta bắt gặp đoạn văn sau đây: “Chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, ông đã triệu tập quần thần tìm phương thức xưng vương và dựng một tân đô. Ông đã thay đổi lễ nhạc, văn hóa và trang phục.

Để thay đổi, phụ nữ miền Bắc mặc váy, phụ nữ miền Nam phải mặc quần có đáy (hai ống) giống đàn ông. Võ Vương đã gây ra một cuộc khủng hoảng về trang phục. Phụ nữ đã phản đối kịch liệt.

Về sau Võ Vương không ưng ý với trang phục đó, Ngài giao cho triều thần nghiên cứu, tham khảo chiếc áo dài của người Chàm (giống hệt áo dài hiện nay nhưng không xẻ nách), và áo dài của phụ nữ Thượng Hải (xẻ đến đầu gối) để chế ra áo dài của phụ nữ miền Nam”.

Do đó, những chiếc áo dài đầu tiên của người Việt giống như áo dài người Chàm và có xẻ tà. Vậy là chiếc áo dài Việt Nam ngày nay có đủ hai yếu tố văn hóa phương Bắc và phương Nam.

Chiếc áo dài của người Chàm

Nói đến người Chàm là phải nói đến Chế Lan Viên [2], một hiện tượng thơ văn Việt Nam nhưng lại đậm nét Chàm với tập thơ Điêu tàn được xuất bản năm 1937. Bút hiệu Chế Lan Viên khiến người đọc thơ của ông liên tưởng đến Chế Bồng Nga, tên hiệu của vị vua thứ 3 thuộc vương triều thứ 12 (tức là vị vua đời thứ 39) của Chiêm Thành.

Trong thời kỳ Chế Bồng Nga cầm quyền, đất nước Chiêm Thành rất hùng mạnh, từng đem quân nhiều lần xâm phạm Đại Việt của nhà Trần. Ông hy sinh năm 1390 khi tấn công Thăng Long lần thứ 4.

Điểm đặc biệt ở chỗ Chế Lan Viên lại là một nhà thơ mang dòng họ Việt, Phan Ngọc Hoan, nhưng đã mượn hình ảnh của người Chàm để thể hiện một trường phái thơ mà ông gọi là Trường Thơ Loạntrong tập thơ Điêu tàn. Đặc biệt hơn nữa, khi xuất bản Điêu tàn, Chế Lan Viên chỉ mới 17 tuổi!   

 

“Ta hãy nghe, trong lòng bao đỉnh Tháp

Tiếng thở than, lời oán trách cơ trời

Ta hãy nghe, trong gạch Chàm rơi lác đác

Tiếng máu Chàm ri rỉ chảy không thôi”

(Chế Lan Viên – “Bóng tối” trong tập thơ Điêu tàn)

 

“Bên cửa Tháp ngóng trông người Chiêm Nữ

Ta vẩn vơ nhìn không khí bâng khuâng”

(Chế Lan Viên, “Đợi người Chiêm nữ” trong tập thơ Điêu tàn)

 

“Chiêm nương ơi, cười lên đi, em hỡi!

Cho lòng anh quên một phút buồn lo!

Nhìn chi em chân trời xa vòi vọi

Nhớ chi em sầu hận nước Chàm ta?”

(Chế Lan Viên, “Đêm tàn” trong tập thơ Điêu tàn)

 

“Nước non Chàm chẳng bao giờ tiêu diệt

Tháng ngày qua vẫn sống với đêm mờ”

(Chế Lan Viên – “Bóng tối” trong tập thơ Điêu tàn)

 

“Tháng ngày qua, gạch Chàm đua nhau rụng

Tháp Chàm đua nhau đổ dưới trăng mờ!

Tạo hóa hỡi! Hãy trả tôi về Chiêm quốc!

Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian!”

(Chế Lan Viên, “Những sợi tơ lòng” trong tập thơ Điêu tàn)

 Chế Lan Viên (1920 – 1989)

Thành Đồ Bàn là tên kinh đô của Chàm trong thời kỳ có quốc hiệu là Chiêm Thành. Thành Đồ Bàn, hay Vijaya, còn gọi là Thành cổ Chà Bàn hoặc thành Hoàng Đế, nay thuộc địa phận xã Nhơn Hậu, Thị xã An Nhơn và cách thành phố Qui Nhơn (tỉnh Bình Định) khoảng hơn 20km.

Trong lãnh vực âm nhạc, nhạc sĩ Xuân Tiên đã để lại cho hậu thế một tác phẩm bất hủ mang tên Hận Đồ Bàn với những lời thống thiết của người dân Chàm:

 

“Rừng hoang vu, vùi lấp chôn bao uất căm hận thù

Ngàn gió ru, muôn tiếng vang trong tối tăm mịt mù

Vạc kêu sương, buồn nhắc đây bao lúc xưa quật cường

Đèn đóm vương, như bóng ai trong lúc đêm trường về…

 

Trong kho tàng âm nhạc Việt Nam trước năm 1975 có rất ít những bản nhạc mang tính cách lịch sử của một dân tộc “vong quốc” với những ca từ diễn tả tỉ mỷ đến từng chi tiết như một bài thơ: 

 

“Rừng rậm cô tình, đèo cao thác sâu, đồi hoang suối reo hoang vắng cheo leo

Ngàn muôn tiếng âm, tháng năm buồn ngân, âm thầm hòa bài hận vong quốc ca

Người xưa đâu, mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu

Lầu tháp đâu, nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu…”

“Về kinh đô, ngàn thớt voi uy hiếp quân giặc thù

Triệu sóng xô, muôn lớp quân Chiêm tiến như tràn bờ

Tiệc liên hoan, nhạc tấu vang trên xứ thiêng Đồ Bàn

Dạ yến ban, cung nữ dâng lên khúc ca về Chàm

 

“Một thời oanh liệt người dân nước Chiêm lừng ghi chiến công vang khắp non sông

Mộng kia dẫu tan cuốn theo thời gian nhưng hồn ngàn đời còn theo nước non

Người xưa đâu, mộ đắp cao nay đã sâu thành hào

Lầu các đâu, nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu…”

Kiến trúc và điêu khắc ở thân tháp Po Klaung Garai, thế kỷ 13

Không một ca sĩ nào hát Hận Đồ Bàn "có hồn" bằng Chế Linh [3]. Lý do cũng dễ hiểu vì anh mang tâm sự của một người Chàm với tên thật là Chà Len (Jamlen) và tên Việt là Lưu Văn Liên. Anh ra đời năm 1942 tại làng Hamu Tanran thuộc Phan Rang, nay là tỉnh Ninh Thuận.

Người ta biết nhiều đến Chế Linh qua dòng nhạc ca tụng những người lính trong quân lực VNCH mặc dù anh chẳng đi lính ngày nào vì thuộc dạng “miễn dịch” dành cho “dân tộc thiểu số”. Về dòng nhạc này, có người khó tính lại bảo Chế Linh thuộc thành phần… “lính chê”.

Người thương thì nói rõ ràng là anh bị “lính chê” nên mới được “miễn dịch”, một số khác, trong đó có cả những người đang mặc áo lính, lại không ưa những ca từ anh ca tụng họ. Họ bảo những bài hát đó được trình bày theo phong cách… “sến”.

Nhưng với Hận Đồ Bàn, mọi người đều có một nhận xét chung: bài hát đã đưa tên tuổi Chế Linh thâm nhập vào làng ca nhạc Việt Nam với tâm trạng của một người Chàm “vong quốc”. Chỉ tiếc một điều, những bài hát có tầm vóc như Hận Đồ Bàn rất hiếm trong nền ca nhạc nên Chế Linh phải bước sang một dòng nhạc gây nhiều tranh cãi [4].

Người ca sĩ gốc Chàm, được gọi là “tài hoa” cũng có một đời tư thật… “hào hoa”: Chế Linh nổi tiếng là người có nhiều vợ con, tính cho đến năm 2007, anh đã có 4 vợ và 14 đứa con. Ta khám phá được nhiều điều về Chế Linh qua bài viết của Jaya Bahasa, “Mừng sinh nhật lần thứ 57 của chị Nguyễn Thị Thúy Hằng” trên trang web Inrasara [5].

Image result for Người Chàm photos

Vào giữa thập niên 1970 Chế Linh kết hôn với cô Nguyễn Thị Thúy Hằng (sinh ngày 1/12/1953, mất ngày 26/4/1974). Cuộc hôn nhân giữa một ca sĩ người gốc Chàm với một cô gái người Việt đã khiến giới báo chí Sài Gòn tốn khá nhiều giấy mực. 

Jaya Bahasa viết: “Như một định mệnh hai dân tộc, hạnh phúc này nhanh chóng đổ vỡ bởi những mù khơi mà không ai có thể biết được. Vì muốn minh chứng cho tình yêu của mình được sống mãi, chị Thuý Hằng quyết định quyên sinh bằng một liều thuốc ngủ mà luyến tiếc để lại hai đứa con trai thơ dại.

Cái chết của Thuý Hằng đến quá đột ngột và bất ngờ, một lần nữa, cánh báo chí và giới nghệ sĩ Sài Gòn thêm bàn tán rôm rả. Nhưng không người nào biết được căn nguyên. Bởi chị không một lời nào trăn trối ngoài ba lá thư để lại cho gia đình.

Lá thư thứ nhất viết cho người mẹ mà chị gọi bằng Mợ, xin tha thứ vì những lỗi lầm này và mong mợ hãy yêu thương đứa con của chị để được thấy chị qua hình ảnh đứa con. Lá thư thứ hai viết riêng cho hai đứa con yêu quý mà chị đặt tên là Sơn và Ca, một loài chim có giọng hót tuyệt vời. Lá thư thứ ba viết riêng cho ca sĩ Chế Linh, vài dòng ngắn ngủi với sự muộn màng và chỉ xin Chế Linh cho một nắm đất đắp lên mộ”.

Thúy Hằng và Chế Linh

(Ảnh trên trang web Inrasara)

Chuyện tình Chế Linh – Thúy Hằng với đoạn kết đầy nước mắt khiến người ta liên tưởng đến một chuyện tình vương giả trong lịch sử Việt-Chàm. Huyền Trân là một công chúa đời nhà Trần, con gái của vua Trần Nhân Tông. Năm 1306, Huyền Trân được gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô và Lý (từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ngày nay).

Một năm sau đó, khi hoàng hậu người Đại Việt vừa sinh xong hoàng tử Chế Đa Đa, thì tháng 5/1307, quốc vương Chế Mân băng hà. Theo tục lệ nước Chiêm, khi vua chết hoàng hậu phải lên giàn hỏa để tuẫn tang. Vua Trần Anh Tông biết tin, sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân.

Trần Khắc Chung bày kế thành công, cứu được Huyền Trân đưa xuống thuyền về Đại Việt bằng đường biển. Cuộc hải hành này kéo dài tới một năm (?) và theo “Đại Việt Sử ký Toàn thư” thì Trần Khắc Chung đã tư thông với công chúa.

Theo di mệnh của Thượng hoàng Nhân Tông, công chúa đầu gia Phật giáo ở núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh) vào năm 1309, dưới sự ấn chứng của quốc sư Bảo Phát. Công chúa thọ Bồ tát giới và được ban pháp danh Hương Tràng.

Trong dân gian, có lẽ vì thời đó người Việt coi người Chàm là dân tộc thấp kém, nên đã có câu:

Tiếc thay cây quế giữa rừng

Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo

Đền thờ Huyền Trân Công chúa

Nói đến lãnh vực âm nhạc của người Chàm như trường hợp của ca sĩ Chế Linh tôi lại nhớ đến nhạc sĩ Từ Công Phụng, vốn là bạn học năm Đệ Nhất tại trường Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Chúng tôi chỉ quen nhau trong một niên học nhưng có nhiều chuyện để nhớ khi tuổi tác ngày một cao.

Từ Công Phụng ngày đó là một học sinh từ Ninh Thuận lên Đà Lạt học năm cuối trung học. Có lẽ anh là gốc người Chàm nên hình như luôn có một khoảng cách vô hình với đám học sinh chúng tôi. Anh “góp tiếng” tham gia ban nhạc nhà trường bằng giọng hát và chúng tôi rất ngạc nhiên khi nghe một giọng trầm, buồn và còn đặc biệt hơn nữa chỉ hát những bài “lạ”…

Đó là hai bài “Bây giờ tháng mấy” và “Mùa thu mây ngàn” do chính anh sáng tác. Thật không ngờ, khi mới 16 tuổi anh đã tự học về âm nhạc qua một cuốn sách của Robert de Kers, viết bằng tiếng Pháp, với tựa đề “Harmonie et Orchestration”. Đến năm 17 tuổi anh đã có nhạc phẩm đầu tay “Bây giờ tháng mấy”…

Hồi đó đang có cuộc thi tài giữa “trường Ta” là Trần Hưng Đạo và “trường Tây” của các sư huynh dòng La San là trường College d’Adran trên sân khấu thành phố Đà Lạt. Vì là trường Tây nên Adran chơi nhạc Beatles, đàn cũng là kiểu Beatles còn Trần Hưng Đạo chúng tôi khiêm tốn hơn, chơi đàn Fender theo các bản hòa tấu của The Shadows.

Có thêm Từ Công Phụng “chuyên trị” nhạc Việt thể loại “tình cảm” trở thành… “hoa thơm cỏ lạ” trong chương trình văn nghệ. Thoạt đầu Từ Công Phụng “khớp” không dám lên sân khấu nhưng anh em trong ban nhạc cứ khen những bài “tự biên, tự diễn” của Phụng và bảo đảm là sẽ nổi bật trong đêm văn nghệ.  

Từ Công Phụng bỗng trở thành một hiện tượng tại Đà Lạt. Khán giả hoan nghênh nhiệt liệt đến độ Đài phát thanh Đà Lạt mời anh ghi âm để phổ biến qua làn sóng điện, tên tuổi của Từ Công Phụng được người Đà Lạt biết đến cùng với Lê Uyên Phương trong ban nhạc Ngàn Thông trên Đài phát thanh.

Cuối năm Đệ Nhất ban nhạc của chúng tôi tản mát mỗi người một phương. Họ Từ về Sài Gòn và ngay sau đó nổi lên như một nhạc sĩ ăn khách cùng thời với Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn và Lê Uyên Phương.  

Sau 30/4/1975, các sáng tác của Từ Công Phụng bị cấm lưu hành tại Việt Nam và mãi cho đến năm 2003 mới được… “cởi trói”. Anh rời Việt Nam năm 1980 và định cư tại Portland, Oregon. Năm 1998, anh trở về thăm quê hương Ninh Thuận và năm 2008, anh trở lại với chương trình "45 năm tình ca Từ Công Phụng" tại một phòng trà có tiếng ở Sài Gòn.

Nhạc sĩ kiêm ca sĩ Từ Công Phụng đã 2 lần vượt qua căn bệnh ung thư gan và ung thư túi mật nhưng vẫn mong đủ sức khỏe để sáng tác trong những ngày cuối đời. Với tình bạn học của buổi thiếu thời tôi chỉ mong anh sẽ sống mãi với chúng ta, chuyện sáng tác chỉ là vấn đề phụ vì những tác phẩm đã ra đời của anh đã là chứng nhân cho một nhạc sĩ tài hoa người Chàm. 

Từ Công Phụng

Hồi còn đi học tại Ban Mê Thuột, tôi có một vị giáo sư người gốc Chàm. Thầy Nguyễn Văn Tỷ, quê quán tại Ninh Chữ, một bãi biển thuộc thôn Bình Sơn, thị trấn Khánh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

Tôi cùng thầy Bùi Dương Chi đã dẫn đoàn sinh viên Mỹ đến bãi biển Ninh Chữ được coi là một trong những bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Kết hợp với địa danh Bình Sơn, Ninh Chữ đã trở thành cụm du lịch Bình Sơn - Ninh Chữ đem lại diện mạo, thương hiệu và thu nhập cho tỉnh Ninh Thuận.

Thầy Nguyễn Văn Tỷ đã về hưu và sinh sống tại Ninh Chữ. Ông trở thành một “nhân sĩ” trong làng và vẫn tiếp tục nghiên cứu văn hóa Chàm để truyền bá lại cho lớp trẻ người Chàm. Ông cũng là một cộng tác viên kỳ cựu của Tuyển tập Tagalau như đã nói ở trên.

Tháng 10/2009 ông đến California để tham dự lễ Katê của cộng đồng người Việt gốc Chàm tại đây. Ông đã được mời phát biểu cảm tưởng tại buổi lễ. Theo ông, dân tộc Chàm muốn sống với nhau tốt, muốn tồn tại tốt cần thể hiện 3 yếu tố: Đoàn kết, Bảo tồn và Phát triển.

Đối với người Chàm, đoàn kết được thì sẽ được tất cả, và không đoàn kết thì sẽ mất tất cả. Điều này mang ý nghĩa sau khi bị “vong quốc” sẽ lại phải “vong thân”.

Người Chàm cần bảo tồn ngôn ngữ và chữ viết của mình, vì “tiếng Chàm còn thì người Chàm còn; tiếng Chàm mất thì người Chàm mất”.

Nếu tồn tại được mà không phát triển thì chỉ “tồn tại như một dân tộc bần cùng”, “vùi dập trong cuộc sống lạc hậu, tối tăm”.

Có lẽ đó cũng chính là lời kết của bài viết này về… “Người Chàm trong mắt tôi”.

Thánh địa Mỹ Sơn

*** 

Chú thích:

[1] Tagalau tiếng Chàm là cây bằng lăng hoa tím, mọc nhiều ở miền núi Ninh Thuận và Bình Thuận. Tuyển tập mang tên Tagalau vì nó tượng trưng cho tính dân dã, sức chịu đựng, sự khiêm tốn: nỗ lực nở hoa dù phải mọc trên mảnh đất nghèo cằn.

Tagalau là Tuyển tập chứ không phải là Tạp chí nên không ra định kỳ, mà chỉ được xuất bản khi tập hợp đủ bài vở. Số đầu tiên của Tuyển tập Tagalau ra mắt vào lễ Katê của người Chàm năm 2000.

[2] Chế Lan Viên (1920 – 1989), tên thật là Phan Ngọc Hoan, ra đời tại xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành chung rồi đi dạy tư kiếm sống. Có thể xem Quy Nhơn, Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.

Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12 tuổi. Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của "Trường Thơ Loạn". Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam.

Trước năm 1945, thơ Chế Lan Viên là một thế giới đúng nghĩa "trường thơ loạn": Kinh dị, thần bí, bế tắc của thời Điêu tàn với xương, máu, sọ người, với những cảnh đổ nát của tháp Chàm. Những tháp Chàm "điêu tàn" là một nguồn cảm hứng lớn đáng chú ý của Chế Lan Viên. Qua những phế tích đổ nát và không kém phần kinh dị trong thơ Chế Lan Viên, ta thấy ẩn hiện hình bóng của một vương quốc hùng mạnh thời vàng son, cùng với nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ.

Phong cách thơ Chế Lan Viên rất rõ nét và độc đáo. Thơ ông là sức mạnh trí tuệ được biểu hiện trong khuynh hướng suy tưởng - triết lý, "chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa". Con gái ông, bà Phan Thị Vàng Anh, cũng là một nhà văn nổi tiếng.

Related image

[3] Hận Đồ Bàn do ca sĩ Chế Linh trình bày:

 

Hận Đồ Bàn  
 
Rừng hoang vu 
Vùi lấp chôn bao uất căm hận thù 
Ngàn gió ru, muôn tiếng vang trong tối tăm mịt mù 
Vạc kêu sương, buồn nhắc đây bao lúc xưa quật cường 
Đèn đóm vương, như bóng ai trong lúc đêm trường về 

Rừng rậm cô tình, đèo cao thác sâu, đồi hoang suối reo hoang vắng cheo leo 
Ngàn muôn tiếng âm, tháng năm buồn ngân, âm thầm hòa bài hận vong quốc ca 
Người xưa đâu, mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu 
Lầu tháp đâu, nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu 

Đồ Bàn miền trung đường về đây 
Máu nhuộm loang thâm chưa phai dấu 
Sương trắng sau bụi kỷ hờn căm, khó tan... 
Kìa ngoài trùng dương đoàn thuyền ai 
Nhấp nhô trên sông xa xa thẳm 
Mơ bóng chiêm thuyền chế bồng nga 
Vượt khơi.... về kinh đô 
Ngàn thớt voi uy hiếp quân giặc thù 
Triệu sóng xô, muôn lớp quân Chiêm tiến như tràn bờ 
Tiệc liên hoan, nhạc tấu vang trên xứ thiêng đồ bàn 
Dạ yến ban, cung nữ dâng lên khúc ca về Chàm 

Một thời oanh liệt người dân nước Chiêm lừng ghi chiến công vang khắp non sông 
Mộng kia dẫu tan cuốn theo thời gian nhưng hồn ngàn đời còn theo nước non 
Người xưa đâu, mộ đắp cao nay đã sâu thành hào 
Lầu các đâu, nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu 
Người xưa đâu
Image result for Người Chàm photos
 
  Miên Phuơng sưu tầm  
Theo dõi RSS này