Kim Phượng

Kim Phượng

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn: Kiệt tác trăm năm của kiến trúc Pháp

 Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn:

Kiệt tác trăm năm của kiến trúc Pháp

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn có tên chính thức là Vương cung thánh đường Chính toà Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, tên tiếng Anh là Immaculate Conception Cathedral Basilica, tên tiếng Pháp: Cathédrale Notre-Dame de Saigon. Đây được xem là một “phiên bản kiến trúc” của Nhà Thờ Đức Bà Paris, nơi vừa bị cháy vào tối hôm qua, 15/4/2019.

Nhiều người ngỡ ngàng và cảm phục khi ngắm ngôi thánh đường nhà thờ Đức Bà với 140 năm tuổi, với kiến trúc đặc biệt ấn tượng do các vị mục tử và các nghệ nhân ngày xưa đã đem hết tâm huyết xây dựng.

Nhà thờ Đức Bà qua dòng thời gian

Nhà thờ Đức Bà nhìn chính diện từ trên cao và quảng trường Pigneau de Béhaine vào năm 1955

Nhà thờ Đức Bà nhìn chính diện từ trên cao và quảng trường Công xã Paris vào năm 2005

Nhà thờ Đức Bà phía sau lưng, nhìn từ trên cao vào năm 1955

Nhà thờ Đức Bà phía sau lưng, nhìn từ trên cao vào năm 2005

Tiền thân của nhà thờ Đức Bà

Nhà thờ Đức Bà nay là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Sài Gòn. Trước đó, trong giai đoạn đầu của giáo phận Tây Đàng Trong (nay là Tổng giáo phận Sài Gòn) từng có một ngôi nhà thờ đầu tiên, gọi là nhà thờ Sài Gòn ở đường số 5 (nay là đường Ngô Đức Kế, Q.1) và tiếp đó là nhà thờ Sài Gòn (thứ 2) bằng gỗ được xây dựng bên bờ Kênh Lớn.

Kênh Lớn trước đây còn gọi là Kênh Chợ Vải hay Kênh Charner, nằm ngay giữa đường Nguyễn Huệ, bắt đầu từ bến Bạch Đằng chạy thẳng đến trước Dinh Xã Tây, nay là trụ sở HĐND, UBND TP.HCM (86 Lê Thánh Tôn, Q.1).

Ngày 11.4.1861, theo quyết định của đô đốc Léonard Victor Joseph Charner, Kênh Lớn được đổi tên thành kênh đào Charner. Hai bên bờ kênh là hai con đường chạy song song: đường Rigault de Genouilly (phía thương xá Tax) và đường Charner (phía khách sạn Palace). Năm 1887, kênh Charner được san lấp. Hai đường phía hai bên dòng kênh được sáp nhập thành đại lộ Charner. Năm 1956, đại lộ Charner được đổi tên thành đại lộ Nguyễn Huệ, và ngày nay là quảng trường phố đi bộ Nguyễn Huệ

Lễ khánh thành nhà thờ Sài Gòn – nhà thờ chính tòa của của giáo phận Tây Đàng Trong được chính quyền Pháp xây dựng bên dòng Kênh Lớn vào năm 1863

Hành trình dựng xây kiệt tác kiến trúc cổ điển

Để chuẩn bị cho một ngôi nhà thờ kiên cố, bền vững theo dòng thời gian, xứng tầm là nhà thờ trung tâm của vùng đất phương Nam – Sài Gòn đang phát triển mạnh mẽ, tháng 8.1876, Thống đốc Nam Kỳ Guy Victor Auguste Duperré đã tổ chức thi tuyển thiết kế nhà thờ mới – nhà thờ Sài Gòn thứ 3 (nhà thờ Đức Bà hiện nay). Vượt qua nhiều đồ án tham gia cuộc thi, đồ án của kiến trúc sư J.Bourad đã được chọn. Bản thiết kế của ông rất độc đáo, đã phối hợp hài hòa hai trường phái kiến trúc cổ điển lừng danh Roman và Gotich

Thống đốc Nam Kỳ Guy Victor Auguste Duperré cũng cho tổ chức đấu thầu để chọn nhà thầu thi công nhà thờ mới. Cuối cùng, kiến trúc sư J.Bourad trúng thầu công trình xây dựng đặc biệt này.

Sau khi bản vẽ chính thức được tuyển chọn, vấn đề vị trí của ngôi nhà thờ mới cũng từng bước được đặt ra và lựa chọn. Trước hết, vị trí Trường Thi cũ, nằm ở góc đường ngày nay là ngã tư Lê Duẩn – Hai Bà Trưng, hiện nay là Tòa lãnh sự Pháp. Nơi thứ 2 là vị trí nhà thờ cũ ở bên dòng Kênh Lớn (nay là quảng trường phố đi bộ Nguyễn Huệ). Nhưng cuối cùng, vị trí hiện tại được chọn và nhà thờ Đức Bà hiện diện sống động giữa trung tâm Sài Gòn suốt 138 năm qua.

Ngày 7.10.1877, Đức cha Isidore Colombert, tên Việt là Đức cha Mỹ, giám mục đại diện tổng tòa giáo phận Tây Đàng Trong lúc bấy giờ, đã cử hành nghi thức làm phép và đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ Sài Gòn (nay là nhà thờ Đức Bà).

Công trình được thi công khá nhanh, khoảng hai năm rưỡi, vào đúng vào dịp lễ Phục sinh, ngày 11.4.1880, thánh lễ làm phép và khánh thành nhà thờ Sài Gòn cũng do chính Đức cha Isidore Colombert cử hành trọng thể với sự tham dự của Thống đốc Nam Kỳ Charles Le Myre de Villes. Các vật tư chính để xây dựng nhà thờ như xi măng, sắt thép, ngói, kính màu, chuông… đều được mang từ Pháp sang. Thời kỳ đầu, nhà thờ có tên gọi là nhà thờ Nước, bởi vì tất cả kinh phí xây dựng đều do nhà nước Pháp thời ấy cung cấp với số tiền 2,5 triệu francs Pháp theo thời giá lúc bấy giờ.

Phần cao nhất của nhà thờ là hai tháp chuông. Khi mới hoàn thành công trình vào năm 1880, hai tháp chuông cao khoảng 37m. Năm 1895, theo thiết kế bổ túc của kiến trúc sư Fernand Gardes, hai tháp thép dạng chóp nhọn được lắp dựng thêm bên trên tháp chuông, làm cho tháp chuông nhà thờ vươn cao trên bầu trời với chiều cao mỗi tháp khoảng 60m. Để đỡ bộ chuông nặng gần 30 tấn với 6 quả chuông, tường nhà thờ được xây rất dày, khoảng 1,4m.

Cột mốc đánh dấu tên gọi nhà thờ Đức Bà

Từ phía tháp chuông nhìn ra ngoài, sẽ thấy một quảng trường (hiện mang tên Công xã Paris) với 4 con đường nhỏ giao nhau tạo thành hình thánh giá mà trung tâm là tượng Đức Mẹ Hòa Bình được lắp dựng vào năm 1959. Tượng do nhà điêu khắc G.Ciocchetti thực hiện. Bức tượng cao 4,6m, nặng 5,8 tấn bằng đá cẩm thạch trắng carrara của Ý, được tạc với chủ đích nhìn từ xa nên không đánh bóng, vì vậy mà toàn thân tượng, kể cả vùng mặt vẫn còn những vết điêu khắc thô. Tượng Đức Mẹ trong tư thế thẳng đứng, tay cầm trái địa cầu, trên trái địa cầu có đính cây thánh giá, mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên bầu trời như đang cầu nguyện cho Việt Nam và cho thế giới được hòa bình. Chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn, mà hiện nay đầu con rắn bị bể mất cái hàm trên.

Vào thời điểm năm 1959, Đức Hồng y Agagianian đã làm phép tượng Đức Mẹ Hòa Bình tại quảng trường trước nhà thờ Sài Gòn. Từ đó, với sự kiện này, nhà thờ Sài Gòn có tên gọi là nhà thờ Đức Bà. Trên bệ đá, phía trước tượng Đức Mẹ, có một tấm bảng bằng đồng với hàng chữ Latinh: REGINA PACIS – ORA PRO NOBIS – XVII. II. MCMLIX, nghĩa là “Nữ vương Hòa Bình – Xin cầu cho chúng con – 17.2.1959”

Nhà thờ Đức Bà đã được kiến trúc sư J.Bourad thiết kế theo lối kiến trúc rất độc đáo, kết hợp hài hòa giữa kiểu thức Roman và Gotich tạo nên một phong cách riêng cho ngôi nhà thờ cổ kính. Công trình cũng ghi nhận sự du nhập, giao lưu và tiếp biến của văn hóa, kiến trúc Đông – Tây. Kiến trúc sư J.Bourad đã thành công trong một thể loại công trình thuộc nền văn hóa phương Tây, nhưng xây dựng ở phương Đông với những kết cấu và vật liệu mới nhưng lại phù hợp với các điều kiện xã hội và khí hậu bản xứ

Bí ẩn công trình 138 năm tuổi

Không gian bên trong nhà thờ Đức Bà nhìn từ dưới lên

Khi thiết kế mái ngói, kiến trúc sư J.Bourad đã thành công trong việc kết hợp hài hòa giữa kiểu mái ngói Việt với mái ngói Tây. Căn cứ theo loại ngói lợp hiện nay, có thể phân chia mái ngói nhà thờ thành 3 vùng với khoảng hơn 100.000 viên ngói.

Bộ chuông cổ lắp đặt bên trong hai tháp chuông nhà thờ Đức Bà được thiết kế và vận hành rất độc đáo. 6 quả chuông đồng lớn, được hãng đúc chuông Bollee chế tác vào năm 1879, tại Pháp, với những đường nét họa tiết rất tinh xảo. Bộ chuông nặng tổng cộng khoảng 30 tấn, được phối âm độc đáo với các cung: sol – la – si – do – re – mi.

Trên tường phía dưới và trên cao của nhà thờ Đức Bà có các cửa sổ được lắp đặt các tác phẩm nghệ thuật thánh bằng kính màu, có nội dung diễn tả các nhân vật thánh và sự kiện trong Kinh Thánh, nhưng cũng xen kẽ rất nhiều họa tiết và hình tượng phương Đông. Hệ thống kính màu được thiết kế rất đặc sắc và phối sáng hài hòa, tạo nên một hiệu ứng ánh sáng tuyệt vời. Trong lòng nhà thờ, một làn ánh sáng nhẹ nhàng, tạo bầu không khí trang nghiêm, an bình… Ánh sáng huyền ảo cũng làm cho các chi tiết kiến trúc, nội thất bên trong thánh đường nổi bật và đẹp hơn. Toàn bộ các ô cửa kính màu do hãng Lorin (Pháp) sản xuất.

Kính màu bên trên cung thánh nhà thờ Đức Bà

Bàn thờ phía cung thánh trong nhà thờ Đức Bà được làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối với sáu thiên thần được tạc trên khối đá bàn thờ. Bệ đỡ bàn thờ được chia làm 3 phần, đây là tác phẩm điêu khắc mỹ thuật tuyệt đẹp diễn tả các sự kiện trong Kinh Thánh.

Ánh sáng từ những chiếc đèn chùm được thiết kế với những hoa văn theo kiểu Roman – Gotich tạo nên một không gian lung linh, trang trọng và thánh thiêng. Những chiếc đèn này được chế tác tại Pháp, gắn liền với lịch sử 138 năm qua của nhà thờ Đức Bà

Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn theo dòng lịch sử:

Ảnh: Nhà thờ Đức Bà năm 1956.

Ngay sau khi chiếm được Sài Gòn, người Pháp cho lập nhà thờ để làm nơi hành lễ cho người Công giáo trong quân đội. Theo nnhiều ý kiến, nhà thờ đầu tiên nằm tại đường số 5 (nay là đường Ngô Đức Kế), nơi đây vốn là 1 ngôi chùa cũ của người Việt bị bỏ hoang do chiến sự loạn lạc.

Ảnh: tranh vẽ về lễ khởi công xây dựng nhà thờ thứ 2 tại Sài Gòn.

Năm 1863, Đô đốc Bonard quyết định khởi công xây dựng một nhà thờ lớn hơn bằng gỗ bên bờ Kinh Lớn (Kinh Charner) – kinh này sau được lấp đi và xây dựng thành đường Nguyễn Huệ ngày nay.

Ảnh: nguyên văn bài báo về lễ khởi công xây dựng nhà thờ thứ 2 tại Sài Gòn.

Nhà thờ này được khởi công xây dựng từ ngày 28/03/1863 đến năm 1865 thì hoàn thành, ban đầu gọi là Nhà thờ Saigon.

Ảnh: tranh khắc tả lại buổi lễ khánh thành Nhà thờ Saigon.

Sau khi Nhà thờ Đức Bà được xây dựng, Nhà thờ Saigon bị phá bỏ và người Pháp cho xây Toà hoà giải trên nền cũ của nhà thờ.

Ảnh: Toà hoà giải thời Pháp thuộc.

Tháng 8 năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ Duperré tổ chức cuộc thi thiết kế đồ án cho nhà thờ mới, Mục đích là vừa để xây dựng chỗ thờ phượng, hành lễ cho tín đồ Công giáo, vừa phô trương thanh thế của đạo, cũng như sự vĩ đại của nền văn hoá Pháp.

Ảnh: Sài Gòn nhìn từ Thủ Thiêm, ngay giữa hình có 1 nóc nhà nhô cao, đó chính là vị trí của Nhà thờ Saigon.

Người chiến thắng trong cuộc thi là kiến trúc sư Bourad, một người chuyên thiết kế các thánh đường ở châu Âu, với đồ án 1 nhà thờ mang phong cách kiến trúc Roman cải biên.

Ảnh: Bản đồ thành Quy, vị trí được khoanh tròn tương ứng với vị trí Nhà thờ Đức Bà ngày nay.

Ban đầu địa điểm xây dựng được đề nghị ở 3 nơi:
– Trên nền Trường Thi cũ (Toà Đại sứ Pháp ngày nay).
– Ở khu Kinh Lớn, vị trí nhà thờ Saigon.
– Vị trí nhà thờ toạ lạc hiện nay.

Ảnh: vị trí Toà đại sứ Pháp.
Ảnh: vị trí toà nhà Sunwah Tower, 1 trong 3 nơi được đề xuất để làm Nhà thờ Đức Bà.

Ảnh: vị trí Nhà thờ Đức Bà hiện nay.

Và ý kiến cuối cùng được chọn thì ai cũng đã biết. Kiến trúc sư Bourad ngoài việc thắng thiết kế thì ông cũng trúng luôn thầu xây dựng nhà thờ.Trong quá trình xây dựng, mọi vật liệu từ lớn tới nhỏ đều được mang từ Pháp sang.

Ảnh: Nhà thờ Đức Bà thập niên 80 của thế kỷ XIX.

Ngày 7 tháng 10 năm 1877, Giám mục Isidore Colombert làm lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ.

Nhà thờ Đức Bà được xây dựng trong vòng 3 năm. Tháng 4 năm 1880, vào dịp Lễ Phục sinh, nghi thức cung hiến và khánh thành Nhà thờ Đức Bà được tổ chức do Cố đạo Colombert điều hành và có sự tham gia của Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers.

Hiện nay, bên trong cửa ra vào nhà thờ có chiếc bảng cẩm thạch ghi ngày khởi công và tên vị Tổng công trình sư.

Ảnh: 1 hình ảnh hiếm của Nhà thờ Đức Bà lúc vừa xây.

Tất cả mọi chi phí xây dựng đều do Soái phủ Nam Kỳ đài thọ nên sau khi xây xong, người ta đặt tên là Nhà thờ Nhà nước.

Ảnh: Nhà thờ Đức Bà năm 1890.

Năm 1895, người ta xây thêm 2 tháp chuông cho nhà thờ. Mỗi tháp chuông cao 57,6m, có 6 chuông lớn nặng tổng cộng 28,85 tấn. Trên đỉnh mỗi tháp chuông có gắn 1 cây thánh giá cao 3,5m, nặng 600kg.

Ảnh: Nhà thờ Đức Bà sau khi đã gắn 2 tháp chuông.
Ngay trước Nhà thờ Đức Bà có một vườn hoa nhỏ. Từ lúc nhà thờ xây xong cho đến năm 1903, nơi đây có tồn tại một hồ nước nhỏ.

Ảnh: Hồ nước nhỏ trước Nhà thờ Đức Bà, vị trí đặt tượng Đức Mẹ ngày nay.

Năm 1903, người Pháp cho dựng tượng đồng Pigneau de Béhaine (còn gọi là Giám mục Bá Đa Lộc hoặc Giám mục Adran vì vị này làm Giám mục hiệu tòa Adran) dẫn hoàng tử Cảnh (con vua Gia Long) để ca ngợi công lao của nước Pháp “bảo hộ”, “khai hóa” cho Việt Nam. Tượng đài này bao gồm một bệ bằng đá hoa cương đỏ hình trụ tròn và bên trên là bức tượng tạc hình Giám mục Adran với phẩm phục giám mục, tay trái dẫn hoàng tử Cảnh, tay phải cầm Hiệp ước Versailles năm 1787.

Ảnh: tượng Bá Đa Lộc trước Nhà thờ Đức Bà.

Giới bình dân Saigon thưở đó gọi tượng Bá Đa Lộc là “tượng 2 hình” để phân biệt với “tượng 1 hình” của Đô đốc Hải quân Pháp Genouilly đặt tại Công trường Mê Linh.

Ảnh: tượng 1 hình – tượng Đô đốc Genouilly.

Năm 1945, sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam thì tượng Bá Đa Lộc đã bị dỡ xuống, tuy vậy, bệ đá hoa cương đỏ thì vẫn được giữ lại.

Ảnh: Hình tạp chí Life chụp công viên trước Nhà thờ Đức Bà thập niên 50 của thế kỷ 20. Lúc này, tượng Bá Đa Lộc đã bị dỡ xuống…

Năm 1958, Linh mục Phạm Văn Thiên, người cai quản giáo xứ Saigon lúc bấy giờ, sau 1 chuyến đi sang Ý, đã đặt 1 đức tượng Đức Mẹ Hoà Bình bằng đá cẩm thạch Carrara của Ý. Nơi tạc bức tượng là Pietrasanta, cách Rome 500km.

Tượng hoàn tất và được đưa xuống tàu ngày 8.01.1959, tới Saigon vào ngày 15.02.1959.

Ảnh: Tượng Đức Mẹ Hoà Bình.

Bức tượng Đức Mẹ Hoà Bình do nhà điêu khắc G. Ciocchetti thực hiện.

Tượng cao 4.6m, nặng 8 tấn. Tượng không được đánh bóng với chủ ý là để nhìn từ xa. Dưới chân Đức Mẹ có 1 con rắn (ngày nay, con rắn đã bị bể mất hàm trên). Trên bệ đá có 1 tấm bảng với dòng chữ Latin, dịch ra là: “Nữ Vương Hoà Bình – Cầu cho chúng tôi – 17.02.1959”

Giáp với chân tượng Đức Mẹ có 1 cái hốc, bên trong có 1 chiếc hộp bằng bạc, chứa những lời cầu nguyện cho hoà bình của Việt Nam và thế giới.

Ảnh: tượng Đức Mẹ năm xưa.

Ngày 17.02.1959, bức tượng Đức Mẹ được làm phép, từ đó nhà thờ có tên Nhà thờ Đức Bà.

Ngày 05.12.1959, Toà thánh Vatican tấn phong Nhà thờ Đức Bà Saigon lên hàng tiểu Vương cung thánh đường (Basilique). Sau sự kiện này, Nhà thờ Đức Bà có tên chính thức là Vương cung thánh đường Đức Bà Saigon.

Năm 1960, nơi đây trở thành nhà thờ chính toà của Tổng giám mục Saigon.

Ảnh: Nhà thờ Đức Bà năm 1965.
Nhà thờ Đức Bà những buổi đầu…

Mặt ngoài của nhà thờ làm bằng gạch đặt tại Marseille để trần, không tô trát, đến nay vẫn còn nguyên sắc hồng tươi, không bám rêu.

Trong nhà thờ, có một số ngói vỡ ghi Guichard Carvin, Marseille St André France (có lẽ là nơi sản xuất loại ngói này), mảnh ngói khác lại có hàng chữ Wang-Tai Saigon. Có thể đây là mảnh ngói được sản xuất sau tại Sài Gòn dùng để thay thế những mảnh ngói vỡ trong thời gian Thế chiến thứ hai do những cuộc không kích của quân Đồng Minh.

Ảnh: Màu gạch đỏ của nhà thờ.
Cổng chính nhà thờ Đức Bà có hướng đông nam (west facade) và bàn thờ hướng tây bắc (east facade) nhìn về hướng Jerusalem.

Móng của nhà thờ được thiết kế để chịu được tải trọng gấp 10 lần toàn bộ kiến trúc nhà thờ bên trên. Nhà thờ có 1 nét độc đáo là không có hàng rào, hay bờ tường bao quanh.

Ảnh: Nhà thờ Đức Bà lúc đang xây dựng, mái của nhà thờ được dùng để che móng công trình.

Nội thất thánh đường được thiết kế thành 1 lòng chính, 2 lòng phụ tiếp đến là 2 dãy nhà nguyện. Chiều dài của thánh đường là 93m, bề ngang nơi rộng nhất là 35m, chiều cao vòm mái là 21m. Thánh đường có sức chứa lên đến 1200 người.

Ảnh: thánh đường Nhà thờ Đức Bà.

Thánh đường có 2 hàng cột chính gồm 12 cột, tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ. Phía sau hàng cột là các góc nguyện và các tượng thánh nhỏ.

Ảnh: 1 góc nguyện bên trong Nhà thờ Đức Bà.
Đây là 1 góc nguyện khác…

Bàn thờ cung thánh làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối có hình 6 vị thiên thần khắc vào khối đá đỡ mặt bàn thờ. Mặt bàn thờ tròn đặt trên khối vuông, bên dưới là các bệ bát giác. Có tổng cộng 7 bậc thang bước lên cung thánh.

Trên tường nhà thờ được trang trí nổi bật với 56 cửa kính mô tả các nhân vật, sự kiện trong Kinh Thánh.

Tất cả đường nét đều mang phong cách Roman và Gothic. Tuy vậy, trong tổng số 56 cửa kính thì chỉ còn có 4 cửa kính là nguyên bản, các cửa khác đã bị hư hỏng trong Thế chiến thứ 2.

Năm 1949, các cửa kính đã được phục chế, thay thế.

Trên trán tường cửa chính nhà thờ có dòng chữ Latin với ý nghĩa: “Thiên Chúa tối cao đã ban cho Đức Trinh Nữ Maria được ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội”.

Trên trán tường bên phải là câu đối tiếng Hoa: “Nhà thờ Thiên Chúa đầy ân đức – Thánh mẫu vô nhiễm nguyên tội”.

Ảnh: dòng chữ Latin trên trán tưởng cửa chính Nhà thờ Đức Bà.

Saigon 1964 – Hình ảnh chụp Nhà thờ Đức Bà vào tháng 10/1964. Điều đặc biệt ở đây là nhà thờ chỉ có 1 cây thánh giá, cây thánh giá bên phải hình đã bị sét đánh gãy trước đó.

Lúc này, nhà thờ bị sét đánh trúng và làm gãy 1 cây thánh giá trên tháp chuông. Kích thước của cây thánh giá này: cao 3,50 m, ngang 2 m, nặng 600 kg. Việc đưa cây thánh giá lên đỉnh tháp cũng quả là một kỳ công.

Hình ảnh lúc sửa chữa tháp chuông.

 Saigon 1882 - Nhà thờ Đức Bà 2 năm sau khi khánh thành.

[NCT]
Nguồn hình: manhhai.
Saigon 1882 - Nhà thờ Đức Bà 2 năm sau khi khánh thành.
  Kim Phượng st

Image result for hình bìa nhà thờ đức bà sài gòn

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 18

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 18

 *** Nam Mai  ***

Qui Nhơn - Tháp Đôi - Mộ Hàn Mặc Tử - Ghềnh Đá Đĩa - Pleiku: Thứ sáu ngày 20 tháng 1 năm 2017

Sáng nay, 4 bà thu xếp check out sớm vì Cậu Quang cho biết là mình sẽ lên đường vào đúng 8:00 giờ. Nhìn ra bên ngoài mọi người lắc đầu ngán ngẫm vì trời hôm nay rất âm u và lại còn đang lất phất mưa nửa. Trên đường đi, cậu Quang cho biết điểm dừng để xem đầu tiên là Tháp Đôi.

Tháp Đôi Quy Nhơn tọa lạc tại làng Hưng Thạnh xưa, bây giờ thuộc về phường Đống Đa, cách trung tâm thành phố chừng 3 km về phía Tây Bắc. Tháp Đôi cũng có tên là Tháp Hưng Thạnh, còn trong tiếng J'rai được gọi là SRI BANOI. Theo lịch sử, Tháp đôi Quy Nhơn được xây dựng vào cuối thế kỉ XII gồm 2 khối tháp, tháp lớn cao 20m, tháp nhỏ thấp hơn cao 18 m nằm liền bên nhau trên một địa thế tương đối bằng phẳng. Tháp cấu trúc khá độc đáo, đặc biệt là kỹ thuật mài dũa, lắp ghép các tảng đá chồng khít lên nhau rất vững chắc. Tháp được xây bằng gạch nung xếp khít với nhau bằng một chất kết dính đặc biệt, đây là một kỹ thuật xây độc đáo của người Chăm mà ngày nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa phân tích ra được. Quanh tường phía ngoài, các góc và trên nóc tháp có nhiều bức phù điêu chạm khắc các hình tượng thần, chim, thú thần theo tín ngưỡng của người Chăm rất sinh động. Theo thời gian và chiến tranh, Tháp bị tàn phá khá nặng nề nên Tháp Đôi đã được Nhà nước bỏ ra hàng tỉ đồng cũng như thêm vào sự giúp đỡ của các chuyên gia Ba Lan và các chuyên gia khảo cổ trong nước để trùng tu và tái tạo lại. Từ 1991-1997, các cán bộ khoa học và những người thợ khéo ở Quy Nhơn đã miệt mài đục đẽo, tái tạo lại với những kỹ thuật mài gạch, lắp ghép khá thành công, trả lại gần như với dáng vẻ ban đầu trước đây của Tháp. Tháp Đôi nằm trong một khuôn viên có diện tích khoảng 6.000 m2 với những thảm cỏ xanh và những hàng cây rợp bóng mát, đây là một nơi lý tưởng cho du khách dừng chân thưởng lãm. Tháp Đôi là một trong 8 cụm Tháp Chăm còn lại trên đất Bình Định ngày nay, một trong những di tích kiến trúc văn hóa Chăm mang màu sắc tôn giáo rất đặc sắc.

Chúng tôi không ở lại đây lâu, chỉ vừa đủ giờ chụp mấy cái hình Tháp Đôi ở phía trên và rời khỏi khu này vào khoảng 8:40 am vì trời đang lất phất mưa, tuy không nặng hạt nhưng đứng lâu ngoài trời thì cũng bị ướt tóc hết trơn. Vì đọc sách báo thấy có nhắc tới mấy cái Tháp di tích kiến trúc văn hóa Chăm còn lại rất hiếm hoi cho nên mình cũng muốn được nhìn xem tận mắt cho biết, chứ không phải là dân khảo cổ nên cũng không cần xăm xoi ở đây chi cho lâu.

Rời khỏi Tháp Đôi, sẳn đang ở Quy Nhơn chúng tôi liền thẳng đường đi viếng mộ nhà thơ nổi tiếng Hàn Mặc Tử các bác ạ. Muốn đến đó mình sẽ đi về hướng Tây Nam chạy dọc theo bờ biển độ 3km thì sẽ nhìn thấy xóm biển Ghành Ráng bên phía tay phải. Dọc theo con đường của xóm chài Ghành Ráng là một con chợ nhỏ với quán xá xinh xắn, trong đó có chiếc cầu nhỏ bắt ngang vô quán thủy tạ Mai Đình, sau đó mình phải qua một chiếc cầu nhỏ bắt qua con suối Tiên để rẽ trái lên đồi Thi Nhân.

Để lên đến mộ Hàn, du khách sẽ leo lên một con đường chừng hơn trăm bậc tam cấp bằng đá nằm giữa hai hàng cây song song chụm đầu vào nhau rì rào bốn mùa đón gió biển, một con đường rất thơ mộng được đặt cho cái tên là Dốc Mộng Cầm (tiếc quá, leo hơn trăm bậc thang mệt đứt hơi, đã vậy lại vội vội vàng vàng vì mưa nên quên luôn cả chuyện chụp cái Dốc Mộng Cầm này cho các bác xem). Những bậc tam cấp bằng đá của Dốc phần chân đế phía dưới được xây to, khi đi dần lên trên thì các bậc tam cấp sẽ từ từ nhỏ dần .... và lên đến trên cùng thì du khách sẽ nhìn thấy nơi an nghỉ của nhà thơ Hàn Mạc Tử. Nơi đây, phần mộ của nhà thơ được xây theo hình chữ nhật vuông vắn, xung quanh ốp bằng đá mài sáng loáng.

Trên đầu bia mộ có đặt một bức tượng Đức Mẹ Maria hai tay dang rộng mắt hiền từ nhìn xuống phần mộ.

Mộ chí không ghi tên ông là nhà thơ nổi tiếng mà chỉ ghi khiêm nhường “ Đây an nghỉ trong tay Đức Mẹ Maria: Hàn Mặc Tử tức Phêrô Phanxicô Nguyễn Trọng Trí ”.

Không biết sinh thời nhà thơ có hút thuốc không, thấy nơi đây còn có chỗ để cho du khách mời nhà thơ hút thuốc nữa

 Khu mộ của nhà thơ lưng tựa núi, mặt hướng ra biển khơi, tọa lạc giữa rừng cây, biển núi, trời mây hòa quyện vào nhau, tạo thành một bức tranh kỳ vĩ hướng ra đại dương trước mặt.

Lúc mọi người leo Dốc Mộng Cầm để viếng mộ nhà thơ HMT thì trời rất âm u và đang mưa nửa. Có một lúc mưa rất nặng hạt, mọi người phải chạy tán loạn tìm chỗ trú mưa rất là khỗ. Cậu Quang lại còn nói, nếu không mưa hay bây giờ mưa mà dứt thì cháu sẽ đưa các cô đi xem và chụp ảnh tại Bãi Đá Trứng và nơi có bãi tắm trước kia dành riêng cho Nam Phương Hoàng Hậu nghỉ mát mỗi khi Bà ngự ở Quy Nhơn (nơi này họ đặt tên là Bãi Tắm Hoàng Hậu) bãi này kín đáo và có mạch nước ngọt trong, giếng sát bờ biển không bao giờ cạn. Cậu kể rằng bãi đá trứng khổng lồ nằm dưới chân đồi Ghềnh Ráng là nơi đầu tiên khi du khách đặt chân đến đây và ai cũng muốn đến xem để chụp ảnh. Hàng nghìn phiến đá hình tròn, mặt nhẵn như quả trứng óng lên màu xanh huyền bí nổi bật giữa nền nước biển xanh trong và những con sóng ngày đêm vờn quanh đá. Ở nơi đây, gần như các phiến đá đều nằm nghiêng nghiêng theo thế chếch hướng ra biển, hoặc xếp thẳng đứng với hình thù nhấp nhô, cao thấp khác nhau tựa như những quả trứng.

Càng nghe cậu tả, mình càng thấy lo vì hiện tại trời tối âm u và mưa vẫn rơi, mưa rơi không biết đến bao giờ mới ngừng để mình có thễ tới chỗ đó đây? Cuối cùng chúng tôi đợi cho ngớt mưa một tí thì chạy ù ra chụp vài tấm hình tại Bãi Đá Trứng cho đở ấm ức rồi lật đật leo lên xe ngay chứ chẳng được ngắm cảnh tại đó và cũng không được tới xem bãi tắm Hoàng Hậu. Chụp gở gạc vài tấm ảnh tại Bãi Đá Trứng xong thì phải nhanh chóng lên đường cho kịp chương trình trong ngày các bác ạ.

Đây là tấm ảnh chụp vội vàng tại Bãi Đá Trứng nè các bác. Chụp vội quá nên không có cơ hội di chuyển để có thễ đổi lấy góc nọ góc kia hoặc lấy được toàn cảnh của bãi đá được, các bác xem đỡ vậy.

Theo chương trình thì chúng tôi chỉ còn có 1/2 ngày để xem nốt những thắng cảnh còn lại của miền Trung thôi, vì sau 12:00 giờ là xe phải chuyển qua đi vào một hướng khác để thăm 3 tỉnh của miền Cao Nguyên là Pleiku, Kontum và Ban Mê Thuộc. Điểm cuối cùng để thăm sáng hôm nay là một chỗ rất quan trọng của tỉnh Phú Yên mà N sẽ không thễ nào bỏ qua được trước khi rời khỏi miền Trung, và chắc chắn là N phải đến đó chứ nếu không thì sẽ vô cùng tiếc nuối.Chỗ mà chúng tôi muốn nói tới đó chính là Ghềnh Đá Đĩa của tỉnh Phú Yên, là một điểm đặc biệt tại miền Trung mà chúng tôi đã sắp xếp trước trong chương trình cho chuyến đi Xuyên Việt đấy các bác.

Ghềnh Đá Đĩa là một thắng cảnh nổi tiếng bậc nhất của tỉnh Phú Yên nằm tại xã An Ninh Đông, của huyện Tuy An cách thành phố Tuy Hòa khoảng 40km. Ghềnh Đá Đĩa nổi bật với những cột đá được xếp chồng lên nhau mà không hề có bàn tay của con người đụng vào. Ghềnh Đá Đĩa có diện tích khoảng 2 km vuông, chỗ hẹp nhất khoảng 50m, nơi dài nhất khoảng 200m. Nhìn từ xa, Ghềnh trông như những chồng đĩa trong lò gốm hay những bậc tam cấp nhô ra ngoài biển. Nổi bật giữa một vùng trời biển trong xanh là các cột đá hình lăng trụ chất chồng như bát đĩa với màu đen tuyền độc đáo. Mỗi khi mặt trời lên cao, những khối đá đen trên Ghềnh Đá Đĩa lại ánh lên sắc vàng rực rỡ như sáp ong. Loại đá ở đây chính là đá Bazan đã hình thành cách đây 200 triệu năm, được tạo nên nhờ quá trình hoạt động của núi lửa ở vùng cao nguyên Vân Hòa. Những dòng nham thạch phun trào ra từ núi lửa khi gặp nước lạnh bị đông cứng lại, kết hợp với hiện tượng di ứng lực khiến những khối nham thạch này bị nứt thành nhiều chiều một cách tự nhiên tạo nên các phiến đá đẹp lạ lùng, bí ẩn như ngày nay. Mà đặc sắc ở chỗ là có hàng chục nghìn cột đá hình lục giác, hình tròn hay hình vuông, lớp này xếp nối lên lớp kia, liên tiếp và khít nhau như có bàn tay của một vị thần nào đó đã sắp đặt vậy. Các bác nghe tả về Ghềnh Đá Đĩa có thấy hấp dẫn không? Thế thì làm sao N có thễ bỏ qua được đây ???

Còn nữa, Ghềnh Đá Đĩa ở Phú Yên Việt Nam là 1 trong 5 ghềnh đá đĩa trên thế giới có hiện tượng nham thạch phun trào tạo ra những hình thù tuyệt đẹp. GĐĐ của VN đã được xếp vào danh sách cùng với Ghềnh Đá Đĩa Giant’s Causeway ở bờ biển Đông Bắc Ireland, Ghềnh Đá Órganos ở đảo La Gomera của Tây Ban Nha, Ghềnh Đá Đĩa Fingal ở đảo Staffa, Scotland hay Ghềnh Đá Đĩa Jusangjeolli ở đảo JeJu của Hàn Quốc. Điều đó cho thấy thiên nhiên vô cùng thiên vị đã cho đất nước Việt Nam mình có được một kỳ quan tuyệt mỹ đến như vậy.

Bây giờ N sẽ kể chuyện đi từ Quy Nhơn đến Phú Yên để được xem tận mắt và chụp hình tại Ghềnh Đá Đĩa nha. Hiện giờ tại đây trời âm u và đang mưa rất lớn, đường đi từ đây đến Tuy Hòa khoảng hơn 90 km và mất độ gần 2 tiếng lái xe. Coi dự báo thời tiết ở phone thì nó báo cho biết rằng tại Tuy Hòa Phú Yên cũng đang bị mưa. Chèn ơi, lái xe mất 2 tiếng đến đó mà Trời mưa, phải chạy tìm chỗ trú ẩn khỗ cực như sáng nay tại Quy Nhơn, rồi cũng sẽ không thưởng thức được cảnh đẹp và cũng không chụp được cái hình nào thì liệu mình có nên quyết định đi Phú Yên chăng? Đi thì có thễ bị mưa và chẳng thu hoạch được gì, nhưng nếu sợ rồi không đi, ngộ nhỡ có thễ khi mình lên tới khu vực GĐĐ trời đã hết mưa thì có phải là tiếc chết người luôn không (vì biết khi nào mình mới có dịp trở về lần nửa để đến đây)?

Các bạn sẽ hỏi rằng nếu mọi người đã muốn đi xem GĐĐ quá sức thì cứ việc đi, tại sao lại phải lấn cấn tính toán lôi thôi như vậy? Chuyện là vầy: giả dụ nếu đi và sau khi xong việc ở Phú Yên, khi rời miền Trung để đi Pleiku, chúng tôi sẽ phải mất tới từ 4 đến 5 tiếng lái xe cho khoảng đường 300 km nửa các bác ạ. Từ Phú Yên mình phải trở ra quốc lộ 1A để quay trở lại Quy Nhơn-Bình Định, rồi từ đó mới thẳng đường qua đèo An Khê để đi Pleiku. Các bác, khi nghe đến chuyện phải lái qua đèo là mọi người thấy ..... teo rồi, nhất là phải qua đèo trong thời tiết rất xấu, trong tình trạng mưa to dai dẳng quá sức vào ngày hôm nay như vầy .... nghĩ đến chuyện xe qua đèo trong lúc trời mưa mà cậu Lý tài xế lại .... "ham đánh vỏng" thì chắc mọi người trên xe chỉ còn có nước chết vì bị đứng tim thôi. Nếu mình biết chắc chắn là khi đến Tuy Hòa Phú Yên mà trời cũng mưa thì sẽ dẹp luôn chương trình không đi GĐĐ nửa để có thễ dư thêm được 2,3 tiếng mà lái xe từ từ qua đèo cho nó an toàn trên xa lộ trong ngày mưa gió này, nhưng cái khó là mình không đoán chắc được gì cả ....

Nghĩ đi nghĩ lại, bàn tới bàn lui thật đúng là tiến thối lưỡng nan .... vì chỉ đi thêm có hơn 90 km nửa thì sẽ được xem GĐĐ, nhưng ngộ nhỡ lái xe 2 tiếng lên đến nơi rồi bị mưa chẳng làm được gì như sáng nay thì sao đây??? Không được đi thì tiếc và ấm ức quá xá .... nên thôi thì .... đành quyết chí thẳng tiến! Bốn bà đều vote là nhất định đi, một liều ba bảy cũng liều cứ coi như 5 ăn 5 thua vậy. Thế là đúng 9:30 am, chúng tôi rời mộ của nhà thơ HMT và thẳng đường đi Phú Yên để xem Ghềnh Đá Đĩa.

Trên đường đi thì trời cũng mưa lâm râm nhưng không còn nặng hạt nửa. Đúng 10:50 am, xe quẹo vào một con đường nhỏ để tới Ghềnh Đá Đĩa và chỉ còn 15km nửa là tới và may quá tại khu vực này trời chỉ còn lất phất mưa tí chút thôi, và mây đen âm u vẫn còn đầy trời ..... nhưng không sao, miễn không mưa nặng hạt và mình vẫn còn đứng được giửa trời là ok rồi.

Ở ngay chỗ quẹo này, chúng tôi đã ngừng tại 1 cái xe bán thức ăn nhỏ nhỏ bên lề đường để mua mấy ổ bánh mì không cứng như đá rồi ăn cùng với phô mai có sẳn trên xe, chứ không dám ngừng vào quán ăn trưa cho đàng hoàng vì sợ ông Trời dở chứng .... khóc trở lại, mình không được xem GĐĐ nửa thì tiêu đời!

Cảnh chụp trên đường đi vào gần khu Ghềnh Đá Đĩa.

Khoảng 11:00 giờ thì chúng tôi đến tới khu vực của thắng cảnh Ghềnh Đá Đĩa và may mắn hết sức tại đây trời đã dứt hẳn mưa, tuy nhiên bầu trời vẫn âm u và không có tị nắng nào cả mới tiếc chứ lỵ. Đúng là đã được voi lại còn đòi tiên, ổng đã không mưa để cho được đứng mà chụp ảnh, mà ngắm cảnh lại còn đòi ....nắng! He he he .... nhưng phải có nắng thì hình mới đẹp mà!

Hết mưa mừng quá nên cười toe ... không ngậm mồm lại được các bác ạ.

Ghềnh Đá Đĩa được tạo ra bởi sự phun trào của dòng dung nham cực nóng bị co lại khi gặp nhiệt lạnh của nước biển đã hình thành nên những phiến đá kỳ thú này.

Có mỗi cái view này là đẹp, mà hai cô cậu này cứ đứng tạo dáng chụp miết .... Sợ trời lại mưa nên N không thễ kiên nhẫn chờ cho đến khi họ di chuyển ra chỗ khác, đành phải để họ làm "người mẫu" cho mình luôn.

Những ghềnh đá xếp lô xô cao thấp và bạn có thể dễ dàng đến sát mép biển, nơi sóng vỗ bờ để ngắm toàn cảnh biển xanh tuyệt đẹp.

Những dòng nham thạch phun trào ra từ núi lửa khi gặp nước lạnh bị đông cứng lại, kết hợp với hiện tượng di ứng lực khiến những khối nham thạch này bị nứt thành nhiều chiều một cách tự nhiên tạo nên các phiến đá đẹp lạ lùng, bí ẩn như ngày nay.

Phải đến tận nơi, đứng trên bờ biển tận mắt chứng kiến, bạn mới có thể thực sự tin được sự kỳ diệu mà thiên nhiên mang lại cho nơi đây. Những viên đá với nhiều hình thù khác nhau, nằm lộn xộn như chồng chén, đĩa trong các lò gốm sứ. Sóng biển nơi đây cũng mạnh kỳ lạ, ngày đêm vỗ bờ tạo nên bọt trắng xóa cả một vùng.

Địa điểm lý tưởng cho những bức hình đẹp lung linh.

Đến với Ghềnh Đá Đĩa du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những chiếc thuyền thúng nằm nghiêng mình trên những phiến đá.

Có thể nói vẻ đẹp Ghềnh Đá Đĩa Phú Yên thực sự là một tuyệt tác kỳ diệu của thiên nhiên.

Những chiếc thuyền thúng nhỏ, chòng chành qua bàn tay điều khiển khéo léo như nét điểm tô thêm cho sức sống bao đời nay của vùng đất hiền hòa này

Thắng cảnh nổi tiếng này nằm yên bình bên bờ biển thuộc địa phận xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Được đánh giá là một trong số ít Ghềnh Đá Đĩa nổi tiếng đẹp bậc nhất trên thế giới, nhưng thắng cảnh này vẫn chưa được nhiều người biết đến. Vì chưa được khai thác du lịch, nên khi đến đây du khách sẽ khó lòng tìm được những dịch vụ ăn uống hay chỗ nghỉ ngơi nào, và có lẽ vì thế nên nơi này vẫn còn giữ được nguyên cái vắng vẻ hoang sơ và mộc mạc của nó.

Cha chả! bây giờ mới thấy là mình quyết định bằng mọi cách phải đến Phú Yên để ngắm cảnh và chụp ảnh tại Ghềnh Đá Đĩa là một quyết định đúng 100% các bác. Và cũng phải cám ơn ông Trời đã thương tình mà ngừng mưa đúng lúc giùm cho nửa, vì vậy hôm nay ai cũng được ngắm cảnh đã đời và chụp hình thật là thỏa mãn quá xá cở! Nhưng bây giờ thì chúng tôi phải cất niềm vui này sang một bên mà lưu luyến từ giả GĐĐ để còn thu xếp lên đường đi Pleiku vào lúc 12:30 trưa.

Trước khi rời Tuy Hòa Phú Yên, trên đường đi Cậu Quang còn ngừng lại cho chúng tôi được xem Nhà Thờ Mằng Lăng nửa. Nhà thờ này nằm cách thành phố Tuy Hòa 35km về phía Bắc, với lịch sử hơn 120 năm tồn tại (đã xây dựng vào năm 1892), nhà thờ Mằng Lăng được coi là nhà thờ cổ nhất của tỉnh Phú Yên, và là một trong những nhà thờ lâu đời nhất của Việt Nam với kiến trúc phương Tây hết sức đặc biệt. Điểm nổi bật nhất của nhà thờ chính là lối kiến trúc Gothic đặc sắc đã có từ cách đây khoảng 1200 năm trước Công Nguyên. Theo các bậc cao niên ở An Thạch thì cách đây hơn 100 năm khu vực An Thạch này dân cư thưa thớt, đất đai phần nhiều bị cây rừng phủ kín trong đó có một loại cây mọc rất nhiều, loại cây này có tán phủ rộng, lá cây hình bầu dục, hoa mọc từng chùm nở ra màu tím hồng được gọi là Mằng Lăng. Hiện dấu vết khu rừng mằng lăng ấy đã không còn, nhưng ngôi nhà thờ vào thời điểm ấy đã được đặt tên theo loại cây quý này. Tại ngôi nhà thờ cổ này hiện nay vẫn còn đang giữ cuốn sách đầu tiên được in bằng tiếng Việt, đây là quyển giáo lý "Phép giảng tám ngày" của Linh mục Đắc Lộ - người đã khai sinh ra chữ quốc ngữ ở Việt Nam. Cuốn sách được trưng bày dưới một khu hầm nhỏ trước sân nhà thờ, khu hầm được xây dựng khá kỳ công trong lòng một quả đồi giả. Bên trong hầm có nhiều điêu khắc chạm trổ kể lại những câu chuyện về thánh Andrê Phú Yên một trong những vị tử đạo, bổn mạng của giới trẻ Công giáo. Nhà thờ hiện nay cũng là nơi hành hương vào dịp lễ kỷ niệm Chân phước Andrê Phú Yên và thánh lễ cầu cho giới trẻ Công giáo Việt Nam. Cuốn sách được giữ trang trọng một cách đặc biệt trong một hộp kính, sách được in vào năm 1651 tại Roma. Rất tiếc là vì trời đang mưa và cũng phải rời Phú Yên một cách gấp rút để đi Pleiku cho kịp giờ nên chúng tôi chỉ kịp ghé ngang chiêm ngưỡng nhà thờ rồi chụp vài tấm ảnh, không được vào thăm viếng bên trong nhà thờ cũng như không được tận mắt xem cuốn sách cổ của cha Đắc Lộ còn được lưu giử tại đây.

Trên đường ra quốc lộ 1A để quay lại Quy Nhơn thì trời bắt đầu mưa .... ngồi trên xe mọi người ai nấy đều căng thẳng, mắt trước mắt sau canh chừng Cậu Lý tài xế để kềm không cho cậu này "đánh vỏng" vì sợ xảy ra tai nạn nguy hiểm khi xe qua đèo An Khê.

Đèo An Khê là đèo núi, cao 740m, dài 10 km nằm trên Quốc Lộ 19 trên đường từ Quy Nhơn (Bình Định) đi Pleiku (Gia Lai). Đèo nằm trên địa phận của huyện Tây Sơn (Bình Định) và thị xã An Khê, (Gia Lai). Đây là con đèo dài và nguy hiểm nhất trên tuyến đường của quốc lộ 19 nối liền hai tỉnh Bình Ðịnh và Gia Lai . Ngày xưa, đèo này gọi là đèo Mang (theo tiếng Ba Na có nghĩa là cửa, ngõ). Vào thời gian người Pháp tiến hành xây dựng để mở mang cho đèo được rộng hơn trên quốc lộ 19 như ta nhìn thấy hiện nay thì đèo bắt đầu được gọi là An Khê. Ðèo An Khê ngày trước là một con đường núi quanh co, khúc khuỷu, có nhiều hang hóc, vách đá chắn ngang hiểm trở. Tuy bây giờ đã được mở rộng, nhưng đèo An Khê vẫn còn có những cái "ngoẹo" khá nguy hiểm như ngoẹo Cây Khế, ngoẹo Ðồng Tiến, ngoẹo Hang Dơi... Mỗi cái "ngoẹo" trên đây đều gắn liền với nhiều giai thoại lịch sử cũng như những tai nạn xe cộ thảm khốc sau này.

Nhờ phước của ông bà phù hộ và cũng nhờ mọi người nhắc nhở, kềm kẹp cậu Lý không ngừng, nên xe chạy êm xuôi không một trở ngại nào mặc dù đường đi quanh co vòng qua vòng lại, lên lên xuống xuống trên đèo giữa trời mây mờ mịt và mưa gió tơi bời các bác ạ. Vào khoảng 4 giờ 30 thì xe đã qua khỏi đèo An Khê và thẳng đường tới thành phố Pleiku của tỉnh Gia Lai. Đến lúc này thì mọi người đều thấy khỏe, thấy hết căng thẳng khi đã qua khỏi

con đèo An Khê và xe đã bắt đầu chạy trên đường trường đồng bằng, đến khoảng 7:15 pm thì chúng tôi bắt đầu vào gần tới trung tâm thành phố.

Trời cũng đã tối, nên trước khi check in vào khách sạn tại trung tâm thành phố, cậu Quang cho mọi người ghé vào tiệm Cơm Lam, Gà Rừng & Thịt Heo Rừng Nướng. Đây là một quán chuyên về các món đặc sản của vùng Cao Nguyên do một người dân tộc làm chủ. Đường xa, bụng lại đói vì trưa nay chỉ có mỗi khúc bánh mì và mấy miếng phô mai nên ai ăn cũng thấy lạ và ngon miệng.

8:30 pm thì chúng tôi check in vào Hoàng Anh Gia Lai Hotel tại số 01 đường Phù Đổng. Khách sạn nhìn sang trọng, phòng ốc rộng rãi, sạch sẽ và rất đẹp. Sau một ngày trời dong ruỗi đường trường với nhiều lo lắng căng thẳng vì thời tiết bất thường, nên bây giờ mọi người đều nhanh chóng thu xếp cho thật lẹ để còn .... kềnh một giấc lấy lại tinh thần cho sáng mai còn .... đi tiếp!

Viết xong ngày April 8-2019 lúc 10:00 pm

Bài kế tiếp: Gia Lai - Kontum - Đập thủy điện Ialy - Cầu treo Kon Klor - Nhà Rông - Nhà thờ gỗ Kontum - Gia Lai

 

Nam Mai ***

Tuyển tập ảnh bìa phong cảnh đẹp cho facebook

 

 

 

Tháng Tư những mất và còn

Tháng Tư những mất và còn

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

Van hoa Vietnam hải ngoại

Người Việt ở lứa tuổi 30 hay trẻ hơn ngày nay ít ai biết đến một quốc gia có tên gọi "Việt Nam Cộng hòa" đã hiện hữu trên mặt địa cầu trong 20 năm, từ 1955 cho đến ngày 30/4/1975.

Cuối tháng Tư năm 1975 khi xe tăng và bộ đội cộng sản tiến chiếm Thủ đô Sài Gòn, hàng trăm nghìn người của đất nước này đã rời bỏ quê hương ra đi trong cơn hoảng loạn. Tương lai trôi dạt về đâu và cội nguồn sẽ còn lại gì nào ai biết được.

Những ngày sống qua các trại tị nạn, lo học vài câu Anh ngữ, tìm hiểu về đời sống, phong tục nơi đất nước mới sẽ là chốn định cư. Nhưng tương lai biết có còn nét văn hoá Việt nơi xứ lạ hay không nên nhiều người đã chuyền nhau đọc những quyển sách, tập truyện, đã chép lại những vần thơ, câu ca và nghe lại lời ca tiếng nhạc từ những băng cát-sét đã theo đoàn người tị nạn đến được bến bờ tự do.

Nguyễn Thị Thụy Vũ và tâm tình ngày trở lại

'Dân Sài Gòn thẳng tính, lương thiện'

Ngay từ trong trại Camp Pendleton ở miền Nam California những băng nhạc Việt được sao chép lại như chút quà từ quê hương cũ mà người tị nạn mang theo trên đường định cư.

Trong những ba-rắc hay giữa lều trại tị nạn trên đồi cỏ khô thường nghe vang vang ca từ nhạc Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Lê Uyên Phương. Cũng có hôm nghe Vũ Thành An, Từ Công Phụng và thi thoảng mới có Trần Thiện Thanh, Anh Bằng hay Duy Khánh, Trúc Phương.

Có nhạc Việt để nghe, người tị nạn còn tìm báo tiếng Việt để đọc vì trông ngóng tin tức về tương lai định cư, về tình hình quê nhà, về thân nhân thất lạc trong hành trình vượt thoát.

Ở đảo Guam có báo Chân Trời Mới phát hành mỗi ngày. Qua đến Camp Pendleton chỉ có tờ bản tin ngắn bằng tiếng Việt.

Những sinh viên du học đem báo Thái Bình, nguyệt san của Liên hiệp Việt kiều Yêu nước tại Mỹ, một tổ chức thân cộng, vào phát thì bị đồng bào đuổi đi.

Tháng 10/1975 các trại đón tiếp người tị nạn đóng cửa sau khi 130 nghìn người Việt đã được định cư tại Hoa Kỳ.

Một trong những băng nhạc đầu tiên của Khánh Ly phát hành tại Mỹ năm 1976

Bản quyền hình ảnh Bui Van Phu
Image caption Một trong những băng nhạc đầu tiên của Khánh Ly phát hành tại Mỹ năm 1976

Chỉ vài tháng sau có trung tâm băng nhạc Việt của ca sĩ Khánh Ly ra đời đầu năm 1976 với băng nhạc "Như cánh vạc bay" gồm 16 ca khúc của Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly và tiếng đàn ghi-ta của bác sĩ Ngô Thanh Trung.

Sau có trung tâm của nhạc sĩ Ngọc Chánh, của gia đình Phạm Duy, có trung tâm Thanh Lan nhưng không phải của ca sĩ cùng tên, là những cơ sở sản xuất băng nhạc trong những năm đầu của cộng đồng người Việt tại Mỹ.

Từ đó, nền âm nhạc Việt Nam Cộng hòa dần dần được bảo tồn tại hải ngoại để phục vụ nhu cầu tinh thần của người xa xứ.

Những ca khúc một thời của Việt Nam Cộng hòa và những sáng tác mới về hành trình tị nạn, đời lưu vong đã là chủ đề của hàng nghìn băng cát-sét, CD, băng hình VCR hay DVD được hàng chục trung tâm băng đĩa nhạc sản xuất. Biết đến nhiều nhất là các sản phẩm của Thúy Nga Paris by Night và Asia.

Văn nghệ sinh viên Đại học Berkeley hôm 8/4/2017

Bản quyền hình ảnh Bui Van Phu
Image caption Văn nghệ sinh viên Đại học Berkeley hôm 8/4/2017

Đầu thập niên 1990 có những giao thoa giữa âm nhạc trong và ngoài nước. Một số ca khúc miền Nam bị cấm bắt đầu được nhà nước cho phép phổ biến.

Trung tâm Kim Lợi của Thành Hammer, dù tổ chức nhiều buổi văn nghệ với ca sĩ trong nước bị phản đối, nhưng phải công nhận ông là người có công trong việc đưa ca sĩ và nhạc trong nước ra hải ngoại và giúp cho nhiều ca khúc thời Việt Nam Cộng hòa được các ca sĩ thế hệ sau biết đến và được hồi sinh trong lòng đất nước.

Từ khi Việt Nam mở cửa đón du khách, người Việt nước ngoài về thăm quê nhà thường xuyên hơn, đông hơn và đã đem theo những văn hoá phẩm hải ngoại nên người trong nước cũng được dịp tìm lại nét văn hoá Việt Nam Cộng hòa xưa.

Ngày nay với mạng thông tin toàn cầu Internet, qua YouTube người Việt ở khắp nơi trên thế giới có thể tìm xem hay nghe những ca khúc mình yêu thích của mọi thời đại.

Sau âm nhạc, nền báo chí tị nạn cũng phát triển rất sớm tại Hoa Kỳ. Năm 1976 đã có tờ Hồn Việt, do Nguyễn Hoàng Đoan, chồng của Khánh Ly, điều hành.

Từ miền Nam California, ngoài tờ Hồn Việt còn có báo Trắng Đen của Việt Định Phương, Thức Tỉnh của Tô Văn, Người Việt của Đỗ Ngọc Yến, Đất Việt (sau đổi thành Việt Nam Hải Ngoại) của Đinh Thạch Bích, Việt Nam Tự Do của Duy Sinh Nguyễn Đức Phúc Khôi. Trong giai đoạn đầu đa số các báo là nguyệt san hay bán nguyệt san.

Từ tiểu bang Washington có tờ Đất Mới của Vũ Đức Vinh. Vùng Thủ đô Washington có Văn nghệ Tiền phong của Hồ Anh.

Năm 2000, nhân dịp kỷ niệm 25 năm người Việt định cư tại Hoa Kỳ, Trung tâm Tác vụ Đông Dương (IRAC) của giáo sư Lê Xuân Khoa có xuất bản quyển tổng mục báo chí Việt ngữ hải ngoại do ông Nguyễn Hùng Cường, nguyên giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam Cộng hòa, biên soạn.

Tiểu thuyết của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã được in lại tại Mỹ từ năm 1978

Bản quyền hình ảnh Bui Van Phu
Image caption Tiểu thuyết của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã được in lại tại Mỹ từ năm 1978

Sách xuất bản trước 30/4/1975 cũng được in lại và phổ biến rộng rãi tại hải ngoại từ cuối thập niên 1970. Những nhà xuất bản đầu tiên tại Mỹ là Đại Nam, Xuân Thu, Sống Mới và Việt Nam đã in lại cả nghìn tác phẩm từ tiểu thuyết của Duyên Anh, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Đình Toàn, Dương Hùng Cường, Nhã Ca, Trùng Dương, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Thụy Long đến sách của Hoàng Hải Thủy, Đoàn Thêm, Vũ Tài Lục, Đăng Trần Huân và nhiều tập nhạc của Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Lê Uyên Phương v.v...

Lúc mới định cư ở Mỹ, tôi cũng lo ngại cho văn chương, âm nhạc Việt Nam Cộng hòa rồi sẽ mai một đi.

Đến khi vào Đại học Berkeley, làm việc thêm trong thư viện trường và mới khám phá ra một kho sách miền Nam, trong đó có nhiều tác phẩm tôi đã đọc ngày còn ở quê nhà.

Qua hệ thống liên thư viên đại học tôi đã mượn từ Đại học Cornell nhiều tập nhạc, để từ đó trong những buổi sinh hoạt hay họp mặt các bạn sinh viên có thể ca "Nối vòng tay lớn", "Việt Nam quê hương ngạo nghễ" hay "Nghìn trùng xa cách", "Bài không tên số 2", "Còn chút gì để nhớ", "Con đường tình ta đi", "Vũng lầy của chúng ta", "Huế Sàigòn Hà Nội"…

Những đại học lớn ở Hoa Kỳ như Cornell, Yale hay Harvard, Berkeley và Thư viện Quốc hội Mỹ đều có nhiều sách báo xuất bản dưới thời Việt Nam Cộng hòa. Nhiều nhất là tại Đại học Cornell, ở đây không chỉ có sách mà còn có báo, tập san và cả báo của sinh viên học sinh.

Từ sau ngày 30/4/1975 văn hoá Việt Nam Cộng hòa đã không chết mà còn nở hoa trên đất Mỹ.

Tháng 4/1980, Hội Sinh viên Việt Nam đại Đại học Berkeley tổ chức văn nghệ "Đêm Việt Nam" đầu tiên. Chương trình có hát hò ba miền, có múa nón, múa quạt, có áo dài tứ thân với khăn mỏ quạ. Có kịch thơ "Hận Nam Quan" để phản kháng kẻ thù phương Bắc, có đàn tranh, sáo trúc, ghi-ta, dương cầm. Sinh viên đơn ca "Áo anh sứt chỉ đường tà", thi nhạc giao duyên "Áo lụa Hà Đông", đồng ca "Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời Việt Nam hai câu nói bên vành nôi…".

Hôm 8/4/2017 vừa qua, sinh viên Berkeley tổ chức văn nghệ thường niên, lần thứ 38, chủ đề "Fragments - Tìm tiếng nước tôi".

Các bạn sinh viên đã cất tiếng đồng ca: "Oh, say! can you see by the dawn's early light. What so proudly we hailed at the twilight's last gleaming… O'er the land of the free and the home of the brave?", đã cùng ca vang: "Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi. Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống…"

Sinh viên đã soạn kịch về một gia đình với người cha sau ngày 30/4/1975 bị tù đày trong các trại học tập cải tạo rồi đến Mỹ định cư. Đó là bi kịch mà nhiều người dân Việt đã phải đối mặt sau khi đất nước tưởng sẽ hòa bình, oán thù sẽ tan. Đến Mỹ, cô con gái sinh ra sau chiến tranh muốn tìm hiểu về cuộc đời cha mẹ từng trải và về cội nguồn.

Các bạn đã cất tiếng hát ca ngợi tình cha, xen trong những màn múa lụa, múa nón, múa quạt, múa lân, bên cạnh những tà áo dài, áo bà ba, tiếng đàn tranh, ghi-ta, tiếng dương cầm.

Nhìn lại thời gian qua, từ sau dấu mốc lịch sử 30/4/1975 với mất mát là không gian tự do sáng tác trên đất Việt, nhưng còn lại vẫn là những tác phẩm văn học, những lời ca tiếng nhạc đã lắng sâu trong lòng nhiều người Việt.

Dù ngăn cấm và đã có những chiến dịch càn quét, nhưng văn hoá Việt Nam Cộng hòa đã không mất đi mà còn được yêu thích cho đến hôm nay.

Bài thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả, một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California.

‘Nhạc chiều 29 Tháng Tư’: Nỗi đau của những người mất nước!

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

Hoạt cảnh “Cờ Vàng Lộng Gió Tung Bay,” trong “Nhạc chiều 29 Tháng Tư” tại thính đường Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

WESTMINSTER, California (NV) – “Hôm nay là chiều 29 Tháng Tư, ngày mai đánh dấu 43 năm chúng ta đã mất miền Nam Việt Nam. Nhưng 43 năm qua, chúng ta cũng đã giữ được những gì nên giữ lại cho văn hóa của dân tộc Việt, và cho nhân cách của người dân miền Nam và thể chế VNCH.”

Lời của xướng ngôn viên Trần Nhật Phong nói trong buổi văn nghệ “Nhạc chiều 29 Tháng Tư” do nhạc sĩ Nghiêm Ðông Quân và bạn bè thực hiện vào chiều Chủ Nhật, 29 Tháng Tư, 2018, tại thính đường Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu, trên đường Magnolia, Westminster.

“Đúng ngày này vào 43 năm trước, tôi chỉ là một cậu bé còn ngơ ngác chưa biết chuyện gì đã xảy ra cho miền Nam Việt Nam. Nhưng rồi thời gian trôi dần, và những gì mà chúng tôi cảm nhận được sau 1975; những gì mà chúng tôi đã bị phân biệt về cách đối xử của chế độ Cộng Sản đối với các con em của các cựu quân nhân trong QLVNCH; và những gì đã xảy ra khi mà chúng tôi tìm đường vượt biển,” Trần Nhật Phong chia sẻ thêm.

Trong phần giới thiệu về một nhạc sĩ, cũng theo ông Phong, cùng trong chiều hướng đó, từ năm 1965, anh là người đã khơi dậy lòng yêu nước của các cựu sinh viên; người đã tạo ra phong trào ca hát của sinh viên học sinh với danh xưng “Nguồn Sống.” Rồi sau đó, anh đã hoạt động rất mạnh trong lãnh vực văn nghệ, đồng thời anh cũng là một kỹ sư công chánh.

Thời gian trôi qua, sau 1975, cũng như nhiều người khác, anh phải trả giá trong những nhà tù của Cộng Sản. Nhưng, những sáng tác của anh vẫn không dừng lại; vẫn bùng phát ngay cả trong nhà tù.

Khi đến Hoa Kỳ, trong những năm của thập niên 90, anh đã sinh hoạt rất thân cận với đồng hương, và đã đóng góp rất nhiều cho sự xây dựng văn hóa trong cộng đồng của người Việt tại hải ngoại.

Hoạt cảnh “Vá Cờ Tổ Quốc” trong “Nhạc chiều 29 Tháng Tư” tại thính đường Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

“Chúng tôi muốn nói đến một người, tên của anh là Nghiêm Phú Phát. Lúc ở trong tù, khi anh viết nhạc đấu tranh anh lấy tên tác giả là Nghiêm Đông Quân. Rồi thời gian gần đây, tâm linh của anh đã chuyển hướng về viết những ca khúc Phật ca nhiều hơn và có tên là Tâm Nguyện,” Nhật Phong giới thiệu tiếp.

Mở đầu chương trình văn nghệ là hoạt cảnh “Vá Cờ Tổ Quốc” dựa trên bài thơ của Ngô Minh Hằng với tiếng hát của Vũ Hùng do chính tác giả hát và phần phụ diễn của ca sĩ Lan Hương, và bài “Cờ Vàng Lộng Gió Tung Bay,” với ban tam ca Hoài Hương, gồm Vũ Hùng, Xuân Thanh và Lan Hương cũng do Vũ Hùng sáng tác. Hai hoạt cảnh này đã hâm nóng tinh thần đấu tranh chống cộng sản của đồng hương trong những ngày của Tháng Tư Đen tại Little Saigon.

Bài nhạc “Đừng Nghe, Hãy Nhìn” của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát, do chính tác giả trình bày, như để nhắc nhở đến mọi người về câu nói để đời của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà hãy nhìn những gì Cộng Sản làm.”

“Ca khúc này tôi viết vào năm 1976, tức là khi tôi bị vào trại tù Cộng Sản hơn nửa năm. Trong thời gian này, có lúc anh em bạn tù có ngồi lại bên nhau, và nói với tôi rằng, ‘Phát ơi! có câu nói nào mà được để đời không?’ Thì anh em chúng tôi đồng ý là lời của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sẽ để đời. Sau đó, tôi đã hát bài nhạc này nhiều lần trong trại tù. Và từ đó cho đến bây giờ, tôi chưa bao giờ hát lại tại nước Mỹ. Nhưng, hôm nay, vào những ngày cuối đời của tôi…,” nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát xúc động tâm tình sau khi ông hát bài nhạc này.

Bài nhạc “Đừng Nghe, Hãy Nhìn” của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát, do chính tác giả trình bày, trong “Nhạc chiều 29 Tháng Tư” tại thính đường Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Lý do tại sao anh tổ chức “Nhạc chiều 29 Tháng Tư”? Để trả lời câu hỏi của Trần Nhật Phong, nhạc sĩ Nghiêm Đông Quân cho biết: “Một số bạn cùng tù với tôi hỏi: ‘Lúc cậu ở tù, cậu viết những bài hát để cho chúng tôi nghe, và từ những bài hát đó chúng ta đã làm một số công việc. Nhưng suốt thời gian sang Mỹ đến giờ, chúng tôi không được nghe, là tại sao?’ Đó là lý do tại sao hôm nay tôi lại tổ chức buổi hát này.”

Một câu hỏi nữa: “Anh là người đã trải qua một giai đoạn lịch sử cũng như những người lớn tuổi khác. Vậy, trong buổi hát này, cảm xúc của anh như thế nào?” Nhạc sĩ trả lời: “Như mọi người đã thấy nỗi cảm xúc của tôi rất nặng. Vì nỗi cảm xúc này là nỗi cảm xúc của tất cả những người mất nước. Chỉ có điều là, người này chỉ để yên và người kia thì nuốt trong lòng mình. Tôi chỉ biết nói thế thì cũng đủ lắm rồi.”

Theo nhạc sĩ kể, thi sĩ Nguyễn Thanh Châu, bạn của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát, có nói: “Sài Gòn ơi! ta sẽ trở về. Sài Gòn ơi! ta phải về như đã hẹn lời thề,…” câu này như nói lên tâm trạng của nhiều người Việt xa xứ. Và, từ ý nghĩa đó, nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát đã soạn ra bài nhạc: “Hẹn Thề Cùng Sài Gòn” do ban tam ca Hoài Hương đồng hát cùng giọng bè của nhạc sĩ.

Có mặt trong buổi ca nhạc, Bác Sĩ Nghiêm Phú Francis tức nhạc sĩ Nghiêm Phú Phương, anh ruột của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát. Bác sĩ có mặt để có niềm cảm xúc vui mừng khi được nghe và thấy buổi nhạc do em mình tổ chức vào những ngày tháng cuối đời của ông và của người em mình. Được biết, tiếng đàn đầu đời của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát là do sự hướng dẫn của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phương và cố nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi, nguyên Giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn trước 1975, là anh cả của hai nhạc sĩ này.

Từ trái, MC Trần Nhật Phong, nhạc sĩ Nghiêm Phú Phương và nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát, trong “Nhạc chiều 29 Tháng Tư” tại thính đường Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Chương trình được tiếp nối với những tiếng hát Hoàng Đình Ngoạn, Diệu Trang, Văn Dũng, Ái Liên, Trương Minh Cường, Lâm Dung, Phương Lan, Thu Vân, Ngọc Bích, Ngọc Hoa, Kỳ Hương, Bích Liên, Phạm Tuấn,… Hợp cùng tiếng đàn piano của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát và ngón đàn guitar của nhạc sĩ Nguyễn Đình Thư, con trai của nhà văn Nguyễn Đình Toàn.

Một trong những tiếng hát, cô Diệu Trang, thành viên trong ban Hương Thiền bày tỏ: “Trong buổi ca nhạc này, khi nghe những bài nhạc mà thầy Nghiêm Phú Phát đã cất giữ từ lâu, và đến bây giờ thầy mới hát cho mọi người cùng nghe trong thính phòng này, thì mình mới thấy một điều mà trong đạo Phật có nói là có có không không, và ở đời mọi sự nó đều biến chuyển như một khoảng đời mà thầy đã trải qua.”

Trong số khán giả đến dự, bà Suzanne Nguyễn, cư dân Santa Ana, định cư tại Hoa Kỳ 1993, chia sẻ: “Tôi là một trong những đồng hương tị nạn Cộng Sản cùng gia đình sang định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. Vì ba của tôi cũng là một sĩ quan trong QLVNCH. Cho nên trong máu của tôi cũng là huyết thống của những chiến sĩ tranh đấu vì đại nghĩa. Trong chương trình ca nhạc này, với những ca khúc đấu tranh và những giọng ca không chuyên nghiệp, nhưng họ đã hát bằng tấm lòng yêu dân tộc và quê hương của mình. Vì thế đối với tôi, đây là một chương trình ca nhạc rất có ý nghĩa trong dịp kỷ niệm Quốc Hận 30 Tháng Tư.”

Nhà văn Chu Tất Tiến cũng có mặt và tâm tình: “Khi thấy trong phòng hội đầy lá cờ vàng tung bay trên tay của khán giả, và những bài nhạc đấu tranh của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát cũng như những bài nói về sự mất mát của dân tộc và quê hương Việt Nam, làm tôi rất cảm động.”

“Nhạc chiều 29 Tháng Tư” trong hội trường nhỏ của Thư Viện Toàn Cầu, tuy nhỏ, nhưng đủ chứa đựng những tâm hồn còn nghĩ đến nỗi đau của dân tộc và đất nước trong những ngày của Tháng Tư Đen. Nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát hay Nghiêm Đông Quân đã đưa khán giả về hồn quê hương, dân tộc và những nỗi đau quặn thắt của những đồng bào ruột thịt còn trong nước.

 

Hồng Vân sưu tầm

 

 

Theo dõi RSS này