Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1340)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (75)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (70)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (362)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

MỘT CHÚT TÌNH PHAN THIẾT NGÔ ĐÌNH MIÊN

MỘT CHÚT TÌNH PHAN THIẾT

NGÔ ĐÌNH MIÊN

Ta Cu Mountain - Phan Thiet Attractions

Phan Thiết – thành phố nhỏ ven biển xinh xắn này, trôi theo dòng thời gian, đã thành kỷ niệm khó quên cho nhiều người thuộc nhiều thế hệ, có thể là con dân của Phan Thiết, sinh ra và lớn lên ở đây hoặc không là gì với Phan Thiết. Kỷ niệm đó có thể là sự gắn bó hữu hình hoặc chỉ là vô ảnh, nhưng tất cả đều hằn sâu dấu vết trong ký ức của họ…
Đối với hoàng thân Souphanouvong , khi còn tại thế, chắc ông không thể nào quên được hình ảnh Tháp Nước Phan Thiết (Château d’eau) được xây dựng đúng theo bản vẽ thiết kế chứa nhiều tâm huyết của mình (1). Một công trình được giới kiến trúc đánh giá là đẹp và độc đáo nhất trong các tháp nước được xây dựng ở Việt Nam. Cách nay mấy năm, có một nhóm sinh viên Lào theo học ở Học viện chính trị quốc gia (Hà Nội) đi thực tế ở Phan Thiết, tình cờ gặp tôi trong một bữa nhậu nơi quán cóc bên bờ sông Cà Ty. Khi tôi chỉ Tháp Nước và giới thiệu đây là công trình kiến trúc do kiến trúc sư Hoàng thân Souphanouvong thiết kế và được khởi công xây dựng vào năm 1928, các sinh viên Lào hết sức bất ngờ, trố mắt ngạc nhiên. Họ không thể nào tưởng tượng được rằng ở một nơi xa xôi trên đất nước Việt Nam, lại ghi đậm dấu tích thật đẹp đẽ của vị nguyên chủ tịch nước của họ, một nhân cách lớn, mà nhân dân các bộ tộc Lào hết sức kính yêu. Và có lẽ đây cũng là một chút tình khó quên của các em sinh viên Lào đối với Phan Thiết, Việt Nam.
Chắc rằng trong những ngày vật vã với cơn bệnh trầm kha cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng, bóng dáng thướt tha của người con gái Phan Thành có tên Mộng Cầm kia cùng với Lầu Ông Hoàng mơ mộng những đêm trăng tàn, trăng rạng, nhà thơ “điên” Hàn Mặc Tử cứ khôn nguôi nhớ về một mối tình vô vọng:

“Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng
Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết
Ôi trời ôi! là Phan Thiết Phan Thiết…
(Phan Thiết Phan Thiết- Hàn Mặc Tử)

Với Hữu Thỉnh thì lại khác. Trước năm 1975, nhà thơ chưa hề làm quen với Phan Thiết và nếu có biết chắc cũng chỉ hiểu đơn giản đó là địa danh cuả một thị xã miền Trung bình thường như Phan Rang, Tuy Hòa. Nhưng… khi nhận được tin anh trai mình hy sinh vào năm 1973 tại Phan Thiết (năm 1975 mới biết tin) và sau nhiều lần cố công đi tìm nhưng vẫn không thấy được hài cốt của anh, năm 1981, ông viết bài thơ “Phan Thiết có anh tôi”:

“… Anh không giữ cho mình dù chỉ là ngọn cỏ
Đồi thì rộng anh không vuông đất nhỏ
Đất và trời Phan Thiết có anh tôi…
Em đã qua những cơn sốt anh qua
Em đã gặp trận mưa rừng anh gặp
Vẫn không ngờ có một trưa Phan Thiết
Em một mình đứng khóc ở sau xe…”

Nhà thơ Hữu Thỉnh hẵn sẽ không thể nào quên Phan Thiết được, vì một lẽ hiển nhiên: “Phan Thiết có anh tôi”.
Phan Thiết cũng là nơi đã từng sản sinh những nhạc sĩ tài hoa có bài hát để đời, như: Minh Quốc (bài hát “Tình đồng chí”), Nguyễn Hữu Thiết (bài “Gởi người tôi yêu”), như Dzũng Chinh (các bài “Những đồi hoa sim”, “Tha La xóm đạo”)… và Trần Thiện Thanh, tức ca sĩ Nhật Trường với những nhạc phẩm nổi tiếng một thời và hiện nay vẫn đang được các ca sĩ hát thu vào đĩa CD, DVD, như: Hoa biển, Chiếc áo bà ba, Hàn Mặc Tử…
Cách nay mấy năm, ngành có chức năng quản lý về văn hóa và du lịch thực hiện thu âm đĩa CD tuyển chọn những bài hát hay về Bình Thuận, nhằm mục đích quảng bá văn hóa Bình Thuận đến với mọi người trong cả nước, trong đó có mục tiêu phát triển du lịch của tỉnh.
Rất tiếc là những người tuyển chọn đã không chọn một bài bài hát gắn với Bình Thuận mà cho đến nay (và có lẽ cả mai sau- tôi nghĩ như vậy) hầu như ai cũng đã ít nhất một lần nghe qua, vẫn còn nhớ và còn hát (nhất là hát karaoke và trong các cuộc liên hoan, giao lưu văn nghệ, kể cả trong các bữa nhậu…). Đó chính là bài“Hàn Mặc Tử” của Trần Thiện Thanh:

“Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa.
Lầu Ông Hoàng đó thuở nao chân Hàn Mặc Tử đã qua.
Ánh trăng treo nghiêng nghiêng bờ cát dài thêm hoang vắng.
Tiếng chim kêu đau thương như nức nở dưới trời sương.
Lá rơi rơi đâu đây sao cứ ngỡ bước chân người.
Tìm về nửa đêm buồn…”.

Nhiều người khi nhắc đến bài hát này, đôi lúc quên tựa, thường gọi đó là bài “Đường lên dốc đá”. Chắc tác giả bài hát này cũng không cần có tên mình trong tuyển tập. Cần hơn có lẽ chính là những người bình thường nhưng yêu mến quê hương Phan Thiết, Bình Thuận. Đối với ngành du lịch, ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, không vì vậy mà bị thiệt thòi về doanh thu. Nhưng, nếu bài hát đó càng được hát lên, vang xa chừng nào thì cụm di tích được xem là một trong những địa chỉ du lịch điểm nhấn của Bình Thuận: Lầu Ông Hoàng và Tháp Chăm Pôsahanư, càng thêm nổi tiếng, càng được nhiều người biết đến, đồng nghĩa với việc thu hút nhiều thêm khách du lịch đến với Bình Thuận.
Ngay tại địa điểm du lịch này, tôi đã từng gặp những em nhỏ bán đĩa CD lậu có bài hát “Hàn Mặc Tử” mời chào mua giúp. Một đôi lần, nhân những ngày có trăng thượng tuần, vào thời khắc giao hòa giữa ngày và đêm, tôi cùng một vài người bạn đem theo rượu lên đỉnh đồi Bà Nài, trên đoạn đường dẫn vào Tháp Pôshanư, cách lâu đài đổ nát của ông hoàng người Pháp Ferdinand d'Orléans, Công tước De Montpensier, cháu nội vua Louis-Philippe I về hướng Đông vài trăm mét (2) và gần đồi Ngọc Lâm, nơi yên nghỉ giữa thiên nhiên của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông.
Nhìn về phía Tây Nam là trung tâm thành phố Phan Thiết đang dần lên đèn, vẫn còn thấy rõ được con sông Cà Ty mềm mại, duyên dáng chảy ngang qua thành phố. Chúng tôi uống rượu tới khuya. Trong cơn ngà ngà say, nhìn lại phía sau lưng mình là cả một “thành phố của bóng tối” – Nghĩa trang Phan Thiết. Những ngôi mộ gần con đường du lịch Phan Thiết – Mũi Né phản chiếu ánh sáng từ những ngọn đèn đường cao áp làm rực lên màu của cõi bình yên lặng lẽ. Tôi lẩn thẩn tưởng tượng ra hình ảnh, chàng thi sĩ trẻ tuổi Hàn Mặc Tử, tay trong tay cùng nàng thơ Mộng Cầm lãng mạn đi những bước ngập ngừng vào giữa những hàng mộ đang sáng lên kia rồi xa khuất dần vào bóng đêm của thế giới vĩnh hằng. Có lẽ tôi cũng muốn “điên” như Tử chăng? Bỗng nghe bạn tôi khe khẽ cất lên lời hát giữa mênh mông tưởng nhớ chàng thi sĩ si tình bạc mệnh:“Đường lên dốc đá nhớ xưa hai người đã một lần đến. Tình yêu vừa chớm xót thương cho chàng cuộc sống phế nhân…Lầu ông Hoàng đó, thuở nào chân Hàn Mặc Tử đã qua. Ánh trăng treo nghiêng nghiêng, bờ cát dài thêm hoang vắng… ”
Vườn Bông Tháp Nước một thời đã gắn bó với nhiều thế hệ người Phan Thiết, đặc biệt là lớp thanh thiếu niên học sinh. Vườn Bông lúc ấy được phủ rợp bóng mát của một loài cây duy nhất: cây vông nem. Đây là nơi thường xuyên diễn ra sinh hoạt cộng đồng của các nhóm Du ca, Hướng đạo sinh, Gia đình Phật tử, Hồng thập tự… vào các ngày chủ nhật hoặc ngày nghỉ lễ. Cũng chính tại nơi đây, lúc còn niên thiếu, các ca sĩ mà sau này thành danh lừng lẫy một thời trên đất Việt, đã từng sinh hoạt theo nhóm, tập hát, tổ chức thi hát như: Nguyễn Hữu Thiết, Ngọc Cẩm, Thanh Thuý, Nhật Trường, Mỹ Thể, Trúc Mai, Anh Khoa, Phương Đại…
Đặc biệt là vào mùa xuân, mùa bông vông trổ. Hàng ngàn chùm hoa hình sao tạc lên trời xanh vào thời khắc bình minh thành những đóm sáng đỏ rực rỡ như mặt trời vừa ló dạng. Các nữ sinh áo dài thướt tha đi bộ theo từng tốp như những đàn bướm cánh trắng, vô tư đến trường, vừa đi vừa nói chuyện ríu rít như chim, ngang qua Vườn Bông, bước chân vô tình dẫm lên xác bông vông rơi dầy trên đường Nguyễn Hoàng (đường Lê Hồng Phong bây giờ) như tấm thảm đỏ…
Có nhà thơ, đã ghi nhận hình ảnh trên đây bằng mấy câu thơ đẹp:

Lịch sử hình thành - Trang web du lịch Mũi Né - Phan Thiết

“Thương hàng cây cũ Vườn Bông
Mùa bông vông nở rực hồng bình minh
Thương em gái nhỏ vô tình
Bước lên hoa đỏ lặng thinh tới trường”.

Hình ảnh đó đã thành kỉ niệm của những người đã sống, đã yêu thành phố này. Với riêng tôi, màu đỏ thắm như máu của bông vông trong Vườn Bông Phan Thiết đã khắc ghi vào kí ức của mình không bao giờ có thể phai mờ được. Nhà thơ Phan Bình, sinh ra và lớn lên ở Phan Thiết, sau kháng chiến trở về, ông thấy những cây vông già trong Vườn Bông mục ruỗng từ trong gốc, không người chăm sóc, đã lần lượt chết dần rồi biến mất, ông rất buồn và luyến tiếc. Thương nhớ bông vông, ông đã cùng với một số văn nghệ sĩ cao tuổi có chung tình yêu bông vông đỏ ở Phan Thiết, thành lập nên “Nhóm thơ Bông Vông” , sinh hoạt như một câu lạc bộ. Đến nay, các thành viên lão thành của nhóm thơ đã lần lượt ra đi mãi mãi mà ước nguyện được một lần nhìn thấy lại màu đỏ thắm của bông vông trên Vườn Bông kỉ niệm không bao giờ có được nữa…
Để làm dấu chấm dừng lại của bài viết này, tôi xin mượn mấy câu thơ của Trần Vấn Lệ (3), một nhà thơ sống xa quê, luôn đau đáu khôn nguôi nhớ về Phan Thiết:

Hè rồi… Phan Thiết đỏ hoa vông,
Tôi ở xa xôi nhớ quá chừng!
Nhớ chỗ mình sinh, mình được lớn,
Một thời thơ dại vượt con sông.
Con sông đầy xác hoa vông rụng
Quấn quyện chân cầu không muốn trôi…
Mà biết bao nhiêu người bỏ xứ,
Đi đâu? Có thể cuối chân trời!
Phan Thiết của tôi và của bạn,
Sáng nay ai nói rất buồn hiu.

Tôi ngồi với bạn bên hè phố,
Khuấy cốc cà phê tưởng thấy chiều!
Chút khói chiều vương vương hoa vông.
Phan Thiết khi không nhớ não nùng.
Xe ngựa cọc cà đi cọc cạch,
Bạn buồn khuấy mãi muỗng koong koong…
Đó, hồi Phan Thiết còn xe ngựa,
Con ngựa đôi khi hí giữa đường.
Giờ, giữa đường đây, trời đất khách.
Thuốc tàn mấy điếu khói vương vương…”
(Mùa vông Phan Thiết cũ) ./.


 (1): Tháp nước Phan Thiết được khởi công xây dựng vào cuôí năm 1928 và hoàn thành vào đầu năm 1934, do kiến trúc sư Hoàng thân Souphanouvong   thiết kế, khi ông đảm nhiệm chức kiến trúc sư trưởng Khu công chánh Nha Trang, do nhà thầu Ưng Du đảm trách. Đây là kiến trúc độc đáo nhất trong những công trình tháp nước ở Việt Nam. Trên thân tháp có những chữ "U.E.PT" (viết tắt của "Usine Des Eaux de Phan Thiet") được ghép bằng các mảnh sứ chén kiểu ngày xưa theo lối viết chữ hình tròn chạy quanh tháp nước.
(2): Cái tên Ferdinand d'Orléans, Công tước De Montpensier, cháu nội hoàng đế Pháp chính là nguồn gốc của địa danh Lầu Ông Hoàng ngày nay. Vào năm 1911, Công tước De Montpensier qua Việt Nam du lịch và săn bắn. Nhìn thấy phong cảnh tại những ngọn đồi phía Đông Phan Thiết rất đẹp, đứng ở đây có thể phóng tầm mắt về phía Nam chừng 1 km, thấy rõ những ngọn sóng biển lao xao. Ông đã mua lại từ nhà cầm quyền Pháp ở Bình Thuận (công sứ Garnier) quả đồi Bà Nài, chọn mảnh đất rộng ở độ cao cách mặt biển 107m, gần Tháp Pôshanư về hướng Đông chừng 500 m để xây dựng biệt thự, làm nơi nghỉ ngơi trong các kỳ săn bắn và du lịch sau này. Gần biệt thự còn có các nhà hàng, khách sạn phục vụ cho giới thượng lưu. Toàn bộ cụm 5 ngọc đồi quanh biệt thư của Công tước De Montpensier, sau đó được gọi chung là Lầu Ông Hoàng. Đây là nơi tạo nên huyền thoại về mối tình thơ lãng mạn Mộng Cầm- Hàn Mặc Tử, đã làm tốn biết bao giấy mực của người đời sau. Ngày 21-2-1911 biệt thư được xây dựng, nền móng được xây bằng đá xanh, cao 2m, với 15 bậc cấp lên xuống, sàn nhà lót gạch bông, phía dưới nền là hệ thống những bể chứa nước mưa lien kết nhau, chung quanh đúc bê tông, có máy bơm dẫn nước lên một lầu nước cao phiá sau, đủ dùng quanh năm suốt tháng. Nóc nhà lợp bằng đá phiến xanh được chở từ Pháp sang, vừa đẹp lại không sợ bị gió biển làm tróc mái.

Những “con mắt” của biển đảo
Biệt thự có diện tích 536m2, gồm 7 phòng ngủ và 6 phòng dành cho khách, phòng thết tiệc… Phòng nọ tiếp với phòng kia qua hành lang có mái che. Bên trong các phòng kể cả tiền đình được trang trí sang trọng, tiện nghi. Giường ngủ, bàn ghế, tủ đều đóng bằng loại gỗ quý. Riêng giường có nệm, chân giuờng gắn gù đồng. Có đường trải đá từ dưới chân đồi chạy quanh co, lối vào trước sảnh đường có trồng cây giữ bóng mát cho biệt thự. Bên ngoài tường rào được thả dây leo ăng- ti- gôn nở hoa màu hồng rực rỡ. Ngoài ra còn có nhà máy phát điện riêng, nhà để xe, chuồng ngựa, nhà bếp, nhà tắm, bể chứa nước.
Sau ngày khánh thành, chủ nhân ông Ferdinand D’orléans chính thức đặt tên ngôi biệt thự của mình là ‘NID D’AIGLE’ tức là Tổ Chim Ưng.
Hiện nay, dân du lịch (kể cả người địa phương), phóng viên các đài truyền hình (cả trung ương và địa phương), các báo viết và báo mạng cả nước vẫn lầm tưởng cụm lô cốt của Pháp và chế độ cũ để lại cách Tháp Chăm Pôshanư về hướng Nam khoảng 100m là ngôi biệt thự Lầu Ông Hoàng. Vì vậy, hiện nay hình ảnh biệt thự được đưa lên đài và báo là một lô cốt khá cao, nham nhở vết đạn. Việc này cần phải điều chỉnh lại cho đúng. Vị trí chính thức của ngôi biệt thự Lầu ông Hoàng nằm cách Tháp Chăm khoảng 500 mét về hướng Đông, và gần với mộ cụ Nguyễn Thông. Di tích ngôi biệt thự đã bị cây bụi bao phủ và người dân địa phương lấn chiếm một phần.

 

M ột đôi lần, nhân những ngày có trăng thượng tuần, chọn thời khắc giao hòa giữa ngày và đêm, tôi cùng một vài người bạn thân lên Lầu Ông Hoàng uống rượu. Trên đoạn đường dẫn vào quần thể Tháp Chăm Phố Hài(1) (nay gọi là Tháp Pô Sah Inư), trải giấy báo xuống đất, chúng tôi ngồi giữa đỉnh đồi Bà Nài. Về hướng Đông, cách vài trăm mét là lâu đài đổ nát của ông hoàng Ferdinand d’Orléans, Công tước De Montpensier(2), cháu nội của hoàng đế Pháp Louis-Philippe I. Kế bên là ngọn đồi Ngọc Lâm, nơi yên nghỉ thiên thu giữa sơn thủy hữu tình của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông(3). Từ độ cao trên một trăm mét so với mặt biển này, nhìn về phía Tây Nam là trung tâm thành phố Phan Thiết đang dần lên đèn, vẫn còn thấy rõ được Tháp Nước(4) đứng lặng lẽ gần trăm năm nay bên bờ con sông Cà Ty duyên dáng, mềm mại chảy ngang qua thành phố.

 CHAM POSHANU TOWER IN PHAN THIET CITY

Tháp Pô Sah Inư (thực ra là tháp thờ thần Shiva, vì đền thờ công chúa Pô Sah Inư đã bị sụp đổ hoàn toàn từ lâu nằm gần sát vị trí tháp), như một “chứng nhân” của lịch sử, một biểu tượng kiên cường không chịu khuất phục của con người trước thiên nhiên, nơi ngụ của thần Shiva, là một trong ba ngôi tối linh của Ấn Độ giáo, vừa là thần huỷ diệt, vừa là thần sáng tạo; bởi theo quan niệm Ấn Độ giáo, huỷ diệt chỉ là hành động tất yếu để đi đến sáng tạo. Phải chăng vì vậy mà khi công chúa Pô Sah Inư gặp duyên tình oan trái vì khác tôn giáo với lãnh chúa Pô Sahaniempar theo đạo Hồi ở vùng đất Hamu Kăm (Ma Lâm ngày nay), thần Shva giữ đúng nguyên tắc của mình, không can dự vào, mặc cho công chúa chịu đau khổ đến cuối cuộc đời. Và có lẽ cũng chính từ hủy diệt mà sinh ra sáng tạo, nên đã giúp cho công chúa toàn tâm tập trung vào việc lớn của cộng đồng là xây dựng các công trình thủy lợi và dạy dân làm nông nghiệp. Vào thế kỷ 15, nhân dân tôn công chúa Pô sah Inư là thần, lập đền thờ; tuy đã trở thành phế tích mấy trăm năm nay, nhưng hằng năm, bà con người Chăm thuộc vùng Hamu Kăm xưa vẫn thường xuyên về làm lễ thành tâm cầu an, cầu mưa: “Từ ngày thành đất, thành người/ Thành cây lúa, có thần trời Sa Nư…/ Xin Ngài về hưởng lễ cho/ Để dân cầu được ấm no, an bình” (trích bài tụng ca cúng thần Pô Sah Inư dịch ra lời Việt). Công chúa Pô Sah Inư vẫn luôn sống vĩnh hằng trong tâm thức người Chăm ở Bình Thuận, nhất là người Chăm vùng Humu Kăm của lãnh chúa Pô Sahaniempar.

Năm 1911, công tước Ferdinand de Monpensier (cháu nội vua Louis-Philippe I của Pháp) đã mua lại khách sạn Continental sau khi ông trú ngụ tại đây trong chuyến đi từ Sài Gòn đến Angkor (Campuchia). Chiếc xe mà công tước Monpensier sử dung trong chuyến đi này cũng là một trong những chiếc xe hơi đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam. Xe hơi của công tước khởi hành từ khách sạn Continental năm 1908 lên đường đi Angkor, một chuyến đi đầy cam go và gian nan vi đường xá lúc đó chưa được làm cho xe hơi chạy.

Không biết công tước De Monpensier có bị dẫn dắt bởi thần Shiva không, mà ông đã đến đây để dựng nên tòa lâu đài trong khung cảnh còn hiển hiện rõ dấu tích suy tàn của quá khứ lịch sử. Nghe dân gian truyền khẩu (không biết đúng, sai? Có thể đây là một huyền thoại mới) rằng, năm đó, trên đường đi du ngoạn, ghé lại xứ Phan, công tước làm quen với một người con gái đẹp vùng biển, rồi đem lòng yêu thương. Không thể đem người yêu về nước Pháp được, vì ông đã có gia đình riêng, ông bèn cho xây dựng lâu đài với danh nghĩa là nơi nghỉ mát và săn bắn, nhưng thực ra là nơi để ông và người yêu gặp gỡ nhau mỗi năm, sống với nhau những ngày hạnh phúc. Sau đó vài năm, người con gái Việt đó sinh hạ một bé gái xinh đẹp có gương mặt Á Đông giống mẹ. Sinh xong thì bị hậu sản mất. Công tước than khóc cho người yêu vắn số, khóc cho mối tình tử biệt. Nghe theo lời người hầu của ông, là người dân tộc Chăm, nói rằng vì công tước đã đến vùng núi do thần Shiva ngự trị, xây cất lâu đài nhưng không xin phép thần. Mặt khác, lâu đài lại áng ngay cửa quay về hướng Đông của Tháp, nên Thần đã sử dụng quyền năng của mình quở phạt công tước phải chịu mất đi một phần trái tim của mình, nhưng bù lại, đã trao cho ông một sinh linh mới mẻ (sự thể hiện quyền năng hủy diệt và sinh sản của thần Shiva chăng?). Trước khi đem đứa con gái về Pháp nuôi dưỡng, công tước cùng người hầu mang lễ vật đến cầu xin thần phù hộ cho giọt máu duy nhất của mối tình Pháp- Việt được lớn lên trưởng thành. Kể từ đó, ông giao quyền quản lí lâu đài cho một người bạn và vì không muốn khơi lại nỗi đau đớn cũ, ông thề vĩnh viễn không quay trở lại Việt Nam, trở lại Đồi Bà Nài, nơi chôn chặt mối duyên tình ngắn ngủi của ông. Nghe nói, sau này, người con gái của công tước có quay lại, tìm về đồi Bà Nài, đứng khóc bên lâu đài đổ nát rồi trở về Pháp. Từ đó, không ai nghe tin tức gì về họ nữa… Ngày nay, cả khu vực xung quanh lâu đài được mọi người gọi tên chung là Lầu Ông Hoàng. Chỉ tiếc rằng, ngành quản lí văn hóa và du lịch của địa phương không có những chỉ dẫn cụ thể nên cả người địa phương lẫn khách du lịch, phóng viên các đài truyền hình (cả trung ương và địa phương), các báo viết trong nước và các trang mạng đều lầm tưởng cụm lô cốt của Pháp và chế độ cũ để lại cách Tháp Chăm Pô Sha Inư về hướng Nam khoảng 100m là lâu đài của công tước De Monpensier.

Vì vậy, hình ảnh lâu đài được đưa lên đài truyền hình và báo in là một cụm lô cốt có tháp canh khá cao với nhiều lổ châu mai và lổ chổ vết đạn. Việc này cần phải điều chỉnh lại cho đúng. Vị trí chính thức của lâu đài trên nằm cách Tháp Chăm khoảng 500 mét về hướng Đông, và gần hơn với mộ cụ Nguyễn Thông. Di tích lâu đài đã bị cây bụi và dây hoa ăng- ti- gôn bao phủ. Hiện nay, người dân địa phương đã lấn chiếm một phần để làm nhà ở

…Những ngọn đồi đẹp chung quanh chỗ nhóm lãng tử chúng tôi ngồi uống rượu dưới trăng này, giống như một trang sách mở của thiên nhiên, theo dòng thời gian, đã ghi chép những gì mà con người qua bao thời đại đã để lại bằng dấu vết vật chất tại đây, hay bằng những câu chuyện đã trở thành huyền thoại trong trí nhớ của cộng đồng. Những ai đến đây, nếu có chung mối đồng cảm, sự quan hoài về lẽ nhân sinh, sẽ dễ dàng nhận ra được sự tập trung nhiều chứng tích chồng lớp lên nhau với mật độ cao, như muốn hiển lộ chứng minh cho sự biến dịch vô thường của trời đất, của kiếp người, nhằm làm sáng tỏ chân lí tối hậu của cuộc sống như là sự nối tiếp nhau của cái sinh ra và mất đi, những cuộc hạnh ngộ rồi chia li, những sung sướng rồi khổ đau, những hạnh phúc rồi tuyệt vọng… Và dù rằng khi còn sống, con người có tranh đoạt, chém giết lẫn nhau vì những động cơ, lí do bất kì nào chăng nữa; thì cuối cùng cũng phải trở về bên nhau, nằm bên nhau, “sống” hòa với cát bụi để cùng xanh một màu cỏ với mùa xuân… Tiếp nhận được điều đó sẽ giúp chúng ta thấy yêu hơn cuộc sống này, biết sống và sống tốt đẹp hơn.

 

 

Có lẽ cụ Nguyễn Thông đã sớm nhận ra điều huyền diệu đó nên đã chọn nơi đây làm nơi trở về, tự nguyện làm một trang trong quyển sách thiên nhiên kì bí nhưng luôn sáng tỏ kia. Vì vậy, cụ đã cho xây trước ngôi mộ và tự viết sẵn lời văn sẽ khắc trên bia mộ của chính mình: “Năm Đinh Sửu (tức năm 1877- người viết), tôi làm Bố chánh Bình Thuận thường xuống các huyện, nhân đi qua thôn Ngọc Lâm, phía Đông phủ Hàm Thuận, lên cao nhìn quanh, thấy sông núi có tình, tôi lấy làm thích, đứng nhìn lâu không chán (…). Vì thế tôi bảo học trò Nguyễn Văn Đường nhặt đá núi, thuê thợ xây đắp (…). Mộ xây xong (…), ở trong bỏ trống để đợi khi dùng đến. Sau lúc tôi trăm tuổi, chẳng biết hồn phách còn nhớ đến núi này nữa hay không, hay là rồi cũng tiêu tán hết? Điều ấy không thể biết được. Nhưng hoa rừng trăng bể, buồm ngư phủ, nhà tiều phu vẻ lạ khói mây đổi thay, hình thù giao thẫn(5) chập chờn, thì sau này vẫn có thể cống hiến một cuộc thích mắt cho những nhà thơ tới đây viếng cảnh vậy”(6). Nguyễn Thông đã tiên tri đúng những việc sẽ diễn ra sau này. Đó là có biết bao nhà thơ, nghệ sĩ đã gởi một phần hồn của mình ở nơi đây…

Tối hôm đó, chúng tôi uống rượu tới khuya. Trong cơn ngà ngà say, nhìn lại phía sau lưng mình là cả một “thành phố của bóng tối” – nghĩa trang Phan Thiết; nơi tiếp nhận sự hủy diệt cuộc sống để làm cho cuộc sống mới tiếp tục sinh sôi và phát triển, như nguyên lý quyền năng của thần Shiva. Những ngôi mộ gần con đường du lịch Phan Thiết – Mũi Né phản chiếu ánh sáng từ những ngọn đèn đường cao áp làm rực lên màu của cõi bình yên lặng lẽ. Tôi lẩn thẩn tưởng tượng ra hình ảnh, chàng thi sĩ trẻ tuổi Hàn Mặc Tử (7), tay trong tay cùng nàng thơ Mộng Cầm lãng mạn đi những bước ngập ngừng vào giữa những hàng mộ đang sáng lên kia rồi xa khuất dần vào bóng đêm của thế giới vĩnh hằng.

Có lẽ tôi cũng muốn “điên” như Tử chăng? Bỗng nghe bạn tôi khe khẽ cất lên lời hát giữa mênh mông như để tưởng nhớ chàng thi sĩ si tình bạc mệnh:“Đường lên dốc đá nhớ xưa hai người đã một lần đến. Tình yêu vừa chớm xót thương cho chàng cuộc sống phế nhân… Lầu ông Hoàng đó, thuở nào chân Hàn Mặc Tử đã qua. Ánh trăng treo nghiêng nghiêng, bờ cát dài thêm hoang vắng…” (8)

Cách nay mấy năm, ngành chức năng quản lí về văn hóa và du lịch thực hiện thu âm đĩa CD tuyển chọn những bài hát hay về Bình Thuận, nhằm mục đích quảng bá văn hóa Bình Thuận đến với mọi người trong cả nước, trong đó có mục tiêu phát triển du lịch của tỉnh. Rất tiếc là những người tuyển chọn đã không chọn một bài bài hát gắn với Bình Thuận mà cho đến nay (và có lẽ cả mai sau- tôi nghĩ như vậy) hầu như ai cũng đã ít nhất một lần nghe qua, vẫn còn nhớ và có thể còn hát được (nhất là hát karaoke, hát trong các cuộc liên hoan, giao lưu văn nghệ, kể cả trong các bữa nhậu…). Đó chính là bài “Hàn Mặc Tử” của Trần Thiện Thanh: “Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa. Lầu Ông Hoàng đó thuở nao chân Hàn Mặc Tử đã qua. Ánh trăng treo nghiêng nghiêng bờ cát dài thêm hoang vắng. Tiếng chim kêu đau thương như nức nở dưới trời sương. Lá rơi rơi đâu đây sao cứ ngỡ bước chân người. Tìm về nửa đêm buồn…”. Nhiều người khi nhắc đến bài hát này, đôi lúc quên tựa, bèn gọi đó là bài “Đường lên dốc đá”. Chắc tác giả bài hát trên cũng không cần có tên mình trong tuyển tập. Cần hơn có lẽ chính là những người bình thường nhưng yêu mến quê hương Phan Thiết, Bình Thuận. Đối với ngành du lịch, ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, không vì vậy mà bị thiệt thòi về doanh thu. Nhưng, nếu bài hát đó càng được hát lên, vang xa chừng nào thì cụm di tích được xem là một trong những địa chỉ du lịch điểm nhấn của Bình Thuận: Lầu Ông Hoàng và Tháp Chăm Pô Sah Inư, càng thêm nổi tiếng, càng được nhiều người biết đến, cũng đồng nghĩa với việc thu hút thêm nhiều khách du lịch đến với Bình Thuận. Ngay tại địa điểm du lịch này, tôi đã từng gặp những em nhỏ bán đĩa CD lậu có bài hát “Hàn Mặc Tử” mời chào mua giúp.

Phan Thiết – thành phố nhỏ ven biển xinh xắn này, trôi theo dòng thời gian, đã thành kỉ niệm khó quên của bao người thuộc nhiều thế hệ, có thể là con dân của Phan Thiết, sinh ra và lớn lên ở đây hoặc không là gì với Phan Thiết cả. Kỉ niệm đó có thể là do sự gắn bó hữu hình hoặc chỉ là vô ảnh. Nhưng tất cả đều hằn sâu dấu vết trong kí ức của họ…

Đối với hoàng thân Xu- pha- nu- vông(9), dù là khi đang sống ở quê vợ Nha Trang hay đang giữ vị trí nguyên thủ quốc gia (Lào), chắc ông không thể nào quên được hình ảnh Tháp Nước Phan Thiết (Château d’eau) được xây dựng đúng theo bản vẽ thiết kế chứa nhiều tâm huyết của mình. Một công trình được giới kiến trúc trong nước đánh giá là đẹp và độc đáo nhất trong các tháp nước được xây dựng ở Việt Nam. Năm 2007, có một nhóm sinh viên Lào theo học ở Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội) đi thực tế ở Phan Thiết, tình cờ gặp tôi trong một bữa nhậu nơi quán cóc bên bờ sông Cà Ty. Khi tôi chỉ Tháp Nước và giới thiệu đây là công trình kiến trúc do kiến trúc sư Hoàng thân Xu-pha-nu-vông thiết kế và được khởi công xây dựng vào năm 1928, các sinh viên Lào hết sức bất ngờ, trố mắt ngạc nhiên. Họ không thể nào tưởng tượng được, ở một nơi xa xôi trên đất nước Việt Nam lại ghi đậm dấu tích thật đẹp của vị nguyên chủ tịch nước của họ, một nhân cách lớn, mà nhân dân các bộ tộc Lào hết sức kính yêu. Và có lẽ đây cũng là một chút tình khó quên của các em sinh viên Lào đối với Phan Thiết, với Việt Nam.

Nhà thơ Bích Khê đã sống nhiều năm ở Phan Thiết (10). Trong thời gian này, ông vừa tự học, vừa dạy học, vừa tập trung nhiều tâm huyết cho sáng tác thi ca. Tại đây, ông đã hoàn thành tập “Tình huyết” (1939), một tập thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Bích Khê, được Hàn Mặc Tử đón nhận như “Một bông hoa lạ nở hương” khi viết lời tựa cho tập thơ này. Đặc biệt, với Phan Thiết, nhà thơ đã đa mang nợ tình ái… Ngày 20 tháng 9 năm 1940, Bích Khê vào Viện Phong Quy Hòa thăm Hàn Mặc Tử. Lúc này, hai người bạn thơ thân thiết đều mắc bệnh nan y (Bích Khê mắc bệnh lao). Cả hai chắc là dễ dàng cùng nhau ôn lại những kỉ niệm về tình yêu nơi Phan Thiết. Hàn Mặc Tử thì nhắc đến Mộng Cầm. Còn Bích Khê thì nhắc đến tên của ba người con gái xứ Phan mà mình đã yêu. Một Song Châu, cô học trò (trường tư thục Hồng Đức) của thầy giáo Bích Khê, tuổi đang thì xuân chớm, đã làm cho nhà thơ:

Tôi đắm hồn tôi cho chết say

Như hoa mảnh khảnh xác thu gầy

Ở trong cặp mắt như châu ấy

Và biến ra châu lã chã đầy…

(Châu)

Một Ngọc Kiều chín chắn nồng nàn, mà giữa cơn say tình ái, Bích Khê đã thốt lên trong một bài thơ đề tặng Hàn Mặc Tử:

Níu cho ta, cho ta muôn yến nguyệt

Ngọc Kiều ơi! Này khúc Lạc Mai Hoa

Suối tóc mát, nhúng trong vùng mộng tuyết

Ta tê mê, ta gảy điệu Tỳ Bà…

(Mộng Cầm ca)

Và tiếp theo là mối tình câm lặng với một sương phụ, cô giáo dạy cùng trường (tư thục Quảng Thuận), là bạn của người chị ruột mình, mà cho đến ngày Bích Khê ra đi vĩnh viễn, Minh Sim (tên của người ấy) mới biết qua những bức thư không bao giờ gởi đi của nhà thơ, do chị của Bích Khê trao lại

Trong những ngày vật vã với cơn bệnh trầm kha cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng tại nhà thương Quy Hòa, bóng dáng thướt tha yêu kiều của người con gái Phan Thành có tên Mộng Cầm kia cùng với Lầu Ông Hoàng mơ mộng những đêm trăng tàn, trăng rạng, chắc rằng nhà thơ “điên” Hàn Mặc Tử khôn nguôi nhớ về một mối tình vô vọng:

Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng

Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang

Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết

Ôi trời ôi! là Phan Thiết Phan Thiết…

(Phan Thiết Phan Thiết- Hàn Mặc Tử)

Với Hữu Thỉnh (11) thì lại khác. Trước năm 1975, nhà thơ chưa hề làm quen với Phan Thiết và nếu có biết chắc cũng chỉ hiểu đơn giản đó là địa danh cuả một thị xã miền Trung bình thường như Phan Rang, Tuy Hòa. Nhưng…, khi nhận được tin anh trai mình hy sinh vào năm 1973 tại Phan Thiết (năm 1975 mới biết tin) và sau nhiều lần cố công đi tìm nhưng vẫn không thấy được hài cốt của anh, năm 1981, ông viết bài thơ “Phan Thiết có anh tôi”:

… Anh không giữ cho mình dù chỉ là ngọn cỏ

Đồi thì rộng anh không vuông đất nhỏ

Đất và trời Phan Thiết có anh tôi…

Em đã qua những cơn sốt anh qua

Em đã gặp trận mưa rừng anh gặp

Vẫn không ngờ có một trưa Phan Thiết

Em một mình đứng khóc ở sau xe…

Nhà thơ Hữu Thỉnh hẵn sẽ không thể nào quên được địa danh Phan Thiết, vì một lẽ hiển nhiên: “Phan Thiết có anh tôi”.

Phan Thiết xưa đã từng là nơi sản sinh những nhạc sĩ tài hoa có bài hát để đời, như: Minh Quốc (bài hát “Tình đồng chí”), Nguyễn Hữu Thiết (bài “Gởi người tôi yêu”), như Dzũng Chinh (các bài “Những đồi hoa sim”, “Tha La xóm đạo”)… và Trần Thiện Thanh, tức ca sĩ Nhật Trường với những nhạc phẩm nổi tiếng một thời và hiện nay vẫn đang được các ca sĩ hát thu vào đĩa CD, DVD, như: Khi người yêu tôi khóc, Lâu đài tình ái, Hoa biển,

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh

Chiếc áo bà ba, Hàn Mặc Tử…Biết bao người sinh ra và lớn lên tại Phan Thiết, do hoàn cảnh đẩy đưa đành phải li hương, tìm thế sống nơi quê người. Dù cuộc sống ở đất khách có được may mắn, dư dã sung sướng về vật chất bao nhiêu chăng nữa, thì họ luôn cảm thấy có một khoảng trống trong tâm hồn không gì có thể lấp đầy được. Khoảng trống đó chính là quê hương cố cựu. Họ không bao giờ có thể quên được cội nguồn hoặc đánh mất kí ức thời tuổi trẻ nơi quê xưa, một phần quan trọng trong cuộc đời của mình. Lí Bạch (đời Đường, Trung Hoa) được người đời tôn là bậc thi tiên. Gần như cả cuộc đời ung dung, ngạo mạn, ngao du sơn thủy và làm thơ, nhưng trong lòng ông luôn ẩn giấu một nỗi niềm nhớ cố hương sâu lắng. Vào một đêm trăng tình cờ, nỗi niềm đó trồi lên trên bề mặt cảm xúc, chảy tràn lai láng không gì ngăn lại được:

Sàng tiền minh nguyệt quang

Nghi thị địa thượng sương

Cử đầu vọng minh nguyệt

Đê đầu tư cố hương (12)

Chung một mối quan hoài như Lý Bạch; Trần Vấn Lệ (13) , nhà thơ người Phan Thiết hiện đang sống nơi đất khách quê người, cũng đã nói hộ cho tất cả những ai có cùng tâm trạng tha hương, luôn đau đáu khôn nguôi nhớ về cố hương Phan Thiết bằng những câu thơ đẫm tình tha thiết:

“Hè rồi… Phan Thiết đỏ hoa vông, tôi ở xa xôi nhớ quá chừng! Nhớ chỗ mình sinh, mình được lớn, một thời thơ dại vượt con sông. Con sông đầy xác hoa vông rụng quấn quyện chân cầu không muốn trôi… Mà biết bao nhiêu người bỏ xứ, đi đâu, có thể cuối chân trời! Phan Thiết của tôi và của bạn, sáng nay ai nói rất buồn hiu. Tôi ngồi với bạn bên hè phố, khuấy cốc cà phê tưởng thấy chiều! Chút khói chiều vương vương hoa vông. Phan Thiết khi không nhớ não nùng. Xe ngựa cọc cà đi cọc cạch, bạn buồn khuấy mãi muỗng koong koong… Đó, hồi Phan Thiết còn xe ngựa, con ngựa đôi khi hí giữa đường. Giờ, giữa đường đây, trời đất khách. Thuốc tàn mấy điếu khói vương vương…”

(Mùa vông Phan Thiết cũ).

Còn tôi, ngồi viết những dòng chữ này, thử hình dung mình đang sống trong hoàn cảnh như Lí Bạch, như Trần Vấn Lệ và những ai khác nữa xa quê… Khi đó, mặc dù tôi không thể biểu đạt được nỗi niềm “tư cố hương” bằng những câu thơ tuyệt vời như trên; nhưng chắc chắn, với tôi, đó không phải chỉ là “một chút tình Phan Thiết”… Viết đến đây, bàn tay tôi run lên, lòng đã muốn khóc rồi, Phan Thiết ơi!./.

Quê Hương Phan Thiết : Phan Thiết Quê Hương Ngày Đó

Ghi Chú:

(1):Tháp Pôshanư (Pô Sah Inư – còn gọi là Tháp Chăm Phố Hài) là một nhóm di tích đền tháp Chăm còn sót lại của Vương quốc Chăm Pa xưa, nằm trên đồi Bà Nài, thuộc phường Phú Hải, cách trung tâm thành phố Phan Thiết 7 km về phía Đông Bắc. Nhóm tháp này có phong cách kiến trúc Hòa Lai – một trong những phong cách nghệ thuật cổ của Chămpa. Tuy chỉ có kích thước vừa và nhỏ, nhưng nó chắt lọc được những tinh hoa kỹ thuật kiến trúc và nghệ thuật trang trí của người Chăm xưa tạo nên vẻ uy nghiêm và kỳ bí. Nhóm đền tháp Po Sah Inư là một trong những cụm tháp Chàm còn tương đối nguyên vẹn. Khoảng cuối thế kỷ thứ 8 đầu thế kỷ thứ 9, người Chăm xây dựng nhóm đền tháp này với mục đích để thờ vị thần Shiva – là một trong những vị thần Ấn Độ giáo được sùng bái và tôn kính. Thế kỷ 15, xây dựng thêm một số đền thờ với kiến trúc đơn giản để thờ công chúa Po Sha Inư. Công chúa Po Sha Inư (con vua Para Chanh) là người có tài đức và phép ứng xử nên được người Chăm đương thời yêu quý. Năm 1992-1995, những cuộc khai quật khảo cổ tại nơi này đã phát hiện ra nhiều nền móng của những ngôi đền bị sụp đổ và bị vùi lấp hàng trăm năm nay, cùng với gạch ngói và một số hiện vật trong lòng các đền tháp có niên đại từ thế kỷ 15. Từ đây tháp có tên gọi là Po Sah Inư.Từ năm 1990 đến năm 2000, di tích được chính quyền tỉnh Bình Thuận tu bổ, tôn tạo. Năm 1991, di tích này được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia. Tháng giêng âm lịch hàng năm, dưới chân tháp đều có diễn ra các lễ hội như Rija Nưga, Poh Mbăng Yang… Người Chăm làm lễ cầu mưa, cầu an..

(2): Cái tên Ferdinand d’Orléans, Công tước De Montpensier, cháu nội hoàng đế Pháp chính là nguồn gốc của địa danh Lầu Ông Hoàng ngày nay. Vào năm 1910, Công tước De Montpensier qua Việt Nam du lịch và săn bắn. Nhìn thấy phong cảnh tại những ngọn đồi phía Đông Phan Thiết rất đẹp, đứng ở đây có thể phóng tầm mắt về phía Nam chừng 1 km, thấy rõ những ngọn sóng biển lao xao. Ông đã mua lại từ nhà cầm quyền Pháp ở Bình Thuận (công sứ Garnier) quả đồi Bà Nài, chọn mảnh đất rộng ở độ cao cách mặt biển 107m, gần Tháp Pôshanư về hướng Đông chừng 500 m để xây dựng biệt thự, làm nơi nghỉ ngơi trong các kỳ săn bắn và du lịch sau này. Gần biệt thự còn có các nhà hàng, khách sạn phục vụ cho giới thượng lưu. Toàn bộ cụm 5 ngọc đồi quanh biệt thư của Công tước De Montpensier, sau đó được gọi chung là Lầu Ông Hoàng. Đây là nơi tạo nên huyền thoại về mối tình thơ lãng mạn Mộng Cầm- Hàn Mặc Tử, đã làm tốn biết bao giấy mực của người đời sau. Ngày 21-2-1911 biệt thư được xây dựng, nền móng được xây bằng đá xanh, cao 2m, với 15 bậc cấp lên xuống, sàn nhà lót gạch bông, phía dưới nền là hệ thống những bể chứa nước mưa lien kết nhau, chung quanh đúc bê tông, có máy bơm dẫn nước lên một lầu nước cao phiá sau, đủ dùng quanh năm suốt tháng. Nóc nhà lợp bằng đá phiến xanh được chở từ Pháp sang, vừa đẹp lại không sợ bị gió biển làm tróc mái. Biệt thự có diện tích 536m2, gồm 7 phòng ngủ và 6 phòng dành cho khách, phòng thết tiệc… Phòng nọ tiếp với phòng kia qua hành lang có mái che. Bên trong các phòng kể cả tiền đình được trang trí sang trọng, tiện nghi. Giường ngủ, bàn ghế, tủ đều đóng bằng loại gỗ quý. Riêng giường có nệm, chân giuờng gắn gù đồng. Có đường trải đá từ dưới chân đồi chạy quanh co, lối vào trước sảnh đường có trồng cây giữ bóng mát cho biệt thự. Bên ngoài tường rào được thả dây leo ăng- ti- gôn nở hoa màu hồng rực rỡ. Ngoài ra còn có nhà máy phát điện riêng, nhà để xe, chuồng ngựa, nhà bếp, nhà tắm, bể chứa nước. Sau ngày khánh thành, chủ nhân ông Ferdinand D’orléans chính thức đặt tên ngôi biệt thự của mình là ‘NID D’AIGLE’ tức là Tổ Chim Ưng. Trong kháng chiến chống Pháp, tòa biệt thự bị bom đạn làm sụp đổ hoàn toàn.

(3): xem chú thích ở bài “Phan Thiết có mùa xuân bông vông đỏ” trong tâp này.

(4): Tháp nước Phan Thiết được khởi công xây dựng vào cuối năm 1928 và hoàn thành vào đầu năm 1934, do kiến trúc sư Hoàng thân Xu-pha-nu-vông Lào) thiết kế, do nhà thầu Ưng Du đảm trách thi công. Đây là kiến trúc độc đáo nhất trong những công trình tháp nước ở Việt Nam. Hoàng thân Xu- pha- nu- vông sinh năm 1909. Năm 11 tuổi, ông sang Việt học tại trường Albert Sarraut. Năm 1920, sang học tại Pháp. Tốt nghiệp đại học quốc gia cầu đường Paris, trở thành kỹ sư cầu đường đầu tiên ở Đông Dương. Ông về Trung kỳ (Việt Nam) công tác, đã từng đảm nhận chức vụ Kiến trúc sư trưởng khu Công chánh Nha Trang. Ông thiết kế nhiều công trình thủy lợi trên đất Việt Nam, trong đó có 7 công trình cho đến nay vẫn đang còn sử dụng, tiêu biểu như: Tháp nước Phan Thiết, đập Đô Lương, đập Thanh Chương (Nghệ An), đập Bái Thượng (Thanh Hóa)… Ông lấy vợ là người Việt Nam, bà Nguyễn Thị Kỳ Nam, người Nha Trang. Ông gặp Hồ Chí Minh, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và bắt đầu sự nghiệp cách mạng. Ông trở thành Chủ tịch Nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào từ tháng 12 năm 1975 đến tháng 8 năm 1991. Ông qua đời ngày 09 tháng 01 năm 1995.

(5): Giao là con thuồng luồng; thẫn là loài ngao bể.

(6): Trích “Bài kí ở mộ tại Ngọc Sơn” của Nguyễn Thông trong tập “Nguyễn Thông- con người và tác phẩm” do Ca Văn Thỉnh và Bảo Định Giang sưu tầm và biên soạn. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1984.

(7): Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử (tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh 22/9/1912 – mất 11/11/1940) là một trong những nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, thường được gọi là phong trào “Thơ mới) và cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, nghĩa là Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn người khởi xướng ra Trường thơ Loạn. Trong thời gian ông làm việc ở Sài gòn, năm 1923, ông cộng tác với tờ báo Công luận, phụ trách trang thơ. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi bài cho báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, ròi ông ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người. Lầu Ông Hoàng là chứng nhân của mối tình thơ mộng nhưng tuyệt vọng đó. Ít lâu sau, ông mắc bệnh phong – một căn bệnh nan y thời đó, Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn vào nhà thương Quy Hòa (20 tháng 9 năm 1940) mang số bệnh nhân 1.134 và từ trần vào lúc 5 giờ 45 phút rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940 tại nhà thương này, khi mới bước sang tuổi 28. Tác phẩm nổi tiếng của Hàn Mặc Tử: Lệ Thanh thi tập, Gái quê, Thơ điên, Xuân như ý…

(8): Trần Thiện Thanh sinh 12 tháng 6 năm 1942 tại Phan Thiết, là hậu duệ của nhà nho yêu nước Trần Thiện Chánh (1822- 1874). Sống tại Phan Thiết đến năm 1958, vào Sài Gòn lập nghiệp và sớm nổi danh. Bút hiệu ông thường dùng là Trần Thiện Thanh, nhưng thỉnh thoảng ông cũng ký tên Anh Chương (tên con trai ông) là một nhạc sĩ chuyên viết về nhạc trữ tình. Ông còn là ca sĩ với nghệ danh Nhật Trường. Trần Thiện Thanh – Nhật Trường là một trong những nhạc sĩ và ca sĩ nổi tiếng nhất ở miền Nam giai đoạn trước 1975. Ông mất vào ngày 13 tháng 5 năm 2005 tại nhà riêng ở thành phố Quận Cam, California, Hoa Kì vì bệnh ung thư.

(9): xem chú thích (4) trên đây.(10): Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn), tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Bích Khê xuất thân từ một gia đình Nho học có truyền thống đấu tranh yêu nước cách mạng. Ông học bậc trung học ở trường dòng Pellerin tại Huế. Năm 1933, ông vào Phan Thiết sống với gia đình người anh trưởng. Năm 1934, Bích Khê cùng một người bạn (người Phan Thiết) mở trường tư thục Hồng Đức. Năm 1935, ông bỏ trường về quê. Năm 1938, ông trở lại Phan Thiết dạy học tại trường tư thục Quảng Thuận (do ông Nguyễn Quý Hương mở). Năm 1939, trường bị Pháp đóng cửa (vì có liên quan đến cộng sản), ông về lại Quảng Ngãi. Thời gian này ông bị trở bệnh lao phổi đã mắc trước đó, đến năm 1942 thì bệnh rất nặng, kéo dài đến ngày 17/01/1946, ông qua đời ở tuổi 30. Những tác phẩm chủ yếu của Bích Khê: Tình huyết, Tinh hoa, Đẹp, Nấy dòng thơ cũ…

(11): Hữu Thỉnh: sinh năm 1942, nhà thơ. Hiện là chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam. Tác phẩm có tiếng vang của ông: Đường tới thành phố, Trường ca biển, Thương lượng với thời gian…

(12): Đó là bài thơ “Tĩnh Dạ Tư” của Lý Bạch, nhà thơ danh tiếng Đời Đường, được người đời sau xưng tụng là thi tiên. Dịch nghĩa: Đầu giường ánh trăng soi sáng/ Ngỡ là sương rơi mặt đất/ Ngẩng đầu lên nhìn trăng sáng/Cúi đầu nhớ quê xưa.

(13): Nhà thơ Trần Vấn Lệ, sinh ngày 31-05-1942 tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, trưởng thành và dạy học tại Đà Lạt, hiện sống tại Hoa Kì. Ông đã cho in trên 10 tập thơ ở nước ngoài.

NGÔ ĐÌNH MIÊN



Tùy Bút của NGÔ ĐÌNH MIÊN 
 (3): Trần Vấn Lệ, sinh ngày 31-05-1942 tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, trưởng thành và dạy học tại Đà Lạt, hiện sống tại Hoa Kỳ

 

Lương Thanh Thủy sưu tầm

 

Tháp nước Phan Thiết Biểu tượng của Quê hương Bình Thuận | QUE ...

 

 

 

Xem thêm...

LUẬN VỀ “HIỂU” VÀ “BIẾT”

LUẬN VỀ “HIỂU” VÀ “BIẾT”

 Hà Thủy Nguyên

Bài văn mẫu Suy nghĩ về nhận định: Biết và hiểu là cần để làm theo...

“Bây giờ toàn những người chỉ biết mà không hiểu” hay “Người Việt Nam không hiểu cái gì sâu cả, chỉ toàn biết sơ sơ”… những nhận xét như vậy đã trở thành một điệp khúc của những người than thở về sự xuống cấp của văn hóa Việt Nam nói riêng và văn hóa thời đại Internet nói chung. Điệp khúc ấy khiến tôi phải dừng lại và suy nghĩ, đâu là mối quan hệ giữa “Hiểu” và “Biết”?

LƯU KHÂM HƯNG (劉欽興): LUẬN VỀ “HIỂU” VÀ “BIẾT”

Ý nghĩ đầu tiên khi bước chân vào dòng suy nghĩ này đó là câu thành ngữ của người Trung Hoa: “Họa hổ, họa bì, nan họa cốt/ Tri nhân, tri diện, bất tri tâm” (Có nghĩa là: “Vẽ hổ, vẽ da, khó vẽ xương/ Biết người, biết mặt, không biết lòng”. Từ “Biết” tiếng Hán là “tri”. Người Á Đông rất coi trọng sự “biết”. Có một sự khác biệt lớn về cấp độ nhận thức giữa “kiến thức” (những điều trông thấy) và “tri thức” (những điều đã đạt đến độ biết). Tức là “kiến thức” chỉ nằm ở cấp độ vẽ da con hổ mà thôi, còn cấp độ của “tri thức” là cấp độ của việc nhận thức điều gì đó cả trong lẫn ngoài. Điều này không có nghĩa rằng chúng ta có nhiều kiến thức thì sẽ  có tri thức, bởi lần mò, sờ mó khắp bộ lông con hổ, bạn có thể thấu suốt được bên trong của nó.

“Biết” tiếng Anh là “know”. Dấu vết đầu tiên của từ “know” có thể thấy trong từ “cnawlece” tương đương với “acknowledgment of a superior, honor, worship”, có nghĩa là “kính ngưỡng một lực lượng siêu nhiên, tôn vinh, thờ phụng”. Tiếng Anh thời Trung Cổ có từ “knoulechen”, sau này chuyển thành “acknowledge” với ý nghĩa “nhận ra” hay “giao hòa”. Qúa trình tìm hiểu từ nguyên của từ “know” này thật sự khiến tôi thích thú, bởi những gì tôi nhận thức về sự “biết” lại rất gần với ý nghĩa cổ xưa. Đứng trước một sự việc, khi chúng ta không ở trong nó thì chúng ta không thể biết về nó. Tiếp xúc với một sự vật nếu không có sự giao hòa về mặt năng lượng với sự vật thì không thể gọi là “biết” sự vật ấy. Đây chính là nguyên lý mà các cao thủ võ lâm trong truyện kiếm hiệp vẫn nhắc tới, khi người và kiếm hợp nhất. Bái Hỏa giáo do Zarathustra sáng lập, tôn giáo cổ xưa nhất của loài người có hình thức chiêm nghiệm ngọn lửa và chỉ thực sự biết về lửa khi người và lửa hợp nhất. Một cách gần gũi hơn, Đức Phật chỉ biết về Niết Bàn khi nhập vào Niết Bàn, Jesus chỉ biết được Thượng Đế khi hòa làm một với Thượng Đế. 

Rõ ràng, dù ở từ “tri” của tiếng Hán hay “know” của tiếng Anh, ta đều thấy sự khẳng định rằng chúng ta không thể biết được một điều gì đó nếu chưa từng thấy và trải qua điều đó.

“Hiểu” có tiếng Hán là “thông” và tiếng Anh là “understand”. Tiếng Anh Cổ là “understandan” với ý nghĩa “bao hàm và nắm bắt ý tưởng”. Từ “thông” trong tiếng Hán cũng có cách hiểu là đào sâu một vấn đề nào đó để thấu suốt nó. Nói một cách ngắn gọn, “hiểu” chính là nắm bắt được bản chất của vấn đề.

Không biết từ bao giờ người Việt có lối nghĩ rằng việc “hiểu” quan trọng hơn việc “biết”, có thể là từ khi xứ ta được tiếp xúc với lối tư duy logic và cho rằng logic là cách duy nhất để đạt được sự hiểu biết. Nhiều người đã đồng nhất sự “hiểu” với tính logic, nhưng logic chỉ là một phương pháp tư duy để dẫn đến việc hiểu. Bên cạnh quá trình tư duy logic, những nhà khoa học vĩ đại còn mơ hồ nói đến một sự “hiểu” trong trạng thái vô thức, hay người ta vẫn gọi một cách chung chung là “trực giác”. Vì lý do nào đó, tự nhiên, trong khoảnh khắc, một người hiểu được vấn đề mà trước đó họ phải mất rất nhiều công sức để tư duy mà không thể tìm ra.

Vậy thì đâu là sự tương tác giữa “Hiểu” và “Biết”? Làm sao một người có thể “hiểu” vấn đề nếu không từng thấy và biết ở bề mặt của một vấn đề nào đó? Và làm sao người ta có thể đạt đến mức độ “giao hòa” của sự “biết” nếu không qua quá trình tìm tòi đến mức thông hiểu bản chất của vấn đề. Có vẻ như “hiểu” là chiếc cầu giúp chúng ta bắc từ trạng thái bên ngoài của sự vật, sự việc để vào đến cốt lõi và hơn cả thế, trải qua quá trình hợp nhất với điều ta đang khám phá. “Biết” có nhiều cấp độ, và “hiểu” giúp ta gia tăng cấp độ, mở rộng đường biên của sự biết.

Trang Tử trong chương Thu Thủy của Nam Hoa Kinh có một đoạn luận rất hay về tương quan giữa hiểu biết của con người và vũ trụ: Sự hiểu biết của con người chẳng qua chỉ như một giọt nước giữa đại dương mênh mông, nhưng tham vọng của con người lại chính là hiểu biết về đại dương đó. Bởi thế, từ Cổ chí Kim, bất luận Đông Tây, các học giả vẫn mải miết đi tìm bản chất của thực tại, các quy luật vận hành vũ trụ, hay theo ngôn ngữ của phương Đông là Đạo. Và cho dù có nhiều học thuyết đến đâu thì không một học thuyết nào có thể thỏa mãn nhân loại. Đó là một quá trình nhận thấy, biết, hiểu, biết sâu hơn, nhận ra thêm một điều gì đó, rồi lại hiểu và biết sâu hơn nữa… Và có lẽ ở mức độ biết cao nhất, sâu nhất, rộng nhất, đó là nhập làm một với vũ trụ, giống như giọt nước sẽ có tri thức về đại dương khi trở thành một phần của đại dương ấy. Phải chăng, đây chính là ý thiền sư Duy Tín đời Tống ngầm gửi gắm trong câu “Khi chưa tu Đạo thì thấy núi vẫn là núi, sông vẫn là sông; mới tu Đạo thì núi không còn là núi, sông không còn là sông; đến khi đắc Đạo thì núi vẫn là núi, sông vẫn là sông”. Tuy nhiên, tôi vẫn không dám chắc rằng đó là giới hạn cuối cùng, bởi lẽ tôi chưa đạt đến mức độ biết đó, và giống như một Thiền Sư nhà Trần đã viết:

“Li tịch phương ngôn tịch diệt khứ,
Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh.”

Quảng Nghiêm Thiền SưDịch nghĩa:

“Chưa đến cõi chết thì không bàn về việc chết/ Sống mà không phụ thuộc vào sự sống thì mới được giảng về sự không sống)

Quay trở lại vấn đề “Hiểu” và “Biết”, sự mênh mông của tri thức có lẽ là điều không còn gì phải bàn cãi. Tôi tin rằng, cho đến bây giờ, không một khoa học gia, một triết gia nào còn dám vỗ ngực rằng mình hiểu bản chất của một hạt cát chứ đừng nói rằng hiểu được vũ trụ. Bởi cứ mỗi lần nhận thấy điều gì đó trong quá trình tìm tòi, họ lại giật mình nhận ra rằng hóa ra những điều mình biết trước đây là sai lầm hoặc thiếu sót.  Sự nhận ra này trở nên nhanh chóng hơn ở thời đại ngày nay, khi thông tin nhiều hơn, thế giới vận hành mạnh mẽ hơn… Chỉ cần khi mới chạm được đến sự biết nào đó thì lập tức các dữ kiện mới xuất hiện và phá bỏ cách hiểu trước đó.

Cái duy nhất con người có thể chắc chắn biết được đó là chúng ta không hiểu biết gì nhiều lắm về vũ trụ, về thế giới, về xã hội và về chính bản thân chúng ta. Mọi thứ chúng ta tưởng là chúng ta biết có thể rằng chúng ta còn chưa từng nhìn thấy, chưa từng trải nghiệm, và chắc chắn rằng chúng ta không thể có sự hiểu hay hòa nhập với nó. Bằng một cách nói quen thuộc mà tôi hay sử dụng, thì đó là ảo tưởng về sự “Biết”, bởi chúng ta chỉ tiếp xúc với sự vật, sự việc bằng các khái niệm trừu tượng trong từ điển hay những quyển sách diễn giải dài ngoằng của các nhà lý thuyết. Lý thuyết không phải tất cả, lý thuyết chỉ là một quá trình diễn ngôn về sự hiểu và sự biết của một nhà lập thuyết. Sự biết ấy có giới hạn và đến một lúc nào đó, khi bị đặt sang một không gian khác, tình huống khác, lý thuyết ấy không còn đúng nữa. Tóm lại, lý thuyết có thể chỉ là một sự đúc rút kinh nghiệm ở cấp độ cao, sâu và rộng. Mà vấn đề là không có cao cực cao, sâu cực sâu, rộng cực rộng, vì không có giới hạn cho điều này. Chúng ta  đọc được những lý thuyết ấy, nắm bắt được phần nào các khái niệm, và chúng ta tưởng rằng chúng ta đã biết. Đúng là chúng ta đã biết, nhưng chúng ta chỉ biết cái mường tượng, cái ảo ảnh được vẽ ra trong đầu dựa trên lý thuyết ấy.

Có một nguyên tắc quan trọng trong con đường khám phá, đó là phải bỏ lại những sự “Biết” và sự “Hiểu” trong quá khứ của mình. Nếu không bỏ lại, chúng ta không thể phá vỡ các giới hạn của nhận thức, không thể mở rộng đường biên, Điều này tương đồng trong phép tu Vô Ngã. Mọi thứ ta thấy đều chỉ là ảo tưởng, khi vứt bỏ ảo tưởng này, ảo tưởng khác lại xuất hiện. Qúa trình vứt bỏ liên tục, quá trình đi sâu hơn nữa, vươn cao hơn nữa, trải rộng hơn nữa là quá trình để chúng ta đạt tới sự hiểu biết thật sự.

Đây chỉ là những hiểu biết của tôi về sự Hiểu và sự Biết. Có thể ngày mai, ngày kia hay một thời gian ngắn nữa, những điều tôi đã nhận thức ở đây không còn đúng nữa và tôi sẽ lại phá vỡ những giới hạn này để hiểu biết hơn về chính sự Hiểu Biết.

Hà Thủy Nguyên

Lương Thanh Thủy ST

Hiểu và Biết – Con Mọt Sách

 

 

Xem thêm...

ĐÀN BÀ LÀ GÌ ? ĐÀN BÀ LÀ AI ?

ĐÀN BÀ LÀ GÌ ? ĐÀN BÀ LÀ AI ?
Vẻ đẹp người phụ nữ - Tin tức mới nhất 24h qua - VnExpress
Youtube below:
 
"Tóc mây mỹ nữ không là lũy
Song le cản ngựa bước chinh nhân".
Nếu không thèm khát đàn bà thì không phải là đàn ông. Nhưng nếu đánh mất sự nghiệp vì đàn bà thì cũng không phải là đàn ông. Người đàn ông thông minh xem đàn bà như bông hoa tươi trong phòng khách, là người bạn tâm giao trong phòng ngủ và là người cộng sự trong sự nghiệp.
 
THIÊN THẦN HAY QUỶ DỮ..?
Đàn bà là thứ mà đàn ông không thể thiếu được. Anh có thể thiếu rượu, thiếu thuốc lá, thậm chí có thể thiếu cả áo mặc nhưng không thể thiếu đàn bà. Đàn ông tiếng là mạnh mẽ thế, cứng cỏi thế nhưng thiếu đàn bà là cô đơn.
Bận rộn như hoàng đế Napoleon, xông pha trận mạc khắp các chiến trường châu Âu mà vẫn không thể thiếu đàn bà. Chiến tranh quyết liệt, căng thẳng như ở lòng chảo Điện Biên năm 1954 mà tướng Đờcattri (Christian de Castries) vẫn cần một cô nhà báo xinh đẹp làm thư ký riêng.
 
“Giai nhân tự cổ như danh tướng”.
Người Trung Quốc xưa đã nói như vậy.
Đàn bà là một nửa cuộc đời của đàn ông.
Đàn ông càng làm việc nhiều, càng kiếm tiền giỏi càng cần có đàn bà, nếu không họ sẽ bị stress.
Người Nhật Bản nói :
“Vắng đàn bà nhà hóa mồ côi”.
Đàn bà là thiên thần hay quỷ dữ ? Thưa rằng trong mỗi người đàn bà có cả hai thứ đó, họ vừa là thiên thần, lại vừa là quỷ dữ. Đàn bà
còn đẹp hơn tất cả các loài hoa. Lực hấp dẫn của đàn bà rất mạnh mẽ. Phái đẹp là thỏi
nam châm mà giới mày râu là đám mạt sắt
nhỏ nhoi.
Hễ người đẹp xuất hiện là những đôi mắt của cánh đàn ông sáng bừng lên, ham muốn, thèm khát và chỉ cần một cái vẫy tay, một cái liếc mắt là đàn ông có thể đổ ngay. Tất cả các hoàng đế mạnh nhất từ xưa tới nay đều thử sức với đàn bà và đều đã thất bại. Chính đàn ông làm cho đàn bà thành thiên thần, cũng chính đàn ông khiến đàn bà thành quỷ dữ. Nguy hiểm nhất cũng là đàn bà.
Trong 36 kế hiểm của người Trung Hoa thì mỹ nhân kế là hiểm nhất. Đổng Trác hùng mạnh thế mà phải chết vì Điêu Thuyền, Từ Hải anh hùng thế mà phải chết đứng vì Thúy Kiều, Phù Sai quyền lực thế mà phải chết vì Tây Thi…
Đại văn hào Victo Hugo đã viết rằng : “Ai cũng có thể tin, cái gì cũng có thể tin, trừ đàn bà”.
Khi đàn bà là thiên thần thì họ là người tuyệt vời nhất, hấp dẫn nhất. Nhưng khi đàn bà là quỷ dữ thì họ trở nên nguy hiểm nhất. Song cũng vì tính chất hai mặt này của đàn bà mà họ trở nên có sức hút mạnh mẽ hơn đối với đàn ông, vì đàn ông ham chơi mà trò chơi nếu thiếu tính mạo hiểm thì không hấp dẫn.
Đàn bà ma lực như thương trường, bất trắc như thương trường, nhiều rủi ro như thương trường. Vì tôn thờ tình yêu nên cuối đời đàn bà không biết ai yêu mình. Vì chạy theo đàn bà nên cuối đời người đàn ông không biết là mình yêu ai.
Đàn bà là gì ? Đàn bà là ai ? Những câu hỏi đó suốt đời đàn ông không thể trả lời được một cách trọn vẹn. Song cũng vì thế mà suốt đời đàn ông cứ si mê đàn bà. Nếu đàn bà như chiếc bánh, bóc lá ra là thấy được hết cả nhân lẫn bột thì đàn ông sẽ chán ngay và sự nhàm chán là kẻ tử thù của tình yêu còn sự bí ẩn là chất xúc tác của tình yêu.
Nếu không thèm khát đàn bà thì không phải là đàn ông. Nhưng nếu đánh mất sự nghiệp vì đàn bà thì cũng không phải là đàn ông. Người đàn ông thông minh xem đàn bà như bông hoa tươi trong phòng khách, là người bạn tâm giao trong phòng ngủ và là người cộng sự trong sự nghiệp.
(ST)
 
Họa sĩ người Hungary Emerico Imre Toth sáng tác loạt tranh với gam đỏ đặc trưng, miêu tả vẻ đẹp người phụ nữ.

 

Ảnh minh họa

Người phụ nữ mặc áo đỏ trong tranh của Emerico

Người phụ nữ mặc áo đỏ trong tranh của Emerico

Người phụ nữ mặc áo đỏ trong tranh của Emerico

Người phụ nữ mặc áo đỏ trong tranh của Emerico

Người phụ nữ mặc áo đỏ trong tranh của Emerico

Người phụ nữ mặc áo đỏ trong tranh của Emerico

Người phụ nữ mặc áo đỏ trong tranh của Emerico

Người phụ nữ mặc áo đỏ trong tranh của Emerico

Người phụ nữ mặc áo đỏ trong tranh của Emerico

Người phụ nữ mặc áo đỏ trong tranh của Emerico

 

 
 
 
 
 
 
 
album: Kostas Rigoula Tsigris.
 

Tranh Ảnh/ album: Alexey Slusar.

 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
album NHAN SẮC/ St theo Fb Diep Hoang
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Những bức tranh lãng mạn về cô gái che mặt

 
o5-JPG-1374835212_500x0.jpg

NHỮNG BỨC TRANH LÃNG MẠN VỀ CÔ GÁI CHE MẶT

Tranh Andrei Belichenko và Maria Boohtiyarova thường xuất hiện cô gái giấu mặt trong khóm hoa, chiếc mũ hay đơn thuần là được vẽ khi cô đang cúi đầu.
Andrei Belichenko và Maria Boohtiyarova là đồng tác giả của loạt tranh về phụ nữ, khu vườn hoa xinh đẹp.

Có cô gái xinh đẹp thường xuất hiện trong tranh nhưng cô dường như không muốn để lộ toàn bộ khuôn mặt mình.
Có cô gái xinh đẹp thường xuất hiện trong tranh nhưng cô dường như không muốn để lộ toàn bộ khuôn mặt mình. Lúc cô lộng lẫy váy đỏ rực, khéo léo che một phần gương mặt bằng khóm hoa...

[Caption]

... Khi trễ nải buông lơi mái tóc đen nhánh.

[Caption]

o10-JPG-1374835214_500x0.jpg
Cô gái che mặt bằng chiếc mũ rộng vành.

o13-JPG-1374835214_500x0.jpg

o11-JPG-1374835214_500x0.jpg
Bóng hồng hướng mặt về phía ô cửa.

o14-JPG-1374835214_500x0.jpg

o19-JPG-1374835214_500x0.jpg

o15-JPG-1374835215_500x0.jpg

o20-JPG-1374835215_500x0.jpg
Những bức tranh lãng mạn đầy huyền bí của hai họa sĩ.
 

Thư viện Tranh Ảnh/ album Lơ Đãng/ Theo link fk Diep Hoang

 

 

 
sắc xuân/ st theo fb DiepHoang
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

THƯ VIỆN TRANH ẢNH
album Lưng Ong/ link Diep Hoàng


 
 
 
 
 

 Kim Phượng sưu tầm & tổng hợp

 
Xem thêm...

Tác giả bài hát “Tháng Sáu Trời Mưa” là ai? – Tháng 6 trời mưa, trời mưa không dứt

Tác giả bài hát “Tháng Sáu Trời Mưa” là ai? 

Tháng 6 trời mưa, trời mưa không dứt

 

Tác giả bài hát “Tháng Sáu Trời Mưa” là ai? – Tháng 6 trời mưa, trời mưa không dứt

Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm là tác giả của nhiều tình khúc bất hủ ở hải ngoại như Tháng Sáu Trời Mưa, Lời Tình Buồn, Trả Lại Thoáng Mây Bay, Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi, Đời Còn Vang Bước Em… Riêng bài “Tháng Sáu Trời Mưa” của ông thì có rất nhiều người lầm tưởng là sáng tác của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, phổ thơ Nguyên Sa.

Có lẽ sự nhầm lẫn này xuất phát từ sự gắn bó thân thiết giữ thơ và nhạc: Nguyên Sa – Ngô Thụy Miên. Vì vậy khi nghe một bài nhạc được phổ thơ Nguyên Sa, người ta lại nhớ đến Ngô Thụy Miên.

Hơn nữa, thật ra nhạc sĩ Ngô Thụy Miên cũng có phổ nhạc bài thơ Tháng Sáu Trời Mưa này của thi sĩ Nguyên Sa vào năm 1984, lấy tên bài hát là Tình Khúc Tháng 6. Đến năm 1987, nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm cũng phổ nhạc chính bài thơ này và cho ra đời bài hát cùng tên: Tháng Sáu Trời Mưa, tạo thành một hiện tượng ở hải ngoại.

Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm

 Dưới đây lời của bài thơ gốc của Nguyên Sa, kèm lời 2 bài hát khác nhau của Ngô Thụy Miên và Hoàng Thanh Tâm.

Tháng 6 Trời Mưa (thơ Nguyên Sa)

Tháng sáu trời mưa, trời mưa không ngớt
Trời không mưa anh cũng lạy trời mưa
Anh lạy trời mưa phong tỏa đường về
Và đêm ơi xin cứ dài vô tận

Đôi mắt em anh xin đừng lo ngại
Mười ngón tay đừng tà áo mân mê
Đừng hỏi anh rằng: có phải đêm đã khuya
Sao lại sợ đêm khuya, sao lại e trời sáng…

Hãy dựa tóc vào vai cho thuyền ghé bến
Hãy nhìn nhau mà sưởi ấm trời mưa
Hãy gửi cho nhau từng hơi thở mùa thu
Có gió heo may và nắng vàng rất nhẹ

Và hãy nói năng những lời vô nghĩa
Hãy cười bằng mắt, ngủ bằng vai
Hãy để môi rót rượu vào môi
Hãy cầm tay bằng ngón tay bấn loạn

Gió có lạnh hãy cầm tay cho chặt
Đêm có khuya em hãy ngủ cho ngoan
Hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn
Nếu em sợ thời gian dài vô tận

Tháng sáu trời mưa, em có nghe mưa xuống
Trời không mưa em có lạy trời mưa?
Anh vẫn xin mưa phong tỏa đường về
Anh vẫn cầu mưa mặc dầu mây ảm đạm

Da em trắng anh chẳng cần ánh sáng
Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân
Trên cuộc đời sẽ chẳng có giai nhân
Vì anh gọi tên em là nhan sắc

Anh sẽ vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc
Anh sẽ nâng tay em cho ngọc sát vào môi
Anh sẽ nói thầm như gió thoảng trên vai
Anh sẽ nhớ suốt đời mưa tháng sáu

Tháng 6 Trời Mưa (nhạc Hoàng Thanh Tâm, thơ Nguyên Sa)

Tháng sáu trời mưa trời mưa không dứt
trời không mưa anh cũng lạy trời mưa
anh lạy trời mưa phong kín đường về
và đêm ơi xin cứ dài vô tận

Mình dựa vào nhau cho thuyền ghé bến
sưởi ấm đời nhau bằng những môi hôn
mình cầm tay nhau nghe tình dâng sóng nổi
hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn

Da em trắng anh chẳng cần ánh sáng
tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân
trên cuộc đời sẽ chẳng có giai nhân
vì anh gọi tên em là nhan sắc

Anh vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc
anh sẽ nâng tay cho ngọc sát kề môi
anh sẽ nói thầm như gió thoảng trên vai
và bên em tiếng đời đi rất vội

Tháng sáu trời mưa trời mưa không dứt
trời không mưa em có lạy trời mưa
anh vẫn xin mưa phong kín đường về
anh nhớ suốt đời mưa tháng sáu.

 

Tình Khúc Tháng 6 (nhạc Ngô Thụy Miên, thơ Nguyên Sa)

Tháng sáu nhạt mưa, mưa ướt mềm vai em
Trời mênh mang xõa kín bờ mi ngoan
Gót bước buồn lây trong gió chiều mưa bay
Hồn bâng khuâng nghe tiếng gọi đam mê

Anh muốn cùng mây giăng kín đường về
Gọi tên em, gọi tên em cho mát bờ môi ấy
Hãy nói bằng đôi môi, bằng tiếng rượu nồng
Mình yêu nhau, mình yêu nhau
Dù trời mưa bay, mưa bay…

Tháng sáu nhạt mưa, anh muốn cùng mưa bay
Cùng mây trôi tan biến vào môi em
Khép kín lòng môi anh ước tình yêu tới
Và mưa bay tháng sáu đẹp không em?

Anh muốn cùng em, yêu mãi nụ cười
Dựa vai nhau, dựa vai nhau
Như những ngày xưa ấy

Hãy nói mình yêu nhau bằng tiếng loài người
Trời thôi mưa, trời thôi mưa
Mình xa nhau, xa nhau

Tháng sáu trời mưa, mưa ướt mềm môi em
Mình yêu nhau, xin biết mình yêu nhau
Nước mắt thật cay, cay với tình yêu ấy
Và mưa bay, tháng sáu buồn không anh?

 Ảnh Nghệ Thuật Ants: Tháng Sáu Trời Mưa

 Trong bài thơ của Nguyên Sa, có câu thơ rất hay và rất “gợi niềm chăn chiếu” là:

Da em trắng anh chẳng cần ánh sáng
Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân

Hai câu thơ này được Hoàng Thanh Tâm giữ nguyên khi viết thành nhạc. Khi đôi tình nhân đang quấn quít vào nhau, họ không còn tha thiết gì khác trên đời nữa. Tuy nhiên, có nhiều ca sĩ trẻ lại hát thành: Tóc em mềm anh chẳng TIẾC mùa xuân, làm cho câu hát mất đi ý nghĩa.

Có thể nói, Tháng Sáu Trời Mưa là một trong những bài hát “gợi cảm” nhất của dòng nhạc hải ngoại. Những câu hát gợi hình tượng của một đôi tình nhân đương thời xuân thì, với những nỗi niềm khát khao, đam mê mãnh liệt đối với nhau, thể hiện qua sự van xin ông trời một cách tinh quái của chàng trai:

Tháng sáu trời mưa trời mưa không dứt
trời không mưa anh cũng lạy trời mưa
anh lạy trời mưa phong kín đường về
và đêm ơi xin cứ dài vô tận

Xin cho trời mưa, phong kín hết đường về, để cô gái không về nhà được, rồi xin cho đêm dài vô tận để họ được ở bên nhau trọn vẹn đam mê. Chàng trai này thật là “khôn lõi” quá.

Về hoàn cảnh sáng tác bài hát này, nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm đã viết trên blog của mình:

“Có nhiều người ở Việt Nam cũng như hải ngoại lầm tưởng nhạc phẩm “Tháng Sáu Trời Mưa” phổ thơ Nguyên Sa (do ca sĩ Thái Hiền trình bày đầu tiên) là sáng tác của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên. Thật sự thì nhạc sĩ Ngô Thụy Miên cũng có phổ nhạc bài thơ này của thi sĩ Nguyên Sa vào năm 1984. Nhưng khi bản phổ nhạc của Hoàng Thanh Tâm ra đời năm 1987 và tạo thành một hiện tượng, thì xảy ra sự lẫn lộn tên tác giả giữa 2 nhạc phẩm cùng tựa này.

Nói rõ hơn là có một số người khi “nghe” và “hát” bài “Tháng Sáu Trời Mưa”, bản phổ nhạc của Hoàng Thanh Tâm, thì cứ khăng khăng cho rằng tác giả là Ngô Thụy Miên. Và cũng ít ai biết được rằng bài thơ này có tới 2 nhạc sĩ phổ nhạc là Ngô Thụy Miên và Hoàng Thanh Tâm. Trong số những người biết bài “Tháng Sáu Trời Mưa” của Hoàng Thanh Tâm, thì lại không biết còn một bản nữa của Ngô Thụy Miên. Ngược lại những người biết nhạc sĩ Ngô Thụy Miên có phổ nhạc bài “Tháng Sáu Trời Mưa”, thì không được nghe chính bài hát của Ngô Thụy Miên, mà chỉ được nghe bản phổ nhạc của Hoàng Thanh Tâm, nên cứ nghĩ bản nhạc mình đang nghe là của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên.

Riêng bản thân tôi, khi tôi phổ nhạc bài thơ “Tháng Sáu Trời Mưa” của thi sĩ Nguyên Sa năm 1987 tại Canberra, Úc Châu, tôi không hề biết nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã phổ nhạc bài này năm 1984, tức là trước đó 3 năm. Cho đến vài năm sau (khoảng 1990/1991) khi biết nhạc sĩ Ngô Thụy Miên cũng phổ nhạc bài này, thì tôi cứ nghĩ nhạc phẩm này được viết sau bản phổ thơ của tôi. Mãi đến năm 2003, qua những thông tin trên mạng tôi mới biết nhạc sĩ Ngô Thụy Miên viết bài này vào năm 1984, trước tôi 3 năm”.

Tâm sự của Hoàng Thanh Tâm về “Tháng Sáu Trời Mưa”:

Đây là bản tình ca đã gắn liền với cuộc đời sáng tác của tôi. Và cũng là nhạc phẩm gây nhiều ngộ nhận nhất! Vì không phải ai cũng biết đúng tên tác giả của bài hát này.

Năm 1987, khi vẫn còn sinh sống tại thủ đô Canberra ở Úc. Một buổi chiều cuối tuần tháng sáu êm ả, tôi lang thang vào thư viện Quốc Gia (National Library), và bất ngờ tìm thấy tập thơ Nguyên Sa, quy tụ những bài thơ tình tôi và những bạn trung học Pétrus Ký đã từng chuyền tay nhau trong lớp để cùng đọc…

Những kỷ niệm thời hoa mộng bỗng dưng hiện về tràn ngập trong ký ức tôi, với biết bao nhớ thương, tiếc nuối của một thời áo trắng sân trường. Tôi đã photocopy bài “Tháng Sáu Trời Mưa” của Nguyên Sa trong tập thơ và mang về nhà để nghiền ngẫm.

Thơ Tháng 6: Khúc Tự Tình Tháng Sáu Trời Mưa Buồn & Tâm Trạng

Trong niềm cảm xúc dâng trào của đêm mưa tháng sáu tại Canberra, từ trong căn hộ nhỏ bé dành cho người độc thân (Bedsitter) ở O’Connor, tôi đã trải lòng mình bằng những note nhạc chứa chan kỷ niệm của một thời niên thiếu, qua những vần thơ của thi sĩ Nguyên Sa, để rồi từ đó, tình khúc “Tháng Sáu Trời Mưa” đã ra đời…

Nhạc phẩm này nằm trong Album tình ca “Hoàng Thanh Tâm 2” gồm 12 tình khúc mang chủ đề: “Khúc Nhạc Sầu Cho Em”, phần hòa âm & phối khí của nhạc sư Lê Văn Thiện, do trung tâm Giáng Ngọc phát hành tại Hoa Kỳ năm 1987.

Theo một thông lệ bất thành văn, những nhạc phẩm nổi tiếng thường thường phải được những ca sĩ hàng đầu và tên tuổi lừng lẫy như: Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu, Tuấn Ngọc… thâu âm đầu tiên.

Thật may mắn cho tôi, dù Thái Hiền không phải là một ca sĩ đang ăn khách lúc đó, nhưng cô đã giúp tôi chắp cánh cho bài hát bay thật xa, được phổ biến sâu rộng trong quần chúng, để trở thành một trong những nhạc phẩm bất hủ trong kho tàng âm nhạc Việt Nam.

Những nhạc sĩ nổi tiếng: Hoàng Thanh Tâm, Trần Quảng Nam, Nguyễn Ánh 9, Nam Lộc

Đôi nét về Hoàng Thanh Tâm :

Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm sinh ngày 14 tháng 4 năm 1960 tại Sài Gòn, là thứ nam của ông Hoàng Cao Tăng, cố giám đốc đài phát thanh Pháp Á (Radio France Asie). Hoàng Thanh Tâm thuộc thế hệ nhạc sĩ trẻ sau 1975, có những ca khúc đi sâu vào lòng người, và được xếp loại chung với những sáng tác của các thế hệ đàn anh trước 1975.

Với hơn 60 tác phẩm sáng tác trong khoảng 3 thập niên từ 1980-2009, trong số đó có những nhạc phẩm nổi bật như: “Tháng Sáu Trời Mưa”, “Lời Tình Buồn”, “Trả Lại Thoáng Mây Bay”, “Ngập ngừng”, “Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi”…, đã đem tên tuổi Hoàng Thanh Tâm đến với mọi tầng lớp khán thính giả khắp nơi, và giúp ông có một chỗ đứng vững chãi trong làng âm nhạc Việt Nam.

Hoàng Thanh Tâm là tên thật của nhạc sĩ, ông tự học nhạc qua sách vở, và đã biết sử dụng đàn guitar thành thạo từ nhỏ. Hoàng Thanh Tâm đã bắt đầu chập chững viết những note nhạc đầu tiên vào lúc 13 tuổi tại Sài Gòn, phổ nhạc thi phẩm “Cô Hái Mơ” của thi sĩ Nguyễn Bính, và đã hoàn chỉnh nhạc phẩm này tại Canberra, Úc vào năm 1987, sau khi ra mắt album đầu tay “Tình Khúc Hoàng Thanh Tâm” với chủ đề “Lời Tình Buồn” tại Hoa Kỳ năm 1986.

Sau khi tốt nghiệp trung học tại trường Pétrus Ký, nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm đến đảo Pulau Bidong, Mã Lai và được hội từ thiện Caritas bảo lãnh sang Bỉ năm 1979.

Ông đã theo học ngành Tin học (L’informatique) 3 năm tại trường Đại học Tự do Bruxelles và một lần nữa ông lại di cư sang Úc Đại Lợi vào năm 1982, và định cư luôn tại Úc cho đến bây giờ…

Trong 3 năm ở Bruxelles, Hoàng Thanh Tâm đã viết rất nhiều ca khúc về những nỗi nhớ thương quê nhà, cho những cuộc tình dang dở của ông, và nỗi cô đơn buồn tủi trên xứ người. Điển hình là những nhạc phẩm như: “Trả Lại Thoáng Mây Bay”, “Đêm Tha Hương”, “Dáng Xưa”, “Xuân Mơ”, “Đêm Hoàng Lan” (phổ thơ Trần Dạ Từ), “Lời Cho Người Tình Xa”, “Tìm Em”…

Nhạc phẩm đầu tay ông viết tại hải ngoại là nhạc phẩm “Trả Lại Thoáng Mây Bay” đã được ca sĩ Lệ Thu trình bày lần đầu tiên trong băng nhạc “Thu Hát Cho Người” do chính Lệ Thu thực hiện năm 1982.

Qua Úc năm 1982, nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm đã sống 6 năm đầu tại thủ đô Canberra. Trong thời gian này, ông có rất nhiều hứng khởi sáng tác, và đã tiếp tục viết rất nhiều tình khúc, cũng như phổ nhạc nhiều bài thơ nổi tiếng của các thi sĩ thời tiền chiến và cận đại như “Tháng Sáu Trời Mưa” & “Cần Thiết” của Nguyên Sa, “Áo Trắng” & “Buồn Đêm Mưa” và “Tự Tình” của Huy Cận, “Ngập Ngừng” (Em Cứ Hẹn) của Hồ Dzếnh, “Đây Thôn Vỹ Dạ” và “Giọt Lệ Tình” của Hàn Mặc Tử, “Một Mùa Đông” của Lưu Trọng Lư, “Đêm Trăng” của Xuân Diệu, “Một Tháng Giêng” (Đêm Hoàng Lan) và “Tình Tự Mưa” của Trần Dạ Từ, hoàn chỉnh thi phẩm “Cô Hái Mơ” của Nguyễn Bính…

Sau khi qua Mỹ năm 1986 để thực hiện album đầu tay “Lời Tình Buồn” và album thứ hai “Khúc Nhạc Sầu Cho Em” năm 1987 do trung tâm Giáng Ngọc của Lê Bá Chư phát hành, ông trở về Úc và chuyển về sinh sống ở Sydney năm 1988.

Khi trở lại Mỹ năm 1988 để thực hiện album thứ 3 “Tháng Sáu Trời Mưa” với trung tâm Diễm Xưa, Hoàng Thanh Tâm gặp lại nhà thơ Nguyên Sa và Du Tử Lê, và sau đó đã trở về Úc với thi sĩ Du Tử Lê để ra mắt đêm thơ & nhạc Du Tử Lê & Hoàng Thanh Tâm tại 2 thành phố Sydney và Melbourne. Từ mối thâm giao đó, Hoàng Thanh Tâm đã cho ra đời 3 tình khúc phổ từ 3 thi phẩm của thi sĩ Du Tử Lê gồm :

“Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi” (Hạnh Phúc Buồn)

“Còn Thơm Tay Quý Phi” (Tay Ngọc)

“Vì Em Tôi Đã Làm Sa Di” (Kinh Tình Yêu)

Những nhạc phẩm này đều có mặt trong album thứ 4 và thứ 5 của Hoàng Thanh Tâm do trung tâm Giáng Ngọc và Làng Văn phát hành năm 1993.

Hoàng Thanh Tâm và nhà thơ Du Tử Lê

Sau những hoạt động văn nghệ không ngừng nghỉ tại Hoa Kỳ, nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm đã mở một trung tâm băng nhạc tại Sydney lấy tên là Hoàng Thanh Tâm Enterprises, và làm đại diện cho trung tâm Asia của nhạc sĩ Anh Bằng tại Úc Châu đến năm 2002. Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm hiện đang định cư tại Sydney, Úc Châu và vẫn tiếp tục công việc sáng tác của mình.

Qua những quá trình đóng góp công sức của nhạc sĩ Hoàng thanh Tâm cho nền âm nhạc ở hải ngoại suốt hơn một phần tư thế kỷ, và đã để lại một số lượng không nhỏ những nhạc phẩm đã đi vào lòng người Việt ở trong nước cũng như tại hải ngoại, thi sĩ Du Tử Lê đã ưu ái tặng cho người nhạc sĩ họ Hoàng danh hiệu “Con tiểu Phượng Hoàng của nền âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại”.

 

 Katherine Nhi Lương sưu tầm

 

 

 thuphap

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này