Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1216)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (53)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (338)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Ngày lễ cha, hai vì sao

Ngày lễ cha, hai vì sao

June 16, 2019

Một giờ sáng, bác sĩ nội trú gọi điện thoại báo tin bệnh nhân D. yếu dần, chắc không qua khỏi, hỏi tôi có đến không. Tôi có thể đợi đến sáng mai, nhưng lần này thì tôi đi ngay. Dãy lầu dành riêng cho bệnh nhân già yếu im vắng, tôi vẫn ghé thăm ông vài hôm một lần. Tôi nhớ lại tiểu sử: 87 tuổi, vui tính, gốc Ba Lan, góa vợ, thiếu máu động mạch tim, sick sinus, rung nhĩ, máy tạo nhịp, ung thư tiêu hóa.

Hồ sơ bệnh nhân có chữ no code, đó là một người bệnh không muốn cấp cứu giai đoạn cuối, muốn ra đi yên bình. Khi tôi đến thăm, bao giờ đầu giường cũng thấy hai bức ảnh của hai chàng trung niên, một người mang kính, nghiêm nghị, một người trán hói tươi cười, cả hai đều đẹp trai. Đó là hai người con của ông đang ở Hoa Kỳ. Mặc dù kín đáo, khi được hỏi, mặt ông tươi lên và kể chi tiết về các con.

Cả hai đều là những nhà thiên văn học, say mê các vì sao từ khi còn học trung học ở Canada, nay đều đã có vợ con, và rất nổi tiếng. Ông kể cả hai có công phát hiện những tinh tú mới và tên của họ được đặt tên cho hai vì sao. Thỉnh thoảng vài năm các con và cháu cũng bay về thăm ông, và thỉnh thoảng gọi điện thoại. Ba năm gần đây họ không về nữa, điện thoại thưa dần, vì công việc bận rộn. Như thế cũng vô tình, nhưng vẫn không tệ lắm so với nhiều gia đình khác, tôi thầm nghĩ. 


Khi tôi đến, ông nằm im trên giường, màn hình monitor nhấp nháy các chỉ số mạch hô hấp huyết áp dưỡng khí. Tôi ngồi xuống. Ông nhắm mắt, thở nặng nhọc. Tôi bắt mạch, giữ tay ông trong tay mình một lúc rồi đứng lên. Khi tôi bước đi, có tiếng gọi khẽ, tôi quay lại, thấy ông mở mắt, bắt gặp tia nhìn sáng lên, tinh anh khác thường. Mấp máy môi. Tôi tiến lại gần, cúi xuống. Bỗng nghe ông nói tiếng nhỏ nhưng rõ ràng: con trai của ba? 


Tôi giật mình. Ông hỏi lại lần nữa, nhỏ như nói thầm, nhưng từng tiếng: con trai? Họng tôi nghẹn lại. Tôi ngồi hẳn xuống giường, cầm tay, cúi mặt xuống, trả lời: dạ, con đã về. Ông lắng nghe, không phản ứng gì. Tôi nhắc lại. Lần này hình như ông nghe được, hay ít nhất là tôi cảm thấy thế, nhắm mắt lại.

Ngọn đèn tàn bấc cháy bừng lên một lúc. Tôi gọi nhiều lần nữa, có lúc ông mở mắt, nhưng tia nhìn đã hết tinh anh, rồi mờ dần. Sáng sớm hôm sau, ông mất. Khi tôi được gọi trở lại để làm các thủ tục như tìm phản xạ đồng tử, và làm pronouncement, đã năm giờ ba mươi sáng. Tôi điện thoại cho gia đình, không liên lạc được. Tôi chậm chạp vuốt mắt cho ông lần cuối, thật ra là đặt tay lên mí mắt, vì mắt ông đã nhắm rồi, như thói quen tôi vẫn những khi có thể. 


Vì sau khi đã chết, người ta vẫn còn có thể được bình an hay bị tổn thương. Những việc làm của người sống như báo tin, vuốt mắt, khai tử, cầu nguyện, tang lễ, không phải chỉ là các thủ tục. Đối với tôi, đó là các nghi lễ. Nghi lễ mở đường cho sự chữa lành vết thương, làm chúng hồi phục.

Tôi đi theo sau chiếc giường phủ drap trắng của ông một đoạn, rồi rẽ lối khác tới khu vực đậu xe, tôi bước thong thả dọc hành lang treo những ngọn đèn vàng đục nhỏ, trong không khí xanh, loãng, tối, lạnh, mơ hồ, trên trời sao thưa lác đác. Tôi dừng lại nhìn lên, không, trên trời đêm nay không phải có vài vì sao, mà chỉ có hai vì sao thôi, nhấp nháy, đứng gần nhau.

Tôi nghĩ đến những người ở xa giờ này chưa biết tin, nhưng chắc họ đang có linh cảm nào đó, và nếu đang ngủ thì giấc ngủ bồn chồn. Tôi nghĩ đến ngày cha tôi mất, khi tôi vừa rời xa đất nước, không ở bên cạnh. Ông ở trong vòng tay của mẹ tôi, các chị tôi, em gái tôi. Nhưng đứa con trai thì ở xa.

Ngày ấy, hàng trăm ngàn người, Bắc cũng như Nam, ra đi không nghĩ đến lúc trở về. Dân tộc này đã từng chia tay như thế, kể từ năm 1954, một triệu người, để rồi "thương nhớ mười hai".

Trên thế gian, bao nhiêu người may mắn được ngồi bên cạnh giường của cha hay mẹ mình phút cuối. Và bao nhiêu người khác nữa vào giây phút ấy lặn lội nơi xa, đang cầu nguyện hay cãi vã, đang săn đuổi  hay đang bị săn đuổi, đang sai và nghĩ mình đúng, đang đúng và nghĩ mình sai, đang hạnh phúc hay buồn rầu. Tất cả những người ấy nên tìm đọc bài thơ của Robert Hayden.

 

 

Những Chủ Nhật Mùa Đông

<>

Cha tôi dậy sớm ngay cả ngày chủ nhật 
Thay áo quần trong tối lạnh xanh mờ 
Bàn tay cha nứt nẻ vì công việc 
Nhóm lửa lò cháy rực. Nhưng chẳng ai 
Từng biết cám ơn. Tôi thức giấc, than hồng 
Lách tách, bếp ấm dần, cha mới gọi tôi 
Dậy mặc áo quần, nhưng tôi ngần ngại 


Căn nhà xiêu cột kèo kêu giận dữ 
Tôi cũng chuyện trò ấm ớ với cha tôi 
Ông dậy sớm không phải vì tôi sao? 
Và đánh bóng những đôi giày, cũng thế 
Nhưng tôi có để ý gì đâu? Nào biết gì đâu? 
Mưa nắng dãi dầu, tình yêu khổ hạnh

 

Those Winter Sundays

<>

Sundays too my father got up early 
and put his clothes on in the blueblack cold, 
then with cracked hands that ached 
from labor in the weekday weather made 
banked fires blaze. No one ever thanked him. 
I’d wake and hear the cold splintering, breaking. 


When the rooms were warm, he’d call, 
and slowly I would rise and dress, 
fearing the chronic angers of that house, 
Speaking indifferently to him, 
who had driven out the cold 
and polished my good shoes as well. 
What did I know, what did I know 
of love’s austere and lonely offices?

 

Đang mê mải đi trên đường, đôi khi bạn nghe tiếng gọi từ phía sau. Bạn quay lại: không có ai cả. Tiếc thương không phải là cảm xúc u buồn, trái lại nó có thể làm cho tình yêu sáng lên, trở nên sâu thẳm vững bền. Tiếc thương là một hành động, là tấm gương chiếu rọi bất ngờ, thách thức, vỗ về, làm đầy một cuộc đời chưa trọn vẹn, làm cho bạn trở nên hạnh phúc hơn, trong suốt hơn, tự tin hơn và biết lý tưởng của bạn là xứng đáng.  

 

Nguyễn Đức Tùng

 Kim Kỳ sưu tầm

Hình Internet

Xem thêm...

Người Cha Lao Công

Happy Father's Day

June 16, 2019

Người Cha Lao Công

Thằng Jimmy là đứa “con trai cầu tự,” là đứa con...đẻ ráng, sau ngày vợ chồng ông đến Mỹ diện HO.  Ông Lạc từng là một sĩ quan của Quân Lực VNCH, đi tù khi Mỹ Hạ con gái đầu lòng của hai vợ chồng mới lên bốn tuổi.

Lúc sinh Jimmy, bà Hạnh đã ngoài bốn mươi. Thời gian sau theo dõi, bác sĩ nói đứa bé có vấn đề tâm lý, bị trầm cảm, cần phải được chăm sóc cẩn thận. Nghe lời khuyên, vợ chồng ông tìm đọc sách báo để biết cách nuôi con. Khi thằng bé bắt đầu đi học, ông Lạc gửi nó vào một trường bán công (Charter School) để họ chăm sóc cho kỹ càng. Nhờ vậy, Jimmy lớn lên ngoan hiền, học giỏi, chỉ tội ít nói chuyện ngoài ra không có vấn đề gì trầm trọng. 

Đứa con gái lớn Mỹ Hạ của ông bà học rất giỏi.  Đó cũng là tấm gương sáng cho Jimmy. Thằng bé cũng như chị gái, thay phiên nhau đem về khoe thành tích nhất nhì lớp của trường Oakland với cha mẹ. Ông Lạc rất mừng, từ những thông tin ông tìm được trước đây, trẻ mắc bệnh trầm cảm hoặc tự kỷ nếu chăm sóc tốt từ nhỏ, lớn lên nó có thể trở thành nhân tài.

Mỹ Hạ học xong đại học, ra đi làm rồi lấy chồng và dọn qua New York sống.  Jimmy tốt nghiệp trung học loại giỏi, đứng trong nhóm đầu bảng Top 10 học sinh giỏi của trường Oakland Charter Highschool và được nhận vào Laney College.  Vợ chồng ông thở phào nhẹ nhỏm, vất đi nỗi lo canh cánh bên lòng về Jimmy.

Jimmy vừa học college vừa đi làm ở tiệm KFC trong thành phố. Mọi thứ đều suông sẻ. Thằng con học giỏi lại đẹp trai nên dù nhút nhát, ít muốn tiếp xúc với mọi người, nó cũng có được đứa con gái cùng lớp tên Anna người Mỹ Trắng theo hò hẹn. Điều này làm vợ chồng ông vui lắm. 

Nhưng rồi tai họa đã giáng xuống cho gia đình ông, khi Jimmy bước sang năm học thứ hai. Đó là lúc bà Hạnh qua đời. Jimmy từ nhỏ rất thân thiết và gần gũi quấn quít bên mẹ. Bà cưng chìu, chăm chút cho con trai từng tý từng ly vì nỗi ám ảnh từ lời bác sĩ là nó bị bệnh. Dù đã lớn, mỗi lần đi học về Jimmy đều chạy tìm mẹ, mỗi tối trước khi đi ngủ thằng bé luôn vô phòng hôn mẹ và chúc ngủ ngon. Cho nên cú sốc mất mẹ làm cho Jimmy trở nên hoảng loạn.


Sau đám tang vợ, ông Lạc dù buồn khổ cũng phải cố gắng trở lại đi làm. Nhưng Jimmy thì không dậy nổi. Nó nằm bẹp dí, khóc cả tuần lễ, dù con bồ Anna thường tới an ủi vỗ về, nó cũng không chịu dậy đi học lại. Vốn là đứa học giỏi, giờ bỏ lớp giữa chừng, nên khi biết mình bị điểm F, rớt hết các môn, Jimmy càng căng thẳng và hụt hẩng.

Nó nằm lì trong nhà, không thiết cả ăn uống tắm rửa hay đi ra ngoài. Ông Lạc bận đi làm, ông cố làm thêm nhiều giờ cho quên đi nỗi buồn, nên không hề biết những diễn tiến tâm lý tồi tệ của Jimmy.

Rồi đến một ngày, khắp người Jimmy bỗng nhiên nổi toàn mẩn đỏ, ngứa và tróc từng lớp ở da đầu, ở mặt, cùi chỏ, đầu gối… Nó mắc phải chứng bệnh người ta thường gọi là “chứng vảy nến.” Và con bé Anna bỏ nó đi luôn từ đó.

Căng thẳng tiếp nối căng thẳng, khổ đau liên tục khổ đau, Jimmy bộc phát mạnh chứng bệnh trầm cảm mà lúc nhỏ bác sĩ đã phán đoán. Vì mặc cảm thân mình gớm ghiếc, nó trở nên khó chịu, chán đời, nhưng nhất quyết không đi bác sĩ để chữa trị.

Mặc cho cha khuyên bảo năn nỉ để cha đưa đi, nó vẫn không nghe. Ông hỏi thăm những bác sĩ trong bệnh viện và các y tá, thì họ cho biết chứng vảy nến tuy khó trị nhưng không lây lan nên ông cũng tạm yên tâm.

Khi căn bệnh Jimmy trở nên nghiêm trọng, các vảy nến rơi ra từ người nó lâu ngày chúng biến thành những con giòi trắng ngà, bò ngổn ngang khắp ra giường và phòng ngủ của nó trông rất ghê rợn.  Và ông Lạc đau đớn khám phá ra nó lén dùng ma tuý. Đi làm về bước vào nhà, ông nhận ra cái mùi hôi tanh của ma túy.

Giờ ông mới biết tại sao lâu nay thằng bé có thể chịu đựng được sự ngứa ngáy dơ nhớp khó chịu thế kia. Mỗi ngày ông đều năn nỉ Jimmy để ông đưa đi bác sĩ, nhưng vô ích, nó không thèm đếm xỉa tới cha nữa. Muốn nhờ cảnh sát giúp, buột đưa nó đi chữa trị và cai nghiện, nhưng ông không nỡ. Vậy mà vài tháng trước, nó bỏ nhà đi mất.

Vừa đi vừa miên man suy nghĩ, ông Lạc vượt qua con hẻm Eddy lúc nào không hay. Thình lình ông nghe có tiếng nhốn nháo từ phía đàng sau. Ông dừng chân quay lại, kéo sụp cái mũ xuống và bước dần về hướng đó rồi đứng nép sát người vào góc tường của một ngôi nhà nhìn vào.


Dưới ánh đèn đường, ông Lạc thấy một đám ba thằng choai choai mỗi đứa tay cầm một khúc cây ngắn đang bao vây một đứa con trai vào giữa, chúng nói gì đó có vẻ như đe doạ. Đứa nạn nhân ngồi bệt dưới đất, hai tay bị trói ngoặt ra sau, hai chân cũng bị trói đang cố sức vùng vẫy, nhưng tuyệt nhiên nó không kêu cứu hoặc kêu than một tiếng nào.

Bỗng nhiên có một đứa con gái từ đâu chạy nhào tới la hớt hải:

– “Stop it! Thomas!” Dừng lại Thomas! Đừng có đánh nó! Tao đã bỏ nó rồi mà! Nó bị bịnh hoạn tội nghiệp lại dơ nhớp thế kia mày ghen cái gì cơ chứ!

Ông Lạc giật bắn mình. Đó là tiếng của Anna, con nhỏ bồ của Jimmy. Ông vẹt hẳn cái mũ lên nhìn cho kỹ đứa ngồi dưới đất và sém chút nữa ông bật kêu thành tiếng:

– Jimmy! Trời ơi!

Nhưng ông kịp cắn răng và ngậm chặt miệng lại. Ông nhìn quanh quan sát để tìm cách cứu thằng con. Bên cạnh bọn chúng là cái thùng rác, bên kia cách vài mét là cây trụ điện. Ba thằng Mỹ tuy cao to nhưng cũng chỉ là mấy thằng nhóc mới lớn, lẽ nào cái người từng là cấp chỉ huy của một đại đội oanh liệt thiện chiến, học diệt thù có bài bản từ trường Võ Bị Quốc Gia, mà địch không lại bọn chúng hay sao.

Ông nghĩ vậy, nhưng cũng chợt nhớ ra là mình bây giờ cũng đã trên sáu mươi, chân bắt đầu run, gối cũng đã mỏi. Nếu là thuở xưa thì cái đám này nghĩa lý gì. Ông lùi lại rút điện thoại ra gọi 911, phòng ngừa nếu lát nữa có chuyện gì xảy ra cho hai cha con thì có người tiếp cứu.  Báo cho cảnh sát biết địa điểm xong, ông nhẹ bước tiến dần về phía chúng nó.

– Ê! Jim! “Son of a bitch!” Ê! Thằng Jim chó đẻ! Một thằng trong bọn lớn tiếng nói, tay hươi hươi khúc cây trước mặt thằng Jimmy. – Anna đã xin cho mày đó! Mày hãy “beg,” van bọn tao đi! Tao sẽ tha cho mày!

Thằng Jimmy vẫn không nói một lời. Nhưng khi thằng kia chồm tới gần định dọa nó hay nói gì đó thì nó nhổ toẹt một bãi nước miếng vào mặt thằng đó.

Như chỉ chờ có thế. Cả bọn nhào vô dùng khúc cây trên tay quật liên tiếp vào thằng Jimmy. Con Anna la hét om sòm, nhào vô vừa lôi kéo, vừa kêu tụi nó dừng tay, nhưng một thằng trong bọn xô mạnh con nhỏ té lăn quay xuống đất và dọa:

– Tụi tao chỉ trừng phạt chứ không có ý định giết nó! Nhưng nếu mày còn bênh nó mà la lối thì tao sẽ đập cho nó chết luôn!

Con nhỏ hoảng hồn bỏ chạy ra ngoài gọi cảnh sát.

Ông Lạc không thể chờ được nữa nên phóng vội tới để cứu Jimmy. Thấy thằng con nằm cong lại, oằn người nhận những cú nện như trời giáng của ba thằng du côn mà không kêu la, ông hét lên một tiếng thật to, chộp lấy cái thùng rác đẩy mạnh về phía hai thằng bên phải. Bất thình lình bị cái thùng rác tông vào, một trong hai thằng té nhào xuống đất.

Nhưng ông Lạc bị mất thăng bằng cũng ngã nghiêng qua một bên. Ông nhanh chóng gượng dậy, đứng theo thế võ xuống tấn để lấy lại thăng bằng, rồi bay vụt lên đá mạnh vào đầu cái thằng đang vung khúc cây lên chuẩn bị táng xuống Jimmy, làm cho nó văng ra xa nằm im không động đậy. Khúc cây rời khỏi tay hắn đập vào cái trụ điện rồi văng lông lốc ra giữa đường.

Thằng còn lại và thằng té ngã bây giờ đã đứng dậy. Mới thoạt đầu chúng kinh hãi khi có người tới cứu Jimmy. Nhưng giờ hoàn hồn nhìn thấy người tấn công chúng là một ông già Á Châu ốm nhách, chúng không còn sợ nữa. Hai thằng bèn bỏ Jimmy, cùng lúc nhào vô tấn công ông Lạc. Ông chẳng hề nào núng chút nào.

Tình thương con đã làm ông mạnh mẽ, phát điên lên, ông xông thẳng vào đánh bọn chúng bằng tay không nhưng mạnh như bão táp. Chỉ trong nháy mắt, hai thằng nhóc Mỹ to kền bị ông Lạc đánh cho bò lê bò càng, rồi ngã lăn ra ôm bụng nằm oặt oẹo. Quay sang con, ông thấy Jimmy nằm im không cục cựa nên vội chạy lại.

– Jimmy! Con có sao không? Để ba mở dây trói cho con!

Ông vừa thở hổn hển vừa nói, rồi cuối xuống mở dây cho Jimmy.

Trong lúc ông loay hoay mở dây trói trên tay cho Jimmy, bất ngờ cái thằng nằm xỉu ngoài đường tỉnh lại. Nó bò tới nhặt khúc gỗ lên, đứng bật dậy thật nhanh và nhào tới nhắm ngay đầu Jimmy bổ xuống từ phía sau lưng. Ông Lạc trông thấy hét lớn:

– Jimmy!

Ngay lập tức ông nhoài người tới ôm thằng con đẩy nó ngã xuống, và ông lãnh trọn cú đập như trời giáng vào đầu. Ông Lạc đổ gục xuống trên mình Jimmy, vừa lúc tiếng còi xe cảnh sát chạy tới hú lên vang dội...




Đã hai ngày trôi qua, tại phòng cấp cứu của bệnh viện San Francisco, ông Lạc vẫn còn nằm bất động, dây nhợ máy móc chằng chịt trên người.  Cú đánh vào đầu đã làm ông bị chấn thương sọ não. Bác sĩ phải giải phẩu, hút hết máu tụ trong đó ra, nhưng họ nói vết thương quá nặng, cho dù cuộc giải phẩu thành công nhưng ông có tỉnh lại được hay không thì họ chẳng có nhiều hy vọng. 

Con gái ông, Mỹ Hạ từ New York bay về từ hôm trước đang ngồi ủ rũ trong phòng.

Thằng Jimmy đầu đội chiếc mũ dìm che mái tóc bù xù và cái trán ửng đỏ, mặc bộ quần áo rộng thùng thình phủ cả cổ và hai cánh tay vảy nến Mỹ Hạ mua về bắt nó mặc, đang ngồi cạnh giường ôm lấy hai tay cha khóc rưng rức. Nó đã không ăn, bỏ ngủ từ hôm thứ Sáu đến giờ. Cú sốc mất mẹ, rồi mất người yêu, đã khiến tinh thần Jimmy bạc nhược, sa sút, lâm vào cảnh khốn cùng. Bây giờ sắp mất cha khiến Jimmy đột nhiên trở nên tỉnh táo.

– Daddy! Nước mắt Jimmy ràng rụa, chảy ướt đẫm bàn tay ông Lạc.  Nó gọi cha trong tiếng nấc nghẹn ngào. Khóc một hồi, bỗng nhiên Jimmy cảm thấy mấy ngón tay của ông Lạc cử động trong tay mình. Nó vui mừng kêu lên:

– “God!” Trời ơi! Cha đã tỉnh! Nó reo lên. – Chị ơi!  Cuối cùng cha đã tỉnh! Vậy mà bác sĩ nói cha có thể sẽ không bao giờ tỉnh lại. Để em đi gọi bác sĩ! Nói xong nó đứng dậy, định chạy đi.

Bàn tay ông Lạc trong tay Jimmy bỗng giữ nó lại, đôi mắt yếu ớt của ông nhìn thằng con thật âu yếm, rồi nhìn qua con gái. Đưa tay gỡ cái mặt nạ oxygen ra, giọng ông thều thào như hơi thở:

– Các con đừng đi! Cha khỏe rồi, và cha rất mừng thấy Jimmy đã biết biểu lộ tình cảm, nghĩa là con vẫn còn thương cha. Điều cha mong mỏi nhất là con phải cai nghiện, đi chữa bệnh, rồi trở lại trường học. Cha qua đây không giỏi tiếng Anh nên phải làm lao công cả đời. Nhưng con thì…

– Cha yên tâm đi! Jimmy thấy cha nói chuyện được thì mừng quính ngắt lời.  – Con hứa là con nhất định sẽ chữa bệnh và đi học lại, cha đừng lo! Hai ngày nay con đã cố gắng, mỗi lần lên cơn thèm thuốc là con nhìn vào cha rồi lén chạy vô phòng vệ sinh cắn chặt mấy ngón tay chịu đựng, khi qua cơn con mới ra ngoài, bây giờ cũng tạm quen dần. Con nhất định sẽ bỏ được…

Ông Lạc nở một nụ cười méo mó vì vết mổ còn đau, nước mắt chảy dài, nhưng trong mắt ông ánh lên niềm hạnh phúc vô biên. Ông sờ đầu thằng Jimmy, rồi đưa bàn tay ra cho Mỹ Hạ và nói: 

– Cha mừng quá, con gái Mỹ Hạ! Con hãy phụ cha khuyến khích em nha! Mẹ con mà biết được em thay đổi nên người thì bà ấy cũng sẽ ngậm cười nơi chín suối.



Và Jimmy đã làm được.

Bảy năm sau, ông Lạc về hưu. Đó cũng là năm Jimmy được nhận vào thực tập bác sĩ chuyên ngành ung thư trong bệnh viện nơi mà ông Lạc đã làm lao công hơn hai chục năm. Và cũng là nơi đã điều trị cho vợ ông. Jimmy nói, nó học ngành này để giúp cho những bịnh nhân giống như mẹ nó ngày xưa ...

 

Phương Hoa

 

Hình Internet

Kim Quy sưu tầm

Xem thêm...

Lược sử hệ thống giáo dục tại Việt Nam trước năm 1975

Lược sử hệ thống giáo dục tại

Việt Nam trước năm 1975

Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng “nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí”, “nền giáo dục đại học được tự trị”, ...
 
Triết lý giáo dục: Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng.
Lược sử hệ thống giáo dục tại Việt Nam trước năm 1975
 
Giáo dục Việt Nam Cộng hòa là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng “nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí”, “nền giáo dục đại học được tự trị”, và “những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn”.
 
Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa gồm tiểu học, trung học, và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập, và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương cho tới địa phương.
 
Trường Trung Tiểu Học Sao Mai Đà Nẵng

Tổng quan
 
Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Campuchia. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ.
 
Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời chính phủ Trần Trọng Kim – được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc. Riêng ở miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.
 
Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ Nhất Cộng Hòa, những người làm công tác giáo dục ở miền Nam đã xây dựng được nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu.
 
Linh Mục Vũ Như Huỳnh Hiệu Trưởng và
các Giáo Sư Trường Trung Tiểu học Sai Mai Đà Nẵng
 
Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị.
 
Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam Việt Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn.
 
Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa có một phần năm dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trung học, và 101.454 sinh viên đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số.
 
Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người (không tính các sinh viên theo học ở Học viện Hành Chính Quốc Gia và ở các trường đại học cộng đồng).
 
Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm (từ 1955 đến 1975), bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng và nội vụ (trên 40% ngân sách quốc gia dành cho quốc phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho giáo dục).
 
Nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các quốc gia phát triển.
Học Sinh Trung Học Sao Mai Đà Nẵng
 
Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng góp trọn vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở Miền Nam Việt Nam.
 
Triết lý giáo dục
 
Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hựu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên tắc “nhân bản” (humanistic), “dân tộc” (nationalistic), và “khai phóng” được chính thức hóa ở hội nghị này.
 
Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa (1967).
 
1/ Giáo dục Việt Nam là giáo dục nhân bản. Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác.
 
Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
 
2/ Giáo dục Việt Nam là giáo dục dân tộc. Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.
 
3/ Giáo dục Việt Nam là giáo dục khai phóng. Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

 
Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục của mình. Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại.
 
– Phát triển toàn diện mỗi cá nhân. Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý.
 
Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức. Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào.
 
– Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh. Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.
 
– Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học. Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại.
 
Giáo dục tiểu học

 
Bậc tiểu học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 (thời Đệ Nhất Cộng Hòa gọi là lớp Năm đến lớp Nhất). Theo quy định của hiến pháp, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ cập (bắt buộc).
 
Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã có luật quy định trẻ em phải đi học ít nhất ba năm tiểu học. Mỗi năm học sinh phải thi để lên lớp. Ai thi trượt phải học “đúp”, tức học lại lớp đó. Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác. Học sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần.
 
Theo quy định, một ngày được chia ra 2 ca học; ca học buổi sáng và ca học buổi chiều. Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa có 2,5 triệu học sinh tiểu học, chiếm hơn 80% tổng số thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi; 5.208 trường tiểu học (chưa kể các cơ sở ở Phú Bổn, Vĩnh Long và Sa Đéc).
 

 
Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một để bắt đầu bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn lựa cho con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong các trường công lập hay tốn học phí (tùy trường) tại các trường tiểu học tư thục.
 
Lớp 1 (trước năm 1967 gọi là lớp Năm) cấp tiểu học mỗi tuần học 25 giờ, trong đó 9,5 giờ môn quốc văn; 2 giờ bổn phận công dân và đức dục (còn gọi là lớp Công dân giáo dục). Lớp 2 (trước năm 1967 gọi là lớp Tư), quốc văn giảm còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ sử ký và địa lý.
 
Lớp 3 trở lên thì ba môn quốc văn, công dân và sử địa chiếm 12-13 tiếng mỗi tuần. Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng hè. Trong năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ (thông thường vào những ngày áp Tết).
 
Giáo dục trung học
 

 
Tính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng hòa có hơn 550.000 học sinh trung học, tức hơn 20% tổng số thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18; có 534 trường trung học (chưa kể các cơ sở ở Vĩnh Long và Sa Đéc).
 
Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học sinh ở các trường trung học công lập. Các trường trung học công lập nổi tiếng thời đó có Petruc Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trưng Vương, Gia Long, Lê Quý Đôn (Sài Gòn) tiền thân là Trường Chasseloup Laubat, Quốc Học (Huế), Trường Trung học Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ)… Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.
 
1- Trung học đệ nhất cấp
 
Trung học đệ nhất cấp bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9 (trước năm 1971 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ), tương đương trung học cơ sở hiện nay. Từ tiểu học phải thi vào trung học đệ nhất cấp. Đậu vào trường trung học công lập không dễ .
 
Các trường trung học công lập hàng năm đều tổ chức tuyển sinh vào lớp Đệ thất (từ năm 1971 gọi là lớp 6), kỳ thi có tính chọn lọc khá cao (tỷ số chung toàn quốc vào trường công khoảng 62%); tại một số trường danh tiếng tỷ lệ trúng tuyển thấp hơn 10%.
 
Những học sinh không vào được trường công thì có thể nhập học trường tư thục nhưng phải trả học phí. Một năm học được chia thành hai “lục cá nguyệt” (hay “học kỳ”). Kể từ lớp 6, học sinh bắt đầu phải học ngoại ngữ, thường là tiếng Anh hay tiếng Pháp, môn Công dân giáo dục tiếp tục với lượng 2 giờ mỗi tuần.
 
Từ năm 1966 trở đi, môn võ Vovinam (tức Việt Võ đạo) cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường. Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi này thoạt tiên có hai phần: viết và vấn đáp. Năm 1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên học 1966-67 thì Bộ Quốc gia Giáo dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung học đệ nhất cấp.
 

 
2- Trung học đệ nhị cấp
 
Trung học đệ nhị cấp là các lớp 10, 11 và 12, trước 1971 gọi là đệ tam, đệ nhị và đệ nhất; tương đương trung học phổ thông hiện nay. Muốn vào thì phải đậu được bằng Trung học đệ nhất cấp, tức bằng Trung học cơ sở. Vào đệ nhị cấp, học sinh phải chọn học theo một trong bốn ban như dự bị vào đại học.
 
Bốn ban thường gọi A, B, C, D theo thứ tự là Khoa học thực nghiệm hay còn gọi là ban vạn vật; ban toán; ban văn chường và ban văn chương cổ ngữ, thường là Hán văn. Ngoài ra học sinh cũng bắt đầu học thêm một ngoại ngữ thứ hai.
 
Vào năm lớp 11 thì học sinh phải thi Tú tài I rồi thi Tú tài II năm lớp 12. Thể lệ này đến năm học 1972-1973 thì bỏ, chỉ thi một đợt tú tài phổ thông. Thí sinh phải thi tất cả các môn học được giảng dạy (trừ môn Thể dục), đề thi gồm các nội dung đã học, không có giới hạn hoặc bỏ bớt. Hình thức thi kể từ năm 1974 cũng bỏ lối viết bài luận (essay) mà theo lối thi trắc nghiệm có tính cách khách quan hơn.
 
Mỗi năm có hai đợt thi Tú tài tổ chức vào khoảng tháng 6 và tháng 8. Tỷ lệ đậu Tú tài I (15-30%) và Tú tài II (30-45%), tại các trường công lập nhìn chung tỷ lệ đậu cao hơn trường tư thục do phần lớn học sinh đã được sàng lọc qua kỳ thi vào lớp 6 rồi.
 
Do tỷ lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào được đại học là một chuyện khó. Thí sinh đậu được xếp thành: Hạng “tối ưu” hay “ưu ban khen” (18/20 điểm trở lên), thí sinh đậu Tú tài II hạng tối ưu thường hiếm, mỗi năm toàn Việt Nam Cộng hòa chỉ một vài em đậu hạng này, có năm không có; hạng “ưu” (16/20 điểm trở lên); “bình” (14/20); “bình thứ” (12/20), và “thứ” (10/20).
 
Một số trường trung học chia theo phái tính như ở Sài Gòn thì có trường Petrús Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trường Hồ Ngọc Cẩn (Gia Định) và các trường Quốc học (Huế), Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Võ Tánh (Nha Trang), Trần Hưng Đạo (Đà Lạt), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho) dành cho nam sinh và các trường Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trường Nữ Trung học Đồng Khánh (Huế), Trường Nữ Trung học Bùi Thị Xuân (Đà Lạt), Trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân (Mỹ Tho), Trường Nữ Trung học Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ) chỉ dành cho nữ sinh.
 
Học sinh trung học lúc bấy giờ phải mặc đồng phục: nữ sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn nam sinh thì mặc áo sơ mi trắng, quần màu xanh dương.
 

 
Trung học tổng hợp
 
Chương trình giáo dục trung học tổng hợp (tiếng Anh: comprehensive high school) là một chương trình giáo dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewey, sau này được nhà giáo dục người Mỹ là James B. Connant hệ thống hóa và đem áp dụng cho các trường trung học Hoa Kỳ Giáo dục trung học tổng hợp chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn tư vấn, kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường trung học.
 
Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị những môn học đặc thù khả dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh sống. Thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa chính phủ cho thử nghiệm chương trình trung học tổng hợp, nhập đệ nhất và đệ nhị cấp lại với nhau.
 
Học trình này được áp dụng đầu tiên tại Trường Trung học Kiểu mẫu Thủ Đức, sau đó mở rộng cho một số trường như Nguyễn An Ninh (cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân Tông, Quận 10) và Sương Nguyệt Ánh (cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và Vĩnh Viễn, gần chùa Ấn Quang) ở Sài Gòn, và Chưởng Binh Lễ ở Long Xuyên.
 

 
Trung học kỹ thuật
 
Các trường trung học kỹ thuật nằm trong hệ thống giáo dục kỹ thuật, kết hợp việc dạy nghề với giáo dục phổ thông. Các học sinh trúng tuyển vào trung học kỹ thuật thường được cấp học bổng toàn phần hay bán phần.
 
Mỗi tuần học 42 giờ; hai môn ngoại ngữ bắt buộc là tiếng Anh và tiếng Pháp. Các trường trung học kỹ thuật có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố; ví dụ, công lập thì có Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956; tiền thân là Trường Cơ khí Á châu thành lập năm 1906 ở Sài Gòn; nay là Trường Cao Đảng Kỹ Thuật Cao Thắng).
 
Trường Trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc, Trường Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ; tư thục thì có Trường Trung học Kỹ thuật Don Bosco (do các tu sĩ Dòng Don Bosco thành lập năm 1956 ở Gia Định; nay là Trường Đại Học Công Nghiệp TPHCM, và Trường Kỹ thuật La San (do các tu sĩ Dòng La San thành lập tại Đà Lạt; nay là Trường Kỹ Thuật Tỉnh Lâm Đồng)

 
Các trường tư thục và Quốc Gia Nghĩa Tử
 
Các trường tư thục và Bồ Đề

 
Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệ thống trường tư thục. Vào năm 1964 các trường tư thục giáo dục 28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung học. Đến niên học 1970-1971 thì trường tư thục đảm nhiệm 17,7% học sinh tiểu học và 77,6% học sinh trung học.
 
Con số này Tính đến năm 1975, Việt Nam Cộng hòa có khoảng 1,2 triệu học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục ở cả hai cấp tiểu học và trung học. Các trường tư thục nổi tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Regina Pacis (Nữ vương Hòa bình), và Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho nữ sinh.
 
Bốn trường này nằm dưới sự điều hành của Giáo Hội Công Giáo. Trường Bác ái (Collège Fraternité) ở Chợ Quán với đa số học sinh là người Việt gốc Hoa cũng là một tư thục có tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có hệ thống các trường tiểu học và trung học Bồ Đề ở nhiều tỉnh thành, tính đến năm 1970 trên toàn quốc có 137 trường Bồ đề, trong đó có 65 trường trung học với tổng số học sinh là 58.466.
 
Ngoài ra còn có một số trường do chính phủ Pháp tài trợ như Marie Curie, Colette, và Saint-Exupéry. Kể từ năm 1956, tất cả các trường học tại Việt Nam, bất kể trường tư hay trường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhất định cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam.
 
Chương trình học chính trong các trường tư vẫn theo chương trình mà Bộ Quốc gia Giáo dục đã đề ra, dù có thể thêm một số giờ hoặc môn kiến thức thêm. Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Viêt Nam tổng cộng có 1.087 trường tư thục ở miền Nam Việt Nam bị giải thể và trở thành trường công (hầu hết mang tên mới).
 

 
Các trường Quốc Gia Nghĩa Tử
 
Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên, Việt Nam Cộng hòa còn có hệ thống thứ ba là các trường Quốc gia nghĩa tử. Tuy đây là trường công lập nhưng không đón nhận học sinh bình thường mà chỉ dành riêng cho các con em của tử sĩ hoặc thương phế binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như là một đặc ân của chính phủ giúp đỡ không chỉ phương tiện học hành mà cả việc nuôi dưỡng.
 
Hệ thống này bắt đầu hoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển thêm ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa. Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh. Loại trường này do Bộ Cựu Chiến binh quản lý chứ không phải Bộ Quốc gia Giáo dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ Quốc gia Giáo dục. Chủ đích của các trường Quốc gia nghĩa tử là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho các học sinh chứ không được huấn luyện quân sự. Vì vậy trường Quốc gia nghĩa tử khác trường Thiếu sinh quân. Sau năm 1975, các trường quốc gia nghĩa tử cũng bị giải thể.
 
Giáo dục đại học

 
Học sinh đậu được Tú tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện Đại Học, trường Đại Học, và học viện trong nước. Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là  Y, Dược, Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia hành chánh và Sư Phạm.
 
 
Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình. Sinh viên học trong các cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương trình học bổng cho sinh viên.
 
Chương trình học trong các cơ sở giáo dục đại học được chia làm ba cấp:
 
-Cấp 1 (học 4 năm): Nếu theo hướng các ngành nhân văn, khoa học, v.v.. thì lấy bằng cử nhân (ví dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán…); nếu theo hướng các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng tốt nghiệp (ví dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm, bằng tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh…) hay bằng kỹ sư (ví dụ: kỹ sư Điện, kỹ sư Canh nông…).
 
-Cấp 2: học thêm 1-2 năm và thi lấy bằng cao học hay tiến sĩ đệ tam cấp (tiếng Pháp: docteur de troisième cycle; tương đương thạc sĩ ngày nay).
 
-Cấp 3: học thêm 2-3 năm và làm luận án thì lấy bằng tiến sĩ (tương đương với bằng Ph.D. của Hoa Kỳ).
 
Riêng ngành y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa phải học thêm 6 năm hay lâu hơn mới xong chương trình đại học.
 

 
Mô hình các cơ sở giáo dục đại học
 
Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời Việt Nam Cộng hòa được tổ chức theo mô hình viện đại học (theo Việt-Nam Tự-Điển của Hội khai trí Đức Tiến: Viện = Nơi, sở). Đây là mô hình tương tự như university của Hoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ (tiếng Anh: credit).
 
Mỗi viện đại học bao gồm nhiều phân khoa đại học (tiếng Anh: faculty; thường gọi tắt là phân khoa, ví dụ: Phân khoa Y, Phân khoa Sư phạm, Phân khoa Khoa học, v.v…) hoặc trường hay trường đại học (tiếng Anh: school hay college;
 
ví dụ: Trường Đại học Nông nghiệp, Trường Đại học Kỹ thuật, v.v…). Trong mỗi phân khoa đại học hay trường đại học có các ngành (ví dụ: ngành Điện tử, ngành Công chánh, v.v…); về mặt tổ chức, mỗi ngành tương ứng với một ban (tiếng Anh: department; tương đương với đơn vị khoa hiện nay).
 
Về mặt tổ chức, viện đại học của Việt Nam Cộng hòa duy trì đường lối phi chính trị của các đại học Tây Phương. Các khoa trưởng của các trường phân khoa khong do Bộ Quốc gia Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên.
 

Trong hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị Hòa Bình đang diễn ra ở Paris, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành, đó là trường đại học cộng đồng và viện đại học bách khoa.
 
Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành; sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc.
 
Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế.
Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứucủa ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Southern California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Khái niệm trường đại học cộng đồng: Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam).
 
 
Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang, thành lập vào năm1971 ở Định Tường sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng.
 
Vào năm 1973, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (tên tiếng Anh: Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) được thành lập. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn.
 
Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về Nộng Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo Dục, Khoa Học và Nhân Văn, Kinh tế và Quản trị, và Thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học.
 
Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều được gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí.
 
Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hoà xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập.
 
Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình phân tán ngành học. Các “trường đại học bách khoa” được thành lập dưới hai chính thể này ( Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách Khoa TPHCM, và Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng) không giống như mô hình viện đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật Tương tự, mô hình “trường đại học tổng hợp” (Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, Trường Đại Học Tổng Hợp TPHCM và Trường Đại Học Tổng Hợp Huế) cũng chỉ tập trung vào các ngành khoa học cơ bản, chứ không mang tính chất toàn diện.
 
Đến đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập 2 “đại học” cấp quốc gia và 3 “đại học” cấp vùng theo mô hình gần giống như mô hình viện đại học. Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu của Quốc Hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đưa ra đề nghị gọi tên các “đại học” cấp quốc gia và cấp vùng là “viện đại học”.
 

 
Các viện đại học công lập
 
Viện Đại Học Sài Gòn: Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam (1955) – còn có tên là Viện Đại học Quốc gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại học Quốc Gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại học Sài Gòn.
 
Đây là viện đại học lớn nhất nước. Trước năm 1964, tiếng Việt lẫn tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh. Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại học Sài Gòn.
 
-Viện Đại Học Huế: Thành lập vào tháng 3 năm 1957 với 5 phân khoa đại học: Khoa học, Luật, Sư phạm, Văn khoa, và Y khoa.
 
-Viện Đại Học Cần Thơ: Thành lập năm 1966 với 4 phân khoa đại học: Khoa học, Luật khoa & Khoa học Xã hội, Sư phạm, và Văn khoa.
 
-Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức: Thành lập năm 1974. Tiền thân là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (1957), Học viện Quốc gia Kỹ thuật (1972).
 

 
Các viện đại học tư thục
 
-Viện Đại Học Đà Lạt: Thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại học Đà Lạt nguyên là một chủng viện của Giáo hội Công Giáo. Viện đại học này có 4 phân khoa đại học: Chính trị Kinh doanh, Khoa học, Sư phạm, Thần học và Văn khoa. Theo ước tính, từ năm 1957 đến 1975 viện đại học này đã giáo dục 26.551 người.
 
-Viện Đại Học Vạn Hạnh: Thuộc khối Ấn Quang của Giáo hội phật giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân khoa đại học: Giáo dục, Phật Học, Khoa Học Xã hội, Khoa học ứng dụng, và Văn học & Khoa học nhân văn. Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinh viên.

 
-Viện Đại Học Phương Nam: Được cấp giấy phép năm 1967 tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975 là đường 3 Tháng Hai), Quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc khối Việt Nam Quốc Tự của Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng. Viện Đại học Phương Nam có 3 phân khoa đại học: Kinh tế-Thương mại, Ngoại ngữ, và Văn khoa. Vào thập niên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh.
 
-Viện Đại Học An Giang (Hòa Hảo): Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phân khoa đại học: Văn khoa, Thương mại-Ngân hàng, Bang giao Quốc tế, Khoa học Quản trị và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo.
 
-Viện Đại Học Cao Đài: Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học: Thần học Cao Đài, Nông lâm mục, và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Cao Đài.
 
-Viện Đại Học Minh Đức: Được cấp giấy phép năm 1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ thuật Canh nông, Khoa học Kỹ thuật, Kinh tế Thương mại, Nhân văn Nghệ thuật, và Y Khoa. Viện Đại học này do Giáo hội Công Giáo điều hành.
 
Các học viện và viện nghiên cứu
 
Học Viện Quốc Gia Hành Chính: Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao.
 
Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản (gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3/2), Quận 10, Sài Gòn. Học viện này trực thuộc Phủ Thủ tướng hay Phủ Tổng thống, đến năm 1973 thì thuộc Phủ Tổng ủy Công vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự.

 
Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972-1974): tiền thân là Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1974.

Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Nguyên tử lực Đà Lạt, Viện Khảo cổ v.v. với những chuyên môn đặc biệt.
 
Các trường đại học cộng đồng
 
Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở  Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long.
 
Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại học Cộng đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán. Ở Sài Gòn thì có Trường Đại học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công Giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.
 
Các trường kỹ thuật và huấn nghệ
 
Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm súc. Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tương đương với cấp đại học.

Trường quốc gia Nông Lâm mục: Thoạt tiên là Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B’lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm.
 
Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc, vườn cây công nghiệp, lúa thóc. Qua từng giai đoạn Trường đổi tên thành Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972), Học viện Quốc gia Nông nghiệp (1972-1974).
 
Cuối cùng Trường Quốc gia Nông lâm mục được sáp nhập vào Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức (có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương.
 

Trung Tâm Kỹ Thuậc Phú Thọ: Thành lập năm 1957 thời Đệ nhất Cộng Hoà gồm bốn trường: Trường Cao đẳng Công chánh, Trường Cao đẳng Điện học, Trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ, và Trường Việt Nam Hàng hải.
 
Năm 1968 lập thêm Trường Cao đẳng Hóa học. Năm 1972, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật đổi thành Học viện Quốc gia Kỹ thuật và đến năm 1974 thì nhập với Trường Đại học Nông nghiệp để tạo nên Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức.
 
Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia: Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an nnh và thi hành luật pháp.
 

 
Các trường nghệ thuật
 
-Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ: Thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chương trình học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ điễn Tây Phương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ.
 
-Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế: Thành lập năm 1962 ở cố đô Huế chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam, dùng nhà hát Duyệt Thị Đường trong Kinh Thành Huế làm nơi giảng dạy.
 
-Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật: thành lập năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định (tiền thân là Trường Mỹ nghệ Gia Định, thành lập năm 1940).
 
-Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn: thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hình với các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ (1954-1966).
 
Sinh viên du học ngoại quốc
 
Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.
 
 
Kim Kỳ sưu tầm 
Hình Internet
 
 
 
 
 
 
 
 
Xem thêm...

12 sự thật thú vị về tình yêu dưới góc nhìn khoa học

12 sự thật thú vị về tình yêu dưới góc nhìn khoa học

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

Nhắc đến tính yêu chúng ta thường nói đến sự lãng mạn, tình cảm nồng cháy và những cung bậc cảm xúc thăng hoa. Tuy nhiên, tình yêu dưới một góc độ nào đó thì lại vô cùng hài hước và thú vị.

Tình yêu là một trong những cảm xúc kỳ lạ và bí ẩn nhất của con người, nó không chỉ đơn thuần là sự rung động đầu đời, tình cảm thơ ngây trong sáng tuổi học trò hay những lần đỏ mặt, e thẹn mà bạn sẽ không bao giờ quên mà đằng sau nó còn là những hoạt động phức tạp hơn hẳn những gì nhiều người vẫn tưởng tượng.

Tình yêu thường là một cảm xúc thu hút mạnh mẽ và nhu cầu muốn được ràng buộc gắn bó, nó cũng có thể là một đức tính đại diện cho lòng tốt của con người, sự nhân từ, và sự thông cảm.

Trái tim là biểu tượng cho tình yêu. (Ảnh: widehdimages.com)
Còn sô cô la và hoa hồng thì thể hiện sự ngọt ngào và lãng mạn trong tình yêu. (Ảnh: dtsft.wordpress.com)

Hiện nay, các nhà khoa học vẫn không ngừng nghiên cứu về dạng cảm xúc độc đáo này. Dưới đây là 12 thật thú vị về tình yêu được các nhà khoa học phát hiện ra:

1. Không phải chỉ có con người có tình yêu

Chúng ta thường nghĩ rằng tình yêu chỉ tồn tại trong xã hội loài người nhưng thực tế nó còn phổ biến trong giới tự nhiên, nổi bật là loài sói, thiên nga, kền kền, vượn, và 1 số loài chim hải âu lớn. Không những vậy,  nhiều loài vật là chứng minh cho ta thấy chúng còn chung thủy hơn nhiều lần con người vì chỉ sống với duy nhất 1 bạn đời cho đến khi chết như thiên nga.

Thiên nga là loài động vật chung thủy nhất thế giới tự nhiên. (Ảnh: newaysuspech.ru)

2. Tình yêu chỉ chiếm 1/3 hoạt động của não 

Khi nghiên cứu mối liên hệ giữa tình yêu lãng mạn và hoạt động của não bộ, các nhà  khoa học tại trường Đại học Rutgers (Mỹ) chỉ ra rằng: “Tình yêu chỉ chiếm 1/3 hoạt động của não khi bạn yêu, còn hoạt động não bộ thì kiểm soát nhận thức, sự ham muốn và bản năng duy trì nòi giống”.

(Ảnh: goodfon.ru)

Đây chính điểm khác biệt giữa con người với các loài động vật có vú và chim, nó thể hiện sự phát triển hơn rất nhiều về nhận thức và tư duy. Dạng hoạt động này của não là động lực tạo nên sức mạnh đặc biệt của tình yêu giúp cho con người sống lạc quan, có trạng thái tinh thần vui vẻ và sống lâu hơn.

3. Nghiêng đầu sang phải khi hôn

Hãy tưởng tượng khi bạn muốn hôn người yêu mình, dù là lên môi hay lên má thì bạn nghiêng đầu sang phải đúng không? Nếu đúng thì bạn thuộc về nhóm 65% dân số trên thế giới đấy!

(Ảnh: Bestie)

Việc chỉ nghiêng đầu sang một bên duy nhất khi hôn dường như được quyết định bởi thói quen não bộ vận động, giống như người thuận phải hay thuận trái vậy. Số người thuận tay trái chỉ chiếm phần nhỏ trong xã hội nên rõ ràng người nghiêng sang trái cũng ít hơn.

Các chuyên gia lý giải rằng hành động này có thể chịu ảnh hưởng từ việc mức độ hormone tại mỗi bán cầu và các chất truyền dẫn thần kinh được phân bổ không đều giữa 2 bán cầu não. Ví dụ: dopamine – hormone tưởng thưởng hay testosterone – hormone sinh dục nam chênh lệch tạo ra xu hướng khiến chúng ta nghiêng đầu sang 1 bên.

4. Không thích chia sẻ tình cảm trên mạng xã hội

Các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Kansas (Mỹ) đã làm một cuộc nghiên cứu và đưa ra kết luận rằng hầu hết mọi người không thích đối tác của mình chia sẻ công khai những cảm xúc, tình cảm về mối quan hệ của họ trên “thế giới Facebook”.

(Ảnh: bestie.vn)

Những người tham gia cuộc nghiên cứu nói rằng họ cảm thấy bản thân không thể gần gũi  với “đối tác” vì họ cứ thích công khai những suy nghĩ nói lên cảm nhận về tình yêu của họ.

5. Chỉ 4 phút để quyết định đó có phải là người bạn yêu

Yêu từ cái nhìn đầu tiên hay tiếng sét ái tình là sự sự rung động bất chợt của trái tim khi gặp một ai đó khiến bạn thầm thương, mơ mộng, nhớ nhung cùng những cảm giác lâng lâng hạnh phúc với cái nắm tay, nụ hôn, lần vô tình chạm vào mắt nhau.

Dù bạn có tin hay không tin vào tình yêu từ cái nhìn đầu tiên thì vẫn tồn tại một khoảng thời gian tương đối để bạn thu hút sự chú ý và làm cho ai đó yêu mình, khoảng thời gian đó là khoảng 4 phút. Trong vòng 4 phút này, đối phương thường tìm sự hấp dẫn ở nụ cười, ngôn ngữ cơ thể, giọng nói… hơn là nội dung những điều bạn đang nói. Một nghiên cứu khác còn chỉ ra rằng, nếu chỉ dựa vào ấn tượng đầu tiên về vẻ ngoài, chúng ta chỉ mất có 8 giây để quyết định có yêu ai đó.

(Ảnh: Webtretho)

6. Tình yêu xuất hiện tình cờ mà bạn không biết trước

Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng nếu một người con trai bắt gặp một người con gái trong những tình huống nguy hiểm hoặc khó khăn thì tỉ lệ họ trúng tiếng sét ái tình cao hơn các trường hợp làm quen ở văn phòng, công sở, ngoài đường hay trong công viên.

(Ảnh: kaskus.co.id)

7. Tình yêu có tác dụng như một chất kích thích

Các nhà nghiên cứu và cả những người trong cuộc đã chỉ ra sự tương đồng giữa trạng thái yêu thương đắm đuối với cảm giác sau khi sử dụng chất kích thích bởi cả 2 đều gây ra những trạng thái lâng lâng, hưng phấn và ngây ngất. Họ còn bổ sung thêm rằng khi chúng ta yêu thì cơ thể sẽ giải phóng các chất cảm ứng có thể sản sinh ra trạng thái này và kích thích 12 vùng não bộ trong cùng 1 thời điểm.

(Ảnh: We25.vn)

8.  Nắm tay người mình yêu có thể giúp giảm căng thẳng và đau đớn về mặt thể chất cũng như tinh thần

Các bằng chứng chỉ ra rằng, các cặp đôi yêu nhau sâu đậm luôn có nhiều cách để giúp đỡ đối phương đương đầu với khó khăn mệt mỏi. Một trong những cách đó là nắm lấy tay người mình yêu, nó giúp bạn quên đi những mệt mỏi và u sầu cũng như cảm nhận được tình cảm và suy nghĩ của đối phương.

(Ảnh: huffingtonpost.com)

9. Chỉ nhìn vào mắt nhau cũng có thể khiến hai người yêu nhau

Trong tình yêu, câu nói “đôi mắt là cửa sổ tâm hồn” không chỉ là câu nói đùa, bởi lẽ chỉ cần một  1 hành động đơn giản là nhìn vào mắt nhau thôi cũng khiến 2 người xa lạ đến mấy  cũng có thể dễ dàng “phải lòng” nhau.

Khi có ai đó nhìn vào mắt bạn, cơ thể của bạn sẽ sản sinh ra một chất với tên gọi feniletilamina – thứ có tính quyết định tới việc “tiếp tục” hay “bỏ chạy” của não bộ. Do đó, nếu bạn quyết định “tiếp tục”, nghĩa là nhìn lại người ấy, vô hình bạn đã găm mũi tên của thần Cupid vào đối phương rồi đấy.

(Ảnh: Zing TV – Zing.vn)

Không cần bạn phải xinh đẹp hay giỏi giang đến nhưng với tinh thần vui vẻ và lạc quan là đủ để làm người đối diện luôn có một cảm giác hấp dẫn không thể từ chối.

10. Nét tương đồng giữa các đôi yêu nhau

Các nhà khoa học ở trường ĐH Liverpool (Anh) giải thích rằng, não của chúng ta thường ưa thích những khuôn mặt thân quen. Do đó, bạn sẽ thấy rất nhiều đôi yêu nhau trông giống nhau như anh trai và em gái. Nếu các đôi nam nữ khác nhau có hình dáng khuôn mặt càng giống nhau thì khả năng bên họ gắn kết với nhau càng lâu.

(Ảnh: Soha)

Một nghiên cứu với 200 đối tượng nghiên cứu với những gương mặt đã được chỉnh sửa theo phương pháp kỹ thuật số, các nhà khoa học phát hiện ra rằng phần lớn những người tham gia nghiên cứu  thích những khuôn mặt có nét tương đồng với mình hoặc người thân của mình.

11. Lượng hormone ảnh hưởng tới cách cư xử trong tình yêu

Oxytocin là một loại hormone được tiết ra ở vùng dưới đồi, dự trữ ở thùy sau của tuyến yên. Khi vùng dưới đồi gửi một tín hiệu thần kinh đến tuyến yên thì oxytocin sẽ được giải phóng, chất hóa học này đảm nhận vai trò như một liên kết trong tình yêu.

(Ảnh: usmagazine.com)

Một nghiên cứu mới đây tại trường Đại học Zurich (Thụy Sĩ) đã chỉ ra rằng: “Những người đàn ông có nhiều oxytocin hơn thường chọn gải pháp im lặng trong những cuộc xung đột với người yêu. Đó là những người thường cười khá nhiều, hay giao tiếp bằng ánh mắt và thường xử sự khá tốt dù xảy ra bất đồng.”

12. Nhận biết tình cảm qua khoảnh khắc

Các nhà khoa học thuộc trường Đại học Pennsylvania (Mỹ) khi nghiên cứu hành vi của những người độc thân chỉ ra rằng con người không cần quá nhiều thời gian hay thông tin để biết tình cảm của mình với người khác.

Họ phát hiện ra rằng cả nam và nữ đều có khả năng nảy sinh tình cảm trong khoảnh khắc gặp mặt bất ngờ nhờ sử dụng những dấu hiệu thị giác ban đầu. Những yếu tố khác như tôn giáo, giáo dục hay thu nhập đóng vai trò không nhiều trong chuyện tình cảm.

(Ảnh: psihologiy.net)

Tóm lại, lời khuyên dành cho ai muốn có một bạn “gấu” đồng hành trong mùa đông giá lạnh này là luôn thường trực trên khuôn mặt một nụ cười tươi tắn và chân thành!

Còn rất nhiều điều lý thú đằng sau chủ đề liên quan đến tình yêu. Mong rằng bạn sẽ có những thời gian vui vẻ và thư giãn sau khi đọc những thông tin thú vị mà bài viết đã gửi đến mọi người.

Sơn Tùng

Những sự thật kỳ lạ mà khoa học lý giải về tình yêu

Các nhà nghiên cứu đã tìm ra được những sự thật thú vị liên quan đến tình yêu bao gồm những lợi ích mà nó mang lại hay cách mà nó tác động lên các cặp đôi.

 Bí mật hóa học của tình yêu

Tình yêu tác động lên não bộ giống với tác động của Cocain

Những sự thật kỳ lạ mà khoa học lý giải về tình yêu

Các nhà khoa học nghiên cứu về tác động của tình yêu vừa công bố một phát hiện mới, theo đó cho thấy cách não bộ phản ứng với tình yêu cũng giống như khi người ta sử dụng ma túy. Khi đang yêu, não bộ sẽ giải phóng các chất hóa học thần kinh như norepinephrine, dopaminem adrenalin và oxytocin. Kết quả là chúng sẽ tạo ra cảm giác sung sướng và hạnh phúc, cùng với đó là những cảm giác nôn nao trong người. Tổng cộng có tới 12 phần trong não cùng lúc hấp thụ những hóa chất này, khiến tình cảm yêu đương là một trong những hiện tượng thần kinh mạnh mẽ và phức tạp nhất của con người.

Tình yêu là chất giảm đau tự nhiên

Ít ai biết rằng tình yêu cũng giống như một liều thuốc giảm đau tự nhiên. Các cặp đôi khi thân mật sẽ nhận được một liều lượng lớn oxytocin, hóa chất giúp giảm cảm giác đau, thậm chí chấm dứt những cơn đau đầu trong bốn giờ đồng hồ. Một nghiên cứu khác cho thấy khi các cặp đôi nắm tay, mức độ đau đớn và căng thẳng của họ được giảm đi rất nhiều. Thậm chí họ không cần ở bên cạnh nhau để có thể tận hưởng được lợi ích này. Các nhà khoa học đã tiến hành thí nghiệm, trong đó họ cho người tham gia xem ảnh của bạn đời trước khi thực hiện một loạt câu đố chữ. Những người được xem ảnh cảm thấy bớt đau đầu hơn rất nhiều so với những người không được xem ảnh.

Trái tim của các cặp đôi sẽ có chung một nhịp đập khi ánh mắt họ gặp nhau

Những sự thật kỳ lạ mà khoa học lý giải về tình yêu

Các nghiên cứu tâm sinh lý tại đại học California đã hé lộ cách thức liên lạc vô hình được thể hiện qua ánh mắt của những người đang yêu. Thí nghiệm này theo dõi các cặp đôi yêu nhau, họ được yêu cầu nhìn thẳng vào mắt người mình yêu trong ba phút liên tục. Các nhà khoa học đã theo dõi nhịp tim, đặc biệt là sự thay đổi nhịp tim sau khi các cặp đôi nhìn nhau. Theo đó, nhịp tim của mỗi cặp đôi đều trở nên đồng bộ, trong đó của phụ nữ thường xuyên được điều chỉnh. Không ai biết nguyên nhân và cách thức hoạt động của hiện tượng này. Giả thuyết lớn nhất hiện nay cho rằng đó đơn giản là sự đồng cảm của một người với bạn đời của mình.

Một tình yêu bí mật sẽ làm gia tăng cảm xúc của cặp đôi

Những sự thật kỳ lạ mà khoa học lý giải về tình yêu

Một trong những câu truyện nổi tiếng nhất về tình yêu chính là Romeo và Juliet. Theo đó, cặp đôi này phải giữ kín mối quan hệ của mình để tránh áp lực xã hội. Các nhà nghiên cứu đã tìm ra một hiện tượng tâm lý diễn ra trong não bộ với những mối tình bí mật: Phenylethylamine, một hóa chất thần kinh, tăng nhanh khi con người phải giữ bí mật về mối quan hệ của mình. Phenylethylamine cũng có rất nhiều trong sô cô la, nhưng bị phá hủy rất nhanh trong hệ tiêu hóa, trước khi kịp hấp thụ lên não bộ. Tuy nhiên khi tình yêu được công khai, cặp đôi đó sẽ gặp phải tình trạng suy giảm chất hóa học này.

Các hóa chất thần kinh giúp gia tăng sự chung thủy

Những sự thật kỳ lạ mà khoa học lý giải về tình yêu

Những người có một mối quan hệ lâu dài thường đã trải qua giai đoạn đầu của tình yêu lãng mạn, quá trình này kéo dài khoảng một năm. Trong giai đoạn tiếp theo, não bộ thể hiện tình yêu qua một loạt chất hóa học mới. Một trong số đó là oxytocin, loại hormone mang lại cảm giác tin tưởng giữa con người. Trong các mối quan hệ nghiêm túc, oxytocin giúp làm tăng sự chung thủy của người đàn ông. Cụ thể, mức oxytocin càng cao, người đàn ông càng cảm thấy khó chịu với những sự tiếp cận từ người khác giới. Tuy nhiên, oxytocin không hoàn toàn ngăn chặn được các đợt sóng não, khi những người đàn ông tham gia thử nghiệm đều có thể thấy những phụ nữ khác hấp dẫn.

Những cặp đôi quá giống nhau sẽ không ở bên nhau lâu

Một câu thành ngữ nổi tiếng có nói rằng: trái dấu sẽ hút nhau, nhưng nhiều nghiên cứu chứng minh điều này chỉ đúng một phần. Những cặp đôi quá giống nhau hoặc quá khác biệt thì mối quan hệ thường sẽ không kéo dài được lâu.

Chúng ta không thể phủ nhận rằng, để hai người có tình cảm với nhau họ phải chia sẻ với nhau một số điểm chung nhất định. Nhưng trong một tình yêu hấp dẫn, cả hai phải có những điều mới mẻ để học hỏi và tìm hiểu về nhau, sự giống nhau sẽ đem đến sự nhàm chán. Giống như vợ thám tử Mori trong series truyện trinh thám Thám tử lừng danh Conan nổi tiếng đã từng nói: “Bạn không thể nào yêu một người mà bạn biết rõ đến từng cọng lông chân của họ.”

Tình yêu khác với cảm giác đam mê và ham muốn nhất thời

Tình yêu khác với cảm giác đam mê và ham muốn nhất thời

Sự hấp dẫn về mặt thể xác là một phần quan trọng của tình yêu đối với hầu hết chúng ta, nhưng tình yêu hoàn toàn khác với ham muốn. Đây là lý do tại sao tình một đêm và những tình cảm bắt đầu do rượu bia thường không dẫn đến những mối quan hệ lâu dài.

Nhiều nghiên cứu quét não đã cho thấy khu vực não thuộc về động lực/phần thưởng được kích hoạt khi chúng ta có ham muốn, trong khi tình yêu làm sáng lên những phần não kết nối với sự quan tâm và đồng cảm.

"Đau tim” không chỉ là một ẩn dụ

Khoa học đã cung cấp nhiều bằng chứng cho thấy các sự kiện dữ dội, đau thương như chia tay, ly dị, mất đi người yêu dấu, bi chia tách về mặt thể xác với người yêu hoặc bị phản bội có thể gây ra những đau đớn thực sự trong một số khu vực trái tim. Tình trạng này được gọi là Hội chứng Trái tim Tan vỡ. Rối loạn cảm xúc sâu sắc kích hoạt não bộ tạo ra một số hóa chất làm trái tim yếu đi đáng kể, dẫn đến tức ngực và khó thở. Tình trạng này thường bị chẩn đoán nhầm là đau tim và nó có xu hướng ảnh hưởng đến phụ nữ nhiều hơn.

Tình yêu vừa là một cảm giác nhất thời vừa là một trạng thái tâm trí lâu dài

Chúng ta thường nghĩ câu nói “khi hai người yêu nhau thì trái tim họ cùng chung một nhịp đập” rất sáo rỗng, nhưng nghiên cứu mới đã chỉ ra rằng chúng ta trải nghiệm tình yêu trong khoảnh khắc như là một trạng thái hợp nhất.

Trong khoảnh khắc kết nối sâu sắc này, những người đang yêu nhau có sự tương thông về những biểu cảm trên khuôn mặt, cử chỉ và cả nhịp điệu sinh lý. Nhưng tình yêu cũng có thể là một trạng thái tinh thần và cảm xúc lâu dài, trong đó chúng ta quan tâm sâu sắc đến nhau, cảm thấy xúc động trước nỗi đau của nhau và có động lực để giúp nhau giảm bớt khổ đau.

Sự gắn bó + Quan tâm + Sự thân mật = Tình yêu tột bậc

 

Lý thuyết tam giác về tình yêu cho thấy một công thức rõ ràng về các thành phần của các loại tình yêu khác nhau. Có ba loại tình yêu là sản phẩm của hai cặp thành phần cơ bản khác nhau: tình yêu lãng mạn = đam mê + thân mật, tình yêu đồng hành = thân mật + cam kết, và tình yêu mù quáng = đam mê + cam kết. Tất nhiên, thứ chân thật và mạnh nhất mẽ trong tất cả là tình yêu tột bậc, bao gồm cả ba thành phần trên.

Nhìn vào mắt nhau có thể làm hai người xa lạ yêu nhau

Đôi mắt là tấm gương phản chiếu tâm hồn của chúng ta, vì vậy, có lẽ không có gì ngạc nhiên khi chỉ cần nhìn vào mắt nhau, hai người xa lạ có thể phải lòng nhau, ngay cả khi họ không biết gì về đối phương. Khoa học đã chứng minh rằng khi ai đó nhìn chằm chằm vào bạn, cơ thể người đó tạo ra một chất hóa học gọi là phenylethylamine, có liên quan đến phản ứng “chiến đấu hay bỏ chạy”. Vì vậy, nếu bạn quyết định tiếp tục nhìn họ, bạn đang yêu cầu thần Cupid bắn mũi tên cho mình.

Tình yêu không nhất thiết là mãi mãi, nhưng nó có thể

Chúng ta đều biết rằng một tình yêu cố định, không thay đổi có thể xảy ra nhưng nó không phải là chuẩn mực. Trên thực tế, một số nhà lý thuyết thậm chí còn đặt câu hỏi về việc bản thân con người có phải là một thực thể cố định, không thay đổi không, chúng ta không giống như chúng ta ngày này 10 năm trước.

Kinh nghiệm sống có thể làm con người thay đổi về mặt sinh học, cách suy nghĩ và hành vi, do đó các mối quan hệ cũng có nguy cơ bị tác động khi một người có nhu cầu phải thay đổi hay cả hai người yêu nhau phát triển theo những hướng khác nhau. Điều đó đã được nhà nghiên cứu Art Aron và các đồng nghiệp tại Đại học Stony Brook chứng minh.

 

Hồng Vân sưu tầm

Tuyển chọn những ảnh bìa facebook đẹp nhất về tình yêu

Xem thêm...
Theo dõi RSS này