Con người đi tìm thuốc trường sinh

Con người đi tìm thuốc trường sinh

Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức

Mè được xem như là loại thực phẩm “cải lão hoàn đồng, trường thọ bất lão,”

là “kho báu dinh dưỡng” thường xuất hiện trong các món ăn của Nhật Bản. (Hình: nhatngusenko)

 

Nhà Xuân vừa mở thọ diên,
Chén pha Giếng Cúc, bàn chen Non Đào.
Nguyễn Huy Tự

 

Giấc mộng trường sinh, bất tử đã được ghi nhận từ thuở hoang sơ, khi con người còn ăn lông ở lỗ. Trong huyền thoại thần tiên, trong niềm mê tín dân gian, trong nguồn cảm hứng xuất thần của văn nhân thi sĩ hay luận lý của triết gia. Tân, Cựu Ước, kinh Koran cũng có nhắc tới nguồn nước trường sinh.

 

Nó là động lực thúc đẩy những nhà thám hiểm lặn lội đi tìm suối nước vĩnh cửu ở vùng đất lạ, cũng như  là mục tiêu nghiên cứu của các khoa học gia xưa nay.

Nó đã tạo cơ hội làm giầu cho những lang băm, những tên lường gạt rao bán vịt trời giữa chợ với môn thuốc trường sinh bất tử.

Nó ám ảnh mọi người, mọi giống. Ai cũng mong mỏi sống mãi không già, thoát khỏi  những tàn phá của cơ thể do thời gian, giữ mãi  được những nét thanh xuân đầy nhựa sống. Ai cũng nghĩ là ở đâu đó, có môn thuốc mà khi uống vào ta sẽ thi gan cùng tuế nguyệt. Ta chỉ việc cố gắng, kiên nhẫn tìm là sẽ thấy nó.

Nhân dịp Xuân về, chúng tôi mời quý vị, ta lang thang vào cái vườn địa đàng này. Biết đâu lại may mắn nhặt được vài trái đào của Tây Vương Mẫu rơi rớt đó đây; uống lén được chút rượu Kim Tương. Để rồi cùng nhau bách niên giai lão, tiếp tục mè nheo người bạn đường sung sức…

Trường sinh trong Triết học

Đi trước các dân tộc khác, người Trung Hoa xa xưa đã có một khái niệm, một triết lý về sự sống lâu.

Lão Tử từng quan niệm là nếu một sự vật có thể biến thành sự vật khác thì với con người, sự chết cũng có thể thành bất tử. Như con nòng nọc có đuôi kia biến thành con cóc, con nhái, con sâu róm lột xác thành con bướm. Đạo Lão cho con người sống là nhờ sự hoà hợp của âm/dương, nếu giữ được sự hòa hợp này thì cuộc sống kéo dài.

Quan niệm này đã và vẫn là căn bản cho Y thuật Trung Hoa cùng các nước chịu ảnh hưởng văn hóa quốc gia này như Việt Nam, Triều Tiên. Lão cũng khuyên người ta phải tiết kiệm sinh lực bằng vô vi, tập phép hô hấp để tăng dưỡng khí cho não bộ, ăn nhiều trái cây, kiêng rưọu, thịt và sống cho phải đạo.

Câu chuyện người Luigi Cornaro, sanh năm 1470, sống cuộc đời phóng đãng hơn 30 năm. Thầy thuốc nói nếu tiếp tục như vậy sẽ không qua được tuổi 50. Ông ta bèn thay đổi nếp sống, tiết mực hơn và kết quả là sống tới tuổi 103, để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm giá trị về bảo vệ sức khỏe. Hai trăm năm sau, nhiều người đã áp dụng lối sống của Cornaro.

Triết gia Plato, thọ 81 tuổi, khuyên ta không được rượu chè say sưa, nhất là ở tuổi trung niên, nếu muốn trường thọ.

Thủy tổ nền y học Tây Phương Hippocrates, sống tới 80 tuổi, nhắc nhở con người nên từ từ, dung hòa ở mọi lãnh vực để giữ gìn nhựa sống. Nhất là từ khi đặt chân lên ngưỡng cửa 60.

Có người muốn kéo dài sự sống thì cũng có người quan niệm ngược lại.

Sinh, Lão, Bệnh, Tử là lẽ thường của tạo hóa, hà cớ chi phải bận tâm quá đáng.

Sự chết cũng tốt cho loài người. Tre già măng mọc, đèn cạn dầu đèn tắt.

Và đã hưởng hết lạc thú rồi thì cầu sống lâu làm gì?

 

Trường sinh trong huyền thoại

Huyền thoại Hy Lạp, Ấn Ðộ, La Mã ghi lại nhiều giai thoại trường sinh thần tiên.

Nàng Eos yêu Tithonus hết mình, muốn cùng chàng bên nhau mãi mãi. Nàng xin Thần lãnh đạo Thiên Đường Zeus cho chàng được bất tử. Tithonus sống mãi, nhưng càng sống lâu càng trở nên đau yếu, bệnh hoạn và phải nuôi trong phòng riêng. Eos trở nên buồn, vì  nàng đã quên không xin cho chàng vừa sống lâu vừa giữ được vẻ thanh xuân. Nàng đi kiếm người tình khác.

Người Ả Rập hay kể cho nhau nghe câu chuyện nhân vật quen thuộc El Khidr với Giếng Nước Vĩnh Cửu: Một hôm tình cờ El Khidr rửa con cá khô trong giếng nước, con cá tự nhiên quẫy động, sống lại. Không bỏ lỡ cơ hội, El Khidr nhẩy xuống giếng tắm và trở thành bất tử .

Hy Lạp xưa cũng có suối nước vĩnh cửu trong rừng Jupiter, mà, theo tục truyền, ai tắm nước đó sẽ được phục hồi tuổi trai tráng và khỏe mạnh.

 

Trường sinh trong văn học, nghệ thuật

Văn nhân thi xưa nay cũng khao khát sự trường thọ.

Thi sĩ Hy lạp Hesiod tả hình ảnh đầy hấp dẫn của giống người Golden Race, sống lành mạnh tới cả trên trăm tuổi. Đến khi chết, họ ra đi một cách nhẹ nhàng, thoải mái như đi vào giấc ngủ say.

Pindar tả cảnh thiên đường trường thọ của dân chúng trong một hải đảo giữa biển Atlantic: sống cả ngàn năm trong hoan lạc, không biết gì đến đau yếu, bệnh tật.

Trong tiểu thuyết Lost Horizon xuất bản năm 1933, James Hilton tả cảnh sống thiên đường của dân chúng ở vùng Shangri-La.

Trong sách Metamorphoses, thi sĩ La Mã Ovid kể lại chuyện vua Aeson của Hi Lạp được phục hồi sức khoẻ bằng cách chích vào tĩnh mạch một hỗn hợp điều chế từ máu cừu đực chưa thiến, da rắn, thịt cú và rễ nhiều thảo mộc khác nhau.

 

Trường sinh với các nhà thám hiểm

Nhiều nhà thám hiểm cũng đã giương cờ đi khắp năm châu bốn bể để tìm thuốc trường sinh.

Juan Ponce de Leon, người Tây Ban Nha, đã lên đường thám hiểm Tân Thế Giới với hy vọng kiếm được thuốc hồi xuân. Ông ta đã già yếu, không thỏa mãn được cô vợ trẻ sung sức. Đồng thời ông ta cũng muốn kiếm thần dược dâng Quốc Vương Ferdinand II. Không kiếm ra thuốc, nhưng ông ta đã tìm ra tiểu bang phì nhiêu, hiền hòa Florida năm 1513. Ông qua đời vì vết thương bị nhiễm độc trong khi giao tranh với thổ dân gốc Indian vào tuổi 63.

Tần Thủy Hoàng Đế, sau khi gồm thâu lục quốc, dựng nên nghiệp Đế, muốn bất tử để trị vì trăm họ. Ông đã phái các phương sĩ Từ Phước và Lư Sinh căng buồm ra Biển Đông tìm thần dược. Lư Sinh, Từ Phước không tìm ra linh dược, nhưng đã lánh nạn và tìm được những mùa Xuân bất tận cho nhiều thế hệ con cháu trên đất Phù Tang mầu mỡ.

Năm 1498, Columbus tuyên bố là đã tìm ra miền vĩnh cửu ở dọc theo bờ biển Venezuela, gần đảo Trinidad.

Trường sinh với căn bản khoa học

Bên cạnh những ý kiến, dữ kiện khó tin, nhiều người đương thời đã có cái nhìn nghiêm túc hơn về sự hóa già và phương cách trì hoãn diễn biến này.

Tu sĩ dòng Franciscan kiêm khoa học gia Roger Bacon đã lý luận rằng con người già vì sự mất bớt nhiệt năng bẩm sinh. Nếu sống hợp lý cộng với thuốc men hiệu nghiệm, ta có thể trì hoãn sự mất mát này và sống lâu hơn. Ông ta hỗ trợ thuốc chế từ thịt rắn, tim hươu nai và một vài thảo mộc trong rừng ở Nam Phi hay nước san hô, ngọc trai. Nhưng phương thức mà ông ta ưa thích nhất là hít sinh khí hơi thở của trinh nữ.

Người Do Thái khi xưa cũng tin rằng con gái là phương thuốc chữa bệnh tốt. Vua David, khi về già không được khỏe, cơ thể lạnh toát, đắp bao nhiêu chăn cũng không đủ ấm. Thần dân bèn đặt Người nằm cạnh những thiếu nữ với ý định là để chân khí từ thiếu nữ tiếp sức cho vua cha. Và Ngài khỏe ra.

Boerhaave, danh y người Đức, sống từ 1668 tới 1738, cũng khuyên viên thị trưởng Amsterdam là  nếu muốn lấy lại sinh lực thì hãy nằm giữa hai thiếu nữ còn trinh.

Công dụng hơi thở thiếu nữ cũng thấy ghi trong ngôi mộ cổ của một lão nhân Ai cập, nói rằng ông ta sống tới tuổi 115 là nhờ những hơi thở này.

Nhà luyện kim kiêm y sĩ Paracelsus của Đức, vào thế kỷ 16 đã tin tưởng rằng lão hóa là do sự thay đổi hóa chất trong cơ thể như sự rỉ sét của kim loại. Ông ta khuyên nên ăn uống cân bằng, sống tại vùng khí hậu ôn hòa, dùng những thuốc do ông ta chế.

Theo Leonardo Da Vinci, con người mau già là do hậu quả của mạch máu dầy lên, máu lưu thông khó khăn, dinh dưỡng suy giảm.

Những thế kỷ  kế tiếp, việc tìm kiếm phương thức trì hoãn sự lão hóa mang ít nhiều tính cách khoa học hơn và được thực hiện bởi nhiều nhà chuyên môn quan tâm đến vấn đề này.

Mùa Thu năm 1885, Charles Ed. Brown Sequard, 72 tuổi, nguyên giáo sư Đại Học Harvard, hùng hồn trình bày trước các học giả uy tín của College of France. Ông ta cho hay là đã lấy lại được sinh lực, thỏa mãn đòi hỏi tình dục cuả người vợ trẻ bằng cách dùng nước tinh chế từ ngọc hành loài chó. Y giới mọi nơi vội vàng áp dụng môn thuốc này, nhưng hiệu quả không được như lời nói.

Sau Thế Chiến Thứ Nhất, viên y sĩ người Nga, Serge Vernof, sang Pháp và cấy tế bào ngọc hành cho nhiều người để tăng cường sinh lý.

Ở Mỹ, mấy năm sau, John Romulus Brinkly cũng áp dụng phương pháp này cho thân chủ, kiếm được nhiều tiền, mua đài phát thanh và ra tranh cử chức thống đốc tiểu bang Arkansas.

Descartes, Benjamin Franklin, Francis Bacon, Christopher Hufeland… với nhiều công sức nghiên cứu đều tin tưởng là sự lão hóa  và sự tử vong sẽ bị khoa học khuất phục. Hufeland còn khuyên ta nên tránh sự tức giận, sự tự hủy hoại và  coi chúng là kẻ thù của trường thọ.

 

Các nghiên cứu hiện đại

Jean Martin Charcot, y sĩ Pháp, được nhiều người coi là cha đẻ của Lão-khoa-học, xuất bản cuốn sách đầu tiên về khoa này năm 1867 nhan đề Clinical Lectures on Senile and Chronic Diseases. Tác giả đề nghị nghiên cứu diễn tiến sự hóa già, nguyên nhân già, thay đổi cơ thể khi về già.

Bác Sĩ Ignatz Leo Nascher vận động để các trường Y Khoa đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu vấn đề liên quan tới hóa già.

Sir Peter  Medawar và Sir Mac Farlane Burnet là những người đầu tiên lưu ý tới ảnh hưởng của gene trong sự lão hóa.

Quá trình lão hóa có thể bị đảo ngược từ DNA. (Hình minh họa: Google)

Sau Thế Chiến Thứ Hai, tốc độ nghiên cứu về vấn đề già phát triển mạnh. Tờ báo uy tín Journal of Gerotology ấn hành số đầu tiên vào năm 1946 ở Hoa Kỳ.

Từ năm 1970, tại Mỹ, do sự đòi hỏi của dân chúng, các khoa học gia và chính trị gia liên kết thúc đẩy chính phủ trợ cấp nhiều hơn nữa cho việc nghiên cứu các vấn đề về lão hóa. Do sự ủng hộ tích cực củaThượng Nghị Sĩ Alan Cranton, cơ quan Quốc Gia Tuổi Già (National Institute of Aging) được chính thức thành lập năm 1976. Cơ quan này có ngân sách cao tới cả nửa tỷ Mỹ kim và chuyên chú về các vấn đề liên quan tới người cao tuổi.

Ngày nay, trên thị trường thương mại, ta có thể kiếm được nhiều sản phẩm được công nhận bởi cơ quan có thẩm quyền về y khoa học, hoặc được người chế ra quảng cáo là có công hiệu trì hoãn sự lão hóa.

Nhớ lại vào giữa thập niên năm mươi, đồng bào ta ở Việt Nam nhiều người đua nhau  dùng thuốc Gerovital-KH3. Thuốc này được một y sĩ Lỗ Ma Ni điều chế và nghe nói các nhân vật nổi danh như Tưóng De Gaulle, Thủ Tướng Adenauer, văn hào Sommerset Maugham cũng có dùng. Gerovital vẫn còn được bán tự do ở Âu Châu, nhưng không được cơ quan Dược Phẩm Hoa kỳ công nhận giá trị chống lão hóa.

Nhiều người hiện đang dùng các loại sinh tố, khoáng chất, anti-oxidant, các loại kích thích tố, Q-10, Glutathione, Melantonin, Sod, DHEA, Omega-E,… Và được giới thiệu là có thể làm chậm sự lão hóa.

Các khoa học gia đang đi xa hơn trong công việc này. Họ nhắm vào việc thay đổi gene trong nhiễm thể tế bào, việc giới hạn tác hại của các phó sản trong biến hóa căn bản của tế bào.

Đi xa hơn nữa, họ nghĩ tới chuyện thay thế những bộ phận hư hao bằng bộ phận tạo ra do chính tế bào của mình, được nuôi dưỡng, cấu tạo trong phòng thí nghiệm hay trên bào thai, để tránh hiện tượng khước từ thông thường. Một ngày nào đó, biết đâu ta lại chẳng tân trang được cơ thể con người và chỉ cần đưa đi kiểm tra định kỳ mười năm một lần, như một chiếc xe hơi.

Kết luận

Trở lại với thực tại, ta thấy tuổi thọ con người đã tăng đáng kể trong hơn trăm năm qua.

Chừng nửa thế kỷ nữa, Hoa Kỳ sẽ có khoảng 75 triệu người trên 65 tuổi trong tổng số trên dưới ba trăm triệu dân. Tại các quốc gia khác, số người cao tuổi cũng tăng theo cùng nhịp độ. Đó là thành qủa những tiến bộ tuyệt vời của khoa học cũng như sự thay đổi nhân sinh quan của loài người.

Nhà bác học người Pháp, Louis Pasteur, năm 1856, đặt nền móng cho việc tiêu diệt hầu hết các bệnh truyền nhiễm, nguyên nhân tử vong cao ở các thế kỷ trước, đã là người có công đầu trong việc tăng gia tuổi thọ.

Rồi khi sống lâu, loài người lại phải đối phó với những khó khăn mới gây ra do môi trường cũng như do thói quen, những bệnh nan y. Con người đã ý thức được vấn nạn đó và đang ứng phó rất hiệu nghiệm, tài tình.

Do sự tăng gia số, người cao tuổi sẽ có nhiều mầu sắc mới, sinh hoạt mới trong gia đình, xã hội. Những người trên 70 tuổi sẽ có nhiều việc để bận rộn trong khoảng thời gian trên dưới 30 năm còn lại của cuộc đời. Sẽ có nhiều người, 70, 80 tuổi còn đi làm, hoặc đi học để cập nhật kiến thức.

Tỷ lệ lão niên nữ sẽ cao hơn nam vì sống lâu hơn. Sẽ có nhiều cặp nhân tình đầu bạc sống chung để nương tựa, đầm ấm với nhau. Sẽ có nhiều trường hợp con cái dọn về ở với cha mẹ già để các cụ bớt đơn côi.

Kỹ nghệ phục vụ nhu cầu người cao tuổi sẽ phát triển mạnh. Hãng du lịch sẽ phát triển mạnh để thảo mãn nhu cầu người già.

Đồng thời, khối cử tri của người cao tuổi sẽ có ảnh hưởng nhiều tới các vấn đề trọng yếu của quốc gia. Người già sẽ lấy lại được sự trân trọng như trong thời kỳ Nữ Hoàng Anh Quốc Victoria xưa kia.

Và trong tương lai, khoa học nghiên cứu sẽ hướng nhiều vào việc “tăng đời sống cho năm tháng chứ không chỉ tăng năm tháng cho cuộc đời” (adding life to years, not just adding years to life). Để nhân loại sống trong  thế kỷ thứ hai mươi mốt với tinh thần “Sống lâu, Sức khoẻ, mọi vẻ mọi hay.”

Đó sẽ là những chén rượu Kim Tương, những trái Bàn Đào mà chúng ta mong đợi.

 

Hồng Anh sưu tầm

-Hình minh họa-Internet

 

 
 
Xem thêm...

Phim ‘Nailed It’ và giấc mơ Mỹ xuyên thế hệ của người Việt

Phim ‘Nailed It’ và giấc mơ Mỹ

xuyên thế hệ của người Việt

 

       "Có bao nhiêu người trong gia đình anh làm nghề này ? Hiện nay có tới 36 người."
 

Đó là đoạn đối thoại mở đầu trong phim tài liệu Nailed It, một cuốn phim về ngành làm móng tay chân, thường gọi là “làm nail,” của cộng đồng gốc Việt tại Hoa Kỳ. Các nhà làm phim nói với VOA rằng Nailed It đã truyền thêm sức sống và lòng khát khao về giấc mơ Mỹ truyền thống, mang thông điệp xuyên thế hệ từ những câu chuyện của 20 phụ nữ Việt tiên phong trong lịch sử ngành ‘nail’ từ năm 1975 đến cuộc sống đời thực đầy tình người, đậm chất nhân văn ngay từ bên trong tiệm nail.

  Đạo diễn Adele Free Phạm ở bang New York, một nhà làm phim tài liệu có cha là một người gốc Việt, lý giải với VOA vì sao cô làm cuốn phim này.

“Tất cả các tiệm nail châu Á mà tôi biết đều là của người Việt và tôi nhận thấy chưa có phương tiện truyền thông nào đề cập hay phản ứng hiện tượng này. Điều đó khiến tôi tò mò muốn tìm hiểu và đưa vào thể loại phim tài liệu. Và khi tôi bắt đầu tìm tòi thì càng có nhiều cung bậc thú vị được ghi nhận trong phim.”

Câu chuyện tại làng Hy Vọng

  Phim kể lại cuộc hội ngộ sau gần 4 thập kỷ của nữ diễn viên Mỹ Tippi Hedren và 20 phụ nữ người Việt, phần đông là phu nhân của các tướng lĩnh trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, những người tiên phong đã gầy dựng ngành làm nail mà cho tới nay có trị giá lên đến 8 tỷ đôla ở Hoa Kỳ.

Adele nói thêm:

  “Nữ diễn viên điện ảnh Mỹ Tippi Hedren làm công tác thiện nguyện tại các trại tị nạn và gặp một nhóm 20 phụ nữ Việt Nam mới từ Việt Nam sang sau biến cố 30/4/1975. Bà tìm cách giúp họ bằng việc hướng dẫn họ nghề làm móng vào mỗi tuần và tư vấn cho họ cách kiếm tiền nơi đất khách quê người. Bà tổ chức khóa học làm móng, giúp họ có chứng chỉ hành nghề trước khi rời khỏi tại tị nạn, và thế là các phụ nữ này có thể hái ra tiền, có cuộc sống đổi đời từ nghề làm nail.”

Diễn viên Mỹ Tippi Hedren và 20 phụ nữ Việt Nam đầu tiên

học nghề làm móng ở bang California, năm 1975.

Trong phim, bà Thuần Lê, một trong 20 phụ nữ gốc Việt tiên khởi ngành nail, nói về câu chuyện tại làng Hy vọng ở bắc California năm 1975.“Tại trại tị nạn gọi là Hy Vọng, nhóm chúng tôi không biết phải làm gì để kiếm sống. Rồi bà Tippin nói rằng: tôi có một công việc dành cho các chị.”

  Trang Next Shark trích lời bà Hedren, diễn viên nổi tiếng qua phim ‘The Birds,’ năm nay đã tuổi gần 90, nói khi nhắc đến nhóm 20 phụ nữ Việt: “Tôi yêu mến những người phụ nữ này, cho nên tôi ước muốn điều gì đó thật tốt đẹp sẽ đến với họ, vì họ đã mất trắng. Một số người trong số họ đã mất toàn bộ gia đình cũng như mọi thứ họ có ở Việt Nam: nhà cửa, công việc, bạn bè - mọi thứ đã mất hết. Họ thậm chí mất cả đất nước của mình.”

Phim Nailed It của Adele không chỉ dừng lại ở cuộc hội ngộ của nhóm phụ nữ người Việt này với nữ diễn viên người Mỹ, những câu chuyện của bà Thuần Lê, Yến Nguyễn, Kim Dung… mà còn vô số những hình ảnh người thợ làm nail, chủ tiệm nail với công việc thường nhật tại nơi làm việc và cuộc sống gia đình.

Hai, ba thế hệ làm nail

  Anh Kevin Saint Phạm, người đồng sản xuất bộ phim này và là một chủ tiệm nail ở bang California với bề dày hơn 30 năm trong nghề, chia sẻ:“Thật ra tôi đến với nghề này cũng rất tình cờ. Tôi là một kỹ sư nhưng bị cho nghỉ việc. Gia đình bên vợ tôi kêu tôi đi học lấy bằng làm nail. Vậy là tôi bắt đầu, nay đã theo nghề hơn 30 năm rồi.

Tôi rất thích cuốn phim này, không phải vì tôi có mặt trong phim và là đồng sản xuất phim này, mà là vì đó là cái nghiệp đã giúp dẫn dắt, cưu mang các thành viên trong gia đình, giúp có thu nhập để con cái học hành, hòa nhập với cuộc sống tại Mỹ.”

  Cô Adele cho biết phim Nailed It được thực hiện trong khoảng thời gian dài vì có nhiều câu chuyện đan xen, có nhiều nhân vật thuộc 2-3 thế hệ làm nail khác nhau và chính anh Kevin là người có thâm niên trong nghề, quen biết nhiều người, nên cô quyết định hợp tác với anh.

“Ai cũng biết Kevin vì anh ấy ở trong nghề lâu lắm rồi, và đặc biệt anh ấy có mối quan hệ tốt với mọi người. “Câu chuyện về tình người và sinh tồn theo bản năng là lý do tôi làm phim này. Một cái tiệm nail thôi cũng đã kết nối nhiều nhóm lao động với nhau. Và tôi luôn luôn tìm thấy ở họ rất nhiều điều thú vị.”

Giấc mơ Mỹ xuyên văn hóa

  Từ Los Angeles đến Bronx, bộ phim giới thiệu những con người đứng đàng sau nền kỹ nghệ bùng nổ và thỉnh thoảng cũng gây tranh cãi. Kỹ nghệ chăm sóc và làm đẹp móng tay chân đã mở ra một con đường mà cộng đồng Việt Nam theo đuổi để đạt đến giấc mơ Mỹ cùng với cuộc sống độc lập về tài chính, trang World Channel viết.

Ngành kỹ nghệ này mang đến không gian rộng mở cho cộng đồng Việt Nam, để người thợ có thể làm được điều họ muốn, giúp họ thụ hưởng hạnh phúc của cuộc sống tiện nghi dựa trên nền tảng xã hội và kinh tế phong phú, đa dạng. Các nhà làm phim cũng là những người gốc Việt, họ hiểu được cuộc sống của chính mình, và vun đắp mối liên kết gần gũi với nền văn hoá đặc thù của dân tộc, World Channel nhận định.

Charlie and Olivett (co-owners of Mantrap)

Ở một góc nhìn khác, nhà làm phim gốc Việt đã khai thác mối liên kết xuyên văn hóa và sắc tộc qua sự hợp tác nghề nail của bà Charlie Võ, một phụ nữ Việt và bà Olivett Robinson, một phụ nữ gốc Phi, cùng mở tiệm Mantrap Nail & Hairs ở thành phố Crenshaw, bang California, vào năm 1981. Theo nhận định của giới bình luận, đây là một chi tiết làm thay đổi cái nhìn của nhiều người về nạn phân biệt chủng tộc.

Adele Free Phạm

Nhà làm phim Adele Phạm nói:

“Phám khá những cung bậc mà các nhóm người khác nhau cùng tương tác với nhau là một điều hết sức quan trọng. Và chính cái tiệm nail là một không gian như vậy. Tại đây, tôi đã khai thác cảnh trò chuyện thân tình của các phụ nữ di dân gốc Á với các phụ nữ da màu và sắc dân khác.” Còn theo anh Kevin, điều quan trọng nhất bên trong tiệm nail là tình người, là nơi lưu giữ văn hóa truyền thống của người Việt trong đời sống xã hội Mỹ đương đại.

“Sau hơn 40 năm, nữ cũng như nam, làm việc trong tiệm nail và trò chuyện với khách hàng, kết bạn với biết bao nhiều người, thử hỏi sự ảnh hưởng của họ đến xã hội Mỹ lớn như thế nào!”

Khán giả cũng không quá bất ngờ khi anh Bryan Vũ, một chủ tiệm nail ở bang Florida trả lời phỏng vấn trong phim rằng có đến 36 người trong họ hàng nhà anh theo nghề nail, và người anh bà con của anh từ Việt Nam sắp sang và cũng sẽ gia nhập nghề này.

Theo cô Adele, sức ảnh hưởng trong chặng đường này chính là giấc mơ Mỹ mà bao thế hệ di dân tìm đến đất nước Hoa Kỳ đều đã hoặc đang trải qua.

Cô Adele nói: “Phim đã góp phần tái hiện giấc mơ Mỹ, dù rằng giấc mơ Mỹ hiện nay đang ít nhiệm màu hơn và ít hiện hữu hơn trước. Có thể nói phim đã phần nào phản ánh chân thật bối cảnh thế hệ di dân của người Việt thực hiện giấc mơ ấy tại ngay trong tiệm nail.”

Nghiệp làm nail

Tiếp xúc với hóa chất độc hại từ thuốc tẩy sơn móng tay và

keo dán móng hàng ngày là điều mà các thợ làm nail lo ngại nhất.

Nailed It thực hiện hàng loạt các cuộc phỏng vấn mô tả mối lo lắng của người thợ và ý kiến tư vấn của ông Mike Võ, Chủ tịch Hiệp hội Nail Việt Mỹ (VANA), cũng là một người sinh trưởng trong gia đình làm nail, chuyên cung cấp thông tin với các chủ đề như giáo dục sức khỏe, cách sử dụng sản phẩm, cũng như đưa ra kiến nghị với các nhà sản xuất hóa chất để tuân thủ quy định của pháp luật Hoa Kỳ.

Anh Kevin nói: “Công tác giáo dục an toàn sức khỏe luôn cần được nâng cao trong công chúng để đảm bảo điều kiện làm việc cho các thợ nail.” Ngoài ra, theo anh Kevin, cái nhìn kiếm nhã trong xã hội Mỹ đối với giới làm nail người Việt vẫn còn, điều này được phim Nailed It phản ánh rất tinh tế qua hình ảnh hài kịch và tranh biếm họa.

Nhà bình luận Bradon Ledet có cùng nhận định: “Phim Nailed Itthông qua các bức tranh biếm họa đã lên án sự chế giễu các người thợ làm nail Việt Nam.”

Kevin Saint Phạm

“Có người còn xem cái nghề chuyên đi cắt móng tay, rửa chân người khác là nghề hạ bạc và chỉ chuyên dành cho giới nữ,” anh Kevin nói. Thế nhưng trong phim Nailed It, hình ảnh người thợ nam làm móng được lặp đi lặp lại một cách đầy dụng ý - phân công lao động theo quan niệm truyền thống ở Việt Nam không còn đúng ở xã hội Mỹ.

Adele nhận định rằng trong cộng đồng Việt Nam ở Mỹ, cũng còn không ít người có định kiến với nghề nail. Cô cho biết khi kêu gọi sự hỗ trợ để trình chiếu phim Nailed It ở Đại học San Diego gần đây, có một vài sinh viên gốc Việt không muốn tham gia, vì họ không muốn “dính” tới nghề nail. “Vì họ có học vị tiến sĩ, họ thuộc đẳng cấp khác,” cô Adele nói thêm.

Phim Nailed It dài 60 phút vừa ra mắt công chúng toàn quốc Hoa Kỳ trên kênh truyền hình PBS vào tuần trước và chiếu miễn phí trên mạng Internet cho đến ngày 6/7/2019.

 

Nước Mắt Trong Nail

Kiếp làm Nail, chủ cũng như thợ, đôi khi được dự phần vào những chuyện mủi lòng không thể quên.

"Nước Mắt Trong Nail," chuyện thật, chuyện không hề thêu dệt vì bất cứ những dụng ý nào khác, đã xảy ra tại tiệm Solar Nails & Spa, Indianapolis.

Trời hôm ấy nóng, nóng lạ thường, làm người người dân địa phương ngạc nhiên về một ngày thứ Bảy trong cuối tháng Sáu. Một người đàn bà trạc tuổi trung lưu, ăn mặc đơn sơ, bước chầm chậm vào tiệm, hai tay ôm chặt cách tay của hai ông bà già, trạc tuổi 80, 90, yếu ớt, lê thê chân bước.

Sau khi cả ba người cùng ngồi vào ghế bồn làm chân, người đàn bà trung niên ngồi giữa, ông cụ già ngồi bên phải và bà cụ già ngồi bên trái của bà ta. Thỉnh thoảng, ông cụ thều thào: "Mẹ con đâu rồi?" ông lăp đi lặp lại hai ba lần. Người đàn bà đáp: "Ba ơi, Mẹ đây, Mẹ đang ngồi bên cạnh con đây." Cứ cách vài phút, ông cụ lại lặp lại câu hỏi, "Mẹ con đâu rồi?" Người đàn bà nắm lấy bàn tay bên trái của cụ ông đặt lên bàn tay phải của cụ bà để bàn tay cụ ông được sờ vào bày tay cụ bà; "Ba ơi, Mẹ đây, tay Mẹ đây," vừa nói, bà vừa quay qua cụ ông và theo dõi phản ứng của cụ.

Tôi thấy cử chỉ ân cần và kiên nhẫn của người đàn bà, cảm kích, liền tiến lại gần, hỏi han, mới biết được cụ ông trước đây là một luật sư, nhưng tuổi già, sức yếu, đã làm trí nhớ của ông hao mòn, nên thường xuyên hỏi, nhắc đến cụ bà.

Trong khi cả ba người đang được thợ lo chănn sóc móng chân, móng tay, một người đàn bà khác ngồi đối diện đến quày trả tiền và hỏi: "Ở đây có bán gift card không?" cô thư ký đáp: "Thưa có," và lấy trong tủ ra một thẻ gift card bằng nhựa đưa cho bà. Bà hỏi, "Cô có loại gift card nào mà tôi có thể viết lên được không?" Cô thư ký đáp: "Thưa bà không." Bà hỏi tiếp, "Vậy cô cho tôi mượn cây bút và cho tôi một mảnh giấy."

Bà lấy bút giấy qua chiếc bàn đối diện, rồi trở lại, bà mua một gift card một trăm đô ($100.00). Bà nhờ cô thư ký mang tờ giấy bà vừa viết và gift card đến trao tận tay người đàn bà đang ngồi giữa hai ba mẹ già.

Cầm trong tay mảnh giấy, từng ngón tay của bà dần dần di động, mặt bà ửng đỏ. Rồi khuôn mặt bà bỗng dưng đổi sắc, từ trong khoé mắt, hai dòng lệ lăn dài xuống đôi má. Bà nghẹn ngào, lấy tay lau nước mắt.

Tôi đứng lặng yên, không ngăn nổi xúc động, mắt tôi ướt. Nhìn qua cô thư ký, nước mắt cô ta cũng đã làm ước cả đôi má. Tôi bước đi, trả lại cho bà khoảng trống riêng tư.

Khi mọi dịch vụ móng xong, tôi ghé lại nói với người đàn bà, "Bà ơi, bà có thể chia sẻ với tôi người phụ nữ kia đã viết cho bà những gì?"



Bà trao cho tôi tấm thư, tôi đọc:

"Chị mến, ngồi nhìn thấy chị ân cần lo cho ba mẹ già, lòng tôi thổn thức. Chị là người con hiếu thảo, người phụ nữ tuyệt vời, nhắc nhớ tôi, người con gái cũng đã chăm lo cho ba mẹ tôi trước đây, các ngài đã yên nghỉ bảy (7) năm về trước. Quả thật, ba mẹ chị thật diễm phúc có một người con hiếu thảo như chị. Chúc chị bình an!"

Đọc đến đây, người tôi nóng ran lên, nước mắt tôi lại giàn giụa khi nào chẳng hay.

Những dòng ngắn ngủi ấy, dường như không chỉ viết cho người đàn bà trước mặt tôi, mà như đã viết cho chính tôi vậy. Vì chính tôi, cũng đã lo chăm sóc cho mẹ già nhiều năm liệt lào trên giường bệnh, Mẹ cũng mất trí nhớ; và Mẹ vừa mới mất năm rồi. Nỗi nhớ nhung Mẹ vẫn còn bao la và triền miên trong trái tim tôi.

Tôi ôm cánh tay ông cụ, dìu ông ra khỏi ghế và đưa ông bước chầm chậm ra khỏi tiệm; mở cửa, đỡ ông cụ ngồi an toàn nơi ghế sau của xe, đóng cửa và lui lại phía sau để xe lùi bánh. Tôi đứng nhìn chiếc xe đưa hai ông bà cụ chạy ra khỏi khu shopping, rồi dần dần khuất xa cuối đường.

Tôi đứng lặng yên, nắng nóng, gió nhẹ thoáng xoa vào mặt, nghĩ miên man về người đàn bà hiếu thảo, nghĩ về mình, nghĩ về Mẹ, lòng lâng lâng, lâng lâng.

Rồi từ đó, tôi tìm thấy nơi tiệm Nail, không phải chỉ là nơi mưu sinh, kiếm tiền, mà còn là nơi con người tìm thấy con người. Tôi tìm thấy rất nhiều niềm vui và ngay cả những muộn phiền của khách trang trải trong những phút giây ngồi nơi bàn làm móng tay, hay nơi ghế làm móng chân, hay cả những lúc khách ngồi lặng yên, bất động, nhắm mắt như đang thả hồn về chốn xa xăm nào.

Tôi cảm nghiệm, tiệm Nail không còn là của mình, của riêng ai, mà là nơi đã cho mọi người trong giới Nail cơ hội tiếp cận với con người trong một cung cách hết sức thâm tình. Nhiều khách hàng khi nằm xuống còn yêu cầu con cháu họ đã gọi báo cho những thợ Nail, tiệm Nail như một lời chia tay, vĩnh biệt, đã song hành với người thân của họ, người quá cố, với những sinh hoạt của đời sống đáng nhớ.

Nghề Nail: LÀM DÂU TRĂM HỌ

Sau đây là tâm sự của cô Tám, người làm thợ và chủ nails từ năm 1987.

Em tới Mỹ năm 1975 cùng anh A trước kia là một Sĩ Quan Nhảy Dù VNCH. Lúc đó tụi em mới lấy nhau vài tháng. Chồng em xin ngay được việc làm là nhân viên bảo vệ (security guard) còn em thì làm thợ may. Vài năm sau, nhờ người giới thiệu, em làm waitress ở một tiệm ăn. Tiền tip khá hơn làm may nhiều. Thời gian này chúng em vừa đi làm vừa đi học.

Em xin chia xẻ những kỷ niệm trong ngành nail mà mình đã chứng kiến 27 năm nay. Trong thời gian làm thợ nails em rất buồn khi luôn chứng kiến những chịu đựng và nhẫn nại người chủ phải nín lặng. Thường thường, kiếm thợ nails rất khó. Báo Việt Nam đăng mướn thợ thường trực và rất nhiều nên thuận thì ở còn nghịch thì đi. Nhiều thợ còn thì thầm với nhau: “Chủ đâu có làm gì mà mình phải chia 40% cho họ.” Từ ý tưởng đó cộng thêm nhiều nơi cần thợ nails, rất dễ dàng kiếm chỗ làm mới nên sự kính nể chủ thường là hời hợt hoặc không có.

Em chứng kiến cô B, một thợ nail làm cho một chủ đã mười mấy năm. Thái độ của cô ta đối với mọi người, kể cả chủ, rất xấc xược. Hơn thế nữa, B còn có tật liên tục nói xấu về bà chủ ngay trước mặt bà ta. Tiền B làm rất khá, hằng tuần chưa chia luôn luôn trên 1 ngàn đô la. B làm mọi thứ: Manicure, Pedicure, Full Set, Waxing và Facial. Thường được tip rất hậu. Khách hàng đưa 5, 10 dollars bonus là chuyện thường.

Hôm đó, B vừa làm xong waxing thì có khách vào làm Full Set, bà chủ chi định thợ khác làm. Thế là B giận dữ, lớn giọng: “Tại sao chị lại để người khác tranh tài em? Khách này là khách quen em.” Bà chủ nhỏ nhẹ: “Em vừa mới làm xong, tới lượt người khác.” B than phiền với mọi người: “Nếu tử tế với con này thì sáng con này tới sớm mở cửa. Nếu để ngưới khác tranh tài con này, con này sẽ chỉ cho khách qua tiệm ngang đường làm.”

Bà chủ không nén được sự tức giận, kêu B ra trước mặt những người khác nói: “Tiệm của tôi, từ trước đến giờ, chưa đuổi ai. Tuy nhiên, hôm nay tôi không muốn B làm ở đây nữa. Thái độ của cô quá đáng.” Bà ta thêm vào, giọng phẫn uất: “Quý vị nghĩ là chia tiền cho tôi nhiều lắm sao? 40% chúng tôi phải trả tiền thuê, tiền mướn tiệm, tiền điện nước. supplies . . . rồi bao nhiêu thứ trách nhiệm nữa. Ai không muốn làm thì nghỉ ngay bây giờ đi.”

Trên 10 người thợ im lặng. B oà lên khóc và xin lỗi bà chủ, hứa rằng không bao giờ than phiền nữa. Bà chủ xác định vững vàng là không thay đổi ý kiến: B phải thu xếp đồ đạc và dọn ra ngay.

Từ đó về sau. Không có “sự cố” nữa, mọi người “xử lý rất chuẩn.”

Chuyện của B là điển hình. Trong ngành nail, người ta thường nói: “Thợ bỏ chủ chứ chủ không bỏ thợ. Làm cho 4 tiệm trong 6 năm, em đã học hỏi được nhiều về tâm lý của chủ và thợ trong ngành nail. Em nghĩ mình sẵn sàng mở một tiệm nail rồi.

Năm 1993, em mở tiệm nail đầu tiên. Muốn sang lại tiệm có sẵn khách, ngặt là không đủ tiền. Có chạy được tiền để làm ăn đi nữa lại sợ thất bại làm sao trả được tiền nợ. Bởi vậy, em mướn một căn trống, trang trí thành tiệm nails. Chỉ một tháng sau là grand opening. Gần đó không có tiệm nails nên số khách ngày một gia tăng. Chỉ một năm sau, em sang lại tiệm được 20 ngàn đô la.

Thấy làm ăn được, sau khi sang, em tìm được 4 địa điểm khác và trang trí thành tiệm nails. Bốn năm sau, em bán cả 4 tiệm và tìm 2 địa điểm khác, Cuối cùng em sang cả 2 tiệm này và mua lại một tiệm khác hoạt động đến bây giờ. Điều khiển một tiệm nail hết sức phức tạp. Nhiều vấn đề người chủ phải đương đầu: Tiền nhà tăng, kiếm thợ và duy trì thợ, đối phó với Ty Thẩm Mỹ. 

Nghề Nail đối mặt với sát thủ thầm lặng

 

Tôi có người bạn mới từ Việt Nam qua, khó tìm việc làm vì vốn tiếng Anh kém cỏi, ai cũng khuyên nên đi học và hành nghề Nail là tiện nhất vì học vừa nhanh, lại có nhiều tiền. Cô hỏi, nghề Nail có nguy hiểm vì hoá chất độc hại không? Vì cô đang có thai vài tháng, cô lo cho đứa nhỏ trong bụng.

Trước tình cảnh thiếu thốn của cô, tôi không biết khuyên làm sao cho phải, nên chỉ biết nói cho cô nghe những sự thật mà cô sẽ phải đương đầu. Không phải tôi đưa ra những nhận xét bi quan nhưng vì tôi có người thân từng làm nghề này nên xin đưa ra những khuyến cáo đứng đắn không chỉ với cô bạn tôi mà với tất cả những ai đang làm nghề này. 

Nghề Làm móng là nghề phải đối mặt với các hoá chất mỗi ngày mà chúng là những sát thủ thầm lặng. Thợ móng, hít thở các hoá chất này qua một thời gian dài nguy cơ ung thư và những căn bệnh liên hệ tới phổi gia tăng và có ngày sẽ nguy hiểm tới tính mạng.

Momo Chang, tác giả của một bài viết trên báo Hyphen Magazine đã thuật lại lời kể của Uyên Nguyễn là chủ một tiệm nail. Bà này có một cô em dâu đã hành nghề trong tiệm của bà trên 15 năm. Cô em khám phá ra cái thai 8 tháng bị chết trong bụng và cô tin rằng vì cô đã hít quá nhiều hoá chất độc khi cô làm móng giả cho khách hàng.

Năm 2007, báo Times đã gọi nghề Nail là một trong những nghề tệ hại nhất ở Hoa Kỳ vì những sản phẩm hoá chất được dùng trong tiệm. Những người thợ làm móng đã hít phải những hoá chất này liên tục trong 8, 10, 14 tiếng hoặc hơn mỗi ngày.

Formaldehyde is one of the most common carcinogens in your indoor air

Theo một nghiên cứu của đại học University Massachusetts trong vùng Boston, người ta khám phá ra những người thợ Nail là những người thường mắc các chứng bệnh như khó thở, nhức đầu, ngứa ngáy và đau nhức các khớp xương, gân hay bắp thịt. Theo Cora Roelofs, mặc dù chính phủ đã đặt ra những luật lệ hầu bảo vệ độ an toàn cho người xử dụng, nhưng những ngăn ngừa này cũng không giúp gì được cho những người thợ.

Một trong những hoá chất độc nhất tìm thấy trong những tiệm Nail là chất carcinogen formaldehyde, và những chất khác là toluene and dibutylphthalate. Những chất này tạo nên quái thai và hư thai.

Tôi có một người thân cũng làm nghề này. Sau nhiều năm hành nghề, một buổi chị đi chữa răng và người nha sĩ khám phá ra chị bị ung thư dưới lưỡi. Chị phải chịu phẫu thuật để cắt chỗ ung thư đi và được hoá trị.

Bác sĩ chuyên môn còn xẻ đùi chị lấy thịt để vá vào chỗ lõm dưới lưỡi, nơi thịt ung thư bị khoét bỏ, đau đớn không thể nào tả xiết. Xui làm sao, ông ta bỏ nhiều thịt đùi quá, lưỡi bị chạm, chị nói chuyện không được, ông lại giải phẫu lấy bớt thịt ra. Chị chịu đau biết bao nhiêu lần, rồi chị bị chứng trầm cảm vì sợ chết, phải uống thuốc an thần để giảm đau và bớt sợ. Cơ thể chị lâu dần quen thuốc, ngày nào không có thuốc chị thấy như kiến bò trong xương. Khi vết mổ lành hai năm sau, phổi chị bắt đầu mọc những mụn ung thư nho nhỏ lan ra đầy phổi.

Giờ, bác sĩ bảo đành phải để thế, không thể giải phẫu cắt chúng đi được vì chúng quá nhiều. Những mụn ấy phát triển chậm nhưng ngày một lớn dần. Chị xem như hết cách chữa, bèn tin vào những phương thuốc bậy bạ của bất cứ người nào mách bảo. Vợ chồng con trai chị cũng mở một tiệm Nail rất khá giả, thế mà mỗi lần tiệm đông khách thiếu tay thợ, chị lại xắn tay nhào vào giúp con.

Thật là sinh nghề, tử nghiệp. Chị đúng là một mẫu người phụ nữ Việt Nam xưa tiêu biểu, chỉ biết làm việc hy sinh cho chồng cho con. Chị mở tiệm Nail kiếm tiền giúp gia đình, quần quật với việc nhà, không ăn chơi mua sắm, không biết giải trí se sua. Cuối đời chị đã được hưởng những gì ngoài mặc cảm làm Nail và những cơn đau của ung thư hành hạ.  Và gần đây nhất chị giúp vốn cho con chị mở một tiệm tạp hoá loại 99 cents để bỏ dần tiệm Nail vì chị thấy được nguy cơ lâu dài của nghề này.

Nghề nào, nghiệp nấy. Làm nghề khuân vác, thì già cụp lưng, xương sống lệch lạc. Người hành nghề Nail ngoài những bệnh về da dễ mắc còn phải đối diện với các bệnh về đường hô hấp. Trong một bài báo của American Journal of Epidemiology có một báo cáo y tế được thực hiện ngày 21 tháng 5, 2010, trong 325,228 thợ móng tay có bằng cấp có 9,044 trường hợp bị ung thư. Con số tỷ lệ ung thư là 0.87 %. Và tỷ lệ ung thư phổi là

1.21 % trên tổng số hành nghề, tức cứ 100 người thợ làm móng có 1.21 người mắc bệnh ung thư phổi. Con số này là con số đáng tin cậy. Ngoài ra họ còn mắc các bệnh liên hệ tới đường hô hấp và ngoài da khác.

Theo The Industry Magazine Nails, Ở Mỹ có khoảng 60,000 tiệm Nail, con số người hành nghề làm móng khoảng 350,000 người, 96 % là phụ nữ, hơn phân nửa là người Việt Nam. Ông Nguyen Tin, chủ tịch hiệp hội Vietnamese Nail Care  Profesional Association,   tiết lộ Ở California có khoảng 42,000 thợ làm móng người Việt và con số người gia nhập làng Nail ngày một gia tăng.

Tháng 12 năm 2004, một thanh tra y tế đột nhập vào một tiệm Nail ở San Jose để kiểm tra sau khi nhận báo cáo của một khách hàng tố giác sau khi làm móng, da bị dị ứng, ngứa, sưng tấy, đau rỉ nước, đi bác sĩ mãi không hết. Sau đó bộ y tế bắt đầu mở hàng loạt những vụ kiểm tra khám xét các tiệm Nail. Tiếp theo vụ báo cáo đó, có khoảng 30 trường hợp khách hàng bị chứng đau rỉ nước vì nhiễm trùng sau khi làm móng được ghi nhận.

Các cơ quan truyền thông lớn của Mỹ liên tục nói về việc này. Họ than phiền các tiệm Nail Việt kém vệ sinh, không thoáng khí, hệ thống hút hay lọc hơi không hội đủ tiêu chuẩn bảo đảm sức khoẻ cho khách hàng lẫn thợ thuyền. Nhiều tiệm Nail không kiểm soát được rủi ro do hóa chất làm móng giả gây ra cũng như từ sơn móng tay, keo gắn móng, chất lau sơn móng tay. Sau đó nhiều tiệm Nail bị phạt vì phạm luật, không đủ tiêu chuẩn an toàn.

Mặc dù mức độ hơi khói và bụi hóa chất ở dưới mức độ cho phép, nhưng chuyên viên móng vẫn có thể mắc các bệnh như khó thở, hen suyễn do Ethyl Methacrylates gây ra. Ngoài ra nhiều người bị cay mắt vì nồng độ Ema có trong bột làm móng. Khi mài móng có những hạt bụi rất nhỏ bay ra.

Trong bụi có pha lẫn các chất như keo dán và methacrylate polymers. Chúng vượt rào cản ở mũi, cuống phổi và xâm nhập vào góc phổi đưa tới tổn thương, tạo nên các bệnh về đường hô hấp. Do đó việc đeo khẩu trang che bụi và ngăn được phần nào các hoá chất độc hại. Tuy nhiên các hoá chất này dễ bay hơi và hoà tan trong không khí có hại cho cả khách lẫn thợ.

Tác dụng độc hại của các hoá chất trên cơ thể một người hành nghề xảy ra theo một tiến trình chậm và lâu dài khiến người ta không thấy mối nguy hiểm lập tức và ngay trước mắt. Vả lại việc học Nail nhanh, dễ, lại rẻ là một lợi điểm thu hút những người mới đến định cư muốn nhảy vào. Khi học nghề, nhà trường chỉ dạy sơ qua về cái độc nhưng lại tránh không nhắc đến cái hại thế nào mà chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh kiếm tiền nhiều và dễ.

Patty Moran, một người thợ làm móng 38 tuổi, kể rằng bà làm trong một tiệm móng tay trong khu shopping Mall cùng 13 người thợ khác, 10 tiếng một ngày, 6 ngày một tuần. Bà đã không dùng khẩu trang che mặt, tiệm lại không có hệ thống quạt, hút hơi, lọc không khí, trong khi người quản lý hút thuốc liên tục suốt ngày khiến căn tiệm đầy những mùi.

Ở trong tiệm bà không cảm thấy mùi hoá chất hay mùi gì vì khứu giác bà đã quen với nó và bà bắt đầu bị bịnh khó thở và cảm thấy phổi mình đầy những bụi. Sáu tháng sau, bà tìm việc khác làm vì bà không muốn chết sớm.

Trong tất cả những người đã và đang làm thợ móng, chắc chắn có nhiều người ý thức được những rủi ro nghề nghiệp giống như bà Moran nhưng mấy ai có thể dứt khoát hay có ý định bỏ nghề kịp lúc như bà. Nghề làm móng đã giúp đỡ rất nhiều người Việt bước nhanh và bước mạnh trên con đường hội nhập khó khăn và khiến họ làm nên bao nhiêu cơ nghiệp vẻ vang. Người mình thường nghĩ Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh và nghề Nail là nghề kiếm tiền được ai dại gì mà bỏ.

Tuy nhiên, nếu chúng ta biết được nghề này khó bỏ mà nó có nhiều rủi ro thì mình nên đề cao cảnh giác và thường xuyên áp dụng những phương cách phòng ngừa hầu ngăn chặn những nguy cơ xảy ra hay giảm thiểu những rủi ro.

Đó là chưa kể đến những nỗi cực nhục trong việc đối phó với sự cạnh tranh nghề nghiệp vì nghề nào dễ ăn thì ai cũng nhảy vào. Vì cạnh tranh mà có người mở cửa tiệm suốt tuần sợ mất khách. Những ngày lễ, họ phải mở cửa từ sáng sớm tới tối mịt. Có khi khách đông, bận rộn đến nỗi không ăn, nín đi vệ sinh đến nỗi có người bị xỉu vì đói vì mệt.

Ngoài ra người thợ Nail còn có một mặc cảm thấp kém, giảm nhân cách vì cái vị trí bị ngồi dưới thấp của họ là chà chân, cắt da, săn sóc, lau chân, mang giày cho người ta. Sự tủi nhục không ít thì nhiều cũng làm cho tâm lý con người bị tổn thương. Chưa kể gặp khách hàng khó tính, bắt bẻ, hành hạ làm theo đúng ý họ khiến đồng tiền tưởng là dễ kiếm biến thành cục xương hóc trong họng.

Chị tôi kể, có một bà thợ lớn tuổi đeo kính lão vẫn phải đi làm. Một hôm vì mắt kém, thay vì cắt móng, bà đã cắt lầm vào da chân của một phụ nữ da đen trẻ to con mập mạp. Chị lắc đầu nói trời ơi, tôi thấy con Mỹ đen bất thần bị đau co cái chân to khoẻ của nó đạp bà một cái, tấm thân gầy nhỏ bé lăn lông lốc dưới đất thật là đáng thương. Bà đau đến nỗi mấy hôm sau chưa đứng dậy nổi để đi làm.

Nỗi vinh nhục của nghề làm móng kể ra thì nhiều nhưng dĩ nhiên vào nghề thì ai cũng tập làm quen chịu đựng và chấp nhận thương đau.

Nhưng cái khó nhất của nghề làm móng có lẽ là Đường vào nghề Nail rất dễ nhưng đường ra thì ....chắc chắn là khó vì ít ai bước ra dù cho họ phải đối mặt và sống với mộtsát thủ thầm lặng.

 

Ngọc Lan tổng hợp

Hình Minh họa-Internet 

 

 

 

Xem thêm...

Nhà phát minh tài năng và tâm huyết Việt trên đất Nhật

Nhà phát minh tài năng và

tâm huyết Việt trên đất Nhật

Mang trong mình niềm đam mê nghiên cứu vì con người, đem lại sự sống cho những sinh linh bé nhỏ, chàng trai du học sinh người Việt năm nào giờ đây đã trở thành nhà phát minh đồng thời là một doanh nhân thành công trên đất Nhật.
 
Chàng sinh viên xứ Huế trên đất Nhật
 
BM  
 
Ông Trần Ngọc Phúc (tên tiếng Nhật: Kazufuku Nitta) sinh năm 1947 trong một gia đình khá giả ở Huế. Về sau, gia đình ông chuyển vào Sài Gòn sinh sống. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, ông sang Nhật theo học ngành hóa công nghiệp tại Đại học Tokai năm 1968 bằng chi phí của cha mẹ.
 
BM
Ông Trần Ngọc Phúc (tên tiếng Nhật: Kazufuku Nitta).
 
Sau khi tốt nghiệp đại học năm 1974, ông nhận được học bổng dành cho nghiên cứu sinh của hội The Asian Students Cultural Association và xin vào thực tập tại hãng chế tạo thiết bị y khoa Senko Medical Instrument Manufacturing. Ông dự định mang những kiến thức mình đã học hỏi được về áp dụng cho Việt Nam.
 
Ban đầu, sau khi sang Nhật ông thường liên lạc với gia đình ở Việt Nam qua điện thoại. Nhưng chiến tranh tiếp diễn, sau năm 1975 ông hoàn toàn mất liên lạc với gia đình tại Sài Gòn. Vốn được sinh ra trong một gia đình khá giả ở Việt Nam, cha mẹ chiều theo mơ ước của ông, gửi ông sang học tại Nhật và ông luôn mang trong mình tâm niệm sẽ mang những điều mình học hỏi được quay trở về xây dựng quê hương. Bởi vậy, việc mất liên lạc với gia đình đã khiến tinh thần của ông bị khủng hoảng trầm trọng. Ông nghĩ rằng mình đã mất quê hương và sẽ chẳng bao giờ có cơ hội trở về.
 
Những suy nghĩ tiêu cực bủa vây lấy ông, đến nỗi ông phải tránh đến gần cửa sổ trong các toà cao ốc, vì chỉ e trong lúc phẫn chí sẽ đi tìm cái chết. Sau hơn một tháng bế tắc và khủng hoảng, nhờ sự khích lệ của bạn bè, ông quyết định ở lại Nhật và tiếp tục làm việc.
 
Đam mê nghiên cứu vì sinh mạng con người
 
BM
  
Quyết định ở lại Nhật Bản, ông hiểu rằng không phải ai cũng dễ dàng sống được ở một vùng đất mới. Để tạo chỗ đứng trên mảnh đất xứ Phù Tang, ông muốn tìm cho mình con đường chưa ai từng đi, làm việc chưa ai từng làm.
 
Khi ông vào phòng hồi sức cấp cứu của trẻ em, nhìn những đứa trẻ bé bỏng trong lồng kính ông nghĩ: “đây là thiên thần xuống trần gian nhưng bị gãy cánh” và ông muốn giúp các thiên thần có thể sải đôi cánh của mình khi đến thế giới này. Vì vậy, ông đã quyết định dấn thân vào con đường chế tạo máy hô hấp nhân tạo cho trẻ sơ sinh mà không một ai ở Nhật Bản dám làm lúc đó.
 
Theo thống kê năm 1975, tỉ lệ tử vong của các bé sinh non có cân nặng từ 500gr đến dưới 1kg tại Nhật Bản gần 90%, thuộc hàng cao nhất các nước phát triển trên thế giới. Đây vốn là một bài toán hóc búa đối với các bác sĩ, bởi buồng phổi của các bé còn quá yếu ớt. 
 
BM
 
Nhìn những đứa trẻ bé bỏng trong lồng kính… ông đã quyết định dấn thân vào con đường chế tạo máy hô hấp nhân tạo cho trẻ sơ sinh mà không một ai ở Nhật Bản dám làm lúc đó.
 
Lựa chọn con đường này, những khó khăn ban đầu không ít. Rất nhiều người phản đối việc làm này của ông vì cho đây là việc không thể. May mắn thay, Giám đốc công ty Senko Ika đã tạo điều kiện cho ông đi học những kiến thức liên quan đến hô hấp ở một trường đại học Y trong khoảng 1 năm, sau đó là thực tập ở một số đại học Y khác. Ông cũng phải tự mày mò học thêm, tự nghiên cứu ngày đêm vì lúc bấy giờ ở Nhật Bản chưa có ai nghiên cứu về ngành này.
 
Sau thời gian học tập, ông trở về công ty cũ làm việc ở bộ phận nghiên cứu gây mê và hô hấp. Ông dành 10 năm để cống hiến cho công ty đã có công đào tạo, giúp đỡ mình.
 
 
Năm 1982, ông thuyết phục vợ cùng giúp ông thành lập công ty Metran Co, Ltd. bằng tiền hưu trí, tiền tiết kiệm và vay ngân hàng để theo đuổi mơ ước làm giảm số tử vong của các trẻ sinh thiếu tháng. Ông dồn hết tâm sức vào việc chế tạo “Máy hô hấp nhân tạo dao động cao tần số HFO (High Frequency Oscillatory Ventilation)” thích hợp cho hai lá phổi mong manh của các bé sơ sinh.
 
BM
Công ty Metran Co, Ltd.
 
Sau bao nỗ lực và cố gắng cuối năm 1982, ông chế tạo thành công máy HUMMINGBIRD 1. Máy thở này của công ty Metran đã đoạt giải nhất trong cuộc thi do hội The U.S. National Institutes of Health đặt ra tại Mỹ. Đây được xem là điều đã làm nên nền tảng cho công ty của ông.
 
 
BM
Máy thở tần số cao “Humming Bird” – Thế hệ đầu tiên.
 
 
Từ thành công ban đầu có được, ông cố gắng nghiên cứu, phát minh và phát triển máy đều đặn, hết cái này đến cái khác. Kết quả ông đã thành công trong việc chế tạo máy dùng cho cả trẻ em và người lớn.
 
BM
 
Hiện tại, Công ty Metran tại Nhật Bản có khoảng 50 nhân viên. Công ty tuy nhỏ nhưng đối với ông, khi làm việc trong lĩnh vực y khoa, điều cần nhất là trách nhiệm với xã hội và con người.
 
 
Bởi “Thi ân mà không cần đáp trả”, đây là điều ông đã học được từ cha mẹ mình.
 
BM
Công ty tuy nhỏ nhưng đối với ông, khi làm việc trong lĩnh vực y khoa, điều cần nhất là trách nhiệm với xã hội và con người.
 
Kết quả thống kê tại Nhật cho thấy theo đà hoàn thiện của máy thở HFO, tỉ lệ tử vong của trẻ sinh non tại Nhật giảm dần trong hơn một thập niên qua. Đối với trẻ sinh non cân nặng 900gr, số tử vong năm 1990 là 150 cháu thì đến năm 2005 chỉ còn dưới 50 cháu. Đối với trẻ nặng 600 gam thì tử suất năm 1990 là 400 cháu và năm 2005 chỉ còn 200 cháu. Đặc biệt đối với trẻ nhẹ hơn 400gr thì tử vong từ 1.000 cháu năm 1990 chỉ còn dưới 500 cháu vào năm 2005.
 
 
Năm 2007, em bé nhỏ nhất sinh ra tại Nhật Bản chỉ nặng 265gr, có thể nằm trên bàn tay của người lớn. Những đứa trẻ đặc biệt như thế này, nếu dùng máy hỗ trợ hô hấp thông thường thì rất khó cứu sống và để lại nhiều di chứng. Nhưng sử dụng máy hỗ trợ hô hấp do ông nghiên cứu thì tỷ lệ các cháu sống sót mà không để lại di chứng rất cao.
 
BM
Năm 2007, em bé nhỏ nhất sinh ra tại Nhật Bản chỉ nặng 265gr.
 
 
Với những con số như thế, dễ hiểu tại sao thiết bị này hiện được trang bị tại 90% các trung tâm chăm sóc trẻ sơ sinh toàn nước Nhật với hơn 1.400 máy đang vận hành. Ngoài ra, các máy này đã được xuất khẩu đến hơn 20 quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam.
 
BM
 
Dễ hiểu tại sao thiết bị này được trang bị tại 90% các trung tâm chăm sóc trẻ sơ sinh toàn nước Nhật với hơn 1.400 máy đang vận hành.
 
Sau rất nhiều kỳ tích mà những chiếc máy hỗ trợ hô hấp của ông tạo ra, ngày 25/11/2017, một đài truyền hình của Nhật Bản đã thực hiện chương trình mà thông qua đó, ông Trần Ngọc Phúc đã gặp được hai cháu bé sinh non nhờ có thiết bị của ông mà được cứu sống và giờ đây đã lớn khôn, khỏe mạnh.
 
Gia đình của hai bé coi ông như ân nhân. Cuộc gặp gỡ đầy niềm hạnh phúc vui sướng cho cả ông và gia đình hai bé. Các cháu biểu diễn kiếm đạo và piano cho ông xem, chia sẻ ước mơ của chúng cho ông nghe. Sản phẩm nghiên cứu của mình đã cứu được những đứa trẻ như vậy, có lẽ đó là một trong những món quà tuyệt nhất đối với ông.
 
Đặc biệt, tháng 7 năm 2012, công ty của ông đã được Nhật hoàng Akihito lựa chọn để ghé thăm. Nhật hoàng đã cảm ơn vì có những doanh nghiệp như ông đang nỗ lực để bảo vệ trẻ em Nhật Bản. Hàng năm, Nhật hoàng chỉ chọn 3 doanh nghiệp vừa và nhỏ làm điểm đến trong lịch trình bận rộn của mình vì vậy, việc được Nhật Hoàng ghé thăm là một sự ghi nhận đối với những cống hiến của ông trên đất Nhật.
 
BM
 
Sau 33 năm thành lập và phát triển, Công ty Metran đã nhận được nhiều giải thưởng lớn của Chính phủ và các địa phương ở Nhật Bản. Năm 2007, Metran được Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản chọn là một trong 300 công ty có tiềm năng phát triển mạnh nhất.
 
Năm 2012, Metran đạt “Giải thưởng sáng tạo lớn” lần thứ 4 của Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản dành cho “Dụng cụ hô hấp nhân tạo bảo vệ sinh mệnh của trẻ siêu sinh non”.
 
BM
Công ty Metran đã nhận được nhiều giải thưởng lớn của Chính phủ và các địa phương ở Nhật Bản.
 
Nối tiếp thành công, tháng 11 năm 2018 ông tiếp tục nhận được huân chương mặt trời mọc tia sáng bạc, phần thưởng cao quý cho nỗ lực của ông suốt 50 năm sống tại nước Nhật.
 
Triết lý kinh doanh coi trọng đạo đức
 
BM
  
Trở thành một nhà phát minh đã khó, làm doanh nhân còn khó hơn. Để đạt được thành công như ngày hôm nay, ông đã từng phải trải qua những giờ phút khó khăn trên con đường đi đến thành công của mình.
 
Ông luôn tâm niệm “kinh doanh cũng như là tập kiếm đạo”: là đạo nên cách suy nghĩ, đạo đức đều nằm trong đó. Mình phải có sự trung tín, luôn luôn có lòng trung thành với mục đích cao cả, với đạo lý và giữ chữ tín ở đời dù gặp khó khăn thế nào đi chăng nữa.
 
 
Năm 1993, một biến cố đã xảy đến khi ông muốn mở rộng quy mô công ty bằng việc niêm yết lên sàn chứng khoán, ông đã mời 3 nhà đầu tư vào làm chung với hy vọng họ sẽ giúp công ty thành công hơn nữa. Nhưng ông đã nhầm, các nhà đầu tư nôn nóng muốn có lợi nhuận nhanh nhất có thể nhưng điều này đi ngược lại với triết lý kinh doanh của ông là phải phát triển một cách bền vững.
 
BM
Sản phẩm nghiên cứu của ông đã cứu được rất nhiều người.
 
Không cùng chí hướng, ông quyết định dừng hợp tác với họ. Lúc này, ba đối tác quay ra liên kết với nhau nhằm đánh sập Metran. Đứng trước khó khăn, ông vẫn vững tin vào con đường mình đã chọn, ông vay tiền ngân hàng mua lại toàn bộ cổ phiếu mà người ta đã bỏ vào. Sau biến cố, ông càng nhận thức sâu sắc hơn về đạo kinh doanh, ông cho rằng “vấn đề lợi tức và đạo đức, khi nào cũng phải cân bằng trong đó”.
 
Tấm lòng luôn hướng về quê hương
 
Cơ duyên trở về Việt Nam của ông Trần Ngọc Phúc bắt đầu không lâu sau khi ông thành lập Metran. Lúc đó, ông đang cùng Bệnh viện Nhi trung ương quốc gia Nhật Bản nghiên cứu về máy móc thiết bị y tế, ông đã được Bệnh viện Nisseki Hiro liên lạc với Bệnh viện Nhi trung ương quốc gia Nhật Bản về ca mổ tách rời hai cháu Việt – Đức. Vì biết ông Phúc là người Việt Nam nên Bệnh viện Nhi trung ương quốc gia Nhật Bản đề nghị ông tham gia việc này.
 
Năm 1988, khi tham gia hỗ trợ cho cuộc phẫu thuật tách cặp song sinh Việt – Đức, ông có nhân duyên gặp gỡ với bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, nguyên Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ (TP HCM). Qua những cuộc trò chuyện cùng bác sĩ Phượng, ông biết rõ hơn về tình hình đất nước sau giải phóng vẫn chưa hoàn toàn hồi phục, nhiều lĩnh vực đang gặp khó khăn, trong đó có y tế. Nhờ sự giúp đỡ của bác sĩ Phượng, ông đã trở lại thăm quê hương. Ông đoàn tụ cùng gia đình sau một thời gian dài xa cách.
 
BM
Anh Nguyễn Đức (thứ ba, từ trái sang) cùng vợ con hội ngộ êkíp mổ 30 năm trước.
 
Lúc ông về Việt Nam đã không còn như xưa, gia đình ông đã mất hết của cải và phải chật vật tìm mọi kế để sinh nhai. Với bổn phận người con trưởng trong gia đình, ông đã đưa các em của mình sang Nhật để chúng có cơ hội học tập và trau dồi kiến thức trong lĩnh vực y khoa và thực phẩm. Các em trai, em gái của ông sau khi về lại Việt Nam đều mang những kiến thức học được vào kinh doanh và cũng tạo được mối tương quan mật thiết với Nhật bản.
 
 
Trực tiếp chứng kiến những khó khăn thách thức mà Y tế Việt Nam phải đối mặt, ông đã liên hệ với những người bạn là các bác sỹ trên toàn nước Nhật, xin cung cấp các thiết bị y tế cần thiết để hỗ trợ cho các bệnh viện của Việt Nam.
 
Ông sử dụng sản phẩm do mình nghiên cứu để giúp đỡ những đứa trẻ sinh thiếu tháng, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa. Đồng thời, ông cũng nhờ sự hỗ trợ của những bác sĩ tại Nhật và Mỹ, khi có thời gian cùng ông về Việt Nam.
 
Trước hết, ông tổ chức các buổi giảng dạy, truyền đạt kinh nghiệm cho những bác sĩ trẻ, sau đó là các hội thảo để các bác sĩ Việt Nam hiểu được các cách chữa trị mới trên thế giới. Chỉ sau này, khi Y tế Việt Nam đã từng bước phát triển rõ rệt và có sự hỗ trợ của rất nhiều giáo sư ngoài nước, vì sức khỏe có hạn cũng như muốn dành thời gian cho nghiên cứu khoa học, ông Phúc mới dừng tổ chức các hội thảo sau 13 năm thực hiện.
 
BM
Ông tổ chức các buổi giảng dạy, truyền đạt kinh nghiệm cho những bác sĩ trẻ, sau đó là các hội thảo để các bác sĩ Việt Nam hiểu được các cách chữa trị mới trên thế giới.
 
Hiện tại trên cương vị là Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Nhật Bản, ông Trần Ngọc Phúc mong muốn Hội có thể đưa ra những giải pháp giúp đỡ cộng đồng người Việt có cuộc sống tốt hơn, hỗ trợ cho người Việt trong những tình huống khó khăn… Đồng thời, ông cũng đang ấp ủ ước mơ xây dựng một kênh truyền hình dạy tiếng Việt tại Nhật.
 
Theo ông, người Việt tại Nhật sống rải rác nên nếu mở trường dạy học sẽ không đáp ứng được hết nhu cầu mong muốn dạy tiếng Việt cho các thế hệ thứ 2, thứ 3. Gìn giữ tiếng Việt là gìn giữ cốt lõi bản sắc văn hóa Việt, bởi vậy nhiệm vụ này luôn được ông và Hội người Việt tại Nhật chú trọng.
 
 
BM
Trên cương vị Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Nhật, ông mong muốn Hội có thể đưa ra những giải pháp giúp đỡ cộng đồng người Việt có cuộc sống tốt hơn, hỗ trợ cho người Việt trong những tình huống khó khăn.
 
“Bước đến tuổi 70, tôi muốn dành thời gian cho gia đình nhỏ bé của mình, cống hiến cho cộng đồng, nhưng đam mê nghiên cứu vẫn chưa bao giờ ngừng lại trong tôi. Tôi đang nghiên cứu các thiết bị giúp đỡ cho bệnh nhân tại Việt Nam. Các ý tưởng của tôi luôn muốn phụng sự cho Tổ quốc mình”, ông chia sẻ
 
 
BM
 
Tài năng cùng triết lý nhân sinh cao đẹp mà ông gửi gắm trong các sản phẩm của mình đã và đang cứu sống hàng nghìn trẻ em sinh non trên thế giới. Với đạo đức và nhân cách của một người con đất Việt ông đã mang đến hạnh phúc cho những người làm cha làm mẹ đồng thời góp phần làm rạng danh đất nước hình chữ S.
 
 
 
 
Tâm Liên
 
Ngọc Lan sưu tầm
 
Xem thêm...

VIẾT VỀ MẸ

VIẾT VỀ MẸ

Mother's Day May 12, 2019

"Dù con đang trong lòng mẹ hay con đã trưởng thành thì mẹ cũng đau đáu hướng về con. Dù con khỏe hay đau ốm mẹ vẫn chăm sóc con từng chút một. Khi thì ly sữa muỗng cháo, khi cái áo quyển vở, khi phẩy bụi vứơng trên vai."

¸.


Chẳng bao lâu sau đám cưới nho nhỏ của ba mẹ con đã bắt đầu hình thành. Ba mẹ vui lắm. Cả gia đình nội ngoại một lần nữa vui mừng vì hạnh phúc của ba mẹ.
Mẹ hạnh phúc thật sự nhưng kèm theo đấy là sự khó chịu. Mẹ ụa mửa, mệt mỏi suốt mấy tháng trời nhưng mẹ vẫn mường tượng là một đứa con thật xinh. Mẹ thì thầm từng ý nghĩ dễ thương hạnh phúc của người mẹ lần đầu tiên.

Những bỡ ngỡ khi mẹ phải đi dép thấp, áo rộng và trăm điều mà bà nội dặn. Mẹ lạ lùng khi ông bà nội hằng ngày chăm cho mẹ từng món thức ăn đặc biệt hơn, những cái áo quần và hàng trăm điều khác cho mẹ con mình. Rồi những ngày mẹ nặng nề vì con đang phát triển.

Rồi con ra đời khi mẹ chịu đau gần một buổi. Ai cũng thấy mẹ sanh nhanh và gọn của một người sanh con so. Cái đau không ai chia sẻ nổi dù người đó là ba hay ngoại hay nội. Mọi người chỉ động viên bằng lời hoặc vuốt ve.

Ai có một lần ăn hơi tham một chút để bụng nơi nặng một chút, hơi đau một chút mới thấy mẹ cực như thế nào suốt mấy tháng trời. Nhưng mẹ hạnh phúc khi con có mặt trên đời này với tiếng khóc thật to khỏe và một thân mình hoàn mỹ. Mẹ yêu lắm cái thân thể đỏ hỏn.

Mẹ con mình đến với nhau như thế thật bình thường như bao người khác nhưng lại là cuộc gặp đặc biệt giữa con và mẹ. Cuộc gặp gỡ bắt đầu cuộc sống mấy mươi năm của mẹ con mình. Dù con đang trong lòng mẹ hay con đã trưởng thành thì mẹ cũng đau đáu hướng về con. Dù con khỏe hay đau ốm mẹ vẫn chăm sóc con từng chút một. Khi thì ly sữa muỗng cháo, khi cái áo quyển vở, khi phẩy bụi vứơng trên vai.

Mấy mươi năm mẹ cứ âm thầm chăm chút con không ngừng nghỉ vì mẹ con mình chưa khi nào xa nhau. Cuộc sống cứ gắn bó từ ngày này sang ngày khác đến lúc giật mình mới thấy mấy mươi năm mẹ con mình cứ gắn bó mà chưa hề có ý nghĩ chia lìa. Con thích ở với mẹ mãi mãi như thế này thôi.

Suốt bao nhiêu năm khi sáng thức dậy con vẫn thấy mẹ bên cạnh. Ngày còn nhỏ mẹ vuốt trán con và một lời nói âu yếm. Con quàng tay vào cổ mẹ. Mẹ mang con ra khỏi giường. Bây giờ mẹ ôm vai con một cái thật chặt và con cứ nhắm mắt để hưởng cái chặt, cái ấm từ người mẹ truyền sang.

Những ngày nóng con giật mình khi mẹ ngồi quạt cho con. Mẹ âu yếm : “ Ngủ đi mai còn đi làm.” Con vội mang cái quạt để dưới chân và ôm mẹ trong tay. Ngày đông mẹ khép cánh cửa sổ và choàng chiếc mền mỏng như ngày còn năm tuổi.

Vài năm nay mẹ thường khó ngủ nên mẹ ngủ bằng chiếc giường riêng. Con làm việc khuya hơn nhưng trước khi ngủ con phải ngó vào giuờng mẹ một chút nghe nhịp thở đều con mới về giường mình. Mới tháng này con nhất định ngủ cùng mẹ. Con nhẹ nhàng vào nắm bên mẹ và con kham phá ra : Mẹ vờ ngủ để con yên lòng. Giấc ngủ của mẹ khó đến và thường thì không dài và không sâu.

Những cơn bịnh đột nhiên cũng đến gây những mệt mỏi, khó chịu. Mẹ không than cứ uống thuốc theo lời bác sĩ. Một ngày mười mấy thứ thuốc. Con hỏi thì mẹ trả lời: “Bệnh già. Ai cũng bệnh hết mà.”. Bây giờ mẹ nặng nề và chậm chạp lắm rồi nhưng mẹ vẫn chăm con. Đi làm về mẹ vẫn mở cổng. Chiếc áo con phơi mẹ vẫn gỡ vào khi trời mưa. Nón của con mẹ vẫn treo lên một chỗ. Con hạnh phúc dưới cái ấm bàn tay mẹ.

Biết ý con thu xếp mọi chuyện trước khi đi làm nhưng mẹ vẫn sắp đặt từng chút một. Mẹ cười cười: “ Mẹ ngồi không chịu không nổi”. Mẹ vẫn sắp xếp những bộ quần áo của ba để lại, cuốn sách mà ba hay đọc…Mẹ cứ xếp đi xếp lại trong nỗi nhớ ba. Ba đi chỉ vài năm nay nên nỗi nhớ chưa nhạt lắm. Cứ để mẹ làm những việc mẹ thích…

Nhưng mẹ ơi! Cứ như thế này mãi nhé. Con không thay đổi đâu nhé. Cứ như bấy lâu nay. Cứ dịu dàng, đầm ấm như thế này nhé mẹ…

(DH)

 

 

Nếu mẹ là…

Nếu mẹ bỗng hoá thành vầng trăng
Thì con xin được làm dòng suối mát
Suối chan hoà trong ánh trăng bát ngát
Con ngoan hiền trong tình mẹ bao la


Nếu mẹ bỗng là một vầng dương
Con xin làm một loài cây cỏ
Cây không thể thiếu mặt trời đỏ
Cũng như con chẳng thể thiếu người


Nếu mẹ bỗng tan thành cơn gió
Con sẽ là đồng ruộng xanh tươi
Gió mơn man ngọn lúa vui cười
Hai mẹ con ta cùng ca hát


Nếu mẹ bỗng…
Thôi mẹ ơi mẹ đừng là gì nữa
Con muốn mẹ chỉ là mẹ thôi
Mẹ của con có một trên đời

 

Bài thơ nói về tình yêu của người con dành cho mẹ của mình. Bài thơ với tựa “nếu là mẹ” so sánh mẹ với rất nhiều hình ảnh như là: vầng trăng, cơn gió, vầng dương. Nhưng tóm lại cũng chỉ là mượn những hình ảnh đó để nói lên tình yêu thương vô bờ bến của mẹ

 

Công Ơn Của Mẹ

Vất vả từ thuở còn son
Nay ngày của Mẹ mà con chưa về
Đường dài con vẫn mải mê
Ân tình, nhân nghĩa, lời thề nặng vai.


Tóc huyền nay đượm sương mai
Nỗi lòng Mẹ cũng nguôi ngoai, dịu dần
Con ghi ơn Mẹ ngàn lần
Con tạc nghĩa Mẹ muôn phần kính yêu.


Mẹ cho con thật là nhiều
Hoa thơm, trái ngọt, lẽ điều phải hay
Suốt cuộc đời Mẹ dang tay
Đón đàn con nhỏ đêm ngày chờ mong.


Vẫn là dòng giống Lạc Long
Mẹ Âu Cơ mãi là vòng tay êm
Canh khuya bóng Mẹ bên thềm
Lời ru, câu ví con thêm lớn dần


Trưởng thành – con vẫn rất cần
Mẹ bên con mãi – là xuân cho đời
Ngày của Mẹ – con dâng lời
Công ơn của Mẹ trọn đời con ghi.

 

 

 

~~~~   Kim Kỳ sưu tầm  ~~~~

 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này