Kim Quy

Kim Quy

Đà Nẵng – Lịch Sử Hình Thành, Ảnh Xưa Cũ, Di Tích

Đà Nẵng

 Lịch Sử Hình Thành, Ảnh Xưa Cũ, Di Tích

Đà Nẵng được xem như “Yết hầu của vùng Thuận Quảng”, Quảng Nam với ý nghĩa rộng là vùng đất mở rộng về phương Nam, cùng với sự kiện năm 1471 vua Lê Thánh Tông lập Quảng Nam Thừa tuyên đạo gồm 3 phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn. Cư dân đầu tiên ở đây là cư dân Sa Huỳnh.

Tourane là tên của Đà Nẵng trong thời Pháp thuộc. Do sức ép của Pháp, năm 1888 vua Đồng Khánh phải ra một Đạo dụ nhượng Đà Nẵng (Hà Nội và Hải Phòng ) bao gồm Hải Châu, Phước Ninh, Thạch Thang, Nam Dương và Nại Hiên Tây, thường gọi là “ngũ xã”. Bộ máy cai trị do viên Đốc lý người Pháp đứng đầu và các cơ quan giúp việc.

Theo đó các phố tây và công sở phần lớn nằm trên các trục đường chính như Quai Courbet (Bạch Đằng), Jules Ferry nối dài Rue de Musée (Trần Phú ), Francis Garnier nối dài Marc Pourpe (Lê Lợi và Phan Châu Trinh) và khu dân cư bản xứ ở phía tây.

Đà Nẵng 1859 -Tranh vẽ của J Minot cho nhãn của thương hiệu chocola nổi tiếng lúc bấy giờ (Chocolat Lombart) về cuộc kháng chiến của quân dân Đà Nẵng trước sức tấn công của liên quân Pháp – TBN. Tranh vẽ về thành Điện Hải bị bốc cháy trong cơn giao chiến.

Tranh vẽ Đà Nẵng 1860 của Gravure về một chợ tạm của người Pháp và TBN ở vùng tạm chiếm trên bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng. Chợ tạm được hình thành chỉ trong vòng hơn một năm khi liên quân Pháp -TBN nổ súng tấn công Đà Nẵng vào năm 1858… Qua bức tranh cho thấy những người buôn bán ở chợ này là người châu Âu và một vài người Trung Hoa. Hàng hóa rất ít dường như là khoáng sản, lâm sản quý, ngọc trai…

Tranh vẽ Đà Nẵng xưa ở bến tàu Courbet với những xe kéo của người bản xứ phục vụ một cặp vợ chồng người Âu. Dưới sông là những chiếc ghe bầu đang cập cầu tàu để buôn bán, bốc dỡ hàng hóa (cầu tàu này là tiền thân của chiếc cầu chữ T trước mặt UBND thành phố hiện nay).

Trên đường Courbet 1912 . Xe chở nước, có lẽ họ lấy nước sạch từ sông Hàn để phân phối cho cư dân lân cận.

Vua Thành Thái vi hành Đà Nẵng bằng tàu Hỏa (người đang dắt một Hoàng tử từ tàu hỏa bước xuống). Bên dưới là những cận thần lo việc bảo vệ. Trông dáng vua có chiều cao rất khiêm tốn (điều nầy phù hợp với sử sách) .

Thuyền của nhà vua đi thăm cửa Hàn

Đà Nẵng, đón rước vua Thành Thái đi kinh lý và thăm một ngôi chùa. Ảnh cho thấy binh lính tất bậc với cờ, kiệu, lọng, dù. Hộ giá đức Vua. Cổng ngôi chùa này giống với chùa An Long (một ngôi chùa cổ, tọa lạc gần cổ viện Chàm- có trong album nầy)

Ga chính của Đà Nẵng xưa, được xây dựng vào năm 1905 trên đường Lagtie (nay là đường Hải Phòng), Gare principale de Tourane

Đường rail hỏa xa và Ga phụ chạy dọc sông Hàn. Tàu hỏa chuyển hàng hóa và khởi hành tại đây. Tàu chạy bằng than, phun khói mù mịt, thỉnh thoảng có kèm theo tro lửa nên dân ta quen gọi “tàu lửa”.

“Cảnh mô vui bằng cảnh đất Hàn
Dưới sông tàu chạy, trên đàng hỏa xa”

Tàu lửa từ Đà Nẵng đi Huế. Những nhân viên hỏa xa đang tất bật cho chuyến khởi hành. Thị dân Đà Nẵng phần lớn đi chân đất, nam nữ đều đội nón lá có vành rộng, đi hoặc đứng đều có thói quen chắp tay phía sau!

Cầu Nam Ô (chủ yếu phục vụ tàu lửa, ô tô chỉ đi “ké”)

Cầu Nam Ô, một cây cầu đẹp, không thua gì cầu Tràng Tiền ở Huế. Vùng này có sản phẩm nước mắm và món gỏi cá rất nổi tiếng – Liên Chiểu Đà Nẵng

Đường hầm tàu lửa Hải Vân Đà Nẵng – Huế được hoàn thành vào năm 1906 với sức người là chính. Đã có hàng trăm phu phen bỏ mạng khi đường hầm được hoàn thành. Tàu chạy qua đây mỗi ngày chỉ có 2 chuyến nên “Sếp hầm” thả chó đi rông và ngồi chơi luôn ở đây!

Đèo Hải Vân (old) với đường đèo rất hẹp chỉ đủ cho xe lưu thông một chiều nên phải chờ rất lâu. Đường đèo hẹp lại quanh co hiểm trở, không có lan can phòng hộ như bây giờ!

Những công nhân điện tín đầu tiên của Đà Nẵng vào năm 1906. Có tên gọi nôm na là nhà dây thép ! Tiền thân của Bưu điện Đà Nẵng bây giờ! VNPT Đà Nẵng nên tìm con cháu của những người nầy để sử dụng…cũng là cách trả ơn tiền nhân.

Những ngư dân đánh cá đầu tiên ở Đà Nẵng- Những tiền hiền nghề biển của các ngư dân Sơn Trà ngày nay( hữu ngạn sông Hàn ), trông họ rất khỏe mạnh, vạm vỡ và đen nắng. Ảnh chụp cho thấy sinh hoạt, nhà cửa chủ yếu bằng tranh tre, có mái rất thấp để tránh bão tố khắc nghiệt thường xuyên của vùng nầy.

***

Sau 10 năm du học ở Pháp, ngày 16/8/1932, Vua Bảo Đại xuống tàu về nước.

Ngày 8/9/1932 tàu chở Vua về đến Đà Nẵng

 

 

Auto Draft

Bộ ảnh vua Bảo Đại về nước gồm 40 tấm, do tiệm ảnh Thanh Ba ở Huế thực hiện.

Auto Draft

Đám đông đang chờ tàu Alerte chở vua Bảo Đại cập bến Đà Nẵng, 8/9/1932. Tên gọi chính thức của thành phố khi đó là Tourane.

Auto Draft

Đám đông quan sát tàu Alerte tiến vào cảng Đà Nẵng.

Auto Draft

Tàu Alerte khi chuẩn bị cập bến.

Auto Draft

Các thủy thủ neo tàu vào cảng.

Auto Draft

Hoàng đế Bảo Đại xuống tàu trên cầu tàu được trang hoàng.

Auto Draft

Hoàng đế Bảo Đại đi qua cầu tàu cùng đoàn tùy tùng.

Auto Draft

Toàn cảnh cầu tàu nhìn từ xa.

Auto Draft

Vua Bảo Đại bước ra từ cầu tàu.

Auto Draft

Từ cảng, vua sẽ đến Tòa thị chính Đà Nẵng.

Auto Draft

Quan chức Pháp ra đón vua Bảo Đại trước Tòa thị chính.

Auto Draft

Quan chức Pháp ra đón vua Bảo Đại trước Tòa thị chính.

Auto Draft

Từ phía trước Tòa thị chính Đà Nẵng, hoàng đế Bảo Đại lên đường đi Huế bằng đoàn tàu hỏa đặc biệt.

Auto Draft

Toàn quyền Đông Dương đến Huế. Đội quân danh dự tập trung trước nhà ga Huế để đón vua.

Auto Draft

Cuộc gặp của vua Bảo Đại với ông Toàn quyền.

Auto Draft

Cuộc gặp của vua Bảo Đại với ông Toàn quyền.

Auto Draft

 

Auto Draft

Toàn quyền tiễn vua Bảo Đại ra xe.

Auto Draft

Toàn quyền Đông Dương đã lên xe.

Auto Draft

Binh lính Pháp chào Toàn quyền Đông Dương theo nghi thức nhà binh trước Ngọ Môn.

Auto Draft

Quan toàn quyền và binh lính Pháp thực hiện nghi thức chào cờ và hát quốc ca Pháp ở trước Ngọ Môn.

Auto Draft

Những người được ban thưởng đứng thành hàng diện kiến hoàng đế.

Auto Draft

Hoàng đế Bảo Đại trao huân chương cho người đại diện.

Auto Draft

Sĩ quan Pháp nhận huân chương từ cấp trên.

 

Kim Quy sưu tầm

 

 

 

Con người đi tìm thuốc trường sinh

Con người đi tìm thuốc trường sinh

Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức

Mè được xem như là loại thực phẩm “cải lão hoàn đồng, trường thọ bất lão,”

là “kho báu dinh dưỡng” thường xuất hiện trong các món ăn của Nhật Bản. (Hình: nhatngusenko)

 

Nhà Xuân vừa mở thọ diên,
Chén pha Giếng Cúc, bàn chen Non Đào.
Nguyễn Huy Tự

 

Giấc mộng trường sinh, bất tử đã được ghi nhận từ thuở hoang sơ, khi con người còn ăn lông ở lỗ. Trong huyền thoại thần tiên, trong niềm mê tín dân gian, trong nguồn cảm hứng xuất thần của văn nhân thi sĩ hay luận lý của triết gia. Tân, Cựu Ước, kinh Koran cũng có nhắc tới nguồn nước trường sinh.

 

Nó là động lực thúc đẩy những nhà thám hiểm lặn lội đi tìm suối nước vĩnh cửu ở vùng đất lạ, cũng như  là mục tiêu nghiên cứu của các khoa học gia xưa nay.

Nó đã tạo cơ hội làm giầu cho những lang băm, những tên lường gạt rao bán vịt trời giữa chợ với môn thuốc trường sinh bất tử.

Nó ám ảnh mọi người, mọi giống. Ai cũng mong mỏi sống mãi không già, thoát khỏi  những tàn phá của cơ thể do thời gian, giữ mãi  được những nét thanh xuân đầy nhựa sống. Ai cũng nghĩ là ở đâu đó, có môn thuốc mà khi uống vào ta sẽ thi gan cùng tuế nguyệt. Ta chỉ việc cố gắng, kiên nhẫn tìm là sẽ thấy nó.

Nhân dịp Xuân về, chúng tôi mời quý vị, ta lang thang vào cái vườn địa đàng này. Biết đâu lại may mắn nhặt được vài trái đào của Tây Vương Mẫu rơi rớt đó đây; uống lén được chút rượu Kim Tương. Để rồi cùng nhau bách niên giai lão, tiếp tục mè nheo người bạn đường sung sức…

Trường sinh trong Triết học

Đi trước các dân tộc khác, người Trung Hoa xa xưa đã có một khái niệm, một triết lý về sự sống lâu.

Lão Tử từng quan niệm là nếu một sự vật có thể biến thành sự vật khác thì với con người, sự chết cũng có thể thành bất tử. Như con nòng nọc có đuôi kia biến thành con cóc, con nhái, con sâu róm lột xác thành con bướm. Đạo Lão cho con người sống là nhờ sự hoà hợp của âm/dương, nếu giữ được sự hòa hợp này thì cuộc sống kéo dài.

Quan niệm này đã và vẫn là căn bản cho Y thuật Trung Hoa cùng các nước chịu ảnh hưởng văn hóa quốc gia này như Việt Nam, Triều Tiên. Lão cũng khuyên người ta phải tiết kiệm sinh lực bằng vô vi, tập phép hô hấp để tăng dưỡng khí cho não bộ, ăn nhiều trái cây, kiêng rưọu, thịt và sống cho phải đạo.

Câu chuyện người Luigi Cornaro, sanh năm 1470, sống cuộc đời phóng đãng hơn 30 năm. Thầy thuốc nói nếu tiếp tục như vậy sẽ không qua được tuổi 50. Ông ta bèn thay đổi nếp sống, tiết mực hơn và kết quả là sống tới tuổi 103, để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm giá trị về bảo vệ sức khỏe. Hai trăm năm sau, nhiều người đã áp dụng lối sống của Cornaro.

Triết gia Plato, thọ 81 tuổi, khuyên ta không được rượu chè say sưa, nhất là ở tuổi trung niên, nếu muốn trường thọ.

Thủy tổ nền y học Tây Phương Hippocrates, sống tới 80 tuổi, nhắc nhở con người nên từ từ, dung hòa ở mọi lãnh vực để giữ gìn nhựa sống. Nhất là từ khi đặt chân lên ngưỡng cửa 60.

Có người muốn kéo dài sự sống thì cũng có người quan niệm ngược lại.

Sinh, Lão, Bệnh, Tử là lẽ thường của tạo hóa, hà cớ chi phải bận tâm quá đáng.

Sự chết cũng tốt cho loài người. Tre già măng mọc, đèn cạn dầu đèn tắt.

Và đã hưởng hết lạc thú rồi thì cầu sống lâu làm gì?

 

Trường sinh trong huyền thoại

Huyền thoại Hy Lạp, Ấn Ðộ, La Mã ghi lại nhiều giai thoại trường sinh thần tiên.

Nàng Eos yêu Tithonus hết mình, muốn cùng chàng bên nhau mãi mãi. Nàng xin Thần lãnh đạo Thiên Đường Zeus cho chàng được bất tử. Tithonus sống mãi, nhưng càng sống lâu càng trở nên đau yếu, bệnh hoạn và phải nuôi trong phòng riêng. Eos trở nên buồn, vì  nàng đã quên không xin cho chàng vừa sống lâu vừa giữ được vẻ thanh xuân. Nàng đi kiếm người tình khác.

Người Ả Rập hay kể cho nhau nghe câu chuyện nhân vật quen thuộc El Khidr với Giếng Nước Vĩnh Cửu: Một hôm tình cờ El Khidr rửa con cá khô trong giếng nước, con cá tự nhiên quẫy động, sống lại. Không bỏ lỡ cơ hội, El Khidr nhẩy xuống giếng tắm và trở thành bất tử .

Hy Lạp xưa cũng có suối nước vĩnh cửu trong rừng Jupiter, mà, theo tục truyền, ai tắm nước đó sẽ được phục hồi tuổi trai tráng và khỏe mạnh.

 

Trường sinh trong văn học, nghệ thuật

Văn nhân thi xưa nay cũng khao khát sự trường thọ.

Thi sĩ Hy lạp Hesiod tả hình ảnh đầy hấp dẫn của giống người Golden Race, sống lành mạnh tới cả trên trăm tuổi. Đến khi chết, họ ra đi một cách nhẹ nhàng, thoải mái như đi vào giấc ngủ say.

Pindar tả cảnh thiên đường trường thọ của dân chúng trong một hải đảo giữa biển Atlantic: sống cả ngàn năm trong hoan lạc, không biết gì đến đau yếu, bệnh tật.

Trong tiểu thuyết Lost Horizon xuất bản năm 1933, James Hilton tả cảnh sống thiên đường của dân chúng ở vùng Shangri-La.

Trong sách Metamorphoses, thi sĩ La Mã Ovid kể lại chuyện vua Aeson của Hi Lạp được phục hồi sức khoẻ bằng cách chích vào tĩnh mạch một hỗn hợp điều chế từ máu cừu đực chưa thiến, da rắn, thịt cú và rễ nhiều thảo mộc khác nhau.

 

Trường sinh với các nhà thám hiểm

Nhiều nhà thám hiểm cũng đã giương cờ đi khắp năm châu bốn bể để tìm thuốc trường sinh.

Juan Ponce de Leon, người Tây Ban Nha, đã lên đường thám hiểm Tân Thế Giới với hy vọng kiếm được thuốc hồi xuân. Ông ta đã già yếu, không thỏa mãn được cô vợ trẻ sung sức. Đồng thời ông ta cũng muốn kiếm thần dược dâng Quốc Vương Ferdinand II. Không kiếm ra thuốc, nhưng ông ta đã tìm ra tiểu bang phì nhiêu, hiền hòa Florida năm 1513. Ông qua đời vì vết thương bị nhiễm độc trong khi giao tranh với thổ dân gốc Indian vào tuổi 63.

Tần Thủy Hoàng Đế, sau khi gồm thâu lục quốc, dựng nên nghiệp Đế, muốn bất tử để trị vì trăm họ. Ông đã phái các phương sĩ Từ Phước và Lư Sinh căng buồm ra Biển Đông tìm thần dược. Lư Sinh, Từ Phước không tìm ra linh dược, nhưng đã lánh nạn và tìm được những mùa Xuân bất tận cho nhiều thế hệ con cháu trên đất Phù Tang mầu mỡ.

Năm 1498, Columbus tuyên bố là đã tìm ra miền vĩnh cửu ở dọc theo bờ biển Venezuela, gần đảo Trinidad.

Trường sinh với căn bản khoa học

Bên cạnh những ý kiến, dữ kiện khó tin, nhiều người đương thời đã có cái nhìn nghiêm túc hơn về sự hóa già và phương cách trì hoãn diễn biến này.

Tu sĩ dòng Franciscan kiêm khoa học gia Roger Bacon đã lý luận rằng con người già vì sự mất bớt nhiệt năng bẩm sinh. Nếu sống hợp lý cộng với thuốc men hiệu nghiệm, ta có thể trì hoãn sự mất mát này và sống lâu hơn. Ông ta hỗ trợ thuốc chế từ thịt rắn, tim hươu nai và một vài thảo mộc trong rừng ở Nam Phi hay nước san hô, ngọc trai. Nhưng phương thức mà ông ta ưa thích nhất là hít sinh khí hơi thở của trinh nữ.

Người Do Thái khi xưa cũng tin rằng con gái là phương thuốc chữa bệnh tốt. Vua David, khi về già không được khỏe, cơ thể lạnh toát, đắp bao nhiêu chăn cũng không đủ ấm. Thần dân bèn đặt Người nằm cạnh những thiếu nữ với ý định là để chân khí từ thiếu nữ tiếp sức cho vua cha. Và Ngài khỏe ra.

Boerhaave, danh y người Đức, sống từ 1668 tới 1738, cũng khuyên viên thị trưởng Amsterdam là  nếu muốn lấy lại sinh lực thì hãy nằm giữa hai thiếu nữ còn trinh.

Công dụng hơi thở thiếu nữ cũng thấy ghi trong ngôi mộ cổ của một lão nhân Ai cập, nói rằng ông ta sống tới tuổi 115 là nhờ những hơi thở này.

Nhà luyện kim kiêm y sĩ Paracelsus của Đức, vào thế kỷ 16 đã tin tưởng rằng lão hóa là do sự thay đổi hóa chất trong cơ thể như sự rỉ sét của kim loại. Ông ta khuyên nên ăn uống cân bằng, sống tại vùng khí hậu ôn hòa, dùng những thuốc do ông ta chế.

Theo Leonardo Da Vinci, con người mau già là do hậu quả của mạch máu dầy lên, máu lưu thông khó khăn, dinh dưỡng suy giảm.

Những thế kỷ  kế tiếp, việc tìm kiếm phương thức trì hoãn sự lão hóa mang ít nhiều tính cách khoa học hơn và được thực hiện bởi nhiều nhà chuyên môn quan tâm đến vấn đề này.

Mùa Thu năm 1885, Charles Ed. Brown Sequard, 72 tuổi, nguyên giáo sư Đại Học Harvard, hùng hồn trình bày trước các học giả uy tín của College of France. Ông ta cho hay là đã lấy lại được sinh lực, thỏa mãn đòi hỏi tình dục cuả người vợ trẻ bằng cách dùng nước tinh chế từ ngọc hành loài chó. Y giới mọi nơi vội vàng áp dụng môn thuốc này, nhưng hiệu quả không được như lời nói.

Sau Thế Chiến Thứ Nhất, viên y sĩ người Nga, Serge Vernof, sang Pháp và cấy tế bào ngọc hành cho nhiều người để tăng cường sinh lý.

Ở Mỹ, mấy năm sau, John Romulus Brinkly cũng áp dụng phương pháp này cho thân chủ, kiếm được nhiều tiền, mua đài phát thanh và ra tranh cử chức thống đốc tiểu bang Arkansas.

Descartes, Benjamin Franklin, Francis Bacon, Christopher Hufeland… với nhiều công sức nghiên cứu đều tin tưởng là sự lão hóa  và sự tử vong sẽ bị khoa học khuất phục. Hufeland còn khuyên ta nên tránh sự tức giận, sự tự hủy hoại và  coi chúng là kẻ thù của trường thọ.

 

Các nghiên cứu hiện đại

Jean Martin Charcot, y sĩ Pháp, được nhiều người coi là cha đẻ của Lão-khoa-học, xuất bản cuốn sách đầu tiên về khoa này năm 1867 nhan đề Clinical Lectures on Senile and Chronic Diseases. Tác giả đề nghị nghiên cứu diễn tiến sự hóa già, nguyên nhân già, thay đổi cơ thể khi về già.

Bác Sĩ Ignatz Leo Nascher vận động để các trường Y Khoa đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu vấn đề liên quan tới hóa già.

Sir Peter  Medawar và Sir Mac Farlane Burnet là những người đầu tiên lưu ý tới ảnh hưởng của gene trong sự lão hóa.

Quá trình lão hóa có thể bị đảo ngược từ DNA. (Hình minh họa: Google)

Sau Thế Chiến Thứ Hai, tốc độ nghiên cứu về vấn đề già phát triển mạnh. Tờ báo uy tín Journal of Gerotology ấn hành số đầu tiên vào năm 1946 ở Hoa Kỳ.

Từ năm 1970, tại Mỹ, do sự đòi hỏi của dân chúng, các khoa học gia và chính trị gia liên kết thúc đẩy chính phủ trợ cấp nhiều hơn nữa cho việc nghiên cứu các vấn đề về lão hóa. Do sự ủng hộ tích cực củaThượng Nghị Sĩ Alan Cranton, cơ quan Quốc Gia Tuổi Già (National Institute of Aging) được chính thức thành lập năm 1976. Cơ quan này có ngân sách cao tới cả nửa tỷ Mỹ kim và chuyên chú về các vấn đề liên quan tới người cao tuổi.

Ngày nay, trên thị trường thương mại, ta có thể kiếm được nhiều sản phẩm được công nhận bởi cơ quan có thẩm quyền về y khoa học, hoặc được người chế ra quảng cáo là có công hiệu trì hoãn sự lão hóa.

Nhớ lại vào giữa thập niên năm mươi, đồng bào ta ở Việt Nam nhiều người đua nhau  dùng thuốc Gerovital-KH3. Thuốc này được một y sĩ Lỗ Ma Ni điều chế và nghe nói các nhân vật nổi danh như Tưóng De Gaulle, Thủ Tướng Adenauer, văn hào Sommerset Maugham cũng có dùng. Gerovital vẫn còn được bán tự do ở Âu Châu, nhưng không được cơ quan Dược Phẩm Hoa kỳ công nhận giá trị chống lão hóa.

Nhiều người hiện đang dùng các loại sinh tố, khoáng chất, anti-oxidant, các loại kích thích tố, Q-10, Glutathione, Melantonin, Sod, DHEA, Omega-E,… Và được giới thiệu là có thể làm chậm sự lão hóa.

Các khoa học gia đang đi xa hơn trong công việc này. Họ nhắm vào việc thay đổi gene trong nhiễm thể tế bào, việc giới hạn tác hại của các phó sản trong biến hóa căn bản của tế bào.

Đi xa hơn nữa, họ nghĩ tới chuyện thay thế những bộ phận hư hao bằng bộ phận tạo ra do chính tế bào của mình, được nuôi dưỡng, cấu tạo trong phòng thí nghiệm hay trên bào thai, để tránh hiện tượng khước từ thông thường. Một ngày nào đó, biết đâu ta lại chẳng tân trang được cơ thể con người và chỉ cần đưa đi kiểm tra định kỳ mười năm một lần, như một chiếc xe hơi.

Kết luận

Trở lại với thực tại, ta thấy tuổi thọ con người đã tăng đáng kể trong hơn trăm năm qua.

Chừng nửa thế kỷ nữa, Hoa Kỳ sẽ có khoảng 75 triệu người trên 65 tuổi trong tổng số trên dưới ba trăm triệu dân. Tại các quốc gia khác, số người cao tuổi cũng tăng theo cùng nhịp độ. Đó là thành qủa những tiến bộ tuyệt vời của khoa học cũng như sự thay đổi nhân sinh quan của loài người.

Nhà bác học người Pháp, Louis Pasteur, năm 1856, đặt nền móng cho việc tiêu diệt hầu hết các bệnh truyền nhiễm, nguyên nhân tử vong cao ở các thế kỷ trước, đã là người có công đầu trong việc tăng gia tuổi thọ.

Rồi khi sống lâu, loài người lại phải đối phó với những khó khăn mới gây ra do môi trường cũng như do thói quen, những bệnh nan y. Con người đã ý thức được vấn nạn đó và đang ứng phó rất hiệu nghiệm, tài tình.

Do sự tăng gia số, người cao tuổi sẽ có nhiều mầu sắc mới, sinh hoạt mới trong gia đình, xã hội. Những người trên 70 tuổi sẽ có nhiều việc để bận rộn trong khoảng thời gian trên dưới 30 năm còn lại của cuộc đời. Sẽ có nhiều người, 70, 80 tuổi còn đi làm, hoặc đi học để cập nhật kiến thức.

Tỷ lệ lão niên nữ sẽ cao hơn nam vì sống lâu hơn. Sẽ có nhiều cặp nhân tình đầu bạc sống chung để nương tựa, đầm ấm với nhau. Sẽ có nhiều trường hợp con cái dọn về ở với cha mẹ già để các cụ bớt đơn côi.

Kỹ nghệ phục vụ nhu cầu người cao tuổi sẽ phát triển mạnh. Hãng du lịch sẽ phát triển mạnh để thảo mãn nhu cầu người già.

Đồng thời, khối cử tri của người cao tuổi sẽ có ảnh hưởng nhiều tới các vấn đề trọng yếu của quốc gia. Người già sẽ lấy lại được sự trân trọng như trong thời kỳ Nữ Hoàng Anh Quốc Victoria xưa kia.

Và trong tương lai, khoa học nghiên cứu sẽ hướng nhiều vào việc “tăng đời sống cho năm tháng chứ không chỉ tăng năm tháng cho cuộc đời” (adding life to years, not just adding years to life). Để nhân loại sống trong  thế kỷ thứ hai mươi mốt với tinh thần “Sống lâu, Sức khoẻ, mọi vẻ mọi hay.”

Đó sẽ là những chén rượu Kim Tương, những trái Bàn Đào mà chúng ta mong đợi.

 

Hồng Anh sưu tầm

-Hình minh họa-Internet

 

 
 

Phim ‘Nailed It’ và giấc mơ Mỹ xuyên thế hệ của người Việt

Phim ‘Nailed It’ và giấc mơ Mỹ

xuyên thế hệ của người Việt

 

       "Có bao nhiêu người trong gia đình anh làm nghề này ? Hiện nay có tới 36 người."
 

Đó là đoạn đối thoại mở đầu trong phim tài liệu Nailed It, một cuốn phim về ngành làm móng tay chân, thường gọi là “làm nail,” của cộng đồng gốc Việt tại Hoa Kỳ. Các nhà làm phim nói với VOA rằng Nailed It đã truyền thêm sức sống và lòng khát khao về giấc mơ Mỹ truyền thống, mang thông điệp xuyên thế hệ từ những câu chuyện của 20 phụ nữ Việt tiên phong trong lịch sử ngành ‘nail’ từ năm 1975 đến cuộc sống đời thực đầy tình người, đậm chất nhân văn ngay từ bên trong tiệm nail.

  Đạo diễn Adele Free Phạm ở bang New York, một nhà làm phim tài liệu có cha là một người gốc Việt, lý giải với VOA vì sao cô làm cuốn phim này.

“Tất cả các tiệm nail châu Á mà tôi biết đều là của người Việt và tôi nhận thấy chưa có phương tiện truyền thông nào đề cập hay phản ứng hiện tượng này. Điều đó khiến tôi tò mò muốn tìm hiểu và đưa vào thể loại phim tài liệu. Và khi tôi bắt đầu tìm tòi thì càng có nhiều cung bậc thú vị được ghi nhận trong phim.”

Câu chuyện tại làng Hy Vọng

  Phim kể lại cuộc hội ngộ sau gần 4 thập kỷ của nữ diễn viên Mỹ Tippi Hedren và 20 phụ nữ người Việt, phần đông là phu nhân của các tướng lĩnh trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, những người tiên phong đã gầy dựng ngành làm nail mà cho tới nay có trị giá lên đến 8 tỷ đôla ở Hoa Kỳ.

Adele nói thêm:

  “Nữ diễn viên điện ảnh Mỹ Tippi Hedren làm công tác thiện nguyện tại các trại tị nạn và gặp một nhóm 20 phụ nữ Việt Nam mới từ Việt Nam sang sau biến cố 30/4/1975. Bà tìm cách giúp họ bằng việc hướng dẫn họ nghề làm móng vào mỗi tuần và tư vấn cho họ cách kiếm tiền nơi đất khách quê người. Bà tổ chức khóa học làm móng, giúp họ có chứng chỉ hành nghề trước khi rời khỏi tại tị nạn, và thế là các phụ nữ này có thể hái ra tiền, có cuộc sống đổi đời từ nghề làm nail.”

Diễn viên Mỹ Tippi Hedren và 20 phụ nữ Việt Nam đầu tiên

học nghề làm móng ở bang California, năm 1975.

Trong phim, bà Thuần Lê, một trong 20 phụ nữ gốc Việt tiên khởi ngành nail, nói về câu chuyện tại làng Hy vọng ở bắc California năm 1975.“Tại trại tị nạn gọi là Hy Vọng, nhóm chúng tôi không biết phải làm gì để kiếm sống. Rồi bà Tippin nói rằng: tôi có một công việc dành cho các chị.”

  Trang Next Shark trích lời bà Hedren, diễn viên nổi tiếng qua phim ‘The Birds,’ năm nay đã tuổi gần 90, nói khi nhắc đến nhóm 20 phụ nữ Việt: “Tôi yêu mến những người phụ nữ này, cho nên tôi ước muốn điều gì đó thật tốt đẹp sẽ đến với họ, vì họ đã mất trắng. Một số người trong số họ đã mất toàn bộ gia đình cũng như mọi thứ họ có ở Việt Nam: nhà cửa, công việc, bạn bè - mọi thứ đã mất hết. Họ thậm chí mất cả đất nước của mình.”

Phim Nailed It của Adele không chỉ dừng lại ở cuộc hội ngộ của nhóm phụ nữ người Việt này với nữ diễn viên người Mỹ, những câu chuyện của bà Thuần Lê, Yến Nguyễn, Kim Dung… mà còn vô số những hình ảnh người thợ làm nail, chủ tiệm nail với công việc thường nhật tại nơi làm việc và cuộc sống gia đình.

Hai, ba thế hệ làm nail

  Anh Kevin Saint Phạm, người đồng sản xuất bộ phim này và là một chủ tiệm nail ở bang California với bề dày hơn 30 năm trong nghề, chia sẻ:“Thật ra tôi đến với nghề này cũng rất tình cờ. Tôi là một kỹ sư nhưng bị cho nghỉ việc. Gia đình bên vợ tôi kêu tôi đi học lấy bằng làm nail. Vậy là tôi bắt đầu, nay đã theo nghề hơn 30 năm rồi.

Tôi rất thích cuốn phim này, không phải vì tôi có mặt trong phim và là đồng sản xuất phim này, mà là vì đó là cái nghiệp đã giúp dẫn dắt, cưu mang các thành viên trong gia đình, giúp có thu nhập để con cái học hành, hòa nhập với cuộc sống tại Mỹ.”

  Cô Adele cho biết phim Nailed It được thực hiện trong khoảng thời gian dài vì có nhiều câu chuyện đan xen, có nhiều nhân vật thuộc 2-3 thế hệ làm nail khác nhau và chính anh Kevin là người có thâm niên trong nghề, quen biết nhiều người, nên cô quyết định hợp tác với anh.

“Ai cũng biết Kevin vì anh ấy ở trong nghề lâu lắm rồi, và đặc biệt anh ấy có mối quan hệ tốt với mọi người. “Câu chuyện về tình người và sinh tồn theo bản năng là lý do tôi làm phim này. Một cái tiệm nail thôi cũng đã kết nối nhiều nhóm lao động với nhau. Và tôi luôn luôn tìm thấy ở họ rất nhiều điều thú vị.”

Giấc mơ Mỹ xuyên văn hóa

  Từ Los Angeles đến Bronx, bộ phim giới thiệu những con người đứng đàng sau nền kỹ nghệ bùng nổ và thỉnh thoảng cũng gây tranh cãi. Kỹ nghệ chăm sóc và làm đẹp móng tay chân đã mở ra một con đường mà cộng đồng Việt Nam theo đuổi để đạt đến giấc mơ Mỹ cùng với cuộc sống độc lập về tài chính, trang World Channel viết.

Ngành kỹ nghệ này mang đến không gian rộng mở cho cộng đồng Việt Nam, để người thợ có thể làm được điều họ muốn, giúp họ thụ hưởng hạnh phúc của cuộc sống tiện nghi dựa trên nền tảng xã hội và kinh tế phong phú, đa dạng. Các nhà làm phim cũng là những người gốc Việt, họ hiểu được cuộc sống của chính mình, và vun đắp mối liên kết gần gũi với nền văn hoá đặc thù của dân tộc, World Channel nhận định.

Charlie and Olivett (co-owners of Mantrap)

Ở một góc nhìn khác, nhà làm phim gốc Việt đã khai thác mối liên kết xuyên văn hóa và sắc tộc qua sự hợp tác nghề nail của bà Charlie Võ, một phụ nữ Việt và bà Olivett Robinson, một phụ nữ gốc Phi, cùng mở tiệm Mantrap Nail & Hairs ở thành phố Crenshaw, bang California, vào năm 1981. Theo nhận định của giới bình luận, đây là một chi tiết làm thay đổi cái nhìn của nhiều người về nạn phân biệt chủng tộc.

Adele Free Phạm

Nhà làm phim Adele Phạm nói:

“Phám khá những cung bậc mà các nhóm người khác nhau cùng tương tác với nhau là một điều hết sức quan trọng. Và chính cái tiệm nail là một không gian như vậy. Tại đây, tôi đã khai thác cảnh trò chuyện thân tình của các phụ nữ di dân gốc Á với các phụ nữ da màu và sắc dân khác.” Còn theo anh Kevin, điều quan trọng nhất bên trong tiệm nail là tình người, là nơi lưu giữ văn hóa truyền thống của người Việt trong đời sống xã hội Mỹ đương đại.

“Sau hơn 40 năm, nữ cũng như nam, làm việc trong tiệm nail và trò chuyện với khách hàng, kết bạn với biết bao nhiều người, thử hỏi sự ảnh hưởng của họ đến xã hội Mỹ lớn như thế nào!”

Khán giả cũng không quá bất ngờ khi anh Bryan Vũ, một chủ tiệm nail ở bang Florida trả lời phỏng vấn trong phim rằng có đến 36 người trong họ hàng nhà anh theo nghề nail, và người anh bà con của anh từ Việt Nam sắp sang và cũng sẽ gia nhập nghề này.

Theo cô Adele, sức ảnh hưởng trong chặng đường này chính là giấc mơ Mỹ mà bao thế hệ di dân tìm đến đất nước Hoa Kỳ đều đã hoặc đang trải qua.

Cô Adele nói: “Phim đã góp phần tái hiện giấc mơ Mỹ, dù rằng giấc mơ Mỹ hiện nay đang ít nhiệm màu hơn và ít hiện hữu hơn trước. Có thể nói phim đã phần nào phản ánh chân thật bối cảnh thế hệ di dân của người Việt thực hiện giấc mơ ấy tại ngay trong tiệm nail.”

Nghiệp làm nail

Tiếp xúc với hóa chất độc hại từ thuốc tẩy sơn móng tay và

keo dán móng hàng ngày là điều mà các thợ làm nail lo ngại nhất.

Nailed It thực hiện hàng loạt các cuộc phỏng vấn mô tả mối lo lắng của người thợ và ý kiến tư vấn của ông Mike Võ, Chủ tịch Hiệp hội Nail Việt Mỹ (VANA), cũng là một người sinh trưởng trong gia đình làm nail, chuyên cung cấp thông tin với các chủ đề như giáo dục sức khỏe, cách sử dụng sản phẩm, cũng như đưa ra kiến nghị với các nhà sản xuất hóa chất để tuân thủ quy định của pháp luật Hoa Kỳ.

Anh Kevin nói: “Công tác giáo dục an toàn sức khỏe luôn cần được nâng cao trong công chúng để đảm bảo điều kiện làm việc cho các thợ nail.” Ngoài ra, theo anh Kevin, cái nhìn kiếm nhã trong xã hội Mỹ đối với giới làm nail người Việt vẫn còn, điều này được phim Nailed It phản ánh rất tinh tế qua hình ảnh hài kịch và tranh biếm họa.

Nhà bình luận Bradon Ledet có cùng nhận định: “Phim Nailed Itthông qua các bức tranh biếm họa đã lên án sự chế giễu các người thợ làm nail Việt Nam.”

Kevin Saint Phạm

“Có người còn xem cái nghề chuyên đi cắt móng tay, rửa chân người khác là nghề hạ bạc và chỉ chuyên dành cho giới nữ,” anh Kevin nói. Thế nhưng trong phim Nailed It, hình ảnh người thợ nam làm móng được lặp đi lặp lại một cách đầy dụng ý - phân công lao động theo quan niệm truyền thống ở Việt Nam không còn đúng ở xã hội Mỹ.

Adele nhận định rằng trong cộng đồng Việt Nam ở Mỹ, cũng còn không ít người có định kiến với nghề nail. Cô cho biết khi kêu gọi sự hỗ trợ để trình chiếu phim Nailed It ở Đại học San Diego gần đây, có một vài sinh viên gốc Việt không muốn tham gia, vì họ không muốn “dính” tới nghề nail. “Vì họ có học vị tiến sĩ, họ thuộc đẳng cấp khác,” cô Adele nói thêm.

Phim Nailed It dài 60 phút vừa ra mắt công chúng toàn quốc Hoa Kỳ trên kênh truyền hình PBS vào tuần trước và chiếu miễn phí trên mạng Internet cho đến ngày 6/7/2019.

 

Nước Mắt Trong Nail

Kiếp làm Nail, chủ cũng như thợ, đôi khi được dự phần vào những chuyện mủi lòng không thể quên.

"Nước Mắt Trong Nail," chuyện thật, chuyện không hề thêu dệt vì bất cứ những dụng ý nào khác, đã xảy ra tại tiệm Solar Nails & Spa, Indianapolis.

Trời hôm ấy nóng, nóng lạ thường, làm người người dân địa phương ngạc nhiên về một ngày thứ Bảy trong cuối tháng Sáu. Một người đàn bà trạc tuổi trung lưu, ăn mặc đơn sơ, bước chầm chậm vào tiệm, hai tay ôm chặt cách tay của hai ông bà già, trạc tuổi 80, 90, yếu ớt, lê thê chân bước.

Sau khi cả ba người cùng ngồi vào ghế bồn làm chân, người đàn bà trung niên ngồi giữa, ông cụ già ngồi bên phải và bà cụ già ngồi bên trái của bà ta. Thỉnh thoảng, ông cụ thều thào: "Mẹ con đâu rồi?" ông lăp đi lặp lại hai ba lần. Người đàn bà đáp: "Ba ơi, Mẹ đây, Mẹ đang ngồi bên cạnh con đây." Cứ cách vài phút, ông cụ lại lặp lại câu hỏi, "Mẹ con đâu rồi?" Người đàn bà nắm lấy bàn tay bên trái của cụ ông đặt lên bàn tay phải của cụ bà để bàn tay cụ ông được sờ vào bày tay cụ bà; "Ba ơi, Mẹ đây, tay Mẹ đây," vừa nói, bà vừa quay qua cụ ông và theo dõi phản ứng của cụ.

Tôi thấy cử chỉ ân cần và kiên nhẫn của người đàn bà, cảm kích, liền tiến lại gần, hỏi han, mới biết được cụ ông trước đây là một luật sư, nhưng tuổi già, sức yếu, đã làm trí nhớ của ông hao mòn, nên thường xuyên hỏi, nhắc đến cụ bà.

Trong khi cả ba người đang được thợ lo chănn sóc móng chân, móng tay, một người đàn bà khác ngồi đối diện đến quày trả tiền và hỏi: "Ở đây có bán gift card không?" cô thư ký đáp: "Thưa có," và lấy trong tủ ra một thẻ gift card bằng nhựa đưa cho bà. Bà hỏi, "Cô có loại gift card nào mà tôi có thể viết lên được không?" Cô thư ký đáp: "Thưa bà không." Bà hỏi tiếp, "Vậy cô cho tôi mượn cây bút và cho tôi một mảnh giấy."

Bà lấy bút giấy qua chiếc bàn đối diện, rồi trở lại, bà mua một gift card một trăm đô ($100.00). Bà nhờ cô thư ký mang tờ giấy bà vừa viết và gift card đến trao tận tay người đàn bà đang ngồi giữa hai ba mẹ già.

Cầm trong tay mảnh giấy, từng ngón tay của bà dần dần di động, mặt bà ửng đỏ. Rồi khuôn mặt bà bỗng dưng đổi sắc, từ trong khoé mắt, hai dòng lệ lăn dài xuống đôi má. Bà nghẹn ngào, lấy tay lau nước mắt.

Tôi đứng lặng yên, không ngăn nổi xúc động, mắt tôi ướt. Nhìn qua cô thư ký, nước mắt cô ta cũng đã làm ước cả đôi má. Tôi bước đi, trả lại cho bà khoảng trống riêng tư.

Khi mọi dịch vụ móng xong, tôi ghé lại nói với người đàn bà, "Bà ơi, bà có thể chia sẻ với tôi người phụ nữ kia đã viết cho bà những gì?"



Bà trao cho tôi tấm thư, tôi đọc:

"Chị mến, ngồi nhìn thấy chị ân cần lo cho ba mẹ già, lòng tôi thổn thức. Chị là người con hiếu thảo, người phụ nữ tuyệt vời, nhắc nhớ tôi, người con gái cũng đã chăm lo cho ba mẹ tôi trước đây, các ngài đã yên nghỉ bảy (7) năm về trước. Quả thật, ba mẹ chị thật diễm phúc có một người con hiếu thảo như chị. Chúc chị bình an!"

Đọc đến đây, người tôi nóng ran lên, nước mắt tôi lại giàn giụa khi nào chẳng hay.

Những dòng ngắn ngủi ấy, dường như không chỉ viết cho người đàn bà trước mặt tôi, mà như đã viết cho chính tôi vậy. Vì chính tôi, cũng đã lo chăm sóc cho mẹ già nhiều năm liệt lào trên giường bệnh, Mẹ cũng mất trí nhớ; và Mẹ vừa mới mất năm rồi. Nỗi nhớ nhung Mẹ vẫn còn bao la và triền miên trong trái tim tôi.

Tôi ôm cánh tay ông cụ, dìu ông ra khỏi ghế và đưa ông bước chầm chậm ra khỏi tiệm; mở cửa, đỡ ông cụ ngồi an toàn nơi ghế sau của xe, đóng cửa và lui lại phía sau để xe lùi bánh. Tôi đứng nhìn chiếc xe đưa hai ông bà cụ chạy ra khỏi khu shopping, rồi dần dần khuất xa cuối đường.

Tôi đứng lặng yên, nắng nóng, gió nhẹ thoáng xoa vào mặt, nghĩ miên man về người đàn bà hiếu thảo, nghĩ về mình, nghĩ về Mẹ, lòng lâng lâng, lâng lâng.

Rồi từ đó, tôi tìm thấy nơi tiệm Nail, không phải chỉ là nơi mưu sinh, kiếm tiền, mà còn là nơi con người tìm thấy con người. Tôi tìm thấy rất nhiều niềm vui và ngay cả những muộn phiền của khách trang trải trong những phút giây ngồi nơi bàn làm móng tay, hay nơi ghế làm móng chân, hay cả những lúc khách ngồi lặng yên, bất động, nhắm mắt như đang thả hồn về chốn xa xăm nào.

Tôi cảm nghiệm, tiệm Nail không còn là của mình, của riêng ai, mà là nơi đã cho mọi người trong giới Nail cơ hội tiếp cận với con người trong một cung cách hết sức thâm tình. Nhiều khách hàng khi nằm xuống còn yêu cầu con cháu họ đã gọi báo cho những thợ Nail, tiệm Nail như một lời chia tay, vĩnh biệt, đã song hành với người thân của họ, người quá cố, với những sinh hoạt của đời sống đáng nhớ.

Nghề Nail: LÀM DÂU TRĂM HỌ

Sau đây là tâm sự của cô Tám, người làm thợ và chủ nails từ năm 1987.

Em tới Mỹ năm 1975 cùng anh A trước kia là một Sĩ Quan Nhảy Dù VNCH. Lúc đó tụi em mới lấy nhau vài tháng. Chồng em xin ngay được việc làm là nhân viên bảo vệ (security guard) còn em thì làm thợ may. Vài năm sau, nhờ người giới thiệu, em làm waitress ở một tiệm ăn. Tiền tip khá hơn làm may nhiều. Thời gian này chúng em vừa đi làm vừa đi học.

Em xin chia xẻ những kỷ niệm trong ngành nail mà mình đã chứng kiến 27 năm nay. Trong thời gian làm thợ nails em rất buồn khi luôn chứng kiến những chịu đựng và nhẫn nại người chủ phải nín lặng. Thường thường, kiếm thợ nails rất khó. Báo Việt Nam đăng mướn thợ thường trực và rất nhiều nên thuận thì ở còn nghịch thì đi. Nhiều thợ còn thì thầm với nhau: “Chủ đâu có làm gì mà mình phải chia 40% cho họ.” Từ ý tưởng đó cộng thêm nhiều nơi cần thợ nails, rất dễ dàng kiếm chỗ làm mới nên sự kính nể chủ thường là hời hợt hoặc không có.

Em chứng kiến cô B, một thợ nail làm cho một chủ đã mười mấy năm. Thái độ của cô ta đối với mọi người, kể cả chủ, rất xấc xược. Hơn thế nữa, B còn có tật liên tục nói xấu về bà chủ ngay trước mặt bà ta. Tiền B làm rất khá, hằng tuần chưa chia luôn luôn trên 1 ngàn đô la. B làm mọi thứ: Manicure, Pedicure, Full Set, Waxing và Facial. Thường được tip rất hậu. Khách hàng đưa 5, 10 dollars bonus là chuyện thường.

Hôm đó, B vừa làm xong waxing thì có khách vào làm Full Set, bà chủ chi định thợ khác làm. Thế là B giận dữ, lớn giọng: “Tại sao chị lại để người khác tranh tài em? Khách này là khách quen em.” Bà chủ nhỏ nhẹ: “Em vừa mới làm xong, tới lượt người khác.” B than phiền với mọi người: “Nếu tử tế với con này thì sáng con này tới sớm mở cửa. Nếu để ngưới khác tranh tài con này, con này sẽ chỉ cho khách qua tiệm ngang đường làm.”

Bà chủ không nén được sự tức giận, kêu B ra trước mặt những người khác nói: “Tiệm của tôi, từ trước đến giờ, chưa đuổi ai. Tuy nhiên, hôm nay tôi không muốn B làm ở đây nữa. Thái độ của cô quá đáng.” Bà ta thêm vào, giọng phẫn uất: “Quý vị nghĩ là chia tiền cho tôi nhiều lắm sao? 40% chúng tôi phải trả tiền thuê, tiền mướn tiệm, tiền điện nước. supplies . . . rồi bao nhiêu thứ trách nhiệm nữa. Ai không muốn làm thì nghỉ ngay bây giờ đi.”

Trên 10 người thợ im lặng. B oà lên khóc và xin lỗi bà chủ, hứa rằng không bao giờ than phiền nữa. Bà chủ xác định vững vàng là không thay đổi ý kiến: B phải thu xếp đồ đạc và dọn ra ngay.

Từ đó về sau. Không có “sự cố” nữa, mọi người “xử lý rất chuẩn.”

Chuyện của B là điển hình. Trong ngành nail, người ta thường nói: “Thợ bỏ chủ chứ chủ không bỏ thợ. Làm cho 4 tiệm trong 6 năm, em đã học hỏi được nhiều về tâm lý của chủ và thợ trong ngành nail. Em nghĩ mình sẵn sàng mở một tiệm nail rồi.

Năm 1993, em mở tiệm nail đầu tiên. Muốn sang lại tiệm có sẵn khách, ngặt là không đủ tiền. Có chạy được tiền để làm ăn đi nữa lại sợ thất bại làm sao trả được tiền nợ. Bởi vậy, em mướn một căn trống, trang trí thành tiệm nails. Chỉ một tháng sau là grand opening. Gần đó không có tiệm nails nên số khách ngày một gia tăng. Chỉ một năm sau, em sang lại tiệm được 20 ngàn đô la.

Thấy làm ăn được, sau khi sang, em tìm được 4 địa điểm khác và trang trí thành tiệm nails. Bốn năm sau, em bán cả 4 tiệm và tìm 2 địa điểm khác, Cuối cùng em sang cả 2 tiệm này và mua lại một tiệm khác hoạt động đến bây giờ. Điều khiển một tiệm nail hết sức phức tạp. Nhiều vấn đề người chủ phải đương đầu: Tiền nhà tăng, kiếm thợ và duy trì thợ, đối phó với Ty Thẩm Mỹ. 

Nghề Nail đối mặt với sát thủ thầm lặng

 

Tôi có người bạn mới từ Việt Nam qua, khó tìm việc làm vì vốn tiếng Anh kém cỏi, ai cũng khuyên nên đi học và hành nghề Nail là tiện nhất vì học vừa nhanh, lại có nhiều tiền. Cô hỏi, nghề Nail có nguy hiểm vì hoá chất độc hại không? Vì cô đang có thai vài tháng, cô lo cho đứa nhỏ trong bụng.

Trước tình cảnh thiếu thốn của cô, tôi không biết khuyên làm sao cho phải, nên chỉ biết nói cho cô nghe những sự thật mà cô sẽ phải đương đầu. Không phải tôi đưa ra những nhận xét bi quan nhưng vì tôi có người thân từng làm nghề này nên xin đưa ra những khuyến cáo đứng đắn không chỉ với cô bạn tôi mà với tất cả những ai đang làm nghề này. 

Nghề Làm móng là nghề phải đối mặt với các hoá chất mỗi ngày mà chúng là những sát thủ thầm lặng. Thợ móng, hít thở các hoá chất này qua một thời gian dài nguy cơ ung thư và những căn bệnh liên hệ tới phổi gia tăng và có ngày sẽ nguy hiểm tới tính mạng.

Momo Chang, tác giả của một bài viết trên báo Hyphen Magazine đã thuật lại lời kể của Uyên Nguyễn là chủ một tiệm nail. Bà này có một cô em dâu đã hành nghề trong tiệm của bà trên 15 năm. Cô em khám phá ra cái thai 8 tháng bị chết trong bụng và cô tin rằng vì cô đã hít quá nhiều hoá chất độc khi cô làm móng giả cho khách hàng.

Năm 2007, báo Times đã gọi nghề Nail là một trong những nghề tệ hại nhất ở Hoa Kỳ vì những sản phẩm hoá chất được dùng trong tiệm. Những người thợ làm móng đã hít phải những hoá chất này liên tục trong 8, 10, 14 tiếng hoặc hơn mỗi ngày.

Formaldehyde is one of the most common carcinogens in your indoor air

Theo một nghiên cứu của đại học University Massachusetts trong vùng Boston, người ta khám phá ra những người thợ Nail là những người thường mắc các chứng bệnh như khó thở, nhức đầu, ngứa ngáy và đau nhức các khớp xương, gân hay bắp thịt. Theo Cora Roelofs, mặc dù chính phủ đã đặt ra những luật lệ hầu bảo vệ độ an toàn cho người xử dụng, nhưng những ngăn ngừa này cũng không giúp gì được cho những người thợ.

Một trong những hoá chất độc nhất tìm thấy trong những tiệm Nail là chất carcinogen formaldehyde, và những chất khác là toluene and dibutylphthalate. Những chất này tạo nên quái thai và hư thai.

Tôi có một người thân cũng làm nghề này. Sau nhiều năm hành nghề, một buổi chị đi chữa răng và người nha sĩ khám phá ra chị bị ung thư dưới lưỡi. Chị phải chịu phẫu thuật để cắt chỗ ung thư đi và được hoá trị.

Bác sĩ chuyên môn còn xẻ đùi chị lấy thịt để vá vào chỗ lõm dưới lưỡi, nơi thịt ung thư bị khoét bỏ, đau đớn không thể nào tả xiết. Xui làm sao, ông ta bỏ nhiều thịt đùi quá, lưỡi bị chạm, chị nói chuyện không được, ông lại giải phẫu lấy bớt thịt ra. Chị chịu đau biết bao nhiêu lần, rồi chị bị chứng trầm cảm vì sợ chết, phải uống thuốc an thần để giảm đau và bớt sợ. Cơ thể chị lâu dần quen thuốc, ngày nào không có thuốc chị thấy như kiến bò trong xương. Khi vết mổ lành hai năm sau, phổi chị bắt đầu mọc những mụn ung thư nho nhỏ lan ra đầy phổi.

Giờ, bác sĩ bảo đành phải để thế, không thể giải phẫu cắt chúng đi được vì chúng quá nhiều. Những mụn ấy phát triển chậm nhưng ngày một lớn dần. Chị xem như hết cách chữa, bèn tin vào những phương thuốc bậy bạ của bất cứ người nào mách bảo. Vợ chồng con trai chị cũng mở một tiệm Nail rất khá giả, thế mà mỗi lần tiệm đông khách thiếu tay thợ, chị lại xắn tay nhào vào giúp con.

Thật là sinh nghề, tử nghiệp. Chị đúng là một mẫu người phụ nữ Việt Nam xưa tiêu biểu, chỉ biết làm việc hy sinh cho chồng cho con. Chị mở tiệm Nail kiếm tiền giúp gia đình, quần quật với việc nhà, không ăn chơi mua sắm, không biết giải trí se sua. Cuối đời chị đã được hưởng những gì ngoài mặc cảm làm Nail và những cơn đau của ung thư hành hạ.  Và gần đây nhất chị giúp vốn cho con chị mở một tiệm tạp hoá loại 99 cents để bỏ dần tiệm Nail vì chị thấy được nguy cơ lâu dài của nghề này.

Nghề nào, nghiệp nấy. Làm nghề khuân vác, thì già cụp lưng, xương sống lệch lạc. Người hành nghề Nail ngoài những bệnh về da dễ mắc còn phải đối diện với các bệnh về đường hô hấp. Trong một bài báo của American Journal of Epidemiology có một báo cáo y tế được thực hiện ngày 21 tháng 5, 2010, trong 325,228 thợ móng tay có bằng cấp có 9,044 trường hợp bị ung thư. Con số tỷ lệ ung thư là 0.87 %. Và tỷ lệ ung thư phổi là

1.21 % trên tổng số hành nghề, tức cứ 100 người thợ làm móng có 1.21 người mắc bệnh ung thư phổi. Con số này là con số đáng tin cậy. Ngoài ra họ còn mắc các bệnh liên hệ tới đường hô hấp và ngoài da khác.

Theo The Industry Magazine Nails, Ở Mỹ có khoảng 60,000 tiệm Nail, con số người hành nghề làm móng khoảng 350,000 người, 96 % là phụ nữ, hơn phân nửa là người Việt Nam. Ông Nguyen Tin, chủ tịch hiệp hội Vietnamese Nail Care  Profesional Association,   tiết lộ Ở California có khoảng 42,000 thợ làm móng người Việt và con số người gia nhập làng Nail ngày một gia tăng.

Tháng 12 năm 2004, một thanh tra y tế đột nhập vào một tiệm Nail ở San Jose để kiểm tra sau khi nhận báo cáo của một khách hàng tố giác sau khi làm móng, da bị dị ứng, ngứa, sưng tấy, đau rỉ nước, đi bác sĩ mãi không hết. Sau đó bộ y tế bắt đầu mở hàng loạt những vụ kiểm tra khám xét các tiệm Nail. Tiếp theo vụ báo cáo đó, có khoảng 30 trường hợp khách hàng bị chứng đau rỉ nước vì nhiễm trùng sau khi làm móng được ghi nhận.

Các cơ quan truyền thông lớn của Mỹ liên tục nói về việc này. Họ than phiền các tiệm Nail Việt kém vệ sinh, không thoáng khí, hệ thống hút hay lọc hơi không hội đủ tiêu chuẩn bảo đảm sức khoẻ cho khách hàng lẫn thợ thuyền. Nhiều tiệm Nail không kiểm soát được rủi ro do hóa chất làm móng giả gây ra cũng như từ sơn móng tay, keo gắn móng, chất lau sơn móng tay. Sau đó nhiều tiệm Nail bị phạt vì phạm luật, không đủ tiêu chuẩn an toàn.

Mặc dù mức độ hơi khói và bụi hóa chất ở dưới mức độ cho phép, nhưng chuyên viên móng vẫn có thể mắc các bệnh như khó thở, hen suyễn do Ethyl Methacrylates gây ra. Ngoài ra nhiều người bị cay mắt vì nồng độ Ema có trong bột làm móng. Khi mài móng có những hạt bụi rất nhỏ bay ra.

Trong bụi có pha lẫn các chất như keo dán và methacrylate polymers. Chúng vượt rào cản ở mũi, cuống phổi và xâm nhập vào góc phổi đưa tới tổn thương, tạo nên các bệnh về đường hô hấp. Do đó việc đeo khẩu trang che bụi và ngăn được phần nào các hoá chất độc hại. Tuy nhiên các hoá chất này dễ bay hơi và hoà tan trong không khí có hại cho cả khách lẫn thợ.

Tác dụng độc hại của các hoá chất trên cơ thể một người hành nghề xảy ra theo một tiến trình chậm và lâu dài khiến người ta không thấy mối nguy hiểm lập tức và ngay trước mắt. Vả lại việc học Nail nhanh, dễ, lại rẻ là một lợi điểm thu hút những người mới đến định cư muốn nhảy vào. Khi học nghề, nhà trường chỉ dạy sơ qua về cái độc nhưng lại tránh không nhắc đến cái hại thế nào mà chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh kiếm tiền nhiều và dễ.

Patty Moran, một người thợ làm móng 38 tuổi, kể rằng bà làm trong một tiệm móng tay trong khu shopping Mall cùng 13 người thợ khác, 10 tiếng một ngày, 6 ngày một tuần. Bà đã không dùng khẩu trang che mặt, tiệm lại không có hệ thống quạt, hút hơi, lọc không khí, trong khi người quản lý hút thuốc liên tục suốt ngày khiến căn tiệm đầy những mùi.

Ở trong tiệm bà không cảm thấy mùi hoá chất hay mùi gì vì khứu giác bà đã quen với nó và bà bắt đầu bị bịnh khó thở và cảm thấy phổi mình đầy những bụi. Sáu tháng sau, bà tìm việc khác làm vì bà không muốn chết sớm.

Trong tất cả những người đã và đang làm thợ móng, chắc chắn có nhiều người ý thức được những rủi ro nghề nghiệp giống như bà Moran nhưng mấy ai có thể dứt khoát hay có ý định bỏ nghề kịp lúc như bà. Nghề làm móng đã giúp đỡ rất nhiều người Việt bước nhanh và bước mạnh trên con đường hội nhập khó khăn và khiến họ làm nên bao nhiêu cơ nghiệp vẻ vang. Người mình thường nghĩ Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh và nghề Nail là nghề kiếm tiền được ai dại gì mà bỏ.

Tuy nhiên, nếu chúng ta biết được nghề này khó bỏ mà nó có nhiều rủi ro thì mình nên đề cao cảnh giác và thường xuyên áp dụng những phương cách phòng ngừa hầu ngăn chặn những nguy cơ xảy ra hay giảm thiểu những rủi ro.

Đó là chưa kể đến những nỗi cực nhục trong việc đối phó với sự cạnh tranh nghề nghiệp vì nghề nào dễ ăn thì ai cũng nhảy vào. Vì cạnh tranh mà có người mở cửa tiệm suốt tuần sợ mất khách. Những ngày lễ, họ phải mở cửa từ sáng sớm tới tối mịt. Có khi khách đông, bận rộn đến nỗi không ăn, nín đi vệ sinh đến nỗi có người bị xỉu vì đói vì mệt.

Ngoài ra người thợ Nail còn có một mặc cảm thấp kém, giảm nhân cách vì cái vị trí bị ngồi dưới thấp của họ là chà chân, cắt da, săn sóc, lau chân, mang giày cho người ta. Sự tủi nhục không ít thì nhiều cũng làm cho tâm lý con người bị tổn thương. Chưa kể gặp khách hàng khó tính, bắt bẻ, hành hạ làm theo đúng ý họ khiến đồng tiền tưởng là dễ kiếm biến thành cục xương hóc trong họng.

Chị tôi kể, có một bà thợ lớn tuổi đeo kính lão vẫn phải đi làm. Một hôm vì mắt kém, thay vì cắt móng, bà đã cắt lầm vào da chân của một phụ nữ da đen trẻ to con mập mạp. Chị lắc đầu nói trời ơi, tôi thấy con Mỹ đen bất thần bị đau co cái chân to khoẻ của nó đạp bà một cái, tấm thân gầy nhỏ bé lăn lông lốc dưới đất thật là đáng thương. Bà đau đến nỗi mấy hôm sau chưa đứng dậy nổi để đi làm.

Nỗi vinh nhục của nghề làm móng kể ra thì nhiều nhưng dĩ nhiên vào nghề thì ai cũng tập làm quen chịu đựng và chấp nhận thương đau.

Nhưng cái khó nhất của nghề làm móng có lẽ là Đường vào nghề Nail rất dễ nhưng đường ra thì ....chắc chắn là khó vì ít ai bước ra dù cho họ phải đối mặt và sống với mộtsát thủ thầm lặng.

 

Ngọc Lan tổng hợp

Hình Minh họa-Internet 

 

 

 

Theo dõi RSS này