Kim Quy

Kim Quy

Tại sao người Việt ở phương Tây lại giỏi ?

Tại sao người Việt ở phương Tây lại giỏi ?

Hình minh họa

Bất cứ nơi nào, người dân Việt Nam đều thăng tiến trong xã hội phương Tây tốt hơn so với những người di cư khác. Ví dụ của họ cho thấy, văn hoá đóng một vai trò trọng tâm trong việc hội nhập.
 
Người ta rất hiếm khi được nghe nói về họ, hầu như họ không bị nhắc đến trên báo chí, hầu như có thể nói họ sống ẩn hình. Nhưng nếu ai chịu khó nhìn kỹ hơn thì mới nhận ra rất nhiều người trong số chừng bốn triệu người Việt Nam, những người sống ở phương Tây từ giữa thập niên 70, lại thành công đáng kinh ngạc. Bất kể tại Mỹ hay Canada, ở Úc, Pháp, ở Đức hay Thụy sĩ: Bất kỳ ở đâu, chỉ trong vòng hai thế hệ họ đã hội nhập vào đất nước tiếp nhận họ tốt hơn so với những nhóm di dân khác.
 
Không có gì tiết lộ rõ ràng về điều này hơn khi nhìn vào kết quả học tập của những đứa trẻ người Việt và cái nhìn lạc quan của họ về tương lai. Chẳng hạn tại Mỹ, một kết quả nghiên cứu từ Pew Research Center cho thấy, không một nhóm dân di cư nào tin vào Giấc Mơ Mỹ như người Việt Nam. 83% ý kiến cho rằng, bất cứ ai chịu khó siêng năng làm việc đều đạt được được tương lai sáng ngời. Tính trung bình, mỗi một gia đình người Việt hiện đã kiếm tiền nhiều hơn so với gia đình người Mỹ (53.000 so với 49.000 Dollar), và hơn một nửa số phụ huynh tin rằng, thế hệ con cái của họ sẽ tốt hơn nhiều so với họ.
Thuyền nhân được nhận vào các nước phương Tây vào giữa thập niên 70
 
Thế hệ đầu tiên người tỵ nạn là thuyền nhân (Boat-People), là những người trong số hàng trăm ngàn người theo những chiếc thuyền mục nát chạy trốn khỏi đất nước bị chiến tranh tàn phá. Để nhập vào được các nước phương Tây là do kết quả từ một hiệp ước tỵ nạn thành công duy nhất kể từ năm 1945: Vào mùa hè 1979 tại Genève. Dưới áp lực của tổng thống Mỹ Jimmy Carter, 68 nước vào thời đó đã đồng ý nhận 260.000 người tỵ nạn. Đa số thuyền nhân được nhận vào Mỹ và Pháp, đây là hai quốc gia có liên hệ trực tiếp với cuộc chiến Việt Nam cũng như Đông Dương, kéo dài ba mươi năm với hàng triệu người bị chết. Giờ đây họ cảm thấy có trách nhiệm đạo đức nhưng đó cũng là một phần về mặt PR chính trị trong cuộc chiến tranh lạnh.
 
Tuy vậy nền văn hóa chào đón này (Willkommenkultur) cũng không kéo dài. Người tỵ nạn không thể trông cậy vào sự trợ giúp của các chính phủ nhất là những người lớn tuổi, họ phải nhanh chóng tự lo lấy.
 
Tuy vậy, một thống kê tại Mỹ cho thấy, ngày hôm nay 1,8 triệu người gốc Việt tại đây nhanh chóng thành công như thế nào. Vào năm 2015, Migration Policy Institute đã so sánh hai nhóm người tỵ nạn lớn nhất tại Mỹ là người Cu Ba và người Việt Nam. Cả hai, vào thời điểm nhập cư, đều nói tiếng Anh tệ như nhau, cùng có một trình độ học vấn tương tự. Dù vậy đến nay con số người Cu Ba sống dưới mức nghèo bằng hai (65%) người Việt (35%). Người Cu Ba cũng bị thất nghiệp thường xuyên hơn người Việt, những người Việt thất nghiệp này thường nhanh chóng tìm cách tự làm chủ hoặc mở cửa hàng buôn bán.
 
Sự thành công của học sinh
Những sự khác biệt còn lớn hơn nữa với thế hệ thứ nhì: Trong khi cha mẹ của chúng còn có những trường hợp mù chữ thì những đứa trẻ người Việt sinh trưởng tại phương Tây chắc chắn không còn nữa. Rất nhiều đứa trẻ con cái thuyền nhân nhanh chóng tạo thành tích trong trường học – không riêng tại Mỹ mà ngay cả như tại Pháp, nơi có 300.000 người Việt sinh sống, nhiều nhất tại Âu châu.
 
Một số nghiên cứu cho thấy thành tựu học vấn của 150.000 người Việt tại Đức. Vào năm 2014, tại đây đã có hơn 64% trẻ em người Việt đạt được bước nhảy vào trường trung học cấp cao Gymnasium. Tỷ lệ cao gấp năm lần so với học sinh người Thổ và thậm chí cao hơn 20 phần trăm điểm so với trẻ em Đức.
 
Tại những tiểu bang miền đông nước Đức thậm chí có đến 75% học sinh Việt Nam đi trường Gymnasium[1], và đây là những đứa trẻ chắc chắn không phải là con cái của các nhà giáo hay các nhà Vật lý mà là của những người thuộc diện „công nhân hợp đồng“, là những người đi từ miền bắc Việt Nam Cộng Sản- như là một „sự giúp đỡ người anh em xã hội chủ nghĩa“- đến Đông Đức (DDR) rồi sau khi nước Đức thống nhất họ phải làm đơn xin tỵ nạn để được phép định cư. Nhưng cho dù họ đến từ miền bắc hoặc từ miền nam Việt Nam, những người Việt vẫn đạt được những thành tựu giáo dục đáng kể, như được thể hiện qua một nghiên cứu so sánh do Bernhard Nauck và Birger Schnoor thực hiện vào năm 2015. Chỉ có duy nhất một cộng đồng người Hồi giáo đạt được thành tựu giáo dục tương tự là người di dân Iran, tuy nhiên phần lớn những người này xuất thân từ những tầng lớp xã hội cao hơn so với người Việt Nam.
 
Học vấn là ưu tiên hàng đầu
Những phát hiện nói chung cho thấy không có gì để nghi ngờ, qua những dữ liệu quá rõ ràng cho thấy ở bất kỳ đâu, tại phương Tây, người Việt Nam có thể gia nhập vào và thăng tiến tốt hơn so với các nhóm dân tộc khác. Và cũng rõ ràng là điều đó không đến từ các chương trình trợ cấp và chính sách hội nhập của chính phủ. Ngay từ năm 2009 Tạp chí „Die Zeit“ đã viết: “Thành công của học sinh Việt Nam đang đặt câu hỏi về một loạt các sự thật của những cuộc tranh luận về chính sách hội nhập. Bất cứ ai nghĩ rằng thiếu thốn về học vấn luôn đến từ những nguyên nhân xã hội, được xem là sai lầm khi nhìn qua thí dụ về người Việt Nam.”
 
Phóng cái nhìn vào tổng thể có thể dần đi đến kết luận, sự thành công của người Việt Nam là do tự họ tạo nên nhiều hơn chứ không liên quan đến hoàn cảnh ở nước nhập cư. Chính xác như thế nào, các nhà nghiên cứu đã tranh luận về vấn đề này trong một thời gian kéo dài từ lâu nay. Tuy nhiên, cốt lõi là ảnh hưởng của văn hóa, các hệ thống giá trị khác nhau tại các xã hội gốc. Cuộc thảo luận này có thể làm đổ vỡ những định kiến, những cáo buộc phân biệt chủng tộc cũng gần đâu đấy. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các nhóm dân tộc lại quá lớn để có thể làm ngơ bỏ qua.
Trước hết, hãy lướt nhìn vào ngay chính đất nước nơi mọi người đang dồn mọi năng lực để làm việc vượt lên cao sau chiến tranh. Ít nhất là đối với thế hệ trẻ, cuộc chiến dường như không còn là vấn đề nữa. Họ muốn tiến lên, và họ thực hiện điều đó. Kể từ năm 2012 Việt Nam cùng tham dự vào chương trình giáo dục thang điểm Pisa, đến năm 2015 lọt vào hàng Top Ten trên thế giới – vượt xa một số nước giàu có thuộc nhóm OECD đã đầu tư rất nhiều vào hệ thống giáo dục.
 
Từ đâu mà có như vậy? Rolf Dubs, Giáo sư kinh tế giàu kinh nghiệm tại Đại học St. Gallen, Thụy sỹ, từng tư vấn cho chính phủ Việt Nam về các vấn đề giáo dục trong nhiều năm, đưa ra bốn từ khóa (Stichworte): Trật tự, Kỷ luật học tập, Chăm sóc thường xuyên của phụ huynh, và thấm nhuần văn hoá Phật giáo-Khổng giáo. Trong số 10 quốc gia được xếp hạng nhất trong bảng xếp hạng Pisa, không ít hơn 7 nước đến từ nền văn hoá Đông Nam Á. Đây không thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.
Học sinh người Việt
Chăm chỉ là tất cả
Olaf Beuchling, nhà giáo dục từ Magdeburg, Đức quốc nghiên cứu từ hai mươi năm nay về sự hội nhập của cộng đồng người Việt ở Đức, và ông cũng nhận thấy các cơ chế hoạt động tương tự, bất kể ở quốc gia nào. Cũng chính vì như vậy nên ông “đánh giá tầm quan trọng của văn hóa ngày nay thậm chí còn cao hơn thời trước”, Beuchling nói trong những cuộc thảo luận. Giống như Trung cộng, Nhật Bản hay Triều Tiên, Việt Nam từng bị Trung cộng đô hộ trong một nghìn năm, nên xã hội cũng đậm dấu ấn Khổng giáo. Các trường học và học viện theo truyền thống, định hướng đến việc tuyển dụng công chức. Ngay cả khi vào giữa thế kỷ 19, người Pháp xóa tan hệ thống trường học theo kiểu Nho giáo, nhưng nền giáo dục này đến nay vẫn được các bậc cha mẹ giữ ưu tiên cao nhất – không phân biệt gốc nguồn xã hội, theo lời Olaf Beuchling.
Các nông dân trồng lúa cũng rất ý thức rằng, con đường vượt qua khỏi đói nghèo là phải đi qua trường lớp. Dấu ấn Khổng giáo có thể không còn ảnh hưởng mạnh mẽ đối với người Việt trẻ ở phương Tây, nhưng nó vẫn còn được giữ lại. Những đứa trẻ có điểm tốt, được gia đình trân trọng và họ cũng làm mọi cách để hỗ trợ con cái. Những phụ huynh diện nghèo cũng thường giúp đóng học phí đắt tiền cho con cái học thêm. Cũng không phải là con cái của họ bắt buộc cần phải học thêm mà chỉ vì chúng "chỉ“ thuộc loại „Giỏi“ chứ chưa là „Xuất sắc nhất“. Siêng năng, cố gắng và tôn trọng tuyệt đối thầy cô giáo là bình thường đối với người Việt Nam. “Siêng năng là điều quan trọng nhất để đạt thành tích trong trường học đối với bậc phụ huynh, họ thậm chí không cần đề cập đến vấn đề tài năng”, Beuchling nói. Đối với một số lỗ tai người Tây Âu, điều này vang lên như hoàn toàn là lối giáo dục tàn nhẫn (Brachialpädagogik). Dù ngay cả khi không có một „bà mẹ cọp“ (Tigermutter) đứng đằng sau mỗi đứa trẻ, nhưng áp lực tạo thành tích rất lớn trong nhiều gia đình Việt Nam là rất thực. Thậm chí có những trang web công bố điểm số trung bình của trẻ. Dưới áp lực này, có bao nhiêu đứa trẻ trong số này bị phá hỏng cuộc đời, những câu hỏi này lại ít được phổ biến công khai.
 
Chạm trán trực diện, Beuchling cho biết, là điều mà người trẻ tuổi Việt Nam ở Đức hoàn toàn tránh né. Ông chưa bao giờ thấy những "ánh mắt trực diện dữ tợn“. Chúng tránh né thật hợp lý những cuộc bắt nạn phân biệt chủng tộc trong trường học hay ngoài đường phố. Các nhà nghiên cứu khác cũng chỉ ra một sự sẵn sàng cao độ để tránh xung đột; một khuôn mẫu có nhiều liên quan đến tâm linh của Phật giáo, dựa trên sự cân bằng và sự tiết chế, tự kiểm soát.[2]
Các nền văn hoá có thể phù hợp với nhau tốt hơn hoặc tồi tệ hơn, và điều này khá rõ ràng rằng, văn hoá Phật giáo-Nho giáo của người Việt Nam rất phù hợp với xã hội chạy theo năng lực (Leistungsgesellschaft) theo Cơ Đốc thế tục ở phương Tây. Tốt hơn như với người Hồi giáo. Năm 1999, hai nhà xã hội học người Đức Gillmeister và Fijalkowski là những người đầu tiên nói đến “sự tương thích văn hóa” (kulturellen Kompatibilität) sẽ làm cho hội nhập dễ dàng hoặc khó khăn hơn. Cũng cùng có xu hướng tương tự, khi nhà dân tộc học (Ethnologe) Frank Weigelt viết bài luận án về cộng đồng người Việt ở Thụy Sĩ.
 
Tuy nhiên, Frank Weigelt nói lên điều này “với tất cả sự thận trọng”, bởi vì các nhóm dân tộc không bao giờ là một khối đồng nhất và cá nhân luôn có cơ hội để hành xử một cách khác nhau. Weigelt dựa trên nền tảng mà nhà xã hội học Max Weber đã từng đề cập, ông là người cách đây hơn một trăm năm đã suy nghĩ sâu sắc về vai trò xác định của văn hoá và tôn giáo. Qua quan sát, Weber cho rằng, những gì có thể tạo khó khăn cho sự hội nhập là trong đức tin Hồi giáo cho rằng, số phận của thế giới bên ngoài được đảm bảo đầy đủ bởi niềm tin vào Allah và Vị Tiên Tri. Do đó không cần phải có thêm thời gian thử thách hay nỗ lực nào trong cuộc sống. Hay diễn tả trực tiếp hơn: Tại sao tôi nên cố gắng hơn hoặc tìm cách hội nhập tốt hơn, trong khi mục tiêu của tôi quan trọng hơn đã được đảm bảo qua niềm tin vào một tầng lớp trên cao hơn?
 
Cái tốt nhất từ hai nền văn hóa
Theo Weigelt, “xây dựng lý thuyết Nho giáo” (Theoriegebäude) hoạt động khác nhau: “Mọi người nối kết với nhau bên này thế giới (Diesseits) đều có những nghĩa vụ trung thành khác nhau. Điều này áp dụng đặc biệt với các cá nhân đối đầu với nhà nước, nhưng cũng đối với các loại phạm trù khác. Có nghĩa là, tạo nên một cấu trúc hài hòa thông qua cư xử đứng đắn, tập quán phong tục và lòng hiếu thảo, cũng như sống hòa hợp với thiên nhiên phải được xem như là trật tự cao nhất. Kết quả dẫn đến, có thể có xảy ra một sự tiến bộ xã hội, nhằm sắp xếp vào cấu trúc hiện có với một yêu cầu hài hòa càng nhiều càng tốt.”
 
„Cái tốt nhất từ sự kết hợp hai nền văn hoá“, cụm từ này Olaf Beuchling đã nhiều lần được nghe trong quá trình nghiên cứu thực địa (Feldforschung) của mình. Trong cuốn sách “Từ thuyền nhân trở thành người dân Liên bang” (Vom Bootsflüchtling zum Bundesbürger, xuất bản năm 2003), ông tóm lược: “Một mặt, điều đó được coi là hiển nhiên để thích ứng một phần vào với xã hội đa số (Mehrheitsgesellschaft) và thích nghi với các quan điểm của các định hướng văn hoá trong môi trường xã hội của nó; mặt khác, đang có những nỗ lực để truyền đạt cho những thế hệ kế tiếp những quan điểm nhận thức quan trọng của nền văn hoá Việt Nam.“
 
Trong một vài năm trở lại đây, đã có những dấu hiệu cho thấy sự thành công trong trường học của người trẻ Việt Nam đã giảm bớt, như Beuchling được biết. Nghịch lý ở đây, có thể là kết quả của sự hội nhập thành công. Do đến khi người Việt Nam trở thành khuôn mẫu trong lớp và nghĩ mình là cool, đến khi đám trẻ hoàn toàn hội nhập văn hoá – thì điểm trong lớp bị xuống thấp, nhưng cũng không đến nỗi trầm trọng. Ở lại — và kết hôn, sống lẫn lộn với nhau, thế rồi môi trường Việt Nam lại thúc đẩy thành công học tập và hội nhập kinh tế hợp lý[3].
Beuchling không muốn nhận xét này được hiểu như một đòi hỏi chia tách xã hội – “nó chỉ đơn giản là một thực tế”. Các nền văn hoá pha trộn lẫn nhau, mặc dù mỗi mô hình xã hội đã hiện diện từ lâu đời. Về khía cạnh khác, nhà khoa học giáo dục tin tưởng rằng, nền văn hóa mang chiều hướng thăng tiến của người Việt Nam phù hợp, và điều này tạo dễ dàng cho sự hội nhập của họ. Tuy nhiên, các nền văn hoá tương đối ít phù hợp hơn của người di cư không thể vì vậy mà lại đổi hướng theo Nho học. Phép lạ hội nhập Việt Nam có thể được giải thích, nhưng không dễ sao chép.
 
Martin Beglinger /Phương Tôn dịch
 
 
 
Kim Quy st
 
 

Ellis Island hòn đảo của hy vọng & nước mắt

Ellis Island hòn đảo của hy vọng & nước mắt

Sean Bảo

Nếu St. Louis là cổng chào cho di dân đi về Miền Tây làm nên đất nước hùng mạnh ngày nay thì Ellis Island là bến đổ đầu tiên cho làn sóng di dân đến Mỹ. Hòn đảo nhỏ ở cửa biển vào New York là điểm cuối cùng cho hành trình đi tìm tự do, mưu cầu một đời sống mới đầy khát vọng, sau tháng ngày lênh đênh trên trùng khơi Đại Tây Dương.

Trong suốt 100 năm từ 1820 đến 1920 có chừng 34 triệu người khắp nơi trên thế giới, phần lớn từ Châu Âu đến Mỹ. Những di dân này gồm nhiều thành phần. Họ đến theo nhiều đợt. Làn sóng đầu tiên là người Anh, Ðức và Ái Nhĩ Lan. Họ bỏ xứ vào những năm 1820 đến 1840 khi mà Chiến tranh kéo dài 12 năm khói lửa ở Châu Âu làm tan rã Ðế quốc La Mã thần thánh. Rồi sau đó nạn đói kinh hoàng do khoai tây mất mùa ở Ái Nhĩ Lan 1845–1849, hàng ngàn người chết và hơn triệu rưỡi người tha phương cầu thực. Cuộc Cách mạng Ðức 1848 dẫn đến sự khủng hoảng chính trị cũng làm người dân Ðức lên đường. Trong đợt sóng di cư đầu tiên này có đến 3 triệu người trong vòng 20 năm.

 Sau cuộc nội chiến thì làn sóng di dân mới đến từ Ý, Nga, Áo, Hungary và Ba Lan. Cuộc cách mạng kỹ nghệ ở Châu Âu đã làm dư thừa nhân công. Các thành phố Châu Âu trở nên đông đúc chật chội, trong khi số tầng lớp trung lưu và lao động ngày càng đông. Di dân tin rằng với kinh nghiệm họ sẽ tìm thấy tương lai nơi miền Tân Thế Giới mảnh đất trù phú đầy hy vọng. Nước Mỹ được xem là Miền Ðất Hứa, là “Miền đất của sữa và mật ong”, là “Vườn Ðịa Ðàng”. Nơi họ sẽ được tự do truyền thông, tự do tôn giáo và tự do làm chính trị. Với một hệ thống quảng cáo từ nước Mỹ đến cả Châu Âu, các công ty vận chuyển hành khách đường biển, các tổ chức di trú tư nhân, các công ty địa ốc và hỏa xa. Báo chí, sách hướng dẫn từ các tác giả “mục sở thị” đã đến Mỹ và trở về Châu Âu đã quảng bá cho miền đất hứa này. Trong số đó dĩ nhiên có các thông tin sai lạc và thêu dệt, nhằm thu hút di dân, gia tăng lợi nhuận.

Hình ảnh di dân trên một chuyến tàu tới Mỹ

Hành trình đường biển của di dân thật gian khổ, nhất là hành khách vé hạng 3. Họ phải đối diện với hiểm nguy sóng gió, bão tố. Họ biết rõ hải trình là chuyến đi một chiều, lìa bỏ quê cha đất mẹ, lìa bỏ một cố quốc yêu dấu, lìa bỏ những tình yêu mặn nồng. Chẳng mấy ai hẹn ngày về, chẳng mấy ai hứa trọn lời thề. Thủ tục và giấy tờ xuất – nhập cũng đầy vất vả. Bắt đầu bằng visa xuất cảnh. Các khai báo về tài sản thế chấp hoặc tư trang để trang trải cho chuyến tàu, sau đó là đóng gói hành lý mang theo. Phần lớn là các va-li, các thùng gỗ có dây cột mang trên vai. Các di dân ở trong đất liền phải mất nhiều lần vận chuyển theo xe ngựa, xe bò, tàu lửa, đường sông đến bến cảng. Ở đó họ phải đối phó với trộm cắp, kẻ gian lừa bịp và cả nhân viên chính phủ ăn chận, gây khó khăn đòi tiền. Khó khăn thực sự khi tàu nhổ neo. Với hải trình dài 2, 3 tháng trời trong những con tàu gỗ cũ kỹ với cánh buồm vải lớn trong trùng khơi bão tố. Ðiều kiện sinh hoạt trên tàu rất tệ từ thức ăn cho đến vệ sinh và chỗ nằm, nhất là khoang chứa hạng 3 dành cho giới bình dân, nơi vừa túi tiền cho đa số di dân. Một số đã chết trên đường đi do bệnh tả, lỵ, thương hàn, lao và cả say sóng. Tàu đắm do bão tố và hư hỏng. Cho đến những năm 1870 thì các tàu chạy bằng hơi nước và bọc thép mới cải thiện hành trình vượt Ðại Tây Dương an toàn và nhanh chóng hơn, chỉ qua 2 tuần lễ.

Với 13 thuộc địa dọc bờ đông, nước Mỹ có nhiều cảng nhập cảnh, nhưng New York là nơi bận rộn nhất. Thoạt đầu, sau khi tàu vào cảng New York, một bác sĩ từ Văn phòng Kiểm dịch ở Staten Island sẽ chèo thuyền nhỏ lên tàu còn đậu giữa biển, khám xét di dân xem có dấu hiệu bệnh truyền nhiễm. Nếu di dân vượt qua lần khám xét này, họ sẽ được cho lên bờ để làm thủ tục hải quan. Ở cảng New York, di dân luôn bị bao vây bởi các đám du côn, lừa đảo, nhân viên môi giới, cò mồi địa ốc và việc làm, đổi tiền và khuân vác… Hoàn cảnh tồi tệ này cũng như sự than phiền về sinh hoạt trên tàu, buộc chính phủ tiểu bang phải lập ra bộ phận kiểm soát và luật lệ nghiêm ngặt hơn, sở di trú mới xây năm 1855 gọi là Castle Garden ở chóp đất phía Nam Manhattan. Một tài liệu ghi lại vào năm 1856: “…sau bữa ăn đầu tiên trên bờ, họ (di dân) được tắm rửa trong những buồng tắm lớn, sau đó được hướng dẫn chi tiết trong trật tự đi qua các hành lang dài dọc bến cảng. Các nhân viên hải quan và thông dịch làm việc điều tra, các lá thư giới thiệu được trao, tiền bạc được khai báo và các bước hướng dẫn cho việc định cư bắt đầu…”

Miền Tây hoang dã là trọng tâm gợi ý và khuyến khích cho di dân. Tờ New York Herald tháng 5, 1856 viết: “Thật tốt khi thấy các di dân đến sau này trông khá giả hơn các đợt trước đây. Họ mang theo trung bình 72 đô mỗi người. Hãy để họ đến, nhưng đừng để họ xía vào chuyện chính trị trong 5 năm. Còn rất nhiều chỗ cho họ ở Miền Tây.”  

Kiểm tra sức khỏe của di dân, Ellis Island, New York, 1920

Sau khi rời New York và các thành phố miền Ðông, di dân đi về miền Tây rồi theo các nhánh sông Missouri, Mississippi đi đến St. Louis, nơi cổng vào Miền Tây hấp dẫn gọi mời. Khi cuộc nội chiến xảy ra, làn sóng di dân chựng lại, nhưng khi nội chiến kết thúc thì lại rộn ràng. Ðó là những năm 1870 và 1880, có đến 14 triệu di dân đến Mỹ. Một số theo các quảng cáo và gọi mời từ khi có Ðạo luật đất ngụ cư năm 1862. Một số khác tìm tự do, thoát khỏi tình trạng bị ngược đãi và xã hội tù túng ở quê mẹ. Người Nga, Thụy Ðiển, Na Uy thì đến Minnesota và Dakota. Người Ðức và Pháp thì về Kansas và Nebraska. Nước Mỹ là quê hương mới cho tất cả.

Ðến năm 1890 thì làn sóng di dân lên đến đỉnh cao. Nhiều chuyến tàu phải xếp hàng đợi ngoài khơi hàng tuần trước khi có chỗ cho hải quan làm việc đợt tàu kế tiếp. Ellis Island cấp tốc được xây dựng từ một cù lao nhỏ 3 mẫu đất, sau đó diện tích đảo được tăng gấp đôi bằng đất đào tàu điện ngầm ở New York. Ngày 1 tháng Giêng 1892, Sở di trú đầu tiên lớn nhất nước Mỹ chính thức mở cửa. Ba tàu lớn chở di dân đợi ngoài bến. 700 di dân đi qua cửa hải quan này trong ngày đó và 450 ngàn người di dân đến sau trong năm 1892. Tháng 6, 1897 hỏa hoạn làm thiêu hủy cơ sở và các hồ sơ di trú trước năm 1855, Sở được xây cất lại với mái nhà chống cháy, kiến trúc giống ga xe lửa. Gồm có 1 phòng lớn chứa hành lý, một phòng ăn cho 1 ngàn người, nhà bếp rộng thênh thang, một tòa nhà với 600 giường cho tạm trú, một bệnh viện lớn, có vườn cảnh giải trí rợp cây xanh và gió biển, và cả sân chơi trên sân thượng.

Một gia đình di dân trên bến cảng Ellis Island. 1925 nhìn qua New York. Ảnh: Getty Images

Khi tàu đến cảng New York, các hành khách vé hạng 1 và 2 sẽ được nhân viên hải quan khám sơ qua giấy tờ trên tàu rồi đi thẳng vào New York. Riêng các di dân vé hạng 3 sẽ bị đưa vào Ellis Island, họ được dẫn vào một sảnh đường lớn, bước qua các con mắt khám xét của bác sĩ, việc này chỉ xảy ra trong 6 giây. Những người bị tình nghi hay có dấu hiệu sức khỏe sẽ bị vạch phấn lên vai áo, và bị dẫn đi riêng vào khu điều tra. Di dân sẽ bị hỏi về giấy tờ, khám sức khỏe tổng quát và các dấu hiệu của bệnh tâm thần, truyền nhiễm. Trong vài năm sau các bác sĩ còn đưa ra những test mà di dân phải làm để loại ra những thành phần đần độn, thiếu đạo đức, vô chính phủ hay tội phạm hình sự. Số di dân này sẽ bị giữ lại và trả về cố quốc. Dầu vậy, con số bị trả về rất thấp, chỉ chừng 2 phần trăm trong số 12 triệu di dân đến Mỹ từ 1892 đến 1954. Số di dân không bị vạch phấn sẽ đi vào sảnh đường lớn. Ở đó họ sẽ xếp hàng làm thủ tục hải quan, mất khoảng 3 đến 4 giờ. Họ sẽ khai báo bằng 29 câu hỏi trên tờ đơn, bao gồm tên họ, nghề nghiệp và số tiền mang theo… Làn sóng di dân vẫn tiếp tục lên cao, đảo được bồi thêm rộng hơn 27 mẫu, với một bệnh viện lớn, một trại biệt lập chữa các bệnh truyền nhiễm, một trại tâm thần. Ngày 17 tháng 4, 1907 là ngày kỷ lục với 11,747 di dân đến và năm đó có số di dân đến hơn 1 triệu người. Một phần ba số di dân ở lại New York, số còn lại tỏa về khắp nước.

Vai trò cửa ngõ của Ellis Island suy giảm vào năm 1920 khi mà chính sách nhập cư của Mỹ dần khó khăn, các miền đất Miền Tây có đầy chủ mới và sự cạnh tranh kinh tế khốc liệt cùng hoàn cảnh thế giới đi vào cuộc Thế chiến thứ I đầy xung đột. Luật Di trú khắt khe năm 1924 giới hạn tổng số di dân và đặt ra những hạn ngạch dựa trên quốc tịch đã giảm mạnh số di dân. Vào năm 1925, chính phủ Mỹ đã dần chuyển mọi hoạt động điều tra di trú đến các sở tại, ở các lãnh sự quán. Ellis Island đóng cánh cửa, trở thành trại tạm giam để điều tra và gởi về nước các tội phạm, các phần tử cực đoan, những người cộng sản. Hòn đảo trở thành trại giam 1,500 tù binh trong Thế chiến II và cuộc chiến tranh lạnh.

Trong số những di dân qua cửa khẩu này có nhiều nhân vật nổi tiếng như danh hề Bob Hope (1908), diễn viên ma cà rồng Bela Lugosi (1921), và tài tử đẹp trai Cary Grant (1920)…Ước chừng 40% công dân quốc tịch Mỹ có nguồn gốc tổ tiên đến từ Ellis Island. Ðối với phần lớn di dân, Ellis Island là hòn đảo của hy vọng, nơi tượng Nữ Thần Tự Do làm ngọn hải đăng soi đường hạnh phúc…Nhưng nơi này còn được xem là hòn đảo của nước mắt, nơi chứng kiến bao cuộc chia tay nghìn trùng.

 

Hồng Anh st

 

 

Nguồn gốc ra đời của mì ăn liền

Nguồn gốc ra đời của mì ăn liền

Biết được nguồn gốc của một món ăn sẽ khiến món ăn này trở nên thú vị hơn rất nhiều.

Mì ăn liền hay còn gọi là mì gói, mì tôm có lẽ là thực phẩm thông dụng và phổ biến nhất hiện nay. Trong khi các công đoạn nấu mì sợi rất mất thời gian thì việc nấu một gói mì ăn liền lại đơn giản đến mức trẻ nhỏ vẫn có thể tự làm được. Điều quan trọng là nó cực nhanh, chỉ 3 phút là bạn đã có tô mì nóng hổi ăn ngay.

Tính ra từ trước đến giờ, bạn đã ăn bao nhiêu gói mì ăn liền? Có khi cả ngàn gói rồi chứ không ít, nhưng có bao giờ bạn tìm hiểu xem ai đã phát minh ra món ăn trên cả tuyệt vời này không? Cùng tìm hiểu một chút về những gói mì ăn liền tiện lợi này bạn nhé.

Nguồn gốc ra đời của mì ăn liền

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nạn đói bắt đầu hoành hành ở Nhật Bản, lương thực trong tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng. Lúc này, Mỹ đã viện trợ cho Nhật một số lượng lớn bột mì và khuyến khích người dân Nhật Bản làm ra bánh mì để cứu đói.

Trong lúc này, một người đàn ông có tên là Momofuku Ando lại nghĩ rằng tại sao phải làm bánh mì trong khi có thể tự làm mì sợi từ bột mì. Bởi từ lâu trong văn hóa Nhật Bản, mì sợi là món ăn truyền thống đã gắn bó lâu đời.

Momofuku Ando

Ông Ando nghiên cứu thành công mì ăn liền

Nghĩ là làm, ông Ando bắt tay ngay vào việc nghiên cứu tạo ra loại mì sợi mới với tiêu chí lâu hỏng, vị ngon và nấu nhanh. Ông Ando đã mất cả năm trời mới tìm ra được cách bảo quản mì lâu hỏng. Nhưng thật khó để duy trì hương vị lẫn kết cấu sợi mì sau một thời gian dài.

Cho đến một ngày nọ, ông Ando nhìn thấy vợ mình nấu bữa tối và ông thử ném một ít sợi mì vào chảo dầu đang sôi. Ngay lập tức, ông nhận ra sợi mì trở nên giòn cứng lại và giữ nguyên hình dạng ban đầu, điều mà ông đã tìm kiếm bấy lâu nay. Thế là món mì ăn liền của ông Ando ra đời và nhanh chóng trở thành cơn sốt khắp thị trường trong và ngoài nước từ đó.

Gói mì ăn liền đầu tiên mang hương vị gà

Vào những năm 1950, ông Ando thành lập công ty Nissin và mì gói vị gà đầu tiên được bày bán. Tiếp sau đó, vào năm 1978, công ty Nissin bắt đầu cho ra đời mì ăn liền dạng ly. Doanh thu của công ty ngày càng tăng và ông Ando nhanh chóng trở thành biểu tượng ẩm thực cũng như niềm tự hào của Nhật Bản.

Đến năm 2005, sự nghiệp mì gói của ông Ando bước lên một tầm cao mới khi ông phát minh ra “mì không gian” đầu tiên trên thế giới. Cũng như tên gọi, loại mì này có thể ăn trong không gian không trọng lực dành cho các phi hành gia.

Hiện nay, tại Nhật Bản thì thị phần và doanh số của Nissin luôn đứng đầu trong suốt hơn 55 năm qua cùng 47 nhà máy sản xuất với 1.200 loại mì khác nhau trên khắp thế giới.

Đa dạng các loại mì khác nhau trên thế giới

Từ thành công ban đầu của ông Ando, các công ty thực phẩm trên thế giới cũng bắt tay vào làm ra loại mì đặc trưng riêng cho mỗi quốc gia. Và trải qua gần 60 năm kể từ khi gói mì ăn liền đầu tiên xuất hiện cho đến nay, trên thị trường đã phát triển đa dạng nhiều loại mì khác nhau đến từ các quốc gia trên khắp thế giới.

Theo sự đa dạng đó thì hương vị, nguyên liệu, kết cấu sợi mì cũng được cải tiến đáng kể hơn rất nhiều.

Và cho đến thời điểm này thì mì ăn liền chưa bao giờ giảm độ “hot”. Bởi đây là món ăn vừa rẻ vừa tiện lại nhanh chóng nên có thể tận dụng mọi lúc mọi nơi. Đặc biệt, ẩm thực với mì gói không chỉ là mì úp nước sôi đơn điệu mà còn được sáng tạo thêm nhiều cách nấu với đủ loại nguyên liệu khác nhau giúp món mì trở nên hấp dẫn hơn rất nhiều.

Đặc biệt, đêm khuya đói bụng mà có tô mì trứng, thịt băm thêm một ít ớt và rau xanh thì ngon tuyệt hảo

Ngọc Lan st

 

 

Theo dõi RSS này