Kim Phượng

Kim Phượng

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 18

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 18

 *** Nam Mai  ***

Qui Nhơn - Tháp Đôi - Mộ Hàn Mặc Tử - Ghềnh Đá Đĩa - Pleiku: Thứ sáu ngày 20 tháng 1 năm 2017

Sáng nay, 4 bà thu xếp check out sớm vì Cậu Quang cho biết là mình sẽ lên đường vào đúng 8:00 giờ. Nhìn ra bên ngoài mọi người lắc đầu ngán ngẫm vì trời hôm nay rất âm u và lại còn đang lất phất mưa nửa. Trên đường đi, cậu Quang cho biết điểm dừng để xem đầu tiên là Tháp Đôi.

Tháp Đôi Quy Nhơn tọa lạc tại làng Hưng Thạnh xưa, bây giờ thuộc về phường Đống Đa, cách trung tâm thành phố chừng 3 km về phía Tây Bắc. Tháp Đôi cũng có tên là Tháp Hưng Thạnh, còn trong tiếng J'rai được gọi là SRI BANOI. Theo lịch sử, Tháp đôi Quy Nhơn được xây dựng vào cuối thế kỉ XII gồm 2 khối tháp, tháp lớn cao 20m, tháp nhỏ thấp hơn cao 18 m nằm liền bên nhau trên một địa thế tương đối bằng phẳng. Tháp cấu trúc khá độc đáo, đặc biệt là kỹ thuật mài dũa, lắp ghép các tảng đá chồng khít lên nhau rất vững chắc. Tháp được xây bằng gạch nung xếp khít với nhau bằng một chất kết dính đặc biệt, đây là một kỹ thuật xây độc đáo của người Chăm mà ngày nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa phân tích ra được. Quanh tường phía ngoài, các góc và trên nóc tháp có nhiều bức phù điêu chạm khắc các hình tượng thần, chim, thú thần theo tín ngưỡng của người Chăm rất sinh động. Theo thời gian và chiến tranh, Tháp bị tàn phá khá nặng nề nên Tháp Đôi đã được Nhà nước bỏ ra hàng tỉ đồng cũng như thêm vào sự giúp đỡ của các chuyên gia Ba Lan và các chuyên gia khảo cổ trong nước để trùng tu và tái tạo lại. Từ 1991-1997, các cán bộ khoa học và những người thợ khéo ở Quy Nhơn đã miệt mài đục đẽo, tái tạo lại với những kỹ thuật mài gạch, lắp ghép khá thành công, trả lại gần như với dáng vẻ ban đầu trước đây của Tháp. Tháp Đôi nằm trong một khuôn viên có diện tích khoảng 6.000 m2 với những thảm cỏ xanh và những hàng cây rợp bóng mát, đây là một nơi lý tưởng cho du khách dừng chân thưởng lãm. Tháp Đôi là một trong 8 cụm Tháp Chăm còn lại trên đất Bình Định ngày nay, một trong những di tích kiến trúc văn hóa Chăm mang màu sắc tôn giáo rất đặc sắc.

Chúng tôi không ở lại đây lâu, chỉ vừa đủ giờ chụp mấy cái hình Tháp Đôi ở phía trên và rời khỏi khu này vào khoảng 8:40 am vì trời đang lất phất mưa, tuy không nặng hạt nhưng đứng lâu ngoài trời thì cũng bị ướt tóc hết trơn. Vì đọc sách báo thấy có nhắc tới mấy cái Tháp di tích kiến trúc văn hóa Chăm còn lại rất hiếm hoi cho nên mình cũng muốn được nhìn xem tận mắt cho biết, chứ không phải là dân khảo cổ nên cũng không cần xăm xoi ở đây chi cho lâu.

Rời khỏi Tháp Đôi, sẳn đang ở Quy Nhơn chúng tôi liền thẳng đường đi viếng mộ nhà thơ nổi tiếng Hàn Mặc Tử các bác ạ. Muốn đến đó mình sẽ đi về hướng Tây Nam chạy dọc theo bờ biển độ 3km thì sẽ nhìn thấy xóm biển Ghành Ráng bên phía tay phải. Dọc theo con đường của xóm chài Ghành Ráng là một con chợ nhỏ với quán xá xinh xắn, trong đó có chiếc cầu nhỏ bắt ngang vô quán thủy tạ Mai Đình, sau đó mình phải qua một chiếc cầu nhỏ bắt qua con suối Tiên để rẽ trái lên đồi Thi Nhân.

Để lên đến mộ Hàn, du khách sẽ leo lên một con đường chừng hơn trăm bậc tam cấp bằng đá nằm giữa hai hàng cây song song chụm đầu vào nhau rì rào bốn mùa đón gió biển, một con đường rất thơ mộng được đặt cho cái tên là Dốc Mộng Cầm (tiếc quá, leo hơn trăm bậc thang mệt đứt hơi, đã vậy lại vội vội vàng vàng vì mưa nên quên luôn cả chuyện chụp cái Dốc Mộng Cầm này cho các bác xem). Những bậc tam cấp bằng đá của Dốc phần chân đế phía dưới được xây to, khi đi dần lên trên thì các bậc tam cấp sẽ từ từ nhỏ dần .... và lên đến trên cùng thì du khách sẽ nhìn thấy nơi an nghỉ của nhà thơ Hàn Mạc Tử. Nơi đây, phần mộ của nhà thơ được xây theo hình chữ nhật vuông vắn, xung quanh ốp bằng đá mài sáng loáng.

Trên đầu bia mộ có đặt một bức tượng Đức Mẹ Maria hai tay dang rộng mắt hiền từ nhìn xuống phần mộ.

Mộ chí không ghi tên ông là nhà thơ nổi tiếng mà chỉ ghi khiêm nhường “ Đây an nghỉ trong tay Đức Mẹ Maria: Hàn Mặc Tử tức Phêrô Phanxicô Nguyễn Trọng Trí ”.

Không biết sinh thời nhà thơ có hút thuốc không, thấy nơi đây còn có chỗ để cho du khách mời nhà thơ hút thuốc nữa

 Khu mộ của nhà thơ lưng tựa núi, mặt hướng ra biển khơi, tọa lạc giữa rừng cây, biển núi, trời mây hòa quyện vào nhau, tạo thành một bức tranh kỳ vĩ hướng ra đại dương trước mặt.

Lúc mọi người leo Dốc Mộng Cầm để viếng mộ nhà thơ HMT thì trời rất âm u và đang mưa nửa. Có một lúc mưa rất nặng hạt, mọi người phải chạy tán loạn tìm chỗ trú mưa rất là khỗ. Cậu Quang lại còn nói, nếu không mưa hay bây giờ mưa mà dứt thì cháu sẽ đưa các cô đi xem và chụp ảnh tại Bãi Đá Trứng và nơi có bãi tắm trước kia dành riêng cho Nam Phương Hoàng Hậu nghỉ mát mỗi khi Bà ngự ở Quy Nhơn (nơi này họ đặt tên là Bãi Tắm Hoàng Hậu) bãi này kín đáo và có mạch nước ngọt trong, giếng sát bờ biển không bao giờ cạn. Cậu kể rằng bãi đá trứng khổng lồ nằm dưới chân đồi Ghềnh Ráng là nơi đầu tiên khi du khách đặt chân đến đây và ai cũng muốn đến xem để chụp ảnh. Hàng nghìn phiến đá hình tròn, mặt nhẵn như quả trứng óng lên màu xanh huyền bí nổi bật giữa nền nước biển xanh trong và những con sóng ngày đêm vờn quanh đá. Ở nơi đây, gần như các phiến đá đều nằm nghiêng nghiêng theo thế chếch hướng ra biển, hoặc xếp thẳng đứng với hình thù nhấp nhô, cao thấp khác nhau tựa như những quả trứng.

Càng nghe cậu tả, mình càng thấy lo vì hiện tại trời tối âm u và mưa vẫn rơi, mưa rơi không biết đến bao giờ mới ngừng để mình có thễ tới chỗ đó đây? Cuối cùng chúng tôi đợi cho ngớt mưa một tí thì chạy ù ra chụp vài tấm hình tại Bãi Đá Trứng cho đở ấm ức rồi lật đật leo lên xe ngay chứ chẳng được ngắm cảnh tại đó và cũng không được tới xem bãi tắm Hoàng Hậu. Chụp gở gạc vài tấm ảnh tại Bãi Đá Trứng xong thì phải nhanh chóng lên đường cho kịp chương trình trong ngày các bác ạ.

Đây là tấm ảnh chụp vội vàng tại Bãi Đá Trứng nè các bác. Chụp vội quá nên không có cơ hội di chuyển để có thễ đổi lấy góc nọ góc kia hoặc lấy được toàn cảnh của bãi đá được, các bác xem đỡ vậy.

Theo chương trình thì chúng tôi chỉ còn có 1/2 ngày để xem nốt những thắng cảnh còn lại của miền Trung thôi, vì sau 12:00 giờ là xe phải chuyển qua đi vào một hướng khác để thăm 3 tỉnh của miền Cao Nguyên là Pleiku, Kontum và Ban Mê Thuộc. Điểm cuối cùng để thăm sáng hôm nay là một chỗ rất quan trọng của tỉnh Phú Yên mà N sẽ không thễ nào bỏ qua được trước khi rời khỏi miền Trung, và chắc chắn là N phải đến đó chứ nếu không thì sẽ vô cùng tiếc nuối.Chỗ mà chúng tôi muốn nói tới đó chính là Ghềnh Đá Đĩa của tỉnh Phú Yên, là một điểm đặc biệt tại miền Trung mà chúng tôi đã sắp xếp trước trong chương trình cho chuyến đi Xuyên Việt đấy các bác.

Ghềnh Đá Đĩa là một thắng cảnh nổi tiếng bậc nhất của tỉnh Phú Yên nằm tại xã An Ninh Đông, của huyện Tuy An cách thành phố Tuy Hòa khoảng 40km. Ghềnh Đá Đĩa nổi bật với những cột đá được xếp chồng lên nhau mà không hề có bàn tay của con người đụng vào. Ghềnh Đá Đĩa có diện tích khoảng 2 km vuông, chỗ hẹp nhất khoảng 50m, nơi dài nhất khoảng 200m. Nhìn từ xa, Ghềnh trông như những chồng đĩa trong lò gốm hay những bậc tam cấp nhô ra ngoài biển. Nổi bật giữa một vùng trời biển trong xanh là các cột đá hình lăng trụ chất chồng như bát đĩa với màu đen tuyền độc đáo. Mỗi khi mặt trời lên cao, những khối đá đen trên Ghềnh Đá Đĩa lại ánh lên sắc vàng rực rỡ như sáp ong. Loại đá ở đây chính là đá Bazan đã hình thành cách đây 200 triệu năm, được tạo nên nhờ quá trình hoạt động của núi lửa ở vùng cao nguyên Vân Hòa. Những dòng nham thạch phun trào ra từ núi lửa khi gặp nước lạnh bị đông cứng lại, kết hợp với hiện tượng di ứng lực khiến những khối nham thạch này bị nứt thành nhiều chiều một cách tự nhiên tạo nên các phiến đá đẹp lạ lùng, bí ẩn như ngày nay. Mà đặc sắc ở chỗ là có hàng chục nghìn cột đá hình lục giác, hình tròn hay hình vuông, lớp này xếp nối lên lớp kia, liên tiếp và khít nhau như có bàn tay của một vị thần nào đó đã sắp đặt vậy. Các bác nghe tả về Ghềnh Đá Đĩa có thấy hấp dẫn không? Thế thì làm sao N có thễ bỏ qua được đây ???

Còn nữa, Ghềnh Đá Đĩa ở Phú Yên Việt Nam là 1 trong 5 ghềnh đá đĩa trên thế giới có hiện tượng nham thạch phun trào tạo ra những hình thù tuyệt đẹp. GĐĐ của VN đã được xếp vào danh sách cùng với Ghềnh Đá Đĩa Giant’s Causeway ở bờ biển Đông Bắc Ireland, Ghềnh Đá Órganos ở đảo La Gomera của Tây Ban Nha, Ghềnh Đá Đĩa Fingal ở đảo Staffa, Scotland hay Ghềnh Đá Đĩa Jusangjeolli ở đảo JeJu của Hàn Quốc. Điều đó cho thấy thiên nhiên vô cùng thiên vị đã cho đất nước Việt Nam mình có được một kỳ quan tuyệt mỹ đến như vậy.

Bây giờ N sẽ kể chuyện đi từ Quy Nhơn đến Phú Yên để được xem tận mắt và chụp hình tại Ghềnh Đá Đĩa nha. Hiện giờ tại đây trời âm u và đang mưa rất lớn, đường đi từ đây đến Tuy Hòa khoảng hơn 90 km và mất độ gần 2 tiếng lái xe. Coi dự báo thời tiết ở phone thì nó báo cho biết rằng tại Tuy Hòa Phú Yên cũng đang bị mưa. Chèn ơi, lái xe mất 2 tiếng đến đó mà Trời mưa, phải chạy tìm chỗ trú ẩn khỗ cực như sáng nay tại Quy Nhơn, rồi cũng sẽ không thưởng thức được cảnh đẹp và cũng không chụp được cái hình nào thì liệu mình có nên quyết định đi Phú Yên chăng? Đi thì có thễ bị mưa và chẳng thu hoạch được gì, nhưng nếu sợ rồi không đi, ngộ nhỡ có thễ khi mình lên tới khu vực GĐĐ trời đã hết mưa thì có phải là tiếc chết người luôn không (vì biết khi nào mình mới có dịp trở về lần nửa để đến đây)?

Các bạn sẽ hỏi rằng nếu mọi người đã muốn đi xem GĐĐ quá sức thì cứ việc đi, tại sao lại phải lấn cấn tính toán lôi thôi như vậy? Chuyện là vầy: giả dụ nếu đi và sau khi xong việc ở Phú Yên, khi rời miền Trung để đi Pleiku, chúng tôi sẽ phải mất tới từ 4 đến 5 tiếng lái xe cho khoảng đường 300 km nửa các bác ạ. Từ Phú Yên mình phải trở ra quốc lộ 1A để quay trở lại Quy Nhơn-Bình Định, rồi từ đó mới thẳng đường qua đèo An Khê để đi Pleiku. Các bác, khi nghe đến chuyện phải lái qua đèo là mọi người thấy ..... teo rồi, nhất là phải qua đèo trong thời tiết rất xấu, trong tình trạng mưa to dai dẳng quá sức vào ngày hôm nay như vầy .... nghĩ đến chuyện xe qua đèo trong lúc trời mưa mà cậu Lý tài xế lại .... "ham đánh vỏng" thì chắc mọi người trên xe chỉ còn có nước chết vì bị đứng tim thôi. Nếu mình biết chắc chắn là khi đến Tuy Hòa Phú Yên mà trời cũng mưa thì sẽ dẹp luôn chương trình không đi GĐĐ nửa để có thễ dư thêm được 2,3 tiếng mà lái xe từ từ qua đèo cho nó an toàn trên xa lộ trong ngày mưa gió này, nhưng cái khó là mình không đoán chắc được gì cả ....

Nghĩ đi nghĩ lại, bàn tới bàn lui thật đúng là tiến thối lưỡng nan .... vì chỉ đi thêm có hơn 90 km nửa thì sẽ được xem GĐĐ, nhưng ngộ nhỡ lái xe 2 tiếng lên đến nơi rồi bị mưa chẳng làm được gì như sáng nay thì sao đây??? Không được đi thì tiếc và ấm ức quá xá .... nên thôi thì .... đành quyết chí thẳng tiến! Bốn bà đều vote là nhất định đi, một liều ba bảy cũng liều cứ coi như 5 ăn 5 thua vậy. Thế là đúng 9:30 am, chúng tôi rời mộ của nhà thơ HMT và thẳng đường đi Phú Yên để xem Ghềnh Đá Đĩa.

Trên đường đi thì trời cũng mưa lâm râm nhưng không còn nặng hạt nửa. Đúng 10:50 am, xe quẹo vào một con đường nhỏ để tới Ghềnh Đá Đĩa và chỉ còn 15km nửa là tới và may quá tại khu vực này trời chỉ còn lất phất mưa tí chút thôi, và mây đen âm u vẫn còn đầy trời ..... nhưng không sao, miễn không mưa nặng hạt và mình vẫn còn đứng được giửa trời là ok rồi.

Ở ngay chỗ quẹo này, chúng tôi đã ngừng tại 1 cái xe bán thức ăn nhỏ nhỏ bên lề đường để mua mấy ổ bánh mì không cứng như đá rồi ăn cùng với phô mai có sẳn trên xe, chứ không dám ngừng vào quán ăn trưa cho đàng hoàng vì sợ ông Trời dở chứng .... khóc trở lại, mình không được xem GĐĐ nửa thì tiêu đời!

Cảnh chụp trên đường đi vào gần khu Ghềnh Đá Đĩa.

Khoảng 11:00 giờ thì chúng tôi đến tới khu vực của thắng cảnh Ghềnh Đá Đĩa và may mắn hết sức tại đây trời đã dứt hẳn mưa, tuy nhiên bầu trời vẫn âm u và không có tị nắng nào cả mới tiếc chứ lỵ. Đúng là đã được voi lại còn đòi tiên, ổng đã không mưa để cho được đứng mà chụp ảnh, mà ngắm cảnh lại còn đòi ....nắng! He he he .... nhưng phải có nắng thì hình mới đẹp mà!

Hết mưa mừng quá nên cười toe ... không ngậm mồm lại được các bác ạ.

Ghềnh Đá Đĩa được tạo ra bởi sự phun trào của dòng dung nham cực nóng bị co lại khi gặp nhiệt lạnh của nước biển đã hình thành nên những phiến đá kỳ thú này.

Có mỗi cái view này là đẹp, mà hai cô cậu này cứ đứng tạo dáng chụp miết .... Sợ trời lại mưa nên N không thễ kiên nhẫn chờ cho đến khi họ di chuyển ra chỗ khác, đành phải để họ làm "người mẫu" cho mình luôn.

Những ghềnh đá xếp lô xô cao thấp và bạn có thể dễ dàng đến sát mép biển, nơi sóng vỗ bờ để ngắm toàn cảnh biển xanh tuyệt đẹp.

Những dòng nham thạch phun trào ra từ núi lửa khi gặp nước lạnh bị đông cứng lại, kết hợp với hiện tượng di ứng lực khiến những khối nham thạch này bị nứt thành nhiều chiều một cách tự nhiên tạo nên các phiến đá đẹp lạ lùng, bí ẩn như ngày nay.

Phải đến tận nơi, đứng trên bờ biển tận mắt chứng kiến, bạn mới có thể thực sự tin được sự kỳ diệu mà thiên nhiên mang lại cho nơi đây. Những viên đá với nhiều hình thù khác nhau, nằm lộn xộn như chồng chén, đĩa trong các lò gốm sứ. Sóng biển nơi đây cũng mạnh kỳ lạ, ngày đêm vỗ bờ tạo nên bọt trắng xóa cả một vùng.

Địa điểm lý tưởng cho những bức hình đẹp lung linh.

Đến với Ghềnh Đá Đĩa du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những chiếc thuyền thúng nằm nghiêng mình trên những phiến đá.

Có thể nói vẻ đẹp Ghềnh Đá Đĩa Phú Yên thực sự là một tuyệt tác kỳ diệu của thiên nhiên.

Những chiếc thuyền thúng nhỏ, chòng chành qua bàn tay điều khiển khéo léo như nét điểm tô thêm cho sức sống bao đời nay của vùng đất hiền hòa này

Thắng cảnh nổi tiếng này nằm yên bình bên bờ biển thuộc địa phận xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Được đánh giá là một trong số ít Ghềnh Đá Đĩa nổi tiếng đẹp bậc nhất trên thế giới, nhưng thắng cảnh này vẫn chưa được nhiều người biết đến. Vì chưa được khai thác du lịch, nên khi đến đây du khách sẽ khó lòng tìm được những dịch vụ ăn uống hay chỗ nghỉ ngơi nào, và có lẽ vì thế nên nơi này vẫn còn giữ được nguyên cái vắng vẻ hoang sơ và mộc mạc của nó.

Cha chả! bây giờ mới thấy là mình quyết định bằng mọi cách phải đến Phú Yên để ngắm cảnh và chụp ảnh tại Ghềnh Đá Đĩa là một quyết định đúng 100% các bác. Và cũng phải cám ơn ông Trời đã thương tình mà ngừng mưa đúng lúc giùm cho nửa, vì vậy hôm nay ai cũng được ngắm cảnh đã đời và chụp hình thật là thỏa mãn quá xá cở! Nhưng bây giờ thì chúng tôi phải cất niềm vui này sang một bên mà lưu luyến từ giả GĐĐ để còn thu xếp lên đường đi Pleiku vào lúc 12:30 trưa.

Trước khi rời Tuy Hòa Phú Yên, trên đường đi Cậu Quang còn ngừng lại cho chúng tôi được xem Nhà Thờ Mằng Lăng nửa. Nhà thờ này nằm cách thành phố Tuy Hòa 35km về phía Bắc, với lịch sử hơn 120 năm tồn tại (đã xây dựng vào năm 1892), nhà thờ Mằng Lăng được coi là nhà thờ cổ nhất của tỉnh Phú Yên, và là một trong những nhà thờ lâu đời nhất của Việt Nam với kiến trúc phương Tây hết sức đặc biệt. Điểm nổi bật nhất của nhà thờ chính là lối kiến trúc Gothic đặc sắc đã có từ cách đây khoảng 1200 năm trước Công Nguyên. Theo các bậc cao niên ở An Thạch thì cách đây hơn 100 năm khu vực An Thạch này dân cư thưa thớt, đất đai phần nhiều bị cây rừng phủ kín trong đó có một loại cây mọc rất nhiều, loại cây này có tán phủ rộng, lá cây hình bầu dục, hoa mọc từng chùm nở ra màu tím hồng được gọi là Mằng Lăng. Hiện dấu vết khu rừng mằng lăng ấy đã không còn, nhưng ngôi nhà thờ vào thời điểm ấy đã được đặt tên theo loại cây quý này. Tại ngôi nhà thờ cổ này hiện nay vẫn còn đang giữ cuốn sách đầu tiên được in bằng tiếng Việt, đây là quyển giáo lý "Phép giảng tám ngày" của Linh mục Đắc Lộ - người đã khai sinh ra chữ quốc ngữ ở Việt Nam. Cuốn sách được trưng bày dưới một khu hầm nhỏ trước sân nhà thờ, khu hầm được xây dựng khá kỳ công trong lòng một quả đồi giả. Bên trong hầm có nhiều điêu khắc chạm trổ kể lại những câu chuyện về thánh Andrê Phú Yên một trong những vị tử đạo, bổn mạng của giới trẻ Công giáo. Nhà thờ hiện nay cũng là nơi hành hương vào dịp lễ kỷ niệm Chân phước Andrê Phú Yên và thánh lễ cầu cho giới trẻ Công giáo Việt Nam. Cuốn sách được giữ trang trọng một cách đặc biệt trong một hộp kính, sách được in vào năm 1651 tại Roma. Rất tiếc là vì trời đang mưa và cũng phải rời Phú Yên một cách gấp rút để đi Pleiku cho kịp giờ nên chúng tôi chỉ kịp ghé ngang chiêm ngưỡng nhà thờ rồi chụp vài tấm ảnh, không được vào thăm viếng bên trong nhà thờ cũng như không được tận mắt xem cuốn sách cổ của cha Đắc Lộ còn được lưu giử tại đây.

Trên đường ra quốc lộ 1A để quay lại Quy Nhơn thì trời bắt đầu mưa .... ngồi trên xe mọi người ai nấy đều căng thẳng, mắt trước mắt sau canh chừng Cậu Lý tài xế để kềm không cho cậu này "đánh vỏng" vì sợ xảy ra tai nạn nguy hiểm khi xe qua đèo An Khê.

Đèo An Khê là đèo núi, cao 740m, dài 10 km nằm trên Quốc Lộ 19 trên đường từ Quy Nhơn (Bình Định) đi Pleiku (Gia Lai). Đèo nằm trên địa phận của huyện Tây Sơn (Bình Định) và thị xã An Khê, (Gia Lai). Đây là con đèo dài và nguy hiểm nhất trên tuyến đường của quốc lộ 19 nối liền hai tỉnh Bình Ðịnh và Gia Lai . Ngày xưa, đèo này gọi là đèo Mang (theo tiếng Ba Na có nghĩa là cửa, ngõ). Vào thời gian người Pháp tiến hành xây dựng để mở mang cho đèo được rộng hơn trên quốc lộ 19 như ta nhìn thấy hiện nay thì đèo bắt đầu được gọi là An Khê. Ðèo An Khê ngày trước là một con đường núi quanh co, khúc khuỷu, có nhiều hang hóc, vách đá chắn ngang hiểm trở. Tuy bây giờ đã được mở rộng, nhưng đèo An Khê vẫn còn có những cái "ngoẹo" khá nguy hiểm như ngoẹo Cây Khế, ngoẹo Ðồng Tiến, ngoẹo Hang Dơi... Mỗi cái "ngoẹo" trên đây đều gắn liền với nhiều giai thoại lịch sử cũng như những tai nạn xe cộ thảm khốc sau này.

Nhờ phước của ông bà phù hộ và cũng nhờ mọi người nhắc nhở, kềm kẹp cậu Lý không ngừng, nên xe chạy êm xuôi không một trở ngại nào mặc dù đường đi quanh co vòng qua vòng lại, lên lên xuống xuống trên đèo giữa trời mây mờ mịt và mưa gió tơi bời các bác ạ. Vào khoảng 4 giờ 30 thì xe đã qua khỏi đèo An Khê và thẳng đường tới thành phố Pleiku của tỉnh Gia Lai. Đến lúc này thì mọi người đều thấy khỏe, thấy hết căng thẳng khi đã qua khỏi

con đèo An Khê và xe đã bắt đầu chạy trên đường trường đồng bằng, đến khoảng 7:15 pm thì chúng tôi bắt đầu vào gần tới trung tâm thành phố.

Trời cũng đã tối, nên trước khi check in vào khách sạn tại trung tâm thành phố, cậu Quang cho mọi người ghé vào tiệm Cơm Lam, Gà Rừng & Thịt Heo Rừng Nướng. Đây là một quán chuyên về các món đặc sản của vùng Cao Nguyên do một người dân tộc làm chủ. Đường xa, bụng lại đói vì trưa nay chỉ có mỗi khúc bánh mì và mấy miếng phô mai nên ai ăn cũng thấy lạ và ngon miệng.

8:30 pm thì chúng tôi check in vào Hoàng Anh Gia Lai Hotel tại số 01 đường Phù Đổng. Khách sạn nhìn sang trọng, phòng ốc rộng rãi, sạch sẽ và rất đẹp. Sau một ngày trời dong ruỗi đường trường với nhiều lo lắng căng thẳng vì thời tiết bất thường, nên bây giờ mọi người đều nhanh chóng thu xếp cho thật lẹ để còn .... kềnh một giấc lấy lại tinh thần cho sáng mai còn .... đi tiếp!

Viết xong ngày April 8-2019 lúc 10:00 pm

Bài kế tiếp: Gia Lai - Kontum - Đập thủy điện Ialy - Cầu treo Kon Klor - Nhà Rông - Nhà thờ gỗ Kontum - Gia Lai

 

Nam Mai ***

Tuyển tập ảnh bìa phong cảnh đẹp cho facebook

 

 

 

Tháng Tư những mất và còn

Tháng Tư những mất và còn

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

Van hoa Vietnam hải ngoại

Người Việt ở lứa tuổi 30 hay trẻ hơn ngày nay ít ai biết đến một quốc gia có tên gọi "Việt Nam Cộng hòa" đã hiện hữu trên mặt địa cầu trong 20 năm, từ 1955 cho đến ngày 30/4/1975.

Cuối tháng Tư năm 1975 khi xe tăng và bộ đội cộng sản tiến chiếm Thủ đô Sài Gòn, hàng trăm nghìn người của đất nước này đã rời bỏ quê hương ra đi trong cơn hoảng loạn. Tương lai trôi dạt về đâu và cội nguồn sẽ còn lại gì nào ai biết được.

Những ngày sống qua các trại tị nạn, lo học vài câu Anh ngữ, tìm hiểu về đời sống, phong tục nơi đất nước mới sẽ là chốn định cư. Nhưng tương lai biết có còn nét văn hoá Việt nơi xứ lạ hay không nên nhiều người đã chuyền nhau đọc những quyển sách, tập truyện, đã chép lại những vần thơ, câu ca và nghe lại lời ca tiếng nhạc từ những băng cát-sét đã theo đoàn người tị nạn đến được bến bờ tự do.

Nguyễn Thị Thụy Vũ và tâm tình ngày trở lại

'Dân Sài Gòn thẳng tính, lương thiện'

Ngay từ trong trại Camp Pendleton ở miền Nam California những băng nhạc Việt được sao chép lại như chút quà từ quê hương cũ mà người tị nạn mang theo trên đường định cư.

Trong những ba-rắc hay giữa lều trại tị nạn trên đồi cỏ khô thường nghe vang vang ca từ nhạc Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Lê Uyên Phương. Cũng có hôm nghe Vũ Thành An, Từ Công Phụng và thi thoảng mới có Trần Thiện Thanh, Anh Bằng hay Duy Khánh, Trúc Phương.

Có nhạc Việt để nghe, người tị nạn còn tìm báo tiếng Việt để đọc vì trông ngóng tin tức về tương lai định cư, về tình hình quê nhà, về thân nhân thất lạc trong hành trình vượt thoát.

Ở đảo Guam có báo Chân Trời Mới phát hành mỗi ngày. Qua đến Camp Pendleton chỉ có tờ bản tin ngắn bằng tiếng Việt.

Những sinh viên du học đem báo Thái Bình, nguyệt san của Liên hiệp Việt kiều Yêu nước tại Mỹ, một tổ chức thân cộng, vào phát thì bị đồng bào đuổi đi.

Tháng 10/1975 các trại đón tiếp người tị nạn đóng cửa sau khi 130 nghìn người Việt đã được định cư tại Hoa Kỳ.

Một trong những băng nhạc đầu tiên của Khánh Ly phát hành tại Mỹ năm 1976

Bản quyền hình ảnh Bui Van Phu
Image caption Một trong những băng nhạc đầu tiên của Khánh Ly phát hành tại Mỹ năm 1976

Chỉ vài tháng sau có trung tâm băng nhạc Việt của ca sĩ Khánh Ly ra đời đầu năm 1976 với băng nhạc "Như cánh vạc bay" gồm 16 ca khúc của Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly và tiếng đàn ghi-ta của bác sĩ Ngô Thanh Trung.

Sau có trung tâm của nhạc sĩ Ngọc Chánh, của gia đình Phạm Duy, có trung tâm Thanh Lan nhưng không phải của ca sĩ cùng tên, là những cơ sở sản xuất băng nhạc trong những năm đầu của cộng đồng người Việt tại Mỹ.

Từ đó, nền âm nhạc Việt Nam Cộng hòa dần dần được bảo tồn tại hải ngoại để phục vụ nhu cầu tinh thần của người xa xứ.

Những ca khúc một thời của Việt Nam Cộng hòa và những sáng tác mới về hành trình tị nạn, đời lưu vong đã là chủ đề của hàng nghìn băng cát-sét, CD, băng hình VCR hay DVD được hàng chục trung tâm băng đĩa nhạc sản xuất. Biết đến nhiều nhất là các sản phẩm của Thúy Nga Paris by Night và Asia.

Văn nghệ sinh viên Đại học Berkeley hôm 8/4/2017

Bản quyền hình ảnh Bui Van Phu
Image caption Văn nghệ sinh viên Đại học Berkeley hôm 8/4/2017

Đầu thập niên 1990 có những giao thoa giữa âm nhạc trong và ngoài nước. Một số ca khúc miền Nam bị cấm bắt đầu được nhà nước cho phép phổ biến.

Trung tâm Kim Lợi của Thành Hammer, dù tổ chức nhiều buổi văn nghệ với ca sĩ trong nước bị phản đối, nhưng phải công nhận ông là người có công trong việc đưa ca sĩ và nhạc trong nước ra hải ngoại và giúp cho nhiều ca khúc thời Việt Nam Cộng hòa được các ca sĩ thế hệ sau biết đến và được hồi sinh trong lòng đất nước.

Từ khi Việt Nam mở cửa đón du khách, người Việt nước ngoài về thăm quê nhà thường xuyên hơn, đông hơn và đã đem theo những văn hoá phẩm hải ngoại nên người trong nước cũng được dịp tìm lại nét văn hoá Việt Nam Cộng hòa xưa.

Ngày nay với mạng thông tin toàn cầu Internet, qua YouTube người Việt ở khắp nơi trên thế giới có thể tìm xem hay nghe những ca khúc mình yêu thích của mọi thời đại.

Sau âm nhạc, nền báo chí tị nạn cũng phát triển rất sớm tại Hoa Kỳ. Năm 1976 đã có tờ Hồn Việt, do Nguyễn Hoàng Đoan, chồng của Khánh Ly, điều hành.

Từ miền Nam California, ngoài tờ Hồn Việt còn có báo Trắng Đen của Việt Định Phương, Thức Tỉnh của Tô Văn, Người Việt của Đỗ Ngọc Yến, Đất Việt (sau đổi thành Việt Nam Hải Ngoại) của Đinh Thạch Bích, Việt Nam Tự Do của Duy Sinh Nguyễn Đức Phúc Khôi. Trong giai đoạn đầu đa số các báo là nguyệt san hay bán nguyệt san.

Từ tiểu bang Washington có tờ Đất Mới của Vũ Đức Vinh. Vùng Thủ đô Washington có Văn nghệ Tiền phong của Hồ Anh.

Năm 2000, nhân dịp kỷ niệm 25 năm người Việt định cư tại Hoa Kỳ, Trung tâm Tác vụ Đông Dương (IRAC) của giáo sư Lê Xuân Khoa có xuất bản quyển tổng mục báo chí Việt ngữ hải ngoại do ông Nguyễn Hùng Cường, nguyên giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam Cộng hòa, biên soạn.

Tiểu thuyết của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã được in lại tại Mỹ từ năm 1978

Bản quyền hình ảnh Bui Van Phu
Image caption Tiểu thuyết của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã được in lại tại Mỹ từ năm 1978

Sách xuất bản trước 30/4/1975 cũng được in lại và phổ biến rộng rãi tại hải ngoại từ cuối thập niên 1970. Những nhà xuất bản đầu tiên tại Mỹ là Đại Nam, Xuân Thu, Sống Mới và Việt Nam đã in lại cả nghìn tác phẩm từ tiểu thuyết của Duyên Anh, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Đình Toàn, Dương Hùng Cường, Nhã Ca, Trùng Dương, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Thụy Long đến sách của Hoàng Hải Thủy, Đoàn Thêm, Vũ Tài Lục, Đăng Trần Huân và nhiều tập nhạc của Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Lê Uyên Phương v.v...

Lúc mới định cư ở Mỹ, tôi cũng lo ngại cho văn chương, âm nhạc Việt Nam Cộng hòa rồi sẽ mai một đi.

Đến khi vào Đại học Berkeley, làm việc thêm trong thư viện trường và mới khám phá ra một kho sách miền Nam, trong đó có nhiều tác phẩm tôi đã đọc ngày còn ở quê nhà.

Qua hệ thống liên thư viên đại học tôi đã mượn từ Đại học Cornell nhiều tập nhạc, để từ đó trong những buổi sinh hoạt hay họp mặt các bạn sinh viên có thể ca "Nối vòng tay lớn", "Việt Nam quê hương ngạo nghễ" hay "Nghìn trùng xa cách", "Bài không tên số 2", "Còn chút gì để nhớ", "Con đường tình ta đi", "Vũng lầy của chúng ta", "Huế Sàigòn Hà Nội"…

Những đại học lớn ở Hoa Kỳ như Cornell, Yale hay Harvard, Berkeley và Thư viện Quốc hội Mỹ đều có nhiều sách báo xuất bản dưới thời Việt Nam Cộng hòa. Nhiều nhất là tại Đại học Cornell, ở đây không chỉ có sách mà còn có báo, tập san và cả báo của sinh viên học sinh.

Từ sau ngày 30/4/1975 văn hoá Việt Nam Cộng hòa đã không chết mà còn nở hoa trên đất Mỹ.

Tháng 4/1980, Hội Sinh viên Việt Nam đại Đại học Berkeley tổ chức văn nghệ "Đêm Việt Nam" đầu tiên. Chương trình có hát hò ba miền, có múa nón, múa quạt, có áo dài tứ thân với khăn mỏ quạ. Có kịch thơ "Hận Nam Quan" để phản kháng kẻ thù phương Bắc, có đàn tranh, sáo trúc, ghi-ta, dương cầm. Sinh viên đơn ca "Áo anh sứt chỉ đường tà", thi nhạc giao duyên "Áo lụa Hà Đông", đồng ca "Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời Việt Nam hai câu nói bên vành nôi…".

Hôm 8/4/2017 vừa qua, sinh viên Berkeley tổ chức văn nghệ thường niên, lần thứ 38, chủ đề "Fragments - Tìm tiếng nước tôi".

Các bạn sinh viên đã cất tiếng đồng ca: "Oh, say! can you see by the dawn's early light. What so proudly we hailed at the twilight's last gleaming… O'er the land of the free and the home of the brave?", đã cùng ca vang: "Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi. Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống…"

Sinh viên đã soạn kịch về một gia đình với người cha sau ngày 30/4/1975 bị tù đày trong các trại học tập cải tạo rồi đến Mỹ định cư. Đó là bi kịch mà nhiều người dân Việt đã phải đối mặt sau khi đất nước tưởng sẽ hòa bình, oán thù sẽ tan. Đến Mỹ, cô con gái sinh ra sau chiến tranh muốn tìm hiểu về cuộc đời cha mẹ từng trải và về cội nguồn.

Các bạn đã cất tiếng hát ca ngợi tình cha, xen trong những màn múa lụa, múa nón, múa quạt, múa lân, bên cạnh những tà áo dài, áo bà ba, tiếng đàn tranh, ghi-ta, tiếng dương cầm.

Nhìn lại thời gian qua, từ sau dấu mốc lịch sử 30/4/1975 với mất mát là không gian tự do sáng tác trên đất Việt, nhưng còn lại vẫn là những tác phẩm văn học, những lời ca tiếng nhạc đã lắng sâu trong lòng nhiều người Việt.

Dù ngăn cấm và đã có những chiến dịch càn quét, nhưng văn hoá Việt Nam Cộng hòa đã không mất đi mà còn được yêu thích cho đến hôm nay.

Bài thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả, một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California.

‘Nhạc chiều 29 Tháng Tư’: Nỗi đau của những người mất nước!

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

Hoạt cảnh “Cờ Vàng Lộng Gió Tung Bay,” trong “Nhạc chiều 29 Tháng Tư” tại thính đường Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

WESTMINSTER, California (NV) – “Hôm nay là chiều 29 Tháng Tư, ngày mai đánh dấu 43 năm chúng ta đã mất miền Nam Việt Nam. Nhưng 43 năm qua, chúng ta cũng đã giữ được những gì nên giữ lại cho văn hóa của dân tộc Việt, và cho nhân cách của người dân miền Nam và thể chế VNCH.”

Lời của xướng ngôn viên Trần Nhật Phong nói trong buổi văn nghệ “Nhạc chiều 29 Tháng Tư” do nhạc sĩ Nghiêm Ðông Quân và bạn bè thực hiện vào chiều Chủ Nhật, 29 Tháng Tư, 2018, tại thính đường Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu, trên đường Magnolia, Westminster.

“Đúng ngày này vào 43 năm trước, tôi chỉ là một cậu bé còn ngơ ngác chưa biết chuyện gì đã xảy ra cho miền Nam Việt Nam. Nhưng rồi thời gian trôi dần, và những gì mà chúng tôi cảm nhận được sau 1975; những gì mà chúng tôi đã bị phân biệt về cách đối xử của chế độ Cộng Sản đối với các con em của các cựu quân nhân trong QLVNCH; và những gì đã xảy ra khi mà chúng tôi tìm đường vượt biển,” Trần Nhật Phong chia sẻ thêm.

Trong phần giới thiệu về một nhạc sĩ, cũng theo ông Phong, cùng trong chiều hướng đó, từ năm 1965, anh là người đã khơi dậy lòng yêu nước của các cựu sinh viên; người đã tạo ra phong trào ca hát của sinh viên học sinh với danh xưng “Nguồn Sống.” Rồi sau đó, anh đã hoạt động rất mạnh trong lãnh vực văn nghệ, đồng thời anh cũng là một kỹ sư công chánh.

Thời gian trôi qua, sau 1975, cũng như nhiều người khác, anh phải trả giá trong những nhà tù của Cộng Sản. Nhưng, những sáng tác của anh vẫn không dừng lại; vẫn bùng phát ngay cả trong nhà tù.

Khi đến Hoa Kỳ, trong những năm của thập niên 90, anh đã sinh hoạt rất thân cận với đồng hương, và đã đóng góp rất nhiều cho sự xây dựng văn hóa trong cộng đồng của người Việt tại hải ngoại.

Hoạt cảnh “Vá Cờ Tổ Quốc” trong “Nhạc chiều 29 Tháng Tư” tại thính đường Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

“Chúng tôi muốn nói đến một người, tên của anh là Nghiêm Phú Phát. Lúc ở trong tù, khi anh viết nhạc đấu tranh anh lấy tên tác giả là Nghiêm Đông Quân. Rồi thời gian gần đây, tâm linh của anh đã chuyển hướng về viết những ca khúc Phật ca nhiều hơn và có tên là Tâm Nguyện,” Nhật Phong giới thiệu tiếp.

Mở đầu chương trình văn nghệ là hoạt cảnh “Vá Cờ Tổ Quốc” dựa trên bài thơ của Ngô Minh Hằng với tiếng hát của Vũ Hùng do chính tác giả hát và phần phụ diễn của ca sĩ Lan Hương, và bài “Cờ Vàng Lộng Gió Tung Bay,” với ban tam ca Hoài Hương, gồm Vũ Hùng, Xuân Thanh và Lan Hương cũng do Vũ Hùng sáng tác. Hai hoạt cảnh này đã hâm nóng tinh thần đấu tranh chống cộng sản của đồng hương trong những ngày của Tháng Tư Đen tại Little Saigon.

Bài nhạc “Đừng Nghe, Hãy Nhìn” của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát, do chính tác giả trình bày, như để nhắc nhở đến mọi người về câu nói để đời của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà hãy nhìn những gì Cộng Sản làm.”

“Ca khúc này tôi viết vào năm 1976, tức là khi tôi bị vào trại tù Cộng Sản hơn nửa năm. Trong thời gian này, có lúc anh em bạn tù có ngồi lại bên nhau, và nói với tôi rằng, ‘Phát ơi! có câu nói nào mà được để đời không?’ Thì anh em chúng tôi đồng ý là lời của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sẽ để đời. Sau đó, tôi đã hát bài nhạc này nhiều lần trong trại tù. Và từ đó cho đến bây giờ, tôi chưa bao giờ hát lại tại nước Mỹ. Nhưng, hôm nay, vào những ngày cuối đời của tôi…,” nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát xúc động tâm tình sau khi ông hát bài nhạc này.

Bài nhạc “Đừng Nghe, Hãy Nhìn” của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát, do chính tác giả trình bày, trong “Nhạc chiều 29 Tháng Tư” tại thính đường Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Lý do tại sao anh tổ chức “Nhạc chiều 29 Tháng Tư”? Để trả lời câu hỏi của Trần Nhật Phong, nhạc sĩ Nghiêm Đông Quân cho biết: “Một số bạn cùng tù với tôi hỏi: ‘Lúc cậu ở tù, cậu viết những bài hát để cho chúng tôi nghe, và từ những bài hát đó chúng ta đã làm một số công việc. Nhưng suốt thời gian sang Mỹ đến giờ, chúng tôi không được nghe, là tại sao?’ Đó là lý do tại sao hôm nay tôi lại tổ chức buổi hát này.”

Một câu hỏi nữa: “Anh là người đã trải qua một giai đoạn lịch sử cũng như những người lớn tuổi khác. Vậy, trong buổi hát này, cảm xúc của anh như thế nào?” Nhạc sĩ trả lời: “Như mọi người đã thấy nỗi cảm xúc của tôi rất nặng. Vì nỗi cảm xúc này là nỗi cảm xúc của tất cả những người mất nước. Chỉ có điều là, người này chỉ để yên và người kia thì nuốt trong lòng mình. Tôi chỉ biết nói thế thì cũng đủ lắm rồi.”

Theo nhạc sĩ kể, thi sĩ Nguyễn Thanh Châu, bạn của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát, có nói: “Sài Gòn ơi! ta sẽ trở về. Sài Gòn ơi! ta phải về như đã hẹn lời thề,…” câu này như nói lên tâm trạng của nhiều người Việt xa xứ. Và, từ ý nghĩa đó, nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát đã soạn ra bài nhạc: “Hẹn Thề Cùng Sài Gòn” do ban tam ca Hoài Hương đồng hát cùng giọng bè của nhạc sĩ.

Có mặt trong buổi ca nhạc, Bác Sĩ Nghiêm Phú Francis tức nhạc sĩ Nghiêm Phú Phương, anh ruột của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát. Bác sĩ có mặt để có niềm cảm xúc vui mừng khi được nghe và thấy buổi nhạc do em mình tổ chức vào những ngày tháng cuối đời của ông và của người em mình. Được biết, tiếng đàn đầu đời của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát là do sự hướng dẫn của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phương và cố nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi, nguyên Giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn trước 1975, là anh cả của hai nhạc sĩ này.

Từ trái, MC Trần Nhật Phong, nhạc sĩ Nghiêm Phú Phương và nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát, trong “Nhạc chiều 29 Tháng Tư” tại thính đường Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Chương trình được tiếp nối với những tiếng hát Hoàng Đình Ngoạn, Diệu Trang, Văn Dũng, Ái Liên, Trương Minh Cường, Lâm Dung, Phương Lan, Thu Vân, Ngọc Bích, Ngọc Hoa, Kỳ Hương, Bích Liên, Phạm Tuấn,… Hợp cùng tiếng đàn piano của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát và ngón đàn guitar của nhạc sĩ Nguyễn Đình Thư, con trai của nhà văn Nguyễn Đình Toàn.

Một trong những tiếng hát, cô Diệu Trang, thành viên trong ban Hương Thiền bày tỏ: “Trong buổi ca nhạc này, khi nghe những bài nhạc mà thầy Nghiêm Phú Phát đã cất giữ từ lâu, và đến bây giờ thầy mới hát cho mọi người cùng nghe trong thính phòng này, thì mình mới thấy một điều mà trong đạo Phật có nói là có có không không, và ở đời mọi sự nó đều biến chuyển như một khoảng đời mà thầy đã trải qua.”

Trong số khán giả đến dự, bà Suzanne Nguyễn, cư dân Santa Ana, định cư tại Hoa Kỳ 1993, chia sẻ: “Tôi là một trong những đồng hương tị nạn Cộng Sản cùng gia đình sang định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. Vì ba của tôi cũng là một sĩ quan trong QLVNCH. Cho nên trong máu của tôi cũng là huyết thống của những chiến sĩ tranh đấu vì đại nghĩa. Trong chương trình ca nhạc này, với những ca khúc đấu tranh và những giọng ca không chuyên nghiệp, nhưng họ đã hát bằng tấm lòng yêu dân tộc và quê hương của mình. Vì thế đối với tôi, đây là một chương trình ca nhạc rất có ý nghĩa trong dịp kỷ niệm Quốc Hận 30 Tháng Tư.”

Nhà văn Chu Tất Tiến cũng có mặt và tâm tình: “Khi thấy trong phòng hội đầy lá cờ vàng tung bay trên tay của khán giả, và những bài nhạc đấu tranh của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát cũng như những bài nói về sự mất mát của dân tộc và quê hương Việt Nam, làm tôi rất cảm động.”

“Nhạc chiều 29 Tháng Tư” trong hội trường nhỏ của Thư Viện Toàn Cầu, tuy nhỏ, nhưng đủ chứa đựng những tâm hồn còn nghĩ đến nỗi đau của dân tộc và đất nước trong những ngày của Tháng Tư Đen. Nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát hay Nghiêm Đông Quân đã đưa khán giả về hồn quê hương, dân tộc và những nỗi đau quặn thắt của những đồng bào ruột thịt còn trong nước.

 

Hồng Vân sưu tầm

 

 

MÀU ÁO ẤY... ( Thầy Nguyễn Tư Thiếp )

MÀU ÁO ẤY...

▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

  *"Tôi vẫn yêu màu áo ấy vô cùng..."
                              (Nguyên-Sa)

Canberra vẫn tiếp tục mưa. Mưa như đã mưa từ buổi sáng lờ mờ. Trời u ám, mây xám lênh đênh... Những tòa cao ốc của Kinh đô Úc chìm trong làn mưa bụi trắng mịt mù. Những hàng cây xanh lạnh co ro đứng thẳng hàng, ngọn vút lên trời, dường như cũng đang ngập theo màu sương đục mơ hồ ấy, làm cho lòng Phi chùng xuống, không cảm thấy được niềm vui của cuộc đi chơi bất ngờ hôm nay: Ngày Xuân FLORIADE - Hội chợ Hoa Tulips Canberra!
 
Những thảm cỏ xanh mượt-mà đẫm nước, phơn-phớt những vết bùn đỏ do những người xem hoa mang vào từ các lối đi trải sỏi đỏ màu Cao nguyên bên nhà...Tiếng nhạc từ sân khấu nơi đầu đường, được kê trên những cái bục thấp, vẫn xình-xình, đơn lẻ, mang theo sự mỏi mệt dài ngày. Từ căn lều trắng đó, vọng ra một thứ âm thanh không vui lắm của chiếc kèn đồng rã rời, chậm chạp như xa-xăm đâu từ cõi nào! Bên cạnh là người ca sĩ râu ria, ốm nhom, đang cúi người xuống, tay cầm cái Micro một cách hững hờ, giọng đặc khàn trong tư thế của một người hát lấy lệ theo một hợp đồng nào đó với Ban Tổ chức thuê mướn. Cũng có thể sự hết nhiệt tình trình diễn, bắt nguồn từ sự thấm mệt, vì Hội Hoa đã sắp đến ngày cuối cùng... hoặc vì khán thính giả bên dưới quá lưa thưa, chẳng thấy ai, ngoại trừ vài người đàn ông đứng ngơ ngác, gặm những miếng Hamburger vội vã cho qua
bữa, dưới những tàn cây sũng nước, mà họ đang núp để tránh những hạt mưa rả rích từ đêm qua...
 
 Vậy mà, vẫn người là người, chen chúc bên nhau, áo quần, mũ nón, màu sắc sặc sỡ theo hoa. Họ trằm trồ, chỉ chỏ, xuýt xoa... dưới những tàn dù ướt đẫm, nhưng vẫn ánh ngời màu của vải "nylon" rực rỡ, muôn hồng ngàn tía, chụp phủ lên những luống hoa tươi, tạo thành những rừng hoa khác lớn hơn, rậm hơn. Hoa người và hoa thực trộn lẫn với nhau trong thế giới hỗn mang của màu sắc, nhất là những nụ hoa Tulips có cuống dài vươn lên cao khỏi những luống đất có hình thù khác nhau, nằm rải rác trong khu Công viên. Những màu là màu, từ đỏ thẳm tới hồng phấn, hồng nhung, hoàng yến, nguyệt bạch và vàng cam... của Tulips, đến những màu tím than, vàng đốm, tím hoa cà... của những cụm hoa Pensée thấp lè tè, bị những vết đất bám vào những chiếc lá xanh do những cơn mưa lớn dài ngày."Pensée" có nghĩa là hoa"Nhớ", được kể từ một câu chuyện tình đau thương, để trở thành tên một loài hoa nhỏ bé. Nhìn những nụ hoa mong manh đầy màu sắc này, hốt nhiên làm cho Phi nghĩ đến một vùng sương mù trong trí nhớ. Ngày đó chàng chưa tròn 20 tuổi, tuổi của thời mộng mị, đang theo học lớp Đệ nhất (12) của trường Trần Hưng Đạo - Đàlạt, ngôi trường Công lập lớn nhất vùng này, tọa lạc trên những ngọn đồi dài với những độ cao khác nhau, cạnh hồ Lạc Thiện quanh năm lặng lờ buốt giá. Từ nơi khung cửa sổ của lớp học này, trên từng lầu một, ngay đầu ngọn đồi, vào những buổi chiều tà, Phi thường thấy cô giáo Nguyễn Thị Hoàng (lúc đó mới bắt đầu viết Văn) hay choàng chiếc áo lông trắng như bông, cầm trái banh đi nhún nhẩy ngang qua sân bóng rổ. Cô nhỏ người, gọn và đôi mắt long lanh - triệu chứng của những sôi nổi trong nghề cầmbút sau này... với tác phẩm lừng danh miền Nam “Vòng tay học trò” ...
 
Image result for MÀU ÁO ẤY...
 Những ngày học hành tạm bợ ở đây - vì Phi chỉ lưu lại xứ này chưa hết một năm bởi những quyết định riêng tư không ngờ trước được - hắn thường lén vào những khu vườn trồng tỉa hay trong những tư thất sang trọng để hái trộm những cánh hoa "Pensée" xinh đẹp này, đem về ép khô trong vở, cũng chỉ để tặng cho một người tên Thùy, mà cho đến bây giờ, sau những bể dâu tang thương cùng cực, Phi cũng không hề biết người ấy nơi đâu!? Và, chính người này, đã vô tình đẩy hắn vào đời binh lửa mịt mùng, sau đó chẳng bao lâu, dù hắn chẳng bao giờ mơ mình sẽ trở thành người "Chinh phu" trong thời ly loạn!
 
Quà chia tay nhau bằng những câu thơ sau cùng, trao vội cho Thùy ở ngọn đồi chiều bên khu Domaine De Marie, trước khi Phi đáp chuyến tàu đêm tốc hành trở về vùng Nha trang biển mặn, để chẳng trở lại nơi ấy bao giờ...Những câu thơ bùi ngùi ở tuổi thanh xuân, từ một người chỉ có trái tim đau, nóng bỏng, sắp trở thành tên Giác đấu tội tình của thời cuộc, đã nói về một loài hoa khác hơn: hoa"Oubliée"- có nghĩa là hoa"Quên", trái với hoa"Nhớ:"Pensée:
 
"Em về, nhớ lấy hoa Quên,
Dẫu cho mộng đã không đền từ đây..."(NT)
 
Related image
 Hai câu thơ học trò, được Phi chép cẩn thận trên một mảnh giấy nhỏ màu xanh lam, có đính những nụ hoa "Oubliée" ép khô vụn vỡ như tình hắn lúc đó, rồi bỏ vào một phong bì dày, trao cho người tình xưa (nàng thường mặc áo dài lụa vàng sậm, quần "soie" trắng, choàng khăn voile tím thẩm, đi chơi đồi với Phi vào những ngày nghỉ học) để dành làm của "hồi môn" trước khi đi lấy chồng, và hắn trở thành cánh chim bay lạc loài, với vết thương không nguôi ngoai, nơi cuối trời u tối...
 
Đã "Quên" sao còn "Nhớ"? Đó là những nghịch lý phải chấp nhận trong thân phận làm người, mà trong cuộc đời, vốn ngắn ngủi, đầy gian truân này, họ đã phải đành lòng mang theo như một thứ hành trang không thể chối bỏ, như con thú dữ mang mũi tên độc bị gãy vào người, mà nó không thể tự mình rút ra! Hay đúng hơn, nó không “nỡ” rút ra, bởi nếu rút mũi tên ra, thì nó sẽ ngã lăn ra chết.Chết vì không còn gì để sống, dù sống trong những cơn đau miên man, khi những độc tố đã trở thành chất miễn nhiễm trong một cơ thể đã bảo hòa với những chai cứng ưu tư... Phi đã mang một mũi tên độc như thế trong lòng suốt mấy chục năm nay, những tưởng đã nguôi quên khi trí nhớ mình bị phủ lên bởi một lớp bụi thời gian, dày đặc những tang thương đủ để che lấp đi những mầm ung thư hóa thạch.Nhưng không, hôm nay nó lồng lộng trở về, như một tình cờ bất chợt - trong
Phi - trên vùng đất lạ này, giữa một rừng người và những hoa là hoa...
 
Image result for MÀU ÁO ẤY...
 Phi đứng một mình dưới cơn mưa thực lâu, cạnh tấm bảng ghi dòng chữ lớn theo kiểu "fantaisie" như những câu thơ mà hắn đã chép trong thời mới lớn. Chữ nhạt, kiểu cọ, màu xanh da trời rất đẹp: "WELCOME TO CANBERRÁS FLORIADE SPRING FESTIVAL" bên luống hoa Tulips màu vàng nở rộ. Phi yêu màu vàng sậm như yêu một phần đời sống trong quá khứ, mình đã trót cầm giữ như những kỷ niệm xa xăm, dù trong thâm tâm cũng biết rằng màu vàng là màu của "phụ bạc" từ lâu, nên Phi cũng đã ghi 2 câu Thơ về màu đẹp riêng của mình, nhưng lại đầy dang dở này:
 
“Em về, một cõi Thu vàng áo, 
Có nghe màu tà-dương phai hương...” (NT) 
 
Buổi trưa trời hé nắng một lát. Từng chùm ánh sáng chói chang hình rẽ quạt,chọc qua khe hở của khoảng trời thấp, giữa những đám mây đen kịt màu khói đậm - loại mây "Cumulus" chồng chất những e ngại cho những cánh chim trời lộng gió một thời:"Mây là kẻ thù của các phi-công" như lời nhắc nhở cẩn trọng trong những nguyên tắc an-phi nơi  những giờ Khí tượng mà đã có một lần hắn mơ ước dở dang...
 
Khu vườn hoa trở nên sáng rỡ lạ thường dưới những chùm nắng mới vàng lụa, ánh lên những hạt nước long lanh như một rừng kim cương... Phi thả bộ một mình với cái bọc "nylon" màu đen cố hữu, bên ngoài vẽ nhãn hiệu của một tiệm buôn quần áo thể thao, bên trong chỉ có cuốn sổ tay rách nát với cây bút chì - loại bút mà hắn ưa dùng với thói quen giản tiện. Bút và giấy chỉ để ghi những điều cần thiết khi trí nhớ đã mỏi mòn không còn khả năng dung chứa những điều đãi lọc trong mớ hỗ lốn của cuộc đời, mà những kẻ vô tư thường chỉ ngủ yên với trời mộng mị...Đôi khi, cũng có thể là những bức tranh được Phi vẽ tình cờ trên đầu gối, nơi một sân ga, một góc phố, hay một bàn ăn trong chiếc quán nào đó từ những gợi cảm bất chợt vừa đến với mình. Cũng có thể là vài xấp bản thảo để gửi đi cho các cột báo định kỳ, bởi vì hắn cũng cần sống như mọi người bình thường, mà không cần nhờ vả đến ai, khi mình có thể...
 
Hôm nay, Phi có mang theo chiếc máy hình tài tử, mà ít khi nào hắn dùng tới, trừ những khi đi làm phóng sự trong những sinh hoạt đặc biệt. Nhưng bây giờ hắn mang nó như một người du ngoạn cô độc, muốn rong chơi một ngày trong Hội Hoa để tạm quên đi những buồn phiền chồng chất do những đưa đẩy của cuộc đời, mà mình chỉ là một cọng rêu xanh, lặng lờ trôi trong dòng tử sinh không bao giờ cưỡng nổi! Vậy mà, điều buồn cười hơn, tối hôm qua Phi lại lắp vào máy một cuộn phim trắng đen, dành để chụp chân dung cho một người quen, thay vì một cuộn phim màu cho mộtmùa Hội Hoa bừng nở. Quả là hắn "điên", thế mới biết đầu óc mình bây giờ là một thứ lòng bong, rối nùi, không định hướng, không mở lối ra... Máy ảnh "automatic" là loại máy dành riêng cho những người chơi ảnh tài tử, chỉ muốn ghi lại những kỷ niệm cần thiết mà không quan tâm gì tới khía cạnh nghệ thuật của nó, khác với máy chuyên nghiệp dùng để săn hình Art, cần sự tham dự của đôi bàn tay, và cái nhìn đặc thù của người cầm máy đầy sáng tạo cá nhân. Bởi vì anh ta phải tự mình điều chỉnh ánh sáng, bằng cách chọn độ mở của ống kính, xác định độ nhanh của máy trập, và khoảng cách từ máy đến vật, độ nhạy của phim...hoàn toàn bằng tay, thế nào cho thích hợp với những tiêu chuẩn của một tấm ảnh "nhà nghề",tùy vào không, thời gian lúc đó bên ngoài, phần lớn do đôi tay mầu nhiệm của người Nghệ sĩ, mà hôm nay Phi đã bỏ lỡ...
 
 Trời lại mưa. Rả rích. Buồn lê thê...Lầy lội và u ám! Phi có cảm giác khó chịu trong một ngày xem Hoa. Lớp bùn nhão màu đất đỏ lầy lên trên các lối đi làm dơ đi nhiều thứ, kể cả những suy nghĩ của con người. Vậy mà, người ta vẫn thản nhiên đi, thản nhiên chọn cho mình một thế đứng ưng ý để chụp một "pose" hình, rồi bấm máy. Phi cho máy vào bọc "nylon", đoạn đi quanh hồ, một cái hồ rộng mênh mông như "Grand Lac" ở Đalạt, ăn thông với một cái Vịnh, sông nước mù mờ, mà từ đây người ta có thể nhìn thấy Tòa nhà Quốc Hội Úc uy nghi phía bên kia. Quanh bờ trồng đầy những cây liễu rủ mềm như tơ trông giống hồ Hoàn Kiếm Hà nội...
 
Giữa muôn hồng ngàn tía, từ những luống hoa, những áo quần ngày Hội, những đốm dù màu sặc sỡ, Phi bất ngờ khám phá ra gia đình của một người Việt nam, nhờ vài tà áo dài phất phơ trông thực đẹp. Một người mặc áo dài thêu hai màu trắng tím, một người khác mặc áo dài màu hoàng yến và quần cùng màu - loại "Fashion" thời thượng của Khánh Ly ngày xưa, và một người mặc áo dài màu cổ đồng, lồng lộng với quần "soie" trắng mộng mơ... đi kèm với cô bé chừng vài tuổi, cũng mặc y
như mẹ vậy...
 
Người đàn bà có lẽ ở tuổi "một con", nên trông phúc hậu lạ thường. Cô đang vén vạt áo ngồi xuống cạnh luống hoa Tulips cùng màu nở rộ, cho người nhà bấm máy. Màu vàng của hoa, và màu áo của người, ánh lên rực rỡ như buổi bình minh, pha lẫn với màu trắng tinh khôi của chiếc quần lụa mỏng, quyện nhau lên mái tóc đen tuyền, ôm kín lấy khuôn mặt còn đẹp hơn cả hoa nữa... nhất là nụ cười, trong cái thế đầu nghiêng-nghiêng, lộng gió, thổi ngược những sợi tóc bay-bay, đánh bật về phía sau, làm cho Phi có cảm giác như mình đang lạc vào"Động Hoa Vàng" của Phạm Thiên Thư ngày xưa, mà "gã từ quan" mộng mơ, đã một lần ôm trăng đánh giấc bên ngọn đồi Dạ Lan tỏa hương thơm ngào ngạt... Phi không ngăn được cảm xúc tràn đầy của mình trước một hình ảnh đẹp hiếm hoi như thế trong đời, nên hắn đến cạnh người đàn ông đang bấm máy, từ tốn hỏi:
 -Tôi có thể bấm máy"ké" được không anh? Cả người lẫn Hoa đẹp quá!
 Người đàn ông tử tế, mỉm cười vui vẻ, đáp:
 -Dạ được, anh!
 -Thanks a lot!
 Thế là, Phi vội quỳ xuống thực nhanh như chừng sợ người đàn ông đổi ý. Chiếc đầu gối quần Jeans của hắn nhận chìm trong lớp sình lầy nhầy màu nâu đỏ, và hắn vội đưa máy lên bấm tí-tách mà trong thâm tâm vẫn tiếc nuối một điều: giá hôm nay mình có vài cuộn phim màu, với cái máy nhà nghề sử dụng bằng tay, chứ không phải cái máy tài tử chết tiệt này, và chẳng có ai ở đây, để cho người thiếu phụ bớt lúng túng, Phi sẽ lăn lộn, bấm máy tha hồ như ý mình muốn, mà không cần chú ý đến dáng điệu của "Model", sẽ làm mất đi vẻ tự nhiên, như cứ bắt người ta “làm dáng” và “cườiduyên” trước khi bấm máy... là điều tối kỵ trong ngành chơi ảnh Nghệ thuật. Nhưng điều đáng mơ ước cao xa hơn: nếu Phi gặp người thiếu phụ này một mình trên một ngọn đồi chiều lộng gió, mà hắn có mang theo giá vẽ và màu... Phi sẽ ghi lại tất cả những điều gì hắn muốn chụp bắt trong ánh hoàng hôn - màu của trời, cũng là màu mùa Thu của áo! Sao cuộc đời con người, lại chỉ được đan kết bằng những ước mơ nhỏ bé không bao giờ thành tựu? Cùng lúc đó Phi nhìn thấy một người Úc đang đưa máy chụp lén phía sau lưng người thiếu phụ có chiếc áo màu vàng sậm đẹp não nùng này... Thì ra, có phải một mình Phi biết xao xuyến trước những cái Đẹp thiêng liêng mang màu sắc Quê hương xa lắc này đâu!?
 
Image result for MÀU ÁO ẤY...
 Sau đó người đàn bà rời luống hoa trở lại với gia đình. Phi đến để cảm ơn mọi người đã cho hắn một cơ hội hiếm có, mà hắn nghĩ đó là những phút giây đẹp nhất trong đời của những người Nghệ sĩ, gọi là “Tổ đãi” theo cách gọi của những nhà nghề, sẽ không bao giờ xảy ra một lần nữa! Những phút giây mà Hồ Dzuếnh đã có lần miệt mài đợi chờ trong im hơi, gọi là "phút linh":
 
"Phút linh cầu mãi không về,
Phân vân giấy trắng chưa nề mực đen!" (HD)
 
Những phút giây đó rất hiếm quý đối với một người say mê Nghệ thguật như Phi, ngay từ những ngày còn rất trẻ, nhưng thời cuộc đã mang hắn đến tận cùng của những gian nan trong cảnh đao binh, khi hắn chỉ là một người lính trận nổi trôi theo Mệnh nước, dù với bất cứ lý do gì... Người đàn bà vuốt tóc, cười hiền lành nói lí nhí:"Cảm ơn anh!", dù cô có vẻ e ngại khi Phi tiết lộ về hắn chỉ có một điều:"Tôi ở Cabramatta lên đây xem Hoa như cô!". Cô e ngại vì sợ Phi là một phóng viên sẽ đem hình cô lên mặt báo thì chết mất. Phi trấn an người đàn bà, nói:"Cô đẹp, hoa đẹvà áo cũng đẹp , s gì!?" Người đàn bà bẽn lẽn cười tươi, để lộ hàm răng đều và trắng, bóng nhẩy, đẹp như trong thơ Nguyên Sa:
 
"Những lúc em cười trong đêm khuya,
Lấy ai nhìn đường răng em trắng...?" (NS)
 
Đôi mắt của người đàn bà cười theo - như mắt của L. ngày xưa -  nàng vừa lấy tay xao ngược mái tóc về phía sau trong một dáng điệu rất tài tử, y hệt như trong những đoạn phim quảng cáo về thuốc gội đầu trên màn ảnh TV mà Phi rất thích xem. Phi không hiểu sao người đàn bà lại nghĩ hắn là một "nhà báo", khi hôm ấy, hắn chỉ là một kẻ “du tử” rong chơi cuối trời quên lãng... trong Hội Hoa như những người khác mà thôi? Với nụ cười cởi mở, người đàn bà nói thêm một lần nữa:"Em cám ơn anh nha!" với giọng Nam mềm mại, và Phi lặp lại tình cảm đó như một đền bù:"Cám ơn cô!", rồi họ chia tay nhau ngược hướng. Mỗi người sẽ mang theo trong lòng mình những suy nghĩ riêng tưkhông ai biết được - trừ họ, dù hạnh phúc hay buồn phiền, thì cũng chỉ để "lạc" nhau đến cuối đời, ít khi nào được gặp lại nhau, như Phi đã không gặp Thùy của những ngày Đà Lạt sương mù, trong một thời gian khá lâu, kể từ chuyến tàu đêm vào một dịp Giáng sinh xa lơ, xa lắc, khi Phi mới chỉ sắp đôi mươi và cực kỳ lãng mạn... đang bước vào lửa đạn oan khiên của chiến tranh không phải với tâm cảm của một nguời yêu nước thực sự mà chỉ muốn quên một nỗi buồn, ngoại trừ lần gặp gỡ ngắn ngủi cuối cùng, tình cờ trên hè phố Sài-gòn ở khu chợ Hoa (lại chợ Hoa) trước nhà sách Khai Trí, vào một dịp Tết, để vĩnh viễn mất nhau từ dạo đó - lâu rồi - khi Phi chỉ là người lính trận ở miền xa trở về, trong bộ Treillis hôi hám, với khẩu Colt 45 mang xéo nơi ngực, đội cái nón rừng màu ngụy trang, có gắn cái hoa mai đen còn ám bụi đường đất đỏ....
Image result for MÀU ÁO ẤY...
 Điều buồn, không phải là do buổi gặp gỡ tình cờ giữa những người quen thân cũ xa cách nhau lâu ngày, nhưng vì câu trả lời của người thiếu nữ hôm đó, mà cho đến bây giờ, mấy chục năm sau Phi vẫn còn nhớ, lúc nàng đứng nói chuyện với hắn trong chiếc áo dài màu vàng nhạt hơn không phảilà cổ-đồng và quần vẫn trắng như ngày xưa, đeo xâu chuỗi hạt trai nơi cổ, khi Phi hỏi:"Anh có làm gì cho Thùy buồn không?", thì cô ấy lặng hinh thực lâu, trong dáng điệu ngập ngừng, hơi nghiêng đầu một chút, rồi đưa tay cầm đuôi tóc mình lên, cúi mặt nhìn vào đó chăm chú như chừng muốn giấu niềm cảm xúc òa vỡ, giọng rưng-rưng:"Dường như anh giận em? Có thể anh không làm gì cho em buồn, nhưng anh cũng đã chẳng làm gì cho em vui!". Phi hiểu tại sao cô ấy nói với hắn điều đó, nhưng để trả lời câu hỏi đầy vẻ trách móc của người xưa, hắn lặng lẽ lấy cái nón rừng rách nát lỗ chỗ những lỗ cháy do tàn thuốc lá rơi vào, nặng mùi chiến trường, hằn lên những đường mồ-hôi muối trắng cáu bẩn nhuốm màu bụi đỏ cao nguyên, dơ dáy.... đưa cho nàng cầm như một lời giải thích đau thương. Người thiếu nữ đưa tay nâng cái nón nhớp nhúa bụi đường và hôi hám đó, một cách thân thương, rồi ép sát nó vào lòng, khi cả hai họ cùng đi đến một quán nước gần đó, mà không hề nói nhau lời nào tình tự cho đến lúc chia tay, ngoài những lặng im khó hiểu, và những thăm hỏi vu vơ... không liên hệ gì đến quá khứ của cả hai người, sau mấy chục năm mất dấu chim b
 
Mãi đến cuối năm 1982, lúc Phi đi tù về, Thùy có đến thăm người em gái của Phi, bạn thân với cô ấy ở Trung kỳ - quê hn - thì nó kể lại rằng:"Chị Thùy có đến đây hỏi thăm tin tức về anh sau ngày mấnước. Chị ấy đã lấy chồng, và vừa có nhau được một đứa con trai... Em nói anh đi tù ở một  vùng rừng Tràm tận mũi Cà mau! Xa quá, ở nhà chẳng ai đi thăm nuôi được, thì chị ấy bàng hoàng một phút lâu, rồi ra hè ngồi một mình bưng mặt khóc sụt sùi ..."
 Cuộc đời, thực ra là những quán trọ bên đường, mà những khách hành hương có thể hội ngộ nhau trong những phút giây mầu nhiệm, vừa đủ để xốn xang trong những cơn buồn úp mặt, từ đó những dấu xưa, có thể gợi lên những niềm trắc ẩn về mình, về người, đôi khi quặn đau trong những giọt nước mắt âm thầm nơi góc tối, mà chính lòng mình cũng không hiểu tại sao? Bởi con người được sinh ra một mình, sống cô đơn - theo một nghĩa Métaphysique nào đó, vì chẳng ai hiểu nổi ai - rồi cũng sẽ phải chết một mình trong hiu quạnh... như có người đã viết:"Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ, chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà...". Hay nói một cách xót xa hơn, như Rilke:"Cet être sans abri..." - Con người ấy, không có chỗ nương thân!
 
Đó là con đường Đời, có thể là con đường tình cờ đầy sình đỏ lầy nhầy trong buổi Hội chợ Hoa ở Canberra hôm nọ - con đường chỉ được đi qua một lần, một lần rồi thôi! Con đường trầm luân của mộng mơ lẫn bể dâu chỉ để đưa đến cuối đời là lòng mộ địa:"Đường chạy vòng quanh một vòng tiều tụymột bờ cỏ non, một bờ mộng mị ngày xưa...Từng lời tà dương là lời mộ địa nghe ra từ suối khe..."(TCS)... Bởi lẽ con người không biết bao dung và thứ tha cho nhau trên "Cõi tạm" này, ngay khi họ đang còn sống mà đã không một lần được gặp mặt nhau... Như ngay bây giờ đây "Em ở đâu, hỡi mùa Thu tóc ngắn?"(NS), trong khi nơi này, trên vùng Nam Bán cầu xa thẳm, sáng nay, dù đã lưu lạc nhiều nơi, nhưng:"Tôi vẫn yêu màu áo ấy vô cùng"….
 
Kim kỳ sưu tầm
 
Related image
Theo dõi RSS này