Kim Phượng

Kim Phượng

Tặng phẩm của ngôn ngữ: Thói “ăn” nếp “ở” của người Việt qua cách nói

Tặng phẩm của ngôn ngữ:

Thói “ăn” nếp “ở” của người Việt qua cách nói

Chuyển qua “ăn vụng”. Nghĩa đen ý nói “giải quyết cái đói một cách lén lút”: “Nhà tôi có tật ăn vụng ban đêm, khuya nào cũng thức dậy, xuống bếp lục cơm nguội.”


header-desktop-1457541172405

Không biết có phải do hoàn cảnh thiếu ăn thiếu mặc từ xưa, mà người Á đông nói chung, người Việt nói riêng, đặc biệt quan tâm tới miếng ăn. Ăn không phải chỉ để sinh tồn, mà còn để hưởng thụ. Ăn đứng đầu tứ khoái. Ăn cho sướng miệng cái đã, mấy chuyện khác tính sau.

Ở đâu lúc nào, một mình hay nhiều mình, cũng thấy ăn. Thui thủi, trơ trọi ở nhà, lục lọi trong bếp coi có cái gì ăn cho đỡ buồn. Ra đường, đi chơi hay lo việc, trước hay sau gì cũng phải kiếm thứ gì dằn bụng. Ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối, ăn khuya. Vì vậy, trong kho tàng Việt ngữ có vô số động từ đôi đi chung với "ăn". Điểm này không thấy có trong ngôn ngữ của các dân tộc khác.
Nhưng "ăn" nhiều khi lại không có nghĩa là "ăn", mới lạ!
Tụ họp đình đám, lễ lạt giỗ tết, người mình nói "ăn cưới", "ăn tết",  "ăn giỗ", "ăn cúng", "ăn đám ma", "ăn đầy tháng", "ăn thôi nôi", … Từ "ăn" trong những nhóm từ này rõ ràng là hành động đưa thực phẩm vào miệng, nhai rồi nuốt, không thoát đi đâu được. Giống như "ăn" trong "ăn khín", "ăn chực", cũng là "ăn", nhưng hàm ý không mấy tốt, tới ăn không ai mời, hoặc có mời nhưng sau đó lại nhiếc móc sau lưng:
"Cái thằng đó ưa tới nhà mình nhằm giờ cơm để ăn khín mà không biết mắc cỡ!"

Nhưng "ăn chực" trong thành ngữ "ăn chực nằm chờ" lại ngụ ý: kiên nhẫn chờ được giải quyết một vấn đề gì đó. Nguyên nhân có lẽ bắt nguồn từ xưa: mỗi khi dân chúng từ những làng quê xa xôi có việc tới nhà quan ở chợ, ở tỉnh, ở kinh thành, thường đem theo đồ ăn thức uống để lót bụng, vì biết chắc thế nào cũng phải chờ đợi lâu lắc, lắm khi dăm ba ngày liên tiếp: Ăn để chực chờ tới lượt được vô hầu quan lớn.

Còn có chuyện "ăn ké" nữa kìa! Trong vở tuồng ăn uống này, có hai vai: chính và phụ. Vai chính là người quyết định chuyện ăn, còn vai phụ "ăn ké" là kẻ chầu rìa, được vai chính cho gì ăn nấy, đôi khi là miếng ăn dư. Đó là nghĩa đen. Còn nghĩa bóng? Trong chuyện bài bạc, bài cào hay xì-dách, thường có người ít tiền hay nhát gan đứng ngoài, nhưng để ý coi tay con nào có số đỏ, lâu lâu lại chồng thêm tiền đặt ké, khi thắng gọi là "ăn ké".
Phong cách ăn uống, nói năng giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong truyền thống phong tục, lễ giáo của người Việt. Con cái, đặc biệt là con gái, bởi lẽ thời xưa không được tới trường, được mẹ dạy cho "học ăn, học nói, học gói, học mở", coi như những chuẩn mực để xử thế và giao tiếp trong gia đình, họ hàng và ngoài xã hội. Nghĩ rộng, thấy bốn món "công, dung, ngôn, hạnh" được gói ghém gần như trọn vẹn trong đó. (Tới đây, người viết xin được mở dấu ngoặc, đặt dấu hỏi lớn về nghĩa đen và nghĩa bóng của cụm từ "học gói, học mở" trong thành ngữ này. Tự điển Việt ngữ có vài cách giải thích khác nhau, không biết thực hư ra sao?).
 
blank

Vậy, "ăn" khi đi chung với "nói" được hiểu là đối đãi, cư xử. Nhưng khi cặp kè với "nhậu", tuỳ theo cách nói, lại có nghĩa hoàn toàn khác: "Chuyện vợ chồng người ta không ăn nhậu gì tới mình, mình xía vô đâm ra mất lòng." Ở đây, không biết vì nỗi niềm trắc trở gì mà "ăn nhậu" đành đoạn chia tay, không còn luyến tiếc chút dư vị nào của "ăn uống, nhậu nhẹt" nữa, để cải trang, đổi lớp thành "dính líu, dính dáng". Lạ, nhưng không lớn!
Chuyện lớn chỉ thực sự xảy ra, khi "ăn" lỡ chung chạ với "nằm". Thử nghe mẹ quát con gái:
"Hả, cái gì? Bộ đui hay sao mà mày ăn nằm với cái thằng trời đánh thánh đâm, lưu manh láu cá đó? Trời ơi là trời, con ơi là con!"

Nhất định là phải có "ăn" vô đây thì "nằm" mới trọn nghĩa "tằng tịu" của nó, và được dùng để ám chỉ những trường hợp chung chạ xác thịt không chính thức. Vợ chồng với nhau, không ai, hoặc không nên, nói "ăn nằm", mà nói "ăn ở". Khi người vợ rưng rưng nước mắt trách cứ:
"Vợ chồng mình ăn ở với nhau bảy mặt con, không còn tình cũng còn nghĩa, mình nỡ lòng nào ăn nằm với con ở.
Bây giờ, nó chang bang một bụng, em biết ăn nói sao đây với con cái?"

Nghe thương xót biết mấy! Và, "ăn nói" trong tình huống này, có thêm nghĩa "giải thích, làm sáng tỏ", ở đây là lý do tại sao cái bụng chị ở không dưng càng ngày càng phình lớn một cách vô cùng khó hiểu.
Chuyển qua "ăn vụng". Nghĩa đen ý nói "giải quyết cái đói một cách lén lút": "Nhà tôi có tật ăn vụng ban đêm, khuya nào cũng thức dậy, xuống bếp lục cơm nguội." Chuyện nhỏ, không sao cả. Nhưng tới lúc nàng nghiến răng trèo trẹo cảnh cáo: "Tôi nói cho anh biết, anh mà lén tôi đi ăn vụng, tôi biết được, đừng có trách tôi ác!" Và, tới khi bạn gái trề môi nhún mỏ rỉ tai nhau: "Ai kêu, ăn vụng không biết chùi mép, bị vợ đuổi ra khỏi nhà, đáng đời!", thì chuyện đã… mọc trăng sao, đang tối thành sáng trưng. Hành động "ăn vụng" trở mặt, chỉ còn độc nhất một nghĩa bóng: "Đã có gia đình, còn lén lút ngoại tình."

Trực tiếp hay gián tiếp cùng nghĩa với "ăn", trong tiếng Việt có "ăn xin", "ăn mày": "Xin" người khác để có miếng ăn, để sinh sống. (Chữ "mày"  trong "ăn mày" ngụ ý gì, có dính dáng gì tới "mày ốc", "mày ghẻ" hay không, người viết không rõ. Tìm trong tin mạng, thấy bác Google phán: "mày" có nghĩa bóng là "của bố thí".) Không riêng gì ở Việt nam, mà khắp nơi trên thế giới, đều có người ăn mày. Thậm chí, như ở Việt nam, nghe nói có cả làng sống bằng nghề ăn mày, từ đời cha tới đời con (?). "Ăn mày", lẽ đó, nghiễm nhiên trở thành cái nghề. Để rồi, từ "nghề" chuyển ra "nghiệp", đâu mấy hồi. Sinh ra, vướng nghiệp "ăn mày", cuộc đời hẳn nhiên rách, rách tả tơi. Đâu mấy ai nhờ đó mà "ăn nên làm ra"?

Qua tới các động từ "ăn cắp", "ăn trộm", "ăn cướp" thì đột nhiên "ăn" không còn ý nghĩa là hành động giải quyết cái đói nữa (hay có, nhưng rất gián tiếp), mà: lấy của người khác làm của riêng.
Ca dao có câu:
Con ơi học lấy nghề cha,
Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm.

Thì ra, không phải chỉ có nghề "ăn mày", có cả nghề "ăn trộm" nữa kia. Và, cái nghề này hứa hẹn một tương lai sáng sủa hơn nhiều. "Ăn trộm" trúng mẻ, trời ạ, "thu nhập" ngang ngửa ba năm làm. Nghe bắt ham!
Dĩ nhiên, đã là nghề thì phải có trường ốc đào tạo, để học viên rành rẽ bài bản sáu câu mùi mẫn sau khi tốt nghiệp học đường "ăn mày", và có chiến thuật tiến thoái gọn gàng, êm thắm, không để lại dấu vết khi thành tài "cử nhân ăn trộm". Theo học trường ốc ở đây, học viên không cần ghi danh, đóng lệ phí, cũng không nên hy vọng sẽ có ngày được bảng vàng ghi tên. Tất cả tuyệt chiêu, mánh mung được "sư phụ" tận tình chỉ giáo cho "đệ tử", và hẳn là lén lút theo truyền thống dân gian truyền khẩu, cha truyền con nối. Vì vậy, không thấy lưu lại sách vở, tài liệu gì, để hậu bối đưa lên tin mạng cho người viết tiện việc tra cứu.

Trong khi "ăn cắp" và "ăn trộm" mang nghĩa lén lút, lặng lẽ, lấm lét, lạnh lùng lấy "cắp" và lấy "trộm" của người khác làm của riêng, thì "ăn cướp" là dùng võ lực lấy công khai, nhiều khi sử dụng cả dao găm, súng đạn để tước đoạt cho bằng được.
Con ơi nhớ lấy câu này,
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.

Khổ cho dân mình quá! Nhưng không phải chỉ có khổ không đâu, cũng có trường hợp dân chúng nhờ cướp mà sướng. Thời xưa, ở Tây có anh hùng Robin Hood, ở Tàu có "108 anh hùng Lương Sơn Bạc" là những anh hùng thổ phỉ, cướp của người giàu, phân phát cho dân nghèo. Sướng không? Rủi thay, chỉ sướng… ảo, vì các vị anh hùng thảo khấu nêu trên toàn là những nhân vật huyền thoại. Thời nay, tin mạng loan tin, ở Mỹ có anh quản lý ngân hàng "vừa bị tuyên án 41 tháng tù giam vì tội đã lấy tiền ở một số tài khoản của ‘người giàu’ bù vào tài khoản của ‘người nghèo’ tại ngân hàng nơi anh ta làm việc." Khi bị phát giác, anh được các nhà tâm lý học chẩn bệnh, rằng anh mắc phải "hội chứng Robin Hood" (Robin Hood syndrome). Dù vậy luật sư vẫn không cứu vãn cho anh được trắng án. Thì ra, ngoài "hội chứng ăn cắp", danh từ khoa học là Kleptomania, còn có thêm "hội chứng ăn cướp"! Biết đâu chừng, dám có cả "hội chứng ăn chực, ăn khín" nữa, mà quý ông Sigmund Freud, Carl Gustav Jung chưa tìm ra!

Đàn bà, con gái khi trong nhà không có gì ăn, tối tối ra đường ăn… sương, riết thành chuyên nghiệp. Người nào lỡ mang tiếng "gái ăn sương", không được ai thương hại, mà còn bị bêu rếu. Thời đại bây giờ, phụ nữ không còn độc quyền hành nghề này nữa, cả nam giới và, buồn thay, ngay cả thiếu niên nam nữ cũng nhảy vô cạnh tranh. Còn động từ "ăn đêm", tôi nghĩ, không hẳn đồng nghĩa với "ăn sương", mà gần với "ăn khuya" hơn. Ngoài ra, còn được dùng để chỉ "hành động đi kiếm mồi trong đêm tối" của muông thú, như trong bài đồng dao ru con:
Con cò mày đi ăn đêm,
đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao…
Ỷ mạnh hoặc vai vế lớn, người miền Bắc nói "bắt nạt", người miền Nam dùng động từ "ăn hiếp". Chúng ta thường nghe trẻ con hài tội lẫn nhau trong lớp học:
"Thưa cô, trò A ăn hiếp con, mượn con cục gôm, con đòi không chịu trả, còn kí đầu con nữa!"
Khi có kẻ thừa cơ "chôm" của, hoặc đợi anh hùng hảo hán ra tay trước, rồi hùa theo lấy, người Việt mình nói "ăn hôi". "Ăn tàn" trong thành ngữ "theo đóm, ăn tàn" cũng có nghĩa tương tự.
"Cái thằng đó là hạng người ‘theo đóm ăn tàn’, không hiểu sao mầy ăn ở với nó tới sáu mặt con!" Nghe nhục nhã lắm! Còn "ăn mót" nghe lại thấy tội: "Vợ chồng nó chuyên môn ăn mót lúa của người ta mà sống", và chẳng có gì đáng hãnh diện. Ấy mà tục ngữ có câu:
Muốn ăn cơm ngon, lấy con nhà đi mót.
Muốn ăn canh ngọt, lấy con nhà bắt cua.
Câu đầu, người viết không biết phải hiểu sao cho đúng. Có lẽ ở đây không hẳn chỉ nói chuyện đi mót lúa đem về nấu cơm? Và cả hai câu hàm ý bóng gió, khuyên người đời nên biết chọn ý trung nhân cho đúng… tâm nguyện "ăn uống" chăng?

Còn "ăn" trong "ăn quịt" nguyên thuỷ hẳn có nguồn gốc "ăn xong, lỉnh mất, không trả tiền". Về sau được dùng chung cho mọi trường hợp, khi tiền bạc không được thanh toán sòng phẳng. Hai bà chủ nợ khuyên nhủ nhau:
"Chị coi chừng cái thằng cha X, bản mặt nó bảnh bao vậy chớ chuyên môn mượn tiền rồi ăn quịt."
Còn chuyện "ăn chận" hay "ăn chặn" có nghĩa "lấy bớt". Những chuyện "ăn" nầy thường xảy ra trong "xã hội đen": Mấy tay đầu nậu, ma cô ma cạo "ăn chặn" tiền của băng đảng ăn xin, đĩ điếm đứng đường. Hãy nghe chị Nguyễn thị X., ăn sương bất hợp pháp ở phố Tây ba-lô, bị cảnh sát bắt quả tang, van nài: "Mấy ông tha cho tui lần nầy. Tại tui cần tiền nuôi mẹ già con dại, chồng bại liệt, nên mới làm cái nghề nầy. Kiếm được mười, bị thằng bảo kê ăn chặn mất bảy. Tui hứa, từ rày về sau sẽ làm ăn lương thiện."

Cũng là "ăn chận", nhưng hợp pháp, thường thấy trong thị trường mua bán bất động sản, gọi là "ăn huê hồng" theo phần trăm, ký kết giao kèo đàng hoàng. Những người hành nghề nầy, theo ngôn ngữ hậu hiện đại, được mang danh xưng "bác sĩ nhà đất". Ông bác sĩ nầy không có phòng mạch cũng chẳng chữa bệnh ai, mà chỉ lo kinh doanh chuyện nhà đất, hưởng tiền hoa hồng. Những khi trúng mối, bán được nhà cho Việt kiều mệnh danh "triệu phú chả giò" hay "tỷ phú bánh mì", kiếm bộn bạc chứ chẳng chơi.
Khi "ăn" cặp kè với "vạ", ngộ nghĩnh thay, "ăn" bay mất nghĩa gốc. "Ăn vạ" là tiểu xảo thường thấy ở tâm lý lì lợm của trẻ con và… cầu thủ đá banh. Nhiều bà mẹ thường than phiền:
 "Thằng út nhà tôi, mỗi lần đòi gì không được là lăn ra ăn vạ, khóc lóc thảm thiết, thấy ghê lắm!"
Hoặc:
"Cầu thủ Y cố tình ăn vạ, thay vì được quả phạt đền, lại bị trọng tài phạt vạ thẻ vàng."
"Ăn" trong trường hợp này, có lẽ gián tiếp ngụ ý "cầu thắng, để đạt được mục đích" chăng?

Tản mạn thêm chuyện bài bạc. Tứ sắc là trò chơi bài lá thông dụng ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Người viết biết chơi bài nầy từ nhỏ, được má, dì và bà ngoại chỉ vẽ vào những dịp Tết. Thông thường, tứ sắc gồm bốn tay. Khi chơi có luật, nói theo "ngôn ngữ tứ sắc", cấm "ăn sang sông". Có nghĩa đại khái, tay bài không được phép xé đôi trong bộ tướng-sĩ-tượng, xe-pháo-mã hay bộ chốt để "ăn" bài trên tay của hai người ngồi bên phải đánh ra hoặc kéo từ trong "nọc", giành mất cơ hội của người khác. Như vậy, từ "ăn" trong trường hợp này, có nghĩa là "giành lấy" (lá bài tứ sắc) về phần mình. Ai chơi trái luật, bị bắt quả tang, sẽ bị phạt đền, bù tiền cho những người thua bàn ấy.   
Cũng chuyện đỏ đen, bài bạc. Vợ chồng Năm Chuột là dân cờ gian bạc lận, sống bằng nghề "bài ba lá". Ngày nào đi làm về, anh Năm cũng bị vợ vặn hỏi:
"Bữa nay ăn thua sao rồi?"
Không thoát đi đâu được, "ăn" ở đây đồng nghĩa với "thắng". Giống như trong thành ngữ "ăn thua đủ", có nghĩa "so tài đọ sức cho tới lúc thắng thua minh bạch mới thôi":
"Tư Lùn là tay anh chị thuộc hạng dế ốc tiêu, vậy mà gan cùng mình, dám ăn thua đủ với dế cơm Hai Búa, không sợ sứt càng gãy gọng sao ta!"
Hoặc trong "ăn gian": Gian lận để thắng. Nhưng nhiều khi còn được sử dụng thay cho "gian dối":
"Cô hoa hậu ăn gian chiều cao, lùn xịt 1 thước 55 thôi mà dám nổ, nói cao 1 thước 70!"

Chuyện nhỏ. Còn có người "ăn gian" trí thức nữa kia! Hãy nghe chị em bạn gái tâm sự với nhau:
"Chị lấy nó về làm chồng, mới biết nó là đứa ăn gian bằng cấp, đi du học Liên-xô chỉ được bằng phó tiến sĩ thôi, mà dám khoe mình là tiến sĩ, nghe có tức không?"
Khi ai muốn dằn mặt, cảnh cáo kẻ khác, chỉ cần đeo vũ khí, đạn dược cho "ăn" là đủ:
"Nói cho mầy biết, chớ có đụng vô con nhỏ đó, chồng nó cho mầy ăn dao tức thì!"
Hoặc khi đi chung với những hành động không mấy nhẹ nhàng như "tát", "đấm", "đá", v.v… thì "ăn" có nghĩa "nhận lãnh, gánh lấy hậu quả" không mấy êm đẹp. "Con bé coi vậy mà dữ, tao chỉ mới khều mông một cái nhẹ hều, đã bị nó cho ăn tát." Đối với trẻ con, ăn gì cũng thích, chỉ không hảo mấy món "ăn đòn", "ăn roi", "ăn chổi lông gà", v.v… mà thôi.

Gặp trường hợp bà mai đưa ảnh cho anh chàng kiếm vợ coi mặt, thòng theo câu nói:
"Tại con nhỏ chụp hình không ăn ảnh, chớ ngoài đời cổ ngó coi đẹp gái lắm, chú à!" Hoặc có ai đó chặc lưỡi xuýt xoa: "Cô đào X lúc nhỏ té thùng đinh, mặt rỗ như tổ ong, vậy mà tô son dặm phấn lên sân khấu, ăn đèn dễ sợ!"
Từ "ăn" trong những trường hợp này, bỗng dưng mất bén nghĩa gốc, mà có nghĩa "thích hợp, hoà hợp" với kỹ thuật chụp ảnh trong "ăn ảnh", hoặc với ánh đèn sân khấu trong "ăn đèn".
Nghĩa cũng gần như vậy, người Việt nói "ăn nhịp", thường được sử dụng khi đàn ca hát xướng, và "ăn khớp" để chỉ trường hợp nói năng, hành động sao cho hợp lý, không mâu thuẫn nhau. Anh dẫn em đi quán bia ôm, trước khi về nhà, thằng anh thủ thỉ dặn dò thằng em:
"Má hỏi, mày nhớ nói là mình đi ăn sinh nhật bạn cho ăn khớp, không thôi bả đánh nát đít!"
Cùng nghĩa như vậy, nhưng đi đôi với tiếng… nước ngoài, Việt ngữ có động từ "ăn rơ", với "rơ" được phiên âm từ jeu (trò chơi, cuộc chơi) của tiếng Pháp. "Trời ơi, chị em nhà Williams chơi quần vợt đôi ăn rơ với nhau hết sức." Lẽ đương nhiên, cách nói này chỉ bắt đầu thông dụng từ khi có mặt người Pháp, ở thành thị, cũng như trong giới có… ăn học, hoặc làm dáng trí thức.

Phần trên có nhắc tới động từ kép "ăn ở", ngoài ý nghĩa "đời sống vợ chồng" còn hàm ý chỉ "cách xử thế, đối đãi" với nhau, như trong trường hợp vợ Năm Chuột than thở cùng chồng:
"Lúc nào vợ chồng mình cũng ăn ở hiền lành, phước đức, mà sao nghèo hoài hổng biết!"
Nhưng khi người mẹ xẳng giọng với anh con trai đã ngoài năm mươi vẫn còn độc thân:
"Mầy cứ ăn ở keo kiết như vậy, có chó cái nó lấy mầy làm chồng."
Hoặc khi cô con gái lắc đầu nguây nguẩy:
"Con không ưng anh ấy đâu, người gì mà ăn ở dơ dáy như heo!"
Nghĩ kỹ, thấy ra "ăn ở" đổi nghĩa hoá thành "thói ăn nếp ở" hoàn toàn có tính cách cá nhân, không đụng chạm gì tới người khác.

Thành ngữ Việt Nam có vô số câu liên quan tới "ăn". "Ăn không", tiếng miền Nam, cùng nghĩa với "ăn vã", tiếng miền Bắc, ý nói, chỉ ăn món chính, không kèm theo cơm, cháo, v.v… Khi đi chung với "ngồi rồi", thành "ăn không ngồi rồi", có nghĩa "rỗi việc", nhưng không mấy tốt, gần như "vô tích sự". Hãy nghe người vợ than thở:
"Từ khi anh ấy bị muỗi voi chích tới giờ, suốt ngày ảnh ăn không ngồi rồi, bí rị một chỗ, thấy chán lắm!"
"Ăn xổi", với trạng từ "xổi" ("qua loa, tàm tạm", thí dụ: cà pháo muối xổi), thuần tiếng Bắc, đi chung với "ở thì" ("ở ngắn hạn, nhất thời, có giai đoạn"), thành "ăn xổi ở thì": nghĩa đen ý nói kẻ nào ăn ở với ai đó một thời gian ngắn để trục lợi, nghĩa bóng ám chỉ hạng người chỉ biết lợi dụng, bạc tình bạc nghĩa.
Truyện Kiều có đoạn, khi chàng Kim lơi lả buông lời ong bướm, ngôn ngữ hiện đại nói là "thả dê", đòi… ăn nằm, nàng Kiều bèn thỏ thẻ xổ… Nho và thành ngữ cảnh giác:
"Phải điều ăn xổi ở thì,
Tiết trăm năm, nỡ bỏ đi một ngày! "
Rõ là nàng Kiều được Vương ông Vương bà dạy cho "học ăn, học nói, học gói, học mở" khéo thì thôi! 
- Nếp ở:
Bàn thêm chuyện ăn uống. Ở miền Trung, miền Nam, những khi giỗ quải người ta thường làm bánh ít để cúng. Bánh được làm bằng bột nếp, nhưn đậu hay dừa, gói bằng lá lùn và lá chuối, rồi đem hấp. Nhưng cũng có loại bánh ít không lông không lá gì hết, mang tên bánh ít trần. Cổ tích dân gian có truyện "Trần Minh khố chuối". Nhân vật chính tên Trần Minh, con nhà nghèo, nghèo mạt rệp, không có áo để mặc, phải xé lá chuối làm khố. Viết tới đây, người viết băn khoăn, bật ra thắc mắc, không rõ cái họ Trần trong tên Trần Minh có phải dùng ám chỉ người con trai tên Minh không mặc áo? Người viết không dám võ đoán, chỉ biết chắc một điều, "ở trần" có nghĩa "không mặc áo". Còn "ở truồng" là "không mặc quần". Ở Việt Nam, trời nóng, đàn ông con trai ở nhà thường "ở trần" cho mát. Còn phụ nữ, đôi khi có người đãng trí chín mươi chín phần trăm, mặc áo dài, nhưng quên mặc quần, cũng gọi là "ở truồng". Ai đó, liều mình xếch-xy trăm phần trăm trước công chúng, gọi là "trần truồng". Có điều, chưa nghe ai nói "ở trần truồng" bao giờ!

Có chuyện tiếu lâm: Người múa được gọi là "vũ công", người dạy khiêu vũ là "vũ sư". Còn cảnh hai người đàn bà nhào vô "ăn thua đủ" trong màn đánh ghen gọi là gì? Câu trả lời hợp lý nhất: "Vũ xếch-xy".
Khi đứng trơ trọi một mình, "ở" có nhiều nghĩa, và không phải chỉ đóng vai trò động từ: "Anh lại đây với em tối nay nghen! một mình, em sợ ma quá hà!", mà cũng có thể là giới từ chỉ định xuất xứ, vị trí: "Cô ấy quê mới lên, nên ưa đi chân không trong nhà."
Khi "ở" kết bạn với "đậu", "trọ" hoặc "ké", có nghĩa "sống nhờ, sống cậy" vào người khác một khoảng thời gian ngắn. Đi chung với "đợ", hoặc với "người" thành "người ở": "tới sống chung để giúp việc nhà có lãnh lương".
"Con nhỏ đó dưới quê lên Sài gòn ở đậu nhà bà con, chờ kiếm ra chỗ ở đợ."
Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có sáng tác bài hát tựa đề "Ở trọ", nội dung không dính líu gì tới mấy chuyện cậy nhờ đợ đậu vừa nói ở trên, mà hoàn toàn khác. Thử nghe lại vài câu:
"Con chim ở đậu cành treCon cá ở trọ trong khe nước nguồn  Tôi nay ở trọ trần gianTrăm năm về chốn xa xăm cuối trời ..."

Hẳn là người nhạc sĩ muốn mượn triết lý Phật giáo, ví von trần gian, còn gọi là cõi ta-bà theo ngôn ngữ nhà Phật, là chỗ trọ của chúng sinh. Đời người ngắn ngủi như một sát-na, thoảng qua như chớp mắt, tựa hồ quãng thời gian ở tạm trong chuỗi luân hồi dằng dặc.
Với "ở vậy", theo người viết, có hai nghĩa: "ở vá": độc thân, không lập gia đình (có tự điển ghi thêm, "vá" cũng còn có nghĩa như "goá"). Hoặc, "ở goá": sau khi vợ hoặc chồng chết, không lấy người nào khác. V.v… và v.v… Tựu trung, trong tất cả những trường hợp nêu trên, "ở" có nghĩa "hoàn cảnh gia đình".
Ở trên có nhắc tới "ăn không", với "ở" ta có "ở không": rảnh rỗi, không làm gì cả. "Nhân lúc vợ ở cữ, thi sĩ ở không, bèn lấy giấy viết tí toáy làm thơ tình gởi đăng nhật trình." Tới đây, ta có thêm "ở cữ": hoàn cảnh, thời gian sau khi sinh nở, cần kiêng cữ.
Thời trước, thi sĩ trào phúng Tú Mỡ có làm bài thơ tựa đề: "Sư cô ở cữ".
"… Nhưng rồi một sáng mùa thu,
Người ta thấy vị ni cô sượng sùng.
Bụng đeo cái trống cà rùng,
Đến nhà thương để tìm phòng khai hoa …
"Ăn" với "ở", tóm lại, thường đi đôi với nhau như hình với bóng, như đũa có đôi, như môi răng, miệng lưỡi đặc thù hương vị ngôn ngữ của người Việt. Người viết xin được kết thúc bài tiểu luận ở đây với câu ca dao "hậu hiện đại" tự biên tự chế:
Ăn có đũa, ở có đôi.
Bậu ơi, khéo giữ trọn đời có nhau.


Ngô Nguyên Dũng

(Đức, Nhuận sắc, 12.2017)

Kim Phượng st

 

Ảnh bìa facebook tết hoa đào- Hình 1

Những Mùa Xuân Thanh Bình Cũ - Penseé Đà Lạt

  • Đăng tại Truyện

Những Mùa Xuân Thanh Bình Cũ

**  Penseé Đà Lạt **

Khi  ngọn gió đông thổi ập vào thành phố nhỏ cùng với những trận mưa tuyết đổ xuống làm trắng xóa mọi lối đi, ngàn cây nội cỏ,  là lúc bà Thùy thấy nhớ quê hương da diết. Bà thì thầm một mình: “Tết sắp đến nơi quê nhà mình rồi!“. Hình ảnh cha mẹ già và các em còn lại ở Việt Nam với cái không khí sắp đến Tết Nguyên Ðán khiến hai vai  bà run lên trong nỗi nhớ gia đình ngập tràn trong lòng, nước mắt bà trào ra những giọt nóng, rơi xuống gò má giá lạnh của người đàn bà đã ngoài ngũ tuần. Bà Thùy cảm thấy cô đơn quá trong căn nhà rộng thênh thang này. Chồng bà đang ở chỗ làm, hai con gái đứa đã có gia đình riêng, êm ấm bên chồng con; đứa đi học ở tỉnh xa, lâu lâu mới về thăm. Bạn bè bà vẫn nói với bà bằng giọng so sánh: „Số của chị an nhàn sung sướng, có mấy ai được như vậy đâu“. Quả đúng như vậy. Ðã định cư gần 20 năm ở nước ngoài, tuy không giàu có nhưng ổn định vì cả hai vợ chồng bà đều có việc làm đều đặn, con cái đã trưởng thành, học hành tới nơi tới chốn. Bà chẳng còn mơ ước gì khác nữa, nhưng… sao cứ những ngày giáp Tết VN thì bà Thùy lại cứ thấy tim bà như thắt lại, rồi bà ngồi suy tư, nghĩ ngợi nhiều lắm. Bà tự hỏi vì sao dân mình lại sống xa nhà nhiều đến thế, trước kia có mấy ai thích đi xa gia đình, xa những người ruột thịt bao giờ?  Bà thấy nghẹn ở cổ và nghe khó thở quá khi nghĩ ra được cái nguyên nhân đắng nghét khiến gia đình bà và nhiều người khác phải lìa bỏ quê hương sống rải rác khắp mọi nơi trên quả địa cầu này. Hai mắt của bà bỗng dưng ráo hoảnh, bà tỉnh táo hơn khi nhớ lại những cái Tết Nguyên Ðán thanh bình trước đây khi bà còn là cô gái nhỏ mười một, mười hai  tuổi…

doc dao phien cho tet “mot nam mot lan” o giua thu do - 3

„…Ðầu tháng Chạp Âm lịch, gia đình cô bé Thùy đã rộn ràng nhập hàng hóa để bán cho dịp Tết. Nhà ở và cũng là cửa hàng số 246 nằm trên  đường Võ Di Nguy Phú Nhuận, đối diện với  trường Tiểu Học Võ Tánh, nơi Thùy học. Căn nhà dài lắm,  đâu chừng 32 mét mà cô bé Thùy suốt ngày lăng xăng, ra vào không biết mỏi chân. Những lúc đông khách, tuy còn nhỏ nhưng cô đã có thể ra phụ với cha mẹ và anh trai những công việc như gói hàng, thối lại tiền cho khách… Thùy ưa thích được làm công việc này lắm, nên những khi vừa tan trường từ con đường trước mặt, băng qua vào đến nhà, cô cất cặp rồi ra ngay cửa hàng để cùng được „bận rộn“ với gia đình mà thấy lòng cô vui khôn tả.

Dù bận rộn với công việc kinh doanh, cha của cô lại là người có tâm hồn nghệ sĩ đáo để. Những lúc cửa hàng vãn khách, khi con đường Nguyễn Huệ đã có chợ hoa, ông xách máy hình lang thang dọc theo phố hoa để „săn ảnh". Ông chụp bất kỳ những gì ông bắt gặp. Nếu là những phụ nữ duyên dáng xinh đẹp đang lựa mua hoa Tết, chụp xong ông còn hỏi địa chỉ để gửi tặng. Ảnh đen trắng rửa ra nhiều đến hàng trăm tấm khổ nhỏ, đa số là ảnh phụ nữ e ấp bên các loài  hoa, số còn lại là những chậu hoa, loài hoa đẹp mà ông đã chụp vì thú vui đến quên cả vợ con đang tất bật buôn bán ở nhà!.

nhung-dieu-dac-biet-chi-co-o-tet-mien-nam

Một hai tuần trước Tết, cha cô bé Thùy chở về nhà hàng chục cây hoa để chưng tết. Nào là Thược Dược vàng, tím;  Cúc Đại Đóa trắng, vàng; Vạn Thọ bông lớn, màu vàng đậm, nhạt. Hai bên cửa hàng ông đặt 2 chậu Quất xum xuê những quả tròn lẳn, da vàng bóng láng, kết lủng lẳng những bao lì xì in hình mấy ông Phúc, Lộc, Thọ trông thật bắt mắt. Khách vào mua hàng đều trầm trồ trước những cây cảnh được bày trí, và khách còn vui lòng hơn khi nhận được những bao lì xì „lấy hên“ từ tay cô bé Thùy trao tặng. Bên trong phòng khách cũng tràn ngập hoa Tết khiến căn nhà như rực rỡ, vui tươi hơn trong dịp xuân về.

nhung-dieu-dac-biet-chi-co-o-tet-mien-nam

Trước ngày đưa ông Táo về trời hai ba bữa, vì là con trai lớn nên anh của cô bé Thùy được phép lau chùi bộ lư đồng trên bàn thờ ông bà nội của cô. Anh vừa làm vừa huýt gió nghe vui lắm vì anh đã được cha cô hứa sẽ mua cho chiếc xe Honda mới, thay cho chiếc xe đạp „cuộc“ đã cũ để đi học và để „lấy le“ với bạn bè cùng trường. Còn cô, vào giữa trưa, lúc cửa hàng đóng cửa, cùng mẹ đi chợ mua sắm đồ cúng đưa ông Táo vào ngày Hai Mươi Ba tháng Chạp Âm lịch. Cô thấy mẹ cô mua trái cây đủ loại, nhang đèn, giấy tiền vàng bạc và một xấp giấy nghe gọi „Cò bay, ngựa chạy“ gì đó mà không thể thiếu được. Rồi bà dẫn cô tới khu bán cá, chọn mua một con cá chép thiệt bự, mang về nhốt trong thau, đổ nước cho nó còn sống, bơi lội thỏa thích chờ đến giờ cúng thì đặt nó trước bàn thờ có  hoa quả, bánh trái, rượu đế đã dọn sẵn. Cha cô thắp nhang, lâm râm khấn vái một hồi, ông lấy xấp giấy tiền vàng bạc và cả xấp „Cò bay, ngựa chạy“ châm lửa đốt trong một cái thau nhôm. khi cháy gần hết, ông đổ 3 chung rượu cúng vào, đứng dậy xá xá mấy cái rồi bắt con cá bỏ vô thau nước trở lại. Ông nói phải làm y như vậy thì ông táo mới có „tiền“ làm lộ phí về trời, „báo cáo“ tốt đẹp những gì đã xảy ra trong gia đình nhà ông suốt một năm qua.

nhung-dieu-dac-biet-chi-co-o-tet-mien-nam

Những ngày sau đó chỉ còn cha và anh của cô bé Thùy cùng với sự trợ giúp của một người anh họ đứng bán hàng cho tới tận trưa Ba Mươi Tết. Mẹ của cô lo đi chợ mua nếp, đậu xanh, thịt mỡ, lá chuối, dây lạt, để chiều Hai Chín tháng Chạp, bà trải chiếu ngồi giữa căn bếp rộng, quây quanh là đủ thứ đồ dùng cho việc gói bánh tét, bánh ít. Bởi nhà nhiều con nên mỗi năm má của cô gói hơn hai chục đòn mặn, ngọt đủ cả treo đầy gác bếp. Mùi bánh tét khi nấu chín thơm lừng hương nếp quện với mỡ thịt, khiến cô nghe thèm chảy nước miếng. Ngoài ra mẹ cô còn đặt trên bếp một nồi thịt, kho với trứng hột vịt và nước dừa tươi hấp dẫn. Món này cuốn bánh tráng, dưa giá, củ kiệu thì ngon „tuyệt cú mèo“! Cái không khí rộn ràng, chuẩn bị cho những ngày sắp Tết trong nhà khiến tâm hồn non trẻ của cô náo nức chi lạ. Thường ngày cô buồn ngủ sớm, vậy mà sắp tới Tết, cô lẽo đẽo theo má  lụi hụi làm cái này, chuẩn bị cái kia tới khuya trờ khuya trật mới chui vô giường, báo hại sáng ngày tới trường, ngồi trong lớp cô ngáp dài ngáp ngắn, cũng may sắp tới Tết cô giáo dễ dãi cho học trò được vui chơi nhiều hơn bắt học hành chăm chỉ.

images1034190_1

Năm nay cô bé Thùy sẽ thêm một tuổi, cô sắp 13!. Cô reo lên khi mặc thử chiếc áo dài đầu tiên mẹ đặt may cho cô. Thật là ngộ khi lớp vải ôm sát lấy thân hình còn nhỏ xíu của cô khiến cô cứ giật mình từng chập vì cô tưởng cô không mặc thứ gì trên người. Chiếc áo dài may bằng loại vải gì mà nhẹ hều, đi qua đi lại một chút là hai tà áo trước sau cứ bay lên khiến cô lính quýnh đưa tay giữ chặt chúng lại. Cô nhìn bóng cô trong kiếng thấy mình cũng „ngồ ngộ“ dữ đa, cô toét miệng cười, xoay bên này, ẹo bên kia một hồi cô thấy tự nhiên hơn, hai tà áo có bay cô không thèm giữ lại nữa. Tết này cô sẽ „diện“ chiếc áo dài này mỗi khi đi chơi với gia đình nên cô cần „biểu diễn“ trước cho quen.

Sáng ngày Ba Mươi tháng Chạp Âm lịch, bà con nội ngoại của cô đem quà tới cúng hoặc biếu gia đình cô chất đầy một cái bàn dài trong phòng ăn. Thôi thì đủ thứ: Dưa hấu loại một mấy cặp, Bưởi Biên Hòa gần chục trái da vàng ươm, tươi rói; Vú sữa trái nào trái nấy bóng láng, da mỏng rất ngon... nhiều không sao kể hết. Cha của cô tiếp bà con mệt nghỉ, chị giúp việc nấu nước pha trà đãi khách không ngơi tay. Ngoài khách mua hàng phía trước, kẻ ra người vào nhà cô nườm nượp, cô quên không nói, cha cô là con trai độc nhất lãnh phần cúng tế nên mỗi năm Tết đến là nhà cô như mở hội.

Tới mười hai giờ trưa thì anh hai của cô ra kéo hai tấm cửa sắt đóng cửa hàng lại, mọi chuyên bán buôn coi như tạm nghỉ cho tới ngày tốt đã được cha cô coi kỹ trong cuốn lịch Tam Tông Miếu, mới khai trương trở lại.

Khi bà con đều đã ra về thì cha mẹ cô cũng chuẩn bị cho buối cúng Giao Thừa vào lúc nửa đêm mà cha cô gọi là Lễ Trừ Tịch. Cô còn nhớ như in lời giải thích của cha cô cho con cái hiểu thêm: „Trừ Tịch là giờ phút cuối cùng của năm cũ sắp bắt qua năm mới, giữa giờ Hợi ngày 30 hoặc nếu tháng thiếu, thì ngày 29 tháng Chạp năm trước và giờ Tý ngày Mồng Một tháng Giêng năm sau“.

Khi mẹ của cô đã sắp dọn xong các thứ để cúng như trái cây, bánh tét… trên bàn thờ tổ tiên và một mâm tương tự như vậy được đặt trước sân nhà, thì cha của cô bảo anh em cô đi tắm gội sạch sẽ, mặc những bộ quần áo mới vào để buỗi cúng được trịnh trọng hơn. Chẳng phải chờ đợi lâu khi những tiếng pháo đón Giao Thừa đồng loạt vang lên vào lúc nửa đêm, cả gia đình cô cùng đứng trước bàn thờ ông bà khấn vái với lòng ghi nhớ công ơn những người đã khuất, cầu mong một năm mới thịnh vượng an khang cho gia đình, con cái học hành tấn tới, ngoan ngoãn, hiếu đễ… Khi đứng dưới trời đêm Trừ Tịch, một bầu không khí linh thiêng thấm sâu vào tâm hồn cô bé Thùy, tỏa lan ra thành những xúc cảm về một quê hương thanh bình, xóm làng no ấm, sau nữa là tình cảm đầm ấm trong lòng cô đối với cha mẹ và anh em ruột thịt.

Hai loc dau nam 1

Lễ Giao Thừa ở nhà xong, cha mẹ cô cùng nhau đi lễ chùa Xá Lợi gần trường nữ Trung Học Gia Long, khi về thể nào cha cô cũng đem về một cành lộc hái từ cây cối trong vườn nhà chùa, những mong trong năm mới sẽ được Trời Phật ban cho nhiều lộc ăn, lộc để. Cha cô đem cành lộc này cắm chung vào bình hoa trên bàn thờ cho đến khi tàn khô. Có lần cha cô đi chùa một mình vì tuổi của mẹ cô năm đó không hạp để „xông đất“, e không đem lại những điều may mắn cho năm mới. Anh em cô thức suốt đêm ăn uống những thức ăn đã cúng trong lễ Giao Thừa hoặc cắn hột dưa, ăn mứt không biết chán.

Sáng ngày Mồng Một, cha mẹ cô sau khi đã làm lễ cúng ông bà xong, áo quần chỉnh tề ngồi ở phòng khách để anh em cô tới chào mừng chúc Tết. Anh trai cô đại diện cho đám con nít là cô và mấy đứa em còn nhỏ xíu chúc cha mẹ cô một năm buôn bán phát tài, mạnh khoẻ. Cha mẹ cô vuốt đầu anh trai cô khen ngoan và cũng chúc lại anh em cô nhiều điều tốt đẹp kèm theo những bao lì xì dúi vào tay…“

Có tiếng mở cửa lách cách từ chiếc chìa khóa khiến giòng hoài niệm của bà Thùy bị cắt đứt giữa chừng. Bà lên tiếng hỏi: „Anh về đó à?“. Ông Thư chồng bà còn đang đứng ở căn phòng nhỏ phía trước cửa chính cởi nón áo, miệng xuýt xoa: „Trời lạnh kinh khủng em à, sao em không mở lò sưởi lên?“. Vừa bước vào phòng khách, nhìn thấy bà ông kêu lên: „Em làm sao thế này, mặt nhợt nhạt thế kia…“, nhưng rồi ông khựng lại, nhìn vào mắt bà khẽ hỏi: „Em lại nhớ nhà phải không?“. Bà Thùy từ nãy giờ vẫn im lặng không trả lời chồng, nhưng đúng là vài giờ trước đây bà đang thả hồn về với cha mẹ của bà hiện nay đã rất già, hay đau ốm luôn. Bà thì thầm với ông Thư một câu mà bao nhiêu năm nay mỗi khi nhớ quê hương, cha mẹ, bà vẫn nói: - „Bao giờ mình có lại được những mùa xuân thanh bình xưa cũ, hở anh?“. 

Penseé Đà Lạt Những ngày cuối năm 2008

Hồng Vân sưu tầm

 

CÓ MỘT VIỆT NAM RẤT XƯA (Albert Kahn)

Có một Việt Nam rất xưa !
***********
Một ngôi chùa trên đường lên Tam Đảo, tháng 6 năm 1916/Có một Việt Nam rất xưa ! Chợ Bắc Lệ (xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn) 1915
August 19, 2017
Hà Nội và Việt Nam trong số 1382 bức ảnh mầu autochromes của Albert Kahn
 
14016206783_ff9ba44c69_z.jpg
Làng Na Sầm, vùng cao biên giới giáp Trung Quốc
13973093146_b2c62ec225_z.jpg
Mỏ đồng, 1915
13992999362_71a27a1f36_z.jpg
Chợ Bắc Lệ (xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn) 1915
13996230995_c7ba8be0b8_z.jpg
Bến sông Lô Việt Trì
14016194953_bf7ae2d1c2_z.jpg
Hòn Gai, 1915
13973094956_8615f91d92_z.jpg
Mỏ than Hòn Gai, 1918 – 1921
13973096336_d5c859fde6_z.jpg
Vịnh Hạ Long, 1915
13973097216_fd7bc04635_z.jpg
Thuyền trên vịnh Hạ Long, 1916
14016269103_855ed87828_z.jpg
Vịnh Hạ Long
13996712274_f68ab237a0_z.jpg
Vịnh Hạ Long
13996640324_cd329d5355_z.jpg
Sông Tam Bạc, Hải Phòng
13973104866_a20c8dbb0d_z.jpg
Một ngôi chùa trên đường lên Tam Đảo, tháng 6 năm 1916
13992995962_c07bef2e65_z.jpg
Bán gạo, 1914-1915
13993035172_cfcc58a9df_z.jpg
Quán nước và hàng quà rong
14016231903_22467d3096_z.jpg
Quán ăn trên đường quê 
13993072461_72717dd0ce_z.jpg
Quay tơ
13993057121_19b3578b63_z.jpg
Bật bông 

Hai ông nghiện ngồi uống trà và hút thuốc lào trong một tiệm hút - Hà Nội 1915
Nghệ sĩ tuồng, Hà Nội 1916
13993091112_80bd104cb2_z.jpg
Phường nhạc
13996233665_01c41c5827_z.jpg
Mấy mẹ con người hành khuất mù
14000028091_69731251a4_z.jpg
Lão mù vái khách xin độ nhật
14003635864_34158487e1_z.jpg    
 Những người phu bố mộ
13993076511_9703be9b21_z.jpg 
Cấy lúa
13993053651_0cdbbcb8ca_z.jpg
 Cấy lúa
13973134776_83c8c48bbb_z.jpg
 Cô bé chăn trâu
13996671164_fb7e4bc969_z.jpg
Phơi thóc sau vụ gặt
14016256613_622bd677fa_z.jpg
 Hái rau
13993081521_8e93ce4159_z.jpg
Đánh dậm
Thầy đồ viết câu đối để bán
13993006912_4d437bcae0_z.jpg
Quan huyện và các chức sắc tập trung tại huyện đường, 1915
13996736834_89321e3d81_z.jpg
Quan huyện đọc chiếu vua, 1915
13993091662_63cfb5083b_z.jpg
Một ông quan huyện Bắc kỳ, 1915 
14016291323_11db83bbf5_z.jpg
Một vị quan địa phương trong triều phục thường, 1916
14004320935_ce8e8578e4_z.jpg
Một viên đội
13993085552_6cf3467db2_z.jpg
Ông lý trưởng hút điếu bát
13993024521_f36322e69c_z.jpg
Hai người hút thuốc phiện, 1915
13996647334_07db077368_z.jpg
Têm trầu, 1916
14015450585_446eec13cc_z.jpg
Cơi trầu
13973184236_38cf9631bc_z.jpg
Trang phục đi hội
13996301015_cdfd415ba6_z.jpg
Các cô gái đóng vai con Tốt trong một ván cờ người, 1920
13993120301_0656366611_z.jpg
Mấy bé gái *, 1916
13996301195_4a9fe18a98_z.jpg
Phụ nữ miền Bắc nhuộm răng đen, 1915
13993093652_e47951a204_z.jpg
Một bà vãi và hai chú tiểu, khoảng 1916
13993030571_1b49e99122_z.jpg
Một bà đồng, 1916
13980091866_99b6e8a0f2_z.jpg
Một bà đồng ở quê
14016207813_f92810e582_z.jpg
Một bà đồng, 1915
13973153836_e380e02563_z.jpg
Cậu bé với chú gà chọi
13993003502_96d4b8980f_z.jpg
Một gia đình khá giả
14000028581_f6592bb0c6_z.jpg
Một phụ nữ đang nấu ăn
13993064302_607668f304_z.jpg

Ăn trầu
13993051541_b651523503_z.jpg
Hoa quả và lễ vật
13993038172_5e0160f628_z.jpg

Thuyền đò của người Hoa
Hai vợ chồng Tổng đốc tỉnh Hà Đông, Bắc VN năm 1915
Sông Tam Bạc Haiphong
Hongay (Hòn Gai), 1915
Một bà vãi và hai chú tiểu, khoảng 1916
Ông lý trưởng bên bình thuốc lào
Phố Hàng Thiếc, 1915
Mấy bé gái Bắc kỳ, 1916
Phố Hàng Gai, Hà Nội 1915. Có lẽ vào dịp tết Trung Thu, vì thấy bán lồng đèn
 
Theo dõi RSS này