Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (909)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (22)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (53)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (192)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Cuộc đời và sự nghiệp của ca sĩ Lệ Thu

Cuộc đời và sự nghiệp của ca sĩ Lệ Thu

Một đời ca hát lẫy lừng

¸.*¨*♫♪♪♫*¨*.¸¸

 

Trong làng nhạc trữ tình miền Nam trước năm 1975 với hàng trăm ca sĩ nổi tiếng, người ta thường nhắc nhiều nhất đến 3 nữ danh ca, đó là Thái Thanh, Khánh Ly và Lệ Thu. Điều đó cho thấy đóng góp to lớn của những nữ ca sĩ này trong tân nhạc Việt Nam.

 

 Click để nghe Lệ Thu hát trước 1975

Nếu như tên tuổi Thái Thanh đi liền với nhạc Phạm Duy, Khánh Ly thường được gắn với nhạc Trịnh Công Sơn, thì tên tuổi của Lệ Thu không đi liền với bất kỳ nhạc sĩ nào, nhưng cô là người trình bày rất thành công nhạc của rất nhiều nhạc sĩ là Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Trường Sa, Cung Tiến… và nhiều ca khúc tiền chiến, trữ tình khác trước năm 1975.

Ca sĩ Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh năm 1943 tại Hải Phòng và trải qua thời thơ ấu ở Hà Đông, tại đây cô được theo học đàn piano từ nhỏ. Lệ Thu là người con duy nhất còn lại trong số 8 anh chị em, 7 người còn lại bị mất từ sớm. Năm 1953 Lệ Thu cùng mẹ vào miền Nam sinh sống.

Tại Sài Gòn, gần nhà có một ông thầy dạy guitar và Lệ Thu theo học đàn hát được một thời gian. Cô cũng có mặt trong ban thiếu nhi của nhạc sĩ Ngọc Bích mang tên Tuổi Xuân, gồm có các tên tuổi mà sau này đều trở thành tên tuổi lớn là Mai Hương, Khánh Ly, Quỳnh Giao.

Ca sĩ Lệ Thu từng nói rằng cô đã gặp nhiều may mắn trong sự nghiệp rất suôn sẻ, ít gặp phải chướng ngại lớn. Khởi đầu sự nghiệp lừng lẫy của Lệ Thu chỉ là một sự tình cờ. Đó là vào năm 1959, khi vẫn còn đang theo học bậc trung học Pháp tại trường Les Lauriers ở Tân Định, Lệ Thu đi ăn sinh nhật người bạn cùng trường tại phòng trà Bồng Lai. Lúc đó bạn bè biết cô hát hay nên đề nghị lên hát góp vui, và Lệ Thu đã chọn hát bài hát đầu tiên là Tà Áo Xanh. Ông chủ của phòng trà cũng có mặt đêm đó, nhận thấy khả năng lớn của một cô gái mới 16 tuổi nên muốn mời cô hợp tác với phòng trà.

 

Lệ Thu năm 22 tuổi. Ảnh: Jimmy

Ban đầu Lệ Thu từ chối vì mẹ không thích cho đi hát chuyên nghiệp. Ông chủ đề nghị cô chỉ khoảng 2,3 bài mỗi đêm từ 9h-10h tối nên cô đồng ý và bắt đầu sự nghiệp ca hát của mình với một mức thù lao rất hậu hĩnh đối với cô gái còn đang đi học.

Mỗi ngày Lệ Thu vắng nhà 1 tiếng đồng hồ và giấu mẹ nói là tới nhà bạn để học. Tuy nhiên sau đó thì mẹ cô cũng biết và cấm cửa ở nhà, ông chủ phòng trà Bồng Lai phải tới thuyết phục và mời mẹ của cô đến phòng trà nghe con gái hát. Nhìn thấy tận mắt con gái được khán giả tận thưởng nồng nhiệt sau mỗi bài hát, cuối cùng mẹ của Lệ Thu cũng đồng ý.

Sau phòng trà Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ Mạnh Phát, sau đó nữa là vũ trường Tự Do vào năm 1962.

Thời gian đầu đi hát, Lệ Thu chủ yếu hát nhạc ngoại quốc giống như các đàn chị là Bích Chiêu, Bạch Yến, và bài hát nhạc Việt đầu tiên mà cô thu trong dĩa Sóng Ngọc là Xin Mặt Trời Ngủ Yên của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Từ đó Lệ Thu cảm thấy thích thú với nhạc Việt nên hát thêm một số ca khúc khác của Trịnh Công Sơn là Lời Buồn Thánh, Diễm Xưa… Một thời gian sau, Trịnh Công Sơn sáng tác bài Hạ Trắng và mời Lệ Thu hát thu âm đầu tiên vào dĩa nhựa.

Như vậy trước Khánh Ly thì ca sĩ Lệ Thu hát nhiều nhạc Trịnh nhất. Thời điểm nửa đầu thập niên 1960, Khánh Ly đã chuyển lên sinh sống ở Đà Lạt, và người được Trịnh Công Sơn mời đi hát du ca đầu tiên ở các trường đại học là Lệ Thu. Tuy nhiên cô chỉ tham gia được một thời gian ngắn thì được Jo Marcel mời hát độc quyền ở phòng trà Queen Bee, vì không còn thời gian nên Lệ Thu không đi hát du ca như vậy nữa, thay thế cô là ca sĩ Khánh Ly từ năm 1967, được Trịnh Công Sơn mời về từ Đà Lạt.

Từ sau đó Lệ Thu dần nổi tiếng và trở thành một ca sĩ quan trọng của các vũ trường lớn ở Sài Gòn và được báo giới gọi danh hiệu là “nữ hoàng phòng trà”. Nhà văn Duyên Anh, sau khi nghe Lệ Thu ca “Ngậm Ngùi” ở phòng trà Queen Bee, đã viết một bài báo gọi cô là “Giọng hát vàng mười”, nghĩa là giọng hát quý như vàng không có pha trộn.

Ca sĩ Lệ Thu từng lý giải cho thành công tột bậc của mình giữa rất nhiều ca sĩ khác, đó là vì giọng hát alto của cô rất khác biệt được lấy hơi từ bụng, mới lạ so với các đàn chị thường hát giọng mũi, nên được khán giả đón nhận nồng nhiệt.

Trong những năm 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu là một trong những yếu tố đưa khách đến với các vũ trường Queen Bee, Tự Do và Ritz. Năm 1968, Lệ Thu về cộng tác với chương trình Jo Marcel tại vũ trường Queen Bee. Ngoài việc đi hát hàng đêm cô còn ký giao kèo thu âm băng nhạc cho Jo Marcel, khởi đầu cho một thời kỳ vàng son nhất trong cuộc đời đi hát. Đến giữa năm 1969, Lệ Thu cùng với chương trình Jo Marcel dời về vũ trường Ritz trên đường Trần Hưng Đạo. Năm 1970 Lệ Thu trở lại với vũ trường Tự Do cho đến khi vũ trường này bị nổ hơn một năm sau.

Lệ Thu cũng tham gia các chương trình ca nhạc trên các đài phát thanh Sài Gòn, đài Quân đội và Mẹ Việt Nam và thu âm cho nhiều băng nhạc. Cô cùng với chồng lúc đó là ký giả Hồng Dương cũng thành lập hãng băng riêng và phát hành được một số băng nhạc tiếng hát Lệ Thu, nhưng băng nhạc Lệ Thu nổi tiếng nhất trước năm 1975 có lẽ là Sơn Ca 9 do nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thực hiện.

Những hãng băng dĩa mà Lệ Thu hợp tác thu âm trước năm 1975: hãng đĩa Việt Nam, Sóng Nhạc, Sơn Ca, Tình Ca Quê Hương, Dư Âm, Nhạc Ngày Xanh, Capitols.

Thâu băng cho các chương trình Shotguns, Thanh Thúy, Phạm Mạnh Cương, Diễm Ca, Nhã Ca, Thương Ca, Việt Nam, Cỏ May-Duy Khánh, Sơn Ca-Continental-Premier, Nhạc Trẻ, Song Ngọc, Siêu Âm, Bảo Thu, Anh Việt Thu, Trần Ngọc Đức, Jo Marcel, Mây Hồng.

Cùng với Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu là một trong những nữ ca sĩ nổi tiếng nhất của Sài Gòn trước năm 1975.

Khánh Ly – Lệ Thu – Thái Thanh

Lệ Thu cũng là một trong những nữ ca sĩ được nhiều nhạc sĩ viết nhạc cho nhiều nhất, có thể kể đến Nước Mắt Mùa Thu của Phạm Duy, Xin Còn Gọi Tên Nhau của Trường Sa, Chiếc Lá Thu Phai của Trịnh Công Sơn.

Ngày 28 tháng 4 năm 1975, Lệ Thu đến phi trường, bước chân đến máy bay chuẩn bị đi di tản, nhưng rồi cô quyết định quay về vì còn mẹ ở lại, và cô là con gái duy nhất.

Sau đó Lệ Thu nhận lời gia nhập đoàn kịch Kim Cương để đi trình diễn những ca khúc nhạc mới và có những thành công nhất định với các bài Tự Nguyện, Hà Nội Niềm Tin Và Hy Vọng. Khoảng năm 1978, Lệ Thu có mở một hàng cà phê mang tên con gái út là Thu Uyển trên đường Phan Tôn, Tân Định với sự cộng tác của Thanh Lan và nhạc sĩ Lê Văn Thiện.

Tháng 11 năm 1979, Lệ Thu cùng con gái út vượt biển đến Pulau Bidong, sau đó sang Mỹ vào giữa năm 1980. Hai năm sau hai người con gái lớn của Lệ Thu cũng vượt biên và đoàn tụ với Lệ Thu tại nam California.

Tại Hoa Kỳ, Lệ Thu tiếp tục đi hát và thu âm trong rất nhiều băng đĩa nhạc tại hải ngoại. Từ năm 2007, cô bắt đầu trở về nước để biểu diễn cho đến nay.

Đông Kha
Nguồn: nhacvangbolero.com

 

***********

 

Câu chuyện Âm Nhạc và Đời Sống của Danh Ca Lệ Thu-

do Nghệ Sĩ Trường Kỳ thực hiện vào năm 1999 ,tại Montreal . 

¸.*¨*♫♪♪♫*¨*.¸¸

Image may contain: 1 person

 LỆ THU ,tiếng hát một thời lừng lẫy trong thế giới ca nhạc Việt Nam giờ đây, một mình đơn độc trong căn nhà vắng lặng, nhìn lại mình, nhìn lại cuộc đời của một nghệ sĩ tiếng tăm, chị đã nhận ra một điều bất hạnh cho một kiếp cầm ca, nhất là đối với chị đã trên 40 năm mang tiếng hát của mình để tạo niềm vui cho đời, cho người.

?Người con cầu tự
Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, chào đời tại Hải Phòng ngày 16 tháng Bảy năm 1943. Thân mẫu chị đã sinh được tất cả tám người con, nhưng bảy người con đầu đều đã qua đời vào năm lên 3 tuổi. Lệ Thu là người con duy nhất sống được sau khi thân mẫu chị thụ thai trong một trường hợp rất đặc biệt như lời chị kể: "Trước khi sinh Thu, bà cụ đi đến chùa mới cúng vái gì đó. Cụ bảo là trong khi chờ đợi đến phiên mình cúng vì quá đông người, cụ nằm ngủ thiu thiu thì thấy một ông quan mặït đỏ tía tai, mặc áo long bào ẵm đứa bé trao cho cụ. Thế là cụ thụ thai Thu. Cụ thụ thai Thu thì nuôi được. Thế nhưng cụ cũng phải bỏ vào trường bà 'sơ' để cho 'sơ' nuôi chứ không dám nuôi ở nhà sợ lại 'đi đoong' nữa."
"Người ta qua đây người ta cầy hộc bơ ra, người ta đi làm bởi vì thấy trước cái nghiệp dĩ, cái ngành nghề, cái sinh hoạt của âm nhạc không có được liên tục như ở Việt Nam. Đáng lẽ mình phải nhìn thấy điều đó ngay để chuẩn bị cho mình một tương lai. Nhưng Thu dở quá, Thu không có chuẩn bị gì hết."
 
?Tình cờ ở Bồng Lai
Lớn lên trong một gia đình chị gọi là bất hạnh như vậy, Lệ Thu sống bằng sự đùm bọc của người mẹ là người vợ thứ của thân phụ chị. Vì gặp nhiều khó khăn do người vợ cả gây ra, hai mẹ con chị đã phải rời bỏ quê quán để vào Sài Gòn từ năm 1953. Nhờ sự tần tảo của mẹ, Lệ Thu theo học bậc trung học Pháp tại trường Les Lauriers vào năm 59, và một sự tình cờ đưa đẩy đã khiến cô học trò Bùi Thị Oanh đến với âm nhạc: "Một hôm, sau khi đi học về, bạn bè rủ đi chơi. Caœ đám kéo lên phòng trà Bồng Lai ngồi ăn, buổi chiều ở trên cái sân thượng. Bạn bè gọi người coi như là MC lúc đó giới thiệu Thu, bảo là yêu cầu cô này lên hát đi, cô ấy hát hay lắm. Xong rồi bọn nó cứ đẩy Thu lên hát. Bài đầu tiên là bài 'Dang Dở.' Vừa hát xong, ông giám đốc Bồng Lai ... ký giao kèo ngay. Thế là khởi đầu sự nghiệp từ đó."
Sau khi nhận lời cộng tác với phòng trà Bồng Lai, Lệ Thu vẫn tiếp tục đi học nhưng chỉ một thời gian sau vì quá yêu nhạc nên chị đã quyết định thôi học luôn để đi theo con đường ca hát.
Hát ở Bồng Lai được khoảng hai năm, Lệ Thu bắt đầu "cất cánh tung bay" về hát tại Trúc Lâm trà thất của nhạc sĩ Mạnh Phát, cũng là nơi cộng tác của nhiều giọng ca tên tuổi khác như Lệ Thanh và Thanh Thúy. Tiếng hát của Lệ Thu bắt đầu gây được tiếng vang qua những nhạc phẩm tình cảm với một giọng ca đặc biệt, khác hẳn những ca sĩ cùng thời.
 
?Cộng tác với vũ trường Tự Do
Đến năm 62, Lệ Thu sang cộng tác với vũ trường Tự Do. Nhờ từng theo học chương trình Pháp và có một số vốn liếng Anh văn khá vững vàng – theo học một thời gian ở trường Khải Minh – nên trong thời gian cộng tác với vũ trường này Lệ Thu đã chuyển sang trình bầy những nhạc phẩm ngoại quốc, nổi bật nhất là "La Vie En Rose," "A Certain Smile," "La Mer," "Love Is A Many Splendored Thing."
Trong thời kỳ này rất hiếm những giọng ca có thể hát được cả ba thứ tiếng Việt, Anh và Pháp nên Lệ Thu đã được khán thính giả dành cho rất nhiều cảm tình.
Cũng trong thời gian này, Lệ Thu thành hôn với một thanh niên tên Sơn, du học từ Pháp về. Hai người đã có với nhau hai con gái là Trang và Tú, hiện đều đã có gia đình và có cơ sở thương mại riêng và việc làm vững chắc ở Nam California.
Lệ Thu càng ngày càng nổi tiếng để trở thành cái đinh của những vũ trường lớn ở Sài Gòn, ngoài việc được biết đến qua những chương trình ca nhạc trtên các đài phát thanh Sài Gòn, đài Quân Đội và Mẹ Việt Nam. Những vũ trường Queen Bee, Tự Do và Ritz được khách nồng nhiệt chiếu cố trong thời gian từ 68 đến 71 một phần lớn nhờ ở tiếng hát Lệ Thu. Sân khấu và ánh đèn nơi vũ trường đã có một sức lôi cuốn lạ kỳ với chị.
Lệ Thu đã bỏ ra rất nhiều thời giờ để tập dượt một nhạc phẩm ưa thích: "Hồi ở Việt Nam, mỗi lần thích một bài nào đó là Thu tập miệt mài tới sáng đêm. Đi hát về 1, 2 giờ đêm vẫn còn tập hát cho đến sáng. Thí dụ như bài 'Serenade' chẳng hạn."
 
?Jo Marcel – Vũ trường Queen Bee
Năm 68, Lệ Thu về cộng tác với chương trình Jo Marcel tại vũ trường Queen Bee. Ngoài việc đi hát hàng đêm chị còn ký giao kèo thu thanh băng nhạc cho Jo Marcel, khởi đầu cho một thời kỳ vàng son nhất trong cuộc đời đi hát.
Đến giữa năm 69, Lệ Thu cùng với chương trình Jo Marcel dời về vũ trường Ritz trên đường Trần Hưng Đạo, để sau đó chị trở thành một nữ ca sĩ đắt giá nhất trong thời kỳ này nhờ lôi cuốn được một số khách kỷ lục. Những băng nhạc có tiếng hát Lệ Thu do Jo Marcel thực hiện, cũng có số bán vượt xa những băng nhạc khác phát hành cùng thời.
Sự nổi tiếng của Lệ Thu đã đưa đến sự tranh chấp của hai vũ trường Ritz và Tự Do trong vấn đề dành độc quyền tiếng hát của chị. Do một điều khoản trong giao kèo ký kết với Jo Marcel của Ritz, Lệ Thu đã không thể về hát tại vũ trường Tự Do với tiền lương mỗi tháng 1 triệu đồng, chưa kể đến số tiền thưởng riêng 2 triệu do sự thỏa thuận với giám đốc vũ trường này là Nguyễn Văn Cường. Do đó Lệ Thu đã cộng tác với Jo Marcel thêm một năm nữa, trước khi về hát với Tự Do cũng với số tiền thù lao kỷ lục như đã thỏa thuận từ trước. Lệ Thu trở lại với Tự Do vào năm 70 và kéo dài cho đến khi vũ trường này bị nổ hơn một năm sau. Từ đó cho đến biến cố tháng Tư năm 75, Lệ Thu vẫn giữ cho mình được một ngôi vị cao.
 
?Một thoáng phù du
Bây giờ nhớ về thời kỳ vàng son đó, Lệ Thu không hề tỏ ra tiếc nuối vì đối với chị tất cả chỉ là một thoáng phù du: "Điều tôi cho là quan trọng nhất là gì? Chính là cái tâm hồn của mình. Bởi vì tâm hồn của tôi nó nhậy cảm lắm. Tôi chỉ mong tìm được sự an bình thôi...chứ những cái hào nhoáng, những cái vinh quang cũng như những cái thăng, cái trầm, những cái tủi, cái vinh nó chỉ có một thoáng rồi thôi."
Lệ Thu thú nhận là rất thờ ơ trong việc ghi chép những gì liên quan đến những sinh hoạt của chị, đến cuộc sống tình cảm của chị "vì vậy cho nên Thu bỏ lửng mấy cái chuyện đáng lẽ là mình không nên bỏ lửng như vậy." Lý do như chị vừa nói đến từ cuộc sống đơn độc hiện nay bởi sự kém may mắn về đường tình cảm cũng như gia đình.
Sau khi đổ vỡ với người chồng đầu tiên, Lệ Thu kết hôn với ký giả Hồng Dương mà kết quả cũng không được tốt đẹp như cuộc hôn nhân trước đó, sau khi đã có với nhau một con gái tên Thu Uyển. Đường chồng con của chị đã khiến Lệ Thu thốt ra những lời chua xót: "Làm cái gì thì cũng cần có vợ có chồng với nhau. Còn Thu, Thu kém may mắn về cái đường gia đình quá à."
Nhìn lại một thời huy hoàng đã qua khi những ca khúc như "Ngậm Ngùi," "Hương Xưa," "Thu Hát Cho Người," "Hạ Trắng" hay "Serenade" đã đưa tên tuổi chị lên cao để trở thành một giọng ca rất được nhiều người hâm mộ, Lệ Thu tự an ủi để cho đó là một sự phù du của cuộc đời mặc dù không phải chị không thỉnh thoảng quay về với dĩ vãng.
Ai từng quen biết Lệ Thu đều phải công nhận chị là một người lạc quan và hay khôi hài, tuy nhiên hiện nay trong hoàn cảnh bơ vơ, đơn độc nơi xứ người Lệ Thu đã không tránh khỏi những bùi ngùi lo lắng khi nhìn tới khoảng thời gian còn lại.
Sau biến cố tháng Tư năm 75, Lệ Thu gia nhập đoàn Kim Cương đi trình diễn đó đây cho đến năm 79. Một năm trước đó chị cũng đã từng mở một quán cà phê mang tên con gái út của chị là Thu Uyển trên đường Phan Tôn, Tân Định với sự cộng tác của Thanh Lan và nhạc sĩ Lê Văn Thiện. Quán Thu Uyển đã thu hút được rất nhiều khách hàng, tìm đến để thưởng thức lén lút những âm thanh quen thuộc trước đó.
 
?Đến Pulau Bidong
Vào tháng Mười Một, 1979, Lệ Thu cùng con gái út vượt biên. Sau sáu ngày lênh đênh trên biển cùng với một vài nghệ sĩ khác như Ngọc Minh và Hoàng Thi Thao, Lệ Thu đã đến được Pulau Bidong và sau đó sang Mỹ vào giữa năm 1980. Hai người con gái lớn của chị cũng vượt biên đến đảo Galang và một thời gian sau cũng được đoàn tụ với chị tại Nam California.
Những ngày đầu trên miền đất lạ, Lệ Thu cảm thấy rất bơ vơ, không biết sẽ phải đương đầu với tương lai mình ra sao. Chị nhớ khán giả, nhớ những đêm vũ trường đã mang đến cho chị những niềm vui đầy ý nghĩa của một cuộc đời ca hát cho người mua vui.
 
?Tái ngộ khán thính giả ở Beverley Hills
Vào tháng Mười năm 1980, Lệ Thu đã tìm lại được một niềm vui lớn khi tái ngộ với khán giả trong một buổi trình diễn đặc biệt do Nam Lộc tổ chức tại Beverley Hills với một số người tham dự kỷ lục.
Một thời gian ngắn sau đó Lệ Thu đã được mời sang Paris trình diễn, và liên tiếp được khắp nơi mời đón. Ngoài ra, Lệ Thu còn cộng tác với nhiều vũ trường như Tự Do, Làng Văn và Maxim's.
Năm 1981, Lệ Thu đứng ra thực hiện băng nhạc đầu tiên tại hải ngoại mang tựa đề "Hát Trên Đường Tử Sinh" gồm những ca khúc về tỵ nạn, liền đó là băng nhạc "Thu Hát Cho Người" gồm một số nhạc phẩm đã gắn liền với tên tuổi chị.
Đến khi nhạc phẩm "Mười Năm Tình Cũ" ra đời thì chính tiếng hát của Lệ Thu đã khiến cho nhạc phẩm này của Trần Quảng Nam trở thành quen thuộc. Ngoài ra nhạc phẩm "Xin Còn Gọi Tên Nhau" cũng đã khiến tên tuổi của Lệ Thu tìm lại được chỗ đứng trong sự mến mộ của khán giả tại hải ngoại.
Theo Lệ Thu thì chị không có số buôn bán. Sau khi lấy được mảnh bằng về ngành thẩm mỹ, chị đã đứng ra điều hành một trung tâm thẩm mỹ, nhưng chỉ được một thời gian cũng phải đóng cửa. Mấy năm gần đây chị lại mở một quán ăn nhưng cũng không tồn tại được bao lâu. Những sự thất bại đó đến từ sự thiếu chăm sóc vì những lần đi hát ở xa.
 
?Một mình trong căn nhà vắng
Những ngày đầu tiên chị cư ngụ ở thành phố Costa Mesa, rồi dọn về Garden Grove và mua nhà ở đây với các con. Sau khi các con chị thành tài và ra ở riêng, chị phải bán căn nhà vào năm 1999. Hiện Lệ Thu đang ở một căn nhà thuê ở thành phố Fountain Valley, và sống trong cảnh đơn độc. Chị cho biết con cái thương yêu chị rất nhiều, nhưng cũng như các bậc cha mẹ gặp cảnh "nước mắt chảy xuôi," mỗi người con của chị đều có một đời sống riêng, không giúp gì được chị trong một môi trường sống khác biệt hẳn với trước kia.
Những ngày gần đây, tình trạng sức khỏe của chị có phần sa sút nên đã phải từ chối một số lời mời trình diễn. Theo lời bác sĩ điều trị thì Lệ Thu lâm vào một tình trạng căng thẳng quá độ: "Bác sĩ nói là bị stress quá, buồn phiền lo lắng quá. Rồi nó xuống tinh thần, bạch huyết cầu của Thu bị thiếu quá, nên sức đề kháng trong cơ thể không có nữa. Thành ra cái sự bi quan đó nó làm cho bị down."
Có người cho rằng Lệ Thu đã trải qua một cuộc sống buông thả nên đã đưa đến tình trạng sức khỏe như hiện nay. Trước những lời đồn đại như vậy, chị lên tiếng: "Trong suốt cuộc đời của Thu, Thu không bao giờ biết uống chứ không phải nói là uống được một giọt rượu, không bao giờ hít một điếu thuốc lá, không biết hít một hơi thuốc lá chứ đừng nói là một điếu. Và cũng không bao giờ nhấp một ngụm cà phê. Vấn đề không phải là mình kiêng, nhưng mà là không uống được, không làm được!"
Khi nhớ đến khoảng thời gian đầu ở hải ngoại, Lệ Thu đã không dấu được sự tiếc nuối vì không có được những kinh nghiệm của những người đi trước để chuẩn bị cho tương lai mình. Có thể do bản tính lạc quan, chị đã nhìn đời với một con mắt quá dễ dãi: "Bây giờ thì nghề cũng trả thầy mà chữ cũng trả thầy. Lâu quá rồi thì nó cũng lụt đi chứ. Tuy rằng mình có giỏi giang, mình có chữ nghĩa, không bị trở ngại về ngôn ngữ, nhưng mà lớn tuổi rồi, có làm gì được đâu."
Lệ Thu nhìn lại mình, nhìn lại quãng đời đi qua như những thoáng phù du với một niềm bi quan tột cùng. Tâm trạng của chị đã được thể hiện rõ ràng trong một số nhạc phẩm của nữ nhạc sĩ Diệu Hương, trong CD mới nhất với tựa đề "Lặng Nhìn Ta Thôi," phát hành trong năm 1999.
LỆ THU , tiếng hát đầy quyến rũ đã từng là hơi thở của những người yêu nhạc sẽ là một tiếng hát đáng được vinh danh với tất cả ý nghĩa trang trọng của nó.
 
Trường Kỳ ( 1999)
 
 

Danh ca Lệ Thu qua đời, hưởng thọ 78 tuổi

Danh Ca Lệ Thu Đã Qua Đời Tại Mỹ Hưởng Thọ 78 Tuổi - YouTube

FOUNTAIN VALLEY, California (NV) – Nữ danh ca Lệ Thu vừa qua đời vào lúc 7 giờ tối Thứ Sáu, 15 Tháng Giêng, sau một thời gian bị nhiễm COVID-19, ái nữ của bà xác nhận với nhật báo Người Việt.

Vì lý do riêng tư, ái nữ của danh ca không muốn nêu tên.

Nữ danh ca Lệ Thu là một trong những tiếng hát nổi tiếng nhất tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975. (Hình: Nguyễn Lập Hậu)

Trước đó, hôm 29 Tháng Mười Hai, 2020, ái nữ của nữ danh ca Lệ Thu kể: “Mẹ tôi nhiễm COVID-19 và được đưa vào bệnh viện MemorialCare Orange Coast Medical Center, Fountain Valley, khoảng ba tuần nay. Hiện nay, tình trạng sức khỏe mẹ tôi khả quan hơn, đang ăn uống để hồi sức.”

Cô kể tiếp: “Có lẽ mẹ tôi ăn đồ ngọt hơi nhiều, rồi nằm một chỗ, y tá cho biết lượng đường lên đến 400, phải điều trị, hơi phức tạp. Vì mệt quá, nên y tá không tập được, khó thở, nên bắt buộc phải thở bằng máy.”

Khi được hỏi mong mỏi điều gì nhất lúc này, ái nữ của nữ danh ca nói: “Tôi mong những người hâm mộ mẹ, nếu có nghĩ đến bà, xin cầu nguyện cho bà chóng qua khỏi. Nếu phải ra đi thì đi trong nhẹ nhàng. Cầu mong có một phép lạ nào đó cho bà chóng bình phục.”

Danh Ca Lệ Thu qua đời ở tuổi 78 do nhiễm Covid -19. - YouTube

Nữ danh ca Lệ Thu là một trong những tiếng hát nổi tiếng nhất tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975, với các ca khúc của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Phạm Đình Chương, Đoàn Chuẩn-Từ Linh… như “Nước Mắt Mùa Thu,” “Mùa Thu Chết,” “Hạ Trắng,” “Thu Hát Cho Người”…

Danh ca Lệ Thu qua đời.

Theo Wikepedia, nữ danh ca Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh ngày 16 Tháng Bảy, 1943, tại Hải Phòng, trong gia đình có tám người con, nhưng trải qua thời thơ ấu ở Hà Đông.

Năm 1953, nữ danh ca cùng mẹ vào miền Nam sinh sống.

Trong khi đang theo học bậc trung học Pháp tại trường Les Lauriers, vào năm 1959, trong một lần đến phòng trà Bồng Lai nghe nhạc, do sự khuyến khích của bạn bè, Lệ Thu bước lên sân khấu trình bày nhạc phẩm “Dang Dở.”

Ngay sau đó, ông chủ phòng trà mời Lệ Thu ký giao kèo biểu diễn. Cũng từ đó bà lấy nghệ danh Lệ Thu.

Trong một lần phỏng vấn, Lệ Thu trả lời: “Tôi lấy tên Lệ Thu vì tôi giấu gia đình. Thật ra tên đó nó không có trong tiềm thức của tôi nhưng tự nhiên nó bật ra, tôi không hiểu từ đâu.”

Sau khi nhận lời cộng tác với phòng trà Bồng Lai, Lệ Thu vẫn tiếp tục đi học nhưng một thời gian sau quyết định nghỉ học để theo đuổi con đường ca hát.

Theo sau Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ Mạnh Phát và kế đó là vũ trường Tự Do vào năm 1962. Thời kỳ đó Lệ Thu thường trình bày những nhạc phẩm lời Pháp và Anh, nổi bật nhất là các bản như “La Vie En Rose,” “A Certain Smile,” “La Mer,” “Love Is A Many Splendored Thing”…

Danh ca Lệ Thu qua đời sau thời gian chống chọi với Covid-19 - Nhật Báo  Calitoday

Lệ Thu dần nổi tiếng và trở thành một ca sĩ quan trọng của các vũ trường lớn ở Sài Gòn. Trong những năm 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu là một trong những yếu tố đưa khách đến với các vũ trường Queen Bee, Tự Do, và Ritz.

Năm 1968, Lệ Thu về cộng tác với chương trình Jo Marcel tại vũ trường Queen Bee.

Ngoài việc đi hát hàng đêm Lệ Thu còn ký giao kèo thu thanh băng nhạc cho Jo Marcel, khởi đầu cho một thời kỳ vàng son nhất trong cuộc đời đi hát.

Đến giữa năm 1969, Lệ Thu cùng với chương trình Jo Marcel dời về vũ trường Ritz trên đường Trần Hưng Đạo. Năm 1970 Lệ Thu trở lại với vũ trường Tự Do.

Lệ Thu cũng tham gia các chương trình ca nhạc trên các đài phát thanh Sài Gòn, đài Quân Đội, và Mẹ Việt Nam, và thu âm cho nhiều băng nhạc.

Danh ca Lệ Thu qua đời ở Mỹ

Lệ Thu và Khánh Ly rất thân thiết.

Cùng với Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu là một trong những ca sĩ nổi tiếng nhất của Sài Gòn cho tới năm 1975.

Sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc, Lệ Thu gia nhập đoàn kịch Kim Cương để đi trình diễn và hát.

Tháng Mười Một, 1979, Lệ Thu vượt biển đến Pulau Bidong, Malaysia, sau đó sang Mỹ vào giữa năm 1980

 Danh ca Lệ Thu nguy kịch | Giải trí | Thanh Niên

 Tại Hoa Kỳ, Lệ Thu tiếp tục đi hát, tái ngộ với khán giả trong một buổi trình diễn đặc biệt do nhạc sĩ Nam Lộc tổ chức tại Beverley Hills.

Sau đó bà cộng tác với nhiều vũ trường, và thực hiện băng nhạc đầu tiên ở hải ngoại, mang tên “Hát Trên Đường Tử Sinh,” và tiếp tục thu âm những bản nhạc từng làm bà nổi tiếng.

Sau này, bà có về Việt Nam hát một thời gian. (Đ.D.)

 

********

 

 

Thu Đã Đi Rồi

phan ni tấn

 
blank
Hôm nay là ngày 16 tháng Giêng năm 2021, một năm thật mới thật đẹp nhưng cũng thật buồn. Buồn như buổi chiều nay được tin một người chị, một người bạn vừa vĩnh viễn ra đi. Đó là danh ca Lệ Thu.

 

Sau nhiều ngày chống chọi với Thần Tử, cuối cùng danh ca Lệ Thu đã nhắm mắt lìa đời. Đây là cái chết đầu tiên cũng là cái chết đầu năm 2021 của một nữ danh ca hải ngoại nhiễm phải con siêu vi khuẩn Vũ Hán, một vũ khí sinh học của Trung cộng.
 

Nói về danh ca LỆ THU, tôi còn nhớ ngày 7 tháng 7/2006, nhân mùa hè ấm áp tôi bay qua Houston, Texas tham dự đêm dạ vũ ca nhạc chủ đề Tình Ca và Nhạc Sống do cô em Túc Trí và anh em địa phương tổ chức với sự góp mặt của Khánh Ly, Lệ Thu, Việt Dzũng và Anh Dũng. Nghệ sĩ chúng tôi lâu ngày gặp lại nhau vui vẻ kéo nhau lên sân khấu cùng cất tiếng ca vang một khúc hát ngợi ca mùa hè rực rỡ.

Lệ Thu là một danh ca, trời phú cho giọng hát đặc biệt thích hợp với những ca khúc của các nhạc sĩ Trường Sa (Mùa Thu Trong Mưa, Xin Còn Gọi Tên Nhau...), Phạm Duy (Mùa Thu Chết) và nhiều tác giả khác: Y Vân, Cung Tiến, Phạm Đình Chương, Dương Thiệu Tước, Trầm Tử Thiêng, Nguyễn Văn Thương… Vậy mà đứng cạnh tôi, cùng Khánh Ly, Việt Dzũng, Anh Dũng, chị Lệ Thu hát rất chân tình một ca khúc mùa hè của tôi.
 

Từ đó chúng tôi không còn dịp gặp lại nhau cho đến bảy năm sau thì Việt Dzũng qua đời (2013), rồi hôm nay tới phiên chị Lệ Thu. Danh ca Lê Thu ra đi để lại nỗi tiếc thương cho gia đình, bạn hữu và giới mộ điệu. Chị ra đi cũng mang theo thoáng kỷ niệm của tôi với chị, một thoáng thôi cũng là kỷ niệm. Trong giờ giải lao thấy tôi đứng dựa cột "suy tư", chị Lệ Thu bước tới nhỏ nhẹ hỏi "Anh Tấn suy tư gì thế?" . Một câu hỏi xả giao bình thường nhưng thật thân thiện và ấm áp.
 

Nay thì Lệ Thu đã ra đi. Dù vậy, tôi vẫn nghĩ ở bên bờ kia chị vẫn nhìn thấy và cảm nhận được những người mến mộ mình; chị xứng đáng nhận được lòng yêu mến của giới mộ điệu trong và ngoài nước. Danh ca Lệ Thu tên thật Bùi Thị Oanh, sinh ngày 16 tháng 7năm 1943 tại Hải Phòng, là một trong những giọng ca lớn của nền tân nhạc Việt Nam.

 

* * *

 
Sự mất mát một danh ca khiến tôi nhớ tới nhiều văn nghệ sĩ trong và ngoài nước cũng đã từ biệt cõi đời năm 2020 vừa qua để lại cho đời nhiều nỗi tiếc thương. Xin kể riêng những người trong lãnh vực âm nhạc mà tôi từng quen biết.

Danh ca Thái Thanh mất ngày 17 tháng 3, 2020 tại California, Hoa Kỳ.
Nhạc sĩ Lê Dinh mất ngày 9 tháng 11, 2020 tại Longueuil, Quebec, Canada.
Danh hài Chí Tài mất ngày 9 tháng 12, 2020 tại Sài Gòn, Việt Nam.

Nhạc sĩ Lam Phương mất ngày 22 tháng 12, 2020 tại California, Hoa Kỳ.

Và đầu năm nay danh ca Lệ Thu mất ngày 15 tháng 1, 2021 tại Califorinia, Hoa Kỳ.

Nhắc đến danh ca THÁI THANH, tôi còn nhớ mùa hè 1996, nhà văn Mai Thảo và họa sĩ Khánh Trường tổ chức buổi ra mắt thơ của tôi tại hội trường báo Người Việt, Cali, Hoa Kỳ. Nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi đến tham dự góp vui trong đó vui nhất là danh ca Thái Thanh lần đầu tiên gặp tôi, nói: "Anh Phan Ni Tấn đây nhỉ?" Giọng Hà Nội nhỏ nhẹ, thanh tao của chị làm tôi nhớ hoài.

Danh ca Thái Thanh tên thật Phạm Thị Băng Thanh, sinh ngày 5 tháng 6 năm 1934 tại Hà Nội, được mệnh danh "tiếng hát vượt thời gian".
Nhạc sĩ LÊ DINH thì tôi gặp vài lần ở Montreal trong những dịp anh em văn nghệ sĩ tổ chức những buổi ca nhạc hoặc ra mắt sách vào thập niên 1980. Lần cuối cùng hai anh em lại gặp nhau trong buổi vinh danh 4 nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương, Lê Dinh, Trường Sa và Phan Ni Tấn, chủ đề Nét Nhạc và Cung Đàn do nhóm nghệ sĩ địa phương tổ chức ngày 7 tháng 11, 2015 tại hí viện Isabel Bader Theatre, Toronto.
 

Nhạc sĩ Lê Dinh tên thật Lê Văn Dinh, sinh ngày 8 tháng 9/1934 tại Gò Công. Hoạt động văn nghệ từ thập kỷ 1950 từ trong nước ra hải ngoại. Ông là một trong ba thành viên của nhóm Lê Minh Bằng (Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng).

Danh hài CHÍ TÀI thì ai cũng gặp trên màn ảnh cũng như ở ngoài đời. Gặp mặt Chí Tài với bộ râu con kiến bất hủ quẹt ngang là gặp niềm vui. Mùa hè năm 2001, trong giờ giải lao show PBN 58 chủ đề "Những Sắc màu Trong Kỷ Niệm" tổ chức tại Canadian Broadcasting Centre Toronto, gặp tôi Chí Tài vồn vã bắt tay cười nói: "Anh Tấn cho em nhạc hát chơi". Ngón đàn guitar của Chí Tài phải công nhận tuyệt chiêu.

Danh hài Chí Tài tên thật Nguyễn Chí Tài, sinh ngày 15 tháng 8/1958 tại Sài Gòn. Nghề nghiệp: ca nhạc sĩ, diễn viên, nghệ sĩ hài.

Nhạc sĩ LAM PHƯƠNG tôi chỉ gặp duy nhất một lần tại tư gia của anh. Tháng 3/1999 được tin nhạc sĩ Lam Phương bị đứt mạch máu não, sau đó được xuất viện về nhà, ông Ngạn và  tôi có đến thăm anh. Mùa hè năm 2018, anh chị em Kiên Giang tại Quận Cam yêu thích văn nghệ có ý định tổ chức một buổi ca nhạc cho nhạc sĩ Lam Phương và tôi, nhưng vì lý do nào đó đã không thành. Nghe anh em nói lại nhạc sĩ Lam Phương cũng có ý định muốn gặp tôi. Thiệt đáng tiếc.
 

Nhạc sĩ Lam Phương tên thật Lâm Đình Phùng, sinh ngày 20 tháng 3/1937 tại Rạch Giá. Ông là một nhạc sĩ tiêu biểu của nền tân nhạc trữ tình Việt Nam với khoảng 170 ca khúc phổ biến từ thập niên 1950 đến nay.
 
blank

  * * *

 

Cũng trong năm 2020 vừa qua, chúng ta đều biết một số tên tuổi trong và ngoài nước đã qua đời:

- Nghệ sĩ Nguyễn Chánh Tín (1952 - Jan 4/2020)

- Nhà văn Hồ Trường An (1938 - Jan 27/2020)

- Nghệ sĩ Ngọc Phu (1935 - Jan 31/2020)

- Ca sĩ Kim Anh (Ban Ba Con Mèo (1947 - Feb 28/2020)

- Nhạc sĩ, thiếu tướng Lê Minh Đảo (1933 - Mar 19/2020)

- Nhạc sĩ Trần Quang Lộc (1947 – Jun 7/2020)

- Nhà văn Túy Hồng (1938 – Jul 19/2020)

- Nhà văn, dịch giả Đỗ Phương Khanh (1936 – Aug 26/2020)

- Nghệ sĩ Hoàng Long (1936 - Sept 4/2020)

- Nhà văn (Nhật Tiến (1936 – Sept 14/2020)

- Nhiếp ảnh gia Đinh Tiến Mậu (1935 – Oct 8/2020)

- Nghệ sĩ cải lương Nam Hùng (1938 – Oct 21/2020)

- Nghệ sĩ Ánh Hoa (1941 – Nov 1/2020)

- Ca sĩ Ngọc Cẩm (1930 – Nov 2/2020)

- Ca sĩ Mai Hương (1941 – Nov 29/2020

 

Toronto 16.1.2021

 

phan ni tấn

 

 Kim Phượng sưu tầm & tổng hợp

 

 

Xem thêm...

RUE CLER - Để Nhớ Một Thời


The Syrah Apartment by Paris Perect on Rue Cler | Paris vacation, Paris  vacation rentals, Paris at night
   RUE CLER - Để Nhớ Một Thời   
 
 Tùy bút của Thầy Nguyễn Ngọc Hoàng


Có nhiều lý do để tôi không thích và thường tránh né khi phải lái xe vào khu trung tâm thành phố (downtown). Một trong lý do chính là hầu hết các con đường trong trung tâm thành phố trên toàn nước Mỹ đều là đường một chiều. Thành phố càng lớn thì đường một chiều càng nhiều. Ngặt một nổi các cơ quan hành chánh địa phương thường đặt văn phòng trong khu vực này, nên khi cần làm bất cứ giấy tờ gì, bất đắc dĩ chúng ta cũngphải lái xe vào. Có điều cũng lạ, gần như những con đường một chiều trong khu trung tâm thành phố đều mang số như: đường số Một, đường số Hai,… Thành phố càng lớn thì những con số càng nhiều. Durham, thành phố tôi ở rất nhỏ, nên chỉ đến đường số 16th là hết.


One Way Sign: What Does it Mean?
 
      Có những điều trong cuộc sống, không thích, không muốn nhưng chúng ta đành phải “tuân theo” như một quy luật cần thiết. Như cuộc đời, như số phận. Con đường một chiều là số phận con người trong cuộc sống đời này? Chỉ một lần đến, một lần qua và sẽ mãi không bao giờ trở lại. Mỗi một thời gian trôi qua, mỗi một kỷ niệm in dấu, mỗi một nghiệt ngã hằn sâu đớn đau, mỗi một dấu tích lịch sử khắc ghi… đều là những sự kiện, nối kết thành một chuổi đời dù ta muốn hay không, ý thức hay vô tình bỏ mặc! Những con đường “một chiều” mà tôi không thích, luôn muốn tránh né vẫn là những con đường huyết mạch tạo ra những sinh hoạt sống còn của trung tâm thành phố tôi đang ở…

Rue Cler: A Peaceful Paris Market Neighborhood
 
Buổi chiều cuối tuần, một người bạn làm cùng công ty rủ tôi đi cà phê Pháp chính hiệu mới khai trương. Hắn là người Mỹ gốc Pháp. “Rue Cler” là một tiệm bán cà phê và bánh ngọt của Pháp, lại nằm ngay trong khu trung tâm thành phố Durham, trên con đường một chiều. Bên ngoài không có gì đặc biệt, nhưng bên trong là một không gian kiến trúc rất Pháp. Đúng hơn rất Paris. Thêm vào đó, người bạn tôi cho hay, mỗi cuối tuần đêm thứ Sáu và thứ Bảy còn có cả trình diễn nhạc sống.

L'Éclair | Paris | France | AFAR
 
Khoảng tám giờ ba mươi tôi và Vinay đã có mặt. Chương trình nhạc sống cuối tuần sẽ từ chín đến mười một giờ đêm. Khách trong quán không đông lắm, vẫn còn nhiều bàn trống. Có lẽ thành phố này không có nhiều cư dân gốc Pháp. Phía cuối quán là sân khấu nhỏ đã chuẩn bị sẵn sàng với đàn guitar, chiếc organ điện, kèn saxophone, violin và vài chiếc trống tay… Pháp văn là môn sinh ngữ 2 của tôi thời trung học. Còn nhớ trong mấy năm liền liên tục, tôi rất yêu và chăm chỉ học môn Pháp văn hơn cả môn sinh ngữ chính là Anh ngữ.

Lý do đơn giản là người dạy Pháp văn trong liền 3 năm đó là cô Huỳnh Thị Liễu. Lớp tôi là lớp đầu tiên cô Liễu vừa ra trường sư phạm giảng dạy. Ngày đó tôi không biết “hoa hậu” đẹp cở nào, nhưng chắc chắn không thể sánh với cô Liễu dạy Pháp văn lớp tôi. Cô “hình hạc sương mai”, cao ráo, khuôn mặt ngọc ngà với mái tóc dài nửa lưng óng ả và đôi mắt to lồ lộ “chìm đắm” lòng người. Nhờ cô Liễu mà tôi có chút vốn luyến và mê nghe nhạc Pháp từ dạo đó..!

Patesô: món bánh có cái tên "rặt" Pháp nhưng thực ra lại là "con đẻ" của ẩm  thực Việt
 
Vinay và tôi gọi một dĩa 4 cái Pâté Chaud, hai ly cà phê đen pha với chút bơ ngọt. Hắn uống không đường, còn tôi phải pha thêm vài muỗng đường và sữa tươi cho ly cà phê của mình. Qua làn kiếng lấm tấm hơi sương, bên ngoài đã vắng xe và tĩnh lặng…
Tiếng nhạc bắt đầu trổi lên. Người nữ ca sĩ trẻ có dáng gầy, tóc ngắn và rất cao cúi chào khách bằng hai ngôn ngữ Pháp và Anh. Cả quán chợt im lặng, tôi có thể nghe hơi thở nhẹ của cô trong lời giới thiệu bài hát đầu tiên của mình.
-Xin chào mọi người, tôi tên là Donna Wittmer. Chúc tất cả các bạn sẽ có đêm nhạc vui vẻ, đầm ấm. Để mở đầu chương trình tôi xin trình diễn bài hát nổi tiếng của ca sĩ Françoise Hardy có tên là Tous Les Garçons et Les Filles. Mong quý vị thưởng thức.
 
Tiếng đàn guitar dạo đầu vút cao, hòa quyện với tiếng organ như một luồn điện lạnh chạy dọc vào mọi cảm giác của tôi. Tiếng hát trong trẻo, dày dặn, thiết tha như cơn lốc cuốn mênh mông tôi vào thật sâu của miền ký ức:
 
“Tous les garçons et les filles de mon âge
 

“Se promènent dans la rue deux par deux
“Tous les garçons et les filles de mon âge
“Savent bien ce que c'est d'être heureux

“Et les yeux dans les yeux 
“Et la main dans la main
“Ils s'en vont amoureux 
“Sans peur du lendemain.

“Oui mais moi, je vais seule 
“Par les rues, l'âme en peine
“Oui mais moi, je vais seule 
“Car personne ne m'aime…  (1)
 
 



(Xin bấm vào link dưới đây để nghe)

 
… Đêm văn nghệ cuối năm trường Marie Curie như mới hôm qua của hơn 40 năm về trước. Không biết đào ở đâu mà Duy có được hai giấy mời tham dự, nên “ưu ái” rủ tôi đi. Sau khi kết thúc, tôi và Duy chạy hai chiếc xe đạp theo sau ba chiếc xe đạp phía trước. Chắc cả ba cô nàng đã biết hai đứa tôi đang lẽo đẽo theo, nên gửi lại những nụ cười khúc khích sau lưng. Một trong ba, là người con gái tóc ngắn đã hát một ca khúc Pháp lừng lẫy một thời Sài-gòn của ca sĩ Françoise Hardy: “Tous Les Garçons et Les Filles” trong đêm văn nghệ cuối năm tối nay. Tôi đã từng nghe nhiều lần nhạc phẩm này qua tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh Lan với lời Pháp lẫn Việt "Những Nụ Tình Xanh" – lời Việt của Phạm Duy (1).

LE BOIS, Paris - 16e Arr. - Passy - Menu, Prix, Restaurant Avis &  Réservations - Tripadvisor

Nhưng đêm nay, tiếng hát ngây thơ trong trẻo, làn hơi mỏng ngọt, đôi lúc lạc giọng của cô nữ sinh trường Marie Curie đã thật sự chiếm trọn niềm xúc cảm của tôi. Khuôn mặt dài thánh thiện, có chút như lai Pháp, cô gái có đôi mắt to sâu vời vợi trong từng ca từ chuẩn ngữ. Bây giờ tôi mới thật sự cám ơn và nhớ vô cùng cô giáo dạy Pháp văn xinh đẹp của mình!

Qua khỏi bùng binh ngả Sáu cổng xe lửa đường Lê Văn Duyệt là hướng về khu vực Chí Hòa. Cũng hơn 10 giờ đêm, đường vắng xe và ba cô gái đạp xe nhanh hơn.
Tôi nói với Duy: “Theo mấy nàng cũng coi như đi hộ tống làm phước…”. Nhiều lần tôi định vượt lên nói vài câu làm quen, không hiểu sao lại thôi. Chừng như có cái gì đó, giác quan thứ sáu cho tôi biết “bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu” (Chiều – Xuân Diệu).

Đang lan man nghĩ ngợi, thì ba cô gái quẹo nhanh vào khu Chí Hòa. Mấy cây đèn đường ít hơn, ánh điện lưa thưa không in nổi mấy chiếc xe đạp trên đường. Duy và tôi cố bám gần hơn, đủ để nghe mấy tiếng nói cười nho nhỏ. Chợt phía trước hiện rõ một bờ tường cao, quanh đèn sáng tỏ. Cả ba cô nàng dừng trước chiếc cổng nhỏ bên hông chiếc cổng sắt cao, sừng sững trang nghiêm. Người con gái cao gầy, hát nhạc Pháp xuống xe, nói gì đó với hai bạn rồi quay lại ra dấu chào tạm biệt chúng tôi.

Rồi nàng khuất sau chiếc cổng nhỏ khép lại, hai cô bạn cười đáp rồi đạp xe đi thẳng. Tất cả diễn ra khá nhanh, bất ngờ khiến cả tôi và Duy không kịp phản ứng gì. Khi định thần, tôi mới chợt thấy bên trên chiếc cổng sắt lớn có tấm bảng ghi: “Dòng Nữ Tu Bác Ái”.
Nhiều buổi chiều sau đó, tôi muốn đến đứng đợi trước cổng trường Marie Curie nhưng lại thôi, không nỡ đành lòng. Nhiều đêm sau đó, tôi muốn đến đứng đợi trước cánh cổng sắt nhà dòng, nhưng cũng lại thôi, ngậm ngùi bỏ lại. Đời người có biết bao nhiêu câu hỏi và rất ít câu trả lời. Người con gái hát đêm cuối năm hôm đó là một, mãi mãi chỉ là câu hỏi, mãi mãi chỉ là thoáng bóng mơ qua. Rồi đêm lại nối ngày, ngày trôi tuần tự trên mỗi số phận con người vạn ngả chia xa. Có ánh mắt, có nụ cười thánh thiện đó như giấc mơ có thật luôn hướng tôi về một niềm tin yêu vời vợi trên cao…
 
Thời gian không chờ nhau và khuôn mặt người con gái ngày nào, nay lờ mờ trong trí nhớ của tôi. Những bốn mươi năm, mà ngỡ chừng hôm qua. Càng cố nhớ, khuôn mặt, ánh mắt, nụ cười của nàng càng tan vỡ, khuất xa… Chỉ còn lại là tiếng hát, tiếng hát của ca khúc nhạc Pháp “Tous Les Garçons et Les Filles “, vẫn mãi vang vọng một đời không quên…

Tiếng vỗ tay, dứt nhạc kéo tôi về thực tại. Bài hát nào rồi cũng dứt, khúc nhạc đời cũng thoáng chốc trôi xa. Kỷ niệm nào còn đó chút dư âm. Mùi hương người thánh thiện chưa bám phấn bụi đời. Tất cả sẽ về đâu giữa mênh mông cuộc đời hệ lụy. Như viên ngọc quý, tôi nâng niu từng kỷ niệm chợt có chợt không. Tiếng nhạc lại trổi lên, người thanh niên trẻ ôm chiếc đàn guitar ngồi xuống chiếc trên sân nhỏ nhỏ cuối quán. Đêm càng khuya khách càng đông, để lẫn lộn trong tiếng nói cười chung quanh, giọng hát trầm ấm, âm thổ đục vút cao:
 

 

 

 
 

(1) Tous Les Garçons et Les Filles- Françoise Hardy
"Những Nụ Tình Xanh"
[Lời Việt: Phạm Duy]
 
Bao nhiêu uyên ương trong cơn yêu đương
Đôi chân miên man hân hoan
Lang thang giữa phố phường.
Bao nhiêu duyên vui xuân xanh
Đôi mươi xuân xanh như tôi,
Ai kia hai mươi cũng biết rồi.
Niềm hạnh phúc trong tay người
Hay trong mắt, trên môi cười
Họ yêu nhau và đi tới sẽ sống với niềm vui mới
Thế nhưng tôi vẫn đơn côi vẫn không ai kết duyên đôi
Thế nhưng tôi vẫn đơn côi vẫn không ai đoái hoài tôi.

Nỗi sầu, ôi nỗi u sầu
Những ngày buồn trôi giống nhau.
Cõi đời ôi là những âu sầu
Không có những tiếng nói ấm áp
Của người yêu mến nhau.
Tôi chưa yêu đương, tôi mong yêu, trong cơn đau thương
Ai đưa tôi lên chốn Thiên Đường ?
Tôi chưa duyên vui, xuân tôi hai mươi,
Tôi mong như ai, vui trong duyên đôi sẽ biết đời
Niềm hạnh phúc trong tay người,
Hay trong mắt, trên môi cười
Họ yêu nhau và đi tới sẽ sống với niềm vui mới
Khiến cho tôi có ai yêu sẽ quên đi
Những cơn đau, dắt tay nhau
Tới mai sau
Tới nơi yêu nhau dài lâu.
 
     La Nuit – Salvatore Adamo     
(Xin bấm vào link dưới đây để nghe)


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

    Sưu tầm và tổng hợp by Nguyễn Ngọc Quang     

Em chân thành cảm ơn Thầy vì đã dành thời gian gửi về.

Chúc Thầy Cô một ngày tốt lành.
Kính thư,
 
Ảnh minh họa   db43c148
 
c6ox4y5hrxvc7lqb668g
 
 
 
 

      RUE CLER - Để Nhớ Một Thời      

Xem thêm...

Hình ảnh Đức Mẹ Đồng trinh và Chúa Hài đồng đẹp nhất trong tranh

Hình ảnh Đức Mẹ Đồng trinh và Chúa Hài đồng

đẹp nhất trong tranh

Bức “The Virgin with Angels” - Đức mẹ Đồng trinh với các Thiên Thần, do William-Adolphe Bouguereau (1825-1905) vẽ. (Phạm vi công cộng)

Trong số các chủ đề của hội họa phương Tây, Đức Mẹ Đồng trinh Maria, Chúa Hài đồng và Thiên Thần luôn là những chủ đề phổ biến nhất…

Thiên tính của con người đều là tôn sùng Chân Thiện Mỹ. Ngoài nhu cầu tôn giáo, các họa sĩ thường dùng sự thuần khiết và Thần tính của Thánh Mẫu, Chúa Hài đồng hoặc Thiên Thần, để nỗ lực thể hiện hình tượng mỹ hảo nhất của Chân Thiện Mỹ trong trái tim mình.

Tác phẩm “Our Lady of the Grotto” của Leonardo da Vinci (phiên bản Louvre ở Paris) mô tả cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Đức Mẹ cùng Chúa Hài đồng và nhà tiên tri John the Baptist ở Sinai. Tuy nhiên, người nghệ sĩ đã sắp xếp chủ thể ấm áp này trong một hang động tối tăm, lạnh lẽo, khô cứng và hoang vắng, tạo thành một vẻ đẹp lạ lùng khó cưỡng: Đức Mẹ nhân hậu và dịu dàng, các Thiên Thần xinh đẹp và thanh lịch, John ngoan đạo và khiêm nhường, Chúa Hài đồng thánh khiết và trong sáng. Nền tối nguyên ban đầu là sở thích của Da Vinci, một cái làm cho cấp độ tương phản sáng tối phong phú hơn, và cái kia làm nổi bật chủ đề nhân vật. Những tảng đá u ám và gồ ghề này cũng ẩn dụ sức mạnh nham hiểm của thế lực đen tối và những khó khăn, thăng trầm trên con đường cứu chuộc nhân loại trong tương lai của Chúa Giê-su. Tia sáng bầu trời giữa những ngọn núi xa xôi chiếu vào hang động dường như đại diện cho niềm hy vọng rằng, ngay cả khi bóng tối bao quanh, ý chí soi sáng của Đức Chúa Trời là tồn tại vĩnh hằng.

Bức “Virgin of the Rocks” của Leonardo da Vinci (Tranh sơn dầu, 199 x 122 cm) được tạo ra vào năm 1483–85 hiện đang ở Bảo tàng Louvre ở Paris. 

Tác phẩm “The Madonna with Pomegranate” của Botticelli, trong đó có sự xuất hiện của Đức Mẹ rất giống với Nữ thần trong “Sự ra đời của Thần Vệ nữ” của ông, và cũng có những đặc điểm tương đồng về sự thanh cao, trữ tình và duyên dáng. Trong vòng tay của người mẹ, hài nhi thánh thiện đã giơ bàn tay bé nhỏ của mình lên để ban phước lành cho muôn loài. Quả lựu chứa đầy hạt và giàu hàm ý: một người nói nó tượng trưng cho tương lai đầy đau khổ của Chúa Giê-su; người kia nói nó tượng trưng cho những hạt giống của Cơ đốc giáo sẽ lấp đầy thế giới. Các Thiên Thần đối xứng hai bên và cầm hoa loa kèn hát thánh ca cho Đức Mẹ và Chúa Hài đồng, nhưng toàn bộ bức tranh tràn ngập vẻ u sầu, như thể đã biết trước số phận tương lai của Chúa hài đồng.

Bức tranh Botticelli Madonna of the Pomegranite, 1490.

Bức tranh chất liệu màu keo của Michelangelo – “Sagrada Familia” với bố cục hình tròn do Michelangelo vẽ cho nhà sưu tập Anchoro Toni. Đức Mẹ Maria đang ngồi trên đầu gối, quay đầu và bế Chúa Hài đồng từ tay Thánh Giuse từ phía sau. Có người nói rằng đó chính là Đức Mẹ đang trao Chúa Hài Đồng cho Thánh Giuse. Đôi mắt bà dường như đọng lại, và thế tay nâng chân ôm của cả ba nhân vật chính trong hình bao bọc nhau tạo thành một động thế viên mãn, phù hợp với toàn bộ bố cục hình tròn của bức tranh. Một bức tường đá nằm ngang chia bức tranh thành hai phần trước và sau: Hình khỏa thân ở phía sau tượng trưng cho thế giới không văn minh trước khi Chúa đến, gia đình Thánh ở phía trước tượng trưng cho thế giới mới sau khi Chúa giáng thế; và cầu nối giữa hai bên là John the Baptist trẻ tuổi, người sẽ dẫn dắt mọi người vào Kitô giáo hóa bằng phép báp-têm trong tương lai. Bức tranh tươi sáng và đẹp đẽ, tràn đầy sự rực rỡ nhẹ nhàng.

Trong bức “Chân dung Thánh Gia” của Michelangelo, Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng có dáng vẻ thanh thoát, làn da mỏng manh và mịn màng, như thể phát ra ánh sáng dịu nhẹ. 

Raphael nổi tiếng với bức vẽ Đức Mẹ Đồng trinh. Trinh tiết của Đức mẹ cao hơn người thường, dung mạo giản dị, nhân hậu, đẹp đẽ, chan chứa tình mẫu tử, tình người mà không mất đi vẻ thanh liêm, chính trực. Bức tranh “The Sistine Madonna” này ban đầu được trang trí trên điện thờ của nhà nguyện Sistine cho đến năm 1574, do đó được đặt tên như vậy. Hai Thiên Thần ở dưới cùng đang chơi đùa như những đứa trẻ, và sự thể hiện bản chất con người này phản ánh màu sắc của chủ nghĩa nhân văn.

“The Sistine Madonna” của Raphael, 1513–1514. 

Đức Mẹ và Chúa Hài đồng của họa sĩ Raphael cực kỳ xinh đẹp. Ví dụ như trong bức tranh “The Maria on the Chair”, khuôn mặt vô cùng xinh đẹp có một không hai của Đức Mẹ được đặt phía trên, cùng một Hài nhi trong sáng và ngây thơ, với đôi mắt trong veo nhìn khán giả, khiến người xem không thể cưỡng lại được một tình yêu xuất phát từ trái tim.

Bức tranh sơn dầu khung vàng tròn của Raphael Madonna della seggiola, 1513-1514.

Có lẽ tác phẩm nổi tiếng nhất của họa sĩ người Florence Andrea del Sarto (1486-1531) trong thời kỳ đỉnh cao của thời kỳ Phục Hưng là “The Madonna of the Harpies”. Đức Trinh Nữ xinh đẹp và duyên dáng ôm Hài nhi thánh thiện đứng như một bức tượng trên bệ được trang trí bằng Quỷ báo tử (Harpies), xung quanh là các Thiên Thần và Thánh (Thánh Phanxicô và Thánh Tông đồ Gioan) đối xứng hai bên. Người ta tin rằng hình ảnh Quỷ báo tử trên bệ có thể liên quan đến câu chuyện trong “Apocalypse.” Công trình mang đặc điểm cổ điển điển hình, đối xứng và trang trọng, tĩnh lặng và khuôn phép.

Bức “The Madonna with Harpies” của Andrea del Sarto (1486–1531)

Bức tranh “Worship to the Holy Infant” của Correggio mô tả tình yêu thương và lòng trắc ẩn của người mẹ dành cho đứa con, cũng như sự ngưỡng mộ và sùng kính đối với Chúa. Bức tranh tập trung vào Chúa Hài đồng rạng rỡ. Động tác tay của Đức Mẹ là một cách điển hình để họa sĩ thể hiện cảm xúc, có ảnh hưởng lớn đến các họa sĩ trường phái phục hưng Baroque sau này.

Bức tranh “Worship to the Holy Infant” của Correggio (1490-1534, trước đây được gọi là Antonio Allegri, sau này được đặt tên theo thị trấn nơi ông sinh ra, Correggio). 

Bức “Đêm Giáng sinh” của Correggio, được coi là bức tranh châu Âu đầu tiên mô tả cảnh đêm thành công nhất. Trong tác phẩm, nguồn sáng của bức tranh đến từ Chúa Hài đồng, và biểu cảm đầy yêu thương, từ bi và mãn nguyện của Đức Mẹ Đồng trinh hiển nhiên là biểu hiện của nhân tính hơn là Thần tính.

Correggio, “Holy Night” (Đêm Thánh), 1528-1530, Sơn dầu trên vải, 256,5 x 188 cm, emäldegalerie, Dresden. 

Mancini, người chịu ảnh hưởng sâu sắc của Correggio, cũng đã vẽ bức tranh “A Rest on the Way to Egypt” với nét vẽ nhẹ nhàng. Ánh sáng vẫn tập trung vào Hài nhi nằm trong lòng Đức Mẹ Đồng trinh đang cầm quả dâu rừng mà Thánh Giuse vừa hái cho mình, một tay Đức Mẹ đang cầm một chiếc bát, dường như đã đến giờ ăn. Họ được bao quanh bởi ba Thiên Thần, một người chơi đàn, một người hát và một người tặng một vòng hoa. Sự ca ngợi của các Thiên Thần và sự tương tác trìu mến giữa Hài nhi và Thánh gia tăng sự gần gũi của bố cục và sự hài hòa, ấm áp của bức tranh.

Mancini (MANCINI, Francesco, 1679-1758) “”A Rest on the Way to Egypt” Dầu trên vải, 136 x 100 cm, Pinacoteca, Vatican. 

Trong bức tranh “Thánh Mẫu và Chúa Hài Đồng” của Sassoferrado, đứa trẻ thánh thiện nằm trong vòng tay của mẹ; một con chim vàng được buộc bằng một sợi chỉ trên tay (con chim vàng là biểu tượng của sự đóng đinh của Chúa Kitô, vì loài chim này nuôi chim non trong bụi gai). Đức Mẹ Đồng trinh ôm đầu, tựa như đang nghỉ ngơi nhưng vẫn miễn cưỡng để mình chìm vào giấc ngủ, tiếp thêm năng lượng để chăm sóc các con. Tình yêu và trách nhiệm thể hiện ở đây là phần đẹp nhất của bức tranh.

SASSOFERRATO (tên ban đầu là Giovanni Battista Salvi, được đặt theo nơi sinh, 1609-1685) với bức “Thánh Mẫu và Hài Đồng”, Sơn dầu, 99 x 80 cm, bộ sưu tập tư nhân. 

Vào cuối thế kỷ 19, nhà khoa bảng người Pháp Bouguereau, người tôn trọng tinh thần mỹ học cổ điển, cũng đã tạo ra nhiều bức tượng Đức Mẹ Đồng trinh và Chúa Hài đồng thuần khiết và đẹp đẽ, thậm chí còn hơn cả người xưa. “Song of Angels” mô tả ba Thiên Thần chơi thánh ca cho Đức mẹ Đồng trinh và Hài nhi đang yên nghỉ trong rừng. Không chỉ có Thánh Mẫu và Hài Nhi yên bình và duyên dáng trong bức tranh, điều ấn tượng hơn nữa là ánh mắt ngưỡng mộ và chăm sóc của ba Thiên Thần, và những cử động tinh tế của họ, như sợ làm phiền em bé đang ngủ, thể hiện đầy đủ mỹ đức của sự thuần khiết, nhân hậu, khiêm tốn, ân cần và kính trọng đối với Hài nhi.

Bouguereau (Adolphe-William) “Song of the Angels” (Bài hát của các Thiên Thần), 1881, Sơn dầu, 213,4 x 152,4 cm (84 x 60 in.)

Trong “Virgin and Child and Angels”, Thánh Mẫu và Hài nhi vẫn xinh đẹp, nhưng Thánh Mẫu và Hài nhi giơ hai tay lên đối mặt với khán giả với sự uy nghiêm và tự tin của Chúa, điều này hiếm có. Được bao quanh bởi các Thiên Thần trong ánh sáng thiêng liêng, nó phảng phất như đưa hình ảnh Thiên Quốc triển hiện tại nhân gian.

Bức “The Virgin with Angels” (Đồng Trinh với các Thiên Thần), do William-Adolphe Bouguereau (1825-1905) vẽ.

Trên thực tế, những tác phẩm miêu tả cõi thiêng liêng của Thiên Đàng với ánh sáng và vẻ đẹp của các vị Thần là những tác phẩm cảm động và thăng hoa nhất. Người họa sĩ phải cố gắng tìm ra một cảnh giới như vậy khi sáng tạo, và người họa sĩ ấy đang thanh tịnh và hoàn thiện chính tâm hồn bản thân mình; Và khi khán giả nhìn thấy những biểu hiện tươi sáng và đẹp đẽ này của Chúa, họ cũng sẽ cảm thấy vui mừng, ngưỡng mộ và khao khát. Đây là lý do tại sao những tác phẩm nghệ thuật vĩ đại nhất trong lịch sử nghệ thuật nhân loại hầu như chỉ xuất hiện trong các đền thờ của các vị Thần; và đó là nguyên nhân vì sao các tác phẩm mô tả Thần Phật luôn tồn tại trường tồn, bất hoại.

Theo Epoch Times
Hương Thảo biên dịch

Ngọc Lan ST.

 

Xem thêm...

Hình ảnh “xưa và nay” của các ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng trước 1975

Hình ảnh “xưa và nay” của các ca sĩ

nhạc vàng nổi tiếng trước 1975

¸.*¨*♫♪♪♫*¨*.¸¸

 Cùng nhìn lại những hình ảnh so sánh “xưa và nay” của các ca sĩ nổi tiếng nhất của miền Nam trước năm 1975. Đến nay, thời gian đã qua hơn nửa thế kỷ, không ai có thể tránh khỏi được quy luật của thời gian. Tuy nhiên cũng có một số ca sĩ vẫn còn mang phảng phất nét đẹp quý phái của một thời vàng son.

Thanh Lan sinh năm 1948, là ca sĩ, diễn viên của Việt Nam. Bà là một trong những nghệ sĩ hiếm hoi thành công trên cả ba lĩnh vực âm nhạc, điện ảnh và sân khấu. Ca sĩ Thanh Lan nổi tiếng với các ca khúc Pháp, là một trong những gương mặt tiêu biểu cho thời kỳ đầu của nhạc trẻ ở Sài Gòn.

Ca sĩ Phương Hồng Quế sinh năm 1953, là một trong những giọng hát tiêu biểu thuộc thế hệ sau cùng của làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975. Cô được báo chí Sài Gòn gọi danh hiệu là “Tivi chi bảo”.

Ca sĩ Kim Loan

Ca sĩ Kim Loan sinh năm 1948, nổi tiếng khắp làng nhạc miền Nam xưa với nhan sắc khả ái với ca khúc được mến mộ nhất là Căn Nhà Ngoại Ô của nhạc sĩ Anh Bằng


Ca sĩ Trúc Mai sinh năm 1942, thuộc thế hệ đầu tiên của nhạc vàng miền Nam. Cô không chỉ có giọng hát ngọt ngào, ấm áp mà còn chinh phục khán giả với vẻ đẹp yêu kiều, quý phái. Giọng hát Trúc Mai gắn liền với bài hát “Hàn Mặc Tử” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.

Ca sĩ Anh Khoa sinh năm 1948, là một trong những nam ca sĩ nổi tiếng nhất của miền Nam trước 1975 ở dòng nhạc trữ tình. Giọng hát truyền cảm và nhẹ nhàng của ông đã gây ấn tượng với khán giả cho đến ngày nay.

Ca sĩ Phương Dung sinh năm 1946 (có thông tin cho rằng năm sinh thật của cô là 1942), là ca sĩ thuộc thế hệ đầu của dòng nhạc vàng, được khán giả mến mộ trong suốt 60 năm qua. Cô được đặt biệt danh là “Nhạn Trắng Gò Công”, rất thành công với những ca khúc nhạc vàng nổi tiếng như Nỗi Buồn Gác Trọ, Tạ Từ Trong Đêm, Những Đồi Hoa Sim… Cho đến nay Phương Dung vẫn còn đi hát ở Việt Nam

Ca sĩ Thiên Trang sinh năm 1951, là một trong những ca sĩ tiêu biểu nhất của dòng nhạc vàng. Cô có giọng hát ngọt ngào và gương mặt rất hiền từ, dễ gây thiện cảm với khán giả.

Ca sĩ Hương Lan sinh năm 1956, được xem là 1 trong những nữ danh ca nổi tiếng nhất của nhạc vàng trước và sau năm 1975. Giọng hát của Hương Lan nổi tiếng với sự ngọt ngào đặc trưng, đặc biệt là khi hát nhạc quê hương âm hưởng dân ca Nam Bộ. Hương Lan cũng là 1 trong những ca sĩ có nhiều bản thu âm nhất với hàng ngàn ca khúc được phát hành trong hơn 50 năm ca hát.

Ca sĩ Ngọc Đan Thanh sinh năm 1952, là nghệ sĩ thành công trong cả 3 lĩnh vực là cải lương, nhạc vàng và MC của chương trình Asia. Sau khi sang định cư tại Mỹ năm 1990, cô còn tham gia lồng tiếng một số bộ phim Hong Kong, Hàn Quốc.

Ca sĩ Thái Châu sinh năm 1951, nổi tiếng với dòng nhạc vàng, trữ tình với giọng hát ấm áp nhưng cũng rất ngọt ngào.

Ca sĩ Giáng Thu là học trò của nhóm tác giả Lê Minh Bằng (Lê Dinh – Minh Kỳ – Anh Bằng). Người bạn đồng môn của cô trong lớp nhạc Lê Minh Bằng còn có ca – nhạc sĩ Mạnh Quỳnh, người đã song ca ăn ý với Giáng Thu, đặc biệt là với bài hát Tuyết Lạnh, Hai Đứa Giận Nhau…

Danh ca Bạch Yến sinh năm 1942, là 1 trong những ca sĩ nổi tiếng nhất của làng nhạc Sài Gòn từ cuối thập niên 1950. Cô là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất xuất hiện trên chương trình Ed Sullivan Show nổi tiếng của Mỹ năm 1965, là nghệ sĩ Việt Nam duy nhất trình diễn cùng một chương trình với những tên tuổi nổi tiếng của Mỹ như Bob Hope, Bing Crosby, Pat Boone, Frankie Avalon… và là ca sĩ Việt đầu tiên và duy nhất hát nhạc phim Hollywood The Green Berets (Mũ nồi xanh).

Ca sĩ Thanh Thúy sinh năm 1943, là một trong những nữ ca sĩ có ảnh hưởng lớn nhất đến nền Tân nhạc Việt Nam trước năm 1975, là thế hệ ca sĩ đầu tiên của dòng nhạc vàng miền nam. Tên tuổi của cô đã gắn liền với nhạc sĩ Trúc Phương và những tình khúc tiền chiến. Cô cũng là người yêu trong mộng của cả một thế hệ, được các nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn, đạo diễn truyền hình nổi tiếng… ca ngợi hết lòng với rất nhiều mỹ danh, trong đó nổi tiếng nhất là Tiếng hát liêu trai và Tiếng hát lúc 0 giờ.

Ca sĩ Băng Châu sinh năm 1950, ngoài sở hữu giọng hát ngọt ngào, cô còn là một trong những ca sĩ có nhan sắc khả ái nhất trong giới ca sĩ Sài Gòn trước 1975

Ca sĩ Thanh Mai sinh năm 1955. Trong làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975, dù Thanh Mai không phải là ca sĩ thuộc hàng nổi danh nhất, nhưng tên tuổi của cô vẫn được rất nhiều người biết đến, đặc biệt trong dòng nhạc trẻ.

Ca sĩ Khánh Ngọc sinh năm 1937, là minh tinh điện ảnh Sài Gòn thuộc thế hệ đầu tiên. Trong lĩnh vực âm nhạc, bà sở hữu giọng hát nhiều nội lực, từng là thành viên của ban Thăng Long danh tiếng, và cũng là vợ cũ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

Ca sĩ Lệ Thu sinh năm 1943, thường được nhắc đến như là 1 trong 3 nữ ca sĩ nổi tiếng nhất của làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975, cùng với Khánh Ly và Thái Thanh

Ca sĩ Giao Linh sinh năm 1949, là một trong những ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng nhất trước năm 1975. Cô thường được báo chí Việt Nam gọi là “Nữ hoàng sầu muộn” do tiếng ca và phong cách biểu diễn trầm buồn trong các ca khúc nhạc vàng.

Ca sĩ Thanh Tuyền sinh năm 1947, là một trong những nữ ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng nhất trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Ca sĩ Khánh Hà sinh năm 1952. Cô đã đi hát trước năm 1975, nhưng chủ yếu là hát nhạc trẻ. Từ sau khi sang hải ngoại, Khánh Hà được yêu mến với dòng nhạc trữ tình từ thập niên 1980 với giọng hát rất điêu luyện và được so sánh với các diva nước ngoài.

Ca sĩ Elvis Phương sinh năm 1945, là ca sĩ nổi danh với nhiều thế loại nhạc: nhạc trẻ, tiền chiến, nhạc vàng, trữ tình, rock Việt. Sự nghiệp của ông trải dài trên 50 năm và thường được nhắc đến cùng với tên tuổi của ban Phượng Hoàng trước năm 1975.

Ca sĩ Khánh Ly sinh năm 1945, được đánh giá là một trong những nữ danh ca nổi tiếng nhất của làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975. Tên tuổi của cô thường được xếp bên cạnh 2 nữ danh ca khác là Thái Thanh và Lệ Thu.

Ca sĩ Hoàng Oanh sinh năm 1946, là một trong những ca sĩ tiên phong hát dòng nhạc vàng từ thập niên 1960. Số lượng bài hát nhạc vàng gắn liền với tên tuổi Hoàng Oanh rất nhiều, có thể liệt kê những bài nổi tiếng nhất là Ai Ra Xứ Huế (Duy Khánh), Chuyến Đò Vỹ Tuyến (Lam Phương), Tình Yêu Trả Lại Trăng Sao (Lê Dinh), Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy (Trầm Tử Thiêng), Về Đâu Mái Tóc Người Thương (Hoài Linh), Câu Chuyện Đầu Năm (Hoài An), Một Người Đi (Mai Châu), Mưa Trên Phố Huế (Minh Kỳ & Tôn Nữ Thụy Khương), Sao Chưa Thấy Hồi Âm (Châu Kỳ)… Hoàng Oanh cũng là ca sĩ hiếm hoi của dòng nhạc vàng học lên đến đại học thời đó. Cô tốt nghiệp Cử nhân (Ban Sử Địa) ở Đại Học Văn Khoa.

Ca sĩ Phương Đại được biết nhiều nhất trong ban tam ca Sao Băng. Ngoài ra ông cũng thường song ca với nữ ca sĩ Phương Hồng Quế

Ca sĩ Phương Hoài Tâm thường được gọi là “tiếng hát học trò”, được biết đến tên tuổi thật sự không phải nhờ giọng hát xuất sắc, mà là ở khuôn mặt xinh tươi khả ái với đôi má lúm đồng tiền và một mái tóc cắt úp, một thời đã được nhiều nữ sinh coi như kiểu tóc thời trang.

Ca sĩ Trung Chỉnh sinh năm 1943, là ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng trước năm 1975 và thường song ca với Hoàng Oanh, Phương Dung. Nghề nghiệp chính của ông là bác sĩ quân y

Ca sĩ Chế Linh sinh năm 1942, là một huyền thoại của dòng nhạc vàng. Ông vừa là ca sĩ, vừa là nhạc sĩ với bút danh Tú Nhi, được công chúng xưng tụng là 1 trong tứ trụ nhạc vàng. Hiện nay ở tuổi gần 80, ông vẫn còn đi hát, là giọng hát bền bỉ nhất của nhạc Việt mọi thời đại.

Ca sĩ Mạnh Quỳnh sinh năm 1951, là học trò của nhóm Lê Minh Bằng. Ông thường song ca với ca sĩ Giáng Thu, và được biết đến với ca khúc Gõ Cửa.

Ca sĩ Mai Lệ Huyền sinh năm 1946, được xem là một ca sĩ huyền thoại của Sài Gòn trước năm 1975, trở thành hiện tượng chưa từng có trong dòng nhạc kích động khi kết hợp cùng Hùng Cường. Mai Lệ Huyền sở hữu vẻ đẹp lạ, giúp cô luôn nổi bật trong đám đông. Cô có đôi mắt to và sâu thăm thẳm, khuôn mặt tròn như búp bê. Ở thời đỉnh cao của mình, cô đã đốt cháy các sân khấu và vũ trường bằng giọng ca đầy ma lực và vẻ bề ngoài quyến rũ, trở thành cái tên có độ phủ sóng rộng rãi trong công chúng miền Nam.

 

Ca sĩ Họa Mi sinh năm 1955, là cô học trò nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Ca sĩ Họa Mi được nhận xét có “giọng hát trong và thánh thót ở những nốt cao, ấm áp và tình cảm ở những nốt trầm”.

Sau đây là hình ảnh xưa và ảnh sau này của các ca sĩ đã về khuất núi:

Danh ca Thái Thanh sinh năm 1934 và qua đời năm 2020. Bà được mọi tầng lớp khán giả, các nghệ sĩ và giới nghiên cứu âm nhạc xưng tụng là tên tuổi lớn nhất trong số những ca sĩ của tân nhạc Việt Nam. Bà được nhà văn Mai Thảo gọi là “Tiếng hát vượt thời gian”, và danh hiệu này đã đi liền với cuộc đời và sự nghiệp của bà. Nhiều người cũng gọi Thái Thanh là “đệ nhất danh ca” của âm nhạc Việt Nam.

Ca sĩ Duy Quang sinh năm 1950, là con trai đầu của nhạc sĩ Phạm Duy và danh ca Thái Hằng. Ông được coi là một trong những ca sĩ nổi bật của tân nhạc Việt Nam thuộc thế hệ thứ hai, với chất giọng ngọt ngào, tình cảm.

Ca sĩ Hà Thanh sinh năm 1937 và đã qua đời năm 2014. Bà là giọng nữ trung thành danh ở Sài Gòn từ đầu thập niên 1960, sở trường hát nhạc thính phòng cổ điển, nhạc tiền chiến, và cả nhạc vàng.

Cố ca sĩ – nhạc sĩ Duy Khánh sinh năm 1936 và qua đời năm 2003, ông được xưng tụng là 1 trong tứ trụ nhạc vàng, và có thể xem là “cánh chim đầu đàn” của dòng nhạc vàng được khai sinh vào thập niên 1950-1960 ở miền Nam.

Ca sĩ Nhật Trường, cũng là nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sinh năm 1942 và qua đời năm 2005. Hiếm có người nào lên đến đỉnh vinh quang với cả 2 lĩnh vực ca sĩ và nhạc sĩ như ông. Nhật Trường Trần Thiện Thanh cũng được xưng tụng là 1 trong tứ trụ nhạc vàng.

Ca sĩ Hùng Cường sinh năm 1936, qua đời năm 1996, được công chúng yêu nhạc xưng tụng là một trong tứ trụ nhạc vàng cùng với Duy Khánh, Chế Linh và Nhật Trường. Đó là 4 danh ca vừa có khả năng hát, vừa có khả năng sáng tác nhạc vàng, và là những nam danh ca nổi tiếng nhất của làng nhạc miền Nam vào thập niên 1960 – nửa đầu thập niên 1970. Nếu chỉ xét riêng trong dòng nhạc vàng thì tên tuổi của Hùng Cường có phần yếu thế nhất trong 4 cây “đại trụ” này, nhưng nếu xét về sự đa tài, mức độ tài hoa thì Hùng Cường lại nổi trội hơn cả, vì ông không chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực âm nhạc, mà còn là tài tử điện ảnh nổi tiếng, một kép chính cải lương lừng danh và là một trong những nghệ sĩ kịch đầu tiên của miền Nam.

 

Đông Kha
  nguồn nhacxua.vn

 

Thế hệ vàng những nhạc sĩ tài ba trước năm 1975. 
 
Image may contain: 18 people
Ảnh các nhạc sĩ (theo thứ tự từ trái sang):
- Hàng đầu: Châu Kỳ - Mạnh Phát - Trúc Phương - Lam Phương - Minh Kỳ - Hoài Linh
- Hàng thứ 2: Lê Dinh - Anh Bằng - Hoàng Thi Thơ - Duy Khánh - Hoài An - Phạm Mạnh Cương
- Hàng thứ 3: Tuấn Khanh - Y Vân - Dzũng Chinh - Anh Việt Thu - Lê Trực - Phạm Thế Mỹ
Như chúng ta đã biết, sau 30 tháng 4 - 1975, chính quyền mới đã gộp tất cả các bản nhạc thời VNCH gọi chung là “Nhạc Vàng”.
Nhìn tổng quát, nhạc trước 75 có nhiều thể loại:
1. Nhạc trữ tình mang nhiều âm hưởng của nhạc Tây phương, bàng bạc nét lãng mạn của nhạc tiền chiến (nhạc của Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Hoàng Trọng, Văn Phụng, Cung Tiến…) - Ca sĩ thống lĩnh dòng nhạc nầy là cô Thái Thanh và Anh Ngọc.
2. Nhạc thính phòng, êm dịu, nhẹ nhàng, phiêu lãng (nhạc của Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên…) là loại nhạc sở trường của ca sĩ Lệ Thu, Tuấn Ngọc…
3. Nhạc Trịnh Công Sơn chất chứa một chút triết lý, một chút phản chiến, rất được ưa chuộng với giọng ca của Khánh Ly.
4. Nhạc thời trang là loại nhạc đại chúng (pop music) là thể loại thông dụng nhất trong giai đoạn nầy, nó xoay quanh một số chủ đề:
- Nhạc quê hương (nhạc của Hoàng Thi Thơ, Duy Khánh, Thanh Sơn, Phạm Thế Mỹ…)
- Nhạc tình (nhạc của Lam Phương, Hoài Linh, Anh Bằng, Lê Dinh…)
- Nhạc lính (nhạc Trần Thiện Thanh, Minh Kỳ, Trúc Phương…)
Chỉ là cách chia tương đối vì mỗi nhạc sĩ có khi họ viết nhiều thể loại. Mỗi một thể loại, các nhạc sĩ viết bằng nhiều giai điệu khác nhau. Ví dụ, với nhạc thời trang, các giai điệu thường được dùng là: Slow Rock, Habanera, Boléro, Rumba Boléro… nhưng mà nhiều nhất là Boléro.
Ngoài ra, còn nhiều thể loại khác nữa, không kể ra hết được. Tôi chỉ xin thu hẹp đề tài vào nhạc Boléro để nhìn rõ hơn về dòng nhạc hiện được đại chúng ưa chuộng nhất, và cũng xin gói gọn trong thời kỳ khởi đầu của dòng nhạc Boléro ở Việt Nam để tìm hiểu những nhạc sĩ tiên phong, có công khai phá dòng nhạc Boléro Việt Nam (1954 - 1965).
Boléro là loại nhạc khiêu vũ do một vũ sư người Tây Ban Nha tên Sebastian Cerezo sáng tạo ra vào năm 1780. Dần dần điệu nhạc nầy thịnh hành ở các nước châu Âu như Anh, Pháp… Chính người Pháp đã mang điệu Boléro sang Cuba khoảng năm 1800 và trở thành điệu nhảy đường phố phổ biến ở Cuba và các xứ Nam Mỹ.
Khoảng thập niên 50, điệu Boléro bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Boléro từ đầu là một giai điệu như những giai điệu khác: Rumba, Chachacha, Valse… về sau đã trở thành một dòng nhạc đại chúng khi vào Việt Nam: Dòng nhạc Boléro Việt Nam.
Chưa có tài liệu thật chính xác, nhưng theo một số người nghe nhạc thì bài Boléro Việt Nam đầu tiên là bài Duyên Quê của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sáng tác năm 1955 (Em gái vườn quê, cuộc đời trong trắng…) Năm 1956, có bài Dựng Một Mùa Hoa của Hoài An và Phó Quốc Thăng (Chào bình minh hoa ban mai lả lơi…) Dẫu sao, từ giữa thập niên 50 đã manh nha thể loại Boléro ở Việt Nam. Đến đầu thập niên 60, các nhạc sĩ đồng loạt cho ra đời rất nhiều bài Boléro được người nghe đón nhận rất nồng nhiệt, nhiều bài còn được yêu thích đến tận bây giờ, không hề xưa cũ. Thế hệ nhạc sĩ tiên phong khai phá dòng nhạc Boléro Việt Nam là những tài danh mà tên tuổi còn được ngưỡng mộ không phai mờ.
Một số bài Boléro điển hình được sáng tác trong khoảng thời gian từ "giữa thập niên 50" đến "giữa thập niên 60":
Hoàng Thi Thơ:
- Trăng rụng xuống cầu (1956)
- Đường xưa lối cũ
- Ai nhớ chăng ai (1958)
Lam Phương:
- Chuyến đò vĩ tuyến (1956)
- Nắng đẹp miền Nam (1957)
- Chiều hành quân (1958)
Trúc Phương:
- Tình thắm duyên quê (1957)
- Chiều làng em (1958)
- Đò chiều (1959)
- Chiều cuối tuần (1959)
- Nửa đêm ngoài phố (1960)
- Tàu đêm năm cũ (1961-1962)
- Ai cho tôi tình yêu (1963)
Mạnh Phát:
- Bến nước tình quê (Hợp soạn với Lê Mộng Bảo)
- Hoa nở về đêm (1962)
- Đêm không trăng sao (1963)
- Vọng gác đêm sương (1963)
Châu Kỳ:
- Sao chưa thấy hồi âm (1965)
- Hồi âm (1965)
- Cánh nhạn hồi âm
Duy Khánh:
- Biết trả lời sao (1965)
- Tình ca quê hương
Minh Kỳ:
- Chỉ có một người
- Chuyến tàu hoàng hôn (Hợp soạn với Hoài Linh, 1962)
Hoài Linh:
- Sầu tím thiệp hồng (Viết chung với Minh Kỳ, 1965)
- Biệt kinh kỳ (Hợp soạn với Minh Kỳ)
- Giọt lệ vu quy (Với Tuấn Khanh, 1965)
- Nhịp cầu tri âm
- Buồn vào đêm (Viết với Thanh Sơn)
Anh Bằng:
- Lẻ bóng (1962)
- Đôi bóng (1963)
- Nửa đêm biên giới (1963)
- Đêm không ngủ (1964)
- Truyện tình Lan và Điệp (1964-1965)
- Truyện tình Trương Chi - Mỵ Nương (1965)
- Sầu lẻ bóng (1965)
Lê Dinh:
- Ngày ấy quen nhau (1959)
- Tấm ảnh ngày xưa (1961)
- Ga chiều (1962)
- Hạnh phúc đầu Xuân (Hợp soạn với Minh Kỳ)
Hoài An:
- Tình lúa duyên trăng (Lời: Hồ Đình Phương)
- Kỷ niệm nào buồn (1964)
- Tâm sự ngày Xuân (1965)
Y Vân:
- Đôi mái chèo trăng
- Cánh hoa thời loạn
- Những bước chân âm thầm
Phạm Thế Mỹ:
- Bến duyên lành
- Nắng lên xóm nghèo
- Đan áo mùa Xuân
- Những ngày xưa thân ái
- Trăng tàn trên hè phố
Anh Việt Thu:
- Hai vì sao lạc
- Như giọt Xuân rơi
Dzũng Chinh:
- Những đồi hoa sim (1964)
- Tha La xóm Đạo
Phạm Mạnh Cương:
- Loài hoa không vỡ
Lê Trực:
- Tiếng còi trong sương đêm
Tuấn Khanh:
- Quán nửa khuya (1959, hợp soạn với Hoài Linh)
Và rất nhiều bài Boléro khác được ra đời trong thời gian nầy. Nếu hiện nay là thời kỳ “bùng nổ hát nhạc Boléro” thì thập niên 60 có thể gọi là thời kỳ “bùng nổ sáng tác nhạc Boléro”. Số bài Boléro ra đời trong khoảng thời gian đầu (1954-1960) còn khiêm nhường, sang đầu thập niên 60 các nhạc sĩ hăng say sáng tác các bản nhạc theo thể điệu Boléro vì nó được quần chúng đón nhận nồng nhiệt (hợp với tâm tình tác giả và giọng ca lúc bấy giờ).
Năm 1960, thanh niên nam nữ Saigon điên đảo vì một bản Boléro ngoại quốc: “It’s Now or Never” do nam danh ca Elvis Presley trình diễn.
Sang năm 1961, lại thêm một phen “bấn loạn” vì bản “Histoire d’un amour” do nữ ca sĩ người Pháp Dalida truyền cảm hứng. Đây là hai bản nhạc Boléro thời thượng mà giới trẻ miền Nam đã thuộc nằm lòng, như thêm hương vị cho lòng yêu thích Boléro của khán giả Việt Nam.
Dân miền Nam trước 75 chưa đến 20 triệu người, số lượng nhạc sĩ ít hơn bây giờ rất nhiều. Thế mà chỉ vỏn vẹn 20 năm (1954-1975) các nhạc sĩ VNCH đã sáng tác hàng chục ngàn bản nhạc mà thể loại Boléro là chủ đạo. Ngày nay, trào lưu hát nhạc Boléro đã sáng tác từ nửa thế kỷ trước. Nó vẫn còn hợp thời, quá hợp thời, ý tình như nói thay cho lòng người hiện tại. Lịch sử đã có sự sắp xếp rất thuận lý và lý thú: Bùng nổ đặt nhạc Boléro đi trước, bùng nổ hát nhạc Boléro theo sau. Có những người vừa hát vừa cám ơn các nhạc sĩ trước kia đặt nhạc hay quá. Cám ơn! Cám ơn! Thật thán phục các nhạc sĩ ngày trước không chỉ ở nét nhạc mà còn ở lời ca.
Về nét nhạc thì từ âm giai thất cung (Do Re Mi Fa Sol La Si) của Tây Phương, thường thấy trong các bản nhạc tiền chiến, các nhạc sĩ dòng nhạc Boléro Việt Nam có khuynh hướng nghiêng về giai điệu ngũ cung (Hò Xự Xang Xê Cống) mang âm hưởng Dân ca, có một chút gì đó hơi hao hao với điệu lý, câu hò miền Nam:
“Mây trắng bay qua khi trăng dần lan
Muôn câu hò nhịp nhàng khắp thôn trang
Đoàn người say sưa vui tiếng hát vang
Lúa dâng sữa ngọt đậm tình ta với nàng…”
(Trăng Về Thôn Dã của Hoài An & Huyền Linh)
Boléro từ Nam Mỹ khi du nhập vào Việt Nam thì nhịp điệu chậm hẳn lại để thích hợp với tính cách (tâm hồn, cách hát) của người Việt Nam. Boléro ở Cuba viết theo nhịp 3/4, sang Việt Nam các nhạc sĩ đã chuyển thành nhịp 4/4, và rồi nhạc Boléro Việt Nam đã khác rất nhiều so với Boléro nguyên thủy.
Nhưng nét đặc biệt nhất của Boléro Việt Nam là phần lời ca. Lời rất đời, nghe tới đâu hiểu tới đó, nghe tới đâu thấm tới đó. Nó nói lên tâm sự của từng người, nói lên hoàn cảnh đất nước bi đát vì chiến tranh, nói luôn hoàn cảnh nghiệt ngã của tầng lớp thanh niên phải đối diện với chia ly, mất mát, chịu đựng. Nó trở thành dòng nhạc lớn của Việt Nam vì nó rất Việt Nam.
Ngày ấy ở miền Nam, giữa trưa trời nắng gắt, bác nông phu trên đồng cạn, dưới đồng sâu, làm sao có thể hát một câu nhạc cổ điển Tây Phương cho trâu đi bừa? Nhưng bác rất dễ dàng buông ra vài câu Boléro mùi mẫn:
“Đây xóm nghèo quê tôi khi nắng lên
Hương lúa ngọt tình quê thêm trìu mến…”
(Nắng Lên Xóm Nghèo của Phạm Thế Mỹ)
Còn nữa, ngày anh lên đường ra tiền tuyến, đôi tình nhân bịn rịn chia tay, xót thương cho đời nhau, còn gì ray rứt hơn:
“Xe lăn êm êm lúc ga chiều sắp lên đèn
Mưa thu bay bay vắt ngang trời ướt vai mềm
Hoàng hôn dần xuống
Người trai vì nước đi xây tình quê hương…”
(Chuyến Tàu Hoàng Hôn của Minh Kỳ & Hoài Linh)
Bất cứ lúc nào, nơi nào (ngay cả trong tiệc cưới, bên bàn nhậu…) người Việt Nam vẫn thường hát nhạc Boléro. Âm nhạc Việt Nam buồn vì lịch sử Việt Nam buồn: Do chiến tranh, và bị đô hộ của ngoại bang. Nếu chê bai nhạc Boléro tầm thường, lời lẽ không tinh tế, sâu sắc, là nhạc sến thì tội nghiệp cho dân Việt Nam. Họ có đòi hỏi gì cao siêu đâu, họ rất bình dị. Nhưng hoàn cảnh đất nước không may, đời sống họ vấp phải nhiều khốn khó. Họ cần đến âm nhạc để được xoa dịu, vỗ về, họ cần đến Boléro để bày tỏ nỗi niềm tâm sự.
Giờ đây, sau 40 năm bị “bức tử” (kể từ năm 1975), dân Việt Nam mới đòi lại được quyền hát Boléro và làm cho nó hồi sinh dù chưa hoàn toàn, có những bản nhạc lính vẫn còn bị cấm. Nhìn giới trẻ thi nhau hát Boléro (rất khó khăn, hạn chế về chọn bài, lời ca) trong các cuộc thi được tổ chức liên tục trong nước mới thấy rõ bản chất mộc mạc, hồn nhiên trong tâm hồn người Việt Nam: Có sao nói vậy. Trong trường hợp nầy, tôi suy nghĩ hoài câu “Nghệ thuật vị nhân sinh”. Nghệ thuật đã luôn ở bên cạnh để nâng đỡ tinh thần, là niềm an ủi rất lớn giúp dân Việt Nam vượt qua bao gian khổ trong chiến tranh trước 75 và đối diện với những bất cập trong hiện tại. Nghệ thuật cao quý như vậy sao gọi là sến? Các nhạc sĩ tiên phong khai phá dòng nhạc Boléro Việt Nam có cảm thấy nao lòng hay không?!
Kiva (Một khán giả yêu Nhạc Vàng)
 
Nguồn: Trang FB của ca sĩ Hoàng Oanh
 
Kim Phượng sưu tầm & tổng hợp
 

 

 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này