Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1197)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (53)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (334)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Truyện Ngắn: Người nữ tu trong cô nhi viện Pleiku

Người nữ tu trong cô nhi viện Pleiku

Truyện Ngắn của Phạm Tín An Ninh

Hình minh họa

Hơn sáu tháng sống chết với chiến trường và giữ vững được Kontum, đầu tháng 10/1972, đơn vị tôi nhận lệnh kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt dành cho một đơn vị đã tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẫm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”. Một tháng đóng trên Đồi Đức Mẹ lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”.

Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa hy sinh trên chiến trường lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những vết chém đang còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên trong chốc lát đã là một điều không dễ, nên bọn tôi thèm những cơn say.

Rất may, tôi có một anh bạn – phải nói ông anh mới đúng – là Liên Đoàn Trưởng của một liên đoàn Biệt Động Quân, có căn cứ tại Biển Hồ. Vợ và hai đứa con bị chết thảm tại Quảng Đức hơn một năm trước, khi xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ còn làm người tình với rượu.

Những ngày không bận hành quân, anh đến đón tôi đi uống rượu trong một cái quán nằm trong Khu Chợ Mới, đã vậy mỗi khi trở về, anh còn dúi cho tôi một chai Henessey. Trước kia anh từng là một cấp chỉ huy có tiếng trong binh chủng này, nhưng vì bản tính ngang bướng bất cần, nên nhân một lý do phe phái chính trị nào đó, anh bị ngồi tù một thời gian ngắn.

Ra tù, anh bị thuyên chuyển về đơn vị tôi với cái lệnh “không được giữ bất cứ chức vụ chỉ huy nào”. Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ, an ủi anh và kéo anh về ở chung nhà trong khu cư xá, vợ tôi lo chuyện cơm nước cho anh.

Một thời gian sau, bỗng dưng anh được xét cho “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một Liên đoàn Biệt Động Quân. Do cái ân tình đó mà anh quý mến tôi, kéo tôi theo các cuộc giải sầu này.

Thành phố Pleiku

Dường như ngoài quán rượu ra, thỉnh thoảng anh chỉ ghé đến thăm một cô nhi viện. Nói là viện nhưng thực ra đây chỉ là một ngôi trường cũ, được chỉnh trang lại, tạm đáp ứng nhu cầu cần thiết cho một trại cô nhi. Có lẽ anh muốn tìm lại bóng dáng của hai đứa con đã phải chết oan một cách đau đớn qua hình ảnh các cháu cô nhi mà đa số là con của tử sĩ, có cả con của những người lính Biệt Động Quân của anh, mà cả người mẹ cũng chết, hay vì một lý do nào đó không có khả năng nuôi dưỡng, nên đành phải gởi lại nơi đây, nương nhờ vào bàn tay và tấm lòng nhân ái của những bà sœur. Anh bảo là từ sau trận chiến Tân Cảnh và Kontum, cô nhi viện này nhận thêm khá nhiều cô nhi.

Hằng tháng, anh ghé lại đây thăm và tặng cho viện một số tiền, bởi bây giờ anh sống độc thân, không còn phải chu cấp cho ai. Biết điều này, tôi càng kính quý anh hơn. Một người ngang tàng không biết sợ ai, sống bất cần đời, nhưng bên trong là cả một tấm lòng vị tha nhân ái.

Một hôm theo anh đến đây, chúng tôi được một bà sœur ra tiếp và mời vào văn phòng uống trà. Anh bạn tôi thì đã là người quen biết từ lâu, trong cách giao tiếp, anh được các sœur xem như một ân nhân bảo trợ, chỉ có tôi là người lạ. Nhưng khi chào tôi, sœur bảo thấy tôi giống một người thân quen nào đó. Còn tôi, thì cũng mơ hồ như đã từng gặp người nữ tu này ở đâu rồi.

Cũng có thể vì khuôn mặt khả ái, hiền thục của sœur phảng phất gương mặt của Đức Mẹ Maria mà tôi thường thấy trên các bức ảnh hay bức tượng trong các nhà thờ. Được giới thiệu là sœur Anna, tôi biết đây chỉ là tên thánh của bà. Khi tôi vừa ngồi xuống phía đối diện, sœur nhìn chăm chú vào cái bảng tên của tôi trên nắp túi áo, bỗng mắt sœur như sáng lên:

– Có phải lúc trước Đại úy ở Tiểu Đoàn 3/44?

Tôi khựng lại, ngạc nhiên:

– Dạ, đúng là trước kia có mấy năm tôi ở tiểu đoàn này. Nhưng cách nay đã 6, 7 năm rồi!

– Đại úy còn nhớ trận Quảng Nhiêu. Hình như Đại úy suýt chết trong trận ấy?

Tôi càng ngạc nhiên hơn, không hiểu tại sao người nữ tu này biết rõ mình như thế. Tôi vừa trả lời vừa nghĩ ngợi, thăm dò:

– Dạ đúng, nhưng sao sœur biết. Chuyện đã xảy ra lâu lắm rồi mà.

Sœur Anna không trả lời mà hỏi lại tôi:

– Đại úy thoát chết, nhưng người nằm hố bên cạnh thì bị nguyên một quả đạn súng cối 60 hay 80 gì đó, phải không?

Tôi giật mình, từ ký ức hiện ra rất nhanh hình ảnh hãi hùng này, và ngay lúc ấy, trước mắt tôi sœur Anna cũng phảng phất bóng dáng của một người con gái khác.

Vào khoảng đầu mùa hè năm 1966, tôi đang làm đại đội phó Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 3/44. Thời gian này hậu cứ tại Ban Mê Thuột, nhưng tiểu đoàn được chọn làm đơn vị trừ bị lưu động cho Sư đoàn và Khu 23 Chiến Thuật. Thời ấy chưa có các đại đội trinh sát. Đơn vị tôi có mặt gần như trên khắp lãnh thổ Khu 23 Chiến Thuật, kéo dài từ vùng cao nguyên có biên giới với Cam Bốt cho đến tận miền duyên hải. Có khi hôm trước còn hành quân ở Quảng Đức, Lâm Đồng, hôm sau lại có mặt ở Bình Tuy, Tuy Hòa, Phan Thiết...

Thành phố Cam Ranh

Một hôm, sau cuộc hành quân dài hạn ở khu Cà Ná, thuộc tỉnh Ninh Thuận, tiểu đoàn được lệnh di chuyển về Cam Ranh, vừa nghỉ dưỡng quân vừa giữ an ninh các đảo ngoài khơi để lực lượng Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân xuống đây thiết lập căn cứ.

Trong một đợt bổ sung quân số, đại đội tiếp nhận ba hạ sĩ quan và gần hai mươi tân binh vừa rời khỏi quân trường. Tôi đến bộ chỉ huy tiểu đoàn nhận lãnh và đưa về trình diện anh đại đội trưởng. Trong ba trung sĩ, một anh có dáng dấp, nói năng hiền lành như một thầy tu. Xem qua lý lịch và nhất là sau khi nói chuyện, tôi biết anh là thầy giáo một trường dòng và cũng là trưởng ca đoàn của một nhà thờ ở ngoại ô thành phố Nha Trang, quê hương tôi.

Tôi không phải là người Công giáo, nên không mấy am tường các sinh hoạt này, nhưng biết chắc một điều, trưởng ca đoàn phải là một người hát hay và giỏi về nhạc lý. Vốn có máu văn nghệ, lại là người đồng hương, nên tôi dễ thân tình và thường bắt anh hát cho cả đại đội nghe. Tôi đề nghị anh đại đội trưởng cho anh làm Hạ Sĩ Quan Tâm Lý Chiến của đại đội. Từ đó chúng tôi rất thân nhau, ăn cơm chung và treo võng ngủ gần nhau dưới một vòm cây dương liễu.

Thấy anh có cái tên hơi lạ, Nguyễn Phú Hùng Em, tôi đoán và hỏi anh có phải anh có người anh tên Nguyễn Phú Hùng Anh. Anh cười mà nét mặt không vui:

– Dạ, đúng là có một người là Nguyễn Phú Hùng Anh, nhưng không phải là anh ruột. Chúng tôi lớn lên trong viện mồ côi, vì trùng tên, và anh ấy lớn hơn tôi ba tuổi, nên các sœur đặt lại tên chúng tôi như thế. Bọn tôi cũng rất thân nhau và xem như anh em. Điều buồn, là anh ấy đi lính trước, vào Trường Sĩ quan Thủ Đức và tử trận cách nay hơn một năm rồi.

Thời gian này, đơn vị chúng tôi rất may mắn, chẳng khác nào được đi nghỉ mát. Hải đảo này là nơi thực tập cho các toán Biệt kích của Trung Tâm Huấn Luyện Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Bà Thìn, nên khá an toàn. Suốt ngày bọn tôi chỉ tắm biển, câu cá, ban đêm nằm nghe sóng vỗ, đàn hát nghêu ngao. Có lẽ đây là thời gian đặc biệt thoải mái nhất trong cuộc đời làm lính của tôi. Nhân cơ hội hiếm hoi này, ông Tiểu đoàn trưởng cho phép binh sĩ được luân phiên đón vợ con ra thăm và được ở lại trong hai tuần lễ.

Một hôm anh Trung sĩ Hùng Em xin tôi cho được đón người yêu mà anh cho biết, nếu anh không bị động viên thì chắc hai người đã làm đám cưới. Tôi sắp xếp, dọn sang nằm với người lính ô-đô và nhường chiếc võng lại cho anh. Cả bọn tôi khá bất ngờ khi anh đưa người yêu đến chào. Một cô gái đẹp, làn da trắng, khuôn mặt phúc hậu, đôi môi mọng đỏ với nụ cười hiền lành, lễ độ. So với anh, cô còn khá trẻ và có cái tên cũng rất khả ái: Thụy Khanh. Đặc biệt cô có giọng hát rất hay. Mỗi lần cô hát, cả đám lính tráng bọn tôi ngồi nghe mê mẩn.


Sau đó, cô đến đảo thăm anh vài lần nữa. Những ngày có bóng dáng cô, núi rừng trên đảo dường như bỗng trở nên đẹp, thơ mộng và vui vẻ hơn, sóng biển thì êm ả hơn như để cùng hòa theo tiếng hát của cô. Ngoài ra cô còn có tài nấu ăn, thường đãi bọn tôi những bữa cơm rất ngon miệng.

Tất cả đơn vị, từ quan tới lính ai cũng nghĩ anh Trung sĩ Hùng Em thật là tốt phước, ông trời đã cho anh một người tình, một người vợ lý tưởng sau này. Qua tâm tình, chúng tôi được biết, hai người quen biết nhau trong viện mồ côi từ khi còn rất nhỏ.

Sau này anh vừa là thầy dạy học, dạy nhạc vừa là trưởng ca đoàn của cô trong cùng một nhà thờ. Hai người đều chơi dương cầm và hát hay nhất trong ca đoàn. Tình yêu bắt đầu nảy nở từ môi trường cô nhi và âm nhạc. Và cuộc tình của hai người được các vị linh mục cùng các sœur đồng tình, khuyến khích, như là một sự kết hợp nhiệm màu của Thiên Chúa.

Hơn ba tháng thần tiên ở đảo Cam Ranh, khi các đơn vị tiền trạm của Hoa Kỳ được ào ạt đổ xuống thành lập “Cam Ranh Air Base”, tiểu đoàn tôi có lệnh rời khỏi đảo, di chuyển để tiếp tục lưu động khắp nơi. Lâm Đồng, Bình Thuận rồi Ninh Thuận.

Sau những cuộc hành quân dài hạn trong rừng, mỗi lần đơn vị được về phố ít ngày hoặc đóng quân trong các làng mạc ở khu ngoại ô tương đối an toàn, chúng tôi lại thấy người con gái xinh đẹp Thụy Khanh đến thăm và ở lại với người yêu. Đó là một đôi tình nhân gắn bó, đẹp và lãng mạn nhất mà bọn tôi chứng kiến, và có lẽ ai cũng thèm thuồng có được một hạnh phúc như thế.

Tháng bảy năm 1966, khi đơn vị nghỉ quân ở Tháp Chàm – Phan Rang, Trung sĩ Hùng Em xin một tuần phép đặc biệt để về Nha Trang làm đám hỏi. Anh bảo cả hai người đều không có cha mẹ anh em, nên lễ đính hôn đều do các vị linh mục và các sœur đỡ đầu tổ chức.


Đúng lúc anh vừa mãn phép trở lại, thì đơn vị có lệnh không vận khẩn cấp lên Ban Mê Thuột để tiếp viện cho một đơn vị Biệt Động Quân và Thiết Giáp bị thiệt hại khá nặng tại trận chiến Quảng Nhiêu, nằm phía Tây Bắc, cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng hơn mười cây số.

Trận chiến khá cam go, ác liệt. Một lực lượng địch cấp trung đoàn, sau khi tổ chức phục kích gây tổn thất cho chi đoàn Thiết Quân Vận và một đại đội Biệt Động Quân tùng thiết, bọn chúng đào nhiều giao thông hào và hầm hố cá nhân kiên cố trong các vườn cà-phê, để chặn đánh các cánh quân của ta tiếp viện. Tiểu đoàn tôi cùng một chi đoàn Thiết Vận Xa khác được tăng phái cho Trung Đoàn 45, đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tá Võ Văn Cảnh, đảm trách cuộc hành quân phản công, bao vây tiêu diệt địch.

Địch chiếm ưu thế về vị trí, chuẩn bị trận địa, bên ta có sức mạnh của thiết giáp và không yểm. Sau suốt năm ngày đêm không ngủ, lăn mình trong mịt mù lửa đạn quần thảo với địch, cuối cùng chúng tôi đã đạt được chiến thắng. Một số lớn địch quân bị tiêu diệt và bắt sống, nhưng bên ta cũng phải trả một cái giá không nhỏ. Đại đội tôi may mắn, chỉ có ba quân nhân tử trận và khoảng mười người bị thương, trong đó có anh đại đội trưởng. Tôi được chỉ định tạm thời chỉ huy đại đội.


Cuộc hành quân vẫn chưa kết thúc, một số đơn vị tiếp tục truy kích địch, riêng tiểu đoàn tôi được lệnh ở lại Quảng Nhiêu. Ban ngày tung các cuộc hành quân tảo thanh chung quanh, ban đêm phòng thủ bảo vệ khu vực dân cư, mà đa số là người Công giáo, đề phòng địch quay lại quấy rối, phục thù.

Đại đội tôi được chỉ định bảo vệ một Pháo đội Pháo Binh 105 ly. Điều tồi tệ là vị trí Pháo đội này nằm trên một khu đất trống trải, trong phòng tuyến và cả phía bên ngoài cũng không có một cành cây, dưới đất chỉ toàn là bụi đỏ, dày cả một gang tay. Mỗi lần Pháo binh tác xạ, cả đất trời gần như chỉ toàn là bụi.

Đám lính chúng tôi từ đầu tới chân cũng phủ đầy bụi đỏ. Đơn vị Pháo Binh thì đã có sẵn hầm hố kiên cố từ trước, còn đại đội tôi phải tự đào lấy những hố cá nhân, nhưng không thể đào sâu được, vì dưới đất chỉ toàn bụi và bụi, đào đến đâu bụi đỏ tràn theo tới đó, và mỗi lần Pháo Binh tác xạ, những cái hố này bị bụi lấp cạn thêm.

Ban đêm, chúng tôi nằm trong những chiếc hố ấy, nhưng không che đủ nửa thân người. Cái hố của tôi dành cho hai người nằm, tôi và anh Hạ sĩ mang máy truyền tin. Hố kế bên trái là Trung sĩ Hùng Em và anh lính ô-đô của tôi.

Một hôm, khoảng hai giờ sáng, khi tôi đang ngủ chập chờn, bỗng một tiếng nổ chát chúa ngay bên cạnh, mảnh đạn và bụi phủ đầy người, tôi bật dậy chụp vội cây súng Carbine M2 chạy ra hàng rào phòng thủ, nơi vọng gác có đặt khẩu đại liên. Rờ nắn vội qua khắp người xem có thương tích gì không, tôi thở phào vì không thấy dấu hiệu đau đớn nào, nhưng khi các trái sáng bắn lên, nhìn bụi đỏ phủ đầy người tôi giật mình cứ ngỡ là máu. Địch quân đã pháo kích chúng tôi hơn 10 quả bằng hai khẩu súng cối 61 ly từ hai địa điểm khác nhau. Pháo Binh đã phản pháo chính xác làm bọn chúng câm họng.

Khi tình hình ổn định, trở về hố, tôi bàng hoàng nghe anh lính ô-đô báo là Trung sĩ Hùng Em đã chết. Anh đã lãnh nguyên một quả đạn 61 ly, rớt ngay sát bên cạnh, ruột đổ ra ngoài và thân thể nhuộm đầy máu. Điều kỳ lạ, là anh lính ô-đô của tôi nằm ngay một bên mà không hề hấn gì, chỉ có áo quần dính đầy máu và thịt của người đồng đội xấu số. Tôi theo hai người lính khiêng thi thể Trung sĩ Hùng Em, được gói tạm trong tấm poncho, vào hầm cứu thương của Pháo Đội. Anh chết thật thê thảm. Tôi đứng lặng người, sau khi vuốt đôi mắt cho anh. Từ khi ấy cho đến sáng, tôi không hề chợp mắt.

Tôi nghĩ đến Thụy Khanh, cô con gái xinh đẹp hiền thục, có giọng hát khuấy động cả trái tim người, vừa trở thành vị hôn thê của anh chỉ mới hai tuần trước. Trưa hôm qua, khi rủ nhau vào thăm ông cha xứ trong xóm đạo và để xin được tắm giặt ở cái giếng sâu phía sau nhà thờ, anh đã khoe tôi tấm hình anh chị chụp chung trong lễ đính hôn, và bảo rằng cuối năm này hai người sẽ làm đám cưới. Anh còn nói nhỏ với tôi, ông cha xứ của anh hứa sẽ giới thiệu anh với vị Linh mục Tuyên úy của Sư Đoàn để xin anh về làm ở Phòng Tuyên úy, vì hai ngài là bạn tu với nhau và được thụ phong cùng một ngày.


Nhớ tới hai khuôn mặt hiền lành với nụ cười rạng rỡ trong tấm hình đính hôn, lòng tôi se lại. Chiến tranh tàn ác quá, đã chia ly biết bao nhiêu người, và làm dang dở biết bao mối tình đẹp đẽ như anh Hùng Em và cô gái Thụy Khanh. Tôi bỗng chạnh lòng, nhớ tới người yêu, cũng là vị hôn thê của chính mình, hằng đêm cầu nguyện cho tôi, từ một thị trấn nhỏ, mà giờ đây đang xa tít mịt mùng.

Một năm sau đó, tôi được nghỉ mười lăm ngày phép về Nha Trang làm đám cưới. Nhớ đến Hùng Em, tôi rủ vợ cùng tìm đến nhà thờ gần khu Đồng Đế để hỏi thăm tin tức về nơi chôn cất anh. Chúng tôi được một vị linh mục trẻ đón tiếp niềm nở và hướng dẫn đến thăm mộ Hùng Em, nằm trong một nghĩa trang nhỏ của giáo xứ, gần biển. Từ đó, tôi có thể nhìn thấy Hòn Chồng, nơi chôn giấu nhiều hang động của tuổi thơ tôi. Đọc trên tấm bia, tôi thấy tên người lập mộ được ghi vỏn vẹn hai chữ: Thụy Khanh.

Nhớ tới người con gái xinh đẹp, phúc hậu, có giọng hát rất hay ấy, tôi hỏi vị linh mục:

– Thưa cha, chị Thụy Khanh, vị hôn thê của anh Hùng Em có khỏe không, và bây giờ chị đang ở đâu?

Vị linh mục buồn bã:

– Chị ấy đã di chuyển đến một nơi khác, khoảng ba tháng sau khi anh Hùng Em qua đời, nhưng thi thoảng chị có ghé về đây ít hôm thăm giáo xứ và viếng mộ anh ấy.

Tôi không dám tò mò thêm nữa. Cám ơn cha và đưa ngài về lại nhà thờ rồi xin phép cáo từ.

Sau đó, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, tôi theo đơn vị hành quân liên miên, bao nhiêu lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Người lính chiến, chuyện sống chết chỉ tùy vào số mệnh, không ai có thể tránh được lằn tên mũi đạn. Đồng đội tôi đã có biết bao người ngã xuống. Có những cái chết còn thê thảm hơn cả cái chết của anh Trung sĩ Hùng Em lúc trước.

Tôi đã chứng kiến cảnh một người vợ trẻ ngất xỉu khi đến nhận xác chồng mà không tìm thấy cái đầu, một bà mẹ đã lăn đùng ra chết ngất khi thi thể đứa con hy sinh chỉ còn lại một phần và bà không thể nhận diện được con mình. Những khủng khiếp của chiến tranh sau này, cùng với thời gian, dần dà làm tôi tạm quên nhiều chuyện đau đớn cũ.

- Ông Trung úy Điệp, người Huế, làm đại đội trưởng lúc ở ngoài Cam Ranh, bây giờ ra sao rồi, Đại úy?

Câu hỏi của sœur Anna làm tôi giật mình, trở về thực tại:

– Dạ, anh Điệp đã chết lâu rồi. Anh tử trận tại Thiện Giáo–Phan Thiết, chỉ sau hai tuần làm đám cưới với cô giáo Diệu, cũng người Huế, nhưng sống ở Ninh Hòa. Hai người quen nhau khi đơn vị tôi về thụ huấn bổ túc tại TTHL Lam Sơn. Không ngờ sœur vẫn còn nhớ tên anh ấy.

Sœur cúi xuống, trầm ngâm giây lát. Khi ngước lên, bà lấy khăn tay lau nước mắt.

– Tôi và anh Hùng Em cũng làm đám hỏi đúng hai tuần. Cô giáo Diệu nào đó không biết may mắn hay là bất hạnh hơn tôi khi đã được làm vợ, cũng chỉ mới hai tuần?

Vừa nói xong, sœur vội vàng nói lời xin lỗi, bảo đúng ra, một người đi tu, không nên suy nghĩ đến những điều như thế.

Bốn tháng sau lần gặp gỡ bất ngờ đó, tôi đến thăm cô nhi viện môt lần nữa, nhưng lần này, tôi cùng đi với cô Trung úy Trưởng Ban Xã Hội, để giới thiệu với sœur Anna, nhờ cô nhi viện tạm chăm sóc hai đứa bé, con của một anh chuẩn úy. Cả hai vợ chồng bị chết bởi đạn pháo ở Kontum. Sœur Anna rất vui vẻ, ân cần, sẵn sàng nhận giúp và bảo tôi bất cứ khi nào có dịp về Pleiku, nhớ ghé lại thăm. Chúng tôi cám ơn, biếu cô nhi viện một ít tiền, và hứa nhất định sẽ trở lại thăm sœur và hai đứa bé.

Nhưng rồi tôi đã không giữ được lời hứa ấy. Từ đầu năm 1973, sau khi Mỹ ký hiệp định Paris trên xương máu của người bạn đồng minh, những người lính VNCH đã phải chống đỡ làn sóng xâm lăng của cộng sản phương Bắc, ồ ạt đem đại quân, xe pháo vào quyết chiếm miền Nam, tôi đã cùng đồng đội miệt mài với chiến trường, súng đạn, mà sự viện trợ ngày một cạn dần, nên xương máu anh em lại càng đổ ra nhiều hơn nữa.

Ngày 11/3/75, Ban Mê Thuột thất thủ. Đơn vị tôi đang hành quân ở khu vực Tây Nam Pleiku, có lệnh kéo về Hàm Rồng để được trực thăng vận xuống Phước An, quân lỵ cuối cùng còn lại của tỉnh Đắc-lắc, nhằm tái chiếm Ban Mê Thuột, nơi có bản doanh Sư Đoàn và hậu cứ của đơn vị chúng tôi. Khi BCH Trung Đoàn và một tiểu đoàn cùng đại đội Trinh Sát vừa được đổ xuống Phước An thì Pleiku có lệnh di tản. Hai tiểu đoàn còn lại của chúng tôi phải di chuyển theo đoàn quân di tản trên Tỉnh Lộ 7B.

Một kế hoạch triệt thoái tồi tệ đã đưa đến thất bại nặng nề bi thảm. Cả hai tiểu đoàn khi về đến Tuy Hòa chỉ còn lại một phần tư quân số, hai anh tiểu đoàn trưởng đã phải tự sát để không lọt vào tay giặc.


Cuối cùng, miền Nam cũng mất. Tôi và cả cha tôi đều bị tù đày khốn khổ. Cha tôi, tuổi già sức yếu, không đủ sức để chịu đựng bao đòn thù tra tấn, hành hạ, nên đã chết trong trại tù Đá Bàn vào tháng 6 năm 1976, còn tôi bị đày ải qua nhiều trại tù, từ Nam ra Bắc.

Sau gần tám năm tôi được thả về để chứng kiến một quê hương nghèo khổ điêu tàn, vợ con nheo nhóc. Tôi quyết định vượt biên, dù có phải chấp nhận bao hệ lụy khôn lường. Tôi rủ vài người bạn tù cùng tổ chức vượt biển, trong số này có một anh bạn nguyên là sĩ quan Hải quân có nhiều kinh nghiệm hải hành. Nơi bọn tôi hẹn gặp gỡ là một cái quán nhỏ của gia đình người bạn tù khác nằm gần khu Hòn Chồng.

Một hôm, sau khi bàn công việc và ăn uống xong, tôi bỗng nghĩ tới anh Trung sĩ Hùng Em, khi chợt nhớ ngôi mộ của anh cũng nằm gần nơi này. Tôi nhờ anh bạn chở tôi đến đó. Vì nghĩa trang nhỏ, nên tôi dễ dàng tìm ra ngôi mộ của anh Hùng Em. Điều làm tôi sững sờ là ngôi mộ nằm bên cạnh có tấm bia ghi đậm tên người quá cố: Sœur Anna Phan Thụy Khanh, được Chúa gọi về ngày 15/3/1975.

Tôi không biết vì sao cô chết, chỉ còn nhớ thời gian này đã từng xảy ra cuộc di tản kinh hoàng trên Tỉnh Lộ 7B. Chúng tôi tìm đến nhà thờ với ý định hỏi thăm cha xứ, nhưng rất tiếc ngài đi vắng, trong nhà thờ chỉ có hai thiếu niên rất trẻ, không hề biết sœur Anna là ai.

Khi rời khỏi nơi này, trong cái man mác buồn tôi bất chợt thấy vui vui, và buột miệng như để nói với chính mình:

– Cuối cùng thì hai người cũng được ở bên nhau.

Tôi chưa (và có lẽ không) có cơ hội nào để trở lại Pleiku. Ngày xưa, tôi chỉ ghé lại thành phố bụi đỏ này một đôi lần ngắn ngủi, như chỉ một thoáng chợt đến chợt đi, chưa hề làm quen với một “em Pleiku má đỏ môi hồng” nào.

Ngoài Đồi Đức Mẹ, nơi đơn vị đóng quân một tháng, cả một tháng gió mưa lầy lội, tôi chỉ còn nhớ cái quán rượu trong Khu Chợ Mới, nơi anh bạn Biệt Động Quân đưa tôi đến để tìm những cơn say, và một ngôi trường được dùng làm cô nhi viện, nơi có sœur Anna xinh đẹp, đã gợi lại trong tôi hình ảnh của những đồng đội đáng mến mà vắn số như Nguyễn Phú Hùng Em.

Tôi da diết nhớ đơn vị cũ, thời chúng tôi còn trai trẻ, nhớ từng khuôn mặt bạn bè đã nằm lại trên các chiến trường xưa hay đang lưu lạc muôn phương, tiếc thương cho cuộc tình đẹp của những người lính trẻ, lãng mạn, thơ mộng, nồng nàn nhưng sớm chia lìa đớn đau bởi cuộc chiến tranh oan nghiệt.



Phạm Tín An Ninh

-Hình minh họa - Internet

 

 Kim Kỳ sưu tầm

 
Xem thêm...

TRẦN TRUNG ĐẠO: KHI BÀI HÁT TRỞ VỀ

Tưởng Niệm 30 tháng 4, 2019

TRẦN TRUNG ĐẠO:

KHI BÀI HÁT TRỞ VỀ

Nếu phải xếp hạng những bài hát được sinh ra và lớn lên cùng với thăng trầm của đất nước, với thao thức của thanh niên, sinh viên, học sinh, với tâm trạng của những người lính trẻ trong cuộc chiến tranh tự vệ đầy gian khổ ở miền Nam trước đây, tôi tin, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang sẽ là một trong những bài ca được xếp hàng đầu.

Không giống như một số hành khúc quen thuộc trong giới trẻ trước 1975 như Dậy mà đi của Nguyễn Xuân Tân, Tổ quốc ơi ta đã nghe của La Hữu Vang thiết tha, mạnh mẽ nhưng chỉ giới hạn trong các phong trào sinh viên tranh đấu và ngay khi ra đời đã bị Đảng sử dụng cho mục đích tuyên truyền trong các trường đại học, các đô thị miền Nam, hay Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy chan chứa tình dân tộc, kêu gọi người người thương mến nhau nhưng thiếu đi cái hùng khí, sôi nổi của tuổi trẻ, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của Nguyễn Đức Quang không dừng lại ở nỗi đau của đất nước mà còn nói lên cả những bi thương, công phẫn, thách đố của tuổi trẻ Việt Nam trước những tàn phá của chiến tranh và tham vọng của con người.

Trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam, Việt Nam quê hương ngạo nghễ nổi bật lên như một biểu tượng cho khát vọng của một dân tộc đã vượt qua bao nhiêu gian nan khốn khó để tồn tại và vươn lên cùng các dân tộc khác trên mặt đất nầy.

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm

Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang.

Lời nhạc của Việt Nam quê hương ngạo nghễ tương đối khó nhớ nhưng nhờ cách sử dụng ngôn ngữ trẻ trung, mạnh mẽ, tượng thanh, tượng hình như “tiếng cười ngạo nghễ”, “xích kêu loang xoang”, “trên bàn chông hát cười đùa vang vang” hay “Da chan mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi” đã làm cho Việt Nam quê hương ngạo nghễ trở thành độc đáo, không giống như những bài ca yêu nước khác với những ý tưởng quen thuộc và lời ca phần lớn là lập lại nhau.

Việt Nam quê hương ngạo nghễ đẹp tự nhiên như một đoá lan rừng, không mang màu sắc chính trị, không nhằm cổ võ hay biện minh cho một chủ nghĩa nào, không cơ quan nhà nước nào chỉ đạo thanh niên sinh viên học sinh phải hát và bài hát cũng chẳng nhằm phục vụ lợi ích riêng của chính quyền, tôn giáo hay đảng phái chính trị nào.

Trước 1975, từ thành phố đến thôn quê, từ các trường trung học tỉnh lẻ đến đại học lớn như Huế, Sài Gòn, từ các phong trào Hướng đạo, Du ca đến các tổ chức trẻ của các tôn giáo như Thanh niên Công giáo, Gia đình Phật tử, từ các quân trường Đà Lạt, Thủ Đức, Quang Trung, Nha Trang đến các tổ chức, đoàn thể xã hội từ thiện đều hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ.

Sau 1975, bài hát theo chân hàng trăm ngàn sĩ quan và viên chức miền Nam đi vào tù. Nhiều hồi ký, bút ký kể lại Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã được hát lên, kín đáo hoặc cả công khai, ở nhiều trại tù khắp ba miền đất nước.

Trong tận cùng của đói khát, khổ nhục, đớn đau, Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã hoá thành những hạt cơm trắng, hạt nếp thơm nuôi sống tinh thần những người lính miền Nam sa cơ thất thế.

Những năm sau đó, bài hát, như tác giả của nó và hàng triệu người Việt khác lên đường ra biển tìm tự do. Việt Nam quê hương ngạo nghễ lại được hát lên giữa Thái bình dương giông bão, hát lên ở các trại tỵ nạn Palawan, Paula Bidong, Panat Nikhom trong nỗi nhớ nhà, hát lên ở Sungai Besi, White Head trong những ngày chống cưỡng bách hồi hương, hát lên ở San Jose, Santa Ana, Boston, Paris, Oslo, Sydney trong những cuộc biểu tình cho tự do dân chủ Việt Nam, hát lên ở các trại hè, trại họp bạn Hướng đạo, các tổng hội sinh viên Việt Nam tại hải ngoại.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, trong buổi phỏng vấn dành cho chương trình Tiếng Nói Trẻ đã kể lại câu chuyện ra đời của Việt Nam quê hương ngạo nghễ trong âm nhạc Việt Nam: “…Thế bài Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng vậy, nó không phải là một bài ca tôi nghĩ là quá lớn, nhưng lúc bấy giờ khi tôi kết thúc tập Trường Ca vào năm 1965, cuối 1965 hay đầu 1966 gì đó, khoảng thời gian đó, 10 bài trường ca, những bài như Nỗi buồn nhược tiểu, Tiếng rống đàn bò, Lìa nhau, Thảm kịch khó nói v.v. những bài nói về đất nước của mình rất là khổ sở, tôi nghĩ nên kết nó bằng một bài hát có tiếng gọi hùng tráng và tha thiết hơn. Thành ra tôi viết bài Việt Nam quê hương ngạo nghễ một cách rất là dễ dàng.

Tất cả những ý đó tôi đem vào hết trong bài hát đó để nó vượt qua cái khốn khó, vượt qua cái quê hương nhỏ bé, nhược tiểu mà trở thành một nước to lớn, và lòng người cực kỳ dũng mãnh. Viết xong bài đó tôi nghĩ chỉ kết thúc tập Trường Ca mà thôi, không ngờ về sau càng ngày đi các nơi càng thấy nhiều người ưa thích bài đó, có lẽ đáp được ước vọng của nhiều người, tôi nghĩ tiếng gọi đáp ứng đúng được tiếng của nhiều người, không riêng gì giới trẻ đâu, cả người lớn tuổi ở các hội đoàn về sau này, rồi đi vào trong quân đội, đi rất nhiều nơi. Thành ra, tôi cho đó là một bài hát tự nó trưởng thành nhưng khi viết tôi chỉ đúc kết cho tập Trường Ca lúc đó mà thôi.”

Thật đơn giản và tự nhiên như thế. Không một ông Bộ trưởng Bộ Chiêu hồi nào đặt hàng hay một ông Tổng ủy trưởng Dân vận nào chỉ thị anh phải viết. Anh viết không phải để thi đua sáng tác hay mong mang về giải thưởng, huân chương. Trong tâm hồn của một nghệ sĩ chân chính, tình yêu nước bao giờ cũng là sự thôi thúc tự nguyện. Anh viết Việt Nam quê hương ngạo nghễ để kết thúc tập trường ca của riêng anh nhưng cũng nối tiếp tập trường ca lớn hơn của đất nước.

Sau ba mươi năm, nhiều nhạc sĩ, ca sĩ đã trở về qua nhiều ngả, trong nhiều tư cách khác nhau, một số tình ca sáng tác trước 1975 đã được nghe lại trong nước, nhưng đây là lần đầu tiên một bài hát đã về lại quê hương qua ngả của trái tim, trở về trong vòng tay nồng ấm của tuổi trẻ Việt Nam.

Bất ngờ và cảm động, một buổi sáng tuần trước, khi đi dạo một vòng qua các blog Việt ngữ, tôi bắt gặp không chỉ những mẩu tin nóng viết vội vàng trên đường phố, những đoạn phim biểu tình vừa mới đưa lên YouTube, những tấm hình ghi lại cảnh xô xát giữa đồng bào, sinh viên với công an, nhưng còn được nghe lại bài hát quen thuộc Việt Nam quê hương ngạo nghễ.

Tôi cảm nhận qua lần gặp gỡ đó một niềm vui chung khi có một bản nhạc mà các em sinh viên Việt Nam ở California, Washington DC, Oslo, Paris, Hà Nội, Sài Gòn cùng hăng say hát trong những cuộc biểu tình chống Trung Quốc bành trướng bá quyền mà không cảm thấy ngần ngại, nghi ngờ, xa cách.

Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người

Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi

Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi

Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian.

Trong số một trăm em đang hát trong nước hôm nay có thể hơn chín mươi em chưa hề nghe đến tên Nguyễn Đức Quang lần nào, và nếu có nghe, có đọc qua bộ máy tuyên truyền của Đảng, cũng chỉ là một “nhạc sĩ ngụy đã theo chân đế quốc”. Biết hay không biết, nghe hay không nghe không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là bài hát đã đáp ứng được ước vọng về tương lai và tình yêu tổ quốc của tuổi trẻ. Tổ quốc, vâng, không có gì lớn hơn tổ quốc.

Văn hoá không phải chỉ là đời sống của một dân tộc mà còn là những gì giữ lại được sau những tàn phá, lãng quên. Việt Nam quê hương ngạo nghễ sau 30 tháng Tư 1975 hẳn đã nằm trong danh sách các tác phẩm “văn hoá đồi trụy” mà Đảng tìm mọi cách để xóa bỏ, tận diệt. Thế nhưng, như giọt nước rỉ ra từ kẽ đá và như bông hoa mọc giữa rừng gai, bài hát đã sống sót, đã ra đi và đã trở về. Để tồn tại, một bài thơ, một bản nhạc cũng phải trải qua những gạn lọc, những cuộc bỏ phiếu công bằng không chỉ của người nghe, người đọc dưới một chế độ chính trị nào đó mà còn của cả lịch sử lâu dài.

Bài hát phát xuất từ tình yêu nước trong sáng như Việt Nam quê hương ngạo nghễ sẽ ở lại rất lâu trong lòng tuổi trẻ Việt Nam hôm nay và nhiều thế hệ mai sau. Là một người thích tham gia các sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, bài hát mang tôi về thời trẻ tuổi của mình.

Tôi còn nhớ, mùa hè 1973, khi còn là sinh viên năm thứ nhất, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng là nhạc sinh hoạt chính của trại hè sinh viên toàn quốc quy tụ đại diện sinh viên các trường đại học và cả sinh viên du học về nghỉ hè, do Bộ Giáo dục và Thanh niên tổ chức lần đầu và có lẽ cũng là lần cuối tại trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tàu. Đêm trước ngày chia tay, chúng tôi không ai ngủ được.

Ngày mai sẽ mỗi người mỗi ngả, chị về Huế, anh về Đà Lạt, em về Cần Thơ và đa số chúng tôi sẽ trở lại Sài Gòn. Cùng một thế hệ chiến tranh như nhau, khi chia tay biết bao giờ còn gặp lại. Những ngày tháng đó, cuộc chiến vẫn còn trong cao điểm. Mỹ đã rút quân nên máu chảy trên ruộng đồng Việt Nam chỉ còn là máu Việt Nam. Thảm cảnh của “mùa hè đỏ lửa” chưa qua hết.

Trên khắp miền Nam, đâu đâu cũng có đánh nhau, đâu đâu cũng có người chạy giặc. Mơ ước của tuổi trẻ chúng tôi là được thấy một ngày đất nước hoà bình, một ngày quê hương không còn nghe tiếng súng. Đêm cuối trại hè, chúng tôi ngồi quây quần thành một vòng tròn rộng quanh cột cờ trường Thiếu Sinh Quân và hát nhạc cộng đồng như để vơi đi những vương vấn, lo âu đang trĩu nặng trong lòng. Bài hát được hát nhiều nhất trong đêm đó là Việt Nam quê hương ngạo nghễ, và khi điệp khúc cất lên cũng là khi chúng tôi hát trong nước mắt:

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại

Xương da thịt này cha ông miệt mài

Từng giờ qua

Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi.

Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang

Trên bàn chông hát cười đùa vang vang

Còn Việt Nam

Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng.

Những giọt nước mắt của tuổi sinh viên nhỏ xuống xót thương cho dân tộc mình. Tại sao có chiến tranh và tại sao chiến tranh đã xảy ra trên đất nước chúng tôi mà không phải tại một quốc gia nào khác? Mấy tháng sau, tháng Giêng năm 1974, bài hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã được hát vang trên đường phố Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ sau khi Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc. Những bản tin đánh đi từ Đà Nẵng, danh sách những người hy sinh được đọc trên các đài phát thanh làm rơi nước mắt.

Và hôm nay, ba mươi ba năm sau, trong cái lạnh mùa đông trên xứ người, những lời nhạc Việt Nam quê hương ngạo nghễ từ YouTube phát ra như xoáy vào tim. Tôi lại nghĩ đến các anh, những người đã hy sinh ở Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974, ở Trường Sa tháng Ba năm 1988. Các anh khác nhau ở chiếc áo nhưng cùng một mái tóc đen, một màu máu đỏ, một giống da vàng, cùng ăn hạt gạo thơm, hạt muối mặn, cùng lớn lên bằng giòng sữa mẹ Việt Nam, và cùng chết dưới bàn tay hải quân Trung Quốc xâm lăng.

Việt Nam, sau ba mươi ba năm “độc lập, tự do” vẫn chưa thoát ra khỏi số phận nhược tiểu bị xâm lược, vẫn chưa tháo được cái vòng kim cô Trung Quốc trên đầu. Việt Nam có một lãnh hải dài trên ba ngàn cây số nhưng thực tế không còn có biển. Cả hành lang Đông hải rộng bao la từ Hải Nam đến Hoàng Sa và xuống tận Trường Sa đã bị Trung Quốc chiếm. Nếu vẽ một đường cung dọc theo lãnh hải đó, ngư dân Việt Nam chỉ còn có thể đi câu cá ven bờ chứ không thể đánh cá như ngư dân Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan hay các quốc gia khác trong vùng biển Đông.

Phía sau tấm bảng in đậm “mười sáu chữ vàng” hữu nghị thắm thiết giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc là thân xác của ngư dân Việt Nam trôi bềnh bồng dọc các hải đảo của tổ tiên mình để lại.

Dù sao, tuổi trẻ Việt Nam, khác với các thế hệ Tân Trào, Pác Bó trước đây, thế hệ Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay có nhiều cơ hội tiếp xúc, học hỏi và so sánh giữa chế độ các em đang sống với các tư tưởng tự do dân chủ, khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ đó, hy vọng các em sẽ có những chọn lựa đúng cho mình và cho đất nước phù hợp với dòng chảy của văn minh nhân loại.

Trong cuộc chiến Việt Nam dài mấy mươi năm Đảng đã sản xuất ra không biết bao nhiêu bài hát, bài thơ kích động lòng yêu nước nhưng tại sao các em không đọc, không hát nữa? Như một độc giả trong nước đã trả lời, đơn giản chỉ vì chúng nhạt nhẽo. Ý thức sâu sắc đó đã được thể hiện không chỉ trong khẩu hiệu các em hô mà ngay cả trong những bài hát các em hát.

Sau những Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, Dậy mà đi, Nối vòng tay lớn của những ngày đầu phong trào, các bạn trẻ trong nước đã đi tìm những nhạc phẩm nói lên lòng yêu nước trong sáng, tích cực, không bị ô nhiễm, chưa từng bị lợi dụng và họ đã tìm được Việt Nam quê hương ngạo nghễ.

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng

Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm

Da chan mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi

Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời.

Mỗi khi nhắc đến những khó khăn đất nước, chúng ta thường nghe đến những “bất hạnh”, “nỗi đau”, “tính tự ti mặc cảm”, vâng đó là một thực tế hôm nay, thế nhưng dân tộc Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu, nước non bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” như Nguyễn Trãi khẳng định, không phải chỉ biết đau, biết tự ti mặc cảm mà thôi nhưng từ những nỗi đau đã biết lớn lên bằng tự hào và kiêu hãnh làm người Việt Nam.

Chỗ dựa tinh thần của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay không có gì khác hơn là lịch sử. Không thể làm nên lịch sử mà không cần học lịch sử. Lịch sử sẽ là vũ khí, là hành trang trong hành trình tranh đấu cho một nước Việt Nam mới, cũng như để xây dựng một Việt Nam tươi đẹp sau nầy.

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người

Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam

Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian

Hỡi những ai gục xuống ngoi dậy hùng cường đi lên.

Việt Nam quê hương ngạo nghễ như giọt nước mắt bi tráng của tuổi trẻ Việt Nam ngày nào nhỏ xuống trên quê hương chiến tranh khốn khổ, đã bốc thành hơi, tụ thành mây và sau bao năm vần vũ khắp góc bể chân trời đã trở về quê hương qua ánh mắt của em, qua nụ cười của chị, qua tiếng hát của anh, hồn nhiên và trong sáng.

Từ “vết thương rỉ máu” của một dân tộc đã từng bị nhiều đế quốc thay phiên bóc lột, lợi dụng và hôm nay còn đang chịu đựng trong áp bức của độc tài đảng trị, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cất lên như một lời khuyên, hãy sống và hãy vững tin vào lịch sử, sẽ có một ngày, sẽ có một ngày.

Trần Trung Đạo

VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG NGẠO NGHỄ 


Nguyễn Đức Quang sáng tác

 
Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn 
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang 
Lê sau bàn chân gông xiềng cuộc đời xa xăm 
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang!

Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người 
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi 
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi 
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian!

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại 
Xương da thịt này cha ông miệt mài 
Từng ngày qua,
Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức khôn nguôi!

Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang 
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang 
Còn Việt Nam,
Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng!

Lời 2 : 
Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng 
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm 
Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi 
Ôm vết thương rỉ máu, ta cười dưới ánh mặt trời

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người 
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam 
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian 
Hỡi những ai gục xuống trổi dậy hùng cường đi lên!

 

 

~~~~~~~~

 

Tiểu Sử & Tác Phẩm

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang

 

Cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, sau một căn bịnh hiểm nghèo kéo dài hơn tháng qua, đã qua đời lúc 4 giờ sáng hôm nay (3/27/2011) tại California. Nhạc sĩ tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây. Theo gia đình vào Nam năm 1954. Sinh sống tại Ðà Lạt từ năm 1958.


Tốt nghiệp Đại học Ðà Lạt, phân khoa Chính Trị Kinh Doanh khóa 1. Bắt đầu sáng tác nhạc năm 1961. Ca khúc đầu tay dành cho Hướng đạo với tên "Gươm Thiêng Hào Kiệt".

Sau biến chuyển chính trị lớn ở miền Nam năm 63, bắt đầu cảm hứng về nhạc Thanh niên và những vấn đề đất nước.
Năm 1964, chuyển qua hẳn những ca khúc có chủ đề Tuổi trẻ, Quê hương, Dân tộc, xây dựng những đề tài mới cho tập Trầm Ca, hát nhạc tranh đấu xã hội và nhạc sinh hoạt thanh niên và thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam năm 1966.

Năm 1979 cùng gia đình đến Hoa Kỳ, hoạt động liên tục trong ngành truyền thông tại hải ngoại.

Mục Lục Những Ca Khúc Tiêu Biểu

Măi đến sau 1965, một số những bài hát của Nguyễn Đức Quang mới xuất hiện rải rác trên một số ấn phẩm sách, báo và vài tuyển tập sơ sài do tình hình thiếu thốn phương tiện và điều kiện lúc bấy giờ, người ta đã thấy có các tập nhạc in bằng ronéo như: Trầm Ca, Những Bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Thỏ Thẻ Loan Phòng v..v.

Năm 1995, Ngô Mạnh Thu và Nguyễn Thiện Cơ trong nhóm Đồng Vọng thu gom lại hầu hết bản nhạc trong các tập nhạc chính và ấn hành tuyển tập Dưới Ánh Mặt Trời gồm 69 bài. Duới đây là những nét chính và 9 tập nhạc đã được tác giả hình thành trên suốt quãng đường sinh hoạt và sáng tác của anh. ( Trích trong ” Về những ca khúc Nguyễn Đức Quang đă viết” trong tuyển tập “Dưới Ánh Mặt Trời” )

Ấn Phẩm Đã Phát Hành:

1. Chuyện Chúng Mình:
52 ca khúc, viết từ 1960 đến 1964, thời kỳ đầu sáng tác, hầu hết là các khúc tình ca tuổi học trò và thời gian sinh sống tại Đà Lạt. Một số bài như: Chuyện Người Con Gái , Khôn Hồn Có Cánh Thì Bay, Trẫm Nhớ Ái Khanh Không? (phổ thơ Nhất Tuấn), Lửa Từ Bi ( Thơ Vũ Hoàng Chương).

 

2. Trầm Ca:

10 ca khúc cho thanh niên và thời cuộc, những thao thức lớn nhất về con người, đất nước.
Những ca khúc này tạo nên cả một cao trào tuổi trẻ nhập cuộc vào các sinh hoạt.
Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Người Anh Vĩnh Bình, Tiếng Hát Tự Do, Chiều Qua Tuy Hòa, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ là dấu ấn chưa phai mờ trong nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam từ đó đến nay.

 

3. Những Bài Ca Khai Phá:

trên 40 ca khúc sinh hoạt đặc biệt cho tuổi tr , sinh viên, học sinh dùng trong các buổi họp mặt công tác xã hội, các hoạt động đám đông, là tiếng kêu gọi tuổi trẻ đến với nhau cùng xây dựng một đất nước và niềm tin: Không Phải Là Lúc, Về Với Mẹ Cha, Dưới Ánh Mặt Trời, Chuyện Quê Ta, Hy Vọng Đã Vươn Lên, Một Giấc Chiêm Bao, Về Miền Gian Nan v..v..

Khởi động phong trào hát cộng đồng, hát chung khắp mọi nơi, sau này được lan truyền sang nhiều địa hạt và nhiều giới khác, kể cả tôn giáo.
Du Ca trở thành hình ảnh mẫu mực con người xã hội mới, đi vào phim ảnh Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương.

 

4. Cần Nhau:
12 tình khúc được biết đến nhiều với:

Bên Kia Sông, Vì Tôi Là Linh Mục, Cần Nhau, Như Mây Trên Cao, Vỗ Cánh Chim Bay ..

 

5. Thỏ Thẻ Loan Phòng (hay Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc):

18 bài sinh hoạt trong ngày hạnh phúc lứa đôi, hình thành 1969, nhiều bài hì́nh như đã thành nếp trong các đám cưới như:
Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc, Đám Cưới Chúng Mình, Lũ Chén Dĩa Tội Tì́nh Gì, Đường Đến Hạnh Phúc .

 

6. Khúc Nhạc Thanh Xuân:
Khoảng 40 bài nhạc sinh hoạt thanh niên quốc tế.

Nhiều nhất là các ca khúc trong thời lập quốc Do Thái, phong trào Kibbuz, những bài hát nhân quyền, tự do từ Âu sang Á và Mỹ như:
Về Miền Gian Nan, Bài Ca Hải Tặc, Quân Đoàn Thức Tỉnh, Không Ai Là Hoang Đảo …
được chuyển qua lời Việt để sử dụng trong nhiều sinh hoạt tuổi trẻ.

 

7. Hương Đồng Quê:
Các khúc Dân Ca và nhạc đồng quê nổi tiếng trên thế giới chuyển dịch sang lời Việt, gần 200 bài như Bài Ca Sông Hồng, Những Bụi Hoa Dại, Em Yêu Dấu Hỡi, Bên Bờ Sông Ohio, Tâm Sự Chú Lừa …

hầu hết bị thất lạc năm 1975.

 

8. Phúc Ca Mùa Lễ:
25 bài đồng dao quốc tế hát trong mùa Gíáng sinh như : Jingle Bells, The Christmas Tree, Silent Night

được coi là những khúc hát vui trong mùa an bình của nhân loại.

 

9. Ruồi Và Kên Kên:
Hoàn tất năm 1970, gồm 11 bài, là những ca khúc bi phẫn về những vấn đề lớn nhất trong một khung cảnh chính trị và xă hội đen tối nhất của cả 2 miền đất nước:

Im Lặng Là Ðồng Lõa, Ruồi Và Kên Kên, Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi, Phòng Thí Nghiệm Công Cộng, Vụ Án Cuối Cùng 
Những ca khúc này vẫn được yêu chuộng cho đến nay.

 

10. Dưới Ánh Mặt Trời:
gồm những sáng tác trong tập Trầm Ca, Những Bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Chuyện Chúng Mình, Cần Nhau, Khúc Nhạc Thanh Xuân, Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc …

Xuất bản Ðồng Vọng 1997 tại Cali- USA

 

Hồng Anh sưu tầm

Xem thêm...

MÀU ÁO ẤY... ( Thầy Nguyễn Tư Thiếp )

MÀU ÁO ẤY...

▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

  *"Tôi vẫn yêu màu áo ấy vô cùng..."
                              (Nguyên-Sa)

Canberra vẫn tiếp tục mưa. Mưa như đã mưa từ buổi sáng lờ mờ. Trời u ám, mây xám lênh đênh... Những tòa cao ốc của Kinh đô Úc chìm trong làn mưa bụi trắng mịt mù. Những hàng cây xanh lạnh co ro đứng thẳng hàng, ngọn vút lên trời, dường như cũng đang ngập theo màu sương đục mơ hồ ấy, làm cho lòng Phi chùng xuống, không cảm thấy được niềm vui của cuộc đi chơi bất ngờ hôm nay: Ngày Xuân FLORIADE - Hội chợ Hoa Tulips Canberra!
 
Những thảm cỏ xanh mượt-mà đẫm nước, phơn-phớt những vết bùn đỏ do những người xem hoa mang vào từ các lối đi trải sỏi đỏ màu Cao nguyên bên nhà...Tiếng nhạc từ sân khấu nơi đầu đường, được kê trên những cái bục thấp, vẫn xình-xình, đơn lẻ, mang theo sự mỏi mệt dài ngày. Từ căn lều trắng đó, vọng ra một thứ âm thanh không vui lắm của chiếc kèn đồng rã rời, chậm chạp như xa-xăm đâu từ cõi nào! Bên cạnh là người ca sĩ râu ria, ốm nhom, đang cúi người xuống, tay cầm cái Micro một cách hững hờ, giọng đặc khàn trong tư thế của một người hát lấy lệ theo một hợp đồng nào đó với Ban Tổ chức thuê mướn. Cũng có thể sự hết nhiệt tình trình diễn, bắt nguồn từ sự thấm mệt, vì Hội Hoa đã sắp đến ngày cuối cùng... hoặc vì khán thính giả bên dưới quá lưa thưa, chẳng thấy ai, ngoại trừ vài người đàn ông đứng ngơ ngác, gặm những miếng Hamburger vội vã cho qua
bữa, dưới những tàn cây sũng nước, mà họ đang núp để tránh những hạt mưa rả rích từ đêm qua...
 
 Vậy mà, vẫn người là người, chen chúc bên nhau, áo quần, mũ nón, màu sắc sặc sỡ theo hoa. Họ trằm trồ, chỉ chỏ, xuýt xoa... dưới những tàn dù ướt đẫm, nhưng vẫn ánh ngời màu của vải "nylon" rực rỡ, muôn hồng ngàn tía, chụp phủ lên những luống hoa tươi, tạo thành những rừng hoa khác lớn hơn, rậm hơn. Hoa người và hoa thực trộn lẫn với nhau trong thế giới hỗn mang của màu sắc, nhất là những nụ hoa Tulips có cuống dài vươn lên cao khỏi những luống đất có hình thù khác nhau, nằm rải rác trong khu Công viên. Những màu là màu, từ đỏ thẳm tới hồng phấn, hồng nhung, hoàng yến, nguyệt bạch và vàng cam... của Tulips, đến những màu tím than, vàng đốm, tím hoa cà... của những cụm hoa Pensée thấp lè tè, bị những vết đất bám vào những chiếc lá xanh do những cơn mưa lớn dài ngày."Pensée" có nghĩa là hoa"Nhớ", được kể từ một câu chuyện tình đau thương, để trở thành tên một loài hoa nhỏ bé. Nhìn những nụ hoa mong manh đầy màu sắc này, hốt nhiên làm cho Phi nghĩ đến một vùng sương mù trong trí nhớ. Ngày đó chàng chưa tròn 20 tuổi, tuổi của thời mộng mị, đang theo học lớp Đệ nhất (12) của trường Trần Hưng Đạo - Đàlạt, ngôi trường Công lập lớn nhất vùng này, tọa lạc trên những ngọn đồi dài với những độ cao khác nhau, cạnh hồ Lạc Thiện quanh năm lặng lờ buốt giá. Từ nơi khung cửa sổ của lớp học này, trên từng lầu một, ngay đầu ngọn đồi, vào những buổi chiều tà, Phi thường thấy cô giáo Nguyễn Thị Hoàng (lúc đó mới bắt đầu viết Văn) hay choàng chiếc áo lông trắng như bông, cầm trái banh đi nhún nhẩy ngang qua sân bóng rổ. Cô nhỏ người, gọn và đôi mắt long lanh - triệu chứng của những sôi nổi trong nghề cầmbút sau này... với tác phẩm lừng danh miền Nam “Vòng tay học trò” ...
 
Image result for MÀU ÁO ẤY...
 Những ngày học hành tạm bợ ở đây - vì Phi chỉ lưu lại xứ này chưa hết một năm bởi những quyết định riêng tư không ngờ trước được - hắn thường lén vào những khu vườn trồng tỉa hay trong những tư thất sang trọng để hái trộm những cánh hoa "Pensée" xinh đẹp này, đem về ép khô trong vở, cũng chỉ để tặng cho một người tên Thùy, mà cho đến bây giờ, sau những bể dâu tang thương cùng cực, Phi cũng không hề biết người ấy nơi đâu!? Và, chính người này, đã vô tình đẩy hắn vào đời binh lửa mịt mùng, sau đó chẳng bao lâu, dù hắn chẳng bao giờ mơ mình sẽ trở thành người "Chinh phu" trong thời ly loạn!
 
Quà chia tay nhau bằng những câu thơ sau cùng, trao vội cho Thùy ở ngọn đồi chiều bên khu Domaine De Marie, trước khi Phi đáp chuyến tàu đêm tốc hành trở về vùng Nha trang biển mặn, để chẳng trở lại nơi ấy bao giờ...Những câu thơ bùi ngùi ở tuổi thanh xuân, từ một người chỉ có trái tim đau, nóng bỏng, sắp trở thành tên Giác đấu tội tình của thời cuộc, đã nói về một loài hoa khác hơn: hoa"Oubliée"- có nghĩa là hoa"Quên", trái với hoa"Nhớ:"Pensée:
 
"Em về, nhớ lấy hoa Quên,
Dẫu cho mộng đã không đền từ đây..."(NT)
 
Related image
 Hai câu thơ học trò, được Phi chép cẩn thận trên một mảnh giấy nhỏ màu xanh lam, có đính những nụ hoa "Oubliée" ép khô vụn vỡ như tình hắn lúc đó, rồi bỏ vào một phong bì dày, trao cho người tình xưa (nàng thường mặc áo dài lụa vàng sậm, quần "soie" trắng, choàng khăn voile tím thẩm, đi chơi đồi với Phi vào những ngày nghỉ học) để dành làm của "hồi môn" trước khi đi lấy chồng, và hắn trở thành cánh chim bay lạc loài, với vết thương không nguôi ngoai, nơi cuối trời u tối...
 
Đã "Quên" sao còn "Nhớ"? Đó là những nghịch lý phải chấp nhận trong thân phận làm người, mà trong cuộc đời, vốn ngắn ngủi, đầy gian truân này, họ đã phải đành lòng mang theo như một thứ hành trang không thể chối bỏ, như con thú dữ mang mũi tên độc bị gãy vào người, mà nó không thể tự mình rút ra! Hay đúng hơn, nó không “nỡ” rút ra, bởi nếu rút mũi tên ra, thì nó sẽ ngã lăn ra chết.Chết vì không còn gì để sống, dù sống trong những cơn đau miên man, khi những độc tố đã trở thành chất miễn nhiễm trong một cơ thể đã bảo hòa với những chai cứng ưu tư... Phi đã mang một mũi tên độc như thế trong lòng suốt mấy chục năm nay, những tưởng đã nguôi quên khi trí nhớ mình bị phủ lên bởi một lớp bụi thời gian, dày đặc những tang thương đủ để che lấp đi những mầm ung thư hóa thạch.Nhưng không, hôm nay nó lồng lộng trở về, như một tình cờ bất chợt - trong
Phi - trên vùng đất lạ này, giữa một rừng người và những hoa là hoa...
 
Image result for MÀU ÁO ẤY...
 Phi đứng một mình dưới cơn mưa thực lâu, cạnh tấm bảng ghi dòng chữ lớn theo kiểu "fantaisie" như những câu thơ mà hắn đã chép trong thời mới lớn. Chữ nhạt, kiểu cọ, màu xanh da trời rất đẹp: "WELCOME TO CANBERRÁS FLORIADE SPRING FESTIVAL" bên luống hoa Tulips màu vàng nở rộ. Phi yêu màu vàng sậm như yêu một phần đời sống trong quá khứ, mình đã trót cầm giữ như những kỷ niệm xa xăm, dù trong thâm tâm cũng biết rằng màu vàng là màu của "phụ bạc" từ lâu, nên Phi cũng đã ghi 2 câu Thơ về màu đẹp riêng của mình, nhưng lại đầy dang dở này:
 
“Em về, một cõi Thu vàng áo, 
Có nghe màu tà-dương phai hương...” (NT) 
 
Buổi trưa trời hé nắng một lát. Từng chùm ánh sáng chói chang hình rẽ quạt,chọc qua khe hở của khoảng trời thấp, giữa những đám mây đen kịt màu khói đậm - loại mây "Cumulus" chồng chất những e ngại cho những cánh chim trời lộng gió một thời:"Mây là kẻ thù của các phi-công" như lời nhắc nhở cẩn trọng trong những nguyên tắc an-phi nơi  những giờ Khí tượng mà đã có một lần hắn mơ ước dở dang...
 
Khu vườn hoa trở nên sáng rỡ lạ thường dưới những chùm nắng mới vàng lụa, ánh lên những hạt nước long lanh như một rừng kim cương... Phi thả bộ một mình với cái bọc "nylon" màu đen cố hữu, bên ngoài vẽ nhãn hiệu của một tiệm buôn quần áo thể thao, bên trong chỉ có cuốn sổ tay rách nát với cây bút chì - loại bút mà hắn ưa dùng với thói quen giản tiện. Bút và giấy chỉ để ghi những điều cần thiết khi trí nhớ đã mỏi mòn không còn khả năng dung chứa những điều đãi lọc trong mớ hỗ lốn của cuộc đời, mà những kẻ vô tư thường chỉ ngủ yên với trời mộng mị...Đôi khi, cũng có thể là những bức tranh được Phi vẽ tình cờ trên đầu gối, nơi một sân ga, một góc phố, hay một bàn ăn trong chiếc quán nào đó từ những gợi cảm bất chợt vừa đến với mình. Cũng có thể là vài xấp bản thảo để gửi đi cho các cột báo định kỳ, bởi vì hắn cũng cần sống như mọi người bình thường, mà không cần nhờ vả đến ai, khi mình có thể...
 
Hôm nay, Phi có mang theo chiếc máy hình tài tử, mà ít khi nào hắn dùng tới, trừ những khi đi làm phóng sự trong những sinh hoạt đặc biệt. Nhưng bây giờ hắn mang nó như một người du ngoạn cô độc, muốn rong chơi một ngày trong Hội Hoa để tạm quên đi những buồn phiền chồng chất do những đưa đẩy của cuộc đời, mà mình chỉ là một cọng rêu xanh, lặng lờ trôi trong dòng tử sinh không bao giờ cưỡng nổi! Vậy mà, điều buồn cười hơn, tối hôm qua Phi lại lắp vào máy một cuộn phim trắng đen, dành để chụp chân dung cho một người quen, thay vì một cuộn phim màu cho mộtmùa Hội Hoa bừng nở. Quả là hắn "điên", thế mới biết đầu óc mình bây giờ là một thứ lòng bong, rối nùi, không định hướng, không mở lối ra... Máy ảnh "automatic" là loại máy dành riêng cho những người chơi ảnh tài tử, chỉ muốn ghi lại những kỷ niệm cần thiết mà không quan tâm gì tới khía cạnh nghệ thuật của nó, khác với máy chuyên nghiệp dùng để săn hình Art, cần sự tham dự của đôi bàn tay, và cái nhìn đặc thù của người cầm máy đầy sáng tạo cá nhân. Bởi vì anh ta phải tự mình điều chỉnh ánh sáng, bằng cách chọn độ mở của ống kính, xác định độ nhanh của máy trập, và khoảng cách từ máy đến vật, độ nhạy của phim...hoàn toàn bằng tay, thế nào cho thích hợp với những tiêu chuẩn của một tấm ảnh "nhà nghề",tùy vào không, thời gian lúc đó bên ngoài, phần lớn do đôi tay mầu nhiệm của người Nghệ sĩ, mà hôm nay Phi đã bỏ lỡ...
 
 Trời lại mưa. Rả rích. Buồn lê thê...Lầy lội và u ám! Phi có cảm giác khó chịu trong một ngày xem Hoa. Lớp bùn nhão màu đất đỏ lầy lên trên các lối đi làm dơ đi nhiều thứ, kể cả những suy nghĩ của con người. Vậy mà, người ta vẫn thản nhiên đi, thản nhiên chọn cho mình một thế đứng ưng ý để chụp một "pose" hình, rồi bấm máy. Phi cho máy vào bọc "nylon", đoạn đi quanh hồ, một cái hồ rộng mênh mông như "Grand Lac" ở Đalạt, ăn thông với một cái Vịnh, sông nước mù mờ, mà từ đây người ta có thể nhìn thấy Tòa nhà Quốc Hội Úc uy nghi phía bên kia. Quanh bờ trồng đầy những cây liễu rủ mềm như tơ trông giống hồ Hoàn Kiếm Hà nội...
 
Giữa muôn hồng ngàn tía, từ những luống hoa, những áo quần ngày Hội, những đốm dù màu sặc sỡ, Phi bất ngờ khám phá ra gia đình của một người Việt nam, nhờ vài tà áo dài phất phơ trông thực đẹp. Một người mặc áo dài thêu hai màu trắng tím, một người khác mặc áo dài màu hoàng yến và quần cùng màu - loại "Fashion" thời thượng của Khánh Ly ngày xưa, và một người mặc áo dài màu cổ đồng, lồng lộng với quần "soie" trắng mộng mơ... đi kèm với cô bé chừng vài tuổi, cũng mặc y
như mẹ vậy...
 
Người đàn bà có lẽ ở tuổi "một con", nên trông phúc hậu lạ thường. Cô đang vén vạt áo ngồi xuống cạnh luống hoa Tulips cùng màu nở rộ, cho người nhà bấm máy. Màu vàng của hoa, và màu áo của người, ánh lên rực rỡ như buổi bình minh, pha lẫn với màu trắng tinh khôi của chiếc quần lụa mỏng, quyện nhau lên mái tóc đen tuyền, ôm kín lấy khuôn mặt còn đẹp hơn cả hoa nữa... nhất là nụ cười, trong cái thế đầu nghiêng-nghiêng, lộng gió, thổi ngược những sợi tóc bay-bay, đánh bật về phía sau, làm cho Phi có cảm giác như mình đang lạc vào"Động Hoa Vàng" của Phạm Thiên Thư ngày xưa, mà "gã từ quan" mộng mơ, đã một lần ôm trăng đánh giấc bên ngọn đồi Dạ Lan tỏa hương thơm ngào ngạt... Phi không ngăn được cảm xúc tràn đầy của mình trước một hình ảnh đẹp hiếm hoi như thế trong đời, nên hắn đến cạnh người đàn ông đang bấm máy, từ tốn hỏi:
 -Tôi có thể bấm máy"ké" được không anh? Cả người lẫn Hoa đẹp quá!
 Người đàn ông tử tế, mỉm cười vui vẻ, đáp:
 -Dạ được, anh!
 -Thanks a lot!
 Thế là, Phi vội quỳ xuống thực nhanh như chừng sợ người đàn ông đổi ý. Chiếc đầu gối quần Jeans của hắn nhận chìm trong lớp sình lầy nhầy màu nâu đỏ, và hắn vội đưa máy lên bấm tí-tách mà trong thâm tâm vẫn tiếc nuối một điều: giá hôm nay mình có vài cuộn phim màu, với cái máy nhà nghề sử dụng bằng tay, chứ không phải cái máy tài tử chết tiệt này, và chẳng có ai ở đây, để cho người thiếu phụ bớt lúng túng, Phi sẽ lăn lộn, bấm máy tha hồ như ý mình muốn, mà không cần chú ý đến dáng điệu của "Model", sẽ làm mất đi vẻ tự nhiên, như cứ bắt người ta “làm dáng” và “cườiduyên” trước khi bấm máy... là điều tối kỵ trong ngành chơi ảnh Nghệ thuật. Nhưng điều đáng mơ ước cao xa hơn: nếu Phi gặp người thiếu phụ này một mình trên một ngọn đồi chiều lộng gió, mà hắn có mang theo giá vẽ và màu... Phi sẽ ghi lại tất cả những điều gì hắn muốn chụp bắt trong ánh hoàng hôn - màu của trời, cũng là màu mùa Thu của áo! Sao cuộc đời con người, lại chỉ được đan kết bằng những ước mơ nhỏ bé không bao giờ thành tựu? Cùng lúc đó Phi nhìn thấy một người Úc đang đưa máy chụp lén phía sau lưng người thiếu phụ có chiếc áo màu vàng sậm đẹp não nùng này... Thì ra, có phải một mình Phi biết xao xuyến trước những cái Đẹp thiêng liêng mang màu sắc Quê hương xa lắc này đâu!?
 
Image result for MÀU ÁO ẤY...
 Sau đó người đàn bà rời luống hoa trở lại với gia đình. Phi đến để cảm ơn mọi người đã cho hắn một cơ hội hiếm có, mà hắn nghĩ đó là những phút giây đẹp nhất trong đời của những người Nghệ sĩ, gọi là “Tổ đãi” theo cách gọi của những nhà nghề, sẽ không bao giờ xảy ra một lần nữa! Những phút giây mà Hồ Dzuếnh đã có lần miệt mài đợi chờ trong im hơi, gọi là "phút linh":
 
"Phút linh cầu mãi không về,
Phân vân giấy trắng chưa nề mực đen!" (HD)
 
Những phút giây đó rất hiếm quý đối với một người say mê Nghệ thguật như Phi, ngay từ những ngày còn rất trẻ, nhưng thời cuộc đã mang hắn đến tận cùng của những gian nan trong cảnh đao binh, khi hắn chỉ là một người lính trận nổi trôi theo Mệnh nước, dù với bất cứ lý do gì... Người đàn bà vuốt tóc, cười hiền lành nói lí nhí:"Cảm ơn anh!", dù cô có vẻ e ngại khi Phi tiết lộ về hắn chỉ có một điều:"Tôi ở Cabramatta lên đây xem Hoa như cô!". Cô e ngại vì sợ Phi là một phóng viên sẽ đem hình cô lên mặt báo thì chết mất. Phi trấn an người đàn bà, nói:"Cô đẹp, hoa đẹvà áo cũng đẹp , s gì!?" Người đàn bà bẽn lẽn cười tươi, để lộ hàm răng đều và trắng, bóng nhẩy, đẹp như trong thơ Nguyên Sa:
 
"Những lúc em cười trong đêm khuya,
Lấy ai nhìn đường răng em trắng...?" (NS)
 
Đôi mắt của người đàn bà cười theo - như mắt của L. ngày xưa -  nàng vừa lấy tay xao ngược mái tóc về phía sau trong một dáng điệu rất tài tử, y hệt như trong những đoạn phim quảng cáo về thuốc gội đầu trên màn ảnh TV mà Phi rất thích xem. Phi không hiểu sao người đàn bà lại nghĩ hắn là một "nhà báo", khi hôm ấy, hắn chỉ là một kẻ “du tử” rong chơi cuối trời quên lãng... trong Hội Hoa như những người khác mà thôi? Với nụ cười cởi mở, người đàn bà nói thêm một lần nữa:"Em cám ơn anh nha!" với giọng Nam mềm mại, và Phi lặp lại tình cảm đó như một đền bù:"Cám ơn cô!", rồi họ chia tay nhau ngược hướng. Mỗi người sẽ mang theo trong lòng mình những suy nghĩ riêng tưkhông ai biết được - trừ họ, dù hạnh phúc hay buồn phiền, thì cũng chỉ để "lạc" nhau đến cuối đời, ít khi nào được gặp lại nhau, như Phi đã không gặp Thùy của những ngày Đà Lạt sương mù, trong một thời gian khá lâu, kể từ chuyến tàu đêm vào một dịp Giáng sinh xa lơ, xa lắc, khi Phi mới chỉ sắp đôi mươi và cực kỳ lãng mạn... đang bước vào lửa đạn oan khiên của chiến tranh không phải với tâm cảm của một nguời yêu nước thực sự mà chỉ muốn quên một nỗi buồn, ngoại trừ lần gặp gỡ ngắn ngủi cuối cùng, tình cờ trên hè phố Sài-gòn ở khu chợ Hoa (lại chợ Hoa) trước nhà sách Khai Trí, vào một dịp Tết, để vĩnh viễn mất nhau từ dạo đó - lâu rồi - khi Phi chỉ là người lính trận ở miền xa trở về, trong bộ Treillis hôi hám, với khẩu Colt 45 mang xéo nơi ngực, đội cái nón rừng màu ngụy trang, có gắn cái hoa mai đen còn ám bụi đường đất đỏ....
Image result for MÀU ÁO ẤY...
 Điều buồn, không phải là do buổi gặp gỡ tình cờ giữa những người quen thân cũ xa cách nhau lâu ngày, nhưng vì câu trả lời của người thiếu nữ hôm đó, mà cho đến bây giờ, mấy chục năm sau Phi vẫn còn nhớ, lúc nàng đứng nói chuyện với hắn trong chiếc áo dài màu vàng nhạt hơn không phảilà cổ-đồng và quần vẫn trắng như ngày xưa, đeo xâu chuỗi hạt trai nơi cổ, khi Phi hỏi:"Anh có làm gì cho Thùy buồn không?", thì cô ấy lặng hinh thực lâu, trong dáng điệu ngập ngừng, hơi nghiêng đầu một chút, rồi đưa tay cầm đuôi tóc mình lên, cúi mặt nhìn vào đó chăm chú như chừng muốn giấu niềm cảm xúc òa vỡ, giọng rưng-rưng:"Dường như anh giận em? Có thể anh không làm gì cho em buồn, nhưng anh cũng đã chẳng làm gì cho em vui!". Phi hiểu tại sao cô ấy nói với hắn điều đó, nhưng để trả lời câu hỏi đầy vẻ trách móc của người xưa, hắn lặng lẽ lấy cái nón rừng rách nát lỗ chỗ những lỗ cháy do tàn thuốc lá rơi vào, nặng mùi chiến trường, hằn lên những đường mồ-hôi muối trắng cáu bẩn nhuốm màu bụi đỏ cao nguyên, dơ dáy.... đưa cho nàng cầm như một lời giải thích đau thương. Người thiếu nữ đưa tay nâng cái nón nhớp nhúa bụi đường và hôi hám đó, một cách thân thương, rồi ép sát nó vào lòng, khi cả hai họ cùng đi đến một quán nước gần đó, mà không hề nói nhau lời nào tình tự cho đến lúc chia tay, ngoài những lặng im khó hiểu, và những thăm hỏi vu vơ... không liên hệ gì đến quá khứ của cả hai người, sau mấy chục năm mất dấu chim b
 
Mãi đến cuối năm 1982, lúc Phi đi tù về, Thùy có đến thăm người em gái của Phi, bạn thân với cô ấy ở Trung kỳ - quê hn - thì nó kể lại rằng:"Chị Thùy có đến đây hỏi thăm tin tức về anh sau ngày mấnước. Chị ấy đã lấy chồng, và vừa có nhau được một đứa con trai... Em nói anh đi tù ở một  vùng rừng Tràm tận mũi Cà mau! Xa quá, ở nhà chẳng ai đi thăm nuôi được, thì chị ấy bàng hoàng một phút lâu, rồi ra hè ngồi một mình bưng mặt khóc sụt sùi ..."
 Cuộc đời, thực ra là những quán trọ bên đường, mà những khách hành hương có thể hội ngộ nhau trong những phút giây mầu nhiệm, vừa đủ để xốn xang trong những cơn buồn úp mặt, từ đó những dấu xưa, có thể gợi lên những niềm trắc ẩn về mình, về người, đôi khi quặn đau trong những giọt nước mắt âm thầm nơi góc tối, mà chính lòng mình cũng không hiểu tại sao? Bởi con người được sinh ra một mình, sống cô đơn - theo một nghĩa Métaphysique nào đó, vì chẳng ai hiểu nổi ai - rồi cũng sẽ phải chết một mình trong hiu quạnh... như có người đã viết:"Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ, chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà...". Hay nói một cách xót xa hơn, như Rilke:"Cet être sans abri..." - Con người ấy, không có chỗ nương thân!
 
Đó là con đường Đời, có thể là con đường tình cờ đầy sình đỏ lầy nhầy trong buổi Hội chợ Hoa ở Canberra hôm nọ - con đường chỉ được đi qua một lần, một lần rồi thôi! Con đường trầm luân của mộng mơ lẫn bể dâu chỉ để đưa đến cuối đời là lòng mộ địa:"Đường chạy vòng quanh một vòng tiều tụymột bờ cỏ non, một bờ mộng mị ngày xưa...Từng lời tà dương là lời mộ địa nghe ra từ suối khe..."(TCS)... Bởi lẽ con người không biết bao dung và thứ tha cho nhau trên "Cõi tạm" này, ngay khi họ đang còn sống mà đã không một lần được gặp mặt nhau... Như ngay bây giờ đây "Em ở đâu, hỡi mùa Thu tóc ngắn?"(NS), trong khi nơi này, trên vùng Nam Bán cầu xa thẳm, sáng nay, dù đã lưu lạc nhiều nơi, nhưng:"Tôi vẫn yêu màu áo ấy vô cùng"….
 
Kim kỳ sưu tầm
 
Related image
Xem thêm...

Kiếp sau em chờ anh ở đâu?

 Kiếp sau em chờ anh ở đâu?

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

 

Hãy nói cho anh, kiếp sau em chờ anh ở đâu?

Mùa đông năm ấy thật lạnh, tuyết rơi nhiều khiến mặt đất biến thành một sân trượt tuyết trơn láng. Anh khẽ xoa đôi bàn tay lạnh cóng kiên nhẫn ngồi đợi cô đến.

***

Nơi anh và cô thường hò hẹn là một công viên nhỏ đối diện nhà cô. Anh đưa mắt nhìn lên cửa sổ phòng cô, đã hơn 7h tối mà sao cô vẫn chưa xuống anh khẽ thở dài lấy một cành cây nhỏ vẽ những vòng tròn trên nền tuyết cứng.

Trong mỗi vòng tròn đó anh đều viết một chứ “yêu” và tất cả chữ yêu đó đều hợp lại thành tên cô. Anh chăm chú vào kiệt tác của mình như quên cả thời gian… Còn cô vẫn lén đứng bên cửa sổ theo dõi mọi cử động của anh. Trái tim cô xót xa khi nhìn anh ngồi một mình lạnh giá. Tình yêu của anh dành cho cô chứa đựng biết bao nhiêu đau đớn và hy sinh.

http://gocnhosantruong.com/media/k2/items/cache/0561cc10daff735d0e0b338e3548f06d_XL.jpg

Anh luôn tự ti và trách móc mình kém cỏi vì chỉ là một người công nhân không thể xứng đáng với cô, sinh viên của một trường đại học. Tình yêu của họ xen lẫn với biết bao đau khổ dằn vặt khi gia đình cô ra sức ngăn cấm. Đã biết bao lần cô muốn rời xa để không mang thêm áp lực đau khổ đến cho anh nhưng trái tim cô lại không thể. Cuối cùng không chịu được cô lao xuống cầu thang…

Cô đứng trước mặt anh. Anh vui mừng chạy đến ôm chặt cô vào lòng: “Cuối cùng em cũng đã đến, anh đã sợ em không thể gặp anh!”. Bàn tay anh khẽ vuốt mái tóc cô, anh dịu dàng nhìn cô nói: “Hôm nay anh phải về nhà thăm bố mẹ một thời gian. Nhưng anh sẽ rất nhớ em!”

“Hãy nói cho anh, kiếp sau em chờ anh ở đâu?”

“Ban ngày mẹ em đi làm anh có thể gọi điện cho em, em sẽ chờ điện thoại của anh, như vậy sẽ giống như chúng mình được ở bên nhau vậy, sẽ không buồn nữa!”. Cô nép mình bên vai anh thầm thì.

Anh khẽ ôm chặt cô hơn và chỉ cho cô thấy tác phẩm trên tuyết mà anh đã làm tặng cô. Trên nền tuyết trắng tên cô được viết bằng hàng trăm chữ yêu hợp lại, trái tim cô run lên vì xúc động, cô biết anh yêu cô rất nhiều.

Anh khẽ lấy tay kéo cao cổ áo cho cô, rồi dặn dò: “Em ở lại nhớ chú ý học hành thật tốt, đừng nhớ đến anh nhiều quá ảnh hưởng đến việc học. Khi nào buồn em cũng đừng nhốt mình trong phòng mà hãy ra ngoài đi dạo, đi chơi với bạn bè. Những lúc không có việc gì thì đan cho anh cái áo len, đến mùa xuân anh sẽ mặc nó được chứ? Như vậy thì lúc nào cũng sẽ có cảm giác anh luôn ở bên em, em sẽ không thấy cô đơn nữa!”.

Nói rồi anh rút ra trong túi một gói giấy nhỏ nhét vào tay cô: “Đây là một ít tiền lương tháng này của anh. Anh đã giữ một ít tiền để đi đường và mua ít quà cho gia đình, còn đâu em giữ lại để mua cho mình một bộ quần áo mới nhé! Cẩn thận đừng để mẹ em biết nếu không anh sợ em phải chịu khổ”.

Cô cầm gói tiền của anh trong tay mà nước mắt lăn dài… Sau đó cô đưa anh ra bến tàu. Khi anh bắt đầu bước lên xe, cô nhét gói tiền vào túi anh và nói: “Anh hãy cầm số tiền này mua thêm ít quà cho bố mẹ, còn em sẽ giữ một đồng coi như là món quà Tết anh tặng cho em. Trên đường đi nhớ bảo trọng anh nhé!” Anh chưa kịp phản ứng gì thì đoàn tàu đã nhanh chóng chuyển bánh. Anh vội vã gọi với lại theo cô: “Giữ gìn sức khỏe em nhé! Anh nhớ em rất nhiều!”. Cô gật đầu vẫy tay nhìn bóng anh khuất xa dần…

Về đến nhà, việc đầu tin là anh gọi điện về cho cô. Nhưng mẹ cô cầm máy, bà lạnh lùng nói: “Anh có phải là người công nhân đang theo đuổi con gái tôi không? Xin anh hãy tránh xa con gái tôi, nó đang ốm và không muốn gặp anh! Lần sau xin anh đừng bao giờ gọi điện đến nữa”.

Anh đau đớn, lẳng lặng dập máy, nghĩ đến cô đang ốm, lòng anh thấp thỏm không yên. Còn cô cả ngày chỉ nằm trên giường chờ điện thoại của anh, nhưng mấy ngày rồi vẫn không thấy anh gọi về, trong lòng cô cũng lo lắng không yên.

Để bớt nhớ anh, cô đi mua len về đan áo như lời anh dặn. Cho đến một ngày chuông điện thoại reo vang, cô nhấc máy vừa nói được tiếng alo thì mẹ cô đã tiến lại gần. Cô chỉ kịp nghe thấy giọng anh gấp gáp: “Là em có phải không? Em sao rồi? Sao không nói gì? Em bị cảm đã đỡ chưa? Trả lời anh đi…Em!

Image result for hình ảnh đẹp tình yêu lãng mạn và hạnh phúc 

Cô không kịp nói gì thì mẹ cô đã ngay lập tức dập máy. Bà tức giận thẳng thừng nói với cô: “Nếu con còn ngang bướng tiếp tục giao du với thằng công nhân đó, thì nhà này coi như không có đứa con gái này nữa!”. Cô đứng đó chết lặng. Chờ mẹ đi rồi cô mới bắt đầu khóc nấc lên, cô nhớ anh vô hạn…

Nhớ lời anh cô rời khỏi nhà ra ngoài đi dạo cho lòng khuây khoả ,cô lại đến nơi anh và cô thường gặp nhau, nhìn những chữ “yêu” anh viết cho cô còn sót lại trên tuyết, nước mắt cô lại rưng rưng.

Cô bước lên xe bus sang nhà người bạn thân tiếp tục công việc đan áo của mình. Đường đi phủ một lớp tuyết cứng dày trơn nhẫy, mặc dù xe đi rất chậm nhưng vẫn bị trượt bánh nhiều lần. Bỗng cô nghe thấy một tiếng “ầm” xé tai, cùng với những mảnh kính nát vụn bắn tung tóe, cuộn len trong túi cô văng ra ngoài cửa sổ.

Cô chỉ kịp nghe tiếng ai thất thanh: “Hai xe đâm nhau rồi”, tay nắm chặt chiếc áo len đang đan cô thiếp đi không biết gì…

1416589030-yeuemhonngayxua

***

Đã hơn ba ngày đêm, cô vẫn hôn mê không tỉnh. Bố mẹ cô khóc sưng cả mắt, tuyệt vọng ngồi bên giường bệnh chờ phép màu xảy ra. Bác sĩ nói nếu cô tỉnh dậy, còn tâm nguyện gì phải làm ngay vì có thể thời gian của cô không còn nhiều nữa.

Đến nửa đêm ngày thứ tư cuối cùng bàn tay cô cũng khẽ động đậy, mẹ cô vụt tỉnh dậy ôm chầm lấy cô òa khóc, giọng bà khản đặc: “Con gái! Con có điều gì muốn nói không? Hãy nói cho mẹ, đừng ngủ nữa con…” Cô mấp máy môi nói được những tiếng đứt đoạn: “Áo..áo…len… mang cho con!”.

Mẹ cô sực tỉnh tìm cái áo len cô vẫn ôm chặt trong tay từ bữa xảy ra tai nạn đưa cho cô. Cô run run muốn giơ tay với lấy nhưng không đủ sức nữa, cô khẽ thều thào vài tiếng “Con…nhớ… anh ấy!”.

v

Bà vội gọi chồng đi tìm số điện thoại của chàng trai và nhắn anh đến bệnh viện ngay! Nghe thấy tên anh, cô khẽ mỉm cười rồi lại thiếp đi… Mẹ cô đau đớn cứ ôm cô mà khóc. Bà vô cùng ân hận vì đã ngăn cản cô đến với anh, bà nghĩ có lẽ tâm nguyện của con gái bà là đan xong cái áo len tặng người con trai ấy. Nghĩ vậy bà lau nước mắt và cặm cụi ngồi đan nốt phần còn lại. Nước mắt của bà cùng máu trên người cô dính vào từng sợi len khiến chiếc áo len trở lên nặng trĩu…

Khi anh đến bệnh viện thì cũng là ngày thứ năm, khuôn mặt anh hốc hác, hai mắt thâm quầng lao đến phòng bệnh của cô. Nhìn thấy cô vẫn thiếp đi trên giường, anh nghẹn ngào nắm chặt đôi bàn tay của cô òa khóc.

Như một phép màu, cô từ từ mở mắt, anh vội lau nhanh những giọt nước mắt trên mặt mỉm cười nhìn cô ấm áp: “Anh đã quay trở lại rồi đây! Em đừng lo lắng nữa nhé, có gì từ từ nói thôi..” Cô mấp máy định nói điều gì mà không thành tiếng, khóe mắt cô những giọt nước mắt thi nhau chảy, rồi cô lại thiếp đi.

qnh-bia-hai-nguoi-om-nhau-8

Anh cứ thế ôm cô khóc nấc lên. Có lẽ dường như nghe thấy tiếng khóc của anh, cô lại từ từ mở mắt, cô dùng hết sức lực thều thào những tiếng cuối cùng: “Đừng khóc nữa…Kiếp sau…em sẽ chờ đợi anh!”.

Nói rồi cô nhắm mắt bất động. Bác sĩ đến. Giọng ông nghẹn lại: “Cô ấy đi rồi! Cô ấy phải muốn gặp anh lắm nên mới có thể chờ anh được lâu đến vậy, đó đúng là một kỳ tích. Bởi não của cô ấy hầu như đã bị chết đến 90% rồi! Anh hãy vững vàng mà sống không nên phụ lòng cô ấy!”

Mẹ cô cũng tiến lại, bà rưng rưng đưa cho anh cái áo len đã đan xong và nói đây là kỷ vật cuối cùng cô để lại.

Anh run run cầm chiếc áo trên tay, nhìn thấy những giọt máu khô trên áo, anh chao đảo quỳ xuống ôm lấy cô gào lên tức tưởi: “Hãy nói cho anh, kiếp sau em chờ anh ở đâu?”

 

HVst

anh-bia-tinh-yeu-dep-lang-man (13)

Xem thêm...
Theo dõi RSS này