Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1378)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (75)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (367)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Hoa Đồng Nội

Hoa Đồng Nội
 

Mỗi lần về thăm quê nội, vừa băng qua đường ray xe lửa, chạy vào con đường rợn ngợp những bụi chè xanh tôi đã hét toáng lên: "Mệ ơi!" Mệ ra đón tôi tận ngoài ngõ, giang rộng đôi tay gầy guộc run run ôm chầm lấy cháu .
Không hiểu sao, trong những đứa cháu nội, mệ thương tôi nhất. Có lẽ vì tôi ở xa mệ, ít có diễm phúc đêm đêm gối đầu trên cánh tay nhăn nheo vì năm tháng để nghe mệ thủ thỉ đọc truyện thơ, để được hít hà mùi trầu ngai ngái mà mệ thường nhai bỏm bẻm. Có thứ gì ngon mệ cũng giấu để dành cho tôi . Nhưng món ăn mà tôi thích nhất là món cá kho khế chính tay mệ nấu .
Sau vườn nhà mệ có một cây khế chua, bốn mùa đều sum suê quả. Tuổi của nó tôi không thể nào tính được. Nghe kể lại, khi mệ còn là một thiếu nữ khế đã có mấy mùa trái . Có tôi về, mệ vội ra chợ Xép lựa những con cá bống thệ còn tươi cong đem về, xắt từng lát khế mỏng bỏ lên trên kho kẹo, thơm phức. Mệ hạnh phúc nhìn cháu ăn ba đến bốn chén cơm. Tôi mong ước sao mùa hè kéo dài để tôi được tận hưởng niềm ngọt ngào của tuổi thơ .
Nhưng rồi mùa hè cũng trôi qua mang theo cả niềm ước mong của tôi . Tôi lại phải xa mệ thôi . Tôi không bao giờ quên được hình ảnh mệ nhỏ nhoi xiêu xiêu giữa bầu trời tím thẫm, đưa vạt áo chậm nước mắt nhìn hút theo đoàn tàu đưa mang đứa cháu thân yêu ra đi . Lòng tôi lại thổn thức gọi: "Mệ ơi!"
 
Cỏ hoa đồng nội
 
Tôi xa Huế, xa mệ . Huế trong lòng tôi là kỷ niệm tuổi thơ ngọt ngào nhưng phảng phất nỗi buồn man mác.
Rất lâu lắm, không biết khế rụng hoa, đậu trái bao nhiêu mùa, tôi mới có dịp ghé lại đất Thần Kinh. Vào ngõ nhà nội, tôi không reo mừng như những lần trước nữa . Không còn bóng dáng gầy còm lưng của mệ đứng đón tôi . Không còn phảng phất mùi trầu nồng cay . Toàn căn nhà cổ kính tràn ngập mùi trầm hương đến nghẹt thở.
Tôi ra sau vườn nhặt từng trái khế gom lại, lòng nghe thiếu vắng mênh mông. Cắn một miếng khế sao chua quá! Không ngon như những lát khế kho với cá bống. Khế sống nhiều năm vẫn đứng trơ trơ với trời đất. Sao mệ tôi đã vội đi về miền vĩnh hằng.
Buồn. Một cảm giác lẻ loi, cô độc ập vào hồn. Tôi lê gót chân qua những con đường nhỏ. Mùa này xứ Huế mưa bay . Dưới màn mưa đan xéo vào nhau khung trời chẳng xám trắng mà mênh mang một màu tím nhạt. Màu tím trinh nguyên. Chính màu tím ấy đã làm nên màu áo thướt tha, mềm mại của những nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa khiến khách viễn du cứ mãi ngẩn ngơ, thương nhớ...
Chiều dần lên, mưa cũng nặng hạt hơn. Theo những vệt mưa lấp loáng trên mặt đường, bàn chân tôi bước vào một quán cà phê ven sông Hương. Hơi lạnh cũng theo vào làm buốt nhẹ làn da . Giá như đêm nay mưa ngừng và ánh trăng ló dạng, du khách sẽ tận hưởng hết cảnh thơ mộng êm đêm của dòng sông. Mưa vẫn dai dẳng, triền miên nghe rưng rưng chi lạ như tiếng lòng thổn thức của ai như một câu thơ chất chứa u hoài:

"Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên"
 
Tháng Mười và những gánh hoa rong đẹp lung linh ở thành Nam
 
Giọt cà phê đặc sánh, môi chưa kịp ngưng đọng vị đắng tôi giật mình bởi một tiếng rao trẻ trung, ngọt ngào:
"Ai ăn chè bột lọc không?"
Một bóng người nhỏ nhắn, trùm áo tơi gánh đôi thúng khá nặng. Nước mưa đục ngầu chảy thành từng dòng làm ướt cả đôi guốc gỗ của cô gái . Hình ảnh mệ tôi từng bán chè đêm hiện về khiến tôi nhói lòng. Tôi vội vàng kêu:
- Cô bé!
Nón lá rời khỏi mái tóc, một đôi mắt đen, sâu thẳm nhìn tôi . Một thoáng ngỡ ngàng. Chao ôi, đôi mắt ấy . Giống hệt tia nhìn ấm ấp, dịu dàng của mệ tôi . Em nhẹ nhàng đặt quang gánh, khéo léo múc từng viên chè nhỏ vào chén. Tôi gợi chuyện "Mưa lạnh như ri mà em cũng bán ư ?"
- Trời mưa bán chè bột lọc mới đắt! Cô bé khe khẽ cười - Mẹ em nấu đó. Ăn được không anh?
- Tuyệt! - Tôi cho từng viên bột lọc bọc đậu phộng vào miệng, vị ngọt lẫn vị cay của gừng khiến tôi nóng dần lên quên cả lạnh.
 
Family-friendly activities after sunset | Local Life Viet Nam

Lần đầu tiên tôi được nếm vị chè này ngay bên dòng sông vốn bình yên với lớp rêu xanh. Và cũng chính giây phúy ấy tôi biết thế nào là chữ "nợ" và chữ "duyên". Em ngồi lặng lẽ đếm từng hạt mưa để chờ "vị khách" ăn xong và rồi vội vàng gánh đôi thúng đi không chịu lấy tiền để tôi ngồi ngẩn người lắng nghe tiếng rao của em xa dần.
Trước kia, tôi từng mơ ước, khi trở lại xứ Huế tôi sẽ tình cờ gặp một cô Tôn Nữ dịu dàng rũ mái tóc thề soi bóng Hương Giang. Giữa mùa hè lắm cơn mưa, chưa kịp tìm bóng dáng yêu kiều tim tôi thoáng một chút rung động khó hiểu bởi đôi mắt và dáng trầm tư của cô bán chè.
 
 

Đêm ấy, tôi thấy mình nằm ngủ dưới gốc cây khế. Khế đang mùa trổ hoa . Từng cánh hoa tím rung rinh rung rinh. Có ai đó nhặt từng bông hoa thả nhẹ trên mặt tôi . Là em. Chúng tôi rượt nhau . Cô bé lanh lẹ chạy vòng quanh thân khế. Bỗng một hòn đá vướng chân tôi, tôi ngã nhoài và mở choàng mắt. Chỉ là giấc mơ . Nhưng tiếng cười lanh lảnh của cô bé như vẫn còn quanh quẩn đâu đây . Cố dỗ lại giấc ngủ, không được. Tôi dậy thắp hương cho mệ . Từ trong bức hình, đôi mắt mệ nhìn tôi âu yếm như ngày nào tôi còn thơ dại .
Chiều . Bước chân lại đưa tôi tới quán cũ. Nhắp từng giọt cà phê đen không đường tôi cầu mong mưa cứ giăng giăng dưới màn mây tím mãi để tôi có thể gặp lại cô bé. Không biết em còn nhớ người con trai được em tặng chữ "nợ" không?
Tiếng rao chè lảnh lót dứt tôi ra khỏi dòng suy nghĩ miên man. Đúng cô bé rồi . Trong trí tôi chợt hiện lên câu nói xưa như trái đất "Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ". Trời ạ! Ai xui chi cho tôi vừa có nợ vừa có duyên với em.
Em lại đến ngồi lặng lẽ bên tôi . Tôi lại được nếm vị chè ngọt và cay . Điều gì làm chúng tôi dễ thân nhau . Đối với tôi: chính là đôi mắt em - Còn em, có lẽ thấy được nơi tôi niềm yêu kỳ lạ đối với dòng sông hay tâm sự u uẩn khi ngắm mưa rơi cũng như em. Im lặng nhưng hiểu nhau . Có dòng Hương Giang làm chứng cho tình bạn giữa tôi và em. Em cho tôi biết tên. Trinh Nữ - tên một loài hoa hay mắc cỡ, e thẹn - Tôi gọi em là "Hoa đồng nội". Em đang học năm thứ II khoa Văn. Cơn mưa dai dẳng làm mẹ em ngã bịnh, em phải bán thay . Nhà em ở gần cầu Gia Hội, cách khá xa nhà mệ tôi . Nhưng không sao . Một gã con trai như tôi khi đi chơi với bạn gái lại thích con đường cứ xa diệu vợi .
 
Tím khùng - Truyện ngắn Nguyễn Quốc Trầm - Hội Nhà Văn Thành Phố Hồ Chí Minh
 
Một sáng tinh sương, trời se se lạnh, tôi đã có mặt ở ngõ nhà em. Trinh Nữ tròn xoe mắt "Anh đi mô mà sớm dữ rứa ?" "Đưa em đi dạo chơi!" "Bây chừ à?" "Chứ sao!". Thấy vẻ trịnh trọng của tôi, em biết không phải chuyện đùa, em vào xin phép mẹ .
- Đi bộ nhé! - Tôi hỏi em.
- Ừ! - Em khẽ khàng đáp và dịu dàng đi bên tôi .
Chúng tôi lang thang qua khắp nẻo đường. Tôi muốn đưa em đi tìm ước mơ chung của cả hai . Buổi sáng không khí tĩnh mịch một cách lạ lùng. Tôi và em rẽ vào đường Lê Lợi, con đường "hương thầm" của Huế. Trước mặt chúng tôi cầu Tràng Tiền màu trắng ẩn hiện trong màn sương bàng bạc. Chúng tôi ngồi bên kè đá có nhiều bông xuyến chi mềm mại . Em nghiêng đầu, rủ mái tóc xuống đôi chân thon duỗi thẳng, "Chao ôi! Em mỏi chân ghê . Răng hôm nay anh đưa em đi nhiều chỗ rứa ?"
Khó khăn lắm tôi mới thốt nên lời "Chiều anh phải xa Huế rồi!" Em thảng thốt "Thật vậy ư ? Chẳng phải Huế là quê hương của anh sao ?" Em quay người cố dấu những giọt lệ trên khóe mắt. Tôi nghe giọng mình cũng nghẹn đắng "Anh phải đi . Nhưng anh sẽ trở lại".
- Chắc chắn chứ!
- Chắc chắn! Làm sao anh quên được miền đất đã đem đến cho anh những ký ức đẹp.
Chúng tôi ngồi im lặng bên nhau rất lâu . Em ngắt hai chiếc lá thả xuống dòng sông và thì thầm bên tai tôi . "Dòng sông sẽ mang mơ ước của anh và em đến một nơi bình yên và thơ mộng". Tôi bóp nhẹ bàn tay em "Nơi ấy có cây khế ngọt và có hoa Trinh Nữ và..." Em e thẹn cúi mặt "Vậy ước mơ của anh là gì?"
Dù không nói ra, em vẫn biết tôi với em cùng chung một điều ước. Cám ơn trời, sáng ấy đã không đổ mưa, nếu không hai chiếc lá sẽ bị vùi dập mất. Nhưng đến chiều, khi em đưa tôi lên tàu, cơn mưa từ đâu lại kéo về. Những giọt mưa lành lạnh che giấu giúp em đôi má ướt nhòe vì nước mắt. Sống mũi tôi cay xè... Tàu chuyển bánh, tôi vẫn cố nhoài người ra cửa dõi mắt theo bóng hình nhỏ bé của em mất hút dần sau đoàn tàu, lòng thầm nhủ: "Anh sẽ trở lại!"
Ngày xưa, tôi không quên được Huế vì có mệ đưa tôi vào thế giới huyền thoại với cây khế già. Bây chừ tôi yêu Huế vì có em "Hoa đồng nội" của lòng tôi.


Thạch Thảo
 
Kim Kỳ sưu tầm
Ý nghĩa hoa Cúc Họa Mi - loài hoa đón đông mong manh tinh khôi
 
Xem thêm...

Truyện ngắn Hoa vông vang *** Đỗ Tốn ***

Truyện ngắn Hoa vông vang   

*** Đỗ Tốn ***

 Cay co viet nam
Nhà văn Đỗ Tốn sinh năm 1921 mất năm 1973 khi ông đang làm Phó Quản Đốc đài Tiếng Nói Quân Đội tại Sài Gòn, với cấp bậc Thiếu Tá.

Xuất bản lần đầu năm 1945 và được tái bản vào năm 1961, Hoa vông vang là truyện ngắn đầu tay của Đỗ Tốn. Cũng như hầu hết các sáng tác thời kỳ ấy, cái chất lãng mạn Tây học với cách nhìn phóng khoáng về cuộc sống của các nhân vật là hiện trưng của truyện.

Nhất Linh rất thích truyện Ðỗ Tốn, có lần so Ðỗ Tốn với Thạch Lam: “Tôi thấy hai nhà văn này có nhiều chỗ giống nhau và tôi tin Ðỗ Tốn sẽ là một Thạch Lam thứ hai trong văn giới nước ta.” 

Ảnh NTC

Ngày ấy Đẩu là một chàng trai mười tám, lòng đang tưng bừng mới nở, trông ai cũng đẹp. Suốt ngày vui cười, sẵn sàng yêu-đương, chàng thấy tương lai toàn mầu rực-rỡ. Đang đầy tin tưởng thì một hôm chàng gặp Phượng Trinh, một nữ sinh tóc còn cặp sau gáy. Tuy không biết nàng bao nhiêu tuổi nhưng Đẩu cứ cho là mười sáu, và chàng nhủ thầm: “Chỉ mười sáu mới có thể có được cặp mắt sáng thế”.

Lúc ấy là một buổi trưa mùa đông; dưới gió qua vòm cây, Phượng-Trinh đang cười trong ánh nắng rung-rinh cùng mấy chị em bạn học. Đẩu có mộng ước gì đâu thế mà sao khi vừa gặp, chàng đã vội ngây người đứng ngắm rồi kêu khẽ: “người trong mộng của ta đây rồi”. Tay xách cặp, chân đi đôi guốc phi-mã gót cao, lúc ấy Trinh mặc chiếc áo mầu xanh gió thổi tung bay thấp thoáng ánh mặt trời. Thế là lòng chàng trai mới mẻ vội chọn nàng giữa trăm bông thắm; Đẩu đi xa xa theo Trinh về,… thì ra Trinh đi qua nhà chàng, nàng ở phố gần đấy.

Từ đấy mỗi ngày hai buổi học tan, Đẩu vội vàng đạp xe thật nhanh về để ngắm Trinh qua, và những chiều nào được nghỉ sớm thì chàng đi bộ lên gần trường Trinh học đứng đợi nàng về để lẳng lặng đi theo sau. Song vì quá yêu chàng đâm nhút nhát nên chỉ dám nhìn thôi, vả lại Đẩu e Phượng-Trinh cho lẫn mình vào con nhà phường-phố bậy bạ nên chàng chỉ theo xa xa. Theo đến gần nhà mình thì Đẩu đi sang bờ hè bên kia rảo bước về cửa nhà đứng đợi. Lần nào chàng cũng nhìn Trinh đi ngang qua với đôi mắt si-ngây… và cũng đã nhiều lần chàng theo đến tận nhà Trinh. Cứ như thế mãi, dần dần Trinh cũng hiểu, vì có nhiều bận Đẩu thấy Trinh đã vào trong sân rồi vừa đóng cổng vừa đưa lén mắt ngượng ngập trông trộm lại chàng. Phượng-Trinh cũng đã để ý tới chàng trai si mê mình. Mỗi chiều đi học về nàng thường đi thật chậm vui chuyện ríu rít cùng hai chị em bạn về cùng đường – có bận Đẩu thấy giữa truyện vui Trinh đứng lại vui thú cười rũ-rượi để rơi cả cặp sách; như một con chim non say nắng mới, Trinh luôn luôn ríu rít cười nói rả-rích làm vui cả lòng, Đẩu đứng nhìn.

***

Tuổi trẻ có một lần mới mẻ nhất: Đẩu yêu không có tận cùng bờ bến. Sách học của chàng chỉ nhằng những tên Phượng-Trinh viết đủ các kiểu.

Rồi một buổi đầu xuân Đẩu hỏi Tân, một cô bạn học của Phượng-Trinh, thì Đẩu mới biết Trinh là tên gọi ở nhà, chứ “ở trường chỉ gọi nàng là Phượng thôi”. Tân nói lại cho Đẩu biết là các bạn ở lớp đã biết chuyện Đẩu theo Phượng và trêu chế Phượng nhiều lắm… nhưng Phượng không hề cãi lại mà chỉ đỏ mặt cười chạy trước những dịp cười của các bạn…

– Phượng yêu Đẩu rồi đấy…

Tân nói thế làm Đẩu sung sướng ngây cả người rồi hỏi:

– Thật à?… Thế thì tôi chết mất!

Chàng trai mới có mười chín, mỗi khi sung sướng quá là chỉ kêu chết.

Từ đấy Đẩu là người sung sướng. Có khi chàng đứng nói chuyện một mình với bờ thang là thường.

Rồi Đẩu viết một lá thư mà chàng đã tốn bao công nắn nót gọt rũa. Hồi hộp đợi mấy hôm cũng không thấy Phượng-Trinh giả lời, Đẩu suốt ngày băn khoăn trông ngóng người đưa thư! Rồi có một buổi kia Đẩu gặp Tân, nàng nói:

– Đẩu bỏ một lá thư vào xe Phượng phải không? Phượng nhờ tôi nói với Đẩu từ rày đừng làm thế, lỡ người ngoài người ta trông thấy thì người ta coi Phượng vào hạng người gì !… có muốn nói gì cứ nói thì hơn…

Nghe xong Đẩu tươi tỉnh đưa tay lên gãi gáy bừng-bừng sung sướng rồi đáp:

– Lúc ấy còn nói thế khỉ gì được mà nói!

Không biết Phượng-Trinh có hiểu cho anh như thế ?… Chỉ biết sau đó, Đẩu luôn luôn viết thư nhờ Tân đưa thì Trinh nhận. Tuy Trinh có trả lại(*) song ít lắm, chẳng đủ lấp một chút trong không gian to tát của lòng Đẩu. Trinh đã trả lại ít hay chính Đẩu đòi mong quá nhiều !… Nhưng lấp sao được lòng anh thuở ấy, lấp sao được biển cả đương lúc sóng tình dồn dập gào thét.

Có một ngày chủ-nhật Đẩu cùng cha đi săn bắn về mệt, nên hôm sau Đẩu nằm nghỉ ở nhà rồi viết một lá thư cho Tân, trong thư chàng nói: “Thế nào, Tân đã xin hộ Trinh cho tôi một tấm hình chưa, cố vào nhá, trăm sự nhờ Tân đấy ! À, hôm qua tôi vừa đi săn về, mệt và mệt, phải nằm nhà nghỉ… nhưng nhớ Trinh lắm…”. Và hôm sau Tân nói nàng có cho Phượng xem mảnh thư ấy, và mặc dầu nó nguệch ngoạc nhỏ bé, Phượng cũng đã xin lấy mảnh thư đó. Và Đẩu sung sướng đến ngạt thở khi Tân bảo:

– Thư nào của Đẩu, Phượng cũng giữ cất đi cả…

Thôi, hồn Đẩu phơi phới như lên tới trời xanh !… và những lúc ấy, những lúc quá tin tưởng ấy, anh đã tưởng đời anh sẽ theo một con đường nhất định…

Nhưng tính Đẩu cũng rất trẻ con, trong thư luôn luôn chàng viết những câu không đâu, chẳng hạn: “Cái mũi của Trinh trông ngon như viên kẹo đraa-giê ấy” hoặc “tôi thích bắt Trinh mang thả trên đồi cỏ để xem Trinh ca hát chạy nhẩy như một con sơn ca”. Tuy thế Trinh cũng vẫn chỉ trả lời: “Thư Đẩu viết vớ-vẩn lắm”… nhưng Trinh sung-sướng.

 

Ảnh NTC

Đã mấy tháng trời theo đuổi mà vẫn chưa lần nào Đẩu được Trinh hẹn hò cho gặp riêng một lần. Người thiếu nữ ngoan ngoãn vẫn tin ở tình chàng trai, nhưng chỉ sẵn lòng đợi chàng đến hỏi làm vợ. Tình yêu mà nàng hiểu là thành thực chỉ có thể đưa tới cuộc hôn nhân,… mà Đẩu cũng thành thực muốn thế, song mới có mười chín tuổi chàng đã tính đến chuyện vợ con sao được ! Vả lại chưa được cùng nhau hẹn hò một câu, chàng trai chưa dám chắc gì mà giạm hỏi,… tuy đã bao lần trong mắt Phượng-Trinh chàng tưởng được thấy hạnh phúc, chàng đọc thấy, nhận thấy một vẻ gì dịu dàng xô đẩy lòng chàng.

“Hay đó chỉ là một hạnh phúc đơn sơ khó kiếm”. Đẩu vẫn băn khoăn tự hỏi thế những lúc không hiểu.

“Ừ, sao không hẹn với nhau một câu, sao không thả hết tình yêu ?” Nhưng duyên số…

Rồi một ngày chủ nhật mà gió đã nóng, Đẩu đang lang thang ở phố thì gặp một giọng nói vui vẻ bay đến tai hỏi:

– Phượng đâu ? Sao lại đi chơi một mình thế ? Không đi với Phượng à ?…

… Tiếp theo là một dịp cười. Đẩu ngơ ngác nhìn lên thì ra Tuyết, cô bạn học cùng lớp với Phượng-Trinh đang đứng trên bao lơn tươi cười nói xuống. Đẩu mỉm cười cảm ơn. Độ năm phút sau bất ngờ Đẩu gặp Phượng-Trinh thật. Nàng mặc áo mầu tím, đang đi mua hàng may áo nực cùng hai chị. Gặp Đẩu, Trinh bẽn lẽn không dám nhìn, nhưng có một lần Đẩu bắt gặp mắt Trinh ghé qua gáy chị nhìn trộm mình làm chàng sung sướng run cả người. Hôm sau Đẩu vội nhờ Tân đưa cho Trinh một lá thư, trong có đoạn:

“Hôm qua đi phố chơi, tôi đang lang thang thì nghe thấy một giọng nói từ trên trời bay xuống hỏi “Phượng đâu ? Sao lại đi chơi một mình thế, không đi với Phượng à ? Tôi nhìn lên thì ra Tuyết, Trinh ạ – Đấy, đối với tất cả thì Phượng là của tôi đấy, thế mà tôi cứ chưa dám chắc ! Trinh thử hỏi hộ cô Phượng, cô Phượng có cái mũi xinh xinh ấy mà, xem cô Phượng có phải là của tôi không ?”.

Tuy thế Trinh cũng chỉ trả lời lại Đẩu: “Thư Đẩu viết vớ vẩn lắm”.

***

Ảnh NTC

 Những giấc mộng đẹp sao hay ngắn ngủi, tuổi trẻ vô tình qua mau như đàn mòng khoang vun vút bay qua cánh đồng rộng để vội vã lẩn biến vào cảnh trời đông u ám; nghỉ hè năm sau đã lại tới, rồi tới mùa thu ! Một hôm đương ở rừng quê thì Đẩu được bạn viết thơ cho biết Trinh đi lấy chồng. “Cưới chạy tang, bố chết,… trông Trinh chẳng vui gì sốt cả v.v…”.

Như những vết thương đứt quá mạnh làm ta tê đi không thấy đau, mấy ngày đầu Đẩu không thấy buồn ; nhưng sau, nhiều lúc tự nhiên chàng thấy như mất một mục-đích trong đời, chàng cảm thấy chán nản. Tuy thế chàng vẫn yêu Trinh như trước và vẫn mang máng tin là Trinh yêu mình. Đẩu vẫn nói một mình: “Cứ để mặc anh tin em nhá.”

Chàng trai muốn quên mau, song những ngày buồn nản qua không vội-vã nên có lúc ngừng ngựa mơ màng ngắm lá vàng bay giữa rừng vắng chàng lại đau thương nhắn hỏi:

– Gió ơi, sao làm tình chóng đứt ?…

Hoa tình rụng rời, bình tĩnh cũng dần dần trở lại, nhưng trong lòng Đẩu đã bớt tin-tưởng !

Khá lớn lên, chàng trai sớm vội đua theo các bạn vào cuộc đời chơi bời phóng đãng; dần dần chàng đã trở thành khôn khéo; quen ra vào nơi tửu-điếm(**) nên chàng nói dối đã không ngượng lời, mắt đầy gian trá, nhưng lúc ấy thì người đời lại tin chàng. Từ một đứa trẻ, Đẩu đã trở thành một người,… và những mối tình dễ dãi ở mọi chốn chơi bời cứ tiếp tục mà qua mãi. Giữa cái cuộc vui nhả nhớt, chàng đắm say tươi cười ; thật lòng trai quên sầu cũng dễ như yêu,… nhưng lòng anh đã kém trong sạch, bây giờ khó tìm đâu cho thấy được vẻ sợ-sệt nhút-nhát si ngây thuở mười tám: một ít vẻ đẹp đã mất.

Đẩu đã yêu khắp nơi đến nấc cùng, đâu chàng cũng yêu đến si-dại, tuy thế vị ngọt hoa tàn của chuyện qua vẫn mang-mang ủ-ấp lòng Đẩu một nỗi nhớ thương nhẹ nhàng như làn gió thoảng qua của một buổi sớm nào êm dịu xa-xôi. Đẩu vẫn chẳng thể quên được người xưa, luôn luôn lòng chàng như nhớ tiếc mối tình ngây thơ cũ, như thiếu chút nắng dịu, thiếu vẻ nồng-nàn mà mắt Trinh chiếu lại. Đã bao lần yêu, đã bao lần sóng gió trong lòng, thế mà khi lắng hết chỉ riêng hình Trinh còn lại như vẫn còn sau cơn bão táp một cây cổ-thụ. Chuyện qua đã ăn rễ sâu vào tận thớ tim Đẩu.

Sau đó ít lâu, Đẩu thôi học và về ấp ở với cha mẹ. Hồn Đẩu phức tạp, chàng yêu đồng núi quê hương nhưng chàng cũng không quên làn không khí say sưa của cuộc đời chơi bời; từ nơi ấy Đẩu luôn luôn trở về thủ đô. Một hôm gặp Tuyết nàng nói cho Đẩu biết:

– Phượng khen Đẩu bây giờ ngoan lắm, về quê làm ăn rồi, lần nào đến nhà tôi chơi, Phượng cũng nhắc đến Đẩu.

Ngây cả người, Đẩu không hiểu sao Phượng Trinh lại biết mình về quê làm ăn, “mà mình có làm ăn gì đâu !”… Nhưng Tuyết đã nhìn chàng nói nhỏ:

– Phượng vẫn yêu Đẩu lắm…

Trời, Đẩu muốn khóc lên được! Thấy Đẩu ngây đờ yên lặng, Tuyết mỉm cười nói tiếp:

– Lần nào gặp tôi Phượng cũng nhắc đến Đẩu, cũng như Đẩu gặp tôi cứ hỏi chuyện Phượng ấy mà… Sao hai người không lấy nhau nhỉ…

… Rồi Tuyết kể:

– Ngày sắp cưới Phượng ấy, Phượng có chạy đến tôi; tôi có sao không lấy Đẩu có hơn không thì Phượng nói: “Tại Đẩu không đến hỏi… mà đợi thì biết Đẩu có ý định lấy Phượng không mà đợi cơ !… Phượng bảo “Chả lẽ em lại mang trầu cau đến hỏi Đẩu à ?…”

Nghe xong, Đẩu đau đớn hỏi trách:

– “Sao Tuyết không nói cho tôi biết ngay từ ngày ấy”… thì Tuyết trả lời:

– Ngày ấy tôi cũng có ý tìm Đẩu, nhưng hình như Đẩu ít khi có mặt ở Hà-nội thì phải…

Khẽ gật đầu, Đẩu yên lặng bâng khuâng…

Từ đấy chàng chỉ biết mang câu duyên-số ra để tự an-ủi và cũng từ đấy chàng càng tin chắc rằng chẳng bao giờ nữa Phượng-Trinh quên chàng, Đẩu vẫn nhủ thầm:

– Ai quên được những ngày đẹp đẽ trong đời…

Chuyện qua Đẩu vẫn giữ quý như một kho vàng. Lắm lúc bâng khuâng nghĩ lại, Đẩu vẫn thường cau có tự hỏi: “Sao lại cứ nhớ, sao không quên đi cho tâm hồn được thư thái”… nhưng rồi chàng lại nói ngay: “Không, đừng bắt ta quên… Ở đời có những vết thương êm ái. Như ta lúc này ai dám bảo nhẹ buồn là khổ khi đó là dư âm của một thời rạo-rực trở về vang lại trong hồn”. Những khi ở Hà-nội, Đẩu vẫn hay đi nhà thờ, nhưng nay không phải vì ai nữa mà tin tưởng ở đạo giáo. Vả lại xuân đầu chỉ có một lần, chàng không muốn bỏ một cái gì của những ngày tuổi trẻ tươi thắm đã qua.

Ảnh NTC

Một hôm vô tình Đẩu đi xe ngang qua nhà vợ chồng Trinh. Nhìn vào, chàng thấy Trinh đang đứng trong căn vườn nhỏ như mơ màng. Có thế thôi mà về tới nhà chàng cũng sung sướng mãi và cả ngày nhắc nhở”: Có lẽ phút này Trinh đang nghĩ đến ta, có lẽ… có lẽ!”. Rồi trên quyển sổ tay biên trăm thức lặt vặt, chàng viết mấy dòng: “Có lẽ như ngày nào đôi mày hơi đưa lên, em nhìn vào nơi nào không định. Nghĩ gì thế em? Em, trông gì ở nơi xa ấy, có phải là anh ? Em sao chẳng đáp lại tiếng gọi của lòng anh?”

Bất ngờ một hôm Đẩu gặp lại Tuyết, hai người vui vẻ trò chuyện xa gần, nhưng rồi cũng nhắc đến Phượng-Trinh… Đẩu hỏi:

– Vừa rồi mới gặp, tôi trông Trinh như có vẻ buồn ấy… gia đình Trinh có chuyện gì không vui không?

Tuyết cười đáp:

– Sao Đẩu lại hỏi thế. Phượng-Trinh ngoan lắm, chồng Phượng chẳng trách Phượng điều gì cả… Bố mẹ chồng cũng vậy.

Đẩu nhíu đôi mày, nói:

– Không biết tại sao tôi trông Phượng như không được vui; Phượng có được sung sướng không?

Tuyết thoảng cười:

– Đẩu cũng biết tính Phượng trẻ trung vui đùa là thế, mà chồng thì tính nết như ông cụ ấy…

Tuyết ngừng lại, mắt chớp bâng khuâng rồi mỉm cười nhìn Đẩu nói tiếp:

– Lấy Đẩu thì cố nhiên là vui hơn… À, ngày xưa ấy mà, dạo Phượng chưa đi lấy chồng ấy, một lần Phượng thấy trong sách ảnh của tôi có tấm ảnh của Đẩu chụp ngồi ở đống rơm, thế rồi Phượng cứ lấy, làm tôi phải đòi mãi.

Đẩu đứng yên lặng bùi ngùi trong sung-sướng! Thấy bạn có vẻ buồn tiếc, Tuyết hạ giọng:

– Thôi chả cần Đẩu ạ, hình Đẩu ở trong tim Phượng tôi tưởng cũng đủ rồi.

Từ đấy mỗi lần gặp người yêu cũ là Đẩu thấy như mình đang sống lại thời mê say thuở mười tám. Trong mắt Phượng-Trinh chàng thấy lại một ít tuổi nhỏ, một chút nắng sưởi cho lòng chàng ấm dịu, chút nắng thừa của một thời xa xôi. Những lúc đó, Đẩu chỉ biết đứng nhìn theo cho tới nẻo đường đã khuất mà tà áo Trinh còn phấp phới bay, rồi chàng bàng hoàng ngẩn ngơ nói một mình:

– Trời ơi, đôi mắt đen quá, sáng quá, phải chăng là những tấm gương phản chiếu mầu tươi sắc thắm của những ngày rực rỡ…

Đến một hôm chẳng hẹn trước, Tuyết rủ Đẩu đến nhà Phượng-Trinh chơi. Gặp lại bao nỗi ngượng ngùng, Trinh cười sung sướng, song bẽn lẽn cũng ruộm hồng đôi má; còn Đẩu thì ngày ngất cảm động ngắm bạn lòng cũ. Trước mặt chàng trai giọng Trinh nói chuyện với Tuyết mất cả tự nhiên; Đẩu ngồi nhìn lòng lâng lâng sung sướng; có một lúc Trinh mỉm cười e lệ quay sang hỏi Đẩu:

– Hình như dạo này không hay gặp ông đi lễ.

Phượng Trinh gọi Đẩu bằng “ông”! Nhưng làm thế nào, nàng đã có chồng! Nghe Trinh gọi mình như thế, Đẩu thấy nhói vào tim, nhưng hiểu tình thế mới, chàng vội trả lời:

– Độ này tôi ở nhà quê luôn… thỉnh thoảng mới về Hà-nội, thành ra Trinh không gặp.

Ngừng một giây, Đẩu mỉm cười nói tiếp :

– Với lại ngày xưa tôi có đi lễ bao giờ đâu,… từ ngày biết Trinh tôi mới đi nhà thờ đấy chứ… Trinh đã cứu vớt một linh-hồn mà Trinh không biết.

Răng trên khẽ cắn lên môi dưới e-thẹn, Trinh mỉm cười đỏ hồng cả má rồi đưa ngón tay lên miệng cắn cắn cảm động, đoạn nàng nhìn Tuyết cười ngượng nghịu cất tiếng bảo:

– Đi lễ thế thì chả… được phúc.

Blog Thơ văn Thanh Trắc Nguyễn Văn: Thơ 0063: Hoa vông vang 

Nhưng mắt nàng sáng ngời, phải chăng vì duyên cũ! Ánh sáng ấy cũng đủ khêu lại lòng Đẩu ngọn lửa đã gần tàn; và trông Trinh cười đắm say. Đẩu thấy nụ cười tươi thắm ấy như đưa chàng vào một vườn thắm nhẹ gió vừa. Đẩu ra về với ít hoa nở lại trong lòng, với ít tin tưởng rằng sẽ chẳng bao giờ hương tình cũ đến nỗi tan bay hết. Đời còn tươi đẹp và tươi lại vườn tình đang úa. Đẩu sung sướng trở lại nơi đồi núi quê hương và mang theo trong tim đôi mắt tươi cười của Trinh, đôi mắt trong sáng như tráng làn nước trong đã bao lần làm anh ngây ngất khi buổi đầu dịu dàng nhìn lại…

Vài hôm sau, một chiều vừa cưỡi ngựa đi chơi núi về thì Đẩu nhận được một phong thư, trong Tuyết viết: “Hôm qua Phượng lại nhà tôi chơi và bảo: “Bữa nọ, lúc vào tới phòng tiếp khách, thoạt trông thấy Đẩu, Phượng choáng váng ngạc nhiên đứng dừng lại…”.

Thôi thế cũng đủ làm Đẩu sung sướng đến rưng rưng nước mắt. Tay vẫn cầm lá thư, lơ đãng, chàng lững thững đưa bước ra phía đồi sau nhà. Trời mát! tóc thoảng nhẹ bay phất phơ trên trán… bâng khuâng vô tình đứng trông mấy bông vông-vang phất phơ lên bụi cỏ đương kín đáo cúp lại trong gió chiều êm đềm, Đẩu lại thấy lòng bỗng tràn đầy tin tưởng như buổi mới,… và man mác hy-vọng, chàng nhủ khẽ:

– Hoa còn có loài chiều hôm cúp vào để sớm mai nở lại em ạ, thì tình ta sao chả có lúc nối theo…

HẾT

(*): Hồi âm (lời người chép truyện trú thích)

(**): Quán rượu (lời người chép truyện trú thích)

 

Ra Mắt Tập Truyện ‘Hoa Vông Vang” Của Nhà Văn Đỗ Tốn

Nhà Văn Đỗ Tốn | Chân Trời Mới Media

Ra mat sach Do Ton (2)Quang cảnh trong hội trường buổi ra mắt tập truyện “Hoa Vông Vang.” Trong hình, người ngồi hang đầu bên trái là nhà văn Trúc Chi.(Photo VB) Ra mat sach Do Ton (3)

4 người con của nhà văn Đỗ Tốn và Như Băng. Từ trái, Đỗ Hạc Tuyền, Đỗ Duyên, Đỗ Thăng, và Đỗ Huân trong buổi ra mắt tập truyện “Hoa Vông Vang”.(Photo VB)

Ra mat sach Do Ton (4)

Trưởng nữ của nhà văn Đỗ Tốn là bà Đỗ Hạc Tuyền ký sách tặng. Đứng bên phải của Hạc Tuyền là giáo sư Nguyễn Văn Sâm.(Photo VB)

 WESTMINSTER (VB) – Buổi ra mắt tập truyện “Hoa Vông Vang” của nhà văn Đỗ Tốn đã diễn ra tại hội trường Nhật Báo Việt Báo, trên đường Moran, thành phố Westminster, vào trưa Chủ Nhật, ngày 25 tháng 8 năm 2019, với sự tham dự đông đảo của các văn nghệ sĩ, các cơ quan truyền thông báo chí, và giới mộ điệu văn chương.

Hoa Vông Vang' của nhà văn Đỗ Tốn tái bản, ra mắt độc giả Little Saigon

MC chính của chương trình là ông Nguyễn Đình Cường và 2 MC cho chương trình văn nghệ là Uyển Diễm và Đại Dương.

Trưởng nữ của nhà văn Đỗ Tốn là bà Đỗ Hạc Tuyền, trong lời mở đầu buổi ra mắt sách nói rằng sự hiện diện đông đảo của quan khách đã nói lên sự quan tâm đối với tập truyện “Hoa Vông Vang” của thân phụ bà. Bà Tuyền cho biết thân phụ bà là nhà văn Đỗ Tốn sinh năm 1921 tại Hà Nội và mất năm 1973 tại Sài Gòn. Cố nhà văn Đỗ Tốn, theo bà Tuyền, đã phục vụ trong Cục Tâm Lý Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc Thiếu Tá.

Bà Tuyền cũng cho hay rằng “Hoa Vông Vang” là tập truyện ngắn đầu tay của thân phụ bà. Bà kể rằng khi nhà văn Nhất Linh viết lời giới thiệu cho tập truyện đã viết rằng, “Xem những chuyện trong tập “Hoa Vông Vang” tôi không thể không đem Đỗ Tốn ra so sánh với một nhà viết truyện ngắn khác là Thạch Lam. Tôi thấy hai nhà văn này có nhiều chỗ giống nhau và tôi tin Đỗ Tốn sẽ là một Thạch Lam thứ hai trong văn giới nước ta.”

blank

Theo bà Đỗ Hạc Tuyền, khi viết “Hoa Vông Vang” nhà văn Đỗ Tốn mới có 21 tuổi và tập truyện này đã được ra mắt lần đầu tiên vào năm 1945 tại Hà Nội. Sau năm 1954 vào Nam, nhà văn Đỗ Tốn đã viết thêm các truyện khác và cho in chung vào tập truyện “Hoa Vông Vang.”

Trong tập truyện “Hoa Vông Vang” còn có phần Hồi Ký của phu nhân của nhà văn Đỗ Tốn là bà Nguyễn Thị Như Băng, bút hiệu Như Băng.

Bà Tuyền cho biết rằng thân mẫu của bà sinh năm 1925 tại Lạng Sơn. Năm 14 tuổi bà Như Băng đã qua Trung Quốc vì cuộc chiến tranh đã đưa đẩy. Sau đó bà Như Băng đã theo học trường quân sự về ngành vô tuyến điện do chính phủ Tưởng Giới Thạch chủ trương. Bà Tuyền kể thêm rằng thân mẫu của bà là một trong 2 sinh viên tốt nghiệp tại trường này ở TQ và sau đó về Việt Nam làm việc. Bà Như Băng thông thạo tiếng Quan Thoại, tiếng Quảng Đông, biết chữ Hán. Bà Tuyền nói rằng thân phụ và thân mẫu của bà đã kết hôn vào năm 1945.

Bà Đỗ Hạc Tuyền nói rằng sở dĩ in lại tập truyện “Hoa Vông Vang” của nhà văn Đỗ Tốn là vì để bảo tồn văn chương Việt Nam không bị mất đi. Bà nói lâu nay nhiều người đi tìm tác phẩm này mà không thấy. Bà cũng nói thêm rằng việc tái bản tập truyện còn là cách bày tỏ lòng biết ơn và yêu kính đối với bậc sinh thành.

 Văn Lan - 'Hoa Vông Vang' của nhà văn Đỗ Tốn tái bản, ra mắt độc giả Little  Saigon - Tin Thơ và Thơ - Bạn Văn Nghệ

Buổi ra mắt tập truyện “Hoa Vông Vang” còn có phần thuyết trình của nhà văn Trúc Chi, giáo sư Võ Kim Sơn, và nhà thơ Trịnh Y Thư nói về nhà văn Lỗ Tốn và tập truyện “Hoa Vông Vang.”

Trong cuộc chuyện trò bên lề buổi ra mắt tập truyện “Hoa Vông Vang” của nhà văn Đỗ Tốn, anh Đỗ Huân, người con trai thứ của nhà văn Đỗ Tốn, cho phóng viên Việt Báo biết rằng Hồi Ký của bà cụ thân mẫu của anh đã được viết sau này ở Mỹ và là lần đầu tiên ra mắt tại Quận Cam.

Anh Bạch Thái Dũng, cựu giáo viên Việt ngữ Trường Trung Học La Quinta, thành phố Westminster, nơi có đông đảo học sinh Việt Nam, cho phóng viên Việt Báo biết rằng mẹ anh là em ruột của nhà văn Đỗ Tốn. Anh Dũng nhớ lại năm anh 11 tuổi, lúc đến nhà bác Đỗ Tốn và leo lên gác thì thấy tập truyện “Hoa Vông Vang” in bằng giấy lụa cũ, với tựa màu vàng. Anh nói rằng lúc đó có đọc qua nhưng vì còn quá nhỏ để có thể nhận biết truyện hay đến mức nào. Anh nói sau mấy chục năm, bây giờ mới có cơ hội để đọc lại tập truyện này.

Hoa Vông Vang' của nhà văn Đỗ Tốn tái bản, ra mắt độc giả Little Saigon

Buổi ra mắt sách còn có phần trình diễn văn nghệ rất đặc sắc với các tiếng hát được nhiều người mến mộ như ca sĩ Kim Tước, ca sĩ Hồng Tước, ca sĩ Thu Vàng, ca sĩ Kiều Loan, ca sĩ Nam Trân, v.v…

Được biết nhà văn Đỗ Tốn và Như Băng có 4 người con, 2 trai, 2 gái, gồm Đỗ Hạc Huyền, Đỗ Thăng, Đỗ Duyên, và Đỗ Huân, tất cả đều cư ngụ tại Hoa Kỳ.

“Hoa Vông Vang” kể chuyện tình của chàng trai mười tám tên Đẩu yêu người con gái mười sáu tên Phượng Trinh. Đó là mối tình đầu ngây thơ, trong trắng, lãng mạn và rụt rè. Chàng trai rụt rè đến đỗi yêu người ta mà không dám biểu lộ chỉ biết mỗi ngày tan học thì lẽo đẽo theo sau. Tấm chân tình của chàng rồi có lúc được cô nàng đón nhận và hai người chính thức yêu nhau. Nhưng rồi, một ngày nọ, người con gái kia đã cất bước sang ngang và chàng trai si tình này bị cú sốc vỡ tim nhoi nhói. Vậy mà, hình ảnh của người yêu Phượng Trinh vẫn không phai nhạt trong trái tim của chàng.

Nhà văn Đỗ Tốn khi miêu tả tâm trạng của Đẩu hay tin Phượng Trinh đi lấy chồng đã hạ bút như sau:

“Như những vết thương đứt quá mạnh làm ta tê đi không thấy đau, mấy ngày đầu Đầu không thấy buồn; nhưng sau, nhiều lúc tự nhiên chàng thấy như mất một mục đích trong đời, chàng cảm thấy chán nản. Tuy thế chàng vẫn yêu Trinh như trước và vẫn mang máng tin là Trinh yêu mình. Đầu vẫn cứ nói một mình: “Cứ để mặc anh tin em nhá.” (Hoa Vông Vang, Việt Tide 2019, tr. 79)

Rồi ngày nọ, khi nhận được thư của bạn Trinh là Tuyết kể khi Trinh gặp lại Đẩu nàng xúc cảm đến choáng váng, Đẩu “sung sướng đến rưng rưng nước mắt.” Đến đây, nhà văn Đỗ Tốn nhắc đến hoa vông vang.

“Trời mát! Tóc thoảng nhẹ bay phất phơ trên trán… bâng khuâng vô tình đứng trông mấy bông vông vang phất phơ bên bụi cỏ đương kín đáo cúp lại trong gió chiều êm đềm. Đẩu lại thấy lòng bỗng tràn đầy tin tưởng như buổi mới… và man mác hy vọng, chàng nhủ khẻ:

“- Hoa còn có loại chiều hôm cúp vào để sớm mai nở lại em ạ, thì tình ta sao chả có lúc nối theo…” (Hoa Vông Vang, tr. )

 

Người Việt

 

HOA VÔNG VANG

Em sắp xa thành phố
Về lại đất hương tràm
Hỏi em thích gì nhất?
Em cười: Hoa vông vang.

Ta qua bao góc phố
Ta đến bao tiệm hoa
Hỏi mua, mua chẳng có
Hỏi tìm, tìm không ra.

Tên hoa quen mà lạ
Như người lạ giờ quen
Hẳn là hoa cũng đẹp
Hiền dịu như mắt em?

Kẻ nói hoa màu đỏ
Kẻ mách hoa màu vàng
Người cho hoa là cỏ
Người bảo hoa mọc hoang!

Ta tìm, đi tìm mãi
Mang nỗi buồn lang thang
Giữa thị thành hoa lệ
Tìm đâu hoa vông vang?

Ngày tiễn em mưa trắng
Ta lặng nhìn mây trôi
Vông vang trong tay với
Hay xa tận chân trời?

1995
(Tập thơ Hoa Sứ Trắng - NXB Đà Nẵng 1997)

Thanh Trắc Nguyễn Văn

Hồng Vân sưu tầm

Truyện ngắn Hoa vông vang của tác giả Đỗ Tốn

 

Xem thêm...

Thơm nồng hương cốm mùa thu

Cốm Mùa Thu Hà Nội
 
5(Người bán cốm Hà Nội)
 
Tiếng rao của những gánh cốm rong cũng là một nét đặc trưng của Thu Hà Nội.

Mùa Thu Hà Nội cũng là mùa cốm. Những hạt cốm xanh non được coi là đặc trưng của đất Hà Thành. Cốm ngon nhất là vào độ giữa thu, khi ấy sữa hạt lúa như tích tụ cả tinh hoa của trời và đất để làm nên sự ngọt bùi, chỉ ăn một lần nhớ mãi.


Với người Hà Nội, cốm trở thành món quà tao nhã, gợi nhớ. Hạt cốm xanh, mềm, thơm nồng mùi nắng, gói trong lá sen, buộc bằng sợi rơm vàng nhạt, trên quang gánh của các bà các cô bán rong len lỏi vào từng ngõ nhỏ với tiếng rao tha thiết. Vào những ngày thu, khi nắng đã nhạt và thoảng trong gió heo may, cùng trái bưởi vàng, quả hồng mọng đỏ, nải chuối tiêu trứng cuốc, đĩa cốm xanh tạo thêm màu sắc cho mâm cỗ trung thu, một món lộc của trời đất mùa Thu.

 
Vì là món quà tao nhã, cốm ăn không cốt no mà là nhâm nhi, thưởng thức. Còn gì thú hơn trong cái gió heo may lành lạnh, ngồi sà xuống vỉa hè, mua một gói cốm đùm trong lá sen, rồi bốc từng dúm bỏ vào miệng, thong thả nhai để vị thơm ngọt tan ra.

Nói đến cốm Hà Nội phải là thứ cốm dẹt, màu xanh non làm từ thứ nếp cái vừa qua kỳ đổ sữa. Lúa nếp nào cũng làm nên cốm, nhưng muốn cho cốm dẻo, ngậy thơm thì phải là nếp hoa vàng, một loại nếp đặc sản của riêng vùng quê cốm.


Ngoại thành Hà Nội có nhiều làng quê làm cốm, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là cốm làng Vòng - thuộc xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, vốn là vùng trù phú, đất còn thấm đẫm phù sa sông Hồng. Người dân nơi đây gắn bó với ruộng đồng và nghề làm cốm cha truyền con nối tự bao đời. Nghề làm cốm cũng lắm công phu. Khi cây lúa hoe hoe vàng, chỉ mười ngày nữa là gặt rộ là lúc người làng cốm đi chọn ngắt từng bông dài, hạt mẩy về chế biến. Muốn cốm ngon thì phải tính toán cắt lúa đúng lúc. Lúa già hạt cốm không còn xanh, cứng và gãy nát. Lúa non quá, hạt cốm bết vào vỏ trấu, nhão mất ngon. Thường lúa gặt hôm nào đem rang và giã cốm hôm đó. 


Nghề làm cốm vất vả nhất là công đoạn rang lúa. Rang lúa sao cho vừa lửa, hạt cốm chín tới, không giòn mà tróc trấu. Giã cốm bằng loại cối riêng, nhịp chày nhẹ và đều, sao cho cốm mịn và dẻo. Vào những ngày mùa thu, chiều chiều vào làng cốm ta sẽ được thưởng thức cái hương thơm ngọt ngào lan tỏa, cùng tiếng chày giã cốm thậm thịch thâu đêm.
 
 
Từ cốm trải qua một số công đoạn chế biến nữa, người Hà Nội có thêm bánh cốm và chè cốm... những món ăn không kém phần thi vị bởi cái dẻo thơm của cốm, bùi đậm của đậu xanh, sần sật của sợi dừa xắt mỏng. Bánh cốm đi chung với bánh su sê trở thành cặp bánh không thể thiếu trong lễ ăn hỏi từ lâu nay của người Hà Thành. Bánh cốm Hà Nội có nhiều nơi nhưng nổi tiếng nhất là bánh cốm của tiệm Nguyên Ninh ở phố Hàng Than. Còn chè cốm, khi ăn thường múc ra bát sứ nhỏ màu trắng. Chè nấu loãng bằng đường trắng và bột lọc trong suốt, thấp thoáng những hạt cốm xanh, thoảng mùi nếp và tinh dầu hoa bưởi, quyến rũ đến lạ lùng.
 
Ngoài thứ cốm dẹt như vẫn thấy, còn có cốm phồng (làm từ hạt cốm dẹt rang cho nở phồng lên, giòn tan). Cốm phồng có khi làm bằng thóc nếp già, được đồ lên cho dẻo rồi đem làm cốm. Tuy không thơm ngon mềm như cốm dẹt, thế nhưng vào những đêm mưa gió, bên bạn bè người thân, uống chén trà nóng và thưởng thức vị thơm, giòn tan của hạt cốm phồng thì thật là thú vị.

Mùa thu mùi hương hoa sữa, mùa hương cốm mới hòa quyện, ấm áp mọi nẻo đường. Người đã một lần đặt chân đến đây giữa trời thu Hà Nội, người Hà Thành đi xa quê đều sẽ không thể nào quên được vị ngọt ngào của cốm sữa gói lá sen.


Bên cạnh đó cứ mỗi độ thu về, người Hà Nội lại náo nức chờ món cốm non xanh thơm dịu cả lòng. Cốm được bán trên các mẹt hàng trên khắp được phố, gói trong lớp lá mướt như dấu hiệu rõ ràng nhất báo hiệu thu về. Cốm là một trong những món ngon Hà Nội nức lòng du khách.


Cốm ngon nhất phải kể đến cốm làng Vòng. Cùng với những mẹt cốm, các biến tấu với cốm xanh cũng được người dân Hà Thành yêu thích như chuối chấm cốm, chè cốm, bánh cốm, chả cốm… dẻo thơm.

Chè cốm

Chỉ mất vài phút thôi với một chút biến tấu, bạn sẽ có ngay món chè thơm mùi cốm non xanh, thanh mát, xua tan đi cái nóng oi cuối mùa hạ. Những hạt cốm xanh trong chén chè sánh mượt quyện với hương hoa bưởi nồng nàn thật hấp dẫn.

Chuối trứng cuốc chấm cốm
 
 Hoạt động trải nghiệm của các bé lớp mgl số 1 - trường mn thăng long
 
Với người Hà Nội, cách ăn chuối cũng có cái thú và nghệ thuật thưởng thức riêng. Thu về, nhà nhà thường thích thú đi mua nải chuối tiêu trứng cuốc để chấm với cốm Vòng. Dù gì thì đây cũng là đặc sản hạng sang của riêng Hà Nội và chỉ có vào mùa thu. Khi ăn món này phải thật nhẹ nhàng, từ tốn: Chuối được bẻ đôi hoặc cắt thành từng đoạn ngắn, chấm miếng chuối vào cốm rồi cho vào miệng nhai thật chậm. Lúc ấy, ta mới thấy được cái vị ngọt thơm nồng của chuối hoà quyện vị dẻo bùi của cốm và thoảng chút hương dìu dịu của lá sen…


Bánh cốm Hàng Than
 
 Bánh Cốm Gia Truyền Nguyên Ninh - 29 Hàng Than ở Quận Ba Đình, Hà Nội |  Album tổng hợp | Bánh Cốm Gia Truyền Nguyên Ninh - 29 Hàng Than | Foody.vn
Nguyên Ninh - Bánh Cốm Hàng Than ở Quận Ba Đình, Hà Nội | Foody.vn
Bánh Cốm Gia Truyền Nguyên Ninh - 69 Hàng Than - Metrip.Vn
TOP 8 Cửa Hàng Bán Bánh Cốm Hà Nội Ngon Chất Lượng Nhất
BÁNH CỐM NGUYÊN NINH - ô mai hàng đường

Trải qua 145 năm kể từ ngày cửa hàng bánh cốm đầu tiên được mở đến nay, bánh cốm Hàng Than đã sống với người Hà Nội. Hiện nay bánh cốm Hàng Than đã không thể thiếu trong các dịp cưới hỏi, lễ tết. Mang hình vuông tượng trưng cho đất, màu xanh tượng trưng cho mùa xuân hạnh phúc, nhân dừa đậu xanh ngọt ngào cảm xúc, bánh cốm đã hội tụ rất nhiều ý vị và mong ước cho cuộc sống đủ đầy.

 Xôi cốm

 
Xôi cốm rất dẻo lại có vị ngọt dịu, bùi bùi của đậu xanh và sần sật của dừa tươi. Không chỉ hấp dẫn bởi hương vị mà xôi cốm là sự hòa hợp của rất nhiều màu sắc thiên nhiên, màu của lúa non, vàng đậu xanh, trắng sữa của dừa khiến bất cứ ai đã một lần thưởng thức đều không thể quên.

 Chả cốm

Những món ngon từ cốm chỉ mùa thu Hà Nội mới có - ảnh 3
 
Chả cốm là món ăn đặc trưng và rất riêng của Hà Nội. Cách làm chả cốm của người Hà thành không phải ai cũng biết. Cốm được quện đều với thịt lợn xay nhuyễn, viên thành từng viên dẹp và chiên vàng đều, giòn rụm, thơm ngọt. Cách ăn biến tấu phổ biến ngày nay là kèm với món bún đậu mắm tôm.

 Các món ăn sáng tạo với cốm 

Những món ngon từ cốm chỉ mùa thu Hà Nội mới có - ảnh 4

Những món ăn ngon làm từ cốm mùa thu - Ẩm thực

 
Tôm bọc cốm chiên sù

Chả cốm
 
Trứng chiên cốm
 
cac mon an ngon lam tu com anh 1
Chè cốm

 
Những món ngon từ cốm chỉ mùa thu Hà Nội mới có - ảnh 5
cac mon an ngon lam tu com anh 6
 
cac mon an ngon lam tu com anh 8
cac mon an ngon lam tu com anh 9






 
 

Thơm nồng hương cốm mùa thu

 

Cốm tươi - Món ăn truyền thống đầy tinh tế mỗi Thu về!

Hương cốm làng Vòng Hà Nội mùa thu
 
Trong cái tiết trời tuyệt đẹp của mùa thu, tiếng rao “ai mua cốm nào” lảnh lót trên đường phố hoe vàng như gợi lại sự thanh bình của đất Hà Thành khi xưa. Những cô gái nghiêng mình gánh đôi quang trên vai quẩy nhịp nhàng theo từng bước chân, chỉ cần nhìn cặp thúng đậy vỉ buồm phủ lá sen và vài sợi rơm xanh buộc trên quang gánh là ai cũng hiểu mùa cốm non đã đến.
 
 Pháp Luật Plus - “Cốm sữa vỉa hè, thơm bước chân qua”…
 Hà Nội có rất nhiều món quà đặc sản nhưng không món nào thơm thảo đượm chất đồng quê như hạt cốm xanh. Và dù nhiều làng làm cốm, song cốm làng Vòng vẫn được đánh giá là đầu bảng với vị dẻo ngọt và cả cái sự kỳ công của người làm.
 
 Chẳng ai biết đích xác nghề cốm làm Vòng có tự bao giờ, nhưng theo tương truyền, từ ngàn năm trước, trong một mùa thu nọ, khi cánh đồng lúa nếp đang trĩu bông thơm ngát, trời bỗng đổ mưa như trút, đê vỡ, cả cánh đồng chìm trong nước. Người dân làng Vòng thấy xót xa nên đã lội nước cắt những hạt lúa non về sao khô trong những nồi đất để ăn dần chống đói. Không ngờ cái món ăn khô ấy lại có hương vị hấp dẫn, ngọt ngào và ngát hương. Từ đó, mỗi độ thu về người làng Vòng lại rang nếp non như một món quà ăn chơi. Với sự sáng tạo và tỉ mỉ của người nông dân Việt mà món nếp rang khô ấy ngày được “chăm chút” hơn, nên mỗi ngày lại thêm dẻo xanh và mướt hương sữa nếp thơm, để rồi có được thứ quà đặc sản “cốm non” như ngày nay.
 
 
 Thế nhưng chẳng phải hạt nếp nào cũng làm được cốm ngon mà phải là nếp cái hoa vàng vừa chín tới, người làm cốm giỏi là phải biết lúc nào lúa đủ độ để gặt về làm, bởi nếu nếp già thì hạt cốm sẽ cứng bị đớn chẳng ai thích ăn, nếp non quá thì cốm làm được sẽ ít mà cũng chẳng thể kiếm đủ để làm hàng. Làng Vòng trước đây thênh thang đồng lúa, phần nhiều trong đó là những ruộng lúa nếp cái hoa vàng, hạt luôn căng tròn, ngậm đầy sữa, bởi vậy, cốm của làng luôn có sự dẻo ngọt hơn so với cốm vùng khác. Giờ làng đã không còn đất trồng lúa, mà phải thu gom ở những cánh đồng nơi khác, song những tiêu chí chọn nếp vẫn cầu kỳ như vậy để đảm bảo chất lượng cốm làng không phai mờ.
 Cách Làm Món Xôi Cốm của Bếp NGON - Cookpad
 Người làng Vòng rất tỉ mỉ, từng công đoạn đều được làm kỹ lưỡng, chất chứa cả tâm huyết của người nông dân vậy nên để làm được hạt cốm cũng đòi hỏi lắm công phu. Khi lúa vừa chín độ ngả bóng câu thì người ta cắt lúa đem về tuốt hạt, sàng sảy bớt vỏ và tạp chất. Các bà các cô khéo léo đãi nếp trong bể nước để chọn hạt mảy, căng bóng, sau đó nếp được đem rang bằng chảo gang đúc, đế dày, đảm bảo giữ nhiệt đều. Ngọn lửa rang cốm cũng cần một sự chăm chút, bởi nếu đốt bằng than lửa sẽ không đượm không đều nên người làng Vòng chọn củi để đốt lửa. Khi mới rang cốm, lửa phải để to đều, nhưng khi gạo bắt đầu tái trắng người trông bếp phải lựa để bớt lửa đi. Cốm rang cần được đảo liên tục cho nóng đều, bởi chỉ cần quá lửa chút là hạt cốm sẽ gãy.
 
 
Cốm rang xong khi còn nóng là đem giã ngay. Chiếc cối đá được chôn dưới nền nhà để đảm bảo độ đầm, và tránh tiếng ồn. Mỗi chiếc cối như vậy có thể chứa được khoảng 5kg cốm, vừa giã vừa đảo luôn tay từ trên xuống rồi lại dưới lên. Trước đây, khi giã cốm phải cần 2 người, một người đạp chày, một người ngồi đảo tay, nhưng nay công đoạn đã được cải tiến bằng máy móc, nên chỉ cần 1 người ngồi lo khâu đảo cốm sao cho đều.
 
 
 Cốm sau khi giã khoảng 10 phút thấy có trấu thì được đem sàng xảy bớt vỏ, rồi lại đổ vào cối giã tiếp. Cứ như thế giã đến lần thứ 5 thì cốm bắt đầu phân loại. Người làng Vòng thường phân cốm làm 3 loại: cốm dón, cốm non và cốm gốc. Mỗi loại lại được giã riêng 2 lần nữa mới xong.
 
Tinh hoa ẩm thực thu Hà Nội | Trường THCS & THPT Nguyễn Tất Thành - Hà Nội
 
Mỗi mẻ cốm ra lò lại chia làm nhiều loại. Cốm lá me là những hạt nhỏ bay ra từ các lần sàng sẩy, loại này rất ít nên chủ yếu gia chủ giữ lại để thưởng thức hoặc đem biếu tặng người thân. Cốm giót chỉ chiếm 2/10 mỗi mẹt cốm vì hạt nếp non giã xong dính vào nhau với một tí trấu ở đuôi vì không thể giã hết, tuy ăn hơi sạn nhưng rất ngọt và đây mới là cốm quý, có giá đắt nhất, đặc biệt cốm giót rất hiếm vào mỗi độ cuối mùa. Cốm đầu nia loại 1, 2 được đem bán phổ biến mà người ta thường hay gọi là cốm non, cốm già. Loại cuối cùng là cốm mộc cuối mùa thường cứng nên được đem sấy khô và chế biến thành các món quà khác như xôi cốm, chè cốm, chả cốm, bánh cốm. Ngoài ra còn có loại cốm hồ có màu đẹp nhưng hơi đắng và chẳng còn vị ngon của cốm.
 
 
 Không giống như những món quà được làm từ gạo, cốm nếu để ra ngoài gió sẽ không còn độ dẻo bởi vậy, cốm luôn được gói bằng lá giáy để giữ màu và độ ẩm, rồi bên ngoài là lớp lá sen. Hương cốm dịu ngọt lại đượm mùi thơm nhẹ nhàng thanh tao của lá sen như gói gọn cả hương vị đất trời, của đồng quê và của nắng gió.
 

Kim Phượng sưu tầm

Green sticky rice – Hanoi's autumn specialty - News VietNamNet

*********

 

Xem thêm...

Những Bài Học Thuộc Lòng, Một Thứ Văn Chương Tiểu Học Của Miền Nam Trước Đây - Trần Văn Chánh

Những Bài Học Thuộc Lòng, Một Thứ Văn Chương Tiểu Học

Của Miền Nam Trước Đây  

Trần Văn Chánh

Đọc sách "Những bài học thuộc lòng - Tân Quốc văn giáo khoa thư" (Nguyễn Văn  Tuấn)

Dân miền Nam, ở lứa tuổi xấp xỉ hàng sáu như chúng tôi, cứ mỗi lần bạn bè tụ họp trà dư tửu hậu thì thường trao đổi với nhau về đủ thứ chuyện trên đời. Nếu có ôn lại quãng đời đi học xa xưa, thì lại thường hay nhắc đến thầy, bạn cũ…, với những kỷ niệm khó quên của tuổi học trò. Chúng tôi còn nhắc lại đến cả những bài tập đọc, học thuộc lòng đã được học cách nay chừng bốn-năm mươi năm về trước…
 
Thậm chí, có người còn thuộc hết cả một bài học thuộc lòng dài, đọc ron rót từ đầu đến cuối, như bài “Tình nhân loại”, được học vào khoảng những năm cuối 50 của thế kỷ trước:
 
Tình Nhân Loại
 
Sau một trận giao tranh ác liệt,
Giữa sa trường xác chết ngổn ngang.
Có hai chiến sĩ bị thương,
Hai người hai nước hiện đương nghịch thù.
 
Họ đau đớn khừ khừ rên siết,
Vận sức tàn cố lết gần nhau.
Phều phào gắng nói vài câu,
Lời tuy không hiểu, hiểu nhau nỗi lòng:
 
Họ hai kẻ không cùng Tổ quốc,
Nhưng đã cùng vì nước hi sinh.
Cả hai ôm ấp mối tình,
Yêu thương đất nước, gia đình, quê hương.
 
Đêm dần xuống, chiến trường sương phủ,
Một thương binh hơi thở yếu dần.
Trước khi nhắm mắt từ trần,
Xót thương người bạn tấm thân lạnh lùng.
 
Anh cởi áo đắp trùm lên bạn,
Rồi tắt hơi! thê thảm làm sao!
Cho hay khác nghĩa đồng bào,
Nhưng tình nhân loại còn cao hơn nhiều!
Đặng Duy Chiểu
(Quốc văn mới)
 
Nghe xong bài này ai cũng kính nể trí nhớ tốt của người bạn, và đều tấm tắc khen hay. Tuy nhiên, hỏi tác giả của những bài học thuộc lòng cảm động và lý thú như trên thì không ai còn nhớ, chỉ biết lờ mờ nó nằm đâu đó trong những sách Quốc văn mà mình đã từng học qua hồi Tiểu Học.
 
Qua câu chuyện trà dư tửu hậu, tôi sực nghĩ những bài học thuộc lòng như thế, nằm rải rác trong các sách Quốc văn tiểu học giai đoạn 60-70 của thế kỷ trước, thuộc thế hệ tiếp sau Quốc văn giáo khoa thư của nhóm Trần Trọng Kim-Đỗ Thận… biên soạn (dạy trong những năm 40-50 mà gần đây NXB Trẻ và vài nhà xuất bản khác có in lại), dường như là một kho tàng quý báu đang bị bỏ quên, chứ không đơn giản như người ta thường có thể tưởng. Nếu nay thu thập lại, chắc sẽ tìm thấy trong đó nhiều điều vẫn còn hứng thú và bổ ích, nhất là về phương pháp sư phạm, gắn với việc đào tạo con người toàn diện cả về đức lẫn tài.
 
Tính nhân bản trong bài học quốc văn tiểu học miền Nam trước 75
 
Như chúng ta đều biết, sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm thời chia đôi ở vĩ tuyến 17, thành hai miền Nam, Bắc.  Miền Bắc, qua 2 lần cải cách giáo dục vào các năm 1950 và 1956, đã xây dựng một nền giáo dục kết hợp chuyên môn với chính trị (vừa hồng vừa chuyên), lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng, định hướng giáo dục vào hai mục tiêu: chuẩn bị tiến lên CNXH và xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững mạnh chi viện  cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Trong khi đó, miền Nam, trong giai đoạn 1955-1963, chỉ thực hiện cải cách giáo dục theo hướng cải lương chủ nghĩa, bằng cách kế thừa và phát huy những truyền thống, lề lối và nội dung đã có trong chương trình giáo dục Việt Nam cũ ban hành năm 1945 mà ta quen gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn  (vì do bộ trưởng Bộ Giáo dục & Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn chủ trì biên soạn).
 
Năm 1958, dưới thời Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục Trần Hữu Thế, Đại Hội Giáo Dục Quốc Gia (lần I) nhóm họp tại Sài Gònđã định hướng triết lý giáo dục dựa trên ba nguyên tắc căn bản: nhân bảndân tộc và khai phóng. Ba nguyên tắc này đã trở thành nền tảng cho triết lý giáo dục, được ghi cụ thể trong tập tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc Gia Giáo Dục Sài Gòn ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến pháp 1967. Chương trình môn Quốc văn cấp Tiểu Học vì thế có thể nói vẫn lấy những nội dung giáo dục thiên về đạo đức chứa đựng trong bộ sách Quốc văn giáo khoa thư và Luân lý giáo khoa thư của nhóm Trần Trọng Kim biên soạn làm cơ sở rồi cải cách, thêm bớt một số nội dung mới cho phù hợp với hoàn cảnh và thời đại lúc đó.
 
Tinh thần chung của nền học vấn miền Nam lúc bấy giờ là phải học Lễ trước rồi mới học Văn sau, tức coi việc rèn luyện đức-trí là quan trọng như nhau, nhưng Đức phải đi trước một bước, nên trường học nào vào thời đó cũng có câu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” treo ở những vị trí quan trọng dễ thấy nhất và trong mỗi phòng học. Tinh thần trọng Lễ nhờ thế không chỉ bàng bạc, quán xuyến trong tâm tưởng, đầu óc của mọi giáo chức từ tiểu học đến đại học, mà còn lan tỏa rộng khắp vào trong mọi giai tầng xã hội, tạo thành một phong khí học tập-ứng xử chú trọng rèn luyện cả đức lẫn tài để chuẩn bị điều kiện đầy đủ cho thế hệ tương lai trở thành những con người hữu dụng đối với bản thân, gia đình và xã hội.
 
Cho nên có thể nói, nội dung đạo đức hàm chứa trong các sách Quốc văn tiểu học thời kỳ này ở miền Nam là vẫn duy trì nhưng có phát huy thêm và cải biên từ những bộ sách giáo khoa cũ thế hệ 1940, khá đúng với tinh thần đã được ghi trong câu nói của Khổng Tử mà cụ Trần Trọng Kim đã trích dẫn để in lên đầu quyển Sơ học luân lý (1914, có tài liệu nói 1919), vốn là cơ sở chỉ đạo tư tưởng của nền giáo dục cũ và sách giáo khoa môn Văn thời trước: “Người học trò ở trong nhà thì hiếu với cha mẹ, ra ngoài thì kính nhường kẻ bề trên, làm việc gì thì cẩn thận, nói điều gì thì tín, rộng lòng thương người mà lại thân với kẻ có nhân. Hễ làm được những điều ấy rồi, mà còn thừa sức thì hãy học văn chương xảo kỹ” (Luận ngữ, thiên “Học nhi” đệ nhất) (xem Sơ học luân lý, NXB. Tân Việt, In lần thứ hai, 1950).
 
So sánh giữa hai miền Nam, Bắc, hiệu quả giáo dục tất nhiên có những mặt khác nhau khá cơ bản. Xét cho công bằng, nền giáo dục miền Bắc nhờ xây dựng tốt tinh thần đấu tranh giai cấp và căm thù đế quốc nên đã huy động được sức mạnh của quần chúng tiến hành thắng lợi các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, với sự trả giá rất đắt. Do phải tập trung vào những mục tiêu và lý tưởng chính trị to tát, nền giáo dục miền Bắc đã có thời gian dài khá lơ là với việc giáo dục những giá trị văn hóa-đạo đức truyền thống của dân tộc. Miền Nam trái lại, quan điểm giáo dục ít bị chính trị hóa, thiên về cổ điển nếu không muốn nói vẫn còn khá nặng màu sắc phong kiến của giai đoạn những năm 40 trước Cách Mạng Tháng Tám, còn về các khoa học nhân văn (quốc văn, đức đục, công dân giáo dục…) thì căn bản dạy dỗ từ khuôn phép lễ nghĩa xưa phát huy lên, chú trọng rèn luyện nhiều thứ tình cảm đan xen nhau (cá nhân, gia đình, tổ quốc, nhân loại), trông giống như một cây đàn muôn điệu…  
********
Về sách giáo khoa Quốc văn tiểu học của miền Nam thời trước, để phục vụ cho những mục tiêu như đã kể trên, thông thường các giáo chức khi biên soạn thì soạn luôn nguyên cả bộ từ lớp Năm (lớp 1) đến lớp Nhất (lớp 5), và ở trang bìa giả sách thường có đề câu “Soạn theo chương trình hiện hành của Bộ Quốc gia Giáo dục”, hoặc thậm chí còn nêu rõ hơn: “Soạn đúng chương trình tiểu học đã sửa đổi do Nghị định số… ngày … của Bộ Quốc gia Giáo dục”… Sách của họ thường mang những tên khác nhau như Việt văn toàn thư, Quốc văn toàn thư, Quốc văn toàn tập, Tiểu học quốc văn, Quốc văn mới, Quốc văn bộ mới, Quốc văn độc bản, Việt văn khóa bản, Việt văn tân khóa bản, Tân Việt văn, Việt ngữ, Việt ngữ độc bản, Việt ngữ bộ mới… Chuyên xuất bản loại sách này, được biết có một số nhà xuất bản (hoặc nhà in) nổi tiếng như Nam Hưng Ấn Quán, Sống Mới, Nam Sơn, Việt Hương, Cành Hồng…
 
sachvietngu
Ảnh bìa sách Việt ngữ lớp Bốn của Nhóm biên soạn Lửa Việt (NXB Cành Hồng, Sài Gòn, 1974)
 
Thời đó, khi trích giảng các bài thơ để làm bài học thuộc lòng, các nhà biên soạn sách tiểu học dường như không mấy chú trọng việc ghi tên tác giả, nên họ thường chỉ ghi sơ sài tên người sáng tác, một đôi khi mới ghi thêm xuất xứ cho biết trích dẫn từ sách báo nào. Một số trường hợp chỉ ghi tượng trưng X…, XXX., H.H., không rõ bút hiệu hoặc tên thật là gì. Cũng không phân biệt tác giả những bài thơ là người đang sống và phục vụ trong chế độ nào, mà hễ thấy hay, bổ ích là chọn.
Theo chỗ chúng tôi được biết, ngoài những bài trích dẫn tác phẩm của một số nhà văn-nhà thơ cổ điển hoặc hiện đại đã nổi tiếng (như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Hoàng Chương, Kiên Giang, Tế Hanh, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân…), một số soạn giả sách giáo khoa đã tự mình sáng tác luôn những bài thơ theo chủ đề giảng dạy để làm bài học thuộc lòng, như trường hợp nhà giáo Bùi Văn Bảo với bút hiệu Bảo Vân, nhà giáo Đặng Duy Chiểu với bút hiệu Chiêu Đăng, thường thấy xuất hiện trong những sách giáo khoa Việt văn tiểu học do các ông biên soạn… Một vài tác giả  khác, như Kình Dương, Như Tuyết, Thy Thy, Đề Quyên… dường như cũng gốc thầy cô giáo, chuyên sáng tác thơ cho bài học thuộc lòng.  Phần còn lại là thơ của một số người làm thơ nghiệp dư, có bài đăng rải rác đâu đó trên một số báo, tạp chí đương thời, được các nhà biên soạn sách giáo khoa chọn đưa vào sách của mình.
 
Chỉ cần tôn trọng chương trình và lời hướng dẫn do Bộ Giáo Dục vạch ra một cách tổng quát, các tác giả sách giáo khoa được tự do chọn bài để đưa vào sách, và giáo viên đứng lớp cũng có quyền chọn quyển giáo trình nào mình ưa thích để giảng dạy. Nhờ vậy, nội dung sách giáo khoa phong phú, tuy vẫn có những nét chung nhưng mỗi người một vẻ, và trong điều kiện được tự do như thế, các giáo chức soạn sách cũng cố thi đua cạnh tranh nhau một cách tự giác để soạn ra những giáo trình được nhiều người vừa ý, chấp nhận. Phần thưởng xứng đáng của họ là sách được nhiều người tin dùng, chứ không phải những mảnh bằng khen của Nhà nước.
 
Bộ Giáo Dục chỉ khuyến cáo các giáo viên bằng lời chỉ dẫn chung, như về Việt ngữ thì có nêu rõ: “Trong lúc dạy Việt ngữ, giáo chức nên nhớ rằng chương trình ấy không phải đứng tách hẳn chương trình của các môn học khác như đức dục, công dân giáo dục, sử ký, địa lý v.v…. mà phải cố tìm cách cho chương trình các môn học ấy và khoa Việt ngữ có liên lạc với nhau (…). Đặc biệt chú ý về Việt ngữ: nên nhẹ về phần tầm chương trích cú, nghệ thuật vị nghệ thuật, và phải chú ý đề cao vấn đề nghệ thuật vị nhân sinh (phục vụ cho đạo đức con người, cho hạnh phúc gia đình, cho an ninh xã hội, cho độc lập, tự do)”.
 
Chương trình Việt ngữ tiểu học thời đó, thông thường gồm các phân môn sau:
 
- Ngữ vựng;
 
- Tập đọc và Học thuộc lòng;
 
- Chính tả, Văn phạm (chỉ dạy ở lớp Nhì và lớp Nhất, tức lớp Bốn và lớp Năm), Tập  viết;
 
- Tập làm văn (chỉ không dạy ở lớp Năm tức lớp Một).
 
Môn Quốc văn rất được coi trọng, chẳng hạn lớp Năm (đến năm 1967 đổi gọi là lớp 1), mỗi tuần học 25 giờ, trong đó đã có tới 9 giờ rưỡi dành cho môn này. Riêng về phân môn Học thuộc lòng, mỗi tuần học sinh từ lớp Năm (sau năm 1967 gọi lớp 1, tương đương lớp 1 bây giờ) đến lớp Nhất (sau năm 1967 gọi lớp 5, tương đương với lớp 5 bây giờ) đều có bài học.
Thành Nguyễn's Blog: Sách xưa miền Nam trước 1975
 
Chủ đề (hay chủ điểm) các bài Học thuộc lòng luôn đi theo chủ đề của các bài Tập đọc. Về tiêu chuẩn lựa chọn thì tuy có sự khác nhau chút ít tùy soạn giả hoặc tùy cấp lớp nhưng đều có thể hiểu đại khái: “Về bài Tập đọc và Học thuộc lòng, bài soạn nào cũng đi sát với chương trình cùng trình độ của học sinh theo những chủ điểm có liên quan tới nhiều môn khác” (Thềm Văn Đắt-Huỳnh Hữu Thanh, Việt ngữ bộ mới lớp Nhứt, “Lời nói đầu”, NXB Nam Sơn, In lần thứ sáu). Hoặc: “Về học thuộc lòng, chúng tôi chú trọng lựa chọn những bài văn vần có tính cách kích thích lòng yêu nước và tinh thần tranh đấu của nhân dân” (Đặng Duy Chiểu và Một nhóm giáo viên, Quốc văn toàn thư lớp Nhì, “Lời nói đầu”, NXB Sống Mới, 1959). Có soạn giả còn nêu rõ hơn: “Về văn vần dùng làm các bài Học thuộc lòng, chúng tôi đã hợp tác cùng một số thi sĩ để soạn riêng những vần thơ trong sáng, dễ hiểu, giàu nhạc điệu cho thích hợp với các em hơn” (Bùi Văn Bảo, Tân Việt văn lớp Năm (lớp Nhứt cũ), “Lời nói đầu”, NXB Sống Mới, 1971)…
 
Khảo sát một số sách giáo khoa cũ còn tìm được, cũng như bộ Tiểu Học Nguyệt San do Bộ Giáo dục thời đó ấn hành, chúng ta thấy về hình thức, hầu hết chúng đều là những bài thơ lục bát, song thất lục bát hoặc thơ mới (với mỗi câu 8 chữ, 7 chữ, hoặc số chữ trong các câu không đều nhau), ít khi có thơ luật (với niêm luật chặt chẽ kiểu Đường luật), trừ một vài bài trích dẫn từ thơ cổ của người xưa như của Tản Đà, Nguyễn Khuyến…
 
Dân tộc Việt Nam sính thơ, có truyền thống về khối ca dao khổng lồ và thơ lục bát, nên ngay cả trong lĩnh vực tuyên truyền, giáo dục cũng có thói quen sử dụng văn vần. Nhờ có vần điệu dễ nhớ dễ thuộc, những bài thơ như thế  không chỉ được dùng để kêu gọi, thức tỉnh đồng bào về một việc gì đó mà còn thường được áp dụng trong những bài học về đạo đức, hoặc để phổ biến kiến văn đủ loại. Nếu đem so sánh những bài thơ học thuộc lòng trong các sách Quốc văn tiểu học giai đoạn 1954-1975 với Nhị thập tứ hiếuGia huấn caĐại Nam quốc sử diễn ca (giữa thế kỷ 19),  với những bài thơ răn dạy đạo đức in trong bộ Thông loại khóa trình của nhóm Trương Vĩnh Ký (nửa sau thế kỷ 19), hoặc với những bài ca cổ động phong trào Duy Tân in trong tập Quốc dân tập độc (năm 1907, đầu thế kỷ 20) của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục (xem Thơ văn Đông Kinh Nghĩa Thục, NXB. Văn Hóa, 1997), chúng ta sẽ thấy rất rõ giữa chúng với nhau là “nhất mạch tương thừa”.
 
Thử dẫn vài đoạn thơ như sau trong Quốc dân tập độc, sẽ chứng minh được hầu hết những bài thơ học thuộc lòng sưu tập lại từ các sách Quốc văn tiểu học nói trên là có cùng một “giọng”, chung một phong cách:
 
Đấng làm trai sinh trong trời đất,
Phải sao cho rõ mặt non sông.
Kìa kìa mấy bậc anh hùng,
Cũng vì thủa trước học không sai đường.
 
Cuộc hoàn hải liệt cường tranh cạnh,
Mở trí dân giàu mạnh biết bao.
Nước ta học vấn thế nào,
Chẳng lo bỏ dại nhẽ nào được khôn.
 
Chữ quốc ngữ là hồn trong nước,
Phải đem ra tính trước dân ta,
Sách các nước sách Chi na,
Chữ nào nghĩa ấy dịch ra tỏ tường.
(“Bài hát khuyên học chữ quốc ngữ”, sđd., tr. 110)
 
Hoặc:
 
Nước Nam ta từ đời Hồng Lạc,
Mấy nghìn năm khai thác đến nay,
Á châu riêng một cõi này,
Giống vàng ta vẫn xưa nay một loài.
(“Bài hát yêu nước”, sđd., tr. 111)
Hoặc:
 
Đạo vệ sinh phải nên biết trước,
Nghĩ rượu men là chất độc người.
Xin ai chớ lấy làm chơi,
Rượu ngon cấm tiệt nhớ lời Hạ vương.
(“Bài hát răn người uống rượu”, sđd., tr. 135)
 
Để phổ biến kiến thức, các nhà nho thuở trước dạy dân, cũng quen dùng cùng một thể loại văn vần, để giúp người học dễ thuộc nằm lòng:
 
Năm châu quanh mặt địa cầu,
Á châu lớn nhất, Mỹ châu thứ nhì.
Châu Âu, châu Úc, châu Phi,
Mỗi châu mỗi giống sắc chia rành rành.
 
(“Bài hát kể đường đất nước ta”, sđd., tr. 115)
 
Về nội dung, những bài học thuộc lòng trong các sách Quốc văn tiểu học không kém phần phong phú, đa dạng. Đương nhiên chúng có tính hiện đại gần gũi với thời nay hơn so với các thế hệ trước, nhưng tựu trung vẫn chú trọng rèn luyện cho học sinh về nhân cách, đạo đức, óc cầu tiến, chí tiến thủ, niềm tin ở sự tiến bộ của khoa học, và nhất là lòng nhân ái, yêu thương-tôn trọng con người…. Đa số bám theo những bài học luân lý, với những nội dung cụ thể được lặp đi lặp lại từ lớp tiểu học nhỏ nhất đến lớn nhất và thường xoay quanh một số chủ đề như:
 
- Bổn phận đối với bản thân: giữ vệ sinh cá nhân, rèn luyện thân thể, bồi dưỡng chí khí, óc mạo hiểm và những phẩm chất tốt đẹp khác, nhất là tính trung thực, thật thà… Việc rèn luyện phẩm đức phải đi đôi với quyết tâm từ bỏ các thói hư tật xấu…
 - Khuyến học. Xác định động cơ học tập đơn giản “Ngày nay học tập ngày mai giúp đời”…
- Lòng hiếu kính trước hết đối với ông bà, cha mẹ rồi đến các bậc tôn trưởng khác: anh chị, bà con cô bác, thầy cô giáo, người già cả…
- Cổ vũ tình yêu quê hương xứ sở, từ đó ra sức góp phần xây dựng Tổ quốc giàu mạnh; đề cao lòng tự hào dân tộc, ca ngợi anh hùng dân tộc, kêu gọi bảo vệ Tổ quốc chống xâm lăng; ca ngợi quê hương giàu đẹp, các thuần phong mỹ tục, và đề cao giá trị tiếng mẹ đẻ…
- Tình dân tộc, nghĩa đồng bào.
- Lòng bác ái thương người yêu vật, tình đồng loại, đặc biệt tình cảm đối với tầng lớp lao động chân tay nghèo khổ và những người có hoàn cảnh khốn khó, cơ nhỡ.
- Ca ngợi giá trị-nét đẹp của lao động và lòng biết ơn những con người lao động, đặc biệt đối với dân quê cày ruộng và tầng lớp thợ thuyền, người buôn bán nhỏ và dân nghèo thành thị, từ em bé đánh giày đến người thợ hớt tóc, bác thợ mộc, thợ rèn…
- Các nghĩa vụ đối với tha nhân và với xã hội. Bổn phận và quyền lợi công dân.
- Ca ngợi nếp sống thanh bần, đạm bạc, tri túc tiện túc; đề cao tinh thần trọng nghĩa khinh tài…
- Kinh nghiệm sống (qua một số bài thơ ngụ ngôn).
- Cổ vũ dùng hàng nội hóa, phát triển nông-công-thương nghiệp.
- Phổ biến tri thức khoa học phổ thông (về vũ trụ-thiên nhiên, máy móc, các phát minh…), đề cao tinh thần khoa học, phê phán óc mê tín dị đoan.
- Ước mơ có được cuộc sống thanh bình, ấm no, hạnh phúc.
(…)
 
Ngày nay đọc lại những bài học thuộc lòng này, ngoài phần nội dung tư tưởng mang tính giáo dục hàm chứa bên trong ra, chúng còn giúp ta tái hiện được một cách sinh động hình ảnh năm-sáu mươi năm về trước của vùng đất Sài Gòn và một số tỉnh thành từ Cà Mau ra đến các tỉnh Trung bộ, qua đó thấy rõ khung cảnh sinh hoạt muôn màu muôn vẻ của người dân từ nông thôn đến thành thị. Hình ảnh con trâu, cái cày, bác nông phu, anh công nhân, chị bán hàng xén,  mái tranh vách đất đơn sơ ở nông thôn và các khu phố chợ tráng lệ ở thành thị… có lẽ được nhắc tới nhiều nhất, và thật cảm động, vì chúng phản ảnh hoàn cảnh sống thật của đa số người dân Việt miền Nam trong bối cảnh chiến tranh và sự nghèo khổ, cùng như cho thấy trình độ phát triển về các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội một bộ phận phân ly của đất nước vừa thoát khỏi ách cai trị của chế độ thực dân cũ.
Những bài học thuộc lòng, một thứ văn chương tiểu học của miền Nam trước đây  -
 
Đây là hình ảnh của người nông phu Việt Nam, thành phần dường như luôn được đề cập và đề cao nhiều nhất, trong hoàn cảnh một đất nước nông dân chiếm phần đa số và vì thế họ cũng có tư cách lẫn tính cách đại diện cho cả dân tộc ở một giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội nhất định:
 
Đôi cánh tay rắn chắc,
Anh xới lúa vun dâu.
Mồ hôi rơi thấm đất,
Tình anh tràn ruộng sâu.
 
Tóc anh vương vấn gió chiều,
Hồn anh thấm lúa, lan vào hương quê.
Đôi trâu bạn bè,
Cuốc cày tri kỷ.
 
Khỏe làm mệt nghỉ,
Đời đẹp như thơ.
Lòng anh hòa với lũy tre,
Hòa trong lòng đất, đem về nguồn vui.
Cao Thành Nhân
(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 1-2.1957)
 
Một cách diễn tả khác, giản dị và thực tế hơn:
 
Làm ăn từ sáng đến chiều,
Giữa trời bêu nắng như thiêu ngoài đồng.
Ruộng nương chẳng chịu bỏ không,
Hết mùa lúa thóc lại trồng bắp khoai.
 
Nghiệp nhà gánh vác hai vai,
Chẳng chồn gót sắt, chẳng phai dạ vàng...
Nam Hương(Trích Giáo Khoa Tạp Chí)
(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 7.1961)
 
Nghề nông thời bấy giờ luôn được ca tụng không tiếc lời, như một nghề cao quý, nhưng bằng những lời lẽ chân thành, giản dị. Một hình thức khuyến nông qua văn chương với nghệ thuật sử dụng ngôn từ điêu luyện:
 
Non cao cũng có đường leo,
Đường dẫu khó trèo, cũng có lối đi.
Cao nguyên đất tốt lo gì,
Cày cấy kịp thì, chồng vợ ấm no.
 
Đất màu giòng đậu, giòng ngô,
Đất lầy cấy lúa, đất khô làm vườn.
Nghề nông ra sức khuếch trương,
Cao nguyên phá rẫy, làm nương ven đồi…
 
Tưởng rằng đá rắn thì thôi,
Ai ngờ đá rắn nung vôi lại nồng.
Tưởng rằng đất núi gai, chông,
Ai ngờ đất núi cấy trồng nở hoa…
Dân Việt
(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 2.1958)
 
Mùa gặt hái đã được nhà thơ Bàng Bá Lân mô tả bằng một đoạn hoạt cảnh thật sinh động:
 
Trời tang tảng, sương đao bay lớp lớp,
Cánh đồng quê mờ ngập khói sương mờ.
Từ cổng làng, từng bọn kéo nhau ra,
Tiếng quang hái, đòn cân va lách cách.
 
Họ vui vẻ đi nhanh trên đường đất,
Rồi tạt ngang, tản mát khắp đồng quê.
Họ dừng chân bên ruộng ướt sương khuya,
Lúa rạp rạp ngã, theo gió thổi…
Bàng Bá Lân
(Tiểu Học Nguyệt San, số 5. 1957)
 
Còn đây là giá trị của người công nhân, làm việc ngày đêm không nghỉ, được đề cao như một anh hùng, không chỉ để lo cho bản thân, gia đình, mà còn đóng góp vào nghĩa vụ chung phục vụ đồng loại:
 
Em có biết, học sinh, em có biết,
Các tiện nghi em thụ hưởng hằng ngày,
Là công trình vô số những bàn tay,
Chai dắn lại sau những ngày lam lũ?
 
Trong cơ xưởng, khắp nơi trên hoàn vũ,
Bánh xe quay, máy móc chuyển rầm rầm.
Bao công nhân, ngày hai buổi, âm thầm,
Lo phận sự chu toàn, không mệt mỏi.
 
Công nhân hỡi! Người anh hùng không tên tuổi!
Nhờ có anh, còi nhà máy vang rền.
Nhờ có anh, nhân loại mãi vươn lên,
Đến tột đỉnh nền văn minh cơ khí.
Ngọc Luyện
(Nhóm Lửa Việt, Việt ngữ, lớp Bốn)
 
Hoặc:
 
Da mồ hôi tưới nắng đào bóng loáng,
Gân ngoằn ngoèo, cùng năm tháng dẻo dai.
Thớ thịt căng, mọi nét máu chạy dài,
Pho hoạt tượng, hình của người lao động.
 
Còi nhà máy rộn lên, vang sức sống!
Khói tung bay, cuồn cuộn bốc mây xanh.
Tay vung lên, ôm giữ mộng hiền lành,
Tiếng kèn kẹt xoay nhanh vòng xã hội…
 
Những thanh sắt vang lời ca dữ dội,
Tia lửa bừng, hôi hổi sức công nhân.
Đẹp hiên ngang, một sắc đẹp tuyệt trần!
Tô non nước, thêm muôn phần rực rỡ.
 
Người lao công, ngươi là người muôn thưở,
Xây hình hài cho bờ cõi quê hương!
Người lao công! kìa tráng lệ huy hoàng!
Thay tạo hóa điểm trang toàn thế giới
Hiệp Nhân (Tia Sáng)
(Hà Mai Anh, Tiểu học Quốc văn, lớp Nhất)
 
Rồi tới tầng lớp dân nghèo thành thị. Không nghề nghiệp nào bị bỏ sót, bị coi thường, miễn nó lương thiện và phục vụ cho con người bằng lương tâm chức nghiệp, từ anh thợ cắt tóc cho tới bác thợ rèn, đều có nét đẹp riêng của người lao động chân chính:
 
Trong túp lá bên đường qua xóm chợ,
Tiếng “băng! băng!” từng chập dội vang rền:
Bác thợ rèn làm việc, ở ngay bên,
Nào đe, búa, nào than, nào sắt, bễ.
 
Một đứa bé, ngồi cao trên chiếc ghế,
Rướn thân gầy thụt bễ chẳng khi lơi.
Lò than hồng, hừng hực đỏ, reo vui,
Mưa bụi lửa từng cơn bay tới tấp.
 
Cứ mỗi lần vươn vai giơ búa đập,
Là một lần thanh sắt ở trên đe,
Lại oằn đi, dưới sức mạnh tràn trề,
Của bắp thịt người cần lao kiên nhẫn.
Nguyễn Ngọc
(Nhóm Lửa Việt, Việt ngữ, lớp Bốn)
 
Tuy nhiên, cũng còn có những cảnh đời cơ khổ, bất hạnh, lỡ làng… của bác phu xe, em bé đánh giày, và những trẻ mồ côi…, tất cả đều được miêu tả sinh động như một cách khéo để đánh thức lương tâm và kêu gọi sự quan tâm cũng như tinh thần liên đới trách nhiệm của mọi người trong nỗ lực đấu tranh cho công bằng xã hội:
 
Bác phu xe:
 
Trời mưa như trút nước,
Đường nhựa bóng như gương.
Gió rung, gào, gió thét,
Nhìn cây cối mà thương.
 
Giờ chỉ còn mấy bác,
Phu xe cứ chạy đều.
Chân đạp, tay bẻ lái,
Gắng lướt gió ngược chiều.
 
Dưới trời mưa ướt át,
Dưới gió rét căm căm.
Người phu xe cảm thấy,
Cả thân thể như dần.
 
Trong cơn mưa gió đó,
Ai ngồi ở trong nhà.
Có để ý nhìn qua,
Những con người lao khổ.
Theo Xuân Chinh
(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 4.1957)
 
Em bé đánh giày:
 
Mai vàng đua nhau nở,
Báo hiệu xuân về đây.
Bao nhiêu người vui vẻ,
Buồn riêng em đánh giày.
 
Em xách chiếc thùng cây,
Mang tấm thân ốm gầy,
Len khắp đường phố chợ,
Tìm đánh một đôi giày.
 
Em lê tấm thân tàn,
Vào các tiệm cao sang,
Đánh giày ăn qua bữa,
Thân trẻ sớm cơ hàn1.
 
Xuân này em lang thang,
Đi khắp các phố phường,
Mang quần áo tả tơi,
Rước xuân bằng đau thương.
Độc Linh
(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 9.1961)
 
Và những trẻ mồ côi:
 
Có những con người đang thời hoa nở,
Sống trong niềm đau khổ: kiếp lầm than.
Cặp chân non ngày tháng những lang thang,
Trên đường phố ngút đầy bao gió bụi.
 
Tuổi niên thiếu dệt trong ngàn sầu tủi,
Không gia đình, cha mẹ, khát tình yêu.
Ôi long đong, thân trẻ nhỏ sớm chiều,
Ngàn cực nhục cũng chỉ vì cơm áo!
 
Tuổi niên thiếu lớn dần trong khổ não,
Mặt trẻ trung đầy những nét đau thương.
Sống lầm than, dầu dãi nắng mưa sương,
Thân còm cõi không đủ đầy nhựa sống.
 
Những trẻ ấy dưới bầu trời cao rộng,
Đưa mắt nhìn thèm khát cảnh yên vui.
Có chăng ai, chỉ một phút ngậm ngùi,
Cho thân phận con người xấu số.
Xuân Chính
(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 3.1959)
 
Hoặc:
 
Hai đứa trẻ
Trên vỉa hè,
Dòng đời đã bước lê thê,
Chúng đi, đi mãi biết về nơi đâu?
Chúng đã cùng chung một nỗi sầu,
Khi mùa ly loạn rắc thương đau.
Gặp nhau trong buổi chiều đông giá,
Mỗi dải khăn tang, mỗi mái đầu.
 
Hôm nay mưa gió lắm,
Chúng sát lại gần nhau,
Hòng san hơi thở ấm,
Cho đỡ lạnh lòng đau.
Dật dờ trong bóng tối,
Hai trẻ dắt nhau đi.
Đêm nay chúng sẽ về đâu nhỉ?
Hay vẫn bơ vơ kiếp lạc loài!
H.H.
(Hà Mai Anh, Tiểu học Quốc văn, lớp Nhất)
 
Ngoài mấy nội dung liên quan đến việc mô tả các thành phần dân dã trong xã hội, gần một phần ba số bài thơ dùng làm bài học thuộc lòng đã được nhắm vào chủ đề bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những tình cảm lành mạnh đối với đất nước mến yêu. Đó là những bài thơ ca ngợi quê hương xứ sở giàu đẹp, qua hình ảnh của con trâu trên đồng lúa, mái tranh vách đất trong xóm nghèo, rồi những con kênh, giếng nước, lũy tre…, các hoạt động xã hội trong làng xã, gợi nên ước mơ về một cuộc sống an cư lạc nghiệp trong cảnh hòa hợp, thanh bình, hạnh phúc:
 
Quê em nhà cửa liền nhau,
Mái tranh, mái ngói chen màu xinh xinh.
Quê em có miểu, có đình,
Có con sông nhỏ uốn mình trong tre.
 
Có đồng có ruộng bao la,
Nông dân làm lụng hát ca bên đồng.
Lúa xanh đang trổ đòng đòng,
Một mùa mơn mởn1 đẹp lòng dân quê.
 
Nương dâu xanh ngắt bốn bề,
Bắp, mì, khoai, đỗ, lang, mè tốt xanh.
Sớm hồng trời đẹp trong lành,
Sương mai rung động trên cành chim ca.
 
Vàng son lơ lửng chiều tà,
Đồng quê thơ mộng bao la xanh rờn.
Thanh Giang
(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 10.1958)
 
Quê tôi có một con sông,
Có nương khoai thắm, có đồng lúa xanh.
Bốn mùa gió mát, trăng thanh,
Bốn mùa lúa tốt, dân lành vui tươi.
 
Đó đây vang tiếng nói cười,
Câu hò, giọng hát của người nông dân.
Ngày đêm chẳng quản tấm thân,
Nắng mưa dầu dãi bao lần nào than.
 
Mồ hôi đem tưới mùa màng,
Chân tay xới mảnh đất vàng thân yêu.
Quê tôi trong ánh nắng chiều,
Vi vu thoáng tiếng sáo diều nhặt khoan.
Hàn Giang
(Nhóm Lửa Việt, Việt ngữ, lớp Bốn)
 
Tôi đã đi,
Từ Cà Mau ra Bến Hải.
Tôi đã dừng lại,
Khắp các nẻo đường.
Nước xanh màu bát ngát đại dương,
Hay trùng điệp núi rừng cao nguyên đất đỏ.
 
Tôi đã qua,
Khắp các đô thành nguy nga, to nhỏ,
Bãi biển, đồi thông.
Lúa Hậu Giang bát ngát ngập đồng,
Dừa Bình Định tô xanh miền cát trắng.
THNS.
(Nhóm Lửa Việt, Việt ngữ, lớp Bốn)
 
Thành phố Huế cổ kính 50-60 năm về trước đã được mô tả sinh động bằng mấy nét chấm phá tiêu biểu, với chùa Thiên Mụ, với sông Hương và dải núi Ngự Bình, vẽ nên một bức tranh  nên thơ, êm đềm tuyệt đẹp:
 
Dưới cảnh sắc chiều vàng bóng ngả,
Thành Huế như bức họa muôn màu.
Xa xa ngọn chuối, tàu cau,
Ngàn thông vi vút, bóng dâu chập chờn.
 
Cảnh cung điện vàng son chói lọi,
Dải tường thành vòi vọi quanh co.
Nguy nga tòa sở nhỏ to,
Nếp xưa bộ viện dư đồ còn nguyên.
 
Thiên Mụ cố lánh niềm trần tục,
Tẩm lăng còn y thức ngựa voi.
Sông Hương đáy hiện khuôn trời,
Ngự Bình lồng bóng giữa vời chon von.
Vũ Huy Chân
(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 8.1960)
Tính Nhân Bản Trong Bài Học Quốc Văn Tiểu Học Miền Nam Trước 75 - Sài Gòn,  Ngày Mới!
 
Một trong những nội dung quan trọng xuyên suốt của những bài học thuộc lòng thời kỳ này là bồi dưỡng lòng yêu nước cho thế hệ Tiểu Học. Yêu nước phải luôn gắn liền với thương dân, còn được thể hiện bằng tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất mỗi khi đất nước bị đe dọa trước hiểm họa xâm lăng từ bên ngoài. Vì thế không ít bài học thuộc lòng đã được dành riêng cho chủ đề lịch sử, nhắc lại những chiến công oanh liệt mà các thế hệ cha ông đã làm nên để bảo vệ Tổ quốc. Một số bài như thế có lời lẽ kích động hùng hồn không khác gì những hồi trống trận giục giã. Bài thơ ngắn sau đây đã tóm thuật được cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Bình Định Vương Lê Lợi, đánh đuổi quân Minh xâm lược:
 
Bao năm sắm sửa, đợi chờ,
Lam Sơn gióng trống, mở cờ ra binh.
Quyết lòng tận diệt quân Minh,
Giữa hàng tướng tá xưng Bình Định Vương.
 
Mười năm lận đận bốn phương,
Gian nan rồi mới lên đường vinh quang.
Trận cuối cùng, ải Chi Lăng,
Vương Thông nộp giáo, Liễu Thăng rơi đầu.
 
Hồ Gươm xanh ngắt một màu,
Tưởng chừng kiếm quý còn đâu chốn này!
Bảo Vân
(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 3.1958)
 
Trận cuối cùng ở Chi Lăng năm 1427 kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh 10 năm giành độc lập dân tộc, đã được một tác giả khác diễn lại như một khúc hùng ca:
 
Mưu thần một trận ra oai,
Kinh hồn Tống tướng, khiếp tài Nam binh,
Trời Nam yên hưởng thái bình,
Nghìn thu công đức Đại Hành chớ quên.
 
Ỷ nước mạnh, hiếp dân hèn,
Bắc Nam còn lại lắm phen tranh hùng.
Chi Lăng sau vẫn một vùng,
Là nơi giặc Liễu bước cùng bỏ thân.
 
Kìa ai mật nếm, gai nằm,
Một thân gánh vác, mười năm dãi dầu.
Tấm gương ái quốc còn lâu,
Ngàn năm để cháu con sau học đời.
 
Có thân phải biết giống nòi,
Rồng Tiên quyết chẳng kém người năm châu?
Dương Đình Tẩy
(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 4.1957)
 
Và hào khí đó đã luôn được lặp đi lặp lại suốt theo tiến trình lịch sử các cuộc đấu tranh giành độc lập, như một cách để un đúc niềm tự hào dân tộc và ý chí bảo vệ Tổ quốc chống xâm lăng cho thế hệ tương lai đất nước. Chủ đề này đã được thể hiện sinh động trong rất nhiều bài thơ học thuộc lòng khác, nhắc lại những chiến công oanh liệt về sau nữa, như bài “Xuân Kỷ Dậu”:
 
Băng băng đuốc lửa, rừng gươm giáo,
Khí thế quân Nam nước lũ tràn.
Khuya tối Mồng Năm, liên tiếp sáng,
Hà Hồi thất thủ, Ngọc Hồi tan.
 
Đoàn quân giải phóng tràn xô đến,
Ngựa thét lừng mây, súng đổ thành.
Sĩ Nghị, nửa đêm quăng ấn tín,
Mình không gươm, giáp, chạy về Thanh.
 
Một lũ tàn quân theo chủ tướng,
Tranh nhau, cầu đổ, vỡ cường chinh.
Sông Hồng ngập ngụa thây quân Mãn,
Máu đỏ trôi về tận Bắc Kinh.
 
Cờ Việt thượng lên tầng soái phủ,
Quang Trung dừng ngựa giữa Thăng Long.
Áo bào khói súng pha đen xạm,
Chiến thắng dân, quân: nức một lòng.
Từ Trẩm Lệ
(Bùi Văn Bảo, Quốc văn toàn tập, lớp Nhất)
 
 
Nhưng trước hết là đời sống, tâm tư, nguyện vọng đẹp đẽ của lứa tuổi học trò khi còn ngồi dưới mái học đường, được lặp đi lặp lại trong suốt đoạn đường Tiểu Học. Ngoài nội dung khuyến học vốn chiếm một tỉ phần quan trọng, các thứ đức tính, bổn phận mà người học sinh cần có trong tương quan với thầy, bạn cũng luôn luôn được nhắc nhở, như trách nhiệm học tập, lòng biết ơn thầy, thái độ xử sự với bạn bè cùng lớp, cùng trường… Và gần gũi nữa là những kỷ niệm tươi vui, êm đềm của tuổi ấu thơ trong “thời cắp sách”:
 
Ôi! êm ái là thời đang cắp sách!
Ôi vui tươi là lúc hãy còn thơ!
Đời đẹp đẽ như trong một giấc mơ,
Và thắm đậm như một mùa xuân mới.
 
Có những lúc hồn nhẹ nhàng phơi phới,
Cũng đôi khi nặng trĩu bởi lo âu.
Nhưng một khi bài đã thuộc lầu lầu,
Lo lắng biến, nhường phần cho vui vẻ.
 
Rồi những phút đời vô cùng đẹp đẽ,
Hưởng tình trong của bạn hữu thân yêu.
Những truyện vui, rồi những truyện vui theo,
Cứ mau chóng chạy qua cùng ngày tháng.
 
Những tình cảm nơi học đường xán lạn,
Quên làm sao, tuy dĩ vãng xa xôi?
Vì đó là những kỷ niệm của thời,
Thời cắp sách, thời vô ngần trong sạch.
Lâm Ngọc Sĩ
(Hà Mai Anh, Tiểu học Quốc văn, lớp Nhất)
 
Những cảm xúc tươi vui, hăm hở của “ngày tựu trường”:
 
Nô nức hôm nay, buổi tựu trường,
Như chim ríu rít sáng tinh sương.
Các em tấp nập ra trường học,
Lê guốc giày vang khắp phố phường.
 
Nét mặt ngây thơ miệng mỉm cười,
Áo quần mới mẻ dáng vui tươi.
Tay cầm cặp sách đi chân sáo,
Lòng vẫn lâng lâng, mặt sáng ngời.
 
Giữa đám mây xanh hiện mái trường,
Một hồi trống giục đã ngân vang.
Cổng trường mở rộng như chào đón,
Những đám trò em bước vội vàng.
 
Bạn cũ gặp nhau lại nghịch tinh,
Vui đùa, cười nói, chuyện tâm tình.
Trời thu mây kéo như thông cảm,
Với nỗi niềm vui của học sinh.
Vũ Tiến Thu
(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 9-10.1959)
 
Cũng như nỗi sung sướng khi buổi học cuối cùng chấm dứt, sắp được bước vào trọn ba tháng nghỉ hè đầy thơ mộng, thời gian để lấy lại sức khỏe và tinh thần chuẩn bị cho năm học mới kế tiếp (chứ không như ngày nay, cứ học suốt!):
 
Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã hết,
Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về.
Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê,
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ!
 
Một nét mặt, trăm tiếng cười rộn rã,
Lời trên môi chen chúc nối nghìn câu.
Chờ đêm nay: sáng sớm bước lên tàu,
Ăn chẳng được, lòng nôn nao khó ngủ.
 
Trong khoảnh khắc, sách bài là giấy cũ,
Nhớ làm chi. Thầy mẹ đợi, em trông.
Trên đường làng, huyết phượng nở thành bông,
Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt.
 
Kiểm soát kỹ, có khi còn thiếu sót,
Rương chật rồi, khó nhốt cả niềm vui.
Tay bắt tay, hồn không chút bùi ngùi,
Các bạn hỡi, trời mai đầy ánh sáng.
Xuân Tâm (Lời tim non)
(Tiểu Học Nguyệt San, tháng 5.1958)
 
tranhveruongdong
Tranh minh họa trong một sách Quốc văn cũ ở miền Nam thời trước
 
Sự thật, vẫn còn một số nội dung phụ khác có lẽ cũng cần được đánh giá lại cho được khách quan hơn. Nền giáo dục ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 dĩ nhiên cũng có chính trị hóa học đường, nhưng tương đối ít. Đặc biệt, trong thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963), thỉnh thoảng vẫn bắt gặp ở phân môn Tập đọc-Học thuộc lòng có xen vào mấy bài ca ngợi chế độ Cộng Hòa hoặc ca ngợi lãnh tụ (Ngô Tổng Thống), chiếm tỉ lệ chừng 1/20 tổng số bài, nhưng chủ yếu chỉ tập trung ở phần cuối sách của lớp cuối cấp Tiểu Học (lớp Nhất). Tờ Giáo Dục Nguyệt San (1957-1963) do Nhà nước chủ trương cố đưa vào một số ít bài có nội dung “chống cộng” khá rõ rệt để giới thiệu cho giáo chức sử dụng, nhưng những loại bài như thế lại hầu như không được các nhà biên soạn sách giáo khoa tiểu học đáp ứng để đưa vào sách của mình!
 
Ngoài ra, do nhận thức-tầm nhìn chung của xã hội lúc bấy giờ còn rất hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường, không tránh được vài sách Quốc văn Tiểu Học đã “vô tư” đưa vào một số bài học thuộc lòng có nội dung liên quan đến những thú vui (như đá gà, săn bắn…) mà nếu đứng trên quan điểm bảo vệ môi sinh hiện đại thì là không lành mạnh, có thể sẽ mang đến những tác dụng-hiệu quả tiêu cực. Xét riêng về phương diện này, sách giáo khoa môn Văn Tiểu Học thời kỳ này đã có một bước lùi so với giai đoạn 1940: trong khi ở Quốc văn giáo khoa thư (lớp Sơ đẳng) của nhóm Trần Trọng Kim có bài “Không nên phá tổ chim” quá hay (xem Quốc văn giáo khoa thư, Tuyển tập, NXB. Trẻ, 1995, tr. 41), thì ở một sách Quốc văn Toàn thư lớp Ba nọ, có soạn giả đưa vào chủ đề Săn bắn đến 2 bài tập đọc “Phát súng đầu tiên”, “Một nhà thiện xạ”, 1 bài chính tả “Đuổi chim”, còn 1 bài học thuộc lòng thì là… “Thú đi săn” (ghi tên tác giả Hồng Vân), trong có mấy câu nói theo bây giờ là rất “phản cảm”:
 
Vui thay cái thú đi săn!
Núi, rừng lặn lội, băng ngàn vui say!
Khi nhắm thỏ, khi rình nai,
Khi theo dấu cọp, khi gài chú beo.
  …
Khi mừng gặp gỡ heo rừng,
Khi vui bắt đặng cặp sừng con gô.
Khi mê theo dõi ông bồ,
Khi chờ tê giác, khi mơ sư vàng.
(Phạm Trường Xuân…, Quốc Văn Toàn Thư, lớp Ba, quyển II, NXB. Việt Hương, Sài Gòn, 1961, tr. 94)
 
Trong một xã hội mà còn có ông vua nêu gương xấu cho dân như cựu Hoàng Bảo Đại thời đó suốt ngày chỉ biết vui chơi săn bắn chẳng lo gì đến việc nước, thì việc dạy cho dân chịu từ bỏ cái “thú đi săn” quả là không dễ dàng chút nào!
 
Ngoài một số mặt hạn chế tất nhiên do hoàn cảnh lịch sử cụ thể quy định, sẽ không là quá đáng nếu chúng ta coi những bài học thuộc lòng cấp Tiểu Học thời bấy giờ đã góp phần rất tốt vào việc hình thành một nền văn chương giáo khoa với nội dung rất phong phú đa dạng, lành mạnh và có tác dụng tích cực trong việc rèn luyện đức-trí cho thế hệ trẻ ở lứa tuổi học trò.
 
Với những giá trị khách quan nêu trên, thiết nghĩ việc sưu tập-giới thiệu lại một số bài học thuộc lòng cũ rải rác ở các sách trước đây là một việc rất đáng nên làm. Mục đích là để vừa bảo tồn một vốn di sản quý giá đã bị lãng quên, vừa cung cấp cho thế hệ học trò ngày nay những bài thơ hay, mà có một thời anh em thuộc thế hệ chúng tôi đã được hưởng dụng và luôn luôn khắc sâu trong tâm khảm những nội dung đầy hứng thú và bổ ích. 
 
Chiến tranh đã chấm dứt gần bốn mươi năm, thời gian có lẽ khá đủ cho sự lắng dịu của mọi con người ở cả hai bên chiến tuyến, và vì thế cũng đủ chỗ cho lòng khoan dung có cơ hội nảy nở để vượt qua những rào cản của ý thức hệ, từ đó chịu nhìn lại mọi vấn đề một cách trầm tĩnh và nghiêm túc hơn, trong đó có vấn đề cần xem xét lại sâu hơn-khách quan hơn khía cạnh thuần túy văn hóa, học thuật của những công trình giáo dục có giá trị nhân bản đích thực mà tất cả đều do những con người Việt Nam thiện chí, yêu nước sáng tạo nên…
 
Trong tình trạng xuống cấp chung của xã hội về văn hóa-đạo đức như bây giờ, đặc biệt trong giới trẻ học sinh có khá nhiều biểu hiện tiêu cực như chửi thề, đánh đấm hoặc thậm chí đâm giết nhau, không thế thì cũng là những thói thực dụng thô thiển đua đòi chạy theo cuộc sống vật chất xa hoa, coi đồng tiền là Tiên là Phật…, việc trở lại một cách có nghiên cứu và chọn lọc với những bài học thuộc lòng có nội dung khích lệ cuộc sống lành mạnh có lẽ là một đề tài quan trọng đáng để cho các nhà giáo dục và phụ huynh suy nghĩ. Trong tinh thần tích cực đó, không loại trừ khả năng những bài thơ học thuộc lòng nằm trong đống sách cũ còn có thể cung cấp thêm phương pháp cũng như tài liệu tham khảo cụ thể hữu ích cho việc biên soạn, cải tiến, tái cấu trúc nội dung các sách giáo khoa tiếng Việt bậc tiểu học mà chúng ta đang nỗ lực tiến hành một phần khá rõ, cần được phát huy thêm, theo chiều hướng “chú trọng giáo dục đạo đức và các giá trị truyền thống” khẳng định trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đã được Chính phủ phê duyệt hồi giữa tháng 6.2012 vừa rồi.
 

 

 

 

 

 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này