Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1237)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (56)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (341)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

CHIẾC DƯƠNG CẦM CŨ

CHIẾC DƯƠNG CẦM CŨ

Truyện Ngắn: Bùi Thanh Xuân

-Tác giả lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu. Bùi Thanh Xuân sinh năm 1956, hiện sống tại Đà Nẵng .

Chúng tôi hân hạnh gởi đến quý độc giả và văn hữu truyện ngắn mới nhất của ông :“Chiếc Dương Cầm Cũ”.

Tạp Chí Hợp Lưu

 

Tôi thường hay đọc những câu chuyện của nhiều tác giả lạ quen trên các trang web văn học hoặc trên trang mạng xã hội Face Book, có những câu chuyện rất hay của nhiều người viết văn không chuyên với lối kể chuyện thật thà, đơn giản nhưng sâu sắc.

Một người phụ nữ đã lớn tuổi thường hay nói về nỗi buồn đời mình. Hình như người ấy độc thoại, viết cho mình chứ không phải cho một ai khác, tôi nhận ra điều này bởi vì không thấy người ấy trả lời hay “like” hay hỏi ai đó trong những bình luận. Trong bất cứ bài viết nào cũng vậy, một người phụ nữ lạ lùng, bí ẩn có “nickname” nguyetnga

Một hôm, tôi đọc được đoạn văn, chợt giật mình nhận ra có điều gì đó gần gũi quá, và dường như nhận ra mình trong đó

“ Khi tôi mở mắt ra, nhìn khuôn mặt bối rối của anh ấy, định bật cười, chế giễu, con trai chi mà nhát quá ! nhưng cũng kịp nén lại. Bởi trong cái giây phút thần tiên ấy, tôi nằm gối đầu lên cánh tay anh trên bãi cát mịn đêm trăng, cảm nhận hơi ấm từ đôi môi anh, khuôn mặt anh đẹp như thiên thần nhỏ, tôi muốn bật dậy, choàng cổ anh, đắm đuối trong nụ hôn cùng anh.

Nhưng tôi cũng như anh, rụt rè, nhút nhát, đôi môi ấy chỉ phơn phớt trên má đầy bụi bặm của tôi rồi dừng lại.

Trong đêm thánh thiện, ánh trăng huyễn hoặc rắc ánh vàng mờ nhạt lên những sợi tóc phất phơ trên đầu anh,vắt ngang khuôn mặt rạng ngời trẻ con của anh, nó trôi dần, trôi dần.. trôi mãi miết ba, bốn mươi năm sau.

Ôi, khoảnh khắc lung linh, huyền ảo ấy cứ ở mãi trong tim tôi bao nhiêu năm nay...”

Tôi nhận ra Nga, người em gái cũ

Tôi gặp lại em trên đường phố Saigon vào đầu tháng năm,năm bảy mươi lăm.

Nga hớt hải băng qua đường, gọi tên tôi giật ngược giữa dòngxe cộ ồn ào, em lạc mất gia đình khi chuẩn bị trở về sau biến cố tháng tư, đang lần tìm đến bến xe. Nga hỏi tôi có trở về không, rồi nhìn khuôn mặt bơ phờ, áo quần nhếch nhác, chắc cũng hiểu tôi chẳng còn đồng nào. Nga nói hay là anh đi cùng em, anh hết tiền rồi phải không ?

Chẳng cần phải giữ sĩ diện vào lúc túng quẫn, tôi gật đầu đồng ý.

Tôi và Nga là anh em hàng xóm, láng giềng cũ.

Ba mẹ Nga là chủ cây xăng, khá giàu có, sung túc, còn tôi chỉ là con nhà lao động bình thường. Hai gia đình gần nhau, Nga ở ngoài đường chính còn nhà tôi phải đi vào con hẻm vòng vèo nhưng sát vách phía sau.

Tôi hơn em ba tuổi và đang là sinh viên khoa học năm hai ở Saigon, phải sống xa gia đình. Lúc còn học cấp ba, tôi thường hay qua nhà dạy kèm cho em, cũng chỉ là tình anh em trong giới hạn quan hệ nam nữ, nhưng thực ra cả tôi với em đều hiểu chẳng có thể một tình bạn hay anh em giữa người nam và nữ để có thể thật gần gũi nhau

Chúng tôi tự dấu kín tình cảm của mình, trong hai năm học ở Saigon, những lá thứ đi, về cũng chỉ trong giới hạn vừa đủ để khỏi quên nhau.

 Một người thứ ba nữa, Thanh là con trai của một công chức, hắn với tôi cũng bạn bè đồng môn. Nhà hắn sát vách nhà Nga, lên đại học, hắn theo y khoa Huế.

Hằng đêm tôi thường nghe tiếng dương cầm vang lên trên tầng hai nhà em. Nga nói với tôi rằng em muốn sau này trở thành một nghệ sỹ dương cầm. Mơ ước của em tan theo mây khói khi đất nước hòa bình, chỉ vài tháng nữa là thi tú tài.

Gia đình em bị xếp vào diện tư sán, bị kiểm kê, tịch thu tài sản và ngôi nhà rộng lớn phía trước, chỉ còn lại phần hẹp phía sau để rồi cả nhà tan tác, phiêu bạt khắp nơi.

Nga không theo gia đình mình, ở lại thành phố sống với vợ chồng anh trai, em lăn lóc lề đường buôn bán kiếm sống. Tôi và Thanh chuyên nghiệp hơn, trở thành tài xế xe ôm bất đắc dĩ.

Những ước mơ tan vỡ, tôi mau chóng thích nghi với cuộc sống mới, vất vả nhất là Nga, còn Thanh dù muốn hay không cũng phải cố làm kiếm miếng ăn chứ chẳng còn trông mong sự giúp đỡ của mẹ cha. Cơm áo gạo tiền,khốn khó quá khiến tôi và Nga ít gặp nhau hơn. Nhưng tôi với Thanh chiều nào cũng ngồi với nhau làm ly rượu gạo, ít cố cổi cho vơi buồn phiền.

Thỉnh thoảng tôi đến thăm Nga, em vẫn còn giữ chiếc dương cầm cũ, những ngón tay em lại lướt trên bàn phím, thường trước khi ra về, em vừa đàn vừa hát bài Hương Xưa cho tôi nghe.

 

Một chiều tôi với Thanh lững thững đạp xe chậm rãi trên con đường quen thuộc hằng ngày đi qua. Hắn dừng xe lại khi ngang ngôi trường cũ nhìn vào, cây phượng hoa đã tàn từ lúc nào, hắn tiếc nuối  “Tau vẫn đứng chổ ni bất kể mưa hay nắng, ngày mô cũng rứa, mỗi ngày một lần”. Tôi hỏi để làm chi, hắn thở dài nói chẳng để làm chi.

" Xe thồ ! "

Cô gái đứng bên kia đường vẫy tay gọi, hắn nhanh hơn tôi, phóng xe vụt đi. Cô gái nói gì với hắn không rõ, hắn gọi tôi.

" Nguyên ơi ! mi chạy đi "

Tôi lắc đầu, hắn chỉ cho cô gái về hướng tôi đang đứng, cô gái bước qua đường.

" Anh cho tôi về Thanh Thủy nhé "

" Sao cậu ấy không chở cô? "

" Tôi không hiểu, anh ấy bảo rằng từ sáng tới chừ anh chưa có cuốc nào nên nhường "

" Ồ, thằng ác quỷ cao thượng, thôi được, tôi chở cô đi "

Hắn không hề cao thượng, hắn đợi một người khách khác.

Thanh đợi Nga tan buổi chợ trở về.

 Chiến tranh biên giới bùng nổ, tôi tham gia quân tình nguyện Việt Nam, chiến đấu giải phóng Campuchia. Chiến trường khốc liệt, tôi trở thành người lính trinh sát, cứng cỏi, gan dạ. Để trả giá cho lòng gan dạ của mình, tôi nằm viện sáu tháng với đủ loại vết thương trong người.

Nhưng vết thương đau đớn nhất khi ngày trở về sau bốn năm chiến đấu là tôi mất Nga.

Thanh và em lấy nhau hai năm trước, sinh được một cô con gái.

Lỗi chẳng phải tại Nga hay Thanh, chính tôi đã bỏ Nga mà đi kia mà. Sau một tuần trở về, tôi đến thăm vợ chồng em trong ngôi nhà tồi tàn ba mẹ Thanh để lại. Hôm đó Thanh đi vắng từ vài ngày trước, Nga vui mừng mời tôi vào nhà, pha cốc nước đặt trên bàn rồi em lẳng lặng đến bên chiếc dương cầm.

Những ngón tay Nga lướt trên bàn phím, bài Hương Xưa của Cung Tiến tôi rất thích được em đàn cho nghe. Hết bản nhạc, Nga đứng dậy, trong đôi mắt em long lanh giọt nước mắt. Tôi không nỡ để sự ăn năn hành hạ em, vội vã ra về.

 Hai tháng sau tôi trúng tuyển vào đại học bách khoa Saigon, quyết tâm làm lại cuộc đời mình.

Chúng tôi không còn gặp lại nhau nữa, cho đến tận mùa thu năm hai ngàn mười tám, ba mươi lăm năm sau.

Ra trường, tôi làm việc rồi lấy vợ cùng quê, cũng là bạn học với Nga, sống ở Saigon, một hai năm mới về thăm quê nhưng chưa lần nào gặp lại vợ chồng Nga. Tôi có cuộc sống riêng cùng với gia đình mình, Nga và Thanh có cuộc sống riêng của họ, gặp lại cũng chẳng để làm gì mặc dù trong trái tim tôi luôn có em.

Vợ chồng tôi không còn phải làm việc vất vả nữa, cùng về hưu khi con cái đã lớn, trưởng thành, lập gia đình và có sự nghiệp riêng, chúng tôi quyết định về lại nơi mình sinh ra, lớn lên để sống.

Thỉnh thoảng tôi cùng vợ lang thang trên những con đường cũ, những biệt thự xưa dần biến mất, những sân vườn thu hẹp lại, giàn hoa ti gôn cũng không còn nhìn thấy trên những con đường rộng thênh thang. Trước những ngôi nhà có tường rào bao quanh, tôi nhận ra màu hồng thay thế hoa ti gôn, hoa hồng leo.

 

Cuộc sống vốn bất thường, nhưng sự thay đổi lớn lao có khi khiến mình hụt hẫng.

Và trong một lần hụt hẫng đó, tôi gặp Thanh đang thẫn thờ trước tòa cao ốc, nơi trước đây là ngôi biệt thự được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Không biết Thanh kiếm tìm thứ gì ở đó, trông thấy hắn như người mất hồn.

Gần bốn mươi năm không gặp lại nhưng với tôi, khuôn mặt Thanh không thay đổi lắm, chỉ có vài nếp nhăn nhưng trông hắn điệu đàng, sạch sẽ hơn nhiều.

Tôi đến bên cạnh gọi khẽ, Thanh quay lại sững sờ nhìn tôi.

Thanh lôi tôi vào quán cà phê, chuyện trò với nhau hơn ba tiếng đồng hồ. Tôi hỏi bây giờ vợ chồng con cái thế nào rồi, sống ở đâu. Thanh ậm ừ cho qua chuyện, không dưng tôi lại nỗi cáu với hắn, muốn biết về cuộc sống của Nga, hắn thản nhiên buông mấy tiếng lạnh lùng “Ly dị ba mươi năm rồi, tau sống ở Mỹ”.

Tôi đứng bật dậy, cố kìm chế tiếng chửi thề, hất chiếc ghế qua bên bước vội ra khỏi quán.

 Về lại ngôi nhà cũ của ba mẹ mình, tôi thẫn thờ nhìn qua ngôi nhà phía trước. Không còn nghe tiếng dương cầm du dương năm nào, không còn khung cửa sổ thỉnh thoảng trông thấy bàn tay Nga chạm vào khung ngoại, nhìn xuống bên dưới mĩm cười, lòng tôi đau nhói.

Đôi lúc vợ tôi có nhắc đến Nga, muốn cùng tôi đến thăm nhà cô ấy, dù sao cũng là bạn cũ. Một tối chuyện trò với vợ, tôi hỏi em đã qua thăm Nga chưa, hôm nay anh gặp Thanh, em trả lời rằng đã đến thăm mấy hôm trước, Nga bây giờ đỡ khổ hơn vì con cái phụng dưỡng ít nhiều nhưng lúc nào cũng buồn.

Hai hôm sau tôi quyết định một mình đến thăm Nga, món quà mang theo không phải là chiếc dường cầm to lớn. Tôi tặng Nga hộp quà có chiếc đàn organ Yamaha. Tất nhiên, món quà và chuyến thăm tôi không nói cho vợ biết.

Nga nhận món quà, cám ơn rồi đến bên chiếc dương cầm cũ.

Những ngón tay không còn mềm mại như xưa nhưng cũng đủ thôi miên tôi quay về những năm tháng hai đứa gần bên nhau:

 

“ Người ơi, chiều nào có nắng vàng

hiền hòa sưởi ấm nơi nơi

Người ơi, chiều nào có thu về

cho tôi nhặt lá thu rơi

Tình có ghi lên đôi môi

Sầu có phai nhòa cuộc đời

Người vẫn thương yêu loài người

và yên vui sốngcuộc sống vui. “

 

Khi tiếng đàn kết thúc, Nga đứng dậy, bước ra nhìn tôi hồi lâu, hai mắt đỏ hoe, những giọt nước mắt chảy dài xuống má. “Anh vẫn còn thích bài Hương Xưa chứ” Tôi cầm bàn tay sần sùi của Nga, đặt lên đó một nụ hôn, và chắc chắn cũng là lần cuối cùng. “ Ừ, anh vẫn còn thích. Cám ơn em còn nhớ là anh rất thích”.

Tôi giúp Nga hạ nắp dương cầm, trước khi từ biệt, tôi nói với em rằng mình đã đọc tất cả những câu chuyện trên FB của em, xin lỗi em.

 

 

“Ba mươi lăm năm qua, ánh trăng đêm và những nụ hôn anh dành cho tôi vẫn vĩnh cửu, êm đềm.Tôi vẫn nhớ tiếng sóng vỗ vào bờ cát đêm khuya, khi anh tựa vào vai tôi ngủ vùi. Tôi đã khóc vì quá hạnh phúc và hy vọng. Chính cái hạnh phúc mong manh và niềm hy vọng ấy đã giết chết tâm hồn tôi.

Tôi mở mắt ra, nhìn khuôn mặt bối rối của anh lúc ấy, định bật cười chế giễu, con trai chi mà nhát quá! Nhưng cũng kịp nén lại. Bởi trong cái giây phút thần tiên ấy, tôi nằm gối đầu lên chân anh, cảm nhận hơi ấm từ đôi môi anh.

Từ từ mở mắt nhìn, khuôn mặt anh đẹp như một thiên thần nhỏ. Tôi muốn ngồi dậy để ôm cổ anh và đắm đuối trong nụ hôn cùng anh. Nhưng tôi cũng như anh, rụt rè, nhút nhát.

Và hơn hết, trong đêm thánh thiện trên bãi biển ấy, ánh trăng đêm huyền thoại, huyển hoặc rắc ánh vàng mờ nhạt lên những sợi tóc bay phất phơ trên đầu anh. Nó thần tiên quá. Ánh trăng vắt ngang khuôn mặt rạng ngời trẻ con của anh, nó trôi dần, trôi dần.

Ôi! một thời khắc lung linh huyền ảo ấy cứ ở mãi trong tim tôi bao nhiêu năm nay.

Cuộc đời không phẳng lặng, sóng gió thổi bạt tôi đi muôn hướng, chống chọi mãi rồi cuối cùng cũng đành buông xuôi cho số phận.

Mặc kệ! Muốn cuốn tôi đi về đâu cũng được.

Tại sao tôi cứ mãi trốn chạy thế này? Tại sao tôi lại độc ác, nhẫn tâm với chính tôi như vậy chứ? Tại sao tôi mãi hận thù để tự hủy hoại tâm hồn và thể xác tôi như thế?

Điều khiến tôi thỏa mãn là sự khao khát trả thù và tôi đã trả thù được rồi. Tôi hả dạ lắm! Bây giờ không còn phải oán hận ai nữa, nhưng cái giá tôi phải trả cho sự hận thù ấy lớn quá, phải đánh đổi cả cuộc đời mình .”

Hình như tôi vừa đi qua một cơn mê. Trong cơn mê sảng của ray rứt, giày vò mình, tôi nhận ra sự vô tâm hay cái tính nhút nhát của thằng con trai hơn bốn mươi năm trước. Có phải những dòng tâm sự trên là của Nga không ? Có phải ánh trăng trên bãi biển là của tôi và Nga trong chuyến trở về sau biến cố bảy lăm không? Cái đêm trăng ấy thật lạ lùng. Bốn mươi ba năm, tôi còn nhớ, còn giữ được gì ?

“Trăng đang lên!

Trăng rơi đầy khắp bãi biển, trải dài ngút mắt trên cát vàng. Trăng choàng  trên những ngọn sóng xô dạt vào bờ. Trên mặt biển ánh trăng dập dềnh. Nhiều trăng quá! Biển đêm Nha trang đẹp lạ lùng.

Tôi nhiều lần ngồi trước biển, nghe sóng vỗ vào bờ trong những đêm trăng nhưng chưa bao giờ cảm nhận được cái đẹp của biển dưới ánh trăng như ở đây. Những hòn đảo ngoài xa nhàn nhạt dưới trăng.

Mặt biển mênh mông chập chùng được trăng rải sắc vàng giống như một tấm thảm khổng lồ nhấp nhô gợn sóng. Như mơ, như thực. Tôi và Nga đều bị mê hoặc bởi cảnh vật ở đây, tựa vai nhau trên bãi cát.

Nhiều người cũng xuống đây ngắm trăng. Họ nhẹ nhàng bước đi trong im lặng như sợ trăng vỡ, sóng tan. Người đông lắm! Có lẽ họ cũng như chúng tôi, mệt mỏi sau cuộc chiến.

Chúng tôi im lặng như vậy không biết trong bao lâu. Gió mùa hè từ xa khơi thổi về lành lạnh giữa đêm khuya. Tôi tìm bàn tay Nga giấu vào trong hai tay mình. Hơi ấm của hai chúng tôi truyền cho nhau, ôm Nga vào người, đầu em trên vai tôi. Không còn thơm mùi bồ kết, tóc Nga vẫn còn  mùi khen khét của khói và gió bụi đêm qua, tôi vẫn thích thú được hôn lên mái tóc ấy.

Ánh trăng soi rõ khuôn mặt mệt mỏi, u buồn của Nga.  Sự im lặng huyễn hoặc thôi miên cả hai đứa, trôi dần rồi đắm chìm trong hạnh phúc ngọt ngào, em ngước mắt nhìn tôi:

-Rồi một mai Nga đi lấy chồng, còn Nguyên có một gia đình khác. Chúng ta gặp lại nhau. Nói sao nhỉ?

Tôi nhẹ nhàng:

-Có lẽ chúng ta sẽ quên hết, phải không?

-Nga không biết, có lẽ quên hết thôi.

Trăng trôi dần về hướng tây, chúng tôi mệt mỏi nằm xoài người ra trền nền cát ấm, thật gần. Tôi nghe mùi da thịt con gái, cảm nhận hơi ấm. Hai tay đặt dưới đầu, Nga nhìn lên trời đêm, thao thức, còn tôi nằm nghiêng, nhìn cô không chớp mắt, xoa nhẹ vành môi của em. Nga không phản đối hay trách móc.

Tôi muốn ôm gọn Nga vào lòng quá, nhìn em mềm mại trên bãi cát như con mèo nằm trên ghế salon.dịu dàng, xinh đẹp lắm. Có phải tạiánh trăng phủ đầy tấm thân nhỏ nhắn của em chăng?  Tôi đã nhìn thấy Nga long lanh ở đó, trong đêm huyễn hoặc nhiều trăng đó…”



Tuổi già lẩm cẩm lúc nhớ, lúc quên. Cái cần quên thì lại nhớ, điều cần nhớ để giữ cho mình thì lại hay quên, sự nghễnh ngãng có khi là tai họa

Nhà chỉ có hai vợ chồng già, tôi lại hay thức khuya, có khi ngủ gục bên cạnh máy tính chưa kịp tắt.

Vợ tôi muốn trở vào Sai gòn sống cùng con cháu, nhỡ ốm đau còn có con cháu mà gọi.Tôi không hiểu vợ tôi muốn sống gần con cháu hay chỉ là muốn cùng tôi chạy trốn quá khứ của tôi.

Phụ nữ thật kỳ diệu, có những thứ giác quan mà đàn ông không bao giờ hiểu được.

 

Bùi Thanh Xuân

Tháng 7/2019

 

 (Hình minh họa-Internet)

Kim Kỳ sưu tầm

 

Xem thêm...

Dạ khúc Serenade bất hủ của NS thiên tài Franz Schubert

Thưởng thức dạ khúc Serenade bất hủ

của nhạc sĩ thiên tài Franz Schubert


▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

 

 

 Franz Schubert chỉ sống một cuộc đời rất ngắn ngủi 31 năm nhưng đã kịp để lại cho đời một khối lượng kiệt tác đồ sộ ở nhiều thể loại. Và trung tâm của khối kiệt tác ấy, nổi bật nhất chính là bản Serenade, mà người ta đã quen gọi liền với tên ông: Serenade Schubert…

Từ một câu chuyện tình rất đỗi trớ trêu của Franz Schubert…tới bài Serenade bất hủ

Franz Schubert (1797-1728) là nhạc sĩ thiên tài thuộc dòng nhạc lãng mạn (Ảnh: pixabay.com)

Bài Serenade bất hủ này là Franz Schubert sáng tác là để tặng sinh nhật cho một thiếu nữ mà ông thầm yêu trộm nhớ. Ở châu Âu ngay từ thời trung cổ các chàng trai thường có lối tỏ tình bằng cách mượn âm nhạc, ban đêm đến đứng dưới cửa lầu “người đẹp” tự thể hiện bằng tiếng đàn và giọng hát của chính mình.

Những bài nhạc lãng mạn  này gọi là “serenade”. Serenade thời Trung cổ và Phục Hưng được biểu diễn không theo một hình thức đặc biệt nào, ngoại trừ nó được một người hát tự đệm bằng nhạc cụ có thể mang theo được ( guitar, mandolin… ).

Để làm cho nàng bất ngờ, Schubert nhờ một bạn thân là ca sĩ, trình bày ngay dưới cửa sổ nhà nàng. Tối đó, người ta bí mật khiêng cây đàn piano vào trong vườn, tất cả đã sẵn sàng cho buổi biểu diễn lãng mạn và độc đáo. Thế nhưng, Schubert lại quên không đến. Trớ trêu thay, cô gái lại đem lòng yêu chính chàng ca sĩ, chứ không dành trái tim cho Schubert.

Trớ trêu thay, cô gái lại đem lòng yêu chàng ca sĩ, chứ không yêu Schubert
Trớ trêu thay, cô gái lại đem lòng yêu chàng ca sĩ, chứ không yêu Schubert (Ảnh: pixabay.com)

Lời bài hát vô cùng da diết như cõi lòng của người nhạc sĩ …

Lời Việt dịch từ nguyên gốc tiếng Đức:

Đêm khuya vẳng tiếng anh hát thầm thì, dưới chòm cây tĩnh lặng. Đến đây hỡi người! Gió đùa lá xào xạc dưới trăng; đừng sợ chi kẻ phản trắc rình rập đâu đó. Em nghe chăng tiếng họa mi vang rền. Chúng gọi em đấy, chúng chuyển lời của anh cho em, vì chúng hiểu nỗi khắc khoải con tim, nỗi đau tình si. Giọng hót vang của chúng làm mỗi trái tim nồng nàn bớt thổn thức. Người yêu hỡi, em hãy để cho tiếng chim ca trong tim… Anh đang run rẩy, bồi hồi chờ em nơi đây. Đến đây chúc mừng anh!

Chim sơn ca chỉ hót ban ngày, chỉ họa mi mới hót ban đêm, sơn ca hót vang lừng khi đang bay, họa mi hót vang cả cánh rừng.

Lời bài hát tiếng Việt:

(Nhạc sĩ Phạm Duy dịch)

Đợi chờ em, trong màn đêm quạnh vắng. Muôn tiếng thanh âm cung đàn ngân…
Mượn làn gió, mang về bên lầu vắng… Nơi xa, réo rắt câu tình ca
Hòa trong tiếng chim muông đang thầm thì… Chim còn ríu rít đê mê
Như lời anh nói thầm thì.

Và bên ấy… Vang trong đêm vọng về, bao lời đắm đuối say mê
Của người tha thiết tình si…

V
Vang trong đêm vọng về, bao lời đắm đuối say mê, của người tha thiết tình si (Ảnh: pixabay.com)

Xào xạc tiếng gió lùa trên cành lá. Gió hát như tim anh rộn vang
Thì xin làn gió nhắn gửi tâm sự đến nơi xa. Em hay chăng tình ta?
Và khi vẳng nghe chim muông rộn ràng, nghe lời gió hát mênh mang
Đấy lời anh tiếng than van.Đừng e ấp, nói với nhau bao lời… Tim nồng chan chứa hân hoan
Yêu người mãi với thời gian
Lòng này muôn muôn kiếp sẽ yêu người… Thề nguyền mãi không rời….
Nhé… khi đã yêu ai rồi yêu suốt đời…
Nơi này anh vẫn mong chờ… Mong chờ em mãi, người ơi!

Bình luận của giới nghệ thuật về Serenade Schubert: Một bức tranh toàn bích

“Những lời nỉ non, thổn thức của ca từ quyện với một giai điệu lãng mạn, quyến rũ, bản Dạ Khúc Schubert là một thông điệp tình yêu chuyển tải bẳng âm nhạc tuyệt vời, một bài nhạc hoàn hảo cho kẻ tỏ tình trong đêm.

Nhưng hơn thế, nhạc phẩm “Dạ Khúc” của Schubert là một bức tranh toàn bích, sâu lắng… mang dáng dấp hơi thở không chỉ của thời đại ông mà của muôn mọi thời đại. Nhạc sĩ thiên tài đã nói lên tiếng lòng mình trong thời khắc đêm về, ngoài niềm khắc khoải thường tình về tình yêu đôi lứa, còn như thân phận con người nhỏ nhoi đầy bất trắc trước mênh mông vũ trụ.

Số phận con người nhỏ nhoi bất trắc trong vũ trụ mênh mông (Ảnh: pixabay.com)

Bài nhạc có giai điệu rất đẹp, trữ tình, lai láng nhưng không trầm mặc, buồn nhưng vẫn phảng phất đâu đó niềm hy vọng và hoài bão hướng thiện (tác dụng bởi việc chuyển cung từ thứ sang trưởng ở đoạn kết). Schubert như nói lên tiếng lòng của muôn người, muôn thế hệ…”

Thái Thanh – giọng ca Việt “vượt thời gian”, người thể hiện xuất sắc Serenade Schubert phiên bản Việt

Nhắc tới Thái Thanh là nhắc tới một huyền thoại âm nhạc “tiếng hát khóc, cười, nổi trôi theo mệnh nước”, người được mệnh danh là “tiếng hát vượt thời gian”, “Đại danh ca”, “The ageless golden voice” (Giọng ca vàng không tuổi).

Thái Thanh là trung tâm ở đại gia đình nghệ sĩ lớn gồm nhạc sĩ Phạm Duy, người lấy chị gái của Thái Thanh là ca sĩ Thái Hằng, nhạc sĩ Phạm Đình Chương (anh trai) các con cháu nghệ sĩ như Ý Lan, Mai Hương (con gái), Tuấn Ngọc, Thái Thảo, Thái Hiền, Duy Quang, Khánh Hà (các cháu)…

Giọng ca vàng không tuổi của Việt Nam
Giọng ca vàng “vượt thời gian” của Việt Nam (Ảnh: pixabay.com)

Trong opera và nhạc cổ điển, nữ cao trữ tình (lirico soprano) được định nghĩa là một loại giọng nữ cao ấm áp, có độ sáng, giàu âm sắc, âm khu trung đầy đặn, bay bổng, mềm mại, thường thể hiện vai những người phụ nữ hiền lành, yếu mềm.

Có hai loại nữ cao trữ tình là full lirico soprano (nữ cao trữ tình đầy đặn) và light lirico soprano (nữ cao trữ tình mảnh).

Đặc trưng của full lirico soprano là âm sắc đầy đặn, có độ dày, khỏe, legato (hát liền note) phát triển với full voice (hát toàn giọng), có khả năng điều chỉnh âm lượng vừa phải trên quãng cao, âm lượng chắc chắn ở những quãng hát dài hơi.

Đặc trưng của light lirico soprano là âm sắc mảnh, sáng, có khả năng chuyển giọng và pha giọng nhanh chóng, thực hiện kĩ thuật hoa mĩ dễ dàng hơn.

Sở hữu chất giọng light lirico soprano tươi sáng, linh hoạt, uyển chuyển, Thái Thanh đã thực hiện và đi đầu ở rất nhiều kĩ thuật khó trong ca hát tân nhạc. Bà là người tiên phong và thành công xuất sắc trong việc kết hợp giữa lối hát bel canto (lối hát giọng đẹp, hát mở của opera Ý) với lối hát truyền thống của dân nhạc (tạm gọi là lối hát đóng).

Hơn nửa thế kỷ cầm ca, Thái Thanh đã để lại một di sản âm nhạc đồ sộ.

2
Thái Thanh và con gái, ca sĩ nổi tiếng Ý Lan

Thái Thanh cũng là một trong những ca sĩ đầu tiên và hiếm hoi góp phần công sức lớn lao vào công cuộc hình thành nền tân nhạc Việt Nam, được những đại nhạc sĩ huyền thoại như Văn Cao, Phạm Duy, Phạm Đình Chương yêu mến, xem là “con cưng” để “chọn mặt gửi vàng” thể hiện các tác phẩm nhạc thi bất hủ của họ.

“Thái Thanh là một danh hiệu, nhưng như có ý nghĩa tiền định: bầu-trời-xanh-tiếng-hát. Hay tiếng hát xanh thắm màu trời. Tiếng hát long lanh đáy nước trong thơ Nguyễn Du, lơ lửng trời xanh ngắt trong vòm thu Yên Đổ, tiếng hát sâu chót vót dưới đáy Tràng Giang Huy Cận, hay đẫm sương trăng, ngừng lưng trời trong không gian Xuân Diệu, tiếng hát cao như thông vút, buồn như liễu đến từ cõi thiên thai nào đó trong mộng tưởng Thế Lữ.” – Thụy Khuê

“Sau khi nghe nàng hát, có khi chúng ta cảm thấy nơi chính mình một chút bâng khuâng, lúc bấy giờ có lẽ là niềm “nhớ nhung cõi trời” -mà Beaudelaire đã nói- dù sao giọng hát Thái Thanh vẫn không phải là giọng u buồn. Giọng Thái Thanh là một giọng ca hoan lạc, giọng hát của hạnh phúc ca xướng, giọng hát của hạnh phúc nói chung. Hãy nghe nàng vào lúc cao hứng nhất, khi giọng hát của nàng vụt nở như một nụ cười hiền dịu hướng về cõi đời này, hãy chăm chú lắng nghe… Giọng hát Thái Thanh lúc đó qua từng nhịp thơ và từng nhịp nhạc, như chỉ muốn nói với ta có một lời. Lời nói tình yêu” – Georges Etienne Gauthier

Khi Thái Thanh cất giọng hát Serenade Schubert, người nghe có thể cảm nhận được những điều kỳ diệu mà Schubert muốn truyền tải.

Trong lời dịch của mình, nhạc sĩ Phạm Duy đã cố gắng phác thảo tất cả những cung bậc trải nghiệm hết sức tinh tế về cảm xúc mà giai điệu bản Serenade khơi gợi nơi người thính giả. Lời dịch của ông giàu tính thẩm mỹ của cảm nhận âm nhạc, một cảm nhận ông muốn hướng dẫn người thưởng ngoạn cũng cảm nhận như ông.

 Image result for Thưởng thức dạ khúc Serenade bất hủ của nhạc sĩ thiên tài Franz Schubert

DẠ KHÚC SERENADE (PHẠM DUY; NHẠC ÁO FRANZ SCHUBERT)

"Khi tôi muốn ca hát về Tình yêu thì Tình yêu lại biến thành đau khổ.
Nhưng khi tôi chỉ muốn hát về Đau khổ thì Đau khổ lại hoá thành Tình yêu"
(Franz Schubert"

Đã bao lần trong đời khi buồn về Tình yêu tôi lại nghe giai điệu Dạ Khúc của Nhạc sĩ Thiên Tài Franz Schubert

Âm hưởng chầm chậm rơi như hoàng hôn buông nhẹ nhàng khi khung trời Paris không xa màn đêm đang dần dần buông xuống và phố lên lên đèn...

Ở châu Âu ngay từ thời trung cổ các chàng trai tỏ tình bằng cách mượn âm nhạc ban đêm đến đứng dưới cửa lầu giai nhân trình diễn bằng tiếng đàn và giọng hát của chính mình.

Dạ Khúc là một trong những tác phẩm âm nhạc cổ điển nổi tiếng nhất, được rất nhiều người yêu thích. Khúc nhạc chiều này, với giai điệu mượt mà thể hiện những cảm xúc phong phú. Âm hình chủ đạo của giai điệu gồm hai nhân tố - nhân tố bình ổn, dịu êm với những chùm ba, và nhân tố bước nhảy, như sự phóng khoáng của cảm xúc, làm cho giai điệu thêm nồng nàn, say đắm.

Franz Schubert sáng tác Bài Dạ Khúc bất hủ để tặng sinh nhật cho một thiếu nữ mà ông thầm yêu. Để làm cho nàng bất ngờ, Schubert nhờ bạn thân là ca sĩ, trình bày ngay dưới cửa sổ nhà nàng. Tối đó, người ta bí mật khiêng cây đàn piano vào trong vườn, tất cả đã sẵn sàng cho buổi biểu diễn lãng mạn và độc đáo. Thế nhưng, Schubert lại quên không đến.

Trớ trêu thay, cô gái lại đem lòng yêu chính chàng ca sĩ, chứ không dành trái tim cho Schubert.

"Dạ Khúc" nhạc chiều với giai điệu buồn da diết của nhạc sĩ thiên tài người Áo đã khiến cả nhân loại phải thổn thức. Con người bình dị này đã miệt mài sáng tạo trong suốt cuộc đời ngắn ngủi chỉ 31 năm của mình và để lại 10 bản sonate, 20 bản tứ tấu, 10 bản giao hưởng và 5 vở opera cho kho tàng âm nhạc cổ điển thế giới.

Leise flehen meine Lieder
Durch die Nacht zu dir;
In den stillen Hain hernieder,
Liebchen, komm zu mir!
Flüsternd schlanke Wipfel rauschen
In des Mondes Licht;
Des Verräters feindlich Lauschen
Fürchte, Holde, nicht.
Hörst die Nachtigallen schlagen?
Ach! sie flehen dich,
Mit der Töne süßen Klagen
Flehen sie für mich.
Sie verstehn des Busens Sehnen,
Kennen Liebesschmerz,
Rühren mit den Silbertönen
Jedes weiche Herz.
Laß auch dir die Brust bewegen,
Liebchen, höre mich!
Bebend harr' ich dir entgegen!
Komm, beglücke mich!

Tạm dịch:
Đợi chờ em, trong màn đêm quạnh vắng. Muôn tiếng thanh âm cung đàn ngân...
Mượn làn gió, mang về bên lầu vắng... Nơi xa, réo rắt câu tình ca
Hòa trong tiếng chim muông đang thầm thì... Chim còn ríu rít đê mê
Như lời anh nói thầm thì
Và bên ấy... Vang trong đêm vọng về, bao lời đắm đuối say mê
Của người tha thiết tình si...
Xào xạc tiếng gió lùa trên cành lá. Gió hát như tim anh rộn vang
Thì xin làn gió nhắn gửi tâm sự đến nơi xa. Em hay chăng tình ta?
Và khi vẵng nghe chim muông rộn ràng, nghe lời gió hát mênh mang
Đấy lời anh tiếng than van.
Đừng e ấp, nói với nhau bao lời... Tim nồng chan chứa hân hoan
Yêu người mãi với thời gian
Lòng này muôn muôn kiếp sẽ yêu người... Thề nguyền mãi không rời....
Nhé... khi đã yêu ai rồi yêu suốt đời...
Nơi này anh vẫn mong chờ... Mong chờ em mãi, người ơi!

Một nỗi buồn vô cớ bỗng chợt xâm chiếm tâm hồn kẻ lãng tử lãng du suốt đời trong những miền đất lạ hoang tưởng

Từng nốt du dương day dứt réo rắt dương cầm hay vĩ cầm thôi miên trí tưởng đưa tôi về hoàng hôn xa vời vợi từ tuổi ấu thơ cho đến đêm nay nghe Dạ Khúc này:

Chiều tàn quê cũ phong phanh
Khói sương nhân ảo sóng chành sầu dâng

Trong âm nhạc cổ điển, Serenade - Dạ khúc được biết đến như sáng tác hay hình thức biểu diễn. Dạ khúc là những bản nhạc được trình diễn trong buổi chiều được cất lên giai điệu bên khung cửa hẹp dành riêng cho người tình hoặc bạn thân tình.

Bản Dạ Khúc ra đời vào một ngày Chủ nhật năm 1826. Khi ấy Schubert từ Potzleinsdorf trở về thành phố cu. Đi qua Wahring, Schubert thấy nguời bạn Tieze đang ngồi bên chiếc bàn trong khu vuờn. Truớc mặt Tieze là một cuốn sách và Schubert lật luớt dừng trang bài tho của Ludwig Rellstab, nói nhu reo lên:

"Một giai điệu tuyệt vời vừa vang lên trong đầu tôi, giá mà tôi có giấy chép nhạc bây giờ".

Ông Doppler liền vẽ một vài khuông nhạc trên mặt sau tờ hóa đon và trong sự huyên náo tại quán ăn ngày Chủ nhật Schubert đa viết nên bản Dạ Khúc bất hủ của mình.

Dạ Khúc Serenade của Franz Schubert được viết vào năm 1826 đi sâu lắng đọng mãnh liệt da diết trong lòng người yêu âm nhạc cổ điển đã trở thành bất tử bên cạnh những Dạ Khúc Serenade của nhạc sĩ sáng tác khác về thể loại Dạ Khúc như Tchaikovsky, Richard Strauss , Arnold Schoenberg ..

F.Schubert là nhạc sĩ người Áo, ông chỉ mất sau Beethoven một năm vào năm 1828 nhưng hai người lại thuộc hai thế hệ khác nhau. Nếu Beethoven là nhạc sĩ tiêu biểu của hào khí khai sáng, đấu tranh cho Tự Do - Bình Đẳng và Bác Ái thì Schubert lại tiêu biểu cho thế hệ nhạc sĩ của thời kỳ mà nghệ thuật đi sâu vào uẩn khúc phức tạp của Tâm hồn con người.

Tuy chỉ sống tới 31 tuổi - Schubert như một ánh sao băng - xuất hiện trong trong khung trời Kinh thành Âm nhạc Vienne một thời gian ngắn ngủi nhưng đã để lại trên bầu trời âm nhạc những hào quang chói lọi.

Schubert được xem là Ánh Bình minh của Chủ nghĩa Lãng mạn. Âm nhạc của ông như một dòng suối mát, một khoảng trời dịu êm, sinh động, rạo rực và cởi mở. Cũng vì thế mà trong một thời gian dài, âm nhạc của Schubert được xem là biểu tượng của những xúc cảm chân thành và giản dị.

Schubertkhông có nhiều bản giao hưởng nổi tiếng như Beethoven, Mozart, nhưng Bản Giao Hưởng Dang Dở của Schubert đã mở ra kỷ nguyên cho nhạc giao hưởng trong chủ nghĩa lãng mạn.

Xuất phát từ quan điểm nghệ thuật đi sâu vào tâm hồn đầy phức tạp của con người, ông đã viết hơn 600 ca khúc. Đó là những tâm trạng xáo động, muôn màu muôn vẻ. Schubert là người đã đưa giá trị của ca khúc lên ngang tầm với những tác phẩm giao hưởng. Ca khúc của Schubert với phần đệm piano rất độc đáo, gắn bó khăng khít với giai điệu như một bộ phận không thể tách rời của tác phẩm.

Schubert hồi còn sống cũng nghèo rớt mùng tơi, không có các bạn của ông giúp tiền sống thì cũng chẳng có gì mà sống... Franz Schubert suốt cả đời phải đối mặt với đói rét bệnh tật và cô đơn. Trong 19 năm sáng tác, người nhạc sĩ đoản mệnh này để lại cho đời gần một ngàn tuyệt tác: những hạt kim cương sáng ngời được chắt lọc vội vàng từ cuộc đời thống khổ Schubert quan niệm nhạc và thơ phải là một đôi bạn đồng hành. Cả cuộc đời, Schubert trăn trở với Dòng Thời gian và đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt gần một ngàn tuyệt phẩm của Schubert

Âm nhạc Schubert như chiếc đồng hồ cát, đều đặn nhả ra nhỏ từng hạt, để rồi một ngày kia, theo chânSchubert xuống tận đáy mồ. Schubert quá nghèo do đó hàng ngày ông thường đến nhà bạn mượn piano để sáng tác.

Cả chuyện tình yêu cũng không may mắn nữa... Yêu cô ca sĩ - cô này cũng yêu Schubert - đến khi Schubert muốn tỏ tình bằng cách tặng cô này bài hát mới sáng tác của mình nhưng vì nhút nhát quá nên nhờ anh bạn hát hộ, mình chỉ ngồi đánh đàn thôi, thế là cuối cùng cô ấy hiểu nhầm, tưởng anh bạn tỏ tình - anh bạn này cũng yêu cô ấy, nhưng hai người chỉ là bạn thân thôi, vì cô ấy yêu Schubert mà - và chạy ra ôm chầm lấy anh bạn nghĩa là nhận lời với... anh bạn.

Về tính tình, Franz Schubert ít nói, rất khiêm tốn, không thích biểu diễn trước công chúng, không thích phô trương. Schubert chỉ thích chơi đàn cho những người bạn nghệ sĩ của mình. Schubert dửng dưng trước những lời phỉnh nịnh, thờ ơ với những cạm bẫy của danh vọng. Khác với những nhạc sĩ cùng thời, Schubert không màng giàu sang phú quý.

Schubert đã không lọt vào mắt xanh của một nhà mạnh thường quân nào đó trong giới quý tộc của Áo hay châu Âu thời bấy giờ. Cả sự nghiệp đồ sộ với trên dưới một ngàn tác phẩm, nhưng vì không có phương tiện, sinh thời chỉ có khoảng 10% những sáng tác của ông được in ấn.

Phần còn lại ngủ yên trong căn hộ của người anh trai Franz là nhạc sĩ Ferdinand Schubert. Franz Schubert sinh nhầm Thời đại, nếu như có Youtube thì chỉ cần một bài như Ave Maria hat Serenade, Franz Schubert cũng khác gì giàu có danh vọng như Justin Bieber hay PSY Nam Hàn !!!.. ..

Về đời sống xã hội, Franz Schubert gần như là một kẻ vô gia cư, dựa vào một vài người bạn nghệ sĩ để có được một mái nhà. Nay đây mai đó. Schubert không có việc làm chắc chắn, thu nhập khi có, khi không. Franz chắt chiu những đồng lương ít ỏi để mua giấy, mực và sáng tác

Gần như cả cuộc đời, Schubert không có được một mái nhà, lại cũng chẳng có được chiếc dương cầm để bầu bạn. Vì vậy có nhiều sáng tác của chính mình, Schubert chưa bao giờ được nghe qua. Thường xuyên trong cảnh bữa đói, bữa no, sáng tác trong giá rét, Schubert có thói quen soạn nhạc vào buổi sáng, thích đi xem kịch, uống bia với bạn bè. Thế giới của Schubert gần như không có bóng hình của đàn bà.

Schubert sáng tác nhiều bài hay tha thiết... Serenade là một trong những bản nhạc của Schubert được nhiều người biết đến nhất. Không chỉ được thế hệ đời sau yêu thích mà ngay chính bản Serenade này đã được giới nghệ sĩ đương thời đánh giá cao, bằng chứng cho nhà soạn nhạc lừng danh Liszt đã chuyển soạn bản này cho dương cầm.

Schubert con người say mê nghệ thuật chân chính. Schubert được mệnh danh là vua của các ca khúc. Số lượng ca khúc của Schubert sáng tác vượt qua hầu hết các nhạc sĩ khác.

Trong 31 năm sống trên cõi đời, ông chỉ tích luỹ những kiệt tác: hơn 600 bài dân ca, 10 bản giao hưởng, nhiều tác phẩm cho đàn dương cầm và cho nhạc thính phòng.

Schubert sống trong cảnh nghèo khổ và là một con người không có Thượng đế: không phải ông thiếu niềm tin mà vì là con người đã não lòng. Nhưng qua tác phẩm tuyệt vời Ave Maria, Franz Schubert đã chuyển được Thông điệp Thiên Chúa đến Toàn Nhân loại vào Mùa Giáng Sinh

Nietzche nói: "Trời mưa, và tôi nghĩ đến những người nghèo đang chất đống với tất cả những gánh nặng lúc này mà họ không còn có thể che giấu được".

Cuộc sống của thiên tài rất nghèo túng. Đôi khi, ông viết liên tục không nghỉ trong một ngày, chỉ mong kiếm được một khoản kha khá từ các nhà sản xuất. Có nhà xuất bản chỉ chịu trả cho ông sáu ca khúc trong số hai mươi bốn bản của tập Hành Trình Mùa Đông với giá 15 franc rẻ mạt.

Tuy vậy, Schubert vẫn miệt mài sáng tác. Các tác phẩm của ông thấm đượm nỗi u buồn và ca ngợi sự chịu đựng phi thường của con người trước số phận bất hạnh. Những giai điệu ấy cũng chan chứa tình yêu cuộc sống cho đến phút cuối cuộc đời.

Schubert là một nhạc sĩ dương cầm không tài hoa như Mozart hay Beethoven, nhưng Franz còn là một nhạc sĩ vĩ cầm, là người chơi đàn orgue khá tốt và cũng là một trong những nhà soạn nhạc hiếm hoi có được giọng ca thiên phú.

Chẳng vậy mà ngay từ khi mới sáng tác, Schubert đã hướng về thể loại Lied để phổ nhạc cho những bài thơ Schubert yêu thích.

Trong số gần 150 nhà thơ đem lại nguồn cảm hứng cho Franz Schubert, tác giả người Đức Johann Wolfgang von Goethe chiếm một chỗ đứng riêng biệt. 70 bài thơ của Goethe được Schubert phổ nhạc.

Bài thơ Suleika được nhạc sĩ người Đức Johannes Brahms khen tặng « đây là bản lied hay nhất trên thế giới ».

Nhiều bài thơ của Goethe mà sau này, khi nói đến, ai cũng liên tưởng ngay đến những giai điệu nhịp nhàng, dồn dập được Schubert gieo vào lòng người. Điển hình là tác phẩm Erlkonig/Le Roi des Aulnes. Với những nốt nhạc của Schubert (1815), mỗi vần thơ của Goethe đã chắp cánh bay ngàn trùng.

Ấy vậy Goethe đã xem thường những đóng góp của Schubert. Năm 1815 Franz Schubert trân trọng gửi sáng tác của mình đến Đỉnh cao nhất của nền văn học Đức, như một món quà tặng để tỏ lòng biết ơn đối với người đã cho ông chất liệu sáng tác. Tác giả của Faust đã chẳng màng đáp lại.

Phải chi Goethe chịu mất một chút thì giờ viết vài dòng cảm ơn, thì chắc chắn sự nghiệp của chàng nhạc sĩ nghèo và còn vô danh như Schubert sẽ tươi sáng hơn hẳn.

Một câu cảm ơn của Goethe, cũng đủ để các nhà xuất bản đua nhau đến gõ cửa nhà Schubert để đưa những tập nhạc của ông đến với công chúng. Đó sẽ là một món quà vô giá đối với một chàng nghệ sĩ không nhà không cửa không nơi nương tựa như Franz Schubert.

Là một người nhút nhát, lại không một chút tính toán theo kiểu cơ hội lạm dụng, Schubert không cầu cạnh gì ở bất kỳ một ai, kể cả Goethe.

Mãi đến năm 1830, tức hai năm sau khi Schubert qua đời, lần đầu tiên Goethe mới thưởng thức bản lied Erlkonig/Chúa tể rừng xanh được Franz phổ nhạc. Goethe đã bật khóc vì những nốt nhạc của Schubert được thể hiện qua tiếng hát của nữ ca sĩ Wilhelmine Schroider-Devrient.

Tác giả Nỗi đau của chàng Werther như ân hận gởi những giọt lệ muộn màng đến một thiên tài đã âm thầm đem lại phép màu để văn thơ của Goethe thêm tỏa sáng

Nhạc sĩ lừng danh khác của Thế kỷ 19 là Robert Schumann (1810-1856) vinh danh Franz Schubert là «thiên tài của Vienne, một nhà sáng tác có chỗ đứng ngang hàng với Beethoven»

Schubert bạc phúc, không trực tiếp nhận được lời khen tặng đó. Nhưng có lẽ nhận xét này của Schumann là phần thưởng mà để có được, Franz đã trả giá bằng suốt cuộc đời.

Không có Beethoven, Schubert không thể chắp canh bay xa như vậy trên con đường nghệ thuật. « Beethoven vừa là một đấng thiêng liêng, vừa là một người cha dù chưa một lần gặp mặt, vừa là một người dẫn đường » cho Franz Schubert.

Sinh thời hai nhạc sĩ cùng sống ở Vienna này chưa từng có dịp hội ngộ, nhưng Schubert tôn thờ nhạc của Beethoven trên hết tất cả. Tình cảm ông dành cho tác giả của bản Symphonie số 5 vô bờ bến và gần như tuyệt đối. Chỉ cần biết mình được sống dưới một khung trời cùng với Beethoven là cũng đủ để thôi thúc Schubert sáng tác.

Thua cha đẻ của bản Symphonie Pastorale đến 27 tuổi, Franz đã hơn một lần thốt lên rằng « Có thể làm gì khi ta đến sau Beethoven ? ». Có người kể lại rằng, Beethoven cũng trọng tài,đức của Schubert. Trong một lần tâm sự, nhạc sĩ người Đức này thổ lộ : tài nghệ của « Chàng trai này, một ngày sẽ vượt xa ta ».

Khi Beethoven qua đời vào tháng 3/1827, Schubert là một trong những nghệ sĩ được vinh dự rước đuốc trong tang lễ của người nhạc sĩ nhận nước Áo là quê hương thứ hai. Hơn một năm sau, vào một ngày mùa đông năm 1828 đến lượt Schubert từ giã cõi trần. Franz Schubert trút hơi thở cuối cùng trên nền nhạc bản Quatuor 14 của Beethoven.

Trở về với cát bụi, Schubert yên nghỉ tại nghĩa trang Währing, cách không xa ngôi mộ của Beethoven. Năm 1888 mộ phần của ông được đưa về nghĩa trang trung tâm của thành Vienne, trong khu vực dành cho các nhạc sĩ nổi tiếng của nước Áo hay đã chọn đây là quê hương thứ hai.

Chung quanh Schubert là những tên tuổi đã đi vào huyền thoại của dòng nhạc cổ điển như Gluck, Beethoven, Johannes Brahms hay Hugo Wolf. Trong số những ngôi mộ đó, chỉ có Franz Schubert là người con thực sự chào đời ở ngay giữa lòng Kinh thành Vienne nơi âm nhạc là Vua Chúa

Khúc nhạc chiều bất hủ sáng tác là để tặng sinh nhật cho một thiếu nữ mà ông thầm yêu trộm nhớ. Để làm cho nàng bất ngờ, ông nhờ một bạn thân là ca sĩ, trình bày ngay dưới cửa sổ nhà nàng.

Tối đó, người ta bí mật khiêng cây đàn piano vào trong vườn, tất cả đã sẵn sàng cho buổi biểu diễn lãng mạn và độc đáo. Thế nhưng say mê sáng tác chàng Schubert lại quên không đến.

Trớ trêu thay, cô láng giềng lại đem lòng yêu chính chàng ca sĩ, chứ không dành trái tim cho chàng nhạc sĩ tài hoa Schubert.

Vào một ngày mùa đông tháng 11 năm 1828, nhạc sĩ thiên tài giã từ thế giới ở tuổi 31, vì căn bệnh thuỷ đậu tại nhà của một người anh em ở ngoại ô thành Vienne. Khi ông mất, người ta kiểm kê tài sản và chỉ đếm được vẻn vẹn 6 đồng sáu xu và một đống bản thảo nhạc viết tay.
(Nguyễn Hữu Viện)

Chiều buồn nhẹ xuống đời
Người tình tìm đến người
Thấy run run trong chiều phai.
Vẻ sầu của đoá cười
Tình bền của lứa đôi
Thoáng hương trong chiều rơi.
Chiều nay hát cho xanh câu yêu đời
Cho người thôi khóc thương ai
Cho niềm yêu đến bên tôi.
Chiều nay lỡ ghé môi trên mi sầu
Ru người qua chốn thương đau
Cho làn nước mắt chìm sâu.

Tình đời toả mát màu
Chiều nay là lúc đầu
Nói cho nhau nghe đời sau.
Nhẹ nhàng người đắm sầu
Kể lể chuyện kiếp nao
Có ai chia lìa nhau.
Một ngày đó tóc mây đã phai mầu
Có chờ ta oán trách đâu
Có vì duyên kiếp không lâu.
Ðời sẽ thấy chúng ta sống không cầu
Cho tình cứ úa phai mau
Cho người cứ mãi phụ nhau.

Dù một ngày đời sẽ vỡ tan rồi
Người về khuất chân trời
Nhớ nuôi cho hương một chiều
Vương vấn đời
(hừm......)

Cuộc tình vĩnh viễn xa vời
Chỉ còn thương nhớ mà thôi
Bóng tối buồn không lời.

 

 

Nhạc sĩ Franz Peter Schubert (31 tháng 1 năm 1797 – 19 tháng 11 năm 1828) là một nhà soạn nhạc người Áo. Ông đã sáng tác 600 Lieder, 9 bản giao hưởng trong đó có bản giao hưởng nổi tiếng “Unfinished Symphony” cùng các thể loại nhạc nghi lễ, nhạc thính phòng và solo piano. Ông được biết đến với các tác phẩm có giai điệu nhẹ nhàng và du dương.

Dù Schubert có khá nhiều người bạn ngưỡng mộ các nhạc phẩm của ông (như thầy giáo của ông Antonio Salieri, và ca sĩ nổi tiếng Johann Michael Vogl), tuy nhiên âm nhạc của Schubert thời đó không được thừa nhận rộng rãi nếu không muốn nói là rất hạn chế. Schubert chưa bao giờ đảm bảo được một công việc ổn định và thường xuyên phải nhờ đến sự ủng hộ của bạn bè và gia đình trong phần lớn sự nghiệp.

Schubert mất sớm, năm 31 tuổi, do hậu quả của bệnh thương hàn là loại bệnh không chữa được thời đó. Vài thập kỷ sau khi Schubert qua đời, các tác phẩm của ông mới khẳng định được tên tuổi của mình, một phần nhờ công lao phổ biến của các nhạc sĩ cùng thời như Franz Liszt, Robert Schumann, Felix Mendelssohn.

Ngày nay, Schubert được xếp hạng là một trong số những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất của những năm cuối thời kỳ cổ điển, đầu thời kỳ lãng mạn, và các tác phẩm của ông thường xuyên được trình diễn nhiều trong những năm đầu thế kỷ 19.

Tranh chân dung của Franz Peter Schubert do Wilhelm August Rieder vẽ năm 1825.
Tranh chân dung của Franz Peter Schubert do Wilhelm August Rieder vẽ năm 1825.

Franz Peter Schubert sinh ngày 31 tháng 1 năm 1797 tại Himmelpfortgrund (nay là một phần của Alsergrund), Wien, nước Áo. Bố ông, Franz Theodor Schubert – con của một nông dân vùng Monravia – là thầy giáo nổi tiếng trong giáo khu. Mẹ ông là con của một người sửa khóa vùng Silesia, là người hầu của một gia đình giàu có trước khi lấy bố ông. Ông là một trong số 14 người con của Franz Theodor Schubert, chín trong số đó đều chết yểu.

Bố Schubert là một thày giáo nổi tiếng trong khu vực, và trường của ông tại Lichtental (huyện 9 của Vienna) đã có nhiều học trò theo học. Mặc dù ông đã không được công nhận hoặc thậm chí không được đào tạo như một nhạc sĩ, ông là người thầy đầu tiên truyền dạy cho Schubert những hiểu biết cơ bản về âm nhạc.

Schubert bắt đầu được cha dạy nhạc khi lên 6, một năm sau ông theo học trường của bố ông và bắt đầu chính thức theo học âm nhạc. Bố ông đã dạy ông các kỹ thuật violin cơ bản, và anh trai Ignaz đã dạy ông những bài học piano. Khi bảy tuổi, ông được Michael Holzer, người chơi organ đồng thời cũng là trường dàn đồng ca của nhà thờ giáo xứ địa phương tại Lichtental dạy dỗ.

Cậu bé Schubert dường như đã được giúp đỡ nhiều hơn từ một người quen với một thợ mộc học việc thân thiện. Họ đã đưa cậu bé đến một kho đàn piano gần đó để Franz có thể thực hành trên nhạc cụ tốt hơn. Franz cũng chơi viola trong tứ tấu đàn dây của gia đình, với các anh Ferdinand và Ignaz là violin chính và thứ hai, còn người cha chơivioloncello.

Franz đã viết tứ tấu đàn dây đầu tiên của mình cho một buổi hòa tấu của tứ tấu gia đình này. Schubert đầu tiên được Antonio Salieri, nhà quản lý âm nhạc hàng đầu của Vienna, để ý đến vào năm 1804, về tài năng thanh nhạc của cậu. Năm 1808 ông vào trường Stadtkonvikt với suất học bổng trong dàn đồng ca. Tại đây ông bắt đầu làm quen với các bản overture và giao hưởng của Mozart, các bản symphony của Haydn và của người em Michael của ông.

Ngôi nhà nơi Schubert được sinh ra, ngày nay là Nussdorfer Strasse 54.
Ngôi nhà nơi Schubert được sinh ra, ngày nay là Nussdorfer Strasse 54.

Với việc học hỏi các tác phẩm trên, làm quen với các tác phẩm của các nhạc sĩ khác, và thỉnh thoảng đến xem các vở opera đã tạo ra một vốn kiến thức âm nhạc rộng rãi và vững chắc cho Schubert. Một ảnh hưởng âm nhạc quan trọng cho Schubert là các bài hát của Johann Rudolf Zumsteeg, một nhà soạn nhạc Lieder quan trọng lúc đó. Sinh viên trẻ Schubert đã “muốn hiện đại hóa” các bài hát trên, Joseph Von Spaun, người bạn của Schubert kể lại. Tình bạn của Schubert với Spaun bắt đầu tại Stadtkonvikt và kéo dài trong suốt cuộc đời ngắn ngủi của ông. Trong những ngày đầu, Spaun với tài chính khá giả đã mua nhiều giấy viết nhạc cho một Schubert nghèo khó.

Tài năng của Schubert bắt đầu thể hiện qua các sáng tác. Thỉnh thoảng Schubert được giao chỉ huy dàn nhạc, và Antonio Salieri bắt đầu đào tạo Schubert về lý thuyết âm nhạc và kỹ năng sáng tác. Đây là dàn nhạc đầu tiên Schubert viết nhạc, và ông đã dành phần lớn thời gian còn lại của mình tại Stadtkonvikt để sáng tác nhạc thính phòng, một số bài hát, các đoạn ngắn cho piano, và bản hợp xướng phụng vụ với các hợp xướng “Salve Regina” (D27), “Kyrie” (D31), và “Octet cho Winds” chưa hoàn thành (D72, để kỷ niệm cái chết của mẹ Schubert năm 1812), bản cantata Wer ist groß? cho giọng nam và dàn nhạc (D110, kỷ niệm ngày sinh nhật của cha Schubert vào năm 1813), và bản giao hưởng đầu tiên của ông (D 82).

Vào cuối năm 1813, ông rời Stadtkonvikt và trở về nhà để học khoa giáo viên tại Normalhauptschule. Năm 1814, ông trở thành giáo viên của các em học sinh nhỏ tuổi nhất tại trường của cha mình. Trong hơn hai năm Schubert chịu đựng khó khăn với sự lãnh đạm hiếm thấy. Tuy nhiên, cũng có các lợi ích bù lại. Ông tiếp tục học hỏi Salieri, người đã đào tạo Schubert các kỹ thuật thực tế hơn bất kỳ các giáo viên khác của ông, trước khi họ chia tay năm 1817.

Therese Grob.
Therese Grob.

Năm 1814, ông làm quen với Therese Grob, con gái của một nhà sản xuất lụa trong vùng đồng thời là một ca sĩ soprano đã trình tấu một số tác phẩm của ông nhưSalve Regina, Tantum Ergo, và cô cũng là ca sĩ hát chính trong buổi ra mắt của tác phẩm Mass in F của ông vào tháng 9 năm 1814. Mối quan hệ tình cảm cũng phát triển phức tạp và có nhiều khả năng Schubert muốn kết hôn với Grob nhưng không thành. Năm 1815 Luật kết hôn quá hà khắc với yêu cầu chú rể phải chứng minh được khả năng có thể nuôi sống gia đình. Tháng 11 năm 1816, sau khi không được nhận công việc ở Laibach (bây giờ là Ljubljana, Slovenia) ông gửi cho Heinrich – anh của Grob – một tập tác phẩm mà gia đình bà còn giữ đến đầu thế kỉ 20.

Năm 1815 là năm Schubert tập trung vào sáng tác, ông viết đến 9 tác phẩm cho nhà thờ, 140 ca khúc nghệ thuật (lieder), một bản giao hưởng.

Giai đoạn Âm nhạc Cổ Điển – Trường phái cổ điển Vienna (1730 -1820) khép lại với những tên tuổi lừng lẫy như Haydn, Mozart, Beethoven để mở ra một giai đoạn mới – giai đoạn Âm nhạc Lãng Mạn (1800 – 1910). Những nhà soạn nhạc thời kỳ Lãng mạn thường lấy cảm hứng từ văn học, hội họa hay từ những nguồn ngoài thế giới âm nhạc. Vì vậy, âm nhạc chương trình được phát triển rất mạnh mẽ và dẫn đến sự ra đời của thể loại thơ giao hưởng.

Các bài thơ trong thế kỷ 18 và 19 là cơ sở đề hình thành nên các bài hát nghệ thuật mà trong đó các nhà soạn nhạc dùng âm nhạc để khắc họa hình ảnh và tâm trạng của lời ca. Sự huy hoàng của âm nhạc lãng mạn lan toả suốt thế kỷ XIX với rất nhiều nhà soạn nhạc ưu tú như Mendelssohn, Schumann, Chopin, Liszt hay Tchaikovsky nhưng trong đó người khai phá và là “nhân vật vĩ đại” đầu tiên chính là Franz Schubert.

Schubert sáng tác đủ các thể loại âm nhạc: giao hưởng, Sonat, nhạc thính phòng, bài hát. Schubert là người đầu tiên đưa bài hát đến tầm khái quát cao, đồng thời giữ được vẻ tự nhiên ban đầu của nó. Schubert trở nên bất tử qua 600 bài hát mà ông sáng tác (nên giao hưởng và opera của ông bị khuất lấp, bị rơi vào lãng quên lúc sinh thời). Sau khi Schubert qua đời, các tác phẩm của ông mới khẳng định được tên tuổi của mình, một phần nhờ công lao phổ biến của các nhạc sĩ cùng thời như Franz Liszt, Robert Schumann, Felix Mendelssohn. Schubert được coi là ánh bình minh của chủ đề lãng mạn trong âm nhạc. Ông được xếp vào hàng các nhà soạn nhạc vĩ đại nhất của nhân loại.

schubert_Maria

schubert_Bản Ave Maria của Franz Schubert

Nhạc phẩm “Ave Maria”, tên phổ thông của một bài hát có tựa là “Ellens dritter Gesang” (“Ellens Gesang III – Hymne an die Jungfrau”, D 839, Op. 52 Nr. 6) là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nhà soạn nhạc người Áo Franz Schubert, được viết vào năm 1825.

Cảm hứng để nhà soạn nhạc yểu mệnh viết bài Lied xuất sắc này là từ tập thơ Lady Of The Lake (tiếng Việt: Người Phụ Nữ Bên Hồ) của đại thi hào người Scotland, Walter Scott, được dịch sang tiếng Đức bởi Adam Storck. Nhân vật chính trong tập thơ này, nữ anh hùng Ellens Douglas trong thời gian trốn tránh quân thù bên một cái hồ, đã cầu nguyện Đức trinh nữ Maria bằng những lời thơ.

Franz Peter Schubert vốn là một con người sùng đạo, lại nhớ đến người con gái ông yêu có khuôn mặt giống Đức trinh nữ nên đã phổ nhạc cho tác phẩm này, lấy tên là “Ellens dritter Gesang” (có nghĩa là “Bài Hát Thứ Ba Của Ellens”). Tuy nhiên, vì bài hát được bắt đầu bằng và kết thúc cũng như hay được lập lại bằng hai từ “Ave Maria” nên nó hay được hát trong các buổi thánh lễ nhất là trong lễ đám cưới và đám tang bằng tiếng Latin, nên người đời sau này gọi bài hát đó là “Ave Maria”.

Schubert không hề đặt tên tác phẩm này là “Ave Maria” mà là “Ellens dritter Gesang”, điều này ông đã khẳng định qua những lá thư gửi cho cha mẹ mình, báo tin về sự thành công của ca khúc. Có lẽ chỉ những người hoài cổ mới nhớ đến phiên bản sơ khai của tác phẩm, vì hiện tại nó ít phổ biến. So với bản “Ave Maria” của Johann Sebastian Bach và Charles Gounod, bản “Ave Maria” hát đơn giản hơn. Tác phẩm này khi nghe sẽ cho ta một cảm giác buồn man mác, cảm xúc chung mỗi khi ta thưởng thức hầu hết các tác phẩm của Schubert.

schubert_Seranade1

schubert_Seranade

Nhạc phẩm “Dạ Khúc” (“Seranade”) của Franz Peter Schubert (tiếng Đức: Ständchen) được viết lời bởi Ludwig Rellstab. Bản này có số thứ tự 4, nằm trong quyển 1 của tập “Schwanengesang” (“Bài Ca Thiên Nga”). Đây là tuyển tập bài hát được sưu tầm sau khi Schubert qua đời, trong danh sách tác phẩm của nhà soạn nhạc tất cả có số thứ tự D 957. Franz Liszt là người sau này đã chuyển thể các tác phẩm trong tập “Schwanengesang” cho độc tấu piano.

“Dạ Khúc” (“Serenade”) là một thể loại ca khúc để hát vào buổi tối, đặc biệt cho giọng nữ. Ở phương Tây thể loại ca khúc này gọi là “Serenade” và nó rất được nhiều nhạc sĩ ưa chuộng, sáng tác… cho nên “Dạ Khúc” (“Serenade”) không chỉ riêng một tác phẩm riêng biệt của một nhạc sĩ nào cả. Nhiều nhạc sĩ đã sáng tác trên chủ đề này, nhưng có lẽ được biết đến và ưa chuộng nhiều nhất (cho mãi đến ngày hôm nay) vẫn là “Serenade” của nhạc sĩ thiên tài người Áo Franz Peter Schubert.

Franz Peter Schubert chỉ sống một cuộc đời ngắn ngủi 31 năm nhưng đã kịp để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ ở nhiều thể loại. Schubert còn được mệnh danh là “Vua Lied” vì ông sáng tác rất nhiều Lied (số nhiều: Lieder), theo tiếng Đức nghĩa là đoản ca, có giá trị. Có lẽ Lied của Schubert được nhiều người yêu thích nhất là Lied có tên “Ständchen” này. “Ständchen” đã được dịch sang rất nhiều ngôn ngữ và được chuyển soạn cho nhiều nhạc cụ khác chơi dưới cái tên “Serenade” và cái tên phổ biến nhất là “Serenade của Schubert”

Bài “Dạ Khúc” bất hủ mà Franz Peter Schubert sáng tác là để tặng sinh nhật cho một thiếu nữ mà ông thầm yêu trộm nhớ. Ở châu Âu ngay từ thời trung cổ các chàng trai thường có lối tỏ tình bằng cách mượn âm nhạc, ban đêm đến đứng dưới cửa lầu “người đẹp” tự thể hiện bằng tiếng đàn và giọng hát của chính mình. Những bài nhạc lãng mạn này gọi là “Serenade”. “Serenade” thời Trung Cổ và Phục Hưng được biểu diễn không theo một hình thức đặc biệt nào, ngoại trừ nó được một người hát tự đệm bằng nhạc cụ có thể mang theo được (guitar, mandolin…).

Để làm cho nàng bất ngờ, Schubert nhờ một bạn thân là ca sĩ, trình bày ngay dưới cửa sổ nhà nàng. Tối đó, người ta bí mật khiêng cây đàn piano vào trong vườn, tất cả đã sẵn sàng cho buổi biểu diễn lãng mạn và độc đáo. Thế nhưng, Schubert lại quên không đến. Trớ trêu thay, cô gái lại đem lòng yêu chính chàng ca sĩ, chứ không dành trái tim cho Schubert.

Những lời nỉ non, thổn thức của ca từ quyện với một giai điệu lãng mạn, quyến rũ, bản “Dạ Khúc” Schubert là một thông điệp tình yêu chuyển tải bẳng âm nhạc tuyệt vời, một bài Lied hoàn hảo cho kẻ tỏ tình trong đêm.

Nhưng hơn thế, nhạc phẩm “Dạ Khúc” của Schubert là một bức tranh toàn bích, sâu lắng… mang dáng dấp hơi thở không chỉ của thời đại ông mà của muôn mọi thời đại. Nhạc sĩ thiên tài đã nói lên tiếng lòng mình trong thời khắc đêm về, ngoài niềm khắc khoải thường tình về tình yêu đôi lứa, còn như thân phận con người nhỏ nhoi đầy bất trắc trước mênh mông vũ trụ. Bài nhạc có giai điệu rất đẹp, trữ tình, lai láng nhưng không trầm mặc, buồn nhưng vẫn phảng phất đâu đó niềm hy vọng và hoài bão hướng thiện (tác dụng bởi việc chuyển cung từ thứ sang trưởng ở đoạn kết). Schubert như nói lên tiếng lòng của muôn người, muôn thế hệ…

Trong lời dịch của ông, nhạc sĩ Phạm Duy đã cố gắng phác thảo tất cả những cung bậc trải nghiệm hết sức tinh tế về cảm xúc mà giai điệu bản Serenade khơi gợi nơi người thính giả. Lời dịch của ông tuy hy sinh sự chính xác của ngôn từ nhưng giàu tính thẩm mỹ của cảm nhận âm nhạc, một cảm nhận ông muốn hướng dẫn người thưởng ngoạn cũng cảm nhận như ông.

schubert_Maria

“Hymn to the Virgin” (Thánh Ca Kính Dâng Trinh Nữ) là tên bài thơ của thi sĩ Walter Scott:

Ave Maria!
Maiden mild!
Listen to a maiden’s prayer!
Thou canst hear though from the wild,
Thou canst save amid despair.
Safe may we sleep beneath thy care,
Though banish’d, outcast and reviled – Maiden!
hear a maiden’s prayer;
Mother, hear a suppliant child!
Ave Maria!

Ave Maria! Undefiled!
The flinty couch we now must share
Shall seem this down of eider piled,
If thy protection hover there.
The murky cavern’s heavy air
Shall breathe of balm if thou hast smiled;
Then, Maiden! hear a maiden’s prayer;
Mother, list a suppliant child!
Ave Maria!

Ave Maria! Stainless styled!
Foul demons of the earth and air,
From this their wonted haunt exiled,
Shall flee before thy presence fair.
We bow us to our lot of care,
Beneath thy guidance reconciled;
Hear for a maid a maiden’s prayer,
And for a father hear a child!

“Ellens dritter Gesang” là bản dịch tiếng Đức của dịch giả Storck đã được nhà soạn nhạc Franz Peter Schubert sử dụng:

Ave Maria! Jungfrau mild, Erhöre einer Jungfrau Flehen, Aus diesem Felsen starr und wild Soll mein Gebet zu dir hinwehen. Wir schlafen sicher bis zum Morgen, Ob Menschen noch so grausam sind. O Jungfrau, sieh der Jungfrau Sorgen, O Mutter, hör ein bittend Kind! Ave Maria!

Ave Maria! Unbefleckt! Wenn wir auf diesen Fels hinsinken Zum Schlaf, und uns dein Schutz bedeckt Wird weich der harte Fels uns dünken. Du lächelst, Rosendüfte wehen In dieser dumpfen Felsenkluft, O Mutter, höre Kindes Flehen, O Jungfrau, eine Jungfrau ruft! Ave Maria!

Ave Maria! Reine Magd! Der Erde und der Luft Dämonen, Von deines Auges Huld verjagt, Sie können hier nicht bei uns wohnen, Wir woll’n uns still dem Schicksal beugen, Da uns dein heil’ger Trost anweht; Der Jungfrau wolle hold dich neigen, Dem Kind, das für den Vater fleht. Ave Maria!

Lời Latin:

Ave Maria, gratia plena!
Maria, gratia plena!
Maria, gratia plena!
Ave, Ave, Dominus, Dominus tecum.
Benedicta tu in mulieribus, et benedictus,
Et benedictus fructus ventris (tui),
Ventris tui, Jesus.
Ave Maria!
Sancta Maria, Mater Dei,
Ora pro nobis peccatoribus,
Ora, ora pro nobis;
Ora, ora pro nobis peccatoribus,
Nunc et in hora mortis,
In hora mortis nostrae,
In hora, hora mortis nostrae,
In hora mortis nostrae.
Ave Maria!

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông.

Nhạc phẩm “Ave Maria” (Bản tiếng Việt của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông)

Xin Mẹ Maria
Cho nước con qua ngày can qua
Đã mấy mươi năm Mẹ ôi sống trong mộng
Ngày mai một ngày tan chinh chiến vui bình yên
Hãy ban cho một mùa Xuân như ý quên sầu bi
Đầy ơn phước trong tay người
Mẹ ơi, bao la lòng bao í a
Này đây muôn kinh quỳ lạy tấu dâng đến bà
Tạ ơn Thiên Chúa – Gabriel truyền tin khắp nơi
Trần thế thắm bao tình ơn thánh nữ đồng trinh
Ave Maria… Ave Maria… Ave Maria…

schubert_Seranade1

Nhạc phẩm “Ständchen” (“Serenade” – Bản gốc tiếng Đức)

Leise flehen meine Lieder
Durch die Nacht zu dir;
In den stillen Hain hernieder,
Liebchen, komm zu mir!
Flüsternd schlanke Wipfel rauschen
In des Mondes Licht;
Des Verräters feindlich Lauschen
Fürchte, Holde, nicht.
Hörst die Nachtigallen schlagen?
Ach! sie flehen dich,
Mit der Töne süßen Klagen
Flehen sie für mich.
Sie verstehn des Busens Sehnen,
Kennen Liebesschmerz,
Rühren mit den Silbertönen
Jedes weiche Herz.
Laß auch dir die Brust bewegen,
Liebchen, höre mich!
Bebend harr’ ich dir entgegen!
Komm, beglücke mich!

(Dịch ý: ‘Đêm khuya vẳng tiếng anh hát thầm thì, dưới chòm cây tĩnh lặng. Đến đây hỡi người! Gió đùa lá xào xạc dưới trăng; đừng sợ chi kẻ phản trắc rình rập đâu đó. Em nghe chăng tiếng họa mi vang rền. Chúng gọi em đấy, chúng chuyển lời của anh cho em, vì chúng hiểu nỗi khắc khoải con tim, nỗi đau tình si. Giọng hót vang của chúng làm mỗi trái tim nồng nàn bớt thổn thức. Người yêu hỡi, em hãy để cho tiếng chim ca trong tim… Anh đang run rẫy, bồi hồi chờ em nơi đây. Đến đây chúc mừng anh!) chim sơn ca chỉ hót ban ngày, chỉ họa mi mới hót ban đêm, sơn ca hót vang lừng khi đang bay, họa mi hót vang cả cánh rừng (độc thung).

Nhạc sĩ Phạm Duy.
Nhạc sĩ Phạm Duy.

Nhạc phẩm “Dạ Khúc” (“Seranade” – Bản tiếng Việt của Nhạc sĩ Phạm Duy)

Chiều buồn nhẹ xuống đời người tình tìm đến người thấy run run trong chiều phai.
Vẻ sầu của đoá cười tình bền của lứa đôi thoáng hương trong chiều rơi.
Chiều nay hát cho xanh câu yêu đời cho người thôi khóc thương ai cho niềm yêu đến bên tôi.
Chiều nay lỡ ghé môi trên mi sầu ru người qua chốn thương đau cho làn nước mắt chìm sâu.

Tình đời toả ngát màu chiều nay là lúc đầu nói cho nhau nghe đời sau.
Nhẹ nhàng người đắm sầu kể lể chuyện kiếp nao có ai chia lìa nhau.
Một ngày đó tóc mây đã phai mầu có chờ ta oán trách đâu có vì duyên kiếp không lâu.
Ðời sẽ thấy chúng ta sống không cầu cho tình cứ úa phai mau cho người cứ mãi phụ nhau.

Dù một ngày đời sẽ vỡ tan rồi người về khuất chân trời nhớ nuôi cho hương một chiều vương vấn đời.
Cuộc tình vĩnh viễn xa vời chỉ còn thương nhớ mà thôi
Bóng tối buồn không lời…

Dưới đây mình có bài:

– Sérénade (Dạ Khúc) – Schubert

Cùng với 12 clips tổng hợp 2 nhạc phẩm “Ave Maria”, “Dạ Khúc” (“Seranade”) do các ca nhạc sĩ lừng danh trên thế giới trình diễn để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Sérénade (Dạ Khúc) – Schubert (trích)

(Hoài Nam)

Franz Schubert là nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất của đầu thời kỳ lãng mạn (Romantic era) trong nền nhạc cổ điển tây phương. Tác giả của bản Serénade bất hủ, ca khúc Ave Maria để đời, và bản Giao hưởng Dang dở (Symphonie Inachevée) đầy huyền thoại.

Franz Schubert cũng là người chết trẻ nhất. Nếu hậu thế đã phải tiếc thương một Chopin qua đời vào tuổi 39, một Mozart vào tuổi 35, thì lại càng phải xót xa cho Schubert, vì ông mất năm mới 31 tuổi!

Thế nhưng, nếu nói về số lượng, Schubert lại đứng đầu các tác giả nhạc cổ điển với trên 1000 tác phẩm, gồm khoảng 600 ca khúc, 9 bản giao hưởng, 6 lễ nhạc Công giáo, 5 vở opera, 21 bản sonata, 31 bản thính phòng, cùng nhiều sáng tác ngẫu hứng, và các bản độc tấu dành cho dương cầm.

Phần lớn tác phẩm của Schubert chỉ được biết tới và đón nhận sau khi ông đã qua đời. Nguyên nhân chính là lúc còn sống, ông không có nhiều cơ hội phổ biến rộng rãi các sáng tác của mình, mà thường chỉ giới hạn trong vòng bạn bè thân quen, và một số người ái mộ. Chỉ sau khi Schubert mất, các nhạc sĩ bạn, hoặc thuộc hệ kế tiếp, như Franz Liszt, Robert Schuman, Felix Mendelssohn, mới bỏ công thu thập và phổ biến các sáng tác để đời của ông.

Franz Peter Schubert ra chào đời ngày 31 tháng 1 năm 1797 tại Alsergrund, một vùng ngoại ô của thành Vienne, kinh đô Áo quốc. Cha ông, Franz Theodor Schubert, mở một trường học – vừa dạy chữ vừa dạy nhạc – tại Quận Lichtental, nơi mà các con trai của ông lần lượt trở thành giáo viên.

Mặc dù không phải là một nhạc sĩ nổi tiếng, cũng không xuất thân từ một nhạc viện nào, nhưng Franz Theodor Schubert rất đông học trò. Năm lên 5 tuổi, Franz (Peter) Schubert bắt đầu được cha dạy vĩ cầm, và anh trai Ignaz dạy dương cầm.

Năm lên 7, Schubert được ông Michael Holzer, nhạc sĩ đại phong cầm kiêm ca đoàn trưởng của nhà thờ địa phương thu nhận làm học trò.

Năm 17 tuổi, Franz Schubert nối gót hai anh trai Ferdinand và Ignaz trở thành giáo viên tại trường học của thân phụ, đồng thời gia đình Schubert cũng đủ tay đàn để thành lập một ban tứ tấu đàn dây (string quartet), trong đó Ferdinand và Ignaz chơi vĩ cầm, Franz “con” chơi trung vĩ cầm (viola), còn Franz “bố” chơi cello. Các sáng tác đầu tay của Franz Schubert chính là các bản viết cho ban tứ tấu gia đình.
[Chú thích: mặc dù đàn dây (string instrument) gồm cả đàn ghi-ta, banjo, mandolin, ukulele, hạc cầm (harp), double bass…, nhưng riêng trong nhạc cổ điển, chữ “string quartet” (tứ tấu đàn dây) phải được hiểu là 4 cây đàn thuộc họ vĩ cầm (bowed string instrument), gồm: 2 vĩ cầm (violin), 1 trung vĩ cầm (viola), và 1 cello]

Cũng vào năm 17 tuổi (1814), Franz Schubert chính thức tỏ tình với cô bạn gái Thérèse Grob, 16 tuổi.

Thérèse Grob.
Thérèse Grob.

Nguyên Thérèse và người em trai Heinrich là con của chủ nhân một hãng dệt lụa ở gần nhà Schubert. Hai gia đình cùng đi lễ ở nhà thờ Lichtental, nơi Therèse là giọng soprano chính của ca đoàn.

Năm đó (1814), thánh đường Lichtental kỷ niệm đệ bách chu niên, Franz Schubert được trao trách nhiệm soạn lễ nhạc (Mass), và đích thân điều khiển dàn nhạc cùng ca đoàn, trong đó Thérèse Grob hát solo phần soprano.

Từ đó, Thérèse được cha mẹ cho phép tự do lui tới gia đình Schubert để đàn hát với anh em Franz, và không quên dắt theo cậu em trai Heinrich của nàng, cũng là một tài năng trẻ về cả dương cầm lẫn vĩ cầm.

Nhưng cuộc tình đẹp của hai người chỉ kéo dài được 3 năm. Không phải lòng người đổi thay mà vì luật lệ khắc nghiệt về hôn nhân của đế quốc Áo thời bấy giờ. Theo đó, tất cả mọi nam công dân Áo muốn lấy vợ phải làm đơn, và phải chứng minh có đủ khả năng tài chánh để nuôi vợ con thì mới được phép kết hôn.

Biết rằng dạy nhạc tại trường học của thân phụ không thể xem là một “công việc vững chắc”, tháng Tư năm 1816, Franz Schubert nộp đơn xin làm thầy giáo dạy nhạc tại Trường sư phạm ở Ljubljana (ngày nay là thủ đô của Slovenia, ngày đó là một thành phố thuộc đế quốc Áo), nhưng đơn bị bác.

Chán nản, tháng 11 năm ấy, Franz Schubert quyết định “trả tự do” cho Thérèse. Chàng nhờ Heinrich, cậu em của Thérèse, trao cho nàng một tập 17 tình khúc sáng tác riêng cho nàng trong thời gian hai người yêu nhau, để làm kỷ vật. Bốn năm sau, Thérèse lấy chồng. Tập ca khúc ấy trở thành gia bảo của dòng họ Grob, và tới thế kỷ thứ 20 đã được phổ biến với tên gọi “Thérèse Grob Songbook”.

Sau khi bị bác đơn xin dạy nhạc tại trường sư phạm, dẫn đưa tới việc chấm dứt mối tình đầu, Franz Schubert bỏ nhà, bỏ luôn công việc dạy nhạc tại trường học của cha để tới sống với Schober, một cậu “học trò” đồng lứa tuổi.

Nguyên Schober là con nhà khá giả, sống với bà mẹ trong một ngôi nhà rộng lớn. Cậu rất quý phục Schubert và từ lâu đã ngỏ ý mời vị thầy trẻ về sống tại nhà mình.

Thời gian đầu, có lẽ vì tự ái, Schubert vừa sáng tác vừa nhận học trò để có thu nhập riêng, nhưng về sau, ông đã ngưng nhận học trò để dành hết thì giờ cho công việc sáng tác.

Schubert ghi lại trong nhật ký của mình: “Mỗi ngày, tôi bắt đầu sáng tác từ sáng sớm, không ngừng nghỉ, xong bản này tôi bắt tay ngay vào việc viết bản khác!”

Cũng trong năm 1816, vào tuổi 19, bên cạnh việc viết ca khúc, Schubert bắt đầu sáng tác các bản hòa tấu quy mô và các bản hợp xướng. Tuy nhiên tất cả mọi tác phẩm của ông đã không được xuất bản, mà chỉ được bạn bè và người ái mộ chép tay để phổ biến cho nhau.

Qua năm 1817, may mắn đã tới với Schubert khi ông được giới thiệu với Johan Michael Vogl, đệ nhất danh ca giọng nam trung (baritone) của thành Vienne, hơn Schubert 20 tuổi. Chính nhờ danh tiếng và nghệ thuật trình bày của Johan Michael Vogl mà các ca khúc của Schubert bắt đầu được giới một điệu biết tới.

“Ca khúc” nói tới ở đây, tiếng Đức gọi là “lieder”, là những bài hát lãng mạn được phổ từ thơ, hoặc có lời hát như thơ, mang nhiều giá trị văn chương, rất được ưa chuộng vào thế kỷ thứ 19.

Trong số trên dưới 600 “lieder” của Schubert, nổi tiếng nhất phải là bản “Ave Maria”.

Việc hậu thế gọi đây là bản “Ave Maria của Franz Schubert” xét tới nơi tới chốn là thiếu chính xác. Bởi vì ca khúc nguyên thủy của Schubert có tựa khác, và lời hát khác.

Ngày ấy, nguồn cảm hứng đã tới với Schubert khi tập thơ Lady of the Lake – Đức Bà của Hồ nước – của thi hào Tô-cách-lan Sir Walter Scott được dịch sang tiếng Đức. Nhân vật chính trong tập thơ này, nữ anh hùng Ellens Douglas, trong thời gian trốn tránh quân thù bên bờ hồ, đã cầu nguyện Đức trinh nữ Maria bằng những lời thơ.

Schubert vốn là người rất sùng đạo, đã phổ những lời thơ ấy thành các ca khúc, trong đó bản nổi tiếng nhất có tựa tiếng Đức là “Ellens dritter Gesang” (Ellens’ Third song – Bài hát thứ ba của Ellens).
Điều này đã được xác định qua lá thư của Franz Schubert gửi cho cha mẹ, báo tin về sự thành công của ca khúc.

Về sau, vì lời thơ (phổ nhạc) bắt đầu bằng hai tiếng “Ave Maria”, một, hay nhiều “thiên tài ẩn danh” nào đó đã lấy lời kinh “Ave Maria” bằng tiếng La-tinh (người Công giáo Việt Nam gọi là kinh “Kính Mừng”) thay thế lời hát nguyên thủy bằng tiếng Đức, để rồi dần dần hầu như ai cũng gọi đây là bản “Ave Maria của Schubert”, với mục đích phân biệt với một bản “Ave Maria” nổi tiếng khác, nhạc của Johann Sebastian Bach, lời của Charles Gounod.

Chỉ có những thính giả có tinh thần hoài cổ và yêu thơ mới tìm nghe bản “Ave Maria của Schubert” với lời hát nguyên thủy, tức Ellens’ Third Song – Bài hát thứ ba của Ellens.

Trước năm 1975 tại miền Nam VN, bản “Ave Maria của Schubert” đã được ít nhất hai nhạc sĩ đặt lời Việt, là Phạm Duy và Nguyễn Văn Đông. Điểm khác biệt chính là trong khi Phạm Duy dịch sát lời kinh, thì Nguyễn Văn Đông lại “Việt hóa” bằng cách lồng cuộc chiến tang tóc, cùng những khát vọng thanh bình vào lời hát.
Phụ lục: Audio (2)

Sau năm 1975, trong CD “Kỷ niệm vàng son” thực hiện với mục đích gây quỹ từ thiện, Lê Dung, người nữ danh ca có giọng soprano cao vút, đã trình bày bản Ave Maria của Schubert với lời hát bằng tiếng Pháp, và gây ấn tượng mạnh nơi người yêu nhạc.

* * *

Với hậu thế nói chung, 3 tác phẩm nổi tiếng nhất của Franz Schubert phải là: (1) bản “Ave Maria” đã nhắc tới ở trên, (2) bản Sérénade, tức Dạ khúc, và (3) bản Giao hưởng số 8, thường được gọi là Unfinished Symphony (tiếng Anh), hoặc Symphonie Inachevée (tiếng Pháp), nghĩa là bản “Giao hưởng Dở dang” – mà một số người đã “thi vị hóa”, cho rằng bản này đã được Schubert viết cho một “mối tình dang dở”!

Nguyên vào mùa hè năm 1818, tức là 2 năm sau khi chấm dứt mối tình đầu với Thérèse Grob, Franz Schubert được mời tới lâu đài của Bá tước Johann Karl Eszterhazy ở Hung-gia-lợi, để dạy cho hai cô con gái của ông – Marie và Karoline – đàn dương cầm và hát.

Theo các tác giả viết tiểu sử Franz Schubert, đây là khoảng thời gian hiếm hoi trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, nhà nhạc sĩ được thoải mái cả về lẫn vật chất lẫn tinh thần: đã “việc nhẹ lương hậu” còn được gần gũi nàng Karoline ngây thơ xinh đẹp. Từ gần gũi tiến tới say mê. Tuy nhiên, chỉ say mê chứ không mảy may hy vọng, bởi vì tuy còn nhỏ, Karoline đã đường đường là nữ bá tước – một vị nữ bá tước của dòng họ Eszterhazy – một dòng họ quý tộc nổi tiếng từ thời trung cổ, có nhiều lãnh địa ở khắp đế quốc Áo – Hung.

Cho nên, tình yêu của chàng nhạc sĩ nghèo 21 tuổi là tình đơn phương, tình tuyệt vọng, và đã trở thành đề tài cho một thi phẩm của thi sĩ Bauerfeld, một bạn thân của Schubert.

Về phần Schubert, sau khi từ Hung-gia-lợi trở về Áo, chàng đã sáng tác bản song tấu dương cầm “Fantaisie cung Fa thứ”, đề tặng “Nữ bá tước Karoline Eszterhazy”. Chấm hết chuyện tình!

Nhưng cũng chính vì chuyện tình đơn phương của Franz Schubert dành cho Karoline Eszterhazy mà người đời đã thi vị hóa cái tựa bản “Giao hưởng Dở dang” của nhà nhạc sĩ, cho rằng chữ “dở dang” ở đây là ám chỉ chuyện tình “dang dở” ấy!

Nhưng trên thực tế, “dở dang” ở đây chỉ có nghĩa đen, là viết dở dang, vì một nguyên nhân khó hiểu nào đó chứ không phải vì Schubert không có thì giờ, bằng chứng là sau khi bỏ dở bản này, ông đã bắt tay vào việc viết, và hoàn tất bản giao hưởng số 9!

Bản “Giao hưởng Dở dang”, tức bản số 8, được Franz Schubert bắt đầu viết vào năm 1822, tức là 6 năm trước khi qua đời. Thông thường, một bản giao hưởng gồm có 4 phần – tức “movement”. Schubert viết xong phần 1 và 2 thì ngưng. Mãi tới sau khi ông qua đời, người ta mới tìm thấy đoạn đầu của phần 3 và bố cục của phần 4.

Gần 200 năm sau, cũng không một ai có thể trả lời câu hỏi: tại sao Schubert lại bỏ dở bản giao hưởng này? Càng đáng tiếc hơn nữa, là qua thưởng thức phần 1 và 2, người yêu nhạc cổ điển đều đồng ý với nhau rằng: nếu hoàn tất, đây sẽ là bản giao hưởng hay nhất của Schubert.

Về sau, nhiều tổ chức văn hóa đã cho tổ chức những cuộc thi sáng tác để điền khuyết những phần còn thiếu. Tuy nhiên, tất cả mọi sáng tác đoạt giải đều bị giới thưởng thức nhạc cổ điển cho là không xứng hợp. Vì thế, có lẽ nghìn năm sau, bản “Giao hưởng Dở dang” vẫn còn… dang dở!

Như vậy, trong số 3 tác phẩm nổi tiếng nhất của Franz Schubert, bản “Ave Maria” đã bị đổi tựa và lời hát nguyên thủy, bản Giao hưởng số 8 thì viết dở dang, như vậy có thể nói chỉ có bản Sérénade – Dạ khúc, là trọn vẹn.

Điều thú vị nhất về Sérénade là bản này chỉ là một sáng tác ngẫu hứng, được Schubert viết trong một quán cà-phê!

Tuy nhiên, trước khi viết về giai thoại này, cũng xin có đôi dòng về chữ “sérénade” trong nhạc cổ điển tây phương.

“Sérénade” là tiếng Pháp (tiếng Anh viết là “serenade”), bắt nguồn từ tiếng Ý “serenata”. Theo các nhà ngữ học, “serenata” có nguồn gốc từ chữ “sereno”, trong tiếng Ý có nghĩa là thanh tịnh – peaceful.

“Serenata” có từ thời trung cổ, và được định nghĩa là thể loại ca khúc êm dịu, được một anh chàng si tình nào đó, đứng trước nhà người đẹp, hướng lên cửa sổ, hay ban-công của phòng nàng mà hát để tỏ tình – như chàng Romeo đã tỏ tình với nàng Juliet trong kịch cổ điển của Shakespeare.

Về sau, tới thời kỳ lãng mạn của nhạc cổ điển, đa số các nhà soạn nhạc đã sử dụng chữ “sérénade” của Pháp thay vì “serenata” của Ý, đồng thời nội dung cũng như hình thức của “sérénade” đã được nới rộng.

Về nội dung, “sérénade” có thể để tặng người yêu, bạn thân, hay một người nào đó ngang hàng, hoặc vai vế thấp hơn, mà mình quý mến.

Về hình thức, “sérénade” có thể là một ca khúc êm đềm, một nhạc khúc đơn giản – như trường hợp bản Sérénade của Schubert, cũng có thể là một bản giao hưởng ngắn – như trường hợp bản Sérénade của Mozart có tựa đề “Eine Kleine Nachtmusik” (Tiểu dạ khúc) mà chúng tôi đã nhắc tới trong bài trước. Với ý nghĩa, nội dung ấy, sérénade thường được trình diễn lúc chiều tối.

Theo Von Hellbourn, một người bạn thân và cũng là người viết tiểu sử Schubert, thì bản Sérénade đã được nhạc sĩ sáng tác năm 1826, 2 năm trước khi qua đời.

Hôm ấy là một buổi chiều Chủ Nhật êm ả trong công viên Zum Biersack của thành Vienne. Sau một cuộc đi dạo, Schubert và các bạn vào quán cà-phê ngoài trời trong công viên. Tại đây, một người bạn của Schubert đang ngủ gục, với cuốn sách đặt trên bàn. Schubert tiến tới cầm cuốn sách lên, lật trang và vô tình đọc được một câu thơ, liền buột miệng: “Ước gì có được một tờ giấy viết nhạc” – tức giấy có kẻ hàng sẵn để ghi nốt nhạc.

Nghe Schubert nói thế, một người bạn nhanh trí lấy một tờ hóa đơn tính tiền, kẻ vội những hàng viết nhạc lên mặt sau, rồi đưa cho Schubert.

Ngay trong buổi chiều hôm ấy, Franz Schubert đã để lại cho hậu thế bản sérénade bất hủ.

Trước năm 1975, bản Sérénade của Schubert đã được Phạm Duy viết lời Việt với tựa “Dạ khúc”.

Năm 1928, tình trạng sức khỏe của Schubert ngày càng trở nên đáng ngại, với các triệu chứng giống như bệnh thương hàn. Mùa hè năm ấy, bạn bè của nhạc sĩ đã thỉnh được quan ngự y Ersnt Rinna, một vị danh y đương thời, tới chẩn đoán, và được ông cho biết Schubert sẽ không qua khỏi mùa đông này.

Thật vậy, tới đầu tháng 11, Schubert bị liệt giường, nhức đầu, lên cơn sốt và nôn mửa liên tục. Tới ngày 19 tháng 11 năm 1828, ông qua đời tại căn gác của người em trai ở thành Vienne, khi mới 31 tuổi.

So với các nhạc sĩ lừng danh khác của nền nhạc cổ điển, Franz Schubert không chỉ chết trẻ nhất, mà còn sống lận đận nhất. Cả đời, ông chưa bao giờ tìm được một việc làm chính thức, chưa bao giờ có một chỗ ở riêng cho mình, và thường phải sống nhờ vào trợ cấp của cha mẹ, sự giúp đỡ của bạn bè; và cuối cùng, nhà nhạc sĩ ấy cũng không có được một người tình đưa tiễn ông về nơi an nghỉ sau cùng.

Theo ước nguyện, Franz Schubert được mai táng bên cạnh mộ của Beethoven – người mà ông hằng tôn sùng – trong nghĩa trang Wahring ở ngoại ô thành Vienne.

Sáu mươi năm sau, tức năm 1888, Schubert và Beethoven được cải táng, đưa về Nghĩa trang trung ương Zentralfriedhof, nơi có mộ phần của hai nhà soạn nhạc lừng danh khác: Johann Strauss, tác giả bản Le Beau Danube Bleu, tức Dòng sông xanh, và Johannes Brahms, tác giả bản Célèbres Valses, tức Mối tình xa xưa.
Năm 1925, để chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày Franz Schubert qua đời, chính quyền thành Vienne đã cho cải biến nghĩa trang cũ ở làng Wahring thành “Công viên tưởng niệm Franz Schubert”. Huyệt mộ ngày trước nay được đánh dấu bằng một pho tượng bán thân của ông. Còn tại ngôi mộ mới của ông ở nội thành, thi sĩ Franz Grillparzer đã ghi lên mộ bia hàng chữ:

“Nơi đây, âm nhạc đã vùi chôn một kho tàng, và biết bao ước vọng”.

* * *

Viết thêm về “AVE MARIA”

Nếu không kể những bản Ave Maria mang tính cách thuần tôn giáo, người ta được biết có ít nhất là ba bản Ave Maria của “người đời”, trong đó nổi tiếng nhất là “Ave Maria của Schubert” (đã nhắc tới trong bài) và “Ave Maria của Bach/Gounod”.

Bản Ave Maria của Bach/Gounod ra đời năm 1859 (34 năm sau bản Ave Maria của Schubert – tức “Ellens’ Third Song”). Ngày ấy, nhà soạn nhạc người Pháp Charles Gounod đã lấy một khúc nhạc của Johan Sebastian Bach viết trước đó 137 năm, sửa đổi lại cho phù hợp, rồi lồng lời kinh “Ave Maria” bằng tiếng La-tinh vào.
Kết quả, hậu thế đã có thêm một bản Ave Maria bất hủ.

Với những người thưởng thức nhạc cổ điển có trình độ cao, nét nhạc của bản “Ave Maria của Bach/Gounod” được đánh giá là trang trọng, thanh thoát hơn, vì mang âm hưởng của thời kỳ tiền cổ điển, tức Baroque era, trong khi bản “Ave Maria của Schubert”, sáng tác vào đầu thời kỳ lãng mạn, thì dễ nghe, dễ cảm, và dễ hát hơn hơn.

Vì thế, nếu tính chung tất cả mọi thành phần nghe nhạc và hát nhạc cổ điển thuộc mọi trình độ, bản “Ave Maria của Schubert” được xem là phổ biến hơn.

Vào thuở xa xưa, bản Ave Maria của Bach/Gounod thường được hát trong hôn lễ, còn bản Ave Maria của Schubert thường được hát trong tang lễ. Nhưng càng về sau càng có nhiều người sử dụng Ave Maria của Schubert trong hôn lễ; và hiện nay, theo một danh sách 10 ca khúc được ưa chuộng nhất trong hôn lễ được phổ biến trên Internet, Ave Maria của Schubert đứng hạng nhất, còn Ave Maria của Bach/Gounod đứng hạng tư.

Nhưng dù sử dụng bản Ave Maria của Schubert hay Ave Maria của Bach/Gounod, cũng cần biết quy tắc của Thiên chúa giáo (Công giáo, Tin lành, hay bất cứ hệ phái nào có tổ chức nghi thức hôn phối trong thánh đường).

Thông thường, một lễ cưới trong thánh đường gồm có 3 phần: (1) Prosession (cô dâu từ cuối nhà thờ tiến lên) – (2) Ceremony (buổi lễ hôn phối) – (3) Resession (đôi tân hôn rời vị trí).

Theo đúng quy tắc, bản Ave Maria chỉ được hát TRONG BUỔI LỄ vào một khoảng thời gian im lặng nào đó SAU KHI nghi thức hôn phối đã được cử hành. Còn trong phần Prosession (cô dâu tiến lên), đã có những khúc nhạc dành riêng, được soạn theo nhịp bước của cô dâu, và trong phần Resession (đôi tân hôn rời vị trí) thì sử dụng những nhạc khúc, ca khúc viết về sự vui mừng, mà một trong những bản phổ biến nhất, ý nghĩa nhất là “Ode to Joy” của Beethoven.

Trường hợp muốn du di, có thể sử dụng bản Ave Maria cho phần Prosession, nhưng dứt khoát không thể sử dụng cho phần Resession, bởi vì Ave Maria là một bài kinh (kinh Kính Mừng), không thể sử dụng như một ca khúc “mãn tuồng”!

(Hoài Nam)

Nhạc sĩ Franz Schubert, tranh sơn dầu của Wilhelm August Rieder (1875), làm trực tiếp từ bức tranh chân dung màu nước vẽ năm 1825.
Nhạc sĩ Franz Schubert, tranh sơn dầu của Wilhelm August Rieder (1875), làm trực tiếp từ bức tranh chân dung màu nước vẽ năm 1825.

Ave Maria – Danh ca Thái Thanh:

Ave Maria – Ca sĩ Andrea Bocelli:

Ave Maria – Ca sĩ Maria Callas:

Ave Maria – Ca sĩ Barbara Bonney:

Ave Maria – Ca sĩ Sarah Brightman:
Seranade – Nhạc sĩ guitar Cesar Amaro:

 

Seranade – Đại danh cầm piano Horowitz:

Seranade – Ca sĩ Nana Mouskouri:

 

Kim Phượng st & tổng hợp

 

 

Ảnh bìa facebook về tình yêu âm nhạc đẹp số 16

 

 

 

 

 


     

 
 
 
Xem thêm...

Nguyễn Đình Toàn: Từ Đồng Cỏ Tới Áo Mơ Phai

Nguyễn Đình Toàn

Từ Đồng Cỏ Tới Áo Mơ Phai

~~<><><><>~~

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn

 

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai

                                       Nguyễn Đình Toàn

 

TIỂU SỬ:

     Nguyễn Đình Toàn có bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân nhưng thành danh với tên thật và cũng là bút hiệu chính thức sau này; sinh ngày 6 tháng 9 năm 1936 tại huyện Gia Lâm, bên bờ sông Hồng, ngoại thành Hà Nội.

Di cư vào Nam 1954, Nguyễn Đình Toàn bắt đầu viết văn làm thơ, viết kịch, viết nhạc, cộng tác với các tạp chí Văn, Văn Học [trong nhiều năm, Nguyễn Đình Toàn phụ giúp Trần Phong Giao tuyển chọn thơ và truyện cho báo Văn].

Nguyễn Đình Toàn cũng viết feuilleton cho các nhật báo Tự Do, Chính Luận, Xây Dựng, Tiền Tuyến; biên tập viên đài phát thanh Sài Gòn, nổi tiếng với chương trình Nhạc Chủ Đề trong những năm 1970s. Sau 1975, cùng chung số phận như mọi văn nghệ sĩ Miền Nam, Nguyễn Đình Toàn bị bắt hai lần và đi tù cải tạo một thời gian gần sáu năm.

Sang Mỹ định cư từ cuối năm 1998, Nguyễn Đình Toàn và vợ, chị Thu Hồng cùng phụ trách chương trình Đọc Sách cho đài phát thanh VOA, Nguyễn Đình Toàn còn viết cho tuần báo Việt Tide mục Văn Học Nghệ Thuật của nhà văn Nhật Tiến cho tới khi nghỉ hưu. Gia đình Nguyễn Đình Toàn hiện sống tại Nam California.

 Tác phẩm đã xuất bản:

 Văn:

-Chị Em Hải (truyện, Nxb Tự Do 1961)

-Những Kẻ Đứng Bên Lề (truyện, Nxb Giao Điểm 1974)

-Con Đường (truyện, Nxb Giao Điểm 1965) 

-Ngày Tháng (truyện, Nxb An Tiêm 1968)

-Phía Ngoài (tập truyện, viết chung với Huỳnh Phan Anh, Nxb Hồng Đức 1969)

-Đêm Hè (truyện, Nxb Hiện Đại 1970) 

-Giờ Ra Chơi (truyện, Nxb Khai Phóng 1970) 

--Đêm Lãng Quên (Nxb Tân Văn 1970) 

-Không Một Ai (truyện, Nxb Hiện Đại 1971) 

-Thành Phố (truyện, Nxb Kẻ Sĩ 1971)

 -Đám Cháy (tập truyện, Nxb Tân Văn 1971)

-Tro Than (truyện, Nxb Đồng Nai 1972) 

-Áo Mơ Phai (truyện, Nxb Nguyễn Đình Vượng 1972)

-Đồng Cỏ (truyện, Nxb Đồng Dao/ Úc châu  1994).

 

Thơ: Mật Đắng (thơ, Nxb Huyền Trân 1962)

Kịch: các vở kịch Nguyễn Đình Toàn đều là kịch truyền thanh, trừ Cơn Mưa được trích đăng trong bộ môn Kịch Văn Học Miền Nam của Võ Phiến, những bản thảo khác đều thất lạc.

 

Chiến dịch đốt sách sau 1975

 những cuốn sách "tro than" của Nguyễn Đình Toàn 

 

Nhạc: Hiên Cúc Vàng (tập nhạc, 1999) 

-Tôi Muốn Nói Với Em (tập nhạc, 2001)

-Mưa Trên Cây Hoàng Lan (tập nhạc, 2002).

Bông Hồng Tạ Ơn I & II (Nxb Đêm Trắng 2006, 2012)

 Áo Mơ Phai đoạt giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật 1973.

 

Nguyễn Đình Toàn_ ký hoạ Tạ Tỵ

 

 

Nguyễn Đình Toàn_ trái: photo by Trần Cao Lĩnh;

phải: photo by Nguyễn Ngọc Dung, con gái nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm 

 

CHỊ EM HẢI

     Có lẽ Nguyễn Đình Toàn viết khá sớm từ những ngày niên thiếu ở Hà Nội, cũng lập bút nhóm và chọn bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân. Khi di cư vào Nam, thời gian ban đầu, Nguyễn Đình Toàn sống chung với gia đình Nhật Tiến.

Không có tiền mua giấy trắng, những trang bản thảo đầu tiên của Nguyễn Đình Toàn đã được viết trên mặt sau của các bản tin VN Thông Tấn Xã phế thải. Khi bắt đầu có tác phẩm xuất bản, Toàn quyết định lấy tên thật làm bút hiệu.

 Chị Em Hải là tác phẩm đầu tay của Nguyễn Đình Toàn, ít được nhắc tới nhưng đã mang ngay dấu ấn văn phong của Con Đường Nguyễn Đình Toàn xuyên suốt qua các tác phẩm văn học của Nguyễn Đình Toàn sau này.

Bản thảo Chị Em Hải, được ký giả Lô Răng Phan Lạc Phúc chuyển tới nhà báo Phạm Xuân Ninh rồi tới tay nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, tác giả Khói Sóng, lúc đó đang là tổng thư ký nhật báo Tự Do.

 Như Phong nhìn ngay được viên ngọc ẩn thạch, nhận ra văn tài của Nguyễn Đình Toàn nên đã để cơ sở báo chí Tự Do xuất bản ngay cuốn sách này cùng với cuốn Thử Lửa của Thao Trường [tiền thân của bút danh Thảo Trường sau này].

Cùng năm sinh 1936, với hai tác phẩm đầu tay, Nguyễn Đình Toàn và Thảo Trường đều mau chóng trở thành hai tên tuổi văn học của Miền Nam.

 

 

 

Vũ Hoàng Chương chết ngay sau khi ra khỏi trại tù cộng sản 06/1976.

 [Nguồn: tư liệu của Nhật Tiến]

ÁO MƠ PHAI

      Vào thập niên 1960s, nhiều nhà văn Miền Nam, có số lượng sách khá đồ sộ một phần do lối viết feuilleton cho các nhật báo, bên cạnh đó là những truyện kiếm hiệp Kim Dung, truyện dịch Quỳnh Dao nhằm đáp ứng nhu cầu mọi thành phần độc giả thời bấy giờ.

 Viết feuilleton, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ còn gọi viết truyện nhật trình; đó là những tiểu thuyết, truyện dài được các tác giả viết mỗi ngày và đăng từng kỳ báo. Điển hình là nhà văn Mai Thảo, cùng một lúc nhận viết truyện dài cho nhiều tờ báo, đôi khi tới ngồi viết ngay tại toà soạn, đưa từng trang viết chưa ráo mực cho nhà in để kịp sắp chữ.

     Rồi cũng phải kể tới tình huống một feuilleton do nhiều người viết, điển hình là truyện dài "Một Triệu Đồng" của nhà báo Như Phong đăng trên nhật báo Tự Do, khi Như Phong bị lao phổi, do truyện đang ăn khách, toà soạn quyết định tiếp tục.

Trong hồi ký Tôi Làm Báo, nhà văn nhà giáo Tạ Quang Khôi kể lại: "Do, ông Nguyễn Hoạt yêu cầu mỗi người viết một đoạn để chờ ông Như Phong đi làm lại". Và truyện dài của nhà báo Như Phong đã được nhà thơ Đinh Hùng, nhà báo Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và sau đó là Tạ Quang Khôi viết thay cho tới khi nhà báo Như Phong trở lại toà báo.

  Gần như một phong trào, không thiếu những nhà văn danh tiếng cũng tham dự vào phong trào viết tiểu thuyết feuilleton như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Đình Toàn, Thảo Trường, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Nhã Ca, Tuý Hồng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ... nhiều người xem đó như thứ sản phẩm giải trí ngắn hạn đáp ứng nhu cầu của xã hội tiêu thụ.

Nhà văn Sơn Nam cũng viết feuilleton nhưng chính Sơn Nam sau này lên tiếng phủ nhận, không coi đó là những tác phẩm văn học. Công bằng mà nói tiểu thuyết feuilleton không phải không có tác phẩm hay phải nói là rất hay. Chất lượng tác phẩm tuỳ theo thái độ chọn lựa và cách viết của mỗi tác giả. 

  Nguyễn Đình Toàn cũng không là một ngoại lệ. Trừ Chị Em Hải là tác phẩm được viết xong rồi xuất bản, hầu hết các tác phẩm còn lại của Nguyễn Đình Toàn đều là tiểu thuyết feuilleton sau đó được in thành sách như Con Đường [nhật báo Tự Do], Đồng Cỏ [nhật báo Chính Luận], Áo Mơ Phai [nhật báo Xây Dựng], và những cuốn khác trên nhật báo Tiền Tuyến mà chính Nguyễn Đình Toàn cũng không còn nhớ.

 Nguyễn Đình Toàn có một đức tính là các trang bản thảo chỉ viết một lần, không sửa chữa và giao thẳng cho thợ nhà in sắp chữ. [Nguyễn Mộng Giác sau này là người thứ hai cũng viết bản thảo chỉ một lần không sửa chữa]. Nguyễn Đình Toàn cho rằng chưa hề hy sinh tính văn chương khi chọn viết những truyện dài feuilleton như vậy.

   Nếu theo thứ tự xuất bản, thì Áo Mơ Phai là cuốn sách feuilleton thứ 13 của Nguyễn Đình Toàn, và cũng là tác phẩm được trao giải Văn Học Nghệ Thuật 1973. 

 Khi viết bài điểm sách Áo Mơ Phai, Huỳnh Phan Anh, đã nhận định: "Phải nhìn nhận rằng yếu tố 'truyện' là cái gì quá nghèo nàn trong Áo Mơ Phai, truyện dài. Một độc giả bình thường có thể thất vọng sau khi đọc Áo Mơ Phai

Người đọc có thể xếp cuốn sách lại với nỗi bàng hoàng nào đó, có lẽ người đọc sẽ khó thâu tóm 'câu truyện' mà tác giả đã dùng trên 300 trang sách để kể. Có thể câu truyện thật sự của Áo Mơ Phai không thể tách rời khỏi từng trang Áo Mơ Phai, nghĩa là không thể giản lược tóm thâu mà không làm mất ý nghĩa của nó. 

 

Có thể vì câu truyện thực sự của Áo Mơ Phai là cái gì chưa hoàn tất, nói một cách nào đó, hãy còn vắng mặt, hãy còn hứa hẹn." [Văn Học 10/02/1974]   

 

 

  Cũng trên tạp chí Văn Học 1974, Nguyễn Đình Toàn đã nói về kỹ thuật xây dựng Áo Mơ Phai như một tác phẩm tâm đắc của mình: "Mỗi tác phẩm đã viết ra như que diêm đã được đốt cháy, nhà văn có bổn phận phải sáng tạo, dù rằng toàn bộ tác phẩm chỉ là sự nối dài từ cuốn đầu tiên.

Nhiều người đã nói tôi dùng lối viết quá dài, cả trang không chấm trong Áo Mơ Phai này mới mang đủ sắc thái không khí của Hà Nội. Nhân vật chính trong tác phẩm không phải là những nhân vật được nhắc tới trong sách mà chính là thành phố Hà Nội. 

Ai sống ở nơi này thường có cái cảm tưởng đang sống trong một giấc mơ, có lẽ là giấc mơ không bao giờ phai nhạt với sương mù cơn mưa sướt mướt hơi lạnh của mùa thu… Áo Mơ Phai thoát ra từ cơn mơ đó từ khi tôi xa Hà Nội mới 17 tuổi.”

  Ba mươi hai năm sau [9/10/2006] trong buổi mạn đàm với Hoàng Khởi Phong trên RFA, khi được hỏi về Áo Mơ Phai Nguyễn Đình Toàn bày tỏ: "Có những người thức thời, nhìn xa trông rộng, có thể tiên đoán dự liệu được những biến chuyển của thời cuộc, dĩ nhiên có những điều họ tiên đoán cũng có điều sai. Mà đúng hay sai thì chỉ khi nào sự việc xảy ra thì họ mới biết được. 

Tôi viết cuốn sách đó chỉ dựa trên những dự cảm đối với hoàn cảnh lịch sử cho một người chịu đựng hoàn cảnh lịch sử như chịu đựng sự đổi thay của thời tiết".  [HKP mạn đàm với NĐT, RFA 9/10/2006]

  Phát biểu của Nguyễn Đình Toàn khiến người ta liên hệ tới bài diễn văn của Albert Camus khi dự lễ nhận giải Nobel văn chương 1957 tại Stockholm, Camus đưa ra nhận định rằng ngày nay nhân loại gồm số nhỏ người làm lịch sử và đông đảo những người phải gánh chịu những hậu quả do biến cố lịch sử.

 Và tác giả La Peste / Dịch Hạch cho rằng vị trí của những người làm văn học nghệ thuật là đứng về phía những người khổ vì lịch sử. [Le rôle de l'écrivain, du même coup, ne se sépare pas de devoirs difficiles. Par définition, il ne peut se mettre aujourd'hui au service de ceux qui font l'histoire: il est au service de ceux qui la subissent. [Albert Camus, Discours de Suède 1957]    

  Áo Mơ Phai là dự cảm về một thành phố Hà Nội sắp mất, Đồng Cỏ là một tác phẩm khác dự báo một Sài Gòn sắp mất. Nguyễn Đình Toàn mẫn cảm với thay đổi thời tiết cũng như với những biến chuyển của lịch sử. Dự cảm hay trực giác của nhà văn đi trước tấn thảm kịch, đi trước những đổ vỡ chia ly đã mang tính tiên tri.

   Đọc văn Nguyễn Đình Toàn, để sống với Hà Nội những ngày sắp mất nhưng cũng không bao giờ mất qua hơn 300 trang sách Áo Mơ Phai:

   "Tháng bẩy rồi tháng tám [1954, ghi chú của người viết] qua mau lẹ như những trận mưa đổ xuống không giờ giấc trong những đêm khuya, những buổi chiều. Người Hà Nội bỏ đi và chỉ trong một thời gian ngắn, Hà Nội như một cơ thể mắc chứng hoại huyết.

Từ những vùng quê xa, từng đoàn người lam lũ, lầm lũi, ngày ngày gồng gánh, lếch thếch đắt díu nhau về Hà Nội, nằm la liệt tại các công viên, xó xỉnh, vỉa hè, đầy ắp trong Toà Thị Chính, chờ để được đưa đi tới các phi trường, bến tầu, di cư vào Nam.

     Chiều chiều Lan thường ngồi trên bao lơn nhìn xuống khu phố đôi lúc vắng vẻ, đôi lúc chen chúc những đám dân quê níu áo nhau đi như chạy, nhìn những tàn cây trước nhà, cây gần nhất có những cành xoè tới sát bao lơn như những cánh tay, những hàng cây xa dọc theo các khu phố, một ngày, một buổi chiều, bao nhiêu lá đều vàng hết, rồi cũng trong một ngày nữa, tất cả lá như tấm áo khoác của thành phố ấy phai thêm một lần nữa, trút khỏi cành như những giấc mơ rời khỏi vầng trán khô cằn, những sợi tóc rụng khỏi chiếc đầu đau ốm.

     Trong nhiều ngày, Lan có cảm tưởng cơn bệnh của thành phố, của những hàng cây lây sang nàng, Lan thấy chân tay nặng nề không muốn cử động, hơi thở khó khăn.

     Nàng mong đợi ngày đi để đi cho xong, cầu nguyện cho ngày khởi hành đừng đến vội, để còn được ở lại đây thêm nữa, ở lại Hà Nội, chia xẻ nỗi đau đớn của Hà Nội, sống với Hà Nội, chết với Hà Nội, rũ rượi với Hà Nội, rõ ràng là Hà Nội đang kiệt sức, những giọt mưa đọng trên các cành cây, những ngọn lá, chẳng khác Hà Nội khóc."  [Áo Mơ Phai, Ch.9, Nxb Nguyễn Đình Vượng 1972]   

 

      GIẢI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT LẦN HAI

     Sau 1975, những gì đốt được thì không còn, Nguyễn Đình Toàn cho biết: "không còn một tấm hình nào về cái ngày phát giải VHNT ấy cả. Nhưng cái huy chương thì lạ lắm. Có một người bạn trẻ, đã mua được tấm huy chương đó trên một vỉa hè ở Hà Nội, mang về đây tặng lại cho mình. Hắn nói 'cháu trao tặng bác giải thưởng lần thứ hai'. Bữa hắn mang tới cho mình có mặt Cao Xuân Huy và bạn Huy là Trần Như Hùng, đài phát thanh Úc Châu.

Sự việc, Cao Xuân Huy cho là quá hi hữu, có ý viết thành một truyện ngắn". Toàn nói: đó là "cuộc phiêu lưu của con dế mèn" [tên một truyện nhi đồng của Tô Hoài]. Cầm trên tay tấm huy chương bằng đồng mạ vàng đã hoen rỉ theo màu thời gian của 42 năm lưu lạc, tôi nói đùa với vợ chồng Nguyễn Đình Toàn: cũng may là không phải vàng ròng, nếu không thì cũng đã bị đốt chảy trong một tiệm kim hoàn nào đó ngoài Hà Nội.

 Sách Nguyễn Đình Toàn được xếp vào loại văn hoá đồi truỵ sau 1975; nên tất cả bị tịch thu và trở thành "Tro Than", như tên một tác phẩm định mệnh Nguyễn Đình Toàn trong chiến dịch đốt sách lan rộng khắp Miền Nam thời bấy giờ.

  Giải Văn Học Nghệ Thuật 72-73 không phải chỉ có tấm huy chương, mà còn kèm theo số hiện kim 600,000 đồng tương đương với 40 lượng vàng theo thời giá bấy giờ. Tưởng cũng nên nói thêm về giải Văn Học Nghệ Thuật 1961, với số hiện kim 40,000 đồng lúc đó đủ cho nhà văn Nhật Tiến mua một xe hơi Renault 4CV còn chạy tốt cho tới những năm về sau này.

Cho dù Nguyễn Vỹ có than thở "nhà văn An Nam khổ như chó" nhưng thực ra trong xã hội Việt Nam, họ vẫn là thành phần được quý trọng. 

 

 Hai mặt của tấm huy chương. Giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn quốc do

Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà sáng lập 

   

 

 

Ông Nguyễn Đình Toàn giải chính thức tiểu thuyết (72-73)

với tác phẩm Áo Mơ Phai

 

NHÓM ĐÊM TRẮNG

     Từ 1954, trong vòng 20 năm của Miền Nam, các phong trào văn học được tự do nở rộ. Tự Lực Văn Đoàn được tiếp nối với Văn Hoá Ngày Nay của Nhất Linh, nhóm Sáng Tạo của Mai Thảo Thanh Tâm Tuyền phủ nhận nền văn học tiền chiến với nỗ lực làm mới văn chương, nhóm Quan Điểm của Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ; rồi tới nhóm Đêm Trắng [cũng có thể gọi là nhóm La Pagode nơi họ tụ tập sinh hoạt] được xem như nhóm Tiểu Thuyết Mới của Sài Gòn.

Nhóm 6 người ấy đa số xuất thân nhà giáo: Huỳnh Phan Anh, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Xuân Hoàng, trừ Nguyễn Đình Toàn và Nguyễn Quốc Trụ. Ý kiến khởi đầu lập Nxb Đêm Trắng là từ Huỳnh Phan Anh, để chỉ xuất bản các sáng tác của nhóm. Tuy mang tên nhóm nhưng họ là những cây bút độc lập, có chung ý hướng là tự làm mới cách viết của mỗi người.

Nổi bật trong nhóm này là Nguyễn Đình Toàn với kỹ thuật viết mới, viết truyện mà không có truyện, những trang chữ là một chuỗi những hình ảnh tạo cảm xúc và là một trải dài độc thoại nội tâm.

Nguyễn Đình Toàn thành công trong nỗ lực tự làm mới văn chương nhưng không vì thế mà bảo ông chịu ảnh hưởng và chạy theo phong trào tiểu thuyết mới của Pháp. Thanh Tâm Tuyền và Dương Nghiễm Mậu là hai tên tuổi khác cũng được nhắc tới khi nói về khuynh hướng tiểu thuyết mới ở Sài Gòn lúc bấy giờ.

 Tưởng cũng nên nhắc tới ở đây, Hoàng Ngọc Biên không ở trong nhóm Đêm Trắng nhưng chính anh là người đầu tiên thực sự nghiên cứu về phong trào Nouveau Roman của Pháp, vào giữa thập niên 1950’s với các tên tuổi như Alain Roble-Grillet, Nathalie Sarraute, Michel Butor, Claude Simon.

Hoàng Ngọc Biên đã dịch một số tác phẩm của Alain Roble-Grillet và cũng thể hiện quan niệm tiểu thuyết mới ấy qua tập truyện Đêm Ngủ ở Tỉnh do Cảo Thơm xuất bản Sài Gòn, 1970.

Cũng theo Hoàng Ngọc Biên, thì ngoài danh xưng, trong 20 năm Văn Học Miền Nam thực sự đã không có một phong trào Tiểu Thuyết Mới tại Sài Gòn "theo cái nghĩa thời thượng" của phong trào Tiểu Thuyết Mới xuất phát từ Tây Phương.

NHẠC THOẠI CỦA NHẠC CHỦ ĐỀ

     Vào thập niên 1960, có ba chương trình nhạc được thính giả yêu thích là chương trình Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng, Tiếng Nhạc Tâm Tình do ca sĩ Anh Ngọc và Mai Thảo phụ trách, và chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn.

Mỗi chương trình có một sắc thái hay riêng, nhưng có lẽ “Nhạc chủ đề” trên đài phát thanh Sài Gòn ngày ấy vào mỗi tối thứ Năm được chờ đợi đón nghe nhiều nhất. Những lời dẫn quen thuộc với giọng đọc trầm ấm của Nguyễn Đình Toàn như nhập tâm vào mỗi thính giả:

Tình ca – những tiếng nói thiết tha nhất của một đời người – bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau… Tất cả mùa màng, thời tiết, hoa lá, cỏ cây của cái vùng đất thần tiên đó, kết hợp lại, làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta

  

 

Nguyễn Đình Toàn 1 - Nhạc Chủ Đề 1970

Tình Ca Việt Nam [Thu Âm Trước 1975]

 

Không phải chỉ có nữ giới, mà cả phái nam cũng rất mê chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Ở Sài Gòn là giới thanh niên sinh viên, nơi chiến trường xa là những người lính.

 Người lính, sau này trở thành thương phế binh, nhà thơ Phan Xuân Sinh hiện sống ở Houston Texas đã bồi hồi kể lại: "Cho đến bây giờ lớp tuổi trên dưới 60... tôi còn nhớ lúc đó ngoài chiến trường với chiếc radio transistor nhỏ bằng bao thuốc, một cái ecouteur gắn vào tai.

 Chúng tôi có những giây phút chìm vào chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Ông đã mang lại cho chúng tôi những giờ nghỉ ngơi thật tuyệt vời khi đối đầu với chiến trường".

 Gs Nguyễn Văn Tuấn từ Viện nghiên cứu Y khoa Garvan Úc Châu trước và sau 1975 là một "fan" của chương trình Nhạc Chủ Đề. Anh Nguyễn Văn Tuấn viết: "Tôi tưởng tượng rằng như có một phép màu nào, xoay ngược lại thời gian.

Kìa tôi, trong một hình hài nào đó, giữa đêm lập loè ánh điện, đang ngồi áp tai vào radio, ngồi nuốt từng lời dẫn của Nguyễn Đình Toàn, thả hồn vào những giai điệu tuyệt đẹp tuyệt vời của những bản tình ca không bao giờ tàn lụi...

" Rồi mới đây sau khi nghe lại CD Tình Ca Việt NamNguyễn Đình Toàn 1970, anh đã phải thốt lên: "mỗi lời dẫn cho một bản nhạc ở đây là một "nhạc thoại" một tác phẩm khác. 

Nó thể hiện tính thẩm văn và thẩm nhạc của người tuyển chọn là Nguyễn Đình Toàn". Rồi cuối cùng, hai người bạn họ Nguyễn ấy như Bá Nha Tử Kỳ cùng một kiếp tha hương, họ cũng đã gặp nhau không phải trên "một quê hương Việt Nam sợ hãi - chữ của Nguyễn Đình Toàn trong Đồng Cỏ" mà trên lục địa Mỹ Châu thênh thang tự do nhưng vẫn là lưu đầy.

 Truyện Nguyễn Đình Toàn rất giàu hình ảnh và nhiều chất thơ có thể đọc như một bài thơ xuôi/ prose poem. Khi đặt lời cho một bản nhạc thì tự thân phần lời ấy đã là một bài thơ. 

Nguyễn Đình Toàn viết nhạc, nổi tiếng với một số nhạc khúc, nhưng có lẽ những nốt nhạc được cất cánh từ những ý thơ ban đầu của Nguyễn Đình Toàn. Lời bản Tình Khúc Thứ Nhất đã là một thi phẩm trước khi kết hợp với phần nhạc của Vũ Thành An.

 

TÌNH KHÚC THỨ NHẤT 

Nhạc Vũ Thành An- Thơ Nguyễn Đình Toàn

Tiếng hát Lệ Thu 

 

Tình vui theo gió mây trôi

Ý sầu mưa xuống đời

Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi

Mấy tuổi xa người

Ngày thần tiên em bước lên ngôi

Đã nghe son vàng tả tơi

Trầm mình trong hương đốt hơi bay

Mong tìm ra phút sum vầy

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai

Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài

Lời nào em không nói em ơi

Tình nào không gian dối

Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say

Lá thốt lên lời cây

Gió lú đưa đường mây

Có yêu nhau xin ngày thơ ngây

Lúc mắt chưa nhạt phai

Lúc tóc chưa đổi thay

Lúc môi chưa biết dối cho lời

Tình vui trong phút giây thôi

Ý sầu nuôi suốt đời

Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không đền

Dù trời đem cay đắng gieo thêm

Cũng xin đón chờ bình yên

Vì còn đây câu nói yêu em

Âm thầm soi lối vui tìm đến

Thần tiên gẫy cánh đêm xuân

Bước lạc sa xuống trần

Thành tình nhân đứng giữa trời không

Khóc mộng thiên đường

Ngày về quê xa lắc lê thê

Trót nghe theo lời u mê

Làm tình yêu nuôi cánh bay đi

Nhưng còn dăm phút vui trần thế 


 
 

NƯỚC SÔNG MEKONG MÁU CỦA ĐẤT

      Các tác phẩm văn học lớn thường mang những dự cảm hay cả viễn kiến có thể liên hệ với cuộc sống. Truyện Kiều là một ví dụ: hoàn cảnh nào cũng có thể liên hệ với một câu thơ của Nguyễn Du.

 Tôi không nói rằng Nguyễn Đình Toàn đã sáng tác những tác phẩm lớn, nhưng từ các trang sách của anh, tôi đã tâm đắc tìm thấy ở đấy những dự cảm để dễ dàng đưa vào trích dẫn. Nguyễn Đình Toàn đã ví nước sông Mekong như "máu của đất" trước viễn tượng một Cửu Long Cạn Dòng.

 Và khi có tin cặp vợ chồng ngư dân Nguyễn Văn Chơn cư ngụ tại huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp mười ngày trước Giáng Sinh đã rất đỗi vui mừng khi lưới được một con cá đuối khổng lồ trên sông Tiền, đoạn giữa hai xã Tân Mỹ và Tân Khánh Trung.

Con cá đuối có chiều dài hơn 4 mét ngang 2 mét và nặng tới 270 ký. Cá đuối hay Selachian, tên khoa học là chondrichthyes, thuộc loài cá sụn là giống cá nước mặn. Trong niềm vui lưới được con cá đuối nước mặn to khủng trên khúc sông Tiền cũng chính là tín hiệu của thảm hoạ:Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai” như lời thơ Nguyễn Đình Toàn, bởi vì nạn ngập mặn / salt intrusion đã càng ngày càng lấn vào rất sâu vào vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi vốn là vùng đất của “phù sa, lúa gạo, cây trái và tôm cá đầy đồng...”  [CLCD BĐDS, Ch. XIV, Nxb Văn Nghệ 2000]

 BÀ TÚ XƯƠNG THU HỒNG

     Tôi quen Nguyễn Đình Toàn có lẽ khởi đầu từ những trang sách Chị Em Hải, rất sớm khi còn là sinh viên Khoa học. Quán cà phê La Pagode thường là nơi có thể dễ dàng gặp Toàn và các bạn văn nghệ của anh, cũng là nơi hình thành nhóm Đêm Trắng sau này. Nguyễn Đình Toàn ngoài giờ làm ở đài phát thanh, hầu như thường ngày ra ngồi viết nơi quán Cái Chùa này.

 Chỉ được gặp chị Toàn khi tới thăm căn nhà rất nhỏ của anh chị, trước nhà có hàng cây trứng cá, trong một con hẻm cũng rất nhỏ phía sau đài phát thanh Sài Gòn. Chị Thu Hồng, tên người bạn đời tấm cám hơn 60 năm của Nguyễn Đình Toàn, chị nhỏ hơn Nguyễn Đình Toàn sáu tuổi, chị có vẻ đẹp với cá tính mà các hoạ sĩ rất muốn vẽ, một thứ người mẫu cho những bức tranh của Modigliani cộng thêm với cái trán cao bướng bỉnh khi chọn lựa và chấp nhận sự thách đố của số phận. Chị cũng là xướng ngôn viên cho một chương trình của đài phát thanh Sài Gòn.

 Thời kỳ ấy, Toàn thì bị lao phổi khá nặng, lại mới có một đứa con đầu lòng. Thuốc chữa bệnh lao lúc đó rất hiếm hầu như chỉ có hai thứ: thuốc viên Rimifon, và thuốc chích Streptomycin có thể gây điếc. Toàn thường ho ra máu, sức khoẻ suy kiệt và thường xuyên bị ám ảnh bởi cái chết giữa tuổi mới ngoài 20 ấy. 

Tập thơ Mật Đắng được sáng tác trong giai đoạn đen tối và gần như tuyệt vọng này. Võ Phiến khi viết về thi phẩm Mật Đắng của Nguyễn Đình Toàn, thay vì bốn cái khổ: sinh, bệnh, lão, tử "trong Mật Đắng không có cái lão, nhưng thay bằng cái ái, càng tệ hơn... Sinh, bệnh, ái, tử, nghe có hơi lạ tai một chút, dù sao cũng là chuyện của mọi nơi chốn, mọi thời đại". [Văn Học Miền Nam, Thơ, Nxb Văn Nghệ 1999].

 Trong bài thơ Úp Mặt, Nguyễn Đình Toàn viết:

Bàn tay vuốt mặt xương lồi

Hai mươi tư tuổi một đời cũng xong

 Có lẽ sức sống toả sáng nơi căn nhà nhỏ chật của vợ chồng Nguyễn Đình Toàn lúc ấy là nụ cười luôn luôn rạng rỡ và cả ẩn nhẫn của chị Thu Hồng, vợ Toàn. Với tôi, chị là hình ảnh nguyên mẫu của một bà Tú Xương lúc ấy và cho tới suốt cả những năm về sau này, chị bền bỉ đảm đương một gia đình bốn con và cả thăm nuôi Nguyễn Đình Toàn trong suốt thời gian gian tù đầy.

  "Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều", bà Tú Xương của thời hiện tại đã đảo nghịch lời tiên tri Mật Đắng, và Nguyễn Đình Toàn thì nay cũng đã vượt xa cái ngưỡng tuổi "cổ lai hy", tới tháng Chín 2015 này, Nguyễn Đình Toàn tròn 80 tuổi. 

 

 

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn và bà Tú Xương Thu Hồng

Huntington Beach Library 2014 [source: photo by Đặng Tam Phong]

 

  Rồi vợ chồng Nguyễn Đình Toàn cũng sang được Mỹ tuy khá trễ 1998. Và kể từ sau những năm 2000, sau bao tháng năm thăng trầm, chị Thu Hồng vẫn là hình ảnh một bà Tú Xương ngày nào, nhưng chị đã bắt đầu quên nhiều điều, quên những chuyện nhân sinh hiện tại.

Nhưng mỗi khi khi phone tới nhà không gặp Toàn, xin nói chuyện với "bà Tú Xương" thì bên kia đầu dây là một giọng cười ròn rã, chị nhận ra ngay ai đang nói chuyện với chị và nhớ lại đủ mọi điều.

Một hôm tới thăm anh chị cách đây không lâu, nửa buổi sáng câu chuyện rộn rã, khi ra về anh chị xuống thang đưa tiễn tôi ra xe, chị Toàn nói hồn nhiên: "hôm nào anh Vinh tới nhà tụi này chơi" Toàn nhắc chị, anh ấy vừa mới từ nhà mình xuống đây mà. 

Chị Toàn thì vẫn cười hồn nhiên. Tôi vẫn nghĩ nếu không có bà Tú Xương, có lẽ Toàn đã chẳng thể sống sót cho tới cái tuổi gần 80 như hôm nay. Toàn không phủ nhận điều ấy và dí dỏm nói, "cũng vì vậy mà bây giờ tôi đang trả nợ cho bà ấy",Toàn nói tới vai trò không thể thiếu hàng ngày phải chăm sóc người bạn đời của mình.

 Hai vợ chồng sống như đôi chim liền cánh, từ bấy lâu nay, Toàn đã không thể để chị ở nhà một mình.

 

Quanh năm buôn bán ở ven sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

  Nói tới thành tựu của một nền văn học, người ta chỉ nhắc tới những nhà văn, nhà thơ nhưng có lẽ không thể không nhắc tới những bà Tú Xương của mọi thời đại với bao nhiêu công khó hy sinh của họ. 

 MỘT CHÚT RIÊNG TƯ

     Ca sĩ Quỳnh Giao, trong bài viết về  "Nguyễn Đình Toàn, Dẫn Em Vào Nhạc" đã cho rằng "Nguyễn Đình Toàn là nghệ sĩ không cần được giới thiệu" điều đó có lẽ đúng với các thế hệ sống ở Miền Nam trong giai đoạn 1954-1975.

Nhưng với các thế hệ sinh ra và lớn lên sau 1975 ở trong nước cũng như ở hải ngoại, những bài viết giới thiệu một Nguyễn Đình Toàn tài năng trong nhiều lãnh vực văn, thơ, nhạc, kịch vẫn là điều cần thiết. 

Và đáng mừng là đã có rất nhiều bài viết về mọi khía cạnh của Nguyễn Đình Toàn, nghĩ tới một bài viết mới về Nguyễn Đình Toàn, câu hỏi được đặt ra là liệu còn gì để viết nữa nếu không phải là những chia xẻ chút riêng tư với một bạn văn và cũng là cố tri.

  Bài viết này gửi tới bà Tú Xương Thu Hồng và Nguyễn Đình Toàn tác giả Mật Đắng khi anh sắp bước vào tuổi 80 gần như một phép lạ.

 

  NGÔ THẾ VINH

 

  

Nước Mắt Cho Sài Gòn

(Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên)

Tác giả Nguyễn Đình Toàn

Tiếng hát Khánh Ly 

 

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên 
như giòng sông nước quẩn quanh buồn 
như người đi cách mặt xa lòng 
ta hỏi thầm em có nhớ không 

Sài Gòn ơi! Đến những ngày ôi hè phố xôn xao 
trong niềm vui tiếng hỏi câu chào 
sáng đời tươi thắm vạn sắc màu 
nay còn gì đâu... 

Ai đã xa nhớ hàng me già, thu công viên hoa vàng tượng đá 
thôi hết rồi mộng ước xa xôi, theo giòng đời trôi... 

Sài Gòn ơi! Đâu những ngày mưa mùa khoác áo đi 
tay cầm tay nói nhỏ câu gì 
Những quầy hoa quán nhạc đêm về 
Còn rộn ràng giọng hát Khánh Ly 

Sài Gòn ơi! Thôi hết rồi những ngày hát nhớ nhau 
Nhớ Phạm Duy với tình ca sầu 
mắt lệ rơi khóc thuở ban đầu 
Còn gì đâu 

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên 
mất từng con phố đổi tên đường 
khi hẹn nhau ta lạc lối tìm 
ôi tình buồn như đã sống thêm 

Sài Gòn ơi! Tôi mất người như người đã mất tôi 
như trường xưa mất tuổi thiên thần 
hy vọng xa hay mộng ước gần 
Đã lìa tan 

Trăng ơi trăng có còn chăng là 
Sao ơi sao, sao mờ lệ nhớ 

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên 
như hàng cây lá đỏ trông tìm 
Mắt trời trong cánh nhỏ chim hiền 
Đã ngậm sầu ngang môi lắng im 

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên 
như mộ bia đá lạnh hương nguyền 
Như trời sâu đã bỏ đất sầu. 
Còn gì đâu...

 

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, bên cạnh vợ và con gái (thứ 2 và 3 từ phải),

tại đêm nhạc “Một ngày sau chiến tranh.” (Hình: Văn Lan/Người Việt)

 

□ Kim Quy sưu tầm □□ 

Xem thêm...

Bài học từ 5 câu nói nổi tiếng của cựu TT Mỹ Franklin về tiền

Tại sao tờ 100 USD lại in

hình chân dung Benjamin Franklin?

Bài học từ 5 câu nói nổi tiếng của cựu TT Mỹ Franklin về tiền

Nhiều người Việt nam thích tờ 100 đô của Mỹ, nhưng chắc không mấy ai tò mò tự hỏi:

- Chân dung trên tờ tiền này là ai ?

Một số người đoán có lẽ đó là một vị Tổng thống nào đó của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Thực ra đó không phải chân dung của Tổng thống nào của Hoa Kỳ, mà là chân dung của một người đóng vai trò quan trọng trong Lịch sử Hoa Kỳ còn hơn hầu hết các Tổng thống.

Đó là một người khổng lồ của lịch sử nhân loại. Một người đa tài. Một nhà phát minh và sáng chế hàng đầu. Một nhà kinh doanh tài ba. Một nhà tư tưởng xuất sắc. Một chính khách lỗi lạc. Một trong những ‘Người Cha Lập Quốc’ (Founding Fathers) và Anh hùng dân tộc của Hoa Kỳ. Trong lịch sử nhân loại khó có ai có thể sánh được về tài năng và ảnh hưởng với con người này. Ông là BENJAMIN FRANKLIN.

Benjamin Franklin sinh ngày 17 tháng 1 năm 1706 tại phố Milk, Boston. Cha Ông, Josiah Franklin, là người làm nến, xà phòng và bán hàng tạp hóa. Mẹ ông là vợ thứ hai của Josiah. Benjamin là con thứ 15 trong 17 người con của cha mình.

Do việc làm ăn của người cha sa sút, năm lên 10, Benjamin buộc phải thôi hẳn việc học ở trường. Năm 12 tuổi, Ben bắt đầu làm công việc của một thợ in cho xưởng in của anh trai James. Do ham học, cậu đọc ngấu nghiến mọi thứ sách báo cậu có được.

Năm 1721, James Franklin lập ra một tờ báo lấy tên là New England Courant. Đây được coi là tờ báo độc lập đầu tiên ở xứ sở này. Khi đó, Ben tỏ ý muốn làm một người viết bài cho báo nhưng bị từ chối.

Cậu bèn gửi bài theo bưu điện với bút danh là Mrs Silence Dogood, có vẻ như của một mệnh phụ. Và thật bất ngờ, những bài của cậu đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Nó nêu ra những vấn đề xã hội mà rất nhiều thành phần quan tâm. Tuy nhiên, James đã rất khó chịu khi phát hiện ra tác giả của những bài viết này chính là thằng oắt em trai mình !

17 tuổi, Benjamin bỏ nhà tới Philadelphia để tìm việc làm. Những năm sau đó, chàng trai phải vật lộn mưu sinh. Chứng kiến sự trì trệ của xã hội, năm 1727, Franklin lập ra một hội lấy tên là Junto, gồm “những người thợ và thương nhân hy vọng hoàn thiện chính mình đồng thời hoàn thiện cộng đồng”.

Việc xuất hiện của Junto châm ngòi cho phong trào hình thành các tổ chức xã hội và nghề nghiệp khác nhau ở Philadelphia. Một trong những hoạt động quan trọng của Junto là đọc sách.

Để có nhiều sách cho mọi người đọc, Franklin đã lập ra Library Company of Philadelphia (Công ty thư viện Philadelphia). Tiền mua sách do các hội viên đóng góp và các độc giả trả phí khi mượn sách. Công ty này vẫn tồn tại cho đến ngày nay và trở thành một trong những thư viện vĩ đại nhất thế giới.

Năm 1730, Franklin thành lập xưởng in của riêng mình, đồng thời lập ra tờ báo The Pennsylvania Gazette. Tờ báo này nhanh chóng trở thành diễn đàn bàn về việc cải cách xã hội. Với tư cách chủ bút và là người viết những bài quan trọng đề xuất những tư tưởng cách mạng, Benjamin Franklin nhanh chóng có được uy tín của một nhà cải cách thông thái.


Con tem Franklin

.Cùng năm, Franklin nhận là cha của một đứa bé tên là William và không cho biết mẹ nó là ai. Ông đã nuôi William cho đến khi người này trưởng thành và được chính Ông dàn xếp để làm thống đốc New Jersey rồi trở thành nhân vật hoàn toàn bất đồng chính kiến với Ông: William là người bảo hoàng, trong khi Benjamin Franklin là nhà cải cách.

Tháng 9 năm đó, Franklin kết hôn (không hôn lễ) với bà Deborah Read, người đã từng có 2 đời chồng. Sau này, họ có với nhau 2 người con. Năm 1731, Franklin trở thành một trong những nhà lãnh đạo của Hội Tam Điểm ở Mỹ. Ông bắt đầu viết sách về tôn chỉ và hoạt động của hội này.

Năm 1743, Ông sáng lập Hội Triết Học Mỹ. Trong những năm tháng đó, vốn kiến thức mà ông tích lũy được về khoa học và kỹ thuật đã đưa Ông lên tầm một nhà khoa học thực thụ.

Ông phát hiện ra là có 2 loại điện và gọi chúng là điện âm và điện dương. Ông nêu ra nguyên lý bảo toàn điện tích. Ông phân loại được các chất thành chất dẫn điện và chất cách điện, nhờ đó đã không gặp nguy hiểm về tính mạng khi thu điện từ các đám mây.

Ông là người đầu tiên phát hiện ra sự khác nhau giữa hướng gió trong cơn bão và hướng di chuyển của cơn bão, một điều rất quan trọng đối với dự báo bão. Ông tìm ra nguyên lý làm lạnh bằng hiện tượng bay hơi và đã tạo ra được nhiệt độ âm 14 độ C trong môi trường mùa hè bằng cách cho ether bay hơi.

Ông có những sáng chế đi vào lịch sử khoa học kỹ thuật. Trong số đó có:

- Cột thu lôi,
- Kính 2 tròng, lin,
- Kính 2 tròng,
- Ống thông tiểu mềm,

Năm 1753, Franklin được trao tặng Huy Chương Copley của Hội Hoàng Gia Anh giống như Viện Hàn lâm Khoa học..

Năm 1762, Ông được Đại học Oxford trao bằng tiến sĩ danh dự.

Trong đời sống xã hội, Franklin cũng có những đóng góp lớn lao. Ông đã:

- Lập ra công ty cứu hỏa đầu tiên tại Mỹ;
- Thành lập viện hàn lâm Philadelphia .Thực chất là trường đại học;
- Thành lập viện hàn lâm Philadelphia .Thực chất là trường đại học;
- Cùng với Tiến sĩ Thomas Bond thành lập bệnh viện Pennsylvania .Bệnh viện đầu tiên ở Mỹ ;

Cuối thập niên 1740, Franklin bắt đầu các hoạt động với tư cách quan chức chính quyền. Ngoài các chức vụ trong chính quyền thành phố và vùng Pennsylvania .Khi đó chưa phải là một bang của HCQ Hoa Kỳ, vì chưa có liên bang. Ông còn đảm nhiệm công tác ngoại giao với Anh Quốc và Pháp..

Năm 1751, Ông được bầu vào quốc hội Pennsylvania.

Năm 1754, Franklin lãnh đạo phái đoàn Pennsylvania tham gia Đại hội Albany. Tại đó, Ông đưa ra một tuyên ngôn về Liên Minh Thuộc Địa. Mặc dù tuyên ngôn không được thông qua, nhưng nó là cơ sở về tư tưởng cho Hiến Pháp Hợp Chủng Quốc sau này.

Từ 1757 đến 1762, Franklin sống ở Anh để giành tâm lực cho cuộc đấu tranh chống lại các đặc quyền đặc lợi của một số nhân vật Hoàng Gia Anh tại Mỹ và đòi quyền lợi kinh tế và chính trị cho các thuộc địa của Anh trên đất Mỹ.

Năm 1763, Franklin thay mặt chính quyền Pennsylvania đứng ra dẹp một cuộc nổi loạn. Những người tham gia cuộc nổi loạn này khi đó đang tiến hành một cuộc trả thù tàn bạo đối với những người Indian Mỹ ,người ‘da đỏ’.

Như vậy, Franklin đã giúp người Indian Mỹ tránh được một cuộc thảm sát. Sau vụ đó, Franklin lớn tiếng lên án những quan điểm phân biệt chủng tộc hiện đang khá phổ biến trong dân chúng gốc Âu.

Trong các năm từ 1764 đến 1774, Franklin liên tục có mặt ở châu Âu để vận động cho công cuộc giải phóng thuộc địa Mỹ khỏi sự cai trị của Hoàng Gia Anh. Đến năm 1775 thì Ông trở thành phần tử nguy hiểm nhất trong mắt Hoàng Gia Anh. Tháng 3 năm đó, Ông rời Anh Quốc trở về Mỹ.

Ngày 5 tháng 5 năm 1775, chiến tranh cách mạng Mỹ bắt đầu. Trong cuộc chiến này, một số vùng mà sau này là các bang đã liên kết với nhau chống lại sự cai trị của Hoàng Gia Anh. Franklin được chọn làm đại diện của Pennsylvania tham gia Đại Hội Thuộc Địa lần 2.

Năm 1776, Franklin tham gia một ban gồm 5 người soạn thảo TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP trên cơ sở bản của Thomas Jefferson. Tháng 12 năm 1776, Franklin tới Pháp với tư cách công sứ Hoa Kỳ và làm việc tại đó mãi tới 1785.

Trong thời gian đó, Ông đã thuyết phục chính quyền cộng hòa Pháp tham gia liên minh quân sự với Hoa Kỳ. Uy tín của Ông ở Pháp lớn đến mức việc treo chân dung của Ông trong nhà trở thành mốt. Một người là le Ray Chaumont đã thuê họa sĩ Duplessis vẽ chân dung ông.

Đến nay, nguyên bản của bức chân dung này vẫn còn được treo trong Phòng Tranh Chân Dung Quốc Gia ở Washington DC, và đó chính là bản gốc của chân dung Ông trên tờ 100 đô Mỹ.

Năm 1785, khi trở về Mỹ, Franklin đã trở thành người có ảnh hưởng thứ hai ở đất nước này, chỉ sau George Washington.

Những năm tháng cuối đời, Ông dành hết tâm sức cho công cuộc giải phóng nô lệ, chủ yếu là người da đen gốc Phi.

FRANKLIN LÀ NGƯỜI DUY NHẤT ĐỂ LẠI CHỮ KÝ TRONG CẢ 4 VĂN KIỆN LẬP QUỐC CỦA HOA KỲ, TRONG ĐÓ CÓ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP VÀ HIẾN PHÁP.

Benjamin Franklin cũng có năng khiếu và tham gia hoạt động nghệ thuật. Ông từng chơi mấy loại nhạc cụ và sáng tác nhạc. Ông là hội viên Hội Nghệ Thuật Hoàng Gia Anh nhiều năm. 200 năm sau, vào năm 1956, hội này đã lập ra Huy Chương Benjamin Franklin để trao tặng cho những tài năng nghệ thuật xuất sắc.
Về quan điểm Tôn giáo, Franklin tin vào Chúa Jesus.

Về đức hạnh, cả đời Ông luôn giữ vững 13 đức tính: ôn hòa, kín tiếng, ngăn nắp, quyết đoán, tiết kiệm, siêng năng, chân thành, công bằng, điều độ, sạch sẽ, tĩnh tại, giản dị, khiêm tốn (temperance, silence, order, resolution, frugality, industry, sincerity, justice, moderation, cleanliness, tranquility, chastity, humility).

Benjamin Franklin mất ngày 14 tháng 4 năm 1790 tại Philadelphia.

Bài học từ 5 câu nói nổi tiếngcủa cựu TT Mỹ Franklin về tiền

Hình ảnh của cựu TT Mỹ Benjamin Franklin không chỉ được in sâu trong tâm trí của người dân Mỹ mà còn được in trên tờ tiền có mệnh giá lớn nhất bởi Kho bạc Hoa Kỳ - tờ $100.

Khó mà lựa chọn được hình ảnh người sáng lập nào khác phù hợp hơn cho tờ tiền $100, TT Franklin là người sáng lập đồng thời cũng là chủ của một cửa hàng in ấn trước khi đảm nhận nhiệm kỳ làm tổng thống nổi tiếng và vĩ đại nhất trong cuộc cách mạng Mỹ.

Nhờ tinh thần kinh doanh này, TT Franklin đã tạo dựng sự giàu có, phục vụ cộng đồng và tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn cho thế hệ tương lai.

TT Ben Franklin không chỉ để lại cho thế giới vô số các sáng chế của ông cho thế giới hay cho một quốc gia còn non trẻ được gọi là Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ - mà ông còn để lại rất nhiều lời khuyên và những kinh nghiệm cá nhân được đúc kết qua nhiều bài viết của mình. Và một trong số những lời khuyên giá trị nhất là vấn đề tài chính.

Dưới đây là 5 kinh nghiệm quý giá được ưa thích nhất từ TT Franklin mà bạn có thể học hỏi.

1. "Tiết kiệm được đồng nào hay đồng nấy"

Câu nói tài chính cá nhân nổi tiếng nhất của Franklin không thực sự chính xác. Về mặt định lượng, khi bạn nghĩ rằng hầu hết mọi người tính khoản thu nhập của họ trước thuế, một đồng tiết kiệm thực sự có giá trị hơn một đồng kiếm được.

Tại sao? Bởi vì thực tế thuế làm giảm tiền mua nhà của bạn. Nếu bạn kiếm được $10 một giờ, có khả năng bạn chỉ nhận khoảng $7.50 sau thuế. Do đó, nếu bạn có thể cắt giảm chi tiêu của mình lên $10, kết quả là tiết kiệm hơn giá trị một giờ tiền lương mua nhà của bạn.

Bài học: Tiết kiệm tiền là chìa khóa số một để tạo dựng sự giàu có và thành công về mặt tài chính.

2. "Khoản đầu tư vào kiến thức luôn luôn là khoản sinh lãi tốt nhất."

Đầu tư vào bản thân cũng quan trọng như việc tiết kiệm cho tương lai. Thực tế, mặc dù TT Franklin gắn liền với câu nói, "ngủ sớm, dậy sớm, giữ cho cơ thể khoẻ mạnh, giàu có và khôn ngoan", TT Franklin nổi tiếng là thường xuyên đốt dầu nửa đêm để học các ngôn ngữ bao gồm tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Latin , và Tây Ban Nha.

Điều này giúp ông tăng thêm hiểu biết để phục vụ chính mình cũng như các thuộc địa suốt hành trình kêu gọi sự ủng hộ của người Pháp trong cuộc cách mạng Mỹ, việc chia cổ tức đó là điều mà có thể ông không bao giờ mong đợi.

Cuộc đời của TT Franklin dạy rằng thành công không chỉ được sinh ra từ công việc khó khăn mà còn xuất phát từ sự học hành siêng năng.

Bài học: Không bao giờ ngừng học tập. Nếu bạn có cơ hội để tham gia một lớp học, hoặc nâng cao học vấn, thì hãy thực hiện nó. Tốt hơn hết là nên học những điều bạn hứng thú vào thời gian của bạn. Thẻ thư viện luôn miễn phí!

3. "Nghèo không phải là điều đáng xấu hổ, thấy xấu hổ vì cảnh nghèo lúc trước thì đáng xấu hổ thật"

TT Franklin là người sống tự lập, ông tin rằng thành công có được từ công việc khó khăn, sự siêng năng và học tập. Xuất thân từ bản chất khiêm tốn, nhưng ông ta đã tiến bộ thông qua việc kinh doanh và học suốt đời. Ông ta không bao giờ xấu hổ khi thành thật nói về xuất thân của mình hay ông trở nên thành công như thế nào.

Bài học: nhớ rằng bị rơi vào tình trạng nợ nần hoặc nghèo đói có thể chỉ là động lực đòi hỏi bạn phải duy trì sự tiết kiệm cá nhân và đảm bảo một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân và gia đình bạn.

4. "Người nào có quan niệm rằng với tiền sẽ làm được mọi thứ thì có thể hiểu rằng họ làm mọi thứ chỉ vì tiền"

Bách khoa toàn thư về tài chính cá nhân chỉ có thể được viết trên câu nói này. Tính thanh đạm, tiết kiệm và tằn tiện là một, nhưng lòng tham là một vấn đề khác. Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu năm 2008 là một ví dụ điển hình.

Sự tham lam khiến hàng tỷ đô la đổ vào các khoản đầu tư mạo hiểm và đầu cơ chẳng hạn như các khoản thế chấp bằng lãi suất cơ bản và các chứng khoán có thế chấp được dự đoán sẽ không có khả năng hoàn trả cho các nhà đầu tư mặc dù họ là những người có sự hiểu biết sâu sắc về nó nhưng vẫn bị lu mờ bởi đồng đô la.

Bài học: Bạn phải chịu trách nhiệm về tiền của bạn; chứ không nên để nó điều khiển bạn.

5. "Thà đi ngủ mà nhịn ăn tối còn hơn thức dậy trong nợ nần"

TT Franklin thấu hiểu được bản chất nợ nần, và tin chắc rằng tốt hơn nên cắt giảm chi tiêu đến mức tối đa hơn là nợ nần để có được một cuộc sống vượt quá khả năng của chúng ta.

Chắc chắn, việc cắt giảm nhu cầu thiết yếu của con người như thực phẩm là một sự lựa chọn hoàn hào không quá khó khăn với bất cứ lúc nào, nhưng câu nói này góp phần tăng thêm tầm quan trọng của việc xây dựng quỹ khẩn cấp.

Bài học: Đừng sống quá mức khả năng của bạn, và hãy thoát khỏi nợ nần càng nhanh càng tốt.

Lời cuối cùng

Các bài viết của TT Benjamin Franklin có đầy những câu nói vẫn còn giá trị ngay cả trong những điều kiện kinh tế phức tạp và thường biến động như ngày nay chúng ta phải đối mặt.

Với điều đã nói, chúng ta sẽ để lời cuối cùng này cho vị tổng thống: Ben Franklin, người luôn nhắc nhở chúng ta giữ vững quan điểm về tiền bạc theo đúng triển vọng của mình.

 

"Tiền bạc chưa bao giờ và sẽ không bao giờ khiến con người hạnh phúc, về bản chất nó không có gì có thể tạo ra hạnh phúc. Một người càng có nhiều tiền bao nhiêu thì lại càng muốn nó nhiều hơn bấy nhiêu."

 ✧✧✧✧

 

Top 5 Famous Benjamin Franklin Quotes on Money – Personal Finance Wisdom & Lessons

Bài học từ 5 câu nói nổi tiếng của cựu TT Mỹ Franklin về tiền

Benjamin Franklin’s image is indelibly printed not only within the American psyche, but also on the largest issue of currency printed by the U.S. Treasury – the $100 bill. It would be hard to choose a more appropriate founding father to feature on the $100 bill, seeing as how prior to his tenure as one of the greatest and most famous statesmen of the American Revolution, Franklin was the founder and proprietor of a printing shop.

It’s this entrepreneurial spirit that allowed Franklin to build wealth, serve his community, and create a better world for future generations. But Ben Franklin didn’t just leave the world his myriad of inventions or a fledgling country called the United States of America – he also left a great deal of personal wisdom and advice from his many writings. And some of his best advice is financial.

Here are five of our favorite pearls of wisdom from Franklin, and what you can learn from them.

  1. “A penny saved is a penny earned.”

Franklin’s most famous personal finance quote isn’t actually quite accurate. Quantitatively, when you consider that most people calculate their earnings prior to taxes, a penny saved is actually worth more than a penny earned. Why? Because taxes reduce your actual take home pay. If you earn $10 an hour, you will likely only see around $7.50 after taxes. Therefore, if you can cut your expenses by $10, it actually results in saving more than 1 hour’s worth of your take home wage.

The lesson: Saving money is the number one key to building wealth and becoming financially successful.

  1. “An investment in knowledge always pays the best interest.”

Investing in yourself is just as important as saving for the future. In fact, although Franklin is also attributed with the saying, “early to bed, early to rise, keeps a man healthy, wealthy, and wise,” Franklin was known to frequently burn the midnight oil studying languages which included French, Italian, Latin, and Spanish. This gained knowledge served him and the colonies well in his travels soliciting support from the French during the American revolution, paying dividends he could have never expected. Franklin’s life teaches that success is not only born from hard work, but also from diligent study.

The lesson: Never stop learning. If you have a chance to take a class, or further your education, go for it. Better yet, study things that interest you on your own time. A library card is free!

  1. “Having been poor is no shame, being ashamed of it is.”

Franklin was a self-made man who believed that success was derived through hard work, diligence, and study. His own beginnings were of a humble nature, but he progressed through entrepreneurship and lifelong learning. He never shied away from being honest about who he was or how he came by his success.

The lesson: Remembering the crushing weight of debt or poverty might be just the motivation you require to sustain your personal frugality and ensure a better future for yourself and your family.

  1. “He that is of the opinion money will do everything may well be suspected of doing everything for money.”

An encyclopedia of personal finance could be written on this quote alone. Frugality, savings, and thrift are one thing, but greed is another matter altogether. The financial crisis which began in 2008 is a prime example. Greed drove billions of dollars into risky and speculative investments such as sub-prime adjustable rate mortgages and mortgage-backed securities which promised impossible returns to investors who were well beyond their depth of understanding but blinded by dollar signs.

The lesson: You should be in charge of your money; it shouldn’t be in charge of you.

  1. “Rather go to bed without dinner than to rise in debt.”

Franklin understood the insidious nature of debt, and firmly believed that it’s better to slash expenses to an extreme level rather than to incur debt in order to afford a lifestyle that is well beyond our means. Certainly, cutting back on essential human needs such as food is a choice that we will ideally not be confronted with any time soon, but this quote reinforces the importance of building an emergency fund.

The lesson: Don’t live beyond your means, and get out of debt as quickly as possible.

Final Word

Benjamin Franklin’s writings are full of quotes that remain perfectly apt even in the complicated and often confusing economic conditions we face today. With that said, we’ll leave this final word to the master: Ben Franklin himself, who reminds us to keep our ideas about money in perspective.

“Money has never made man happy, nor will it, there is nothing in its nature to produce happiness. The more of it one has the more one wants.”

Source: moneycrashers.com

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này