Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1259)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (58)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (346)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Người Phụ Nữ Việt Nam Trong Tình Tự Văn Học Dân Gian - Đan Hà

Người Phụ Nữ Việt Nam Trong Tình Tự Văn Học Dân Gian  

-- Đan Hà --

 

Từ xưa người phụ nữ Việt Nam đã hãnh diện là những người có đầy đủ đức hạnh, họ lấy gia đình làm nền tảng để xây dựng xã hội, lấy việc nội trợ và giáo dục con cái làm nghề nghiệp, lấy sự tương ái làm việc giao hảo với bà con xóm giềng. Cho nên đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử, chịu ảnh hưởng sâu đậm của thời đại phong kiến ngày xưa, thời trọng nam khinh nữ, nhưng những đức tính của người phụ nữ, cho đến bây giờ vẫn còn có một chỗ đứng vững vàng trong nên văn học nước nhà, đã ảnh hưởng rất nhiều đến những thành quả trong việc học hành của con cháu chúng ta sau này, đặc biệt là ở hải ngoại, mặc dù hai nền văn hóa khác nhau, nhưng không phải vì vậy mà chẳng giúp ích gì, trái lại nó đã hỗ tương tích cực trong việc giáo dục.

Người phụ nữ trong việc nội trợ và giáo dục con cái: trong một gia đình khi người con gái lớn lên khoảng mười hai, mười ba tuổi, ngoài việc ngày hai buổi được đến trường học hỏi để mở mang về đức dục và trí dục, khi về nhà người Mẹ cũng đã dạy dỗ cho con mình, những môn như nữ công gia chánh, để khi lớn lên hầu áp dụng vào đời sống, đem lại hạnh phúc cho gia đình, lợi ích cho xã hội:

Related image
Con ơi muốn nên thân người
Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha
Gái thời giữ việc trong nhà
Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa

Trai thời đọc sách ngâm thơ
Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa
Mai sau nối được nghiệp nhà
Trước là đẹp mặt sau là ấm thân

Ngoài việc dạy cho con gái mình những việc trong nhà, để trở thành một người đảm đang trong gia đình... người Mẹ còn phục sức cho con những nét thùy mị, đoan trang, dạy cho con gái biết chải tóc soi gương, để trở thành một thiếu nữ duyên dáng làm hành trang để bước vào ngưỡng cửa của cuộc đời.

Related image
Sự xác nhận vị trí tuổi tác của mình cũng là một cách đối đãi với tha nhân, với bạn bè đôi lứa:

Em còn nhỏ em chưa biết gì
Để em về chải tóc soi gương

Không phải chỉ trau chuốt bề ngoài, để trở thành cánh hoa hữu sắc vô hương mà người Mẹ còn dạy những đức tính tốt, hầu tạo cho con mình trở thành những người chín chắn, không đua đòi:

Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình

Song song với việc khuyên con gái phải giữ gìn tiết hạnh, người Mẹ còn chuẩn bị cho con gái một tâm tình phong phú, để đợi ngày sánh duyên kết bạn. Tình cảm người con gái thì luôn luôn e ấp, thẹn thùng vì cố giữ những nét kín đáo của người phụ nữ Á Đông. Cụ Nguyễn Du cũng đã diễn tả tâm trạng của những thiếu nữ mới lớn, khi đứng trước ngưỡng cửa tình yêu đôi lứa:

Người quốc sắc, kẻ thiên tài
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e

Sự dè dặt trước tình yêu đôi khi là những nét quyến rũ nhất, tạo cho đối tượng những cảm giác không nhàm chán, luôn mơ ước và theo đuổi để khám phá những chân trời mới mẻ nhất trong tình yêu, như định nghĩa của một nhà văn Tây phương rằng: "Tình yêu lứa đôi là một đóa hoa quý, nhưng nó chỉ nở trong bóng tối".

Khi bước chân vào đời, người thiếu nữ cũng cảm thấy phân vân lo lắng cho cuộc sống tình cảm đang còn lơ lửng trước những ước mơ thầm kín:
Image result for Người Phụ Nữ Việt Nam Trong Tình Tự Văn Học
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

Bởi duyên của người thiếu nữ chỉ có một thời, cũng như cánh hoa chỉ nở một lần, nếu không thận trọng thì sẽ ân hận cho mai sau:

Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa một mình

Người thiếu nữ đến tuổi đôi mươi, ai lại không cảm thấy xao xuyến, bâng khuâng trước một người con trai nào đó, thế nhưng:

Thò tay ngắt ngọn rau ngò
Thương anh đứt ruột giả đò ngó lơ

Hoặc là:

Giả đò bán khế mua chanh
Vô ra trường học thăm anh kẻo buồn

Bởi vì:

Thấy anh em muốn thương nhiều
Như anh Kim Trọng thương chị Kiều thuở xưa

E ấp thẹn thùng trước tình yêu không phải là một trạng thái yếu hèn, nhút nhát bởi vì không phải bất cứ trước một ai họ cũng thẹn thùng:

Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ
Quay tơ phải giữ mối tơ
Dù năm bảy mối chỉ chờ mối anh

Hoặc là:

Thuyền em dù phải ngược dòng
Mười hai bến nước một lòng bến anh

Khi đã gặp được đối tượng yêu thương, gặp người tâm đầu ý hợp, họ cũng chẳng tiếc những tặng vật đã trao nhau, mà chỉ xem như quà tặng để làm tin, như một lời thề son sắt và mai sau kia sẽ trở thành quà cưới cho hôn nhân, kỷ niệm cho cuộc đời đôi lứa:

Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

 Như vậy nét thẹn thùng của người thiếu nữ chính là một trạng thái tâm lý hiếm quý, để bảo vệ tình yêu đôi lứa, mà chỉ có người thiếu nữ Á Đông mới có. Quan niệm của người phụ nữ chỉ có tình thương yêu là cần thiết nhất trên đời, vì nó là yếu tố quan trọng trong cuộc tạo dựng hạnh phúc:

Tình thương quán cũng như nhà
Lều tranh có nghĩa hơn tòa ngói xây

Đời sống người dân quê Việt Nam phần lớn theo ngành nông nghiệp, nên những hình ảnh ruộng đồng cũng thể hiện tính cần mẫn của người phụ nữ:

Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

Ước mơ của họ cũng chỉ đơn sơ, nhưng cũng ẩn chứa một tâm tình lãng mạn đến tuyệt vời:

Trời mưa cho lúa chín vàng
Cho anh đi gặt cho nàng mang cơm

Tình thần tương thân tương ái trong việc giao tế, cũng là một đức tính đặc thù của người phụ nữ Á Đông:

Giàu như người ta cũng cơm ngày ba bữa
Khó như mình đây cũng đỏ lửa ba lần
Xích lại đây cho xa cũng như gần
Dù cháo rau qua bữa hai chữ tương thân ta mạ vàng

Không ai có thể phủ nhận được tình yêu là yếu tố tiên quyết, để xoa dịu những khổ đau cho nhân loại:

Nhiễu điều phũ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng

Tình yêu không chỉ dành riêng cho một nước, một dân tộc nào, mà nó đã lan khắp thế giới. Trong chúng ta không ai không động lòng khi nghe đến những tin tức như thiên tai bão lụt, động đất, chiến tranh đã gây thương vong nhiều nhân mạng. Ai có thể quay mặt trước nạn đói hoành hành tại các quốc gia kém mở mang? Trái lại nếu làm được những gì để giúp đỡ, họ cũng sẵn sàng đóng góp:

Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

Không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, bởi vì những thứ ấy không tạo nên nhân phẩm con người, mà chính là tinh thần tương thân, nhường nhịn nhau trong việc giao tế:

Lên xe nhường chỗ bạn ngồi
Nhường nơi bạn tựa, nhường lời bạn phân

Chung thủy cũng là một đức tính hiếm quý khác của người phụ nữ, mà cũng chỉ có người phụ nữ Việt Nam mới có đầy đủ đức tính ấy, một đất nước nghèo khó vì chiến tranh loạn lạc. Thế cho nên:

Related image
Nước có loạn mới biết tôi hiền chúa thánh
Gặp gian nguy mới biết vợ nghĩa chồng tình

Cho dù hoạn lạc, đói nghèo nhưng tình chồng vợ vẫn luôn khắng khít, keo sơn:

Hạt muối mặn ba năm còn mặn
Lát gừng cay chín tháng còn cay
Đôi ta ân trượng nghĩa dày
Dẫu có giàu sang cũng không đổi
Dẫu có ăn mày cũng không xa

Đời sống vợ chồng trước hết là tình, sau là nghĩa, bổn phận chung là lo phụng dưỡng tứ thân phụ mẫu, nuôi nấng và dạy dỗ con cái:

Mẹ già là mẹ già chung
Em lo cơm áo, anh cùng thuốc thang

Nhờ tình nghĩa cho nên người phụ nữ không quản:

Có con phải khổ vì con
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng

Chấp nhận khó nhọc khi phải gánh vác việc gia đình, cũng là một cách để nhớ đến công ơn của cha mẹ đã sanh thành dưỡng dục cho chúng ta nên người:

Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ

Từ những ý niệm giữa mẹ và con, như một tình yêu thương rộng lớn hòa nhập vào một đại dương bao la, để rồi chỉ thấy tình Mẹ vẫn ngọt ngào muôn thuở:

Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp mật như đường mía lau

Cho nên có khi phải đi lấy chồng xa xứ, hay lâm vào cảnh tha hương như chung ta hiện nay, ai không khỏi bùi ngùi thương nhớ, một lúc nào đó nghĩ về quê hương, về Mẹ:

 
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Nhìn về quê mẹ ruột đau chín chiều

Đối với gia đình, người phụ nữ đã làm đầy đủ bổn phận, với một tấm lòng mến yêu, với một tinh thần trách nhiệm cao quý, vỡi những nỗ lực trong công việc xây dựng gia đình và xã hội, họ đã thăng hoa nền văn hóa nước nhà lên đến chỗ tuyệt vời. Xuyên qua lịch sử dân tộc, đã trải qua hơn một ngàn năm chịu dưới ách thống trị của ngoại bang, bị phân hóa đến gần như hủy diệt, thế mà nên văn hóa ấy vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay. Và giờ đây lại được lan ra tận hải ngoại. Gần đây, theo nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học, lịch sử, dựa vào những thống kê của các quốc gia có người Việt Nam sinh sống, thì đa số học sinh thuộc các cấp đều học trên mức trung bình, tính xuất sắc ấy phần lớn chịu ảnh hưởng của một nền văn hóa lấy gia đình làm nguồn gốc.

Image result for bà trưng bà triệu
Tuy nhiên, người phụ nữ Việt Nam không phải chỉ biết xây dựng gia đình mà đối với quốc gia xã hội, họ cũng đã có những đóng góp tích cực vào việc chống ngoại xâm để bảo vệ Tổ Quốc.

Ngày xưa, Bà Trưng, Bà Triệu là những vị anh thư dân tộc, đã đánh đuổi quân xâm lăng Đông Hán để giữ vững sơn hà. Tiếp theo dòng lịch sử quật cường trước làn sóng Bắc xâm ấy, những người trai phải lên đường theo nghiệp đao cung, người phụ nữ đã hi sinh hạnh phúc gia đình đưa chồng đi làm nghĩa vụ:

Related image
Chàng đi đưa gói thiếp mang
Đưa gươm thiếp xách cho chàng đi không


Những cử chỉ nhỏ nhặt như xách gói xách gươm cho chồng, cũng đã nói lên tinh thần trách nhiệm của người phụ nữ đối với Tổ Quốc như thế nào rồi, chưa đủ, họ còn muốn làm hơn thế nữa, đôi khi họ cũng ước là nếu làm được việc của nam nhi họ sẽ làm thay cho chồng nghỉ ngơi:

Phải chi vác nổi súng đồng
Thì em đi lính thế cho chồng vài năm

Nhìn vào lịch sử Việt Nam đã trải dài trên bốn ngàn năm văn hiến, qua bao thăng trầm, biết bao lần phương Bắc muốn gột rửa cái hồn Việt trong chúng ta để đồng hóa với nền văn hóa ngoại xâm, ngõ hầu tiêu diệt một dân tộc để đem tất cả về làm con dân của họ, nhưng cuối cùng chúng ta vẫn còn, vẫn tồn taị cái Việt tính trong chúng ta. Bởi vì nền văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt đã in sâu vào tâm khảm, vẫn tiềm tàng và phát triển từ thời đại này qua thời đại khác, như một dòng suối mát luân lưu bất tận. Nhờ đó mà tâm hồn người Việt Nam rất phong phú, nhất là đối với người phụ nữ, họ không chỉ tận hưởng để làm thăng hoa cuộc sống riêng mình, mà còn gìn giữ cho mai sau con cháu từ thuở còn nằm nôi:

Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam đã tạo nên một nền Văn Học dân gian thật phong phú, được thể hiện qua những tấm lòng yêu thương rộng lớn, mà xưa nay tổ tiên chúng ta gói ghém như một khuôn vàng thước ngọc, như những bài học quý báu, cho con cháu chúng ta dùng làm phương tiện để xây dựng hạnh phúc gia đình, xã hội cũng như đóng góp chung cho nền hòa bình thế giới.

Đan Hà

**********

Phụ nữ Việt Nam qua ca dao

 Related image

Khi đề cập đến phụ nữ Việt Nam, ai ai cũng đều thừa nhận rằng từ ngàn xưa cho đến nay họ là những người đàn bà dịu hiền, thùy mị, đoan trang, đảm đang, trung trinh tiết hạnh, giàu lòng hy sinh.

Khi đề cập đến phụ nữ Việt Nam, ai ai cũng đều thừa nhận rằng từ ngàn xưa cho đến nay họ là những người đàn bà dịu hiền, thùy mị, đoan trang, đảm đang, trung trinh tiết hạnh, giàu lòng hy sinh. Trong gia đình thì hiếu thảo với cha mẹ, tảo tần lo cho chồng con, ra ngoài là những bậc anh thư liệt nữ. Chính những đức tính đẹp nầy đã nâng cao phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam: 

Phụ nữ Việt Nam trung trinh tiết hạnh,
Trang điểm cuộc đời muôn cánh hoa thơm.
Ra ngoài giúp nước, giúp non,
Về nhà tận tụy chồng con một lòng.

Phụ nữ Việt Nam qua ca daoTrong suốt chiều dài của dòng lịch sử và chiều sâu của lòng dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã liệt oanh viết nên những trang sử vàng son làm vẻ vang giống nòi như Bà Trưng, Bà Triệu; nữ tướng Bùi Thị Xuân của Quang Trung; Cô Giang, Cô Bắc của Việt Nam Quốc Dân Đảng... Còn về thi văn, ta có Bà Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Bà Hồ Xuân Hương, Bà Sương Nguyệt Ánh... đều là những nữ sĩ tài hoa, nức tiếng trên văn đàn, là những cánh hồng tươi thắm trong vườn hoa văn học. Ngoài ra, còn có biết bao nhiêu phụ nữ Việt Nam khác sống một cuộc sống bình thường, thầm lặng nơi thôn trang, xóm làng mà những nét đẹp về tâm hồn của họ được dân gian ca tụng bằng những áng văn, những vần thơ, điệu hát, câu hò hay qua những vần ca dao phong phú.

Đề cập đến văn chương, chúng ta không thể nào bỏ qua nền thi ca bình dân mà ca dao là một trong những thể loạiquen thuộc nầy. Từ lâu, ca dao đã đi vào lòng dân tộc và lạc vào rừng ca dao của kho tàng văn học, ta sẽ bắt gặp hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam qua những đức tính cao quý của họ:
Nói đến phụ nữ Việt Nam, trước hết phải nói đến lòng hiếu thảo đối với mẹ cha và tiết hạnh đối với bản thân. Không phải chỉ có một nàng Kiều của cụ Nguyễn Du mới biết báo hiếu

mà bất cứ người con gái Việt Nam nào cũng đều nhớ đến ơn sinh thành, công lao nuôi dưỡng bao la của đấng song thân:

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ, kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Đó là đối với cha mẹ, còn đối với bản thân thì:
Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh làm câu trao mình.

Người phụ nữ Việt Nam, ngay từ lúc còn ẵm ngửa cho đến khi biết lật, biết bò lớn dần trong nhịp võng đưa qua tiếng hát của bà ru cháu, mẹ ru con, chị ru em:

Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.
Hay qua điệu hát ầu ơ:
Ầu ơ... Bao giờ Chợ Quán hết vôi,
Thủ Thiêm hết giặc, em thôi đưa đò.
Bắp non mà nướng lửa lò,
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm. 
Hoặc qua điệu ru ạ ờ:
Ạ ờ... Cái ngủ mày ngủ cho lâu,
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về.
Bắt được con cá rô, trê,
Tròng cổ lôi về cho cái ngủ ăn...

Image result for Phụ nữ Việt Nam qua ca dao 

Những vần ca dao mộc mạc, bình dị đã đưa em bé gái Việt Nam vào giấc ngủ an bình và từ ngày nầy qua ngày khác, tiếng ru lắng đọng, thẩm thấu vào tiềm thức của em bé nên sau nầy lớn lên thành chị, thành mẹ, thành bà lại hát để ru em, ru con, ru cháu theo nhip võng đưa kẽo kẹt đều đều.

Hát ru em, hát ầu ơ, ạ ờ là một điệu hát thông dụng được phổ biến từ thôn xóm, làng mạc

cho đến thị thành. Hát ru em là một bản trường ca bất tận của kho tàng văn chương Việt Nam. Vào những buổi trưa vắng lặng hay những đêm khuya yên tĩnh, cùng với tiếng võng đưa, giọng hát ầu ơ, ạ ờ dịu dàng, trìu mến của bà, của mẹ, của chị vang mãi trong lòng đứa trẻ ấu thơ. Tiếng võng đưa kẽo kẹt đều đều cùng với tiếng hát đã văng vẳng từ bao thề hệ trên đất nước Việt Nam theo dòng sinh mệnh của dân tộc. Trải qua bao nhiêu thế hệ, trong mọi gia đình, nghèo cũng như giàu, cái nhịp đều đều của tiếng võng đưa không bao gời dứt. Không có người Việt Nam nào không từng hơn một lần nằm võng và tiếng võng đưa hòa cùng tiếng trẻ khóc, tiếng hát ru đã trở thành điệu nhạc muôn đời của dân tộc ta.

Thấm thóat, em bé gái Việt Nam nho nhỏ ngày nào nay đã lớn dần và có thể giúp đỡ mẹ những công việc lặt vặt. Một đôi khi lầm lỗi trong công việc bị mẹ quở mắng hay đánh đòn, em không bao giờ dám oán trách mẹ. Nếu bị quở mắng thì nhỏ nhẹ rằng:

Mẹ ơi đừng mắng con hoài,
Để con bẻ lựu, hái xoài mẹ ăn.
Còn nếu bị đánh đòn, nàng chỉ thỏ thẻ:
Mẹ ơi đừng đánh con đau,
Để con bắt ốc, hái rau mẹ nhờ.

Theo thời gian, cô bé Việt Nam bây giờ đã trở thành thiếu nữ dậy thì, trước khi lấy chồng, một đôi lúc ngồi nhìn những hạt mưa rơi, nàng nghĩ vẩn vơ:

Thân em như hạt mưa rào,
Hạt sa xuống giếng, hạt vào vườn hoa.

Hay bâng khuâng tự hỏi:

Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
Ngồi cành trúc, tựa cành mai,
Đông đào , tây liễu biết ai bạn cùng?

Đến tuổi dậy thì, phụ nữ Việt Nam trổ mã, đẹp dần lên. Mỗi nàng một vẻ đẹp riêng, người thì đẹp qua đôi mắt, người khác đẹp ở mái tóc, có cô đẹp qua nụ cười, cô khác đẹp bằng hai má lúm đồng tiền, có người đẹp với chiếc eo thon thon, dáng đi yểu điệu, có người đẹp trừu tượng qua tâm hồn... Tóm lại, mỗi người một vẻ để làm rung động hay làm xao xuyến con tim của người khác phái.

Những phụ nữ có đôi mắt lá răm, lông mày lá liễu được ca dao khen rằng:

Những người con mắt lá răm,
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

Hay những người có làn da trắng nõn, má lại hồng hồng, môi đỏ thắm:

Ai xui má đỏ, môi hồng,
Để anh nhác thấy đem lòng thương yêu.

Đã đẹp mặt mà còn đẹp về vóc dáng nữa thì “chim phải sa, cà phải lặn” cho nên những phụ nữ có chiếc eo thon thon:

Những người thắt đáy lưng ong,
Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con.

Mái tóc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc trang điểm vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam:

Tóc em dài em cài bông hoa lý,
Miệng em cười anh để ý anh thương.
Mái tóc dài, đẹp còn làm xao xuyến lòng người:
Tóc đến lưng vừa chừng em bới,
Để chi dài bối rối dạ anh.

 Phụ nữ Việt Nam qua ca dao

Nụ cười là nét duyên dáng, nét quyến rũ của người phụ nữ. Từ xưa cho đến nay có rất nhiều đàn ông đã chết vì nụ cười của phái đẹp:

Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng,
Thương em chúm chím cười duyên một mình.
Cũng thế, ta thường nghe ai đó ngâm hai câu ca dao:
Nàng về nàng nhớ ta chăng,
Nàng về ta nhớ hàm răng nàng cười.

Và ca dao cũng không quên ca tụng nét đẹp tâm hồn của phụ nữ Việt Nam:

Chim khôn hót tiếng rảnh rang,
Người khôn ăn nói dịu dàng dễ thương.

Phụ nữ Việt Nam vốn cháu con Quốc Mẫu Âu Cơ, dòng dõi tiên nên nhu mì, thùy mị được tiếng là đẹp, rất đẹp, nhất là trong chiếc áo dài tha thướt với vành nón lá che nghiêng nghiêng mái tóc xõa bờ vai. Có biết bao nhiêu chàng trai đã trồng cây si ở cổng trường Trưng Vương, Gia Long, Đồng Khánh, Sương Nguyệt Ánh, Bùi Thị Xuân... vì những tà áo dài thướt tha nầy và mái trường đã từng là chứng nhân của những mối tình đẹp tựa bài thơ, đẹp như đêm trăng huyền ảo. Trước cái đẹp của phụ nữ Việt Nam, mấy ai thuộc phái nam đã không từng cất giấu trong tim một bóng hồng của thời yêu thương ướt át:

Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
Năm thương cổ yếm đeo bùa,
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
Bảy thương nết ở khôn ngoan,
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
Chín thương em ở một mình,
Mười thương con mắt đưa tình với anh.

Nét đẹp của phụ nữ Việt Nam còn làm cho trái tim nhà vua đập sai nhịp vì bị “tiếng sét ái tình”:

Kim Luông có gái mỹ miều,
Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi.

Dân tộc Việt Nam là dân tộc hiền hậu, hiếu hòa, cần cù nhẫn nại lại trọng đạo lý cho nên khi con cái vừa lớn khôn thì được gia đình, nhà trường, xã hội dạy những bài học luân lý về cung cách ở đời, ăn ở có nhân có nghĩa theo đạo lý làm người và phụ nữ Việt Nam cũng được giáo huấn:

Con ơi mẹ bảo con này,
Học buôn, học bán cho tày người ta.
Con đừng học thói điêu ngoa,
Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười.
Nhờ được giáo huấn cho nên phụ nữ Việt Nam đoan trang, thùy mị, nết na:
Sáng nay tôi đi hái dâu,
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn.
Hai anh đứng dậy hỏi han,
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu?
Thưa rằng tôi đi hái dâu,
Hai anh mở túi đưa trầu mời ăn.
Thưa rằng bác mẹ tôi răn,
Làm thân con gái chớ ăn trầu người.

Và xa hơn nữa:

Ở nhà còn mẹ, còn cha,
Lẽ đâu tôi dám nguyệt hoa cùng người.

Phụ nữ Việt Nam khi đến tuổi bước vào con đường yêu đương thì yêu nhẹ nhàng, kín đáo. Nhẹ nhàng đến nỗi tình yêu của nàng len lén len lỏi vào tim hồi nào mà chàng trai không hay: 

Vói tay ngắt lấy cọng ngò,
Thương anh muốn chết giả đò ngó lơ.

Giả đò ngó lơ, e thẹn, bẽn lẽn, len lén ngó mà không dám ngó lâu là những cử chỉ yêu đương nhẹ nhàng, kín đáo rất dễ thương của người phụ nữ Việt Nam:

Ngó anh không dám ngó lâu,
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi.

Nhưng khi đã yêu thì phụ nữ Việt Nam yêu một cách đứng đắn, yêu đậm đà, tha thiết với tất cả con tim mình:

Qua đình ghé nón trông đình,
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.
Tình yêu của nàng còn sâu đậm hơn nữa:
Yêu chàng lắm lắm chàng ôi,
Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than.
Khi yêu, ngoài tình yêu đậm đà, tha thiết, phụ nữ Việt Nam lại còn chung tình:
Bao giờ cạn lạch Đồng Nai,
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền.
Và chung tình cho đến chết vẫn còn chung tình:
Hồng Hà nước đỏ như son,
Chết thì chịu chết, sống còn yêu anh. 

Trước khi lấy chồng, phụ nữ Việt Nam cũng có thừa thông minh để lựa chọn ý trung nhân:

Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bõ công trang điểm má hồng lâu nay.

Hay mượn những vần ca dao nhắn nhủ với giới mày râu rằng muốn kết duyên vợ chồng, gá nghĩa trăm năm với phụ nữ Việt Nam thì:

Đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ,
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu.
Anh về học lấy chữ nhu,
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ.

Đến ngày bước lên xe hoa về nhà chồng, phụ nữ Việt Nam không quên lạy tạ ơn sinh thành của cha mẹ:

Lạy cha ba lạy, một quì,
Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.
Khi cất bước ra đi về làm dâu nhà chồng, một lần cuối nàng cố ghi lại những kỷ niệm của thời thơ ấu vào tâm khảm:
Ra đi ngó trước, ngó sau,
Ngó nhà mấy cột, ngó cau mấy buồng.
Rồi lúc đã có chồng, người phụ nữ Việt Nam luôn luôn tâm niệm:
Chưa chồng đi dọc, đi ngang,
Có chồng cứ thẳng một đàng mà đi.

Hay:

Đã thành gia thất thì thôi,
Đèo bòng chi lắm tội Trời ai mang.
Lấy chồng, người phụ nữ Việt Nam đẹp duyên cùng chồng:
Trầu vàng ăn với cau xanh,
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.

Và có hình ảnh nào đẹp hơn vợ chồng hạnh phúc trong cảnh thanh bần:

Râu tôm nấu với ruột bầu,
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.

Dù nghèo, thanh bần nhưng phụ nữ Việt Nam học theo triết lý an phận, vẫn chung tình với chồng, không đứng núi nầy trông núi nọ:

Chồng ta áo rách ta thương,
Chồng người áo gấm, xông hương mặc người.

Tinh thần chịu khó, chịu cực và khuyến khích chồng ăn học cho thành tài được diễn đạt qua những vần cao dao làm nổi bật đức tính hy sinh của phụ nữ Việt Nam:

Canh một dọn cửa, dọn nhà.
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm.
Canh tư bước sang canh năm,
Anh ơi dậy học chớ nằm làm chi.
Mốt mai chúa mở khoa thi,
Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh.
Bõ công cha mẹ sắm sanh,
Sắm nghiên, sắm bút cho anh học hành.
Đã có chồng con, người phụ nữ Việt Nam lại càng đảm đang, vừa lo cho con vừa lo toan mọi công việc nhà chồng:
Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.

Hoặc:

Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay.
Có con, người phụ nữ Việt Nam lại gánh thêm trách nhiệm làm mẹ với tình mẫu tử thiêng liêng:
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,
Năm canh chầy thức đủ năm canh.
Tình mẫu tử của những bà mẹ Việt Nam bao la như trời bể, luôn luôn bảo bọc, che chở cho con:
Nuôi con chẳng quản chi thân,
Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.

Phụ nữ Việt Nam qua ca dao
Ngoài ra, phụ nữ Việt Nam còn phải đối diện với cảnh làm dâu nhà chồng. Trước đây, xã hội ta đã quan niệm sai lầm rằng người con dâu phải phục vụ gia đình nhà chồng gần như một người đầy tớ và một số bà mẹ chồng rất khắc nghiệt với nàng dâu gây nên nhiều cảnh thương tâm cho người phụ nữ Việt Nam. Tự Lực Văn Đoàn đã đưa ra nhiều cuốn tiểu thuyết luận đề để đả phá quan niệm sai lầm nầy và ca dao ta cũng lên tiếng thở than dùm cho các nàng dâu Việt Nam:

Làm dâu khổ lắm ai ơi,
Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than.
Còn nếu đất nước gặp thời chinh chiến, người phụ nữ Việt Nam không bịn rịn mà hăng hái khuyến khích chồng hành trang lên đường trả nợ núi sông:

Anh đi em ở lại nhà,
Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ.
Lầm than bao quản muối dưa,
Anh đi anh liệu chen đua với đời.


Phụ nữ Việt Nam, ngoài những đức tính đảm đang, giàu lòng hy sinh, nết na, thùy mị còn là người con rất mực hiếu thảo:

Ơn cha nặng lắm ai ơi,
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang,

Lòng nhớ công ơn cha mẹ sinh thành, nuôi dưỡng của người phụ nữ Việt Nam còn đươc diễn đạt qua mấy câu:

Ân cha lành cao như núi Thái
Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi.
Dù cho dâng trọn một đời,
Cũng không trả hết ân người sinh ta.


Những món quà nho nhỏ như buồng cau, đôi giày nhưng nói lên lòng hiếu thảo, lòng nhớ ơn công cha nghĩa mẹ của người phụ nữ Việt Nam:

Ai về tôi gởi buồng cau,
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy

Hay là:

Ai về tôi gởi đôi giày, 
Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.
Khi phải đi xa hay lấy chồng xa, người phụ nữ Việt Nam luôn luôn tưởng nhớ về mẹ cha:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Phụ nữ Việt Nam còn gắn liền với dân tộc và lịch sử vì thế khi tổ quốc lâm nguy, khi sơn hà nguy biến người phụ nữ Việt Nam hăng hái đưa vai gánh vác giang sơn như trường hợp Bà Trưng, Bà Triệu và những vị anh hùng liệt nữ khác.

Hai chị em Bà Trưng là Trưng Trắc và Trưng Nhị, quê quán làng Cổ Lai, đất Mê Linh. Lúc ấy nước nhà đang bị người Tàu cai trị bằng chính sách hà khắc khiến dân ta vô cùng khốn khổ. Rồi vào năm 40, sau Tây Lịch, Thái Thú Tô Định lại bắt giết ông Thi Sách, chồng Bà Trưng Trắc làm cho nợ nước chồng chất thêm thù nhà cho nên Bà Trưng Trắc cùng em là Bà Trưng Nhị đứng lên chiêu tập binh mã, anh hùng hào kiệt khắp nơi để đánh đuổi quân xâm lăng bạo tàn. Quân binh của Hai Bà chiến đấu rất dũng mãnh, chiếm được 65 thành, đánh đuổi quân Tô Định chạy về Tàu. Sau khi đánh đuổi được quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi, dân chúng tôn Bà Trưng Trắc lên làm Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh. Đến năm 42, vua Tàu là Quang Vũ nhà Đông Hán sai Mã Viện kéo quân qua phục thù. Trước địch quân hùng hậu, quân ta chống cự không lại nên Hai Bà đã gieo mình xuống giòng Hát Giang tuẫn tiết. Không có hình ảnh nào vừa hào hùng, vừa lãng mạn cho bằng hình ảnh của hai vị liệt nữ anh hùng gieo mình xuống giòng nước trả nợ núi sông và để lại gương “Thiên thu thanh sử hữu anh thư”. Hai Bà Trưng làm vua được 3 năm, từ năm 40 đến năm 43. Khi vua Tự Đức đọc đoạn sử Hai Bà Trưng, ngài đã ngự phê: “Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách”. Và Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca đã ghi lại công nghiệp của Hai Bà bằng những vần ca dao lịch sử:

Bà Trưng quê ở Châu Phong,
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên,
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành.

Còn Bà Triệu, tên thật là Triệu Thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa vào năm 248, sau Tây Lịch để chống lại quân xâm lăng Đông Ngô của Tàu. Bà còn trẻ nhưng rất can đảm, Bà thường nói: “Tôi muốn cỡi gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém kình ngư ở biển đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân cứu nước chứ không thèm bắt chước người đời còng lưng làm tì thiếp người ta”. Ra trận Bà cỡi voi mặc giáp vàng trông rất oai phong làm quân Ngô khiếp sợ. Nghĩa binh tôn Bà là Nhụy Kiều Tướng Quân. Bà Triệu đã anh dũng đền nợ nước khi Bà mới có 23 tuổi:

Ru con, con ngủ cho lành,
Để mẹ gánh nước rửa bành con voi.
Muốn coi lên núi mà coi,
Có Bà Triệu Tướng cỡi voi bành vàng.

Bà Trưng, Bà Triệu là những bậc nữ lưu anh hùng đầu tiên trong lịch sử thế giới nổi lên sớm nhất chống ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc. Rất lâu về sau nầy nước Pháp mới có nữ anh hùng Jeanne D' Arc nhưng sự nghiệp của Bà Jeanne D' Arc cũng không lẫm liệt bằng công nghiệp to lớn, lẫy lừng của Bà Trưng, Bà Triệu. Thật xứng đáng:

Phấn son tô điểm sơn hà,
Làm cho tỏ mặt đàn bà Việt Nam!

Mẹ tôi là phụ nữ Việt Nam, tôi rất hãnh diện được làm một người con của phụ nữ Việt Nam. Tôi hết lòng kính yêu mẹ tôi và tôi cũng hết lòng kính mến người phụ nữ Việt Nam qua những cái đẹp và những đức tính cao quý của họ.

LÊ THƯƠNG

 Richmond – Virginia

Kim Phượng st & tổng hợp

Xem thêm...

10 bản nhạc cổ điển nổi tiếng nhất trong lịch sử âm nhạc

10 bản nhạc cổ điển

nổi tiếng nhất trong lịch sử âm nhạc

Các tác phẩm được chọn lọc dưới đây là đến từ các nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất, chủ yếu sống trong thế kỷ 17, 18. Bạn có thể thấy nhiều tác phẩm lấy ý tưởng từ thiên nhiên và thần thoại – vốn là 2 nguồn cảm hứng bất tận trong nghệ thuật.

Trong cuộc sống hối hả ngày nay, có thể bạn sẽ muốn lắng lại một chút để cảm nhận được rõ hơn những thanh âm trong trẻo này.

1. “Symphony 5” của Ludwig van Beethoven

"Symphony 5" (Bản giao hưởng số 5) là bản giao hưởng nổi tiếng nhất trong lịch sử âm nhạc thế giới. Tác giả của bản giao hưởng này chính là thiên tài âm nhạc người Đức: Ludwig van Beethoven (1770-1827). Ông là hình tượng âm nhạc quan trọng trong giai đoạn giao thời từ âm nhạc cổ điển sang thời kì âm nhạc lãng mạn. Bản giao hưởng số 5 hay còn gọi là bản giao hưởng "định mệnh" được ông sáng tác vào năm 1808 khi ông đang ở độ tuổi 37 đầy sung sức về tài năng nhưng đáng tiếc con người tài hoa ấy lại bạc mệnh, lúc đó ông đang bị điếc. Tuy vậy, bản giao hưởng số 5 không phải vì thế mà thê lương, trái lại nó mang âm hưởng chủ đạo là ngợi ca tình yêu cuộc sống, cuộc chiến của con người chống lại định mệnh đang gõ cửa. Bản giao hưởng gồm 4 chương (chương 1: Allegro, chương 2: Andante, chương 3: Scherzo và chương 4: Allegro) trong đó chương 1 được xem là hay nhất và quen thuộc nhất. Toàn bộ bản giao hưởng đưa chúng ta qua 4 giai đoạn: sợ hãi, tuyệt vọng, thắng lợi và ca ngợi tình yêu cuộc sống.

Ludwig van Beethoven (1770-1827)

Ludwig van Beethoven (1770-1827)

 

Ludwig van Beethoven (1770-1827) đã biên soạn tác phẩm này, trong đó mấy ô nhịp mở đầu bản giao hưởng có cùng nhịp điệu với mật mã Morse cho số 5 hoặc chữ “V”.

Khúc dạo đầu này đã được sử dụng trong Thế chiến thứ II để gửi các tin nhắn bằng mã Morse. Theo truyền thuyết, Beethoven không hề biết đoạn mở đầu cho bản giao hưởng số 5 sẽ ra sao, nhưng khi ông đang nghỉ trưa, ông nghe thấy tiếng nhịp gõ cửa nhà mình và nó đã trở thành những nốt nhạc đầu tiên của tác phẩm.

2. “O Fortuna” của Carl Orff

O Fortuna (nữ thần may mắn) là một bài thơ Latin thời Trung cổ từ thế kỉ 13 rất hay nằm trong tập thơ của Carmina Buran. Nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức là Carl Orff (1895 – 1982) đã chọn bài thơ này trong số 24 bài thơ để phổ nhạc trong những năm 1935 – 1936. Phần nhạc của bài thơ O Fortuna  đã trở nên hết sức nổi tiếng nhờ kĩ thuật hòa âm phối khí đầy kịch tính Carl Orff. Khi hoàn thành, tác phẩm đã được rất nhiều dàn hợp xướng biểu diễn. O Fortuna đứng đầu trong danh sách các bản nhạc cổ điển được chơi nhiều nhất trong thế kỉ qua. Nó cũng được sử dụng làm nhạc phim cho rất nhiều các bộ phim nổi tiếng như: Lord of The Rings (Chúa tể của những chiếc nhẫn); Star Wars (Chiến tranh giữa các vì sao); 300;... và rất nhiều chương trình truyền hình trên thế giới.

Carl Orff (1895 – 1982)

Carl Orff (1895 – 1982)

Carl Orff (1895 – 1982) thành công nhất với bản nhạc này nhờ vận dụng kỹ thuật hòa âm phối khí một cách đầy kịch tính. Tác phẩm này dựa trên tập thơ thế kỷ XIII “Carmina Burana”. Đây là một trong những tác phẩm âm nhạc cổ điển được trình tấu nhiều nhất trên thế giới.

3. “Hallelujah Chorus” của George F. Handel

Trường ca Hallelujah Chorus là tác phẩm của nhà soạn nhạc người Anh gốc Đức: George Frideric Handel (1685 – 1759). Hallelujah là thán từ dùng để ca ngợi thiên chúa, bày tỏ niềm hân hoan, vui mừng và cảm ơn vì được Chúa ban cho nhiều phước lành. Hallelujah Chorus là bản oratorio tiếng Anh do George Frideric Handel sáng  tác năm 1741 và ra mắt công chúng lần đầu tiên tại Dublin vào ngày 13 tháng 4 năm 1742 và tại Luân Đôn vào năm 1943. Lời bài hát dựa trên những đoạn Kinh thánh mà Handel cố gắng để miêu tả cuộc sống, cái chết, và sự sống lại của Chúa Giê-su. Chính vì vậy, càng về sau, tác phẩm càng được sự quan tâm rộng rãi của công chúng, cuối cùng trở thành một trong những tác phẩm hợp xướng nổi tiếng nhất và được biểu diễn nhiều nhất trong nền âm nhạc phương Tây. Nếu bạn đi chơi Noel vào mỗi mùa Giáng sinh, bạn sẽ bắt gặp trường ca Hallelujah Chorus quen thuộc vang lên ở bất cứ nhà thờ nào.    

George Frideric Handel (1685 – 1759)

George Frideric Handel (1685 – 1759)

George Frideric Handel (1685 – 1759) viết toàn bộ bản oratorio này trong vòng 24 ngày. Ngày nay, rất nhiều giai điệu đã mượn âm điệu từ bản nhạc này. Theo truyền thuyết, Handel nghe nhạc từ các thiên thần chơi vào tai mình. Lời bài hát dựa trên những đoạn kinh Thánh mà Handel đã cố gắng để mô tả cuộc sống, cái chết, và sự sống lại của Chúa Giê-su Ki-tô.

 4. “Ride of the Valkyries” của Richard Wagner

"Ride of the Valkyries" là một phần của tác phẩm vĩ đại "The Ring Cycle" do nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức Richard Wagner (1813 – 1883) sáng tác. Trong thần thoại Bắc Âu, Valkyries thường được miêu tả như những chiến binh xinh đẹp, với làn da trắng muốt, mái tóc vàng và cưỡi ngựa thần có cánh. Khi Valkyries hạ trần, áo giáp của họ tỏa ra thứ ánh sáng kì lạ bao trùm cả một khoảng trời. Richard Wagner đã mô tả hình ảnh tuyệt đẹp này qua  khúc nhạc "Ride of the Valkyries" (Sự xuất hiện của những nàng Valkyrie xinh đẹp). Tác phẩm âm nhạc này thuộc phần thứ 2 trong chùm 4 opera dài dằng dặc mang tên " Der Ring des Nibelungen" (Chiếc nhẫn của người Nibelung) và nó đã trở thành một trong những giai điệu cổ điển quen thuộc nhất qua màn ảnh.

Richard Wagner (1813 – 1883)

Richard Wagner (1813 – 1883) sáng tác kiệt tác “The Ring Cycle”, mà “Ride of the Valkyries” là một phần của tác phẩm vĩ đại này, và nó dựa trên câu chuyện về con gái của vị thần Odin (thần thoại Bắc Âu). Vở opera này mất 26 năm để hoàn thành và chỉ là phần thứ 2 trong chùm kiệt tác opera gồm 4 phần.

 5. “Toccata in d minor” của Johann S. Bach

Người đã góp phần làm giàu nền âm nhạc Đức nhờ kỹ năng điêu luyện trong cấu tạo đối âm, hòa âm và tiết tấu cũng như khả năng điều tiết nhịp điệu, hình thái và bố cục âm nhạc nước ngoài chính là nhà soạn nhạc thiên tài Johann Sebastian Bach (1600-1750). "Toccata in d minor" chính là một trong những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng nhất mà Johann S. Bach đã từng biên soạn. Bản nhạc này có nhiều tiết tấu mạnh mẽ, chứa đầy chất bi ai và nó nhanh chóng gắn liền với nhiều phân đoạn bi kịch trong các bộ phim.

Johann Sebastian Bach (1600-1750)

 Đây có lẽ là một trong những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng nhất của mà Johann Sebastian Bach đã từng biên soạn. Tác phẩm này có giai điệu mạnh mẽ và nó nhanh chóng trở nên gắn liền với nhiều cảnh kịch tính trong các bộ phim. Bach là nhà soạn nhạc hàng đầu về thể loại fugue trong mọi thời đại.

 6. “Eine Kleine Nachtmusik” bởi Wolfgang A. Mozart

"Eine Kleine Nachtmusik" là một trong những Serenade (khúc nhạc chiều) nổi tiếng nhất của nhà soạn nhạc người Áo Wolfgang Amadeus Mozart (1756 – 1791). Đây là bản Serenade số 13 cho đàn dây giọng Son trưởng k. 525 vô cùng quen thuộc với cả những người không nghe nhạc cổ điển nói chung vì nó được dùng quá nhiều trong các chương trình truyền hình. Wolfgang A. Mozart đã tạo ra bản nhạc huyền thoại dài 15 phút hoàn thành chỉ trong 1 tuần tại Vienna năm 1787. Nó được xuất bản vào năm 1827.

Wolfgang Amadeus Mozart (1756 – 1791)

Wolfgang Amadeus Mozart (1756- 1791) sáng tác tác phẩm âm nhạc huyền thoại có thời lượng 15 phút chỉ trong vòng 1 tuần. Nó được công bố chính thức vào năm 1827.

7. “Ode to Joy” của Ludwig Van Beethoven

Cùng với bản giao hưởng số 5, thì bản nhạc này của Beethoven đứng trong bảng xếp loại những bản nhạc nổi tiếng nhất trong lịch sử nền âm nhạc thế giới. "Ode to Joy" là chương cuối được biết đến nhiều nhất và được công chúng yêu thích nhất trong Bản giao hưởng số 9 của Beethoven sáng tác năm 1824. Khi ấy, Beethoven đã bị điếc hoàn toàn. Điều đó càng làm cho nhân loại nghiêng mình thán phục trước một thiên tài âm nhạc vĩ đại. "Ode to Joy" được đánh giá là đỉnh cao của văn minh nhân loại và chọn làm thông điệp hòa bình và thân ái mà loài người gửi vào vũ trụ.

Image result for Beethoven

Một kiệt tác khác của Ludwig Van Beethoven được hoàn thành vào năm 1834 và là phần nổi tiếng nhất của tác phẩm Symphony 9. Thật ngạc nhiên vì trên thực tế là Beethoven bị điếc nhưng vẫn có thể sáng tác những tuyệt tác âm nhạc.

8. “Spring” by Antonio Vivaldi

Antoni Vivaldi ( 1678 – 1741) là nhà soạn nhạc người Ý. Ông được đánh giá là nhà soạn nhạc vĩ đại nhất thời kì Phục hưng và được biết đến nhiều nhất với các Concerto viết cho nhiều nhạc cụ. Ông nổi tiếng với bộ Concerto cho vĩ cầm mang tên "Bốn mùa". Antoni Vivaldi đã viết 4 bản nhạc trong năm 1723, mỗi bản nhạc tượng trưng cho một mùa trong một năm. Trong đó bản "Spring" (mùa xuân) có những giai điệu đẹp và tươi sáng nhất. Giai điệu của bản nhạc cũng như khẽ khàng run rẩy tựa mầm non đâm chồi nảy lộc, cựa mình thoát khỏi cái vỏ xù xì thô ráp của mùa đông. Chính vì vậy, nó được đưa vào nhiều tác phẩm và phim ảnh và nó trở nên quen thuộc đến mức chỉ cần được nghe những nốt đầu tiên, người ta đã thấy không khí mùa xuân tràn ngập.

Antoni Vivaldi ( 1678 – 1741)

Antoni Vivaldi ( 1678 – 1741)

Antonio Vivaldi (1678 – 1741) là một nhà soạn nhạc baroque, người đã viết 4 tác phẩm âm nhạc vào năm 1723, mỗi tác phẩm đại diện cho 1 mùa trong năm, và bởi vì sự nổi tiếng chúng, âm nhạc đã được đưa chuyển tải trong rất nhiều tác phẩm và điện ảnh, đặc biệt là bản “Spring” (“Mùa Xuân”) và “Summer” (“Mùa Hạ.”)

 9. “Canon in D Major” bởi Johann Pachelbel

"Canon in D Major" (Luân khúc Rê trưởng) là một tác phẩm âm nhạc được viết khoảng năm 1680 bởi Johann Pachelbel (1653 – 1706) - nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức. Với cách soạn nhạc đầy kỹ thuật và tinh tế Canon luôn mang đến cho người nghe cảm giác thư thái và nhẹ nhàng như một dòng suối mát chảy róc rách giữa trưa hè nóng nực, hay thanh thản tự do mỗi buổi sớm mai chạy trên thảo nguyên xanh rộng lớn. Đây là bản nhạc cổ điển tuyệt vời dễ nghe, dành cho mọi lứa tuổi với nhiều cách thể hiện khác nhau.

Johann Pachelbel (1653 – 1706) là một nhà soạn nhạc baroque vốn được biết đến như một trong những nhà soạn nhạc nổi tiếng của thời kỳ đó. Ông ấy làm cả thế giới thán phục với các tác phẩm soạn nhạc đầy kỹ thuật và tinh tế.

10. “William Tell Overture” của Gioachino Rossini

"William Tell Overture" (khúc khởi nhạc) mở đầu cho tác phẩm "William Tell"- vở opera cuối cùng dài 12 phút của nhà soạn nhạc người Ý: Gioachino Rossini (1792 - 1868). Đây là bức tranh tả cảnh vùng núi Alpes tại Thụy Sĩ, được chia thành 4 phân đoạn. Với giai điệu đẹp, hoành tráng và biểu cảm, khúc khởi nhạc này được giới chuyên môn đánh giá cao, nó như một bản giao hưởng 4 chương. Chính vì vậy, khúc khởi nhạc "William Tell Overture" được phổ biến vô cùng rộng rãi và có ảnh hưởng lớn trong văn hóa đại chúng. Nó được sử dụng trong bộ phim hoạt hình "Looney Tunes" của hãng Warner Brother, phim hoạt hình Mickey (The Band Concert) của hãng Walt Disney,...

Gioachino Rossini (1792 - 1868)

Gioachino Rossini (1792 - 1868)

Gioachino Rossini (1792 – 1868) viết tác phẩm âm nhạc có thời lượng dài 12 phút này như là phần cuối trong bản overture nhạc kịch gồm 4 phần. Những phần khác cũng được biết đến nhiều, nhưng riêng tác phẩm này trở nên nổi tiếng khi nó được sử dụng trong bộ phim hoạt hình “Looney Tunes” của hãng Warner Brother.

Trong cuộc sống bộn bề này, toplist khuyên bạn hãy dành riêng cho mình một chút thời gian để nghe nhạc, nhất là những bản nhạc cổ điển nổi tiếng ở trên. Bạn sẽ thấy cuộc sống cân bằng, thấy tâm hồn mình lắng lại, nhẹ nhàng, thư giãn và quan trọng là bạn biết cách tận hưởng cuộc sống muôn màu với âm nhạc.

 

Theo  Benjamin Kim | Epoch Times

Kim Phượng st

 

 

Xem thêm...

Nhà có hoa Mimosa vàng

Nhà có hoa Mimosa vàng

Truyện Ngắn của Nguyễn An Bình

 Tôi đi qua khu chợ bán rau cải để đến nhà Kiệt như đã hẹn. Buổi sáng Đà Lạt se se lạnh sương vẫn chưa tan hết, những sọt rau xanh tươi được các nhà vườn chuyển tấp nập  ra vào khu chợ, xen lẫn tiếng ồn ào bán hàng, trả giá  tạo một khung cảnh mua bán náo nhiệt.

Quấn lại chiếc khăn len mỏng cho đở lạnh, Tôi bước lên mấy bậc thang ở cuối chợ rau len qua một ngách nhỏ là qua một con phố khác. Ở Đà Lạt phố xá thật lạ, khi lên cao khi xuống thấp, có chổ chỉ cần qua vài bậc thang ngắn là có thể ngoặt qua một khu phố khác, không khí mới ồn ào ở nơi nầy thì lại yên ắng, vắng vẻ ở nơi khác ngay.

  Nhà của Kiệt ở gần cuối con phố , cậu ta nói chỉ cần bước vào con phố nầy là nhận ra nhà cậu ta ngay bỏi vì duy nhất ở đây chỉ riêng nhà  Kiệt có trồng cây mimosa vàng.Tôi và Kiệt quen nhau từ khi hai chúng tôi nhận được học bống du học ở Singapore, quê Kiệt ở Đà Lạt, còn quê tôi ở miền Tây.

Chúng tôi học chung ngành công nghệ.Kiệt yêu thích âm nhạc, âm nhạc Ngô Thụy Miên và Trịnh Công Sơn như chảy trong máu của hắn,ca từ trong những bản nhạc của hai nhạc sĩ nầy không chê vao đâu được, đi chơi đâu nếu có dịp là Kiệt đem theo cây ghi-ta để nghêu ngao ca hát, còn tôi lại thích thiên văn, nhưng không vì thế mà hai chúng tôi lại không thân nhau.

Lần nầy về Đà Lạt chúng tôi đi theo chương trình giao lưu giữa sinh viên trường đại học chúng tôi đang học với một trường trung học phổ thông nơi đây, ba Kiệt là hiệu trưởng của trường THPT nầy nên giấy tờ, sinh hoạt, tham quan đều rất thuận lợi.

Hôm nay là ngày cuối của chương trình giao lưu chúng tôi được tự do trọn ngày, ba mẹ Kiệt muốn mời tôi đến nhà chơi. Cùng đến thăm nhà Kiệt hôm nay còn có Mai, bạn gái Kiệt cũng là sinh viên công nghệ Sing có mặt trong đoàn  chúng tôi từ đầu.      

 

Ngôi nhà có cây mimosa vàng nổi bật trên con phố,nó cao lớn nhưng thon thả tươi mát, mùa nầy mặc dù đã vào tháng năm nhưng cây vẫn trổ những chùm hoa vàng  hình cầu rực rỡ,tỏa hương thơm mát dịu.

Tôi nghe nói giống cây nầy có xuất xứ từ Úc được du nhập vào nước Pháp rất sớm và nó  đã theo chân bác sĩ Yersin  đến đây khi ông khám phá ra cao nguyên Lang Biang sau nầy trở thành thành phố hoa Đà Lạt xinh đẹp ngày nay.

Thật ra cây mimosa chẳng có giá trị kinh tế nào đáng kể nhưng vì sắc vàng rực rỡ của nó quyến rũ làm say đắm lòng người nên người ta đã trồng nó trên những con đường,quả đồi để tô điểm thêm cho vẻ đẹp của xứ sở ngàn hoa,cứ thế sắc hoa vàng thấp thoàng từ trong ngõ nhỏ đến một số con đường lớn.

Khác với hoa dã quỳ, cánh to rực rỡ nhưng lại mau tàn, còn hoa mimosa lại bền bỉ hơn, nó nở hết đợt hoa nầy đến đợt hoa khác nhất là vào mùa xuân là thời điểm mãn khai nhất của nó, hoa lại khoe sắc vàng, óng ánh mịn mượt như nhung, nở tung hết cánh li ti từng chùm, hình cầu trông thật thơ mộng,duyên dáng.

Cây có dáng đẹp,cành lá lấp lánh ánh bạc, đặc biệt có hương thơm ngai ngái. Đồng bào dân tộc quen gọi mimosa là cây lá bạc hoa vàng và mùa xuân là mùa của lá bạc hoa vàng trên cao nguyên.

Ngoài loại mimosa vàng nầy còn có loại mimosa khi nở màu hoa tím nhạt cũng rất dễ thương quyến rũ nhưng mấy hôm ở Đà Lạt tôi không thấy ai trồng, chẳng lẽ nó không phù hợp với sự thưởng thức của người dân phố hoa nầy hay sao nhỉ?

 Trồng nhiều là thế, nhưng suốt con phố nhỏ nầy chỉ có ngôi nhà của Kiệt là trồng mimosa nên người ta có thể thấy nó nổi bật và dễ nhận ra hơn những ngôi nhà khác, ngôi nhà có hàng rào bằng gỗ thông, những thanh đứng đóng cách khoảng thật đều đặn, đầu thanh chuốt nhọn hình mũi tên sơn trắng muốt sạch sẽ càng làm nổi bật lên ngôi nhà thấp thóang phía sau.

Tôi đứng tần ngần trước ngôi nhà có cây mimosa vàng đó một lúc thì trong nhà có người chạy ra. Một cô bé khoảng mười sáu, mười bảy tuổi gì đó nhưng lớn như một thiếu nữ, mái tóc dài mượt mà, óng ả  trong nắng sớm Đà Lạt, mặt xinh xắn nhanh nhẹn mở cổng reo lên:

-           A!  anh Tân đến rồi, vào đi anh. Sao anh không bấm chuông.

Tôi ngạc nhiên nhớ là mình chưa từng gặp cô bé nầy, hơn nữa đây là lần đầu tiên mình đến Đà Lạt, làm sao cô bé lại biết tên mình. Tôi hỏi:

 -  Sao bé lại biết anh ?

Cô bé nhìn tôi cười vẻ tinh nghịch:

-          Mình đã gặp nhau rồi mà anh.

Tôi ngớ người ra. Chịu. Không biết gặp cô bé nầy lúc nào, nếu mở miệng ra nói không nhớ sợ cô bé nầy giận mất. Như đọc được suy nghĩ của tôi, cô bé nói luôn:

-           Bốn năm trước em cùng ba mẹ đến sân bay tiễn anh Kiệt đi du học ở Sing, anh lúc đó cũng trong đoàn học sinh Việt Nam đi cùng anh Kiệt mà, đúng không?

        À!  Tôi nhớ ra rồi. Ở sân bay lúc ấy đoàn du học sinh chúng tôi và gia đình những người thân đi tiễn tập hợp lại chụp chung một tấm hình lưu niệm nhưng có một cô bé cứ  níu lấy tay anh khóc thúc thít như không muốn anh nó lên máy bay làm ba mẹ nó phải dỗ dành mãi mới thôi. Thì ra là cô bé đây mà. Tôi nheo nheo mắt cười :

-          Thế bây giờ cô bé có còn khóc nhè nữa không?

Cô bé nhìn tôi nguýt mắt rất hồn nhiên;

-          Lúc đó người ta còn nhỏ xíu chứ bộ.

-          Thế bây giờ bé thành người lớn rồi sao?

-          Thôi! Không giởn với anh nữa đâu. Mới gặp mà anh đã chọc phá Vân rồi.

    Tôi cười giả lả chưa biết nói gì, thì trong nhà có tiếng của Kiệt nói với ra và tiếng cười giòn tan,trong trẻo của Mai, tôi thầm nghĩ cô nầy đã đến trước mình một bước rồi. Vân khép cửa rào lại,giục tôi:

         - Anh vào nhà đi, ba mẹ, anh Kiệt chị Mai đang chờ anh trông nhà đó.

Tôi bước qua khu vườn nhỏ để vào nhà bụng thầm nghĩ: Kiệt có cô em gái dễ thương thiệt.


    Ăn sáng xong, chúng tôi  xin phép ba mẹ Kiệt đi tham quan đỉnh núi Lang Biang. Lang Biang là khu du lịch sinh thái cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 12 km về phía bắc thuộc địa phận thị trấn Lạc Dương, được đánh giá là khu du lịch sinh thái mang vẻ đẹp hoang sơ thuần khiết nhất vùng sơn cước hoang dã của tỉnh Lâm Đồng,nó được ví như nóc nhà của thành phố Đà Lạt.

Lang Biang gắn liền với truyền thuyết về một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết: chàng K’Lang-người dân tộc Cill và nàng H’Biang-người dân tộc Lạch. Do lời nguyền thù hằn giữa hai bộ tộc bắt họ phải chia lìa, họ nguyện bảo vệ tình yêu, bằng cách chết cùng nhau, cái chết của họ đã xóa bỏ hận thù guữa hai bộ tộc.

Ngưỡng mộ trước tình yêu chung thủy của đôi trai tài gái sắc nầy các loài chim muông,cây cỏ đã bảo vệ vun đắp hai nấm mồ của nàng Lang và chàng Biang lâu dần thành ngọn núi có hai đỉnh đứng vững chải giữa trời xanh gọi là Lang Biang, nơi mà bất cứ du khách nào lần đầu tiên đến thành phố hoa Đà Lạt đều mong muốn được chinh phục.

Theo cô hướng dẫn viên, để lên tới đỉnh núi Lang Biang có ba cách: đi xe uoát, đi bộ hoặc leo dây. Nhóm tôi có hai cô gái và thời gian cũng không có nhiều nên chúng tôi chọn cách thuê xe lên đỉnh Lang Biang cho thuận tiện.

Chiếc uoát chạy quanh co trên con đường nhựa dài khoảng 6km từ chân núi để lên tới đỉnh, băng qua những rừng thông bạt ngàn,trên đường chúng tôi bắt gặp những người dân tộc vai mang gùi đem những sản vật mà họ thu hái hay trồng trọt được xuống chân núi để bán hoặc trao đổi hàng hóa, vừa đi vừa nói chuyện líu ríu trông vui mắt.

Núi Rađa Đà Lạt

Cô bé Vân ngồi cạnh tôi lúc nào cũng tỏ vẻ thích thú, liến thoắng hồn nhiên làm tôi cũng cảm thấy dễ chịu,thân thiện. Người tài xế thả chúng tôi xuống đỉnh núi Rađa, đây là đỉnh núi cao khoảng 2000m so với mặt nước biển hầu như quanh năm mây phủ, ở đây du khách có thể thả hồn theo những đám mây đang bồng bềnh trôi.

Lúc còn nhỏ xem phim Tây du ký  tôi mê tít cảnh tiên nữ đang múa điệu nghê thường cho ngọc hoàng và quần tiên xem trong đám mây trôi bồng bềnh dưới chân, cảm giác ấy trở lại trong tôi khi đứng trên đỉnh núi Rađa nầy. Chúng tôi đi dọc theo đỉnh núi để ngắm cảnh.

Đứng trên đỉnh núi nầy chúng tôi có thể ngắm trọn thành phố Đà Lạt mộng mơ trong tầm mắt của mình, nó hiện ra như một bức tranh thủy mặc huyền ảo, nhìn về phía tây xa xa là hồ Dankia-Suối Vàng trông như một tấm lụa đào khổng lồ vắt ngang núi đồi xanh ngắt, bạt ngàn.

Ở lưng chừng núi là một thung lũng rộng, đó là “Thung lũng ngàn năm” nơi rất thích hợp cho du khách cắm trại qua đêm. Đâu đó nhiều nhóm du khách trải bạt ra nghỉ ngơi bày đồ ăn thức uống ra để thưởng thức, vừa ăn uống vừa trò chuyện vui vẻ.

Chúng tôi cũng chọn một khoảng đất rộng để cắm trại. Kiệt bắt đầu gẩy đàn hát, Mai nghe có vẻ chăm chú say đắm. Vân có lẽ nghe anh mình hát quen rồi nên có vẻ lơ đảng nhìn đám mây đang bồng bềnh trôi, đứng lên đi lên phía trước để ngắm cảnh.

Kiệt hất hàm về phía tôi như ngầm bảo đi theo Vân để bảo vệ cho em nó, có chuyện gì không yên với nó đâu.Tôi khẽ nhún vai thì đi vậy để cho ông bà còn tự do trò chuyện chứ. Tôi đi phía sau Vân nhưng không báo cho cô bé biết.

Đang đi Vân bỗng kêu á một tiếng, người chao đảo như muốn ngã, tôi hoảng hốt chạy nhanh tới tay nắm lấy tay Vân kéo mạnh về phía mình, bờ ngực như núm cau mới nhú của cô gái mới lớn vô tình chạm nhẹ vào cánh tay tôi làm tôi giật mình thảnh thốt.

Một cảm giác lâng lâng khó tả làm tôi muốn buông tay Vân nhưng sợ Vân té nên lại thôi.Tôi hỏi Vân để khỏa lấp vẻ bối rối của mình và làm cho cô bé đở ngượng vì tôi thấy gò má của Vân như ửng hồng lên:

-          Cô bé có sao không?

Vân cúi xuống xoa bóp cái chân bị sụp xuống cái lổ nhỏ mà cô không để ý tới,kêu suýt xoa.Tôi noi;

   -  Thôi! Ngồi xuống đây nghỉ một lát đi, xem lại cái chân đã xem có sao không,bé nhé.

  Vân ngoan ngoãn ngồi xuống cạnh đó tôi cũng ngồi xuống theo, bảo Vân đưa chân cho mình xem.Tôi xoa nhẹ bàn chân cho Vân đở đau nói:

  - Không sao đâu, một lát là hết đau thôi mà.

     Vân có vẻ như mắc cở khi tôi xoa lên bàn chân của cô,giọng có vẻ cảm động:

   - Bộ anh đi theo Vân hả? Sao ngay lúc em té mà anh đở Vân vậy?

  Tôi cười có vẻ bí mật:

    -  Bí mật quân sự,không nói được.

  Vân cười nhìn về phía trước.Như chợt nhớ ra điều gì tôi hỏi:

   -  Sao ở con phố của bé chỉ có nhà của bé trồng mimosa vàng vậy?

-      Vậy ngôi nhà mới nổi bật,dễ kiếm chứ anh. Nói vui với anh vậy thôi chứ Vân thích loài hoa mimosa ấy lắm.

-    Sao vậy?

-    Vì loài hoa ấy có một truyền thuyết rất cảm động.

-     Truyền thuyết gì thế bé?

    Giọng Vân có vẻ mơ màng:

-    Ngày xưa ở vùng đất Australia xa xôi tươi đẹp nằm giữa biển khơi đầy nắng ấm có đôi tình nhân yêu nhau say đắm.Chàng là một ngư dân thông minh, vạm vỡ.Nàng là con gái cưng của một gia đình quý tộc, đẹp rực rỡ yêu màu vàng và có tấm lòng nhân hậu,thương người.

Nhưng gia đình nàng lại ép gả cho một gia đình quyền quý.Chàng buồn phiền từ bỏ biển khơi, lên vùng rừng núi xa xôi làm nghề giữ rừng để quên đi mối tình tuyệt vọng, thì thình lình nơi ấy xảy ra một trận cháy rừng dữ dội, chàng đã bất chấp nguy hiểm lăn xả vào để cứu những cánh rừng xanh và các con thú tội nghiệp,rồi ngọn lửa quái ác ấy đã thiêu chết chàng.

Khi hay tin chàng trai bỏ biển lên ngàn để quên đi mối tình dang dở,nàng đã bỏ trốn trong đêm vu quy để đi tìm chàng. Nhưng đến nơi thì chỉ thấy xác chàng bên đống tro than của cánh rừng bị cháy.

Đau đớn tột cùng và nàng đã gục chết bên xác người yêu.Từ đó trên vùng núi cao của đất nước Australia thơ mộng, nơi đôi tình nhân chết cho mối tình bất tử xuất hiện một loài cây thân mộc,lá màu xanh biếc, lấp lánh từng chùm hoa vàng thơm mát. Đó chính là loài hoa mimosa vàng tràn ngập trên thành phố Đà Lạt nầy đó.

-          Vì vậy mà cô bé thích mimosa à?

Vân không trả lời mà lại hỏi tôi:

-           Chuyện tình của họ cảm động quá phải không anh?

-          Bé lãng mạn quá đấy.

Vân cười hỏi qua chuyện khác:

-          Mai anh về miền tây hở?

-          Ừ! Mai anh về.

-           Anh có nhớ Đà Lạt không?

-          Nhớ chứ.

-          Nhớ ngôi nhà có hoa mimosa vàng chứ?

  Tôi nhìn Vân ngập ngừng:

-          Nhớ.

  Rồi tôi nói khỏa lấp:

-          Thôi! Mình đến chổ Kiệt và Mai đi kẻo hai người đó trông.

     Chúng tôi xuống núi thì đã quá trưa.Từ chối khéo buổi cơm trưa nhà Kiệt để về.Trưa nay tôi muốn xuống phố ăn cơm bụi một bửa rồi lang thang một chút,mua vài món quà lưu niệm về cho gia đình. Vân giành ra mở cổng rào cho tôi, trước khi tôi đi Vân đưa cho tôi một tấm thiệp,nhìn tôi nói:

-          Anh Tân nhớ đọc nhé.

   Tôi khẽ gật đầu quay đi. Đi một đoạn xa quay đầu nhìn lại vẫn thấy Vân còn đứng đó,nhìn theo.Thấy tôi quay lại Vân vẫy tay, tôi cũng vẫy tay chào lại rồi tiếp tục bước đi về phía chợ.


    Ngồi trên máy bay nhìn qua cửa sổ,thành phố Đà Lạt đã bỏ lại sau lưng tôi thấy lòng nao nao.Thành phố nầy có gì để nhớ nhỉ? Chợt nghĩ đến tấm thiệp của Vân đưa cho tôi, tôi định về nhà mới mở ra xem nhưng rồi tò mò không biết cô bé viết gì,tôi lấy mở ra xem.

Một chùm hoa mimosa vàng nhỏ ép khô bên cạnh góc thiệp và ở giữa có ghi dòng chữ: “Chờ Vân qua Sing anh nhé.Nhớ dẫn Vân đến China town,anh Kiệt nói nơi đó bán đồ ăn ngon lắm. Đừng quên ngôi nhà có hoa mimosa vàng, được không anh?”.

   Tôi ngẩn ngơ giây lát, rồi tự mỉm cười một mình,thầm nghĩ:

-          Nếu có duyên chúng ta sẽ gặp lại nhau cô bé ạ.

 

 

 

 

= Ngọc Lan sưu tầm =

-Hình Internet-

Xem thêm...

Giáo Sư: NGUYỄN HẢI BÌNH

Kết quả hình ảnh cho Đại học luật khoa trong hệ thống giáo dục Miền Nam trước 1975 photos
 
Giáo Sư: NGUYỄN HẢI BÌNH
Nhóm GNST xin hân hạnh giới thiệu đến Diễn Đàn Giáo Sư Nguyễn Hải Bình vào sinh hoạt với chúng ta. Ông tốt nghiệp trường Luật Khoa Sài Gòn và được học bổng Fullbright do phòng Thông Tin Mỹ USIS chu cấp. Ông là Giáo Sư Khoa Trưởng Đại Học Kinh Thương và sang nước ngoài là Giáo Sư của Đại Học Champlain( Canada).
●▬▬▬▬๑۩۩๑▬▬▬▬▬●
Sau đây là bài viết của Giáo Sư Nguyễn Hải Bình.
https://lh3.googleusercontent.com/-oFUp4c3c3gU/VKRcu7316HI/AAAAAAAABt8/Aw5A-4TTkBU/w613-h773-no/Thay%2B1.jpg
TÔI LÀM THẦY GIÁO
Viết cho: Long Xuyên, Anh Ngữ Quân Đội, Khánh Sơn, vợ chồng Châu-Lý, K. Dung, Hải-Phong,
Con đường Duy Tân, Kinh Thương Minh Đức, AMT Champlain Sherbrooke
Đời thường, nói đến thầy giáo là người ta nghĩ đến một nhà mô phạm theo văn hoá Khổng Mạnh mà chúng ta, anh em Hội Cựu giáo chức Việt Nam vùng Quebec, ôm cứng tự ngàn năm. Nhưng cuộc đời làm thầy giáo của tôi sắp kể thì e rằng nó lại đầy rẫy những vui buồn, sướng khổ, trần tục, nghiêm túc và có khi trật đường rầy từ lúc tôi vào đời “godautre”. Xin quí vị phát âm “godautre” theo accent phờ răng xe mà tôi thích dù rằng nó chính là gõ đầu trẻ chỉ vì tôi không quên được cái ngày tôi bắt đầu học tiếng “Tây” lúc ở lớp sơ đẳng “élémentaire” trường École des garçons tỉnh lỵ Hà Đông mà cứ mỗi chiều thứ Tư còn phải ra sân tập hát bài Marseillaise “Allons! Enfants de la patrie …” quốc ca “mẫu quốc”, nói theo ngôn ngữ hồi còn mồ ma Pháp thuộc. 
 Ở cái tuổi thơ lên chín này, đây cũng là lần đâu tìên tôi thấm thía cái quyền uy của thầy giáo thưở xưa khi tôi nhận trận đòn nên thân của thầy giáo Tư. Thằng Phương miệng cá ngão nó gọi tôi đầu quả dưa tôi bèn thụi nó. Thầy Tư trông thấy, ông đi xuống tay cầm cái thước vuông vức, dài gấp đôi cái thước kẻ thường và cứ thế ông đánh túi bụi trên hai cánh tay tôi bầm tím. 
https://lh5.googleusercontent.com/-_OLdYO4nndY/VKRcyrRBW9I/AAAAAAAABvE/WDvQHr9eoBQ/w655-h480-no/thay%2B2.jpg
Lớn lên, tôi thật là trên trời rớt xuống vào đời gõ đầu ‘trẻ” theo đúng nghĩa đen. Mười bốn tuổi đầu mới học hết lớp Đệ Lục trung học, tôi từ hậu phưong kháng chiến “dinh tê” về “tề” ở cái làng Vạn Phúc lụa Hà Đông. Ông lý trường thấy tôi có chút chữ nghĩa bèn xách ra giao cho tôi dậy vỡ lòng xấp nhỏ trong làng ngay tại căn nhà ba gian gia đình tôi được cho ở nhờ. Thế là tôi trở thành “hương sư” bất đác dĩ, dậy các nhi đồng trong làng 24 chữ cái rồi ghép vần “am, nờ am nam ...” và cao nhất là tới mức “Công cha như núi Thái Sơn...”.
 Vậy mà cũng có những vui buồn của hơn một năm trời hương sư. Số là cô em gái tôi cũng ngồi trong lớp này mà lại nói ngọng. Cứ dậy tập đọc “quả na” thì nó lại “quả la” sửa hoài không được. Ông bố tôi ở gian bên cạnh tức điên ruột bèn xách nó ra vừa quất vừa hét “quả na” thì em tôi lại thì thào “quả la”. Rồi chuyện cười ra nước mắt xẩy đến cho màn “quả la” này khi một trò gọi tôi “Cậu giáo, thằng Tèo nó sợ quá đái ra quần rồi”. Thét rồi em tôi cũng sửa được “quả na” sau mươi trận đòn. Một tình cờ mấy năm rồi về thăm Hà Nội tôi lại thấy cái ngôn ngữ “quả la” này “ló lại “ trở thành phổ thông đến nỗi một vị quan toà đã tuyên “bị can phạm tội nường gạt”. 
https://lh4.googleusercontent.com/-xSgGhrrTiWE/VKRcwYntJzI/AAAAAAAABuM/LUSd6VWN5JY/w1163-h773-no/Thay%2B3.jpg
Ấy, vậy mà cũng có chuyện vui thời hương sư của tôi. Tết đến tôi được ông lý trưởng tặng một cái nón béret, các phụ huynh xấp nhỏ biếu cặp bánh chưng và gói mứt sen để gia đình tôi có cái tết đầu tiên ở làng tề.
 Bẵng đi sáu năm về thành kiếm đường học lại tôi mới thấy được cái uy nghiêm và mô phạm của ông thầy mà mọi người trang trọng gọi là giáo sư. Tôi bắt đầu hiểu được thế nào là Tiên học Lễ hậu học Văn. Những năm trung học Nguyễn Trãi tôi đã thấy sự khả kính và nghiêm túc của người thầy. Những tận tụy của giáo sư Bùi Phuợng Chì dậy Lý Hoá, thầy Vượng kiên nhẫn với lũ tôi học trò lần đầu tiên đi vào triết học để người cứ phải lắc đầu nhắc lại cái ý nghĩa của Tam đoạn luận “Là người phải chết – Socrate là người – Socrate phải chết”. 
https://lh4.googleusercontent.com/-NYncza6QaYY/VKRcztlh3KI/AAAAAAAABvQ/fvkQOVXCJig/w590-h535-no/Thay4.jpg
Rồi cái oai quyền của ông thầy thể hiện ngay trên tôi những ngày trung học. Số là tôi học toán với thầy Bạch văn Ngà. Một hôm làm sao tôi lại ngủ trong lớp mà há hốc miệng để thầy ném luôn cục phấn trên tay lọt thỏm vào miệng tôi. Thằng bạn tôi còn điêu đứng hơn với thầy Bốn to như tây, dậy vẽ. Số là trường có một nữ giáo sư tên Lan khuôn trăng cũng khá là đầy đặn như thầy. Thầy cho vẽ tự do, nó bèn vẽ luôn bốn cái hoa lan đem nộp. Ông đứng dậy đi xuống tay cầm bức vẽ tới chỗ nó ngồi bảo đứng dậy, cả lớp nhìn theo. Tôi nghe một tiếng bốp, ông tát nó một cái bằng trời giáng rồi xé bức vẽ Bốn cái hoa Lan.
Với cái bằng trung học này chỉ hơn một năm sau nó đưa tôi vào lại nghề “lên cours”. Vừa có bằng xong thì chế độ quốc trưởng Bảo Đại ban cho tôi cái giấy gọi nhập ngũ để đầu năm 1955 trở thành một tân sỹ quan khoá Vì Dân của thủ tướng rồi tổng thống Ngô Đình Diệm. Vừa xuống miền Tây uýnh lộn với lính ông Ba Cụt chưa được nửa năm thì bộ Tổng Tham Mưu gọi tôi về đi học Anh văn khoá đầu tiên hội Việt Mỹ. Nhờ cái vốn tiếng Anh học nơi bà Hà văn Vượng ở đường Halais Hà Nội trước đây, ba tháng sau tôi được gởi đi trường Bộ binh bên Mỹ làm thông dịch viên cho ông giảng viên đại úy Mỹ Scott dậy môn truyền tin cho lớp sỹ quan Việt Nam đầu tiên sang thụ huấn tại đây. Thế nghĩa là ngày ngày tôi cũng phải lên cours, ông Mỹ giảng thì tôi dịch, làm phụ giáo luôn vì nhiều khi cũng phải giải thích thêm, bao nhiêu cái máy truyền tin AN-PRC lớn nhỏ tôi đều thuộc làm lòng.
Cũng lại quân đội nữa. Về Sàigòn tôi không còn là phụ giáo mà được phong làm “giảng viên”, cái tít thầy giáo thứ ba của tôi, để dậy Anh văn tại đơn vị mới là trướng Anh Ngữ Quân Đội. Giảng viên nhà binh thì làm sao có cái tác phong và mô phạm như những thầy Ngà thầy Vượng của tôi hồi nào.
https://lh6.googleusercontent.com/-68fWH6WbaIo/VKRcwroAhyI/AAAAAAAABuU/SVdn7XwmPCs/w760-h562-no/Thay%2B5.jpg
Các vị học viên của trường ANQĐ thì đủ cả, từ hạ sỹ quan tới các tướng Đôn, Kim, Xuân, Đính, và cả tướng Khiêm dưới trào cụ Diệm. Vào lớp giảng bài thì một là phải hoà mình để được yên thân với “khoá sinh”  khi gặp những vị tếu như ông tu bíp Từ Uyên hay Dê Húc càn Dương Hùng Cường một thời trung sĩ Không quân kê giảng viên với câu “Nhất tự tiên sư, Bán tự tiên sư” chứ không phải “vi sư”. Lúc khác làm thầy thì lại phải chào kính khoá sinh là mấy ông tướng lãnh. Tôi nhớ lại sáng sáng trước khi vào lớp phải nhờ đồng nghiệp nhìn hộ quần áo đã thẳng nếp chưa, giày đen đã bóng đủ soi gương chưa. Đi vào lớp rập chân cái cốp, giơ tay chào kính mấy vị khóa sinh đeo sao tướng lãnh trên ve áo và hô “Good morning Sir” trước khi bắt đầu “Please, repeat after me”.
Cái vai thầy giáo thứ ba này của tôi còn làm tôi mai một danh tiếng mô phạm hơn nữa cũng chỉ vì ông chỉ huy trưởng lại là típ chịu chơi. Ông đàn anh này của tôi hiện giờ cũng đang ở Montréal đấy. Cuối tuần ông dắt cả bọn đi Vũng Tầu vi vút. Làm sao tôi còn mô phạm được nữa khi dám mon men khen cô chủ quán đẹp để nàng bẽn lẽn nói yêu “Mais, il n’y a pas de rose sans épine”.
Hồi đó có chút tiếng Anh là có giá lắm vì phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ MACV mới đổ vào, người ta đi học tiếng Anh tùm lum. Nhờ vậy, tôi được 
https://lh6.googleusercontent.com/-GT-zG4-Balc/VKRcxGW_ZaI/AAAAAAAABuc/ZAl-Mxb5Cvk/w1074-h773-no/Thay%2B6.jpg
các trường Anh văn Khải Minh rồi Dziên Hồng mời dậy. Tôi bước vào cái nghiệp thầy giáo lần thứ tư và có thấy chút hãnh diện hơn, cảm thấy mình có chút được ngưỡng mộ hơn vì lần đầu tiên được các học sinh gọi là “thầy”.
Tôi bèn thấy yêu nghề dậy học vì tự nhiên tối tối tan trường ra leo lên cái xế Lambretta hai bánh thì đã thấy lủng lẳng trên tay lái một chùm bông sứ và một đống cô gái choai choai nhìn cười. Riết rồi mấy cô gái miền Nam bạo miệng túm tôi trong giờ nghỉ mà hỏi thầy bao nhiêu tuổi. Tôi nói hai mươi ba thì có tiếng nói góp”Con Tư miệt vườn nó treo chùm bông sứ ghẹo thầy đấy. Nó mới 17 tuổi hà...” Cái sự kiện cho tôi vui ngầm lẩn thẩn này cũng đem cho tôi một tai hoạ khi có tên học trò tức khí. Hắn về móc ra một chữ tiếng Anh vào lớp cắc cớ hỏi thầy “henpecked” nghĩa là gì. Biết là mình bị chiếu tướng nhưng cũng đành đỏ mặt trả lời “Tôi không biết” vì tôi không biết thật. Nhưng cũng tại đây tôi cảm nhận được cái cao quí bền vững của tình sư đệ. Một đôi trai gái nên vợ nên chồng trong lớp tôi và cho đến nay 53 năm xa cách nhưng mỗi năm tôi đều nhận được một cánh thiệp chúc tân niên.
Cái đời lính hai lần bị gọi lại là con đường cho tôi lún sâu vào nghề thầy giáo để thấy cái đẹp cao quí từ lúc chính mình ngưỡng mộ nhin những bậc thầy đến khi những ánh mắt học trò nhìn mình như thần tượng đứng trên bục giảng con đường Duy Tân.
Đi lính kiểng ở Sàigòn nên tôi mới được dù đi cours của những giáo sư trường Luật NC Hách, VV Hiền, VQ Thúc v.v. Chỉ nghe thầy Hách ngồi trên bục giảng nhắc một tiếng “Kinh toán học” là đã thấy thầy là thần tượng của tôi rồi. Vào vấn đáp thầy Hiền dân luật hỏi điều 1382 trách nhiệm dân sự tôi ngắc ngứ. Thấy mình đeo lon trung úy, thầy nói “Anh đi lính hả? Sang năm Cử nhân Ba nhớ đi cours cho đều”. Vâng, tôi tái ngũ hát bài “Trả lại em yêu, Con đường Duy tân, Cây dài bóng xế...” nay về đi thi!
Nhờ cái bằng trường Luật và cái quá trình quân ngũ tôi được ưu tiên đi Mỹ học với cái học bổng Fullbright do phòng Thông Tin Mỹ USIS cho. Về nước với cái bằng Kinh tế, ông khoa trưởng Nguyễn Độ dí cho tôi cái cours Mậu dịch Quốc tế với tư cách “giảng sư”, cái danh xưng thứ năm trong nghề thầy giáo của tôi kể từ khi làm thầy giáo làng tên gọi hương sư. 
https://lh4.googleusercontent.com/-pmCtkhgJDeo/VKRcxcmzKCI/AAAAAAAABuo/RrvdF0AuYG0/w500-h438-no/Thay%2B7.jpg
Lần đầu tiên trong đời lên đồ bộ còm lê vào lớp, thấy cũng hơi run trước cả hai trăm sinh viên ngồi chật giảng đường. Ông khoa trưởng giới thiệu “Đây là giáo sư Bình mới về nước. Trước đây 10 năm giáo sư đã tốt nghiệp ở trường ta và hôm nay về giảng dậy môn học mới Mậu dịch quốc tế cho các anh chị”. Giảng đường vỗ tay rần rần. Và tôi bắt đầu cái cours này bốn năm liên tiếp cho Cử nhân 4 với những thương mến, yêu kính của lớp sinh viên đàn em vì nhiệt tình đóng góp của tôi. Và rồi những truân chuyên vướng mắc của tôi, một người thầy tận tụy nhưng cũng là con người mà chuyện đời đưa đẩy. Ôi, bốn năm trường Luật tôi còn có nghề tay trái nữa nên lên cours xong là chạy như ma đuổi. Tất niên họp mặt lớp, mấy nàng sinh viên nhào đến đòi chụp hình chung và chất vấn “Tại sao cứ tan cours là thầy chạy như mà đuổi? Thầy sợ tụi em “bắt” hả?”
Và rồi tôi bị bắt thật. Những giờ dậy Sinh ngữ doanh thương Cử nhân 3 một ngày nào đó đã đưa tôi đến chỗ chết chìm. Mười lăm phút giải lao ngồi trên bục giảng tình cờ một hôm thấy có ai ngồi đó một mình không ra sân chơi. Rồi ánh mắt chớp chớp cho tôi cái linh cảm bất thường. Mọi chuyện cũng qua đi nhưng, thú thật, tôi bắt đầu để ý. Trong lớp cả năm học vẫn ánh mắt đó mỗi khi tình cờ mắt giao nhau. Cứ vậy, cinéma không tiếng nói cho đến hết năm thứ Tư ngày tốt nghiệp. Giờ chia tay, nàng chờ dịp lại gần nói “Em chào thầy tạm biệt”. Thầy nói mong có dịp gặp lại và nàng “Vâng”. 
https://lh6.googleusercontent.com/-bC1lca0Ntks/VKRcxzekKxI/AAAAAAAABuw/1gNmHw2oT9A/w1000-h750-no/Thay%2B8.jpg
Thế là mọi chuyện an bài. Ngày ra đi tôi không còn là thầy nữa mà trở thành “Anh” sau khi ra nhà làng Sherbrooke ký giấy mang cái hàm phu quân. Là phu quân tôi được nàng cơm bưng nước rót như đã nói đến trong bài “Gã phu” tôi viết trước đây.Thời gian qua, nàng “take off” nói theo ngôn ngữ phát triển kinh tế. Tôi tự nhiên thấy đâu mất chữ “quân” mà chỉ còn chữ “phu”. Vâng, tôi chở thành phu xe lái xế cho nàng đi, kiêm phu khuân vác cả chục năm lễ mễ xách cái keyboard đi Hội Giáo chức cho thằng con đệm đàn để nàng lên trình diễn Lòng Mẹ, Tình Cầm. Và bây gìờ đây từ ngày tôi về hưu mà nàng vẫn lặn lội thân cò thì tôi trở thành phu đổ rác, mỗi ngày thứ Ba hì hục lo khuân mấy cái “bac” tổ chảng rác đen, rác composte, rác recyclage ra lề đường. Không còn cái uy phong của người thầy giáo nữa, sáng sáng mùa đông xứ lạnh muốn sóng yên biển lặng tôi còn trở thành phu hốt tuyết ra cào xe, dọn lối đi để nàng lên đường đi làm.
Cũng có những chuyện toát mồ hôi tại cái trường con đường Duy Tân này. Một hôm có một phu nhân tới gặp tôi đưa cái danh thiếp của một ông thầy tôi, kèm theo một cái tên có chữ đệm “thị” trong đó. Bà nói nhờ giáo sư giúp cho. Tôi nhỏ nhẹ thưa bài rọc phách đã chấm và nộp trường rồi nên không làm chi được. Bữa sau ra trường ráp phách tôi thỏ thẻ chuyện này với tên đồng nghiệp thân. Nó hỏi tôi tên gì và há hốc miệng. Nó lục ra bài đã ráp phách rồi hét lên “Mày đánh rớt bà thầy mày rồi”. Tôi nhìn vào thì thầy cái điểm tôi đã phê “Lạc đề: 4/20”!
Một chuyện nữa, đời lính đi thi. Tôi coi thi trong giảng đường có một sỹ quan đeo lon trung úy. Tôi ngồi trên bục cao nhìn xuống thấy có xấp giấy kẹp ở đùi. Thấy tôi rời bục đi xuống, người thản nhiên rút cây súng Colt 45 để trên bàn. Phòng thi đã yên lặng sẵn mà bây giờ nó là cái yên lặng lạnh người, nhóm thí sinh xanh mặt. Máu lính cũ hoà với máu du côn nổi lên, tôi quay lên bục mở cặp lấy khẩu rouleau 6 viên dắt vô bụng quay xuống. Tôi chìa tay xin bài.
-  Xin giáo sư tha cho, tôi ở đơn vị về.
Tôi thu bài và mời thí sinh Trung úy đi ra, chấm dứt câu chuyện tại đây vì nhớ tới cái khoan dung của thầy Vũ văn Hiền với điều 1382 Dân luật khi tôi vào vấn đáp năm xưa.
https://lh4.googleusercontent.com/-C716gSolZ30/VKRcyP1DDmI/AAAAAAAABu0/qViSg4Z2dL0/w1000-h750-no/Thay%2B9.jpg
Nhưng kỷ niệm đẹp nhất của tôi trong cuộc đời dậy học là những năm với Kinh Thương Minh Đức. Cha Bửu Dưỡng muốn dựng một đại học tại Sàigòn và giao tôi soạn thảo cái chương trình cho một phân khoa mang tên Kinh Tế Thương Mại. Đó là một phân khoa với hai ban Kinh Tế và Doanh Thương. Trường ra đời năm 1970 và phân khoa có độc nhất lớp Cử nhân 1 với 150 sinh viên mà tôi giảng dậy cái môn Kinh tế vi tiểu . Chưa hết niên học thì thay đổi viện trưởng. Cha tân viện trưởng Bạch văn Lộc giao tôi trọng trách dựng lại cái phân khoa và ban cho tôi cái chức vụ làm thầy thứ sáu của đời tôi: Giáo sư thêm cái tít Khoa Trưởng đi sau.
 Trong bốn năm làm việc tôi vừa dậy ba môn kinh tế và một môn Anh ngữ doanh thương, vừa cải tiến phát triển trường. Với tinh thần khai phóng, kiến thức mới, sự hợp tác bình đẳng keo sơn giữa đồng nghiệp, những jeunes Turcs chúng tôi và văn phòng Kinh Thương đã đưa phân khoa tứ một lớp Cử nhân 150 sinh viên năm 1970 lên con số hơn 2000 tháng Tư 1975 rồi xẩy đàn tan nghé khi Sàigòn nằm xuống.
Một chuyện cười ra nước măt lúc trường tan hàng. Hồi đó Kinh Thương Minh Đức có nhiều phân ban từ Cử nhân, Cao học và thêm một ban Cao Đẳng ba năm. Ban này đào tạo nhân viên Quản trị Văn phòng mà giai tầng hành chánh thời VN Công Hoà chúng ta người ta gọi là bí thư, bây giờ tiếng gọi bên nhà là “trợ lý” đấy. Với chế độ mới vào Sàigòn thì bí thư là ghê lắm, nhất đẳng triều đình như tổng bí thư trung ương đảng tới các vị lãnh đạo mang danh xưng bí thư thành ủy, quận ủy, xã ủy, chi ủy tùm lum với quyền hành sinh sát. Thế mà cái trường Kinh thương mắc dịch nó dám mở ban đào tạo bí thư cho Ngụy. Vậy đám bí thư này cho đi cải tạo hết, không thì cũng phải hành hạ cho tới bến. Tôi nghiệp cho các nữ sinh bi thư của tôi đâu có biết gì chính trị mà chỉ theo học cô Nga dậy trang điểm, cô Thu dậy Anh văn, cô Liên dậy gõ máy. Vậy mà mấy kiều nữ lớp quản trị văn phòng tức ”bí thư” của tôi đã bị chế độ mới một thời hành hạ mút mùa.
 Vắn số rồi nhưng vang bóng của một Kinh Thương Minh Đức vẫn còn đó cho tới hôm nay với những họp mặt kể lể chuyện xưa, tình đồng môn, tình sư đệ hai năm một lần gặp nhau từ Cali, Houston, New York, Toronto, Saigon, Úc châu và sang năm 2014 về lại Bắc Cali. Thầy trò hội ngô ngậm ngùi tiếc nối trường xưa vắn số nhưng thật cảm động với thân thương khi một anh em K1 nói “Thầy dậy tụi em chỉ một vài môn nhưng chúng em quí trọng thầy hơn vì cái viễn kiến khai phóng, cái đường lối học tập mới và nghệ thuật quản trị mà thầy và các giáo sư đã đem đến cho chúng em để bây giờ chúng em có thể tung hoành”. Tôi không còn xa cách khi hơn một lần nghe lời tâm sự “Ngày xưa lúc thấy bóng thầy ở đâu trong trường là tụi em lảng mất. Vậy mà sao bây giờ ba mươi năm sau thấy thầy trò thật gần”. Một thời dĩ vãng, tôi đã gắn bó với trường, mang một đam mê mỗi khi bước lên bục giảng và hãnh diện khi thầy lớp đàn em tròn mắt ngưỡng mộ thầy đang ba hoa những tiêu thụ biên tế, tiêu thụ trung bình, cái mô thức tăng trưởng Keynes multiplier. Ôi, nay tất cả chỉ còn là Vang bóng một thời, nói theo kiểu tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Tuân. Nên chi, trong lần hội ngộ Nam Cali 2012 tôi đã tâm sự với anh em: “Tôi nghe nói bên Pháp người ta bảo dậy học là một nghề bạc bẽo –un métier ingrat – Nhưng những lần gặp lại anh em từ ngày trường ta nằm xuống, sự thân thương ưu ái mà anh chị em cho tôi đã là nguồn hạnh phúc mà tôi có được vào lúc cuối đời...” Cái tình yêu trường cũ đó cũng đã cho tôi cảm hứng làm tới ba bài thơ con cóc cho tình sư đệ và trường xưa bến cũ.
https://lh5.googleusercontent.com/-el7G3MKTZ9g/VKRcu2cj6MI/AAAAAAAABtw/yo83wWVe7sY/w598-h337-no/Thay%2B10.jpg
Trường tan, thầy trò người kẹt lại người ra đi trong đó có tôi. Sang tới Canada Quebec năm 1975 tôi nào đâu có nghĩ đến chuyện xin làm thầy trở lại. Cho rằng mình là chuyên viên tài chánh tôi nghĩ làm ngoài lương lậu khá hơn. Nhưng đời không toàn mầu hồng như vậy. Tuần lễ thứ hai sau khi tới Montréal tôi lên Sở Di trú lãnh cái séc phụ trợ tài chánh thì ông tham vấn conseiller của tôi đưa séc kèm theo lời bàn: “Anh bằng cấp thế này mà lên xin tiền phụ trợ”. Tôi điên người quạt lại: “Anh là tham vấn của tôi, vậy trong tuần qua anh đã tìm được chỗ nào giới thiệu việc làm cho tôi chưa?”. 
https://lh5.googleusercontent.com/-3aLUuti8Wwc/VKRcu8SU-1I/AAAAAAAABu8/8CYFxO49UOk/w398-h532-no/Thay%2B11.jpg
Nhưng mà đau quá, tôi mò đi coi cái bảng giới thiệu việc làm để bắt đầu làm lại cuộc đời ở một steak house đường Décarie góc Van Horne với nghề mới toanh trong đời tôi là rửa chén, tiếng Tây kêu là plongeur. Tuần thứ ba sau khi tới Montréal tôi nhận được cái séc lương đầu tiên 145 đô la cho 36 giờ rửa chén, nhớ hồi đó lương tối thiểu độ 4 đô một giờ.
Ở đời, ai đâu biết được chữ “ngờ” nên tôi cũng không ngờ mình trở lại nghề thầy giáo lần thứ bẩy trong suốt 35 năm kế tiếp. Sau hai tháng miệt mài rửa chén, xắt rau bắp cải làm cole slaw và chùi toa lét nhà hàng, tự nhiên tôi nhận được cú phôn lạ hoắc hỏi có muốn đi dậy học ở Sherbrooke không. Ơ hay, tôi có xin việc hồi nào đâu, mà Sherbrooke ở đâu? Tôi phone lại thì được biết đó là một cégep mang tên Champlain College cách Montréal 150 km đang cần một giáo sư điền khuyết. Ông tham vấn di trú chuyến này niềm nở kiếm xe, chỉ đường cho tôi đi Sherbrooke. Sau màn phỏng vấn, ông giám đốc trường mời tôi nhận việc để bắt đầu ngay tuần tới khai giảng với lương năm là 30,000 đô. Đúng là trên trời rớt xuống, Quebec đãi kẻ tị nạn là tôi. Tôi làm toán nhân 145 đô rửa chén với 52 tuần và quyết định nhận nghề thầy giáo lần thứ bẩy của tôi cái rụp. Về sau này hỏi ra mới biết tôi không xin mà tự nhiên có việc là nhờ cái ưu ái của Di trú Quebec đã gởi CV tiểu sử của tôi đi các trường đại học nên Champlain biết tôi. Chỉ tội ông chủ Steak house vì tôi xin nghỉ ngang xương. Ông chửi thế tôi kỹ quá và hỏi bỏ việc đi đâu. Tới khi tôi nói “Đi dậy”. Ông quạt lại “Dậy rửa chén hả?”!
Những năm tháng Champlain bắt đầu đầy những xa lạ từ khung cảnh, ngôn ngữ giảng dậy, văn hoá giao lưu, tương quan thầy trò, nhu cầu tái huấn luyện, trang bị kiến thức mới. Vậy mà tất cả đã qua đi ồn ào, năng động, khó khăn trở ngại, hài hoà để tôi ở với trường đủ 35 năm cho tới ngày về hưu mới đây.
https://lh5.googleusercontent.com/-u4NFEcHhKqI/VKRcvv79QOI/AAAAAAAABvM/DgqEKbfMOcU/w1160-h477-no/Thay%2B12.jpg
Vẫn những đam mê giảng dậy, lòng kiên nhẫn, bản tính thích nghi và tinh thần cầu tiến tôi gắn bó với Champlain.
Nhớ buổi lên cours đầu tiên tôi vào lớp tự tin để đối diện với khoảng 20 cô cậu tuổi đôi mươi. Ở cái tỉnh nhỏ này khuôn mặt da vàng mũi tét hiếm lắm mà lại đi làm thầy. Ra đường câu hỏi xã giao thường bà con tỉnh lẻ giành cho tôi là  “Anh làm ở tiệm ăn Tầu nào?” vì họ đâu có biết tôi mới đây rửa chén ở Steak house. Vậy nay vào lớp lên cours xấp nhỏ có nhìn tôi cũng vậy mà thôi. Hai ông nhóc ngồi hai bàn đầu bèn gác cái chân mang giầy lên bàn thử gân ông thầy nhỏ con. Mấy em khác nhìn chăm chăm đợi coi thầy phản ứng. Đi lính rồi một là sấm sét, hai là mặt lạnh như tiền xu. Tôi chọn chiêu mặt lạnh tỉnh bơ vì tự tin ở cái kinh nghiệm dậy Kinh tế vi tiểu micro-economics của tôi cả mấy chục lần nhớ làm lòng rồi. Tôi bình tĩnh bắt đầu. Đến khi nói tới đồ thị biểu diễn số tổng thu, số thu trung bình, số thu biên tế tôi lả lướt vẽ trên bảng phấn rồi quay lại hỏi: “Các em có để ý cái hàm số biểu diễn parabole tổng thu là bậc mấy không? Và công thức đạo hàm của trực tuyến biểu diễn số thu biên tế viết ra sao? Cái đại số học này các em mới học Calculus II ở lớp 5 trung học mà. Học kinh tế hay thương mại cũng phải có tí toán đó.” Tôi đảo mắt nhìn lớp học yên lặng và ngừng lại vài giây chiếu tướng hai nhóc tì có chân để trên bàn. Từ sau đó, tôi không thấy đôi chân ấy triển lãm trên bàn nữa.
Nhập gia tùy tục, tôi và các em hai nền văn hoá khác nhau. Tôi cần nương nhẹ , thích nghi hoá để làm tròn trách nhiệm với lương tâm và đạo đức nghề nghiệp. Chế ngự được lớp học với khả năng, với đam mê và nhận diện tài năng để khuyến khích thăng tiến tôi mới tâm sự với học trò để giữ cho lớp học sinh động mà nghiêm túc và đạt kết quả. Tôi kể chuyện mình thời đi học nhận cục phấn thầy Ngà ném vào miệng, thằng bạn nhận cái tát với bức vẽ Bốn cái hoa Lan và nói : “Bên này là xứ tự do. Tôi mà làm vậy thì một là các em đập lại tôi, hai là các em đưa tôi ra toà”. Đấy là cách tôi chinh phục xấp nhỏ để làm cái nghề mà ông Tây bảo là “ingrat/unrewarding”. Nhưng bản thân tôi vẫn còn mang nặng cái văn hoá Á đông nên thật buồn khi một sinh viên bất hoà với bạn trong lớp chỉ nói một câu “Liệu hồn, ở nhà tao có súng”. Cô học trò đối tượng liền bốc phone và cảnh sát vào lớp tôi còng tay chú nhỏ đem đi.
Ở cái xứ Bắc Mỹ này cái gì gọi là riêng tư/privacy thật là thiêng liêng. Nhưng cũng có những phụ huynh theo sát, kèm cặp con cái như tôi kèm cháu Hải-Phong trước đây lười ơi là lười. Một hôm có ông gọi phone hỏi tôi điểm thi của cô con gái vì tôi là trưởng ban. Tôi nhỏ nhẹ trả lời không được. Ông năn nỉ nhưng tôi nói “không” vì cháu đã thành niên rồi, chỉ cháu mới có quyền được biết. Ông nổi xung hét trong máy dọa tôi “Nếu vậy ông sẽ biết tôi”. Tôi bình tĩnh bảo ông nghe cho kỹ là ông sinh trưởng ở đây phải biết luật rành hơn tôi. Tôi có thể báo cảnh sát là ông hăm doạ tôi ngay bây giờ nhưng tôi không làm.Tôi không làm chỉ vì thấy ông là một người cha còn lo lắng cho con. Ông cúp máy, nhưng nhẹ nhàng.
Cần lập chương trình mới Kế toán Quản Trị nên trường lại dí tôi làm Trưởng ban, chef de department vỏn vẹn trên dưới 100 sĩ số và dăm bẩy giáo chức đông nghiệp so với Kinh Thương Minh Đức một thời của tôi hơn 2000 sinh viên. Được cái, lớp học trò Tây này cũng thương tôi lắm. Ngày tôi về hưu các em cũng tiễn đưa lưu luyến lỉnh kỉnh. Biết tôi lấy vợ học trò qua những lần thầy trò tâm sự đấu láo, một cô bé xấn lên hôn má tôi và nói “Ngày xưa có cô học trò hôn ông rồi kêu ông là chéri. Hôm nay tôi hôn ông như là daddy của tôi, OK?”. Tôi giã từ Champlain College với một cái “épingle” trên ve áo gắn tới 3 cục hột xoàn và một cục đá xanh émeraude tất cả lớn bằng cái đầu tăm cho 35 năm thầy giáo Champlain.
 https://lh3.googleusercontent.com/-VIdA0ToLqBE/VKRcvg5of0I/AAAAAAAABus/hQMyQeX_qU4/w1000-h750-no/Thay%2B13.jpg
Tôi chấm hết cuộc đời thầy giáo 50 năm on-off nhưng vẫn còn những mến thương chứ không như cái nghề tay trái của tôi một thời giông bão. Nên chi tôi vẫn lẽo đẽo với cái hội Giáo Chức VN vùng Quebec chúng ta, vẫn điện thư giao hữu với các cựu đồng nghiệp Làng Anh Ngữ Quân Đội/Sinh Ngữ Quân Đội một thời binh lửa. Tôi vẫn chợt vui nhẹ nhàng với những điệp văn Happy Birthday trên Facebook của các em cựu sinh viên Champlain. Tôi cũng sung sướng hả hê nhìn ông con một thời lười ơi là lười nay cũng nối nghiệp bố làm nghề thầy giáo tỉnh lẻ cách Montréal 50 cây số. Chàng cũng yêu nghề, ngoài giờ dậy vẫn tạo những sinh hoạt ngoại vi cho xấp nhỏ học trò đi trại, chụp hình. Chả thế mà một bé đã bảo Hải-Phong “Em muốn thầy làm bố dượng của em, thầy chịu không thì em giới thiệu mẹ em!”
Và hạnh phúc nhất của tôi vẫn là hai năm mt lần hội ngộ với những đại hội của các anh chị em cựu sinh viên Kinh Thương Minh Đức. Như khi các thân hữu giáo chức của tôi đọc những giòng này trong Kỷ yếu nhân ngày kỷ niệm 20 năm Hội chúng ta thì tôi đang trong vòng tay thân quí của Kinh Thương Nam Cali để cùng nhau nhớ lại một thời vang bóng và kỷ niệm ngày vui tôi thượng thọ tuổi Giáp Tuất 80...
 https://lh6.googleusercontent.com/-2xI608NhkPM/VKRcv6UcEJI/AAAAAAAABuE/FeEJ6gT5qHw/w970-h773-no/Thay%2B14.jpg
 NGUYỄN HẢI-BÌNH
    Sherbrooke, Tháng 2-2013


Tin Tức Đại Hội KT 2019

Thư mời tham dự Đại Hội Kinh Thương 2019 tại Houston, Texas vào ngày 18, 19 và 20 tháng 10, 2019

Thông báo của ban tổ chức Đại Hội Kinh Thương

Tin từ HOÀNG TRÍ DŨNG (K3 - Houston, Texas)

Các bạn thân mến,

Ban Tổ Chức ĐHKT2019 Houston  xin gửi đến các bạn chương trình 3 ngày dại hội. Có một thay đổi về địa điểm tổ chức họp mặt Tiền Đại Hội ngày Thứ Sáu 18 tháng 10, 2019. Địa điểm mới là

Cao Trí Studio, 6200 Wilcrest, Houston, TX 77072
 
Chương trình Đại Hội Kinh Thương 2019 tại Houston

For more details, please follow the link below:

●▬▬▬▬๑۩۩๑▬▬▬▬▬●

 Đại học luật khoa trong hệ thống giáo dục Miền Nam trước 1975 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ảnh mang tính minh họa
(Trích có bổ sung trong tập san Hội Ngộ Mùa Thu Luật Khoa Kỳ X 28-9-2019 tại San Jose Hoa Kỳ)

Đỗ tú tài toàn phần năm 1964, cử nhân luật năm 1974, trở lại trường đại học tại Hoa Kỳ năm 1993, có lẽ đó là điển hình cuộc đời một số không ít sinh viên miền Nam Việt Nam Cộng Hòa của thế hệ tôi, chìm ngập trong chiến tranh.
Mặc dù là thời chiến, nhưng nền giáo dục tiểu, trung và đại học của miền Nam cũng vẫn rất nghiêm chỉnh, đâu ra đó. Và còn một điểm nữa quan trọng nhất là hoàn toàn miễn phí ở cấp tiểu và trung học và học phí hầu như không đáng kể ở bậc đại học. Bởi thế tôi là một sinh viên đôi lúc vô gia cư theo đúng nghĩa đen, và thất nghiệp, nhưng vẫn theo đuổi việc học đại học một cách liên tục và thoải mái. Thực sự ra sinh viên thất nghiệp chỉ vì muốn thất nghiệp thôi chứ đã là sinh viên thì thiếu gì việc làm; việc dễ nhất là nạp đơn vào Bộ Giáo Dục xin đi dậy cấp 2, như thế cũng được xã hội trọng vọng gọi là “thầy”. Việc ghi tên học đại học rất dễ dàng đối với ba phân khoa khoa học, văn khoa và luật khoa. Các phân khoa khác như Y, Nha, Dược, Kỹ sư Phú Thọ, Kỹ sư Nông Lâm, Đại học sư phạm và Quốc gia hành chánh thì phải thi tuyển, vì khi ra trường chắc chắn có việc làm nên tuyển sinh ít. Nhưng thi rất công bằng và không có diện nào được điểm ưu tiên hay điểm khuyến khích.
 
Vào năm 1964 của tôi, thi tú tài 2 (tương đương tốt nghiệp trung học phổ thông bây giờ) chỉ đỗ có 12% mà đã bị coi là quá dễ so với mấy niên học trước đó. Vì vậy sau khi đỗ tú tài lên sinh viên là được xã hội quí trọng. Mỗi khi đi đường, khi bị cảnh sát hỏi giấy tờ, đưa thẻ sinh viên ra là có thể được đi ngay, trừ khi họ cần xét hỏi thêm vấn đề gì khác, thí dụ vấn đề quân dịch chẳng hạn. Các học sinh đều bình đẳng như nhau, không ai được điểm ưu tiên như bây giờ. Không phân biệt con ông lớn hay con ông bé, con quân nhân, công chức hay con của những người đã tập kết ra bắc hoặc ra bưng theo Việt cộng. Chính vì vậy mới có những người tập kết hoặc từ bưng biền trở về thành phố sau 30-4-1975 thấy các người con của mình được nhà nước VNCH mà họ gọi là ngụy cho ăn học đầy đủ, thậm chí còn được cho đi du học nếu học giỏi.
 
Ngay cả khi tới tuổi nhập ngũ cũng vẫn được hưởng qui chế bình đẳng với các người khác nghĩa là có tú tài 1 trở lên (lớp 12) khi nhập ngũ sẽ được mang quân hàm sĩ quan và được thăng cấp theo qui chế giống như mọi người khác. Ví dụ rõ nhất là hai sĩ quan nổi tiếng của miền Nam là nhà văn, Đại úy Nhảy dù Phan Nhật Nam, có cha tập kết và Lý Tống, người phi công và cũng là người tù CS huyền thoại của miền Nam có anh tập kết nhưng đều được đi học văn hóa và nhập ngũ, thăng cấp bình đẳng như mọi thanh niên khác. Nếu ở trường hợp ngược lại, thì hai người này ở miền Bắc chỉ có đi cầy trên núi rừng biên giới như bao gia đình cùng hoàn cảnh sau 1954 trên đất Bắc. Các cô thầy giáo dậy trong lớp có con em mình cũng giống như dậy những học trò khác.
 
Tất cả các điểm học đều được chấm theo khả năng, không hề có chuyện thiên vị con cô, con thầy hay con đồng nghiệp so với các học sinh khác trong lớp. Tất cả các kỳ thi tú tài 1 hay tú tài 2 đều được tổ chức qui củ, công bằng, minh bạch, chẳng bao giờ có đề sai, hay chạy điểm. Thời buổi đó trên lãnh vực giáo dục hầu như ai cũng có nhân cách. Bằng cấp là giấy chứng nhận mức độ kiến thức thực sự, không như bây giờ có cả bằng tiến sĩ chạy điểm. Bởi thế sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, người sinh viên có thể nạp đơn xin làm giáo viên chính thức cấp 2 (trung học đệ nhất cấp) trường công và có đủ khả năng và tư cách để làm thầy mà chẳng cần phải qua một lớp sư phạm hay lớp huấn luyện đặc biệt nào. Thật là quái lạ tại sao ngày nay việc dậy học của các cô thầy mặc dù đã tốt nghiệp đại học sư phạm mà vẫn thường xuyên va vấp về kiến thức cũng như phương pháp giảng dậy.
 
Sau khi đỗ tú tài 2, tôi lên đại học Đà Lạt học lớp toán lý đại cương (MGP: mathematic general and physics). Đây là lớp dự bị cử nhân toán và cũng là chứng chỉ khó nhất trong các chứng chỉ thuộc phân khoa đại học khoa học, ít người dám theo học. Trong lớp tôi chỉ có 7 sinh viên, trong khi phân khoa chính trị kinh doanh có 2000 sinh viên. Mặc dù chỉ có 7 sinh viên trong đó có mấy sinh viên đã học mấy năm mà chưa đỗ nhưng cuối năm cũng chỉ đỗ có 1 sinh viên và người này cũng đã bị bầm dập 2, 3 năm ở cái lớp dự bị này. Nhưng nếu đã đỗ được chứng chỉ dự bị này thì kể như sẽ đủ khả năng để đỗ mấy chứng chỉ kế tiếp để hoàn thành văn bằng cử nhân giáo khoa toán. Học cử nhân toán là phải có một đam mê toán, suốt ngày chú tâm vào toán, suốt ngày làm bài tập và không còn sinh hoạt gì khác, do đó sau khi thi trượt cuối năm, mặc dù Linh Mục viện trưởng khuyên tôi tiếp tục ở lại học phân khoa khác và vẫn tiếp tục cho tôi học bổng, nhưng tôi cám ơn Linh mục và bỏ học bổng của Đại học Đà Lạt để về Saigon học môn khác.
 
Khi đã bỏ phân khoa khoa học thì chỉ còn 2 phân khoa là văn khoa và luật khoa. Tốt nghiệp cử nhân Văn khoa thì chỉ có đi dậy học các môn văn, sử, địa, hay triết. Nếu là cựu học sinh trường Tây để có khả năng nói tiếng Pháp như gió thì có cơ hội thi vào ngạch tham vụ ngoại giao để đi làm ở các tòa đại sứ ở ngoại quốc. Tôi là dân học sinh trường Việt (Chu Văn An) nên tiếng Anh và Pháp không đủ khả năng để mơ vào ngành đó. Trong khi đó học luật có nhiều cơ hội làm việc và thăng tiến hơn. Với bằng cử nhân luật có thể làm luật sư, chánh án, biện lý (Viện Kiểm Sát bây giờ), công chức hạng A, là ngạch cao nhất trong hệ thống công chức ở các bộ kinh tế, tài chánh, hay ngân hàng, chưa kể có khi “gặp thời” lại có thể làm chính khách (!).
 
Do đó tôi chọn ghi danh học luật. Bỏ học bổng, về Saigon chưa có việc làm, nhà cửa cũng không, tôi tới trụ sở Tổng hội Sinh viên số 4 đường Duy Tân (bây giờ là nhà Văn Hóa Thanh Niên TP số 4 Phạm Ngọc Thạch), trú ngụ trong một phòng tập trung khá đông sinh viên tạm dùng chữ “lang bạt” thuộc nhiều phân khoa. Dĩ nhiên mọi phòng ốc của trụ sở đều dành cho tất cả mọi sinh viên, nhưng căn phòng tôi ở tập trung đa số sinh viên trong nhóm chúng tôi hơn. Trụ sở sinh viên này trước kia là trụ sở chơi Bun của người Pháp. Sau khi quân đội đảo chánh lật đổ tổng thống Diệm, các tướng lãnh hỏi sinh viên muốn gì thì ban đại diện tổng hội sinh viên thời đó mà anh Lê Hữu Bôi làm chủ tịch cho biết muốn có trụ sở sinh viên tại đó.
 
Thế là sinh viên Saigon có trụ sở để hoàn toàn tự do muốn làm gì thì làm, muốn học hành, tổ chức văn nghệ, hội họp v…v chẳng bị ai kiểm soát, chỉ đạo. Điện nước được cung cấp miễn phí suốt ngày. Trụ sở lại có một ông lao công phụ trách dọn dẹp. Gia đình ông này được ở trong một căn nhà trong khuôn viên nên được lợi nữa là mở quán bán hàng ăn uống, cà phê cho sinh viên. Mỗi sáng sinh viên hay tụ tập tại đây ăn sáng. Trong số sinh viên thời đó có nhiều sinh viên nổi tiếng như Trần Lam Giang (văn khoa, hiện ở Sacramento, Hoa Kỳ), Dương Cự (luật khoa, qua đời tại VN) v…v Tất cả các sinh viên tại đó đều trước sau tốt nghiệp đại học, đảm nhiệm nhiều chức vụ trong quân đội hay hành chánh miền Nam và hiện nay nhiều người đã tiếp tục thành công tại Hoa Kỳ, đặc biệt là giới bác sĩ.
Kết quả hình ảnh cho Đại học luật khoa trong hệ thống giáo dục Miền Nam trước 1975 photos
 
Chính tại trụ sở của Tổng hội Sinh Viên này mà Trịnh Công Sơn lần đầu tiên được Tổng hội giới thiệu trước công chúng sinh viên với tập Ca Khúc Da Vàng. Mọi người đứng chật gian phòng trong ánh đèn mờ mờ bị cuốn hút một cách ngạc nhiên lời ca và lối trình diễn đơn giản, du ca của nhạc sĩ họ Trịnh. Tôi đỗ năm thứ nhất đại học luật khoa Saigon niên khóa 1965-66. Mặc dù từ trụ sở Tổng hội sinh viên số 4 Duy Tân rất gần trường, đi bộ qua một block đường là tới, nhưng tôi chỉ tới trường dường như vài lần vì sinh viên trong lớp quá đông, muốn có ghế phải nhờ bạn tới sớm giữ chỗ trước. Vì được ghi tên tự do nên năm thứ nhất thường đông nhất. Năm đó dường như trên dưới 10 ngàn sinh viên (?).
 
Nhưng cuối năm số ghi tên đi thi chắc chắn ít hơn nhiều. Dĩ nhiên đa số sinh viên đã đi làm hoặc ở xa không thể tới trường. May mắn là trong lớp có một số sinh viên chịu khó ghi chép chăm chỉ lời giảng của thầy, trình thầy duyệt và điều chỉnh rồi quay roneo bán lại cho sinh viên, giá rất rẻ, cho nên các sinh viên không tới trường vẫn có đủ bài học. Cũng nên nói thêm, trong đại học VN XHCN ngày nay, người sinh viên bị đối xử như trẻ vị thành niên, bị điểm danh, theo dõi mọi sinh hoạt từ học tập tới đời sống riêng tư ngoài đại học và bị đánh giá hạnh kiểm để cho kết quả học tập.
 
Trái lại, Đại học miền Nam là Đại học Tự Trị, và chỉ là nơi giao giảng kiến thức chứ không có một nhiệm vụ gì khác đối với sinh viên, cho nên người sinh viên được đối xử như những con người trưởng thành, bình đẳng, tự do, và ham học hỏi. Họ tới trường nghe các giáo sư giao giảng kiến thức mà thôi, ngoài ra họ không lệ thuộc các giáo sư và viện trưởng hay hội đồng trường trên bất cứ lãnh vực nào. Các giáo sư cũng chỉ lo một việc duy nhất là giao giảng kiến thức và đánh giá kiến thức của sinh viên một cách tự do, độc lập, và công bằng, không bị một áp lực bởi bất cứ từ đâu. Với nguyên tắc Đại học tự trị như vậy nên mặc dù là sinh viên học từ xa nhưng trong vấn đề học tập và thi cử hoàn toàn giống với tất cả mọi sinh viên khác. Điều này khác xa với các hệ học tại chức, chuyên tu của Xã hội chủ nghĩa là hai hệ học tập được ưu đãi nâng điểm và nhiều ưu đãi khác giúp giảm nhẹ kiến thức rất nhiều so với hệ chính qui. Bắt đầu từ năm nay, 2019, luật giáo dục mới lại qui định trong văn bằng cử nhân không ghi rõ hệ đào tạo, có nghĩa là anh dốt (chuyên tư hay tại chức) với anh được đào tạo chính qui cũng lẫn lộn như nhau. Đúng là nền giáo dục “vàng thau lẫn lộn”.
 
Tôi ghi danh trường luật Saigon năm 1965 với chương trình cử nhân 3 năm. Năm 1966 sau khi đỗ năm thứ nhất tôi phải đi dậy học xa, không tiếp tục học được. Mỗi năm có hai kỳ thi, đầu hè và cuối hè. Mặc dù số sinh viên năm thứ nhất rất đông nhưng trong kỳ thi đầu hè chỉ có 200 sinh viên đỗ thi viết. Sau khi vào vấn đáp chỉ đỗ được 100. Như vậy cứ cho là kỳ cuối hè sẽ có thêm 100 sinh viên nữa thì tổng cộng lên năm thứ 2 chỉ có khoảng 200 sinh viên là tối đa. Sau hai năm nữa mài đũng quần trên ghế nhà trường, số tốt nghiệp cử nhân luật sẽ chỉ hơn 100 người. Nếu tính thêm đại học luật Huế thì mỗi năm miền Nam cho ra lò không quá 200 cử nhân. Khoảng năm 1986, thời kỳ đổi mới, tái lập đại học luật và ngành luật sư, nhà nước mở lớp triết Mác Lê ở miền Tây cho những ai có bằng cử nhân luật của miền Nam theo học để ra làm luật sư, tôi hỏi công an văn hóa quản chế tôi là tôi muốn theo học thì anh ta trả lời ngay, lý lịch của anh không được theo học đâu. Báo chí tổng kết khóa học đó chỉ còn có 500 cử nhân và 7 cựu giáo sư tiến sĩ. Tất cả 7 vị cựu giáo sư đại học luật miền Nam đó, trong đó có GS Nguyễn Mạnh Bách, đều đang sinh sống bằng nghề tay chân (mà tôi quên mất là nghề gì) trong đó nghề nhàn hạ nhất là thợ may!
 
Năm 1967 tôi bị động viên vào trường sĩ quan Thủ Đức. Tiếp tục 3 năm nữa gián đoạn việc học, tôi trở lại trường đại học luật Huế niên khóa 1970-71 và đỗ năm thứ 2 để lên năm thứ 3. Nhưng nay bằng cử nhân đã đòi hỏi 4 năm, cho nên tôi còn phải học thêm 2 năm nữa. Thời gian đó tôi làm việc ở Bộ Tư Lệnh Quân đoàn I đóng ở Đà Nẵng, nên ra học ở Huế tôi vẫn không thể tới lớp mà chỉ lấy bài về nhà học, cho nên mãi năm 1974 tôi mới tốt nghiệp cử nhân luật 4 năm. Như vậy tôi vừa là quân nhân, vừa là sinh viên học từ xa nhưng khác với kiểu đào tạo đại học của VNXHCN ngày nay, những sinh viên diện như tôi vẫn không có bất cứ một đặc ân nào mà hoàn toàn phải thi cử bình đẳng như tất cả các sinh viên toàn thời gian khác. Ở năm thứ nhất và thứ hai thì còn nhiều quân nhân ghi tên học. Nhưng tới năm thứ ba và thứ tư thì số sinh viên giảm bớt nên kèm theo số sinh viên quân nhân cũng ít đi nhiều, vì thời gian của họ eo hẹp.
 
Vào năm thứ tư, lớp tôi có hai vị sĩ quan cao cấp, một vị là trung tá Báu (?) trưởng một phòng quan trọng của Sư Đoàn 1 không quân và vị kia là trung tá Hoàng Mão, một sĩ quan nổi tiếng khóa 20 Đà Lạt, trung đoàn trưởng trung đoàn 54/ SĐ 1. Trung tá Báu thỉnh thoảng trao đổi tài liệu học với tôi vì ông cũng ở xa và gặp khó khăn về việc tìm bài vở như tôi. Trung tá Mão tôi biết rất bận với trách nhiệm của một trung đoàn trưởng tác chiến nên tôi rất hâm mộ ý chí học tập của ông. Hai vị sĩ quan cao cấp này đi học chỉ hoàn toàn nhằm mục đích hiểu biết cá nhân, vì cho dù có thêm bằng cử nhân luật thì hai vị cũng vẫn không thể dùng để thăng cấp hay thăng chức.
 
Riêng Tr/Tá Hoàng Mão có cho tôi biết đi học để sau này nếu có cơ hội đi làm tỉnh trưởng thì kiến thức cử nhân luật sẽ hữu ích cho ông. Trung Tá Mão là đơn vị trưởng, có nhiều phương tiện nhà binh nên thỉnh thoảng giúp trường một số việc liên quan tới xây dựng, dọn dẹp hay chở sinh viên đi cắm trại (đấy là tôi nghe kể vậy.) Nếu nhìn sơ qua có thể nghĩ rằng Tr/Tá Mão làm vậy sẽ được trường giúp đỡ. Nhưng thực sự không phải vậy. Ông vẫn bị trượt vào khóa 1 năm 1974 và chỉ đậu vào khóa 2.
 
Sau này hỏi ông việc học tập, ông cho biết, vì là sĩ quan cho nên vì uy tín, ông còn phải học nhiều hơn bất cứ sinh viên bình thường nào. Trường hợp tôi cũng vậy, chẳng ai hứa hẹn và cũng chẳng có tiêu chuẩn nào ưu đãi điểm cho một sĩ quan đi học. Ở Đại học miền Nam, việc đi học là việc hoàn toàn cá nhân, không một cơ quan nào gửi nhân viên đi học đại học. Từ câu chuyện của Tr/Tá Mão và kinh nghiệm bản thân tôi nhớ lại rằng như vậy Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH khi đi học đại học Văn khoa Saigon chắc chắn vì uy tín của một cấp tướng như vậy ông cũng phải học cật lực để không bị coi thường. Vả chăng, giáo sư đại học ở Miền Nam là giới chức có nhiều uy tín và độc lập với chính quyền.
 
Chính quyền không thể chỉ thị hay áp lực một Viện trưởng, khoa trưởng hay giáo sư đại học nào nâng đỡ một cá nhân nào một cách bất công. Với cá nhân tôi, có trường hợp GS Nguyễn Mạnh Bách, người hướng dẫn luận văn tốt nghiệp cho tôi. Nguyên GS Bách là bạn học của anh họ tôi là LS Nguyễn tường Bá. Tôi thỉnh thoảng thấy ông thời sinh viên tới học với anh họ tôi, nhưng ông không biết tôi. Vào kỳ thi vấn đáp năm thứ tư môn Dân luật, sau khi tôi ngồi trước mặt ông, ông hỏi tôi có liên hệ gì với LS Nguyễn tường Bá không (vì ông thấy tôi trùng họ Nguyễn tường). Tôi trả lời LS Bá là anh họ tôi. Sau đó ông im lặng cho tôi bốc thăm câu hỏi. Sau khi bốc thăm, tôi trả lời mạch lạc, liên tục khoảng hơn 5 phút thì xong. Phải nói khách quan, không ai có thể trả lời hơn. Lúc xuống lại ghế ngồi, mấy bạn cùng lớp thấy tôi trả lời suông sẻ quá nên hào hứng hỏi tôi được mấy điểm. Tôi trả lời: Ông ấy nói “Anh trả lời giỏi lắm, tôi cho anh 10 điểm”! Mấy người bạn tôi lè lưỡi. Dưới 10 điểm là trượt rồi. Tôi đã thuộc bài như cháo và trả lời suông sẻ mà chỉ đủ điểm đỗ, thì trả lời thế nào mới được hơn 10 điểm? Chính vì lối giáo dục nghiêm khắc của đại học miền Nam như vậy mà hiện nay tôi vẫn còn đủ kiến thức pháp lý để viết những bài nghiên cứu pháp lý đăng trên báo mạng mà tôi dám tự hào (là luật gia VNCH) nhập đề “Viết để giảng dạy cho giới lãnh đạo tư pháp, giới luật sư, các giáo sư và viện trưởng đại học Luật Việt Nam XHCN”; bởi vì nếu quí bạn đồng môn theo dõi hoạt động tư pháp tại Việt Nam sẽ nhận thấy họ quá dốt so với chúng ta.
 
Nhưng để có được tài liệu học tập như vậy, ở đại học Luật Huế không có cours roneo. Mỗi tháng khoảng 3 cuối tuần tôi phải xin tháp tùng trực thăng hành quân ra Huế. Trực thăng sẽ đáp trên khoảng đất trống bên sông Hương, đối diện trường Quốc học để những người đi nhờ như tôi xuống, trước khi trực thăng bay vào phi trường Thành Nội trực chiến. Như vậy mỗi lần tôi có hai ngày tới thăm mấy cô sinh viên để mượn vở của họ. Dĩ nhiên tôi phải làm quen mấy cô sinh viên có ghi chép đầy đủ và chữ đẹp. Chiều hôm sau Chủ Nhật, tôi lại đón trực thăng hành quân bay về Đà Nẵng. Chắc quí bạn cũng biết phải tin tưởng lắm mấy cô mới cho mượn vở mang về nhà ở tận Đà Nẵng. Ban ngày tôi đi làm, vợ tôi ở nhà chép lại mấy cuốn vở đó cho tôi. Cũng may là vợ tôi chữ cũng đẹp. Suốt mấy năm trời, đột nhiên một hôm vợ tôi thấy sao toàn vở của mấy cô. Tôi cười giải thích, chỉ mượn vở mấy cô mới dễ, khi đó tôi phải cất đi chiếc nhẫn hôn nhân. Bây giờ không biết các người đẹp đó nơi đâu? Cho tôi xin một lần nữa đa tạ!
 
Nguyễn Tường Tâm
 
 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này