Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1024)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (24)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (66)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (215)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Một thuở học trò

Một thuở học trò

 ♡□♡♡□♡

image

Chủ đề của bài viết này là những hồi ức học trò ngày xưa của một người bước vào tuổi 70. Thuở học trò này rất xa và rất khác với thời đại @ ngày nay, khi mà các tiện nghi vật chất phong phú hơn, phương tiện giải trí đa dạng hơn và quan niệm về giáo dục cũng khác hơn.

Những nét khác nhau là hậu quả của hoàn cảnh xã hội và chính trị, cụ thể hơn là chính sách giáo dục và chế độ chính trị qua nhiều thời kỳ, từ thời Pháp thuộc đến giai đoạn 30 năm chiến tranh tương tàn.

Một Thuở Học Trò | Digital Edition (Bản Gốc) - SBTN GO

Thuở học trò của chúng tôi chỉ có một mục đích duy nhất là… học, nhưng đôi khi cũng pha lẫn những chuyện tình cảm theo kiểu mà người Mỹ gọi là “tình chó con” (puppy love). Ngày nay, ngoài việc học còn có những tác động, xấu cũng như tốt, từ Internet, phim ảnh, báo chí cho đến những ảnh hưởng của người lớn như các bậc phụ huynh trong gia đình và sự tác động của xã hội bên ngoài.

image

“Puppy Love”

Học trò ngày xưa là mảng đề tài được khai thác rất “kỹ” qua văn chương, âm nhạc, hội họa. Vào thập niên 70, bản nhạc “Ngày Xưa Hoàng Thị” [1] của Phạm Duy, phổ thơ Phạm Thiên Thư [2] trở thành nổi tiếng với một mối “tình học trò”. Bài hát dẫn người thưởng ngoạn đến chuyện một cô nữ sinh tên Hoàng Thị Ngọ lúc tan trường, ôm nghiêng cặp, đi trong một cơn mưa phùn và phía sau cô… lẽo đẽo một “cây si” di động: 

image

“Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ

Ôm nghiêng tập vở, tóc dài, tà áo vờn bay

Em đi dịu dàng, bờ vai em nhỏ

Chim non lề đường, nằm im dấu mỏ

Anh theo Ngọ về gót giầy lặng lẽ đường quê...”

 

Đó chưa phải là tình yêu theo đúng nghĩa. Chỉ là… “thích trộm, nhớ thầm” của một “cây si”. Và chỉ cần lẽo đẽo theo một tà áo dài trắng cũng đủ thỏa lòng, dù bước chân có “nặng nề”, dù trong lòng “nức nở” để hôm sau vào lớp sẽ còn “ngẩn ngơ”:

 

“Em tan trường về

Anh theo Ngọ về

Chân anh nặng nề

Lòng anh nức nở

Mai vào lớp học

Anh còn ngẩn ngơ, ngẩn ngơ…

image

“Ngày Xưa Hoàng Thị” là một kết hợp tuyệt vời giữa thơ Phạm Thiên Thư và nhạc Phạm Duy nhưng lại có một đoạn kết buồn cho… “mối tình câm”. Ở đoạn kết đưa ra hai hình ảnh của “ngày xưa” và “ngày nay” với câu kết “Ai mang bụi đỏ đi rồi…” khiến tôi nghĩ ngay đến Ban Mê Thuột, thị trấn đã từng gắn bó từ tuổi học trò. Chả là BMT vẫn nổi tiếng là vùng đất đỏ bazan, nắng thì BMT (Bụi Mù Trời) còn mưa thì… bùn đỏ ngập bước chân:

image

 

“Xưa theo Ngọ về

Mái tóc Ngọ dài

Hôm nay đường này

Cây cao hàng gầy

Đi quanh tìm hoài

Ai mang bụi đỏ đi rồi…”

image

Học trò Đồng Khánh trên cầu Trường Tiền

Trong một cuộc phỏng vấn của Đỗ Văn với Phạm Duy, nhạc sĩ cho biết trong số những bài hát cho tuổi trẻ, ông thích nhất là bài “Tuổi Ngọc”…” bài hát này ông viết cho con gái mới lớn Thái Hiền khi bước chân vào trung học. “Tuổi Ngọc” viết theo nhịp điệu nhí nhảnh với những câu được lập đi lập lại “Xin cho em…”. Những thứ cô xin là một chiếc áo dài, một mớ tóc dài và một chiếc xe đạp [3].

 

Đó là tất cả hành trang của một cô gái khi bước vào trung học. Chiếc áo dài “thơm dáng tuổi thơ”, mớ tóc nồng “êm như nhung” và, cuối cùng:

 

“Xin cho em còn một xe đạp

Xe xinh xinh, để em đi học

Từng vòng, từng vòng xe

Là vòng đời nhỏ bé

Đạp bằng bàn chân gót đỏ hoe”

 

Chắc nhà gần trường nên những học trò như cô Ngọ của Phạm Thiên Thư mới cuốc bộ để “cây si” có dịp lẽo đẽo theo sau. Nếu nhà ở xa thì chắc phải đến trường bằng xe đạp. Hình ảnh nữ sinh trên chiếc xe đạp sẽ khó có thể nào quên trong kỷ niệm, nhất là đối với những người nay đã xa xứ, không còn cơ hội nhìn thấy cảnh này.

 

Hồi xưa nữ sinh còn đội nón lá đến trường, ít có những kiểu mũ “mô đen” như ngày nay. Mỗi lúc tan học là cả một đàn bướm trắng bay ra rồi tỏa đi khắp các con đường. Nhà gần thì ôm cặp đi bộ để các anh như Phạm Thiên Thư đưa vào thơ. Nhà xa thì đạp xe theo từng nhóm như trong bức hình dưới đây trước Tòa Đô Chánh.

image

Nữ sinh trên xe đạp trước Tòa Đô Chánh

Gia đình khá giả thì có thể tậu một chiếc Velo Solex chạy bằng xăng, có cần khởi động máy ở phía trước và khi hết xăng có thể đạp như một chiếc xe đạp. Nhà thơ Nguyên Sa trong bài thơ "Tám phố Sài Gòn " [4] có một đoạn viết về chiếc Solex và cô học trò như sau:

 

“Sài Gòn phóng solex rất nhanh

Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants

Có nghe hơi thở cài vương miện

Lên tóc đen mềm nhung rất nhung”

 

Ngày xưa, đã có nhiều nhà văn, nhà thơ không tiếc lời ca tụng hình ảnh nữ sinh trên chiếc Solex hoặc xe đạp. Ngày nay, họa hoằn lắm mới gặp những lời có cánh về những chiếc xe “tay ga” phóng vù vù trên đường… Ôi, thời thơ mộng của tuổi học trò nay còn đâu!  

image

Nữ sinh với chiếc Velo Solex

Thuở học trò của tôi cũng có một chuyện tình thuộc loại “puppy love” như trong bài thơ của Phạm Thiên Thư. Tôi không có ý “thấy người sang bắt quàng làm họ” nhưng quả thật cả hai đều có nhiều điểm rất giống nhau.

 

Thứ nhất, tên “người trong mộng” của nhà thơ Phạm Thiên Thư là Hoàng Thị Ngọ, một cái tên không được đẹp cho lắm, còn người tôi “mê” lại có một cái tên “không thể xấu hơn”: Phan Thị Lụng. Cả hai cô Ngọ và cô Lụng tuy có xấu tên nhưng ngược lại, hai cô lại là những nữ sinh rất xinh.

 

Thứ nhì, Phạm Thiên Thư tả cô Ngọ “vai nhỏ tóc dài” còn cô Lụng “của tôi” thì tóc cũng dài nhưng lại cột theo kiểu “đuôi gà” mà người Pháp gọi là “queu de cheval”, tức… “đuôi ngựa”. Ở đây có thêm một sự trùng hợp, “ngựa” còn được gọi bằng cái tên “ngọ”!

image

Kiểu tóc đuôi gà đã hớp hồn tôi thuở học trò.

Trong thơ Phạm Thiên Thư có cảnh nên thơ giữa hai học trò “trao vội chùm hoa, ép vào cuốn vở” còn tôi thì chơi trội hơn, viết luôn một cánh thiệp hồng báo hỷ bằng tiếng Pháp. Tôi không giỏi Pháp văn đến độ viết được thiệp hồng mà chỉ copy từ cuốn “Cours de Langue et de Civilisation Française” của Mauger đang học.

 

“Thiệp báo hỉ” mang tên Nguyễn Ngọc Chính và Phan Thị Lụng được để trên yên xe đạp của Lụng trong giờ ra chơi vì không đủ can đảm đưa tận tay nàng. Cho dù có đủ can đảm nhưng chắc cũng không dám đưa vì cái lối “tỏ tình” quá đường đột này.

 

Chắc chắn nàng đã đọc, không những thế, ngoài hai đứa còn có người thứ ba cũng đã đọc, đó là thầy tổng giám thị. Ông “tế nhị” gặp riêng tôi và cảnh cáo cần phải chấm dứt trò chơi “nguy hiểm” này, nếu tái phạm tôi sẽ bị “cấm túc” và thông báo về gia đình.

image

Nữ sinh miền thùy dương cát trắng Nha Trang

Thế là bao mộng đẹp bỗng tan thành mây khói, mái tóc “đuôi ngựa” mà trước đây tôi chết mê chết mệt bỗng nhiên biến mất khỏi tâm hồn tôi, còn tụi bạn trong lớp đã sửa một câu ca dao quen thuộc thành:

 

“Muốn người ta mà người ta không muốn,

Xách… ‘thiệp hồng’ chạy xuống chạy lên!”

image

Học trò xứ BMT

Thuở học trò ngày xưa của tôi là thế đấy. Học cũng nhiều và “nghịch tinh nghịch ngầm” cũng không ít. Chẳng thế mà người ta thường nói: “Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò”. Đã mấy chục năm nay tôi chưa một lần gặp lại Phan Thị Lụng kể từ hồi học Đệ Ngũ.

 

Giờ này chắc nàng đã trở thành bà nội, bà ngoại… còn tôi thì đã là một ông già móm mén bên con đàn cháu đống. Ước gì cô học trò năm xưa đọc được những dòng chữ này để cùng cười cái thuở học trò rắn mắt ngày nào tại xứ Buồn Muôn Thuở…

image

Học trò tỉnh lẻ

Đặc điểm của nền giáo dục VNCH là có sự tách biệt giữa trường nam và trường nữ tại các thành phố lớn, một phần có lẽ là để tránh những “phiền phức” xảy ra trong tuổi học trò mới lớn. Những địa phương nhỏ như BMT thì học trò học chung, và đó cũng là lý do có những chuyện “mới nứt mắt” mà đã biết… tán tỉnh bạn gái cùng lớp như trường hợp của tôi!

 

Ngôi trường trung học đầu tiên tại miền Nam là Collège Chasseloup-Laubat, thành lập năm 1874 sau này đổi thành trường Lê Quý Đôn, tiếp đến là Collège de My Tho (1879), sau đổi tên là Nguyễn Đình Chiểu. Ở Huế có trường  Quốc Học dành cho nam sinh được thành lập từ năm 1896 và trường Đồng Khánh được dành cho nữ, thành lập từ năm 1917.

 

Thoạt đầu trường Đồng Khánh chỉ có cấp  tiểu học với với đồng phục màu tím nên còn được gọi là “Trường Áo Tím”. Dưới thời Pháp thuộc đồng phục đổi sang màu xanh nước biển và bắt đầu từ Đệ nhất Cộng hòa có đồng phục màu trắng.

image

Nữ sinh Đồng Khánh (năm 1931)

Nổi bật nhất tại Sài Gòn là hai trường Gia Long và Trưng Vương, những địa chỉ được các “cây si” thường xuyên lui tới. Gia Long còn được gọi là trường “Nữ sinh Áo Tím” ngày nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai, được thành lập từ năm 1915 và thuộc loại “lão làng” trong hệ thống giáo dục của Hòn ngọc Viễn đông.

 

Xét về tuổi tác thì trường Trưng Vương là em vì phải từ Hà Nội “di cư” vào Nam năm 1954 sau Hiệp định Genève. Năm học đầu tiên Trưng Vương còn phải học nhờ Gia Long vào buổi chiều. Mãi đến năm 1957, trường Trưng Vương mới chính thức xây dựng xong trường ốc gần Sở thú cùng với Võ Trường Toản.

 

Gia Long và Trưng Vương tượng trưng hai chị em xuất xứ từ hai miền Nam – Bắc trong suốt thời kỳ VNCH. Sau năm 1975, hai trường mở cửa tiếp nhận cả nam lẫn nữ sinh. Và có lẽ những chuyện như cô Ngọ, cô Lụng lại tiếp diễn nhưng chắc ở mức độ “hiện đại” hơn thuở chúng tôi còn đi học.

image

Xe hoa của trường Trưng Vương nhân ngày Phụ nữ Việt Nam năm 1960

 

 

 

Nguyễn Ngọc Chính


***

Đặng Thị Ngọc Dung

Cám ơn Cô Trịnh Cuối Huôn đã SƯU TẦM gửi đến.
NGUYỄN NGỌC CHÍNH -- Novemver 30, 2021

 

Chú thích:

 

[1] Nghe “Ngày Xưa Hoàng Thị” qua giọng ca “bất hủ” của Thái Thanh tại:

http://nhacso.net/nghe-nhac/ngay-xua-hoang-thi.XVlSUUVd.html

 

[2] Đọc về Phạm Thiên Thư và “Ngày Xưa Hoàng Thị” tại:

http://vietbao.vn/Van-hoa/Ngay-xua-Hoang-thi-noi-tieng-mot-thoi/70031661/181/

 

[3] Xem video clip Đỗ Văn phỏng vấn Phạm Duy và bài hát “Tuổi ngọc” do Thái Thảo trình bày tại:

https://www.youtube.com/watch?v=HjkPzRuKmZU

 

[4] Nhiều người thắc mắc tại sao Nguyên Sa lại đặt tên bài thơ là "Tám phố Sài Gòn"?

Đơn giản chỉ vì bài thơ này gồm 8 đoản khúc:

 

 

"Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều

cánh tay tà áo sát vòng eo

có nghe đôi mắt vòng quanh áo

năm ngón thơ buồn đứng ngó theo

 

Sài Gòn phóng solex rất nhanh

Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants

Có nghe hơi thở cài vương miện

Lên tóc đen mềm nhung rất nhung

 

Sài Gòn ngồi thư viện rất nghiêm

Tờ hoa trang sách cũng nằm im

Đầu thư và cuối cùng trang giấy

Những chữ y dài trông rất ngoan

 

Sài Gòn tối đi học một mình

Cột đèn theo gót bóng lung linh

Mặt trăng theo ánh đèn trăng sáng

Đôi mắt trông vời theo ánh trăng

 

Sài Gòn cười đôi môi rất tròn

Vòng cung mầu đỏ nét thu cong

Cầu vồng bắt giữa mưa và nắng

Hay đã đưa dần sang nhớ mong

 

Sài Gòn gối đầu trên cánh tay

Những năm mười sáu mắt nhìn mây

Chiếc tay tròn ánh trăng mười bốn

Tiếng nhạc đang về dang cánh bay

 

Sài Gòn nắng hay Sài Gòn mưa

Thứ bẩy Sài Gòn đi Bodard

Guốc cao gót nhỏ mây vào gót

Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ

 

Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng

Vành môi nghiêng cánh xuống phân vân

Lưng trời không có bầy chim én

Thành phố đi về cũng đã xuân".


https://www.youtube.com/watch?v=_Cg4IfcHvhE

 

 

 

Xem thêm...

Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Cung Tiến – Tác giả của những nhạc phẩm giá trị “Hoài Cảm”, “Hương xưa”,…

“Hương Xưa” và những nỗi niềm một chiều thu

trong thời chiến của nhạc sĩ Cung Tiến.

♡□♡□♡

“Hương Xưa” và những nỗi niềm một chiều thu trong thời chiến của nhạc sĩ Cung Tiến.

Nhạc sĩ Cung Tiến sinh năm 1938, tên thật là Cung Thúc Tiến. Ông sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Và là một trong số những nhạc sĩ Việt Nam иổi tiếng theo dòng nhạc tiền cнιếɴ. Ông được xem là nhạc sĩ trẻ tuổi nhất có sáng tác được phổ biến rộng với ca khúc “Hoài Cảm” khi chỉ mới 14 tuổi. Thật không thể tưởng tượng иổi dù chỉ mới 14, 15 tuổi mà ông lại có một nỗi khắc khoải như thế, về nỗi nhớ, về cố nhân. Dù chỉ xem âm nhạc như một thú vui để giải tỏa muộn phiền trong cuộc sống nhưng ông lại gặt hái được rất nhiều thành côɴԍ và đã để lại những tuyệt phẩm giá trị như “Hương xưa” hay “Hoài cảm”. Cả 2 tác phẩm đều được xếp vào những ca khúc bất hủ của Tân nhạc Việt Nam.

Ngoài sáng tác, nhạc sĩ Cung Tiến còn đóng góp rất nhiều khảo luận cũng như là những nhận định về nhạc dân gian Việt Nam và nhạc Hiện đại Tây Phương. Về Lĩnh vực văи học, Cung Tiến đã từng đóng góp những sáng tác, nhận định và phê bình văи học hay như dịch thuật, cho các tạp chí Sáng tạo, Quan điểm và Văи vào những thập niên 1950 và 1960, với bút hiệu Thạch Chương. Hai trong số các truyện ngắn mà ông đã dịch và xuất bản ở Việt Nam đó là cuốn Hồi Ký viết dưới hầm của Dostoievsky và Một ngày trong đời Ivan Denisovitch của Solzhenitsyn. Sau khi định cư tại Hoa Kỳ, ông tiếp tục viết cho một số bào với bút danh Đăиg Hoàng.

Ca khúc “Hương xưa” của nhạc sĩ Tiến Cung cнíɴн là một bản hòa tấu dài miên man gợi nhiều hoài niệm với sự kết hợp hoàn hảo giữa giai điệu âm nhạc hưởng nhạc Phương Tây với ca từ thuần chất Việt Nam. 

Bấm vào hình để nghe ca khúc Hương Xưa của Duy Trác trình bày.

 

“Người ơi, một chiều nắng tơ vàng

hiền hòa  нồn có mơ xa?

Người ơi, đường xa lắm

con đường về làng dìu mấy thuyền đò…”

Ngay ở những giai điệu đầu tiên của ca khúc “Hương xưa”, nhạc sĩ Cung Tiến đã vẽ lên một bức тʀᴀɴн quá hoàn hảo, thật đẹp, thật thơ mộng trong một khung cảnh thanh bình của hai người đang yêu. 

Hay là những cảnh tượng đã từng xảy ra thật đẹp, thật nên thơ…

Bấm vào hình trên để nghe ca khúc do Tuấn Ngọc trình bày.

 

“…Còn đó tiếng tre êm ru,

Còn đó bóng đa hẹn hò,

Còn đó những đêm sao mờ

 нồn ta mênh mông nghe sáo vi vu

Người ơi, còn nhớ mãi trưa nào

thời nào vàng bướm bên ao

Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru

êm êm buồn trong ca dao

Còn đó tiếng khung quay tơ,

Còn đó con diều vật vờ

Còn đó, nói bao nhiêu lời thương yêu

đến kiếp nào cho vừa…”

Ca từ trong bài hát đẹp như thơ, rất bay bổng, nhẹ nhàng, tha thiết mang những hình ảnh dân dã vô cũng chân thật với người dân quê. Như là “vàng bướm bên ao”, “tiếng ru câu ca dao”, “khung quay tơ”, “con diều vật vờ”… Là những hình ảnh trìu mến của quê hương, như là tình yêu thương ngân dài mãi mãi biết đến khi nào mới đủ. 

Ôi, những đêm dài

 нồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi

Buồn sớm đưa chân cuộc đời

Lời Đường thi nghe vẫn rền trong sương mưa

Dù có bao giờ lắng men đợi chờ

“…Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa

Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô-tô

Nên  нồn tôi vẫn nghe trong mơ

tiếng đàn đợi chờ mơ  нồ.

Vẫn thương muôn đời

nàng Quỳnh Như thuở đó…”

Đoạn này đã nhắc đến một nhân vật иổi tiếng đó là Quỳnh Như và mối tình lãng mạn đi kèm với nỗi bi thương giữa Phạm Thái và Quỳnh Như thời Lê Mạc – Nguyễn Sơ của Việt Nam. Phạm Thái và Quỳnh Như là những con người tài hoa và nhiều khát vọng. Họ đã cùng nhau trãi qua những tháng ngày thật hạnh phúc. Những không thể ngờ tài hoa và mộng ước ấy chỉ tạo nên những ԍнᴇɴ ghét của trời để rồi cuộc tình của hai người phải dang dở và cả hai đã phải lìa bỏ cuộc đời khi tuổi còn xanh. Cả bài hát mang một sự nuối tiếc về những ngày của quá khứ mãi không thể tìm về được, bởi đường về quê còn xa lắm nên niềm mong ước đó thật xa xỉ, mơ  нồ. Có lẽ đó chỉ là một giấc mơ mà thôi….

“…Ôi, những đêm dài

 нồn vẫn mơ hoài một giấc ai mơ

Dù đã quên lời hẹn hò

Thời Hoàng Kim xa quá chìm trong phôi pha

Chờ đến bao giờ tái sinh cho người…”

Những đêm dài triền miên, tác giả nằm nhớ lại thời hoàng kim, lúc đất nước hãy còn hòa bình, nhớ lại những cảnh tượng đẹp đẽ của đất nước. Phải đợi chờ đến bao giờ cảnh tưởng đó mới trở lại, chờ đến bao giờ tái sinh cho người…

“…Đời lập từ những đêm hoang sơ

Thanh bình như bóng trưa đơn sơ

Nay đời tan biến trong hư vô,

cнếт đầy từng mồ oán thù.

мáυ xương tơi bời nhiều mùa thu…”

“Đời lập từ những đêm hoang sơ” – Đời người đã được bắt nguồn từ những ngày ban sơ thanh bình như bóng trưa đơn sơ, thanh bình đến từ những điều vô cùng bình dị, nhưng thật lạ đời đã tan biến trong hư vô thay vào đó là khói binh chìm đắm, nhìn xung quanh toàn là mồ oán thù và xương мáυ khắp nơi chờ đợi một ngày “tái sinh” chưa biết bao giờ có được.

Sau khi đọc qua lời bài hát để hiểu được ý nghĩa hãy ngồi nghe lại bản “Hương xưa” thêm một lần nữa để thưởng thức được trọn vẹn từng câu từ, từng giai điệu đặc biệt là những điều thú vị về các điển tích của bản nhạc.

“…Người ơi, chiều nào có nắng vàng

hiền hòa sưởi ấm nơi nơi?

Người ơi, chiều nào có thu về

cho tôi nhặt ʟá thu rơi?

Tình có ghi lên đôi môi

Sầu có phai nhòa cuộc đời

Người vẫn thương yêu loài người

và yên vui cuộc sống vui.

Đời êm như tiếng hát của lứa đôi,

Đời êm như tiếng hát của lứa đôi…”

Thật đáng nể nhạc sĩ Cung Tiến dù chỉ ở tuổi 16 mà đã có một sáng tác cổ điển thật hay, thật lạ. “Người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hòa sưởi ấm nơi nơi?/Người ơi chiều nào có thu về cho tôi nhặt ʟá thu rơi?” Ca từ trong bài hát quả thật khiến người nghe thỏa mãn…

“…Đời êm như tiếng hát của lứa đôi,

Đời êm như tiếng hát của lứa đôi…”

Có lẽ đây là những chờ mong của tác giả về một ngày thanh bình sẽ trở lại, giông bão sẽ qua đi, ánh nắng chan hòa sẽ lại sưởi ấm lại trái tim lạnh giá, sưởi ấm cuộc đời. Sẽ không còn khói đạи hay “мáυ xương tơi bời nhiều mùa Thu” nữa, thay vào đó sẽ là một mùa Thu thanh bình, yên vui, người người sẽ lại thong thả cười đùa “nhặt ʟá thu rơi” như những ngày thanh bình cũ và rồi “người vẫn thương yêu loài người” cнíɴн là lời nhắn nhủ đơn sơ nhưng thiết tha chứa đựng nhiều cảm xúc của tác giả.

Ca khúc “Hương xưa” của nhạc sĩ Cung Tiến viết ra dành tặng riêng cho danh ca Duy Trác, bởi cнíɴн giọng hát truyền cảm của nam danh ca Duy Trác đã thể hiện bài hát cảm xúc và thành côɴԍ nhất. Ngoài ra bài hát Hương xưa cũng được rất nhiều giọng hát đình đám như danh ca Lệ Thu vào những năm 1960. 

Trích lời bài hát Hương Xưa do Cung Tiến sáng tác:

Không hiểu vì sao ta có buổi chiều nay
Gặp lại nhau và bỗng dưng em khóc
Giọt nước mắt anh làm sao ngăи được
Em bây giờ như xa một tầm tay
Em bây giờ như xa một tầm tay

Biết nói gì khi tình đã nhạt phai
Tháng mười hai trời còn mưa buồn
Anh bâng khuâng đứng lặng ở cuối đường
Chẳng có điều gì để trách cứ nhau.

Khi trái tim không cùng suy nghĩ
Đốt làm chi những tờ thư cũ
Xóa được không kỷ niệm mênh mông
Rồi mai này anh sẽ yêu ai.

Tình yêu ấy nghìn lần không đơn giản
Tình yêu ấy còn chút gì lãng mạn
Để gởi về người con gái yêu anh
Để gởi về người con gái yêu ai…

Mẫn Nhi

******

Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Cung Tiến –

Tác giả của những nhạc phẩm giá trị “Hoài Cảm”, “Hương xưa”,…

  Lãng du ca - HƯƠNG XƯA (Cung Tiến) | Facebook

Cung Tiến là một nhạc sĩ иổi tiếng với những тìин ca тιêυ вιểυ của dòng nhạc miền Nam sau thập niên 1950. Những nhạc phẩm của ông đều viết sau năm 1953 thế nhưng nhạc ông thường được xếp vào dòng nhạc tiền cнιếɴ bởi phong cách trữ тìин lãng mạn cùng âm hưởng bán cổ điển, тʀᴀng trọng và cầu kỳ trong từng ca khúc của ông. Tuy số lượng sáng tác không nhiều nhưng nhạc sĩ Cung Tiến đã để lại nhiều nhạc phẩm rất giá trị như: Hoài Cảm, Thu Vàng, Hương Xưa,…

 

 

Bấm vào hình trên để nghe ca khúc do Tuấn Ngọc trình bày.

Cung Tiến tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh ngày 27 tháng 11 năm 1938 tại Hà Nội. Cụ thân sinh của Cung Tiến là một nhà thơ, một nhà cách мạиɢ của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Trong gia đình Cung Tiến không có ai theo con đường âm nhạc cả, nhưng bản thân ông lại đam mê âm nhạc từ nhỏ. Cung Tiến bắt đầu sinh hoạt văи nghệ từ thời còn là học sinh tiểu học, đi học hát trong nhà thờ, hát trong các ca đoàn Công giáo và được giao điều khiển ban hợp ca của các trường khi lên tới trung học.

 Nhạc sĩ Cung Tiến

Ngay từ thời niên thiếu, Cung Tiến đã được học nhạc tại trường trung học Nguyễn Trãi khi còn ở Hà Nội. Năm 1952, ông cùng gia đình di cư vào Sài Gòn và học các lớp ký âm, xướng âm do hai nhạc sư иổi tiếng Thẩm Oánh và Chung Quân hướng dẫn.

Năm 1953, Cung Tiến cho ra đời cho khúc đầu tay  мᴀɴg tên “Thu Vàng”, sau đó là “Hoài Cảm” sáng tác cùng năm. Cả hai ca khúc đều được ông sáng tác khi mới chỉ 14,15 tuổi thế nhưng những ca từ trong đó thể hiện sự chín chắn, trưởng thành trong sáng tác của cнíɴн tác giả. Riêng ca khúc “Hoài Cảm” được Cung Tiến cho biết lời ca bị ảnh hưởng từ những bài thơ mình học ở trường, như thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, những nhà thơ lãng mạn của Việt Nam hồi đó. Với những ca từ sâu lắng, lãng mạn và dễ đi vào lòng người, hai nhạc phẩm đầu tay của Cung Tiến nhanh chóng được mọi người yêu thích và cũng kể từ đó Cung Tiến được mệnh danh là thần đồng âm nhạc khi tuổi còn trẻ mà đã sáng tác ra những ca khúc rất có giá trị cho nền âm nhạc Việt Nam.

  Nhạc sĩ Cung Tiến và Vợ

Đến năm 1957, Cung Tiến tiếp tục cho ra đời thêm một ca khúc để đời khác  мᴀɴg tên “Hương Xưa”, đề tặng người bạn thân của ông là Khuất Duy Trác (danh ca Duy Trác), Duy Trác cũng là người trình bày thành công nhất ca khúc này.

“Hồi đó tôi học đệ nhất, bắt đầu mê nhạc cổ điển Tây phương lắm. Tôi nhớ thời hoàng kim, thời xưa của Việt Nam hãy còn hòa bình, nhớ lại cảnh hòa bình xưa của Việt Nam đẹp như thế nào, so với cảnh cнιếɴ тʀᴀɴн, lúc đó vào khoảng năm 1957-1958, so sánh hai trường hợp cảnh chιến тʀᴀɴн hiện đại và cảnh thanh bình hồi xưa của Việt Nam mà thành lời ca của bản Hương Xưa”.

 
 Sau những nhạc phẩm như Thu Vàng, Hoài Cảm, Hương Xưa là Nguyệt Cầm, Lệ Đá Xanh và Mắc Biết, tất cả những ca khúc ấy đều tương đối “kén” người nghe nên không phải ai cũng dễ dàng thưởng thức những ca từ ấy, nhưng một khi đã thưởng thức thì khó mà dứt ra được.
Sau khi học xong trung học, năm 1956, Cung Tiến nhận được học bổng sang Úc học về kinh tế. Nên khoảng giai đoạn từ năm 1957 đến 1963, ông đi du học ở Úc. Ngoài học ngành kinh tế, trong thời gian rảnh, Cung Tiến đi học thêm âm nhạc như hoà âm, đối điểm, tổ khúc, phối âm,… ở Nhạc Viện Sydney. Lúc ấy, ông mới khám phá ra những khía cạnh khác của âm nhạc, không phải chỉ một melody, một làn điệu mà còn nhiều yếu tố khác tạo nên âm nhạc. Từ đó trở đi, Cung Tiến rất ý thức việc phổ thơ, phổ nhạc vào thơ. Ông cho rằng “vì thơ đứng một mình đọc cũng được, nhưng nếu có nhạc đi kèm vào, phụ họa vào thì nó có một chiều kích (dimension) khác, một kích thước khác, gọi là ca khúc nghệ thuật, “art song”, tức là lấy một văи bản có giá trị như thơ viết thành nhạc và cho vào bối cảnh hòa âm hoặc là bằng piano, hoặc bằng một cái đàn ghita hoặc một ban nhạc.”
Cho nên ngoại trừ một vài ca khúc như “Hoài Cảm”, “Thu Vàng”, “Hương Xưa”, còn lại hầu hết các nhạc phẩm của Cung Tiến đều phổ từ thơ của Thanh Tâm Tuyền, Phạm Thiên Thư, Trần Dạ Từ, hay ý thơ của Xuân Diệu…
Năm 1965, Cung Tiến kết hôn cùng với một người con gái Việt xuất thân từ trường nữ Marie Curie ở Sài Gòn, hai người quen biết nhau khi ông còn đi du học ở Úc.

Từ năm 1970 đến 1973, Cung Tiến được học bổng cao học của Hội đồng Anh (Bristish Council) để nghiên cứu về kinh tế phát triển tại trường đại học Cambridge. Trong thời gian đó, ông тʀᴀu dồi thêm về âm nhạc bằng cách tham dự các lớp về nhạc sử, nhạc học và nhạc lý hiện đại. Cũng kể từ đó, phong cách sáng tác của Cung Tiến cũng thay đổi hẳn.

 

Hai người có một người con тʀᴀi tên Cung Thúc Đăиg Quang

Sau 1975, khi đang ở hải ngoại, Cung Tiến cho ra đời nhạc tấu khúc “Chinh Phụ Ngâm” vào năm 1987, soạn cho 21 nhạc khí, được trình diễn lần đầu vào ngày 27 tháng 3 năm 1988 tại San Jose, California với dàn nhạc thính phòng San Jose, và đã đạt được giải thưởng Văи Học nghệ thuật quốc khánh 1988.

Năm 1992, Cung Tiến hoàn thành tập “Ta Về”, thơ Tô Thuỳ Yên cho giọng hát, dẫn đọc, ngâm thơ và một đội nhạc cụ thính phòng.

Năm 1993, Cung Tiến đã soạn “Tổ Khúc Bắc Ninh” cho dàn nhạc giao hưởng với sự tài trợ của The Saint Paul Companies để nghiên cứu nhạc quan họ Bắc Ninh và các thể loại dân ca Việt Nam khác.

Năm 1997, với sự chuyên nghiệp và dày dạn kinh nghiệm trong âm nhạc của mình Cung Tiến đã được ca đoàn Dale Warland Singers đặt một bản hợp ca nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập ca đoàn иổi tiếng quốc tế này.

Năm 2003, Cung Tiến ra mắt sáng tác nhạc đương đại “Lơ Thơ Tơ Liễu Buông Mành” dựa trên một điệu dân ca Quan họ. Đồng thời ông cũng là hội viên của hội nhạc sĩ sáng tác ở Minneapolis, Minnesota, Hoa Kỳ.

 

Bấm vào hình trên để nghe ca khúc Hoài Cảm do Sĩ Phú trình bày.

Ngoài sáng tác âm nhạc, Cung Tiến còn đóng góp nhiều khảo luận và nhận định về nhạc dân gian Việt Nam cũng như nhạc Hiện đại Tây phương. Trong lĩnh vực văи học, Cung Tiến cũng đã từng đóng góp những sáng tác, nhận định và phê bình văи học, cũng như dịch thuật cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan điểm và Văи với bút hiệu là Thạch Chương. Trong đó có “Hồi ký viết dưới hầm” của Dostoievsky và cuốn “Một ngày trong đời Ivan Denisovitch” của Solzhenitsyn là hai trong số các truyện ngắn mà ông dịch và xuất bản ở Việt Nam. Sau khi định cư tại Hoa Kỳ, ông viết cho một số báo với bút danh Đăиg Hoàng.

Khi tuổi đã xế chiều, Cung Tiến về hưu và sống cùng vợ ở Minnesota, con тʀᴀi ông sống ở tiểu bang khác. Hàng ngày ông sống yên bình cạnh vợ, thú vui hằng ngày của ông là chơi cùng với thú cưng, đọc sách và viết nhạc.

 

Thời Xưa biên soạn

 

Tân Nhạc VN – Ca Khúc Vượt Thời Gian –

“Thu Vàng”, “Hương Xưa”, “Hoài Cảm”

Nhạc sĩ Cung Tiến (sinh 27 tháng 11 năm 1938) là một nhạc sĩ nổi tiếng theo dòng nhạc tiền chiến. Ông được xem như nhạc sĩ trẻ nhất có sáng tác được phổ biến rộng với bài “Hoài Cảm” năm 14 tuổi. Mặc dù NS Cung Tiến chỉ xem âm nhạc như một thú tiêu khiển nhưng ông đã để lại những nhạc phẩm rất giá trị trong kho tàng âm nhạc Việt Nam như “Thu Vàng”, “Hương Xưa”, “Hoài Cảm”.

Ông tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh tại Hà Nội. Thời kỳ trung học, NS Cung Tiến học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ nổi tiếng NS Chung Quân và NS Thẩm Oánh. Trong khoảng thời gian 1957 đến 1963, NS Cung Tiến du học ở Úc ngành kinh tế và ông có theo tham dự các khóa về dương cầm, hòa âm, đối điểm, và phối cụ tại Âm Nhạc Viện Sydney.

Nhạc sĩ Cung Tiến.Nhạc sĩ Cung Tiến.

cungtien_Hoài Cảm

Trong những năm 1970 đến 1973, với một học bổng cao học của Hội đồng Anh (British Council) để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại Cambridge, Anh, ông đã dự các lớp nhạc sử, nhạc học, và nhạc lý hiện đại tại đó.

Về ca khúc, NS Cung Tiến sáng tác rất ít và phần lớn các tác phẩm của ông đều sau 1954, trừ bài “Thu Vàng”, “Hoài Cảm” được ông viết năm 1953 khi mới 14-15 tuổi, nhưng chúng thường được xếp vào dòng nhạc tiền chiến bởi cùng phong cách trữ tình lãng mạn. Tự nhận mình là một người nghiệp dư trong âm nhạc, viết nhạc như một thú tiêu khiển, NS Cung Tiến không chú ý tác quyền và lăng xê tên tuổi mình trong lĩnh vực âm nhạc. Các nhạc phẩm “Hoài Cảm”, “Hương Xưa” của ông được xếp vào những ca khúc bất hủ của Tân Nhạc Việt Nam.

https://dotchuoinon.files.wordpress.com/2015/09/cungtien_hc6b0c6a1ng-xc6b0a1.jpg

cungtien_Hương Xưa2

https://dotchuoinon.files.wordpress.com/2015/09/cungtien_hc6b0c6a1ng-xc6b0a3.jpg

 

 Ra hải ngoại NS Cung Tiến viết nhạc tấu khúc Chinh Phụ Ngâm năm 1987, soạn cho 21 nhạc khí, được trình diễn lần đầu vào ngày 27 tháng 3, 1988 tại San Jose, California, Hoa Kỳ, với dàn nhạc thính phòng San Jose, và đã được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Quốc Khánh 1988.

Năm 1992, NS Cung Tiến hoàn thành tập Ta Về, thơ Tô Thùy Yên, cho giọng hát, dẫn đọc, ngâm thơ và một đội nhạc cụ thính phòng. Năm 1993, với tài trợ của The Saint Paul Companies để nghiên cứu nhạc Quan Họ Bắc Ninh và các thể loại dân ca Việt Nam khác, ông đã soạn Tổ Khúc Bắc Ninh cho dàn nhạc giao hưởng. Năm 1997, ca đoàn Dale Warland Singers, đã đặt ông một bản hợp ca nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập ca đoàn nổi tiếng quốc tế này. Năm 2003, NS Cung Tiến đã trình làng một sáng tác nhạc đương đại “Lơ Thơ Tơ liễu Buông Mành” dựa trên một điệu dân ca Quan Họ. Ông là hội viên của Hội Nhạc Sĩ Sáng Tác ở Minneapolis, Minnesota, Hoa Kỳ.

cungtien_Thu Vàng1cungtien_Thu Vàng1

cungtien_Thu Vàng2

cungtien_Thu Vàng3

Ngoài sáng tác, NS Cung Tiến còn đóng góp nhiều khảo luận và nhận định về nhạc dân gian Việt Nam cũng như nhạc Hiện đại Tây phương. Trong lãnh vực văn học, những thập niên 1950 và 1960, với bút hiệu Thạch Chương, NS Cung Tiến cũng đã từng đóng góp những sáng tác, nhận định và phê bình văn học, cũng như dịch thuật, cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan Điểm, và Văn. Hai trong số các truyện ngắn ông dịch và xuất bản ở Việt Nam là cuốn Hồi ký viết dưới hầm của Dostoievsky và cuốn Một Ngày Trong Đời Ivan Denisovitch của Solzhenitsyn. Sau khi định cư tại Hoa Kỳ, ông có viết cho một số báo với bút danh Đăng Hoàng.

Dưới đây mình có các bài:

– Phỏng vấn tác giả “Hoài Cảm”: “Âm giai ngũ cung là một kho tàng”
– Nhạc sĩ Cung Tiến, người viết nhạc cho tương lai

Cùng với 10 clips tổng hợp “Thu Vàng”, “Hương Xưa”, “Hoài Cảm”, do các ca sĩ xưa và nay diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

cungtien_Nhạc sĩ Cung Tiến

Phỏng vấn tác giả ‘Hoài Cảm’: ‘Âm giai ngũ cung là một kho tàng’

(Phóng viên Ngọc Lan/Người Việt)

Ngày 10 tháng 7, 2010 sắp tới, Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt-Mỹ (VAALA) sẽ thực hiện chương trình nhạc Cung Tiến với chủ đề “Vết Chim Bay.” Nhân dịp này, Người Việt nói chuyện với người nhạc sĩ tài hoa, cũng là một nhà kinh tế, về nhiều vấn đề; về những bản nhạc xưa, và cả câu hỏi: có hay không, một mối liên hệ giữa âm nhạc và… luật cung cầu. Bài phỏng vấn do phóng viên Ngọc Lan thực hiện.

Ngọc Lan (NV): Nhắc đến nhạc sĩ Cung Tiến, không thể không nhắc đến “Hoài Cảm.” Thật khó để hình dung ra ở tuổi 14, 15 lại có một nỗi khắc khoải như vậy, về nỗi nhớ, về cố nhân. Nhạc sĩ có thể chia sẻ một chút gì về tác phẩm này?

Nhạc sĩ Cung Tiến: “Hoài Cảm” không phải là tác phẩm quan trọng lắm, bởi vì ở cái tuổi 14, 15 thì đâu có nghĩ sẽ viết một tác phẩm quan trọng đâu.
Hoài Cảm là bài hát mà tôi viết ra trong tưởng tượng. Tưởng tượng ra là mình nhớ một người nào mình yêu mến thôi, chứ không có ý nghĩ sâu xa gì đằng sau cả. Ðó chỉ hoàn toàn là trí tưởng tượng trong âm nhạc cũng như trong lời ca. Lời ca bị ảnh hưởng từ những bài thơ mình học ở trường, như thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, những nhà thơ lãng mạn của Việt Nam hồi đó.

Âm nhạc hay bất cứ sáng tác nghệ thuật nào, cũng là sự tưởng tượng cả. Tưởng tượng về cái này, tưởng tượng về cái kia, gây lên một mối sầu, mối buồn hay mối vui hay mối khoan thai, hoàn toàn là tưởng tượng của người sáng tác.

NV: Mặc dù nhạc sĩ nói là do trí tưởng tượng, nhưng sự tưởng tượng cũng phải xuất phát từ một nguyên nhân sâu xa nào đó, chẳng hạn như có ý kiến cho rằng ở thời điểm đó, cái đẹp, cái hay thường gắn với nỗi buồn?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Hồi đó nghĩ gì mình đâu có biết, mấy chục năm rồi, đi học thì nghĩ lơ tơ mơ vậy. Tất nhiên bài đó không có một đối tượng nào cả – no object, hoàn toàn là trong tưởng tượng. Trong tưởng tượng, nhớ một người nọ, nhớ một người kia, nhớ một người yêu, nhớ một người bạn, hay là nhớ bất cứ ai. Nhớ là hồi đó tôi mới ở ngoài Bắc vào, năm 1952. Tôi đi sớm, tức là từ Hà Nội vào Sài Gòn sớm lắm. Lúc đi, nhớ tất cả những gì mà ở Hà Nội ghi vào ký ức mình, thì là có bản nhạc đó.

NV: Nhạc sĩ có từng mơ mình sẽ trở thành một nhạc sĩ trước khi trở thành một chuyên gia kinh tế không?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Không. Chả bao giờ mơ làm nhạc sĩ. Có một chuyện này, hôm tôi mới vào Sài Gòn, trên đài phát thanh quốc gia có tổ chức tuyển lựa ca sĩ các thứ. Tôi cũng lên hát dự thi, nhưng tôi không nhớ hát bài gì. Khi về nhà, thấy ông bố của tôi vứt hết quần áo, sách vở của tôi ra trước cửa. Bởi vậy, mình đâu có mơ đâu, mặc dù mình có mơ cũng bị ám ảnh vì trong gia đình không muốn mình làm như vậy.

NV: Khi Cung Tiến nổi tiếng với những nhạc phẩm như “Hoài Cảm,” “Thu Vàng,” “Hương Xưa,” nhạc sĩ thích người ta biết đến trong vai trò nào? Một nhạc sĩ hay một nhà kinh tế?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Tôi nhiều sở thích lắm, như văn chương, tiểu thuyết, thơ, thích hội họa, toán học và kinh tế học. Kinh tế học là ngành hồi đó tôi được học bổng đi ra ngoại quốc học.
Tôi có rất nhiều sở thích nhưng âm nhạc vẫn là sở thích đầu tiên và cuối cùng trong đời của tôi.

NV: Ngoại trừ một vài ca khúc như “Hoài Cảm,” “Thu Vàng,” “Hương Xưa,” còn lại hầu hết các tác phẩm của Cung Tiến đều phổ từ thơ của Thanh Tâm Tuyền, Phạm Thiên Thư, Trần Dạ Từ, hay ý thơ của Xuân Diệu… Nhạc sĩ có thể chia sẻ gì về điều đó không?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Hồi nhỏ học trung học thì tôi chỉ biết âm nhạc tôi viết là “popular song,” tức là những ca khúc phổ biến, phổ thông. Trong âm nhạc có nhiều khía cạnh, nhiều thứ, nhiều những trật tự mình phải theo, như hòa âm, đối điểm, tổ khúc, phối âm… mà hồi đó ở Việt Nam tôi chưa được học. Lúc học xong trung học, năm 1956, được học bổng sang Úc học về kinh tế. Trong thời giờ rảnh, tôi đi học thêm âm nhạc ở Nhạc Viện Sydney, từ đó tôi mới khám phá ra những khía cạnh khác của âm nhạc, không phải chỉ một melody, một làn điệu mà còn nhiều yếu tố khác tạo nên âm nhạc.

Từ đó trở đi, tôi rất ý thức việc phổ thơ, phổ nhạc vào thơ vì thơ đứng một mình đọc cũng được, nhưng nếu có nhạc đi kèm vào, phụ họa vào thì nó có một chiều kích (dimension) khác, một kích thước khác, gọi là ca khúc nghệ thuật, “art song,” tức là lấy một văn bản có giá trị như thơ viết thành nhạc và cho vào bối cảnh hòa âm hoặc là bằng piano, hoặc bằng một cái đàn ghita hoặc một ban nhạc.

NV: Nếu một người bắt đầu học kinh tế, nhạc sĩ có khuyên họ sẵn đó nên học nhạc luôn không?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Không. Với tôi, kinh tế là một sở thích bắt buộc vì tôi nhận được học bổng đi học cái đó. Nhưng học kinh tế rồi mới thấy nó cũng là một nghệ thuật, nghệ thuật đoán trước người tiêu thụ muốn gì và đoán để người sản xuất làm ra cái đó, phải có sự quân bình giữa cung và cầu. Giản dị như vậy thôi. Ðó là vấn đề nghệ thuật chứ khoa học thì lại khác, hoặc là vật lý học hoặc gì khác thì nó chính xác hơn. Cái này không chính xác cho nên có những rủi ro, vì thế nó là một nghệ thuật. Thế nhưng, áp dụng nghệ thuật kinh tế vào âm nhạc thì không thể được.

NV: Xin nhạc sĩ giải thích sự giống nhau và khác nhau giữa những ca khúc sau này của nhạc sĩ so với những bài hát xưa, như “Hoài Cảm,” “Thu Vàng,” “Hương Xưa…”

Nhạc sĩ Cung Tiến: Ngày xưa tôi không biết xài chất liệu âm thanh của Á Ðông, như âm giai ngũ cung chẳng hạn. Nhưng về sau, khi được học nhiều về nhạc, tôi mới ý thức thêm là mình có cái kho tàng về giai điệu, làn điệu Việt Nam chưa khai thác được là âm giai ngũ cung.

Vì thế, một trong những tác phẩm của tôi khác ngày xưa là bản “Hoàng Hạc Lâu,” thơ của thi sĩ Thôi Hiệu đời Ðường, được Vũ Hoàng Chương dịch sang tiếng Việt. Ðó là bản đầu tiên tôi có ý thức dùng chất liệu quý báu của âm nhạc dân tộc ta khi phổ nhạc.

NV: Trong những sáng tác không nhiều của mình, bài hát nào để lại cho nhạc sĩ nhiều kỷ niệm, nhiều cảm xúc nhất, cho đến bây giờ?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Khó nói lắm. Như thể mình có 10 đứa con mà phải nói xem mình thương đứa nào nhất vậy.
Có những bài ca như những đứa con lạc đi đâu mất. Ví dụ như bản Mùa Hoa Nở, tôi viết năm 1956. Khi rời Việt Nam, tôi không mang theo bất cứ một thứ gì. Tất cả tài liệu, sách vở để lại Sài Gòn hết.

Tình cờ một hôm, ca sĩ Mai Hương gửi cho tôi một bản “Mùa Hoa Nở.” Tôi ngạc nhiên: “Ủa, đứa con này bị thất lạc đi đâu mà mặt mũi lem luốt quá!” Về nhà tôi mới thương nó, mới sửa lại thành ra hợp xướng khúc.
Nói tóm lại, không bản nào tôi hoàn toàn coi là thương hơn bản khác, bởi mỗi một thời kỳ tôi sáng tác có một kỷ niệm riêng của thời kỳ đó. Thời nhỏ đi khỏi Hà Nội là nhớ Hà Nội. Rồi từ hồi di cư vào Nam, nhớ những đoàn người từ ngoài Bắc xuống miền Nam bỏ chế độ Cộng Sản đi vào, gây cho tôi một cảm tưởng, một xúc động khác. Rồi đến khi là sinh viên, lại một xúc động khác.

Thế nhưng, có thể nói tác phẩm tôi trân quý nhất đến bây giờ là tập “Vang Vang Trời Vào Xuân.” Ca khúc đó của một người bạn thân là nhà thơ Thanh Tâm Tuyền và những bài thơ đó được sáng tác trong trại tù cải tạo mà ông ta nhớ, bằng cách nào ông đưa ra ngoài để in… Những điều đó làm tôi hết sức cảm động. Tôi viết thành 12 bản rồi sau rút lại còn 10 bản. Ðó là những gì suốt đời tôi trân quý nhất về tình người, tình bằng hữu và tình cảnh đất nước chúng ta hồi đó.

NV: Xin nhạc sĩ chia sẻ với độc giả chúng tôi về cuộc sống hiện tại của ông.

Nhạc sĩ Cung Tiến: Tôi về hưu hơn hai năm nay rồi. Hiện tôi ở Minnesota cùng vợ. Con trai tôi sống ở tiểu bang khác. Tôi có hai con chó, hàng ngày nuôi chúng, đi chơi với chúng, viết nhạc và đọc sách.

https://dotchuoinon.files.wordpress.com/2015/09/cungtien_nhe1baa1c-sc4a9-cung-tie1babfn2.jpg

 

Nhạc sĩ Cung Tiến, người viết nhạc cho tương lai

(Bách Lam – Viễn Đông)

Cuối tuần tới, nhạc sĩ Cung Tiến từ Minnesota sẽ đến hội ngộ với những người yêu nhạc tại Little Saigon qua hai buổi sinh hoạt.

Tối thứ Sáu, ngày 9-7-2010, tại phòng sinh hoạt Việt Báo, nhạc sĩ Cung Tiến sẽ ra mắt hai tuyển tập Hoàng Hạc Lâu và Vang Vang Trời Vào Xuân, tổng hợp hầu hết các ca khúc ông sáng tác trải dài gần sáu thập niên, kể từ ca khúc Thu Vàng viết năm 1953. Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) cũng sẽ thực hiện một chương trình nhạc Cung Tiến với chủ đề Vết Chim Bay vào lúc 7 giờ tối thứ Bảy, 10-7-2010, tại La Mirada Theater, thành phố La Mirada. Chương trình quy tụ hơn 80 ca nhạc sĩ với giàn nhạc giao hưởng Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ.

Chiều ngày 22-6-2010, nhạc sĩ Cung Tiến đã dành cho nhật báo Viễn Đông một buổi phỏng vấn, nội dung xoay quanh những suy nghĩ của ông về âm nhạc.

Viễn Đông: Thưa ông, đâu là ranh giới giữa ca khúc phổ thông và ca khúc nghệ thuật?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Như tôi đã viết trên nhiều tài liệu, ca khúc phổ thông (popular music) thường thường người ta viết giai điệu chứ không có hòa âm. Như hồi nhỏ, tôi viết một giai điệu có lời, nhưng mà không có hòa âm; người trình diễn đệm đàn theo lối nào cũng được, tùy tiện. Ca khúc nghệ thuật là ca khúc dùng bản văn một bài thơ có phẩm chất cao để viết nên phần giai điệu, xong rồi phải có phần hòa âm để làm bối cảnh cho ca khúc đó. Ca khúc cũng như một bức tranh, đằng trước là hình ảnh, là tiền cảnh, còn đằng sau là bối cảnh, như mây, nước, hoặc cảnh nọ, cảnh kia; cái đó chính là hòa âm hay là phối khí trong âm nhạc. Sau một thời gian sáng tác ca khúc phổ thông, tôi được trau giồi về âm nhạc, và bắt đầu phổ nhạc vào những bài thơ mà tôi thích.

Viễn Đông: Trong hai tập nhạc mà ông vừa cho xuất bản, tất cả là do ông viết hòa âm, trừ một vài bài có ghi chú?

Ns. Cung Tiến: Vâng, tất nhiên, tất cả là do tôi viết hòa âm. Chỉ có một vài bài, như “Đôi Bờ”, chẳng hạn, có một người nhạc sĩ người Thụy Sĩ, chơi lục huyền cầm cổ điển, từng đệm guitar cho một cô ca sĩ tên là Camille Huyền rất là giỏi, người Huế, sau đó viết luôn phần đệm guitar cổ điển, rồi gửi phần hòa âm đó cho tôi. Còn phần lớn, 99 phần trăm là tôi viết hòa âm hết, và viết cho giàn nhạc nữa.

Viễn Đông: Xin ông cho biết định nghĩa của ông về một nhạc sĩ? Và có nên chăng có danh từ “nhạc sĩ chuyên nghiệp”?

Ns. Cung Tiến: Theo tôi hiểu, “nhạc sĩ chuyên nghiệp” là người sống bằng nghề nhạc. Như ông Phạm Duy, chẳng hạn, ông là một nhạc sĩ chuyên nghiệp vì ông sống bằng nghề đó, và nhiều người khác nữa. Còn tôi là một người tài tử, “tài tử” theo định nghĩa lấy từ chữ Latin “amatore”, tức là “người yêu”, người yêu nhạc hay người yêu nghệ thuật. Tôi là loại người đó. Tôi không phải sống về nghề âm nhạc. Trong đời tôi có rất nhiều sở thích, nhưng mà âm nhạc là sở thích lớn nhất và vẫn ở với tôi cho đến nay. Suốt đời tôi.

Viễn Đông: Thưa ông, khi đặt bút viết nhạc, cái đầu hay trái tim dẫn dắt dòng nhạc của ông?

Ns. Cung Tiến: Riêng đối với tôi, những ca khúc nghệ thuật, nhất là những bài thơ mà tôi phổ nhạc của thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, Xuân Diệu, Phạm Thiên Thư, Trần Dạ Từ, v.v., đó là những bài thơ tôi đọc và tôi thích. Tự nhiên, mình mường tượng ra phong cảnh âm thanh (soundscape). Một thí dụ rõ ràng nhất trong tập nhạc là bản “Khói Hồ Bay” (trong Tuyển Tập Ca Khúc “Hoàng Hạc Lâu”), thơ của ông Nguyễn Tường Giang, người bạn tôi rất thân. Bài thơ đó có tựa ban đầu là “Thu ở Vermont”. Tôi đọc bài thơ, tôi khoái ngay. Vừa mường tượng ra cái cảnh đi mùa thu ở Vermont, đi trên đường gập ghềnh, nhìn thấy lá rơi, rồi tất cả, cả một chân trời màu vàng hết. Thế rồi, sực nhớ đến một người tình hồi xưa… Trong đầu tôi tưởng tượng ra tất cả những cảnh đó. Tôi dùng bài thơ đó để tôi lồng vào một giai điệu. Thế nhưng, cái đó chỉ là một phần nhỏ. Phần lớn là phần piano dùng làm bối cảnh, để tả lại hình ảnh chập chùng đồi núi, mà nhà thơ đã đi lên Vermont, trong mùa thu, để ngắm lá thu, nhớ đến tình nhân.

Viễn Đông: Trong bài “Khói Hồ Bay”, ông đưa từ nhịp 3/4 qua 2/4, rồi có 6/8 nữa, xong lại trở về 3/4 hoặc là 9/8.

Ns. Cung Tiến: Vâng, nhịp tiết còn tùy khung cảnh, tùy lời thơ. Còn nếu từ đầu đến cuối chỉ một nhịp như vậy, như bài “Thu Vàng” của tôi ngày xưa, chẳng hạn, thì nó có tính cách phổ thông, dễ nghe, nhưng không có nghệ thuật mấy. Nhịp tiết trong bài “Khói Hồ Bay” thay đổi tùy theo tình cảm của người làm thơ, cũng như cảnh vật bên ngoài. Nếu đọc lời thơ đó và nhìn phần piano, thì quý vị sẽ thấy nó trùng hợp như thế nào. Thí dụ như đoạn cuối cùng, khi nhắc đến khói hồ bay, cần đến kỹ thuật viết nhạc như thế nào để làm cho người nghe có cảm tưởng là khói hồ đang bay thật. Đó là một kỹ thuật thôi, nhưng mà cũng phải phù hợp với lời thơ.

Viễn Đông: Ông có cảm thấy những ảnh hưởng của trường phái Cổ Điển (Classical) và Lãng Mạn (Romantic) ở Tây phương trong những ca khúc hay phần hòa âm của mình?

Ns. Cung Tiến: Vâng, tất nhiên. Nhất là hồi nhỏ, độ mười mấy tuổi, tôi nghe nhạc cổ điển của Haydn, Mozart, Beethoven, Schubert chẳng hạn. Như bài “Hương Xưa”, tôi viết bản đó sau khi tôi lần đầu tiên được nghe giàn nhạc giao hưởng đầu tiên của Việt Nam trình diễn “sống” trong một dịp kỷ niệm 200 năm sinh của nhạc sĩ Mozart. Tôi mê đến bỏ học, để đến nghe giàn nhạc tập dợt. Rồi Beethoven, tôi cũng có ảnh hưởng chứ. Tôi nghe một giai điệu của Beethoven, rồi nó cứ ở mãi trong đầu tôi. Và tôi cũng lấy đó ra làm một ý tưởng, để viết nên giai điệu. Về sau này, khi trau giồi thêm về âm nhạc, tôi cũng có ảnh hưởng khá nhiều trường phái Lãng Mạn, Ấn Tượng (Impressionist) của Tây phương như là Gabriel Fauré, Debussy, Ravel, và những người viết ca khúc nghệ thuật của Pháp mà tôi rất thích.

Viễn Đông: Theo ông, tại sao trường phái Lãng Mạn lại kéo dài tuổi thọ được đến ngày nay?

Ns. Cung Tiến: Nhạc Lãng Mạn nói riêng, hay nhạc cổ điển (classical music) nói chung, không bao giờ cũ cả. Nhạc xưa nhưng nghe không bao giờ cũ cả, lúc nào cũng khám phá ra những cái mới.

Viễn Đông: Thưa ông, nhưng nếu các nhạc sĩ cứ theo đường lối sáng tác của trường phái Lãng Mạn, hay nhạc cổ điển, thì có thể gọi là “sáng tạo” không? Thí dụ như bài “Khói Hồ Bay” viết theo kiểu “program music” (âm nhạc miêu tả, có chương trình, một hình thức có từ thời Lãng Mạn thế kỷ 19 trong âm nhạc Tây phương).

Ns. Cung Tiến: Vẫn là sáng tạo chứ. Ở chỗ rằng là, trong không khí đó, mình vẫn sáng tạo theo lối của mình. Vì âm nhạc là cả một vũ trụ âm nhạc, mặc dù người ta đặt tên là trường phái Lãng Mạn hay là trường phái Ấn Tượng hay Biểu Tượng (Expressionist), đó chỉ là việc đặt tên. Debussy là một nhạc sĩ mà người ta gọi là thuộc trường phái Ấn Tượng, nhưng những người thầy của ông thuộc trường phái Lãng Mạn. Thế rồi ông muốn đi khỏi những khuôn khổ đó; ông viết nhạc để tạo ra ấn tượng âm thanh, về màu sắc âm thanh, chứ không về một chủ đề nào cả.

Viễn Đông: Những nhạc sĩ đi ra ngoại quốc thường có cái nhìn có thể nói là khoan dung hơn, hoặc là khám phá trở lại, đối với âm nhạc dân tộc Việt Nam. Có phải đó là một trong những lý do khiến ông tìm cách khám phá lại cái vốn âm thanh cổ truyền?

Ns. Cung Tiến: Đối với nhạc sĩ Việt Nam bị di tản đi ra ngoại quốc, rồi những người nào muốn tiếp tục viết âm nhạc, thì phải tìm ra một cái gì mới lạ cho lỗ tai của những thính giả ở ngoại quốc. Khởi thủy, nền văn hóa nào cũng có dân ca. Không biết ai sáng tác, hoàn toàn vô danh. Dân ca có những làn điệu rất là đẹp, rất quyến rũ. Lối trình bày xưa bao giờ cũng là qua giọng hát. Đó là một trong những phong cách để mình viết nhạc cho mình để khác với người khác. Thí dụ, tôi vẫn có thể viết theo lối Biểu Tượng (Expressionist), nhưng nó không phải của mình nữa, nó không mới lạ nữa. Nhiều người viết lối đó lắm rồi, từ Schoenberg cho tới Webern, chẳng hạn, và còn khám phá ra nhiều điều trước mình rất nhiều. Nếu đi vào hướng đó thì có thể không bằng người ta, vì người ta khám phá hết rồi. Vì thế, tôi thấy là một số nhạc sĩ Việt Nam muốn quay lại, dùng cái danh từ nôm na là “trở về nguồn”, cũng do đó mà ra. Họ muốn tìm một cái gì mới, đối với xã hội họ đang sống. Nhạc ngũ âm, chẳng hạn. Nhạc ngũ cung, chẳng hạn. Ngũ cung mà nhiều loại lắm, không riêng gì ngũ cung Việt Nam, như ngũ cung Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Nhật… Tất cả những cái đó là màu sắc âm thanh của Đông Á. Mình dùng những cái đó như chất liệu để viết nhạc của mình. Cũng là một phương pháp để khai thác những gì mình có sẵn của dân tộc mình, chứ không phải dùng những chất liệu của Tây phương mà mình đã học ở trường nữa. Vì thế, khi sang đây, tôi đã viết một số nhạc sử dụng chất liệu dân tộc Việt Nam, như điệu sa mạc, quan họ, chèo cổ… để tôi viết nên mấy tập, thí dụ như tập Chinh Phụ Ngâm. Mới đây tôi viết Lơ Thơ Tơ Liễu Buông Mành, lấy từ chèo cổ, tôi viết cho giọng ca, đàn harp (thụ cầm), với lại giàn dây, dùng nhạc cụ Tây phương.

Viễn Đông: Tức là ông phải có hòa âm cho bản nhạc này? Mà hòa âm Tây phương thường đi theo cột dọc, khác với Á Đông đi theo hàng ngang. Như vậy, làm sao ông giải quyết vấn đề hòa âm này cho một giàn nhạc cụ dây?

Ns. Cung Tiến: Phải có hòa âm, mà hòa âm theo lối Á Đông. Cô phải nghe mới biết nó khác Tây phương ra làm sao. Hòa âm hàng dọc của Á Đông là do tình cờ mà gặp nhau thôi, chứ không phải cột dọc, đúng như cô nói. Trong bản Lơ Thơ Tơ Liễu Buông Mành, có những lúc các nhạc cụ tình cờ gặp nhau để tạo ra hợp âm, có khi tôi cũng dùng một hợp âm mới, ngũ cung, tứ cung, chẳng hạn, có khi mấy dòng giai điệu đi với nhau theo kỹ thuật đối điểm (counterpoint).

Viễn Đông: Thưa ông, trong buổi trình diễn sắp tới, khán thính giả có được nghe những bản nhạc mới sau này của ông không ạ?

Ns. Cung Tiến: Vâng, sẽ có trích đoạn trong tổ khúc Chinh Phụ Ngâm và Lơ Thơ Tơ Liễu Buông Mành nữa. Giàn nhạc bên đó kiếm được người chơi rất là tốt, nhất là người đánh đàn harp. Cô sẽ ngạc nhiên khi thấy có nhiều người chơi đàn rất giỏi, như là Bằng Lăng, chẳng hạn. Ở Nam Cali, chúng ta có nhiều nhân tài rất trẻ, và họ hiểu nhạc.

Viễn Đông: Thưa ông, các nhạc cụ truyền thống Việt Nam khi hòa đàn thì tuân thủ theo một số quy luật chung, nhưng cũng tương đối thoải mái, để nhiều không gian cho việc ứng tấu (improvisation), không có sự khắt khe về tiết nhịp (dưới quyền điều khiển của một nhạc trưởng) như âm nhạc Tây phương. Vậy thì làm sao ông tái tạo lại không gian ứng tấu đó cho một giàn nhạc Tây phương?

Ns. Cung Tiến: Tất nhiên, như tôi đã nói nhiều lần, tôi dùng dân ca Việt Nam như một chất liệu, chứ không phải tôi tạo lại hoàn toàn thứ âm nhạc đó. Giai điệu Lơ Thơ Tơ Liễu Buông Mành có thể hát một mình cũng được, không kèn không trống, nhưng nếu có phần hòa âm đệm theo thì lại thành ra một lối thể hiện khác. Như tổ khúc Chinh Phụ Ngâm, tôi có viết cho một số nhạc cụ Việt Nam như đàn bầu, đàn tranh, đàn cò, nhưng không kiếm ra người chơi được. Nên tôi phải dùng violon, để chơi phần giáo đầu, để “ngâm” mấy câu thơ. Đáng lẽ tôi viết cho giọng người ngâm điệu sa mạc mấy câu thơ đó, nhưng hồi đó, tôi không có ai hát cả; có người hát được điệu sa mạc, nhưng không nhìn được nốt nhạc Tây phương. Thành thử tôi phải viết cho violon độc tấu với giàn nhạc phụ họa. Đó chỉ là vấn đề kỹ thuật thôi. Nhưng mà nói là như vậy không phải là dân ca nữa thì cũng không đúng. Nếu cô nghe nhạc của Nga trong thế kỷ 19, của Rimsky-Korsakov, chẳng hạn, hoàn toàn lấy dân ca, hay là Dvorak ở xứ Tiệp, cũng lấy dân ca làm chất liệu nhưng dùng giàn nhạc Tây phương để thể hiện. Thành ra không có gì mới lạ đâu. Không có gì khó khăn, vì người ta đã giải quyết 200 năm nay rồi.

Viễn Đông: Thưa ông, thế nhưng vẫn còn một khúc mắc. Có lẽ dân ca các nước phương Tây gần gũi với giàn nhạc Tây phương hơn là dân ca Á Đông? Và khoảng cách đó làm sao người viết nhạc dùng chất liệu dân ca Á Đông có thể thu ngắn lại được? Một câu hỏi nữa là có nên thu ngắn hay không?

Ns. Cung Tiến: Tất nhiên là muốn chơi nhạc phẩm dùng chất liệu dân ca đúng theo lối chơi, thì phải chơi đúng theo những gì tôi viết ra. Thí dụ, tôi mường tượng đàn bầu chơi thế này, đàn tranh chơi thế này, và tôi viết ra, thì người chơi đàn harp phải biết dùng kỹ thuật nào để chơi ra những âm thanh như tôi đã viết, để nghe tiếng giống như đàn tranh, tức là nó bắt chước được chứ.

Còn làm thế nào để rút ngắn lại hay kéo dài ra khoảng cách (giữa Đông và Tây)? Nghệ thuật thì phải biến hóa, chứ không thể cứng đơ một chỗ.

Đối với một người viết nhạc hay một người vẽ tranh, chẳng lẽ lúc nào cũng vẽ tranh con gà hay con lợn thì mới là tranh dân tộc hay sao? Âm nhạc cũng vậy, người nghệ sĩ phải hoàn toàn có tự do sử dụng chất liệu âm thanh ở Tây phương, ở các nền văn hóa khác, ở dân tộc mình… tất cả là những chất liệu sẵn có trong trời đất, trong văn hóa của loài người. Người nghệ sĩ có tự do hoàn toàn trong việc dùng những chất liệu đó để tạo nên tác phẩm của mình. Chứ không phải lúc nào cũng phải hát quan họ mới gọi là dân tộc.

Hiện giờ trên thế giới, chắc cô cũng biết, có một số nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng trên thế giới: ông Tôn Thất Tiết, ông Nguyễn Thiện Đạo ở bên Pháp, ông P.Q. Phan ở bên Mỹ. Đó là những người dùng rất tự do mọi chất liệu, kể cả chất liệu Việt Nam, nhưng kỹ thuật là kỹ thuật của Tây phương, có thể có một số kỹ thuật Đông phương như là những nốt uốn, 1/4, 1/6 tông. Cây đàn Tây phương có thể bắt chước được.

Tất nhiên, những nhà phê bình họ có ý kiến của họ. Họ có tự do để phê bình. Họ thích hay không thích. Thế nhưng mà, nhạc của người ta viết ra vẫn đi trước. Có một câu nói (về các ngành nghệ thuật sáng tạo), “Ai không sáng tác được thì làm thầy. Ai không dạy học được thì đi phê bình”. Đó là một câu tôi học từ hồi nhỏ. Lời ong tiếng ve, chả ai cần để ý tới.

Viễn Đông: Thưa ông, nhưng cũng có những lý luận phê bình trở thành chất xúc tác cho các nhà sáng tác chứ ạ? Vì trong một nền kinh tế âm nhạc thì cũng cần có người sáng tác, người tiêu thụ, và những nhà phê bình?

Ns. Cung Tiến: Rất đúng, trong âm nhạc cũng như các ngành nghệ thuật khác đều có vòng tròn kinh tế. Người sáng tác phải có người trình diễn, người tiêu thụ, người sản xuất, dưới nhiều nghĩa. Nhưng yếu tố quan trọng nhất vẫn là người sáng tác.

Viễn Đông: Thưa ông, chắc chắn ông nói điều đó không phải vì ông là một nhà sáng tác?

Ns. Cung Tiến: Tại sao vậy?! Có người chỉ muốn viết nhạc để bán thôi, bài nào cũng giống bài nào, thì lại là chuyện khác.

Viễn Đông: Nhưng nếu mở tập nhạc của ông thì có thể thấy được là không phải chỉ để bán tại vì…

Ns. Cung Tiến: Chả ai mua!

Viễn Đông: … E rằng ít có người mua! Thật sự mà nói, có lẽ cũng ít có người hát được. Ông có cảm thấy mình cô đơn khi sáng tác những nhạc phẩm như vậy không?

Ns. Cung Tiến: Không, tôi chẳng thấy cô đơn. Việc tôi làm thì vẫn phải làm. Tôi làm cho tương lai thôi. Bằng chứng là ngày xưa có những tác phẩm của tôi, chẳng ai buồn nhìn tới, rồi từ khi nghe một, hai lần, họ truyền nhau, bảo là cái này có gì mới lạ. Thế rồi, sau này lớp trẻ ở Việt Nam, bên Pháp, ở bên Mỹ, ở bên Anh, họ đi học nhạc và mới biết giá trị của những người sáng tác Việt Nam, và họ hát được. Đến hôm thứ Bảy tuần tới, cô đến dự buổi hòa nhạc của chúng tôi, cô sẽ thấy những giọng ca rất trẻ, rất vững, có học đàng hoàng, có trình độ thưởng thức những gì mới lạ, những gì khác những loại nhạc thương mại. Và đó là điều rất mừng.

Viễn Đông: Xin cám ơn nhạc sĩ Cung Tiến.

oOo

 

Thu Vàng – Ca sĩ Hồng Nhung:
 

Hoài Cảm – Ca sĩ Sĩ Phú:

Hoài Cảm – Ca sĩ Duy Trác:

 

Hoài Cảm – Ca sĩ Bằng Kiều:

 

    Kim Phương sưu tầm & tổng hp    

 

<@> Tuổi già cũng có cái sướng là không vội, không lo, muốn ăn giờ nào, ăn gì tùy thích. Và trên tất cả là muốn làm gì thì làm không ai cấm cản. Đúng là tự do tuyệt đối ! Vì thế, tôi có thể tìm nghe lại những bài hát xưa, bù đắp cho ngày còn ít tuổi không có thời giờ... và mới vỡ lẽ là có nhiều điều tôi hoàn toàn không biết! Chẳng phải lỗi của Bố Mẹ mà chỉ vì tôi lười hay nói cho chính xác là tôi ghét đọc sách báo...!!! Thật ngưỡng mộ khi biết nhạc sĩ viết bài hát lúc mới 16 tuổi và tôi phải bỏ nửa ngày tìm đọc mới hiểu nổi 2 câu gồm 14 chữ trong bài. Chưa hết, người hát cũng làm tôi nghĩ ngợi vì đã đỗ Tú Tài II lúc chưa đầy 16 tuổi. Quả thật, quanh tôi có nhiều người xuất chúng ! K/T mời cùng xem và chia sẻ...
(Thiên Thu )

Hương Xưa” và những nỗi niềm một chiều thu trong thời chiến của nhạc sĩ Cung  Tiến.

Xem thêm...

Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ biến thứ 21 trên thế giới

Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ biến thứ 21 trên thế giới

10 Ngôn ngữ khó học nhất Thế Giới 2021

Tiếng Việt trong mắt một người Anh 

♡□♡□♡

Hiện có khoảng 6.500 ngôn ngữ nói trên thế giới, trong đó khoảng 2.000 ngôn ngữ có ít hơn 1.000 người nói

Nguồn: ledaro.blogspot.com

Ngôn ngữ là một phương tiện quan trọng để kết nối con người với nhau, cho phép chúng ta chia sẻ ý tưởng, suy nghĩ và cảm xúc của mình với người khác; nó có sức mạnh để xây dựng xã hội, nhưng cũng có thể phá hủy chúng.

Biết nhiều ngôn ngữ có thể mang lại cho bạn cơ hội học tập và nghề nghiệp, giúp bạn phát triển các kỹ năng giao tiếp, tìm hiểu về nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới và hỗ trợ trong việc tạo mối liên hệ trên toàn cầu, mở ra cơ hội mới cho bản thân trong sự nghiệp, học vấn và kinh doanh...

Các nguồn khác nhau có số liệu khác nhau, để biên soạn danh sách 25 ngôn ngữ được nói nhiều nhất trên thế giới, tập thể tác giả đã tham khảo Ethnologue - nhà cung cấp dữ liệu đáng tin cậy về các ngôn ngữ trong hơn 15 năm và hơn 88% dân số thế giới nói các ngôn ngữ được đề cập trong Ethnologue 200 như là ngôn ngữ đầu tiên hoặc ngôn ngữ thứ hai của họ.

Các tác giả đã sắp xếp danh sách theo tổng số người nói, người nói ngôn ngữ thứ nhất và thứ hai kết hợp, cung cấp thông tin có giá trị về các ngôn ngữ đã đề cập, chẳng hạn như nguồn gốc của chúng, mức độ khó học đối với một người nói tiếng Anh bản ngữ, các quốc gia nơi chúng được sử dụng rộng rãi nhất và tình trạng kinh tế của các quốc gia đó.

25. Tiếng Swahili, 69 triệu người nói

Swahili là ngôn ngữ chính thức của Tanzania và Kenya và được sử dụng rộng rãi ở Uganda - là sự pha trộn giữa các ngôn ngữ Bantu và Arab. 35 % từ vựng trong tiếng Swahili đến từ tiếng Arab, nhưng ngôn ngữ này cũng vay mượn một số từ từ tiếng Anh, như redio, baiskeli và polisi…

24. Tiếng Arab Ai Cập, 70 triệu người nói

Tiếng Arab Ai Cập, còn được gọi là Masri, thuộc họ ngôn ngữ Afro-Asiatic, phát triển từ tiếng Arab Quranic trong các cuộc chinh phục của người Hồi giáo vào thế kỷ thứ 7. Ngày nay, có hơn 70 triệu người nói ngôn ngữ này, đa phần ở Ai Cập, nơi ngôn ngữ này là tiếng bản địa.

23. Tiếng Ba Tư Iran, 74 triệu người nói

Tiếng Ba Tư - ngôn ngữ chính thức của Iran và được sử dụng rộng rãi ở Afghanistan, Tajikistan và Kuwait với hơn 74 triệu người nói trên toàn thế giới. Tiếng Ba Tư gắn liền với một nền văn hóa phong phú và đa dạng đã sản sinh ra các nhà thơ Sufi như Ferdowsi, Rumi và Hafez, những bức tranh thu nhỏ tinh tế, những tấm thảm đẹp và những bộ phim đẳng cấp thế giới.

22. Tiếng Hausa, 75 triệu người nói

Người bản địa Nigeria được gọi là người Hausa - nhóm dân tộc lớn nhất ở Tây Phi, sử dụng ngôn ngữ này. Tiếng Hausa đứng thứ hai sau tiếng Arab trong nhóm ngôn ngữ Afro-Asiatic.

21. Tiếng Việt, 77 triệu người nói

Tiếng Việt có hơn 77 triệu người nói trên toàn thế giới, phần lớn cư trú ở Việt Nam, nơi ngôn ngữ là tiếng bản địa.

Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ biến thứ 21 trên thế giới; Nguồn: thuthuatnhanhcom

 

20. Tiếng Triều Tiên, 82 triệu người nói

Học tiếng Triều có thể giúp bạn giao tiếp với hơn 82 triệu người trên toàn thế giới.

19. Tiếng Ngô Trung Quốc, 82 triệu người nói

Tiếng Ngô là ngôn ngữ của người dân Thượng Hải và được hơn 8% dân số Trung Quốc sử dụng, có nguồn gốc từ hơn 3.000 năm trước và được sử dụng ở các thành phố Hàng Châu, Tô Châu, Ninh Ba và Ôn Châu của Trung Quốc.

18. Tiếng Trung, 85 triệu người nói

Tiếng Trung là ngôn ngữ chính thức của Hong Kong và Ma Cao. Biết Tiếng Trung có thể giúp bạn tận dụng các cơ hội học tập và làm việc tại Hong Kong, một thành viên đầy đủ của Tổ chức Thương mại Thế giới.

17. Tiếng Tamil, 85 triệu người nói

Tamil là một ngôn ngữ Dravidian và là ngôn ngữ lâu đời nhất trên thế giới. Nó là ngôn ngữ chính thức ở Singapore, Sri Lanka và là một trong 22 ngôn ngữ được quy định trong hiến pháp của Ấn Độ, được sử dụng rộng rãi ở bang Tamil Nadu của Ấn Độ.

Ngôn ngữ này được sử dụng bởi những người gốc Tamil tại các quốc gia bao gồm Mauritius, Nam Phi, Malaysia, Fiji, Mỹ và Vương quốc Anh.

10 ngôn ngữ có số người sử dụng đông nhất; Nguồn: plato-edu.com

16. Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, 88 triệu người nói

Được Cục Văn hóa và Giáo dục Mỹ công nhận là một trong những ngôn ngữ quan trọng nhất, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ là ngôn ngữ được sử dụng nhiều thứ 16 trên thế giới, tại hơn 30 quốc gia bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Síp, Đức, Bulgaria, Macedonia, Hy Lạp, Caucasus và các khu vực khác của châu Âu và Trung Á.

15. Tiếng Telugu, 96 triệu người nói

Telugu là một ngôn ngữ khác của Dravidia và là ngôn ngữ được nói nhiều thứ tư ở Ấn Độ, đặc biệt tại các bang Andhra Pradesh, Telangana, và huyện Yanam của Puducherry. Ngôn ngữ này cũng được công nhận là một ngôn ngữ thiểu số ở Nam Phi.

14. Tiếng Marathi, 99 triệu người nói

Marathi là một phái của tiếng Sanskrit và là một ngôn ngữ Ấn-Aryan, được nói nhiều thứ ba ở Ấn Độ, chủ yếu tại các bang Goa và Maharashtra, và cũng được sử dụng rộng rãi ở Israel và Mauritius.

13. Tiếng Nhật, 126 triệu người nói

Tiếng Nhật là ngôn ngữ bản địa của Nhật Bản và cũng là ngôn ngữ chính thức được sử dụng ở Palau, cụ thể là ở bang Angaur.

12. Tiếng Đức chuẩn, 135 triệu người nói

Đây là tiếng mẹ đẻ của bốn quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu là Đức, Áo, Bỉ và Luxembourg. Nó cũng là ngôn ngữ chính thức được sử dụng để giao tiếp ở Thụy Sĩ và Liechtenstein. Trong số 135 triệu người nói tiếng Đức trên thế giới, khoảng 7,5 triệu người sống tại 42 quốc gia.

11. Tiếng Indonesia, 199 triệu người nói

Theo Ngân hàng Thế giới, tiếng Indonesia là ngôn ngữ chính thức của Indonesia, quốc gia đông dân thứ 4 với nền kinh tế lớn thứ 10 tính theo sức mua tương đương.

10. Tiếng Urdu, 230 triệu người nói

Tiếng Urdu là ngôn ngữ chính thức của Pakistan. Biết tiếng Urdu có thể giúp bạn tiếp thu các ngôn ngữ khác dễ dàng hơn trong quá trình này như tiếng Hindi, tiếng Arab và tiếng Ba Tư.

9. Tiếng Bồ Đào Nha, 258 triệu người nói

Bồ Đào Nha có thể là một quốc gia nhỏ, nhưng ngôn ngữ của đất nước này có hơn 258 triệu người trên toàn thế giới nói. Nó có những điểm tương đồng với tiếng Tây Ban Nha vì cả hai đều dựa trên tiếng Latin. Đây là ngôn ngữ được nói nhiều thứ 12 ở Mỹ. Ngoài Mỹ, tiếng Bồ Đào Nha cũng được sử dụng rộng rãi ở Angola, Brazil, Cape Verde, Đông Timor, Macau và Mozambique.

8. Tiếng Nga, 258 triệu người nói

Ngôn ngữ chính thức của Nga vẫn được sử dụng bởi nhiều quốc gia, chẳng hạn như Ba Lan và Séc. Tiếng Nga là ngôn ngữ được sử dụng nhiều thứ 8 trên thế giới. Nga là một nền kinh tế dựa vào tài nguyên và ước tính cho thấy 50% lượng khí đốt tự nhiên được sử dụng ở châu Âu sẽ do Nga kiểm soát vào năm 2030.

7. Tiếng Pháp, 267 triệu người nói

Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức của 29 quốc gia. 79,6 triệu người nói tiếng Pháp như ngôn ngữ thứ nhất và có 187,4 triệu người nói tiếng Pháp như ngôn ngữ thứ hai. Tại Canada, tiếng Pháp và tiếng Anh là hai ngôn ngữ chính thức. Ở Quebec, 85,4% người dân địa phương nói ngôn ngữ này như tiếng mẹ đẻ của họ.

6. Tiếng Bengali, 268 triệu người nói

Tiếng Bengali là một ngôn ngữ Indo-Aryan khác nằm trong top 10 trong số 25 ngôn ngữ được nói nhiều nhất trên thế giới.

5. Tiếng Arab chuẩn, 274 triệu người nói

Có hơn 25 quốc gia tuyên bố tiếng Arab là ngôn ngữ chính thức hoặc đồng chính thức bao gồm Saudi Arabia, Ai Cập, Palestine, Lebanon, Iraq, Jordan, Lebanon, Kuwait, Mauritania, Ma Rốc, Oman, Qatar, Bahrain, Tunisia, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, và Yemen.

Lợi ích của việc học tiếng Arab rất nhiều. Bạn có thể làm quen với tiếng Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Urdu, và thậm chí cả tiếng Do Thái vì những ngôn ngữ này đã trao đổi rất nhiều từ vựng. Dịch thuật tiếng Arab đang có nhu cầu cao. Theo Cục Thống kê Lao động Mỹ, việc làm của các phiên dịch và biên dịch viên tiếng Arab dự kiến ​​sẽ tăng 19% từ năm 2018 đến năm 2028.

4. Tiếng Tây Ban Nha, 543 triệu người nói

Tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ chính thức của 20 quốc gia và với hơn 543 triệu người nói trên toàn thế giới, là một trong 6 ngôn ngữ chính thức của Liên Hợp Quốc. Biết tiếng Tây Ban Nha có thể cho phép bạn thưởng thức những kiệt tác của Gabriel Garcia Marquez và Pablo Neruda ở dạng nguyên bản của chúng, chắc chắn thú vị hơn qua bản dịch.

3. Tiếng Hindi, 600 triệu người nói

Tiếng Hindi là ngôn ngữ chính thức ở Ấn Độ, một trong những quốc gia lớn nhất trên thế giới - một vùng đất giàu văn hóa và cũng là quê hương của ngành công nghiệp Bollywood. Biết cách nói tiếng Hindi sẽ cho phép bạn trò chuyện với hơn 600 triệu người trên toàn cầu.

2. Tiếng Quan Thoại, 1,12 tỷ người nói

Không thể nói hết tầm quan trọng của việc học tiếng Quan Thoại - mở ra một cánh cửa độc đáo vào một trong những nền văn minh cổ xưa và giàu có nhất trên thế giới, đồng thời cho phép bạn tiếp cận với 1,12 tỷ người trên khắp thế giới. Nền kinh tế Trung Quốc đang bùng nổ; trong 35 năm qua, Trung Quốc đã chuyển mình từ một nước đang phát triển hướng tới mục tiêu vượt qua Mỹ, trở thành nền kinh tế lớn nhất toàn cầu.

1. Tiếng Anh, 1,348 tỷ người nói

1,348 tỷ người sử dụng tiếng Anh trong các cuộc trò chuyện hàng ngày và nó là ngôn ngữ được nói phổ biến nhất trên thế giới. Tiếng Anh cũng là ngôn ngữ chính thức của kinh doanh quốc tế. Nếu bạn biết tiếng Anh, bạn có tất cả những gì cần thiết để giao tiếp với thế giới. 

Xem thêm...

Lê Trạch Lựu, nhạc Phẩm "Em Tôi" và mối tình hơn 60 năm

 

Lê Trạch Lựu, nhạc Phẩm "Em Tôi"

và mối tình hơn 60 năm

 

Sáu chục năm rồi vẫn nhớ em, 
Nhớ ai rũ tóc đứng bên thềm, 
Nhớ người giặt áo bên bờ giếng, 
Nhớ nhiều, nhớ mãi, mãi không quên…

“… Năm 1946 là năm tôi đi trại hè Sầm Sơn (05/1946), đi với đoàn Hướng Đạo, cùng nhiều đoàn khác, tập trung tại sân ga Hà nội. Tôi thoáng thấy một cô gái xinh xinh, dáng người phong nhã, có đôi mắt đẹp tuyệt vời. Không hiểu sao tôi thấy tôi như choáng váng, má tôi nóng bừng như lên cơn sốt; lần đầu tiên tôi thấy tôi có cái cảm giác lạ lùng này.


Nhà đoàn tôi «đóng trại» to lớn, rộng rãi, đó là những biệt thự nghỉ mát của bọn Pháp thuộc điạ bỏ lại, trước nhà là bãi biển mênh mông, sau nhà có một cái giếng. Trưa nào tôi cũng thấy cô gái ấy, đội nón, dưới nắng trang trang rũ áo, tôi ngồi bên cửa sổ nhìn cô ta. Thỉnh thoảng cô nàng ngửng đầu lên, vành nón che đôi mắt, nhưng tôi biết là cô ta đang nhìn tôi. Thú thật, tim tôi đập thình thình. Chao ơi, yêu đương là như vậy hay sao? Đây là một rung động đầu tiên, nào đâu tôi có biết cảm giác này từ thuở ra đời. 
Về Hà Nội tôi tìm nhà cô ta, vì có duyên nên tìm được ngay, cô ta ở gần nhà tôi. Bây giờ ta phải tìm biết tên cô ta nữa! Chiều nào tôi cũng đi qua nhà cô ta, để nhìn vào nhà, tìm lại đôi mắt đẹp. Tôi thấy có nhiều cậu trai cỡ bằng tuổi tôi đi qua đi lại trước cửa nhà, như tôi. Lúc đó tôi cũng thấy hơi hơi lo… sợ mất ! 
Nhưng may cho tôi, hồi ấy có một chú bé đi theo tôi hoài, hỏi ra là chú Mỹ, em cô Phượng. Trời ơi là trời, đất ơi là đất! Chúng tôi đi chơi với nhau. Một hôm, tôi viết một lá thư và mạnh dạn tôi hăng hái ra đi, nhưng chiều hôm đó tôi không thấy cô ta ra đứng ngoài cửa hóng mát. Rồi chiều hôm sau, chiều sau nữa. Thế rồi một chiều nào đó, tôi lại thấy cô ta đứng rũ tóc bên thềm. 
Tìm đủ nghị lực, tôi sán gần cô ta, tay đưa lá thư, miệng lắp bắp một câu: «Phượng… Phượng cầm… cầm lấy cho… cho… tôi… tôi… lá thư này…» Rồi xong, tôi cắm đầu đi mất, không dám quay lại, sợ nhìn thấy hoặc cô ta xé lá thư, hoặc quẳng xuống lề đường… tôi sẽ mắc cỡ … 
Để đỡ cho cái nặng nề đó, tôi tìm cách nói khéo với chú Mỹ, chú bằng lòng ngay. Thế là chú thành con chim xanh của tôi. Chiều nào chú cũng để một lá thư lên bàn. Bẩy tháng trời tôi viết đều đều, gần bẩy chục lá thư mà vẫn không thấy trả lời. 
Tôi đau khổ quá không biết cô ta có yêu tôi không, tại sao cô ta không trả lời tôi, dù thuận dù không… Lúc bấy giờ tôi mới biết là tình yêu, thế nào là đợi chờ, là có nhiều đau khổ. Héo hon con người. 
Thế rồi một hôm chú Mỹ tất tưởi chạy đến nhà tôi, đưa cho tôi một lá thư, hôm đó là một tuần trước ngày kháng chiến toàn quốc, tôi bồi hồi cầm lá thư, ở một góc có đề: Xin TRẠCH LỰU đừng giận KIM PHƯỢNG mà xé lá thư này…, tôi mở ra, đọc từng hàng chữ đều đều, tròn tròn, vuông vắn. Phượng nói yêu tôi từ ngay lúc đầu… nhưng muốn thử lòng tôi để xem tôi có phải là người đứng đắn rồi nói rằng ngày mai Phượng đi tản cư… ở Hà Ðông, cách làng tôi mấy làng… 
Tôi bàng hoàng như tỉnh một giấc mơ lâu dài chờ đợi từ bao nhiêu giờ, bao nhiêu phút. Thế là hai hôm sau, tôi đi bộ từ Hà nội qua làng tôi tới làng tạm trú của gia đình nàng, chúng tôi đi chơi dọc dòng sông Nhuệ cùng chú Mỹ, mẹ của Phượng, bà cụ nhìn chúng tôi âu yếm từ đằng xa …

Đi chơi cùng nhau hết cả buổi chiều, tôi không dám cầm tay Phượng, tôi ân hận tới bây giờ.

Tôi trở về thành, thế rồi chiến tranh, ba năm sau tôi sang Pháp. Không rõ Phượng ở đâu, tôi vẫn nhớ Phượng hoài. Một hôm trong trường cái nhớ nó làm tôi điên đầu… trong giờ Etude cuối lớp có anh chàng TRẦN BÍCH LAN NGUYÊN SA đang đọc Socrate hay sao, bên phải gần cửa sổ HOÀNG ANH TUẤN… không biết hắn làm gì, chắc đang làm thơ, tôi cầm cây đàn bấm bấm… hai ngày sau thành bài EM TÔI… cả nhạc lẫn lời. 
Chủ nhật ra Paris, đường Volontaires, sau bữa cơm trưa, quây quần với nhau, trong đó có Anh Tuấn, Thi Liên, Thoa em gái Nguyên Sa về sau lấy Trần đình Hòa, Bội Liên đã nhận được bài tôi gửi tới trường, hồi đó cô ta có yêu tôi, nhưng tôi tránh vì cô ta con nhà giầu… , Bội Liên dạo nhac trên mấy phím ngà… Nhạc EM TÔI vang lên khắp cả căn phòng, tôi tê tái nghe nhạc tôi, tôi thấy là lạ, chưa quen… vì mỗi lần tôi đã nghe trong tôi hay nghe cây đàn bên tôi nói với tôi, bây giờ những ngón tay ngà chạy qua phím đàn đến với tôi, tôi như ngỡ ngàng đi vào cơn mê… 
Thế rồi tôi chép lại nhạc và lời trên trang giấy học trò, trên những giòng như đã kẻ nhạc, tôi gửi tới nhà xuất bản TINH HOA… 
Những tháng năm qua…

KHI «EM TÔI» ĐƯỢC NỔI TIẾNG, TÔI KHÔNG ĐƯỢC SỐNG CÙNG VỚI THỜI ĐẠI ĐÓ VÌ TÔI Ở XA, TÔI KHÔNG ĐƯỢC NHÌN NHẬN RÕ RÀNG THẾ NÀO LÀ MỘT BẢN HÁT ĐƯỢC NGƯỜI ĐỜI YÊU CHUỘNG… TRAI HAY GÁI, AI AI CŨNG TƯỞNG LÀ MÌNH CÓ MỘT NGƯỜI YÊU, HAY MÌNH ĐƯỢC YÊU, HAY MÌNH TƯỞNG TƯỢNG CHÍNH MÌNH LÀ CÔ GÁI ẤY, CÒN CẬU TRAI ĐƯỢC YÊU CÔ GÁI DỊU DÀNG, THƠ NGÂY, ÂU YẾM, MƠ MÀNG CHO NÊN AI AI CŨNG HÁT… CŨNG TƯỞNG LÀ MÌNH… CŨNG CẦM LẤY CÂY ĐÀN… 

Rồi một hôm tôi tìm ra điạ chỉ của Phượng tôi viết về cho chú Mỹ, Mỹ trả lời tôi: 
«Em nhận được thư anh, thế là anh vẫn mạnh, chị Phượng đợi anh trong một năm dài, thấy anh không về, tưởng anh chết, rồi ba năm sau chị Phượng để tang anh. Nhiều người đến hỏi chị, chị chỉ lắc đầu. Chị vẫn đợi anh, nhưng hôm qua chị Phượng đi lấy chồng, chị đã 26 tuổi rồi, ngày ngày thầy me thúc dục.» 
Thế là tôi cắt đứt, để Phượng đi lấy chồng cho êm thấm, có bổn phận với chồng với con. Tôi không muốn ám ảnh Phượng nữa để cho nàng yên phận. 
Sáu chục năm rồi vẫn nhớ em, 
Nhớ ai rũ tóc đứng bên thềm, 
Nhớ người giặt áo bên bờ giếng, 
Nhớ nhiều, nhớ mãi, mãi không quên… 

 


Sáu chục năm sau, tôi được biết tin một người bạn cùng trường năm xưa, anh Nguyễn Thiệu Giang viết cùng một tờ báo với tôi hồi đó cùng Thanh Nam, tôi có nhờ anh ta đến căn nhà cũ, anh nói Phượng không còn ở đấy nữa. Nhưng có cho tôi số phone, tôi gọi Phượng, đầu giây Phượng trả lời, tôi nói là tôi, cô ta nhắc đi, nhắc lại ba lần, anh LÊ TRẠCH LỰU hả, anh LÊ TRẠCH LỰU hả, như không tin là có thật, khi tôi bảo là tôi thì cô ta òa ra khóc. 
Nói chuyện cùng nhau hơn nửa tiếng, sau những lúc ân cần hỏi han. Phượng có nói, anh ấy có theo đuổi Phượng trong bốn năm trời, Phượng bảo Phượng có người, anh ta cứ đeo đẳng, Phượng có nói với anh ấy chuyện Phượng và anh. Anh ta chịu là trong lòng Phượng có một người. Tôi xin thành thật cảm ơn Phượng, tình yêu Phượng cho tôi. những năm đợi chờ, đau khổ. Một lúc sau tôi hỏi Phượng: «Thế Phượng còn giữ mấy lá thư ấy không?» Tôi muốn tìm hiểu văn thời 16 tôi viết ra sao chắc là văn lủng củng lắm. 
Phượng trả lời tôi: 
«Em để vào trong một cái hộp, nó đi theo em tất cả mọi nơi, trong đó có cả tập ảnh chụp hồi đó, nhưng chồng em thấy lúc nào em cũng buồn, nói với em nên giấu nó đi một chỗ, khi nào vui thì hãy mở ra. Thế là ông ta bỏ vào đâu không rõ, mấy năm sau ông ta mất, tìm kiếm khắp nhà không ra. Em chỉ nhớ anh viết dài lắm… viết dài lắm… Hôm nọ em muốn tìm cái hình anh hồi đó, mà không thấy đâu. Tủi thân, em lại ngồi khóc, may rằng con, cháu em bữa đó tụi nó không có nhà… 
Thu Tao Ngộ 
Tháng mười năm 2009” 
LÊ TRẠCH LỰU tự bạch

Em tôi: Lê Trạch Lựu và mối tình theo mãi một đời

"Em tôi" ra đời đầu năm 1953 đến nay vẫn tiếp tục đem đến cho người nghe những xúc cảm như gần, như xa của một thời tưởng như đã thuộc về dĩ vãng nhưng vẫn tiếp tục làm rung động trái tim những thính giả trẻ tuổi ở thế hệ bây giờ. Đằng sau ca khúc lãng mạn này là một cuộc tình mang theo từ thuở vừa biết yêu cho đến tuổi xế chiều khi nhạc sỹ sáng tác "gặp" lại người xưa qua đường dây điện thoại viễn liên.

  
Hôm nay nhạc sỹ Lê Trạch Lựu nói về câu chuyện tình đã đưa chúng ta đến với "Em Tôi”.

Lê Trạch Lựu rời Việt Nam thời loạn ly năm 1951, bỏ lại sau lưng một mối tình, không hiểu người yêu của mình ở phương nao khi mà khói lửa, chiến tranh, tản cư, ly tán đã đẩy mọi người vào tình huống chẳng biết những người thân của mình còn sống hay đã chết. 
Ở Pháp, theo học nốt bậc trung học rồi vào ngành điện ảnh và làm truyền thông, ông vẫn nhớ hình bóng cũ, cô thiếu nữ tên Phượng mà ông đã gặp lần đầu trong một chuyến đi cắm trại của đoàn hướng đạo ở Sầm Sơn. Chiều nào, qua khung cửa sổ, ông cũng nhìn thấy cô gái ngồi giặt áo bên bờ giếng, người cao, trắng trẻo, đôi mắt thật đẹp đến nỗi chàng thanh niên mới lớn thấy ngây ngất như lên cơn sốt rồi mới chợt nhận ra: "chao ơi tình yêu là thế hay sao?" 
Trở về Hà Nội, ông may mắn tìm biết được địa chỉ của người mà ông say đắm. Liên tiếp trong 3 tháng trời ông viết cho cô Phượng gần 70 lá thư mà không được trả lời. Cậu em trai của cô Phượng, chú Mỹ đóng vai chim xanh đưa thư cho ông. Cho đến một ngày ông được người trong mộng hồi âm, rằng cô rất yêu ông nhưng muốn thử lòng xem ông có phải là người nghiêm túc hay không, và lúc đó là 1 tuần lễ trước ngày toàn quốc kháng chiến. 
Sau đó thì gia đình cô Phượng tản cư về Hà Đông. Từ Hà Nội ông tìm đến thăm cô Phượng. Thân mẫu của hai người cũng là chỗ quen biết và hai người đã cùng nhau đi chơi suốt buổi chiều bên ven sông, dưới sự… giám sát của cậu em cô Phượng! Hạnh phúc, đến nỗi hai người nói chuyện gì ông không thể nhớ, chỉ nhớ rằng hạnh phúc như chưa bao giờ được hạnh phúc như vậy, duy có một điều ân hận, là ông chưa hề nắm lấy bàn tay của người yêu, dù chỉ một lần. 
Rồi chiến tranh, gia đình Phượng tản cư, mất liên lạc, ông sang Pháp. 
Tháng ngày qua, ở Pháp, cũng là thời gian mà nỗi nhớ quay quắt đã là nguồn suối trào dâng để một ngày, bên những bạn bè như Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, ông bấm lên phím đàn, đưa "Em Tôi" vào đời. 
Ông cho biết: "Mối tình đối với cô theo tôi suốt đời, vì rằng đó là mối tình đầu, mà mình không biết nhau ở đâu, không biết người ta sống hay chết, tôi nhớ đến cô và tôi đã làm bài ‘Em Tôi’."

Bẵng đi một thời gian dài, một hôm tình cờ tìm lại được địa chỉ ở Hà Nội của Phượng, ông viết thư về cho cậu em thử hỏi thăm, thì được hồi âm rằng chị của cậu chờ đợi mãi, bao nhiêu đám hỏi mà không nhận lời, sau này ngỡ ông đã chết cô lập bàn thờ, để tang ông 2 năm, nhưng sau vì gia đình thúc giục và đã 26 tuổi, phải có con, cô đành đi lấy chồng. Từ đó ông im lặng, cắt đứt để cho người cũ yên ấm bên chồng con. 
Về phần cô Phượng, người chồng cô cũng chấp nhận là cô có một mối tình trước, hết sức cảm thông. Nhưng đôi khi thấy vợ buồn, ông khuyên vợ để ông cất những lá thư và hình cảnh cũ, đến bao giờ vui hãy mở ra xem. Thế rồi ông mất, những lá thư xưa không tìm lại được nữa. 
Mãi đến cuối năm 2009, 60 năm sau, ông liên lạc được một người bạn cũ từ bao năm ở lại Hà Nội, và chính người bạn này đã giúp nhạc sỹ họ Lê tìm ra số điện thoại của người xưa. Qua đường dây điện thoại ông đã gọi về thăm hỏi bà. Bà không thể tin là ông còn sống, nhắc đi nhắc lại 3 lần như ngỡ trong mơ "anh Lê Trạch Lựu đấy ư?". 
Ông tâm sự tiếp: 
"Bây giờ chúng tôi nói chuyện với nhau. Tình ngày xưa xa lắc xa lơ. Cô đã đi lấy chồng, mà tôi đã lấy vợ, bây giờ chỉ coi nhau như bạn già thôi. Quí nhau, kính trọng nhau, chứ không nghĩ đến tình yêu ngày xưa nữa. Không thể nào lập lại thời đó được. Nhưng hai người vẫn rất quí nhau, tôi vẫn thường gọi cho cô, hay cô có gọi tôi, nhưng mà ăn nói như hai người bạn thân thôi." 
Từ ngày rời Hà Nội năm 1951, nhạc sỹ họ Lê chưa một lần trở lại quê hương. Ông lập gia đình với một người vợ Pháp, gốc Ba Lan, mà theo lời ông thì bà là người rất đẹp, đoan trang, miệng cười tươi như hoa, và ông nhận là số ông may mắn, từ người yêu đến người vợ ai cũng đoan chính.

Thời còn trẻ cũng có người bạn rủ ông về miền Nam làm việc, và hãng thông tấn Pháp cũng muốn ông về để lập một cột trụ ở bên đó, nhưng nhạc sỹ họ Lê tâm sự: 
"Tôi nghĩ rằng hồi đó tôi có đứa con nhỏ nhất mới 3 tuổi, nếu tôi về Việt Nam tôi sẽ mê một cô Việt nam, tôi sẽ lấy cô Việt Nam, sống với cô Việt Nam thì tôi sẽ không trở lại Pháp nữa. 
Tôi tự nghĩ: mình sinh ra con, mình không nuôi con, mình bỏ nó, sung sướng với cuộc sống của mình, rồi sau này con mình nó nhìn mình bằng cách gì mình không thể sống được. Vì thế tôi không đi. Mà nếu tôi đi, thì cũng không thể trở về được, nghề của tôi là ra chiến trường quay phim. Tôi vui thích với nghề đó lắm, mà có thể chết được, nên về thì không thể nào trở lại được nữa." 

Sáu chục năm rồi vẫn nhớ em,
Nhớ ai rũ tóc đứng bên thềm,
Nhớ người giặt áo bên bờ giếng,
Nhớ nhiều, nhớ mãi, mãi không quên…

Nhạc sĩ Lê Trạch Lựu năm 2009

Trong buổi nói chuyện với nhạc sỹ Lê Trạch Lựu, năm nay đã trong lứa tuổi bát tuần, ông có cho biết về những sáng tác khác của ông, những ca khúc đã bị cái bóng của "Em Tôi" che mờ: "Nhạc của tôi người ta không biết nhiều, người ta chỉ biết đến ‘Em Tôi’ thôi. Ở Hà Nội, ông Thẩm Oánh có ra một bài của tôi là bài ‘Thôn Chiều’, ông ấy quí bài đó lắm. Sang Pháp, nhớ quê hương, tôi làm bài ‘Nhớ’ được trình bày trên đài phát thanh Hà Nội, và Sài Gòn sau này. Bài thứ ba là bài ‘Em tôi’. Bài ‘Em Tôi’ được người ta quí trọng nó quá nên thiên hạ quên mất ‘Nhớ’ và ‘Thôn Chiều’." 
Khoảng 20 năm sau khi "Em Tôi" ra đời, vẫn nỗi nhớ người xưa, nhạc sỹ họ Lê đã sáng tác "Cành Mai Tóc Ngắn". 
Cũng trong buổi nói chuyện, nhạc sỹ Lê Trạch Lựu có lời nhắc những ai yêu mến ông xin để ý cho 3 chỗ trong lời nhạc của bài "Em Tôi" mỗi khi hát: 
1. Cho anh gót thắm đem dệt nhớ nhung lời thơ (không phải "rót thắm" hay "góp thắm"); Ông giải thích: người đàn bà xưa ăn mặc kín đáo, quần chùng áo dài, gót sen của nàng là nguồn xúc cảm, gợi trí tưởng tượng, chứ không lộ liễu như bây giờ. 
2. Đèn trăng phô sắc huy hoàng sáng hơn màu nắng (không phải là "đàn trăng"). 
3. Này trăng, này sao chia nhé em (không phải là "này trăng, này sao kia nhé em"). 
Xin cảm ơn nhạc sỹ Lê Trạch Lựu, cảm ơn "Em tôi", cảm ơn cả người xưa đã là nguồn cảm xúc để nhạc phẩm trữ tình này hiện hữu

 

TƯ LIỆU : BS LÊ TRUNG NGÂN
 
Tê Hát sưu tầm
 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này