Một giai thoại nhỏ, một bài học lớn

Một giai thoại nhỏ, một bài học lớn

Hai ông bà Stanford, khi cậu con cưng chết, quyết định:

"Từ nay, tất cả những đứa con California sẽ là con mình."

Từ Thức

Stanford University

Văn phòng giám đốc Đại Học Harvard, một ngày cuối thế kỷ 19. Một cặp vợ chồng rụt rè xin gặp ông giám đốc.

Cô thư ký nhìn vẻ quê mùa của hai người khách, chiếc quần sờn gấu của ông và bộ quần áo bình dân của bà, trả lời: ông giám đốc rất bận, chỉ tiếp khách có hẹn. Đúng ra, ông chỉ quen tiếp những trí thức danh tiếng, những người gia thế, có vai vế trong xã hội.

 

Hai người khách nhất định xin được ở lại chờ, vì có chuyện muốn nói. Xế chiều, ông giám đốc Harvard mới hết khách, xách cặp ra về. Cặp vợ chồng xin được thưa chuyện vài phút.

Ông bà cho hay người con trai duy nhất của họ, sinh viên năm đầu của trường, vừa chết vì bệnh thương hàn, và muốn dựng một cái gì để tưởng nhớ đứa con.

Ông giám đốc thông cảm cái đau buồn của khách, nhưng trả lời: Ông bà thử tưởng tượng, nếu mỗi gia đình có tang xây một mộ bia, bồn cỏ nhà trường sẽ thành một nghĩa trang.

Ông khách nói: Chúng tôi không muốn xây mộ bia. Chúng tôi muốn nhân danh con, xây tặng một giảng đường, hay một nhà nội trú.

Ông giám đốc nhìn bộ quần áo bình dân, vẻ quê mùa của khách, mỉm cười: Ông có biết xây một giảng đường tốn hàng trăm ngàn đô la?

Bà khách nhìn chồng, nhỏ nhẹ: Nếu chỉ có vậy, tại sao mình không dựng luôn một trường đại học?

Hai ông bà ra về. Ít lâu sau, trường Đại Học Stanford ra đời và trở thành một trong ba đại học uy tín nhất thế giới. Ông giám đốc Harvard không biết mình vừa tiếp hai vợ chồng tỉ phú Stanford, vua xe lửa, sau này trở thành thống đốc California.

Trả lại cho xã hội 

Giai thoại trên đây về Leland và Jane Stanford được kể đi kể lại, nói lên nhân sinh quan đặc biệt của người Tây Phương, nhất là ở những xứ ảnh hưởng văn hóa Tin Lành, với phương châm được dạy dỗ và thấm nhuần từ nhỏ: Trả lại cho xã hội những gì đã nhận được của xã hội.

Khía cạnh văn hóa đó giải thích tại sao ở Hoa Kỳ và Bắc Âu có những nhà tỷ phú như Bill Gates, Warren Buffett, Zuckerberg dành những ngân khoản khổng lồ làm việc từ thiện, tài trợ những dự án có công ích, trong khi ở những xã hội khác, những người giàu có, nhất là mới giàu, chỉ biết khoe của, phung phí một cách lố bịch, nham nhở.

Những ông bà hoàng dầu lửa, keo kiệt, tàn nhẫn với gia nhân, nhất là di dân lao động, không biết dùng tiền bạc làm gì hơn là phòng tắm, cầu tiêu bằng vàng, xây cất những trường đua ngựa vĩ đại với bồn cỏ xanh giữa sa mạc, ở một xứ Hồi Giáo cấm cờ bạc, cấm đánh độ.

Những tỷ phú Tàu xây lại lâu đài Versailles hàng trăm phòng cho hai vợ chồng với một cậu cả.

Những ông trời con, những cô bồ nhí của quan lớn ở Việt Nam làm thang máy bằng vàng, xây dinh thự xanh đỏ, Tây không ra Tây, Tàu không ra Tàu, lấy tiền gấp tàu giấy cho con thả chơi.

Những nhà độc tài Phi Châu dựng lại nhà thờ Vatican giữa một biển nghèo đói, dùng máy bay riêng chở thợ may, thợ đóng giày nổi tiếng từ Paris, từ Rome (Roma) tới may bộ quần áo giá cắt cổ thứ 200, hay áo lông (fourrure) cho các mệnh phụ sống ở những xứ nóng như lửa.

Hai tư duy khác nhau, đưa tới hai xã hội khác nhau: Một bên thịnh vượng, tiến bộ, một bên nghèo đói, lạc hậu.

Từ kinh doanh tới việc nghĩa 

Những nhà triệu phú Mỹ, khi kinh doanh, không ngần ngại dùng bất cứ thủ đoạn nào để thành công, kể cả đánh gục đối thủ cạnh tranh, để chiếm độc quyền. Đó cũng là một khía cạnh của văn hóa Tin Lành: Không có mặc cảm với tiền bạc, với thương mại.

Đó là một yếu tố văn hóa, nhưng nó giải thích phần nào cho sự thành công kinh tế của những nước như Hoa Kỳ, Bắc Âu. Văn hóa Tin Lành đã tạo ra những xứ tư bản Tây phương.

Một góc trường Đại Học Stanford. (Hình: humanistchaplainciesorg)

Người Tin Lành không che giấu chuyện đã làm ra tiền, coi đó là dấu hiệu của thành công. Gặp người Mỹ, vài giờ sau biết họ lãnh bao nhiêu đô la mỗi năm, có bao nhiêu cái nhà, cái xe.

Văn hóa Thiên Chúa Giáo có mặc cảm với tiền bạc. Không bao giờ người Pháp nói về lương bổng của mình, ít khi phô trương, gần như muốn che giấu nếu thành công trong đời.

Người Mỹ áp dụng những phương pháp hữu hiệu để kinh doanh, để làm giàu, nhưng khi đã thành công rồi, nghĩ tới việc trả lại cho xã hội những gì đã nhận của xã hội.

Khi Bill Gates trình bày với vợ, con về dự án dùng trên $40 tỷ cho Foundation Bill & Melinda Gates, và quyết định chỉ để lại cho mỗi người con $10 triệu (ít quá, khó thành công; nhiều quá, chỉ làm hư con cái), cả bà vợ và các con đều vui vẻ chấp nhận. Bởi vì họ được dạy dỗ, thấm nhuần văn hóa đó từ nhỏ.

Khi Bill Gates nói về dự án của mình, Warren Buffet đã hưởng ứng ngay, đóng góp phần lớn gia sản kếch xù cho Foundation Gates. Trên 50 tỷ phú, đa số là người Mỹ, đứng đầu là Zuckerberg, đã noi gương Bill Gates.

Các trường đại học Mỹ hay Anh đều giàu có, với những ngân sách khổng lồ, ngang với ngân sách một quốc gia nhỏ, mà nhà nước không tốn một xu, bởi vì những cựu sinh viên khi đã thành công ngoài đời đều quay lại, tự nguyện đóng góp. Đối với họ, đó là một chuyện tự nhiên, khỏi cần ai kêu gọi. Không làm, mới là chuyện bất bình thường.

Đơn giản như vậy, nhưng đem áp dụng ở những nước khác, rất khó. Phải bắt đầu bằng sự thay đổi văn hóa, thay đổi tư duy. Và văn hóa, không phải chuyện một sớm một chiều. Đó là chuyện của hàng thế hệ.

Tinh thần “trả lại cho xã hội” giải thích tại sao vai trò của xã hội dân sự cực kỳ quan trọng trong các xã hội Tây phương. Nó nhân bản hóa các xã hội tư bản.

Ở Hoa Kỳ chẳng hạn, tiêu biểu cho chế độ tư bản, nó xoa dịu những bất công của một xã hội cạnh tranh, mạnh được yếu thua. Đó là hai khuôn mặt mâu thuẫn của tư bản Tây phương. Mâu thuẫn hay bổ túc lẫn nhau.

Những foundation tư nhân, nhan nhản khắp nơi, với những số tiền nhận được ở khắp nơi gởi giúp, trợ cấp học bổng, chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, phát triển nghệ thuật văn hóa, giúp đỡ người nghèo,  người sa cơ lỡ vận.

Truyền thống bác ái 

Tại Pháp, nơi người Tin Lành chỉ chiếm trên dưới 3%, cái tinh thần “trả lại cho xã hội” không mạnh như ở Hoa Kỳ hay các nước có văn hóa Tin Lành ở Bắc Âu. Những trường đại học lớn, uy tín nhất của Pháp, những năm gần đây kêu gọi các cựu sinh viên đã thành đạt đóng góp cho trường, nhưng kết quả rất khiêm nhượng.

Không phải một sớm một chiều người ta có thể tạo một truyền thống.

Mặc dầu vậy, tinh thần bác ái ăn sâu tại các nước Thiên Chúa Giáo như Pháp, Ý, Tây Ban Nha (Espagne, Spain) đã thúc đẩy các xã hội dân sự hoạt động tích cực.

Tại Pháp chẳng hạn, tổ chức Resto du Cœur mỗi năm tặng thực phẩm, bữa ăn cho hàng triệu người. Emmaüs, một tổ chức thiện nguyện do Linh Mục Pierre lập ra không những giúp đỡ người nghèo, còn tạo công ăn việc làm cho hàng trăm người. Một trong những hoạt động của Emmaüs: nhận bàn ghế, TV, tủ lạnh, computer, quần áo cũ của thiên hạ gởi tặng, sửa lại, bán rẻ lấy tiền làm việc nghĩa. Nhân viên của Emmaüs đều là những người gọi là SDF (Sans Domicile Fixe, không nhà không cửa, homeless), theo nguyên tắc dạy người ta câu cá hơn là cho tiền mua cá. Những người điều hành là những người có dư khả năng làm lương lớn trong các hãng tư, nhưng muốn làm việc công ích để đóng góp cho xã hội.

Từ gia đình tới xã hội 

Người Tây phương, có tinh thần cá nhân chủ nghĩa, nhưng không ích kỷ như chúng ta nghĩ.

Rất nhiều người tích cực và nghĩ đến người khác, coi việc giúp đỡ người khác, cải thiện xã hội là một bổn phận.

Người Việt hy sinh, nghĩ tới người khác nhiều hơn chính mình, nhưng “người khác” chỉ luẩn quẩn trong nhà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, không ra khỏi ngưỡng cửa gia đình. Gia đình Việt Nam chặt chẽ, nhưng xã hội Việt Nam lỏng lẻo. Gia đình Tây phương lỏng lẻo, nhưng xã hội của người ta chặt chẽ. Chữ liên đới, bác ái, huynh đệ không phải là những danh từ trống rỗng trên cửa miệng.

Người Việt dành trọng tâm đời mình cho gia đình. Tai họa xảy ra cho người thân làm tiêu tan luôn đời mình. Mất một người thân, cuộc đời kể như chấm dứt. Ngồi rầu rĩ thương thân, oán phận.

Thái độ của người Tây phương tích cực hơn. Họ nghĩ tới xã hội. Họ không bi quan yếm thế. Tại họa cá nhân không đánh gục họ, trái lại, trở thành một động lực khiến họ lao đầu vào việc cải tiến xã hội.

Standford University 

“Our Children” 

Hai ông bà Stanford, khi cậu con cưng chết, quyết định: Từ nay, tất cả những đứa con California sẽ là con mình, “The children of California shall be our children.”

Ở Pháp, những bà mẹ có con thơ ấu chết vì tai nạn xe hơi, thay vì ngồi than trời oán đất, hay oán thù người gây tai nạn, đã thành lập một hội rất thế lực, Ligue Contre  La Violence Routière (hội chống lại bạo lực lưu thông) hoạt động tích cực đòi Quốc Hội, chính phủ ban hành những luật lệ hạn chế vận tốc, kiểm soát, trừng phạt những người lái xe sau khi uống rượu, hút cần sa ma túy, mở những lớp về an ninh lưu thông, hỗ trợ các gia đình nạn nhân.

Các nạn nhân khủng bố lập những hội tương trợ các nạn nhân như mình. Một phụ nữ Pháp, thoát chết trong cuộc khủng bố Hồi Giáo ở Paris, nói: Chưa bao giờ tôi hạnh phúc hơn, vì có một gia đình trên 200 người.

Có người trong gia đình chết vì ung thư, họ lập những hội giúp bệnh nhân ung thư.

Những người cựu SDF, khi có công ăn việc làm, mở hội giúp những người vô gia cư.

Người có con chết vì ma túy, gia đình tan nát vì rượu chè, bỏ tiền bạc, giúp những người nghiện ngập. Họ làm việc đó tận tụy, âm thầm, coi như chuyện đương nhiên, ngạc nhiên khi có người ngạc nhiên trước các nghĩa cử đáng khâm phuc đó.

Những thí dụ đó nhan nhản, ở mỗi góc phố, đếm không xuể.

Thí dụ điển hình nhất là tổ chức Télémathon. Mộ số gia đình có con bị các thứ bệnh hiếm, không có thuốc điều trị vì không có hãng bào chế thuốc nào bỏ ra những ngân khoản khổng lồ để tìm kiếm, sản xuất thuốc cho một số rất ít bệnh nhân, đã thành lập Télémathon, mỗi năm vận động quyên góp được hàng trăm triệu euro.

Với số tiền đang kể đó, họ lập tuyển dụng các y sĩ, các chuyên viên y khoa nổi danh, mở những laboratoires tối tân để nghiên cứu phương pháp chữa trị, tìm tòi thuốc men. Tiền đóng góp từ khắp nơi gởi về, thường thường là của những người lợi tức thấp, nhưng sẵn sàng giúp người thiếu may mắn hơn mình. Và những người hoạt động tích cực nhất là những người có con cái đã chết vì bạo bệnh, hoạt động để tránh cho người khác thảm kịch của chính mình.

Không quay đầu về quá khứ, tiến về phía trước, nghĩ đến việc cải thiện xã hội, đó là những yếu tố khiến xã hội Tây phương thành công. Cả về kinh tế lẫn chính trị. Bởi vì dân chủ không phải chỉ xây dựng trên giấy tờ, qua hiến pháp, bầu cử, luật lệ. Nó phải được thực thi, bảo vệ, nuôi dưỡng bởi xã hội dân sự.

Cha chung không ai khóc 

Người Việt Nam hy sinh cho gia đình, đó là một đức tính đáng cảm phục. Đó là một điều may, khiến xã hội Việt Nam không hoàn toàn băng hoại. Hay xã hội đã băng hoại, nhưng vẫn còn những ốc đảo là hàng triệu gia đình, đang âm thầm cố thủ.

Người Việt hết lòng với gia đình, nhưng hoàn toàn thờ ơ với xã hội.

Phương châm của người Việt: Vườn ai nấy rào. Người ta đốn cây, tôi mặc kệ, vì là cây ngoài đường. Người ta xẻ núi, phá rừng, xây chung cư, khách sạn, tôi ngoảnh mặt đi để tránh vạ lây. Hậu quả là Việt Nam được trời cho một giang sơn gấm vóc, ngày nay bị tàn phá một cách thô bạo. Nha Trang, Đà Lạt, Sapa,… những thắng cảnh tuyệt vời đang trở thành những đống xi măng, cốt sắt thô kệch, trước sự thờ ơ của mọi người. Cha chung không ai khóc.

Tại các nước Tây phương, các di tích lịch sử được bảo trì một phần lớn nhờ các foundation, các tư nhân. Ở Việt Nam, ngược lại, người ta biến của công thành của riêng, không nương tay tàn phá di sản của đất nước để làm giàu, để trục lợi.

Khi nào tình thương, sự liên đới, lòng bác ái, tinh thần trách nhiệm của người Việt ra khỏi ngưỡng cửa gia đình, lúc đó Việt Nam sẽ có một xã hội lành mạnh, lạc quan, tích cực. Đủ lành mạnh, lạc quan, tích cực, để xây dựng một chế độ dân chủ đích thực. Để xây dựng lại đất nước đang trở thành một bãi rác, nghĩa đen cũng như nghĩa bóng. (Từ Thức)

Trường Đại Học Stanford - Mỹ

The Stanford Oval commemorates the university’s 125th Anniversary.

Đại học Stanford được thành lập vào năm 1885. Bắt đầu từ ngày 01/10/1891, trường nhận giảng dạy lứa sinh viên đầu tiên theo tính chất hợp tác giáo dục của một tổ chức phi đảng phái và chính thức đi vào hoạt động. Học phí được miễn cho đến năm 1920.

Thành công trong việc xây dựng danh tiếng

ĐH Stanford giữ vị trí thứ 4 trong số các trường đại học quốc gia Mỹ trong năm 2016 và đồng thời giữ vị trí thứ 3 trong danh sách các trường đại học danh tiếng trên thế giới của The Times Higher Education vào năm 2015. Đây được xem là ngôi trường mơ ước của nhiều sinh viên.

Thành công trong đào tạo

Các khoa ngành và cựu sinh viên đã thành lập rất nhiều siêu tập đoàn như Google, Nike, Instagram và Yahoo.

Đây cũng là nơi đào tạo ra các lãnh tụ của chính phủ Mỹ, thành viên Quốc hội Mỹ. Trường cũng đã liên kết với 59 người đạt giải Nobel và 2 người nhận huy chương Fields.

Từ những thành quả trong những năm qua nhà trường đã đạt được, ta có thể nói rằng, Đại học Stanford là một môi trường giảng dạy và nghiên cứu hàng đầu thế giới.

Giao thông đi lại trong khu vực

Đại học Stanford tọa lạc ngay tại trung tâm thung lũng Silicon, nằm giữa San Francisco và San Jose.

Cuộc sống năng động, thân thiện dễ hòa nhập ở nơi đây sẽ tạo cho bạn nhiều bất ngờ, sự trải nghiệm đầy thú vị bởi một cộng đồng đa dạng văn hóa đến từ khắp nơi trên thế giới.

Việc di chuyển của sinh viên khá dễ dàng, bạn có thể đi bằng xe đạp, xe bus miễn phí.

Sinh viên trường:

Theo số liệu thống kê mới đây, trường có khoảng 3 557 sinh viên quốc tế, bậc Thạc sĩ khoảng 84%, bậc đại học 16%.

Lựa chọn khóa học - ngành học - bậc học:

Trường bao gồm 7 cơ sở thành viên:

  • Trường Kinh doanh
  • Trường Khoa học môi trường, năng lượng và trái đất
  • Trường Giáo dục
  • Trường Khoa học và nhân văn
  • Trường Luật
  • Trường Dược

Các chuyên ngành được đăng ký nhiều nhất:

  • Khoa học máy tính
  • Sinh học con người
  • Kỹ thuật
  • Sinh học
  • Khoa học, Kỹ thuật và xã hội
  • Cơ sở vật chất

    Khuôn viên trường gồm 700 tòa nhà bao gồm các loại phòng học, nhà ở, phòng ở, ký túc xá. 97% sinh viên chọn sống ngay trong trường. sinh viên năm nhất được yêu cầu sống trong khuôn viên trường.

    Thư viện Stanford được xem là thư viện học tập lớn nhất và đa dạng nhất thế giới. Ngoài ra trường có 1 trung tâm nghiên cứu lớn và sân vận động dành riêng cho hoạt động thể thao sinh viên trường.

    Chi phí và học phí

    Chương trình thạc sĩ: 40 000-42 000 USD/ 1 năm

    Chương trình cử nhân: 40 000-42 000 USD/ 1 năm

    Học bổng dành cho sinh viên quốc tế

    Nhiều ứng viên có trình độ sẽ yêu cầu hỗ trợ tài chính để theo học Stanford. Trong số này, trường sẽ công nhận một vài trường hợp. Có nhiều suất học bổng được trao tặng như học bổng Rotary Foundation, học bổng dành cho sinh viên quốc tế...

  • Stanford University Main Quad

Đại học Stanford nổi tiếng là ngôi trường tạo ra những nhân tài cho thung lũng Silicon.

Những người nổi tiếng về công nghệ từng học tập ở Stanford bao gồm: Marissa Mayer của Yahoo; Larry Page và Sergey Brin của Google; Peter Thiel, đồng sáng lập PayPal; cựu giám đốc điều hành của Microsoft Steve Ballmer; Bill Hewlett và David Packard - những người đồng sáng lập Hewlett-Packard.

Niên khóa 2017-2021, tỷ lệ trúng tuyển Đại học Stanford tiếp tục giữ ở mức rất thấp, chỉ 4,7%.

Tại quán cà phê CoHo, sinh viên ngồi trên ghế dài với máy tính xách tay. Chân dung nhiều cựu sinh viên treo trên tường

Với diện tích 8.180 mẫu Anh, Stanford là đại học có khuôn viên lớn bậc nhất thế giới. Nó rộng gấp 96 công viên Disneyland. Trường hiện cung cấp khoảng 13.000 xe đạp để mọi người di chuyển hàng ngày. 

Các khu nhà ở sinh viên tọa lạc bên ngoài khuôn viên trường. Florence Moore Hall, hay "FloMo”, là một trong những ký túc xá được yêu thích nhất với rất nhiều ô cửa sổ lớn.

Những bãi cỏ xanh mát được trang bị đầy đủ wifi, là nơi nhiều sinh viên đến thư giãn vào buổi chiều.

Cách đó một quãng là StartX, vườn ươm tăng tốc khởi nghiệp (startup accelerator), nơi xác định và đào tạo những doanh nhân đầy triển vọng trong mạng lưới trường học. Các công ty của StartX đã huy động ít nhất 1,5 tỷ USD.

 

Hồng Anh sưu tầm

Xem thêm...

Ngôi trường "I PROMISE" cung cấp toàn bộ học phí, tiền ăn, việc di chuyển

Tuần vừa rồi, cầu thủ bóng rổ nổi tiếng LeBron James đã mở một trường học cho “các em học sinh gặp khó khăn ở Akron”. LeBron đã bỏ ra hàng triệu đô la Mỹ và dành cả thập niên để cố gắng mở ngôi trường này tại quê nhà Ohio của anh.
 
Cầu thủ bóng rổ nổi tiếng mở trường học cho trẻ nghèo ở Mỹ
(Ảnh: instagram@kingjames)
 
Ngôi trường có tên là “ I Promise  ”, những đặc điểm của ngôi trường này không khỏi khiến mọi người cảm động:

1. Mỗi học sinh đều được tặng một xe đạp và nón bảo hiểm, vì theo LeBron chia sẻ nhờ có chiếc xe đạp con hồi nhỏ mà anh đã có thể đi khám phá thành phố mình và có thể thoát khỏi những người hàng xóm nguy hiểm

Cầu thủ bóng rổ nổi tiếng mở trường học cho trẻ nghèo ở Mỹ

2. Bữa sáng, trưa, nhẹ và đồng phục đều do trường cung cấp

3. Trường cũng phát lương thực giúp cho những gia đình gặp khó khăn.

4. LeBron còn đảm bảo rằng mọi học sinh sau khi hoàn thành chương trình sẽ được nhận học bổng miễn phí vào Đại học Akron

5. Đặt biệt hơn cả trong trường còn trưng bày 114 đôi giày mà LeBron đã từng sử dụng trong thi đấu ở khu vực lối đi

6. Với mục đích thu hút học sinh với việc học, lịch học của các em được thiết kế cho ngày học dài hơn và nghỉ hè ngắn hơn

7. Trong thời gian nghỉ hè 7 tuần, trường còn cung cấp chương trình phụ đạo các môn khoa học.

8. Ngôi trường đặt trọng tâm vào sức khỏe tâm lý của các em. Các học sinh được tham gia nhóm hỗ trợ mỗi ngày sau giờ ăn trưa và các lớp học thường nhật giúp các em hình thành các thói quen sinh hoạt lành mạnh.

9. Và không chỉ có học sinh được học tại trường, LeBron còn có các chương trình giúp phụ huynh của các em

10. Các phụ huynh sẽ được tham gia chương trình học bổ túc trung học phổ thông cho những ai chưa tốt nghiệp trung học

11. Đối với những phụ huynh không có việc làm ổn định, nhà trường sẽ giúp họ tìm kiếm việc làm

12. Nhà trường thậm chí còn giúp các phụ huynh tìm chỗ ở cho cả gia đình, đúng với phương châm “Chúng ta đều là 1 gia đình”.


13. Trường cũng có các đãi ngộ rất tốt với các giáo viên


14. Thông thường các giáo viên sẽ tự bỏ tiền ra mua văn phòng phẩm cho lớp học, thì tại “I Promise” dụng cụ sẽ do trường cung cấp.


15. Để đảm bảo rằng tất cả giáo viên đều sẵn sàng để giúp đỡ các học sinh của mình, mỗi giáo viên sẽ được tham gia các dịch vụ chăm sóc tâm lý miễn phí và huấn luyện nghiệp vụ


16. Trường còn tuyển một người huấn luyện thể lực cá nhân cho các giáo viên


17. Vì đây là trường công, các học sinh không phải đóng học phí và trường ngang bằng với các trường khác trong quận

(Ảnh: Twitter)
Related image
Related image
Image result for i promised lebron james photos
Related image
 
      Quốc Việt sưu tầm      
 
  Theo Buzz Feed   

Image result for i promised lebron james lakers photos

Xem thêm...

Những phát minh tình cờ

Những phát minh tình cờ

╭⊱ꕥ ❤️ ꕥ⊱╮

 

 

Trong suốt chiều dài lịch sử có nhiều sản phẩm rất hữu dụng và nổi tiếng lại ra đời theo một cách hoàn toàn bất ngờ.

Khoai tây lát chiên giòn (năm 1853)

Câu chuyệnvề sản phẩm này đến từ George Crum, một đầu bếp người Mỹ gốc Phi tại khu nhà nghỉ Moon’s Lake House Lodge ở Saratoga Springs (New York). Một ngày trong năm 1853, Crum đối mặt với một vị khách hàng cực kỳ khó tính. Theo nguồn tin thì danh tính của vị khách đó là ông trùm ngành đường sắt Cornelius Vanderbilt. Vị khách hàng luôn mồm chê món khoai tây của đầu bếp Crum rằng nó quá dày, nhũng nước và nhạt nhẽo, và đòi đổi món khác. Mặc dù đầu bếp Crum thừa sức để cắt các lát khoai tây mỏng hơn, nhưng ông khách vẫn không chịu, cho rằng ăn không ngon.

Không muốn lâm vào cảnh đấu khẩu, đầu bếp Crum quyết định “dạy” cho ông khách một bài học thú vị: Crum đã thái các lát khoai tây mỏng tang rồi chiên nó ngập trong chảo dầu cho đến khi khoai tây giòn đến độ chỉ cần đâm nĩa cũng đủ làm khoai tây nát bét, rồi phủ lên khoai tây một xíu muối bột. Vừa trông thấy món ăn, Cornelius Vanderbilt đã vớ lấy và đánh chén hết miếng này sang miếng khác, tấm tắc khen món ăn ngon tuyệt và gọi nhiều thêm. Tiếng lành đồn xa, đầu bếp Crum tóm lấy cơ hội quảng bá món “Khoai tây chiên Saratoga” và mở một nhà hàng cho riêng mình, chuyên bán món này.

Saccharin, chất làm ngọt nhân tạo (năm 1877)

Một đêm năm 1877, nhà hóa học người Nga Constantin Fahlberg bị lôi cuốn vào nghiên cứu của mình từ phòng thí nghiệm ở Đại học Johns Hopkins (Baltimore, Maryland). Fahlberg vội vã trở về nhà dùng bữa cơm tối quên luôn cả chuyện rửa tay.

Tại bàn ăn, Fahlberg cầm một khoanh bánh mì nướng, cắn một miếng nhưng bỏ nó xuống ngay. Chuyện khủng khiếp gì đã xảy ra? Khoanh bánh mì tự nhiên có vị ngọt. Fahlberg đột nhiên nhớ rằng ông quên rửa tay sau khi làm xong thí nghiệm. Thứ chất bí ẩn nào làm cho mọi thứ trở nên ngọt? Hào hứng với khám phá bất ngờ của mình, Fahlberg rời bữa ăn tối và hộc tốc quay trở lại phòng thí nghiệm, tỉ mỉ kiểm tra các thành phần của hắc ín. Fahlberg nhanh chóng nếm thử mọi thứ trên bàn làm việc của mình. Cuối cùng nhà hóa học đã tìm ra “anh bạn lạ”: một cái cốc bị đun quá lâu. Bạn đọc thử tưởng tượng mà xem, nếu như Fahlberg rửa sạch tay trước khi rời phòng thí nghiệm thì thế giới có lẽ mãi mãi sẽ chẳng ai biết đến chất tạo ngọt nhân tạo.

Coca-cola (năm 1886)

Trong lúc tìm cách để trị dứt bệnh đau đầu và cảm giác nôn nao, nhà hóa học John Pemberton đến từ thành phố Atlanta (tiểu bang Georgia, Mỹ) đã bất ngờ pha chế ra một ly sirô làm từ rượu vang và tinh chất coca và ông đặt tên món uống mới là “Vang coca Pháp của Pemberton”. Khoảng năm 1885, thành phố Atlanta cấm bán rượu, buộc nhà hóa học Pemberton phải nghĩ ra cách để sản xuất ra một món uống dạng si rô có thành phần coca được pha loãng.

Chuyện kể rằng, một nhân viên pha chế bất cẩn ngay tại vòi soda, thay vì dùng nước vòi thì người nhân viên dùng nước soda lạnh. Người ta tin rằng việc này là một dụng mưu của nhà hóa học Pemberton nhằm kiểm nghiệm quá trình nghiên cứu của mình. Nhiều người đã đem các mẫu nhỏ tới nguồn soda Willis Venables ở trung tâm thành phố Atlanta để thẩm định hương vị. Dù theo cách nào đi nữa thì cuối cùng một loại đồ uống thú vị cũng kịp chào đời.

Tia X (năm 1895)

Trong phòng thí nghiệm tối om vào một ngày của năm 1895, nhà vật lý người Đức – Wilhelm Conrad Rontgen đang bận rộn thử nghiệm các ống tia cực âm – tương tự như bóng đèn huỳnh quang của chúng ta ngày nay – nhằm điều tra xem cách truyền điện qua khí. Ông cẩn thận tháo 1 ống cực âm không khí rồi nhét một loại khí đặc biệt vào bên trong, rồi truyền một dòng điện cao áp qua ống. Trước sự ngạc nhiên khôn tả của Rontgen khi cái ống cực âm để cách ông vài mét bỗng đột nhiên phát ra thứ ánh sáng huỳnh quang xanh lục.

Quả là không bình thường khi mà thứ ánh sáng lại phát ra từ hộp các-tông màu đen dày được phủ lên ống cực âm. Thứ ánh sáng huỳnh quang xanh lục đó là tia X, được sinh ra thông qua một cách bí ẩn nào đó. Kêu vợ, bà Bertha, làm đối tượng thử nghiệm, nhà phát minh Rontgen khám phá ra rằng những tia X có thể đi xuyên qua các mô của cánh tay, nổi rõ hình xương tay. Việc Rontgen đột nhiên khám phá ra tia X đã trở thành một sự kiện chấn động toàn cầu. Cũng ngay trong năm 1895, người ta đã dùng tia X trong việc chẩn đoán gãy xương.

Nón kem (năm 1904)

Vào cuối thế kỷ 19, khi kem trở thành món ăn thông dụng đối với tầng lớp bình dân, các loại giấy, thủy tinh và kim loại thường được sử dụng để đựng kem. Những người bán hàng rong thường múc kem cho vào cốc và người mua chỉ cần trả vài xu là tha hồ liếm sạch kem trước khi trả lại cốc cho chủ quán. Cũng có khi khách hàng lấy luôn cốc hoặc quăng nó đâu đó.

Tại Hội chợ thế giới năm 1904 tổ chức ở St Louis (tiểu bang Missouri, Mỹ) có sự tham dự của hơn 50 tiệm kem và hàng tá các quầy kem. Kem tươi bán rất chạy vì thời tiết khá nực, nhưng một phần là do kem được đựng bên trong một lớp bánh lót! Người chủ tiệm kem Arnold Fornachou bán ra các tách kem bằng giấy, còn người chủ hàng bên cạnh – một người Syria tên là Ernest Hamwi, thì bán ra các miếng bánh lót để kem có thể cuộn gọn bên trong, khi ăn kem người ta ăn luôn cả lớp bánh lót đựng kem.

Peniciline (năm 1928)

Vào ngày 3/9/1928, trong lúc đang dọn dẹp phòng thí nghiệm tại Bệnh viện St Mary’s ở thủ đô London (Anh) sau khi trở về từ kỳ nghỉ, nhà Vi trùng học người Scotland-Alexander Fleming đã lờ mờ nhận ra có một chuyện rất lạ: một cái khuôn lên mốc xanh bị nhiễm vi khuẩn từ đĩa thí nghiệm nằm ngay trong một góc phòng thí nghiệm, đĩa đã không rửa khi Fleming rời phòng đi. Fleming có ý định vất bỏ cái đĩa ủ mầm vì ông nhận thấy rằng cái khuôn nấm mốc dường như đang hòa tan vi khuẩn tụ cầu trên đĩa, tạo ra một vòng tròn không mang mầm bệnh trên khuôn.

Bằng cách nào đó, một bào tử khuôn nấm mốc đã rơi vào trong đĩa ủ – có lẽ do cửa sổ phòng thí nghiệm mở toang, hoặc có lẽ là khi Fleming mở toang cửa nhà để đi xuống tầng dưới lấy cà phê – và bắt đầu sinh trưởng. Sau các xét nghiệm xa hơn, Fleming đã khám phá ra rằng có một số thứ trong khuôn đã làm chận lại sự sinh trưởng của vi khuẩn. Nếu không vội vàng đi nghỉ mát, có lẽ Fleming sẽ rửa sạch cái đĩa ủ và ngày hôm nay chúng ta cũng sẽ không có một trong những loại kháng sinh được sử dụng thông dụng nhất thế giới.

Lò vi sóng (năm 1946)

Trong lúc thử nghiệm vi sóng ngay trước một thiết bị radar vào năm 1946, kỹ sư kiêm chuyên gia về radar trong thời Chiến tranh thế giới thứ II, ông Percy Spencer (người bỏ học từ năm 12 tuổi) đã để thanh sôcôla trong túi áo và nó từ từ tan chảy. Cho rằng vi sóng là căn nguyên khiến sôcôla bị chảy thành nước, Spencer và các đồng nghiệp bắt đầu thử nghiệm đun nóng các thực phẩm khác nhằm tìm hiểu về tác động làm ấm tương tự có thể nhìn thấy bằng mắt thường.

Khi Spencer thử nghiệm với các hạt ngô thì ngay lập tức bỏng ngô văng khắp phòng. Kế đó, ông quyết định đun nóng 1 quả trứng. Bằng cách khoét một cái lỗ ở cạnh bên chiếc ấm đun nước, Spencer đã đặt quả trứng bên trong ấm và cho vi sóng đi lên mặt ấm. Quả trứng được nấu chín rất nhanh khiến ông Spencer không biết cách điều chỉnh nhiệt độ, và khiến cho quả trứng nổ tung vào mặt một đồng nghiệp khác khi người này đang dòm vào trong ấm. Cuối cùng đã có một giải pháp thay thế cho các loại lò điện và lò gas thông thường. Với lò vi sóng, thực phẩm được nấu chín cực nhanh, chiếc lò vi sóng đầu tiên trên thế giới đã ra đời như thế đó.

Khóa dán (năm 1955)

Hơn 60 năm trước, chiếc khóa dán đã được cấp bằng sáng chế. Loại móc nối và móc khóa là sản phẩm được cả thế giới sử dụng cho rất nhiều việc khác nhau, từ việc ngăn chặn áo khoác mở ra, cho đến ngừa miếng đệm rơi khỏi ghế. Phát minh này ra đời hết sức tình cờ. Khoảng năm 1955, sau khi dẫn chó đi dạo bộ trong cánh rừng, kỹ sư điện người Thụy Sỹ, ông George De Mestral, nhận thấy rằng các cạnh sắc của quả cây ngưu bàng bám dính lên quần áo của ông cũng như lông con chó.

Quan sát các cạnh sắc dưới kính hiển vi, ông De Mestral nhìn thấy có hàng ngàn cái móc nhỏ xíu có thể dễ dàng dính chặt lên các vòng nhỏ trong quần áo. Nguồn cảm hứng này khiến cho De Mestral nảy sinh ý tưởng tạo ra loại khóa 2 mặt, như sau này ông viết về phát minh của mình: “Một mặt có các móc cứng như cạnh sắc, mặt kia lại có các vòng mềm mại như các sợi vải trong quần của tôi”. Kỹ sư De Mestral đã thử nghiệm với đủ loại vật liệu nhằm giúp cho ông phát triển ra một loại khóa dán mạnh nhất. Cuối cùng, nylon là vật liệu hoàn hảo. Và thế là khóa dán – một sự kết hợp của “nhung” và “móc” – đã ra đời.

Giấy ghi chú (từ 1968 đến 1974)

Vào năm 1968, nhà hóa học Spencer Silver (làm việc tại Công ty sản xuất và khai khoáng Minnesota ở St Paul, tiểu bang Minnesota, Mỹ), người được cho là phát minh ra chất kết dính mạnh mẽ dùng cho ngành công nghiệp hàng không vũ trụ, nhưng cuối cùng ông đã phát minh ra một thứ ít tên tuổi hơn. Kỳ lạ thay, những khối cầu acrylic được tạo ra không dễ gì mà phá hủy, và độ dính nó rất cao ngay cả khi đã sử dụng vài lần. Buổi đầu, Silver muốn bán chất kết dính như một thứ bề mặt dính dùng cho bất kỳ ai muốn gắn nó lên bảng thông báo.

Ông hình dung cách người ta dán chúng lên bảng và lột ra sau đó mà không cần đụng móng tay vì có thể sẽ làm tan nát mảnh giấy dán. Ý tưởng này chỉ trở thành một sản phẩm thực sự cho mãi đến năm 1974, khi nhà hóa học Art Fry nảy ra một ý tưởng: tại sao không dùng chất kết dính “ít dính” của ông Silver dán trên các mảnh giấy? Fry bắt đầu cắt các mẩu giấy nhỏ và dán chúng lên nhau. Sau đó, một vài mẫu giấy dán được gửi tới cho công chúng và hiệu quả tức thì, ít nhất 90% số người được phát mẫu giấy ghi việc đã phản hồi và muốn mua thêm. Ngày hôm nay, loại giấy ghi chú vẫn thuần túy một màu vàng.

 

Hồng Anh sưu tầm

Xem thêm...

Dữ kiện về rượu

Dữ kiện về rượu

~~<><><><>~~

Rượu được cho là món quà chất lỏng của Thượng đế tặng cho nhân loại, được nhiều người thuộc mọi thành phần xã hội thưởng thức từ bao thế kỷ nay. Nhưng rượu cũng là con dao hai lưỡi: Nó có thể làm cho người nhát đảm thêm hăng hái, cho người thiếu sáng kiến được thêm tính sáng tạo, mà cũng làm hủy hoại cuộc đời một con người. Sau đây là một số dữ kiện về rượu có thể bạn chưa biết:

‘Beer Day’

Iceland là quốc gia tiêu thụ rượu tăng tới 35% trong thời gian từ 1992 đến 2012, và có một ngày lễ chính thức vào đầu Tháng Ba gọi là Beer Day.

 

Ngày này có nguồn gốc lịch sử. Bắt đầu là năm 1915, Iceland có luật cấm rượu. Không lâu sau đó, Tây Ban Nha dọa rằng nếu Iceland không bắt đầu tái nhập cảng rượu của Tây Ban Nha thì họ sẽ ngưng nhập cảng cá tuyết muối của Iceland. Đây là cú tát mạnh vào nền kinh tế Iceland.

Iceland phải nhượng bộ, và tới năm 1921, lệnh cấm rượu vang đỏ từ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha được bãi bỏ. Tuy nhiên bia vẫn còn cấm cho mãi tới ngày 1 tháng 3 năm 1989, ngày mà Iceland tuyên bố dân chúng được mua bia trở lại. Hôm đó, dân chúng lũ lượt đổ ra đường phố ăn mừng, và từ đó ngày này trở thành hội bia cả nước.

Tuổi uống rượu hợp pháp

Tuổi được uống rượu ở Mỹ đã có thay đổi: từ 18 tuổi trước kia đến quy định hiện nay là 21. So với nhiều nước khác trên thế giới, giới hạn tuổi như thế là vô lý: Có tới 19 nước không giới hạn tuổi, trong đó có Sierra Leone và Campuchia; một số nước như Antigua, Barbuda và Cộng hòa Trung Phi khắt khe hơn đôi chút: tuổi được uống rượu là từ 10 và 15 tuổi.

Tuy nhiên, không có đâu khe khắt hơn 16 nước, như Afghanistan, Somalia, và Pakistan, không cho uống rượu ở bất cứ tuổi nào. Còn ở Iran, lệnh cấm rượu được thiết đặt sau cuộc cách mạng 1979, có hai người uống rượu đã bị kết án tử hình năm 2012, trước đó họ đã bị đánh 80 hèo cũng vì uống rượu.

Rượu ở bữa điểm tâm

Một số nước trên thế giới có truyền thống say sưa ngay từ bữa ăn sáng.

Xưởng rượu Black Isle Brewery ở Scotland mới cho xuất xưởng Cold Turkey, một thứ bia đậm dành cho dân uống khi ăn sáng. Tuy độ rượu chỉ là 2.8%, nhưng nhiều người Scotland lo ngại là với chiều hướng này, dân nhậu càng được khuyến khích thêm, mà mức độ tiêu thụ rượu rất cao đã xếp Scotland vào hạng uống nhiều thứ 8 trên cả thế giới.

Còn dân Đan Mạch thì thích uống một ly Gammel Dansk cùng với cà phê vào buổi sáng.

Kế đến là bữa điểm tâm của nhiều người xứ Bavaria – một bang ở phía đông nam nước Đức – thế nào cũng có một chai lớn bia lạnh. Họ có riêng một thuật ngữ để chỉ chuyện đó: fruhschoppen có nghĩa “uống rượu trước buổi trưa”.

Nước Mỹ thời thuộc địa

Thói quen uống rượu của người Mỹ có lẽ bắt nguồn từ thời Hoa Kỳ còn là thuộc địa của nước Anh. Thời đó, trung bình mỗi người Mỹ uống 8 ounces rượu một ngày. Uống bia hoặc rượu táo trong bữa ăn sáng là chuyện thường. Và cả trẻ con cũng có lúc uống rượu.

Vào thời gian đó, các sông ngòi ở Âu châu thường bị ô nhiễm, gây ra nhiều bệnh tật, có khi là bệnh nặng. Vì lẽ đó, họ dùng rượu thay nước, và truyền thống này lan sang cả vùng Tân Thế giới. Whiskey thường được dùng để “chữa” bệnh viêm thanh quản và đau bụng; rượu brandy nóng để trị bệnh tả; còn đàn bà có thai muốn cho bớt khó chịu thì làm một shot rượu mạnh.
John Adam, quốc phụ dựng nước, mỗi sáng đều làm một ly rượu táo nặng, còn John Hancock được biết là đã buôn lậu rượu. Trước đó cả trăm năm, vào năm 1622, công ty Virginia Company ở London đã viết cho Thống đốc Francis Wyatt ở Jamestown, phàn nàn rằng thuộc địa bị thiệt hại vì thói say sưa.

Rượu được cho là món quà chất lỏng của Thượng đế tặng cho nhân loại, được nhiều người thuộc mọi thành phần xã hội thưởng thức từ bao thế kỷ nay. Nhưng rượu cũng là con dao hai lưỡi: Nó có thể làm cho người nhát đảm thêm hăng hái, cho người thiếu sáng kiến được thêm tính sáng tạo, mà cũng làm hủy hoại cuộc đời một con người. Sau đây là một số dữ kiện về rượu có thể bạn chưa biết:

Thú vật say xỉn

Loại sóc nhỏ có đuôi nhọn như cây viết ở Mã Lai chịu được thứ rượu nặng nhất thế giới. Còn loài dơi ăn trái cây và những con culi chậm chạp lại thích ăn những thứ trái đã lên men và mật hoa.

 

Nhưng theo một cuộc nghiên cứu năm 2006 thì loài khỉ nâu (rhesus macaques) có thói uống cho đến khi say mèm té gục. Những con nào thích say sưa thường sống cu ky một mình và uống li bì cho đến chiều tối, chẳng khác gì con người.

Khỉ vervet, còn gọi là khỉ xanh, đã quen mùi với chất ethanol trong những cây mía lên men có khắp vùng Carribê và khỉ ít tuổi uống nhiều hơn khỉ già.

Danh sách thú vật say sưa còn dài, từ những con bướm thích uống bia để tăng cường bộ phận sinh tinh (spermatophores) cho đến những con ruồi đực uống say bí tỉ khi bị từ chối không cho giao phối.

Bệnh dịch Waragi ở Uganda

Năm 2010, trong khoảng 3 tuần lễ, có hơn 100 người Uganda chết sau khi uống thứ rượu chuối nấu lậu ở nhà có pha thêm methanol. Trước khi chết, những người này hoặc bị mù, hoặc suy thận và suy gan. Sau vụ này, hàng trăm nhà dân bị khám xét tìm rượu nấu lậu.

Rượu này người Uganda gọi là waragi, chế bằng chuối, hạt kê hoặc mía, giá rẻ chỉ bằng một phần sáu giá rượu chính thức được phép bán. Chính phủ ra luật cấm sản xuất waragi, mà thị trường waragi chiếm tới 80% số lượng rượu trong nước.

Luật này cũng mau trở thành vô hiệu. Đối với người vi phạm lần đầu, mức tiền phạt chỉ bằng $1.50 USD, và các nhà chính trị từ chối không muốn săn tìm người nấu lậu vì làm mất thu nhập của nhiều gia đình, mà họ cũng mất phiếu khi bầu cử. Luật thì có đó nhưng người dân vẫn tiếp tục nấu waragi bằng bất cứ thứ hóa chất nào họ có được, do đó số tử vong tiếp tục tăng.

Rượu và thai nghén

Từ lâu, đã có cuộc tranh luận xem các bà bầu có nên uống một chút rượu, chẳng hạn 1 ly rượu vang. Cuộc nghiên cứu mới đây tại Đan Mạch cho thấy phụ nữ uống mỗi tuần một ly rượu vang, thì đẻ con có tính tình và cảm xúc tốt hơn những người mẹ kiêng cữ không uống, trong khi CDC ở Mỹ khuyến cáo các bà bầu nên hoàn toàn kiêng rượu.

Nhiều bác sĩ cho rằng thỉnh thoảng uống một ly cũng vô hại cho thai nhi. Bác sĩ Marjorie Greenfield, giáo sư sản khoa và phụ khoa, cho biết không có bằng chứng thấy uống chút ít là nguy hiểm, và uống mỗi tuần từ 1 đến 2 drinks đều ok.

Rượu được cho là món quà chất lỏng của Thượng đế tặng cho nhân loại, được nhiều người thuộc mọi thành phần xã hội thưởng thức từ bao thế kỷ nay. Nhưng rượu cũng là con dao hai lưỡi: có thể làm người nhát đảm thêm hăng hái, cho người thiếu sáng kiến được thêm tính sáng tạo, mà cũng làm hủy hoại cuộc đời một con người. Sau đây là một số dữ kiện về rượu có thể bạn chưa biết:

Yếu tố di truyền

Nghiên cứu cho thấy chứng ghiền rượu bị chi phối do các yếu tố vừa môi trường vừa di truyền. Một nhóm đặc biệt có mức độ tiêu thụ rượu cao là người Mỹ bản địa, ta quen gọi là mọi da đỏ. Theo Bác sĩ Ting-Kai Li, giáo sư y khoa và sinh hóa, thì tình trạng đó là do sự biến đổi gene được di truyền: họ không có các gene bảo vệ cho phép sự hấp thụ chất acetaldehyde.

 

Nếu acetaldehyde không được phân hóa khi hấp thụ, sẽ tích tụ và đưa tới các hậu quả xấu về sinh lý. Sự tích tụ acetaldehyde cũng có thể kích thích việc uống rượu.

Dĩ nhiên còn có yếu tố môi trường, nhưng dù do bất cứ yếu tố nào thì người da đỏ cũng là nhóm có số tử vong vì rượu cao nhất so với các nhóm dân tộc ở Mỹ.

Hậu quả của say rượu

Ai cũng biết rằng lạm dụng rượu là có hại. Về y học, khi ta nói đến bệnh xơ gan là ta nghĩ đến rượu, nhưng thực tế, xơ gan chỉ là một trong những bệnh tật do lạm dụng rượu mà ra. Chẳng hạn, ghiền rượu có thể làm giảm thiểu khả năng của cơ thể không hấp thụ được vitamin B1 (thiamine), do đó lượng vitamin này trong cơ thể giảm đi.

Vì thiếu B1 nên tạo ra hậu quả trầm trọng trên hệ thống thần kinh gọi là triệu chứng Wernicke-Korsakoff syndrome. Đây là căn bệnh thần kinh có thể làm cho cơ thể không phối hợp được các động tác như đi, đứng…, làm lệch lạc thị giác (như nhìn ra hai hình, mắt không theo kịp chuyển động). Triệu chứng nói trên còn có thể gây ra lẫn lộn và mất trí nhớ.

Có lẽ bệnh đe dọa đến mạng sống nhất khi ghiền rượu là chứng suy tim sung huyết (congestive heart failure) do cardiomyopathy bị dãn nở, tức là trái tim bị dãn ra quá mức, trông giống như một trái banh khi chụp X-quang, làm ảnh hưởng đến khả năng bơm máu đi khắp thân thể.

Kế hoạch “đầu độc” của Liên bang

Trong những ngày từ 25 đến 27 tháng 12 năm 1926, thành phố New York có 31 người chết vì rượu và vô số người khác bị bệnh nặng. Lúc đầu người ta tưởng chỉ là vì ngộ độc do rượu, nhưng hóa ra là do nhà nước.

Khi luật cấm rượu có hiệu lực năm 1920, giới thi hành luật bắt đầu làm biến thái rượu kỹ nghệ bằng cách thêm vào những hóa chất độc hại. Kế hoạch này nhằm ngăn chặn dân không tinh chế lại chất lỏng đó để uống. Sau một thời gian, các bar bí mật nở rộ, nên lực lượng chống rượu của chính phủ phát triển một thể thức biến thái mới làm cho rượu thuộc loại kỹ nghệ có mức độc hại tăng gấp đôi.

Tạp chí Time trong một bài báo năm 1927 nói rằng chỉ cần uống 3 drinks thứ rượu do nhà nước chế tạo cũng đủ gây mù lòa. Chính phủ tuyên bố người nào uống rượu là tự do ý thích, chính phủ không nhận trách nhiệm.

Việc cấm rượu kết thúc 5 năm sau, và tính tới lúc đó, việc này đã cướp đi sinh mạng của ít nhất 10 ngàn người do tranh chấp băng đảng và uống rượu lậu.

 

-Hình minh họa

 

Phượng Nghi

 

 

Kim Quy sưu tầm

Xem thêm...
Theo dõi RSS này