KHOAI CỦ LƯƠNG THỰC

 KHOAI CỦ LƯƠNG THỰC

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I

Khoai lang, khoai mì, khoai tây là những loại củ được dùng thay gạo, lúa mì trong những năm thất mùa bị thiên tai hay chiến tranh. Trong thiên nhiên còn có củ nầng nhưng việc tìm kiếm củ nầng rất khó khăn. Các loại khoai mỡ, khoai từ, khoai môn được dùng để nấu canh.

Tuần tự chúng tôi sẽ tìm hiểu qua về các loại khoai ghi trên kể cả củ nầng.
 

CỦ NẦNG
Dioscorea hispida
Gia đình: Dioscoreaceae

 

Nầng là một loại dây có gai, dài đến 10 m, mọc hoang trong rừng. Lá màu xanh hình bầu dục, có lông. Củ nầng có thể dài đến 1 m sâu dưới đất. Củ có gai nhỏ bên ngoài. Nầng là một loại khoai yam có alkaloids độc có thể làm tê liệt thần kinh. Dây nầng được tìm thấy nhiều trong vùng núi Hi Mã Lạp Sơn, vùng Đông Nam Á xuống tận hải đảo New Guinea.

Tên khoa học của nầng là Dioscorea hispida thuộc gia đình Dioscoreaceae.

Quốc gia

Tên Gọi thông thường

Anh

Asiatic bitter yam; intoxicating yam

(Khoai yam Á Châu; Khoai yam độc)

Pháp

Igname épineuse amere (Khoai mỡ đắng có gai)

Mã Lai

Koi

Lào

Houo koi

Phi Luật Tân

Nami


Củ nầng có nhựa màu vàng rất độc. Nó có alkaloid, dioscoreine C 13 H 19 Ở 2 N, phosphorus, chất vôi, chất sắt v. v. Củ nầng vừa có chất độc vừa có chất gây ghiền. Người ta dùng nhựa củ nầng kết hợp với nhựa cây sui Anritiaris toxicaria để tẫm tên thuốc độc.

Người Phi Luật Tân và các dân tộc thiểu số ở Đông Nam Á có nhiều kinh nghiệm dùng nầng đắp vào các vết thương trên mình bò, trâu để giết chết giòi hay đắp vào nơi đau khớp xương của người. Nhựa vàng của củ nầng dùng để tẩy giặt quần áo. Trong y học dân gian Phi Luật Tân người ta dùng nhựa củ nầng như thuốc sát trùng, làm giảm đau nhức, kháng viêm, chống xuất huyết.

Củ nầng là một loại củ lương thực. Nhưng phải mất nhiều ngày ủ nầng trong lu để khử nhựa độc mới ăn được. Thời gian ủ để khử nhựa độc kéo dài cả tháng. Nầng được dùng ăn thay cơm trong đệ nhị thế chiến ở nông thôn khi thiếu lúa gạo trầm trọng vì chiến tranh. Nầng chiên với xôi ăn với muối đậu phộng có chút đường rất ngon.

Trong ngôn ngữ Việt Nam, củ nầng chỉ búi tóc của đàn ông hay đàn bà vì vào thế kỷ XIX trước khi người Pháp đô hộ Việt Nam, đàn ông và đàn bà trong nước ta đều có búi tóc ( chignon).

Ở xã Xuân Thịnh, quận Sông Cầu, tỉnh Phú Yên có Hòn Nầng, một trái núi nằm giữa một cái đầm nước. Quanh núi có nhiều dây nầng. Tương truyền rằng nầng ở đây đã nuôi sống chúa Nguyễn Phúc Ánh trong lúc lánh nạn. Ở Hòn Nầng có một cái miếu thờ các công thần đã giúp cho chúa Nguyễn Phúc Ánh trong lúc nguy khốn. Chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi năm 1802 tức là vua Gia Long, vị vua sáng lập ra triều Nguyễn.

 

KHOAI LANG
Ipomoea batatas
Gia đình: Convolvulaceae

 

Khoai lang là một loại dây có củ. Cọng, lá và củ đều ăn được. Đó là một nguồn lương thực của loài người cách đây 5, 000 năm.

Khoai lang gốc ở Mễ Tây Cơ. Từ đó nó được trồng trên các hải đảo trong biển Caribbean, Trung và Nam Mỹ. Ngày nay khoai lang được tìm thấy khắp nơi trên thế giới ở những vùng khí hậu nhiệt đới và bán nhiệt đới. Khoai lang không trồng được ở vùng khí hậu ôn đới lạnh. Khoai lang được trồng trên các hải đảo Thái Bình Dương khoảng thế kỷ X sau Tây Lịch.

Tên khoa học của khoai lang là Ipomoea batatas thuộc gia đình Convolvulaceae.

Tên gọi thông thường:

Người

Tên gọi

Tainos

Batata

Anh

Sweet potato

Pháp

Patate douce

Polynesians

Kumara


Khoai lang được trồng bằng dây. Khoai lang thích hợp với đất pha cát, đất phù sa hay đất núi lửa. Đồng bằng sông Cửu Long, Cao Nguyên Nam Trung Bộ là những vùng trồng khoai lang với năng suất rất cao. Nông dân Việt Nam thường đặt cây bù xích Ageratum conyzzoides hay dây đậu phộng hay các loại dây đậu khác dưới mô đất trồng khoai để khoai có nhiều củ.

Khoai lang thường thấy là khoai Puerto Rico, Jewel, Jersey và Triumph. Khoai lang có màu trắng, đỏ, vàng và tím. Khoai màu vàng có nhiều beta carotene và sinh tố A. Đó là khoai nghệ ở Việt Nam. Khoai ngà có ruột trắng nhiều bột nhưng không ngọt. Khoai Puerto Rico và Jewel to củ nhưng nhão ruột. Khoai Triumph và Jersey có ruột khô. Khoai ruột đỏ thì ngọt nhưng hơi nhão.

Lá non và đọt khoai lang luộc ăn như rau. Nếu ăn đọt và lá thì khoai không có củ. Người ta ăn khoai lang nấu, nướng, nấu chè, làm bột, lát mỏng phơi khô hay lát mỏng chiên ăn với mật đường v. v. Khoai lang được dùng để nấu ca-ri, ra- gu, nấu canh với cá, tôm khô hay thịt v. v.

Mức sản xuất khoai lang trên thế giới hiện nay lối 160 triệu tấn. Trung Hoa chiếm 85% mức sản xuất này với 135 triệu tấn. Các nước còn lại là Ấn Độ, Uganda, Nigeria. Hoa Kỳ chỉ sản xuất lời 600, 000 tấn.

Người bịnh tiểu đường tin rằng ăn đọt khoai lang thì hạ đường trong máu. Khoai lang có sinh tố A, C, B 6, carbohydrates, protein, sợi, chất sắt, vôi v. v. Khoai lang không có nhiều tinh bột.

Trong Đông Y khoai lang được gọi là cam thự. Khoai lang nhuận trường ( lá, cọng, củ luộc chín) hữu ích cho người bị bịnh tiểu đường. Người ta cho rằng khoai lang sống có khả năng ngăn ngừa say sóng khi ra biển. Khoai lang đắc dụng vào năm 1945, 1975 và trong phong trào vượt biển ở Việt Nam từ năm 1976 đến 1990.

Ở Nam Mỹ người ta giã nát củ khoai lang vắt nước hoà với nước chanh vắt để làm thuốc nhuộm quần áo. Tuỳ theo tỷ lệ nước vắt khoai lang và nước chanh vắt ta có màu nhuộm vàng, đỏ hồng cho đến màu đen.

Ở Taiwan (Đài Loan) người ta dùng khoai lang để cất cồn.

Nông dân Việt Nam cho biết vài kinh nghiệm nông nghiệp như sau:

Khoai ruộng lạ,
Mạ ruộng quen.

Nói về khoai ca dao Việt Nam có nhận xét:

Đói thì ăn ráy ăn khoai
Chớ thấy lúa trổ tháng hai mà mừng.

Tháng hai đây là tháng hai Âm Lịch tức là một tháng sau Tết Nguyên Đán.

Một câu sấm của Phật Giáo Hoà Hảo tiên tri tình trạng thiếu ăn ở miền Nam sau năm 1975 như sau:

Khoai lang rồi lại khoai mì,
Đến khi Tần (1) khởi độ thì khầu ta.

(1) Tần ở đây ám chỉ xứ Cambodia.

Ở Nam Mỹ và vùng Caribbean có một loại khoai lang được xem như là thuốc nhuận trường tự nhiên. Chúng tôi gọi đó là khoai lang trị táo bón dựa vào tên gọi Batatas de purga (khoai lang tẩy xổ) của người địa phương. Tên khoa học của khoai lang trị táo bón này là Operculina macrocarpa thuộc gia đình Convolvulaceae.

Tên gọi thông thường:

Địa phương Trung- Nam Mỹ

Pháp

Batatas de purga (Brazil) ; Jalapa

Liane tonnelle; Rose en bois

 

Củ khoai dùng để trị táo bón, lọc máu, đau bụng, bịnh về da, bịnh đường tiểu nhiễm trùng, kinh nguyệt không điều hoà, suyễn, bại liệt.

Củ khoai lang trị táo bón có polyphenols, phénolic acids như caffein acid, clorogenic acid, gallic acid.



KHOAI MÌ- SẮN
Manihot dulcis
Manihot esculenta

Gia đình: Euphorbiaceae

 

Cây khoai mì là một loại cây lương thực, cao lối 2 m, không có nhánh; thân dễ gãy và có nhiều mắt; lá giẹp và dài. Người ta trồng khoai mì bằng thân cây chặt từng khúc ngắn lối 30 cm đặt xiêng xiêng dưới đất trong vòng 6 tháng thì có củ. Nếu để lâu dưới đất củ càng to và nặng cân hơn.

Cây khoai mì còn được gọi là sắn (xin đừng lầm với củ sắn tức củ đậu) gốc ở Mễ Tây Cơ hay nói một cách tổng quát hơn ở Mỹ Châu nhiệt đới.

Tên khoa học của khoai mì ( sắn) là Manihot dulcis thuộc gia đình Euphorbiaceae.

Tên gọi thông thường:

Quốc gia

Tên gọi

Pháp

manioc

Anh

cassava

Tupi Guaranian (thổ dân)

manioca cassava

Tagalog

Balinghoy

Trung Hoa

Mu shu


Khoai mì trồng 06 tháng thì có củ ăn được. Củ cân nặng từ 1 - 2 ki- lô. Đó là một loại cây lương thực hữu ích cho các dân tộc Á- Phi- Châu Mỹ La Tinh sống trong vùng khí hậu nhiệt đới và bán nhiệt đới. Củ khoai mì có nhiều tinh bột nhưng nhựa vàng của khoai mì có prussic acid tức hydrogen cyanide HCN rất độc. Lợi ích kinh tế và dinh dưỡng của khoai mì không thể chối cãi được. Khoai mì dễ trồng, sớm có củ và có năng suất cao. Cây khoai mì có thể sống lâu năm dưới đất. Trong trường hợp đó củ càng to hơn.

Công dụng của khoai mì rất đa dạng: nấu chín để ăn không hay ăn với muối đậu có chút đường, làm bánh, làm bột, làm bánh mì, bột ngọt (mì chính). Bột mì đun sôi với nước nóng dùng để làm hồ, keo dán giấy. Khoai mì lát mỏng, phơi khô để dành làm thức ăn dự trữ. Bột mì ít độc hơn vì phải ngâm khoai nhiều ngày trong nước cho nhựa vàng mất đi sau khi thay nước nhiều lần..

Khoai mì có độc chất cyanogenic glycosides, linamarin, lotautralin. Khoai trồng vào mùa hạn hán độc chất càng gia tăng nhiều hơn. Chỉ cần 40 mg cyanogenic glycosides đủ giết chết một con bò. Các dân tộc ăn khoai mì nhiều thường bị bịnh bướu cổ vì ảnh hưởng của thiocyanate như thường thấy ở Phi Châu.

Mức sản xuất khoai mì hiện nay trên thế giới lối 115 triệu tấn. Thái Lan, Indonesia và Trung Hoa lục địa là những nước xuất cảng khoai mì quan trọng trên thế giới. Hoa Kỳ nhập cảng nhiều khoai mì. Đôi khi nhu cầu bột khoai mì của Hoa Kỳ còn cao hơn cả tổng số sản lượng khoai sản xuất trên thế giới.

Các thành phần của cây khoai mì được dùng trong kỹ nghệ giấy, kỹ nghệ dệt và kỹ nghệ mỹ phẩm, kỹ thuật sinh vật v. v. Ở Mozambique rượu bia Impala và rượu bia Eagle ở Ghana được làm từ bột khoai mì. Ở miền Nam sau năm 1975 người ta cất rượu bằng khoai mì và làm bánh mì cũng bằng bột khoai mì. Khoai mì có vai trò quan trọng trong đời sống dân chúng và trong kinh tế quốc gia trên lục địa Phi Châu. Ở Nam Phi người ta không ăn khoai mì nhưng khoai mì được dùng trong kỹ nghệ.

Khoai mì đóng vai trò cứu đói quan trọng ở Việt Nam vào năm 1945 - 1946 và 1975 - 1990.

Lá khoai mì non luộc ăn được. Lá khoai mì non có 30% protein trong khi củ chỉ có 3%. Lá còn có Ca, sinh tố B, C, carotene, Fe.

Ở Việt Nam không thấy dùng khoai mì để chữa bịnh.

Ở Nam Mỹ, Phi Châu, Phi Luật Tân, Mã Lai, lá, củ và cây khoai mì được dùng trong y học cổ truyền để cầm máu ( lá), hạ sốt, trị rắn cắn, mụt chốc, cảm, tiêu chảy ( lá sắc nước uống), viêm mắt (eyes) (nhựa lá khoai mì), nhức đầu ( giã lá đắp vào nơi bị đau), phụ nữ vô tự ( lá sắc nước uống). Lá và củ giã nát đắp vào nơi bắp thịt bị đau. Tinh bột khoai mì rượu Rum dùng để trị bịnh ngoài da của trẻ em.

Độc chất của khoai mì được các nhà khoa học nghiên cứu xem có thể dùng để diệt tế bào ung thư hay không. Vào thập niên 1990 các nhà khoa học Anh thí nghiệm thành công trên chuột nhưng chưa áp dụng vào việc chữa trị ung thư cho người.

 

KHOAI MỠ
Dioscorea alata
Gia đình: Doscoreaceae

 

Khoai mỡ và khoai yam cùng một tên khoa học Dioscorea alata thuộc gia đình Dioscoreaceae. Củ khoai yam và củ khoai lang giống nhau nhưng dây khoai lang và dây khoai yam khác nhau.

Khoai lang: đọt và lá luộc ăn được

Khoai yam: đọt và lá khoai yam không ăn được.

Dây khoai mỡ cứng, sần sùi; lá màu xanh tươi hình trái tim giống như lá trầu. Củ khoai mỡ to và có màu tím hay vàng nhạt. Khoai mỡ có nhiều chất nhờn trong khi khoai lang có nhiều bột nhưng không dẻo và nhờn như khoai mỡ. Có khoai lang màu tím nhưng không có đặc tính hoá học giống như khoai mỡ.

Tên gọi thông thường:

Quốc gia

Tên gọi

Anh

Water yam ; Winged yam ;  Purple yam

Ấn Độ

Ratalu

Hawaii

Uhi

Tagalog

Ube

Tahiti

Ufi


Khoai mỡ được tìm thấy ở các vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới trên thế giới.

Ở Việt Nam khoai mỡ được mài nhuyễn để nấu canh với cá rô hay tôm khô mà thôi.

Ở các nước khác khoai mỡ được dùng để nấu canh, làm bánh ngọt, kem để ăn tráng miệng. Người Phi Luật Tân dùng khoai mỡ để làm vài món ăn ngọt.

Khoai mỡ có sinh tố B 6, C, sợi, potassium. Nó có tính kháng viêm. Thảo mộc dòng Dioscorea có saponins dùng để sản xuất cortisone trị phong thấp, steroid diosgenindùng làm thuốc ngừa thai, kháng nấm. Khoai mỡ hữu ích cho người bị bịnh trỉ, phong hủi và người bị lao trong thời kỳ bình phục.



KHOAI MÔN
Colocasia esculenta
Gia đình: Araceae

 

Khoai môn là một loại thảo mộc có tàu dài, mình xốp; lá to hình tam giác màu xanh lá cây hơi sậm. Khoai môn là thức ăn bổ dưỡng phản ánh văn học lương thực của các dân tộc sống trên các hải đảo Thái Bình Dương. Đó cũng là thức ăn được các dân tộc nông nghiệp miền nhiệt đới Á Châu, Châu Mỹ và Phi Châu ưa thích.

Tên khoa học của khoai môn là Colocasia esculenta thuộc gia đình Araceae. Người Anh gọi khoai môn là taro; cocoyam, dasheen (từ tiếng Pháp: De Chine- xuất phát từ Trung Hoa) Chữ taro âm theo cách gọi của dân sống trên hải đảo Thái Bình Dương; Hawaii: halo; Fiji: dalo; Nhật: satoimo; Tagalog: gabi; Nepal: karkalo.Dasheen là tên gọi dân chúng trong vùng Caribbean.

Khoai môn gốc ở Mã Lai được đưa sang Ấn Độ từ năm 5000 trước Tây Lịch. Từ Ấn Độ khoai môn được du nhập vào Ai Cập. Dưới thời đế quốc La Mã người Âu Châu biết dùng khoai môn vì đế quốc La Mã lan rộng sang miền đông Địa Trung Hải và Bắc Phi. Sau đó việc dùng khoai môn không còn ở Âu Châu nữa.

Khoai môn được trồng bằng củ. Khác với khoai lang và khoai mì, khoai môn cần đất màu mỡ và nhiều nước. Phải mất 06 tháng khoai mới có củ ăn được. Lá và củ khoai môn có chất độc calcium oxalate gây nôn, ngứa cuống họng nếu ăn sống. Chất độc này biến mất khi khoai được nấu chín.

Khoai môn nấu với chút muối dùng để ăn; làm bánh, nấu chè, nấu ca- ri, cháo lươn với khoai, ngó khoai môn nêm với mắm ruốc; vịt nấu chao và khoai môn v. v. Người Trung Hoa rất thích ăn bánh khoai môn. Khoai môn còn được dùng làm chao. Các dân tộc sống trên các hải đảo Thái Bình Dương, Mỹ Châu nhiệt đới ăn khoai môn thay bắp và lúa gạo vậy.

Ở Việt Nam người ta phân biệt:

- khoai môn sọ củ tròn và nhỏ nhưng có nhiều bột
- môn sen dẻo và ngon
- môn Tàu củ to, lá màu xanh sẫm
- môn sáp: bùi, củ và lá đều to
- môn nước: không có củ (công dụng không rõ ràng ngoại trừ dùng lá để đựng cá lia thia)

Về khoai môn ca dao Việt Nam có câu:

Nước đổ lá môn
Sóng xao đầu vịt.


Gió đưa bụi chuối sau hè,
Bụi môn (1) trước cửa ai dè em hư
.

(1) Môn (Hán- Việt): cửa. Câu này có thuật chơi chữ Môn và Cửa.

Các quốc gia sản xuất nhiều khoai môn trên thế giới hiện nay phần lớn nằm trên lục địa Phi Châu như Nigeria, Ghana, Côte d’Ivoire. Ở Á Châu có Trung Hoa, Cambodia và New Guinea.

Ở Á Châu nhiệt đới, hải đảo Thái Bình Dương, Tây Phi, Nam Mỹ có môn tai voi, bụi to và củ to. Đó là một nguồn lương thực quan trọng. Tên khoa học của loại môn tai voi hay môn Tannia là Xanthosona nigrum. Ở Nam Mỹ gọi là Tannia, Malanga, Yautia. Người Anh gọi là arrowleaf elephant.
 

 

KHOAI TÂY
Solanum tuberrosum
Gia đình: Solanaceae

 

Gọi đơn giản là khoai tây vì đó là một loại khoai không có ở Việt Nam trước khi người Pháp đô hộ. Khoai được người Pháp đem vào Việt Nam nên gọi là khoai Tây vì nước Pháp nằm về phía Tây mặc dù Pháp không phải là nơi phát xuất của khoai Tây.

Tên khoa học của khoai Tây là Solanum tuberrosum thuộc gia đình Solanaceae.

Tên gọi thông thường là:

Quốc Gia

Gia Tên Gọi

Anh

Potato

Pháp

Pomme de terre

Do Thái

tapuach adama (trái táo dưới đất)

Ý

patata (như gọi khoai lang)

 

Sinh quán của khoai Tây là dãy núi Andes ở Nam Mỹ. Nó được trồng quanh hồ Titicaca dọc theo biên giới Peru- Bolivia. Khoai Tây gắn liền với văn minh Inca. Do đó người bản địa ở Nam Mỹ có nhiều kinh nghiệm trồng và tồn giữ khoai Tây lâu dài. Đến thế kỷ XVI các nhà chinh phục Tây Ban Nha đem khoai Tây về xứ trồng. Từ đó khoai Tây được phổ biến khắp Âu Châu. Vào thế kỷ XVII khoai Tây mới được trồng ở Bắc Mỹ. Diện tích trồng khoai Tây gia tăng nhanh chóng khi người tỵ nạn Ái Nhĩ Lan vào Londonderry, New Hampshire sau nạn đói vì khoai Tây bị thất mùa trên đảo quốc của họ.

Khoai Tây được trồng bằng củ, củ để mọc mầm hay củ cắt nhỏ ở những nơi có mầm non. Khoai Tây thích hợp với khí hậu ôn đới. Tuỳ theo loại khoai, phải mất từ 3 đến 6 tháng mới có thu hoạch.

Cây cao lối 60 cm; lá xanh tươi. Hoa màu tím nhạt với nhuỵ vàng. Trái có nhiều hột và độc chất solanine. Các loại khoai thường thấy là: khoai Russet Burbank, Red Norland, Yukon Gold, Atlantic, Kufri Jyoti v. v. Người Pháp thích khoai Tây ruột vàng. Loại khoai này gốc ở Pas de Calais. Người Anh không thích khoai ruột vàng. Anh và Pháp ít khi có tương đồng. Từ năm 1932 Anh không mua khoai Tây của Pháp nữa.

Kẻ thù của khoai Tây là sâu rầy, bịnh nấm, côn trùng dưới đất ( con sùng), vi khuẩn. Rầy phá hại khoai Tây mang tên khoa học Chrysomelidae thuộc nhóm Coleoptera. Loại rầy độc hại là rầy Leptinotarsa decemlineata phá hại khoai Tây Colorado. Ấu trùng của loài sâu bướm Phthorimaca operculella thuộc gia đình Gelechiidae hay đục phá dây và củ khoai Tây. Sâu Empoasca fable cắn phá lá khoai Tây. Sâu Paratrioza cockerelli bám vào khoai Tây, cây thuốc lá, cây cà chua và gây bịnh cho cây.

Từ năm 1845 đến 1847 khoai Tây ở Ái Nhĩ Lan bị rụng lá. Mùa khoai Tây thất bát gây ra nạn đói làm cho 01 triệu người chết. Trên một triệu người Ái Nhĩ Lan bỏ nước sang Hoa Kỳ sau nạn đói ghê gớm này.

Khoai Tây có vai trò quan trọng trong đời sống hằng ngày của các dân tộc ăn lúa mì sống trong vùng ôn đới. Khoai Tây quan trọng hơn khoai lang trong đời sống các dân tộc ăn cơm. Người ta ăn khoai Tây luộc, nướng, nghiền nhuyễn ăn với chút bơ mặn. Khoai Tây lát mỏng chiên làm potato chips hay xắc miếng dày và dài lối 15 cm và chiên để có món French fries. Các nhà hàng bán steak hay nhà hàng Mc Donald hay Burger King luôn luôn có món French fries. Khoai Tây nướng với bơ, nghiền nhuyễn cũng được bán trong các nhà hàng bán steak. Khoai Tây cũng được dùng để làm bột, làm cồn ethanol, cất rượu Vodka ở Nga v. v. Nhưng rượu Vodka nổi tiếng của Nga được cất từ lúa mì hay lúa mạch.

Mức sản xuất khoai Tây trên thế giới ngày nay là 350 triệu tấn. Trung Hoa, Ấn Độ, Nga, Ukraine và Hoa Kỳ là nhưng xứ sản xuất nhiều khoai Tây. Khoai Tây có thể trồng trên Cao Nguyên Nam Trung Bộ, nơi có khí hậu mát mẻ. Khoai Tây có sinh tố B 1, B 2, B 3, B 6, C, Ca, K, Mg, Ph, muối. Lá, cọng, trái khoai Tây có độc chất. Đó là glycoalkaloid ( solanine) gây nhức đầu, chuột rút, tiêu chảy và bất tỉnh mê man.

Ở Bắc Phi, Tây Phi, Đông Phi, Ấn Độ và vài nơi ở Đông Nam Á có một loại khoai Tây khổng lồ thuộc gia đình dây rau muống và dòng Ipomoea. Tên khoa học của loại khoai Tây khổng lồ này là Ipomoea digitata thuộc gia đình Convolvulaceae. Người Anh gọi là Giant potato; Hindi: Bhuyikohaba; Sanskrit: Vidari. Loại khoai Tây khổng lồ này dùng để cất rượu thuốc; lá và rễ giã nát đắp trên vùng phổi của người bị bịnh lao (TB), phụ nữ bị nhiễm trùng ở vú (kinh nghiệm y học cổ truyền Ấn Độ). Khoai Tây khổng lồ có taraxerol, taraxerol acetate, beta- sitosterol, scopolotin kháng vi trùng, kháng ung thư. Ấn Độ có nhiều kinh nghiệm về việc dùng khoai Tây khổng lồ trong y học trị liệu. Khoai Tây khổng lồ được dùng để trị sưng lá lách, sưng gan, kinh nguyệt quá đa; kích thích tuyến sữa (do sự hiện diện của ergonovine); kích dục; hạ huyết áp; hạ cholesterol; chống béo phì ( obesity).



KHOAI TỪ
Dioscorea esculenta
Gia đình: Dioscoreaceae

 

Khoai từ là thân thuộc gần của khoai yam cùng dòng Dioscorea và gia đình Dioscoreaceae. Người Anh gọi khoai từ là Chinese yamLesser yam; Asiatic yam.Người Pháp gọi khoai từ là Igname des blancs (khoai mỡ của người da trắng), Igname de Chine (khoai mỡ Trung Hoa). Người Tây Ban Nha gọi là name asiatico(khoai mỡ Á Châu) v. v.

Dây khoai từ sần sùi. Lá dày, láng, màu xanh tươi. Củ khoai từ có vỏ sần sùi vì vậy người ta gọi là khoai từ gai. Có những củ khoai từ có nhánh như củ gừng tựa như bàn tay của người bị phong hủi nên gọi là khoai từ cùi. Khoai từ, khoai mỡ, khoai yam có nhiều liên hệ về dinh dưỡng lẫn trị liệu.

Khoai từ được trồng nhiều ở Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ nhiệt đới. Ở Việt Nam người ta ăn khoai từ luộc hay canh khoai từ nấu với cá hay tôm khô như canh khoai mỡ.

Khoai từ có allontoin được dùng như thuốc ngừa thai, kháng khuẩn, kháng nấm. Thảo mộc dòng Dioscorea có nhiều saponins và dioscinDiosgenin được dùng làm thuốc sản xuất kích thích tố steroid, chữa đau khớp xương, chứng ói mửa của phụ nữ mang thai, ho, tiêu chảy, hạ máu đường v. v.

 

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I

Hồng Anh st

Xem thêm...

18 bức ảnh khoa học nổi bật trong năm 2017

18 bức ảnh khoa học nổi bật

trong năm 2017

Năm 2017, các nhà khoa học cũng như nhiếp ảnh gia khắp thế giới đã chụp được rất nhiều bức ảnh ấn tượng. Dưới đây là 18 trong số những bức ảnh khoa học tương đối nổi bật của năm.

1. Hàm cá mập

Cá mập cổ khổng lồ (ảnh: Alberto Collareta/Palaeogeography, Palaeoclimatology)

 Loài cá mập megalodon từng là nỗi kinh hoàng của biển cả. Dưới đây là bức tranh ấn tượng về một chuyến đi săn của loài cá mập này. Loài cá mập lớn nhất trong lịch sử Trái Đất đã tuyệt chủng cách đây 2.5 triệu năm, và một nghiên cứu gần đây được đăng trên tạp chí Cổ địa lý học,Cổ khí hậu học, Cổ sinh thái học cho rằng một lý do quan trọng khiến loài ăn thịt khổng lồ này tuyệt chủng là thiếu con mồi.

2. Rặng núi Rocky Mountains

Rocky Mountains (ảnh: ESA/NASA)

Đầu năm 2017, Trạm Vũ trụ Quốc tế ISS quét qua vùng Rocky Mountains (thuộc Bắc Mỹ) và chụp được một bức ảnh tuyết tuyệt đẹp. Tấm ảnh trên do nhà du hành vũ trụ người Pháp Thomas Pesquet chụp được, anh nói: “Rặng núi quá cao đến mức mây cũng không vượt qua được.”

3. Ruồi sát thủ

Ruồi mắt to (ảnh: Thomas Shahan)

Con ruồi này chỉ dài 6 mm nhưng mắt lại rất lớn. Loại mắt nhiều cạnh này khiến cho nó trở thành một trong những loài côn trùng có tầm nhìn tốt nhất, theo một nghiên cứu công bố hồi tháng 3/2017. Với tầm nhìn nhạy bén như vậy, nó có thể bắt những con mồi cách nó nửa mét.

4. Mặt trăng nổi

Mặt trăng sao Mộc (ảnh: NASA/JPL-Caltech)

Bức hình là hình ảnh sao Thổ ở phía bên trái với vành đai rất mỏng gần như vuông góc với mặt phẳng của bức hình. Ở phía trên vành đai, chính giữa bức hình có 2 mặt trăng (Rhea và Mimas) treo trên không trung.

5. Con ong và giọt nước

(ảnh: Lim Choo How/Caters)

Một con ong trông như là đang chơi đùa với một giọt nước. Thực ra nó đang hút nước thừa từ trong tổ và hất đi

6. Một di sản bị phá hủy

Sau khi nhóm vũ trang ISIS chiếm được Palmyra (Syria), người ta đã phát hiện có hai công trình văn hóa bị phá hủy, Tetrapylon và nhà hát Roman. Từ vệ tinh người ta có thể chụp được hình ảnh hai khu vực này bị phá hủy (chỗ hai mũi tên màu đỏ)

7. Dòng thác lửa

(ảnh: Peggy Sells/Shutterstock)

Thác “Đuôi ngựa” ở Yosemite trông như dòng nham thạch. Thực ra dải màu da cam ấy là do ánh sáng từ mặt trời khúc xạ. Hiện tượng này chỉ xảy ra vài phút vào mỗi buổi tối trong tháng 2 hàng năm, khi bầu trời quang đãng và khi tia nắng mặt trời chiếu theo một góc nhất định.

8. Các cột sáng

(ảnh: Darlene Tanner/ ZUMA)

Những tinh thể băng rơi xuống từ trên bầu khí quyền hấp thụ ánh sáng đến từ các nguồn sáng nhân tạo như đèn pha ôtô rồi tập trung nó thành những chùm sáng đẹp mắt.

9. Dòng nham thạch

(ảnh: USGS)

Núi lửa Kilauea nằm ở Big Island của Hawaii  phun dòng nham thạch trông như vòi nước thẳng xuống biển tạo ra hơi nước cuồn cuộn. Ngọn núi lửa này đã phun trào trong 30 năm và hoạt động đặc biệt mạnh vào năm 2017.

10. Vành đai Sao Thổ

(ảnh: Ian Regan/Space Science Institute/JPL-Caltech/NASA)

Tàu vũ trụ Cassini được phóng lên sao Thổ và gửi về hình ảnh này về tháng 2/2017. Sau khi hoàn thành hết các nhiệm vụ, Cassini đã lao xuống bầu khí quyển của sao Thổ “tự vẫn” vào tháng 9.

11. Ếch tí hon 

(ảnh: SD Biju)

Chú ếch này chỉ bé như một đầu ngón tay, ếch đêm Vijayan ở Western Ghats của Ấn Độ là một trong 7 loài ếch tí hon được phát hiện sau 5 năm khảo sát vùng núi.

12. Hình Rùa bơi trên mặt trời.

(ảnh: ALMA (ESO/NAOJ/NRAO)

Đốm đen trên Mặt Trời trông như hình con rùa đang bơi qua Mặt Trời. Đốm đen hình con rùa này có kích thước gấp đôi Trái Đất.

13. Những khối băng khổng lồ.

(ảnh: Peter Convey)

Nam Cực có những khối băng khổng lồ! Bức hình này cho thấy tính di động của băng ở Nam Cực. Tảng băng khổng lồ ban đầu bị đứt ra do di chuyển và tạo thành những khe nứt.

14. Sứa vũ trụ

(ảnh: NOAA)

Đây là UFO hay động vật? Người ta chụp được “con sứa vũ trụ” này từ một thiết bị ở Utu Seamount gần American Samoa. Loài động vật này thuộc họ hydromedusae và thường có hai bộ xúc tu.

15. Cơn bão đến bờ biển Bồ Đào Nha

(ảnh: NASA Earth Observatory)

Một đám mây từ cơn bão đổ bộ vào đất liền châu Âu vào tháng 7/2017 đã có “cử chỉ” dường như rất dịu dàng với bờ biển của Bồ Đào Nha. Bức ảnh chụp từ vệ tinh của NASA.

16. Con lửng kiên trì

(ảnh: Evan Buechley)

Một con lửng đã trở nên nổi tiếng khi camera ở sa mạc Great Basin, bang Utah, Hoa Kỳ, ghi hình được sự kiên trì của nó: chôn cất 1 con bò trong 5 ngày, một mình thực hiện! Để rồi quanh quẩn ở “kho thức ăn” này trong nhiều tuần sau đó.

17. Tình Mẫu Tử

(ảnh:Russell A. Mittermeier/Conservation International)

Một con Gorilla con 4 tháng tuổi và mẹ của nó, đây là hình ảnh vừa ngọt ngào vừa chạnh lòng đối với những nhà bảo tồn động vật khi 60% loài linh trưởng thế giới đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, theo tạp chí Science Advances.

18. Khu rừng bàn cờ

(ảnh: NASA’s Earth Observatory)

Hình ảnh kỳ lạ của năm 2017 được chụp ở Idaho, Hoa Kỳ khi tuyết mới rơi phủ lên một khu đất khai khẩn, cây được đốn hạ theo hình bàn cờ.

 

 

Theo LiveScience com

 

Kim Quy st

Xem thêm...

Nước Mỹ đón Năm Mới 2018 trong băng giá

Nước Mỹ đón Năm Mới

2018 trong băng giá

Thời tiết lạnh cóng khắp Bắc nước Mỹ từ nay đến đầu năm
 
Thời tiết lạnh cóng ở phần lớn vùng Bắc nước Mỹ sẽ còn tiếp tục từ nay đến đầu năm tới, trong khi hai thành phố ở tiểu bang Minnesota vừa phá kỷ lục lạnh và một thành phố ở Pennsylvannia đang phải khởi sự đào bới khỏi đống tuyết kỷ lục trút xuống nơi này.

Các chuyên gia khí tượng cảnh báo dân chúng về nguy cơ lạnh tê cóng, hư cả da thịt (frostbite) do khí lạnh từ Bắc Cực kéo xuống khắp vùng Trung nước Mỹ và tiến sang miền Đông.

Sở Khí Tượng Quốc Gia (NWS) báo cáo rằng nhiệt độ ở thành phố International Falls, thuộc tiểu bang Minnesota, nơi tự xưng là Thùng Lạnh của Nước Mỹ, xuống âm 37 độ, phá vỡ kỷ lục âm 32 độ có từ năm 1924. 
 
 
Thành phố Hibbing, cũng ở Minnesota, xuống còn âm 28 độ, phá kỷ lục âm 27 độ có từ năm 1964.

Các khuyến cáo về gió lạnh cũng được ban hành khắp vùng New England, Bắc Pennsylvania và New York. 

Những nơi này và các tiểu bang trong khu vực Bình Nguyên ở phía Bắc và Ngũ Đại Hồ, đều được dự đoán là nhiệt độ chỉ lên cao nhất là trên dưới 10 độ F và thấp là dưới 0 độ F cho hết tuần này, sang tới đầu năm 2018.

NWS cũng nói rằng gió lạnh ở nhiều nơi hôm Thứ Năm sẽ khiến người ta thấy lạnh như nhiệt độ xuống dưới 0 độ F.
 
 
Người dân ở thành phố Erie, tiểu bang Pennsylvania, tiếp tục đào bới tuyết sau khi có 34 inches trút xuống vào ngày lễ Giáng Sinh, phá kỷ lục tuyết đổ một ngày của thành phố này trước đó, và có thêm 26.5 inch hôm Thứ Ba.

Hơn 65 inch (165 cm) tuyết đổ xuống nơi này chỉ trong mấy ngày.
 
Gió mạnh thổi theo hướng Tây qua hồ Erie, lấy thêm khí ẩm, biến thành tuyết và sau đó hợp cùng với gió thổi theo chiều ngược lại, trút tuyết xuống khu vực kéo dài từ Ohio lên tới New York, theo lời Zach Sefcovic, một chuyên gia khí tượng thuộc NWS ở thành phố Cleveland.
 
Ở New York, các khu dân cư gần phía Đông của hồ Ontario, gồm cả Redfield và Boylstonn, cũng có khoảng 5 feet tuyết tuần này.
 
Một người dân dọn tuyết ở trước nhà, Erie, Pennsylvania, 27/12/2017
 
Hầu hết người Mỹ sẽ phải đối phó với nhiệt độ băng giá như Bắc Cực và gió lạnh như cắt trong thời gian còn lại của năm 2017. Miền đông và miền trung nước Mỹ hiện đang chịu thời tiết giá lạnh, dự báo thời tiết này sẽ còn tiếp trong tuần đầu tiên của năm 2018.
 
 
Quả cầu pha lê Waterford đã sẵn sàng để đón năm mới tại Quảng trường Thời đại ở New York. Nhưng những ai muốn dự nghi lễ truyền thống 110 năm này và buổi hòa nhạc ngoài trời với các ngôi sao nổi tiếng sẽ phải mặc quần áo dày để chống chọi với thời tiết băng giá. Hai mươi bang miền trung và đông bắc nước Mỹ đã bị ảnh hưởng bởi thời tiết lạnh giá và tuyết.
 
Erie, Pennsylvania, chìm dưới một mét rưỡi tuyết trong khi tuyết vẫn tiếp tục đổ xuống.
 
 
Một người dân ở Erie, Pennsylvania, nói: "Rất nhiều tuyết, tuyết vẫn rơi".
 
Nhiệt độ thấp gây khó khăn cho công việc của các đội dọn đường. Và cũng làm giảm tốc độ đi lại trong mùa nghỉ lễ.
 
Một người trên đường đi nghỉ lễ ở bang New York nói: "Tôi chỉ có thể đi khoảng 32 km/h".
 
Các dịch vụ khẩn cấp và nhà tạm trú đang đưa xe đi đón những người vô gia cư và những người khác có thể bị mắc kẹt trong thời tiết băng giá.
 
Một nhân viên nhà tạm trú ở Chicago nói: "Chúng tôi biết là khoảng thời gian từ 15 đến 30 phút có thể làm cho nhiều người chết cóng".
 
Một số người không sợ lạnh và nghĩ cách vui chơi ngoài trời - như trượt băng.
 
Một người trượt băng ở Chicago nói: "Không có chuyện thời tiết quá tồi tệ... chỉ có quần áo tồi... vì vậy chúng tôi ăn mặc phù hợp với thời tiết".
 
Đối với nhiều người khác, thời tiết cực lạnh có nghĩa là họ phải đổi kế hoạch.
 
 
Một phụ nữ cho hay: “Các con gái muốn đi trượt băng và chúng tôi đã thử, nhưng quả thực là quá lạnh. Một phụ nữ khác chia sẻ: "Tôi không biết - có lẽ chúng tôi sẽ ở trong nhà trong những ngày tới - rất nhiều ngày để xem phim".
 
Nhiệt độ vào đêm giao thừa được dự báo sẽ xuống dưới 10 độ so với bình thường ở vùng trung tây và từ các tiểu bang đông bắc cho đến đến các bang Carolina ở phía nam. Trong các thành phố bị ảnh hưởng có các thành phố lớn như Chicago, St. Louis, New York, Washington và Atlanta.
 
 
Thời tiết lạnh giá sẽ kéo dài trong tuần đầu tiên của năm 2018. Các bang ven biển miền nam có thể gặp một vài cơn mưa bão khi không khí lạnh va phải khí ẩm ướt từ Vịnh Mexico.
 
 
 
 

:*´¨`*:.(¯`*•.¸,¤°´Hồng Vân st¤,¸.•*´¯):*´¨`**:.


 

Xem thêm...

US NAVY SEALS

 Đặc nhiệm người nhái Mỹ là một trong những lực lượng tinh nhuệ nhất trong quân đội nước này và được trang bị những thiết bị đắt tiền nhất.

Image result for US NAVY SEALS

SEALs = SEA+AIR+LANDs

Image result for Seal team of usaRelated image

Related image

Related image

Image result for Seal team of usa

Related image

The United States Navy's "Sea, Air, and Land" Teams

Đặc nhiệm người nhái Mỹ là một trong những lực lượng tinh nhuệ nhất trong quân đội nước này và được trang bị những thiết bị đắt tiền nhất.
Soi trang bị xịn, đắt tiền của đội người nhái Mỹ - Ảnh 1
Đặc nhiệm người nhái Mỹ là một trong những lực lượng ưu tú nhất của quân đội nước này, lực lượng này chuyên thực hiện các nhiệm vụ trinh sát, do thám, ám sát, bắt cóc hay ăn trộm tài liệu ở các vị trí nằm sâu trong lòng địch. Nguồn ảnh: Diver.
Soi trang bị xịn, đắt tiền của đội người nhái Mỹ - Ảnh 2
Khác với các thợ lặn thông thường khác, người nhái quân đội được trang bị những thiết bị hiện đại nhất để tạo điều kiện tốt nhất cho họ thực hiện nhiệm vụ. Đầu tiên là bộ quần áo lặn cách nhiệt, bộ quần áo này có khả năng giữ ấm cơ thể cho người nhái ngay cả khi nhiệt độ bên ngoài thấp còn vài độ C. Nguồn ảnh: Pinterest.
Soi trang bị xịn, đắt tiền của đội người nhái Mỹ - Ảnh 3
Tùy theo từng nhiệm vụ mà trang thiết bị và vũ khí của lực lượng đặc nhiệm người nhái sẽ có sự khác nhau. Thông thường họ phải mang theo đầy đủ súng, đạn, lương thực và thuốc men có thể nặng tới vài chục cân để đủ dùng cho một nhiệm vụ kéo dài. Nguồn ảnh: Scout.
Soi trang bị xịn, đắt tiền của đội người nhái Mỹ - Ảnh 4
Bình khí thở oxy của lực lượng người nhái hải quân Mỹ có thiết kế hết sức tinh vi và hiện đại. Khác với các loại bình dưỡng khí thông thường, bình dưỡng khí của lực lượng này được thiết kế cả hệ thống nén CO2, khi người lính thải ra khí CO2 hệ thống này sẽ nén khí thải này lại và không xả ra ngoài, giúp người lính có thể lặn một cách bí mật mà không tạo ra các bóng khí nổi lên trên mặt nước. Nguồn ảnh: Keyword.
Soi trang bị xịn, đắt tiền của đội người nhái Mỹ - Ảnh 5
Các loại súng của lực lượng này thường là các loại súng có khả năng hoạt động tốt sau khi bị ngâm nước trong thời gian dài. Trong những nhiệm vụ đặc biệt đòi hỏi phải chiến đấu dưới nước, người lính sẽ được trang bị các loại vũ khí riêng biệt có thể bắn được dưới nước, các loại súng thông thường không thể sử dụng để chiến đấu dưới nước được. Nguồn ảnh: Pinterest.
Soi trang bị xịn, đắt tiền của đội người nhái Mỹ - Ảnh 6
Cận cảnh trang thiết bị lặn của một người nhái đặc nhiệm. Nguồn ảnh: Imga.
Soi trang bị xịn, đắt tiền của đội người nhái Mỹ - Ảnh 7
Trong những nhiệm vụ cần phải di chuyển với quãng đường dài, người nhái đặc nhiệm hải quân sẽ được trang bị các tàu ngầm mini có động cơ điện có thể điều khiển được, khi xuống dưới nước những người nhái này chỉ cần bám vào các tàu ngầm mini này và điều khiển để nó kéo mình đi mà không cần tốn sức. Nguồn ảnh: Pinterest.
Soi trang bị xịn, đắt tiền của đội người nhái Mỹ - Ảnh 8
Ngoài các tàu ngầm mini cỡ nhỏ, lực lượng thợ lặn người nhái hải quân Mỹ còn được trang bị cả các tàu ngầm mini cỡ lớn có thể kéo được hàng chục người, tuy nhiên loại này ít được đưa ra sử dụng do nó quá cồng kềnh và dễ bị lộ. Nguồn ảnh: Wired.

Đặc nhiệm SEAL hải quân Mỹ được huấn luyện thế nào. Chương trình huấn luyện đoạt mạng đặc nhiệm SEAL Mỹ

Related image

Để trở thành một đặc nhiệm SEAL chính quy, các học viên phải trải qua chương trình huấn luyện đầy gian nan, thậm chí phải trả giá bằng mạng sống. Chương trình Hủy diệt Dưới nước (BUD) là một khóa huấn luyện kéo dài 6 tháng của lực lượng đặc nhiệm SEAL mà chỉ trung bình 25% học viên tham gia có thể hoàn thành. 

Image result for Seal team of usa

Để trở thành một đặc nhiệm SEAL thực thụ, các học viên phải trải qua 15 tháng huấn luyện với những thử thách khắc nghiệt.

Trước khi chính thức tham gia BUD, học viên phải trải qua một chương trình huấn luyện chuẩn bị và "làm quen" kéo dài 5 tuần. Tiếp sau khóa học này là ba giai đoạn huấn luyện đầy gian khổ.
Đầu tiên là rèn luyện thể lực. Đây là giai đoạn nặng nhọc nhất trong cả chương trình huấn luyện. Quá trình này kéo dài 8 tuần, bao gồm các hoạt động như bơi 3,2 km trên biển sử dụng chân vịt, chạy tính giờ 6,4 km bằng ủng, chịu đựng môi trường ẩm ướt, lạnh giá và vắt kiệt sức lực dưới nhiều hình thức. Bên cạnh đó, họ chỉ được phép ngủ 4 tiếng mỗi tối. Đỉnh điểm trong giai đoạn một là "Tuần Địa ngục". Rất nhiều học viên đã phải từ bỏ vì không thể vượt qua quãng thời gian này. "Những đau đớn và khó chịu về thể chất khiến không ít người phải bỏ cuộc", trang web của SEAL có đoạn. "Phương pháp huấn luyện kết hợp lạnh - ẩm gây hạ thân nhiệt sẽ đánh bại nhiều học viên. Các bài tập vắt sức và tình trạng thiếu ngủ sẽ giúp học viên hiểu rõ khả năng, động lực cũng như giới hạn của chính mình". Tiếp sau là giai đoạn huấn luyện lặn kéo dài 8 tuần. Quá trình này chủ yếu tập trung hoàn thiện khả năng thao tác linh hoạt dưới nước và phối hợp tác chiến. Học viên sẽ thực hành các bài tập lặn nín thở, lặn dùng bình dưỡng khí, lặn quãng đường dài, bơi thực thi nhiệm vụ cùng hàng loạt kỹ năng lặn khác. Cường độ tập luyện sẽ tăng dần theo thời gian. Giai đoạn cuối cùng là phiên bản nâng cao của chương trình huấn luyện quân sự cơ bản mà nhiều học viên phải trải qua. "Các hoạt động huấn luyện chuyển từ kiểm tra khả năng phản ứng của học viên trong môi trường căng thẳng cao độ sang đảm bảo sự thuần thục của đặc nhiệm trong thực hiện các nhiệm vụ chiến lược", đoạn mô tả trên trang web của SEAL viết. Các hoạt động trong giai đoạn cuối cùng này bao gồm nghiên cứu chất nổ, huấn luyện sử dụng vũ khí và ngắm bắn chính xác, học chiến thuật tác chiến đội hình nhỏ, kỹ thuật sử dụng dây thừng và tập hợp đội hình. Nếu hoàn thành, các học viên sẽ tốt nghiệp và có vinh dự phục vụ trong hàng ngũ lực lượng đặc nhiệm tinh nhuệ bậc nhất của hải quân Mỹ.
 
dac-nhiem-seal-hai-quan-my-duoc-huan-luyen-the-nao
Người nhái đặc nhiệm SEAL huấn luyện đổ bộ bờ biển. Ảnh: DailyBeast
Được tổng thống John F.Kennedy thành lập năm 1962, đặc nhiệm SEAL hải quân Mỹ là một lực lượng hải quân tinh nhuệ, phản ứng nhanh phù hợp với mọi lĩnh vực của chiến tranh đặc biệt, có thể nhận các mệnh lệnh tức thì khi các cuộc khủng hoảng bùng phát trên thế giới.
Lính SEAL là những quân nhân được huấn luyện chuyên nghiệp có khả năng chiến đấu cao trong môi trường vô cùng khắc nghiệt như đột kích tiêu diệt các mục tiêu có giá trị cao, trực tiếp chiến đấu, trinh sát đặc nhiệm, chống khủng bố và bảo vệ bên trong cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, theo Navy.com.
Do đó, các ứng cử viên tham gia đặc nhiệm SEAL phải tham gia khóa huấn luyện với những yêu cầu rất khắt khe, ngoài khả năng của những người lính bộ binh thông thường. Để trở thành ứng viên SEAL, họ phải có sức khỏe rất tốt và vượt qua được bài kiểm tra thể lực tối thiểu của hải quân (PST): Bơi nghiêng và bơi ếch 450 mét trong thời gian tối đa 12 phút 30 giây, sau đó nghỉ 10 phút trước khi chống đẩy 50 cái trong vòng hai phút. Ứng viên được nghỉ hai phút rồi tiếp tục đứng lên ngồi xuống tối thiểu 50 lần trong hai phút. Sau hai phút nghỉ, ứng viên phải kéo xà đơn 10 lần trong hai phút, nghỉ 10 phút rồi chạy 2,4 km trong thời gian tối đa 10 phút 30 giây.
dac-nhiem-seal-hai-quan-my-duoc-huan-luyen-the-nao-1
Các ứng viên tham gia kiểm tra thể lực bằng hình thức kéo xà. Ảnh: DailyBeast
Ngoài vượt qua các yêu cầu thể lực tối thiểu trên, các ứng viên SEAL còn phải cạnh tranh tiêu chuẩn sức khỏe tối ưu với những người khác cùng tham gia ứng tuyển. Mỗi năm có hơn 1.000 ứng viên tham gia vào các chương trình tuyển chọn của SEAL, nhưng chỉ có 200-250 người thành công.
Sau khi vượt qua các bài kiểm tra đầu vào với điểm số tốt nhất, các ứng viên sẽ chuyển vào các trại huấn luyện và được các giáo viên đến từ SEAL và SWCC kèm cặp. Sau khi hoàn thành thời gian huấn luyện sơ bộ ở trại, ứng viên sẽ phải tham gia chương trình Hủy diệt Dưới nước Cơ bản (BUDS) kéo dài 24 tuần. Đây là chương trình huấn luyện cực nặng, nên các ứng viên được khuyến khích tham gia Pre-BUDS, một chương trình huấn luyện chuẩn bị kéo dài 7-9 tuần. Mục đích của Pre-BUDS là giúp các ứng viên có sức khỏe tốt hơn cho BUDS, sau khi thể lực họ đã bị bào mòn đáng kể trong quá trình rèn luyện tại trại huấn luyện.
BUDS là chương trình huấn luyện được thiết kế để các ứng viên được trang bị kỹ năng chỉ huy và sức chịu đựng cả về thể chất lẫn tinh thần cần thiết cho một đặc nhiệm SEAL thực thụ. Chương trình này gồm ba giai đoạn, mỗi giai đoạn lại có các bài kiểm tra thể chất với các yêu cầu về mặt thời gian khắt khe hơn.
Giai đoạn đầu của BUDS gồm các bài huấn luyện tăng cường thể chất liên tục. Các học viên cũng học cách điều khiển tàu nhỏ và khảo sát thủy văn, nghiên cứu biểu đồ. Đây cũng là giai đoạn thử thách nhất đối với các học viên, với một quãng thời gian gọi là "Tuần Địa ngục", khi họ chỉ được phép ngủ tối đa 4 tiếng mỗi ngày trong 6 ngày liên tục, 20 giờ còn lại là để huấn luyện, và phải hoàn thành quãng đường chạy hơn 321 km trong tuần này. Đây là tuần mà nhiều ứng viên bị rơi rụng nhất, khi họ không chịu nổi sức ép quá lớn và xin rút lui.
Giai đoạn hai là các bài tập lặn với mọi kỹ năng. Các học viên sẽ học cách sử dụng vũ khí, trang bị chiến đấu khi lặn và hoàn thành các chặng đường lặn với khoảng cách tăng dần.
 
dac-nhiem-seal-hai-quan-my-duoc-huan-luyen-the-nao-2
Học viên nằm chịu những con sóng vỗ vào mặt để quen cảm giác lặn biển. Ảnh: DailyBeast
Giai đoạn thứ ba là tác chiến trên bộ gồm các bài tập về định hướng trên bộ, học chiến thuật chiến đấu của đội hình tác chiến nhỏ, kỹ thuật leo trèo vách đá dựng đứng, nghiên cứu địa hình trên bộ và các chất nổ dưới nước cũng như huấn luyện sử dụng vũ khí đặc nhiệm.
Sau khi trải qua chương trình BUDS, các học viên cần hoàn thành một vài khóa huấn luyện bổ sung trước khi được điều động về các đội đặc nhiệm. Các khóa huấn luyện này gồm: khóa huấn luyện nhảy dù cơ bản, huấn luyện các kỹ năng y tế và sử dụng thuốc men trong chiến dịch đặc biệt; khóa huấn luyện nâng cao gồm học ngoại ngữ, chiến thuật liên lạc của SEAL, kỹ năng bắn tỉa, nhảy dù, tháo gỡ thiết bị nổ…
 
Tổng thời gian huấn luyện đặc nhiệm SEAL là 15 tháng, trước khi các học viên tốt nghiệp và được phân về các đội đặc nhiệm. Lúc này, các đặc nhiệm SEAL được hưởng mức lương khởi điểm tới 80.000+ USD cùng nhiều khoản phụ cấp, đãi ngộ khác như phụ cấp độc hại khi nhảy dù, lặn biển hay rà phá thuốc nổ. Các đặc nhiệm SEAL được hưởng 30+ ngày phép mỗi năm (tùy theo cấp bậc ), có các quyền lợi ưu đãi về y tế, nhận trợ cấp miễn thuế về nhà ở và thực phẩm, cũng như phụ cấp đặc biệt khi tham gia tác chiến. Các đặc nhiệm SEAL có thể được nghỉ hưu sau 15- 20 năm phục vụ tùy theo cấp bậc và được hưởng lương 100% cho cả đời,  lương sẽ tăng theo % hàng năm khi về hưu.
 
 

Sưu tầm by Nguyễn Ngọc Quang
 
ảnh minh họa 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này