Thế giới quanh ta

Thế giới quanh ta (1023)

Người có khí chất cao quý hay không, chỉ cần nhìn vào 6 điểm này là biết rõ

Người có khí chất cao quý hay không,

chỉ cần nhìn vào 6 điểm này là biết rõ

Ai cũng muốn được cao quý trong đời, được nể trọng. Nhưng ít người biết rằng tiền bạc không làm nên người cao quý, danh vọng không làm nên người đáng trọng. Rốt cuộc thì người cao quý, họ là ai?

Người xưa phân biệt “phú” và “quý” rất rõ ràng. Nhà giàu trong vùng, quá khứ gọi là “thổ hào”, của cải đầy kho, người hầu cả trăm. Nhưng có nhiều “thổ hào” mãi chỉ là kẻ trọc phú, giàu mà không sang, không quý. Nhiều người giàu cố gắng học lấy vẻ cao sang, quý phái nhưng cũng chỉ có thể là “giả quý” (cao quý giả tạo). Họ chính là “trưởng giả học làm sang” mà học mãi chẳng thành.

“Phú” là tính bằng con số, hiện vật, bạc tiền nhưng “quý” thì lại liên quan đến sự tôn nghiêm trong cảnh giới tinh thần của người ta. Khí chất cao quý ngấm sâu vào hồn cốt của người ta dù có tiền bạc trăm vạn lượng cũng không sao mua được. Bởi nó liên quan chặt chẽ với sự giáo dục, hun đúc truyền thống của gia tộc và sự tu dưỡng của cá nhân.

Người có khí chất cao quý, có phúc khí đều có 6 đặc trưng lớn dưới đây. 

  1. Đức dày

Người xưa nói: “Hậu đức tải vật” (đức dày chở muôn vật), ý là người ta chỉ cần có đức hạnh tốt thì làm chuyện gì cũng thành. Trái lại, người không có đức lớn thì chẳng có cách nào thành công. Người xưa cũng khuyên răn chúng ta cần phải vui vẻ chịu thiệt, nghĩ cho người khác mới có thể làm nên việc lớn.

Đồng thời, đức dày chính là phúc. Làm người mà có đức dày thì được mọi người tôn trọng. Người có đức dày luôn có thể lấy tấm lòng độ lượng mà bao dung người khác. Người muốn gây dựng sự nghiệp càng cần phải có phong thái khoáng đạt, bao dung hết thảy người trong thiên hạ. Khi ấy, họ mới mong được người thiên hạ bao dung và thu được nhân tâm.

Trong “Đạo Đức Kinh” có câu: “Đại trượng phu xử kỳ hậu, bất cư kỳ bạc; xử kỳ thực, bất cư kỳ hoa” (Tạm hiểu: bậc đại trượng phu ở chỗ dày dặn mà tránh chỗ mỏng mảnh, ở chỗ thực mà tránh chỗ hào nhoáng).

Vậy cũng nói, người có đức dày chính là “ở chỗ thực mà tránh chỗ hào nhoáng” vậy. Lão Tử đã nhìn ra rằng những thứ hoa lệ, phồn hoa, danh lợi mà chúng ta vẫn nói đến ngày nay, trên bản chất là nông cạn, ngu muội, không thực tại, càng không phải là vĩnh hằng. Vậy điều gì mới mang giá trị vĩnh cửu đây? Đáp án mà Lão Tử đưa ra chính là “dày”, chính là đức dày.

Người có khí chất cao quý thật sự không theo đuổi phồn hoa, hư danh quá mức. Họ thường giữ vẹn tinh anh, chất phác, trở về với chân ngã của mình. Càng là người có học thức, tu dưỡng cao thì càng hòa ái, phúc đức. Họ xem nhẹ hết thảy quyền lực, tiền tài. Khi đối diện với những mảnh đời bất hạnh, họ nổi lòng thương xót, dấy khởi tâm từ bi, không còn coi “đẳng cấp” xã hội là điều quan trọng nữa. Đây chính là một loại khí chất cao quý nhất. 

Người có khí chất cao quý thật sự không theo đuổi phồn hoa, hư danh. 

Nếu như không có đức dày do tự mình tích lũy mà chỉ nhờ vào phúc của công danh, lợi lộc có được từ thủ đoạn phi pháp thì cũng giống như bông hoa cắm trong bình. Thiếu đất đai sinh trưởng, chẳng mấy chốc chúng sẽ tự khô héo lụi tàn mà thôi.

  1. Thiện lương

Dẫu có ở trong gian nhà sang trọng đến đâu, lái chiếc xe đắt tiền đến mấy, thật ra người ta cũng chẳng có gì xuất sắc cả. Lương thiện mới là cái gốc làm người. Với một kẻ xa lạ, có thể biểu lộ ra thiện ý to lớn bao nhiêu, đó mới là thước đo thật sự đánh giá sự cao quý của một người. Điều đáng tiếc là rất nhiều người không hề để tâm đến điều này.

Có những trọc phú mới nổi đến nhà hàng dùng cơm, hơi chút không vừa ý là liền lớn tiếng quát mắng người phục vụ. Cũng có những lãnh đạo suốt ngày chỉ chăm chăm tóm chặt một chút lỗi nhỏ của cấp dưới mà không chịu bỏ qua. Lại có những người miệng nói lời đạo lý mà trong lòng đầy ác tâm, giảng những câu thiện lương mà không ghê tay làm việc xấu. Sự tình như vậy trong cuộc sống ta vẫn luôn có thể dễ dàng bắt gặp. 

Để nhìn rõ bản chất một người, hãy nhìn cách anh ta đối xử với những người yếu thế hơn mình ra sao. Đây chính là lý do khiến nhiều kẻ giàu có, trên mình mặc toàn hàng hiệu nhưng lại không khiến người khác cảm thấy được một chút khí chất cao sang nào.

Chỉ có người luôn ôm giữ tâm thiện lương, đối đãi với người khác tốt lành dù trong bất kể hoàn cảnh nào mới xứng đáng được coi là người cao quý giữa những kẻ tầm thường. Phẩm chất ấy là thiên tính cũng là do sự tu dưỡng của cá nhân đó tạo thành. Người ta chỉ cần chân thành, trung thực, từ bi cũng có thể làm người khác cảm động rơi nước mắt. Người mà lòng ôm giữ thiện niệm, làm nhiều việc lành, há có thể không cao quý ư?

  1. Giữ chữ tín

Người không giữ chữ tín thì không có chỗ đứng, quốc gia không giữ chữ tín thì không sao hùng mạnh được. Cổ nhân coi giữ chữ tín là một trong những phẩm hạnh quan trọng nhất để làm người. Tuân Tử nói: “Thành tín là điều mà người quân tử cần phải tuân giữ, cũng là nền tảng của việc nước nhà“. 

Nếu như không có thành tín, bất kể việc gì cũng không thể làm được tốt. Quan hệ qua lại giữa người với người, then chốt nhất là phải thành tín. Lời đã hứa thì nhất định phải làm, việc đã làm thì nhất định phải kiên quyết, dứt khoát. Thành tín thuộc về phạm trù đạo đức, không có trọng lượng, cũng không có giá cả nhưng có thể khiến một người hoặc được tôn kính, hoặc thân bại danh liệt.

Người không giữ lời hứa thì mọi lời nói, hành động của anh ta chẳng còn chút giá trị gì, thậm chí khiến người khác ghét bỏ. Còn người thành thực tuân giữ lời hứa, có tâm hồn cao quý, thật khiến người khác ngưỡng mộ. Bởi vì: “Xe không bánh thì không đi được, người không giữ chữ tín thì không có chỗ đứng“.

Trong “Úc Ly Tử” có ghi lại một câu chuyện về chữ tín rất hay. Chuyện kể rằng ở Tế Dương có một vị thương nhân giàu có, trong lúc qua sông chẳng may thuyền bị chìm. Ông nắm được một mảnh gỗ, lớn tiếng hô cứu mạng.

https://2.bp.blogspot.com/-thSiUZnsuTU/WdyNmjBwQtI/AAAAAAAAJ58/dHGdhOM8T7cFjV6Nazuo54E-nP0NGyA8wCLcBGAs/s1600/2.jpg

Có một ngư dân nghe tiếng kêu cứu liền vội vàng chèo thuyền đến. Vị thương nhân vội kêu lớn lên: “Tôi là phú ông giàu có nhất vùng Tế Dương. Nếu ông có thể cứu tôi, tôi sẽ cho ông 100 lạng vàng“. Nhưng sau khi được cứu lên bờ, vị thương nhân lại trở mặt, chỉ đưa cho ngư dân 10 lạng vàng. Người ngư dân trách ông ta không giữ lời hứa, tráo trở lật lọng.

Phú ông nói: “Anh chỉ là một dân chài, cả đời cũng không kiếm được mấy đồng bạc, nay lại đột nhiên có được 10 lạng vàng như vậy còn không thấy mãn nguyện ư?“. Ngư dân nghe vậy bèn lặng lẽ bỏ đi.

Không ngờ về sau, vị phú ông đó lại một lần nữa bị lật thuyền ở ngay chỗ cũ. Phú ông lại lớn tiếng hô: “Ai cứu tôi với! Ai có thể cứu tôi, tôi sẽ cho người ấy 100 lạng vàng“.

Mọi người đều biết chuyện lật lọng ngày trước của ông ta nên không ai muốn đến cứu. Ngay lúc vị phú ông sắp không gắng gượng thêm được nữa, bỗng có một người ngư dân chèo thuyền đến cứu ông ta lên bờ.

Phú ông lần này lại lấy ra 10 lạng vàng định đưa cho người ngư dân. Ngư dân đó nói: “Không cần đâu! Tôi cứu ông là bởi lương tâm, chứ không phải vì 10 lạng vàng đó. Hẳn ông đã quên tôi rồi“. Phú ông nhìn kỹ lại thì ra đó chính là người đã cứu ông lần trước. Sau đó, người ngư dân lên thuyền lấy ra 10 lạng vàng ngày trước trả lại cho phú ông, rồi quay lưng bỏ đi.

Người có khí chất cao quý, ắt phải là người biết giữ chữ tín vậy. 

Cứu người là bởi lương tâm, chứ không vì tiền bạc.

  1. Khiêm tốn

Có câu: “Khiêm thụ ích, mãn chiêu tổn” (Tạm hiểu: Nhún nhường thì luôn được lợi ích, cao ngạo, tự mãn thì luôn chiêu mời tổn hại và tai họa). Chỉ có bảo trì tâm thái khiêm tốn, người ta mới có thể học hỏi cái hay từ người khác và có được cơ hội trưởng thành. Khoe khoang quá lố chỉ có thể chứng minh cho sự vô tri của mình. Chỉ mới đắc được một chút thu hoạch đã kiêu căng tự mãn, như vậy chẳng khác nào khiến bản thân thụt lùi, mãi không thể tiến bước. 

Ernest Hemingway có một câu nói rất hay: “Cao quý thật sự không phải là cao hơn người khác một bậc, mà là xuất sắc hơn bản thân trước đây“. Càng là người có khí chất cao quý, càng là người hiểu rõ đạo lý “ngoài núi còn có núi cao hơn” thì càng khiêm tốn trong cư xử, đối đãi, có thể nhận thấy ưu điểm của người khác mà dốc lòng học theo.

Phàm là những người tự phụ, cho mình là nhất, nhìn đời bằng nửa con mắt, khoe khoang khoác lác, ngông cuồng tự đại, nhất định là quá ít trải nghiệm và tôi luyện. Một người ăn nói ngông cuồng thực tế là đã bị che mất con mắt, bịt mất hai tai của mình, không cách nào tiếp nhận được ý kiến của người khác, nhìn không thấy được chân lý và sự thật. 

Khiêm tốn là một loại trí huệ thật sự, cũng chính là sự thông minh được ẩn giấu đi mà không để lộ ra ngoài. Người khiêm tốn đều được mọi người yêu mến.

 

  1. Chính trực

Bạn không nhất định trở thành một vĩ nhân nhưng hoàn toàn có thể làm một người chính trực. Vậy thế nào là chính trực? “Chính” là công chính, chính khí, là không nghiêng không lệch, không giả tạo, là quang minh lỗi lạc. “Trực” chính là rộng rãi, thẳng thắn, chân thật, đi thẳng về thẳng, không quanh co uốn lượn, không trôi theo dòng đời.

Người có khí chất cao quý, không kể là chuyện lớn chuyện nhỏ, không kể là đối đãi với ai, đều hoàn toàn chân thành. Đó không phải là chuyện lấy lòng giản đơn, càng không phải vì để giành được sự cảm thông. Đơn giản là làm người cần phải biết chính trực như vậy.

Tâm thuật không ngay chính, có ý lừa bịp, miệng nói một đường lòng nghĩ một nẻo, giở mánh khóe thủ đoạn, trước mặt giảng lời quân tử, sau lưng làm chuyện tiểu nhân thì tuyệt đối không phải là chuẩn tắc đối nhân xử thế.

Chính trực là rường cột tinh thần của con người, cũng là thể hiện phẩm cách cao quý của một người.

Không kể là đối đãi với ai, đều hoàn toàn chân thành. 

  1. Kiên trì

Ai rồi cũng sẽ phải đối mặt với lựa chọn thế này: Kiên trì không ngừng hay là từ bỏ buông xuôi. Nếu như là người yếu đuối, không chỉ sẽ lựa chọn từ bỏ và cam lòng nhận thua mà còn tìm rất nhiều lý do để biện minh cho bản thân. Nhưng người mạnh mẽ sẽ luôn kiên trì không ngừng, dù biết kết quả là thất bại cũng phải thử một phen.

Có người từng nói: “Người thành đại sự trên đời này đều là người ngốc“. Kiểu người này một khi nhận ra được mục tiêu thì chỉ chuyên tâm, kiên trì đi về phía trước cho đến khi đạt được thành công. Trái lại, có những người được xem là thông minh nhưng đầu óc xoay chuyển quá mau lẹ, làm việc nhìn ngang nhìn dọc, nghĩ đông nghĩ tây, kết quả chuyện gì cũng không thành.

Tăng Quốc Phiên, đại thần trung hưng nổi tiếng của triều Mãn Thanh, vốn không phải là thông minh trời sinh. Nhưng vì sao một mình ông có thể trở thành “lập đức lập công lập ngôn ba bất hủ, làm thầy làm tướng làm quan chỉ một người”?

Bên trong lá thư gửi cho em trai mình, ông tự nhận mình “mỗi ngày viết nhật ký bằng chữ Khải, mỗi ngày đọc 10 trang sử, mỗi ngày ghi lại một bản ‘cuộc truyện trò lúc dùng trà’. Ba việc này chưa từng gián đoạn một ngày nào“.

 Đằng sau ba việc mà Tăng Quốc Phiên làm mỗi ngày chỉ là 2 chữ:

 Kiên trì. Tinh thần kiên trì là cột trụ của thành công, phản ánh phẩm chất nội tại của một người và là thể hiện của tầm nhìn xa trông rộng.

Tăng Quốc Phiên cũng không phải chỉ “một ngày làm tốt ba việc” mà còn duy trì sự kiên trì ấy trong nhiều lĩnh vực khác suốt cả đời. Ví như, trong quân đội, ông luôn yêu cầu bản thân dậy sớm bất kể tiết trời nóng lạnh ra sao, bất kể hoàn cảnh thế nào. Ông chỉ cần “nghe tiếng gà gáy liền thức dậy“, huấn luyện binh sĩ, giải quyết các loại công việc. 

Có thể kiên trì, giữ bền chí, nói ra thì thấy rất dễ, thật sự làm được mới khó. Trên đời, người làm việc có thủy có chung, kiên định không lay chuyển là không nhiều. 

Kẻ thù khó chiến thắng nhất của đời người chính là bản thân mình. Dẫu bạn tự chủ có mạnh mẽ hơn nữa thì cũng có những lúc bị bản thân mình đánh bại. Nhưng nếu muốn nổi bật, trở nên xuất sắc thì cần phải duy trì thường hằng, kiên trì làm ngay cả những việc tưởng chừng đơn giản, bình thường nhất trong đời. Chỉ có người kiên trì mới đi đến tận cùng vạch đích thành công. 

Theo NTDTV
Phi Long biên dịch

Quỳnh Nga ST

 

Xem thêm...

Đức cha Cassaigne: “Tiếng Khóc Trong Rừng”

Đức cha Cassaigne:

“Tiếng Khóc Trong Rừng”

Bên cạnh Làng Cùi Di-Linh, tỉnh Lâm Ðồng, có ngôi mộ của Ðức Giám Mục Jean Cassaigne (Gioan Sanh,) vị sáng lập giáo xứ và làng cùi tại Di-Linh. Trên bia mộ Ðức Giám Mục De Cassaigne, có khắc hai dòng chữ sau đây:

Ngay sau khi Ðức Cha Jean Cassaigne tấn phong Cha Simon Hòa Hiền (cựu Giám Mục Ðịa Phận Ðà Lạt) năm 1955, thay vì về lại Pháp là nơi Ðức Cha Cassainge đã lớn lên, Ngài đã trở lại để vui sống với anh em bệnh nhân trại cùi, một làng nhỏ chính tay Ngài tạo dựng mấy mươi năm về trước. Tại làng nhỏ bé này, Ngài vừa làm Cha sở, Thầy giảng, Giám đốc, Y tá, chăm nom chu đáo cho tất cả bệnh nhân mọi tôn giáo, trẻ già, với sự cộng tác nhiệt thành của các sơ dòng Bác Ái Vinh Sơn. Ngài quyết tâm sống chết với con cái cùi hủi của Ngài.
 
Trong cuốn “Lạc Quan Trên Miền Thượng” [1] do Linh Mục Giuse Phùng Thanh Quang viết vội vào năm 1972 về cuộc đời hy sinh cho người cùi của Ðức Cha Cassaigne, lúc Ðức Cha Cassaigne đang đau quằn quại thê thảm với những cơn đau khủng khiếp cuối đời. Một đời hy sinh thật cao quý của Ðức Cha Cassaigne mà có lẽ nay còn rất ít người có biết và nhớ đến.
Cha Cassaigne được thụ Phong chức Linh Mục năm 1925 tại chủng viện Rue du Bac của Paris. Qua Sài Gòn ngay sau đó và nhận nhiệm sở thí điểm truyền giáo vùng ma thiêng nước độc Di Linh (DJIRING) năm 1927. Ngài đã yêu thương những người “Mọi cùi” đến độ đã sống giữa người cùi, tắm rửa, săn sóc cho những người cùi, đã thương yêu họ cho đến khi họ chết.
 
Cha Cassaigne đã kể một câu chuyện có lần Ngài giúp những người cùi thức ăn gồm có gạo, muối, và thịt nai. Có một bà cùi hàng tuần đến lấy phần ăn, nhưng tuần đó không thấy đến. Cha Cassaigne đến lều tranh tìm bà thì thấy bà ta sắp chết với mủ nhớt nhầy nhụa, mùi hôi thối không chịu được xông ra từ mảnh thân héo tàn đáng thương xót nàỵ. Cha vội lo dạy bà những điều về Thiên Chúa và hỏi bà ta có muốn Cha rửa sạch những tội lỗi để bà được lên Trời sau khi chết không? Người cùi đáng thương đồng ý được rửa tội và nói với Cha Cassaigne rằng:
Cái chết tội nghiệp nhưng tốt lành của bà Thượng cùi đã làm khích động thật sâu xa tâm hồn Tông Ðồ của vị Linh Mục Thừa Sai. Câu nói “Tôi sẽ nhớ Cha khi được ở trên Trời” là viên đá đầu tiên được đặt xuống để khởi đầu công cuộc thành lập làng cùi tại Di Linh.
Trong khoảng thời gian đó, ở miền Trung cũng như ở miền Nam nước Việt cũng có những trại cùi với số người bệnh tương đối ít. Trong khi ở vùng đất xa xôi có đến hàng trăm người cùi, lại không có chỗ cho họ ở. Theo lời Linh Mục Phùng Thanh Quang kể lại.
 
Một ngày cuối Thu năm 1928, trong chuyến đi thăm một làng Thượng xa, đang băng qua rừng vắng thì bỗng có tiếng chân nhiều người dồn dập từ trong vùng tối âm u, nhiều giọng la ú ớ kêu Ngài dừng lại. Những bóng dáng quái dị xuất hiện như một đoàn ma đói. Thân hình xác xơ, kẻ mất tay, người sức mũi, miệng chảy nước lòng thòng và tất cả hầu như què quặt. Họ mặc dù có người khập khiểng, có người vừa bò vừa lết, và đói, cố đuổi theo Cha bao vây lấy Ngài và tất cả đồng gào lên thảm thiết:
Rồi tất cả sụp lạy Ngài và khóc rống. Cha Cassaingne vừa sợ hãi, vừa mủi lòng. Thì ra đây là nhóm người cùi bị xóm làng kinh tởm đuổi đi, họ tụ tập từng nhóm ngoài rừng xa, sống lây lất qua ngày để chờ chết. Có lẽ họ đã nghe lời đồn đãi về ông lớn làm thuốc và hay thương giúp người cùi này. Họ chờ Cha trên khúc đường vắng để nhờ Cha giúp đỡ. Vài ngày sau, đó, việc lập làng cùi Di Linh được xúc tiến ngay [3] Trong bài thuyết trình của Cha Cassaigne tại Sài Gòn năm 1943 về bệnh cùi khủng khiếp như thế nào, Ngài viết:
 
“Ở xứ Thượng cũng như hầu hết các xứ vùng nhiệt đới, nơi mà sự ăn ở sạch sẽ và phương pháp vệ sinh ít được lưu ý, thì con số người mắc bệnh cùi khá cao. Khi mà có thể còn làm việc được thì người mắc bệnh cùi vẫn còn được sống chung với gia đình. Nhưng đến khi thân tàn ma dại không làm gì được nữa, nhất là khi các vết ung thối bắt đầu phá miệng lở loét ra, mủ máu vấy đầy khiến những người chung quanh nhờm gớm kinh tởm không chịu được, thì dân làng đưa họ vào rừng, cất cho họ một túp lều tranh để người cùi ở lại đó một mình sống chết sao mặc kệ! Rồi yếu liệt cô đơn trong túp lều hiu quạnh, người cùi không còn sức làm gì nữa để kiếm ăn vì tay chân cụt mất rồi! Họ sẽ chết dần chết mòn một cách thảm khốc, sẽ gục ngã ở một xó kẹt nào đó rồi chết đi vì đói lạnh, mà chẵng có ai hay biết…”
Trước khi mắc bệnh, mỗi lần thuyết trình đến đây, cha Cassaigne không sao cầm được nước mắt, phần thì thấy thương những người xấu số, phần thì chắc Ngài cảm thấy lo âu sợ sệt như linh cảm thấy trước định mệnh sẽ đến, Ngài run sợ như chính mình đang mắc chứng bệnh nan y này.
 
Các việc làm nhân đức của Cha Jean Cassaigne đã đưa Ngài từ một căn lều tranh để phục vụ người hủi tới tận tai Tòa Thánh La Mã. Ngài được bổ nhiệm chức Giám Mục và Ngài phải tuân lệnh Toà Thánh về làm việc tại Ðiạ Phận Sài Gòn. Trong hơn 14 năm giữ chức vụ này Ðức Giám Mục Cassaigne đã đôn đốc thực hiện công cuộc bác ái, cứu trợ vật chất, ủy lạo tinh thần cho những người gặp cảnh bất trắc nghèo khó, di cư tị nạn, không phân biệt địa phương hay tôn giáo. Vì nhớ đám dân cùi, Ngài xin từ nhiệm chức Giám Mục Sài Gòn để trở về băng bó vết thương tinh thần và vật chất cho những đứa con cùi hủi của Ngài tại làng cùi Di Linh.
Vì sống một đời sống quá khắc khổ trong rừng nên Ðức Cha đã mang nhiều bịnh nặng. Từ năm 1929, Ngài đã mắc bịnh sốt rét rừng. Năm 1943, bịnh cùi đã đến với Ngài vì sống gần gũi với người bịnh; từ năm 1957, bịnh lao xương làm không thuốc chữa Ngài đau đớn, và năm 1964, bịnh lao phổi trở lại hành ha thân Ngàị Ðức Cha đau đớn tột cùng với những cực hình thể xác, nhưng luôn luôn vững lòng chấp nhận để xin Chúa thương mà giảm bớt cái đau của những người hủi tại Việt Nam. Những ai may mắn sống gần Ðức Cha thường được nghe Người nói:
 
– “Ðời tôi chỉ có ba ước nguyện: được chịu đựng, chịu đau, và chịu chết ở đây, giữa những người Thượng của tôi”

(Je ne demande que trios choses: tenir, souffrir, et mourir ici, au milieu de mes Montagnards).
Chúa đã nhận lời cầu xin của Ðức Cha, đã cho Ngài mang lấy bốn chứng bệnh nan y. Ðã giúp sức cho Ngài chịu đựng quá lâu dài. Những ngày cuối cùng tuy đau đớn, nhưng Người vẫn đọc kinh cầu nguyện cho nước Việt Nam, cho các người cùi. Người nói:
 
“Suốt 47 năm dài, Cha đã sống giữa các con, đã sống tại Việt Nam này, và đã dâng hiến tất cả cho các con. Giờ đây, Cha không tiếc một điều gì về sự dâng hiến toàn diện ấy”.
 
Theo lời từ biệt của ông Nguyễn Thạch Vân, đọc trong lễ an táng Ðức Cha Cassaigne tại Di Linh ngày 11 tháng 5, năm 1973 kể lại, Cha Cassaigne còn nói:
 
“Việt Nam chính là quê hương của Cha, bởi vì Chúa muốn như vậy”.

Khi nói đến câu: “Nước Việt Nam là quê hương của tôi”. Ðức Cha chấp tay như để cầu nguyện, và Ngài khóc! Ðây là giòng lệ Thánh cầu nguyện của một Tông đồ Truyền giáo, đã tận hiến đời mình cho lớp người khốn khổ, bất hạnh nhất trên cõi đời này.
Năm 1972, Ðức Cha đã được trao tặng Ðệ Tứ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương trên giường bệnh và đã qua đời tại Di-Linh ngày 31-10-1973
Cha Christian Grison, người quản nhiệm cuối cùng của Trung tâm Thượng Di-linh (từ 1965 đến 1975), người đã gần gũi với Đức Cha Cassaigne trong mười năm cuối cùng của ngài tại làng cùi Di-linh
 
Ngọc Lan st
 
 
 
 
Xem thêm...

Máy ảnh không gương lật Fujifilm X-E3

Máy ảnh không gương lật Fujifilm X-E3

có mặt tại thị trường Việt Nam

Máy ảnh không gương lật Fujifilm X-E3 có mặt tại thị trường Việt Nam
 
 
Fujifilm Việt Nam ngày 7-10-2017 đã ra mắt thị trường Việt Nam mẫu máy ảnh không gương lật (mirrorless DSRL) Fujifilm X-E3, phiên bản nâng cấp mạnh mẽ của dòng X-E nổi tiếng. Thành viên mới của gia đình X-E Series được thiết kế dành cho các nhiếp ảnh gia có niềm đam mê dòng máy ảnh Rangefinder (lấy nét quan trắc) với thiết kế tối giản, thuận tiện khi trải nghiệm, đem đến chất lượng hình ảnh vượt trội với một loạt các tính năng sáng tạo. Fujifilm X-E3 được trang bị cảm biến X-Trans CMOS III cùng bộ xử lý hình ảnh tốc độ cao X-Processor Pro cho tốc độ xử lý nhanh và mạnh mẽ, khả năng xử lý màu sắc ảnh tốt. Cùng với việc tăng cường khả năng chụp ảnh tĩnh, Fujifilm X-E3 còn được nâng cao khả năng quay video với chất lượng UHD 4K.
Ông Kenichi Otaki, Tổng giám đốc Fujifilm Việt Nam.
Việc ra mắt Fujifilm X-E3 sẽ đáp ứng được kỳ vọng của những người yêu thích dòng máy ảnh X-E Series nổi tiếng của Fujifilm. Với  thiết kế mới hướng đến việc nâng cao trải nghiệm người dùng, Fujifilm X-E3 trang bị một loạt những tính năng mới như màn hình cảm ứng cho phép điều khiển các tác vụ từ phóng to thu nhỏ cho đến các chức năng cảm ứng nâng cao, nâng cấp cảm biến với độ phân giải cao hơn cho chất lượng hình ảnh vượt trội với hiệu suất cao, bộ xử lý ảnh với khả năng quay phim 4K chất lượng cao. Và đặc biệt, Fujifilm X-E3 là sản phẩm đầu tiên trong dòng X-E Series được trang bị kết nối Bluetooth sử dụng mức năng lượng thấp (Bluetooth 4.0 BLE), cho phép người dùng có thể kết nối chiếc máy ảnh của mình với các thiết bị thông minh để dễ dàng truyền tải hình ảnh vừa chụp được với mức tiêu hao năng lượng ở mức tối thiểu. Những công nghệ tiên tiến này đưa chiếc máy ảnh Fujifilm X-E3 trở thành một trong những chiếc máy ảnh Rangefinder đáng quan tâm nhất hiện nay.
Ông Dương Sĩ Phú
Tại buổi lễ ra mắt, ông Dương Sĩ Phú, Giám đốc bộ phận Máy ảnh kỹ thuật số của Fujifilm Việt Nam, cho biết: “Với việc ra mắt Fujifilm X-E3 ngày hôm nay, chúng tôi hy vọng sẽ mang lại cho người dùng Việt nhiều trải nghiệm hình ảnh được nâng cao hơn, đặc biệt là đối với cộng đồng những người đam mê dòng máy ảnh Rangefinder. Trong thời gian tới, dòng sản phẩm X-Series vẫn là một trong các dòng sản phẩm độc đáo của Fujifilm tại thị trường Việt Nam với các cải tiến vượt bậc.”
Nhân dịp này, Fujifilm cũng khai trương Fujifilm Studio tại SCVivo City. Trước đó, họ đã xây dựng một cái tại Bitexco (Q.1) năm 2016. Đây là nơi người tiêu dùng có thể tham khảo, trải nghệm và mua các sản phẩm Fujifilm chính hãng.

Thiết kế tối giản giúp nâng cao trải nghiệm người dùng

Fujifilm X-E3 được xây dựng theo triết lý tối giản, được tinh chế để tối đa hóa hiệu suất chức năng đến giới hạn cao nhất. Các tỉ lệ cân bằng và thiết kế tay cầm vừa vặn tạo cảm giác thoải mái khi cầm máy. Phần trên cùng của thân máy trang bị hai nút xoay vừa để điều chỉnh tốc độ màn trập, vừa điều chỉnh phơi sáng. Nút xoay số với kiểu dáng sang trọng, được đúc từ nhôm và khắc viền xung quanh, mang lại trải nghiệm tuyệt vời với âm thanh “chắc” trong từng nấc xoay. Nút xoay của chế độ phơi sáng được trang bị thêm nấc C, cho phép người dùng có thể bù trừ tối đa ±5 stops, mỗi mức tinh chỉnh 1/3 Ev, điều này giúp nâng cao thiết đặt cơ bản trong nhiếp ảnh. Ngoài ra, phía trên của máy còn tích hợp thêm Hot shoe (ngàm để gắn đèn flash hoặc micro) với chiều rộng 38mm có thể dễ dàng kết hợp với nhiều phụ kiện khác nhau. Fujifilm X-E3 cũng được trang bị nút tự động (Auto) với chế độ Advanced SR Auto cho khả năng tự động lựa chọn chế độ cài đặt tối ưu cho bối cảnh mà người sử dụng muốn chụp. Ngoài ra, Fujifilm X-E3 còn được bổ sung Cần điều hướng đa chiều (focus lever). Chức năng này lần đầu tiên được giới thiệu trên sản phẩm Fujifilm X-PRO2, nay được ứng dụng trên Fujifilm X-E3 cho phép người dùng ngay lập tức có thể thay đổi liên tục vùng lấy nét trong khi mắt vẫn có thể nhìn vào ống ngắm.
Nút xoay của chế độ phơi sáng được trang bị thêm nấc C.
 
Cần điều hướng đa chiều

Tốc độ xử lý hình ảnh nhanh và mạnh mẽ

Fujifilm X-E3 trang bị cảm biến APS-C X-Trans CMOS III độ phân giải 24.3MP và bộ xử lý hình ảnh tốc độ cao X-Processor Pro có tốc độ xử lý nhanh và mạnh mẽ, cho khả năng xử lý màu sắc tốt, chất lượng hình ảnh vượt trội. Fujifilm X-E3 với hệ thống lấy nét mới với vùng lấy nét theo pha lớn hơn, và được cập nhật thuật toán mới giúp máy có thể lấy nét với tốc độ  nhanh nhất: 0,06 giây. Fujifilm X-E3 có thể chụp liên tục tốc độ cao 8.0fps bằng Live-view (có thể chụp liên tục 62 tấm ảnh JPEG), thời gian khởi động máy cực nhanh chỉ 0,4 giây và thời gian trễ giữa hai lần chụp 0,25 giây. Nhờ vào thuật toán mới được phát triển để nhận dạng hình ảnh, Fujifilm X-E3 có khả năng bắt được các chủ thể chuyển động nhanh hơn gấp hai lần so với sản phẩm thế hệ trước. Thêm vào đó, Fujifilm X-E3 còn có khả năng bắt được chủ thể với kích thước nhỏ hơn một nửa so với trước kia.

Khả năng kết nối nhanh và tiện lợi

Fujifilm X-E3 là sản phẩm đầu tiên trong gia đình X-Series được trang bị kết nối không dây Bluetooth sử dụng mức năng lượng thấp, cho phép người dùng có thể kết nối sản phẩm với điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng để nâng cao thao tác chụp ảnh và giúp dễ dàng truyền tải hình ảnh vừa chụp được qua điện thoại hoặc máy tính bảng thông qua ứng dụng “Fujifilm Camera Remote” với mức tiêu hao năng lượng ở mức tối thiểu.

Màn hình cảm ứng đa tác vụ

Fujifilm X-E3 được trang bị màn hình LCD với kích thước 3.0 inch, độ phân giải cao 1,04 triệu điểm ảnh, cảm ứng chạm để chụp hoặc xoay hình. Bảng điều khiển cảm ứng (electrostatic touch panel display) sẽ cho phép người dùng sử dụng các chế độ sau trong suốt quá trình chụp và xem lại ảnh:
  • Lấy nét theo vùng: chuyển điểm lấy nét đến vùng được chọn bằng việc chạm vào màn hình LCD.
  • Chạm để chụp (tap): chạm để lấy nét một vùng riêng biệt nào đó, sau đó chụp.
  • Vuốt màn hình (swipe): Sử dụng ngón tay để vuốt màn hình theo chiều ngang qua mỗi bức ảnh, lần lượt từng tấm.
  • Chạm hai lần (double tap) để phóng to hình: chạm nhanh hai lần vào màn hình để phóng to ảnh.
  • Kéo chuyển: khi xem ảnh ở chế độ phóng to, giữ và chuyển ngón tay trong vùng màn hình để xem được tất cả các góc ảnh.
  • Kéo bung ra (pinch-out): với thao tác dùng 2 ngón tay chụm lại, sau đó kéo bung ra dần theo để phóng to hình theo kích thước mà người dùng mong muốn.
  • Kéo chụm lại (pinch-in): khi hình ảnh đang được xem ở chế độ phóng to, sử dụng hai ngón tay để kéo hình gần vào nhau, đồng thời hình sẽ được giảm dần theo kích thước mong muốn, cho phép hiển thị cùng lúc tối đa 9 tấm ảnh chụp gần nhất của người dùng.
  • Các tính năng cảm ứng sẽ được khóa nếu bạn thiết lập lại trong “Cài đặt màn hình”.
Với các tính năng sử dụng “Chạm cảm ứng”, cho phép bạn thao tác vuốt theo hướng từ trên xuống và hướng từ phải sang trái để có thể sử dụng ngay các chức năng đã được thiết lập trước. Ngay cả khi người dùng vẫn đang nhìn qua ống ngắm điện tử, thì thao tác kéo trên màn hình cảm ứng vẫn có thể sử dụng để thay đổi vùng lấy nét. Trong cài đặt “Chế độ chạm màn hình” người dùng có thể tùy ý thiết lập lại cho “Tất cả”, “Phải”, “Trái” hoặc tắt luôn tính năng này.

Hỗ trợ quay phim 4K chất lượng cao

Fujifilm có khả năng quay phim Full HD và 4K cùng với việc sử dụng các chế độ giả lập màu phim (Film Simulation) nổi tiếng của dòng sản phẩm X-Series. Người dùng cũng có khả năng trích xuất phim ra bên ngoài thông qua cổng HDMI và có thể lồng thêm âm thanh vào phim thông qua microphone ngoài.

Hệ màu mới Acros

Fujifilm X-E3 được trang bị giả lập phim mới ACROS. Hệ màu đơn sắc (monochrome mode) mới này giúp ảnh có độ chuyển sắc (gradation) mịn, mức độ đen sâu và kết cấu đẹp.

Tùy chọn X-E3 và nhiều sự lựa chọn ống kính chất lượng

Máy ảnh Fujifilm X-E3 hiện đang có hai màu: đen và bạc. Tùy theo nhu cầu của từng khách hàng, Fujifilm Việt Nam cung cấp ba sự chọn lựa: mua lẻ thân máy hoặc bộ kit thân máy cùng với ống kính XF18-55mmF2.8-4 R LM OIS; hoặc bộ kit thân máy cùng với ống kính XF23mmF1.4 R.
Ngoài ra, dòng ống kính XF hiện nay của Fujifilm với 25 ống kính các loại. Việc ra mắt ống kính Fujion XF80mm F2.8 LM OIS WR Macro mới đã hoàn thiện dòng sản phẩm ống kính từ góc siêu rộng cho đến ống tele bao gồm 5 ống kính tiêu cự cố định. Những ống kính này mang đến chất lượng hình ảnh vượt trội cho sản phẩm Fujifilm X-E3. Các phụ kiện tùy chọn như ngàm chuyển đổi, ống mở rộng tiêu cự giúp tối đa được khả năng nhiếp ảnh.

Phụ kiện sang trọng

Ở Việt Nam, người dùng có thể tùy chọn dán thêm lớp da màu bảo vệ và trang trí cho X-E3.
Khi sở hữu chiếc máy ảnh Fujifilm X-E3, khách hàng sẽ được tặng kèm đèn flash gắn ngoài EF-X8 đầy phong cách, tô đậm nét thiết kế cho chiếc máy ảnh.
Ngoài ra, khách hàng có thể trang bị thêm cho X-E3 với những những phụ kiện sang trọng sau:
  • Bao da máy ảnh: bao da thời trang chính hãng với khung bảo vệ được thiết kế tỉ mỉ cho phép người dùng thay pin mà không cần tháo máy ảnh ra khỏi bao da. Bao da thời trang kết hợp với dây đeo cổ sẽ là bộ phụ kiện hoàn hảo phù hợp với thiết kế hoài cổ của Fujifilm X-E3.
  • Tay nắm: giúp tăng diện tích sử dụng của tay nắm. Pin và thẻ nhớ được thiết kế cùng hướng với tay nắm. Bên cạnh đó, khe vít được bố trí ngay tại trung tâm đáy của máy ảnh để dễ dàng tích hợp với giá để máy ba chân.
 
Giá chính hãng máy ảnh ống kính rời không gương lật tầm trung Fujifilm X-E3 tại Việt Nam.
• Thân máy giá 21.990.000 đồng.
• Bộ kit ống kính 23mm, f/2.0 giá 27.990.000 đồng.
• Bộ kit ống kính 18-55mm, f/2,8-4 giá 28.990.000 đồng.
• Ống kính XF80mm f/2.8 R LM OIS WR Macro giá 25.990.000 đồng.
• Ống kính GF45mm, f/2.8 R LM WR giá 35.900.000 đồng.
Giá ở Mỹ là 899,95 USD (chỉ body). Bộ kit với ống kính 18-55mm f/2.8-4 giá 1.299,95. Bộ kit với ống kính 23mm f/2 giá 1.149,95 USD. Ống kính mới ra mắt XF 80mm f/2.8 R LM OIS WR Macro giá 1.199,95 USD
 
+ Ảnh: PHẠM ANH PHÚ
 
Thanks P.H. P.
 
 
 
 
Nguyễn Văn Công - Sàigòn sưu tầm
 
Xem thêm...

THẢO MỘC GẮN LIỀN VỚI ĐỨC PHẬT

THẢO MỘC GẮN LIỀN VỚI ĐỨC PHẬT 

Phạm Đình Lân,  F.A.B.I.

Người khai sáng ra Phật Giáo là thái tử Siddharta Gautama (563-483 trước Tây Lịch). Đó là năm sinh và năm viên tịch được nhiều người chấp nhận hiện nay. Đạo Phật có ba nhánh chính:

– Phật Giáo Đại Thừa (Mahayana Buddhism): Trung Hoa, Nhật, Triều Tiên, Việt Nam.
– Phật Giáo Tiểu Thừa (Hinayana hay Theravada Buddhism): Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Cambodia, Lào. 
– Hoàng Giáo Tây Tạng (Vajrayana hay Tantrayana): Tây Tạng, Mông Cổ.

Căn cứ vào những tiểu sử của đức Phật, hoàng hậu Mahamaya nằm chiêm bao thấy một con voi trắng sáu ngà, dùng ngà có hoa sen húc vào hông bà. Sau đó hoàng hậu mang thai. Hoàng hậu lâm bồn trong vườn Lumbini, Nepal, dưới tàn cây Shala (cây vô ưu). Vừa chào đời hài nhi biết đi và biết nói. Người nhảy bảy bước. Mỗi bước nhảy có một hoa sen nở ra. Đó là thái tử Siddharta Gautama. Năm 29 tuổi thái tử từ giã vợ con và chức quyền sắp có trên một vương quốc nằm dọc theo dãy Hy Mã Lạp Sơn để đi tìm chân lý. Sau nhiều năm theo phái khắc khổ, Người vẫn không tìm ra chân lý, trái lại thân xác gầy gò và suýt chết. Một hôm ngồi dưới gốc cây bồ đề, Người được một phụ nữ dâng một chén cơm và một ly sữa để bồi dưỡng thân thể. Sau khi uống xong ly sữa, Người đắc đạo dưới gốc cây bồ đề. Người được gọi là Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni) tức nhà hiền triết tộc Sakya hay Buddha (đấng Giác Ngộ) tức Phật. Đức Phật thu nhận đệ tử, đi khắp nơi để truyền giảng đạo và viên tịch năm 80 tuổi.

Tôi tạm tóm lược tiểu sử của Đức Phật từ ngày đản sinh đến ngày viên tịch để đề cập đến những loại thảo mộc gắn liền với Đức Phật như: cây shala hay cây vô ưu, hoa sen, cây bồ đề, lúa gạo và nấm truffle căn cứ vào giả thuyết về bữa ăn cuối cùng của Đức Phật. Bài viết hoàn toàn không có màu sắc tôn giáo mà chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh thực vật học của cây cỏ gắn liền với Đức Phật. Phần cuối của bài có một số giả thuyết tóm lược từ các cuộc nghiên cứu về bữa ăn cuối cùng của Đức Phật trên khía cạnh khoa học. Xin người đọc bình tâm trước những lời giải thích của các nhà khoa học. Nhờ sự mạnh dạn tìm hiểu nguồn gốc của mọi sự vật một cách khách quan và khoa học, chúng ta mới được hưởng những tiện nghi hiện có thay vì nhìn các hiện tượng trong vũ trụ bằng sự huyền hoặc, hoài nghi và sợ sệt.

Cây Vô Ưu

Đức Phật chào đời dưới tàn cây vô ưu. Có hai loại cây vô ưu:

– cây shal hay shala
– cây ashoka

Về cây shala lại có một loại thảo mộc được người Indonesia gọi là Sala và người Ấn Độ gọi là Naga linga và được gọi là thánh mộc. Tôi nói qua về 3 loại cây nầy vì cả ba đều được xem là thiêng mộc trong Ấn Giáo (Hinduism) lẫn Phật Giáo.

 Cây Vô Ưu Shala, cây Vô Ưu Ashoka và cây Thánh Mộc

1. Cây Vô Ưu Shala: Tên khoa học của cây vô ưu Shala là Shorea robusta thuộc gia đình Dipterocarpaceae như cây sao, cây dầu, nghĩa là loại cây có trái có cánh. Cây cao từ 30-40m; lá rộng; hoa màu trắng rất thơm. Hoa nở vào tháng 4 dương lịch hàng năm. Cây vô ưu shala có nhiều ở Ấn Độ, các xứ vùng Hy Mã Lạp Sơn, Bangladesh. Người Ấn Độ gọi là Sal, Shala ; tiếng Sanskrit (Phạn): ashvakarma.

 2. Cây Vô Ưu Ashoka: Theo tiếng Sanskrit ashoka có nghĩa là vô ưu. Do đó người Anh gọi là sorrowless tree hay ashoka tree. Người Ấn Độ gọi là Vanjulam. Cây vô ưu ashoka tức cây vàng anh cao từ 20-30m. Lá rộng, đầu lá nhọn. Hoa to, cánh bầu tròn màu đỏ-vàng, nhụy dày đặc. Hoa thơm và đẹp. Tên khoa học của hoa vô ưu ashoka là Ashoka saraca thuộc gia đình Fabaceae. Cây ashoka liên hệ đến Thần Rama và vợ là nữ Thần Sita của Ấn Giáo và Đức Phật. Đó là nguồn thuốc của phụ nữ, biểu tượng cho sự sinh sản. Đến ngày lễ Ashok Shasthi phụ nữ Ấn Độ ăn hoa ashoka để được vô ưu. Nhiều phụ nữ cầu tự bằng cách nhảy múa dưới cây ashoka. Người ta cũng tin rằng Đức Phật ra đời dưới cây ashoka vì có sự lẫn lộn giữa cây shala vô ưu với cây ashoka vô ưu. Vỏ cây vô ưu ashoka sắc uống trị rối loạn tử cung, huyết tiện, tử cung xuất huyết, u bướu, da mất sắc tố v.v…

 3. Thánh Mộc Naga Linga: Loại thảo mộc nầy được tìm thấy nhiều ở Nam Mỹ Châu, Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Sri Lanka. Tên khoa học là Couroupita guianensis thuộc gia đình Lecythidaceae. Người Tamil gọi là Naga Linga (Naga: con rắn được tín đồ Ấn Giáo quí trọng; Linga: dấu hiệu của Thần Shiva trong Ấn Giáo. Linga-Yoni là bộ phận sinh dục của Nam và Nữ tượng trưng cho sự sinh hóa trong vũ trụ). Người Ấn Độ gọi là Shiva Linga. Người Anh gọi là cannon ball tree vì trái tròn, to bằng cái tô giống như trái đạn đại bác hay monkey pot (nồi khỉ vì khỉ dùng tay bóc ruột trái chín để ăn). Người Indonesia gọi là Sala tựa như cây Shala Shorea robusta. Cây Naga Linga cao từ 20-30m; lá to và có hương thơm. Hoa màu đỏ-vàng rất đẹp kết thành một chuỗi dài 3m. Trái nhiều, tròn và to như cái tô, vỏ cứng, cơm nhiều khi chín có mùi thơm nhưng có người lại cho là mùi không chịu nổi như trường hợp trái sầu riêng. Ngoài loài khỉ, loài người cũng ăn trái cây nầy được. Vỏ và lá thánh mộc Naga Linga dùng như thuốc trụ sinh, kháng nấm, trị cảm, trị đau bụng. Lá giã nát vắt nước dùng trị bệnh ngoài da. Lá cũng được dùng để trị nhức răng. Ở Nam Mỹ người ta dùng vỏ cây Naga Linga sắc nước uống trị sốt rét. Cây Naga Linga thường được trồng quanh đền Thần Shiva hay chùa Phật Giáo ở Ấn Độ, Sri Lanka. Vì trái to và nặng khi rụng trúng đầu người có thể gây nguy hiểm đến tánh mạng nên người ta không trồng cây Naga Linga (cây nồi khỉ hay cây đạn thần công) ngoài đường như trường hợp cây dừa vậy.
 

 Hoa Sen

Hoa sen là hoa thiêng trong Ấn Độ và Phật Giáo Đại Thừa, Tiểu Thừa và Hoàng Giáo Tây Tạng. Tên khoa học của hoa sen là Nelumbo nucifera thuộc gia đình Nelumbonaceae . Người Ấn Độ gọi hoa sen là Kamala. Tiếng Sanskrit cũng gọi là Kamala hay Padma. Người Anh gọi là Sacred lotus (Sen thiêng), Indian sacred lotus.

 

Hoa sen đỏ liên hệ đến Thần Vishnu và sen trắng liên hệ nữ Thần Sarasvati.

Lá sen, ngó sen, hột sen, nhụy hột sen, củ sen đều có công dụng. Hoa sen vừa có tính biểu tượng, vừa đẹp vừa có hương thơm. Hoa sen tượng trưng cho sự thanh khiết của một loài hoa mộc dưới nước nhưng:

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Ngoài đặc tính là thức ăn ngon và bổ dưỡng toàn thân, hoa sen còn được xem là một nguồn thuốc. Hoa sen có alkaloids nuciferine C19H21NO2 và apomorphineC17H17NO2 có tác dụng trị chứng bất lực sinh lý. Ngó sen, củ sen và hột sen được dùng để cầm máu, trị loét dạ dày, xuất huyết hậu sản, kinh nguyệt quá đà (ngó sen), nhuận trường, trị tiêu chảy, kiết lỵ, bán thân bất toại, mất ngủ, di mộng tinh, bất lực sinh lý, hạ huyết áp, hạ cholesterol, hưng phấn các sớ thịt tử cung (hột, củ sen) v.v…

Phật mẫu Mahamaya thấy voi trắng dùng ngà có hoa sen trắng chạm vào hông. Voi trắng là voi thiêng biểu tượng cho sự sinh sản và sự khôn ngoan. Sự xuất hiện của voi trắng như là sự báo hiệu của sự xuất hiện của đấng siêu phàm. Hoa sen trắng (bạch liên) là hiện thân của nữ Thần Satasvati. Bảy đóa hoa sen (bảy bước) là Đông, Tây, Nam, Bắc, Thượng, Hạ, Trung Tâm. Có phải chăng số 7 tượng trưng cho 7 ngôi sao trong chòm Đại Hùng Tinh (Ursa Major) của Sao Bắc Đẩu trên vòm Trời?

Cây Bồ Đề

Đức Phật ngồi thiền và đắc đạo dưới cây bồ đề ở Bodh Gaya, tiểu bang Bihar, Ấn Độ. Cây bồ đề là thiêng mộc đối với Ấn Giáo và Phật Giáo. Tín đồ Ấn Giáo tin rằng Thần Vishnu ra đời dưới cây bồ đề và Thần Krishna chết dưới gốc cây bồ đề. Huyền thoại Ấn Độ tin rằng gốc và rễ cây bồ đề là Thần Brahma; thân cây là Thần Vishnu và lá là Thần Shiva. Người Ấn Độ gọi cây bồ đề là Peepal (pipal). Tiếng Sanskrit (Phạn) là pipalabodhi; Sri Lanka: Bo; Thái Lan: bodhi. Bodhi có nghĩa là sự khôn ngoan. Người Anh phải gọi cây bồ đề là Sacred bodhi (cây bồ đề thiêng), bodhi tree vì họ biết người Ấn Độ, tín đồ Ấn Giáo lẫn Phật Giáo đều tôn kính cây bồ đề.

Tên khoa học của cây bồ đề là Ficus religiosa thuộc gia đình Moraceae. Không phải thảo mộc mang tên khoa học Ficus religiosa nào cũng được xem là cây bồ đề thiêng. Chỉ có những cây bồ đề lấy giống từ cây bồ đề ở Bodh Gaya, Bihar, Ấn Độ, nơi Đức Phật Thiền tịnh và đắc đạo mới được xem là có đặc tính đặc biệt xứng đáng gọi là cây bồ đề thiêng. Cây bồ đề Jaya Sri Maha Bodhi ở Anuradhapura, đảo Sri Lanka, lấy giống từ cây bồ đề Sri Maya Bodhi ở Bodh Gaya, Bihar, nơi Đức Phật Thiền tịnh và đắc đạo, được trồng từ năm 288 trước Tây Lịch (2300 tuổi tính đến năm 2012).

Cây bồ đề cùng dòng và cùng gia đình thảo mộc với cây đa. Cây cao lối 20m; lá hình trái tim. Trái chín màu tím đen.

 Đối với người Ấn Độ cây bồ đề được bao quanh bởi nhiều huyền thoại. Nó có nhiều công dụng và tính năng trị liệu theo y học cổ truyền Ấn Độ. Ở Ấn Độ người ta trồng cây bồ đề ở hướng Đông của nhà hay đền, chùa. Vỏ cây bồ đề có nhiều tanninsđược dùng trong kỹ nghệ thuộc da. Từ vỏ cây bồ đề người ta khai thác màu nhuộm màu đỏ. Lá bồ đề là nguồn thức ăn cho voi và lạc đà.

Lá, vỏ, rễ, trái cây bồ đề dùng làm thuốc trị suyễn (trái tán thành bột), tiêu hóa, loét, tê thấp, nướu răng đau (rễ), lá già vắt nước nhỏ vào tai bị đau. Vỏ thân tán thành bột trị vết thương, viêm, loét, hoàng đản.

Lúa gạo

Tên khoa học của lúa gạo là Oryza sativa thuộc gia đình Poaceae. Đó là một loại cây lương thực quan trọng ở Ấn Độ, các nước Đông Nam Á, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, các hải đảo Thái Bình Dương ngày xưa. Cây lúa có năng xuất cao hơn lúa mì. Từ lúa biến thành gạo, cơm nhanh chóng và giản dị hơn từ hột lúa mì biến thành bột mì và tạo ra ổ bánh mì. Dân tộc ăn cơm đều nấu cơm ở nhà nhưng dân tộc ăn bánh mì không thể nhồi bột mì, rải men, cho bột dậy và xây lò để nướng bánh mì trong nhà dễ dàng được.

Cây lúa là nguồn sống của nhân loại, đặc biệt là người Á Châu. Trung Hoa và Ấn Độ là hai nước sản xuất và tiêu thụ nhiều lúa gạo nhất thế giới. Từ gạo người ta làm ra bột, làm bánh, cất rượu, làm giấm và biến chế ra nhiều thức ăn khác. Trấu được dùng nấu nướng thay than củi. Rơm dùng để làm thức ăn khô cho trâu bò. Gốc rạ dùng để nấu nước uống và trị bịnh trái rạ. Người ta ăn gạo lức đề ngừa bịnh thủng. Cám gạo dùng ̣để làm thức ăn cho heo hay để làm một loại bánh ngọt lợ ăn để ngừa bịnh phù thủng. Gạo rang nấu nước giúp cho người bị thổ tả phục hồi lại nước trong thân thể v.v…

 

Ấn Giáo tức đạo Bà La Môn (Brahmanism) là tôn giáo có ảnh hưởng tuyệt đối quan trọng ở Ấn Độ. Xã hội chia ra nhiều giai cấp:

1. Brahmins (Tu Sĩ) 
2. Kshatriyas (Quân Nhân) 
3. Vaisyas (Thương) 
4. Shudras (Công)

Những người Harijans là những người bần cùng, ngoại hạng không thuộc giai cấp nào trong xã hội. Họ bị xã hội chê bai, khinh bỉ và xa lánh đến nỗi không ai dám đụng đến họ vì sợ bị lây nghiệp chướng sâu nặng của họ. Vì vậy người Tây Phương gọi họ là những người Parias hay Untouchables. Ấn Giáo, Phật Giáo, đạo Sikh (Sikhism), đạo Jain (Jainism) đều chủ trương ăn thực vật (Shakahara) và bất bạo động (ahimsa). Phái ăn thịt gọi là Mansahara theo Phạn ngữ (Sanskrit). Nếu ăn thịt thì không ăn thịt heo và thịt bò. Bò được xem là Vật thiêng. Thức ăn thực vật được đề cao. Vấn đề này rất phức tạp vì theo cách diễn dịch của từng địa phương. Người Ấn Giáo ở Nepal không ăn thịt bò nhưng ăn thịt trâu. Người Ấn Giáo ở Ấn Độ không ăn thịt bò cũng không ăn thịt trâu. Có nơi không ăn vịt. Có nơi không ăn hành, tỏi mặc dù thức ăn của Ấn Độ có nhiều hương liệu cay và nồng.

Trong xã hội Ấn Giáo người ăn thịt được xem là người nghèo thuộc giai cấp thấp trong xã hội. Thực phẩm cho những người khất thực phần lớn xuất phát từ những người thuộc giai cấp Thương (Vaisyas), Công (Shudras) trong xã hội. Chắc chắn trong số đó có thịt (gà, vịt, dê, trừu nấu cari v.v…) nhưng tu sĩ khất thực không thể vất ra vì làm vậy là coi thường lòng thành kính của họ đối với người tu hành. Người tu có thể ăn thịt với điều kiện không thấy con thú bị giết và không nghe tiếng rên rỉ, gào thét của nó trong lúc bị giết. Chén cơm mà người phụ nữ dâng cho Phật dưới cội bồ đề không thể là chén cơm trắng? Hay có thể là cơm trắng với cà ri thực vật? Và ly sữa là sữa nấu từ thực vật như đậu nành, đậu phọng chẳng hạn chớ không phải là sữa dê hay sữa bò? Dù là thức ăn chay hay mặn, tất cả đều là lòng thành của người phụ nữ. Nhưng nếu bà chuẩn bị thức ăn để dâng cho người tu thì bà nấu thức ăn chay. Nếu bà không chuẩn bị thì bà có thức ăn gì mà trong nhà dùng thì bà dâng cho. Trong trường hợp thái tử Siddharta ngồi tham Thiền dưới gốc cây bồ đề theo các tu sĩ khắc khổ và gầy gò ốm yếu chắc chắn người phụ nữ nầy chuẩn bị nấu thức ăn bổ dưỡng để dâng cho người tu để cứu Người khỏi cửa Tử Thần khi thực hành phép tu khắc khổ. Thức ăn bổ dưỡng nhằm bồi bổ sức khỏe là thức ăn có thịt hay thức ăn thực vật?


Bữa ăn cuối cùng của Ðức Phật: Thịt heo hay nấm truffle?

Đức Phật và các đệ tử đến làng Pava và được Cunda, một người thợ rèn, nấu món sukara-maddava cho Người dùng. Ăn xong Đức Phật thấy khó chịu vì đau bụng dữ dội. Các đệ tử đưa Người về Kusinagara cách đó lối 10km. Người bị đi kiết ra máu rất nhiều và khát nước vô hạn. Người gọi Ananda kiếm nước cho Người uống. Ananda không thể lấy nước được vì có một đoàn xe bò đi ngang qua dòng nước làm cho dòng nước bị đục và nổi lên nhiều vết đất bùn dơ bẩn. Đức Phật viên tịch ở Kusinagara, tiểu bang Bihar, Ấn Độ, dưới gốc cây shala.

Món sukara-maddava là gì? Theo các bản dịch thì đó là “thịt heo mềm” (sukara: heo) khiến cho người nghiên cứu lẫn các tín đồ Phật Giáo ngạc nhiên vì không lẽ nào Cunda nấu thịt heo cho Đức Phật dùng! Như đã nói, Ấn Giáo (Hinduism-Brahmanism thế kỷ XVI trước Tây Lịch), Phật Giáo, đạo Sikh hay đạo Jain đều đề cao thức ăn thực vật, không lý nào Đức Phật lại dùng thịt heo. Không phải ở Ấn Độ ngày xưa người ta không ăn thịt. Nhưng thịt heo và thịt bò bị cấm chỉ. Sự cấm chỉ nầy có trước khi Do Thái Giáo (Judaism – thế kỷ XI trước Tây Lịch) ở Trung Đông xuất hiện và cấm tín đồ ăn thịt heo. Sau nầy đạo Hồi (Islam – thế kỷ VII) cũng ngăn cấm tín đồ ăn thịt heo. Không lý nào Cunda dám vi phạm điều nầy? Và nếu có, nhằm mục đích gì ông ấy lại phải mạo hiểm như vậy? Điều chắc chắn là món sukara-maddava không phải là món ăn nấu bằng thịt heo vì khi bị quặn đau bụng dữ dội, Đức Phật sợ người ta hiểu lầm Cunda có ý hại Người. Phật chỉ khuyên Cunda đổ bỏ các món sukara-maddava còn lại vì sợ người ăn khác cũng bị đau bụng dữ dội như vậy. Theo sự giải thích của một vị bác sĩ Thái Lan, Mettando Bikkhu, qui y và trở thành Đại Đức thì Đức Phật không bị ngộ độc vì thức ăn của Cunda. Vì chất độc chỉ bộc phát vài tiếng đồng hồ sau khi ăn chớ không phải bộc phát ngay sau khi vừa ăn xong như đã xảy ra với Đức Phật. Vị đại đức bác sĩ nầy cho rằng Phật viên tịch vì già. Một mạch máu bị nghẽn không cung cấp máu cho ruột nên gây sự quặn thắt đau đớn và bị xuất huyết đường ruột mà ông gọi là mesentery infarction (infarctus mesenterium). Chứng bệnh nầy thường xảy ra cho người già.

Vậy món sukara-maddava được dịch là "thịt heo mềm" có vẻ không chính xác vì chỉ có chữ sukara có nghĩa là heo mà thôi. Sau có người dịch là “sự ham thích của heo” tức thực vật được heo ưa thích hay thực vật bị heo giẫm lên (maddita) như măng tre hay nấm chẳng hạn. Ở Ấn Độ có nhiều tên thảo mộc có chữ sukara (Heo) như ta có Hoa Cứt Lợn tức cây Bù Xít Ageratum conyzoides, Cỏ Cứt Lợn Nepeta indica, Cỏ Cứt Heo (Hy Thiêm Thảo) Siegesbeckia orientalis chẳng hạn. Khi đề cập đến thực vật mà trư tộc ham thích, người ta liên tưởng đến nấm truffle có rất nhiều trong tiểu bang Bihar.

 

 Tuber melanosporum

 

                                                   Gọi là nấm truffle do chữ tuber trong tiếng La Tinh có nghĩa là củ mà ra. Tên khoa học của nấm truffle là Tuber melanosporum thuộc gia đình Tuberaceae. Nấm truffle không có chân và tàng nấm như những loại nấm thông thường. Nó chỉ là một khối tròn như một củ khoai to bằng cái chén. Trên mặt nấm có nhiều đốm lồi lõm và lỗ nhỏ. Nấm không mọc lộ thiên trên mặt đất mà nằm dưới đất như các loại khoai củ. Nấm truffle có nhiều ở Pháp (vùng Périgord) và Ý. Nấm toát mùi của chất kích thích tố của heo đực nên muốn tìm nấm phải dẫn một con heo cái đánh hơi và ủi đất để lấy nấm. Nấm truffle rất quí vì việc tìm kiếm nó rất khó khăn. Vả lại khi ủi đất và gặp nấm, con heo cái vội ăn nấm ngay! Vì vậy ngày nay người ta huấn luyện chó đi tìm nấm truffle thay cho heo cái.


Nấm truffle trắng Tuber magnatum rất đắt tiền. Mỗi pound (453 grams) nấm truffle trắng giá từ 1.000 - 2.000 Mỹ kim. Năm 2007 một chủ sòng bạc ở Macau, Stanley Ho, mua 1,5 ký lô nấm truffle Ý với giá 330.000 Mỹ kim\

Tuber magnatum

 

 

    Nấm truffle ở Ấn Độ là nấm Tuber indicum màuđen, không thơm giá khoảng 20 Mỹ kim một pound .

 

                 Tuber indicum

 

Nếu món sukara-maddava là món nấm truffle thì đó là một món ăn quí giá vô cùng. Nếu Cunda chọn nhầm nấm độc chớ không phải nấm truffle hay xào nấu bằng nồi chảo đồng rỉ ten xanh độc thì không những Đức Phật bị ngộ độc mà các đệ tử cũng bị trúng độc. Như vậy sự giải thích của Đại Đức bác sĩ Mettanando Bhikkhu được xem là khả tín.

 

Phạm Đình Lân, F.A.B.I.

 

Hồng Anh st

 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này