Tản mạn về bia (beer)

Tản mạn về bia (beer)

 ********

 
https://baomai.blogspot.com/ 

Lại một tình cờ đã đưa tới sự khám phá ra cách chế biến món nước “Tinh Thần”, uống cho tới tận cùng say xỉn này.
Truyền thuyết kể lại là cách đây trên mươi ngàn năm, một cô bé đang ăn miếng  bánh mì khô uống với ly nước lạnh, thì có bạn gọi đi chơi trò nhẩy dây. Cô ta ném  miếng bánh vào ly nước, để trên mặt bàn rồi chạy ra ngoài.  Đó là miếng bánh cũ bỏ quên trong cặp  sách đã lâu, có bám bụi xanh.
Mấy ngày sau bà mẹ dọn  bàn thấy ly nước trong trong, có mùi thơm thơm. Đang khát nước, bà bèn uống. Một lúc sau cảm thấy trong người sảng khoái, lên tinh thần. Bà khoe với ông chồng và ngỏ ý muốn có thêm. Chiều vợ, ông chồng  làm nước đó cho vợ và gia đình. 
Lối xóm bắt chước và thiên hạ cũng làm theo. Thế là Bia  ra đời.
 
https://baomai.blogspot.com/

Anh ngữ gọi là Beer, Pháp ngữ là Biere từ chữ Latin “Bibere” nghĩa là Uống.
Người Việt ta phiên âm là LA DE  từ chữ La Biere cho tiện việc sổ sách.
Tiếng Đc Baere, từ chữ Barley là loại lúa mạch dùng nhiều nhất để làm la de.
Trung hoa gọi  bia là Ty tửu vì có ít ethanol.
 
https://baomai.blogspot.com/
Theo các nhà khảo cổ, thì la de được dân chúng thành phố Babylon chế ra đầu tiên một cách khá quy mô, cách đây trên  6000 năm. Họ ngâm  nước  cho hạt lúa mạch lên mốc xanh, nghiền nát,  trộn với nước, để dăm ngày rồi uống. Khi đó, la de rất được dân chúng ưa thích, mà khả năng biến chế giới hạn nên các Lãnh Chúa bèn đặt chế độ khẩu phần. Dân lao động chỉ được mỗi ngày hai lít, công nhân viên nhà nước ba lít, quan chức cao cấp và quý ngài tu sĩ năm lít.
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Từ Ai Cập, la de lan tràn ra các nước khác và được phổ thông trước khi nho được trồng làm rượu vang, vào thời kỳ đế quốc La Mã. Con dân đế quốc coi la de như thứ nước uống của người man di, còn họ uống thứ nước dành cho Thần Linh, ấy là rượu vang. 
Cũng nên nhắc là việc nấu la de, theo luật đời xưa, là việc làm của nữ giới. Đến sau Thiên Chúa giáng sinh thì la de được đưa vào thị trường thương mại, ai mua cũng được.
Chuyện này cũng có lý do. Vì đã có một thời kỳ,  làm la de được các tu viện hầu như dành quyền ưu tiên chế biến và là nguồn lợi tức đáng kể cho cơ sở tôn giáo. Ngoài lợi tức, các tu sĩ còn muốn tự do dùng la de  chung với thực phẩm ngon mà họ được cung cấp. Đồng thời la de không bị cấm trong thời gian ăn chay, nên các ngài tự do dùng và mỗi tu sĩ được chia tới 5 lít một ngày.
Chỉ sau thời kỳ Cải Cách giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã, đưa đến sự thành lập các giáo hội Tin Lành vào thế kỷ 16, sự ưu đãi độc quyền làm bia này cho tu viện mới được bãi bỏ. Bia được các nhà sản xuất thương mại trách nhiệm. 
 
https://baomai.blogspot.com/
Nhưng phải công nhận là nhờ kiến thức của các tu sĩ mà kỹ nghệ làm bia tiến bộ rất nhiều, từ việc một miếng bánh rơi vào ly nước tới những máy móc, tuy thô sơ, nhưng mau lẹ, làm được nhiều  lại an toàn vệ sinh, có phẩm chất ngon hơn.
Kỹ nghệ sản xuất bia thực sự  cải thiện vào đầu thế kỷ thứ  19 với sự sáng chế ra máy hơi của James Watt và hệ thống làm lạnh của Carl von Linde. Trước đó, bia thường được làm vào mùa Đông, thuận tiện cho sự lên men của bánh. Từ  khi khám phá ra hệ thống làm lạnh, bia được sản xuất quanh năm. Đầu máy hơi nước của James Watt giúp sự sản xuất bia từng loạt với số lượng nhiều hơn. 
 
https://baomai.blogspot.com/
Trong việc làm bia, nhà bác học Pháp Louis Pasteur cũng cống hiến một khám phá quan trọng: Đó là sự tìm ra những nấm lên men mà ông đã trình bày trong nghiên cứu tựa đề “ Etude de la Bierre”, vào năm 1876. Nhờ khám phá này mà ngày nay ta đã nuôi được men và dùng rộng rãi trong kỹ nghệ làm bia và rượu vang.
Một khoa học gia khác người Đan Mạch, Christian  Hansen, đã thành công trong việc tách  một thứ nấm, trồng trong dung môi dinh dưỡng và dùng  hàng loạt vào việc lên men lúa mạch để làm bia.
 
Làm bia
Muốn có một lon bia, ta cần bốn vật liệu chính yếu: Nước, ngũ cốc, men và cây Hoa Bia (Hop= Houblon).
A_ Ngũ cốc
 
https://baomai.blogspot.com/
Bia có thể được làm từ gạo (Việt Nam,Trung Hoa Nhật Bản), ngô (Thổ dân American Indian), mì ( Đức wheat), lúa mạch đen ( Nga, ryes) yến mạch ( Oats) nhưng thông thường nhất vẫn là bằng hạt lúa mạch ( Barley) rồi đến lúa mì. Ngô và gạo cho loại bia kém phẩm chất.
 
Lúa mạch có nguồn gốc từ Châu Á và Ethiopia và là loại ngũ cốc được sản xuất đứng hàng thứ tư sau lúa mì, gạo và ngô. Lúa mạch có lượng carbohydrates khá cao, tới 67% và 13% chất đạm.
 
https://baomai.blogspot.com/
Trước hết, mạch được ngâm trong nước độ một tuần cho nẩy mầm đồng thời tinh bột của mạch được  chuyển hóa thành đường maltose. Sau đó mạch có mầm được đun chín rồi sấy khô, say khỏi vỏ rồi ngâm trong nước nóng. Đường trong mạch sẽ hòa vào nước cho một dung dịch có vị ngọt.
Dung dịch này  được đun sôi khoảng hai giờ  để diệt hết vi khuẩn. Đây là lúc mà Hoa Bia được thêm vào để tạo ra vị đắng  cho bia.
 
B_ Hoa bia
 
https://baomai.blogspot.com/
Houblon là loại cây leo có hoa mọc thành từng chùm. Hoa được sấy khô để tạo vị đắng cho bia. Đun càng lâu thì chất đắng của hoa bia càng tan nhiều trong nước, bia sẽ đắng hơn.
Nghiên cứu ở Mỹ cho biết cây Hoa Bia có chất  chống oxy hóa Antioxidant Prenylated Flavonoids rất tốt để giúp cơ thể giảm nguy cơ bị các bệnh tim, ung thư, sa sút trí tuệ và cao cholesterol.
Dung dịch được để nguội, vớt hết lá hoa bia và cặn bã ra rồi men được thêm vào
 
C_ Men
Men bia là những nấm nhỏ li ti có khả năng chuyển đổi tinh bột ra đường. Nấm có nhiều trong thiên nhiên.
Hai loại men thường dùng  trong kỹ nghệ bia là Sacchromyces cerevisiae nổi lên mặt dung dịch  và  loại Saccharomyces uvarum, chìm dưới đáy. Mươi ngày sau men sẽ chuyển hóa hầu hết đường maltose và lúc đó ta đã có một lon bia.
 

Nhưng chưa đủ, muốn có hơi sủi bọt, bia được chuyển vào một bình điều hòa để lên men lần thứ hai và có hơi carbonates.Vì  còn vẩn đục, nên  bia được  lọc.
Bia vô lon hoặc chai được  đun nóng ( Pasteurized) để diệt hết các vi khuẩn còn sót và để chặn sự lên men.
Draft bia không đun nóng nhưng phải giữ ở nhiệt độ lạnh cho tới khi dùng để bia thôi lên men. Uống ngay sau khi sản xuất, Draft bia  ngon hơn vì trong khi chuyên trở đi xa, sự thay đổi nhiệt chung quanh ảnh hưởng tới phẩm chất của bia.
 
D_ Nước
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Nước dùng để làm bia cũng rất quan trọng. Nước có nhiều khoáng chất thì bia đắng hơn là nước có ít khoáng chất.
Beer cũng như rượu vang có từ 2-6% Ethanol trong khi đó rượu mạnh như wisky, gin, vodka có tới 45-50% ethanol.
 
Một vài loại  bia
Như đã nói ở trên, bia có thể làm từ lúa mì, ngô, gạo nhưng lúa mạch thường được dùng nhiếu nhất.
Ngay cả làm từ lúa mạch, bia cũng có nhiều loại tùy theo  men nổi hay chìm, nhiệt độ và thời gian để mạch lên men, số lượng Hoa bia, thời gian và nhiệt độ nơi cất giữ bia. Theo luật, bia không được có quá 5% chất rượu ethanol.
 
https://baomai.blogspot.com/

- Ale nặng hơn beer và dùng men nổi mà beer thì dùng men chìm dưới đáy.
 
https://baomai.blogspot.com/

- Bitter là la de có nhiều Hoa bia nên đắng hơn và được dân Anh rất thích.
 
https://baomai.blogspot.com/

- Lager  cũng là la de nhẹ, mầu lạt, rất phổ thông bên Đức.
 
https://baomai.blogspot.com/

- Malt liquor mạnh hơn beer.
 
https://baomai.blogspot.com/

- Shandy là hỗn hợp beer với nước chanh (lemonade) hoặc ginger beer)
 
https://baomai.blogspot.com/

- Sake của Nhật được chế từ gạo, có nồng độ ethanol từ 14-%, nên thường được gọi là rượu gạo rice wine. Nhưng thực ra sake là một loại beer vì cũng được làm bằng sự lên men của gạo.
Sake không có mầu, không có hơi, hâm nóng uống ngon hơn, trong khi đó beer phải uống lạnh mới đã.
 
Dinh dưỡng
Về phương diện ăn uống, ngoài nước,  bia có một số lượng các chất dinh dưỡng rất khiêm nhường vì đa số đã  bị tiêu hủy trong quá trình chế biến.
 
https://baomai.blogspot.com/

Một ly 360 cc (12 Oz)  cho 140 calories mà 60% là do chất rượu ethyl alcohol của bia; 17mg calcium; 28mg magnesium; 40mg phosphore; 85mg potassium; rất ít Zinc, sinh tố B.
 
Các chất đạm, chất béo, sinh tố C và sinh tố hòa tan trong chất béo đều có rất ít nên bia được nhiều người coi  như chẳng bổ dưỡng gì ngoài một số calories. Chẳng thế mà  bác sĩ David Williams của đại học Wales, Anh Quốc đã cổ võ là trong chương trình giảm béo, nên uống nửa lít  bia một ngày  vì bia có tới 93% là nước lã, không đường, không chất béo.
Bia còn giữ hương vị thơm ngon nếu tiêu thụ trong vòng  hai tháng sau khi làm, do đó  không nên mua tích trữ quá nhiều và quá lâu. Cất bia ở chỗ mát, không có ánh nắng mặt trời để bia khỏi lên mùi.
Ly để uống bia cần sạch, không vết mỡ  vì mỡ làm bia hết bọt.
Cũng không nên uống bia quá lạnh vì nhiệt độ thấp làm  giảm mùi thơm của bia.
 
Bia với Sức Khỏe
 
Trang báo  Forbes ngày 17 tháng 3 năm 2008, tác giả Allison Van Dusen có nêu ra 8 lý do lành mạnh để uống bia, căn cứ vào một số nghiên cứu khoa học. Đó là  từ 30-35% ít bị heart attack, tăng chất béo lành HDL, giảm rủi ro máu cục, giảm hóa già, bảo vệ khỏi tử vong vì bệnh tim mạch, tăng trí tuệ giảm Alzheimer, giúp xương chắc mạnh, giảm biến chứng tiểu đưởng.
Nhưng Allison nhấn mạnh ở chữ vứa phải moderation. Vừa phải là 240 cc, ngày hai lần, quý bà thỉ chỉ ½ mà thôi.
Lưu ý là uống bia mãn ngày mãn tháng, lon trước rước lon sau thì hậu quả tai hại cũng nhiều.
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Chẳng hạn như trở thành bét nhè nghiện rượu, xơ cúng ung thư gan, ung thư miệng…Ấy là chưa kế phá rối an ninh trật tự công công khi say xỉn, gây gổ hận thù, than chủ thường xuyên của khám nhỏ khám lớn. Ngoài ra, có nghiên cứu cho là uống vài ly bia/ngày có thể tăng rủi ro ung như nhũ hoa nữ giới.
Thành ra bia không phài là tốt cho mọi người.
Như giáo sư Charlie Bamforth, Đại học California ở Davis, nhắc nhở là không nên coi bia như một dược phẩm. Uống bia vì ý thích nhưng vừa phải là điều cần nhớ.
 
Nguyễn Ý-Đức M.D.
 
Nam Mai sưu tầm
 
Tại sao tôi yêu Bia?
Xem thêm...

CHA MẸ VÀ CON CÁI

CHA MẸ VÀ CON CÁI

ĐỖ HỒNG NGỌC

 

Hình Internet

Tôi đọc được những dòng này của một thiếu nữ 15 tuổi trên một tờ báo dành cho tuổi mới lớn. Em viết về mẹ của mình.

“15 tuổi, tôi không còn quá nhỏ để mẹ lúc nào cũng chú ý “chi li” từng việc như: Tôi ăn cơm chưa, tôi… tắm chưa và bạn của tôi là những đứa nào?

15 tuổi, mẹ vẫn còn đưa đón tôi đi học…. Tôi xấu hổ với bạn bè, còn mẹ thì lo sợ xe cộ đông đúc…

Bao nhiêu lần tôi muốn hét lên: Mẹ đừng kỳ vọng gì vào con cả!

Bao nhiêu lần tôi muốn buông xuôi… để mẹ biết rằng tôi đã lớn và có thể quyết định những thứ ngoài “vòng kim cô” của mẹ.

Nếu có một điều ước, tôi chỉ muốn mình được… “tự do”.”

Tôi đọc mà buồn quá! Mẹ mà không được kỳ vọng gì vào con cả thì kỳ vọng vào ai? Ai có thể đỡ đần cho mẹ lúc già nua tuổi tác? Ai có thể lo lắng cho mẹ lúc ốm đau bệnh hoạn? Ai có thể chia ngọt sẻ bùi với mẹ lúc canh vắng đêm dài với bao nỗi lo toan, nhọc nhằn không nói nên lời?

Tôi hiểu trong một lúc quá đỗi bực mình nào đó, em đã thốt lên những lời đau xót này với mẹ. Tôi chắc rằng, một ngày kia, khi tuổi đời thêm chồng chất, đọc lại những dòng này em sẽ vô cùng hối hận. Tôi hiểu rằng rồi đây khi đến lượt mình bế trên tay một đứa con đỏ hỏn, rứt ra từ núm ruột của mình thì em sẽ thấm thía nghĩ về mẹ mình ngày xưa, lúc đó nhiều khi mẹ đã không còn nữa! Tôi chắc rằng người mẹ khi đọc những dòng này của em sẽ không hề khóc, sẽ chỉ trìu mến nhìn đứa con thân yêu từ núm ruột mình rứt ra kia đang hờn dỗi và càng thương nó hơn. Khi nhìn con đã ngủ ngon lành sau cơn phiền muộn, mẹ sẽ kéo tấm chăn mỏng đắp thêm cho con, vuốt lại tóc con cho ngay ngắn, len lén hôn lên trán con thật nhẹ, rồi rón rén bước đi...

Nhớ lại những ngày xưa, mẹ có thể mỉm cười... Những lúc bú mớm, con cũng đã từng cắn mẹ đau điếng! Những lúc bệnh hoạn, con cũng làm mẹ thức thâu đêm. Con ho mà mẹ ran lồng ngực. Con ỉa chảy mà mẹ đau thắt ruột gan. Mẹ không ngại ngần hôi hám, vấy bẩn để chăm sóc con. Có lúc ngửi mùi phân của con, có lúc ngửi mùi nước tiểu của con để theo dõi bệnh trạng báo cho bác sĩ. Sữa mẹ là những tế bào thân xác mẹ vỡ ra mà thành. Mẹ xanh xao đi để con được hồng hào. Mẹ lùn thấp xuống để con đựơc cao lớn lên. Mẹ loãng xương để con được cứng cáp. Mẹ nhăn nheo để con đầy đặn. Mẹ xấu xí từng ngày để con ngày càng rạng rỡ xinh tươi. Nhìn con lớn lên, mẹ nhìn thấy mẹ ngày xưa. Con nói bi bô, con đi lững thững từng bước một… ngày nào! Mẹ hãnh diện nhìn con như dòng sông hãnh diện nhìn dòng nước chảy. Mẹ không kỳ vọng vào con thì kỳ vọng vào ai?

Rồi một ngày nào đó, chắc chắn con sẽ được “tự do", con sẽ thoát khỏi “vòng kim cô” của mẹ, không cần phải có một điều ước!

Sẽ không còn ai nữa chú ý “chi li” đến từng việc của con, ăn cơm chưa, tắm chưa, và bạn con là những đứa nào?…

Cho nên, tôi nghĩ ngay bây giờ em đã có thể ôm lấy mẹ và nói với mẹ rằng: Mẹ ơi! Mẹ cứ kỳ vọng vào con đi! Nhưng đừng tạo sức ép, đừng làm con quá đỗi lo âu. Con đã lớn rồi! Con sẽ không phụ lòng mẹ đâu! Mẹ cứ kỳ vọng vào con đi!

***

Khi một bà mẹ mang thai đứa con trong lòng, một tình thương vô bờ bến đã tràn vào tâm hồn bà, một tình thương vô điều kiện, sẵn sàng chấp nhận, hy sinh, để bảo vệ đứa con, sẵn sàng làm mọi thứ tốt lành cho đứa con. Không đợi khoa học chứng minh thai nhi vài ba tháng tuổi trong bụng mẹ đã có thể nghe, có thể hiểu, bà mẹ bằng trực giác đã biết ân cần với con, biết hát ru con, biết trò chuyện với con. Khi con máy đạp, dù bị khó chịu bà vẫn vui mừng khôn xiết, mầm sống đã cựa mình, đã quậy phá, và bà mỉm cười với nó, nhẹ nhàng với nó, hãnh diện vì nó. Ông bố cũng vậy, sẵn sàng bỏ rượu, bỏ thuốc lá… vì con theo lời khuyên của bác sĩ. Vợ chồng trở nên dịu dàng trong lời ăn tiếng nói để con không bị vấy bẩn tâm hồn ngay còn trong trứng nước. Đây là một thứ tình thương không bờ bến, hoàn toàn vô điều kiện. Có phải là “Từ” đó chăng?

Rồi khi con bi bô, chạy nhảy chơi đùa, u đầu sứt trán, tróc vảy trầy da, ông bố bà mẹ nào cũng đau cái đau của con, đau còn hơn con, muốn đau thay cho con mà không được! Dĩ nhiên, không phải là lòng thương hại. Quan tâm, chăm sóc, làm giảm đau, và… không quên dạy dỗ con biết phòng tránh sau này Có phải là “Bi” đó chăng?

Rồi con lớn lên, đi học, lớp này lớp khác, đạt thành tích này thành tích khác trong học tập, thể thao, văn nghệ, bố mẹ nào chẳng hân hoan sung sướng nhìn con, chia sẻ cùng con nỗi mừng vui, không hề có chút lòng ganh tị! Vui cái vui của con như của chính mình, còn hơn cả của chính mình. Có phải là “Hỷ” đó chăng?

Rồi khi con lớn khôn, ra trường, có sự nghiệp, có gia đình riêng, hạnh phúc riêng, người làm cha mẹ nào cũng cảm nhận được sự bình an, hạnh phúc, thấy mình đã làm hết những gì cần làm cho con, cũng ý thức được giới hạn của mình từ đây. Dĩ nhiên, vẫn tiếp tục giúp đỡ với tấm lòng rộng mở. Có phải là “Xả” đó chăng?

Từ - Bi - Hỷ - Xả chính là cách mà cha mẹ đã dành cho con cái suốt cả cuộc đời đó vậy.

 

Đỗ Hồng Ngọc

Hồng Anh sưu tầm

Xem thêm...

Thiên nghi và thời hoàng kim của thiên văn học cổ đại

Thiên nghi và thời hoàng kim

của thiên văn học cổ đại

 

*¸.✬*´´☽*.*´´☽*¸.*´´☽*.*´´☽

 

 

Một trong những công cụ thiên văn học đầu tiên chính là thiên nghi. Nó có khả năng mô tả sự chuyển động của các vì tinh tú trên bầu trời một cách chính xác, có thể biểu diễn cả kinh độ và vĩ độ cũng như các đặc điểm thiên văn khác như đường hoàng đạo…

Thiên văn học là một môn khoa học tự nhiên nghiên cứu các vật thể và hiện tượng huyền bí. Thiên văn học có bao hàm rất nhiều ngành khoa học khác như vật lý, toán học, hóa học, tất cả là nhằm mục đích giải thích cặn kẽ, thấu đáo nguồn gốc các hiện tượng, sự vật cũng như quá trình diễn hóa của chúng. Đối tượng nghiên cứu của thiên văn học bao hàm các hành tinh, mặt trăng, sao, thiên hà, và sao chổi. Các hiện tượng thiên văn học nghiên cứu còn bao gồm cả các vụ nổ siêu tân tinh, tia gamma, và bức xạ vi sóng vũ trụ. Thông thường, các hiện tượng bắt nguồn từ bên ngoài khí quyển trái đất là phạm vi nghiên cứu của thiên văn học.

Ảnh chụp tinh vân của NASA. (Ảnh qua Wikipedia)

Thiên văn học có thể nói là ngành khoa học tự nhiên lâu đời nhất. Các nền văn minh sớm nhất được ghi chép lại trong lịch sử nhân loại như văn minh Babylon, Hy Lạp, Ấn Độ, Ai Cập, Nubi, Iran, Trung Hoa và Maya đều có nhắc tới các phương pháp quan sát bầu trời đêm. Trong lịch sử, thiên văn học bao hàm nhiều phương pháp phong phú như thuật đo sao, thiên văn hàng hải, thiên văn quan sát, làm lịch…

Thiên nghi

Một trong những công cụ thiên văn học đầu tiên chính là thiên nghi.

Thiên nghi. (Ảnh qua Google Art & Culture)

Bức ảnh phía trên là một trong những thiên nghi lâu đời nhất còn lưu giữ. Quả cầu vàng nạm ngọc trai bao gồm ba phần, phần đế, khung và thân quả cầu. Các viên ngọc trai trên quả cầu tượng trưng cho hai tám cung hoàng đạo như trong truyền thống Trung Hoa, ngoài ra còn có 300 chòm sao, và hơn 2.200 ngôi sao. Theo thiên văn học cổ Trung Hoa, các chòm sao được chia ra làm ba Viên gồm Tử Vi Viên, Thái Thi Viên, và Thiên Thị viên. Giữa đế thiên nghi này có la bàn. Đây là một tuyệt tác của thiên văn học cổ đại.

Thiên nghi đã trở thành một trong những biểu tượng của thiên văn. Nó là mô hình mô tả các vật thể trên bầu trời, gồm các đường khung hình cầu, trung tâm là mặt trời và trái đất, có biểu diễn cả kinh độ và vĩ độ cũng như các đặc điểm thiên văn khác như đường hoàng đạo.

Thiên nghi cũng không phải chỉ do một dân tộc sáng tạo ra. Nghiên cứu lịch sử ra đời và phát triển của thiên nghi có thể thấy nó là phát minh riêng rẽ của người Hy Lạp và Trung Hoa cổ đại. Thậm chí thiên nghi còn xuất hiện trong cả thế giới Hồi giáo và châu Âu thời Trung Cổ.

Quốc kỳ Bồ Đào Nha cũng có thể hiện thiên nghi cách điệu. (Ảnh qua Wikipedia)

Quốc kỳ của Bồ Đào Nha cũng có thể hiện thiên nghi cách điệu. Thậm chí, hình tượng thiên nghi cũng xuất hiện trên huy hiệu của nước này, gắn liền với các khám phá của Bồ Đào Nha trong Thời đại thám hiểm (thời đại mà người châu Âu khám phá thế giới từ thế kỷ 15 tới thế kỷ 17).

 Thiên nghi trong văn hóa Trung Hoa

Trong lịch sử Trung hoa, các nhà thiên văn học đã chế tạo ra thiên nghi để hỗ trợ việc quan sát các vì tinh tú. Người Trung Quốc cũng sử dụng thiên nghi trong việc lập và tính toán lịch.

Theo Needham, thiên nghi được người Trung Quốc phát minh ra sớm nhất nhờ hai nhà thiên văn học là Thạch Thân và Cam Đức vào thế kỷ 4 trước Công Nguyên, khi họ tự làm ra được một dụng cụ hình cầu có một vòng dây thép. Thiên nghi thô sơ này giúp họ đo đạc được khoảng cách tới cực Bắc. Tuy nhiên một nhà Hán học người Anh tên là Christopher Cullen lại cho rằng loại công cụ này lần đầu tiên được phát minh ra là vào thế kỷ 1 trước Công Nguyên.

Người Trung Hoa sử dụng thiên nghi trong thiên văn học. (Tranh qua Wikipedia)

Dưới thời Tây Hán (202 TCN – 9 SCN), các nhà thiên văn học Lạc Hạ Hoành, Chi Tiên Ư Vọng, và Cảnh Thọ Xương lại tiếp tục cải tiến thiên nghi. Vào năm 52 TCN, nhà thiên văn học Cảnh Thọ Xương lần đầu tạo ra vòng xích đạo cố định của thiên nghi. Tiếp theo vào thời Đông Hán (23-220 SCN), vào năm 84 TCN, hai nhà thiên văn học là Phó An và Cổ Quỳ đã lắp thêm vòng xích đạo.

Vào năm 125 SCN, nhà thiên văn học, diễn giả, và phát minh nổi tiếng Trương Hành là người đã hoàn thiện thiên nghi với các vòng chân trời và kinh tuyến. Thiên nghi chạy bằng nước đầu tiên trên thế giới là do Trương Hành chế tạo ra, ông đã sử dụng đồng hồ nước để vận hành thiên nghi. Trương Hành cũng là người thống kê 2.500 vì sao trên bầu trời Trung Hoa. Ông đã đưa ra các lý thuyết về mặt trăng và mối liên hệ với mặt trời. Đặc biệt ông đã bàn luận về hình dạng tròn của mặt trăng, và mặt trăng tỏa sáng là nhờ sự phản chiếu ánh mặt trời, cũng như bản chất của hiện tượng nhật thực và nguyệt thực.

Thiên nghi trong văn hóa cổ Hy Lạp

Nhà thiên văn học Hipparchus người Hy Lạp (khoảng hơn 100 năm TCN) tin rằng Eratosthenes (276-194 TCN) là người phát minh ra thiên nghi. Tên gọi của công cụ này trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là vòng tròn, và nó có các khung xương làm bằng các vòng tròn kim loại nối các cực lại với nhau, tượng trưng cho đường xích đạo, hoàng đạo, kinh tuyến và vĩ tuyến.

Thông thường, quả bóng tròn tượng trưng cho trái đất hoặc mặt trời được đặt vào vị trí trung tâm. Nó được sử dụng để mô tả chuyển động của các vì sao xung quay trái đất. Trước khi người châu Âu phát minh ra kính viễn vọng vào thế kỷ 17, thiên nghi là thiết bị cơ bản của tất cả các nhà thiên văn học dùng để xác định vị trí của các vì sao.

Tranh mô tả một người phụ nữ bên cạnh các dụng cụ từ nghệ thuật, âm nhạc, toán học,

điêu khắc cho tới thiên văn học. (Tranh qua Wikipedia)

Khi còn ở dạng thô sơ nhất, bao gồm một vòng tròn cố định trong đường hoàng đạo, thì thiên nghi là một trong những dụng cụ thiên văn cổ đại nhất. Trong quá trình phát triển dần dần, nó xuất hiện thêm các vòng tròn cố định khác mô tả đường kinh tuyến. Vòng đầu tiên là đường phân, vòng thứ hai là điểm chí. Các bóng hình vòng tròn được sử dụng làm kim chỉ vị trí của mặt trời, kết hợp với các góc chia. Nhiều vòng tròn được kết hợp lại với nhau tượng trưng cho quy luật vận hành của vũ trụ, và nó được gọi là thiên nghi.

Có lẽ Eratosthenes đã sử dụng thiên nghi đông chí để đo độ chéo của đường hoàng đạo. Hipparchus có lẽ đã sử dụng một thiên nghi bốn vòng. Ptolemy mô tả công cụ của mình trong cuốn Syntaxis.

Thiên nghi do người Hy Lạp chế tạo và được sử dụng làm giáo cụ ngay từ thế kỷ thứ 3 TCN. Khi trở nên chính xác và to hơn, thì nó được sử dụng làm công cụ quan sát.

Châu Âu và Hồi giáo thời Trung Cổ

Các nhà thiên văn học người Ba Tư và Ả rập đã chế tạo phiên bản nâng cấp thiên nghi của người Hy Lạp vào thế kỷ thứ 8, được ghi lại trong Luận thuyết Dhat al-Halaq hay Dụng cụ với các vòng tròn của nhà thiên văn học người Ba Tư tên là Fazari.

Abbas Ibn Firnas được cho là đã chế tạo ra một dụng cụ với các vòng nhẫn khác (thiên nghi) vào thế kỷ thứ 9, thiên nghi này được trao cho vua Caliph Muhamad (trị vì từ năm 852-886).

Thiên Nghi. (Tranh qua Wikipedia)

Đo độ hình cầu, một biến thể của đo độ và thiên nghi được phát minh vào thời Hồi giáo Trung Cổ. Những tài liệu lâu nhất mô tả thiên nghi là vào thời của nhà thiên văn học người Ba Tư, tên là Nayrizi (892-902).

Các nhà thiên văn học người Hồi giáo cũng tự phát minh ra quả cầu thiên văn để giải quyết các vấn đề trong thiên văn. Ngày nay, toàn thế giới còn lại 126 dụng cụ tương tự, cái cổ nhất là vào thế kỷ 11. Độ cao của mặt trời, sự chuyển động của các vì sao được tính toàn bằng cách chỉnh vị trí quan sát trên vòng tròn kinh tuyến trên quả cầu.

Các chòm sao trên bầu trời được ghi lại. (Tranh qua Wikipedia)

Thiên nghi xuất hiện trở lại ở Tây Âu thông qua Al-Andalus vào cuối thế kỷ 10 nhờ nỗ lực của Gerbert d’Aurillac, Giáo hoàng Sylvester II (999-1003). Giáo hoàng Sylvester II đã ứng dụng các ống nhìn trong thiên nghi để định vị vị trí của sao Bắc Đẩu và ghi lại các đo đạc về đường chí tuyến và xích đạo.

 Thời kỳ Phục Hưng

Những cải tiến tiếp theo cho loại công cụ này được Tycho Brahe (1546-1601) thực hiện, thiên nghi nâng đã được chuyển thành thiết bị đo độ cao thiên thể được mô tả trong tác phẩm về thiên văn của ông.

Bức tranh vẽ một học giả cầm thiên nghi. (Tranh qua Wikipedia)

Thiên nghi là một trong các công cụ cơ khí đầu tiên và phức tạp nhất. Sự phát triển của nó đã đem lại nhiều tiến bộ về kỹ thuật cũng như trong việc thiết kế các dụng cụ cơ khí. Các nhà khoa học thời kỳ Phục Hưng và các nhân vật quan trọng thường hay thuê vẽ chân dung. Trong bức họa, họ thường hay cầm một quả cầu thiên nghi, biểu trưng cho trí tuệ và tri thức của mình.

Mặc dù ngày nay, nhờ kính thiên văn, các vệ tinh và các phần mềm kỹ thuật số chính xác, các nhà thiên văn học không còn phải dựa vào thiên nghi để tính toán vị trí các ngôi sao. Tuy nhiên khi ngắm nhìn những tuyệt tác thiên nghi ấy, người ta không khỏi thán phục trí tuệ của người cổ đại.

 

Kim Quy sưu tầm

Đài thiên văn lớn của Châu Âu quang học và hồng ngoại E-ELT

xây dựng ở khu vực có độ cao 3.046 m thuộc Cerro Amazones ở Chile.

Xem thêm...

Thuốc Phiện - Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức

Thuốc Phiện

 Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức

Thuốc  Phiện là một chất lấy ra từ vỏ đã khô của cây Anh Túc (Papaver sommniferum) mọc hoang ở Ấn Độ.Bằng cách nào mà chất này tác dụng lên thân thể và trí óc đều tùy thuộc vào thành phần của hơn 20 loại chất kiềm như morphine, codeine , nicotine và papaverine. Trong số những chất kiềm này thì một số có tác dụng làm con người trầm buồn, một số khác lại kích thích. Nhưng có điều chắc chắn rằng thuốc phiện gây nghiện.

Cây thuốc phiện

Từ bùa yêu thuốc lú tới cồn thuốc phiện.

Thuốc phiện đã được dùng từ thuở xa xưa như một dược phẩm hoặc thuốc giải trí. Sử sách từ cả ngàn năm về trước chứng minh điều này. Các dược sĩ từ thời cổ Ai Cập và Ba Tư đều bán thuốc phiện. Thuốc phiện cũng rất quan trọng trong y học La Mã và cổ Hy Lạp. Và nếu nhà thi sĩ Homer tin như vậy thì chính nàng Helen của thành Troy cũng dùng thuốc này để giải sầu.

Vào thế kỷ thứ 16, thuốc phiện rất thịnh hành trong y học tây phương. Nhà y học, triết gia Thụy Sĩ Paracelsus

thời cổ xưa gọi thuốc phiện là “tảng đá bất tử” trong khi đó y sĩ người Hà Lan Franz de la Boe quả quyết rằng ông ta không thể hành nghề nếu không có thuốc phiện. Ngay cả văn hào Shakespeare cũng nói về thuốc phiện đại khái như sau “không là cây thuốc phiện hoặc cây khoai ma thường dùng làm thuốc ngủ, chẳng phải những thuốc gây ngây ngất trên thế giới, mà cũng chẳng phải thuốc ngủ”

Vào giữa thế kỷ thứ 17, danh y Anh Quốc Hippocrates cũng như Thomas Sydenham pha thuốc phiện trong rượu cồn để làm một hỗn hợp gọi là ‘cồn thuốc phiện’. Hỗn hợp này rất phổ biến với mọi giới và mặc dù sự gây nghiện được biết rõ nhưng ít người để ý tới.

Cây Anh Túc (Cây thuốc phiện)

 

Nói về Thuốc Phiện 

Vào thế kỷ thứ 19, cuộc chiến tranh nha phiến là một phần lớn của nền thương mại Anh quốc. Trong năm 1827, khoảng 7750 kg thuốc phiện được nhập cảng qua ngả chính là Thổ Nhĩ Kỳ nhưng tới năm 1859, số này đã tăng gấp bốn lần. Thuốc phiện được bán không phải từ dược phòng mà còn từ những người đóng giầy , công nhân xí nghiệp, thợ may và ngươi thu tiền nợ.  Những trường hợp trong đó thuốc phiện được dùng gồm có tiêu chảy, kiết lỵ,  nhức răng, đầy hơi và mãn kinh.

Thị trường xuất cảng thuốc phiện ngày một phát triển. Công ty East India đang trồng cây thuốc phiện ở Bengadesh cũng nhập cảng lậu chất ‘Yên sĩ phi lý thuần” vào Trung quốc để đổi lấy kim loại bạc mà  trả cho trà và lụa. Dịch vụ buôn bán thuốc phiện này tăng từ 400 thùng mỗi năm vào giữa thế kỷ 18 cho tới 100 lần số lượng đó vào năm 1893.

Trung Quốc rất e ngại về những nguy hại của thuốc phiện đặc biệt là sự cạn kiệt nguồn kim loại bạc đang dự trữ. Triển vọng mở rộng cửa buôn bán thuốc phiện cho dân lại gặp trở ngại là Anh Quốc sẽ  gia tăng bán thuốc phiện.. Trung Quốc cưỡng lại và có một cuộc ruồng bắt những người bán chất “yên sĩ phi lý thuần” này. Vì vậy chính vị Thống Đốc Lin đã chứng kiến một cuộc thiêu đốt hơn 20,000 thùng thuốc phiện ở Quảng Đông.

Hậu quả  của mọi sự là hai cuộc chiến mà dân chúng Trung Quốc và nhiều quốc gia khác không thể nào quên được về sự xâm lăng trắng trợn của quân Anh chỉ vì thuốc phiện. Sau  chiến tranh nha phiến lần thứ nhất, Trung Quốc mất Hồng Kông và năm hải cảng phải mở cửa cho các nước ra vào buôn bán. Rồi tới cuộc chiến tranh nha phiến lần thứ hai(1857-1860) liên quân Anh-Pháp cùng tấn công khiến Trung Quốc mất chủ quyền và hợp thức hóa việc buôn bán thuốc phiện.

 

Thiên đường thuốc phiện

Trong khi đó ở Anh Quốc, thuốc phiện trở thành món giải trí lành mạnh của các văn thi sĩ. Những tác phẩm của Sammuel Taylor  Coleridge như Kubla Khan được coi là đã hoàn thành trong một cơn mơ do thuốc phiện. Và vào năm 1822, Thomas de Quicey đã có vai trò quan trọng trong văn chương nhờ tác phẩm Confessions of an English Opium Eater. 

Các nhân vật quan trọng trong xã hội cũng tự xả láng trong việc xử dụng thuốc phiện. Người hùng  Trung tướng Nam Tước Robert Clive mãn phần năm 1774 vì kinh phong do dùng một lượng thuốc phiện gấp đôi lượng thường dùng .Hoàng Đế George IV từng được cho dùng thuốc phiện để ngủ. Thống Chế Công Tước  Arthur Wellesley dùng cồn  thuốc phiện để giảm căng thẳng sau một ngày say xỉn. Và năm 1866, bà Florence Nightingale [1820-1910] , một phụ nữ giầu có chuyên về chăm sóc người bệnh than thở :không có gì làm tôi cảm thấy sảng khoái bằng đưa thuốc phiện vào dưới da của tôi.

Tại Hoa Kỳ, nhập cảng thuốc phiện nguyên chất gia tăng kể từ ngày Civil War.Trong những năm từ 1898 tới 1902,  trong khi dân số chỉ tăng có 10% thì số thuốc phiện tăng 500% và morphine tới 600%. Hầu hết đều được dùng trong y khoa kể cả thuốc xoa dịu trẻ em. Vì thế cho nên tới năm 1900, có tới 25,000 dân chúng Hoa Kỳ nghiện chất yên sĩ phi lý thuần này.

Bắt đầu kiểm soát

Suốt thế kỷ thứ 19, sự lo ngại về thuốc phiện gia tăng. Vào năm 1803, một phụ tá dược sĩ người Đức Friedrich Serturner cho hay có một loại thuốc phiện có thể làm bớt đau nhưng cần phải ở nồng độ vừa đủ. Dùng dung dịch ammoniac anh ta phân tách nhiều thành phần khác nhau của dược phẩm và đặt tên là morphine. Morphine đến từ thần thoại cổ Hy Lạp Morpheus, nữ thần của mộng mơ và ngủ nghê.

Các khám phá này, dù có nhiều ích lợi trong y khoa nhưng đưa tới lạm dụng morphine và codeine nhất là sự có sẵn của kim chích dưới da.Tới năm 1898, hai chất chiết của thuốc phiện được  thêm vào danh sách. Công ty dược phẩm E. Merck của nước Đức sản xuất dược phẩm bán tổng hợp Dionin,một loại morphine mà ngày nay thường dùng làm thuốc giảm ho và công ty Bayer rất hân hoan đón nhận chất Heroin (diacetylmorphine)là chất mà họ cho là có thể giảm đau và rất an toàn.

Vào năm 1860, nước Anh là quốc gia đầu tiên ban hành một đạo luật với mục đích kiểm soát những chất mới này. Tại Hoa Kỳ, hầu hết sự lo sợ thuốc phiện bắt nguồn từ việc kỳ thị nhóm dân trung Hoa ở miền Tây Hoa Kỳ. Đã có rất nhiều lời kêu gọi kiểm soát thuốc phiện ( ám chỉ người Trung Hoa) và cấm dùng và nhập cảng thuốc phiện vào năm 1909.

Mặc dù các nhà bào chế dược phẩm vận động mạnh mẽ , năm 1906 cơ quan Thực Dược Phẩm thuần túy  Hoa Kỳ phải trả tiền để cấm bày bán tự do các loại dược phẩm   gây nghiền. Mãi tới năm 1914 đạo luật Harrison Narcotic Act cho phép chính phủ Hoa Kỳ kiểm soát việc bán thuốc phiện.Rồi tới năm 1938,có tới 25,000 bác sĩ bị ra  tòa vì dùng thuốc cấm và 3000 vị “được” đưa vào nhà pha.

 

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Hồng Anh sưu tầm

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này