Chuyện Cũ..Có Thể Nào Quên..? Nguyễn Ngọc Ngạn

30- 4- 1975  *  30- 4- 2019

Chuyện Cũ... Có Thể Nào Quên...?

Nguyễn Ngọc Ngạn

 

 

Ðời người, ai cũng có những kỷ niệm, đau thương hay hạnh phúc. Kỷ niệm đôi khi chỉ thoáng qua, mờ nhạt như áng mây bay ngang bầu trời, để lại chút hình ảnh bâng khuâng. Nhưng cũng có khi hết sức sâu đậm, đến nỗi có thể coi là một biến cố, khả dĩ tạo thành khúc rẽ quan trọng cho cuộc đời. Ðó là trường hợp của tôi với câu chuyện xảy ra hơn 20 năm về trước mà giờ này ngồi ghi lại, tôi vẫn thấy hiển hiện như mới hôm qua...

Ngày ấy, miền Nam vừa đổi chủ được 3 năm, tình hình chính trị còn cực kỳ khắt khe. Tôi ở trại cải tạo, cầm tờ giấy tha vào giữa năm 78, về trình diện Sở Giáo Dục Thành Phố cho đúng thủ tục, dù biết trước sẽ không được thu nhận trở lại nghề cũ. Không có nghề nghiệp biên chế, tôi chỉ được tạm trú 3 tháng tại Sài Gòn để thu xếp đi vùng kinh tế mới. 

Thời gian này, miền Nam đang lên cơn sốt về phong trào vượt biên tìm tự do. Những người ở vào hoàn cảnh của tôi, bị công an khu vực theo dõi thường xuyên thì lại càng nôn nóng kiếm đường bỏ trốn. Những người bạn tù chúng tôi ngày ngày đôn đáo gặp nhau, đề tài chính đem ra bàn bạc chỉ xoay quanh một chuyện duy nhất là vượt biên.

Thời gian trôi qúa nhanh, trong nháy mắt đã hết hạn tạm trú, tôi trở thành kẻ sống lậu không hộ khẩu tại thành phố. Giữa lúc lao đao tuyệt vọng, không biết ngày nào bất ngờ bị bắt lại, thì một hôm em trai tôi giới thiệu cho tôi một đầu cầu qúy giá: đó là ông Ân, một người đàn ông trí thức, tuổi vừa 50, tính tình hiền hoà và đứng đắn.

Ông là nhân viên lâu đời của cơ quan viện trợ Hoa Kỳ trước 75, đồng thời góp phần chuyển âm Anh-Pháp cho hãng phim Cosunam ở Sài Gòn. Vì làm ăn chung với em tôi từ sau 75, nên ông có lòng tốt rủ em tôi cùng đi với ông trong chuyến vượt biển bán chính thức vốn dành riêng cho người Hoa đang rầm rộ đăng ký lúc đọ Thông cảm hoàn cảnh bấp bênh của tôi,em tôi giới thiệu tôi với ông, để xem ông có giúp gì được tôi chăng? Ði bán chính thức lúc ấy đắt tiền lắm, vì đang là những đợt đầụ Có người nộp tới 12 hoặc 14 cây vàng, vì phải qua nhiều trung gian. Còn gía trung bình thì ít ra cũng phải 10 lượng một ngườị Tôi mới ở tù ra, làm gì có số tiền khổng lồ ấy!

Bà xã tôi bận con nhỏ - khi tôi đi tù thì cháu mới hơn 1 tuổi - cho nên chỉ buôn bán vớ vẩn, đủ nuôi con và tiếp tế cho chồng là giỏi lắm rồị Số vốn ít ỏi của vợ tôi lại cứ vơi dần sau mấy chuyến đi chui bất thành. Con đường bán chính thức mua vé bằng cả chục lượng vàng, là điều vượt qúa sự kỳ vọng của tôi, trừ khi có một phép lạ! Vậy mà phép lạ dường như đang xảy đến!

Hôm ấy, một buổi tối khoảng đầu tháng 11, gia đình em tôi đưa tôi lại quán bò bảy món Duyên Mai bên Chi Lăng, để gặp ông Ân lần đầu tiên. Tôi lúc này đang trốn chui trốn nhủi vì đã hết hạn nộp hộ khẩu từ lâu, phải xoay đủ mọi thứ giấy tờ lao động để qua mặt công an khu vực, nấn ná lưu lại thành phố được ngày nào hay ngày nấy.

Trước năm 75, tôi có dạy một ít giờ tại 2 trường tư thục Công giáo là trung học Quang Minh ở nhà thờ Vinh Sơn đường Trần Quốc Toản, và trung học Saint Thomas trên đường Trương Minh Giảng. Khi tôi ở trại cải tạo về, công an có gọi tôi ra và thẩm vấn về quan hệ của tôi với hai vị linh mục này. Có thể đó chỉ là những câu hỏi thủ tục về lý lịch, nhưng cũng làm tôi hết sức lo sợ, bởi xã hội không có luật pháp rõ ràng. Một khi công an nghi ngờ, thì sớm muộn gì cũng vào tù. Bởi vậy, tôi càng nôn nóng muốn trốn đi.

Tối hôm ấy, gặp ông Ân ở nhà hàng, tôi bàng hoàng xúc động khi ông cho biết ông sẵn lòng đóng tiền cho vợ chồng tôi đi cùng chuyến với ông và em tôi. Nghĩa là ông cho tôi vay 20 lượng vàng, qua Mỹ đi làm trả lại. Vợ chồng tôi chỉ cần góp 5 lượng cho đứa con mà thôi! Tôi như người đi trên mây, buồn ngủ gặp chiếu manh, không ngờ đời mình có lúc gặp qúi nhân dễ dàng như thế này!

Dĩ nhiên, qua trung gian em trai tôi, ông Ân mới dám tin là tôi sẽ trả ông sau khi đến Hoa Kỳ. Nhưng dù sao đi nữa, việc ông giúp một người xa lạ như tôi, trong hoàn cảnh này, phải coi là một phép lạ mà tôi không mường tượng trước được, nhất là ở thời kỳ gạo châu củi quế năm 78. Bà Ân ngồi cạnh chồng chỉ cười hiền hoà không có ý kiến gì. Lúc đó bà 39 tuổi, thua chồng hơn 10 tuổi. Sáu đứa con, đứa nào cũng xinh xắn và ngoan hiền. Sau đó, tôi còn được biết thêm. Ông Ân cho tới 18 người vay tiền đi, tổng cộng là gần 200 lượng vàng!

Những ngày hồi hộp trôi qua rất chậm, tôi nôn nóng chỉ sợ chuyện bất trắc xẩy ra trước khi lên đường. Tôi vẫn hăng hái tham gia công tác thủy lợi tại địa phương, hoặc tự nguyện dạy lớp bổ túc văn hóa ban đêm trong tổ dân phố, để tránh sự chú ý của công an khu vực. Song song với những việc đó, tôi âm thầm mua giấy tờ, lấy tên giả, học nói dăm câu tiếng Hoa, và cuối cùng ra đi vào một ngày cuối năm khi sóng biển đang gầm thét dữ dội ngoài khơi.

Khi những chiếc ghe nhỏ đưa người ra thuyền lớn ở Kiến Hòa, thì một chuyện bất ngờ xảy ra: công an cùng với chủ ghe đọc danh sách lên tầu, và quyết định bỏ lại 17 người đã đóng tiền, trong đó có toàn bộ gia đình em trai tôi gồm 4 người. Em trai tôi là người giới thiệu tôi đi, vậy mà phút chót lại bị ở lại! Tôi lên tầu, hết sức hoang mang, ngờ ngợ linh cảm trước là sẽ có chuyện chẳng lành trên cuộc hành trình đầy sóng gió sắp tới. Tầu đi bán chính thức chỉ được một lợi thế là không sợ bị bắt ở bến hẹn, nhưng luôn luôn chở qúa trọng tải, có chuyến vừa ra tới cửa biển đã chìm.

 

 Chiếc thuyền gỗ tôi đi nom rất mong manh, mà chủ tầu và công an chất lên tới hơn 300 người, cố nhét càng nhiều càng tốt để thu vàng tối đa. Họ gạch tên bỏ lại 17 người, để thay vào bằng những hành khách khác bằng lòng nộp nhiều vàng hơn. Ðây là loại tầu đánh cá có hầm chứa nước đá để ướp cá, bây giờ được dọn sạch để đưa người vượt biển. Hơn 100 nguời đàn ông chúng tôi bị dồn xuống hầm, cấm không được leo lên, và chỉ có mỗi cái cửa vuông ở giữa tầu để ngày ngày bên trên ném thức ăn xuống.

Ðàn bà con nít thì được ngồi ở tầng trên cùng với thân nhân của chủ tầu và tài công. Có nghĩa là từ lúc bước chân xuống tầu, tôi không được liên lạc với vợ con nữa. Tôi không biết, trong số hơn 100 người đàn ông ngồi dưới hầm tầu, có bao nhiêu người Việt; chỉ nghe tiếng chuyện vãn chung quanh toàn là tiếng Hoa. Ông Ân với 3 cậu con trai tuổi từ 14 tới 18, ngồi dưới hầm bên cạnh tôi. Vợ ông cùng cô con gái đầu lòng 19 tuổi, đứa áp út 13 và đứa con út 3 tuổi ở trên boong cùng với vợ con tôi .

Vì là người Việt, không dám tranh cãi với đại đa số người Hoa, chúng tôi bị dồn vào cuối hầm tầu, ngồi chịu trận tại chỗ, nước lúc nào cũng ngập từ thắt lưng trở xuống, và có khi lên tới ngực. Thức ăn cũng ít khi đến lượt mình, vì những người ngồi gần cửa lấy hết, lâu lâu mới quẳng vô phía chúng tôi cái bánh tét hay ổ bánh mì đã cứng như thanh củị Tuy vậy, ai cũng tự an ủi là cuộc hành trình sẽ không lâu, cố gắng chịu đựng vài ngày là tới bến, tha hồ thong dong.

Sang đến ngày thứ tư, rồi thứ năm, tất cả đều mệt mỏi vì con thuyền nhỏ bị sóng nhồi liên tục. Nước biển rỉ vào hầm tầu mỗi lúc một nhiều hơn, mà chẳng ai buồn múc từng thùng đổ ra ngoài như hai hôm đầu. Chỗ tôi ngồi càng ngày càng thê thảm hơn. Nước ngập tới ngực, mà rác rến lại nổi lềnh bềnh chung quanh, Lá bánh chưng bánh tét, vỏ quít, vỏ bưởi cùng các thứ linh tinh không tên, trôi vật vờ, chẳng ai thèm vớt mà đem quăng xuống biển.

Vì quá chật chội, di chuyển rất khó khăn, nên ai cũng ngồi lì tại chỗ, đứng lên không nổi, đi tiểu luôn chỗ mình ngồi cho tiện. Trong hầm tầu, chúng tôi mất hết ý niệm thời gian, không ngày hay đêm, cũng chẳng biết tầu đang chạy hay đứng tại chỗ.

Ðến ngày thứ năm, vì nóng bức qúa, có người ngộp thở ngất xỉu dưới hầm, tài công mới cho khoét một cái lỗ vuông mỗi bề hơn một gang tay ngay trên đầu tôi, nghĩa là phía dưới tầu, để lấy không khí từ trên lùa xuống cho hơn 100 người phía dướị Vị ân nhân của tôi, ông Ân và các con, lúc đầu còn nói chuyện với tôi, sau mệt qúa, ai cũng nhắm mắt dựa vào nhau mà sống cho qua cuộc hành trình dài lê thê.

Bước sang ngày thứ bảy, buổi sáng tinh mơ, chắc chưa đến 6 giờ, tôi đang thiu thiu ngủ, thì nghe có tiếng gọi nhỏ:

- Anh Ngạn, Anh Ngạn ơi!

Tôi giật mình ngơ ngác ngước nhìn lên, thì thấy bà xã tôi thò mặt qua cái lô thông hơi để tìm tôi. Tôi không nhận ra mặt vợ tôi vì trời còn tối thẳm, nhưng nhờ giọng nói tôi biết vợ tôi cần gặp tôi có chuyện khẩn cấp. Tôi hồi hộp tìm cách đứng dậỵ Tàu chật ních, lại thêm đã gần một tuần ngồi một chỗ, hai chân tê cứng dưới lớp nước mặn, tôi loanh quanh khá lâu mới đứng lên được. May cho tôi là quanh tôi mọi người còn đang ngủ cả. Chứ nếu họ thức thì tôi khó lòng di chuyển, vì họ sẽ lôi lại và dí đầu tôi bắt ngồi xuống. Bà xã tôi giục nho nhỏ:

- Lên đi anh! Lên đại đi! Chui lỗ thông hơi này lên đi!

Tôi lo lắng nhìn quanh. Lúc ấy tôi còn gầy yếu lắm. Thời gian ở trại cải tạo bị sốt rét nặng, kéo dài 21 ngày, bước đi phải nhờ người vịn, bạn bè cùng tổ cứ tưởng tôi là sắp phải đem tôi đi chôn trên đồi tranh ở Bù Gia Mập. Giờ này vượt biển, tôi vẫn chưa lại sức, mới chỉ lên cân được chút ít. Nhà tôi lại bảo:

- Ðêm qua bão lớn. Cái áo của con bị rách tung rồi bay mất. Nó phải cởi trần cả đêm lạnh tím cả ngườị Anh lên một chút đi!

Nghe nhắc đến đứa con hơn 4 tuổi, tôi vùng đứng lên, bước đại qua vào người đang ngồi ngủ, rồi chui liền lên, cái lỗ nhỏ, phải lách người khó khăn, làm trầy sứt cả hai vai, nhưng tôi không có cảm giác gì lúc đó. Từ hôm lên tầu, tôi vẫn mặc cái jacket nylon của Không Quân ngày trước và chiếc quần tây màu vàng đục.

Lúc ngồi, dĩ nhiên phải cởi hết nút quần, kéo fermeture xuống cho thoải mái. Bâygiờ đứng dậy, vội vã dùng hai tay đu lên khỏi hầm tầu, có người nào đó đã nắm ống quần tôi kéo lại, làm tôi chỉ còn mỗi cái quần đùi khi lên tới tầng trên. Trời mưa không nặng hạt lắm, nhưng gió biển thổi phần phật trong không gian mờ tối. Tôi cúi xuống ôm đứa con đang run cằm cặp. Nhà tôi ưu tư bảo:

- Tầu sắp đắm mất, anh ạ!

Tôi đảo mắt nhìn quanh sau sáu ngày bảy đêm chui trong bóng tối dưới hầm. Chỉ một phút sau, tôi nhận ra ngay là mình sắp chết! Vợ tôi nói đúng. Là bởi vì, khi ở dưới hầm, tôi cứ tưởng tầu đang chạỵ Hóa ra tầu bị bỏ neo đậu tại chỗ suốt cả đêm rồi, mặc cho gió mưa và sóng dữ cuối năm vùi dập.

Tuy cùng ở trên tầu, nhưng những tin tức bên trên không được thông báo cho người dưới hầm biết, sợ gây cảnh náo loạn, dẵm đạp lên nhau. Bởi vậy, tôi hoàn toàn không biết gì cả, cho đến bây giờ leo lên mới thấy kinh hoàng, Tôi nhìn lại phía buồng máy. Một cảnh tượng hãi hùng và thê lương: không có tài công, không có người phụ máy.

Chiếc tầu không người lái cứ bập bềnh nghiêng ngửa theo từng đợt sóng khổng lồ đưa vào, đẩy ra, phó mặc sinh mạng mấy trăm người cho đại dương. Với sức sóng như thế này, tôi biết chắc tầu sắp vơ. Ðàn bà con nít, nguời đứng người ngồi lố nhố, quên cả cái ướt lạnh, nhớn nhác hỏi nhau, không biết phải làm gì trong hoàn cảnh tuyệt vọng nàỵ Bà xã tôi bảo:

- Tài công bỏ tầu từ nửa đêm rồi!

Bấy giờ tôi mới hiểu đầu đuôi câu chuyện. Ðêm qua, khi thuyền chúng tôi vào còn cách bờ Mã Lai khoảng nửa cây số, thì có tầu cảnh sát Mã Lai ra đuổi. Rồi họ dựng mấy cây đại liên và đèn pha trên bờ bắn ra xối xa. Mười mấy người tài công cùng với thân nhân chủ ghe đeo phao nhảy xuống bơi vào, nói là để điều đình rồi sẽ ra đưa tầu vô.

Nhưng rồi họ đi luôn, không ai trở lại! Người ngoài khơi cứ đợị Người đã lên bờ thì bỏ mặc. Ðàn bà con nít trên boong không ai biết lái tầụ. Hơn 100 người ngồi dưới hầm thì tưởng tầu vẫn đang chạy bình thường! Tôi biết mình sắp chết, nhưng cố làm ra vẻ bình tĩnh bảo con tôi:

- Con ơi! Ðằng nào tầu cũng sắp chìm. Bây giờ con ôm lấy cổ ba, để ba nhảy xuống biển khơi, bơi vào...

Tôi không biết bơi. Mà có biết thì cũng không còn sức, bởi bờ ở qúa xa, tôi cố nhướng mắt nhìn mà chỉ thấy lờ mờ trong mưa. Ðứa con trai hơn 4 tuổi, quấn chiếc khăn quanh người ướt đẫm từ đầu xuống chân, run lẩy bẩy nhìn tôi im lặng gật đầu. Dường như nó cũng linh cảm thấy chuyện chẳng lành sắp đến, cho nên chỉ nhìn tôi chia sẻ. Quanh tôi, có vài cái bình nylon đựng nước ngọt đã uống hết, nằm lăn lóc trên sàn. Tôi nắm bàn tay lạnh ngắt của vợ tôi và bảo:

- Em lấy cái bình nylon, ôm vào người rồi nhảy xuống. May ra sóng đánh vào bờ! Thà nhẩy xuống trước, chứ để tầu vỡ thì khó lòng mà sống được, vì cả trăm người sẽ níu chặt lấy nhau và cùng chết hết!

Vợ tôi nhìn tôi bằng ánh mắt ly biệt, đưa tay làm dấu đọc kinh. Tôi và con trai tôi cũng làm dấu Thánh giá và cầu xin Chúa che chở trong cơn nguy khốn. Tôi vừa đưa cho vợ tôi cái bình nylon, chưa kịp nói gì thêm thì một đợt sóng vĩ đại ấp tới, làm chiếc tầu lật ngang, vỡ tung buồng lái ở tầng trên.

Tiếng người đồng thanh kêu ru lên, bị tiếng gầm của sóng át đi Buồng máy, kính cửa sổ, mui tầu, mái gỗ bọc tôn và bao nhiêu thứ ngổn ngang trên tầu đều rụng hết xuống biển, kéo theo qúa nửa hành khách gồm đàn bà và trẻ em. Tôi té lăn trên sàn tầu trong khối nước mặn khổng lồ vừa ập tới, đôi tay quờ quạng bám víu bất cứ thứ gì để sống còn. Từ giây phút ấy, tôi không còn nhìn lại được vợ tôi lần nào nữa!

Ðứa con tôi cũng vuột khỏi tay tôi và văng xuống biển. Tôi níu được một sợi giây nào đó trên tầu, nên chỉ bị văng mất đôi mắt kính cứ chưa rơi hẳn xuống nước. Nhưng ngay sau đó, tôi chưa kịp hoàn hồn, chưa kịp đứng vững thì lớp sóng khổng lồ vừa đẩy vô bờ, lại rút ra mạnh hơn, làm tầu lật ngang một lần nữa ra phía ngoài, và lần này trên boong tầu không còn sót lại một ai.

Tất cả đều rụng xuống biển. Những lớp ván, lớp kính và những gì chưa vỡ qua đợt sóng trước, lần này tan tành hết. Nhưng đau đớn hơn cả là chiều tầu chìm dần xuống đáy biển mà hầm tầu lại chưa bể, cho nên hơn 100 người đàn ông ngồi với tôi suốt tuần lễ vừa qua, đều chết ngộp hết trong hầm, trong đó có cả cha con ông Ân, người đã đóng tiền cho gia đình tôi đi!

 

Tôi rớt xuống biển, cố gắng vùng vẫy theo bản năng sinh tồn, mặc dầu không biết bơi. Trên mặt biển bao la, sóng nhồi khủng khiếp, tôi thấy từng mảng gỗ thật lớn của ván tầu, rồi thùng phuy, va li, nồi niêu, áo quần, thùng gạo và hàng chục thứ đồ lặt vặt khác trôi nổi theo triền sóng, đôi khi lao vào mặt mình.

Ðàn bà con nít ngụp lên lặn xuống, bán lấy nhau mà cùng chết. Tôi uống no nước, chìm sâu xuống, đụng phải bao nhiêu xác người còn bấu chặt không rời nhau. Tôi nín hơi ngoi lên được một chút để thở, rồi lại bị sóng cuốn đi không định được phương hướng. Là người Công giáo trong lúc lâm chung, tôi cố gắng đọc kinh sám hối để chuẩn bị lìa đời. Ðọc kinh, nhưng không cầm trí tập trung được...

Tôi uất ức lắm, bởi thấy mình chết tức tưởi ở tuổi 32 sau khi đã kình qua bao nhiêu năm gian khổ. Ngày còn trong quân đội, mấy năm tác chiến, tôi đã kề cận tử thần mà tại sao không chết ngay trên chiến trường cho xong?

Tôi nhớ một lần khi ở trại cải tạo Sông Bé, ôi lại bị sốt rét nặng nề đến kiệt sức, tưởng không còn sống nổi tới ngày được tha về. Vậy mà cũng không sao! tôi uất ức tự hỏi tại sao vược iển gần đến nơi thì lại chết? Thế rồi tôi uống no nước, đuối sức không ùng vẫy nổi, đành buông xuôi tay chìm xuống đáy bể, không biết gì nữa!

Khi tôi tỉnh lại trên bờ, thấy mình nằm sấp trên đống xác chết ngổn gang. Nước ộc từ trong bụng ra giúp tôi hồi sinh. Tôi mơ màng tưởng ình đang nằm chiêm baọ. Ðứa con trai 13 tuổi của ông Ân chạy lại lôi ôi dậy và nói:

- Chú Ngạn ơi! Tỉnh dậy! Tỉnh dậy! Ðắm tầu, chú Ngạn ơi!

Tôi ngơ ngác nhìn nó, chưa nhận ra ai bởi qúa đuối sức và vì không có mắt kính. Thằng bé lay tôi và nhắc lại:

- Chú Ngạn ơi! Ðắm tầu! Ba cháu, chị cháu với 3 người anh của cháu chết hết rồi! Vợ chú với con chú cũng chết cả rồi!

Tôi vùng đứng dậy, đưa mắt nhìn quanh. Lính Mã Lai đang quây những gười sống sót vào gốc dừa. Họ cũng như tôi là những người được sóng đẩy vào bờ và may mắn thoát khỏi tử thần.

Nhưng họ không được phép cứu những người bị ngộp nước như tôi. Nếu ược cấp cứu, tôi tin chắc trong đám người nằm kia, ít lắm cũng có cả chục người sống dậy. Lính Mã Lai không cho cứu là bởi vì những kẻ xa lạ và bất nhân ấy dang lột quần áo người chết để lấy vàng và dollars giấu trong gấu quần, gấu áo, cổ áo, vạt áo. Moi của xong, họ lôi xác chết tập trung ại một chỗ chở xe mang đi chôn tập thể.

Tôi từ gốc dừa bò tới, tìm trong đám 97 cái xác, thấy con trai tôi đã chết hẳn. Tôi bế cháu lên và nhận ra ván tầu hoặc ghềnh đá đã đánh vỡ trán con tôi, còn để lại một vệt dài thật rõ. Còn vợ tôi thì sóng biển đánh trôi đi mất, không tìm dược xác!

Mọi chuyện diễn ra chỉ trong chớp nhoáng. Ngoài kia, biển vẫn ầm ầm gào hét, chỉ thấy sóng xô chập chùng, không còn dấu tích gì của chiếc thuyền định mệnh. Hôm sau, từ trại tạm cư, chúng tôi được đưa trở lại bãi biển, thả bộ dọc xuống hướng Thái Lan, tìm thêm được một số xác chết nữa, nhưng cũng không thấy vợ tôi.

Tổng số 161 người chết, chỉ vào bờ được khoảng 100 cái xác, phần còn lại bị sóng đưa đi mất tích. Có hai nhà sư Mã Lai gốc Hoa đem vải và nhang đến làm lễ cầu siêu trước khi lính Mã Lai đem chôn tập thể.

Trên bãi biển Mã Lai dài thăm thẳm tôi dừng chân, ngồi dưới hàng dừa trông ra đại dương, nao nao mường tượng lại chặng đường đã qua. Nhớ những buổi sáng Chúa Nhật vợ tôi lên thăm ở Khu Tiếp Tân trường Bộ Binh Thủ Ðức. Rồi những lần từ thành phố xuống miền Tây chờ tôi ở hậu cứ tiểu đoàn.

Khi sinh con đầu lòng, tôi từ đơn vị hành quân, không kịp thay quân phục, vội vã đón xe về thăm ở bảo sanh viện Ðức Chính trên đường Cao Thắng. Nhớ hơn nữa là những lần vợ tôi gánh quả nặng trĩu đi tiếp tế cho tôi trong trại cải tạo, băng ngang 17 cây số đường rừng từ thị xã Phước Bình vào Bù Gia Mập.

Tất cả đều đã qua đi, chỉ còn lại mặt nước mênh mông xanh thẳm trước mặt, từng cuốn mất bao nhiêu xác người đồng hương trên hành trình tìm tự do!

Vợ tôi mất đi ở tuổi 26, sau những tháng ngày vất vả vì chồng. Lấy tôi khi tôi đã vào quân đội, thường xuyên xa nhà, vợ tôi cũng giống như bao nhiêu người đàn bà khác trong thời khói lửa, chẳng mấy khi được gần chồng.

Khi tôi được biệt phái về lại Bộ Giáo Dục, dạy học tại Sài Gòn, đã tưởng vợ chồng có thể sống đời dân sự yên ổn lâu dài, nào ngờ chỉ hơn một năm sau thì mất nước, bắt đầu cuộc sống mới lao đao gấp bội. Ðoạn đường trầm luân ấy, có ngờ đâu rút cuộc lại kết thúc bi thảm bằng cái chết trên đại dương cùng với đứa con đầu lòng hơn 4 tuổi!

Tôi tin chắc cái chết của vợ tôi đã làm thay đổi hẳn cuộc sống của tôi. Nếu nói theo niềm tin thiêng liêng, thì chính vợ tôi đã cứu tôi vào phút chót, trước khi đắm tầu. Bằng chứng là hơn 100 người đàn ông ngồi chung với tôi dưới hầm tầu đều chết cả vì ngộp nước. Em tôi - người giới thiệu tôi cho ông Ân - nếu đi cùng tôi chuyến ấy, chắc chắn cũng đã bỏ xác trên đại dương.

Nhờ bị bỏ lại, nửa năm sau, em tôi cùng gia đình vượt biển thành công và gặp lại tôi tại Vancouver, Canada vào giữa năm 80. Bà Ân và hai đứa con nhỏ được sóng đánh vào bờ thoát chết, đi định cư ở Texas, tôi vẫn liên lạc cho đến khi trả xong 20 lượng vàng chồng bà cho tôi vay.

Biến cố hãi hùng của chuyến tầu định mệnh làm tôi càng vững tin rằng đời người có sự sắp đặt của định mệnh, hay nói theo đức tin Công giáo, thì đó là sự an bài của Thiên Chúa. Còn đó rồi mất đó! Kiếp người mong manh như chiếc bách giữa dòng, cho nên các cụ ngày xưa thường ví là cuộc phù thế nhân sinh.

Vợ con tôi chết trước mặt tôi. Hơn 160 người chết ngay bên cạnh tôi. Mà một kẻ yếu đuối như tôi lại sống sót! Ðó phải là quyền năng của Thiên Chúa chưa muốn tôi lìa trần. Lúc ngồi trên tầu, ông Ân thường tâm sự với tôi: những ngày gần mất nước, gia đình ông đã có thể đi Mỹ dễ dàng, bởi ông làm việc cho cơ quan viện trợ Hoa Kỳ suốt hai mươi năm.

Nhưng ông thấy mình tuổi đã lớn, muốn ở lại quê nhà khi đất nước hết chiến chinh, nên ông từ khước quyền lợi di tản mà người Mỹ dành cho ông. Ba năm sau, đất nước qúa lầm than, mà chiến tranh vẫn không dứt. Các con ông chuẩn bị bước vào tuổi nghĩa vụ quân sự phục vụ cuộc xâm lăng Kampuchia, thúc đẩy ông phải ra đi. Năm 75 ông từ chối di tản bằng máy bay. Năm 78 ông phải trốn bằng thuyền, để rồi chính bản thân ông cùng với 4 đứa con lớn đều chết cả!

Có thể do những suy nghĩ về cuộc đời sau chuyến hải hành khủng khiếp mà tôi thoát nạn chỉ trong đường tơ kẽ tóc, tôi bắt đầu có những thay đổi lớn trong tâm tư. Tôi trở nên dễ tính, ít chấp nhất và không nuôi lòng thù ghét với bất cứ ai. Tôi tâm nguyện rằng cuộc đời mình, hễ làm được điều gì cho cộng đồng, cho xã hội, cho tha nhân, tôi đều cố gắng để đền đáp lại phép lạ của Chúa đã cứu tôi trên biển.

Những ngày trống vắng ở trại tị nạn Mã lai chờ đi định cư, tôi suy nghĩ nhiều về nửa thế kỷ trầm luân của đất nước, và nhận ra một điều đơn giản rằng: trong xã hội Việt Nam người đàn bà mới chính là thành phần chịu nhiều gian truân nhất, thời chiến tranh cũng như thời hậu chiến.

Cảm thông cái thực tế chua xót ấy, cùng với nỗi nhớ thương người vợ mới mất, tôi bắt đầu viết truyện dài "Những người đàn bà còn ở lại" trong 3 tháng ở trại tạm cư. Cuốn sách đầu tiên ấy, tuy kỹ thuật chưa cao, nhưng chứa đựng nhiều cảm xúc. Nó là bậc thềm thứ nhất, là nấc thang khởi đầu, để rồi từ đó đến nay tôi đã có được gần 30 tác phẩm xuất bản.

Hai mươi năm đã qua, trên mặt báo chí Việt ngữ, tôi chưa hề viết lại những dòng này để mô tả tỉ mỉ cái chết của vợ tôi với đứa con đầu lòng.

Tuy vậy, từ thâm sâu, tôi vẫn tin chắc một điều rằng: chính cái chết của vợ tôi đã mở ra cho tôi một cánh cửa mới tôi chưa hề dự trù trong quá khứ. Ðó là thế giới văn chương mà tôi miệt mài theo đuổi cho đến hôm nay.



Nguyễn Ngọc Ngạn

 Hình minh hoa-Internet

Kim Quy sưu tầm

 

Xem thêm...

Bản Tình Ca Của Một Người Tị Nạn

BẢN TÌNH CA

CỦA MỘT NGƯỜI TỊ NẠN

Tự truyện Nguyễn Văn Luận

 

 

Hai năm sau ngày đất nước chia đôi, từ miền Bắc hoang tàn, tôi lặn lội tới vùng giới tuyến mong vượt thoát vào miền Nam tự do.

Lần tới gần sông Bến Hải, đêm tối âm u bờ Bắc, tôi đã nhìn thấy cầu Hiền Lương vì bờ Nam rực sáng ánh đèn. Trên cột cờ cao vút, bóng cờ vàng sọc đỏ lung linh. Giọng ca ngọt ngào từ loa treo vọng về miền Bắc:

"...sông Bến Hải là nơi chia cắt đôi đường...

hỡi ai... lạc lối... mau quay... về đây ...!"

Loa phát thanh bờ Nam

Tôi đứng đó chơi vơi định hướng, đăm đăm nhìn cờ vàng bên kia bờ sông lịch sử, uống từng lời ca trong cơn đói khát, rồi bừng tỉnh, lao lên phía trước. Từ đâu đó, mấy cái nón cối xông ra. Tôi bị trói hai tay bằng sợi thừng oan nghiệt, theo nón cối về lại địa ngục trần gian.

Mười chín tuổi, lao tù đầy đọa, tôi đã mất mẹ, mất cha, bị qui là tư sản, xa vắng họ hàng vì chia rẽ giai cấp. Tôi mất Hà nội là nơi tôi sinh ra làm người Việt Nam. Không có tang cha khi cha gục xuống, không có tang mẹ khi mẹ xuôi tay, không hy vọng có đám cưới đời mình.

Bạo quyền cộng sản Việt Nam bắn giết hàng trăm ngàn người, bị qui là địa chủ. Nhiều trăm ngàn người bị tập trung lên rừng, để lại vợ con không nhà không đất. Thời gian làm ngưng nước mắt, oán than cũng vô ích, chỉ còn tiếng kêu vang vọng khắp miền: "Chúng tôi muốn sống!"

Hai mươi lăm năm sau (1981) tôi vượt biển, thoát tới Hong Kong. Bốn mươi tư năm từ lúc chào đời, tôi thành người tị nạn cộng sản.

Ngày tiếp kiến phái đoàn Mỹ xin đi định cư, một ông Mỹ dáng nghiêm trang, nghe tôi trả lời, đột nhiên hỏi "Anh có biết nói tiếng Pháp?". Tôi nhìn ông, giọng run run: "L'exilé partout est seul!" (Kẻ lưu đày nơi đâu cũng cô độc).

 

Ông gật đầu hiểu cả tiếng Tây, hiểu lòng tôi đau xót. Xưa tôi học trường Albert Sarraut, Hà Nội.

Đứng bên rào kẽm gai, sau dãy nhà tôn của trại tị nạn Hong Kong, một mình, suy tư thân phận. Tôi sẽ đến nơi xứ lạ là nước Mỹ xa xôi, tìm quê hương mới, chỉ trở về khi đất nước Việt Nam tự do, không còn cộng sản.

Đứa bé chừng 5, 6 tuổi, tung trái banh, toan bắt thì trượt chân trên sân trại. Tôi đã kịp giang tay đỡ cháu khỏi ngã thì người đàn bà chạy tới, đứng im, lặng lẽ nhìn tôi.

Tiếng trẻ thơ kêu "Má", tôi nhìn nàng... Sự thầm lặng và ánh mắt trao nhau là chân tình của người tị nạn Việt Nam nhẫn nhục, khổ đau, nói được nhiều hơn lời nói. Rồi những ngày sau đó, tâm sự, nỗi niềm, tôi đã cùng Mai kết thành bạn đường và bạn đời, đi Mỹ định cư.

Chồng Mai là người lính Cộng Hòa hiên ngang dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, quyết bảo vệ quê hương. Anh tử trận, mang thân đền nợ nước, để lại con thơ. Mai trở thành góa phụ, miền quê Đà Nẵng, cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại. Sau năm 1975, mất nước. Mẹ già khuất núi, con chậm lớn vì cháo loãng, bo bo thay cho sữa mẹ và cơm.

Một đêm mưa bão, Mai bị tên Việt cộng trưởng công an xã cưỡng hiếp, du kích xã canh gác quanh nhà. Mai phải sống vì con mới lên ba, mất cha còn mẹ. Người dân Đà Nẵng ra đi, đã mang theo vợ con người lính chiến tới Hong Kong năm 1981. Đứa con lên sáu không biết tiếng gọi "Ba"!

Tôi mang nặng tủi nhục, đọa đày triền miên từ đất Bắc đi tìm tự do. Mai gánh những thương đau, mất mát, cơ cực của miền Nam, bồng con đi tị nạn. Lấy dĩ vãng chia xẻ cùng nhau, chúng tôi sắp xếp lại hành trang cho bớt gánh đoạn trường, đi Mỹ.

Con đã có Má, có Ba. Má bồng con, Ba xách túi. Con có đồ chơi, cầm chiếc máy bay vẫy chào các chú, hai người lính chiến Quảng Nam đưa tiễn. Tôi nhìn con tự nhủ: "Ba sẽ dạy con tiếng "Cha", chỉ cho con hình người lính Cộng Hòa, ở bất cứ nơi đâu đều là Cha con đó!".

Mai đã nhất định không đi kinh tế mới. Tôi đã trốn công trường, vào tù chịu đựng, bây giờ dù bỏ lại quê hương nhưng còn Tổ quốc Việt Nam. Bốn ngàn năm lịch sử, thăng trầm, người dân nước Việt sẽ không trở thành Cộng sản.

Quê hương mới của chúng tôi là vùng đông bắc nước Mỹ. Căn apartment hai phòng, hai chiếc giường nệm, một chiếc bàn con, đã cho tôi ấn tượng đẹp những ngày đầu tới Mỹ.

Lúc tôi khôn lớn, không có chiếc giường làm nơi cư trú, vì đã thành vô sản. Rồi tôi hiểu, vô sản cũng vẫn còn giai cấp. Phải lên rừng, một miếng nylon bọc vài manh vải gọi là quần áo, thì mới thành "người vô sản chân chính"!

Nhìn con ngon giấc ngủ thần tiên, vợ chồng tôi thao thức, không phải lo âu mà thì thầm những dự định tương lai. 18 tháng welfare trợ cấp, đủ thời gian cho mình đi học tiếng Anh. Đọc dòng thư hội M&RS nhắc trả nửa tiền nợ vé máy bay sang Mỹ "Xin bạn trả dần 12 tháng, giúp cho người sau bạn định cư", theo ý Mai, ý nghĩ nhân hậu của người đàn bà làm mẹ, "mình trả ngay từ tháng thứ hai".

Việc đơn giản là tại sao người ta không khấu trừ vào trợ cấp, lại đòi riêng. Mai chỉ nhẹ nhàng "nợ thì mình trả, ở hiền sẽ gặp lành", nhưng tôi lại suy nghĩ mung lung. Đây là bước đầu thử thách, cái thước đo lòng người tị nạn. 72 đô tiền nợ một tháng, có thể không trả và quên đi. Một lần để lòng vẩn đục sẽ trở thành bất lương. Cha mẹ bất lương con cái sẽ chẳng nên người.

Một sáng mùa Xuân, "bé Nam" gọi Má, gọi Ba, chỉ bông hoa mầu vàng mầu đỏ đung đưa bên vườn hàng xóm, kêu lên "hoa tu-líp". Bà già người Mỹ đứng trên thềm, giơ tay vẫy vẫy. Mai đã nói "Thank you", ngọt ngào, mạnh dạn, tay chỉ trỏ, diễn tả được những gì muốn nói.

Bà Jenny hiểu chút ít về "chiến tranh Việt Nam" qua tivi, sách báo hồi bà còn dạy học. Bà đã thấy "Boat people", những thuyền nhân tị nạn, nhưng lần đầu bà thấy một gia đình người Việt đến vùng này, lại là hàng xóm nên bà có cảm tình. Đây là ứng nghiệm "Ở hiền gặp lành" hay là sự may mắn cho gia đình tôi? Nói thế nào thì cũng đúng vì vài nơi trên đất Mỹ vẫn còn kỳ thị chủng tộc.

Thời gian trôi đi nhưng hai tiếng "lần đầu" lặp lại: lần đầu ra nhà Bank, lần đầu tới Post Office. Có những lần đầu chưa biết, nhưng có hai lần đầu quan trọng: "bé Nam" đi học, chúng tôi xin được việc làm. Bà Jenny cùng chúng tôi đưa "cháu" tới trường, bà cho chiếc mũ baseball và đôi giầy sneaker trắng muốt, khen "Cháu cute." Vợ chồng nhìn nhau, không hiểu, lát nữa về tra tự điển.

"Từ nay chúng mình có Má, bé Nam có Bà...!" Mai thốt lên khi chúng tôi đồng lòng nhận "Má Nuôi". Bà Jenny thành "Má Jen". Chuyện xảy ra vào ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), 17 năm về trước.

Sống một mình trong căn nhà rộng rãi, bà Jenny vốn là cô giáo nên rất yêu trẻ. Bà mời "cả nhà" sang ăn Turkey.

Bé Nam lên bảy, đi học, hiểu nhiều về Thanksgiving hơn Má và Ba. Ăn uống vui vẻ, vợ chồng tôi nói chuyện với bà, có lúc ngồi im lặng hơi lâu vì vốn tiếng Anh ít ỏi. Bỗng bé Nam kêu "Má...!", bà Jenny toan đứng dậy thì Mai buột miệng nói: "Má... let me do it!".

Nghe tiếng "Má" lỡ lời của Mai, tiếng Việt, vừa lạ, vừa thích, bà bâng khuâng giây lát.

Mai kể chuyện xưa, miền Đà Nẵng cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại... Tôi góp phần thông dịch, bớt thêm: Người Việt Nam coi việc chăm sóc cha mẹ già là bổn phận, dù chịu nhiều cơ cực cũng cố gắng đền ơn sinh thành, dưỡng dục.

Bà suy nghĩ mấy ngày, bỏ dự định chuyển về Florida, tỏ ý muốn nhận gia đình tôi làm Con, làm Cháu.

Chúng tôi dọn nhà sang ở chung với "Má Jen", điều này ít thấy trong các gia đình người Mỹ có con trưởng thành. Các con nhờ Má, nói được tiếng Anh. Cháu quấn quít bên Bà, xem chú chuột Mickey. Mùa đông buốt giá nhưng trong nhà nồng ấm tình người. Má vui tươi hơn trước, thích ăn bánh xèo và phở Việt Nam.

Mai vẫn cặm cụi hàng ngày, làm những chiếc ví tay của phụ nữ. Mấy người bạn Việt Nam đặt cho Mai biệt danh "Bà đầm hãng bóp" vì "giỏi việc, lại biết tiếng Anh," nhiệt tình giúp đỡ bà con.

Cũng như Má Jen, Mai không thích sa hoa, theo Má vào tiệm sách trong Mall nhiều hơn vào tiệm bán phấn son, make up. Việc từ thiện đã thành sở thích, Mai gửi 200 đôla, mỗi lần, giúp đồng bào bão lụt miền Trung, miền Bắc, vì lương tâm, đạo lý. Kẻ cầm quyền ăn chặn của dân, như đám cướp, có bao giờ được mãn kiếp yên thân. Đức Phật từ bi dạy Mai lòng độ lượng.

Tôi làm technician, ngành điện tử. Nhớ xưa, học sửa radio bị nghi làm gián điệp. Bộ công an Hà nội lấy công nông lãnh đạo, coi "điện tử" là CIA. Mười bẩy năm trong ngành điện tử, nay chắc tôi thành CIA ngoại hạng!

Bây giờ, ngồi trước máy computer, nối vào mạng Net, đọc Website tiếng Anh, tiếng Việt, thông tin thế giới bằng email, việc hãng, việc nhà, công tư hòa vào nhau từng ngày làm việc, tôi đã có cuộc sống an hòa, hạnh phúc, một gia đình thật sự yêu thương.

"Ngày mai, chúng mình đi New York thăm con".

Mai nắm tay tôi, hân hoan về ngày mai.

Ngày mai là tương lai của bé Nam ngày trước, giờ là một thanh niên cao 6 feet, đầy nghị lực bước vào đời. Xong đại học, Nam Nguyen trở thành chuyên viên tài chánh, làm việc trong văn phòng, tầng thứ 32 của một nhà "chọc trời" New York.

Ngày con ra trường là ngày vui trọn vẹn, ngày con nhận việc mới là niềm sung sướng của Má, của Ba, của Gia Đình tị nạn, mong ước từng ngày cho Con thành Người.

Lâu lắm rồi, tôi mới có một đêm không ngủ để nhìn lại đời mình. Tháng chín, trời sang Thu se lạnh vùng đông bắc nước Mỹ. Tôi đã sống nơi đây 18 năm tị nạn, không thất vọng mà tin tưởng vào tương lai.

Người cộng sản muốn làm hung thần cai quản địa cầu, dựng lên Địa Ngục. Dựng được vài phần thì sụp đổ, sót lại từng mảnh vỡ điêu tàn. Hung thần đã chết.

Thoát kiếp lưu đày làm người tự do, tôi kính cẩn tri ân người phá ngục: người lính Cộng Hòa, giương cao lá cờ vàng ba sọc đỏ, chính nghĩa Quốc Gia. Việt Nam, từ tinh thần đến lãnh thổ.

Người lính chiến Cộng Hòa hiên ngang đi làm Lịch Sử. Không có Anh, tôi đã không có niềm tin để sống sót, đã thành nấm mộ hoang trên rừng xơ xác. 21 năm kiên cường giữ vững miền Nam, Anh đối mặt hung thần, cứu sống thêm hàng triệu người vô tội.

Người lính của miền Nam tự do tử trận. Anh để lại người Vợ hiền, cuốc đất trồng khoai, chúng vẫn không tha, chà đạp nhân phẩm. Tôi lê bước chân vô định, gặp Mai làm Bạn Đường, nhìn mắt con thơ thấy hình người lính chiến.

Anh đã để lại Con Thơ cho tôi được làm "Ba" mang tròn trách nhiệm. Con đã trưởng thành, mai này sẽ góp phần xây dựng lại Quê Hương. Tôi muốn níu lại thời gian để được thương vợ, thương con nhiều hơn nữa.

Đã quá nửa đêm về sáng. Nhìn Mai ngon giấc ngủ thần tiên như "bé Nam" ngày đầu tới Mỹ, tôi ngồi im lặng bên bàn viết, đợi chờ sớm mai để được nhìn bình minh bừng sáng Phương Đông, được nhìn Mai thức dậy, mỉm cười, âu yếm nhìn chồng.

Cuộc sống an vui. Ngót 20 năm rồi, không biết khóc, đêm nay tôi nhỏ từng dòng lệ, xúc động, bùi ngùi.

Tôi đang sống và đang viết Bài Tình Ca của Một Người Tị Nạn.

 

tudo NGUYỄN VĂN LUẬN

-Hình Internet


Hồng Anh sưu tầm

 

 

Xem thêm...

ĐI TÌM CON NƠI BIỂN ĐÔNG

ĐI TÌM CON NƠI BIỂN ĐÔNG

Quỳnh Chi

Ông Trương Văn Hào ở thành phố Rochester, bang New York là một trong những người hiếm hoi tự nhận mình là người hạnh phúc nhất thế gian.

Thảm cảnh vượt biên

Người đàn ông 54 tuổi này lúc nào cũng niềm nở, hoà nhã và dường như đối với ông quãng đời còn lại chỉ để cám ơn cuộc đời vì niềm mong mỏi cuối cùng của mình đã đạt được:

 “Nguyện vọng cuối cùng của tôi đã đạt được, tôi rất vui mừng”.

Cách đây hơn một năm, ông Hào đã tìm được người con thất lạc 34 năm của mình. Chính xác là vào ngày 29 tháng 6 năm ngoái. Đó là ngày ông tìm được anh Trương Văn Khai, đứa con trai bị thất lạc từ năm 1977:

 “Cảm xúc lúc đó nằm trong lòng nhiều hơn. Tôi là đàn ông nên không thể khóc ở đó nhưng mắt tôi ướt”.

Trương Văn Khai là tên người con trai thất lạc của ông. Lúc gặp được nhau, Khai đã là một thanh niên 34 tuổi, có gia đình với cái tên Thái Lan là Samart Khumkham. Thế nhưng trước khi có được giây phút hội ngộ đầy hi hữu này, ông Hào đã trải qua một câu chuyện dài.

Tháng 12 năm 1977, ông Hào cùng vợ và đứa con trai sáu tháng tuổi lên đường từ ngả Phú Quốc đi vượt biên. Chưa đầy một tuần sau, gia đình của ông và tất cả những người có mặt trên tàu phải sang một chiếc tàu khác của người Thái tại Songkhla do tàu bị hỏng.

Và nơi đây, cuộc chia ly của gia đình ông bắt đầu: “Trong thời gian chúng tôi ở trên tàu khoảng 4-5 ngày thì họ (thuyền trưởng) rất thích thằng bé, nâng niu và cho nó ăn”.

Bốn ngày sau, người thuyền trưởng lặng lẽ bỏ đi bằng một tàu khác cùng đứa con của ông Hào, bỏ lại ông và vợ với nỗi đau đớn thảm thiết. Sau đó, tất cả người Việt Nam trên tàu cũng bị yêu cầu nhảy xuống biển. Trước khi một số người còn gắng gượng và được một tàu khác cứu thì một số người trên chiếc tàu ấy đã bỏ mạng nơi biển khơi. Một trong những người vĩnh viễn nằm lại ở biển tỉnh Songkhla là vợ ông Hào.

Sau hơn năm tháng ở trại tị nạn trên đất Thái, ông Hào đến được Hoa Kỳ- xứ sở mà cả gia đình ông gọi là “của tự do”, là nơi mà ông và vợ đã mơ ước rằng sẽ được nhìn thấy đứa con nhỏ lớn lên từng ngày.

Ước mơ cũ bị bỏ lại nơi biển khơi, ông Hào sau một thời gian cũng bắt đầu cuộc sống mới với một gia đình nhỏ mới.  Ông Hào cũng dần quên câu chuyện đau buồn năm xưa cũng như các chi tiết về cuộc chia ly. Tuy nhiên, nỗi nhớ về con và ước nguyện đi tìm đứa con thất lạc thì chưa bao giờ bị cuộc sống xóa mờ.

Chính vì việc người lái tàu năm xưa yêu quý đứa con trai mình mà ông Hào tin rằng đứa con không bị giết như những nạn nhân xấu số trên con tàu cách đây hơn 30 năm: “Nhờ vào đó mà tôi tin rằng họ không giết thằng bé. Cho nên lúc nào cũng vậy, trong suốt hơn 30 năm qua tôi chưa bao giờ nghĩ là thằng bé đã chết”.

Trước khi tìm được anh Trương Văn Khai vào năm ngoái, ông Hào đã không biết bao nhiêu lần đến các Hội Hồng thập tự để tìm tung tích về con. Nhưng lần nào cũng nhận được cái lắc đầu và trở về với nỗi buồn khó tả. Cuối tháng 5 năm ngoái, ông Hào quyết định trở về tỉnh Songkhla năm xưa để bắt đầu cuộc hành trình tìm con của mình với tất cả những gì ông còn nhớ được về con tàu Thái Lan đã chở ông năm xưa:

 “Cái đó thì không thể nào tôi quên được hết. Lúc đó tôi nhớ rằng chiếc tàu có chữ viết nhìn giống số 21. Vô tình, lúc đó khi lên tàu thì tôi hỏi và được trả lời đó là số 21. Tôi cũng không nhớ được cái tỉnh vị trí con tàu đang ở. Tôi chỉ nhớ rằng lúc đó tàu chúng tôi cách bờ biển khoảng 40 dặm Anh. Ban đêm chúng tôi có thể thấy ánh đèn xa xa của đất liền. Tôi có hỏi thì người ta trả lời đó là Songkla. Đó là tất cả những gì tôi nhớ được”.

Hành trình tìm con

Với chút thông tin ít ỏi, cuộc tìm con của ông Hào đã khá gian nan. Nó không chỉ là sự vất vả và hiểm nguy mà còn là “sự quyết tâm” – ông chia sẻ.

Vừa đặt chân đến Bangkok trong cái nắng gay gắt của mùa hè năm 2011, ông Trương Văn Hào tìm đến Hat Yai, nơi cách Songkhla khoảng 1 giờ lái xe để tìm một nhà thờ. Ông Hào chia sẻ, lúc còn ở trong trại tị nạn tỉnh Songkhla, ông thường thấy có một linh mục hay đưa thư cho người tị nạn trong trại. Tuy nhiên, vị linh mục năm xưa nay đã hơn 80 tuổi và không còn phụng sự tại đây nữa.

Mặc dù trước đó ông Hào đã lên mạng học một số câu giao tiếp bằng tiếng Thái và tham gia các diễn đàn để dò hỏi đường đi nước bước ở Songkhla nhưng việc này dường như không làm bớt đi những khó khăn của cuộc hành trình. Càng đi về miền nam Thái Lan, ông Hào càng thấy khó khăn trong giao tiếp vì người Thái ít nói tiếng Anh.

Lúc đó, ông được một người bạn biết nói tiếng Việt lẫn tiếng Thái bay từ Lào sang để giúp. Ông Hào và người bạn này đã lái xe đi dọc bờ biển tỉnh Songkhla và không nhớ nổi mình đã phải dừng lại bao nhiêu lần để dò hỏi tin tức với dân địa phương. Ông cũng không nhớ mình đã bao nhiêu lần đến các trụ sở cảnh sát và cơ quan nhà nước địa phương, bao nhiêu lần đến các nhà xác để tìm thông tin về vợ và con. Ông chỉ nhớ rằng mỗi lần trở về là mỗi lần ông thất vọng. Càng bế tắc hơn khi người bạn Lào phải bay về nước.

Lúc đó, ông Hào vẫn ở Hat Yai và nghĩ ra một cách mới: “Tôi viết ra các tờ rơi và in ra rất nhiều. Sau đó tôi phát những tờ rơi đó ra tại một khu ăn uống sầm uất với hy vọng trong số họ sẽ biết được tin tức liên quan đến con tôi”.

Ông Hào viết câu chuyện của mình ra và lên google dịch ra tiếng Thái. Ông hy vọng với số tiền thưởng ông hứa hẹn sẽ giúp những tờ rơi này đến được tay người biết câu chuyện năm xưa cũng như tung tích con trai ông.

Hơn ba tuần ở Thái, ông Hào quen biết nhiều nhân viên xã hội, nhiều cơ quan truyền thông nhưng có lẽ cơ duyên chỉ bắt đầu đến khi ông bắt đầu biết được một vài người làm nghề lái tàu và đánh cá. Lúc đó, ông mới thật sự dấn thân sâu hơn vào cuộc tìm kiếm và đôi lúc phải đối đầu với nguy hiểm.

Thông qua dân làm biển, ông biết được tung tích con tàu mang số 21 năm xưa. Đó chính là con tàu mà người lái tàu đã bỏ đi cùng với đứa con mới sáu tháng tuổi của ông. Được sự trợ giúp của các nhân viên xã hội Thái Lan ông Hào biết rằng có ba địa điểm có con tàu như ông diễn tả. Tuy nhiên, những người bạn Thái cũng không thể cùng ông đi tìm con tàu vì lúc đó nhằm mùa bầu cử, bạo loạn xảy ra ở miền nam Thái Lan.

Lúc này, ông vẫn quyết tâm đi tìm con tàu số 21, với tấm visa chỉ còn hơn 3 ngày là hết hạn. Tuy nhiên, ông lại một lần nữa bế tắc và quyết định dừng cuộc tìm kiếm. Nhưng đó chưa phải là kết thúc của câu chuyện: "Tôi nghĩ việc đầu tiên cũng phải do Trời trước. Theo tôi nghĩ thì Trời đã nhìn thấy được sự cố gắng của tôi và cảm động nên đã giúp tôi gặp lại con”.

Khi đến tạm biệt nhân viên xã hội để về Mỹ vì visa sắp hết hạn thì ông được cho biết họ tìm được người chủ mua chiếc tàu số 21. Ông Hào lại lóe lên tia hy vọng trong lòng và đi tìm người chủ tàu. Tuy nhiên, đó không phải là con tàu số 21 năm xưa mà ông từng đi.

Điều kỳ diệu

Ông Hào chỉ biết ngẩng mặt nhìn Trời cao mà băn khoăn về một cuộc hành trình không biết bao giờ mới chấm dứt.

Thế nhưng, điều kì diệu bắt đầu khi trong lúc ông Hào nói chuyện với người chủ tàu thì một thanh niên vô tình nghe được câu chuyện của ông Hào. Người thanh niên cho biết trước kia xóm anh có một “đứa trẻ Việt Nam”. Người thanh niên đã gọi cho mẹ của mình để biết chắc chắn rằng mình nhớ chính xác.

Ông Hào cùng bốn nhân viên xã hội lập tức đi về ngôi làng mà người thanh niên trên cho biết. Sau bốn giờ đồng hồ lái xe, ông đến được ngôi làng và nghe người dân nói rằng “cậu bé người Việt Nam” nhìn rất giống ông Hào. Tuy nhiên, người dân trong làng cũng cho biết là gia đình nuôi cậu bé người Việt Nam đã dọn đi khỏi làng cách đây 15 năm.

Không bỏ cuộc, ông tìm đến cảnh sát địa phương và tìm được tin tức của gia đình “có nuôi cậu bé người Việt Nam”. Lúc này, visa của ông chỉ còn một ngày là hết hạn.

Ông Hào và các nhân viên xã hội lại tiếp tục lái xe để đến một ngôi làng nơi mà ông tin rằng con trai ông đang ở. Vừa ngồi trên xe, trong lòng ông vừa thấp thỏm:

 “Đúng 30 ngày, khi visa tôi vừa hết hạn là tôi gặp được con tôi luôn. Trước lúc gặp con thì tôi nghĩ rất nhiều không biết đó có phải con mình không. Tuy nhiên trong lòng tôi đến 80% nghĩ nó là con tôi. Cảm xúc lúc đó vừa hồi hộp vừa mừng. Trong lòng cứ mong muốn gặp nó để thấy mặt mũi nó như thế nào. Và khi mà bắt đầu nhìn thấy nó khi nó đang đứng ngoài sân thì tôi rất mừng. Không ngờ nó vẫn còn sống như mình đã nghĩ”.

Sáu tiếng sau, ông Hào và các nhân viên xã hội đến được một ngôi nhà của một thanh niên Thái mang tên Samart Khumkham. Nhìn thấy Samart Khamkhum, ông đã gọi tên Trương Văn Khai mà nghe cay nồng nơi sóng mũi như thấy chính mình trên gương mặt của mình trên người thanh niên 34 tuổi:

"Cái mặt nó giống y chang tôi hồi còn trẻ”.

Kể lại cảm xúc lúc đó, Khai cho biết anh cũng quá bất ngờ. Cảm xúc lẫn lộn vui mừng và cũng không biết phải làm gì: “Trước đó tôi không hề biết câu chuyện thật về tôi nhưng tôi thật sự rất vui khi gặp cha ruột tôi lần đầu tiên. Khi gặp ông ấy, tôi không biết phải làm gì cả”.

Anh Khai chia sẻ, khi nhìn hình ông Hào thời trẻ, anh thấy có nhiều điểm giống anh bây giờ nên không nghi ngờ khi ông Hào nhận con. Vả lại, khi còn trẻ, anh cũng thường nghe người trong làng nói rằng mình không phải người Thái.

Tuy nhiên, anh đã không muốn biết nhiều hơn vì anh rất yêu thương cha mẹ người Thái của mình: “Trước kia khi còn nhỏ, tôi cũng phần nào đó biết là mình không phải người Thái mà là người Việt. Bởi vì những người chung quanh có nói rằng tôi không phải là người Thái. Tuy nhiên tôi đã không muốn biết thêm về điều đó”.

Và như có một sợi dây ràng buộc tự nhiên, hai cha con ông Hào đã tìm được nhau như thế: “Đó là những giọt nước mắt vui mừng chứ không phải những giọt nước mắt đau buồn. Tôi chỉ biết ôm nó, không ngờ đây là đứa con đã mất từ lâu của tôi”.

Cha mẹ nuôi của anh Khai không phải là vợ chồng người lái tàu năm xưa. Mẹ nuôi anh Khai nói rằng khi xưa vợ chồng bà được cho một thằng bé người Việt với điều kiện không được hỏi tung tích đứa trẻ.

Vốn tiếng Anh của anh Khai đã khá lên nhiều sau hơn một năm nói chuyện với cha ruột của mình. Khai chia sẻ, anh yêu thương cả cha mẹ người Thái và người cha đã sinh ra mình. Và như ông Hào, anh cũng cho rằng mình là người hạnh phúc nhất thế gian.

 

Hình Internet

 

 ---Ngọc Lan sưu tầm ---

Xem thêm...

Tháng Tư những mất và còn

Tháng Tư những mất và còn

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

Van hoa Vietnam hải ngoại

Người Việt ở lứa tuổi 30 hay trẻ hơn ngày nay ít ai biết đến một quốc gia có tên gọi "Việt Nam Cộng hòa" đã hiện hữu trên mặt địa cầu trong 20 năm, từ 1955 cho đến ngày 30/4/1975.

Cuối tháng Tư năm 1975 khi xe tăng và bộ đội cộng sản tiến chiếm Thủ đô Sài Gòn, hàng trăm nghìn người của đất nước này đã rời bỏ quê hương ra đi trong cơn hoảng loạn. Tương lai trôi dạt về đâu và cội nguồn sẽ còn lại gì nào ai biết được.

Những ngày sống qua các trại tị nạn, lo học vài câu Anh ngữ, tìm hiểu về đời sống, phong tục nơi đất nước mới sẽ là chốn định cư. Nhưng tương lai biết có còn nét văn hoá Việt nơi xứ lạ hay không nên nhiều người đã chuyền nhau đọc những quyển sách, tập truyện, đã chép lại những vần thơ, câu ca và nghe lại lời ca tiếng nhạc từ những băng cát-sét đã theo đoàn người tị nạn đến được bến bờ tự do.

Nguyễn Thị Thụy Vũ và tâm tình ngày trở lại

'Dân Sài Gòn thẳng tính, lương thiện'

Ngay từ trong trại Camp Pendleton ở miền Nam California những băng nhạc Việt được sao chép lại như chút quà từ quê hương cũ mà người tị nạn mang theo trên đường định cư.

Trong những ba-rắc hay giữa lều trại tị nạn trên đồi cỏ khô thường nghe vang vang ca từ nhạc Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Lê Uyên Phương. Cũng có hôm nghe Vũ Thành An, Từ Công Phụng và thi thoảng mới có Trần Thiện Thanh, Anh Bằng hay Duy Khánh, Trúc Phương.

Có nhạc Việt để nghe, người tị nạn còn tìm báo tiếng Việt để đọc vì trông ngóng tin tức về tương lai định cư, về tình hình quê nhà, về thân nhân thất lạc trong hành trình vượt thoát.

Ở đảo Guam có báo Chân Trời Mới phát hành mỗi ngày. Qua đến Camp Pendleton chỉ có tờ bản tin ngắn bằng tiếng Việt.

Những sinh viên du học đem báo Thái Bình, nguyệt san của Liên hiệp Việt kiều Yêu nước tại Mỹ, một tổ chức thân cộng, vào phát thì bị đồng bào đuổi đi.

Tháng 10/1975 các trại đón tiếp người tị nạn đóng cửa sau khi 130 nghìn người Việt đã được định cư tại Hoa Kỳ.

Một trong những băng nhạc đầu tiên của Khánh Ly phát hành tại Mỹ năm 1976

Bản quyền hình ảnh Bui Van Phu
Image caption Một trong những băng nhạc đầu tiên của Khánh Ly phát hành tại Mỹ năm 1976

Chỉ vài tháng sau có trung tâm băng nhạc Việt của ca sĩ Khánh Ly ra đời đầu năm 1976 với băng nhạc "Như cánh vạc bay" gồm 16 ca khúc của Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly và tiếng đàn ghi-ta của bác sĩ Ngô Thanh Trung.

Sau có trung tâm của nhạc sĩ Ngọc Chánh, của gia đình Phạm Duy, có trung tâm Thanh Lan nhưng không phải của ca sĩ cùng tên, là những cơ sở sản xuất băng nhạc trong những năm đầu của cộng đồng người Việt tại Mỹ.

Từ đó, nền âm nhạc Việt Nam Cộng hòa dần dần được bảo tồn tại hải ngoại để phục vụ nhu cầu tinh thần của người xa xứ.

Những ca khúc một thời của Việt Nam Cộng hòa và những sáng tác mới về hành trình tị nạn, đời lưu vong đã là chủ đề của hàng nghìn băng cát-sét, CD, băng hình VCR hay DVD được hàng chục trung tâm băng đĩa nhạc sản xuất. Biết đến nhiều nhất là các sản phẩm của Thúy Nga Paris by Night và Asia.

Văn nghệ sinh viên Đại học Berkeley hôm 8/4/2017

Bản quyền hình ảnh Bui Van Phu
Image caption Văn nghệ sinh viên Đại học Berkeley hôm 8/4/2017

Đầu thập niên 1990 có những giao thoa giữa âm nhạc trong và ngoài nước. Một số ca khúc miền Nam bị cấm bắt đầu được nhà nước cho phép phổ biến.

Trung tâm Kim Lợi của Thành Hammer, dù tổ chức nhiều buổi văn nghệ với ca sĩ trong nước bị phản đối, nhưng phải công nhận ông là người có công trong việc đưa ca sĩ và nhạc trong nước ra hải ngoại và giúp cho nhiều ca khúc thời Việt Nam Cộng hòa được các ca sĩ thế hệ sau biết đến và được hồi sinh trong lòng đất nước.

Từ khi Việt Nam mở cửa đón du khách, người Việt nước ngoài về thăm quê nhà thường xuyên hơn, đông hơn và đã đem theo những văn hoá phẩm hải ngoại nên người trong nước cũng được dịp tìm lại nét văn hoá Việt Nam Cộng hòa xưa.

Ngày nay với mạng thông tin toàn cầu Internet, qua YouTube người Việt ở khắp nơi trên thế giới có thể tìm xem hay nghe những ca khúc mình yêu thích của mọi thời đại.

Sau âm nhạc, nền báo chí tị nạn cũng phát triển rất sớm tại Hoa Kỳ. Năm 1976 đã có tờ Hồn Việt, do Nguyễn Hoàng Đoan, chồng của Khánh Ly, điều hành.

Từ miền Nam California, ngoài tờ Hồn Việt còn có báo Trắng Đen của Việt Định Phương, Thức Tỉnh của Tô Văn, Người Việt của Đỗ Ngọc Yến, Đất Việt (sau đổi thành Việt Nam Hải Ngoại) của Đinh Thạch Bích, Việt Nam Tự Do của Duy Sinh Nguyễn Đức Phúc Khôi. Trong giai đoạn đầu đa số các báo là nguyệt san hay bán nguyệt san.

Từ tiểu bang Washington có tờ Đất Mới của Vũ Đức Vinh. Vùng Thủ đô Washington có Văn nghệ Tiền phong của Hồ Anh.

Năm 2000, nhân dịp kỷ niệm 25 năm người Việt định cư tại Hoa Kỳ, Trung tâm Tác vụ Đông Dương (IRAC) của giáo sư Lê Xuân Khoa có xuất bản quyển tổng mục báo chí Việt ngữ hải ngoại do ông Nguyễn Hùng Cường, nguyên giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam Cộng hòa, biên soạn.

Tiểu thuyết của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã được in lại tại Mỹ từ năm 1978

Bản quyền hình ảnh Bui Van Phu
Image caption Tiểu thuyết của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã được in lại tại Mỹ từ năm 1978

Sách xuất bản trước 30/4/1975 cũng được in lại và phổ biến rộng rãi tại hải ngoại từ cuối thập niên 1970. Những nhà xuất bản đầu tiên tại Mỹ là Đại Nam, Xuân Thu, Sống Mới và Việt Nam đã in lại cả nghìn tác phẩm từ tiểu thuyết của Duyên Anh, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Đình Toàn, Dương Hùng Cường, Nhã Ca, Trùng Dương, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Thụy Long đến sách của Hoàng Hải Thủy, Đoàn Thêm, Vũ Tài Lục, Đăng Trần Huân và nhiều tập nhạc của Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Lê Uyên Phương v.v...

Lúc mới định cư ở Mỹ, tôi cũng lo ngại cho văn chương, âm nhạc Việt Nam Cộng hòa rồi sẽ mai một đi.

Đến khi vào Đại học Berkeley, làm việc thêm trong thư viện trường và mới khám phá ra một kho sách miền Nam, trong đó có nhiều tác phẩm tôi đã đọc ngày còn ở quê nhà.

Qua hệ thống liên thư viên đại học tôi đã mượn từ Đại học Cornell nhiều tập nhạc, để từ đó trong những buổi sinh hoạt hay họp mặt các bạn sinh viên có thể ca "Nối vòng tay lớn", "Việt Nam quê hương ngạo nghễ" hay "Nghìn trùng xa cách", "Bài không tên số 2", "Còn chút gì để nhớ", "Con đường tình ta đi", "Vũng lầy của chúng ta", "Huế Sàigòn Hà Nội"…

Những đại học lớn ở Hoa Kỳ như Cornell, Yale hay Harvard, Berkeley và Thư viện Quốc hội Mỹ đều có nhiều sách báo xuất bản dưới thời Việt Nam Cộng hòa. Nhiều nhất là tại Đại học Cornell, ở đây không chỉ có sách mà còn có báo, tập san và cả báo của sinh viên học sinh.

Từ sau ngày 30/4/1975 văn hoá Việt Nam Cộng hòa đã không chết mà còn nở hoa trên đất Mỹ.

Tháng 4/1980, Hội Sinh viên Việt Nam đại Đại học Berkeley tổ chức văn nghệ "Đêm Việt Nam" đầu tiên. Chương trình có hát hò ba miền, có múa nón, múa quạt, có áo dài tứ thân với khăn mỏ quạ. Có kịch thơ "Hận Nam Quan" để phản kháng kẻ thù phương Bắc, có đàn tranh, sáo trúc, ghi-ta, dương cầm. Sinh viên đơn ca "Áo anh sứt chỉ đường tà", thi nhạc giao duyên "Áo lụa Hà Đông", đồng ca "Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời Việt Nam hai câu nói bên vành nôi…".

Hôm 8/4/2017 vừa qua, sinh viên Berkeley tổ chức văn nghệ thường niên, lần thứ 38, chủ đề "Fragments - Tìm tiếng nước tôi".

Các bạn sinh viên đã cất tiếng đồng ca: "Oh, say! can you see by the dawn's early light. What so proudly we hailed at the twilight's last gleaming… O'er the land of the free and the home of the brave?", đã cùng ca vang: "Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi. Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống…"

Sinh viên đã soạn kịch về một gia đình với người cha sau ngày 30/4/1975 bị tù đày trong các trại học tập cải tạo rồi đến Mỹ định cư. Đó là bi kịch mà nhiều người dân Việt đã phải đối mặt sau khi đất nước tưởng sẽ hòa bình, oán thù sẽ tan. Đến Mỹ, cô con gái sinh ra sau chiến tranh muốn tìm hiểu về cuộc đời cha mẹ từng trải và về cội nguồn.

Các bạn đã cất tiếng hát ca ngợi tình cha, xen trong những màn múa lụa, múa nón, múa quạt, múa lân, bên cạnh những tà áo dài, áo bà ba, tiếng đàn tranh, ghi-ta, tiếng dương cầm.

Nhìn lại thời gian qua, từ sau dấu mốc lịch sử 30/4/1975 với mất mát là không gian tự do sáng tác trên đất Việt, nhưng còn lại vẫn là những tác phẩm văn học, những lời ca tiếng nhạc đã lắng sâu trong lòng nhiều người Việt.

Dù ngăn cấm và đã có những chiến dịch càn quét, nhưng văn hoá Việt Nam Cộng hòa đã không mất đi mà còn được yêu thích cho đến hôm nay.

Bài thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả, một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California.

‘Nhạc chiều 29 Tháng Tư’: Nỗi đau của những người mất nước!

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

Hoạt cảnh “Cờ Vàng Lộng Gió Tung Bay,” trong “Nhạc chiều 29 Tháng Tư” tại thính đường Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

WESTMINSTER, California (NV) – “Hôm nay là chiều 29 Tháng Tư, ngày mai đánh dấu 43 năm chúng ta đã mất miền Nam Việt Nam. Nhưng 43 năm qua, chúng ta cũng đã giữ được những gì nên giữ lại cho văn hóa của dân tộc Việt, và cho nhân cách của người dân miền Nam và thể chế VNCH.”

Lời của xướng ngôn viên Trần Nhật Phong nói trong buổi văn nghệ “Nhạc chiều 29 Tháng Tư” do nhạc sĩ Nghiêm Ðông Quân và bạn bè thực hiện vào chiều Chủ Nhật, 29 Tháng Tư, 2018, tại thính đường Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu, trên đường Magnolia, Westminster.

“Đúng ngày này vào 43 năm trước, tôi chỉ là một cậu bé còn ngơ ngác chưa biết chuyện gì đã xảy ra cho miền Nam Việt Nam. Nhưng rồi thời gian trôi dần, và những gì mà chúng tôi cảm nhận được sau 1975; những gì mà chúng tôi đã bị phân biệt về cách đối xử của chế độ Cộng Sản đối với các con em của các cựu quân nhân trong QLVNCH; và những gì đã xảy ra khi mà chúng tôi tìm đường vượt biển,” Trần Nhật Phong chia sẻ thêm.

Trong phần giới thiệu về một nhạc sĩ, cũng theo ông Phong, cùng trong chiều hướng đó, từ năm 1965, anh là người đã khơi dậy lòng yêu nước của các cựu sinh viên; người đã tạo ra phong trào ca hát của sinh viên học sinh với danh xưng “Nguồn Sống.” Rồi sau đó, anh đã hoạt động rất mạnh trong lãnh vực văn nghệ, đồng thời anh cũng là một kỹ sư công chánh.

Thời gian trôi qua, sau 1975, cũng như nhiều người khác, anh phải trả giá trong những nhà tù của Cộng Sản. Nhưng, những sáng tác của anh vẫn không dừng lại; vẫn bùng phát ngay cả trong nhà tù.

Khi đến Hoa Kỳ, trong những năm của thập niên 90, anh đã sinh hoạt rất thân cận với đồng hương, và đã đóng góp rất nhiều cho sự xây dựng văn hóa trong cộng đồng của người Việt tại hải ngoại.

Hoạt cảnh “Vá Cờ Tổ Quốc” trong “Nhạc chiều 29 Tháng Tư” tại thính đường Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

“Chúng tôi muốn nói đến một người, tên của anh là Nghiêm Phú Phát. Lúc ở trong tù, khi anh viết nhạc đấu tranh anh lấy tên tác giả là Nghiêm Đông Quân. Rồi thời gian gần đây, tâm linh của anh đã chuyển hướng về viết những ca khúc Phật ca nhiều hơn và có tên là Tâm Nguyện,” Nhật Phong giới thiệu tiếp.

Mở đầu chương trình văn nghệ là hoạt cảnh “Vá Cờ Tổ Quốc” dựa trên bài thơ của Ngô Minh Hằng với tiếng hát của Vũ Hùng do chính tác giả hát và phần phụ diễn của ca sĩ Lan Hương, và bài “Cờ Vàng Lộng Gió Tung Bay,” với ban tam ca Hoài Hương, gồm Vũ Hùng, Xuân Thanh và Lan Hương cũng do Vũ Hùng sáng tác. Hai hoạt cảnh này đã hâm nóng tinh thần đấu tranh chống cộng sản của đồng hương trong những ngày của Tháng Tư Đen tại Little Saigon.

Bài nhạc “Đừng Nghe, Hãy Nhìn” của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát, do chính tác giả trình bày, như để nhắc nhở đến mọi người về câu nói để đời của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà hãy nhìn những gì Cộng Sản làm.”

“Ca khúc này tôi viết vào năm 1976, tức là khi tôi bị vào trại tù Cộng Sản hơn nửa năm. Trong thời gian này, có lúc anh em bạn tù có ngồi lại bên nhau, và nói với tôi rằng, ‘Phát ơi! có câu nói nào mà được để đời không?’ Thì anh em chúng tôi đồng ý là lời của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sẽ để đời. Sau đó, tôi đã hát bài nhạc này nhiều lần trong trại tù. Và từ đó cho đến bây giờ, tôi chưa bao giờ hát lại tại nước Mỹ. Nhưng, hôm nay, vào những ngày cuối đời của tôi…,” nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát xúc động tâm tình sau khi ông hát bài nhạc này.

Bài nhạc “Đừng Nghe, Hãy Nhìn” của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát, do chính tác giả trình bày, trong “Nhạc chiều 29 Tháng Tư” tại thính đường Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Lý do tại sao anh tổ chức “Nhạc chiều 29 Tháng Tư”? Để trả lời câu hỏi của Trần Nhật Phong, nhạc sĩ Nghiêm Đông Quân cho biết: “Một số bạn cùng tù với tôi hỏi: ‘Lúc cậu ở tù, cậu viết những bài hát để cho chúng tôi nghe, và từ những bài hát đó chúng ta đã làm một số công việc. Nhưng suốt thời gian sang Mỹ đến giờ, chúng tôi không được nghe, là tại sao?’ Đó là lý do tại sao hôm nay tôi lại tổ chức buổi hát này.”

Một câu hỏi nữa: “Anh là người đã trải qua một giai đoạn lịch sử cũng như những người lớn tuổi khác. Vậy, trong buổi hát này, cảm xúc của anh như thế nào?” Nhạc sĩ trả lời: “Như mọi người đã thấy nỗi cảm xúc của tôi rất nặng. Vì nỗi cảm xúc này là nỗi cảm xúc của tất cả những người mất nước. Chỉ có điều là, người này chỉ để yên và người kia thì nuốt trong lòng mình. Tôi chỉ biết nói thế thì cũng đủ lắm rồi.”

Theo nhạc sĩ kể, thi sĩ Nguyễn Thanh Châu, bạn của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát, có nói: “Sài Gòn ơi! ta sẽ trở về. Sài Gòn ơi! ta phải về như đã hẹn lời thề,…” câu này như nói lên tâm trạng của nhiều người Việt xa xứ. Và, từ ý nghĩa đó, nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát đã soạn ra bài nhạc: “Hẹn Thề Cùng Sài Gòn” do ban tam ca Hoài Hương đồng hát cùng giọng bè của nhạc sĩ.

Có mặt trong buổi ca nhạc, Bác Sĩ Nghiêm Phú Francis tức nhạc sĩ Nghiêm Phú Phương, anh ruột của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát. Bác sĩ có mặt để có niềm cảm xúc vui mừng khi được nghe và thấy buổi nhạc do em mình tổ chức vào những ngày tháng cuối đời của ông và của người em mình. Được biết, tiếng đàn đầu đời của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát là do sự hướng dẫn của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phương và cố nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi, nguyên Giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn trước 1975, là anh cả của hai nhạc sĩ này.

Từ trái, MC Trần Nhật Phong, nhạc sĩ Nghiêm Phú Phương và nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát, trong “Nhạc chiều 29 Tháng Tư” tại thính đường Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Chương trình được tiếp nối với những tiếng hát Hoàng Đình Ngoạn, Diệu Trang, Văn Dũng, Ái Liên, Trương Minh Cường, Lâm Dung, Phương Lan, Thu Vân, Ngọc Bích, Ngọc Hoa, Kỳ Hương, Bích Liên, Phạm Tuấn,… Hợp cùng tiếng đàn piano của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát và ngón đàn guitar của nhạc sĩ Nguyễn Đình Thư, con trai của nhà văn Nguyễn Đình Toàn.

Một trong những tiếng hát, cô Diệu Trang, thành viên trong ban Hương Thiền bày tỏ: “Trong buổi ca nhạc này, khi nghe những bài nhạc mà thầy Nghiêm Phú Phát đã cất giữ từ lâu, và đến bây giờ thầy mới hát cho mọi người cùng nghe trong thính phòng này, thì mình mới thấy một điều mà trong đạo Phật có nói là có có không không, và ở đời mọi sự nó đều biến chuyển như một khoảng đời mà thầy đã trải qua.”

Trong số khán giả đến dự, bà Suzanne Nguyễn, cư dân Santa Ana, định cư tại Hoa Kỳ 1993, chia sẻ: “Tôi là một trong những đồng hương tị nạn Cộng Sản cùng gia đình sang định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. Vì ba của tôi cũng là một sĩ quan trong QLVNCH. Cho nên trong máu của tôi cũng là huyết thống của những chiến sĩ tranh đấu vì đại nghĩa. Trong chương trình ca nhạc này, với những ca khúc đấu tranh và những giọng ca không chuyên nghiệp, nhưng họ đã hát bằng tấm lòng yêu dân tộc và quê hương của mình. Vì thế đối với tôi, đây là một chương trình ca nhạc rất có ý nghĩa trong dịp kỷ niệm Quốc Hận 30 Tháng Tư.”

Nhà văn Chu Tất Tiến cũng có mặt và tâm tình: “Khi thấy trong phòng hội đầy lá cờ vàng tung bay trên tay của khán giả, và những bài nhạc đấu tranh của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát cũng như những bài nói về sự mất mát của dân tộc và quê hương Việt Nam, làm tôi rất cảm động.”

“Nhạc chiều 29 Tháng Tư” trong hội trường nhỏ của Thư Viện Toàn Cầu, tuy nhỏ, nhưng đủ chứa đựng những tâm hồn còn nghĩ đến nỗi đau của dân tộc và đất nước trong những ngày của Tháng Tư Đen. Nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát hay Nghiêm Đông Quân đã đưa khán giả về hồn quê hương, dân tộc và những nỗi đau quặn thắt của những đồng bào ruột thịt còn trong nước.

 

Hồng Vân sưu tầm

 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này