Sài Gòn xưa: Hoài niệm về xe lam, xe đò

Sài Gòn xưa:

Hoài niệm về xe lam, xe đò

Lê Nguyên

Trước 1975, khi đặt chân đến Sài Gòn, ai mà không bị hớp hồn bởi một đô thành phồn hoa đô hội với những đại lộ thênh thang, dập dìu xe cộ nhưng rất thông thoáng.

Phương tiện đi lại trên đường phố Sài Gòn chủ yếu có xe đạp; xe gắn máy loại phân khối nhỏ như Honda Damme dành cho nữ, Honda SS67 dành cho nam; xe máy đạp có Vélo Solex, Mobylette; còn phương tiện công cộng thì có xích lô đạp, xích lô máy, taxi, và xe lam.

Đặc trưng của phương tiện giao thông công cộng ở Sài Gòn thời đó ngoài xích lô và taxi ra còn có xe lam. Hồi đó lộ trình xe lam giăng kín Sài Gòn như xe buýt sau này, nhưng điểm khác biệt của xe lam là không có trạm dừng cố định cho khách lên xuống. Ai muốn đi xe lam cứ việc ra sát vệ đường vẫy tay đón. Xe dừng lại bất cứ chỗ nào cho khách xuống!

Thiết kế của xe lam chở khách khá đặc biệt, chia làm hai “toa” hẳn hoi. Phần đầu xe là nơi bác tài ung dung ngồi một mình để cầm cái càng lái giống như ghi-đông xe gắn máy. Dưới ghế ngồi của bác tài là thùng chứa máy xe, hễ xe chết máy hay “xịch đụi” là bác tài phải nhảy xuống đường, giở yên lên, rồi dùng một sợi dây thừng kéo cho máy nổ hoặc tra dầu, chùi bu-gi cho máy xe.

Tuy thùng sau xe được gắn để chở khách, nhưng nếu thùng sau hết chỗ, các bác tài sẵn sàng ngồi khép nép lại một tí để có thể chở thêm được 2-3 khách. Xe thì thiết kế cho 8-10 người ngồi nhưng khi đến Việt Nam, cũng như bao loại xe khác, xe lam vẫn phải “cõng” một số lượng khách gấp đôi, có khi gấp 3 trọng tải cho phép. Khách ngồi trên hai hàng ghế dài ở khoang sau, ngồi chen lên khoang lái, và leo cả lên trên nóc nữa…

Xe lam ngoài tác dụng chở khách còn có tác dụng chở hàng. Kỳ thực nó được nhập về Việt Nam Cộng Hòa ở dạng không đóng thùng, và tuỳ công năng chuyên chở mà nó sẽ được đóng thùng sau khi nhập.

Tên gọi “xe lam” bắt nguồn từ tên gọi của dòng sản phẩm xe 3 bánh Lambro hay Lambretta của Ý do công ty cơ giới Innocenti chế tạo. Các dòng xe lam lần lượt được nhập vào Việt Nam Cộng Hòa vào giữa thập niên 1960 để thay thế xe thổ mộ (xe ngựa kéo) vẫn còn được lưu hành vào khoảng thời gian đó.

Trong số gần 35.000 chiếc Lambro 550 xuất xưởng thì có 17.000 chiếc được xuất sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.

Sau này một số xe có kiểu dáng tương tự nhưng của các hãng khác (như Vespa), ít gặp hơn, được nhập về, và cũng được gọi là xe lam.

Trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc vào những năm đầu 1960 thì việc sở hữu được một chiếc xe lam cũng không phải là dễ, dù nghề lái xe lam mang lại nhiều lợi nhuận. Giá 1 chiếc xe lam vào thập niên 1960 tại Sài Gòn lúc đó khoảng 30 cây vàng.

Năm 1966 – 1967, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tiến hành một chương trình mang tên “Hữu sản hoá” nhằm cung cấp phương tiện hành nghề chuyên chở công cộng cho những ai cần việc làm và cũng để cải thiện đời sống giới thợ thuyền, phát triển hạ tầng cơ sở vận tải.

Đợt hữu sản hóa đầu tiên mang tên “Tự chủ” được thực hiện bằng cách cho giới lao động đang cầm lái thuê mượn tiền, và cho trả góp, để mua loại xe mà họ đang sử dụng để kiếm sống.

Phương tiện giao thông ở Sài Gòn bấy giờ đã tiến bước dài. Thập niên 1950, người Sài Gòn vẫn thấy xe ngựa. Từ thập niên 1950 sang 1960 thì xích lô đạp và xích lô máy nở rộ. Sau đó là đến xe lam và taxi. Số lượng xe lam riêng tại Sài Gòn là 2.300 chiếc xe vào đầu thập niên 1960, sang thập niên 1970 thì tăng lên 4.000 chiếc.

Sau 1975, các phương tiện cơ giới khác bị thiếu xăng hoặc thiếu phụ tùng thay thế không sử dụng được, và xe lam trở thành phương tiện phổ biến rẻ tiền, bước vào thời kỳ rực rỡ nhất.

Xe lam, trong hồi ức của nhiều người thành thị vẫn là một thứ dư vị khó phai, với những tiếng “bành… bành…’’ đầy quen thuộc.

Sài Gòn xưa: Hoài niệm xe đò

Xe không chạy trên sông sao gọi xe đò? Có lần tôi hỏi nhà văn Sơn Nam khi gặp ông ở quán cà phê vỉa hè trước Nhà Văn hóa quận Gò Vấp cách nay hai mươi năm. Trong chiếc áo sơ mi cụt tay, khuôn mặt ốm nhăn nheo màu bánh ít, mắt đăm chiêu sau cặp kiếng dày, ông thủng thỉnh trả lời theo kiến giải của mình.

Đồng bằng Nam bộ sông nước chằng chịt, ngày xưa phương tiện đi lại chủ yếu bằng đò ghe, cho đến thập niên ba mươi, người Pháp thành lập vài hãng xe chở khách đi miền Tây. Thời ấy đường bộ chưa phát triển, xe đến bến khách phải chuyển tiếp bằng đò ghe nên người ta gọi là xe đò cho tiện.

 

Xe đò lỡ Sài Gòn – Hốc Môn năm 1969 (Ảnh: Saigonoldphoto)

Nghe vậy thôi, sau này tôi tìm hiểu thêm chút ít, biết rằng người Bắc gọi xe đò là xe khách hoặc xe ca, còn người Trung lại gọi xe đò giống như người Nam. Một số người giải thích vì hầu hết các chủ nhà xe đi miền Trung là người Sài Gòn nên “xe đò” trở thành phương ngữ chung cho tiện.

Và rồi câu chuyện sôi nổi hơn khi nhà văn nhắc tới kỷ niệm thời học sinh trung học từng đi xe đò từ Rạch Giá về Cần Thơ mà ông có nhắc lại trong tập Hồi ký Sơn Nam: “Tiền xe từ Rạch Giá đến Cần Thơ là một đồng hai (120km) nhưng nhỏ tuổi như tôi chỉ tốn có 6 cắc.

Tôi lên xe ngồi để người phụ xế sắp đặt chỗ ngồi cho gọn, khép nép, chung quanh xe là nhiều người rao hàng để hành khách ăn buổi sáng vì buổi trưa mới đến bến Cần Thơ.

Tôi còn nhỏ, ba tôi cho riêng tôi 2 cắc, rất tủi thân vì trong khi ấy gia đình khá giả dám trả 1 đồng hai (hai chỗ dành cho trẻ con rộng rãi hơn) lại dành cho con một cái bánh bao to để ăn dọc đường. Xe khách bóp kèn inh ỏi, chạy vòng quanh để tìm kiếm khách.”

Xe đò dài Thuận Hiệp đi Sài Gòn – Cà Mau (Ảnh: Douglas Pike)

Nhưng điều thú vị nhất là ông kể hồi thời kỳ đầu xe đò do người Pháp làm chủ toàn là loại xe nhỏ chở khách chừng hơn hai mươi người. Nhưng chỉ một thập niên sau, người Việt mình giàu có tham gia mở công ty lập hãng, nhập cảng máy, khung gầm từ châu Âu châu Mỹ, đóng thùng thành xe đò loại lớn chở hơn năm chục hành khách, cạnh tranh ác liệt trong giai đoạn đường bộ được mở rộng và phát triển ở các tỉnh miền Tây và Ðông Nam Bộ.

Giao thông kết nối khắp nơi, nhu cầu đi lại của người dân càng nhiều, tạo thành thời vàng son của xe đò. Chiến tranh Ðông Dương nổ ra, Nhật vào chiếm miền Nam, xăng dầu khan hiếm, bị giám sát chặt chẽ, ngành xe đò suy giảm, một số hãng xe hoạt động cầm chừng và phải thay đổi nhiên liệu cho xe hoạt động.

Sơn Nam kể: “Xe ô tô chở khách phải dùng ‘ga’, hiểu là than củi tràm, bỏ vào cái thùng tròn đặt bên hông xe phía sau. Trước khi cho xe nổ máy thì quạt cho than tràm cháy, hơi ga ấy bị đốt, gây sức ép cho máy xe chạy, gọi ‘Autogène’, theo mô hình của Kỹ sư Thịnh Hưng Ngẫu chế tạo ở Sài Gòn.”

 
Xe đò Sài Gòn đến Vĩnh Long năm 1970 đường sá còn trải đá (Ảnh: Frank Effenberger)
 
Hình ảnh chiếc xe đò nhỏ chạy bằng than đốt trong cái thùng phía sau xe được lặp lại từ năm 1975 đến 1985, chắc người Sài Gòn tuổi trung niên trở lên đều biết rõ. Tôi từng đi loại xe sử dụng nhiên liệu này, mỗi lần chui vào cửa xe phía sau là đều phải cẩn thận với cái thùng than cháy nóng được treo dính ở đuôi xe.
 
Thường thì người ta chỉ cải tiến xe đò lỡ – tức là loại xe Renault cũ xì từ giữa thập niên 50. Tuy giới lái xe gọi đó là xe đò hỏa tiễn nhưng nó chạy chậm hơn xe chạy xăng hoặc dầu. Có lúc xe chạy ì à ì ạch khi than cháy không hết, lơ xe phải dùng thanh sắt mở lò đốt cời than. Hoặc thỉnh thoảng gặp đường vồng xóc, than văng ra khỏi cửa thông không khí, rớt xuống đường cháy đỏ rực. Vô phúc cho chiếc xe đạp nào chạy phía sau tránh không kịp, cán phải cháy lốp xe.
 
Xe đò hỏa tiễn chạy những đường ngắn như Sài Gòn – Long Khánh, Chợ Lớn – Cần Giuộc – Gò Công, Sài Gòn – Long An, còn xe đò dài vẫn chạy bằng xăng dầu, nhưng không còn nhiều như trước. Trên mui phía đầu xe thường có thùng phuy nước dùng để làm nguội máy, kế tiếp là nơi chở hàng hóa, xe gắn máy, xe đạp cho khách buôn chuyến và khách đi tỉnh xa.
 
Xe đò Sài Gòn – Tây Ninh năm 1965 (Ảnh: John Hansen)

Tôi còn nhớ mãi lần đầu được đi xe lô về quê bên ngoại ở Càn Long, Trà Vinh. Năm đó tôi chín tuổi, đi cùng với người anh bà con. Xe lô có bãi xe ở Bến Bạch Ðằng và Bến Chương Dương.

Bãi xe lô hay nhiều bãi bến xe đò khác khắp nơi trong thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn đều nằm hai dãy dọc theo đường phố. Phòng vé là một cái quầy hay cái bàn gắn tấm biển to đề tên từng hãng xe, chạy lộ trình nào.

Riêng xe lô không cần bán vé, khách đến bãi xe còn chỗ trống cứ lên, đủ người thì bác tài chạy. Loại xe này gọi đúng tên là “Location”, sơn màu đen, kiểu xe ô tô chở chừng bảy tám người nhưng bác tài cố nhét thêm hành khách.

Xe lô chạy nhanh hơn xe đò vì không bắt khách dọc đường, không lên xuống hàng hóa cồng kềnh, lại có khi qua cầu tạm không cần bắt hành khách xuống cuốc bộ. Ðể gió lùa vào cho hỉ hả đám hành khách ngồi chật cứng như nêm, lại thêm giỏ xách túi bị, va li lỉnh kỉnh, bác tài mở cửa sau bung lên cột chặt lại, người ngồi phía sau ngó ra phố phường. Xe chạy ra khỏi Phú Lâm, nhìn cảnh đồng lúa xanh tươi hai bên đường, lòng cảm thấy phơi phới mặc dầu lâu lâu tôi phải nhấc mông trở cẳng vì bị ngồi bó gối.

Xe đò nhỏ chạy bằng than sau năm 1975 (Ảnh: Anhxuavn)

Nói là đi xe lô thì hành khách không cần xuống bộ qua cầu tạm, chứ lần đó tôi vẫn phải xuống cuốc bộ như bao chuyến xe đò khác. Tôi mới ca cẩm, xe lô cái nỗi gì, có mà “lô ca chân” theo lời hát của một tuồng cải lương trên truyền hình.

Sau năm 1968, cuộc chiến ngày càng ác liệt, cầu đường nhiều nơi bị “mấy ổng” gài mìn phá hủy, có nơi phải dựng cầu tạm, đầu cầu có đặt trạm kiểm soát của quân cảnh hay cảnh sát. Ðường về Trà Vinh chỉ hơn 160 cây số mà qua mấy chục cây cầu, lại phải chờ phà Mỹ Thuận.

Ði xe lô cho được nhanh mà về đến nơi phải mất năm sáu tiếng đồng hồ, huống hồ chi hành khách đi miệt Hậu Giang, Cà Mau xuống ở bến xe còn phải đón đò về nhà ở vùng U Minh, Miệt Thứ mất cả ngày đường.

Chỉ có xe thư tức là xe đò làm nhiệm vụ giao nhận thư từ bưu phẩm chuyển cho bưu điện tỉnh mới được ưu tiên, không phải lụy phà hay bị cảnh sát xét hỏi. Bây giờ xe đò tiến bộ hơn nhiều, xe có máy lạnh, ghế nằm thoải mái cho khách đường xa, duy chỉ không có phòng vệ sinh trong xe, lại còn tặng thêm nước uống, khăn ướt lau mặt.

Xe chạy nhanh nhờ có cầu qua hai con sông Tiền và sông Hậu, tôi ngồi xe Mai Linh chạy một lèo về tới chợ Cà Mau chỉ mất sáu tiếng đồng hồ. Nếu không kể đến loại xe dù bắt khách dọc đường, thì xe đò là phương tiện đi đường xa tương đối rẻ tiền.

Bến xe đò Petrus Ký năm 1950 (Ảnh: AnhxuaVN)

Trước năm 1975, Xa cảng miền Tây là bến tập trung các xe đò về các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, bên cạnh đó lại có bến xe Chợ Lớn đi về Cần Giuộc, Gò Công, Lý Nhơn, về sau bến xe này gộp lại với Xa cảng miền Tây mở rộng thành Bến xe miền Tây nằm trên đường Kinh Dương Vương quận Bình Tân.

Còn bến Miền Ðông dành cho xe đi các tỉnh miền Trung và phía Bắc trên đường Petrus Ký trước kia thì gộp lại với hai bến xe nhỏ là Nguyễn Cư Trinh đi lộ trình cao nguyên và Nguyễn Thái Học đi Long Hải – Vũng Tàu – Phan Thiết, rồi sau đó vài năm chuyển về bến xe Văn Thánh, và cuối cùng yên vị tại Bến xe miền Ðông trên đường Ðinh Bộ Lĩnh hiện nay.

Nhưng nghe đâu hai bến xe này sẽ phải dời ra xã Tân Túc huyện Bình Chánh và Suối Tiên Q. 9 để có diện tích rộng hơn, đáp ứng được cho nhu cầu ngày càng tăng. Sẽ thiếu sót nếu không nhắc đến Bến xe An Sương, bến này đúng ra có xe đi Tây Ninh – Bình Phước – Bù Ðăng, Bù Ðốp vùng Tây Trường Sơn, nhưng cũng có xe đi vài tỉnh thành của cả ba miền, do hai bến xe miền Ðông và miền Tây nhỏ hẹp.

Bến xe đò trên đường Nguyễn Cư Trinh trước 1975 (Ảnh: Anhxuavn)

Ai cũng có kỷ niệm lần đầu đi xe đò. Mỗi chuyến xe chuyên chở nỗi niềm hoài niệm. Có người nhớ chuyện tiền vé như nhà văn Sơn Nam. Có người lòng phơi phới nhìn thấy phong cảnh đồng lúa xanh tươi chạy dài bên quốc lộ như tôi.

Cũng có người nhớ mùi mồ hôi, mùi xăng dầu giữa nắng gió miền Trung. Nhớ bến bãi ồn ào í ới ngày xưa. Và cũng có người tuổi đời chồng chất, nhớ cảnh xuống xe qua cầu xe lửa Bến Lức, Tân An thuở xa lắc xa lơ.

 

Trang Nguyên

----------

Kim Quy tổng hợp

Hình Internet

 

 
Xem thêm...

Ký hiệu đô la ra đời như thế nào

Ký hiệu đô la ra đời như thế nào

 

Ký hiệu đồng đô la ($) là biểu tượng có uy lực lớn nhất thế giới
 tượng trưng cho điều lớn hơn đồng tiền nước Mỹ rất nhiều.
 
Đó là chữ viết tắt cho giấc mơ Mỹ và toàn bộ chủ nghĩa tiêu thụ cùng chủ nghĩa hàng hóa gắn liền với nó, có ý nghĩa tức thì về hoài bão tươi sáng, lòng tham vô độ và chủ nghĩa tư bản lan tràn.
 
Nó đã được đưa vào văn hóa đại chúng (hãy nghĩ đến ca nhạc sỹ Mỹ Ke$ha khi cô bắt đầu sự nghiệp, hay bất cứ những chiếc áo phông thời trang nào) và được các nghệ sỹ vay mượn (Salvador Dali thiết kế một bộ râu dựa vào nó, Andy Warhol vẽ nó trên tấm mica và in lụa, tạo ra những tác phẩm nghệ thuật biểu tượng mà bản thân chúng bán được rất nhiều tiền).
 
BM
 
Nó được sử dụng rộng rãi trong mã hóa máy tính và nó giúp tạo nên hình mặt cười miệng ngậm tiền với đôi mắt sáng rỡ và chiếc lưỡi thè ra.
 
Tuy nhiên, bất chấp tính thông dụng ở nhiều lĩnh vực như vậy, nguồn gốc của ký hiệu đô la còn lâu mới rõ ràng với những giả thiết cạnh tranh với nhau, trong đó có giả thiết về đồng tiền xu của người Bohemia, Những Cây cột của Hercule và những thương gia bị quấy nhiễu.
 
Tượng trưng cho nước Mỹ?
 
BM
 
Ký hiệu đô la được in ra đầu tiên trên một máy in ở Philadelphia
vào những năm 1790 và là công trình của Archibald Binny
 
Người chị em bé nhỏ của đồng đô la, đồng cent vô giá trị, được tượng trưng một cách hợp lý bằng chữ 'c' viết thường bị gạch qua một nét, nhưng trong ký hiệu đô la lại không có chữ 'D' nào.
 
Nếu bạn phải tìm ra những chữ cái ẩn giấu trong đó, bạn có thể nhìn ra một chữ 'S' với chữ 'U' ép nhỏ và bớt cong lên tạo thành nét dọc trong chữ 'S'. Thật ra, giả thiết này giải thích cho nguồn gốc của quan niệm sai lầm phổ biến nhất về nguồn gốc ký hiệu này: có phải nó tượng trưng hai chữ cái đầu tiên trong United States (tức là nước Mỹ)?
 
Đó là điều mà nhà văn, triết gia và là người có lập trường tự do nổi tiếng ở Mỹ Ayn Rand tin tưởng.
 
Trong một chương trong tiểu thuyết Atlas Shrugged của bà, được xuất bản vào năm 1957, một nhân vật hỏi nhân vật khác ký hiệu đô la tượng trưng cho điều gì.
 
  
Câu trả lời như sau: 'cho thành tựu, thành công, năng lực, sức mạnh sáng tạo ở con người, và chính là vì những lý do này mà nó được dùng như là một thương hiệu của sự khét tiếng. Nó tượng trưng cho những chữ viết tắt của United States'.
 
Có vẻ như là Rand đã sai, không chỉ bởi ít nhất là mãi cho đến năm 1776, nước Mỹ vẫn còn được gọi là United Colonies of America, và đã có những ý kiến cho rằng ký hiệu đô la đã được sử dụng trước khi nước Mỹ ra đời.
 
 
BM
 
Trái phiếu gốc này do cựu tổng thống Hoa Kỳ George Washingtom ký vào năm 1792,
là văn bản tài chính đầu tiên ở Mỹ sử dụng ký hiệu đồng đô la
 
Ký hiệu đồng bảng Anh có lịch sử từ 1.200 năm trước, khi nó lần đầu được người La Mã sử dụng như là chữ viết tắt cho 'libra pondo', đơn vị đo lường khối lượng cơ bản của đế chế này.
 
Bất cứ một nhà chiêm tinh nghiệp dư nào cũng sẽ nói cho bạn biết rằng trong tiếng Latin libra có nghĩa là cái cân, và libra pondo dịch theo nghĩa đen có nghĩa là 'cân nặng một pound'.
 
Trong xứ Anh (England) Anglo-Saxon, pound đã trở thành đơn vị tiền tệ, tương đương với - ngạc nhiên chưa - một pound (cân Anh) bạc.
 
Nói cách khác, đó là của cải lớn. Nhưng bên cạnh tên gọi La Mã, người Anglo-Saxon đã mượn ký hiệu này, một chữ cái 'L' tinh xảo.
 
Hai vạch ngang xuất hiện sau đó để thể hiện rằng đó là một chữ viết tắt, và một tấm séc tại Bảo tàng Ngân hàng Anh quốc ở London cho thấy ký hiệu đồng pound đã có hình thức như hiện nay kể từ năm 1661, tuy rằng cần phải mất nhiều thời gian nó mới được chấp nhận rộng rãi.
 
Từ đồng tiền Bohemia
 
BM
  
Trong khi đó, đồng đô la có lịch sử ngắn hơn nhiều.
 
Vào năm 1520, Vương quốc Bohemia bắt đầu đúc những đồng tiền bằng bạc khai thác từ một mỏ ở Joachimsthal - vốn được dịch thoát từ tiếng Đức ra tiếng Anh thành 'Joachim's valley', tức thung lũng của Joachim.
 
Một cách lôgíc nếu không muốn nói là thiếu sức tưởng tượng, đồng tiền này được gọi là 'joachimsthaler' mà sau đó được rút ngắn lại thành 'thaler'. Cách dùng đó tiến tới lan rộng ra khắp thế giới.
 
Chính là phiên bản Hà Lan, đồng 'daler', đã băng qua Đại Tây Dương trong túi và trên cửa miệng của những người di dân đầu tiên, và ngày nay cách phát âm tiếng Anh kiểu Mỹ của từ 'dollar' vẫn giữ được âm hưởng từ chữ 'daler' này.
 
Mặc dù đồng tiền này tương đối trẻ, nhưng ta vẫn không có câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi ký hiệu đồng đô la đến từ đâu.
 
 
Dường như không ai bỏ công ra để vẽ ra nó và hình dáng của nó vẫn thay đổi - đôi khi nó có tới hai vạch đứng xuyên qua, và ngày càng chỉ có một vạch. Không phải là không có nhiều giả thiết ganh đua với nhau. Chẳng hạn, quay trở lại quan niệm rằng có một chữ U và một chữ S ẩn giấu trong ký hiệu, có người cho rằng hai chữ này đại diện cho chữ 'units of silver', tức đơn vị bạc.
 
BM
 
Một trong những câu chuyện bí truyền nhất về nguồn gốc đồng đô la cũng liên hệ ký hiệu $ với đồng 'thaler' của người Bohemia. Câu chuyện kể về con rắn trên cây thánh giá với Thiên chúa trên đó. Bản thân biểu tượng này là sự gợi nhắc đến câu chuyện nhà tiên tri Moses cuốn một con rắn đồng quanh một cây cột để chữa trị cho những người bị rắn cắn. Do đó, có ý kiến cho rằng đồng đô la xuất phát từ ký hiệu đó.
 
Cho đến peso Tây Ban Nha
 
Tuy vậy, một giả thiết khác tập trung vào Những Cây cột của Hercules, một cụm từ do người Hy Lạp cổ đại chế ra để mô tả những mỏm đất nằm về hai bên lối vào Vịnh Gibraltar.
 
 
Các cây cột này được thể hiện trên huy hiệu quốc gia của Tây Ban Nha, và trong các Thế kỷ 18 và 19, chúng xuất hiện trên đồng đô la Tây Ban Nha vốn còn được biến đến là đồng peso.
 
BM
 
Các cây cột có những tấm biểu ngữ quấn xung quanh trong hình chữ S và không cần phải ngắm nghía nhiều để thấy nó giống với ký hiệu đồng đô la.
 
Giả thiết được chấp nhận rộng rãi nhất thật sự có dính đến đồng tiền Tây Ban Nha và nó kể lại như sau: ở các thuộc địa Bắc Mỹ, giao thương giữa người Mỹ gốc Tây Ban Nha và người Mỹ gốc Anh rất sôi động, và đồng peso là đồng tiền chính thức ở Mỹ cho đến năm 1857.
 
Do đó, các sử gia nói rằng nó thường được rút gọn thành các chữ cái đầu tiên là 'P' và chữ 'S' viết nhỏ đặt kế bên. Dần dần, nhờ vào nét nguệch ngoạc của những thương nhân và những người ghi chép vội vàng, chữ 'P' đã nhập vào chữ 'S' và mất đi nét cong để chỉ còn lại nét thẳng đứng như một cái cột đâm thẳng xuống ngay giữa chữ 'S'. Một đô la Tây Ban Nha có giá trị đâu đó xung quanh một đô la Mỹ, do đó dễ dàng nhận ra ký hiệu có thể đã được chuyển đổi như thế nào.
 
Chắc chắn là một sự mỉa mai, mặc dù không hề ngạc nhiên, là một biểu tượng nội tại của đặc tính quốc gia Mỹ như vậy lại có nguồn gốc từ một quốc gia khác.
 
Nhưng cho dù nó ra đời như thế nào đi nữa, chắc chắn đó là sự sáng tạo của người Mỹ: có thể ông không là người duy nhất sáng tạo ra nó, nhưng thư từ của Oliver Pollock, một thương gia giàu có gốc Ireland và là người ủng hộ ban đầu của Cách mạng Mỹ, đã khiến ông được các sử gia xem như là người khởi nguồn ký hiệu này.
 
Còn về ký hiệu đô la được in ra đầu tiên, đó là trên một máy in ở Philadelphia vào những năm 1790 và là công trình của một người Mỹ yêu nước nhiệt thành - hay ít nhất là một người Scotland chống đối nước Anh quyết liệt - có tên là Archibald Binny, người mà ngày nay được nhớ đến là người sáng tạo ra kiểu chữ Monticello.
 
 
Hepzibah Anderson
 

10 điều ít biết về đồng đôla Mỹ

Đồng xu được ngâm dung dịch hóa học, tờ tiền giấy bị làm giả nhiều nhất là 20 USD, hay tổng thống còn sống không được in hình lên tiền... là những điều ít biết về đồng đôla Mỹ.

1. Đồng xu được ngâm dung dịch hóa học trước khi đúc

Cũng giống như chân giò hay trứng ướp gia vị, đồng xu Mỹ được ngâm trước khi đem đi đúc. Tuy nhiên, không giống thức ăn, chúng được ngâm trong loại hỗn hợp dung dịch hóa học đặc biệt. Dung dịch này có tác dụng làm sạch và sáng bề mặt của đồng xu trống.

2. Hình kim tự tháp ở mặt sau đồng đô la biểu trưng cho sự phát triển của quốc gia

Nói về các biểu tượng và hình nghệ thuật trên đồng đôla Mỹ, nhiều thuyết ra đời. Một trong những thuyết này cho rằng, Hội tam điểm đã sử dụng những biểu tượng này để bí mật truyền tải thông điệp quyền lực.

Tuy nhiên, trên thực tế, các biểu tượng này được giải thích hợp lý hơn. Vì các biểu tượng này được tạo ra từ khi nước Mỹ ra đời, nên có thể lý giải rằng, họ tin đất nước sẽ tiếp tục phát triển thịnh vượng. Những nhà sáng lập nước Mỹ có niềm tin vào người dân, và niềm tin này được chất chứa trong hình kim tự tháp trên tờ tiền đôla.

3. Cơ quan mật vụ Mỹ ban đầu được thành lập để chống nạn làm tiền giả

Nhiều người tin rằng, Cơ quan mật vụ Mỹ được thành lập để bảo vệ tổng thống. Cơ quan bí ẩn này được thành lập 2 tuần sau khi tổng thống Abraham Lincoln bị ám sát. Tuy nhiên, thực tế là cơ quan này được thành lập để chống nạn tiền giả. Vào những năm 1800, mỗi bang của Mỹ đều có tiền tệ riêng, nên làm tiền giả là việc vô cùng béo bở và dễ dàng. Thời tổng thống Lincoln tại vị, một phần ba tiền tệ của Mỹ được cho là giả. Bởi vậy, Sở mật vụ Hoa Kỳ được thành lập.

4. Sản xuất một đồng 5 xu tốn kém hơn một đồng 10 xu

Ban đầu, tiền xu Mỹ được làm từ đồng. Khi giá đồng bắt đầu tăng, người ta chuyển sang dùng kẽm, sau đó lại chuyển sang niken. 10 năm trước, chi phí để sản xuất một đồng 5 xu là 11,2 cent, trong khi đó chi phí sản xuất một đồng 10 xu và 25 cent lần lượt là 5 cent và 11 cent.

5. Tiền rất bẩn

Theo nghiên cứu, mặt tiền giấy chứa trung bình khoảng 3.000 loại vi khuẩn, đa số các loại này là vô hại nhưng cũng có chứa vi khuẩn gây mụn và vi khuẩn miệng. Nguyên nhân là tiền được qua tay hàng nghìn người và truyền vi khuẩn khắp nơi. Vì vậy, bạn nên rửa tay sau khi chạm vào tiền.

6. Hình tổng thống còn sống không được in trên tiền

Khi Washington trở thành tổng thống Mỹ, người ta muốn đưa mặt ông lên tiền đôla. Tuy nhiên, ông từ chối và cho rằng, thật không hay khi in mặt một thống thống còn sống trên tiền. Ngày nay, luật Mỹ quy định rằng, các thổng thống phải qua đời 2 năm trước khi được cân nhắc in mặt lên tiền đôla.

7. Tờ tiền có mệnh giá lớn nhất từng được sản xuất là 100.000 USD

Đồng tiền mệnh giá 100.000 USD được phát hành bởi Cục Khắc dấu và In ấn (BEP), nhưng chỉ dùng thay thế cho vàng trong giao dịch giữa các ngân hàng dự trữ liên bang. Tờ tiền mệnh giá lớn nhất trong lịch sử này được in trong khoảng thời gian ngắn, từ ngày 18/12/1934 tới 9/1/1935, với hình tổng thống Wilson ở mặt trước.

8. Vòng đời của một tờ đô la tùy thuộc vào mệnh giá của nó

Tùy thuộc vào nhu cầu đối với từng mệnh giá, vòng đời của một tờ tiền ngắn dài khác nhau. Đồng 1 USD được dùng khá thường xuyên, vì vậy, vòng đời của nó kéo dài khoảng 18 tháng trước khi ngừng lưu thông. Những tờ tiền mệnh giá 50 hay 100 USD thường được lưu thông khoảng 9 năm, bởi chúng không được dùng nhiều như những tờ mệnh giá 1, 10 hay 20 USD.

9. Tiền USD thực chất được làm từ linen và cotton

Chất liệu làm tiền đô la Mỹ gồm 25% linen và 75% cotton chứ không phải  bằng giấy như nhiều người lầm tưởng. Năm 2009, hơn 21.000 kiện bông được dùng để in tiền.

10. Đồng tiền bị làm giả nhiều nhất là 20 USD

Về mặt logic, nếu một người muốn làm tiền giả, họ sẽ làm giả những tờ có mệnh giá lớn. Tuy nhiên, trên thực tế những tên làm giả cho rằng, chúng có thể thành công hơn với tờ 20 USD. Việc dùng một đồng 20 USD để mua vé xem phim sẽ ít bị nghi ngờ hơn việc dùng một đồng100 USD. Trên thực tế, nhiều người thường mang các đồng 20 USD trong ví. Hiếm người ra đường với một ví đầy tờ 100 USD.

 

 

Kim Quy tổng hợp

Hình Internet

 

Xem thêm...

Hủ tíu gõ nét đẹp bình dị của ẩm thực Sài Gòn

Hủ tíu gõ 

Hủ tíu gõ là tên gọi của một loại hình bán hủ tíu, theo đó người bán không bán cố định ở một chỗ mà dùng các phương tiện di chuyển như xe đạp, xe máy... để len lỏi vào các ngỏ hẻm, từng căn hộ để tìm thực khách. Thường thì những người bán hay có một dụng cụ để gõ vào và phát ra tiếng đặc trưng, dễ nhận biết. Âm thanh vang lên từ hai thanh gỗ hoặc kim loại đập vào nhau.

Thường thì những đứa trẻ được đưa đi gõ, rồi kiêm luôn cả việc chạy bàn, bưng bê. Tiếng gõ hủ tíu rất riêng. Thực khách khi có nhu cầu thì người bán sẽ quay về vị trí đặt xe đẩy hủ tíu để làm một tô hủ tíu và đem đến tận nhà thực khách.

Hủ tíu gõ là món ăn bình dân đã tồn tại, gắn liền với người dân đô thị, dần trở thành một phần của ẩm thực của những thành phố và nó cũng là loại ẩm thực bình dân và đại trà nhất đại diện cho ẩm thực vỉa hè trong đêm, đặc biệt là tại Sài Gòn.  

Hủ tíu gõ thường được dân Sài Gòn trước 1975 thường hay gọi kèm theo chữ “xực tắc”, là món ăn hết sức bình dân chỉ bán về đêm. Chỉ đơn giản là một chiếc xe đẩy được trang bị lò bếp, một thùng nước lèo luôn bốc khói nóng hôi hổi. Trong  xe có ngăn để tô, muỗng đũa, rau hành, gia vị… Thông thường sẽ có một người đẩy xe và một cậu bé đi theo cầm hai thanh tre đã lên nước đen bóng gõ vào nhau tạo ra những âm thanh liên tục như “xực tắc! xực tắc!”.

Một tô hủ tíu gõ

Bẵng đi một thời gian, hủ tiếu gõ “xực tắc” lại nở rộ ở Sài Gòn. Cho đến nay, chẳng ai biết vì sao đại đa số người bán món này có gốc gác Quảng Ngãi. Thắc mắc này đã được một số đồng nghiệp về đến tận nơi để tìm lời giải, song nó vẫn chưa làm những người quan tâm đến món ăn này thỏa mãn.

Riêng tôi, trong những ngày lang thang tìm hiểu, nghe nhiều giai thoại cho rằng món ăn này chỉ mới xuất hiện trở lại vào giai đoạn “hậu bao cấp” – khi mà chính sách “ngăn sông cấm chợ” bị bãi bỏ. Sau thời kì đó, Sài Gòn bắt đầu phát triển, dân từ khắp nơi đổ về  “miền đất hứa” để mưu sinh. Trong dòng người ấy, có rất nhiều người con của mảnh đất Quảng Ngãi cằn khô, nghèo khó.

Một câu hỏi nữa được đặt ra là tại sao không phải là món khác mà lại là hủ tíu? Lý do có vẻ dễ chấp nhận nhất là trước hủ tíu gõ, Sài Gòn đã tồn tại rất nhiều loại hủ tíu vào hàng đặc sản như hủ tíu Mỹ Tho, hủ tíu Tàu, hủ tíu Nam Vang…, điều này đồng nghĩa với việc bánh hủ tíu có nhiều ở các chợ, dễ mua.

Hơn nữa, bánh hủ tíu được người làm ra phơi khô rất kĩ, dễ bảo quản và bảo quản được lâu… phù hợp với tinh thần tiết kiệm của người Quảng Ngãi. Điểm thú vị nữa là hủ tíu gõ chỉ xuất hiện ở Sài Gòn và một số tỉnh thành lân cận. Khu vực miền Trung, thậm chí là Quảng Ngãi – nơi được tạm gọi là “quê hương” của nó tuyệt nhiên rất hiếm, có thể là không có.

 

image 

Chủ xe “hủ tíu gõ” chuẩn bị cho một ngày làm ăn.
 
Tiếng nhạc gõ lách cách lách cách nhịp nhàng vui tai như một giai điệu kéo dài từ trong những con hẻm nhỏ ra tận đường lớn. Vật dụng là hai thanh tre ngà chập vào nhau trên tay của một đứa trẻ như một nhiệm vụ “tiền tiêu” đi trước thay cho tiếng rao buồn.
 
Hồi xưa người bán phải rao mỏi miệng “hủ tíu đây,” đi rã chân mời khách thì nay với hai thanh tre họ đã có thể phát lên một tín hiệu mà những ai ghiền gủ tíu sẽ biết ngay qua tiếng gõ diệu kỳ, nó cũng làm cho người bán quên đi mệt nhọc.
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Cảm giác được cầm cái vật dụng “âm nhạc” đó mà đi “gõ” khắp nơi thật thú vị “nó quên đi hết nhọc nhằn” nhất là qua nó mới bán được hàng, vì thứ tiếng động kỳ diệu đó có thể len lỏi vào tận trong hang cùng ngõ hẻm, có thể đến bất cứ nơi đâu người ta cần.
 
Đôi khi cái bụng đói không muốn đi đâu, lười biếng nhất là vào những buổi chiều mưa mà có một tô hủ tíu nóng hổi thì “alê” có ngay. “Lách cách, lách cách” ê hủ tíu là có ngay một tô bốc khói với đầy đủ hành hẹ tiêu ớt… giải quyết ngay cái bụng và ngon không thể tả.
 
https://baomai.blogspot.com/
Một tô hủ tíu gõ.
 
Không biết người ta nấu bằng thứ gì mà “hủ tíu gõ” luôn có một mùi vị đặc biệt – ngon ngọt – không thể trộn lẫn vào với bất cứ thứ gì khác, ngay cả đi ăn cao lương mỹ vị gà hầm, vịt quay Bắc Kinh hay bất cứ thứ gì sang trọng ở những tiệc cưới hay nhà hàng màu sắc thì cũng không thể quên đi tô hủ tíu.
 
Những đêm mưa trong những con hẻm nhỏ lập lòe, chỉ có ánh lửa hắt ra dưới những ngọn đèn cao áp, một chiếc xe với dăm chiếc ghế nhựa, với một người bán một người phục vụ, thường thì chỉ có hai vợ chồng hoặc anh em đồng hương hợp tác nhau hành nghề.
 
Họ từ miền Trung xa xôi vào thành phố “mưu sinh” bằng cái nghề khiêm tốn nhưng lại tối ư cần thiết này, nó nuôi sống họ… nuôi sống những số phận nghèo hèn, nuôi nấng những ước về ngày mai tươi sáng.
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Ban đầu thực khách của họ chỉ là những cô gái ăn sương, dân xe thồ ba gác, dân lao động nghèo và sinh viên xa nhà, nhưng giờ đây không hiểu sao nó lại là món ăn ngon của giới trưởng giả về đêm. Bây giờ cánh ăn đêm không phải bình dân nữa mà ngay cả dân nhà giàu cũng lui tới dập dìu sì sụp, dĩ nhiên giá cả cũng bấy nhiêu dù nghèo hay giàu, chỉ tầm 15,000 đồng đến 20,000 đồng (chưa tới $1) đã có một tô hủ tíu rực rỡ ngon lành.
 
Tiếng “lách cách, lách cách” vẫn đi xa, đi xa như một ca khúc vươn dài. Chiếc xe hủ tíu không cần phải rong ruổi nữa, nó cố định ở đâu đó một chỗ, một khu vực, bắt đầu từ buổi chiều khi tan tầm, khi màn đêm từ từ buông xuống, khi những cơn mưa giông nặng hạt bão bùng.
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Đứa bé chỉ cầm hai thanh gỗ rồi nhịp nhàng tấu lên những thanh âm điêu luyện, dường như nó đã quá quen rồi với những tiết tấu mà nó đang nắm giữ. Nó biết nhà nào nơi đâu là sẽ có khách thường xuyên, nếu là một biệt thự nó sẽ đánh lên những âm thanh rất đặc biệt như một đoạn nhạc hẹn hò đã được mặc định và bỗng nhiên cánh cửa bật mở và ba ngón tay xinh xinh đưa ra “ba tô!”
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Chỉ vậy thôi nó chạy ngược về xe rồi ba chân bốn cẳng chạy ra trên tay là một cái mâm với ba tô bốc khói, chỉ cần nhìn tô hủ tíu đầy màu sắc là đã chảy nước miếng, chỉ vài miếng thịt thái mỏng cùng mấy cọng xà lách xanh, hành hẹ ớt, tương đỏ, tiêu… mà sao hấp dẫn lạ kỳ.
 
 https://baomai.blogspot.com/
Xe hủ tíu đầu hẻm, hình ảnh quen thuộc của Sài Gòn.
 
Cái hay của hủ tíu là nó không làm bạn nặng bụng vì nó chỉ làm cho bạn qua cơn đói, nó không làm cho người ta bỏ bữa, nó là một thứ hỗn hợp đánh lừa vị giác một cách tuyệt hảo khi bạn đang cần phải nạp năng lượng, để quên đi một cái gì đó thì tô hủ tíu trong cơn mưa sẽ làm cho bạn ấm lòng…
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Vì, nói như vợ chồng anh chủ xe hủ tíu bình dân thì “Không thể làm giàu bằng nghề này và cũng không ai có thể no đủ bởi một tô hủ tíu gõ, nhưng chắc chắn người ta ấm dạ thì mình cũng tạm no. Nó rất cần thiết cho bất cứ ai có một chút gì hoài niệm về cái thuở hàn vi nghèo đói của mình!”
 
 
 
 
Nguyễn Sài Gòn
 
Hồng Anh sưu tầm
 
Hình Internet

Xem thêm...

BÀ BILL GATES: MỘT BỒ TÁT CỦA NHÂN LOẠI

BÀ BILL GATES:

MỘT BỒ TÁT CỦA NHÂN LOẠI

~~<><><><>~~

Tháng 1.1994, Melinda rời khỏi Microsoft và sát cánh cùng chồng trong cương vị đồng chủ tịch quỹ tài trợ lớn nhất hành tinh Bill -Melinda Gates. Quỹ này đã có tổng tài sản lên tới 29,1 tỷ USD và luôn đi đầu trong chiến dịch nâng cao sức khỏe cộng đồng ở quy mô quốc tế.

Có lần, vợ chồng Bill Gates đã tặng máy vi tính xách tay cho người dân ở các ngôi làng ở khu vực cận Sahara (châu Phi). Nhưng rồi vợ chồng bà nhận ra người dân lục địa đen cần thức ăn để no bụng và thuốc men để chống lại bệnh tật chứ không phải là những sản phẩm công nghệ xa xỉ.

Chính vì vậy, họ bắt đầu mua và tìm đọc rất nhiều sách về các bệnh lây lan vì ký sinh trùng, về hệ miễn dịch, về cách phòng bệnh... 
"Bạn không thể nói về chuyện tài trợ cho thuốc chống sốt rét nếu như bạn không hiểu rõ chu trình sống của con muỗi. Làm từ thiện không chỉ đơn giản là ký séc chi tiền", bà Melinda nói.

Quỹ từ thiện Bill -Melinda Gates (BMGF) bắt đầu hoạt động với quy mô nhỏ vào năm 1997 rồi ra mắt chính thức vào năm 2000.

Vợ chồng Gates đã cam kết trao tặng hết 95% tài sản khổng lồ của mình (ước tính khoảng 46 tỷ USD) cho quỹ BMGF cho mục đích tiêm vắc-xin và tạo hệ miễn dịch cho trẻ em.
Hồi đầu năm 2011, BMGF đã tặng cho Liên minh Vắc-xin và miễn dịch toàn cầu (Gavi) 750 triệu USD - một trong những món quà cá nhân lớn nhất lịch sử.

Những lần tài trợ trước đó của vợ chồng Bill Gates đã giúp tiêm phòng viêm gan siêu vi B cho 43 triệu trẻ em, giúp giảm 39% tỷ lệ trẻ em bị sởi. Ngoài ra, BMGF còn chi mạnh cho các dự án khoa học nghiên cứu vắc-xin và thuốc men, trong đó phải kể đến chương trình trị giá 35 triệu USD để thử nghiệm vắc-xin chống sốt rét ở Zambia.

 



Cuộc sống hàng ngày của nữ tỷ phú có tấm lòng nhân ái

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, nữ tỷ phú Melinda Gates chia sẻ về kế hoạch hiện tại của mình là dự án cung cấp biện pháp tránh thai hiện đại cho 120 triệu phụ nữ trên toàn thế giới vào năm 2020.

Đảm nhiệm ghế đồng Chủ tịch Quỹ BMGF, công việc của bà Melinda liên quan đến các mục tiêu chính sách lớn từ cải cách giáo dục tới “thôn tính” bệnh bại liệt. 
Một ngày điển hình tại văn phòng của bà gồm đánh giá chiến lược và tham gia các cuộc họp.

Tuy nhiên, bà Melinda dành tới 1/3 thời gian của mình cho các chuyến đi thực tế ở các quốc gia. Bà chia sẻ rằng bà phải cố gắng hết sức để cân đối thời gian giữa công việc và gia đình, thậm chí đôi khi bà phải lên kế hoạch dẫn theo con cái tới nơi làm việc.

"Một số chuyến công tác của mình lại trùng với những kỷ nghỉ của các con và tôi buộc phải lên kế hoạch đưa 3 đứa trẻ cùng bố mẹ tới châu Phi”, bà Melinda chia sẻ.
Bà nói thêm: "Bill và tôi thường xuyên phải cân đối lịch làm việc để đảm bảo một trong hai người luôn có mặt ở nhà để bọn trẻ biết được rằng chúng thực sự rất quan trọng đối với cuộc sống chúng tôi".

Cả hai vợ chồng tỷ phú này đều cố gắng lái xe đưa đón các con đi học hàng ngày, thúc giục chúng lên giường ngủ mỗi đêm. Đồng thời, họ luôn ở bên động viên con cái mọi lúc.
“Nếu Bill định trốn thời gian dành cho gia đình để giải quyết các vấn đề khác, tôi sẽ gọi điện để nhắc nhở”, Melinda tâm sự.

Melinda kể lại rằng: "Có một hội chợ khoa học diễn ra gần đây ở tại trường của bọn trẻ và Bill đã hứa sẽ đến đó.Tuy nhiên cùng lúc đó, anh ấy có một chuyến đi khá quan trọng. Và tôi đã phải lên tiếng: “Anh biết đấy, anh đã hứa sẽ làm việc đó”. Vì thế, điều chắc chắn là anh ấy sẽ giữ đúng lời hứa”.

Bill Gates còn thực sự gây sốc khi ông công bố sẽ chỉ để lại một phần nhỏ trong số tài sản cho con cái. Theo tờ Daily Mail của Anh, vợ chồng Bill Gates đã quyết định chỉ để lại cho mỗi người con chưa đến 10 triệu USD gọi là làm vốn sinh nhai. Phần lớn tài sản của họ sẽ chăm lo cho giáo dục, y tế và người nghèo thông qua quỹ từ thiện của gia đình.

Giải thích quyết định trên, Bill Gates chia sẻ: “Đúng, đó chỉ là một phần nhỏ bé trong tài sản của tôi. Điều này có nghĩa là các con tôi phải tự tìm ra con đường tiến thân của riêng mình. Việc học của chúng sẽ được đảm bảo tốt nhất. Chúng tôi không bao giờ tiếc tiền đầu tư vào việc học và những vấn đề về chăm sóc sức khỏe. Riêng chuyện kiếm tiền thì chúng phải tự tìm việc mà chúng thực sự thích.

Đến nay, con của chúng tôi hoàn toàn là những đứa trẻ bình thường chứ không giống như sống trong nhung lụa”.
Truyền thông Mỹ cho biết, hai con lớn của Bill Gates đều phải làm việc nhà, mới được cho tiền tiêu vặt.

Ông từng nói hồi đầu năm nay: "Tôi chắc chắn rằng việc để lại khối tài sản lớn cho bọn trẻ sẽ không phải là một đặc ân đối với chúng". Bà Melinda cũng đồng ý với quan điểm này của chồng.

"Một điều quan trọng mà tôi đang nỗ lực với cương vị là một người mẹ mẫu mực, đặc biệt đối với 2 con gái. Thông qua công việc hàng ngày của mình, tôi muốn hướng chúng thành một người phụ nữ sắc sảo, biết sắp xếp hài hòa giữa công việc và cuộc sống gia đình", bà Melinda Gates chia sẻ.


Bà là người có vai trò không thể thay thế trong cuộc đời Bill Gates

Là vợ của người đàn ông giàu nhất thế giới nhưng Melinda không mấy quan tâm đến những cửa hàng thời trang sang trọng, những loại mỹ phẩm đắt tiền hay những tác phẩm nghệ thuật danh giá. Thay vào đó, suốt ngày bà chúi vào những chuyện đại loại như… chu trình sống của con muỗi.

Ngay sau khi cưới nhau, vợ chồng Bill Gates bắt đầu làm từ thiện nhưng làm một cách dè dặt, trong đó có lần tặng máy vi tính xách tay cho các ngôi làng ở khu vực cận Sahara (Phi châu). Nhưng rồi hai người nhận ra người dân lục địa đen cần thức ăn để no bụng và thuốc men để chống lại cái chết hơn là phần mềm Windows xa xỉ.

Thế là họ tậu bao nhiêu là sách về các bệnh lây lan vì ký sinh trùng, về hệ miễn dịch, về cách phòng bệnh… “Bạn không thể nói về chuyện tài trợ cho thuốc chống sốt rét nếu như bạn không hiểu rõ chu trình sống của con muỗi. Làm từ thiện không chỉ đơn giản là ký séc chi tiền”, Melinda nói.

Melinda có thể tận hưởng một cuộc sống trong nhung lụa, dành thời gian chăm sóc con cái. “Khi cưới nhau, tôi và Bill định khi về già sẽ chia sẻ tiền bạc với người khác. Lần đầu tiên chúng tôi đến châu Phi là nhân một chuyến đi săn năm 1993.
Chúng tôi không thể nào tận hưởng thiên nhiên hoang dã vì cảnh tượng mọi người đi chân đất, phụ nữ phải vừa bế con vừa xách nước đi hàng cây số .


Sau đó về nhà, chúng tôi tìm đọc Báo cáo về phát triển thế giới năm 1993 và không khỏi giật mình. Trẻ con đang chết hàng loạt chỉ vì căn bệnh tiêu chảy và những loại bệnh cơ bản mà trẻ con ở nước chúng tôi đã được tiêm vắc-xin.

Chúng tôi tự thấy mình phải có trách nhiệm tìm hiểu sự thật và càng tìm hiểu, chúng tôi càng thấy không thể chờ vì bệnh tật không đợi chúng tôi. Tôi đi vòng quanh thế giới để xem điều gì đang xảy ra.


Nỗi sợ hãi khi quay về quá khủng khiếp đến độ tôi không dám hy vọng. Nhưng rồi bạn thấy đó, kinh tế đang thay da đổi thịt ở các nước phát triển và tự nó cải thiện mọi chuyện. Điều đó đã vực Bill và tôi dậy”.


“Chúng ta có xem rẻ mạng sống của người Phi châu hơn mạng sống của chúng ta không? Bill và tôi cho rằng không có sinh linh nào mang giá trị hơn hay kém so với sinh linh khác. Chính sự công bằng này là lý do để quỹ từ thiện của chúng tôi hoạt động” 


Hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên vì ông bà Gates không dành phần lớn tài sản của mình để lại cho con cái. Hiện họ đang có 3 đứa con nhỏ nhưng Melinda không tỏ ra lo lắng:

“Bất cứ lúc nào gia đình tôi nói tới chuyện tài sản, chúng tôi đều nói đến trách nhiệm phải trao tặng nó cho thế giới. Các con của chúng tôi đã có tài khoản riêng của chúng. Không phải lúc nào chúng muốn mua gì cũng được nấy mà phải đợi đến những dịp như sinh nhật mới được tặng hay đợi cho đến khi chúng tự để dành đủ tiền”.


Hiệp hội Bill & Melinda Gates đã chi bao nhiêu cho ai ?


Tính đến đầu năm 2005, tỷ phú này đã cam kết số tiền 28 tỷ USD cho nhiều dự án cứu tế, từ thiện, y tế và giáo dục. Tức ông đã đem cho không đến 38% tổng tài sản của mình. 9,3 tỷ USD là tổng số tiền mà tỷ phú giàu nhất thế giới Bill Gates đã chi cho các công cuộc từ thiện cứu tế và giáo dục thông qua hiệp hội mang họ tên mình thành lập vào năm 2000

Chúng được chia ra như sau:


-Sức khoẻ: 5,5 tỷ USD (gồm chiến lược sức khoẻ toàn cầu, 2,3 tỷ USD; nghiên cứu trị HIV/AIDS, bệnh lao và y tế sinh sản, 1,5 tỷ USD; các bệnh lây lan khác, 1,1 tỷ USD; nghiên cứu phát triển

-Công nghệ y tế toàn cầu, 0,4 tỷ USD; nghiên cứu y tế, chiến dịch y tế toàn cầu…, 0,1 tỷ USD)

-Giáo dục: 2,4 tỷ USD

-Chương trình xây dựng thư viện toàn cầu: 0,3 tỷ USD

-Những dự án đặc biệt khác: 0,6 tỷ USD

Các chương trình từ thiện ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương: 0,6 tỷ USD .


Melinda Gates- quyền lực mà thầm lặng

Có một người phụ nữ giản dị, nhân hậu đã chinh phục được biết bao chính khách, doanh nghiệp. Xuất thân trong một gia đình bình dân Mỹ nhưng nhờ nỗ lực cá nhân và cả nét duyên thầm, người phụ nữ này đã trở thành biểu tượng của quyền lực mềm thế giới.

Năm nay 44 tuổi, Melinda Gates luôn sát cánh cùng người chồng tỷ phú, nhà sáng lập và điều hành Microsoft trong nhiều năm qua, và bản thân bà cũng là chủ tịch quỹ tài trợ lớn nhất thế giới.
Bà là người có vai trò không thể thay thế trong cuộc đời Bill Gates, là một trong những động lực to lớn để Bill Gates lập ra quỹ Bill -Melinda Gates.

Chung sống với Bill Gates đã 14 năm nhưng Melinda luôn có một cuộc sống trầm lặng, ít khi lộ diện trước báo giới. Những cuộc phỏng vấn luôn bị từ chối, thay vào đó là những cuộc trò chuyện mỗi tuần với những người cộng sự. Người ta biết đến Melinda qua những người bạn của bà nhiều hơn.


Mối thâm tình với chiếc máy tính

Trước khi quen biết Bill Gates, nàng thiếu nữ Melinda đã mê tít máy tính. Chính tình yêu này đã thay đổi cuộc đời cô.
Khi Melinda 14 tuổi, cha cô tặng cho con gái yêu chiếc máy tính Apple II. “Tôi đã nịnh cha mẹ đặt vào phòng riêng của mình để tiện học tập nhưng thời gian đầu tôi khoái chơi game hơn”, Melinda nhớ lại.


Không lâu sau, Melinda đã nắm được ngôn ngữ lập trình cơ bản và thường xuyên trao đổi kiến thức với các cậu con trai quanh xóm. Chính việc ham thích trao đổi về máy tính đã khiến cô bé bớt đi những rụt rè tuổi dậy thì, tự tin và hòa đồng hơn hẳn. Chiếc máy tính Apple II năm sau đã được nâng cấp lên thành Apple III. Melinda thường dùng máy tính giúp cha quản lý sổ sách, kế toán.

Gia đình Melinda không giàu có. Bố cô là kỹ sư và mẹ cô là một người nội trợ điển hình. Mặc dù cha mẹ cô có cho thuê một vài gian phòng để phụ thêm nhưng việc lo cho cả 4 chị em Melinda học lên đại học quả thật không hề dễ dàng. Melinda cùng các anh chị em từ nhỏ đã phụ giúp mẹ lau bàn, dọn bếp và cắt cỏ.

Khi Melinda còn đi học, tuy không có quy định thành văn nhưng thành tích học tập luôn được cả gia đình coi trọng. Melinda luôn đặt cho mình những mục tiêu để chinh phục một cách bền bỉ và quyết tâm. Cô giáo dạy môn đại số đã nhận xét “Melinda luôn tìm ra cách học tập hiệu quả nhất!”.


Khi đó, Melinda theo học tại một trường nữ sinh Thiên Chúa giáo, cô ao ước được vào trường Notre Dame. Trong suốt quá trình học, Melinda luôn cố gắng và đã trở thành đại diện phát biểu trong lễ bế giảng.


Nhưng cũng chính Melinda là người đưa ra quyết định từ bỏ trường đại học đặc biệt này vì nơi đây coi “máy tính là sở thích nhất thời, phụ nữ không phù hợp với nghiên cứu công nghệ”.
Sau đó Melinda được nhận vào trường đại học Bắc California .. Trong 5 năm học tại đây, Melinda đã được nhận bằng cử nhân khoa học máy tính và thạc sỹ quản trị kinh doanh.

Ngay trước hôm tiến hành lễ tốt nghiệp, Melinda đã tham gia phỏng vấn vào công ty IBM. Cô nhớ lại “Tôi đã nói với người phỏng vấn là mình sẽ tham gia thi tuyển vào một công ty phần mềm nữa. Bà ấy đã mỉm cười và nói nếu tôi được công ty phần mềm đó chọn, tôi càng có nhiều cơ hội hơn”. Và Melinda đã đến nơi có nhiều cơ hội hơn – Microsoft.


Tình yêu với sếp và khát vọng chung thay đổi thế giới

Năm 1987, Melinda bắt đầu làm việc chính thức tại Microsoft. Cô phụ trách quảng bá phần mềm văn bản.
Ngay từ những ngày đầu tiên, Melinda đã thích không khí làm việc cởi mở, năng động nơi đây. Cô chúi mũi vào công việc mà không thể ngờ rằng chỗ làm việc lý tưởng này lại đem đến cơ hội tình yêu cho mình.

Melinda là người trẻ nhất trong những người được nhận vào Microsoft làm việc đợt đó. Trong 10 người có bằng MBA, cô cũng là người nữ duy nhất. “Những người được tuyển đợt đó rất tài năng.
Tôi đã choáng ngợp khi tiếp xúc với họ và nghĩ họ có thể thay đổi thế giới. Tôi cũng hơi ngạc nhiên vì sao công ty phần mềm nho nhỏ hồi đó lại hấp dẫn họ đến thế!”


Khi đó hai sếp lớn Bill Gates và Steve Ballmer đang bất đồng trong khá nhiều vấn đề, họ thường căng thẳng và quát cả cấp dưới. Nếu như không có cảm tình đặc biệt khi nhìn thấy dáng vẻ thư sinh của Bill, Melinda đã bỏ việc từ lâu.


Sau khi vào công ty được 4 tháng, Melinda đến New York tham dự một triển lãm công nghệ và ngồi cạnh Bill Gates trong một buổi tiệc.
Melinda nhớ lại: “Anh ấy quả thật rất có phong cách, còn hơn trong tưởng tượng của tôi”. Khi Bill được hỏi tại sao để ý Melinda, ông trả lời: “Tôi nghĩ chắc là do vẻ đẹp của cô ấy”.

Mùa thu năm đó, Bill và Melinda gặp lại nhau tại nhà để xe của công ty. Melinda nhớ hôm đó là thứ 7 và mọi người trong công ty vẫn phải đi làm.
Họ nói chuyện một lúc, Bill nhìn đồng hồ và hỏi: “Em có đồng ý hẹn hò với tôi trong vòng hai tuần bắt đầu từ thứ 6 tuần sau không?”

Melinda trả lời: “Từ thứ 6 tuần sau bắt đầu hai tuần hẹn hò? Em thấy không được tự nhiên lắm ! Không biết được, đến lúc đó hãy gọi cho em”.
Sau đó, Bill gọi lại báo cho Melinda lịch hoạt động ngày hôm đó, Melinda nhận lời hẹn gặp ông vào buổi tối thứ 6 định mệnh.

Trước khi hai người gặp nhau, Bill đã là một tỉ phú nhưng điều đó không có nghĩa là ông có thể “mua” được tình yêu. “Theo đuổi cô ấy thật vất vả”, Bill than thở. Số là mẹ của Melinda vốn cho rằng chuyện tình cảm của con gái mình với sếp không có gì hay ho cả.


Nhưng Melinda đã đặt ra những giới hạn cho mối quan hệ này, quyết không để ảnh hưởng đến công việc. “Tôi không muốn công khai tình cảm, không bao giờ nói chuyện công việc trong thời gian hẹn hò…”


Dù có công khai chuyện tình cảm với sếp lớn hay không thì bạn bè đồng nghiệp vẫn phải nể Melinda về năng lực làm việc.
Sau 9 năm làm việc bà đã lên chức giám đốc phụ trách các sản phẩm thông tin.


Cấp trên trực tiếp của Melinda lúc đó, bà Patty Stonesifer đã nhận xét: “Nếu tiếp tục ở lại làm việc, Melinda chắc chắn sẽ đứng trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp nhất của Microsoft”.

Tháng 1/1994, Melinda rời khỏi Microsoft, dành toàn bộ tâm huyết cho quỹ từ thiện. Tình cảm hai người dành cho nhau càng trở nên sâu sắc.
Trước đây Bill Gates chưa bao giờ nghĩ đến việc thành lập quỹ tài trợ, dù luật sư và kế toán của ông thường xuyên khuyên ông nên dành thời gian và tiền bạc để chính thức tham gia các hoạt động từ thiện.


Đó cũng là lý do mà báo chí những năm 1990 gọi Bill là “kẻ hà tiện”. Cha của Bill giải thích “Con tôi không muốn đứng ra thành lập quỹ từ thiện vì không muốn sở hữu thêm một công ty nữa”. Ngay từ ngày đầu lập quỹ, Melinda đã quán xuyến công việc quản lý.


Những ngày đầu, Melinda và Bill lập ra dự án tặng cho mỗi phòng học một laptop phục vụ việc giảng dạy nhưng công tác quảng bá đã bị giới truyền thông phê bình gay gắt vì… phô trương và thiếu thực tế.


Khi đi khảo sát các trường học, Melinda nhận ra rằng, chỉ trang bị cơ sở vật chất đơn thuần không giải quyết được những vấn đề giảng dạy, vì thế sau này thúc đẩy phổ cập giáo dục mới là mục tiêu chính của quỹ.

Dưới ảnh hưởng của Melinda, quỹ Bill & Melinda Gates đã mở rộng phạm vi hoạt động của mình trong lĩnh vực phòng chống AIDS, bệnh sốt rét…
Melinda chia sẻ: “Chúng tôi muốn dần dần thiết lập một danh sách cần cứu trợ hợp lý. Tiền chỉ có ích khi mang lại những lợi ích thực sự cho những người cần cứu trợ nhất”.


Bà cũng cho biết, quỹ Bill - Melinda Gates không quyên gửi thẳng tiền cho viện nghiên cứu ung thư Hoa Kỳ mà tập trung cho những dự án và khu vực khẩn thiết hơn.

Bà Gates dùng phương pháp liên kết những nhà bán thuốc và bảo đảm trợ cấp tài chính cho việc nghiên cứu để đổi lấy sự hạ giá thuốc cho những nước nghèo, qua đó tạo đà mới cho ngành y học ngừa bệnh của các nước kém phát triển vốn đã bị chững lại từ những năm 1990.


Và rõ nét nhất là việc sáng lập Công ty Vaccine HIV – là công ty liên kết các nhà nghiên cứu với ngân sách 400 triệu USD.
Trải qua 7 năm hoạt động, dưới sự điều hành của Melinda, quỹ Bill -Melinda Gates đã góp phần cứu sống ít nhất 700.000 người tại các quốc gia nghèo thông qua các khoản đầu tư vào những chương trình vaccine.

Quỹ Bill - Melinda Gates hiện là quỹ từ thiện lớn nhất thế giới, với tài sản lên tới 29,1 tỉ USD và luôn đi đầu trong chiến dịch nâng cao sức khỏe cộng đồng trên quy mô quốc tế. Melinda, Bill Gates và cha của Bill là 3 thành viên điều hành quỹ.

Gần đây, Bill Gates đã chính thức rời khỏi Microsoft để hoàn toàn tập trung cho công việc từ thiện.
Mỗi năm quỹ này nhận được khoảng 6.000 thư xin được trợ giúp ở khắp nơi trên thế giới.


Bill và Melinda sẽ tự mình phê duyệt với tổng số tiền trên 40 triệu USD. Cách làm những công việc ở quỹ của đôi vợ chồng này uyển chuyển và có phần thử thách hơn cả khi điều hành Microsoft.

“Chúng tôi trò chuyện ngay cả lúc cùng chạy bộ với nhau”, Bill cười nói. Trong vòng hai năm trở lại đây Bill Gates đã chạy bộ khá đều đặn và cùng luyện tập trí nhớ một cách thú vị và ý nghĩa.
Hai người cùng thảo luận và nêu ra các phương án hành động cho các dự án tài trợ.

Các thông tin này sẽ được cả hai nhẩm nhớ, không ghi lại bằng giấy gì cả và ghi nhớ cho đến khi thông báo lại cho các thành viên quản lý quỹ để thông qua chính thức.

Tháng 6/2006, Warren Buffet đã chuyển giao một phần tài sản trị giá khoảng trên 30 tỉ USD của mình vào việc làm từ thiện, trong đó 83% số tiền được đưa vào Quỹ Bill - Melinda Gates. Khoản hiến tặng này được xem là lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.


Vào thời điểm đó, số tiền được quyên này còn lớn hơn gấp đôi số tiền hiện có của quỹ. Đây là lời công nhận đầy thuyết phục đối với khả năng quản lý từ thiện, một lĩnh vực mới mẻ và nhiều thách thức của nhà đầu tư tài chính hàng đầu với hai vợ chồng Bill Gates.


Tin vui này cũng đến khi cả hai người đang chạy bộ. Melinda nhớ lại với một vẻ bồi hồi: “Tôi nhận được điện báo và không tin vào tai mình nữa. Tôi nói với Bill, và thực sự muốn khóc. Chúng tôi đã làm được, chúng tôi đã có niềm tin của mọi người, và chúng tôi có nhiều trách nhiệm hơn nữa”.

Hiện nay, Quỹ từ thiện của hai vợ chồng bà đã thu thập được 37,6 tỉ USD, trong đó, 3,5 tỉ USD là phần góp của nhà tỉ phú Warran Buffet, người đứng đầu công ty Berkshire Hathaway. Sắp tới đây, Warren Buffet dự định chuyển cho quỹ Bill - Melinda Gates thêm 9.000 cổ phiếu nữa với trị giá 41 tỉ USD.


Như vậy, cùng với các khoản lạc quyên và hàng tỉ USD của chính hai vợ chồng Bill Gates, tổng số vốn của quỹ trong vài năm tới sẽ đạt đến con số khổng lồ là 100 tỉ USD.
Cả hai vợ chồng đều sẵn sàng chi tiêu toàn bộ số tiền này vào việc giúp đỡ những người nghèo khổ không chỉ ở nước Mỹ. Đến nay, quỹ đã chi gần 20 tỉ USD cho nhiều hoạt động từ thiện.

Bill Gates thừa nhận rằng vợ ông hiểu biết về con người hơn ông. Khi động chạm đến việc nên chi tiền trong quỹ vào những lĩnh vực gì, bà Melinda bao giờ cũng có những ý tưởng thông minh hơn chồng.


Melinda nói: “Hai vợ chồng chúng tôi đã cùng soạn lập danh mục những hiện tượng bất công nhất trên thế giới. Và chúng tôi lựa ra những hiện tượng mà chúng tôi có thể đấu tranh”.
Trong hoạt động nhân đạo chung của cả hai vợ chồng, vai trò của bà Melinda dường như nổi bật hơn.

Không phải vô cớ mà người bạn thân của họ – nhà tỉ phú Warren Buffet – đã có nhận xét rất đáng chú ý: “Bill Gates cực kỳ thông minh. Nhưng khi ta nhìn toàn bộ bức tranh chứ không phải một phần riêng biệt nào đó thì Melinda hiển nhiên là vượt xa chồng. Nếu như Melinda không làm việc trong quỹ từ thiện của hai vợ chồng họ thì liệu tôi có trao tiền cho Bill không? Có lẽ không”.

Như vậy, điều kiện chủ yếu thúc đẩy Buffet chuyển giao tài sản chính là người vợ nhanh nhẹn, hiểu biết, thấu tình đạt lý của Bill Gates. Buffet đã khiến Bill phải thốt lên: “Melinda đúng là vận may lớn nhất cuộc đời tôi”.


Yêu thích cuộc sống bình lặng

Là vợ người thường xuyên giữ vị trí giàu nhất thế giới, Melinda không tránh khỏi những phiền toái của cuộc sống.
Dù cố gắng thế nào đi nữa, Melinda cũng rất khó khăn để có được cuộc sống bình thường. Nhưng đến nay, sau nhiều nỗ lực, người phụ nữ dịu dàng này vẫn có cách để cuộc sống của mình đi theo những quỹ đạo mong muốn.

Trước khi kết hôn với Bill Gates, Melinda cũng chịu nhiều áp lực từ khối tài sản đồ sộ này. Melinda luôn băn khoăn con người mải mê công việc và cạnh tranh thương trường của Bill Gates có thích hợp với cuộc sống gia đình hay không.


Câu hỏi: “Cái người có thể phát điên lên vì công việc này nếu làm chồng mình sẽ ra sao?” luôn quẩn quanh trong đầu Melinda.
Cuối cùng bà cũng nói thẳng điều này ra với Bill, rằng: “Nếu muốn em dọn đến ở cùng anh, anh cần phải tạo nên một ngôi nhà thực sự ấm cúng của gia đình giống như em tưởng tượng”.

Sau 6 tháng thảo luận, bàn bạc với vị hôn phu, Melinda đã đích thân thuê kiến trúc sư cải tạo khu nhà ở 3.700m2. Đến nay, cứ cuối tuần Melinda đều cho đội ngũ làm thuê trong tư gia nghỉ, để gia đình có thể trải qua những giây phút quây quần bên nhau như những gia đình bình thường khác.

Có 3 con, điều đáng ngạc nhiên là chính Melinda đã tuân thủ các quy định nuôi con bằng sữa mẹ như các bác sĩ khuyến cáo.
Trong việc nuôi dạy bọn trẻ, Melinda cũng khuyến khích các con tự lập và làm việc chăm chỉ. Bà cũng tranh thủ đưa các con đi cùng trong các chuyến đi từ thiện để vừa rèn luyện sức khỏe, vừa mở rộng tầm nhìn về thế giới cho chúng.

Melinda và Bill cũng thống nhất trong việc để dành thừa kế cho các con. Sẽ không quá 5% tài sản của họ sẽ trở thành tiền thừa kế của 3 con, còn khối tài sản khổng lồ còn lại sẽ trở thành khoản đầu tư từ thiện với mong muốn sẽ đem lại lợi ích cho nhiều người hơn nữa.


Thực ra, ban đầu Bill và Melinda thậm chí không muốn để lại tài sản gì cả nhưng người bạn thân Buffet đã khuyên :
“Một người có rất nhiều tiền nên để lại cho con cái họ đủ số tiền, để chúng thực hiện ước mơ của mình, nhưng cũng không được nhiều đến mức, chúng không muốn làm gì nữa”.

Không thích mua sắm, ghét những nhãn hàng xa xỉ và chỉ trang điểm nhẹ nhàng, Melinda vẫn giữ được vẻ đẹp trẻ trung suốt những năm qua.
Một trong những bí quyết của bà là luyện tập thể thao đều đặn.

Melinda đã tập chạy marathon từ gần 15 năm qua, thậm chí còn tham dự cả giải Seattle Marathon.
Dù bận rộn đến mấy, mỗi tuần bà cũng có một cuộc chạy việt dã, trong 1 giờ vượt qua 11km. Việc Bill tham gia chạy trong 2 năm trở lại đây cũng là do Melinda khuyến khích và thôi thúc.

 

Nguyên Thảo

Kim Kỳ sưu tầm

Hình Internet 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này