Thế giới quanh ta

Thế giới quanh ta (1023)

Tình Yêu Vĩnh Cửu

Related image
Tình Yêu Vĩnh Cửu
 
 
 
Hạnh phúc không phải là điểm đến, hạnh phúc là cả một cuộc hành trình, là quãng thời gian chúng ta được sống khỏe mạnh bên gia đình và không cần lo âu một ngày nào đó bệnh tật sẽ ập đến bất ngờ. Chính vì thế, hãy trân trọng, dành thời gian bảo vệ sức khỏe của bạn và người thân để hạnh phúc luôn tròn đầy.
 
Bài học tình yêu từ cụ bà 94 tuổi, chờ chồng 50 năm mà vẫn mỉm cười khi chồng trở về với người vợ mới - Ảnh 1.
Có một sự thật, đó là trong cuộc sống, đôi khi chúng ta sẽ gặp những bài học đến từ những con người không ngờ nhất. Tôi đã luôn nghĩ rằng, những bài học về tình yêu thì hẳn nhiên, sẽ có những người đồng trang lứa, hoặc ai đó đã từng trải chuyện tình trường. Thế nhưng khi biết được câu chuyện của cụ Nguyễn Thị Xuân, năm nay 94 tuổi - mọi suy nghĩ của tôi đều trở thành… sai hết. Hơn 50 năm chờ đợi, những tưởng chồng đã ra đi trong chiến tranh, và rồi ngày gặp lại, người chồng ấy đã có vợ con yên ấm. Vậy mà cụ Xuân vẫn có những suy nghĩ về tình yêu khiến chúng ta đều có thể tìm ra một bài học cho mình. Những suy nghĩ khiến câu chuyện của cụ không chỉ là một câu chuyện cảm động về một tình yêu không trọn vẹn, mà còn là một bài học mà mọi thế hệ, mọi con người, mọi hoàn cảnh đều có thể soi chiếu.
 
 
Bài học tình yêu từ cụ bà 94 tuổi, chờ chồng 50 năm mà vẫn mỉm cười khi chồng trở về với người vợ mới - Ảnh 2.
 
 
Chuyện tình của cụ Nguyễn Thị Xuân (94 tuổi, thôn Vĩnh Thanh, xã Vĩnh Ngọc, H.Đông Anh, Hà Nội) kể ra rất dài nhưng khi nhắc lại, cụ chỉ muốn tóm tắt nó như một tiểu sử. Đó là vào mùa đông năm 1944, cụ Xuân đi bán hàng ăn ở Hải Phòng rồi tình cờ quen ông Shimizu Yoshiharu (SN 1919, người Nhật Bản). Mối tình ngày ấy bắt đầu bằng lời tỏ tình rất ngô nghê. "Ông ấy chỉ hỏi một câu bằng tiếng Nhật là cô Xuân đã có người yêu chưa, thế là tôi nhận lời và nên duyên vợ chồng".
 

Clip nghe cụ bà 94 tuổi kể chuyện "tình yêu xanh mượt" thời ông bà anh. Thực hiện: Kingpro.
Bài học tình yêu từ cụ bà 94 tuổi, chờ chồng 50 năm mà vẫn mỉm cười khi chồng trở về với người vợ mới - Ảnh 4.
Năm 1945, hai người tổ chức đám cưới. Ông Shimizu Yoshiharu lấy tên Việt Nam là Nguyễn Văn Đức, tham gia quân đội Việt Minh, thực hiện công tác huấn luyện binh lính tại nhiều địa phương. Và dù ông đi tới đâu, cụ Xuân đều bồng bế con theo tới đó.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vào một ngày năm 1954, ông Đức nói với vợ mình phải quay về Nhật Bản, rằng đó là chuyến công tác khá dài, nhiều nhất có thể mất 1 năm. Chia tay chồng, cụ Xuân trở lại ngôi nhà nhỏ ở Hà Nội, gồng gánh nuôi 3 con nhỏ, ngày ngày đợi chờ người đi xa trở về. Nhưng cụ cứ đợi, năm này qua tháng khác, cho đến lúc các con đều đã lớn... người đi cứ đi mãi, không bao giờ thấy quay lại.
 
 
 
      
Tưởng chồng đã mất vì chiến tranh, cụ Xuân chọn ngày cuối cùng gặp chồng để làm ngày giỗ. Thế nhưng trong sâu thẳm, cụ luôn nuôi hy vọng ông Đức vẫn còn sống. Trải qua nhiều khó khăn, biết bao lần hỏi thăm tin tức, năm 2006, lần đầu tiên sau 52 năm xa cách, cặp vợ chồng ngày nào gặp lại nhau nhưng lúc này, ông Đức lại dẫn thêm vợ và 3 người con từ Nhật Bản, cùng sang Việt Nam, thăm mẹ con cụ Xuân.
Cuộc tình đã không trọn vẹn, lời hứa bên nhau trọn đời, hứa sẽ mãi chỉ yêu một người từ nay cho đến mãi về sau đã không thành hiện thực. Hơn 50 năm chìm ngập trong những giọt nước mắt đắng cay, từng hóa điên vì tưởng mất chồng vĩnh viễn, nếu là người khác, ngày gặp lại, chắc họ sẽ phải oán trách nhiều lắm. Bởi trong lúc cụ Xuân ngày ngóng, đêm mong, vật lộn với cuộc sống để lo cho các con ăn học nên người thì ở nơi xa, ông Đức lại yên ấm trong một vòng tay khác.
 
Bài học tình yêu từ cụ bà 94 tuổi, chờ chồng 50 năm mà vẫn mỉm cười khi chồng trở về với người vợ mới - Ảnh 6.
Cụ Xuân nói mình chưa bao giờ hối tiếc vì đã lấy ông Đức.
Thế nhưng vì yêu, cụ Xuân chưa từng nửa lời than trách chồng hay hối tiếc vì ngày còn thanh xuân, đã yêu và lấy người đàn ông ấy.
Khi tuổi đã xế chiều, nghĩ về cuộc tình của mình, cụ Xuân luôn cố gắng kể thật nhiều hồi ức tốt đẹp. Cụ bảo, 9 năm sống cùng ông Đức là quãng thời gian đẹp nhất trong đời cụ. Họ đã bên nhau vào giai đoạn đất nước khó khăn nhất, đi qua nạn đói khủng khiếp năm 1945 và chứng kiến ngày miền Bắc giành lại hòa bình năm 1954.
Thời cuộc chi phối nhiều đến tình cảm riêng tư. Trong cuộc chiến tranh tàn khốc ấy, người ta bên nhau vì nghĩa tình ngày hôm nay, yêu hết mình và sống trọn vẹn từng phút giây vì biết đâu đấy, ngày mai thức dậy, rất có thể 1 trong 2 người sẽ mãi mãi không tỉnh dậy. Giống như đứa con gái đầu lòng của cụ Xuân đã mất vì dịch sốt rét ở chiến trường. Giống như nhiều lần ông bà đã nắm tay nhau, tận mắt nhìn thấy đồng đội mình ngã xuống.
 
Bài học tình yêu từ cụ bà 94 tuổi, chờ chồng 50 năm mà vẫn mỉm cười khi chồng trở về với người vợ mới - Ảnh 7.
Cụ Xuân nói niềm mong ước lúc cuối đời của cụ chỉ đơn giản là được gặp lại người cũ.
"Vào những lúc khó khăn ấy, ông Đức luôn nắm tay tôi cùng vượt qua". Họ đã cùng nhau đi qua biết bao thăng trầm của cuộc sống, những đớn đau không thể diễn tả thành lời. Đối với cụ Xuân, đó là nghĩa tình sâu nặng mà những người không sống cùng thời, rất khó hiểu hết.
Đối với cụ Xuân, tình yêu đẹp không phải cứ nhất nhất là nắm tay nhau từ sáng tới tối, hứa bên nhau từ thanh xuân tới lúc già. Cụ tin rằng, cuộc tình trọn vẹn là khi nó còn sống mãi trong trái tim của cả hai người và tất cả giây phút bên nhau, họ đã yêu bằng một tình cảm nồng cháy, chân thành.
Bài học tình yêu từ cụ bà 94 tuổi, chờ chồng 50 năm mà vẫn mỉm cười khi chồng trở về với người vợ mới - Ảnh 8.
"Ông Đức ít nói, rất lịch sự, hiền lành. 9 năm ở bên nhau, chưa bao giờ ông ấy nửa lời mắng nhiếc, lúc nào cũng nhẹ nhàng, biết tôi sai thì từ từ phân tích". Cụ Xuân cũng rất nhớ những ngày đi công tác xa, ông Đức đều tranh thủ gửi thư hoặc đạp xe về thăm mẹ con cụ. Có lần từ trên Thái Nguyên, ông đạp xe về Hà Nội thăm rồi chiều hôm sau lại trở ngược lại đơn vị.
 
 
 
      
"Tất cả đều do chiến tranh đã chia cắt. Ông ấy đã nhiều lần nhờ người về Hải Phòng tìm tôi nhưng không thấy vì tôi lại về Hà Nội sinh sống. Chiến tranh loạn lạc ly tán, những mối quan hệ chung cũng dần mất đi nên tìm kiếm khó khăn. Ông ấy còn có nhiệm vụ đặc biệt ở Nhật Bản nên không về tìm tôi được", cụ Xuân nói.
Sau khi biết tin ông Đức vẫn còn sống tại Nhật Bản, cụ Xuân chỉ biên gửi một bức thư ngắn gọn: "Tôi không ngờ, tôi lại mất anh?". Đáp lại bức thư đầy chua chát, đớn đau ấy, ông Đức gửi tặng cụ một đôi đũa, 3 chiếc thìa và 1 đôi tất với ngụ ý: "Trước sau vẫn là vợ chồng/ Còn con, còn cái vẫn còn ấm chân". Rồi ông tặng cụ 10 chiếc khăn mặt để lau nước mắt. Hơn ai hết, ông Đức hiểu rõ tất cả khó khăn, đau khổ mà cụ Xuân đã đi qua. Bởi thế vào lúc sức lực sắp tàn, phải ngồi trên xe lăn, ông vẫn cố gắng vượt gần 4.000km sang thăm vợ con ở Việt Nam.
 
Bài học tình yêu từ cụ bà 94 tuổi, chờ chồng 50 năm mà vẫn mỉm cười khi chồng trở về với người vợ mới - Ảnh 10.
 
 
Bài học tình yêu từ cụ bà 94 tuổi, chờ chồng 50 năm mà vẫn mỉm cười khi chồng trở về với người vợ mới - Ảnh 11.
Ông Đức ngày còn trẻ.
Khoảnh khắc gặp lại ông Đức, bao nhiêu giận hờn trong lòng cụ Xuân bỗng chốc tan biến. Đến cuối cùng chỉ còn lại tình yêu thương. "52 năm sau gặp lại, tôi cảm giác tình yêu của ông ấy vẫn không thay đổi". Cụ Xuân bảo, trước khi sang Việt Nam, ông Đức cũng từng gửi một lá thư xin lỗi rất cảm động. Trong thư, ông Đức nói sức khỏe đã rất yếu nhưng vì muốn sang Việt Nam thăm mẹ con cụ Xuân nên sẽ cố gắng rèn luyện bản thân, hồi phục phần nào để có thể giữ trọn lời hứa.
"Ngày sang Việt Nam, gặp nhau rồi thì xúc động lắm, cả hai đều rưng rưng nước mắt. Ông ấy cứ nhìn tôi suốt. Các con thì ôm bố khóc. Ông bảo ông yếu lắm, không đủ sức nói nhiều, chỉ muốn dặn dò các con phải luôn tôn trọng mẹ dù ở địa vị ông, chưa bao giờ làm tròn trách nhiệm của một người cha".
Lần gặp lại đó, cụ Xuân và người vợ của ông Đức cũng bắt tay nhau, ân cần chuyện trò. Cụ Xuân nói mình rất quý vợ ông Đức và hiểu rằng, trong tất cả chuyện này, bà ấy không hề có lỗi. "Tôi hiểu, người đàn ông luôn cần có một người phụ nữ ở bên để chăm sóc. Tôi mừng vì ông ấy đã có nơi yên ấm, không phải vất vả như tôi". 
Cụ Xuân nói điều làm cụ mãn nguyện nhất là đã gặp lại được người cũ, biết ông có gia đình và sống bình an. "Lúc gặp lại, ông ấy nói mình hối hận nhiều lắm. Trên sân thượng, ông ấy nắm tay tôi rưng rưng, hỏi rằng bây giờ anh phải làm thế nào. Tôi bảo tôi chẳng cần gì cả, chỉ cần ông về thăm, thế là đủ".
 
 
 
        
Cụ Xuân bảo tình yêu vốn không có luật lệ, không có đúng sai. Cho đến cuối cùng, tình yêu đẹp hay không đẹp, tất cả đều do cách chúng ta nhìn nhận và đánh giá. Hơn nửa thế kỷ đợi chờ, khi nhớ lại dường như những năm đó với cụ Xuân chỉ như một thoáng đợi chờ dễ dàng bị xóa mờ. Chỉ có kỉ niệm và tình yêu đẹp mới là thứ cụ không thể quên.
“Vì thực ra trong đầu óc người ta, chuyện lưu giữ ký ức tồi tệ rất khó, trừ khi là ngày nào họ cũng nhắc đến và khắc sâu thêm nỗi đau của chính mình. Nếu để tự nhiên, không cần làm gì, thời gian tự khắc sẽ bôi xóa. Có lẽ vì cuộc đời con người ta, đắng cay, khổ cực mới là chuyện thường còn những hồi ức đẹp nó lại thường quá ngắn ngủi, ít ỏi. Nhưng vì nó ít nên ta lại nhớ lâu, bền chắc hơn để mỗi khi lật giở lại kỉ niệm, chỉ muốn kể, muốn tả về khoảng kí ức dịu dàng, hạnh phúc”.
Tha thứ, có lẽ là liều thuốc cuối cùng chữa lành mọi vết thương và nó sẽ giúp tình yêu, hạnh phúc được nối dài từ trong chính trái tim của bạn!
 
 
Bài học tình yêu từ cụ bà 94 tuổi, chờ chồng 50 năm mà vẫn mỉm cười khi chồng trở về với người vợ mới - Ảnh 13.
  Tuyết Hạ
  Mai Lân

Sưu tầm by Nguyễn Ngọc Quang
 
Xem thêm...

Nước Pháp kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Marie Curie

Nước Pháp kỷ niệm 150 năm

ngày sinh của Marie Curie

Marie Curie

Năm 2017 đánh dấu 150 năm ngày sinh của thiên tài Marie Curie. Nhân dịp này, Trung tâm bảo tồn các di tích quốc gia (CMN) tổ chức một chương trình sinh hoạt văn hóa trong vòng 4 tháng. Quan trọng nhất là cuộc triển lãm với chủ đề ‘‘Marie Curie, một phụ nữ tại Điện Danh nhân’’ (Marie Curie, une femme au Panthéon) từ ngày 08/11/2017 cho tới 04/03/2018.

 Cuộc triển lãm tại điện Panthéon (miễn phí cho giới trẻ dưới 26 tuổi) được tổ chức song song với các buổi thuyết trình tại Viện Curie (Institut Curie, trước kia là Viện nghiên cứu Radium) hầu quảng bá các công trình gần đây nhất về phương pháp xạ trị nói riêng, điều trị ung thư nói chung. Bên cạnh đó còn có cuộc triển lãm thường trực tại Bảo tàng Curie. Cả hai cơ sở này (Viện nghiên cứu & Bảo tàng Curie) đều tọa lạc giữa lòng khu phố La Tinh ở Paris quận 5, nằm cách điện Panthéon có vài trăm thước.

Dụng cụ hay máy đo phòng thí nghiệm, ảnh quang tuyến có dùng tia bức xạ (tia X), tài liệu bản thảo, vật dụng cá nhân, sổ tay ghi chép các phương trình vật lý cũng như hóa học, ảnh chân dung của hai vợ chồng Pierre và Marie Curie bên cạnh các đồng nghiệp …… hầu hết các tư liệu trong cuộc triển lãm tại điện Panthéon đều xuất phát từ Qũy lưu trữ của dòng họ Curie cho thấy là trước khi nổi tiếng nhờ giải Nobel, bà Marie Curie đã làm việc trong những điều kiện rất hạn chế, phương tiện tài chính eo hẹp nếu không nói là nghèo nàn.

 Tuân theo trình tự thời gian, cuộc triển lãm dựng lại cuộc đời và sự nghiệp của Marie Curie qua các cột mốc quan trọng : từ những năm tháng đầu đời tại thủ đô Ba Lan (Vacxava) cho tới lúc khởi nghiệp tại Paris (1867-1891), giai đoạn những năm 1895-1896 là lúc bà Maria Sklodowska tốt nghiệp và trở thành Marie Curie khi lập gia đình và có con với ông Pierre Curie. Thời kỳ vinh quang của bà là vào đầu thế kỷ XX, khi Marie Curie đoạt giải Nobel vật lý năm 1903 nhờ các công trình nghiên cứu với Henri Becquerel về phóng xạ.

Gần một thập niên sau đó, vào năm 1911, Marie Curie nhận thêm một giải Nobel thứ nhì trên lãnh vực hóa học, nghiên cứu về đặc tính của hai chất radium và polonium. Đóng góp của Marie Curie không những quan trọng trong ngành khoa học mà còn trên phương diện xã hội. Qua việc khuyến khích và tạo dựng một nền giáo dục phổ thông, chú trọng tới tiềm năng của thí sinh chứ không phân biệt giới tính, bà Marie Curie đã giúp giới đấu tranh đòi nữ quyền giảm bớt các chênh lệch về mặt xã hội, giáo dục giữa hai phái nam và nữ.

Được so sánh như là một thiên tài khoa học do lúc sinh tiền bà là người đầu tiên đoạt hai giải Nobel (vật lý & hóa học) và cũng là nữ giảng viên đại học duy nhất tại Đại học Sorbonne, tới khi qua đời Marie Curie cũng là phụ nữ đầu tiên được nâng lên hàng vĩ nhân khi hài cốt của bà được đưa vào điện Panthéon, nơi yên nghĩ ngàn thu của các danh nhân, không những có nhiều công lao với nước Pháp mà còn có nhiều đóng góp to lớn cho nhân loại.

Cuộc triển lãm ‘‘Marie Curie, một phụ nữ tại Điện Danh nhân’’ lại càng có ý nghĩa vào lúc các quốc gia Pháp, Đức hay Anh, Mỹ đều làm lễ kỷ niệm Đệ Nhất Thế Chiến nhân ngày 11/11. Cách đây đúng 100 năm, trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ nhất, bà Marie Curie đã vận động quyên góp để trang bị các máy chụp quang tuyến (tia X) di động để có thể điều trị các thương binh. Những chiếc máy này có sử dụng xạ khí radon, một loại khí mà bà Marie Curie lấy từ chất radium do chính bà tinh chế. Cũng trong giai đoạn này, bà đã đem bán giải Nobel bằng vàng của mình để lấy tiền gây quỹ tham gia vào ‘‘nỗ lực chiến tranh’’.

 

Sách sử không nói rõ chất radium một khi ứng dụng vào y khoa đã giúp cứu sống bao sinh mạng trong thời chiến, nhưng rõ ràng là chất này đã khiến cho bà Marie Curie lâm bạo bệnh rồi từ trần vào mùa hè năm 1934. Sau nhiều năm làm việc, nghiên cứu chất radium mà không có biện pháp cách ly an toàn, bà đã qua đời do bị nhiễm phóng xạ, thiếu máu trầm trọng do cơ thể mất khả năng tái tạo huyết cầu. Tuy mắc phải nhiều căn bệnh mãn tính, cặp mắt bị mù do đục thủy tinh thể, nhưng cho tới tận những năm tháng cuối đời, bà Marie Curie vẫn đam mê tìm tòi chừng nào tâm trí vẫn còn minh mẫn. Niềm đam mê ấy đã khiến bà dâng hiến trọn đời cho ngành khoa học. Có lẽ cũng vì thế mà bà không bao giờ chịu bó tay, luôn đi tìm cái khôn trong cái khó.

Hồng Anh st

Xem thêm...

Cám ơn nước Mỹ!

Cám ơn nước Mỹ!

Thanksgiving Nov. 23 2017

Thư ghé ngồi trên băng ghế đỏ trước chợ Target cho đỡ mỏi chân sau khi dạo chợ cả tiếng đồng hồ cho hết giờ. Vài ngày nữa là tới ngày lễ Thanksgiving rồi, nên khách ra vào mua sắm khá nhộn nhịp. Ðã 2 giờ rồi. Bằng tầm này mọi khi, Thư đang tay chân cuống cuồng bỏ mỹ phẩm vào những chiếc hộp in hình bắt mắt chạy đều đều trên băng chuyền trải dài trước mặt. Thư làm cho hãng sản xuất mỹ phẩm ở khâu đóng gói được gần một năm rồi. Không biết ai là người đã phát minh ra cách làm việc theo dây chuyền, nhưng nó quả thực là có thể khai thác tối đa sức lao động của con người. Bên ngoài trông có vẻ như chậm chạp, thong thả nhưng tất cả đã được thiết kế nhịp nhàng, chính xác đến từng giây. Bởi chỉ cần ngưng tay, lơ là, lỡ chậm một nhịp thôi thì vài phút sau, cả dây chuyền sẽ ùn lên, tắc lại với những chiếc hộp trống không chờ được bỏ cho đủ mỹ phẩm. Rồi người ta sẽ nhìn cái kẻ vừa sơ ý lỡ chậm đi một nhịp ấy như một tội đồ. Mụ line leader người Mễ ục ịch sẽ lại sầm mặt xuống, lầm bầm những câu gì mà Thư nghe chẳng rõ. Khi ấy, kẻ trí thức nửa mùa như Thư lại thấy tim mình đập rộn lên vì xấu hổ, vì sợ hay vì một lý do nào khác mà Thư không giải thích nổi.

Trí thức nửa mùa, ấy là câu mà chị Hoa làm cùng hãng trước kia dành cho Thư. Ban đầu, nghe nói vậy Thư giận lắm. Nhưng đến khi ngẫm nghĩ lại, câu nói ấy của chị Hoa quả không sai. Là trí thức nửa mùa bởi 5 năm trước, khi còn ở Việt Nam, Thư từng là dân công sở. Váy áo điệu đà, ngồi trong văn phòng ngày tám tiếng, với phần lớn thời gian dành cho buôn chuyện tầm phào cùng các nàng đồng nghiệp sàn sàn tuổi, trẻ trung và nhí nhố. Sang đến Mỹ, cũng như bao người, Thư phải đi làm để kiếm cơm. Nhưng cô chẳng thể dùng kinh nghiệm gần 10 năm làm việc trong văn phòng khi xưa để kiếm một công việc tương tự ở đây. Bởi cái gì Thư có cũng chỉ ở mức nửa chừng. Thư nói và viết được tiếng Anh nhưng chỉ ở mức vừa đủ để giao tiếp thông thường. Còn để trả lời một cuộc điện thoại rõ ràng, nhanh gọn hay lên một bản báo cáo dù đơn giản nhất bằng tiếng Anh thì Thư chịu chết. Ở Việt Nam, Thư tốt nghiệp đại học, nhưng tấm bằng ấy giờ chỉ là mảnh giấy vô giá trị. Thế là lăn lóc, vật vờ qua hết hãng xưởng này đến hãng xưởng khác. Có người bảo Thư đi học làm nail kiếm tiền nhanh mà dễ hơn. Nhưng Thư chần chừ chẳng dám thử, bởi cô tự thấy mình tay chân vụng về, chẳng thể cầm tay, cầm chân giũa móng cho ai được. Hay âu cũng là cái số, mỗi người một ngành, một nghề. Ai cũng đi làm hết một việc thì những việc còn lại ai sẽ làm, giống như mẹ Thư vẫn từng nói.

Phải nói thế nào cho đúng về cảm giác của Thư những ngày đầu mới đi làm? Thư không biết dùng từ gì để diễn tả cho nổi: thất vọng, mệt mỏi, chán chường? Một nỗi trống trải, tổn thương đè nặng trong lòng Thư mấy năm đầu. Cái ngày xưa cứ như cái gai đều đều châm nhoi nhói vào lòng Thư. Cái ngày xưa, Thư trưởng phòng Nhân sự váy áo lượt là, thỉnh thoảng lượn qua xưởng sản xuất đưa quyết định, nội quy mới cho công nhân. Ðến bây giờ Thư mới tự hỏi, sao ngày ấy cô không đứng lại dù chỉ vài phút để nhìn xem “đám công nhân” gần cả ngàn người kia đang tay chân cuống quýt ra sao, trong hãng xưởng của ông chủ người Ðài Loan nóng đến “chảy mỡ” vào mùa hè oi ả. Hay dành thêm chút thời gian để nghe ai đó trình bày, mong xin nghỉ thêm vài ngày vì vướng việc nhà, con nhỏ. Mà Thư chỉ chỏng lỏn buông mỗi một câu “cứ theo quy định mà làm”. Thế mới hay vật đổi sao dời. Cũng có ngày Thư phải lăn lóc trong “cái đám công nhân” ấy, nhưng mà là ở một nơi khác, với những khuôn mặt và màu da khác.

 

Cho dù có mệt mỏi, tổn thương thì Thư cũng vẫn phải đi làm. Cô chẳng thể ngồi yên một chỗ trước đống billsđều đặn gửi về. Nhưng 5 năm rồi mà Thư chẳng có lấy một việc làm ổn định. Chỗ thì lương thấp quá, chỗ thì công việc nặng nhọc quá sức, hay chỗ cô tạm thích và thấy mình có thể làm được lâu dài thì Thư lại bị lay off. Cứ thế, hành trình việc làm của Thư như đám lục bình dập dềnh trôi, nay đây, mai đó. Một lần nói chuyện với cô bạn đồng nghiệp cũ, bạn hỏi ở Mỹ, Thư làm gì? Thư gọn lỏn “tớ làm cu li”. Sau câu trả lời ấy thì cuộc nói chuyện trở nên rời rạc và vô duyên hết mức, để rồi sau lần đó, cả hai chẳng còn liên lạc gì. Thư chỉ là buột miệng nói, nhưng sau đó thì thấy xấu hổ và tủi thân. Còn cô bạn thì lại nghĩ chắc Thư sợ bị xin xỏ, nhờ vả gì mới tự hạ thấp mình như vậy. Bởi ở Việt Nam, ai cũng biết đi Mỹ là hái ra tiền. Không ông nọ bà kia thì cũng chủ nhà hàng, cửa tiệm. Chả có ai bỏ xứ sang Mỹ để đi làm cu li bao giờ.

Ngày mới đến làm ở hãng sản xuất mỹ phẩm này, Thư thấy công việc nặng nhọc quá mà tiền lương cũng chẳng đáng là bao. Thư toan nghỉ vài lần nhưng ở nhà gọi sang cần tiền gấp. Thế là Thư cố kỳ cạch như con trâu ráng kéo cày. Thật buồn cười làm sao, đi làm thì Thư mệt mỏi, thấy lòng bị tổn thương bởi ý nghĩ so sánh, ngày xưa mình từng thế kia giờ mình lại đang thế này. Ðến khi mất việc rồi thì cô lại hoang mang, lo lắng. Lấy đâu tiền mà trả tiền nhà, tiền bills, cả tiền để gửi về quê nữa. Thư cứ ngồi thừ ra như thế một hồi lâu. Một cô nàng Mỹ trắng khua giầy lộc cộc lướt qua bỏ lại mùi nước hoa thơm nức. Dân công sở, Thư nhủ thầm rồi khẽ thở dài. Thư lại thấy mình nhỏ bé và đơn độc quá. Rồi Thư thấy nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ một con đường quen vẫn xe qua mỗi ngày. Thư lại nhớ đến cô nàng da đen Châu Phi Samya rầu rĩ khẽ cười tạm biệt trước cửa hãng, níu Thư lại nói một câu chẳng ăn nhập gì “Ðất nước tớ nghèo đói, tham nhũng, độc tài quá nên tớ mới phiêu bạt đến chốn này. Nhưng bạn ạ, tớ vẫn cầu nguyện hàng đêm. Cầu nguyện không phải cho bản thân tớ một ngày nào đó trở nên giàu có, mà là cầu nguyện cho một ngày quê hương tớ sẽ bình yên. Ðể tớ lại trở về.”.

Nắng phủ vàng chiếc ghế đỏ trước cửa tiệm Target. Về thôi. Cả 2 tuần nay sau khi xin tiền thất nghiệp tại văn phòng thất nghiệp của thành phố, ngày nào có đi đâu Thư cũng canh khoảng  2 tới 3 giờ chiều là về chờ ông phát thư da đen hiền lành đậu xe vào parking lot rồi bỏ từng xấp thư, giấy quảng cáo vào từng ô hộp thư chung của chung cư.

Có thư rồi. Thư gom hết mang vào nhà với bao hồi hộp chờ đợi.

– Chúa ơi! Tiền thất nghiệp về rồi!

Thư hét lên sung sướng, tảng đá ngàn cân vừa rơi ra khỏi lòng cô. Cô ôm cái phong bì vào ngực. “Cám ơn nước Mỹ, cám ơn nước Mỹ!”

Cô nghĩ tới món gà Tây trong kỳ lễ này, cả trước khi bị lay off.

 

Mộc Miên

Ngọc Lan st

Xem thêm...

HAPPY THANKSGIVING : Con Mỹ gốc Việt...

HAPPY  THANKSGIVING NOV.23-2017

Truyện Ngắn: Con Mỹ Gốc Việt

- Tên họ cháu là gì?

- Tony Nguyễn.

- Vậy cháu là người Mỹ gốc Việt (Vietnamese American) ?

- Không, tôi là người Mỹ (American).

- Không có ai là người Mỹ “ròng” tại xứ Hoa Kỳ nầy cả. Chỉ có người Da Đỏ thường được xem là người Mỹ Nguyên Gốc (Native American) ở đây thôi. Nhưng thực ra họ cũng là người xứ khác đến đây sớm nhất mà thôi. Đây là đất nước hợp chủng nên mỗi dân tộc trước khi thành người công dân Mỹ đều có tên xứ gốc của mình đứng ở đằng trước như người Mỹ gốc Nhật, người Mỹ gốc Hoa, người Mỹ gốc châu Phi, người Mỹ gốc Anglo...

- Tôi không cần biết chuyện của người khác. Tôi chỉ biết tôi là người Mỹ.

- Không thể được. Theo luật pháp, cháu không có quyền chọn lựa mà phải xác nhận mình là người Mỹ gốc Việt.

- Tôi không quan tâm luật pháp gọi tôi là giống dân gì. Tôi chỉ biết tôi là người Mỹ. Chấm hết!

Thằng bé 16 tuổi, nhưng trông tướng mạo già dặn như trên 20 tuổi. Nó nói tiếng Anh, không hề chêm một âm lai Việt, ngay cả khi nói đến họ Nguyễn của mình, nó cũng phát âm “Uyn” theo kiểu người Mỹ phát âm chữ “win”. Nó có vẻ hoàn toàn dị ứng với hết thảy những gì liên quan đến Việt Nam.

Hình minh họa

Suốt 18 năm làm việc cho chương trình “CPS” (Children’s Protective Services: Bảo Vệ Thiếu Niên) với nhiệm vụ điều tra cho tòa án về hành động phạm pháp ngược đãi con em của cha mẹ hay người nuôi dưỡng – theo luật pháp Mỹ – đây là lần đầu tôi gặp một thiếu niên Việt Nam cứng đầu và bất chấp đến như thế. Theo hồ sơ tòa án mà tôi được phân công điều tra và giải quyết, Tony Nguyễn là một thiếu niên “nạn nhân” của trường hợp bị cha mẹ “hành hạ, ngược đãi”. Đây là một gia đình Việt Nam định cư tại Mỹ đã trên hai mươi năm. Chỉ có 

Tony sinh tại Mỹ và là con con út trong một gia đình có 5 anh chị em, bốn người con lớn đều thành đạt. Tony muốn tự do cá nhân theo kiểu Mỹ; trong lúc cha mẹ lại muốn giáo dục con cái theo truyền thống Việt Nam bằng cách dùng những biện pháp nghiêm khắc “truyền thống” như la mắng thậm tệ, cấm cản khắt khe, yêu cho roi cho vọt... Sự xung đột văn hóa âm thầm nhưng mãnh liệt đã tạo ra những ngăn cách thế hệ và những khủng hoảng tâm lý. Lăng kính tiêu cực và chối bỏ mỗi ngày một đậm khi nhìn nhau. Cha mẹ kết tội con là “đồ Mỹ hóa”. Trong lúc con cái phản ứng lại, xem cha mẹ như “lỗi thời, còn quá Việt Nam”. Tình cảm kết tụ bằng hiểu nhau và chia sẻ sẽ thành linh động và yêu thương. Cảm xúc chồng chất bằng khước từ và bảo thủ sẽ thành đóng băng và xung đột. Đang giữa năm học lớp mười, Tony bỏ nhà ra đi, gia nhập băng đảng “Asian Blood” và bị bắt khi đang xung trận đấu đá, thanh toán nhau với các băng đảng khác.

Hình minh họa

Tony bị đưa vào nhà tù thiếu nhi, đợi tòa án thiếu nhi điều tra và chờ ngày xử án.

Theo thủ tục cơ bản, tôi phải tiếp xúc với cả hai phía nạn nhân và can phạm. Thông thường trong một hồ sơ “trẻ em bị ngược đãi” thì cha mẹ hay người nuôi dưỡng là can phạm và đứa trẻ bị hành hạ là nạn nhân. Nhưng trong hồ sơ nầy, Tony vừa là nạn nhân vì bị cha mẹ ngược đãi trong gia đình, vừa là can phạm vì theo băng đảng gây bạo động ngoài xã hội.

Lần đầu tiếp xúc với Tony trong văn phòng phỏng vấn, tôi không ngạc nhiên vì chẳng lạ gì với tính cách thường làm ra vẻ “hảo hớn” của thiếu niên Mỹ vì biết rằng luật pháp xứ nầy bảo vệ thanh thiếu niên quá mức cần thiết. Điều làm tôi băn khoăn là thái độ quay lưng chối bỏ quyết liệt nguồn cội của mình. Với tâm trạng đó, hôm sau tôi đến nhà gặp cha mẹ của Tony. Ông bà Nguyễn ở độ tuổi ngoài năm mươi. Gia đình trên mức trung lưu với nhà cửa khang trang và công việc làm ăn ổn định. Nói về trường hợp cậu con út Tony, ông Nguyễn phản ứng đầy giận dữ. Ông chỉ vào bốn khung ảnh lồng bằng cấp bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, kỹ sư của bốn người con lớn treo ở phòng khách như một bảo chứng điển hình cho khả năng làm cha mẹ đúng đắn của ông bà. Trong lúc bà Nguyễn khóc rấm rức, than thở nhớ thằng con út “đứt ruột đứt gan”!

Hình minh họa

Nhu cầu công việc và nguyên tắc thu thập dữ kiện không cho phép tôi đi xa hơn những vấn đề cần biết mà chỉ xoáy vào trọng tâm về cách dạy con trong gia đình ông bà Nguyễn có hay không những điều sai trái trên căn bản luật pháp Hoa Kỳ. Ông Nguyễn vẫn khăng khăng cho rằng, cách dạy con “yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi” áp dụng với đứa con út “Mỹ con” của ông là đúng. Theo ông, nếu cách dạy con của ông sai thì tại sao các con lớn của ông đều thành tài, ra trường là bác sĩ, kỹ sư. Vì không ở trong vị thế tham vấn, nên tôi chỉ ghi nhận lời xác định của ông đối với Tony để cho tòa án xét xử và phán quyết.

Những lần sau gặp và nói chuyện với Tony, tôi biết thêm những điều thú vị rằng, cậu bé nói được tiếng Việt kha khá và thích nhạc Việt vì được bà ngoại chăm sóc và nuôi lớn suốt thời hoa niên trong khi cha mẹ suốt ngày bận bịu với công việc làm ăn. Những đứa trẻ thuộc thế hệ thứ hai của những gia đình di dân trên đất Mỹ thường nhìn về quê hương nguồn cội của mình qua hình ảnh cha mẹ. Ông Nguyễn đóng vai trò then chốt trong gia đình là “bóng dáng quê hương” trước mắt đứa con gốc Việt sinh ra trên đất Mỹ. Bởi vậy, khi ông Nguyễn trở thành “kẻ ngược đãi” trước mắt Tony thì phản ứng chống đối và tâm lý chối bỏ người cha đã lan tỏa làm mờ mịt cội nguồn.

Chuyện tòa án, luật pháp, nguyên tắc... là những quy ước xã hội. Nhưng bên cạnh trách nhiệm hành xử một vụ việc theo quy ước như những chuyên viên đồng sự người Mỹ, tình cảm Việt Namvẫn thường xuyên cựa quậy trong tôi. Tâm hồn người cha Việt Nam nửa đời đất khách và đứa con sinh ra ở Mỹ đều được tưới tẩm trong mỗi nền văn hóa Đông Tây. Muốn chung sống hòa hợp cần mở lòng chấp nhận sự khác biệt của nhau. Tôi đã đem điều tâm cảm nầy làm phương tiện hóa giải sự xung đột giữa ông Nguyễn và Tony.

 

Lễ Tạ Ơn – Thanksgiving, với bốn ngày nghỉ liên tục –  là thời điểm mang ý nghĩa sum họp, đoàn tụ gia đình thiêng liêng nhất trong năm đối với người Mỹ. Trường hợp gia đình ông Nguyễn đã được giải quyết. Ông bà Nguyễn bị phạt theo luật định về tội “ngược đãi” con cái. Tony bị đưa vào trại Giáo dục Thiếu niên (Boys Ranch). Hồ sơ tạm đóng trong hệ thống công quyền Mỹ nhưng vẫn còn mở trong lòng tôi, tấm lòng của một người Việt Nam sống xa quê hương nhưng không xa tình tự dân tộc.Tôi đã chọn thời điểm nầy làm chiếc cầu nối giữa hai cha con ông Nguyễn.

Chiều Thanksgiving trời lạnh và mưa phùn lất phất, tôi lái xe chở bà ngoại của Tony đến Boys Ranch cách Sacramento chừng 50 cây số. Khu trại nằm lặng lẽ trong mưa ẩn sau rừng sồi già cỗi. Toàn cảnh vắng vẻ vì hầu hết các thiếu niên trại viên đã được gia đình bảo lãnh về nhà ăn lễ Tạ Ơn. Người quản đốc trại, cũng là bạn quen lâu ngày trong công việc, đưa chúng tôi vào khu nhà ngủ của trại viên. Cuối hành lang xa hun hút là phòng của Tony.

Tiếng nhạc Việt “Xuân nầy con không về” vẳng ra từ căn phòng nhỏ nghe như âm hưởng lạc loài từ một không gian quá khứ. Từ bên ngoài khung cửa nhìn vào, hình ảnh Tony ngồi gục đầu trên chiếc bàn nhỏ cạnh cái Ipod đang phát ra lời hát Việt làm tôi nao nao. Từ phía sau, bỗng vang lên tiếng kêu thảng thốt đầy xót xa và thương cảm của bà ngoại lâu ngày không gặp cháu:

- Tony, con ơi! Ngoại đây nì!

Thằng bé ngạc nhiên đứng lên, quay đầu ra và bắt gặp ngay bà ngoại đang dang tay ùa tới ôm cháu. Tiếng kêu mừng rỡ và cảm xúc không còn khoảng trống cho một sự đắn đo ngăn trở. Tên du đảng hè phố Mỹ chợt hiện nguyên hình là đứa bé Việt Nam cả một thời thơ ấu được thấm đẫm tình yêu gia đình trong tiếng ru của bà ngoại. Nước mắt lưng tròng, nó thốt lên bằng tín hiệu trái tim:

- Ngoại!

Người quản đốc và tôi lãng ra ngoài phòng tiếp tân.

Theo sự dàn xếp trước với ông bà Nguyễn và gia đình, tôi bảo lãnh cho Tony về nhà năm ngày trong dịp lễ Tạ Ân. Khi chiếc xe rẽ vào sân trước vừa dừng lại, ông bà Nguyễn và cả gia đình ùa ra ôm chầm Tony. Trong phòng khách sáng lên với hoa đèn có đủ mặt gia đình, ông Nguyễn ôm vai Tony, với một chút khó khăn nhưng đầy thương yêu và quyết đoán, ông nói như chưa từng nói với con mình trong quá khứ:

- Ba xin lỗi con. Ba mẹ và cả nhà ai cũng thương con hết, con biết không?

Thằng bé cúi đầu, nói tiếng Việt như lần đầu biết nói:

- Dạ. Con xin lỗi ba mẹ...

Khi tôi khéo léo kiếu từ để trả lại không khí đầm ấm đoàn tụ của gia đình, Tony ngập ngừng, nói với:

- Bác ơi! Bác xin cho con về nhà. Con muốn đi học lại.

Môi trường xã hội như phương Tây, cha mẹ dạy con theo cách của mình như ông bà Nguyễn, hệ thống bảo vệ và giáo dục thanh thiếu niên như Hoa Kỳ là hình ảnh một “dĩa xà lách văn hóa” nhìn thì đẹp nhưng chưa chắc đã là ngon hay có khi khó nuốt nếu không cùng khẩu vị. Tony cũng như hàng vạn những người trẻ tuổi Việt Nam lớn lên nơi xứ người, mỗi ngày một xa lạ dần với nguồn cội. Đã có người ví người Việt tha hương cũng mang tâm sự của đàn cá Hồi, cứ năm năm theo sự luân chuyển của suối nguồn tự tại, bản năng tự nhiên lại thôi thúc quay về nguồn cội. Thác ghềnh, gió to, sóng dữ và những gian nguy sinh tử chờ chực khắp nơi trên đường về không ngăn được động lực sinh tồn vô hình vươn dậy.

Mùa Thanksgiving nơi xứ người, nghĩ về quê hương nguồn cội, mình lại lẩn thẩn tự hỏi mình đã ở đâu từ bốn nghìn năm trước và sẽ về đâu qua bốn nghìn năm sau. Dẫu là hư vô hay luân hồi chuyển hóa, lẽ đâu sự có mặt hôm nay lại chỉ là một cuộc tình cờ.

 

Trần Kiêm Đoàn

Sacramento, mùa Thanksgiving 2012

Kim Quy st

Xem thêm...
Theo dõi RSS này