Lễ Độc Lập Hoa Kỳ và Di Dân Việt Nam

Lễ Độc Lập Hoa Kỳ

và Di Dân Việt Nam

★ ✬ ★ =

Lời nói đầu: Người Việt đến Mỹ ngay sau biến cố tháng tư 75 được gọi là di tản. Ra đi bằng phi cơ và bằng tàu trên biển Đông. Sau khi hải quân Hoa Kỳ rời khỏi hải phận Việt Nam thì những con thuyền vượt biển đầu tiên ra đi. Tất cả đều được nhận vào Hoa Kỳ dưới danh hiệu ty nạn vào khoảng 150 ngàn. Con số này nhiều hơn con số chính phủ Mỹ dự trù chỉ nhận có hơn 60 ngàn người.

Vào thời đó nước Mỹ chưa có vấn nạn di dân và lòng người Mỹ còn mở rộng sau thảm kịch cộng sản chiến thắng Sài Gòn. Ngày 4 tháng 7 năm 75 những người Việt đầu tiên hiện diện tại Hoa Kỳ vẫn chưa cảm nhận được hương vị của lễ Độc Lập.

Nhiều gia đình còn ở trong trại tạm trú chờ các nhà thờ bảo trợ. Qua đến năm 1976, Hoa Kỳ kỷ niệm 200 năm lập quốc, người dân Việt mới lưu ý tham dự cùng các gia đình bảo trợ.

 Ngày nay, trải qua gần nửa thế kỷ sống trên quê hương mới, xin nhắc lại một lần ngày lễ vĩ đại nhất của Hoa Kỳ.

​Lịch sử lễ Độc lập…

Hoa Kỳ lập quốc năm1776 có 4 triệu dân, ngày nay 2018 có 330 triệu. Trải qua 242 năm gia tăng 326 triệu.– Năm 1976 người Việt tại Mỹ có 170 ngàn, ngày nay có 1 triệu 800 ngàn. Sau 42 năm tăng hơn 10 lần– Dân Việt tỵ nạn xây dựng cuộc sống trên đất mới trong khi thế giới chuyển tiếp giữa 2 thế kỷ 20 và 21.

Về kỹ thuật, điện tử thay đổi toàn bộ đời sống.–Về nhân văn, với sự chấp nhận hôn nhân đồng tính, Hoa Kỳ đã tiến bước rất dài trên phương diện tư tưởng, bỏ xa phần còn lại của thế giới cả trăm năm.–Người Việt đã có mặt trên miền đất lịch sử trong một giai đoạn lịch sử.

Xin cùng quay về với câu chuyện lập quốc Hoa Kỳ. Lịch sử quê hương mới một thời bao dung mà di dân tỵ nạn chúng ta đã một thời sống chết tìm đến.

Ngày Quốc lễ

Ngày 4 tháng 7 hàng năm là ngày lễ trọng đại nhất của Hoa Kỳ. Đó là ngày Mỹ quốc Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 và bắt đầu chiến tranh cách mạng chống lại Anh quốc trong 6 năm. Đến 1782 Anh và Mỹ ký thỏa ước ở Paris và công nhận Hoa Kỳ độc lập. Người Mỹ đã chiến thắng trận chiến tranh đầu tiên của lịch sử Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.  Sau kỳ kiểm kê dân số 2010 nước Mỹ dần dần trở thành là đất nước của các sắc dân mà trong đó da trắng sẽ chỉ còn 50% tổng số.

Là công dân gốc Việt trong đợt di dân cuối cùng của thế kỷ 20, chúng ta nên tìm hiểu về đất nước mà chúng ta lập nghiệp. Các di dân tỵ nạn Việt Nam đầu tiên đến Mỹ   năm 1975.

Đến bây giờ nước Mỹ đã già thêm 40 năm nhưng lịch sử trẻ trung của Hiệp Chủng Quốc rất phong phú và cũng rất độc đáo. Hoa Kỳ là quốc gia bao gồm tất cả các sắc dân, các ngôn ngữ, các tập tục văn hóa. Nước Mỹ đã có các kỷ niệm vừa hung bạo vừa nhân từ. Tiêu diệt da đỏ, bắt da đen làm nô lệ, kỳ thị da vàng, đem quân đi làm cảnh sát trên thế giới, đi đến đâu là gây sóng gió ở đó.

Hoa Kỳ cũng là quốc gia phát huy tự do dân chủ toàn cầu, viện trợ kinh tế, quân sự, giáo dục, xã hội, văn hóa cho toàn thể các quốc gia chậm tiến trên thế giới. Nước Mỹ sống giữa 2 đại dương và có ba múi giờ. Biên cương của Hoa Kỳ trên địa cầu là một vùng đất bao la tiếp giáp với Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ là ải địa cầu trấn giữ Bắc Băng Dương.

Biên giới không gian của Hoa Kỳ lên đến mặt trăng và Mỹ quốc cũng là quốc gia tiên phong ghi dấu vết trên Hỏa tinh. Hai ngàn vệ tinh kinh tế thương mại và quân sự của Hoa Kỳ canh gác toàn vùng khí quyển của quả đất. Đế quốc nhân văn của Hiệp Chủng Quốc thống trị thế giới bằng các đại sứ quán và tòa lãnh sự luôn luôn tấp nập các khách hàng xin visa.

Cơ sở ngoại vi của các sứ quán Hoa Kỳ là những chỗ bán thức ăn Fast Food McDonald, Kenturky, nước Coke, nhạc Rock và quần Jeans. Mỹ phát thực phẩm cho dân nghèo toàn thế giới nhưng đi đến đâu cũng bị đuổi về nhà: Yankee go home. Đó là Hoa Kỳ ngày nay, quá trẻ trung vì chỉ có hơn 240 năm lập quốc. Đất nước mà chúng ta đang là công dân có đứng lên tuyên thệ bảo vệ và tuyệt đối trung thành.Vì vậy chúng ta cũng nên biết qua lịch sử của quê hương mà phần đông chúng ta sẽ cùng các thế hệ tiếp theo ở lại đời đời.


Người đầu tiên trên đất Mỹ?

Các nhà nhân chủng học cho biết 12 ngàn năm trước con người tiền sử Á Châu đi tìm đường sống đã đi từ Á qua Mỹ. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là giả thuyết. Thực tế ghi nhận đây là miền đất mới không có nhiều chỉ dấu của các nền văn minh ngàn năm trước như Âu châu.

Chỉ có dấu vết các bộ lạc tàn lụi. Sau cùng chỉ còn các bộ lạc da đỏ tồn tại cho đến thời kỳ 1500 các sắc dân tây phương mới đến Mỹ bằng đường biển. Nổi danh nhất là nhà hàng hải Columbus khám phá ra Mỹ châu. Rồi tiếp theo là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh Cát Lợi, Pháp, Đức rồi đến Nga và các quốc gia Đông Âu.

Các cuộc chiến đẫm máu, triền miên ở tân lục địa giữa người địa phương và dân giang hồ mới đến. Chiến tranh giữa các thế lực Tây phương. Sau cùng Anh quốc ổn định được tại phần lớn miền Đông Hoa Kỳ và các di dân bắt đầu lên đường.

Con tàu Hoa Tháng Năm, May Flower nổi tiếng đến Mỹ năm 1620 vỏn vẹn có 100 người mà một nửa là thủy thủ đoàn. Con tầu này đã trở thành biểu tượng của di dân định cư trên đất mới vì có đem theo gia đình. Năm 1621 di dân được mùa đã cùng tổ chức Lễ Tạ Ơn và ăn tiệc mừng với dân da đỏ trong một lễ Thanksgiving đầu tiên của nhân loại.  

Trong khi đó hơn 100 năm nước Mỹ thuộc Anh đã hình thành với 13 tiểu bang liên hiệp ở miền Đông. Phần lớn làm nghề nông, trồng thuốc lá, trà, và lúa. Các vùng khác thuộc Tây Ban Nha, Pháp vẫn còn tranh chấp.

Cuộc chiến 1754 giữa Pháp và Anh giành đất trong 7 năm, sau cùng Anh thắng và mở rộng biên cương thuộc địa. Tiếp theo nước Anh cần tiền cho mẫu quốc nên đánh thuế các thuộc địa, thu tiền các nhà sản xuất và các đồn điền tại Hoa Kỳ.

Chính sách thuế của Anh ban hành năm 1774 trở thành mầm mống cho cuộc chiến dành độc lập tại Hoa Kỳ. Tướng Washington nhận trách nhiệm lãnh đạo cuộc chiến tranh cách mạng vào năm 1775 và chính thức đứng ra tuyên bố độc lập 1776.

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập do Thomas Jefferson đại diện tiểu bang Virginia viết ra lúc ông 33 tuổi được coi là một áng văn tuyệt tác nhất của nhân loại và mở đầu cuộc chiến dành độc lập cho đến chiến thắng cuối cùng bằng hiệp định Paris 1782.

Sau chiến thắng, Hoa Kỳ có 5 năm xây dựng dân chủ từ 1782 đến 1787 để hiến pháp ra đời với 9 tiểu bang chính thức rồi đến 13 tiểu bang thỏa hiệp. Những lá cờ Mỹ đầu tiên có 9 ngôi sao rồi 13 ngôi sao và bây giờ là 50 ngôi sao.

Suốt từ buổi bình minh của Hiệp Chủng Quốc cho đến nay, nước Mỹ đã trải qua biết bao nhiêu là biến động. Từ hơn 4 triệu dân trở thành trên 330 triệu. Trên giấy tờ có 240 năm lập quốc nhưng thực sự quốc gia này đã thành hình từ trên 300 năm.

Ý nghĩa Hiệp Chủng Quốc.

Phải chăng Hoa Kỳ là một đĩa rau trộn gồm đủ mọi sắc thái nhưng tía tô vẫn là tía tô, rau giấp cá vẫn nồng nàn mùi tanh của biển mặn. Hay đây là nồi cháo mà mọi thứ thực phẩm đã được hòa tan thành một hương vị mới.Trước khi nói đến nhân quyền, tự do và bình đẳng, nước Mỹ đã trải qua các giai đoạn hành động tàn nhẫn với các sắc dân thiểu số.

Vào thế kỷ thứ 19, da trắng buộc dân da đỏ phải di cư tập trung vào các khu vực dành riêng, phần nhiều là đồng khô, cỏ cháy. Thảm kịch diễn ra trên các con đường mòn di chuyển dân da đỏ được gọi là: Đường mòn nước mắt. Da đỏ già trẻ lớn bé đều phải ra đi, bỏ nhà cửa, vườn trại để vào các khu hoang vu xa cách vạn dặm. Hàng chục ngàn người đã chết.

Trong khi đó ở miền Nam Hoa Kỳ, dân da đen bị bắt làm nô lệ đem từ Phi châu qua đã trở thành một lực lượng lao động quan trọng. Những bàn tay đen đủi đã xây dựng nên nền nông nghiệp miền Nam nuôi cả nước Mỹ vào thời kỳ lập quốc với những vườn bông vải trắng xóa.

Nhưng cũng chính da đen là vấn nạn cho cuộc chiến tranh tương tàn Nam Bắc. Những người da đen bỏ trốn các nông trại đã bị đánh roi cho đến chết. Câu chuyện Uncle Tom với bài ca da đen lừng danh: Let my people go, Hãy cho dân tôi đi, đã trở thành một vấn nạn trong lương tâm Hoa Kỳ.

Da đỏ xin ở lại thì bị đuổi đi. Da đen xin đi thì bị giữ lại. Ngay khi nội chiến chấm dứt, da đen được giải phóng mà vẫn còn bị kỳ thị. Cuộc chiến đấu vĩ đại của một đàn bà da đen năm 1955 không chịu ngồi phía sau xe bus đã trở thành một cuộc tổng đình công tẩy chay xe bus tại Hoa Kỳ.

Từ cuộc đình công này, da đen có được một nhà lãnh đạo đầy huyền thoại là mục sư King mà tên tuổi trở thành một ngày quốc lễ. Rồi đến lịch sử Tây tiến làm đường xe lửa đem da vàng Nhật Bản và Trung Hoa nhập cuộc. Các tiền nhân di dân châu Á cũng đã ngậm đắng nuốt cay ở miền Tây Hoa Kỳ trong suốt thời lịch sử cận đại. Dân da vàng có một thời chỉ được làm cu ly đường xe lửa hay thợ giặt ủi.

Sau cùng đến lượt chúng ta. Việt Nam ngày nay có một triệu bẩy trăm ngàn người tại Hoa Kỳ. Sau đợt di tản 75 tiếp đến là thuyền nhân từ 75 đến 95 rồi là các HO, con lai, ODP đoàn tụ nhập cư cho đến cuối thế kỷ thứ 20. Sau cùng là diện hôn nhân. Mười quận hạt có dân số đông đảo nhất là Orange, Santa Clara, Los Angeles, Houston, San Diego, Seattle, Oakland, DC, và Dallas.

Chúng ta không phải là sắc dân cuối cùng, và chúng ta không phải là sắc dân duy nhất có quê hương cố quốc. Di dân tỵ nạn Việt Nam tùy theo hoàn cảnh và cảm nghĩ, có người mang theo quê hương, có người bỏ lại quê hương.

Tuy nhiên chúng ta không thể hành xử khác tập thể di dân trong trách nhiệm xây dựng đất mới. Sắc dân nào cũng có những niềm tự hào của họ. Ai cũng có các hãnh diện về truyền thống văn hóa, ngôn ngữ của cội nguồn.

Điều quan trọng là phong cách đối xử và tìm hiểu để hội nhập. Chúng ta phải cảm ơn những người đi trước đã mở đường. Kể cả người xấu lẫn người tốt đã sống và đã qua đi trong công cuộc chinh phục đất nước vĩ đại này.

Có điều hết sức trùng hợp là dù bất cứ sắc dân nào, dù cố quốc lầm than hay tươi sáng. Dù quê hương cũ còn độc tài cộng sản hay đã tự do dân chủ, di dân đến đây là ở lại đây. Những nhà văn Nga và Đông Âu lưu vong chống Cộng đã từng sống chết với quê hương rồi cũng phải nói rằng.

Quê hương bây giờ là nơi chúng ta sống có hạnh phúc. Đó là lý do người Anh ngày xưa chiến đấu chống cố hương để trở thành người Mỹ. Người Nhật trong đệ nhị thế chiến, bị cầm tù trong trại tập trung nhưng vẫn tình nguyện cầm súng chiến đấu chống Thiên Hoàng để trở thành người Mỹ.

Bởi vì trên thế giới chỉ có Hoa Kỳ mới thực sự là đất của cơ hội. Quốc gia mà con một người da đen ngoại quốc, xuất thân cán sự cộng đồng đã trở thành tổng thống. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ hơn 200 năm trước đã ghi điều khoản bất hủ là con người được quyền mưu cầu hạnh phúc.

Mùa hè năm qua, để chào mừng lễ độc lập lần thứ 237, tối cao pháp viện Hoa Kỳ đã ban hành nghị quyết lịch sử. Công nhận hôn nhân đồng tính, cho phép các cơ thể khác biệt cũng được mưu cầu hạnh phúc. Và bây giờ là chuyện dân Việt tại Hoa Kỳ.

Một lần nữa, đợt người Việt đầu tiên ở Mỹ sẽ là nhưng cây tràm, cây đước giữ chặt đất cho một cộng đồng tương lai phát triển. Con cháu chúng ta sẽ vừa nhớ ơn ông cha đã đến đất này mà cũng không hổ thẹn về những đóng góp của chúng ta trong những giai đoạn đầu tiên. Bỏ lại phía sau con sông Hồng, sông Hương, sông Cửu Long và dãy Trường Sơn.

Bây giờ ta phải làm quen với con sông Sacramento và rặng Rocky Mountain để con cháu ta đứng lên đáp lời sông núi mới. Xin hãy công bình với hoàn cảnh. Hãy lưu tâm ngày 4 tháng 7 của Hoa Kỳ. Bước ra khỏi cái ghetto của cộng đồng nhỏ hẹp, tham dự vào cái xã hội vĩ đại đã đem phúc lợi cho chúng ta.

Đó là cách hay nhất để xây dựng cùng một lúc cộng đồng tại Mỹ và quê hương bỏ lại ở Việt Nam. Bao gồm cả giấc mơ tự do và dân chủ. Hãy làm một công dân tốt và chân thành với xứ “tạm dung”, chúng ta sẽ góp phần xây dựng dân sinh tại Hoa Kỳ và đồng thời xây dựng cả dân quyền cho Việt Nam.

 

San Jose 2018
Giao Chỉ

--------

Hồng Anh sưu tầm

 

 

 

Xem thêm...

Ngày Độc Lập Hoa Kỳ & nhân cách của người Mỹ

HAPPY 4TH OF JULY

Ngày Độc Lập Hoa Kỳ

& nhân cách của người Mỹ

Nếu không quan tâm gì về nước Mỹ thì ít ra chúng ta cũng biết ngày 4 Tháng 7 (July 4th.) mỗi năm là một ngày vui. Vào ngày này, người Mỹ tổ chức các hoạt động đón mừng như bắn pháo hoa, diễn hành, hòa nhạc và tổ chức những bữa tiệc B-B-Q sum họp, quây quần vào buổi chiều với gia đình, bạn hữu.

Truyền thống chào mừng Ngày Ðộc Lập ở Mỹ có từ thế kỷ 18, khi diễn ra Cuộc Cách mạng Hoa Kỳ. Vào ngày 2 tháng 7 năm 1776, Quốc hội Lục địa đã bỏ phiếu ủng hộ độc lập, và hai ngày sau đó các đại biểu từ 13 thuộc địa đã thông qua bản Tuyên ngôn Ðộc lập, một tài liệu lịch sử do Thomas Jefferson soạn thảo.

Vào ngày 2 tháng 7, John Adams đã cho rằng “ngày kỷ niệm Ðộc Lập Hoa Kỳ sẽ được chào mừng, bởi các thế hệ tiếp nối, như một Ngày lễ kỷ niệm vĩ đại” và rằng việc chào mừng sẽ bao gồm “Lễ hội và Diễn hành… Các trò chơi, Thể thao, Bắn súng, Rung chuông, Ðốt lửa và Thắp sáng từ đầu này của lục địa này cho đến đầu kia.”

Sau cuộc Chiến tranh Cách mạng, người Mỹ vẫn tiếp tục kỷ niệm Ngày Ðộc Lập hàng năm. Trong những buổi lễ chúc mừng, các lãnh đạo chính trị của quốc gia non trẻ này sẽ bước lên bục phát biểu với công dân, kêu gọi sự đoàn kết, thống nhất. Vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 18, hai chính đảng lớn – Ðảng Liên bang và Ðảng Cộng hòa- Dân chủ – bắt đầu tổ chức những lễ kỷ niệm ngày 4 tháng 7 riêng rẽ ở nhiều thành phố lớn.

Vào năm 1870, Quốc Hội Hoa Kỳ tuyên bố ngày 4 tháng 7 là một ngày nghỉ lễ toàn liên bang, trở thành ngày Quốc Khánh, một ngày lễ quốc gia quan trọng và là một biểu tượng của tinh thần yêu nước tại Hoa Kỳ.

Nhân cách của dân tộc Hoa Kỳ: Người thắng, kẻ thua.

Cuộc “nội chiến” tương tàn Nam Bắc kéo dài đúng bốn năm thiếu ba ngày, 750,000 quân hai phía và một số lượng thường dân thương vong không kiểm kê được, ước tính số người chết chiếm 10% toàn bộ số nam giới miền Bắc từ 20 đến 45 tuổi, và 30% đàn ông da trắng miền Nam trong độ tuổi từ 18-40.

Bị phong tỏa đường biển, thiếu tiếp vận, nhất là sau sự thất bại của trận Gettysburg tại ngay vùng đất của mình, cuộc nội chiến đẫm máu kết thúc vào ngày 9 tháng 4, 1865 khi Tướng Robert E. Lee, tư lệnh phe Liên Minh, ký nhận đầu hàng không điều kiện ở Appomattox Court House, Virginia, dưới sự chứng kiến của tướng miền Bắc Ulysses S. Grant.

Tướng Lee đã an ủi quân sĩ của mình: “Sau 4 năm chiến đấu khó khăn, với sự can đảm và anh hùng chưa từng thấy, binh đoàn Bắc Virginia (của LM miền Nam) bị bắt buộc phải nhượng bộ một lực lượng và hậu thuẫn quá to lớn.”

Những người thua trận tại Stone Mountain Park. Từ trái, Tổng Thống Liên Minh Miền Nam Jefferson Davis,

Tướng Tổng Tư Lệnh Liên Minh Robert E. Lee và Tư Lệnh Phó Thomas Jackson. Hình: Huy Phương/NV

Các điều kiện đầu hàng được soạn thảo hoàn tất vào khoảng 4 giờ chiều ngày 9 tháng 4. Khi Lee lên ngựa rời nơi ký văn kiện đầu hàng thì binh sĩ miền Bắc không giấu nỗi sự mừng rỡ đã reo hò, nhưng Grant nghiêm khắc ra lệnh ngưng ngay thái độ này. Ông nói: “Những người miền Nam bây giờ là đồng bào của chúng ta, và chúng ta không nên có thái độ đắc chí trên sự suy sụp của họ.”

Hiệp ước Appomattox không có điều khoản nào giam giữ, kỳ thị với 200,000 tù binh miền Nam và phe thắng trận thi hành đúng những điều khoản này, sĩ quan thua trận được giữ vũ khí cá nhân của mình và tất cả đã được an lành trở về với gia đình trong sự tôn trọng của phe đối nghịch, được xem như là hiệp ước của những người hào hiệp (The Gentlemen’s Agreement).

Theo lời yêu cầu Robert E. Lee, quân lính miền Nam được tiếp tục cho giữ lừa ngựa để trở về quê quán giúp họ trong công việc của nông trại, và được quân đội miền Bắc cấp ngay 25,000 khẩu phần lương thực vì những người lính thua trận đang bị đói khát mấy ngày hôm nay.

Trước đó, trong trận đánh nổi tiếng ở Gettysburg vào tháng 7, 1863, sau 3 ngày giao tranh, phe Liên bang miền Bắc chết 3,000 người, phe Liên Minh mất 4,000 người. Tổng thống Abraham Lincoln đã ra lệnh đem cả 7,000 thi hài của cả hai bên để an táng chung một nơi. Ngày 19 tháng 9, 1863, khánh thành nghĩa trang này, Lincoln đã đọc bài diễn văn công bố chiến trường Gettysburg là Nghĩa Trang Quốc Gia.

40 năm sau cuộc chiến, mở đầu cho giai đoạn hàn gắn vết thương chia rẽ của dân tộc, năm 1900, Tổng Thống William Mc Kinley đã cho thu thập khoảng 30,000 nấm mộ của tử sĩ Liên Minh Miền Nam trong trận Nội Chiến rải rác trong vùng Washington, cải táng đưa vào một khu đặc biệt trong nghĩa trang Arlington gọi là Confederate Section.

Người Mỹ bình đẳng: Tất cả đều phải xếp hàng!

Vào năm 2009, CEO của Apple Steve Jobs được phát hiện mắc ung thư gan giai đoạn cuối. Bác sĩ nói với ông rằng, cần phải lập tức làm phẫu thuật ghép gan mới có thể giữ được sinh mạng. Người ta nghĩ với tài sản $8.3 tỷ vào năm 2011, chuyện cần ghép một lá gan đối với vị tỷ phú này là một chuyện quá nhỏ.

Bệnh viện lập tức ghi danh cho ông tại trung tâm ghép gan California và chờ đợi nguồn gan, tuy nhiên phía bệnh viện thấy rằng, số người phải làm phẫu thuật ghép gan quá đông, nếu xếp hàng thì ít nhất, nhà sáng lập Apple phải đợi ít nhất là 10 tháng. Riêng Tennessee là tiểu bang nhanh nhất, chỉ cần đợi 6 tuần, Steve Jobs là bệnh nhân cuối cùng trong số các bệnh nhân cần ghép gan trong danh sách.

Cứu bệnh nan y như cứu hỏa, mỗi giây chờ đợi đều vô cùng quý giá, do đó, có người đã tìm gặp riêng Viện Trưởng của Viện Cấy ghép Bệnh viện Ðại học Methodist ở Memphis, Tennessee nơi Steve Jobs sẽ phẫu thuật, với hy vọng ông này có thể dùng đặc quyền của mình để giúp nhà sáng lập Apple được làm phẫu thuật trước.

Thế nhưng vị Viện Trưởng này nghe xong lời đề nghị đó, đã cau mày, lộ kinh ngạc: “Tôi làm gì có đặc quyền để Jobs được làm phẫu thuật trước? Nếu để ông ấy làm trước, vậy thì những bệnh nhân khác phải làm sao? Ông nên nhớ tất cả các sinh mệnh đều bình đẳng!”

Sau đó,  cả Thống Ðốc Tennessee, Phil Bredesen, cũng từ chối dùng chức vụ của mình để can thiệp, hoặc phê chuẩn một công văn cho Jobs được làm phẫu thuật sớm hơn, vì tính mạng của Jobs đang bị đe dọa.

Sau một thời gian chờ đợi sáu tuần, cuối cùng Steve Jobs cũng nhận được một lá gan, tuy nhiên, do thời gian chờ đợi lâu, các tế bào ung thư của Steve Jobs đã di căn sang các bộ phận khác trên cơ thể ông. Ca ghép gan chỉ giúp vị tỷ phú danh tiếng này kéo dài sự sống của ông được khoảng 2 năm.

Tuy nhiên, ông chấp nhận lẽ công bằng và không hề hối tiếc…

Tuân thủ nguyên tắc và làm đúng chuẩn mực đã in sâu vào tư tưởng của mọi người dân Mỹ.Vì thế, tại Mỹ người quyền quý không có chỗ đứng riêng đặc biệt. Họ cũng không thích hay không thể phô trương, vì họ biết rằng, dù bạn có là người nhà Tổng Thống Mỹ đi nữa, thì điều đó không có nghĩa là bạn được xem trọng và ưu tiên hơn người khác.

Tại Hoa Kỳ, người ta xem trọng nguyên tắc, những chuẩn mực hơn là sự cao sang và quyền thế. Dù là hành động nhỏ nhưng tuân thủ nguyên tắc luôn là điều bắt buộc. Người quyền quý không phải là ngoại lệ. Vào cửa hàng mua thức ăn, thì Tổng thống Obama, như lúc nghỉ Hè ở Hawaii cũng đứng xếp hàng chờ tới lượt mình để mua kem cho con gái như bao người khác.

Một viên chức chính phủ từ Việt Nam sang Mỹ đã nói rằng: “Ở trong nước, người khác nhìn tôi là cúi đầu khom lưng. Nhưng ở Mỹ, ngay cả người nhặt ve chai, tôi thấy họ vẫn luôn đứng thẳng.”

Người Mỹ không cố gắng tìm kiếm địa vị xã hội để khiến mình thanh cao hơn; họ cũng không chạy chiếc xe mới đắt tiền để khoe của hay mua một ngôi nhà đẹp để hàng xóm phải trầm trồ. Vấn đề ở đây là họ có được sự tự lựa chọn phù hợp cho bản thân.

Ở nước Mỹ này, cho dù bạn là ai, ông chủ một đại công ty danh tiếng, người công nhân quét đường, hay là một ông cụ già nghèo khó, khi đứng trước sự sống và cái chết, ai cũng như nhau.

Walter Isaacson – một nhà văn và cũng là một nhà báo người Mỹ đã nói rằng: “Sinh mạng không phân biệt giàu nghèo, đẹp xấu, tất cả đều bình đẳng. Bình đẳng không phải là khẩu hiệu, càng không phải là sự trao đổi. Nó là biểu hiện sinh động nhất, cụ thể nhất trong cuộc sống này.”

Không có sự phân biệt giàu nghèo trong giáo dục Mỹ. Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền đi học ngay trong lớp cũng không có sự phân biệt giàu nghèo, học lực giữa các học sinh.

Thêm vào đó, giáo viên luôn tạo điều kiện để mỗi học sinh hỗ trợ lẫn nhau cùng tiến bộ. Không có gì lạ nếu bạn bắt gặp trong một lớp học tại Mỹ có học sinh nhiều quốc tịch đến thế. Phương tiện giáo dục được trang bị cho các em tại một trường nông thôn không thua kém một trường ở đô thị lớn.

Trong địa hạt y tế, tôi xin lấy một ví dụ của bản thân để nói về sự công bằng của nền y tế Mỹ. Cách đây hai năm, tôi phải vào bệnh viện để cắt bỏ một đoạn đại tràng bị nhiễm độc.

Chỉ với điều kiện Medi-Medi của những người có thu nhập thấp, tôi vẫn được chuyển đến phẫu thuật và nằm tại Bệnh Viện HOAG Newport Beach, cạnh bờ biển Nam California trong thời gian 22 ngày. Một vị bác sĩ đã nói với tôi, tuy ông có chức vụ lớn trong ngành y tế, lợi tức cao, đóng thuế nhiều, nhưng tôi nên nhớ rằng, phòng ốc, thuốc men và sự săn sóc của nhân viên y tế giữa tôi với ông không có gì khác biệt.

 

Tôi không yêu nước Mỹ vì nước Mỹ là một cường quốc thế giới, một quốc gia giàu, mạnh… nhưng là một nước có công bằng và nhân cách!

 

Huy Phương

GNST ST

 

 

 

Xem thêm...

Thời đi học của các thiên tài thế giới

Thời đi học của các thiên tài thế giới

Chắc chắn bạn sẽ vô cùng ngạc nhiên khi biết Edison luôn bị đội sổ trong lớp và bị đánh giá là "điên khùng, không nên ngồi học lâu hơn", Albert Einstein sợ run người khi phải đến trường, nhà phát minh vĩ đại Edison tự học là chính..

1. Albert Einstein : Sợ phải đến trường

Albert Einstein (1879 - 1955) là một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại, người khai sinh ra “Thuyết tương đối”. Ông cùng với Newton chính là 2 tri thức lỗi lạc quyết định đến sự phát triển của lý thuyết vật lý hiện đại.

Thế nhưng khi còn nhỏ, Einstein không hề có biểu hiện gì nổi trội, thậm chí là phát triển trí tuệ rất chậm. Năm 4 tuổi, ông vẫn chưa biết nói, cha của Einstein đã tìm mọi cách để giúp con mình phát triển như những đứa trẻ khác.

Trong thời gian đi học, sức học của Einstein rất kém, đuối hơn nhiều so với các bạn bè khác. Thầy Hiệu trưởng trường Einstein theo học cũng quả quyết với cha cậu rằng “thằng bé này mai sau lớn lên sẽ chẳng làm được gì đâu”.

 Einstein khi còn đi học. 

Những lời giễu cợt và sự trêu đùa ác ý của mọi người xung quanh khiến cho cậu bé Einstein rất buồn tủi. Cậu trở nên sợ phải đến trường, sợ phải đối mặt với các thầy cô và bạn bè. Cậu cũng cho rằng mình đúng là đứa trẻ ngốc nghếch thật sự.

Thế nhưng nhờ sự động viên rất lớn của mẹ - một người phụ nữ thông minh, xinh đẹp và có học vấn cao, trí tuệ Einstein phát triển nhanh chóng, cậu bé còn dần khắc phục được tính tự ti và trở nên lạc quan, vui vẻ.

Einstein rất hay nêu ra những câu hỏi lạ lùng, thậm chí có phần quái dị, chẳng hạn như: Tại sao kim nam châm lại chỉ về hướng Nam? Thời gian là gì? Không gian là gì?... Mọi người đều cho rằng cậu bé này là người đầu óc có vấn đề.

Nhưng họ không ngờ rằng, chính những câu hỏi có vấn đề ấy của cậu bé đã giúp Einstein có được thành công sau này.

2. Isac Newton: Luôn nghĩ ra những trò chơi kỳ lạ

Newton là nhà khoa học vĩ đại và có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới, người phát minh ra định luật “vạn vật hấp dẫn”, đặt nền móng cho cơ học, quang học và vật lý cổ điển.

Cậu bé Newton đại tài thời đi học đã luôn nổi tiếng với những trò chơi kỳ lạ. Cậu từng làm cả dân làng khiếp sợ và kinh ngạc khi chơi trò thả diều buổi tối, nhưng chuyện bất ngờ là cánh diều của cậu phát ra ánh sáng đỏ.

Chiếc diều phát sáng bay lủng lẳng trên bầu trời đã làm mọi người sợ hãi và nghĩ đến những điều ma mị, tưởng như đó là thần lửa hoặc ma chơi mà không biết rằng đó chỉ là một trò chơi kỳ lạ của cậu bé. Newton lúc đó đã buộc một chiếc đèn lồng bọc bằng giấy bóng kín đỏ ở đuôi cánh diều, chính điều này đã tạo ra ánh sáng kỳ lạ kia.

Newton thời đi học luôn nổi tiếng với những trò chơi kỳ lạ

Newton là cậu bé tính vốn trầm lặng và âm thầm, lúc nào cũng đăm chiêu suy nghĩ, không mấy thích chơi với đông bạn bè.

Giây phút hạnh phúc nhất của cậu là được ẩn mình ở một góc vườn đọc sách và thả hồn mơ mộng theo một ý nghĩa xa xôi. Có thời gian rảnh rỗi cậu lại đến phòng thí nghiệm hoặc mê mải sáng chế những đồ chơi khác lạ. Chính nhờ vậy, Newton mới rèn luyện cho mình được những kỹ năng thực rất bổ ích cho công tác nghiên cứu sau này.

Thật chẳng ngờ những trò chơi thủa con nít đi học ấy lại bước chuẩn bị cho cậu bé đẻ non, ốm yếu, mồ côi cha ngay từ lúc lọt lòng trở thành nhà bác học thiên tài của thế giới.

3. Napoleon Bonaparte

Napoleon là vị đệ nhất Tổng tài của nước Pháp, hoàng đế của Pháp và là vua của Italia, tuy nhiên việc nói tiếng Pháp của ông lại rất khó khăn. Tại sao?

Napoleon Bonabarte sinh vào năm 1769 trên một hòn đảo Corsica được người Pháp mua lại của Italia trước đó một năm. Cho nên ông nói tiếng Ý rất tốt, còn tiếng Pháp thì rất tệ và ông phải luyện tập mỗi ngày.

Họa phẩm thể hiện uy quyền của Napoleon.

Ở trường học, cậu bé thuận tay trái này luôn bị bạn bè trêu chọc vì nói tiếng Pháp chậm và không được chuẩn như bạn bè. Tuy nhiên Napoleon tỏ ra học rất giỏi các môn: Toán và Lịch sử.

10 tuổi, được mẹ cho đi học ở một trường Quân sự, ông dùng tiền học bổng tiêu vặt để gửi về giúp gia đình. Đặc biệt hầu như Napoleon không bao giờ ngủ, thời gian rảnh ông đều giành để đọc sách, tạp chí.

Với tài năng nổi trội, Napoleon đã được giới thiệu vào học trường quân sự Hoàng gia Pháp tại Paris. Năm 16 tuổi ông được mang hàm Đại úy, điều chưa từng xuất hiện trong lịch sử nhân loại.

Napoleon đã xây dựng một đế chế rộng lớn khắp châu Âu, cái tên của ông bao phủ cả thời đại bấy giờ, và ông thực sự là một kỳ nhân vĩ đại của thế giới.

4.Edison: Thiên tài tự học là chính

Edison là nhà khoa học tiêu biểu nhất của nước Mỹ và thế giới, sở hữu 1907 bằng phát minh - một kỷ lục trong giới khoa học. Ông cũng đã đọc hơn 10.000 cuốn sách và mỗi ngày ông có thể đọc hết 3 cuốn sách. Edison và chiếc đèn điện đã vang danh khắp thế giới.

Edison thời đi học thường bị đội sổ và bạn bè chê cười

Năm 7 tuổi, Edison được theo học ở ngôi trường độc nhất trong vùng, chỉ có một lớp học 40 học sinh lớn bé đủ cả. Edison được xếp ngồi gần thầy nhất, đó vốn là chỗ cho những học sinh kém cỏi nhất. Trong khi học, Edison không chú tâm trả lời câu hỏi của thầy giáo mà thường đặt ra nhiều câu hỏi hóc búa với thầy giáo. Vì thế, cậu thường đội sổ và bị bè bạn chê cười.

Thầy giáo của Edison đã từng nói về cậu: “Học trò này điên khùng, không đáng ngồi học lâu hơn”. Từ đó, Edison không đến trường nữa mà ở nhà tự học cùng mẹ.

Thời gian này, ông cùng gia đình phải sống rất khó khăn. Năm 12 tuổi, Edison đã phải tự đi làm kiếm tiền, ngày ngày, Edison vừa bán báo và kẹo dẻo trên tàu hỏa vừa tự mày mò nghiên cứu khoa học.

Edison đã tự khám phá, nghiên cứu khoa học không qua trường lớp.

Một lần, trong khi làm thí nghiệm, do không cẩn thận, Edison đã làm cháy toa tàu. Kết quả là cậu bị nhân viên soát vé tàu tát cho một cái ù tai và đuổi khỏi tàu, đồng thời cấm lai vãng đến đường ray. Sự việc này đã khiến cho khả năng thính giác của Edison ngày một kém dần cho đến mãi về sau.

 5. Bill Gates: Tuổi thơ gắn liền với máy tính

Bill Gates là người đồng sáng lập ra tập đoàn phần mềm lớn mạnh nhất thế giới Microsoft và cũng là người tạo ra những bước tiến quan trọng trong nền công nghiệp công nghệ thông tin của thế giới.

Bill Gates được tiếp xúc với máy tính từ khi còn rất nhỏ.

Khi còn học tiểu học, người ta kể rằng Gates đã đọc nát như cháo từ A-Z một bộ bách khoa toàn thư khi chưa đầy 10 tuổi. Ở độ tuổi 11, Gates đã có thể thuộc nhiều chương của cuốn kinh thánh Gospel. Cha mẹ của Bill Gates đã nhận ra bộ óc thông minh có một không hai của Gates và gửi ông đến Lakeside, nột ngôi trường tư nổi tiếng. Chính nơi đây ông lần đầu làm quen với máy tính và Paul Allen, người sau này hợp tác với ông.

Gates ngồi hàng giờ trước máy tính mỗi ngày từ năm 13 tuổi. Với nhiều bạn trẻ bây giờ, điều này rất bình thường. Nhưng vào thập niên 60 của thế kỷ trước, máy tính vẫn quá lạ lẫm và thiếu giao diện người dùng.

Bill Gates là người tạo ra những bước tiến

quan trọng trong ngành công nghệ thông tin thế giới

Bạn học của cậu bé Gates còn nhận xét rằng cậu thông minh một cách đáng sợ và luôn thần tượng cậu bé. Bất kỳ bạn trẻ nào của Trường Lakeside khóa học từ năm 1967-1972, đều nhớ đến một thằng bé sáng sủa tên Gates, thường xuyên lọ mọ trong phòng vi tính của trường.

Cơ hội được làm quen với máy tính từ khi còn rất nhỏ chính là nền tảng cho Gates trở thành tỉ phú trong làng công nghệ thế giới.

6. Steven Jobs: Nổi loạn thời đi học

Steven Paul Jobs (1955 - 2011) là ông trùm kinh doanh và nhà sáng chế huyền thoại người Mỹ, ông cũng là cựu Tổng giám đốc điều hành hãng Apple, là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất của ngành công nghiệp vi tính.

Chuyện về thời đi học của nhân vật này rất đặc biệt, ông luôn nghĩ ra những trò chơi kỳ quái, nghịch ngợm và nổi loạn. Với ông, một ngày không nổi loạn kỳ thực rất nhàm chán.

Steven Paul Jobs từ nhỏ đã là người thích nổi loạn.

Thời cấp 1, Jobs luôn cảm thấy nhàm chán và không có một thứ gì mới để học bởi học vì thời gian rước đó ông đã được mẹ dạy đọc. Và ông bắt đầu nghĩ ra những trò nổi loạn trong lớp học.

Đến lớp 3, những trò nghịch của ông dần trở nên nguy hiểm, có lần ông để chất nổ dưới ghế của cô giáo, khiến cô sợ đến thót tim. Vì thế, Jobs bị nhà trường trả về hết lần này đến lần khác. Tuy vậy, cha mẹ ông không bao giờ trách phạt và mắng mỏ ông.

Để điều chỉnh ông, thầy cô và gia đình đã phải dung đến cách “hối lộ quà” để khiến ông nghe lời, bớt nghịch ngợm và chăm chỉ học. Cách này quả thật đã giúp ông đổi thay rất nhiều, bài kiểm tra của ông đạt điểm ở mức bằng học sinh lớp 7.

Lúc này, thầy cô và cha mẹ Jobs mới phát hiện ra ông có một trí thông minh khác thường và quyết định cho ông học vượt cấp, từ lớp 4 học thẳng lên lớp 7.

Khi học cùng lớp với đàn anh, đàn chị, Jobs trở thành người cô đợn, lạc long và hay bị bắt nạt. Ông đòi cha mẹ cho mình chuyển trường và dọa sẽ bỏ học nếu không được đáp ứng.

Đến năm lớp 9, ông được chuyển đến học ở một trường trung học Homestead. Ở nơi học mới, ông bắt đầu có hứng thú với Toán, khoa học và điện tử. Và những trò nghịch ngợm của Jobs sau này chủ yếu liên quan đến điện tử. Thời gian này ông cũng tự mày mò nghịch ngợm và tạ ra được một vài chiếc radio. Nhờ thành công này, ông có niềm tin rằng có thể tạo ra một chiếc TV sau khi xem chúng trên Catalogue.

Đến năm cuối cấp, Jobs từng tham gia một khóa học về điện tử do John McCollum, một cựu lính hải quân giảng dạy. Trong thời gian học khóa học, ông đã làm được một thiết bị với hệ thống đèn quang điện mà có thể chuyển mạch khi tiếp xúc với ánh sáng, một thành quả mà không phải bất cứ học sinh trung học nào cũng có thể đạt được.

7. Adam Khoo

Triệu phú trẻ tuổi Adam Khoo

 tác giả của 13 cuốn sách thuộc hàng "best sellers" bán chạy nhất.

Adam Khoo là một trong 25 người giàu nhất dưới tuổi 40 của Singapore, là một doanh nhân thành đạt, là tác giả của những quyển sách bán chạy nhất và cũng là chuyên gia đào tạo hàng đầu.

Với nỗ lực của bản thân, Adam Khoo đã trở thành triệu phú năm 26 tuổi. Hiện tại, Adam Khoo là nhà sáng lập, chuyên gia đào tạo cấp cao, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Công nghệ Giáo dục Adam Khoo.

Ngoài ra Adam cũng là một chuyên gia tư vấn hàng đầu trong lĩnh vực tài chính, tiếp thị, quản trị, lãnh đạo và phát huy tiềm năng con người.

Adam sở hữu nhiều công ty khác nhau trên 7 quốc gia trong nhiều lĩnh vực giáo dục, đào tạo, quảng cáo và tổ chức sự kiện với tổng doanh thu lên tới trên 30 triệu đô mỗi năm.

Với thành công rực rỡ như bây giờ, thật khó có thể tin được rằng, thời đi học, Adam Khoo học cực kỳ kém và thậm chí từng bị đuổi khỏi trường.

12 tuổi, Adam bị coi là một đứa trẻ lười biếng, ngu dốt, gần như chậm tiến và không có hy vọng. Khi đang học lớp 3, cậu bé bị đuổi khỏi trường và phải chuyển đến học ở một nơi khác.

Vào cấp 2, cậu bị 6 ngôi trường từ chối, và cuối cùng phải vào học ở những trường tệ nhất. Thậm chí giáo viên toán từng mời mẹ Adam tới và hỏi bà: "Tại sao Adam Khoo, một học sinh trung học cơ sở năm thứ nhất lại không thể làm nổi toán lớp 4?"

Một phần bởi trước khi vào trường tiểu học, cậu bé ghét việc đọc sách, chỉ thích chơi game và xem TV. Do không chịu học, hàng loạt điểm F càng khiến cậu bé thấy ghét giáo viên, ghét việc học, và thậm chí là căm ghét trường học.

 

Ngọc Lan sưu tầm

 

Xem thêm...

Sài Gòn xưa: Hoài niệm về xe lam, xe đò

Sài Gòn xưa:

Hoài niệm về xe lam, xe đò

Lê Nguyên

Trước 1975, khi đặt chân đến Sài Gòn, ai mà không bị hớp hồn bởi một đô thành phồn hoa đô hội với những đại lộ thênh thang, dập dìu xe cộ nhưng rất thông thoáng.

Phương tiện đi lại trên đường phố Sài Gòn chủ yếu có xe đạp; xe gắn máy loại phân khối nhỏ như Honda Damme dành cho nữ, Honda SS67 dành cho nam; xe máy đạp có Vélo Solex, Mobylette; còn phương tiện công cộng thì có xích lô đạp, xích lô máy, taxi, và xe lam.

Đặc trưng của phương tiện giao thông công cộng ở Sài Gòn thời đó ngoài xích lô và taxi ra còn có xe lam. Hồi đó lộ trình xe lam giăng kín Sài Gòn như xe buýt sau này, nhưng điểm khác biệt của xe lam là không có trạm dừng cố định cho khách lên xuống. Ai muốn đi xe lam cứ việc ra sát vệ đường vẫy tay đón. Xe dừng lại bất cứ chỗ nào cho khách xuống!

Thiết kế của xe lam chở khách khá đặc biệt, chia làm hai “toa” hẳn hoi. Phần đầu xe là nơi bác tài ung dung ngồi một mình để cầm cái càng lái giống như ghi-đông xe gắn máy. Dưới ghế ngồi của bác tài là thùng chứa máy xe, hễ xe chết máy hay “xịch đụi” là bác tài phải nhảy xuống đường, giở yên lên, rồi dùng một sợi dây thừng kéo cho máy nổ hoặc tra dầu, chùi bu-gi cho máy xe.

Tuy thùng sau xe được gắn để chở khách, nhưng nếu thùng sau hết chỗ, các bác tài sẵn sàng ngồi khép nép lại một tí để có thể chở thêm được 2-3 khách. Xe thì thiết kế cho 8-10 người ngồi nhưng khi đến Việt Nam, cũng như bao loại xe khác, xe lam vẫn phải “cõng” một số lượng khách gấp đôi, có khi gấp 3 trọng tải cho phép. Khách ngồi trên hai hàng ghế dài ở khoang sau, ngồi chen lên khoang lái, và leo cả lên trên nóc nữa…

Xe lam ngoài tác dụng chở khách còn có tác dụng chở hàng. Kỳ thực nó được nhập về Việt Nam Cộng Hòa ở dạng không đóng thùng, và tuỳ công năng chuyên chở mà nó sẽ được đóng thùng sau khi nhập.

Tên gọi “xe lam” bắt nguồn từ tên gọi của dòng sản phẩm xe 3 bánh Lambro hay Lambretta của Ý do công ty cơ giới Innocenti chế tạo. Các dòng xe lam lần lượt được nhập vào Việt Nam Cộng Hòa vào giữa thập niên 1960 để thay thế xe thổ mộ (xe ngựa kéo) vẫn còn được lưu hành vào khoảng thời gian đó.

Trong số gần 35.000 chiếc Lambro 550 xuất xưởng thì có 17.000 chiếc được xuất sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.

Sau này một số xe có kiểu dáng tương tự nhưng của các hãng khác (như Vespa), ít gặp hơn, được nhập về, và cũng được gọi là xe lam.

Trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc vào những năm đầu 1960 thì việc sở hữu được một chiếc xe lam cũng không phải là dễ, dù nghề lái xe lam mang lại nhiều lợi nhuận. Giá 1 chiếc xe lam vào thập niên 1960 tại Sài Gòn lúc đó khoảng 30 cây vàng.

Năm 1966 – 1967, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tiến hành một chương trình mang tên “Hữu sản hoá” nhằm cung cấp phương tiện hành nghề chuyên chở công cộng cho những ai cần việc làm và cũng để cải thiện đời sống giới thợ thuyền, phát triển hạ tầng cơ sở vận tải.

Đợt hữu sản hóa đầu tiên mang tên “Tự chủ” được thực hiện bằng cách cho giới lao động đang cầm lái thuê mượn tiền, và cho trả góp, để mua loại xe mà họ đang sử dụng để kiếm sống.

Phương tiện giao thông ở Sài Gòn bấy giờ đã tiến bước dài. Thập niên 1950, người Sài Gòn vẫn thấy xe ngựa. Từ thập niên 1950 sang 1960 thì xích lô đạp và xích lô máy nở rộ. Sau đó là đến xe lam và taxi. Số lượng xe lam riêng tại Sài Gòn là 2.300 chiếc xe vào đầu thập niên 1960, sang thập niên 1970 thì tăng lên 4.000 chiếc.

Sau 1975, các phương tiện cơ giới khác bị thiếu xăng hoặc thiếu phụ tùng thay thế không sử dụng được, và xe lam trở thành phương tiện phổ biến rẻ tiền, bước vào thời kỳ rực rỡ nhất.

Xe lam, trong hồi ức của nhiều người thành thị vẫn là một thứ dư vị khó phai, với những tiếng “bành… bành…’’ đầy quen thuộc.

Sài Gòn xưa: Hoài niệm xe đò

Xe không chạy trên sông sao gọi xe đò? Có lần tôi hỏi nhà văn Sơn Nam khi gặp ông ở quán cà phê vỉa hè trước Nhà Văn hóa quận Gò Vấp cách nay hai mươi năm. Trong chiếc áo sơ mi cụt tay, khuôn mặt ốm nhăn nheo màu bánh ít, mắt đăm chiêu sau cặp kiếng dày, ông thủng thỉnh trả lời theo kiến giải của mình.

Đồng bằng Nam bộ sông nước chằng chịt, ngày xưa phương tiện đi lại chủ yếu bằng đò ghe, cho đến thập niên ba mươi, người Pháp thành lập vài hãng xe chở khách đi miền Tây. Thời ấy đường bộ chưa phát triển, xe đến bến khách phải chuyển tiếp bằng đò ghe nên người ta gọi là xe đò cho tiện.

 

Xe đò lỡ Sài Gòn – Hốc Môn năm 1969 (Ảnh: Saigonoldphoto)

Nghe vậy thôi, sau này tôi tìm hiểu thêm chút ít, biết rằng người Bắc gọi xe đò là xe khách hoặc xe ca, còn người Trung lại gọi xe đò giống như người Nam. Một số người giải thích vì hầu hết các chủ nhà xe đi miền Trung là người Sài Gòn nên “xe đò” trở thành phương ngữ chung cho tiện.

Và rồi câu chuyện sôi nổi hơn khi nhà văn nhắc tới kỷ niệm thời học sinh trung học từng đi xe đò từ Rạch Giá về Cần Thơ mà ông có nhắc lại trong tập Hồi ký Sơn Nam: “Tiền xe từ Rạch Giá đến Cần Thơ là một đồng hai (120km) nhưng nhỏ tuổi như tôi chỉ tốn có 6 cắc.

Tôi lên xe ngồi để người phụ xế sắp đặt chỗ ngồi cho gọn, khép nép, chung quanh xe là nhiều người rao hàng để hành khách ăn buổi sáng vì buổi trưa mới đến bến Cần Thơ.

Tôi còn nhỏ, ba tôi cho riêng tôi 2 cắc, rất tủi thân vì trong khi ấy gia đình khá giả dám trả 1 đồng hai (hai chỗ dành cho trẻ con rộng rãi hơn) lại dành cho con một cái bánh bao to để ăn dọc đường. Xe khách bóp kèn inh ỏi, chạy vòng quanh để tìm kiếm khách.”

Xe đò dài Thuận Hiệp đi Sài Gòn – Cà Mau (Ảnh: Douglas Pike)

Nhưng điều thú vị nhất là ông kể hồi thời kỳ đầu xe đò do người Pháp làm chủ toàn là loại xe nhỏ chở khách chừng hơn hai mươi người. Nhưng chỉ một thập niên sau, người Việt mình giàu có tham gia mở công ty lập hãng, nhập cảng máy, khung gầm từ châu Âu châu Mỹ, đóng thùng thành xe đò loại lớn chở hơn năm chục hành khách, cạnh tranh ác liệt trong giai đoạn đường bộ được mở rộng và phát triển ở các tỉnh miền Tây và Ðông Nam Bộ.

Giao thông kết nối khắp nơi, nhu cầu đi lại của người dân càng nhiều, tạo thành thời vàng son của xe đò. Chiến tranh Ðông Dương nổ ra, Nhật vào chiếm miền Nam, xăng dầu khan hiếm, bị giám sát chặt chẽ, ngành xe đò suy giảm, một số hãng xe hoạt động cầm chừng và phải thay đổi nhiên liệu cho xe hoạt động.

Sơn Nam kể: “Xe ô tô chở khách phải dùng ‘ga’, hiểu là than củi tràm, bỏ vào cái thùng tròn đặt bên hông xe phía sau. Trước khi cho xe nổ máy thì quạt cho than tràm cháy, hơi ga ấy bị đốt, gây sức ép cho máy xe chạy, gọi ‘Autogène’, theo mô hình của Kỹ sư Thịnh Hưng Ngẫu chế tạo ở Sài Gòn.”

 
Xe đò Sài Gòn đến Vĩnh Long năm 1970 đường sá còn trải đá (Ảnh: Frank Effenberger)
 
Hình ảnh chiếc xe đò nhỏ chạy bằng than đốt trong cái thùng phía sau xe được lặp lại từ năm 1975 đến 1985, chắc người Sài Gòn tuổi trung niên trở lên đều biết rõ. Tôi từng đi loại xe sử dụng nhiên liệu này, mỗi lần chui vào cửa xe phía sau là đều phải cẩn thận với cái thùng than cháy nóng được treo dính ở đuôi xe.
 
Thường thì người ta chỉ cải tiến xe đò lỡ – tức là loại xe Renault cũ xì từ giữa thập niên 50. Tuy giới lái xe gọi đó là xe đò hỏa tiễn nhưng nó chạy chậm hơn xe chạy xăng hoặc dầu. Có lúc xe chạy ì à ì ạch khi than cháy không hết, lơ xe phải dùng thanh sắt mở lò đốt cời than. Hoặc thỉnh thoảng gặp đường vồng xóc, than văng ra khỏi cửa thông không khí, rớt xuống đường cháy đỏ rực. Vô phúc cho chiếc xe đạp nào chạy phía sau tránh không kịp, cán phải cháy lốp xe.
 
Xe đò hỏa tiễn chạy những đường ngắn như Sài Gòn – Long Khánh, Chợ Lớn – Cần Giuộc – Gò Công, Sài Gòn – Long An, còn xe đò dài vẫn chạy bằng xăng dầu, nhưng không còn nhiều như trước. Trên mui phía đầu xe thường có thùng phuy nước dùng để làm nguội máy, kế tiếp là nơi chở hàng hóa, xe gắn máy, xe đạp cho khách buôn chuyến và khách đi tỉnh xa.
 
Xe đò Sài Gòn – Tây Ninh năm 1965 (Ảnh: John Hansen)

Tôi còn nhớ mãi lần đầu được đi xe lô về quê bên ngoại ở Càn Long, Trà Vinh. Năm đó tôi chín tuổi, đi cùng với người anh bà con. Xe lô có bãi xe ở Bến Bạch Ðằng và Bến Chương Dương.

Bãi xe lô hay nhiều bãi bến xe đò khác khắp nơi trong thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn đều nằm hai dãy dọc theo đường phố. Phòng vé là một cái quầy hay cái bàn gắn tấm biển to đề tên từng hãng xe, chạy lộ trình nào.

Riêng xe lô không cần bán vé, khách đến bãi xe còn chỗ trống cứ lên, đủ người thì bác tài chạy. Loại xe này gọi đúng tên là “Location”, sơn màu đen, kiểu xe ô tô chở chừng bảy tám người nhưng bác tài cố nhét thêm hành khách.

Xe lô chạy nhanh hơn xe đò vì không bắt khách dọc đường, không lên xuống hàng hóa cồng kềnh, lại có khi qua cầu tạm không cần bắt hành khách xuống cuốc bộ. Ðể gió lùa vào cho hỉ hả đám hành khách ngồi chật cứng như nêm, lại thêm giỏ xách túi bị, va li lỉnh kỉnh, bác tài mở cửa sau bung lên cột chặt lại, người ngồi phía sau ngó ra phố phường. Xe chạy ra khỏi Phú Lâm, nhìn cảnh đồng lúa xanh tươi hai bên đường, lòng cảm thấy phơi phới mặc dầu lâu lâu tôi phải nhấc mông trở cẳng vì bị ngồi bó gối.

Xe đò nhỏ chạy bằng than sau năm 1975 (Ảnh: Anhxuavn)

Nói là đi xe lô thì hành khách không cần xuống bộ qua cầu tạm, chứ lần đó tôi vẫn phải xuống cuốc bộ như bao chuyến xe đò khác. Tôi mới ca cẩm, xe lô cái nỗi gì, có mà “lô ca chân” theo lời hát của một tuồng cải lương trên truyền hình.

Sau năm 1968, cuộc chiến ngày càng ác liệt, cầu đường nhiều nơi bị “mấy ổng” gài mìn phá hủy, có nơi phải dựng cầu tạm, đầu cầu có đặt trạm kiểm soát của quân cảnh hay cảnh sát. Ðường về Trà Vinh chỉ hơn 160 cây số mà qua mấy chục cây cầu, lại phải chờ phà Mỹ Thuận.

Ði xe lô cho được nhanh mà về đến nơi phải mất năm sáu tiếng đồng hồ, huống hồ chi hành khách đi miệt Hậu Giang, Cà Mau xuống ở bến xe còn phải đón đò về nhà ở vùng U Minh, Miệt Thứ mất cả ngày đường.

Chỉ có xe thư tức là xe đò làm nhiệm vụ giao nhận thư từ bưu phẩm chuyển cho bưu điện tỉnh mới được ưu tiên, không phải lụy phà hay bị cảnh sát xét hỏi. Bây giờ xe đò tiến bộ hơn nhiều, xe có máy lạnh, ghế nằm thoải mái cho khách đường xa, duy chỉ không có phòng vệ sinh trong xe, lại còn tặng thêm nước uống, khăn ướt lau mặt.

Xe chạy nhanh nhờ có cầu qua hai con sông Tiền và sông Hậu, tôi ngồi xe Mai Linh chạy một lèo về tới chợ Cà Mau chỉ mất sáu tiếng đồng hồ. Nếu không kể đến loại xe dù bắt khách dọc đường, thì xe đò là phương tiện đi đường xa tương đối rẻ tiền.

Bến xe đò Petrus Ký năm 1950 (Ảnh: AnhxuaVN)

Trước năm 1975, Xa cảng miền Tây là bến tập trung các xe đò về các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, bên cạnh đó lại có bến xe Chợ Lớn đi về Cần Giuộc, Gò Công, Lý Nhơn, về sau bến xe này gộp lại với Xa cảng miền Tây mở rộng thành Bến xe miền Tây nằm trên đường Kinh Dương Vương quận Bình Tân.

Còn bến Miền Ðông dành cho xe đi các tỉnh miền Trung và phía Bắc trên đường Petrus Ký trước kia thì gộp lại với hai bến xe nhỏ là Nguyễn Cư Trinh đi lộ trình cao nguyên và Nguyễn Thái Học đi Long Hải – Vũng Tàu – Phan Thiết, rồi sau đó vài năm chuyển về bến xe Văn Thánh, và cuối cùng yên vị tại Bến xe miền Ðông trên đường Ðinh Bộ Lĩnh hiện nay.

Nhưng nghe đâu hai bến xe này sẽ phải dời ra xã Tân Túc huyện Bình Chánh và Suối Tiên Q. 9 để có diện tích rộng hơn, đáp ứng được cho nhu cầu ngày càng tăng. Sẽ thiếu sót nếu không nhắc đến Bến xe An Sương, bến này đúng ra có xe đi Tây Ninh – Bình Phước – Bù Ðăng, Bù Ðốp vùng Tây Trường Sơn, nhưng cũng có xe đi vài tỉnh thành của cả ba miền, do hai bến xe miền Ðông và miền Tây nhỏ hẹp.

Bến xe đò trên đường Nguyễn Cư Trinh trước 1975 (Ảnh: Anhxuavn)

Ai cũng có kỷ niệm lần đầu đi xe đò. Mỗi chuyến xe chuyên chở nỗi niềm hoài niệm. Có người nhớ chuyện tiền vé như nhà văn Sơn Nam. Có người lòng phơi phới nhìn thấy phong cảnh đồng lúa xanh tươi chạy dài bên quốc lộ như tôi.

Cũng có người nhớ mùi mồ hôi, mùi xăng dầu giữa nắng gió miền Trung. Nhớ bến bãi ồn ào í ới ngày xưa. Và cũng có người tuổi đời chồng chất, nhớ cảnh xuống xe qua cầu xe lửa Bến Lức, Tân An thuở xa lắc xa lơ.

 

Trang Nguyên

----------

Kim Quy tổng hợp

Hình Internet

 

 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này