Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1234)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (55)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (340)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Bài học từ 5 câu nói nổi tiếng của cựu TT Mỹ Franklin về tiền

Tại sao tờ 100 USD lại in

hình chân dung Benjamin Franklin?

Bài học từ 5 câu nói nổi tiếng của cựu TT Mỹ Franklin về tiền

Nhiều người Việt nam thích tờ 100 đô của Mỹ, nhưng chắc không mấy ai tò mò tự hỏi:

- Chân dung trên tờ tiền này là ai ?

Một số người đoán có lẽ đó là một vị Tổng thống nào đó của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Thực ra đó không phải chân dung của Tổng thống nào của Hoa Kỳ, mà là chân dung của một người đóng vai trò quan trọng trong Lịch sử Hoa Kỳ còn hơn hầu hết các Tổng thống.

Đó là một người khổng lồ của lịch sử nhân loại. Một người đa tài. Một nhà phát minh và sáng chế hàng đầu. Một nhà kinh doanh tài ba. Một nhà tư tưởng xuất sắc. Một chính khách lỗi lạc. Một trong những ‘Người Cha Lập Quốc’ (Founding Fathers) và Anh hùng dân tộc của Hoa Kỳ. Trong lịch sử nhân loại khó có ai có thể sánh được về tài năng và ảnh hưởng với con người này. Ông là BENJAMIN FRANKLIN.

Benjamin Franklin sinh ngày 17 tháng 1 năm 1706 tại phố Milk, Boston. Cha Ông, Josiah Franklin, là người làm nến, xà phòng và bán hàng tạp hóa. Mẹ ông là vợ thứ hai của Josiah. Benjamin là con thứ 15 trong 17 người con của cha mình.

Do việc làm ăn của người cha sa sút, năm lên 10, Benjamin buộc phải thôi hẳn việc học ở trường. Năm 12 tuổi, Ben bắt đầu làm công việc của một thợ in cho xưởng in của anh trai James. Do ham học, cậu đọc ngấu nghiến mọi thứ sách báo cậu có được.

Năm 1721, James Franklin lập ra một tờ báo lấy tên là New England Courant. Đây được coi là tờ báo độc lập đầu tiên ở xứ sở này. Khi đó, Ben tỏ ý muốn làm một người viết bài cho báo nhưng bị từ chối.

Cậu bèn gửi bài theo bưu điện với bút danh là Mrs Silence Dogood, có vẻ như của một mệnh phụ. Và thật bất ngờ, những bài của cậu đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Nó nêu ra những vấn đề xã hội mà rất nhiều thành phần quan tâm. Tuy nhiên, James đã rất khó chịu khi phát hiện ra tác giả của những bài viết này chính là thằng oắt em trai mình !

17 tuổi, Benjamin bỏ nhà tới Philadelphia để tìm việc làm. Những năm sau đó, chàng trai phải vật lộn mưu sinh. Chứng kiến sự trì trệ của xã hội, năm 1727, Franklin lập ra một hội lấy tên là Junto, gồm “những người thợ và thương nhân hy vọng hoàn thiện chính mình đồng thời hoàn thiện cộng đồng”.

Việc xuất hiện của Junto châm ngòi cho phong trào hình thành các tổ chức xã hội và nghề nghiệp khác nhau ở Philadelphia. Một trong những hoạt động quan trọng của Junto là đọc sách.

Để có nhiều sách cho mọi người đọc, Franklin đã lập ra Library Company of Philadelphia (Công ty thư viện Philadelphia). Tiền mua sách do các hội viên đóng góp và các độc giả trả phí khi mượn sách. Công ty này vẫn tồn tại cho đến ngày nay và trở thành một trong những thư viện vĩ đại nhất thế giới.

Năm 1730, Franklin thành lập xưởng in của riêng mình, đồng thời lập ra tờ báo The Pennsylvania Gazette. Tờ báo này nhanh chóng trở thành diễn đàn bàn về việc cải cách xã hội. Với tư cách chủ bút và là người viết những bài quan trọng đề xuất những tư tưởng cách mạng, Benjamin Franklin nhanh chóng có được uy tín của một nhà cải cách thông thái.


Con tem Franklin

.Cùng năm, Franklin nhận là cha của một đứa bé tên là William và không cho biết mẹ nó là ai. Ông đã nuôi William cho đến khi người này trưởng thành và được chính Ông dàn xếp để làm thống đốc New Jersey rồi trở thành nhân vật hoàn toàn bất đồng chính kiến với Ông: William là người bảo hoàng, trong khi Benjamin Franklin là nhà cải cách.

Tháng 9 năm đó, Franklin kết hôn (không hôn lễ) với bà Deborah Read, người đã từng có 2 đời chồng. Sau này, họ có với nhau 2 người con. Năm 1731, Franklin trở thành một trong những nhà lãnh đạo của Hội Tam Điểm ở Mỹ. Ông bắt đầu viết sách về tôn chỉ và hoạt động của hội này.

Năm 1743, Ông sáng lập Hội Triết Học Mỹ. Trong những năm tháng đó, vốn kiến thức mà ông tích lũy được về khoa học và kỹ thuật đã đưa Ông lên tầm một nhà khoa học thực thụ.

Ông phát hiện ra là có 2 loại điện và gọi chúng là điện âm và điện dương. Ông nêu ra nguyên lý bảo toàn điện tích. Ông phân loại được các chất thành chất dẫn điện và chất cách điện, nhờ đó đã không gặp nguy hiểm về tính mạng khi thu điện từ các đám mây.

Ông là người đầu tiên phát hiện ra sự khác nhau giữa hướng gió trong cơn bão và hướng di chuyển của cơn bão, một điều rất quan trọng đối với dự báo bão. Ông tìm ra nguyên lý làm lạnh bằng hiện tượng bay hơi và đã tạo ra được nhiệt độ âm 14 độ C trong môi trường mùa hè bằng cách cho ether bay hơi.

Ông có những sáng chế đi vào lịch sử khoa học kỹ thuật. Trong số đó có:

- Cột thu lôi,
- Kính 2 tròng, lin,
- Kính 2 tròng,
- Ống thông tiểu mềm,

Năm 1753, Franklin được trao tặng Huy Chương Copley của Hội Hoàng Gia Anh giống như Viện Hàn lâm Khoa học..

Năm 1762, Ông được Đại học Oxford trao bằng tiến sĩ danh dự.

Trong đời sống xã hội, Franklin cũng có những đóng góp lớn lao. Ông đã:

- Lập ra công ty cứu hỏa đầu tiên tại Mỹ;
- Thành lập viện hàn lâm Philadelphia .Thực chất là trường đại học;
- Thành lập viện hàn lâm Philadelphia .Thực chất là trường đại học;
- Cùng với Tiến sĩ Thomas Bond thành lập bệnh viện Pennsylvania .Bệnh viện đầu tiên ở Mỹ ;

Cuối thập niên 1740, Franklin bắt đầu các hoạt động với tư cách quan chức chính quyền. Ngoài các chức vụ trong chính quyền thành phố và vùng Pennsylvania .Khi đó chưa phải là một bang của HCQ Hoa Kỳ, vì chưa có liên bang. Ông còn đảm nhiệm công tác ngoại giao với Anh Quốc và Pháp..

Năm 1751, Ông được bầu vào quốc hội Pennsylvania.

Năm 1754, Franklin lãnh đạo phái đoàn Pennsylvania tham gia Đại hội Albany. Tại đó, Ông đưa ra một tuyên ngôn về Liên Minh Thuộc Địa. Mặc dù tuyên ngôn không được thông qua, nhưng nó là cơ sở về tư tưởng cho Hiến Pháp Hợp Chủng Quốc sau này.

Từ 1757 đến 1762, Franklin sống ở Anh để giành tâm lực cho cuộc đấu tranh chống lại các đặc quyền đặc lợi của một số nhân vật Hoàng Gia Anh tại Mỹ và đòi quyền lợi kinh tế và chính trị cho các thuộc địa của Anh trên đất Mỹ.

Năm 1763, Franklin thay mặt chính quyền Pennsylvania đứng ra dẹp một cuộc nổi loạn. Những người tham gia cuộc nổi loạn này khi đó đang tiến hành một cuộc trả thù tàn bạo đối với những người Indian Mỹ ,người ‘da đỏ’.

Như vậy, Franklin đã giúp người Indian Mỹ tránh được một cuộc thảm sát. Sau vụ đó, Franklin lớn tiếng lên án những quan điểm phân biệt chủng tộc hiện đang khá phổ biến trong dân chúng gốc Âu.

Trong các năm từ 1764 đến 1774, Franklin liên tục có mặt ở châu Âu để vận động cho công cuộc giải phóng thuộc địa Mỹ khỏi sự cai trị của Hoàng Gia Anh. Đến năm 1775 thì Ông trở thành phần tử nguy hiểm nhất trong mắt Hoàng Gia Anh. Tháng 3 năm đó, Ông rời Anh Quốc trở về Mỹ.

Ngày 5 tháng 5 năm 1775, chiến tranh cách mạng Mỹ bắt đầu. Trong cuộc chiến này, một số vùng mà sau này là các bang đã liên kết với nhau chống lại sự cai trị của Hoàng Gia Anh. Franklin được chọn làm đại diện của Pennsylvania tham gia Đại Hội Thuộc Địa lần 2.

Năm 1776, Franklin tham gia một ban gồm 5 người soạn thảo TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP trên cơ sở bản của Thomas Jefferson. Tháng 12 năm 1776, Franklin tới Pháp với tư cách công sứ Hoa Kỳ và làm việc tại đó mãi tới 1785.

Trong thời gian đó, Ông đã thuyết phục chính quyền cộng hòa Pháp tham gia liên minh quân sự với Hoa Kỳ. Uy tín của Ông ở Pháp lớn đến mức việc treo chân dung của Ông trong nhà trở thành mốt. Một người là le Ray Chaumont đã thuê họa sĩ Duplessis vẽ chân dung ông.

Đến nay, nguyên bản của bức chân dung này vẫn còn được treo trong Phòng Tranh Chân Dung Quốc Gia ở Washington DC, và đó chính là bản gốc của chân dung Ông trên tờ 100 đô Mỹ.

Năm 1785, khi trở về Mỹ, Franklin đã trở thành người có ảnh hưởng thứ hai ở đất nước này, chỉ sau George Washington.

Những năm tháng cuối đời, Ông dành hết tâm sức cho công cuộc giải phóng nô lệ, chủ yếu là người da đen gốc Phi.

FRANKLIN LÀ NGƯỜI DUY NHẤT ĐỂ LẠI CHỮ KÝ TRONG CẢ 4 VĂN KIỆN LẬP QUỐC CỦA HOA KỲ, TRONG ĐÓ CÓ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP VÀ HIẾN PHÁP.

Benjamin Franklin cũng có năng khiếu và tham gia hoạt động nghệ thuật. Ông từng chơi mấy loại nhạc cụ và sáng tác nhạc. Ông là hội viên Hội Nghệ Thuật Hoàng Gia Anh nhiều năm. 200 năm sau, vào năm 1956, hội này đã lập ra Huy Chương Benjamin Franklin để trao tặng cho những tài năng nghệ thuật xuất sắc.
Về quan điểm Tôn giáo, Franklin tin vào Chúa Jesus.

Về đức hạnh, cả đời Ông luôn giữ vững 13 đức tính: ôn hòa, kín tiếng, ngăn nắp, quyết đoán, tiết kiệm, siêng năng, chân thành, công bằng, điều độ, sạch sẽ, tĩnh tại, giản dị, khiêm tốn (temperance, silence, order, resolution, frugality, industry, sincerity, justice, moderation, cleanliness, tranquility, chastity, humility).

Benjamin Franklin mất ngày 14 tháng 4 năm 1790 tại Philadelphia.

Bài học từ 5 câu nói nổi tiếngcủa cựu TT Mỹ Franklin về tiền

Hình ảnh của cựu TT Mỹ Benjamin Franklin không chỉ được in sâu trong tâm trí của người dân Mỹ mà còn được in trên tờ tiền có mệnh giá lớn nhất bởi Kho bạc Hoa Kỳ - tờ $100.

Khó mà lựa chọn được hình ảnh người sáng lập nào khác phù hợp hơn cho tờ tiền $100, TT Franklin là người sáng lập đồng thời cũng là chủ của một cửa hàng in ấn trước khi đảm nhận nhiệm kỳ làm tổng thống nổi tiếng và vĩ đại nhất trong cuộc cách mạng Mỹ.

Nhờ tinh thần kinh doanh này, TT Franklin đã tạo dựng sự giàu có, phục vụ cộng đồng và tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn cho thế hệ tương lai.

TT Ben Franklin không chỉ để lại cho thế giới vô số các sáng chế của ông cho thế giới hay cho một quốc gia còn non trẻ được gọi là Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ - mà ông còn để lại rất nhiều lời khuyên và những kinh nghiệm cá nhân được đúc kết qua nhiều bài viết của mình. Và một trong số những lời khuyên giá trị nhất là vấn đề tài chính.

Dưới đây là 5 kinh nghiệm quý giá được ưa thích nhất từ TT Franklin mà bạn có thể học hỏi.

1. "Tiết kiệm được đồng nào hay đồng nấy"

Câu nói tài chính cá nhân nổi tiếng nhất của Franklin không thực sự chính xác. Về mặt định lượng, khi bạn nghĩ rằng hầu hết mọi người tính khoản thu nhập của họ trước thuế, một đồng tiết kiệm thực sự có giá trị hơn một đồng kiếm được.

Tại sao? Bởi vì thực tế thuế làm giảm tiền mua nhà của bạn. Nếu bạn kiếm được $10 một giờ, có khả năng bạn chỉ nhận khoảng $7.50 sau thuế. Do đó, nếu bạn có thể cắt giảm chi tiêu của mình lên $10, kết quả là tiết kiệm hơn giá trị một giờ tiền lương mua nhà của bạn.

Bài học: Tiết kiệm tiền là chìa khóa số một để tạo dựng sự giàu có và thành công về mặt tài chính.

2. "Khoản đầu tư vào kiến thức luôn luôn là khoản sinh lãi tốt nhất."

Đầu tư vào bản thân cũng quan trọng như việc tiết kiệm cho tương lai. Thực tế, mặc dù TT Franklin gắn liền với câu nói, "ngủ sớm, dậy sớm, giữ cho cơ thể khoẻ mạnh, giàu có và khôn ngoan", TT Franklin nổi tiếng là thường xuyên đốt dầu nửa đêm để học các ngôn ngữ bao gồm tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Latin , và Tây Ban Nha.

Điều này giúp ông tăng thêm hiểu biết để phục vụ chính mình cũng như các thuộc địa suốt hành trình kêu gọi sự ủng hộ của người Pháp trong cuộc cách mạng Mỹ, việc chia cổ tức đó là điều mà có thể ông không bao giờ mong đợi.

Cuộc đời của TT Franklin dạy rằng thành công không chỉ được sinh ra từ công việc khó khăn mà còn xuất phát từ sự học hành siêng năng.

Bài học: Không bao giờ ngừng học tập. Nếu bạn có cơ hội để tham gia một lớp học, hoặc nâng cao học vấn, thì hãy thực hiện nó. Tốt hơn hết là nên học những điều bạn hứng thú vào thời gian của bạn. Thẻ thư viện luôn miễn phí!

3. "Nghèo không phải là điều đáng xấu hổ, thấy xấu hổ vì cảnh nghèo lúc trước thì đáng xấu hổ thật"

TT Franklin là người sống tự lập, ông tin rằng thành công có được từ công việc khó khăn, sự siêng năng và học tập. Xuất thân từ bản chất khiêm tốn, nhưng ông ta đã tiến bộ thông qua việc kinh doanh và học suốt đời. Ông ta không bao giờ xấu hổ khi thành thật nói về xuất thân của mình hay ông trở nên thành công như thế nào.

Bài học: nhớ rằng bị rơi vào tình trạng nợ nần hoặc nghèo đói có thể chỉ là động lực đòi hỏi bạn phải duy trì sự tiết kiệm cá nhân và đảm bảo một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân và gia đình bạn.

4. "Người nào có quan niệm rằng với tiền sẽ làm được mọi thứ thì có thể hiểu rằng họ làm mọi thứ chỉ vì tiền"

Bách khoa toàn thư về tài chính cá nhân chỉ có thể được viết trên câu nói này. Tính thanh đạm, tiết kiệm và tằn tiện là một, nhưng lòng tham là một vấn đề khác. Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu năm 2008 là một ví dụ điển hình.

Sự tham lam khiến hàng tỷ đô la đổ vào các khoản đầu tư mạo hiểm và đầu cơ chẳng hạn như các khoản thế chấp bằng lãi suất cơ bản và các chứng khoán có thế chấp được dự đoán sẽ không có khả năng hoàn trả cho các nhà đầu tư mặc dù họ là những người có sự hiểu biết sâu sắc về nó nhưng vẫn bị lu mờ bởi đồng đô la.

Bài học: Bạn phải chịu trách nhiệm về tiền của bạn; chứ không nên để nó điều khiển bạn.

5. "Thà đi ngủ mà nhịn ăn tối còn hơn thức dậy trong nợ nần"

TT Franklin thấu hiểu được bản chất nợ nần, và tin chắc rằng tốt hơn nên cắt giảm chi tiêu đến mức tối đa hơn là nợ nần để có được một cuộc sống vượt quá khả năng của chúng ta.

Chắc chắn, việc cắt giảm nhu cầu thiết yếu của con người như thực phẩm là một sự lựa chọn hoàn hào không quá khó khăn với bất cứ lúc nào, nhưng câu nói này góp phần tăng thêm tầm quan trọng của việc xây dựng quỹ khẩn cấp.

Bài học: Đừng sống quá mức khả năng của bạn, và hãy thoát khỏi nợ nần càng nhanh càng tốt.

Lời cuối cùng

Các bài viết của TT Benjamin Franklin có đầy những câu nói vẫn còn giá trị ngay cả trong những điều kiện kinh tế phức tạp và thường biến động như ngày nay chúng ta phải đối mặt.

Với điều đã nói, chúng ta sẽ để lời cuối cùng này cho vị tổng thống: Ben Franklin, người luôn nhắc nhở chúng ta giữ vững quan điểm về tiền bạc theo đúng triển vọng của mình.

 

"Tiền bạc chưa bao giờ và sẽ không bao giờ khiến con người hạnh phúc, về bản chất nó không có gì có thể tạo ra hạnh phúc. Một người càng có nhiều tiền bao nhiêu thì lại càng muốn nó nhiều hơn bấy nhiêu."

 ✧✧✧✧

 

Top 5 Famous Benjamin Franklin Quotes on Money – Personal Finance Wisdom & Lessons

Bài học từ 5 câu nói nổi tiếng của cựu TT Mỹ Franklin về tiền

Benjamin Franklin’s image is indelibly printed not only within the American psyche, but also on the largest issue of currency printed by the U.S. Treasury – the $100 bill. It would be hard to choose a more appropriate founding father to feature on the $100 bill, seeing as how prior to his tenure as one of the greatest and most famous statesmen of the American Revolution, Franklin was the founder and proprietor of a printing shop.

It’s this entrepreneurial spirit that allowed Franklin to build wealth, serve his community, and create a better world for future generations. But Ben Franklin didn’t just leave the world his myriad of inventions or a fledgling country called the United States of America – he also left a great deal of personal wisdom and advice from his many writings. And some of his best advice is financial.

Here are five of our favorite pearls of wisdom from Franklin, and what you can learn from them.

  1. “A penny saved is a penny earned.”

Franklin’s most famous personal finance quote isn’t actually quite accurate. Quantitatively, when you consider that most people calculate their earnings prior to taxes, a penny saved is actually worth more than a penny earned. Why? Because taxes reduce your actual take home pay. If you earn $10 an hour, you will likely only see around $7.50 after taxes. Therefore, if you can cut your expenses by $10, it actually results in saving more than 1 hour’s worth of your take home wage.

The lesson: Saving money is the number one key to building wealth and becoming financially successful.

  1. “An investment in knowledge always pays the best interest.”

Investing in yourself is just as important as saving for the future. In fact, although Franklin is also attributed with the saying, “early to bed, early to rise, keeps a man healthy, wealthy, and wise,” Franklin was known to frequently burn the midnight oil studying languages which included French, Italian, Latin, and Spanish. This gained knowledge served him and the colonies well in his travels soliciting support from the French during the American revolution, paying dividends he could have never expected. Franklin’s life teaches that success is not only born from hard work, but also from diligent study.

The lesson: Never stop learning. If you have a chance to take a class, or further your education, go for it. Better yet, study things that interest you on your own time. A library card is free!

  1. “Having been poor is no shame, being ashamed of it is.”

Franklin was a self-made man who believed that success was derived through hard work, diligence, and study. His own beginnings were of a humble nature, but he progressed through entrepreneurship and lifelong learning. He never shied away from being honest about who he was or how he came by his success.

The lesson: Remembering the crushing weight of debt or poverty might be just the motivation you require to sustain your personal frugality and ensure a better future for yourself and your family.

  1. “He that is of the opinion money will do everything may well be suspected of doing everything for money.”

An encyclopedia of personal finance could be written on this quote alone. Frugality, savings, and thrift are one thing, but greed is another matter altogether. The financial crisis which began in 2008 is a prime example. Greed drove billions of dollars into risky and speculative investments such as sub-prime adjustable rate mortgages and mortgage-backed securities which promised impossible returns to investors who were well beyond their depth of understanding but blinded by dollar signs.

The lesson: You should be in charge of your money; it shouldn’t be in charge of you.

  1. “Rather go to bed without dinner than to rise in debt.”

Franklin understood the insidious nature of debt, and firmly believed that it’s better to slash expenses to an extreme level rather than to incur debt in order to afford a lifestyle that is well beyond our means. Certainly, cutting back on essential human needs such as food is a choice that we will ideally not be confronted with any time soon, but this quote reinforces the importance of building an emergency fund.

The lesson: Don’t live beyond your means, and get out of debt as quickly as possible.

Final Word

Benjamin Franklin’s writings are full of quotes that remain perfectly apt even in the complicated and often confusing economic conditions we face today. With that said, we’ll leave this final word to the master: Ben Franklin himself, who reminds us to keep our ideas about money in perspective.

“Money has never made man happy, nor will it, there is nothing in its nature to produce happiness. The more of it one has the more one wants.”

Source: moneycrashers.com

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

Xem thêm...

Những họa sĩ nổi tiếng và ảnh hưởng nhất Việt Nam

Những họa sĩ nổi tiếng và

 ảnh hưởng nhất Việt Nam

Khi tìm hiểu về hội họa Việt Nam, đặc biệt là về nền mỹ thuật hiện đại, chúng ta thường nghe đến nhóm tứ kiệt “Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn” hay nhóm tứ trụ thế hệ thứ hai bao gồm “Nghiêm – Liên – Sáng – Phái”. Họ là ai? Đâu là những họa sĩ nổi tiếng nhất của Việt Nam? Bài viết này sẽ cho bạn biết thêm về các danh họa của Việt Nam, những người mà tên tuổi của họ vang đến tầm quốc tế.

1. Nguyễn Gia Trí (1908 – 1993)


Được mệnh danh là “cha đẻ những bức tranh sơn mài tân thời của Việt Nam”, Nguyễn Gia Trí là cây đại thụ lớn nhất của nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam (nhất Trí). Ông là người đi đầu trong việc chuyển những bức tranh sơn mài từ trang trí thành những tuyệt phẩm nghệ thuật.

Ông Gia Trí đã để lại một vẻ đẹp sơn mài lộng lẫy tôn giáo, cổ điển, bởi ông là người duy nhất đã khám phá ra linh hồn của sơn mài truyền thống, khiến nó không còn tầm thường nữa mà đài các, quí phái.

Vẻ đẹp thiếu nữ trong tranh ông được diễn tả tài hoa là hiện thân của khát vọng tự do, mộng mơ. Tuy chưa được công nhận là Bảo vật Quốc gia nhưng tất cả các tác phẩm của ông dường như đã được ngầm coi là bảo vật và bị cấm đem khỏi lãnh thổ Việt Nam.


Tác phẩm “Vườn Xuân Trung Nam Bắc” đã đạt được nhiều kỷ lục: kích thước lớn nhất, phối hợp nhiều chất liệu truyền thống và được nhà nước mua với giá cao nhất (100.000 USD, tương đương 600 triệu đồng Việt Nam thời điểm đó).

Đó là tác phẩm được ghép từ 9 mảnh ván làm vóc, được họa sĩ Nguyễn Gia Trí sáng tác trong gần 20 năm và cũng là tác phẩm cuối cùng của ông.

Phong cách nghệ thuât: Ông là người đi đầu trong việc chuyển những bức tranh sơn mài từ trang trí thành những tuyệt phẩm nghệ thuật và từ đó ông đã được mệnh danh là “người cha đẻ những bức tranh sơn mài tân thời của Việt Nam”.

Ông phối hợp lối in khắc với những phương thức sơn mài mới, đồng thời áp dụng các nguyên tắc cấu trúc tranh vẽ phương Tây, để tạo những bức họa hiện đại mang đầy tính chất dân tộc.


Tác phẩm chính: Thiếu nữ trong vườn, Vườn xuân Trung Nam Bắc, Thiếu nữ bên hoa phù dung.

Tác phẩm sơn mài “Vườn xuân Trung Nam Bắc” của họa sĩ Nguyễn Gia Trí.

Tác phẩm “Thiếu nữ bên hoa phù dung”

2. Tô Ngọc Vân (1906-1954)


Nghệ danh: Tô Tử
Trong danh sách tứ kiệt, “Nhì Vân” chính là để nói Tô Ngọc Vân. Họa sĩ Tô Ngọc Vân là một danh họa là niềm tự hào trong làng nghệ thuật của Việt Nam, tên ông còn được đặt cho một đường phố ở thủ đô Hà Nội và ở Thành phố Hồ Chí Minh. Ông đã để lại cho hội họa nước nhà những tác phẩm đặc sắc mang tầm quốc tế.


Kiệt tác “Thiếu nữ bên hoa huệ” được Tô Ngọc Vân sáng tác vào năm 1943, khi ông đang giảng dạy tại Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. “Thiếu nữ bên hoa huệ” mô tả cảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đang nghiêng đầu một cách đầy duyên dáng, khơi gợi về phía lọ hoa huệ trắng.

Hình dáng cô gái kết hợp với những chi tiết và màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn dịu nhẹ. Đáng tiếc là kiệt tác này giờ bị lưu lạc không biết ở đâu.  Còn bức “Hai thiêu nữ và em bé” đã chính thức được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2013, hiện kiệt tác hội họa này đang được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Phong cách nghệ thuât: Tô Ngọc Vân được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam. Thông qua kỹ thuật, ông đã cố gắng diễn tả được vẻ đẹp của duyên dáng người Việt Nam đương thời mà tiêu biểu là chân dung thiếu nữ.
Tác phẩm chính: Thiếu nữ bên hoa huệ, Hai thiêu nữ và em bé, Thiếu nữ với hoa sen.

Tranh sơn dầu “Thiêu nữ bên hoa huệ” của Tô Ngọc Vân.

Tranh “Hai thiếu nữ và em bé” của Tô Ngọc Vân.

3. Nguyễn Tường Lân (1906-1946)


Ông là một trong bộ tứ họa sĩ nổi tiếng thời kỳ đầu của nền mỹ thuật Việt Nam: “Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn”. Vì chiến tranh, không còn nhiều thông tin và tư liệu về Nguyễn Tường Lân, tranh của ông còn sót lại cũng còn rất ít.

Ông được xem là một trong số ít các họa sĩ đương thời có khả năng đưa các màu nguyên chất vào một sự hài hòa mang tính hư cấu, tượng trưng, giản dị và nhã nhặn, kể cả đối với tranh lụa.

Ngay từ thập niên 1940, bằng nhịp điệu phóng khoáng của những vệt bút lớn chạy trên sơ đồ trang trí, Nguyễn Tường Lân đã sớm phá cách để đi đến phong cách nghệ thuật trừu tượng hóa.


Ông học khóa 04 trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau khi tốt nghiệp, ông mở xưởng vẽ tại Hà Nội. Ông thuần thục hầu hết các chất liệu từ sơn dầu, sơn mài, lụa cho tới khắc gỗ, bột màu…Mặc dù sáng tác được nhiều tác phẩm nhưng số còn giữ lại được chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Có lẽ cũng chính vì vậy mà hình ảnh mà chỗ đứng của ông trong bộ tứ khá mờ nhạt, mong manh dù rằng ông là một họa sĩ kỳ tài của Việt Nam.

Phong cách nghệ thuât: Thuần thục hầu hết các chất liệu sơn dầu, sơn mài, lụa, khắc gỗ, bột màu, chì than, Nguyễn Tường Lân đã sáng tác nhiều tác phẩm, tuy nhiên cho đến nay, rất ít ỏi các tác phẩm của ông còn sót lại.
Tác phẩm chính: Chợ miền núi, Hiện vẻ hoa, Đôi bạn

Tranh “Đôi bạn” của họa sĩ Nguyễn Tường Lân.

Tranh của Nguyễn Tường Lân minh họa cho câu thơ “Vầng trăng ai xẻ làm đôi”.

4. Trần Văn Cẩn (1910 – 1994)


Là người thứ tư trong danh sách tứ kiệt của nền hội họa Việt Nam (tứ Cẩn), Trần Văn Cẩn đã để lại cho nền mỹ thuật nước nhà những tác phẩm tiêu biểu, có giá trị cao về nghệ thuật và giàu tính nhân văn.


“Em Thúy” là một bức tranh sơn dầu được Trần Văn Cẩn sáng tác năm 1944. Có thể nói đó là đỉnh cao nghệ thuật Trần Văn Cẩn và cũng là đỉnh cao nghệ thuật Việt Nam. Với lối biểu hiện chân thực, nhẹ nhàng, không khoa trương, cường điệu.

Trần Văn Cẩn đã níu kéo và lưu giữ người xem bằng vẻ đẹp thơ ngây, trong trắng. Ông không hề quan tâm đến trường phái khi vẽ mà chỉ cốt nêu lên cái thần thái của nhân vật.

Phong cách nghệ thuât: Ông cũng là một trong số ít các họa sỹ có sự thể nghiệm với nhiều chất liệu, thể loại khác nhau và chất liệu, thể loại nào cũng có tác phẩm thành công.

Ông cũng là một trong những họa sỹ đi đầu trong việc thể nghiệm, sáng tạo từ chất liệu sơn ta để làm tranh sơn mài, đưa sơn mài thành một chất liệu hội họa nổi tiếng, mang đặc trưng nghệ thuật của hội họa dân tộc Việt Nam.
Tác phẩm chính: Em Thúy

Tranh “Em Thúy” của họa sĩ Trần Văn Cẩn.

5. Nguyễn Tư Nghiêm (1922-2016)


Nguyễn Tư Nghiêm cũng là hoạ sĩ hiếm hoi của nền mỹ thuật Việt Nam có bảo tàng riêng, tọa lạc tại 90 B2 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm. Giới phê bình nghệ thuật thời bấy giờ từng nhìn nhận, tranh của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm phối hợp bút pháp hiện đại với tư duy cổ truyền, địa phương, tạo nên bản sắc riêng.

Đường nét, màu sắc, nhịp điệu, không khí luôn luôn được phong cách hóa, dựa theo họa tiết trống đồng Đông Sơn, hoa văn đồ gốm Lý Trần, tranh tượng dân gian, kiến trúc đình chùa, nhịp điệu chèo tuồng, múa hát truyền thống. Kỹ thuật tạo hình, cho dù hiện đại và cách điệu, vẫn gợi lên được khí hậu tín ngưỡng dân tộc – và các nền văn hóa lân cận Đông Nam Á.

Phong cách nghệ thuât: Chất liệu mạnh nhất của Nguyễn Tư Nghiêm là sơn mài truyền thống nhưng không mài, và về sau là bột màu, giấy dó. Chủ đề hay gặp trong tranh ông là những điệu múa cổ, Thánh Gióng, Kiều, và những con giáp. Màu ông yêu thích là màu của dân gian Việt Nam.
Tác phẩm chính: Điệu múa cổ, Xuân hồ Gươm, 12 con giáp

Tranh sơn màu Xuân hồ Gươm” của Nguyễn Tư Nghiêm.

Tranh bột màu “12 con giáp” của Nguyễn Tư Nghiêm.

6. Dương Bích Liên (1924-1988)

Họa sĩ Dương Bích Liên là một họa sĩ người Hà Nội đã dẹp bỏ nhiều ham muốn dành cho một ham muốn sáng tạo: không vợ con, không say sưa vật chất, không tiền gửi tiết kiệm, không địa vị chính quyền, chưa một lần ra nước ngoài hoặc triển lãm riêng trong nước.

Giữa một phố lớn đông vui mà cuộc sống của ông vẫn xa cách, ẩn dật, lặng lẽ trong đời sống và tư duy sáng tạo nghệ thuật. Trong căn gác nhỏ hẹp nơi ông ở chỉ là những tiện nghi tận cùng để sống: một chiếc giá vẽ sơn dầu, một bát sơn cánh gián, một chiếc giường cá nhân, một hai chiếc xoong nồi tối thiểu và một vài cuốn sách nước ngoài nguyên bản.

Trong căn gác lúc nào cũng yên tĩnh, có cửa sổ lớn nhìn thẳng vào trời xanh, không quét vôi tường lại bao giờ, ngày tết không hoa cắm và cửa thường xuyên không khóa lúc ông đi bộ ra quán rượu ông quen, lúc ông đi vẽ xa … cứ thế ông sống đơn độc, xa lạ với những nơi tụ họp, những lễ nghi gặp mặt. “Cô đơn là số phận của đời tôi” ông nói vậy. “Tôi là kẻ bộ hành trên sa mạc, chẳng hiểu tôi sẽ vẽ ra sao những tác phẩm sắp tới”ông nói vậy.


Dương Bích Liên không có ý dày công cất giữ những sáng tạo của mình. Khi chết, ông muốn được đốt hết những bức tranh đã vẽ. Tác phẩm của ông còn lại ngày hôm nay là hàng trăm bức tranh, chủ yếu là do bạn bè quý mến ông và nâng niu cất giữ.

Phong cách nghệ thuât: Dương Bích Liên dày công nghiên cứu các phong cách, trào lưu nghệ thuật thế giới. Mọi chất liệu đều được ông thể hiện nhuần nhuyễn, độc đáo, siêu thoát đặc biệt là các thể loại sơn mài, sơn dầu, phấn đấu và chì than.

Ông thiên về vẽ chân dung, rất nổi tiếng với đề tài thiếu nữ. Ông đặc biệt thành công với những tác phẩm về chân dung thiếu nữ. Người ta thường nói “Phố Phái, gái Liên” để nói đến việc khi xem tranh phố thì nên xem tranh của Bùi Xuân Phái, còn xem tranh về thiếu nữ thì Dương Bích Liên là người vẽ đẹp nhất.
Tác phẩm chính: Cô Mai tranh sơn dầu

 

 

Tranh sơn dầu “Cô Mai” của Dương Bích Liên.

7. Nguyễn Sáng (1923-1988)


Nguyễn Sáng là cây đại thụ của sơn mài Việt Nam, có nhiều đóng góp tiêu biểu cho hội họa Việt Nam hiện đại. Ông khai thác thành công phong cách nghệ thuật hội họa hiện đại châu Âu, nhưng vẫn không xa rời nghệ thuật dân gian và cổ truyền Việt Nam. Nghệ thuật của ông là sự kết hợp hài hòa giữa tính hiện đại và tinh hoa của dân tộc.


Nguyễn Sáng là một người lữ hành cô độc đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Trong sáng tác ông thăng hoa, bay bổng chừng nào thì trong cuộc sống thường nhật ông vật lộn, túng quẩn chừng ấy.

Khi những người cùng thời với ông, buồn cho số phận còn được tình yêu chia sẻ, mất tình yêu còn được cuộc sống đền bù… thì ông "chẳng có gì ngoài một tấm lòng và hai bàn tay trắng".

Chính cái nỗi "khó sống" ấy là nguyên cớ cho Nguyễn Sáng dồn hết mọi nỗi niềm, tâm tư vào tranh, nhờ vào đấy mà chúng ta có một kho tàng nghệ thuật vô giá. Như một tín đồ của mỹ thuật giáo, ông thà tuẫn đạo chứ nhất định không chịu cải đạo. Sự tôn sùng cái đẹp, coi cái đẹp là mục đích của nghệ thuật, chi phối toàn bộ hoạt động nghệ thuật của ông.

Phong cách nghệ thuât: Nguyễn Sáng dùng nét vẽ của mình. Ngoài ra, ông còn vẽ theo nhiều đề tài khác nhau, như phụ nữ và hoa, cảnh đẹp vừa cổ kính vừa lộng lẫy của chùa chiền, cảnh núi rừng thâm u mà hùng vĩ, cảnh nông thôn bình dị, hiền hòa, cảnh ghi lại những trò chơi dân gian.

Hai tác phẩm của Nguyễn Sáng

8. Bùi Xuân Phái (1920-1988)


Bùi Xuân Phái họa sĩ nổi tiếng nhất Việt Nam với tranh phố. Tranh phố của ông vừa cổ kính lại rất hiện thực, thể hiện rõ hồn cốt của phố cổ Hà Nội những thập niên 50, 60, 70. Các mảng màu trong tranh Phái thường có đường viền đậm nét, phố không những trở thành chính nó mà còn gần hơn với con người, từ bề mặt đến cảnh quan đều có chiều sâu bên trong. Ngoài phố cổ, ông còn vẽ các mảng đề tài khác, như: chèo, chân dung, nông thôn, khỏa thân, tĩnh vật… rất thành công.

Với những gam màu rực rỡ, những hình vẽ kỳ thú gắn với làng quê Việt Nam đã luôn theo suốt ông trong cuộc đời một nghệ sĩ, tạo nên niềm đam mê hội hoạ ngay từ ngày còn thơ bé.

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, danh họa Bùi Xuân Phái đã vẽ nhiều thể loại, nhiều chân dung, phong cảnh, sinh hoạt khác nhau, phản ánh khá sinh động và chân thật từng giai đoạn của dân tộc. Những bức tranh của danh họa Bùi Xuân Phái đều mang phong cách riêng và để lại những dấu ấn đặc biệt trong nền mỹ thuật Việt Nam.

Nhưng đề tài phố cổ Hà Nội là đề tài ông đã gắn bó hơn 40 năm, bởi đó là nơi chứa đựng nhiều kỷ niệm vui buồn, thăng trầm cuộc đời ông.

Phong cách nghệ thuât: Ông chuyên về chất liệu sơn dầu, đam mê mảng đề tài phố cổ Hà Nội. Ngay từ lúc sinh thời, sáng tạo của ông đã được quần chúng mến mộ gọi dòng tranh này là Phố Phái.
Tác phẩm chính: Phố cổ Hà Nội,  Xe bò trong phố cổ…

Tranh sơn dầu Phổ cổ Hà Nội

9. Nguyễn Phan Chánh (1892-1984)


Ông là một người đã tạo ra một diện mạo tranh lụa Việt Nam không lẫn vào bất kỳ một phong cách nào đối với các nước có nền tranh lụa lớn nhất thế giới như Trung Quốc và Nhật Bản.

Tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh thắm đượm tình yêu thương con người lao động, đặc biệt là hình tượng người phụ nữ và tình mẹ con được thể hiện nhiều trong tác phẩm của ông. Thành công của Nguyễn Phan Chánh là do ông biết kết hợp lối vẽ truyền thống dân tộc với kiến thức khoa học cơ bản của hội hoạ Châu Âu.

Phong cách nghệ thuât: Ông là người đầu tiên mang vinh quang về cho tranh lụa Việt Nam. Ông được coi là người chiết trung phương pháp tạo hình phương Tây và họa pháp tranh lụa phương Đông.
Tác phẩm chính: Chơi ô ăn quan, Người bán gạo

Tranh “Chơi ô ăn quan” của Nguyễn Phan Chánh.

Tranh “Người bán gạo” của Nguyễn Phan Chánh được bán với giá 390.000USD.

10. Vũ Cao Đàm (1908-2000)


Nhiều tác phẩm điêu khắc của ông được coi là mẫu mực của điêu khắc Việt Nam hiện đại trong đó có hai bức tượng hiện được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam là “Chân dung” và “Thiếu nữ cài lược”.

Sống ở Pháp, sáng tác kết hợp tư tưởng Đông – Tây với chủ đề Việt Nam, tác phẩm của Vũ Cao Đàm từ sớm đã tìm được chỗ đứng trên thị trường quốc tế. Tranh của Vũ Cao Đàm thể hiện ảnh hưởng của mỹ thuật miền Nam nước Pháp – Thời cực thịnh của trường phái Ấn tượng.

Bằng những sáng tác giàu tìm tòi, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật truyền thống phương Đông và hội họa phương Tây, Vũ Cao Đàm đã góp phần nâng cao vị thế của người họa sĩ Việt Nam với bạn bè quốc tế.

Phong cách nghệ thuât: Ông nổi tiếng với các tác phẩm điêu khắc, tranh lụa, sơn dầu.
Tác phẩm chính: Thiếu nữ cài lược, Chân dung

Cô gái cài lược (Tête d’Indochinoise). Bằng Đồng,

khoảng 1927-28 Bảo tàng Quai Branly, Paris  

11. Lê Phổ (1907-2001)


Lê Phổ là họa sĩ bậc thầy Việt Nam và trên thế giới theo trường phái hậu với nhiều tác phẩm đắt giá. Ông còn được nhiều người gọi là “danh họa Việt Nam trên đất Pháp” và được coi là “cây đại thụ” trong làng nghệ thuật vẽ tranh Việt Nam. Những tác phẩm của ông thường có giá cao nhất trên thị trường nghệ thuật thế giới đối với một họa sĩ Người Việt.

Phong cách nghệ thuât: Chất liệu chính là sơn dầu và lụa. Chủ đề chính là hoa, phụ nữ mơ màng, quý phái.
Tác phẩm chính: Hoài cố hương, Kim Vân Kiều, Bức rèm tím, Thiếu phụ, Thiếu nữ bên hoa lan, Tĩnh vật, Paysage du Tonkin, Bình hoa mẫu đơn, Lòng mẹ, Giai nhân màu áo nắng.

Tranh “Hoài Cố Hương” của Lê Phổ có giá bán khoảng 222.325 USD.

Tranh sơn dầu “Nhìn Từ Đỉnh Đồi” của họa sĩ Lê Phổ được bán với giá 840.000USD.

Các bức tranh của các họa sĩ kể trên đều thuộc hàng vô giá, hoặc là được trưng bày trong Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, hoặc là đã được bán đấu giá với những cái giá rất cao. 

 

Nguồn: Tổng hợp Internet

 

Hồng Vân sưu tầm

Tranh Vũ Cao Đàm

Xem thêm...

TRÁI TIM BÀ MẸ

TRÁI TIM BÀ MẸ

❤️❤️❤️

- Kính tặng tất cả mọi người nhân Mùa Báo Hiếu.

 

          Trước bàn thờ Tổ Tiên, tôi đứng yên lặng thật lâu, để quán chiếu, để đi sâu vào đời sống của hiện tại và từ đó, nhìn lại quá khứ của nhiều thế hệ ông bà, cha mẹ nhiều đời trải dài xuống, cho đến hôm nay. Trong lòng nao nao, nhiều cảm khái, xúc động. Thật sự, có được thân người rất là khó và tự nhiên, lại nghĩ nhiều đến công ơn sinh thành, dưỡng dục cưu mang của cha mẹ…

 Công dưỡng dục thâm ân dốc trả

Nghĩa sanh thành, đạo cả mong đền…..

 Ngoài trời đang có những cơn mưa đổ về, tràn lan, tầm tả, tạo cho cả bầu trời khoác áo u tịch, thừa ứ nước. Không gian như rộng lớn hơn, có chiều sâu thẳm, những hình ảnh nầy mang dáng dấp như chiều sâu đại dương của tấm lòng các bà Mẹ.

 Mỗi năm khi mùa Vu Lan trở về, hình như đều có những cơn mưa lê thê, rộn ràng như thế. Những cơn mưa nặng hạt hay như những cơn mưa rào, thoáng qua trên bầu trời- có phải chăng là những giọt nước mắt hạnh phúc hay buồn đau vì con do tình yêu của Mẹ.

 Ôi những bà Tiên đã làm nên chùm ảnh tuyệt đẹp, như bóng mát che phủ cho cuộc đời, nay ở đâu ?

 Ngày xưa, lúc còn bé, chúng ta thường được nghe kể chuyện cổ tích và nói đến những bà Tiên. Một bà Tiên thật đẹp, thật dịu hiền. Bà Tiên đầy quyền phép, hay cứu giúp hoặc che chở, chia sẻ, an ủi và chuyển đổi khổ đau của những người khốn khổ và bà có mặt ở mọi nơi nơi, khi thấy có người đau khổ, bất hạnh cần giúp.

 Chúng ta đem lòng ngưỡng mộ, khâm phục, ao ước có ngày mình sẽ gặp được bà Tiên để xem hình dáng, nét dịu hiền, tấm lòng thương yêu con người của bà như thế nào? Và sự ao ước nầy nối tiếp với sự chờ mong khác; tại sao mình không thể nào gặp được bà Tiên? Bà ở nơi đâu? Bà là người thật hay chỉ là một mơ ước, một giấc mơ trong tâm khi đời sống có quá nhiều nổi bất hạnh…

Nhưng chúng ta lại vô tình quên rằng mình đang rất hạnh phúc, rất đầy đủ, rất may mắn v.v…vì đã bỏ quên người Mẹ đang sống, có thực- Một bà Tiên đẹp dịu hiền hơn tất cả, hơn cả những bà Tiên trên vũ trụ nầy và Mẹ đang có mặt, bên mình, cạnh sát mình với tất cả tấm lòng thương con vô bờ bến.

 Nói đến Mẹ là nói đến tình thương, nói đến tấm lòng với tình yêu rộng lớn mà không có gì có thể so sánh được. Người ta thường nói tấm lòng thương con của Mẹ sâu như là đại dương, là biển rộng; nhưng chiều sâu của đại dương có thể đo được, vì là hiện tượng vật chất, còn tâm Mẹ là tấm lòng, là tình yêu, là tinh thần, là sự sống.

 Vũ trụ muôn màu, vực sâu không đáy

Tấm lòng mẹ cấy ngọt trái tim đời

Nếu một hôm nào, mẹ không còn nữa

Dòng sữa ngọt cạn khô nguồn đất sống

Người dù tài sắc, ôm đời viễn mộng

Trái tim không còn, trời đất còn không???….

 Minh Thanh

 Biết bao nhiêu lời ca tụng, tán dương. Biết bao nhiêu văn thơ đã viết, đã nói về tình Mẹ, nhưng đó chỉ là ngôn ngữ- viết hay nói về lòng Mẹ, chứ không phải là nội dung sống thực của tấm lòng của Mẹ.

 Mỗi người chúng ta khi nói hay nghĩ đến tình Mẹ, thì từ trong ký ức biết bao nhiêu hình ảnh, thơ mộng, đầy ấp kỷ niệm tự nhiên xuất hiện, không cần phải suy nghĩ, gợi nhớ. Vì tuổi thơ của mỗi con người đều đầy ấp hình bóng thân thương, thiêng liêng nầy.

 Năm ngoái, khi về thăm Mẹ đau nặng. Có nhiều lúc, ngồi bên người, nhìm tấm thân còm cỏi của một bà cụ già, lòng se thắt lại. Vẫn biết cuộc đời là vô thường, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng thời gian đã làm thay đổi Mẹ nhiều đến như vậy.

Tấm thân đó, ánh mắt, nụ cười, lời nói, tấm lòng đó …tất cả như chứa một nội dung sâu thẳm của tấm lòng bà Mẹ. Một điều khó thể diễn tả bằng ngôn ngữ hay lời nói. Mẹ à! Con thuơng Mẹ- đó chỉ là lời nói tạm gọi được. Tôi muốn tiếp cận để sống lại…

 “ - Má còn nhớ câu hò ru con ngày xưa không? Sao trong tiềm thức con, nó cứ văng vẳng những tiếng hò, tiếng hát thật đẹp đó…..

 - Má chịu thua rồi con ạ, không thể hát hò gì được. Má già quá rồi, sống được đến giờ đã là may. Nhìn đàn con má lớn lên, nên người, đó là hạnh phúc quá lớn mà trong cuộc đời má có được. Dù các con có như thế nào, có ở phương trời nào, có chức vụ gì trong xã hội hay không v.v.. cũng là con của ba má. Ngày xưa, má có thể để nhiều thời gian để ôm ấp, để hò những câu ca dao…để ru con ngủ….

 Gió mùa thu, mẹ ru con ngủ

Năm canh dài, thức đủ năm canh…

 Ví dầu, cầu ván đóng đinh

cầu tre lắc lẻo, gập ghềnh khó đi

Khó đi, mẹ dắt con đi

Con thi trường học, mẹ thi đường đời….

 Giờ thì chỉ còn đôi mắt mờ, bàn tay còm cỏi, còn nhịp đập trái tim của bà Mẹ, đó là tiếng hò mà má theo các con đến trọn đời…”

 Có những lời ru mà tôi đã nghe biết bao nhiêu lần, đơn giản, nhẹ nhàng, lập đi lập lại, nhưng ngọt lịm tình thương. Nay từ lời nói của Mẹ như mở toang vùng trời êm ấm đó, tuôn tràn một chất sữa ngọt, êm dịu, ấp áp. Nước mắt tôi chảy dài theo câu nói của Mẹ.

Đã lớn rồi và qua bao nhiêu là sóng gió cuộc đời, đã làm cho trái tim của tôi có vỏ bọc ngoài là cứng rắn, can đảm, tích cực, nên tôi không muốn khóc. Nhưng có gì đâu, đây là nước mắt của hạnh phúc, nước mắt của người con biết mình còn Mẹ, đang hưởng thụ tấm lòng chân tình, thương yêu của bà Mẹ. Tôi muốn gục đầu vào lòng Mẹ để sống lại hương thơm, hơi ấm tình mẫu tử.

 Có một bà tiên,

Vui chơi trên thiên giới

một hôm vô tình để rớt trái tim

bà bỏ cuộc vui, đi xuống dương trần

đi tìm lại trái tim

để biến thành người mẹ hiền

đôi tay mẹ là bảo bọc ân cần

mẹ là dóng sông ngọt ngào, màu mỡ phù sa

mẹ là ruộng lúa vắt nguồn sữa mạch nha

là bóng mát che con khi nắng hạn

là trái tim nồng chia sẻ, ôm ấp đời con

để rồi trần gian là quê của mẹ

mẹ quên lối đi về

vì đàn con mẹ,

vì trái tim của mẹ, còn ở nơi đây….

 Minh Thanh

 Trái tim mang dấu ấn kỳ diệu, bởi vì trong trái tim là máu, là thịt, là dòng sữa ngọt ngào, Mẹ đã chia sớt cho con, còn ghi khắc những tình cảm cao thượng : nhẩn nại, thương yêu, đùm bọc, tha thứ, chở che, bao dung….

 Phải là trái tim với nhịp đập của bà Mẹ đối với những đứa con, nên bà đi tìm, tìm trái tim, tìm và bảo vệ, trân quí vì đó là sự sống của con bà, của bà. Trên đường đời của mỗi người con, khi thất bại, khi đau khổ, khi cô đơn…chúng ta mới nghĩ đến Mẹ để cầu cứu, để che chở, chia xẻ…tình yêu Mẹ đối với con vẫn không hề suy giảm, dù đứa con của mình như thế nào.

 Nói đến Mẹ là nói đến đủ điều, nói đến tình thương yêu, và nói bao nhiêu cũng không đủ, bởi vì đời sống của Mẹ cho nhiều hơn nhận, và khi nhận là nhận những sự thiệt thòi vì chồng vì con.

 «  Thuở nhỏ, xa xưa quá, lúc đó vào khoảng 5-6 tuổi, tôi bị sốt nặng do lòng bàn tay bị mụt đinh, sưng búp, lớn gấp đôi lúc thường. Mủ mưng nhiều, đau không chịu được. Tôi nhớ lúc đó mình đã khóc, kêu rên và sau đó mê sảng.

Đau quá thì làm sao cười vui được. Khi giật mình tỉnh dậy, tôi biết mình đang trong nhà thương. Bàn tay bị băng lại. Cơn nóng sốt giảm nhiều. Tôi có cảm giác mặt mình bỗng mát rượi, do chiếc khăn ướt đang lau.

 Mẹ tôi đang ngồi kế bên, thức suốt đêm, lo lắng, mắt đỏ hoe. Vừa lau mặt, lau người tôi, Mẹ vừa thầm cầu nguyện cho con mình đừng bị gì nguy hiểm, nếu có gì thì để Mẹ thế cho….Ôi ! Cơn đau, cơn sốt của tôi sao lại là của Mẹ. Một thâm tình bao dung, bảo bọc.

Tôi cảm thấy ấm cúng quá, lời nói nhẹ nhàng, chân tình của Mẹ như khắc sâu trong tâm tôi. Chỉ có Mẹ bên cạnh cũng đã đầy đủ, bình an lắm rồi »

 Tôi có đọc được đâu đó bài viết về Mẹ như sau, không biết tác giả là ai, nhưng thấy có nhiều điều đáng suy ngẩm, thâm thúy, xin ghi chép ra đây để chia sẻ. Tôi nghĩ rằng tác giả cũng muốn nhìn thấy được như vậy: 

 «  Tình Thương Yêu của Mẹ 

 

-Khi 1 tuổi, Mẹ cho ăn và tắm cho bạn, còn bạn thì khóc cả đêm.

-Khi 2 tuổi, Mẹ tập cho bạn đi nhữngbước đầu tiên, khi đi được thì bạn lại bỏ chạy đi mất khi Mẹ gọi.

-Khi 3 tuổi, Mẹ nấu cho bạn những món ăn với tất cả tình yêu thương thì bạn đáp lại bằng cách hất chén dĩa xuống sàn nhà

-Khi 4 tuổi, Mẹ đưa cho bạn những cấy bút chì màu, bạn lại dùng chúng đi bôi trét và vẽ bậy khắp nơi.

-Khi 5 tuổi, Mẹ mặc áo đẹp cho bạn đi chơi, còn bạn lại tìm cách lăn lê trên đất bẩn.

-Khi 6 tuổi, Mẹ dẫn bạn đến trường, còn bạn cứ mãi cằn nhằn: "con không đi học đâu!"

-Khi 7 tuổi, Mẹ mua cho bạn nhiều đồ chơi để rồi bạn lại vứt chúng lăn lóc khắp nơi.

-Khi 8 tuổi, Mẹ mua cho cây kem, bạn ăn làm chảy kem ướt hết vạt áo.

-Khi 9 tuổi, Mẹ thuê cô giáo dạy đàn cho bạn còn bạn thì luôn phụng phịu và miễn cưỡng tập đàn.

-Khi 10 tuổi, Mẹ cả ngày lái xe đưa bạn đi hết nơi này đến nơi khác vui chơi cùng bạn bè, mỗi khi tới nơi bạn nhảy ra khỏi xe mà chẳng bao giờ ngoái đầu nhìn lại.

-Khi 11 tuổi, Mẹ đưa bạn và bạn bè của bạn đi xem phim, bạn lại đi chọn chỗ ngồi cách Mẹ mấy dãy ghế để gần bạn mình hơn.

-Khi 12 tuổi, Mẹ dặn bạn đừng xem TV quá nhiều, còn bạn thì đợi cho đến khi Mẹ rời khỏi nhàmới mở TV xem cho thỏa thích.

-Khi 13 tuổi, Mẹ nói: "Để Mẹ cắt tóc cho con," bạn trả lời: "Mẹ không có khiếu thẩm mỹ."

-Khi 14 tuổi, Mẹ trả tiền cho bạn đi trại hè một tháng, còn bạn lại quên chẳng hề viết cho Mẹ một tấm thiệp từ chỗ nghỉ hè.

-Khi 15 tuổi, Mẹ bạn đi làm về và mong bạn ôm hôn Mẹ, còn bạn thì đóng chặt cửa ở trong phòng riêng.

-Khi 16 tuổi, Mẹ khuyên bạn để tâm học hành tạo dựng tương lai, còn bạn thường xuyên đi chơi mỗi khi có cơ hội.

-Khi 17 tuổi, trong khi Mẹ mong chờ một hồi âm điện thoại quan trọng thì bạn ôm điện thoại trò chuyện suốt buổi.

-Khi 18 tuổi, Mẹ đã rơi lệ vui mừng trong ngày lễ tốt nghiệp trung học của bạn, còn bạn thì ở lại vui chơi với bạn bè cho đến sáng hôm sau mới về nhà.

-Khi 19 tuổi, Mẹ đau lòng khi bạn muốn rời khỏi tổ ấm để mướn nhà ở riêng.

-Khi 20 tuổi, Mẹ hỏi bạn về người yêu, bạn trả lời: "Đó không phải là việc của Mẹ!"

-Khi 21 tuổi, Mẹ gợi ý về định hướng sự nghiệp trong tương lai, đáp lại bạn nói: "Con chẳng muốn giống như Mẹ!"

-Khi 22 tuổi, Mẹ dự lễ tốt nghiệp đại học của bạn, sau buổi lễ bạn hỏi ngay: "Liệu Mẹ có thể trả tiền cho chuyến du lịch của con không"

-Khi 23 tuổi, Mẹ đến thăm bạn, còn bạn luôn tìm cách tránh né vì cảm thấy ngượng ngùng trước bạn bè.

-Khi 24 tuổi, Mẹ gặp người yêu chưa cưới của bạn và nhắc nhở hai bạn về chuyện gia đình, bạn nhăn nhó càu nhàu: "Thôi mà Mẹ!"

-Khi 25 tuổi, Mẹ giúp trả tiền đám cưới của bạn rồi Mẹ khóc và nói với bạn rằng: "Mẹ yêu thương con biết bao!"

-Khi 30 tuổi, Mẹ ước ao có cháu để bồng bế, bạn trả lời Mẹ: "Thời nay mọi điều đã khác!" Khi 40 tuổi, Mẹ rủ bạn đi mừng sinh nhật bà nôị của bạn, còn bạn trả lời: "Bây giờ con rất bận!"

-Khi 50 tuổi, Mẹ sức khỏe đã yếu dần và muốn bạn thường xuyên đến chăm sóc, trong khi bạn đang phải mải mê tìm đọc cuốn sách: "Những gánh nặng cha mẹ phải chịu đựng khi nuôi con.

 

 . . . Và rồi một ngày kia, Mẹ âm thầm nhắm mắt ra đi. Một cảm giác chưa bao giờ xảy ra với bạn trước đó: bạn như thấy sấm chớp nổ tung trong tim mình. Bạn đã mất hết cả một bầu trời yêu thương trong đời người...”

 Bạn ạ! Có phải là tất cả tình yêu của Mẹ đặt trên sự hy sinh, hay chữ « Nhẩn », điều mà mỗi người chúng ta khó làm nổi. Khó quá, nhưng chỉ tại vì con, Mẹ đã vượt qua mọi thử thách, ích kỷ của mình, để là bà Mẹ.

 Từ trong bụng Mẹ, ta đã thấm nhuần ân đức của tinh thương yêu và khi chào đời, dòng sữa Mẹ đã nâng niu, đôi tay mở rộng, dòng máu luân lưu trong cơ thể của ta cũng là của Mẹ, vì đó là trái tim của người.

 Dòng sữa ngọt ngào đã tuôn chảy nuôi lớn thân thể con, nuôi con, săn sóc con, che chở con trong những lúc khó khăn, vấp ngả, vực con dậy, thoát ra khỏi những niềm đau v.v…Mẹ không cần phải nói, vì đó là tâm hồn của Mẹ.

 Tình Mẹ còn biến xa hơn, phổ quát và chỉ khi có những hoạn nạn, đau thương của những người thân, chúng ta mới nhìn thấy rõ được trái tim của Mẹ rỉ máu.

 Tôi có đọc một câu chuyện ngắn, đơn giản, nhưng lại biểu lộ đến sự cao rộng, bao la của tình Mẹ. Xin được nêu ra đây:

 “ Một gia đình đi tắm biển. Trong lúc các con đang vui đùa, làm những hình bằng cát trên bải biển. Từ xa, có một bà già, trên tay cầm cái bị, đang đi rảo bước trên bải cát. Mắt nhìn xuống, thỉnh thoảng, bà cúi xuống nhặt một cái gì đó, rồi bỏ vào giỏ. Cứ tuần tự như vậy, như không để ý đến mọi chuyện chung quanh.

 Khi đi ngang qua những đứa bé đang đùa giỡn trên cát, bà dừng lại nhìn, mỉm cười và muốn đến với các đứa nhỏ đang hồn nhiên vui đùa. Nhưng người cha của các đứa bé vội chạy lại, kéo các đứa con qua một bên, không cho đến gần bà già. Mắt trừng trừng nhìn bà già, sợ bà làm hại con mình, vì nghĩ là bà già điên.

 Bà già chỉ nhìn các đứa nhỏ, miệng mỉm cười, rồi lại tiếp tục đi và làm lại những động tác như cũ trên bải cát.: thỉnh thoảng cúi xuống lượm vật gì trên bải cát, rồi bỏ vào giỏ của bà.

 Người cha hỏi những người sống ở đây lâu: Bà đó là ai vậy? Phải bà bị điên không?

 Có người cho biết rằng: Đây là bà già bình thường, không có điên. Trước đây, bà có đứa con gái và một hôm, đứa con đi tắm biển. Khi con bà vui đùa trên bải biển, vô tinh dẫm phải miểng chai vỡ, máu chảy ra nhiều. Nhưng không ngờ, con bà bị nhiểm trùng, sốt, không cứu chữa kịp và qua đời vì bị tetanus ( phong đòn gánh).

 Đau khổ vì sự mất mát đứa con yêu quí duy nhất. Và cũng từ đó, mỗi ngày, người ta đều thấy bà cầm cái bị và đi luợm mảnh chai, kiếng vỡ hay vật gì đó có thể làm nguy hại những đứa bé nhỏ, sợ giống như đã làm chết con của bà .”

Trong cuộc bể dâu của đất nước, sau năm 1975. Mẹ đã khóc dài theo năm tháng, tần tảo, hy sinh, biến tấm thân mảnh khảnh, yếu đuối, chuyển tất cả tấm lòng trở thành sức mạnh để nuôi con, lo cho chồng đang lâm cảnh bất hạnh, chua cay, tù tội của cuộc đời.

Tôi nghĩ rằng lịch sử của Việt Nam sẽ không bao giờ quên được hình ảnh nầy. Cao đẹp quá, kỳ diệu quá và lịch sử của nhân loại cũng thêm được nét đẹp kỳ vĩ, văn hoá nhân bản- đó là tình mẹ.

 Lòng hiếu thảo đã được nhân lên khi bắt được nguồn sống của Phật giáo, vì Đạo Phật đề cao hạnh hiếu , vì đó cũng chính là nền tảng đầu tiên để bước làm người.

 Đức Phật đã nhìn xuyên suốt qua kiếp sống của con người, trải qua nhiều đời nhiều kiếp và có nhân duyên chằng chịt lẫn nhau. Nếu gốc rễ của vô minh do ba độc tố: si-tham-sân làm cho con người luân chuyển trong 6 cõi, thì tình thương của bà Mẹ trong lúc mang thai, lúc sanh con và lúc nuôi dưỡng con v.v…là sự khai nguyên cho một tình yêu thương vị tha, hy sinh sẽ tác động đến tâm thức con người., kéo dài cho đến lúc vào đời.

 Cho nên, Đạo Phật đặt nặng trên nền tảng con người, với những bước chân đầu tiên từ cha mẹ- là bậc sinh thành. Công ơn đó nặng quá, bao la vô tận, làm ấm áp cuộc đời.

 Trong nhiều kinh sách, Phật vẫn thường giảng dạy về hạnh hiếu của con người, của người con Phật.                                   

 "Tâm Hiếu là tâm Phật,

 Hạnh Hiếu là hạnh Phật".

   Mẹ dạy cho chúng ta biết yêu thương, bảo bọc, bao dung v.v..qua những việc làm nhỏ nhặt của người, nhưng đó là dấu ấn đậm trong tâm thức con trẻ, để sau nầy trở thành những nhân tố làm ích nước, lợi người.

 Con người thiếu tâm hồn, thiếu tình thương, sẽ không thể cho cuộc đời nhiều hạnh phúc, vì chúng ta không có để mà cho. Tất cả những yếu tố làm cho cuộc đời có an lạc, hạnh phúc.

 Trước cuộc đời nhiều biến động, khổ đau. Xã hội thay đổi trầm trọng, băng hoại. Bao nhiêu chủ thuyết, lý thuyết cố tình đẩy con người rời xa những giá trị tâm linh, biến đổi qua khuynh hướng hưỡng thụ.

Đi quá mức của bình thường là sự tác hại: từ quảng cáo, truyền hình, truyền thông, internet v.v…nâng cao vai trò của bạo lực, của vị ngã, tự do cá nhân quá độ, tạo thành những dây chuyền đẩy xã hội vào vòng trầm luân đau khổ của hiện tại, và tương lai. Phương tiện trở thành cứu cánh, nhưng khi phương tiện đã đặt sai, thì cứu cánh sẽ đổ vỡ.

 Mùa Vu Lan trở về khi những cơn mưa đổ xuống, tắm gội và rửa sạch những ô nhiểm, bụi bậm của những ngày oi bức. Sự đau khổ sẽ làm cho con người bình tĩnh lại, đặt lại vấn đề cho những lý thuyết vọng tưởng, phá bỏ tình yêu thương của hiện tại.

 Khi sống gần bên Mẹ, chúng ta ít bao giờ biết về giá trị của tình Mẹ, đôi vòng tay ấm áp của bà. Chúng ta hờ hững vì nghĩ là phải như vậy và là bình thường, nhưng rồi một ngày nào đó, khi làn gió vô thường đi qua, lúc đó, chúng ta hối hận thì đã muộn rồi.

 Nếu bạn hạnh phúc còn có Mẹ, hãy kề cận và nắm chặt lấy tay của Mẹ. Nắm lấy thời gian quí báu nầy, hạnh phúc chỉ là những gì đơn giản, êm đềm, đơn sơ, có mặt bên cạnh. Đừng tìm hạnh phúc quá xa, cao vời vợi, vì đó chỉ là ảo ảnh, không thực.

 Đừng quan trọng hoá khi đang cài trên áo màu hoa hồng đỏ hay trắng, đừng đánh mất mình cho những kỷ niệm của một ngày, một giờ; trong khi Vu Lan là ngày tưởng niệm, gợi nhớ, báo đáp thâm ân, nhưng không chỉ là dành cho một ngày, một giờ, một phút hay một nơi chốn nào đó v.v..mà là miên viễn khi chúng ta còn mang thân phận hữu tình.

 Hãy sống thật với giây phút hiện tại, để mở tung và nối tiếp cho tương lai, trong tình yêu bao la của Mẹ và để thực hiện hạnh hiếu. Đó là gia tài vô giá mà Cha Mẹ lưu truyền và là tinh thần cao đẹp của Ý nghiã Vu Lan qua “ phương tiện thiện xảo” thể hiện bởi Ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên.

 Tình yêu thương nếu được nhân rộng, phổ biến, phải chăng sẽ đem lại cho cuộc đời, vũ trụ, thế giới sống trong bình an, hạnh phúc. Tất cả đều khởi hành từ trái tim của bà Mẹ vừa khi có mặt đứa bé tượng hình trong bụng và khi chào đời. Đó là quan niệm của chúng tôi, nhiều khi không đúng với bạn? Bạn nghĩ sao?.....

 

 Mùa Báo Hiếu năm 2007

 Cư Sĩ Liên Hoa

 

 

Mấy lời nhân Ngày Vu Lan nhớ Mẹ
 

Có lẽ tôi là người bất hạnh nhất trên thế gian nầy, bởi lẽ, từ khi sinh ra cho đến hôm nay, tôi chưa bao giờ thấy được mặt Mẹ mình. Chiến tranh đã cướp mất Mẹ tôi khi tôi còn quá bé. Tôi cố mường tượng mặt mũi Mẹ tôi – qua tôi – nhưng nghẹt nỗi, tôi giống Cha tôi như khuôn đúc nên đành chịu.

Chắc lúc đương thời, Mẹ tôi yêu Cha tôi lắm thì phải. Với tôi, không có gì đau xót bằng không biết được mặt người sinh ra mình. Đó là một bất hạnh lớn đối với tôi. Từ khởi điểm nầy, hình như trong tôi nẩy sinh ra những oán hận sân si. Oán hận ai? Sân si ai? Tôi cũng chẵng rõ.

Có thể là chiến tranh, có thể là những ai đang hạnh phúc bên Mẹ chăng? Thật nghịch lý, tôi vẫn cầu mong cho họ hạnh phúc đó mà! Oán hận…sân si…tôi không có bản tâm như thế, nhưng tôi lại mang nội tâm khép kín khó lý giải. Thật đáng buồn !

Tôi viết tự khúc MẸ ƠI như một lời tạ lỗi với Mẹ mình, đồng thời thương tặng cho những ai cùng cảnh ngộ như tôi. Tôi thiển nghĩ, ngôn ngữ âm nhạc chính là những ngôn ngữ trừu tượng đánh thức tâm hồn tôi và giúp những ai đó, đã và đang hạnh phúc bên Mẹ hiểu được ơn sâu người sinh ra mình, đồng thời hiểu được về tôi – về một người bất hạnh, không biết được mặt Mẹ mình ra sao.

Bởi sự cảm âm nhạc là sự cảm trong tâm tư riêng của mỗi người, không nguyên tắc,không quy luật, không ràng buộc. Vì thế, sự thể hiện sẽ bao la, vô tận… Và, biết đâu, chính trạng thái sân si của tôi – người chẳng bao giờ biết được mặt Mẹ mình - lại dễ yêu đối với âm nhạc (?)



NGUYỄN VĂN THƠ

 

Hồng Anh st 

MẸ ƠI


Nhạc và lời : Nguyễn văn Thơ

Hòa âm Nguyễn Ngọc Anh
Ca sĩ : Mạnh Hùng

 

 

Xem thêm...

Những kiệt tác của Danh họa Lê Phổ

Những kiệt tác của

Danh họa Lê Phổ

 

<><><><> 

 

Họa sĩ Lê Phổ (1907-2001)

 

Họa sĩ Lê Phổ được coi là họa sĩ bậc thầy Việt Nam và trên thế giới theo trường phái hậu ấn tượng với nhiều tác phẩm đắt giá. Ông còn được nhiều người gọi là "Danh họa Việt Nam trên đất Pháp".

Nhiều người khác còn coi ông là "cây đại thụ" trong làng nghệ thuật vẽ tranh Việt Nam. Những tác phẩm của ông thường có giá cao nhất trên thị trường nghệ thuật thế giới đối với một họa sĩ Người Việt. Phần lớn các bức tranh của ông được bán đấu giá tại nhà đấu giá nghệ thuật Christie’s International Hồng Kông

Tên khai sinh:  Lê Phổ

Ngày sinh: 2 tháng 8, 1907 tại Thanh Xuân, Hà Nội

Ngày mất: 12 tháng 12, 2001 tại Pháp

Phong cách nghệ thuật:  Chất liệu chính là sơn dầu và lụa. Chủ đề chính là hoa, phụ nữ mơ màng, quý phái

Tác phẩm chính: Hoài cố hương, Kim Vân Kiều, Bức rèm tím, Thiếu phụ, Thiếu nữ bên hoa lan, Tĩnh vật, Paysage du Tonkin, Bình hoa mẫu đơn, Lòng mẹ, Giai nhân màu áo nắng.

 

Ông sinh ra tại thôn Cự Lộc, xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, về sau là huyện Hoàn Long, (nay thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội). Cha họa sĩ Lê Phổ là quan đại thần Lê Hoan, người được sử sách xem là có công lao giúp chính quyền thực dân Pháp đàn áp nghĩa quân Đề Thám.

Tuổi thơ họa sĩ Lê Phổ không hạnh phúc, mồ côi mẹ lúc 3 tuổi và mô côi cha lúc 8 tuổi. Năm 1937, ông sang Pháp và định cư tại đó. Họa sĩ Lê Phổ cưới vợ người Pháp là bà Paulette Vaux, phóng viên báo Life & Time ở Paris vào năm 1947. Bà Vaux, vợ họa sĩ cho biết: "Ông không kể với con cái về tuổi thơ của mình, ông trầm lặng và sống nội tâm. Ông không nhớ gì về cha mình ngoại trừ việc biết cha mình hút thuốc phiện".

Với thân thế được sinh ra trong gia đình thế tục, họa sĩ Lê Phổ có lối sống thiên về nội tâm với tính cách nhạy cảm, tinh tế. Họa sĩ có dáng người cao, gầy, mắt luôn nhìn xa vắng, ít nói, giọng nói thanh tao và luôn mặc những bộ quần áo là phẳng phiu.

 

 

 Năm 1925, họa sĩ Lê Phổ trúng tuyển khoá 1 Trường Đại học Mỹ thuật Đông Dương. Ông là một trong 10 sinh viên Việt Nam được giáo sư Victor Tardieu (một họa sĩ am hiểu sâu sắc các trường phái nghệ thuật châu Âu) xếp vào nhóm sinh viên "tinh hoa" của khóa học và đồng thời hướng đi theo trường phái nghệ thuật Á Đông trong suốt 5 năm học.

Họa sĩ Lê Phổ đã chịu ảnh hưởng rất sâu sắc trường phái nghệ thuật này khi còn là chàng thanh niên Hà Nội 18 tuổi. Trong mộc cuộc phỏng vấn, vợ ông, bà Vaux cho biết: "Họa sĩ xem giáo sư Tardieu giống như cha tinh thần. Ông ngưỡng mộ và rất gần gũi với Tardieu. Tardieu đã đặt nền móng cho những thành công trong hội hoạ của ông".

 

Họa sĩ Lê Phổ

Năm 1928, ông cùng với các họa sĩ Vũ Cao Đàm, Mai Trung Thứ tổ chức triển lãm tranh đầu tiên tại Hà Nội. Năm 1931, họa sĩ Lê Phổ sang Pháp để trang trí một số triển lãm ở Paris.

Sau đó 1 năm, ông được cấp học bổng sang học tại Trường Mỹ thuật Paris. Do đó, ông có điều kiện tìm hiểu nhiều nước châu Âu, tiếp xúc và làm quen với nhiều trường phái nghệ thuật, trong đó trường phái Ấn tượng đã ảnh hưởng đến các tác phẩm nghệ thuật sau này của họa sĩ.

Năm 1933, họa sĩ trở về Hà Nội tham gia giảng dạy ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

 Năm 1937, họa sĩ lại sang Paris, trung tâm nghệ thuật của châu Âu để phụ trách gian hàng Đông Dương tại triển lãm quốc tế. Tại Pháp, ông thực sự bị cuốn hút với vẻ đẹp hoa lệ và các trường phái nghệ thuật đa dạng, do đó họa sĩ đã xin định cư tại đất nước hình lục lăng.

Năm 1938, lần đầu tiên họa sĩ Lê Phổ tổ chức triển lãm phòng tranh của riêng cá nhân mình với các tác phẩm như tranh vẽ các người đẹp Việt Nam hoặc đang say sưa bên rực rỡ các sắc hoa, hoặc đang mơ màng bên trang sách; hoặc tranh thiếu nữ đọc thư tình trong vườn, những cô gái đang phơi áo... được công chúng phương Tây đón nhận nồng nhiệt.

Giáo sư Victor Tardieu và những sinh viên “tinh hoa” của khóa 1,

trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (họa sĩ Lê Phổ ở bìa trái)

 

Bà Paulette Vaux và con gái

 Họa sĩ Lê Phổ cho rằng các chất liệu tranh lụa có một số nhược điểm không chỉ về khuôn khổ mà về chất liệu màu sắc chưa bộc lộ những lời tác giả muốn thể hiện. Đó là lý do ông đã chuyển sang vẽ tranh sơn dầu.

Ngoài việc thay đổi chất liệu vẽ, nội dung được ông nhắc tới cũng mở rộng, phóng khoáng và thoải mái hơn. Ví dụ rõ nét đó là người phụ nữ trong tranh của họa sĩ dần vượt ra ngoài lễ giáo ngàn năm để mang một sắc màu "thế tục".

Tranh Lê Phổ giàu tính biểu cảm, đề tài và lối thể hiện vừa gần gũi, chân thực, nhưng cũng rất đài các, cao sang. Màu tươi sáng, hấp dẫn thị giác nên được phần đông giới thưởng ngoạn yêu thích.

Tranh của Lê Phổ có “khí chất” Á Đông rất rõ, và riêng biệt, không bị trộn lẫn, nên được nhiều khách phương Tây sưu tầm. Ông đã vận dụng rất khéo các chủ đề phổ quát của văn hóa phương Tây - nhất là chủ đề từ kinh thánh, rồi lồng ghép vào khung cảnh Á Đông, hoặc Việt Nam.

Họa sĩ Lê Phổ bên tác phẩm

Về tính lịch sử, tranh của ông ra đời trong thời kỳ nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam mới chân ướt chân ráo bước ra thế giới, nhất là mảng tranh trước 1945. Ông học khóa đầu tiên của Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, tiên phong tiếp thu nền hội họa phương Tây để rồi cũng là một trong những người đầu tiên đưa nền nghệ thuật Việt Nam hiện đại ra thế giới.

Tác phẩm của Lê Phổ đã được đấu giá thường xuyên trên các nhà đấu giá lớn, nên tranh ông đã có thị trường ổn định, rộng khắp châu Âu, châu Mỹ, châu Á, có một lượng các nhà sưu tập nhất định. Khi ông qua đời, tranh ngày càng hiếm (trừ khi bị nạn nhái tranh, chép tranh phá hỏng), nên giá phải cao lên.

 Tranh của ông có thể nói là đại diện cho mỹ thuật Đông Dương nói chung và nhất là của “bộ tứ” tại Pháp, gồm Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu. Trong suốt cuộc đời của mình, dù định cư tại Pháp từ năm 1937 và từ đó không còn về thăm lại quê hương, họa sĩ Lê Phổ luôn nhắc về những tình cảm sâu đậm của mình với quê hương, đất nước.

Trong tranh của ông, những đặc trưng về Việt Nam, Á Đông được thể hiện qua nét vẽ những người phụ nữ hoà mình với tự nhiên và trẻ thơ. Một hình ảnh khác thường xuất hiện là những bông hoa. Nhà phê bình Waldemar nhận xét Lê Phổ thể hiện nỗi nhớ quê hương bằng hàng ngàn bông hoa. Bà Vaux, vợ ông tâm sự: "Ông yêu hoa, và hoa luôn xuất hiện trong tranh của ông ở cả hai giai đoạn trong tranh lụa và sơn dầu".

 Bức “Nhìn từ đỉnh đồi” vẽ năm 1937 đạt mức giá 840.000 đô la Mỹ

(~18,3 tỉ đồng) hôm 22/11/2014 trong cuộc bán đấu giá tại nhà

đấu giá nghệ thuật Christie’s International Hồng Kông.

Đây là kỷ lục mới về tranh đắt nhất của một họa sĩ người Việt

Vào tháng 9 năm 1993, khi tuổi đã cao, họa sĩ Lê Phổ bày tỏ lòng biết ơn sâu nặng bằng một “món quà”. Họa sĩ nói: “Tôi ở Pháp 60 năm nay, tôi mang quốc tịch Pháp nhưng không lúc nào tôi không nhớ đến quê hương. Vì thế tôi đã để riêng ra 20 bức tranh lựa chọn rất cẩn thận để biếu Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam”.

 

Tác phẩm “Hoài cố hương” được nhà đấu giá Sotheby’s

đưa ra năm 2006 tại Singapore, có giá bán khoảng

360.000 Đô La Singapore (tương đương 4,7 tỷ đồng)

Bức “Chân dung thiếu phụ và hoa sen” vẽ năm 1939,

đạt mức giá 1.240.000 đô la Hồng Kông (gần 3,5 tỉ đồng)

Bức “Mẹ và con” nhà đấu giá Christie’s định giá khoảng 130.000 USD

và đã từng đạt mức giá 1.160.000 đô la Hồng Kông (hơn 3,2 tỉ đồng)

Bức “Gia đình nhỏ” vẽ năm 1940. Tác phẩm từng đạt

mức giá 740.000 đô la Hồng Kông (khoảng 2 tỉ đồng)

Bức “Những chú chim” được mua với giá

625.000 đô la Hồng Kông (hơn 1,7 tỷ đồng)

Bức “Đi tắm” được thực hiện năm 1937-1938,
có giá 562.500 đô la Hồng Kông (gần 1,6 tỉ đồng)
 
 
Bức “Hai chị em gái” được thực hiện năm 1940 đạt mức giá
250.000 đô la Hồng Kông (hơn 700 triệu đồng)
 
 
“Bức màn tím”, vẽ từ 1942-1945 đã được bán đấu giá
với mức giá 2,9 triệu đô la Hồng Kông
 
 
“Chân dung một cậu bé Việt Nam” từng đạt mức giá
225.000 đô la Hồng Kông (631 triệu đồng)
 

“Nắng trong nhà”, có giá 225.000 HKD (614 triệu đồng)

"Tĩnh vật với hoa quả”, vẽ năm 1963, đã được bán thành công

với giá 350.000 HKD (khoảng 955 triệu đồng)

“Nho và rượu vang”, vẽ năm 1950, được mua

với giá 200.000 HKD (gần 546 triệu đồng)

 

Hồng Anh st  

Xem thêm...
Theo dõi RSS này