Kim Quy

Kim Quy

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-75: NGUYỄN THỊ HOÀNG

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-75:

NGUYỄN THỊ HOÀNG 

◇□

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng

Bà sinh ngày 11 tháng 12 năm 1939 tại Huế . Năm 1957, bà chuyển vào sinh sống ở Nha Trang rồi đến năm 1960 bà vào Sài Gòn học Đại học Văn khoa và Luật nhưng bà bỏ ngang, không học hết mà lên Đà Lạt dạy học. Đến năm 1966, bà chuyển sang chuyên tâm viết tiểu thuyết.

Cùng với văn xuôi, Nguyễn Thị Hoàng còn tham gia sáng tác thơ và từ đó bà trở thành một người nổi tiếng trong giới văn nghệ chuyên viết về những mâu thuẫn nội tại của giới trẻ Sài Gòn trong suốt thập niên 1960.

 Theo Phạm Chu Sa, Nguyễn Thị Hoàng là một trong những nhà văn nữ tài năng thật sự và tên tuổi đã được khẳng định ở miền Nam trước 1975. Bà có những tiểu thuyết với giọng văn trau chuốt bóng bẩy và là một trong vài tác giả có sách bán chạy nhất thời đó .

Sau biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, bà hầu như biến mất khỏi giới nghệ thuật và sống một cuộc sống yên lặng đến tận 1990, khi bà cho ra đời Nhật ký của im lặng. Vào năm 2007, bà lại xuất hiện qua một tùy bút nhan đề “Nghĩ từ thơ Thái Kim Lan ” được đăng trên Tạp chí Văn hoá Phật giáo (số xuân Mậu Tí, 12.2007).

Tác phẩm đầu tay của bà có nhan đề Vòng Tay Học Trò được dưới bút danh Hoàng Đông Phương. Đây là một tiểu thuyết hiện sinh mô tả vấn đề tình yêu, tình dục giữa một cô giáo tên Tôn Nữ Quỳnh Trâm và học trò Nguyễn Duy Minh được đăng dưới hình thức nhiều kỳ trên tạp chí Bách Khoa. Tác phẩm trở thành một trong những tác phẩm gây tranh cãi nhất thời kỳ này, và về sau được tái bản nhiều lần

Ngoài “Vòng tay học trò” (1966), Nguyễn Thị Hoàng còn sáng tác nhiều tác phẩm khác. Một số tác phẩm khác:

 Tác phẩm đã xuất bản:

· Vòng tay học trò (1966)

· Trên thiên đường ký ức (1967)

· Tuổi Saigon (1967)

· Vào nơi gío cát (1967)

· Cho những mùa xuân phai (1968)

· Mảnh trời cuối cùng (1968)

· Ngày qua bóng tối (1968)

· Về trong sương mù (1968)

· Ðất hứa (1969)

· Một ngày rồi thôi (1969)

· Vực nước mắt (1969)

· Tiếng chuông gọi người tình trở về (1969)

· Vết sương trên ghế hồng (1970)

· Nhật ký của im lặng (1990)

 

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng có hai quyển tiểu thuyết từng

gây sôi nổi trước năm 1975:Vòng tay học trò và Tuổi Saigon.

 

Các tập thơ:

· Sầu riêng (1960)

· Kiếp đam mê (1961)

 

 Sau Nhã Ca và Túy Hồng, lại một nhà văn nữ nữa có xuất xứ từ vùng đất Thần Kinh: Nguyễn Thị Hoàng. Người đọc có thể sẽ nhíu mày, “Lại Huế!!!”.

Tuy nhiên, xét cho cùng, họ là những nhà văn sinh trưởng tại Huế nhưng không sống ở Huế suốt đời. Họ đã xuôi Nam, về Sài Gòn và thành công trong việc tìm một chỗ đứng trên văn đàn. Cũng không sai khi nói họ “mất gốc” nhưng có lẽ bản chất “gái Huế đa tình” đã ăn sâu vào tiềm thức của họ. Và đó là một trong những lý do khiến họ thành công trong nghề viết.

Chất Huế (bao gồm ngôn ngữ và không gian) trong các tác phẩm của 3 nhà văn nữ này ngày càng giảm dần: từ đậm nét trong truyện của Nhã Ca như Cổng trường vôi tím, Giải khăn sô cho Huế… sang đến bàng bạc chút Huế trong Túy Hồng và hình như mất hẳn ‘nét Huế’ trong Nguyễn Thị Hoàng. Điều này cũng dễ hiểu. Những nhà văn nữ, một khi đã đạt được phần nào sự nổi tiếng, họ sẽ là nhà văn của cả nước chứ không còn là của một địa phương nào.

Điểm qua các tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng ta thấy “lý lịch” của các nhân vật thật phong phú và đa dạng. Nhân vật đó có thể là cô giáo trên Đà Lạt tạo nên Vòng tay học tròhoặc người nữ tu trong nhà thương với những nuối tiếc trần tục trong Cho những mùa xuân phai

Thậm chí trong số nhân vật đó còn có một cô gái liêu trai ám ảnh cuộc đời một tài tử điện ảnh trong Bóng lá hồn hoa tận bên Đài Loan hoặc một người phụ nữ Việt Nam nào đó (Nguyễn Thị Hoàng?) có liên quan đến hai vợ chồng người họa sĩ Nhật trong Tan trong sương mù, một truyện tình có nhiều ẩn dụ.

clip_image002

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng

Nguyễn Thị Hoàng cho biết: “Truyện mình viết thường là truyện tình bế tắc và đi xuống. Trong đó những vai nữ bao giờ cũng khát khao đi tìm một đời sống thật của mình, nghĩa là tìm kiếm chính mình. Những nhân vật nữ lang thang bất định, và xa rời với phận sự gia đình.

Chất liệu lấy từ những năm bất ổn lênh đênh trong cuộc đời đã qua của mình, đôi khi được ráp nối với những câu chuyện thời sự, cộng với một phần tưởng tượng, phóng tác, vẽ vời… rồi ráp thành chuyện.

Không biết bên đàn ông thì sao, chứ cánh đàn bà thường mắc phải cái này là có những nét của nhân vật hoặc chính, hoặc phụ, thế nào cũng hắt bóng cá tính thói quen, đường nét và vóc dáng của tác giả.

Riêng về ‘Vòng Tay Học Trò’, nếu bảo đó là thực thì cũng không hẳn là thực mà bảo là không thực thì… cũng chẳng phải là thế. Dư luận trộn lẫn tiểu thuyết của mình với đời sống thật. Cũng vì thế mà có những tiếng ác ý lao xao về đời sống của mình. Cho nên chỉ có cách là… phải thản nhiên”.

clip_image004

Vòng tay học trò

(Bản in lần thứ 4, tác giả có sửa chữa)

Vòng tay học trò được coi như tác phẩm đầu tay của Nguyễn Thị Hoàng, xuất hiện nhiều kỳ trên Bách Khoa và được tái bản nhiều lần sau bản in đầu tiên năm 1966. Chính tác giả trong một cuộc phỏng vấn với Mai Ninh năm 2003 đã nói về việc viết Vòng tay học trò (VTHT):

“Chán chương trình, không khí ở Văn khoa, Luật, bỏ học, đi làm không lâu lại bỏ việc này (thư ký riêng của một tỉ phú) 1960, tìm việc khác 1961. Được bổ nhiệm về Nha-Trang dạy học, trường nơi đây từ chối; chuyển lên Đà-Lạt. Trường nữ dư giáo sư, trường nam thiếu nên xảy chuyện “hoa lạc giữa rừng gươm”, 1962. Năm sau bỏ Đà-Lạt.

Mùa hè 1964, một xấp pelure ố vàng, một cây bút gì đó, viết một hơi một tháng, VTHT. Bách Khoa in mấy kỳ, thiên hạ xôn xao. Nhưng sau đó chuyển cảnh qua chồng con, bản thảo VTHT xếp lại. Đến 66, một nhóm tìm kiếm VTHT, xuất bản. Tái bản 4 lần trong vòng mấy tháng.

Sóng gió nổi lên từ mọi phía, vì những lý do và động lực khác nhau. 5 tờ báo, cùng nhất loạt lên tiếng phê phán, chỉ trích, tóm lại là chửi bới. Rất tiếc cuộc biển dâu cuốn trôi không còn một mảnh tài liệu nào, còn trí nhớ NTH thì chỉ gạn lọc lưu trữ những gì tốt đẹp.

Hình như nhân danh hay đại diện phụ huynh học sinh, nhà trường gì đó có lên tiếng trong một bài báo. Không có những phản ứng trực tiếp tương tự như trong phim đối với cuốn truyện, còn gián tiếp thì không biết”.

Tác giả xác định một cách nửa vời về Vòng tay học trò“…nếu bảo đó là thực thì cũng không hẳn là thực mà bảo là không thực thì…cũng chẳng phải là thế”.

 Như đã nói, những nhà văn nữ thường “tự thuật” về cuộc đời mình và chính những kinh nghiệm bản thân khiến tác phẩm của họ dễ đi vào lòng người đọc. Dĩ nhiên việc “thêm mắm thêm muối” còn tùy thuộc vào sự khéo léo của mỗi đầu bếp để có một món ăn ngon hay dở.

Vòng tay học trò là câu chuyện có thật tại trường Trần Hưng Đạo Đà Lạt giữa cô giáo đệ nhất cấp Nguyễn Thị Hoàng và cậu học sinh đệ nhị cấp Mai Tiến Thành. Tôi vốn là bạn học rất thân với Thành từ năm Đệ Ngũ trên Ban Mê Thuột nên biết rõ chuyện tình của Thành.

Tuy nhiên, những gì xảy ra ngoài đời thực có phần nào khác với Vòng tay học trò, đó là kỹ thuật “thêm mắm thêm muối” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng. Nói khác đi, phần ‘hư cấu’ trong tiểu thuyết được giữ ở mức vừa phải, có thể chấp nhận được.

Hình như để giữ cho mối tình cô giáo – học trò thi vị hơn, tác giả đã để cho cuộc tình chấm dứt tại Sài Gòn và không đả động đến hậu quả của nó: một đứa con đã ra đời.

Đứa bé được đặt tên Mai Quỳnh Chi, giao cho gia đình Thành nuôi nấng tại Ban Mê Thuột và ngày nay đã trở thành một thiếu nữ sống tại nước ngoài. Mai Tiến Thành đã trở thành người thiên cổ tại Hoa Kỳ và câu chuyện tình làm nên tác phẩm rồi cũng đi vào quên lãng.

clip_image006

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng và

Tiếng Chuông Gọi Người Tình Trở Về qua nét bút của họa sĩ Chóe

Trước khi lên Đà Lạt dậy học, gia đình Nguyễn Thị Hoàng sống tại Nha Trang. Những năm theo học tại trường Võ Tánh, Nguyễn Thị Hoàng dính vào một ‘scandal’, một thời là đề tài nóng bỏng tại thành phố biển.

Cô nữ sinh dan díu và có thai với ông Cung Giũ Nguyên, giáo sư Pháp văn, hơn Nguyễn Thị Hoàng gần ba mươi tuổi. Biến cố đầy tai tiếng này được dàn xếp êm thấm giữa hai gia đình với lời thú nhận can đảm của người trong cuộc: 

“Ông Cung Giũ Nguyên không có lỗi trong vụ này. Lỗi là do tôi dụ dỗ ông ta khi theo học thêm lớp Pháp văn tại nhà, vì tôi muốn có một đứa con thông minh xuất chúng như ông ấy!”.

Đứa con gái sinh ra được đặt tên Cung Giũ Nguyên Hoàng và được bà vợ chính thức của ông Nguyên nuôi dưỡng vì bà này không thể có con. Trong ngày tang lễ của ông Cung Giũ Nguyên (tháng 11/2008) người ta thấy Cung Giũ Nguyên Hoàng phục tang cha, ôm bát nhang đi trước linh vị.

Nguyễn Thị Hoàng trong bài Về thư gửi con của Thái Kim Lan  đăng trên Da Màu có đoạn viết về tình mẫu tử:

“Mỗi phụ nữ có con đều được là mẹ và làm mẹ, nhưng trên mẫu số chung là thương con, hàng tỉ tử số khác nhau cho tự tính là và làm mẹ ấy, tùy thuộc dân tánh, căn chất, đẳng cấp, thể loai  khác nhau của phụ nữ. Cái là xác định tính cách sinh sản, sáng tạo và hoàn thành một công trình, tuyệt phẩm”.

clip_image008

Nguyễn Thị Hoàng

Sau này, người chồng chính thức của Nguyễn Thị Hoàng là Nguyễn Phúc Bửu Sum, có họ hàng với họa sĩ Nghiêu Đề. Ông Bửu Sum trong thời VNCH đã qua nhiều giai đoạn cùng cực: trốn lính rồi bị bắt, đào ngũ rồi cũng bị bắt lại… Nguyễn Thị Hoàng ngoài việc viết lách còn phải chăm sóc 5 đứa con, lo việc nhà cửa, bếp núc.

Truyện dài Cuộc tình trong ngục thất là “tự truyện” của Nguyễn Thị Hoàng trong giai đoạn khó khăn này. Truyện kể lại việc Bửu Sum trốn lính, bị bắt, làm ‘lao công đào binh’ tác chiến ngoài Quảng Ngãi và rồi lại đào ngũ.

Cuốn truyện không mang tính cách phản chiến nhưng lại mang nhiều suy nghĩ trung thực của người phụ nữ trong cuộc chiến vừa qua. Nguyễn Thị Hoàng viết:

“Những gì đáng mất đi vẫn còn. Những gì đáng lẽ còn đã phải mất. Những kẻ được, lại thua lỗ bỏ đi. Kẻ đáng thua lỗ, lại ngồi trì, ăn có. Mọi chuyện như cái con vụ. Con ếch nhường chỗ cho con gà. Con tôm nhường chỗ cho con heo. Cái vụ tròn bé thơ quay tít trong bao nhiêu con mắt khắc khoải đợi chờ”.

Hai nhân vật chính trong truyện hoàn toàn không có tên, thay vào đó là Người Vợ và Người Chồng, nhiều đoạn chỉ được giới thiệu vỏn vẹn Vợ hoặc Chồng. Ta hãy đọc đoạn văn ngắn viết về sự căng thẳng, phập phồng trong tâm trạng của người trốn lính:

“Người chồng ngồi lặng yên nhả khói thuốc. Khói thuốc ấm áp toả vòng tròn trên hai con mắt nâu đã đục vàng vì những đêm liên miên mất ngủ. Thỉnh thoảng, những ngón tay dài đã gầy gò lồng trong mái tóc cắt ngắn lô nhô sợi buồn rã rượi, cào một vòng, trút bỏ bụi mù của đường xa đã đi.

Chồng không nói gì. Vợ cũng im hơi, nhưng hai người nghe rõ trong nhau những tiếng thở dài thầm kín pha lẫn những tiếng kêu gào náo nức quắt quay của phút đợi chờ phập phồng kéo dài tưởng đến hết một đời người chưa dứt”.

Có thể nói, văn phong của Nguyễn Thị Hoàng cũng tựa như của Mai Thảo: rất “điệu đà”, rất “bay bướm” và rất “làm dáng”… đến độ nhiều khi trở thành sáo rỗng. Chẳng hạn như trong Người yêu của Đấng Trời, một tiểu thuyết đã được viết từ hơn một chục năm nay nhưng chưa hề xuất bản. Hợp Lưu trích đăng một chương có những đoạn viết: 

‘‘Tất cả đều in bóng lên nền xanh bát ngát của lòng trời, và những đôi mắt linh hồn mãi mãi tìm nhau, vẫn dồn trút niềm yêu và nỗi đau trong cái nhìn đáy thẳm tuyệt vời của im lặng và bóng tối.’’

‘Khoác lên trái tim chưa yêu của Chúa một vầng hoa nguyệt quế nghìn thu. Và trái tim nào đã yêu đến tan nát cả chân như thể tánh mình, hãy lấy búa kim cương đóng lên một chiếc đinh vàng, để dưới bóng Chúa lung linh nến hồng thuở trước, trên tình yêu không bao giờ có thực của chúng ta, một giọt máu trường sinh nhỏ xuống.’’

clip_image010

Nguyễn Thị Hoàng, năm 2007

(Ảnh của Thái Kim Lan)

Trước khi nổi tiếng trong nhóm nhà văn nữ trước 1975, Nguyễn Thị Hoàng là một nhà thơ của xứ Huế với hai tập thơ Sầu riêng (1960) và Sau phút đam mê (1961).

Nổi bật hơn cả là bài thơ Chi lạ rứa với 40 câu thơ mang đặc những ngôn từ của miền Trung như chi lạ rứa, bởi vì răng, bên ni bờ, đau chi mô, hiểu chi mô… (Xem nguyên văn bài thơ trong phần chú thích trong bài viết Đọc lại Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng 

 

Chi Lạ Rứa

Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc,
Ngó chi tui đồ cỏ mọn, hoa hèn.
Nhìn chi tui hình đom đóm đêm đen,
Cho tui tủi bên ni bờ cô tịch.

Tui ao ước có bao giờ tuyệt đích,
Tui van xin răng mà cứ làm ngơ.
Rồi ngó tui, chi lạ rứa hững hờ,
Ghét, yêu, mến, vô duyên và trơ trẽn!

Tui đã tắt nỗi ngại ngùng bẽn lẽn,
Bởi vì răng, ai biết được người hè.
Nhưng màu chiều đã rũ bóng lê thê,
Ni với nớ, có chi mô gần gũi!

Chi lạ rứa, răng cứ làm tui tủi?
Tàn nhẫn chi với một đứa thương đau!
Khối tình câm nên không sắc, không màu,
Và vạn thuở chẳng nên câu luyến ái!

Chi lạ rứa, người cứ làm tui ngại,
Biết sông sâu hay cạn giữa tình đời?
Bên ni bờ vẫn trong trắng chơi vơi,
Mà bên nớ trầm ngâm mô có kể.

Không muốn khóc, nhưng cứ từng ngấn lệ,
Đọng làn mi ấp ủ mối tâm tình.
Bên ni bờ hoa thắm bớt tươi xanh,
Mà bên nớ huy hoàng và lộng lẫy.

Muốn lên thuyền mặc sóng cuồng xô đẩy,
Nhưng thân đau nên chẳng dám đánh liều.
Đau chi mô có lẽ hận cô liêu,
Mà chi lạ rứa hè, ai hiểu nổi!

Tui không điên cũng không hề bối rối,
Ngó làm chi thêm tủi nhục đau thương
Tui biết tui là hoa dại bên đường,
Không hương sắc, lạ rứa hè, người hỉ?

Tui cũng muốn có một người tri kỉ,
Nhưng đường đời như rứa biết mần răng!
Tui muốn kêu, muốn gọi, muốn thưa rằng:
Chờ tui với! A, cười chi lạ rứa

Tui không buồn sao mắt mờ lệ ứa,
Bởi vì răng tui có hiểu chi mô!
Vì lòng tui là mặt nước sông hồ,
Chi lạ rứa, bên ni bờ tui khóc.

 

Những vần lục bát là thế mạnh trong thơ Nguyễn Thị Hoàng với những câu thơ rất da diết nhưng cũng rất tự nhiên như văn viết:



“Em mười sáu tuổi tơ măng

Thịt da đốt cháy thiên đường tình yêu”

“Trong cơn chăn gối rã rời

Im nghe từng chuyến xe đời đi qua”

“Đường về không nhịp trùng lai

Chúa ơi con sợ… ngày mai một mình”

“Nhìn lên thành phố không đèn

Âm u còn một màn đêm cuối cùng
Mắt sâu dòng lệ ngập ngừng
Mình xa nhau đến muôn trùng thời gian”

“Lênh đênh tiếng hát kinh cầu

Ăn năn cổ thụ cúi đầu ngẩn ngơ
Trên cao tháp cũ nhà thờ
Hồi chuông tưởng niệm bây giờ còn vang” 

Lối gieo vần trong thơ 8 chữ cũng là một thể nghiệm mới lạ của nhà thơ nữ:

“Em đợi anh về những chiều thứ bẩy

Hiu hắt vòm trời buổi sáng thứ hai
Nhạc dạo mơ hồ trong tiếng mưa bay
Thành phố ngủ quên những ngày chủ nhật”

“Cho em xin một chiều vui thứ bẩy

Có nhạc phòng trà có lá me bay
Tiếng gió reo vui đêm dài xa lộ
Nửa cuộc đời còn khoác kín vòng tay”

Và cuối cùng là những vần thơ 5 chữ trong bài Lời rêu:

“Uống cùng nhau một giọt,

Đắng cay nào chia đôi
Chung một niềm đơn độc,
Riêng môi đời phai phôi.

Say dùm nhau một giọt!

Chút nồng thơm cuối đời.
Vướng dùm nhau sợi tóc,
Ràng buộc trời sinh đôi”.

 

Người ta thường nói “lắm tài nhiều tật” hay “hồng nhan đa truân”. Ở Nguyễn Thị Hoàng có lẽ cả hai câu đều đúng. Trong số các nhà văn nữ nổi tiếng của Sài Gòn xưa, Nguyễn Thị Hoàng là người có nhan sắc nhất nhưng cuộc đời cũng nhiều sóng gió nhất.

***

 

 

 Hàng trên- bên trái:  Nguyễn thị Hoàng  ( ảnh chụp vào thập niên 1960)
      bên cạnh-phác họa chân dung nữ văn sĩ Nguyễn thị Thụy Vũ.
  Hàng dưới :  bên trái + bên phải:  Nguyễn thị Hoàng .

-Hình Internet-
                                                                                         

                                    

=== Kim Quy st ===

 

Sức hấp dẫn của những bộ phim xem không chán

Sức hấp dẫn của những

bộ phim xem không chán

~~<><>❤️<><>~~

Một số người thấy Some people find comfort in

revisiting painful memories via films like Brief Encounter (1945)

Trong thời đại luôn đầy ắp các bộ phim như hiện nay, chúng ta không cần phải tìm đâu xa để tìm thứ gì đó mới để xem.

Không chỉ có nhiều bộ phim mới được phát hành hơn bao giờ hết, mà việc phát trực tuyến có nghĩa là chúng ta có thể chọn từ hàng ngàn bộ phim mà thậm chí không cần rời khỏi ghế sofa.

Bạn có thể xem một cái gì đó khác nhau mỗi đêm và vẫn hầu như không thấm tháp gì với khối lượng giải trí vô vàn mà chúng ta có.

Vậy tại sao có quá nhiều người trong số chúng ta chọn xem những bộ phim mà chúng ta đã xem - một lần, hai lần hoặc một chục lần trước đây?

  Khi Trở Lại Tương Lai (Back To The Future) xuất hiện trong lịch chiếu trên TV, tại sao chúng ta lại ngồi xem cho hết lần thứ 43 mặc dù chúng ta đã biết từng dòng kịch bản?

Netflix đã tải lên 8.500 phút phim gốc của riêng họ vào năm ngoái, nhưng chính thông báo gần đây rằng Vũ Điệu Hoang Dã (Dirty Dancing) được phát trực tuyến mới gây ra sự cuồng nhiệt trên Twitter.

Khi Avengers: Hồi Kết (Avengers: Endgame) được tung ra trong năm nay, một người hâm mộ đã ghi tên vào sách kỷ lục với số lần xem hơn 103 lần - nhưng kỷ lục này đã sớm bị đánh bại bởi một người đã đến rạp 116 lần để xem.

Trở Lại Tương Lai (1985) thường được chọn vào danh sách các phim đáng xem đi xem lại nhiều lần

Mặc dù trên 100 lượt xem trong vòng vài tuần là mức độ cực kỳ nhiều, nhưng một cuộc hội ý nhanh giữa bạn bè cho thấy xem lại những phim mà chúng ta đã xem qua vô số lần là việc phổ biến.

Một số tựa phim đã được nhắc đến nhiều lần - như Trở Lại Tương Lai và Vũ Điệu Hoang Dã đã được đề cập ở trên, cùng với các tác phẩm kinh điển khác của thập niên 1980 như Ngày Nghỉ của Ferris Bueller (Ferris Bueller's Day Off), Top Gun, Hàm Cá Mập (Jaws) và Nàng Dâu Công Chúa (The Princess Bride).

  Nhạc kịch - bao gồm các vở Grease, Singin 'In The Rain, Mary Poppins và The Sound of Music - cũng rất được ưa chuộng, cũng như các phim về điệp viên James Bond, Bố Già (Godfather), bộ Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao (Star Wars) gốc và Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn (Lord of The Rings).

Các lựa chọn khác mang tính cá nhân hơn - Cuộc Đổ Bộ Bí Ẩn (Arrival), What Lies Beneath, Dirty Rotten Scoundrels, The Burbs, An American Werewolf in Paris. Ai can đảm sẽ thích xem lại Quỷ Án (The Exorcist) thường xuyên.

Hồi năm 2016, trang dữ liệu FiveThirtyEight đã khảo sát 1.169 người để đưa ra danh sách 25 bộ phim được xem đi xem lại nhiều nhất - với Star Wars, Phù Thuỷ Xứ Oz (The Wizard of Oz) và Giai Điệu Hạnh Phúc (The Sound of Music) chiếm vị trí hàng đầu.

Danh sách cá nhân các phim xem lại nhiều lần của riêng tôi bao gồm Khi Harry Gặp Sally (When Harry Met Sally), Lạc Lối ở Tokyo (Lost In Translation), Gần Như Nổi Tiếng (Almost Famous) và hầu hết các phim hài hước lãng mạn của thập niên 1990 (tôi không chỉ thuộc từng câu thoại của Người Đàn Bà Xinh Đẹp mà cả lời của từng bài hát trong nhạc phim nữa).

Bảo đảm chất lượng

Chỉ ra chính xác những phim nào chúng ta xem đi xem lại là rất dễ dàng. Chính xác tại sao chúng ta làm như vậy đó lại ít rõ ràng hơn.

Tất nhiên, có một điều hiển nhiên - chúng ta thích những phim đó và nghĩ rằng chúng xứng đáng được chú ý nhiều hơn.

Khi hỏi Câu lạc bộ Phim trên Facebook về lựa chọn của họ, một lựa chọn được đưa ra là Trở Lại Tương Lai, bởi vì 'đó là một bộ phim gần như hoàn hảo với kịch bản hoàn hảo, diễn xuất tuyệt vời và đạo diễn tuyệt vời. Không có cảnh nào thừa'.

  Những phim như Casablanca, 8 1/2, Hoàng Đế Cuối Cùng (The Last Emperor) và Withnail Và Tôi (Withnail & I) (phim hay nhất từng được thực hiện về tình bạn) cũng được chọn là những phim thường xuyên xuất hiện trong các cuộc bình chọn về phim hay nhất mọi thời đại.

Một người nói: "Một số phim là thứ mà tôi gọi là 'hoàn hảo' - chúng có câu chuyện hoàn hảo, nhạc nền gần như là thành phần của dàn diễn viên và quen thuộc đến nỗi bạn có thể dừng lại và bắt đầu bất cứ lúc nào. Chúng đem đến cảm giác thỏa mãn sâu sắc và bản thân bạn có thể tan biến trong phim, là tác phẩm điện ảnh chẳng khác gì món ăn hoài niệm. Do đó, đối với tôi, đó là những tác phẩm kinh điển như A Night To Remember và Sink The Bismarck."

  Cũng hợp lý khi chúng ta muốn xem lại chúng để nắm bắt những sắc thái mà chúng ta có thể đã bỏ lỡ trong lần xem đầu tiên.

Nhưng trong khi điều đó có thể giải thích cho lần xem thứ hai, thứ ba hoặc thứ tư, điều gì khiến chúng ta quay trở lại với một bộ phim khi chúng ta đã biết mọi tình tiết gay cấn và chi tiết của cốt truyện, và còn rất nhiều bộ phim khác đang chờ đợi chúng ta xem? Suy cho cùng, điều này không giống như nghe đi nghe lại một bài hát yêu thích - một phim kéo dài đến hai tiếng chứ không phải ba phút như một bài hát.

Một lời giải thích là xem thứ gì đó chúng ta đã quen thuộc dùng ít năng lượng trí óc hơn. Chúng ta không cần phải tập trung để suy nghĩ chuyện gì đang diễn ra bởi vì chúng ta đã biết. Chúng ta chỉ cần ngồi xuống và, kiểu như là, thả trôi. Mà như thế thì 'ít cực nhọc hơn, thư giãn hơn' như cách nói của một người bạn.

  Khi phải đối mặt với lựa chọn quá áp đảo như vậy, đôi khi sẽ dễ hơn để thu mình vào những phim mà chúng ta biết sẽ không làm chúng ta thất vọng - cảm giác mà những người dành hàng giờ lướt qua các lựa chọn vô tận trên Netflix hoặc Amazon Prime sẽ nhận ra.

Nếu chúng ta tình cờ thấy một bộ phim mà chúng ta yêu thích trên truyền hình mặt đất, sẽ có cảm giác như là lựa chọn đó được tạo ra cho chúng ta.

Một hiện tượng tâm lý được gọi là hiệu ứng 'tiếp xúc đơn thuần' - theo đó chúng ta hình thành tình cảm yêu thích cho những thứ quen thuộc - cũng có thể phát huy tác dụng. Vì vậy, chúng ta càng xem nhiều chừng nào, chúng ta càng muốn xem chừng đó.

Là người đã đi từ việc cho rằng The Holiday là một trong những bộ phim tệ nhất mà tôi từng xem cho đến việc xem nó liên tục mỗi dịp Giáng Sinh, tôi có thể liên hệ được lý do.

Các bộ phim trở thành một phần của truyền thống như thế là điều thông thường - đối với nhiều người, mùa Giáng Sinh chỉ chính thức bắt đầu sau khi họ xem Elf hoặc Yêu Thực Sự (Love Actually), và mùa Halloween khiến chúng ta xem lại các phim kinh dị mà mình yêu thích.

Ngay những phim mới thoạt xem ta nghĩ là không hấp dẫn, chẳng hạn như với tác giả, là phim The Holiday, cũng được nhiều người xem đi xem lại không biết chán

Một nghiên cứu năm 2012 về 'tiêu thụ lại' văn hóa của Cristel Antonia Russell và Sidney J Levy, giáo sư tiếp thị tại Đại học Arizona, nhận thấy rằng việc xem lại phim cũng có thể khiến chúng ta suy ngẫm về việc chúng ta đã trưởng thành như thế nào - một thước đo tiềm thức để đo cuộc sống của chúng ta đã thay đổi ra sao.

Một phản hồi trên trang Câu lạc bộ Điện ảnh viết: "Có một số phim tôi thích xem lại vài năm một lần và xem dưới các định dạng khác nhau. Chẳng hạn như: các phim James Bond mà tôi đã xem trong rạp, xem trên TV, mua băng VHS, sau đó là DVD và bây giờ được tải xuống trên mạng."

Trở lại tương lai

  Có lẽ một trong những lý do lớn nhất khiến chúng ta xem lại là sự hoài niệm - không chỉ về một giai đoạn trong lịch sử mà còn một giai đoạn trong cuộc đời của chúng ta.

Đó là một bản năng tự nhiên, Clay Routledge, giáo sư tâm lý tại Đại học bang North Dakota, người nghiên cứu về sự hoài niệm, nói. "Dĩ nhiên chúng ta muốn thưởng thức phim mới và có những trải nghiệm mới," ông nói.

"Tuy nhiên, một phần tâm lý con người là muốn có cảm giác liên tục, có cảm giác kết nối với nguồn gốc của mình. Có một số trải nghiệm văn hóa và cá nhân nhất định mà chúng ta muốn quay trở lại như là một cách để neo mình vào."

Cũng không hề có sự trùng hợp ngẫu nhiên là những phim chúng ta xem lại nhiều nhất là những phim chúng ta phát hiện ra lần đầu tiên khi còn nhỏ.

"Có vẻ như có cái gì đó về sự hình thành bản sắc và về những năm tháng thiếu niên và vị thành niên, khi mà mọi thứ thực sự gây ấn tượng với bạn," Routledge nói.

"Giai đoạn đó là khi bạn vươn lên và nghĩ rằng: Tôi không còn là đứa trẻ trong gia đình nữa, mà là một cá nhân độc đáo đang định hình bản thân và các mối quan tâm."

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một số trạng thái cảm xúc nhất định có nhiều khả năng đưa chúng ta đến những trải nghiệm hoài niệm hơn.

"Khi chúng ta cảm thấy buồn, cô đơn, hay lo lắng, hoặc không chắc chắn, chúng ta muốn một cái gì đó nhắc nhở chúng ta về việc chúng ta đến từ đâu, hoặc chúng ta là ai," Routledge nói.

"Chúng ta bị thu hút nhiều hơn vào những thứ quen thuộc và chúng ta biết chúng ta thích. Đó là lý do tại sao nhiều người trong chúng ta có những bộ phim 'thư giãn' mà chúng ta xem khi chúng ta cảm thấy không chắc chắn, căng thẳng hoặc ốm."

Có điều gì đó trong việc tìm về một bộ phim mà chúng ta biết rõ sẽ khiến chúng ta cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm - ngay cả khi đôi khi nó nhuốm màu sầu bi.

"Điều này cũng hợp lý theo quan điểm tiến hóa," Routledge nói. "Nếu bạn cảm thấy lo lắng hay căng thẳng và cơ thể bạn đang nói với bạn rằng có lý do để lo lắng thì đó không phải là lúc để bắt đầu khám phá và chấp nhận rủi ro. Rõ ràng khi có cảm giác không an toàn về mặt thể chất thì đó cũng là lúc chúng ta cảm thấy bất định về mặt cảm xúc, chúng ta muốn điều gì đó đem lại cảm giác an toàn - đó là điều có thể dự đoán được, điều mà chúng ta biết."

Theo cách này, đắm chìm trong một chút hoài niệm có thể là điều tốt, ông nói. "Đó dường như là một cách tự nhiên mà nhờ đó con người có được cảm giác ổn định và an toàn."

 

  

Vậy những phim đáng để xem lại trong tương lai sẽ như thế nào? Liệu có phim nào trong những phim ra mắt ngày hôm nay về sau sẽ trở thành Ferris Bueller's Day Off, Clueless hay Star Wars? Liệu các fan của Avengers có ngồi xem hết bộ Hồi Kết trong nhiều năm tới, xem đi xem lại cho tới khi đạt 300 lần không?

Dữ liệu Netflix công bố vào cuối năm 2018 cho thấy 50% những người đã xem các phim tình cảm lãng mạn dành cho tuổi teen phát trực tuyến như Kissing Booth và To All the Boys I Loved Before đã xem lại ít nhất một lần - và cả hai phim đều đang được lên kế hoạch phần kế tiếp - nhưng với rất nhiều thứ khác đang giành giật sự chú ý của thế hệ trẻ, có cảm giác không chắc chúng sẽ tạo dựng mình được như vậy.

  Đã có những phim mới ra lò gần đây tôi đã xem lại nhiều lần - bao gồm Vì Sao Vụt Sáng (A Star Is Born) công chiếu hồi năm ngoái và Gọi Em Bằng Tên Anh (Call Me By Your Name) hồi năm 2017.

Liệu tôi có mở lại những phim này sau 10 năm nữa hay không - bằng bất kỳ phương thức xem phim nào thịnh hành vào lúc đó - đó là điều tôi không chắc.

Tuy nhiên, nếu Bốn Đám Cưới và Một Đám Ma (Four Weddings and A Funeral) được chiếu lại trên truyền hình, tôi biết chính xác điều gì tôi sẽ làm.

----------

Clare Thorp

10 bộ phim đáng xem lại nhất trong

vòng 10 năm qua của Hollywood

Mới đây, What Culture đưa ra danh sách 10 bộ phim xuất sắc mà bất kỳ ai yêu điện ảnh cũng nên xem đi xem lại để trải nghiệm sự đa dạng thể loại và nội dung của phim Hollywood.

The Avengers (2012): Nhiều phim của Marvel Studios có thể góp mặt trong danh sách này. Tuy nhiên, bộ phim đặt nền móng quan trọng nhất cho sự xuất hiện của nhóm siêu anh hùng làm khuynh đảo màn ảnh rộng gần một thập niên qua chính là The Avengers.

Bộ phim là màn ra mắt hoành tráng của nhóm Avengers. Tuy không phải là bộ phim quá xuất sắc nhưng nó vừa đủ để giới thiệu đến khán giả từng nhân vật trong phim. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển của MCU cùng với hành trình của các nhân vật thì việc xem lại bom tấn có doanh thu hơn 1,5 tỷ USD này là điều cần thiết.


Mad Max: Fury Road (2015): Sự hấp dẫn vượt ngoài khuôn khổ của tác phẩm hành động thông thường của Mad Max nằm ở sự đơn giản trong cốt truyện. Bộ phim của đạo diễn kỳ cựu George Miller thật sự vượt trội về cách làm phim 3D nhưng hạn chế sử dụng CGI.

Phim đẩy tính bạo lực, khắc họa cuộc chiến sống còn của những người nô lệ và chiến binh trên sa mạc có thể làm thỏa mãn bất kỳ tín độ điện ảnh viễn tưởng nào. Những pha hành động của phim được thể hiện một cách phong phú trong những trường đoạn liên tiếp khiến khán giả nghẹt thở.

Nhưng chính điều này lại tạo nên sự thú vị khiến Mad Max trở thành một trong những bộ phim hành động ấn tượng nhất thế kỷ 21.


Her (2013): Bộ phim của đạo diễn Spike Jonze (đoạt giải Oscar cho kịch bản gốc xuất sắc) được xem là một trong những kiệt tác điện ảnh khắc hoạ tốt nhất các mối quan hệ trong xã hội đương đại.

Chính điều này khiến bất kỳ ai là fan của dòng phim tâm lý chính kịch cần phải xem tác phẩm này nhiều lần để hiểu thấu đáo và nghiền ngẫm các thủ pháp nghệ thuật độc đáo. Lần đầu là trải nghiệm cảm xúc đặc biệt về thế giới tương lai.

Lần thứ hai là để tán thưởng cho câu chuyện xuất sắc cùng màn diễn xuất của tài tử Joaquin Phoenix và giọng nói truyền cảm Scarlett Johansson. Đây chắc chắn là bộ phim thuộc hàng quyến rũ nhất Hollywood trong vòng 10 năm qua.


IT (2017): Những lời chê bai phổ biến nhất của Hollywood hiện tại là sự phụ thuộc quá mức vào các tác phẩm trước đó từ phim chuyển thể, phim sequel, series. Tuy nhiên, thực tế, chính những kịch bản chuyển thể từ những tiểu thuyết nổi tiếng đã phần nào cứu sống Hollywood vượt qua những khoảng thời gian cằn cỗi trong sự sáng tạo.

IT là một ví dụ điển hình của việc chuyển thể thành công tác phẩm kinh dị nổi tiếng của Stephen King lên màn ảnh rộng và tạo thành hiện tượng của năm. Đây chắc chắn là một trong những tác phẩm kinh dị ấn tượng nằm trong danh sách những bộ phim luôn phải xem trong mỗi dịp Halloween hàng năm.

 


The Master (2012): Sau 5 năm vắng bóng, đạo diễn Paul Thomas Anderson có sự trở lại đầy ngoạn mục với bộ phim The Master. Mặc dù đây không phải là bộ phim tâm lý ngụ ngôn tinh tế nhất của Hollywood nhưng đây vẫn là tác phẩm kinh điển, thuộc hàng đáng xem nhất đặc biệt là cho những ai muốn khám phá phong cách làm phim điển hình của đạo diễn tài ba của Paul Thomas Anderson.

Phim tập trung vào nhân vật Freddie của tài tử Joaquin Phoenix. Cũng giống với There Will be Blood (2007), hai nhân vật trung tâm trong The Master là điển hình cho tính cách Mỹ đặc trưng.

Up (2008): Đã trải qua 10 năm nhưng đến nay, kiệt tác hãng Pixar vẫn được xem là một trong những bộ phim hoạt hình xuất sắc nhất mọi thời đại. Chính ở nội dung tình cảm gia đình thân thuộc khiến Up trở nên gần gũi và đi vào lòng của khán giả dù ở độ tuổi nào.

Câu chuyện tình yêu của vợ chồng Carl và Ellite có thể xem là một trong những mối tình đẹp nhất trên màn ảnh rộng và xứng đáng được xem đi xem lại nhiều lần dù khán giả đang ở bất kỳ độ tuổi nào.


The Social Network (2010): Dù bị chỉ trích là thiếu chính xác về cá nhân Mark Zuckerberg cũng như quá trình thành lập Facebook, bộ phim tiểu sử này vẫn được đánh giá cao về nhiều mặt: đạo diễn, diễn xuất, dựng phim và đặc biệt là kịch bản.

Bộ phim đã giành giải cho phim hay nhất tại Quả cầu vàng cùng với ba giải biên kịch, dựng phim và nhạc nền xuất sắc tại Oscar. Bộ phim hấp dẫn hơn nhiều so với thể loại phim tiểu sử thông thường cùng với đó là màn trình diễn tuyệt vời của Jesse Eisenberg và Justin Timberlake.

Đây chắc chắn là "thư viện" không thể bỏ qua nếu khán giả muốn tìm hiểu thêm về một góc nhìn khác từ các nhà làm phim về Facebook và Mark Zuckerberg.

The Grand Budapest Hotel (2014): Wes Anderson thể hiện anh là một trong những nhà làm phim thiên tài và không kém phần điên rồ ở Hollywood. Diễn ra ở đất nước châu Âu hư cấu và được thể hiện trong một cấu trúc, nhịp điệu bất thường và hấp dẫn.

The Grand Budapest Hotel được xem là trải nghiệm điện ảnh cực kỳ thú vị với bất kỳ tín đồ điện ảnh nào. Bộ phim thể hiện những khung ảnh vuông vức, sáng tạo và hài hước, điều làm nên thương hiệu của Anderson. Với câu chuyện thú vị, bộ phim phù hợp với nhiều tâm trạng và độ tuổi của khán giả khi xem.

What We Do In The Shadows (2014): Bộ phim hài kinh dị do Taika Waititi, Jemaine Clement làm đạo diễn (ngân sách 1,6 triệu USD) nhanh chóng tạo được tiếng vang vượt ngoài lãnh thổ New Zealand.

Phim xoay quanh một bộ ba ma cà rồng sống ở Wellington và khám phá những khía cạnh cơ bản của con người với cuộc sống của một sinh vật về đêm. Đây thật sự là một trải nghiệm điện ảnh thú vị mà nếu lướt nhìn qua, nhiều khán giả sẽ dễ dàng cho rằng đây chỉ là một bộ phim "tào lao".

Với kiểu phim giả tài liệu hư cấu, What We Do In The Shadows mang đầy đủ chất quyến rũ của một tác phẩm kinh dị thuộc hàng ấn tượng nhất trong vòng nhiều năm qua. Đây chắc chắn là một trong những bộ phim phù hợp xem đi xem lại nhiều lần. Mỗi lần xem có thể người xem sẽ phát hiện ra những chi tiết thú vị mới được cài cắm trong phim.


The Lego Movie (2014): Dù là bộ phim hoạt hình hướng đến trẻ em với đề tài thân thiện với mọi gia đình nhưng đây chắc chắn vẫn là một bộ phim thú vị của làng hoạt hình trong nhiều năm qua. Với nội dung mẫu mực, dễ xem và hài hước mà bất kỳ gia đình nào cũng có thể xem đi xem lại nhiều lần để giáo dục cho trẻ em.

Chuỗi những hành động hồi hộp, nội dung mới mẻ, có chiều sâu cũng là yếu tố quan trọng giúp The Lego Movie nằm trong danh sách những bộ phim đáng xem lại. Dù già hay trẻ, bộ phim vẫn có sức hút khiến cho bất kỳ ai cũng nên lặn ngụp vào thế giới lego một lần.

Thành công của bộ phim này đã mở đầu cho những phần phim khác trong vũ trụ điện ảnh Lego như Lego Batman Movie và Ninjago.

------------

Ngọc Lan st tổng hợp.

 

 

Nhạc sĩ Lam Phương- Một đời thăng trầm

Nhạc Sĩ LAM PHƯƠNG

MỘT ĐỜI THĂNG TRẦM

 Như thông lệ hằng năm, cứ vào đầu tháng 12, tôi đi trình diễn một tour bên Úc qua mấy thành phố lớn như Sydney, Melbourne, Brisbane và Perth. Năm ngoái, sau buổi văn nghệ tại Casino Crown, tôi được một vài thương gia mời đi ăn cơm rồi ngỏ ý đề nghị tôi đưa nhạc sĩ Lam Phương sang Úc, mặc dù ai cũng biết ông đang ngồi xe lăn từ 10 năm nay, di chuyển đường xa rất khó khăn.

Chỉ vì nhạc Lam Phương quá đặc sắc và đa dạng, nên khán giả bốn phương đều muốn nghe lại và nhất là muốn gặp mặt ông một lần, biết đâu chăng là lần cuối bởi năm nay ông đã 72. Những người ngồi với tôi hôm ấy đều còn nhớ rất rõ, Lam Phương là nhạc sĩ duy nhất mà Trung tâm Thúy Nga đã thực hiện đến 3 cuốn Paris By Night để giới thiệu sự nghiệp của ông :

–  “Bốn Mươi Năm Âm Nhạc Lam Phương” –  “Lam Phương, Dòng Nhạc Tiếp Nối” –  ” Đường Về Quê Hương’

Nói chung, ông là người viết nhạc có tầm ảnh hưởng rộng lớn nhất, xét về mức phổ biến trước cũng như sau năm 1975.

Từ Úc về, tôi sang trình diễn tại mấy nước ở vùng Đông Âu cũ như Ba Lan, Cộng Hòa Séc (Tiệp Khắc) và Slovaskia, những nơi chỉ có toàn người miền Bắc. Tại đây, một lần nữa tôi lại ngạc nhiên nghe bầu show và nhiều khán giả đề nghị tôi mời nhạc sĩ Lam Phương qua cho đồng bào gặp gỡ. Ở Praha, tôi hỏi một cô trong ban tổ chức :

– Lam Phương viết nhiều về người lính thời cũ, chẳng hạn Bức Tâm Thư, Tình Anh Lính Chiến, Chiều Hành Quân, Biết Đến Bao Giờ v.v… Khán giả ở đây chỉ gồm toàn người miền Bắc, từng là công nhân lao động hợp tác, cán bộ tu nghiệp hoặc du học sinh từ Hà Nội. Tổ chức chương trình nhạc sĩ Lam Phương cho họ coi, cháu nhắm có trở ngại gì không ? Bởi đã hát nhạc Lam Phương là phải hát đủ loại, cả nhạc lính lẫn nhạc tình !

Nhạc sĩ Lam Phương

Cô gái hân hoan trả lời tôi :

– Không sao đâu chú ! Viết nhạc trong thời chiến mà!  Âm nhạc tất nhiên phải phản ánh cuộc sống mà tác giả đi qua. Cháu mới vào Việt Nam. Sau cuốn Paris By Night Đường Về Quê Hương, cháu thấy hầu hết các tụ điểm ca nhạc trong nước bây giờ đều hát nhạc Lam Phương.

Sau chuyến lưu diễn Âu Châu, tôi về gọi điện thoại hỏi ý kiến và thuyết phục anh Lam Phương, giục anh chịu khó đi với tôi vài chuyến. Tôi tha thiết bảo :

– Cố gắng đi anh ! Khán giả ở đâu cũng mong gặp anh nhất là từ khi nghe tin anh bị tai biến mạch máu não !

Tôi quen anh Lam Phương đã 17 năm, làm việc chung với anh qua 3 cuốn video và nhiều chương trình live shows, tôi biết rõ tính anh rất dè dặt. Anh chỉ sợ di chuyển vất vả mà đến nơi không thành công thì buồn cho cả anh lẫn ban tổ chức. Tôi phải trấn an anh mãi bởi tôi biết rõ cảm tình của khán giả đối với anh. Cuối cùng anh đồng ý trên nguyên tắc : Đầu tháng 12 năm 2010, anh và tôi sẽ bay sang Úc dưới bảng hiệu Thúy Nga, rồi nhân tiện sang nước láng giềng Tân Tây Lan (New Zealand) luôn thể.

Riêng Đông Âu thì anh còn lưỡng lự và các bầu show bên ấy cũng chưa có ngày giờ nhất định bởi việc tổ chức show ở Âu Châu tương đối phức tạp, cần phải phối hợp giữa nhiều quốc gia lân cận.

Trong khi chờ đợi, tôi bàn với Thời Báo mời Lam Phương sang Toronto. Ý định này, anh em Thời Báo và tôi đã có bàn thảo một đôi lần trước đây, nhưng mãi năm nay mới thu xếp được và chỉ có ngày Thứ Bảy 24 tháng 07 là thuận tiện cho cả nhạc sĩ Lam Phương lẫn ban tổ chức. Lam Phương chưa qua Toronto bao giời nên tỏ ra ngần ngại. Tôi phải nhắc lại :

– Từ bao nhiêu năm nay, có show Lam Phương nào thất bại đâu anh ! San Jose, Orange County, Montreal,… chương trình nào cũng đầy ắp khán giả, có nơi không đủ vé bán. Mùa hè Toronto đẹp lắm. Đồng bào Toronto rất yêu văn nghệ. Mời anh sang thăm một lần cho biết !

Nhạc sĩ Lam Phương

– Anh kéo tôi đi đâu thì tôi đi đó !

Tôi hiểu ý anh. Rất nhiều nơi muốn tổ chức đêm nhạc Lam Phương. Nhưng ở đâu anh cũng muốn phải có tôi giới thiệu, bởi chúng tôi đã làm việc chung với nhau tới 3 cuốn Paris By Night, tôi hiểu rõ tâm sự và xuất xứ từng ca khúc của anh. Tôi cám ơn anh rồi bảo :

– Tôi phone anh trước, nếu anh đồng ý thì đại diện Thời Báo sẽ liên lạc với anh !

Thời Báo chẳng những chỉ liên lạc với anh Lam Phương bằng phone, mà Nguyễn Đạt và anh Sa Xuân Vũ còn bay sang tận nơi, ghé thăm anh Lam Phương trong căn nhà quạnh hiu trồng đầy bông hồng chung quanh. Anh cảm động gọi cho tôi, cám ơn sự chu đáo của anh em Thời Báo Toronto và hẹn sẽ gặp khán giả Toronto cuối tháng 07.

Đôi nét về nhạc sĩ Lam Phương

Vào những năm đầu khi mới chia cắt đất nước (1954), dân chúng miền Nam thường được nghe đi nghe lại bài Chuyến Đò Vĩ Tuyến trên đài phát thanh:

“Đêm nay trăng sang quá anh ơi / Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai mầu…”

Lúc ấy, ai cũng tưởng Lam Phương chắc phải là một “ông Bắc kỳ di cư” lớn tuổi, dàn trải tâm tư khắc khoải của mình khi rời đất Bắc vào Nam tìm tự do. Nhưng hóa ra tác giả chỉ là một thanh niên miền Nam mới 18 tuổi, đã khơi lên nỗi xúc động thay cho gần một triệu đồng bào vừa lìa xa cố hương.

Từ cái bước khởi đầu vững chắc ấy, người ta đã nhìn thấy ở trước Lam Phương là một tài năng lớn, một sức sáng tạo đích thực, và quả nhiên như mọi người dự đoán, anh đã cống hiến cho tân nhạc Việt Nam gần 200 ca khúc đặc sắc trong nửa thế kỷ vừa qua.

 Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng, sinh ngày 20/03/1937, tại Rạch Giá. Nội tổ của anh vốn là người gốc Hoa, bỏ nước sang Việt Nam lập nghiệp trong đợt di dân ồ ạt của người Hoa chống đối với nhà Mãn Thanh. Đời ông nội của Lam Phương đã bắt đầu lai Việt Nam và đến thân phụ của anh thì chẳng còn dấu vết gì là người Hoa nữa.

Lam Phương là con đầu lòng, nhưng lớn lên chỉ thấy mẹ và các em trong cảnh nghèo nàn xác xơ. Ông bố đã bỏ đi theo người đàn bà khác từ lúc Lam Phương chưa đủ trí khôn.

Mười tuổi, Lam Phương giã từ Rạch Giá lên Sài Gòn, ở trọ nhà người quen trong xóm lao động tăm tối vùng Đa Kao và vào học trung học ở Việt Nam Học Đường. Thời gian này, anh bắt đầu tự học nhạc qua sách vở, phần lớn là bằng tiếng Pháp.

Điều này dễ hiểu, bởi ngày ấy nước ta chưa có trường âm nhạc. Thế hệ Lam Phương cũng như các nhạc sĩ lớn tuổi hơn, muốn học nhạc thì hoặc phải tự mò mẫm qua các tài liệu viết bằng tiếng Pháp, hoặc ghi danh hàm thụ các trường chuyên nghiệp bên Paris để họ gửi bài vở sang. Song song với phần nhạc lý, Lam Phương cũng xin học lớp guitar do một ông thầy Việt Nam truyền nghề.

Để trắc nghiệm khả năng học hỏi của mình sau một thời gian miệt mài, năm 1952, lúc mới 15 tuổi, Lam Phương sáng tác ca khúc đầu tay là Chiều Thu Ấy. Anh vay mượn bạn bè và hàng xóm, tự in bản nhạc rồi thuê xe lam chở đi giao cho các quầy hàng bán lẻ.

Tuy cũng lấy lại vốn, nhưng ca khúc này chưa gây được tiếng vang. Phải chờ 3 năm sau khi 18 tuổi, Lam Phương mới tung ra được một số sáng tác nổi đình nổi đám ngay như Kiếp Nghèo, Chuyến Đò Vĩ Tuyến, Nhạc Rừng Khuya, Trăng Thanh Bình, Khúc Ca Ngày Mưa, Nắng Đẹp Miền Nam v.v…

Nhạc của Lam Phương nhanh chóng tràn lan trong học đường trên phạm vi cả nước. Hầu như trường nào cũng cho học trò đồng ca hoặc múa hát những bài tươi vui lành mạnh, phổ biến nhất là Khúc Ca Ngày Mưa và Nắng Đẹp Miền Nam. Ở những nhạc phẩm này, người ta thấy ngay sự phản ánh rất rõ nét một thời thanh bình rộn rã của những năm đầu nền Đệ nhất Cộng hòa.

 Năm 21, Lam Phương nhập ngũ. Thời ấy, thanh niên đi quân dịch chỉ có một năm bởi là nghĩa vụ quân sự trong thời bình. Tại quân trường, anh viết Bức Tâm Thư, hô hào thanh niên sốt sắng đi quân dịch. Ngày mãn khóa, anh sáng tác 2 bản nhạc nổi tiếng là Tình Anh Lính Chiến và Chiều Hành Quân.

Anh kể với tôi: Vì không biết rõ xuất xứ sáng tác bài Tình Anh Lính Chiến, cho nên sau này nhiều ca sĩ thường hát câu: “Anh chiến trường, em nơi hậu tuyến”. Thật sự thì hát như vậy là sai, bởi anh viết cho bạn bè đồng ngũ trước khi chia tay ở quân trường, mỗi người đi mỗi nơi, nên câu hát đúng là ‘Anh chiến trường, tôi nơi hậu tuyến”. Đây là tình đồng đội chứ không phải tình yêu trai gái.

Mãn hạn quân dịch, trở về đời sống dân sự, Lam Phương tiếp tục sáng tác và tự xuất bản các tác phẩm của mình. Nhạc của anh có sức phổ biến sâu rộng, là một trong những nhạc sĩ thành công nhất ở miền Nam, giúp anh thoát khỏi cảnh lầm than mà anh đã mô tả qua bản Kiếp Nghèo mấy năm về trước. 

 Lúc ấy, nhạc sĩ Phạm Duy đang phụ trách trung tâm Quốc Gia Điện Ảnh, nghe tiếng Lam Phương, gọi anh đến và giới thiệu với đạo diễn Lưu Bạch Đàn để Lam Phương đóng vai chính trong phim Chân Trời Mới bên cạnh nữ tài tử Mai Ly và kịch sĩ lão thành Vũ Huân. Đây là một phim truyện nhằm cổ võ cho quốc sách Ấp Chiến Lược, đồng thời đả phá tệ nạn quan liêu phong kiến ở xã ấp.

Khi tên tuổi bắt đầu vững vàng, Lam Phương lập gia đình với kịch sĩ kiêm ca sĩ Túy Hồng. Từ đó anh phụ trách thêm công việc viết nhạc nền cho ban kịch Sống, cho chúng thêm hàng loạt ca khúc đặc sắc như Thu Sầu, Nghẹn Ngào, Trăm Nhớ Ngàn Thương, Phút Cuối, Ngày Buồn v.v…

Tình hình chiến sự miền Nam gia tăng, Lam Phương được gọi tái ngũ. Anh mặc quân phục trở lại và gia nhập Ban Văn Nghệ Bảo An (Địa Phương Quân). Khi ban này giải tán, anh chuyển qua ban văn nghệ Hoa Tình Thương. Rồi Hoa Tình Thương cũng giải tán để biến thành Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương, nơi Lam Phương cộng tác cho đến ngày mất miền Nam.

Trong khoảng thời gian này, sức sáng tác của Lam Phương càng dàn trải trên nhiều thể loại rất phong phú mà đặc biệt một điểm là hầu hết ca khúc nào anh đưa ra cũng đều trở thành Top Hit trên thị trường, điển hình như Chờ Người, Tình Bơ Vơ, Duyên Kiếp, Thành Phố Buồn, Tình Chết Theo Mùa Đông v.v… đưa anh vào vị trí một nhạc sĩ thành công nhất Việt Nam về mặt tài chánh.

Túy Hồng và Lam Phương

Sáng ngày 30/4/1975, anh quyết định vào phút chót, đem gia đình chạy lên tàu Trường Xuân của thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy, cùng với gần 4000 đồng bào ra khơi. Trên tàu, anh gặp Elvis Phương, ca sĩ đầu tiên đã hát bài Chờ Người của anh khoảng năm 1972. Cũng trong đám người dày đặc đó, có một cô bé còn bế trên tay, sau này là á hậu Việt Nam tại Paris và trở thành nữ ca sĩ Bảo Hân.

Vì không có ý định ra đi, cho nên Lam Phương hoàn toàn chẳng chuẩn bị bất cứ thứ hành trang nào để đem theo. Anh bỏ lại chiếc xe hơi, hai căn nhà lớn và khoảng 30 triệu đồng trong ngân hàng để lên đường với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo ! Lúc ấy, lương một vị tổng giám đốc hoặc một vị đại tá trong quân đội chỉ có mấy chục ngàn một tháng ! (nên nhớ vàng 9999 Kim Thành lúc đó chỉ có 36.000d9VN/lượng)

Định cư ở Mỹ, cái job đầu tiên anh làm trong hãng Sears là lau sàn nhà và cọ cầu tiêu! Rồi chuyển sang làm thợ mài, thợ tiện, bus boy. Tuy vậy, cứ mỗi cuối tuần anh vẫn cố gắng thuê một nhà hàng, biến thành phòng trà ca nhạc để đồng hương có chỗ gặp nhau và để chính anh cùng Túy Hồng đỡ nhớ sân khấu.

Nghề này, chẳng những lợi tức không có bao nhiêu mà buồn thay, chỉ sau một khoảng thời gian ngắn, anh khám phá ra người bạn đời không còn thủy chung với anh nữa. Anh cay đắng vật vã, cố gắng hàn gắn nhưng không xong. Anh biết cái thế của anh đã mất hẳn từ khi ra hải ngoại, bởi tiền bạc, danh vọng đều chỉ còn là trong kỷ niệm

Nỗi đau ray rứt của cuộc tình tan vỡ trên đất khách đã là động lực sâu thẳm khiến anh sáng tác mấy bản nhạc rất bi thương, trong đó có một bài để đời là Lầm :

“Anh đã lầm đưa em sang đây / Để đêm trường nghe tiếng thở dài / Thà cuộc đời im trong lòng đất…”

Rồi anh ngậm ngùi bỏ Hoa Kỳ sang Paris, xin vào làm công việc đóng gói quét dọn cho một tiệm tạp hóa. Cũng tại đây, anh gặp lại ông bà Tô Văn Lai, chủ nhân Trung tâm băng nhạc Thúy Nga, vốn đã quen biết anh ở Sài Gòn từ trước năm 75.

Thúy Nga ngày ấy cũng còn quá nghèo, chỉ sang lại những băng cũ mang theo từ Việt Nam, nên chả có việc gì cho Lam Phương làm. Chính bản thân ông Tô Văn Lai, Giáo sư Triết ở Sài Gòn, dân trường Tây từ nhỏ, giờ đây cũng phải đi học nghề sửa xe và đứng bơm xăng ở vùng Bondi, ngoại ô Paris.

Lam Phương tiếp tục sống lầm lũi cho qua ngày ở kinh thành ánh sáng, mãi cho đến khi anh bất ngờ gặp một khúc rẽ tình cảm mới: Một người đàn bà rất đẹp đã đến với trái tim anh, giúp anh xóa đi những ngày tăm tối vừa qua. Nhờ khúc rẽ ấy, chúng ta mới có được một loạt ca khúc chan hòa niềm vui như Mùa Thu Yêu Đương, Tình Hồng Paris, Tình Đẹp Như Mơ, và nhất là Bài Tango Cho Em :

“Từ ngày có em về/ Nhà mình ngập ánh trăng thề…”

Cũng trong khoảng thời gian tạm cư ở Paris, anh sáng tác 3 ca khúc nổi tiếng khác mà giờ này thính giả vẫn thích nghe đi nghe lại :

– Cho Em Quên Tuổi Ngọc : Anh đặt cả lời Pháp lẫn lời Việt, viết cho một cuốn phim. Tựa tiếng Pháp là C’est Toi.

– Em Đi Rồi : Anh viết cho chuyện tình tan vỡ của nữ ca sĩ Họa My, khi Họa My sang Pháp để lại người chồng ở Việt Nam.

– Một Mình : Cảm xúc của chính anh buổi sáng thức dậy, cô đơn nhìn ra cửa trong ánh bình minh.

Bước sang đầu thập tiên 1990, Trung tâm Thúy Nga tương đối đã có cơ sở vững vàng ở Paris lẫn Cali sau khi sản xuất thành công một loạt video tuồng cải lương và các chương trình Paris By Night bắt đầu từ năm 1983. Lúc ấy, Thúy Nga mới quyết định thực hiện một cuốn Paris By Night chủ đề nhạc Lam Phương.

Đó là lần đầu tiên tôi gặp anh Lam Phương vào tháng 03 năm 1993, khi trời Paris còn đang se lạnh. Mặc dầu lúc này Lam Phương đã chia tay người đàn bà từng mang cho anh “những nụ hồng Paris”, nhưng cuộc sống của anh đã tạm ổn định cả mặt tinh thần lẫn vật chất, một phần nhờ có cô em gái từ Việt Nam sang tỵ nạn, mở tiệm ăn Như Ánh ngay tại Quận 13, giao cho anh làm manager.

Lúc gặp tôi, anh đã hoàn toàn lấy lại phong độ, tìm lại sự tin yêu trong cuộc đời, quên hết những nhọc nhằn gần 20 năm sóng gió vừa qua. Anh cho biết : Anh ít đọc sách của tôi, nhưng em gái anh, chủ nhà hàng, thì bất cứ lúc nào rảnh rỗi, cô cũng để cuốn tiểu thuyết Màu Cỏ Úa. Nhờ vậy, tuy gặp nhau lần đầu mà anh với tôi đã có cảm tưởng như quen nhau từ lâu

 Bài học đầu tiên tôi học ở anh Lam Phương là sự bình dị và khiêm tốn. Một người từng nổi tiếng từ lúc tuổi chưa đến 20, từng có một cuộc sống giàu sang ở Sài Gòn, giờ này ngồi tiếp chuyện tôi trong cái quán nhỏ, bằng một thái độ rất chân tình và lịch sự, mặc dầu tôi thua anh về mọi mặt. Cái ấn tượng ban đầu ấy khắc ghi mãi trong lòng tôi cho đến hôm nay.

Sau sự thành công của Paris By Night “Bốn Mươi Năm Âm Nhạc Lam Phương”, chỉ hơn một năm sau, Thúy Nga lại thực hiện thêm một chương trình Lam Phương thứ 2 bởi nhạc anh còn quá nhiều. Cuốn này tôi đặt tựa đề là “Lam Phương, Dòng Nhạc Tiếp Nối’.

Sau cuốn băng ấy, Lam Phương quay về định cư tại Hoa Kỳ năm 1995. Người đàn bà bảo lãnh anh trở lại Mỹ tuy không phải là một cuộc tình lớn trong đời, nhưng anh cần một mái ấm ổn định ở tuổi đã trên 55. Về lại Cali, anh tiếp tục sáng tác và lâu lâu phụ việc với Trung tâm Thúy Nga lúc này đang trên đà thăng tiến mạnh mẽ.

Dòng đời đang êm trôi thì ngày 13/3/1999, trong lúc đang dự tiệc ở nhà một người thân, không may anh bị tai biến mạch máu não. Từ đó anh nói không ra lời, một nửa thân thể gần như bại liệt hoàn toàn.

Bàn tay đánh đàn ghi nốt nhạc mấy chục năm qua, bây giờ không sử dụng được nữa. Anh chị em nghệ sĩ cùng nhau tổ chức đêm nhạc Lam Phương tại nhà hàng Majestic để hỗ trợ anh về cả hai mặt tinh thần và tài chánh. Tôi bay sang góp mặt, anh chỉ nắm tay tôi ứa nước mắt mà nói không thành câu.

Vài hôm sau, người đàn bà đang chung sống với anh, cũng lặng lẽ chia tay, bỏ lại anh trên chiếc xe lăn, bơ vơ trong căn nhà vắng, để ngày nay anh thấm thía với nỗi quạnh hiu như những lời ca tiên tri chính anh đã viết :

“Sớm mai thức giấc / Nhìn quanh một mình !”

 Thời gian trôi qua quá nhanh ! Mới đó mà Lam Phương “nhìn quanh một mình” đã 11 năm ! Anh đã cố gắng vượt bậc, cố giữ tâm hồn thư thái và thể dục đều đặn. Nhờ vậy thỉnh thoảng anh có thể tạm bỏ xe lăn, đứng dậy chống gậy đi một vòng quanh nhà.

Nỗi buồn lớn nhất của anh từ ngày gặp nạn là không còn đánh đàn và viết nhạc được nữa bởi một nửa thân thể vẫn hoàn toàn bất động, mặc dầu trí óc anh rất sáng suốt. (Nguyễn Ngọc)

~~~~<❤️>~~~~

 Lam Phương -Trăm nhớ ngàn thương

=◊◊◊=

Nhạc sĩ Lam Phương thời trẻ

 Cuốn Sách về nhạc sĩ Lam Phương với tựa đề: Trăm nhớ ngàn thương, do Nguyễn Thanh Nhã chấp bút theo tài liệu của gia đình, vừa ra mắt nhân 70 năm làm nghề của ông (Phanbook & Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành). Tác phẩm được thực hiện trong thời gian ông điều trị tại Mỹ sau một cơn tai biến, không thể đối thoại được. Cuốn sách như những thước phim quay chậm về cuộc đời tác giả tiêu biểu của âm nhạc Sài Gòn giai đoạn 1954 - 1975. 

Kỳ một: Ký ức quê nghèo

Đó là một buổi sáng mùa thu của năm 1947. Phùng dậy sớm hơn thường lệ. Ngoài sông, tiếng chuông chùa thổn thức từng vạt sương đêm. Chú bé nhìn bóng má theo ngọn đèn leo lét in lên vách thưa, rồi nhìn lại gương mặt của từng đứa em thơ đang ngủ say. Chỉ lát nữa thôi, chú bé 10 tuổi sẽ rời bỏ quê hương Rạch Giá để lên Sài Gòn.

Chuyến xe đò lên phố thị trong buổi tù mù sáng, khi sương sớm còn chưa tan trên những khoảng sông và đầm lầy, mở ra cuộc đời tha phương đầy đa đoan, lắm thăng trầm.

Có một dòng sông chảy ngang phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Một bà má nghèo tảo tần nuôi sáu đứa con nơi con nước chia đôi mở hai hướng cảnh quan chơi vơi của vùng ngã ba sông, gọi là ấp Đầu Voi. Đối diện căn nhà tồi tàn trong xóm nhỏ là ngôi cổ tự Thập Phương cứ mỗi sáng tinh mơ lại ngân vang tiếng chuông mõ u trầm.

Nhạc sĩ Lam Phương năm ba tuổi. Ảnh tư liệu gia đình.

"Với nhiều người dân quê, tiếng chuông chùa làm mất giấc ngủ sau một ngày vất vả ngoài đồng. Người ta khó chịu dữ lắm! Còn với tôi, tôi yêu tiếng chuông chùa Thập Phương. Tôi không thể hiểu vì sao còn rất nhỏ nhưng tôi đã cảm nhận tiếng chuông đó rất buồn!

Sau này, năm 1957 tôi đã viết bài Chiều tàn chỉ vì nhớ tiếng chuông xưa".Tiếng chuông mỗi sáng cứ thao thức hoài trong tâm hồn cậu trên những dặm đường gió bụi về sau. Đó là thanh âm đồng vọng buồn bã, xa vắng mà da diết nhất, thức dậy một vùng quê nhà yêu thương trong tâm hồn một người tự nhận mình là "dân quê".

Ca từ của ca khúc này đẹp như bài thơ và một lần nữa kiếp nghèo, đời viễn xứ ám ảnh nét nhạc Lam Phương:

 

Chiều tàn


Làn khói ấm mái tranh hiền bao niềm thương
Chiều ơi, mây bơ vơ từ ngàn hướng
Lạc loài nơi chốn quê
Gió không biên cương lạc đường về
Tràn bao ngõ tối qua mảnh lá nghe thở than
Gió thương những mảnh tình nghèo nàn
Cuộc đời đen tối mong hạnh phúc khi chiều tan
Đường gập ghềnh lạnh lẽo
Quanh co đường về khắp nẻo xa xôi
Có bóng con đò chiều mơ
Khách qua đò làm thơ
Êm trôi giữa trời nước bơ vơ
Nhẹ nhàng thuyền cập bến
Dòng sông nước hững hờ
Nghe không gian như thờ ơ
Có bóng cô em thẫn thờ
Nhìn áng mây trôi
Lắng nghe chuông chiều
Mà lòng thương nhớ ai nhiều"

Lâm Đình Phùng sinh ngày 20/3/1937. Ông lấy bút danh Lam Phương để làm nhẹ đi hai chữ Lâm và Phùng trong họ tên. Thân phụ của Lam Phương là ông Lâm Đình Chất, người Hoa, và thân mẫu là bà Trần Thị Nho, một thôn nữ nghèo.

Song thân của ông có sáu người con và theo cách gọi miền Nam thì Lâm Đình Phùng là anh Hai, tức là con trai lớn nhất trong nhà. Con đông, gia cảnh túng bấn, người cha bỏ xứ tìm về Sài Gòn từ khi Lam Phương còn rất nhỏ.

Lúc đầu, người cha thỉnh thoảng về thăm nhà, sau thưa dần. Mỗi chuyến ghé thăm, thân phụ để lại cho thân mẫu Lam Phương một đứa em. Đến cô em út Lâm Thị Minh Khai thì gia đình nhỏ ở Rạch Giá không còn giữ chân ông được nữa!

Thiếu đi trụ cột, má của cậu bé Phùng bắt đầu tất tả xuôi ngược trên sông, lúc làm mướn, khi bán buôn để kiếm chén cơm cho bầy con dại. Vùng đồng bằng sông Cửu Long vào thập niên 1930 xảy ra một cuộc khủng hoảng kinh tế và lương thực, một phần bởi những chính sách điền thổ thời thực dân làm thay đổi cảnh quan môi trường và mưu sinh của dân địa phương.

Đại cảnh đó ít nhiều làm tan đàn xẻ nghé nhiều gia đình nghèo. Người nông dân phải lâm vào cảnh mưu sinh khó nhọc, trôi dạt. Gia đình chú bé Phùng cũng vậy. Người mẹ tảo tần tìm cái ăn giữa buổi loạn ly đã khó, nói chi cho con đặt chân đến những ngôi trường Tây trong vùng. Phùng và các em dù rất khát khao đi học cũng khó lòng được thỏa nguyện.

 Rất may cho chú bé Phùng, một người dượng phía ngoại là thầy giáo Phan Văn Mỹ từng dạy tại trường Tiểu học Vĩnh Lạc, Rạch Giá đã bảo bọc cho chú đi học "đặng biết đọc biết viết với thiên hạ". Nhờ vậy mà Phùng đã có thể học chữ một cách bài bản.

Chân dung ngày thơ ấu của người nhạc sĩ tài hoa được những người bạn cũ ở trường làng Vĩnh Lạc vẽ lại khá khép kín: Trò Phùng ít sôi nổi, thường ngồi một mình nhìn mây bay ngoài cửa sổ lớp. Dáng vẻ trầm ngâm như một người tu hành. Mỗi ngày đến trường, trò Phùng mặc độc chiếc áo rằn ri ngắn tay và chưa bao giờ có thể hiện gì về năng khiếu văn nghệ...

Nhạc sĩ Lam Phương bên mẹ. Ảnh:Gia đình cung cấp.

Càng lớn, Phùng càng nhận ra, dòng sông không chảy trọn vẹn theo chiều. Có bao nhiêu đoạn rẽ trên một dòng sông là có bấy nhiêu bến bờ của ly biệt... Đó là lý do một tuần trước khi lên chuyến xe đò tha phương, chú bé đi bộ khắp xóm thôn, nhìn lại hình ảnh mười tám mái tranh bệ rạc xóm nghèo và thuộc đến từng vệ cỏ...

Có lẽ, Phùng đã dự cảm về ngày phải "gom góp yêu thương quê nhà" giữa trời thu Rạch Giá bàng bạc mây...Những hồi tưởng ấy khá chính xác. Đó chính là tâm trạng buồn tủi và đơn độc của một cậu học trò sớm biết lo âu về tương lai, bởi gia đình nhỏ thiếu vắng vai trò trụ cột của người cha. Ngày tháng không trọn vẹn hạnh phúc, bao nỗi cơ cực đã phủ nỗi buồn lên đôi mắt chú bé ở vùng sông nước nghèo nàn.

Mỗi chiều, sau những giờ phụ mẹ ẵm em, làm việc nhà, hay rảnh rỗi lúc tan trường, Phùng lại ra khúc sông Đầu Voi ngắm vạt lục bình lững lờ, dự cảm về một ngày mai trôi nổi.

Và trong tâm trí người nhạc sĩ duy cảm, mãi về sau, luôn hiện hữu hình ảnh người mẹ chịu thương chịu khó gánh vác mọi việc để nuôi sáu miệng ăn. Trong một cuộc phỏng vấn sau này, ông nhắc lại câu nói giản dị quen thuộc: Tôi thương má tôi lắm! Má tôi mơ ước cái nhà che nắng mưa. Chỉ có vậy mà tôi làm cật lực, làm chết bỏ để có tiền mua nhà cho má.

Về sau, khi đã kiếm được chút vốn liếng, bà Nho mới mở được một sạp hàng tại nhà. Điều kiện kinh tế ổn định hơn, bà nhận ra con trai mình không thể học mãi ở trường làng cho biết con chữ rồi chỉ để trở về gốc gác của một tá điền theo kiểu "con sãi ở chùa thì quét lá đa".

Đến lúc nó cần bước ra cuộc đời rộng hơn. Sài Gòn là điểm đến với nhiều hy vọng đổi đời. Bà còn có hy vọng mong manh rằng, ngày nào đó, trong dòng đời tấp nập của phố thị, đứa con trai sẽ tìm thấy cha mình.

 Kỳ hai : Thất bạn đầu đời

 Thời trẻ, nhạc sĩ Lam Phương vay bạn 200 đồng in các tờ nhạc ông viết rồi tìm đến các tiệm để tự phát hành song đều bị từ chối. Hồi ức buồn của đời bán nhạc :"Cay đắng lắm! Người ta nói thẳng: Tôi không biết cậu là ai. Rồi đến cái tiệm bán tờ nhạc ở lề đường cũng nói qua loa: Cậu cứ để đó, bán được bao nhiêu trả tiền bấy nhiêu. Tôi nghĩ về khoản nợ 200 đồng bạc đi mượn mà xót xa".

Đó là những lời tâm sự về hoàn cảnh tự mình phát hành tờ nhạc mà đến cuối đời Lam Phương vẫn không quên. Theo đó, Lam Phương đã mượn 200 đồng từ một người bạn học khá giả rồi tự liên hệ nhà in để in bản Chiều thu ấy, rồi tự đi phát hành trên khắp phố phường Sài Gòn.

Thất bại đầu đời với số nợ 200 đồng, Lam Phương tìm về ký ức quê hương như một điểm bấu víu cho cõi lòng bẽ bàng của ngày đầu sáng tác.

 

Lam Phương thời mới viết nhạc. Ảnh tư liệu gia đình.

Thời điểm những năm 1950, miền Nam vẫn còn bình yên. Và như trước cơn bão lớn của các chiến sự sẽ nổ ra nhanh chóng sau đó, sự yên ả vốn có của miền Nam tiếp tục đi vào nhạc Lam Phương. Giai đoạn này Lam Phương vẫn tiếp tục sáng tác, lại mượn tiền bạn đi in, đi làm thuê lao động chân tay để có tiền trả nợ, rồi lại tiếp tục đi bán nhạc lẻ...

Đỉnh điểm của món nợ vay lên đến 600 đồng! Nếu lấy đồng tiền Đông Dương làm thước đo giá trị cho những năm 1950 khi đồng tiền này còn lưu hành, thì qua lời kể của nhà văn Vũ Bằng trong cuốn Bốn mươi năm nói láo sẽ thấy đây là số tiền không nhỏ.

Thời điểm này, Vũ Bằng viết, tờ Vịt Đực của ông vì châm chọc vua Bảo Đại mà phải nhận trát hầu tòa. Muốn phản tố phải nộp cho tòa án 1.000 đồng mà cả tòa soạn báo Vịt Đực đã không thể nào xoay xở được dẫn đến việc tờ báo phải đóng cửa.

Nhưng với bầu nhiệt huyết lạ lùng, Lam Phương vẫn đi vay tiền để in tờ nhạc, những mong có ngày sẽ thu được số tiền trả nợ. Năm 1954, trước thời điểm xảy ra sự kiện Hiệp định Genève, Lam Phương đánh dấu sự nghiệp âm nhạc của mình bằng bản Khúc ca ngày mùa.

 

Ngay khi bản nhạc xuất hiện, Lam Phương trở thành làn gió mới của âm nhạc miền Nam. Bản Khúc ca ngày mùa được báo chí Sài Gòn miêu tả là đã đưa tên tuổi Lam Phương từ bóng tối ra khung trời rực rỡ. Độ phổ biến của bài hát được ghi nhận vào năm 1954 là lan tỏa từ thành thị đến nông thôn, từ sân trường đến trại lính, từ công xưởng đến những người bán hàng rong vỉa hè...

Năm 1956, thành phố Sài Gòn đón những đợt di cư mới từ miền Bắc. Trong số đó, giới nghệ sĩ tinh hoa và trung lưu mới nhập cư đã góp phần tạo nên một khí hậu văn hóa khác biệt, một thị trường tiêu thụ sản phẩm văn hóa sôi động, từ sách báo xuất bản đến mỹ thuật, âm nhạc.

Từ một chàng trai vô danh, Lam Phương được các nhà xuất bản chào đón bằng những bản hợp đồng in nhạc để có bản quyền in Khúc ca ngày mùa. Lam Phương không giấu được niềm xúc động đến rơi nước mắt, như lời mô tả trên báo Sài Gòn Mới số ra ngày 26/3/1956 của ký giả Ngọc Huyền-Lan thì bản nhạc đã được tái bản tới lần thứ bảy. Chỉ với Khúc ca ngày mùa, ký giả này không ngại khẳng định, Lam Phương đã sánh ngang với các nhạc sĩ tiền bối mà tên tuổi đã thành danh từ 20 năm trước.

Số nợ 600 đồng với người bạn học đã được Lam Phương trả lại bằng tiền bán bản quyền Khúc ca ngày mùa.

Cũng trong giai đoạn này, chàng nhạc sĩ trẻ được thêm động lực, tiếp tục viết những bản nhạc mới, ghi đậm dấu ấn một nhạc sĩ miền Nam trong lòng công chúng, với các tác phẩm mang tình tự quê hương: Hương thanh bình, Mùa hoa phượng, Trăng thanh bình, Nhạc rừng khuya...

Sách "Lam Phương - Trăm nhớ ngàn thương". Ảnh: Phanbook.

 Tuy những bản nhạc ấy ít nổi tiếng hơn Khúc ca ngày mùa, nhưng là bước đệm quan trọng để khởi sự định hình một tên tuổi trong lòng người mê nhạc Sài Gòn. Đó cũng là nền tảng để Lam Phương giữ nhịp sáng tác đều đặn để rồi một ngày, những lưu dân, những người nhập cư nơi phố thị thấy tiếng lòng của mình đã được người nhạc sĩ trẻ cảm thấu và phổ nên giai điệu đầy cảm động. Ca khúc Kiếp nghèo ra đời.

Kỳ ba: Thoát nghèo nhờ 'Kiếp nghèo'

Chỉ với bài "Kiếp nghèo", nhạc sĩ Lam Phương mua được ngôi nhà cho mẹ trị giá 40 cây vàng vào thập niên 1960 đưa nhạc sĩ Lam Phương thoát nghèo.

Lam Phương mới có vài nhạc phẩm cũng có chút danh tiếng nhưng về thu nhập cũng chưa đáng là bao so với đời sống ở phố thị đắt đỏ. Trong sinh hoạt thường nhật, tuy là một nghệ sĩ, nhưng Lam Phương khá chừng mực trong chi tiêu. Một phần vì tuổi còn trẻ, phần khác vì xuất thân quê kiểng, Lam Phương không hút thuốc lá, không uống rượu hay tụ tập ở các tụ điểm, quán bar như các nghệ sĩ đương thời.

Nhạc sĩ Lam Phương thời trẻ. Ảnh gia đình cung cấp.

 Giữa năm 1954, những cơn mưa Sài Gòn trĩu nặng phủ kín phố phường, Đa Kao bị ngập úng nặng nề. Dòng kênh Nhiêu Lộc nước lé đé xóm Vạn Chài vốn chỉ được cơi nới bằng gỗ tạp, tạm bợ trên kênh. Lam Phương phờ phạc người, đạp xe về xóm trọ, thấy trước hiên nhà, má mình đang loay hoay hứng nước mưa.

Căn gác ọp ẹp hiện ra trước mắt người nhạc sĩ trẻ tuổi như một cảnh sống tối tăm của những phần đời mong manh, trôi nổi. Lam Phương đã nhẩm những nốt đầu tiên trong bài Kiếp nghèo. Có thể nói, đời sống khốn khó cơ cực từ khi mới lọt lòng cho đến lúc tha phương cầu thực đã được chàng nhạc sĩ nghèo viết xuống một cách giản dị và tự nhiên trên một giai điệu duy tình:

Đường về đêm nay vắng tanh, rạt rào hạt mưa rớt nhanh
Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi, mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh
Lầy lội qua muôn lối quanh, gập ghềnh đường đê tối tăm
Ngập ngừng dừng bên mái tranh nghe trẻ thơ thức giấc bùi ngùi.


Êm êm tiếng hát ngân nga ôi lời mẹ hiền ru thiết tha
Không gian tím ngắt bao la như thương đường về quá xa
Mưa ơi có thấu cho ta lòng lạnh lùng giữa đêm trường
Đời gì chẳng tình thương không yêu đương.


Thương cho kiếp sống tha hương thân gầy gò gởi cho gió sương
Đôi khi muốn nói yêu ai nhưng ngại ngùng đành lãng phai
Đêm nay giấy trắng tâm tư gởi về người chốn mịt mùng
Đời nghèo lòng nào dám mơ tình chung.


Trời cao có thấu cúi xin người ban phước cho đời con
Một mái tranh yêu, một khối tình chung thủy không hề phai
Và một ngày mai mưa không nghe tiếng khóc trong đêm dài
Đây cả nỗi niềm biết ngày nào ai thấu cho lòng ai.

Lần đầu tiên nghe Kiếp nghèo của Lam Phương - thế hệ nhạc sĩ đàn em và là học trò, nhạc sĩ Lê Thương đã phải thốt lên: "Người ta chỉ có thể dạy nhau kỹ thuật âm nhạc. Không ai có thể dạy nhau nghệ thuật sáng tác được. Cảm xúc mới là thứ quan trọng nhất để làm nên bản nhạc".

Hồi tưởng lại những ký ức xót xa, Lam Phương kể về tuổi mười bảy mưa chan nước mắt:

"Tôi viết bài Kiếp nghèo trong hoàn cảnh hoàn toàn thật của tôi lúc đó. Viết bằng rung động chân thành, và lần đầu tiên tôi viết bài Kiếp nghèo bằng những dòng nước mắt... Lúc đó tôi còn trẻ lắm, khoảng 1954, sau khi tôi bán được bài Trăng thanh bình đầu năm 1953, tôi để dành được một số tiền, mua một chiếc xe đạp để di chuyển đến trường học.

Nhà tôi ở Đa Kao. Thường thường muốn về Đa Kao phải đi qua con đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ). Con đường Phan Thanh Giản cây cối um tùm. Khoảng ngang trường Gia Long không có một căn nhà nào... Đêm đó, tôi chẳng may gặp một trận mưa rất to, không có nơi để trú mưa, đành phải đi dưới mưa để tìm 'thú đau thương'.

Lúc đó, tôi thấy mình thật cô đơn, thấy mình bé nhỏ và hình như bị đời ruồng rẫy đến vô tình. Tôi đi mãi cho tới khi về nhà, không kịp thay quần áo, ôm cây đàn và cứ thế viết về kiếp nghèo, về phận bạc của mình".

Lam Phương mất một tuần để chỉnh sửa lời và giai điệu cho Kiếp nghèo trước khi công bố ra công chúng thông qua hợp đồng xuất bản tờ nhạc với Nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam. Đây là nhà xuất bản do ông Tăng Duyệt, một người Huế gốc Quảng Đông, Trung Quốc sáng lập và làm chủ; có chủ trương được ghi trang trọng ở các bìa 4 của tờ nhạc:

"Để biểu dương một nguồn âm nhạc Việt Nam mới - trên nền tảng văn hóa và nghệ thuật - Nhà xuất bản Tinh Hoa đã và sẽ lần lượt trình bày những nhạc phẩm chọn lọc giá trị nhất của các nhạc sĩ chân chính với một công trình ấn loát mỹ thuật để biếu các bạn yêu âm nhạc góp thành một tập nhạc quý".

Và tờ nhạc Kiếp nghèo năm 1954 đã là một "công trình ấn loát mỹ thuật" với lối vẽ minh họa lập thể đầy sáng tạo của một trong những họa sĩ tài hoa bậc nhất miền Nam bấy giờ: họa sĩ Duy Liêm.

Một trong những ca sĩ ăn khách bậc nhất trên trang bìa tờ nhạc Tinh Hoa Miền Nam chính là ca sĩ Thanh Thúy, người đầu tiên thể hiện ca khúc Kiếp nghèo với tiếng hát liêu trai, khiến người nghe có thể bật khóc được nếu nghe trong một quán trọ giữa đêm khuya thanh vắng. Ca sĩ "tiếng sầu ru khuya" Thanh Thúy đưa Kiếp nghèo nhanh chóng phủ khắp Sài Gòn thông qua sóng phát thanh và dĩa nhựa của hãng Shotguns. Chưa dừng lại ở đó, giọng ca Thanh Tuyền tiếp nối đàn chị đưa bản nhạc trở thành bài hát thịnh hành bậc nhất những năm 1960 ở miền Nam.

Lam Phương tâm sự, chỉ với bài Kiếp nghèo, ông đã mua được ngôi nhà khang trang cho má mình ở cư xá Lữ Gia. Gia đình nhạc sĩ tiết lộ giá trị ngôi nhà thời điểm đó là 40 cây vàng. Năm 1960, "nhạn trắng Gò Công" - ca sĩ Phương Dung - đi hát ở mỗi phòng trà được cát-xê là 35.000 đồng/tháng, trong khi vàng chưa tới 30.000 đồng/cây. Trong khi đó, với Kiếp nghèo, Lam Phương thu tiền bán bản quyền lên tới 1.200.000 đồng để mua nhà cho má và các em.

Kiếp nghèo đã đưa nhạc sĩ nhập cư Sài Gòn thoát nghèo!

Kỳ 4: Thành phố buồn

Nhờ tiền tác quyền từ bài "Thành phố buồn", nhạc sĩ Lam Phương mua biệt thự 300 m2 ở quận 10 - hiện vẫn là tài sản gia đình ông.

Bản tình ca buồn về Đà Lạt trở thành best-seller

So với các nhạc sĩ cùng thời, Lam Phương có sáng tác về Đà Lạt hơi muộn. Trước đó, khán thính giả từng say đắm với chàng thanh niên 18 tuổi Từ Công Phụng ôm đàn guitar thùng và nghêu ngao Bây giờ tháng mấy.

Đà Lạt đi vào nhạc họ Từ đẹp đến quên sự hiện diện của thời gian. Người ta cũng biết rằng, Phạm Duy đưa Đà Lạt vào Cỏ hồng đầy quyến rũ. Có thể kể thêm những tên tuổi lớn khác như Trịnh Công Sơn, Hoàng Nguyên, Lê Uyên Phương... mà gần như các sáng tác đó đều hoàn hảo, vẽ ra một thành phố lãng mạn, giàu hoài niệm.

 

Thành phố buồn của Lam Phương ra đời năm 1970, khi nhạc sĩ theo đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương của quân đội đi trình diễn ở Đà Lạt. Bài hát không có từ nào nhắc đến Đà Lạt mà chỉ bằng hình ảnh lãng đãng khói sương, đường quanh co quyện gốc thông già, hay con đường ngày xưa lá đổ... mà khói sương Đà Lạt được gọi về thật nhiều trong tâm tưởng người nghe.

Tất cả hình ảnh đó được dùng để kể câu chuyện đúng phong cách Lam Phương: Lồng vào một chuyện tình tan vỡ (motif nhạc tình buồn của dòng bolero bình dân thịnh hành thời điểm này)!

Người ta bắt gặp sự đồng cảm khi nghe Thành phố buồn có lẽ vì khung cảnh Đà Lạt là thiên đường cho tình yêu, là tìm chốn êm đềm. Để rồi cũng chính đô thị khói sương ấy lại khắc khoải buồn trong bức tranh tiễn biệt.

Có nhiều dị bản của Thành phố buồn mà tựu trung ở ca từ "trốn" hay "chốn" cho một vế tiếp theo đầy ngậm ngùi "... phong ba, em làm dâu nhà người". Các ca sĩ khi hát thường phải sử dụng ngữ âm miền Bắc nên phụ âm "tr" thành "ch".

Đây là một điểm sai lầm so với nguyên bản của tác giả. Tờ nhạc Thành phố buồn in năm 1970 do Sống giữ bản quyền, được Lam Phương viết là "trốn phong ba". Tức là, người con gái trong ca khúc né tránh cơn bão lòng, lánh xa giông bão tình yêu, để chọn một bến đỗ có bề an phận.

Cũng như Bây giờ tháng mấy của Từ Công Phụng, Thành phố buồn của Lam Phương được Đài Phát thanh Đà Lạt phát sóng lần đầu tiên. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Thành phố buồn lan tỏa khắp miền Nam.

Và một lần nữa, theo khói sương u hoài của cuộc tình buồn trong tưởng tượng, chỉ với một ca khúc, tài khoản trong nhà băng của Lam Phương tăng đến mức khó tưởng tượng.

"Ông cho biết, bài hát trên không hẳn viết cho một nhân vật cụ thể nào như nhiều người đã suy diễn và thêu dệt. Nhưng ‘số lượng xuất bản rất cao’ và doanh thu bài hát này vô cùng lớn, đó là điều được báo chí Sài Gòn đương thời tính toán được: khoảng 12 triệu đồng bản quyền, tiền Việt Nam Cộng hòa (hồi suất chính thức năm 1970 là một USD = 275 đồng, vậy 12 triệu đồng tương đương 432.000 USD) - Con số này quá lớn với một ca khúc!

Để dễ hình dung, một chiếc xe hơi hiệu La Dalat của hãng Citroen sản xuất tại miền Nam Việt Nam vào năm 1971 có giá khoảng trên dưới 650.000 đồng" (Theo Nguyễn Vĩnh Nguyên viết trong Đà Lạt, một thời hương xa, NXB Trẻ, 2017)

Đối chiếu các dữ liệu từ gia đình nhạc sĩ hiện còn lưu trữ, phù hợp với thời điểm 1971 vợ chồng nhạc sĩ Lam Phương mua căn biệt thự gần 300 mét vuông ở số 42 đường Nguyễn Lâm, quận 10, Sài Gòn. Ngôi nhà này vẫn còn là tài sản của người thân gia đình nhạc sĩ Lam Phương.

Thành phố buồn không chỉ xuất hiện trên truyền hình, sóng phát thanh hay trên tờ nhạc mà đã trở thành bài hát quen thuộc của Ban Kịch Sống. Ký ức của người Sài Gòn xưa đi coi kịch của Ban Kịch Sống vẫn còn lưu giữ những kỷ niệm đặc biệt với Thành phố buồn. Như một bài báo của tác giả Thanh Thủy, có lẽ là một khán giả mê kịch vào thời điểm đó, đã thuật lại:

"Thời ấy, cứ mỗi tối thứ năm hàng tuần, Đài Truyền hình Sài Gòn có tiết mục thoại kịch và những vở kịch của Ban Kịch Sống của Túy Hồng bao giờ cũng thu hút nhiều người xem. Thời ấy truyền hình còn hiếm, người ta kéo nhau tới nhà những người có tivi để xem kịch.

Trong nhà, cửa ra vào, ô cửa sổ... đều chật cứng người xem. Tôi còn nhớ, khi bài hát Thành phố buồn của Lam Phương được hát dìu dặt trong suốt một vở kịch của Túy Hồng phát trên truyền hình. Sáng hôm sau bài hát ấy bán đắt như tôm tươi, chàng học sinh, sinh viên nào cũng muốn mua bài Thành phố buồn về để trên kệ sách" (Sách đã dẫn).

Vở kịch tác giả Thanh Thủy nhắc đến chính là Phi vụ cuối cùng nói về binh chủng Không quân mà nghệ sĩ kịch Túy Hồng đã nhắc đến.

 Ca sĩ thể hiện bài hát này xuất sắc chính là Chế Linh. Cùng với nhạc sĩ Từ Công Phụng, ca sĩ Chế Linh là giọng ca người Chăm được thính giả miền Nam những năm đầu thập niên 1970 ái mộ. Ông là một trong "tứ đại danh ca Sài Gòn" cùng với Nhật Trường (Trần Thiện Thanh), Duy Khánh và Hùng Cường.

Thành phố buồn đã đại chúng đến mức có thể người nghe không biết tên tác giả, nhưng chỉ ôm cây guitar thùng và đi một đoạn giai điệu theo lối slow rock, âm giai Mi thứ (Em), nhiều người sẽ nhận ra. Hiện nay bản nhạc đã qua nửa thế kỷ này vẫn liên tục được các ca sĩ trong và ngoài nước biểu diễn.

Còn sống, còn viết. Và viết để được sống lâu hơn là hai vế của mệnh đề mà người nghệ sĩ theo đuổi trong sáng tác. Nếu ứng điều này vào Lam Phương và chỉ dùng Thành phố buồn để dẫn chứng cho lập luận trên, Lam Phương sẽ sống mãi cùng những người yêu Đà Lạt, yêu âm nhạc!

 

Thành Phố Buồn

Tác giả Lam Phương

✧✧

Thành phố nào nhớ không em?
Nơi chúng mình tìm phút êm đềm
Thành phố nào vừa đi đã mỏi
Đường quanh co quyện gốc thông già

Chiều đan tay nghe nắng chan hòa
Nắng hôn nhẹ làm hồng môi em
Mắt em buồn trong sương chiều..
Anh thấy đẹp hơn ..

Một sáng nào nhớ không em?
Ngày chủ nhật ngày của riêng mình..
Thành phố buồn nằm nghe khói tỏa
Người lưa thưa chìm dưới sương mù


Quỳ bên nhau trong góc giáo đường
Tiếng kinh cầu dệt mộng yêu đương
Chúa thương tình, sẽ cho mình mãi mãi gần nhau.

Rồi từ đó vì cách xa duyên tình thêm nhạt nhòa
Rồi từ đó chốn phong ba, em làm dâu nhà người


Âm thầm anh tiếc thương đời,
Đau buồn em khóc chia phôi
Anh về gom góp kỷ niệm tìm vui.

Thành phố buồn, lắm tơ vương ..
Cơn gió chiều lạnh buốt tâm hồn
và con đường ngày xưa lá đổ..
Giờ không em sỏi đá u buồn..


Giờ không em hoang vắng phố phường..
Tiếng chuông chiều chậm chậm thê lương
Tiễn đưa người quên núi đồi,
quên cả tình yêu..(3 x)

Cuộc hôn nhân với Túy Hồng

Nhạc sĩ Lam Phương dạy nhạc, hát cho Túy Hồng và nảy nở tình cảm với học trò dù anh trai cô chỉ muốn em theo công việc kinh doanh.

Cơn say màu hồng và danh vọng nhiều người khao khát

Một sáng Sài Gòn đầu năm 1959, Lam Phương đến tòa soạn báo Vui Sống, vai đeo cây guitar và một túi xách nhỏ chứa đầy thư hâm mộ. Như bao lần quen thuộc mỗi khi có bài hát mới, chàng nhạc sĩ trẻ lại dành cho báo chí buổi phỏng vấn, trả lời những thắc mắc của người ái mộ.

Lam Phương và người vợ đầu tiên - Túy Hồng -

trong căn nhà mua được từ bán bản quyền bài hát "Thành phố buồn".

Hiện ngôi nhà này ở quận 10 (TP HCM), đang được gia đình Lam Phương sử dụng. Ảnh gia đình cung cấp. 

Theo đề nghị của ký giả Ngọc Huyền - Lan, Lam Phương ôm guitar hát bản nhạc mới nhất của mình là Kiếp ve sầu. Đó là bản rhumba rất buồn về thân phận và cuộc đời người nghệ sĩ lấy lời ca tiếng hát mua vui cho đời, như một kiếp ve ngắn ngủi.

Vốn thân quen với Lam Phương và bằng kỹ năng quan sát của nghề báo, Ngọc Huyền - Lan nhanh chóng phát hiện ra túi thư của khán giả hâm mộ. Khai thác chuyện tình cảm của nghệ sĩ là tài nguyên bất tận để câu khách nên cơ hội này khó bỏ qua với một nhà báo chuyên viết về giới văn nghệ như Ngọc Huyền - Lan.

Và bằng giọng văn hơi hướm "lá cải" của báo chí văn nghệ đương thời, Ngọc Huyền - Lan cho thấy mấy chi tiết khá quan trọng: Lam Phương đang yêu. Người yêu của Lam Phương rất ghen. Thư hâm mộ Lam Phương từ khắp nơi gửi về, cứ một tuần lại đầy thêm một túi xách. Lam Phương và người yêu sắp kết hôn. Người sắp trở thành "Lam Phương phu nhân" ấy là nghệ sĩ kịch nghệ Túy Hồng, lừng danh không kém trong giới sân khấu.

Đặc biệt, trong bài báo Lam Phương kể chuyện tình nghệ sĩ của mình đã nhắc đến thông tin quan trọng: "Cha mẹ chúng em đã hoàn toàn tán đồng, chỉ chờ chúng em có tiền là gửi thiệp hồng mời anh uống rượu". Lần đầu tiên, thông tin về người cha - cụ ông Lâm Đình Chất được nhắc đến. Chi tiết này cho thấy Lam Phương vẫn có mối quan hệ nồng ấm với thân phụ mình trong thời gian ở Sài Gòn, chứ không phải người cha ấy bỏ đi biệt tăm tích như lời thêu dệt lâu nay trên miệng đời. Năm 1989, cụ Lâm Đình Chất qua đời và được an táng tại Củ Chi.

Kịch sĩ Túy Hồng. Ảnh gia đình cung cấp.

Tên thật của Túy Hồng là Trương Ánh Tuyết, sinh năm 1940 và chỉ là một nữ sinh bình thường ở tỉnh Bình Dương; gia đình không có truyền thống văn nghệ. Cha mất sớm, Trương Ánh Tuyết sống với anh trai quyền huynh thế phụ.

Như một duyên lành với Lam Phương, khoảng năm 1955, công việc kinh doanh xe hơi của anh trai Ánh Tuyết khá lên. Người anh đưa em gái về Sài Gòn cho ăn học. Tình bạn của Lam Phương với anh trai Ánh Tuyết đã giúp cho mối tình của cặp đôi đẹp trong giới sân khấu - ca nhạc được nảy nở và tác thành.

Lam Phương đa tình, lãng tử mới có chút danh tiếng nên bắt gặp ánh mắt trong trẻo, nụ cười hồn hậu của thiếu nữ Bình Dương liền đem lòng cảm mến. Về phần mình, cô nữ sinh nhỏ cũng rung động đầu đời với người thanh niên viết nhạc, nuôi giấc mộng thành nhạc sĩ.

Ngày đầu đến với nhau, quan hệ của Lam Phương - Túy Hồng thuần túy tình thầy trò. Lam Phương dạy nhạc, dạy hát còn Túy Hồng muốn theo con đường nghệ thuật, bất kể sự cấm cản của người anh trai chỉ mong em gái mình theo hướng kinh doanh.

Những năm đầu thập niên 1950, sân khấu kịch khá phát triển ở cả hai miền Nam - Bắc. Tại Sài Gòn, kịch dễ có đất diễn hơn khi đầu thế kỷ 20, loại hình "cải cách ca ra bộ" đã phát triển thành "tuồng tích sánh văn minh".

Tức là những bản ca tài tử đã được sân khấu hóa bằng kịch bản cải lương làm say đắm giới mộ điệu. Thoại kịch cũng theo đó dần trở nên quen thuộc với khán giả với sự xuất hiện của ban kịch đầu tiên của người Việt ở Sài Gòn là Ban Kịch Dân Nam của ông bầu Anh Lân.

Túy Hồng và Lam Phương

Ngày đầu mới thành lập, Ban Kịch Dân Nam chỉ có ba diễn viên là Tuyết Vân và hai mẹ con Túy Hoa, Túy Phượng. Có thể đó là lý do khi gia nhập đoàn kịch sau khi trúng tuyển cuộc thi tuyển chọn diễn viên, Trương Ánh Tuyết là lấy nghệ danh là Túy Hồng, nghĩa là cơn say màu hồng. 

Những ngày đầu lên sân khấu Dân Nam, Túy Hồng vẫn chưa tạo được cơn say nào. Tình cảnh này hệt như Lam Phương thời mới viết ca khúc Chiều thu ấy. Cô nghệ sĩ trẻ loanh quanh với các vai phụ trong các vở đoản kịch. Cho tới khi ông bầu Anh Lân mời Kim Cương, là một nữ nghệ sĩ cải lương về đầu quân cho ban kịch và trình diễn vở Áo người trinh nữ.

Trong vở này, Túy Hồng đóng vai phụ, Kim Cương vai chính. Vở diễn đã lấy hết nước mắt người xem.

Một trong những giai đoạn hạnh phúc nhất đời Lam Phương chính là cuộc sống hôn nhân với Túy Hồng. Đôi vợ chồng mới cưới có tất cả những gì mà người đời mơ ước: danh vọng, tiền tài, sự nổi tiếng và cả cuộc sống yên bình bên con thơ...

Quan trọng hơn tất thảy, đám cưới năm 1959 của đôi nghệ sĩ Lam Phương - Túy Hồng có sự hiện diện của cụ ông Lâm Đình Chất và cụ bà Trần Thị Nho - song thân của nhạc sĩ Lam Phương. Gia đình nhỏ trở thành một dịp để hạnh ngộ một gia đình lớn nhiều tháng năm ly tan trôi nổi.

Nhạc sĩ Lam Phương

 

Hình Internet

Hồng Anh st tổng hợp

 

Theo dõi RSS này