Kim Phượng

Kim Phượng

Tiến sĩ Dự Bị Alex-Thái Võ Về Dự án Di Sản VNCH Và Lịch Sử Người Mỹ Gốc Việt

Thế Hệ Sử gia Trẻ: Tiến sĩ Dự bị Alex-Thái Võ

- Triều Giang-

 
 
Phỏng vấn: Thế hệ Sử gia trẻ
Tiến sĩ Dự Bị Alex-Thái Võ Về Dự án Di Sản VNCH Và Lịch Sử Người Mỹ Gốc Việt
 
·         Triều Giang thực hiện
(Hình do Alex-Thai Võ cung cấp)
 
LTGDự án Di Sản VNCH và Lịch Sử Người Mỹ Gốc Việt do Trung Tâm Á Châu Học của Đại học Oregon (UO) và Hội Bảo Tồn Lịch Sử Văn Hóa Người Mỹ Gốc Việt (VAHF) hợp tác thực hiện với sự khuyến khích và hỗ trợ của một số cựu viên chức VNCH nhằm mục đích đào tạo và khuyến khích thế hệ sử gia trẻ viết về VNCH và Lịch Sử Người Mỹ Gốc Việt. Dự án sẽ được Giáo sư Tường Vũ người điều hành Dự án và cũng là Giám đốc của Trung tâm Á Châu học tại Đại học Oregon chính thức giới thiệu tại Hội thảo: “Nghiên Cứu Về Việt Nam Cộng Hòa: Vấn Đề, Thử Thách Và Triển Vọng” vào hai ngày 14&15 tháng 10 sắp tới. Người được chọn đầu tiên để hoàn thành luận án hậu tiến sĩ trong dự án này là anh Alex-Thái Võ, người sẽ nhận bằng Tiến sĩ về Sử học từ Đại học Cornell vào cuối năm nay.
<!>
Alex- Thái đến Mỹ cùng với gia đình theo diện HO lúc 8 tuổi. Biết rằng theo đuổi ngành nhân văn, nhất là Sử học thì khó kiếm việc nhưng qua kinh nghiệm bản thân, anh nhìn ra được sự khiếm khuyết và bất công trong sách sử hiện đại đối với người dân từng sống dưới thời VNCH tại VN cũng như tại hải ngoại nên anh quyết tâm kiên trì theo học. Anh đã từ chối một vài vị trí nghiên cứu sinh để hợp tác với Dự án vì anh tin rằng Dự án sẽ giúp anh thực hiện được niềm ước mơ và đam mê của mình.
Để độc giả hiểu rõ hơn về Alex-Thái và chương trình làm việc của anh với Dự án, chúng tôi thực hiện một cuộc phỏng vấn ngắn dưới đây. Xin mời độc giả theo dõi.
 
Triều Giang: Chào anh Alex, anh có thể tự giới thiệu ngắn gọn về thân thế và học vấn?
Alex Thái: Thưa, xin tự giới thiệu tôi là Alex-Thái Đình Võ, sinh ra ở Quảng Ngãi, Việt Nam, và cùng gia đình sang định cư tại California, Hoa Kỳ, vào năm 1990 theo diện H.O. Tôi bắt đầu học ở Mỹ từ cấp tiểu học và sau đó học đại học tại trường University of California, Berkeley, theo ngành Chính Trị Học [Political Science]. Ra trường năm 2005 và sau hai năm làm việc thì tôi quyết định học thạc sĩ ở Đại Học Cornell University theo ngành Á Châu Học [Asian Studies]. Năm 2013, tôi trở lại Cornell để theo đuổi bậc tiến sĩ ở môn sử học, dưới sự hướng dẫn của Giáo Sư Keith Taylor, giáo sư sử học về Việt Nam. 
Chủ đề học của tôi là lich sử Á Châu với trọng tâm nghiên cứu là lịch sử Việt Nam thế kỷ 20, đặc biệt chú trọng về các cuộc chiến tại Việt Nam từ giai đoạn 1945 đến 1990. Chủ đề nghiên cứu luận văn tiến sĩ của tôi là chính sách cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, từ giai đoạn 1945 đến 1960. Thời gian vừa qua tôi đã xuất bản hai bài nghiên cứu về chủ đề ấy. Một bài về Hồ Chí Minh và địa chủ Nguyễn Thị Năm cùng những quyết định đưa đến việc thi hành chính sách cải cách ruộng đất. Bài thứ nhì về La Quý Ba, cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam, và ảnh hưởng trong cải cách ruộng đất. Có thể tìm hai bài này tại trang: https://cornell.academia.edu/AlexThaiVo. Ngoài chủ đề cải cách ruộng đất thì tôi còn nghiên cứu về những biến đổi xã hội, văn hoá, kinh tế và chính trị tại Việt Nam, điển hình như: Nhân-Văn Giai-Phẩm, đi cư và tập kết 1954, chính sách cải tạo, vượt biên và định cư, kiểm duyệt đối với văn học nghệ thuật, cũng như vấn đề ký ức và di sản chiến tranh thời hậu chiến. Ngoài ratrong thời gian học tiến sĩ tôi cũng có thành lập một dự án lịch sử mang tên “Dự Án Lịch Sử Truyền Khẩu về Cuộc Chiến Việt Nam”.  Đầu năm nay dự án này đã ra mắt bộ phim 17 tập về sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Việt Nam qua cái nhìn ông Bùi Diễm, Đại Sứ Việt Nam Cộng Hoà tài Hoa Kỳ. Chi tiết về dự án này có thể cập nhật tại: https://vietnamwarohp.com.
 
Triều Giang: Lý do khến Alex chọn ngành sử mà không chọn các ngành nghề khác dễ dàng tìm việc mưu sinh hơn?
Alex-Thai: Thực tế ngành sử không phải là ngành dễ dàng tìm việc mưu sinh. Mỗi năm nhiều nhất thì có được 2-3 vị trí trống để vài trăm tiến sĩ cạnh tranh. Nói chung ai theo đuổi ngành sử và khoa học xã hội đều nhận biết được sự khó khăn này, nhưng đa số vẫn theo đuổi nó vì trách nhiệm và đam mê. Tôi theo đuổi môn lịch sử về chiến tranh Việt Nam là vì hai yếu tố trên. Trách nhiệm xuất phát từ những kinh nghiệm cá nhân, tuy nhỏ bé nhưng lại có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ và lựa chọn của mình. Trong đời tôi có bốn sự việc ảnh hưởng quyết định này: Thứ nhất là lúc khoản 6-7 tuổi khi bị người trong xóm gọi là “con nguỵ” và tỏ thái độ phân biệt nhưng lại không hiểu vì sao mình bị gọi vậy và cũng không hiểu hai từ “con nguỵ” là gì. Khi về hỏi ba thì ba bảo đừng nhắc đến hai từ đó và từ đó thì hai từ đó nó như một sự ám ảnh. Thứ nhì là khi chứng kiến cảnh người anh đau buồn và vô vọng vì không được vào đại học dù điểm thi vào đại học cao hơn điểm quy định. Lý do là bởi lý lịch gia đình. Th ba là khi học lớp 7 ở Mỹ và bị một cậu bạn nhận định một câu về gia đình ngay sau khi học về cuộc chiến Việt Nam. Cậu ấy hỏi: “Gia đình mày là từ phía nào?” Tôi trả lời: “Nam”. Ngay lập tức cậu ấy la lên: “A, vậy gia đình mày thua là xứng đáng.” Lần thứ tư xẩy ra ở Đại Học Berkeley, khi bị một giáo sư cho điểm “F-” cho một bài văn viết về chiến tranh Viết Nam, trong đó tôi có góp ý với vị giáo sư về những thành kiến và thiên lệch ông thể hiện trong cách ông giản dạy và đưa ra chứng cứ về chiến tranh Việt Nam. Ông trả lời với một trang bình luận và bảo lý do tôi có những góp ý vậy là vì tôi không thoát được cái cay đắng xuất phát từ việc gia đình tôi đã bị thua cuộc. 
            Bốn sự kiện ấy làm tôi nghĩ về lịch sử, về bản thân và về những gì mình có thể làm để hiểu rõ hơn về lịch sử, nhất là lịch sử cuộc chiến Việt Nam và những ảnh hưởng của nó, mà không bị ảnh hưởng bởi những định kiến thiên lệch. Từ đó tôi cho việc tìm tòi, nghiên cứu, và lưu truyền lại những câu chuyện lịch sử là một trách nhiệm của mình. Trách nhiềm đó dần trở thành đam mê, mà đam mê là sự mù quáng”, đôi khi bất chấp hết những lẽ thường để cứ được theo đuổi cái mình muốn tìm hiểu và lưu truyền. Thành ra dù biết ngành nghề này khó cho việc mưu sinh, nhưng tôi vẫn chấp nhận kiên trì theo đuổi. Theo đuổi để được hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử đã ảnh hưởng không chỉ riêng mình mà còn không biết bao nhiêu người khác cũng như vận mệnh đất nước. Theo đuổi để được ghi lại những câu chuyện của những người đã từng sống qua những giai đoạn ấy, từ câu chuyện của giới lãnh đạo đến câu chuyện của người nông dân, để rồi thế hệ sau còn cơ hội hiểu thêm về quá khứ, hiện tại và tương lại của chính họ.
 
Triều Giang: Được biết Alex đã nhận lời hợp tác với Dự án Di sản VNCH và Lịch Sử  Người Mỹ Gốc Việt, xin Alex cho biết lý do và những dự định của Alex sẽ làm gì cho dự án?
Alex-Thai: Vừa qua tôi có nhận được đề nghị một vài vị trí nghiên cứu ở vài nơi nhưng cuối cùng quyết định hợp tác với Viện Nghiên Cứu Toàn Cầu của trường Đại Học University of Oregon và Dự Án Di Sản VNCH và Lịch Sử Người Mỹ Gốc Việt do Giáo Sư Tường Vũ đứng đầu. Lý do tôi hợp tác vì thấy dự án hợp với mục tiêu và hướng nghiên cứu của tôi trong những năm kế. Là một người Mỹ gốc Việt, ưu tư về lịch sử, nên tôi nhận thức rất rõ tầm quan trọng của việc viết và lưu truyền lịch sử về Việt Nam Cộng Hoà và về người Mỹ gốc Việt. Quan trọng vì những trang sử về hai chủ đề ấy hiện đang còn rất trống mà những người đã từng sống qua những giai đoạn lịch sử ấy thì đã qua đời hoặc cũng rất lớn tuổi. Tôi hợp tác vì muốn tận dụng cơ hội này và thời gian tới để duy trì lại lịch sử Việt Nam Cộng Hoà cũng như lịch sử người Mỹ gốc Việt.
            Trong cương vị của mình với dự án, tôi dự định sẽ làm những việc sau: 1) Trình bày nghiên cứu của mình tại hai hội thảo vào năm tới (2020). Một ở Trung Tâm Vietnam Center, Đại Học Texas Tech University và một ở SHAFR, Hiệp Hội Các Nhà Sử Học Về Quan Hệ Đối Ngoại Của Mỹ; 2) Phụ với Giáo Sư Tường Vũ trong việc chỉnh sửa và xuất bản các báo cáo nghiên cứu được trình bày tại Hội thảo về Chủ Nghĩa Cộng Hoà Việt Nam tại Đại Học Oregon vào tháng 10 năm 2019; 3) Góp phần lên kế hoạch và tổ chức một hội nghị vào mùa hè năm 2020, sẽ được tổ chức tại Bảo Tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa (còn gọi là Bảo tàng Việt) tại San Jose nhân kỷ niệm 65 năm thành lập Việt Nam Cộng Hòa; 4) Phỏng vấn các học giả, bao gồm các ứng viên tiến sĩ, đang tiến hành những nghiên cứu tiên tiến về chủ đề liên quan đến Việt Nam Cộng Hoà và Người Mỹ Gốc Việt, để xuất bản trực tuyến; 5) Phỏng vấn những nhân vật nổi bật của Việt Nam Cộng Hòa có liên quan đến lĩnh vực chính trị, văn hóa, nghệ thuật, kinh doanh, giáo dục và các tổ chức dân sự để rồi đăng tải trực tuyến các cuộc phỏng vấn đó; 6) Viết và xuất bản một số bình luận về các sách nghiên cứu về chủ đề trong dự án; và 7) Tạo một thư mục gồm các nhà nghiên cứu và học giả đã và đang thực hiện nhưng nghiên cứu về chủ đề liên quan đến dự án.
 
Triều Giang: Alex có muốn chia sẻ với cộng đồng diều gì, đặc biệt là giớ trẻ?
Alex-Thai: Tôi muốn chia sẻ với cộng động, từ những cô bác đến các bạn trẻ, vài suy nghĩ về tầm quan trong của lịch sử và việc duy trì lịch sử. Lịch sử đối với nhiều người là cái gì rất xa lạ, nhàm chán, khô khan, phức tạp, thành vì vậy nên nó hay bị xem thường. Lịch sử, đặc biệt là lịch sử cuộc chiến Việt Nam, trong đó có Việt Nam Cộng Hoà và những ảnh hưởng tạo nên cộng đồng người Mỹ gốc Việt hiên nayluôn là vấn đề quan trọng vì đặc tính của nó là ở sự bất diệt và bền vững. Lịch sử là nền tảng định hình chúng ta là ai—quá kh, hiện tại, và tương lai—nên việc hiểu nó luôn là điều cần thiết. Như nhà hùng biện Marcus Garvey đã từng nói, “Một người không có kiến thức về lịch sử quá khứ của họ, nguồn gốc và văn hóa [thì cũng] giống như một cái cây không có rễ. Hoặc như nhà văn Hermann Hesse nhận định, “Không có từ ngữ, không có văn bản và không có sách sẽ không có lịch sử, [thành sẽ] không thể có khái niệm về nhân loại.”
Riêng về lịch sử chiến tranh Việt Nam, có người nói“Đề tài xưa như trái đất không phù hợp cho giới trẻ và thời cuộc hiện nay. Đã thua rồi thì không còn gì để nói chỉ để cho lịch sử phán xét mà thôi.” Câu nói khi nghe thoáng qua thì thấy bình thường nhưng thể hiện một vấn đề khá nghiêm trọng trong nhận thức của nhiều người về lịch sử, cụ thể là lịch sử cuộc chiến Việt Nam. Trước hết, lịch sử là gì, từ đâu mà có, mà ta hiển nhiên cho rằng nó có khả năng phán xét? Lịch sử tự nó làm sao phán xét? Lịch sử đâu phải là một thực thể tự nó có thể tìm tòi, so sánh, suy luận và nhận định để rồi phán xét. Đúng, đến nay cuộc chiến chấm dứt đã gần 45 năm và không biết đã có bao nhiêu sách vở đã viết về nó, nhưng sự thật cần nhìn nhận là đến nay thì chúng ta vẫn còn chưa biết và chưa hiểu hết về nó. Đặc biệt là những khía cạnh xã hội, kinh tế và văn hóa, hoặc từ quan điểm và cái nhìn của người thua cuộc hoặc những thường dân.  
Một trong những lý do chính là, như Thủ Tướng Winston Churchill của Anh đã từng nói, “Lịch sử đã/và sẽ được viết bởi những người chiến thắng,” những người có quyền lực và khả năng để họ có thể tường thuật và định hình lịch sử sẽ và phải được nên viết như thế nào. Nếu lịch sử đã và sẽ được viết bởi những người thắng cuộc, những người có quyền hành, vậy những người thua cuộc hoặc những người ở vị thế yếu không có quyền lực thì sao? Có phải vô hình trung tiếng nói của họ đã và sẽ tiếp tục bị vùi dập qua các hình thức kiểm duyệt hay bị loại bỏ khỏi sách sử? Vậy lịch sử cuộc chiến trong học đường Việt Nam hoặc kể cả nhà trường ở Hoa Kỳ có thật sự đầy đủ và trung thực không? Câu trả lời chắc chắn là không thì tại sao chúng ta phải dị ứng lịch sử, kể cả lịch sử chiến tranh. Nếu lịch sử của chính chúng ta mà chúng ta không tìm hiểu, không viết, không duy trì thì đừng trách tại sao lịch sử người khác viết lại có những sai lệch, những định kiến và phiến diện về chúng ta.  
Vì trân quý lịch sử và hiểu rõ tầm quan trọng của nó, Thái xin thành khẩn yêu cầu các cô bác và các anh chị em hãy viết, hãy phỏng vấn và ghi âm lại những câu chuyện của mình, của ông bà cha mẹ và anh em mình, hầu để lưu truyền lại cho con cháu mai sau được cơ hội biết và hiểu hơn về nguồn gốc nguồn gốc của chính họ. Những câu chuyện của quý vị sẽ góp phần dựng lại bức màn lịch sử Việt Nam (VNCH và Người Mỹ Gốc Việt) thêm đa dạng và đầy thú vị—từ những biến động về chính trị và quân sự đến những sinh hoạt kinh tế, xã hội, cũng như văn hóa, phong tục và cuộc sống thường ngày, cho đến những cuộc đổi đời để có sự hiện diện của chính chúng ta và con cháu chúng ta trên đất Hoa Kỳ ngày hôm nay. Những câu chuyện muôn mầu muôn vẻ ấy sẽ làm phong phú và sáng tỏ thêm lịch sử và đời sống con người Việt Nam, vì khía cạnh ấy gần như vắng bóng trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Thưa các cô bác và các anh chị em, chúng ta ai ai cũng đều có trách nhiệm với lịch sử, thành vì vậy nên xin quý vị đừng đánh mất lịch sử mà hãy cố lưu truyền nó.
 
Triều Giang: Alex có ước vọng gì cho tương lai mà có thể chia sẻ với độc giả?
Alex-Thái: Ước vọng tương lai của Thái là thành lập một trung tâm lưu trữ tài liệu về Việt Nam ở Hoa Kỳ, nhằm thu thập, lưu trữ, khai thác, và phổ biến dữ liệu, ký ức, và suy nghĩ liên quan đến những kinh nghiệm trong lịch sử, đặc biệt là lịch sử chiến tranh tại Việt Nam cũng như lịch sử cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại. Mục đích của dự án này là để góp phần trong việc duy trì lịch sử của người Việt Nam. Thái mong một ngày, với sự góp sức của quý vị, trung tâm sẽ được thành lập và được lưu trữ những câu chuyện, những dữ liệu lịch sử của chính quý vị.
Mọi liên lạc xin email: alexthaivo@gmail.com.
Triều Giang: Chân Thành cám ơn Alex-Thái đã dành thì giờ cho cuộc phỏng vấn hữu ích này.
 
TG
 

Trả lại sự thật cho lịch sử

Di tản từ Nha Trang vào Sài Gòn những ngày cuối cuộc chiến Việt Nam, 1975.

Di tản từ Nha Trang vào Sài Gòn những ngày cuối cuộc chiến Việt Nam, 1975.

 
Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt 44 năm tính đến ngày 30-4-2019 tới đây (1975-2019). Nhưng vẫn còn nhiều bất đồng giữa người Việt Nam cũng như người ngoại quốc từng tham gia cuộc chiến trong việc định danh, định hình, định tính, định lượng về cuộc chiến tranh này. Sau chiến tranh đã có nhiều bài viết, cuốn sách, một số bộ phim tài liệu và các cuộc hội thảo chuyên đề hàng năm về chiến tranh Việt Nam đó đây ở Hoa Kỳ, nhưng vẫn chưa thống nhất quan niệm Chiến tranh Việt Nam thực chất là chiến tranh gì, do ý đồ của các bên tham chiến khác nhau.

Trên lãnh vực phim ảnh, các nhà đạo diễn Hoa Kỳ đã giàn dựng lại cuộc chiến Việt Nam, mặc dầu trên danh nghĩa do tư nhân thực hiện, song thường là có chủ đích phục vụ cho các chính sách ngoại giao và mục tiêu chiến lược từng giai đoạn của Hoa Kỳ. Những nhà làm phim lại thường dựa hầu hết trên tài liệu phim ảnh của phong trào “phản chiến Hoa Kỳ” và bên “Việt cộng” (được chọn là bên thắng cuộc) là một trong hai bên tham chiến là người Việt Nam mang ý thức hệ cộng sản (communism) thuộc phe xã hội chủ nghĩa do Nga-Tàu đứng đầu trong cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Vì vậy thường thiếu khách quan, sai sự thật, không công bằng với bên tham chiến thứ hai là “Việt quốc” (bị buộc là bên thua cuộc) cùng là người Việt Nam mang ý thức hệ quốc gia (Nationalism), có mâu thuẫn đối kháng với ý thức hệ cộng sản (communism) thuộc phe các nước tư bản chủ nghĩa do Hoa Kỳ lãnh đạo.

Chẳng hạn điển hình có bốn Bộ phim tài liệu về chiến tranh Việt Nam. Một là bộ phim “Vietnam The Ten Thousand Day War” của Michael Maclear sản xuất năm 1980 gồm 13 tập. Hai là bộ phim “Vietnam: A Television History” gồm 13 tập do hãng WGBH-TV (thuộc PBS) ở Boston sản xuất năm 1983. Ba là phim “The Last days in Vietnam” do đạo diễn Rory Kennedy thực hiện và phổ biến năm 2014. Bộ phim thứ tư mới nhất The Vietnam War gồm 10 tập, thời lượng kéo dài 18 tiếng đồng hồ của hai nhà đạo diễn phim tài liệu nổi tiếng của Mỹ là Kenn Burnes và Lynn Novick, được khởi chiếu hôm 17-9-2017, trên hệ thống truyền hình PBS (Public Broadcasting Service).

Theo nhận định của chúng tôi, hai bộ phim đầu sản xuất vào các năm 1980 và 1983 như có chủ đích biện minh cho việc Hoa Kỳ trực tiếp tham chiến (1965-1973) là cần thiết, chính đáng, phù hợp với quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ. Đồng thời, việc rút chân ra khỏi cuộc chiến (1973) đưa chiến tranh Việt Nam đi đến kết thúc là chính phủ Hoa Kỳ đã làm theo đòi hỏi của nhân dân thể hiện qua cao trào “phản chiến” lan rộng khắp nước Mỹ. Còn hai bộ phim sau sản xuất vào các năm 2014 và 2017 được hiểu như là cách biện minh cho việc Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận, thiết lập quan hệ với chế độ cộng sản Việt Nam năm 1995, vốn là đối phương trong cuộc chiến trở thành đối tác chính danh sau 20 năm chấm dứt cuộc chiến, cũng là cần thiết, chính đáng, có lợi cho quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ.

Chính vì vậy mà các bộ phim nói trên đã từng gây phẫn nộ đối với những người Việt Nam mang ý thức hệ quốc gia, phần đông sống ở Miền Nam Việt Nam và từng tham gia một bên trong cuộc chiến Việt Nam, với chính quyền chính thống quốc gia Việt Nam Cộng Hòa (gọi chung là bên Việt Quốc). Vì nội dung các bộ phim trên đều thiếu khách quan, sai sự thật, không thể hiện được thực chất chiến tranh Việt Nam một cách trung thực, công bằng cho các bên tham chiến, giúp người xem phim phân biệt được đâu là chính nghĩa, đâu là ngụy nghĩa trong cuộc chiến Việt Nam.

Chính vì vậy mà từ lâu đã có những nỗ lực đòi trả lại sự thật lịch sử cho cuộc chiến Việt Nam, của cá nhân cũng như tập thể về phía những người Việt quốc gia. Tất cả cho rằng phía những người Việt Nam cộng sản (gọi tắt: Việt cộng) đã cố tình bóp méo lịch sử về cuộc chiến Việt Nam (1954-1975) để ngụy biện cho việc họ chủ động thực hiện cuộc chiến tranh “cốt nhục tương tàn” này, là vì ‘độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam”. Trong khi sự thật lịch sử là Việt cộng đã “ngụy dân tộc” trước (trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954) cũng như trong cuộc chiến Việt Nam (1954-1975) để đánh tráo lịch sử giữa “chính nghĩa dân tộc” (Việt quốc) và “ngụy nghĩa dân tộc” (Việt cộng). Nói cách khác Việt cộng đã “ngụy dân tộc”, dùng chủ nghĩa yêu nước (chống ngoại xâm) để “cướp chính quyền” thực hiện chủ nghĩa xã hội (giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản).

Vì vậy, điển hình cho những nỗ lực trả lại sự thật lịch sử cho cuộc chiến Việt Nam mới nhất nhưng chưa phải là cuối cùng, là nỗ lực của một cá nhân và của một tập thể. Chúng tôi muốn nói đến cá nhân anh Alex Thái Đ. Võ, tác giả dự án Lịch sử truyền khẩu và một tập thể đang thực hiện một phim tài liệu phản bác những sai lầm của bộ phim nhiều tập The Vietnam war của hai đạo diễn người Hoa Kỳ Ken Burn và Lynn Novick.

1 - Cá nhân Alex Thái Đ. Võ với dự án Lịch sử truyền khẩu.

Theo tin Đài VOA mới đây, Alex Thái Đ. Võ là một nghiên cứu sinh Tiến sĩ tại đại học Cornell, Hoa Kỳ, thuộc thế hệ trẻ. Anh vừa hoàn tất bộ phim lịch sử nhan đề Con người và Lịch sử và vừa được ra mắt tại trường ĐH George Mason, Virginia hôm 02/03 vừa qua. Bộ phim có thời lượng 17 tiếng, được chia làm 15 phần, nằm trong một dự án nghiên cứu lịch sử chiến tranh Việt Nam theo thể thức truyền khẩu. Là một dự án học thuật phi lợi nhuận, phải mất sáu năm ròng rã kể từ 2012 thì tác giả Alex Thái mới hoàn thành bộ phim và cho ra mắt khán giả.

Chiếm trọn toàn bộ thời lượng của bộ phim là lời của cựu đại sứ Bùi Diễm, kể về những điều mà ông đã “mắt thấy, tai nghe” trong suốt hàng chục năm hoạt động trong ngành ngoại giao, cũng như chính giới của VNCH, giữ các chức vụ như Tổng trưởng Phủ Thủ Tướng, Uỷ viên Ngoại giao, và Đại sứ VNCH tại Hoa Kỳ. Trả lời phỏng vấn của VOA, cựu đại sứ Bùi Diễm nói “Sự thực thì không có cao vọng gì về việc làm lịch sử hay viết lịch sử, chỉ là một cái mong muốn trung thực muốn góp phần vào để cho mọi người hiểu rõ hơn về những cái khía cạnh phức tạp của cuộc chiến tranh ở Việt Nam và đặc biệt là sự can thiệp của người Mỹ trong chiến tranh với Việt Nam.”

Như nhiều người đã biết, bản thân cựu Đại sứ Bùi Diễm đã từng viết nhiều tác phẩm bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt nói về cuộc chiến Việt Nam (như Việt Nam trong Gọng kìm lịch sử…). Ông cho biết vẫn muốn tham gia dự án này bởi tự thấy mình có một sứ mệnh phản bác lại những thông tin lịch sử sai lệch về miền Nam Việt Nam cũng như sự can dự của Mỹ. Ông nói “Là một người Việt Nam đã có bổn phận đối với đất nước Việt Nam và đồng thời cũng đã có dịp tham gia vào những cuộc hội đàm giữa Mỹ và Việt Nam, tôi có bổn phận phải nói lên những điều mà tôi đã biết, mắt thấy tai nghe.”

Trả lời phỏng vấn anh Alex Thái Đ. Võ nói “Khi mà mình gặp cựu đại sứ Bùi Diễm thì ông đã 90 tuổi rồi, thì mình cũng không biết ông sẽ còn với mình được bao lâu nữa mà mình là người học sử thì mình hiểu được rằng những cái người này mà không còn nữa thì lịch sử nhiều khi nó cũng sẽ đi chung với họ luôn. Vậy nên mình nghĩ là cần phải tận dụng thời gian để giữ lại những lịch sử đó cho chính bản thân mình, và tương lai con em của mình.”. Vì thế tác giả dự án Lịch sử truyền khẩu tâm sự “Khó khăn lớn nhất là ở việc đi lại đường xa, cựu đại sứ ở Washington D.C còn mình ở New York, và mỗi lần phỏng vấn như vậy, vì để tiết kiệm tiền, mình phải lái xe đi xuống, ở khoảng chừng hai ngày, phỏng vấn. Vì cụ cũng lớn tuổi rồi nên cứ phải vừa làm vừa nghỉ, rồi lại phải trở lại New York, mấy tháng sau mới xuống lại”….

Một người tham dự buổi chiếu ra mắt bộ phim lịch sử nhan đề Con người và Lịch sử, Chị Phạm Bích Hà, ở Virginia nói với phóng viên, rằng “Đối với tôi thì nó quan trọng bởi vì nếu mình không làm những điều này, mình không nói thì mười năm, hai mươi năm hay năm mươi năm nữa con cháu của chúng ta sẽ không biết được cái nguồn gốc của chúng ta, vì cái lịch sử một chiều ở Việt Nam hiện giờ, thì tất cả những cái gì đã xảy ra với VNCH sẽ bị quên lãng.”

Còn với Alex Thai Đ Võ tác giả dự án lịch sử truyền khẩu, mặc dầu nỗ lực rất lớn khi một mình thực hiện bô phim lịch sử dài như thế, song trong cuộc phỏng vấn khiêm tốn nói là anh không có tham vọng bao quát hết lịch sử của cuộc chiến Việt Nam; hay đưa ra bất kì kết luận về sự kiện lịch sử nào. Tác giả của dự án chỉ mong muốn, thông qua lời kể của những nhân chứng sống, có thể phần nào vẽ nên bức tranh miền Nam Việt Nam để người xem hiểu rõ hơn về cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc. Anh sẽ tiếp tục việc làm như thế sau này.

2 - Tập thể với nỗ lực thực hiện phim tài liệu phản bác những sai lầm trong bộ phim The Vietnam War.

Tập thể điển hình tại Houston, Tiểu bang Texas mới đây đã hình thành một Ban tổ chức gây quỹ hỗ trợ cho một đạo diễn vốn là cựu chiến binh từng tham chiến tại Việt Nam để thực hiện một cuốn phim phản bác lại những sai lầm, thiếu khách quan, bóp méo lịch sử, xúc phạm nặng nề đến chính nghĩa, tinh thần đấu tranh vì đất nước, vì dân tộc, cho độc lập quốc gia, lý tưởng tự do, dân chủ của quân, dân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến Việt Nam hôm qua.

Ban tổ chức bao gồm các đoàn thể tôn giáo, chính trị, xã hội đã phát động cao trào yểm trợ tài chánh từ hơn một tháng qua, để thực hiện cuốn phim nhan đề tiếng Anh “The Vietnam War Through Our Eyes” (Chiến tranh Việt Nam qua cái nhìn của chúng tôi) do đạo diễn Fred Koster thực hiện. Cuốn phim không dài, dự trù khoảng 1 giờ 30 phút, chi phí khiêm tốn dự trù khoảng 250 ngàn dollar, thực hiện trong khoảng một năm; hiển nhiên là không thể so với bộ phim dài nhiều tập The Vietnam War, tới 18 tiếng, chi phí tới 30 triệu dollar, thực hiện trong 10 năm. Thế nhưng, đây là cuốn phim thứ hai về cuộc chiến Việt Nam, sau cuốn phim “Ride The Thunder” do đạo diễn Fred Koster và có sự cộng tác của nữ tài tử Kiều Chinh trong vai trò người đồng sản xuất. Thực hiện trong năm 2014 với kinh phí khoảng một triệu dollar, được chiếu ra mắt ngày 28-3-2015 sau đó được trình chiếu rộng rãi tại nhiều rạp khắp nước Mỹ và trên mạng internet. Tất cả nỗ lực này của đạo diễn, nhà sản xuất và hậu thuẫn của quần chúng mọi giới Việt Nam, dù khiêm tốn, nhưng ít nhiều đã góp phần cùng những nỗ lực của mọi cá nhân và tập thể người Việt Nam không cộng sản khác để “góp gió thành bão” phản bác lại những sai lầm, bất công do các bộ phim của các đạo diễn Hoa Kỳ gây ra. Và có thêm tư liệu cho các nhà viết sử chân chính sau này đối chiếu để viết đúng sự thật lịch sử về cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng tại Việt Nam (1954-1975).

Về phần mình, người viết cũng đã có nhiều bài viết và một cuốn sách (1) góp phần làm sáng tỏ sự thật lịch sử của cuộc chiến tranh Việt Nam. Trong số này đã có ba bài viết được Đài VOA cho đăng tải trên diễn đàn này ngay sau khi bộ phim nhiều tập “The Vietnam War” của hai nhà đạo diễn Kenn Burnes và Lynn Novick được khởi chiếu hôm 17-9-2017. Đó là các bài: The Vietnam War là chiến tranh gì? – The Vietnam War là chiến tranh của ai, do ai và vì ai? – Và “The Vietnam War ai thắng ai? (2)

Ghi chú:

(1) Sách “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới”. Ấn hành lần đầu tại Hoa Kỳ năm 1995, tái bản năm 2005. Xin vào: luatkhoavietnam.com Mục Diễn Đàn, Tiểu mục “Tác giả-Tác phẩm” để đọc và tiểu mục “ Phỏng vấn- Thuyết trình” để nghe Đài VOA phỏng vấn tác giả Thiện Ý tháng 5-1995 khi phát hành và ra mắt sách tại Houston, Texas, Hoa Kỳ.

  • Thiện Ý

    Thiện Ý nguyên luật sư tại Sài Gòn trước 1975, hiện là Chủ tịch Câu Lạc bộ Luật khoa Việt Nam ở Houston. Các bài viết của Thiện Ý là bài viết cá nhân và được đăng tải với sự đồng ý của đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm chính thức của chính phủ Hoa Kỳ.

     

    Nam Mai sưu tầm

    Image result for việt nam cộng hòa hình bìa

     

 

Thi sĩ Du Tử Lê, tác giả của ‘Khúc Thụy Du,’ qua đời, hưởng thọ 77 tuổi

Thi sĩ Du Tử Lê, tác giả của " Khúc Thụy Du "

  qua đời, hưởng thọ 77 tuổi

Image result for Thi sĩ Du Tử Lê từ trần

Báo Người Việt ở California cho hay thi sĩ Du Tử Lê vừa qua đời lúc 8 giờ 6 phút tối thứ hai 7 tháng 10 năm 2019 tại Garden Grove, California ở tuổi 77.

Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Hà Nam, miền Bắc Việt Nam. Sau khi Hiệp định Genève được ký kết (1954), ông di cư vào Nam cùng với gia đình. Ban đầu, ông định cư ở Hội An và sau đó ở Đà Nẵng. Năm 1956, ông vào Sài gòn, học trường Trần Lục, Chu Văn An, rồi vào Đại học Văn khoa. Ông làm thơ rất sớm, khi đang còn học tại trường tiểu học Hàng Vôi tại Hà Nội. Sau khi di cư vào Nam, ông bắt đầu sáng tác nhiều bài thơ với nhiều bút danh khác nhau. Bút danh Du Tử Lê được dùng chính thức lần đầu tiên vào năm 1958 cho bài thơ “Bến tâm hồn”. đăng trên tạp chí Mai.
Ông là sĩ quan của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, làm phóng viên chiến trường, là thư ký tòa soạn cuối cùng của nguyệt san Tiền Phong và là giáo sư dạy giờ cho một số trường trung học tại Sài gòn. Năm 1973, ông được trao Giải thưởng Văn chương Toàn quốc, bộ môn Thơ, với tác phẩm “Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972”.

Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông di tản, sống tại Garden Grove, miền Nam California (Mỹ). Vào thập niên 1980-1990, thơ ông xuất hiện trên tờ Los Angeles Times và tờ The New York Times. Ông cũng có thơ được dịch trong tuyển tập “Understanding Vietnam”, cuốn sách giáo khoa về văn học Việt Nam dành cho nhiều trường đại học ở châu Âu. Ông cũng là một trong 6 nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20 có thơ dịch in trong tuyển tập “World poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time” (1998).

Tac gia 'Khuc thuy du' qua doi o tuoi 77 hinh anh 1

Các tác phẩm:
– Thơ Du Tử Lê (1964)
– Năm sắc diện năm định mệnh (1965)
– Tình khúc tháng mười một (1966)
– Tay gõ cửa đời (1970)
– Chung cuộc (cùng viết với Mai Thảo, 1969)
– Mắt thù (1969)
– Ngửa mặt (tiểu thuyết, 1969)
– Vốn liếng một đời (1969)
– Qua hình bóng khác (tiểu thuyết, 1970)
– Mùa thu hoa cúc (sách thiếu nhi, 1971)
– Sân trường mắt biếc (sách thiếu nhi, 1971)
– Chú Cuội buồn (sách thiếu nhi, 1971)
– Hoa phượng vàng (sách thiếu nhi, 1971)
– Một đời riêng (1972)
– Khóc lẻ loi một mình (1972)
– Chấm dứt luân hồi em bước ra (1993)
– Thơ tình (1996)
– Chỉ như mặt khác tấm gương soi (thơ 1997)
– Trên ngọn tình sầu (tập tuỳ bút, 2011)
– Xương, thịt đời sau, máu rất buồn (tuỳ bút, 2012)
– Biệt khúc (thơ, 2013)
– Tuyển tập thơ Du Tử Lê (2013)
– Giỏ hoa thời mới lớn (2014)
-Tuyển tập thơ “Khúc Thụy Du,” PhanBooks xuất bản (2018)
-Tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu” Saigon Books xuất bản (2018)
-Tuyển tập tùy bút “Giữ Đời Cho Nhau” II, PhanBooks xuất bản (2018).

Nhà thơ Huy Tưởng có nhận định về tình yêu trong cõi thơ của Du Tử Lê: “Trong cõi nhân sinh của Du Tử Lê, tình yêu là nữ hoàng, là thánh nữ, là bảo ngọc, là trân châu, và chỉ con người thi sĩ mới dám sống và chết cho tình yêu ấy”.

Năm 1983, nhạc sĩ Anh Bằng đã chọn một số câu thơ trong bài thơ “Khúc thụy du” của nhà thơ Du Tử Lê để phổ nhạc thành ca khúc “Khúc thụy du”, một trong hai nhạc phẩm ký tên Anh Bằng mà nữ ca sĩ Ngọc Minh cho là sẽ còn mãi với thời gian (nhạc phẩm kia chính là “Anh còn nợ em”). “Khúc thụy du” được trình bày lần đầu tiên bởi nam ca sĩ Việt Dzũng là ca khúc giản lược nội dung một bài thơ rất dài về không khí xáo động của những ngày Tết Mậu Thân và một mối tình vô vọng với một thiếu nữ ở Sài gòn. Du Tử Lê đã kể về thời điểm sáng tác bài thơ và duyên may khiến cho bài thơ này được phổ nhạc:
“Khi biến cố Tết Mậu Thân 1968 xảy ra cũng là lúc cuộc tình của tôi và một nữ sinh viên Trường Dược ở Sài gòn cũng khởi đầu. Đầu tháng 3 năm 1968, tôi được chỉ định đi làm phóng sự về một tiểu đoàn thủy quân lục chiến đang giải tỏa khu Ngã tư Bảy Hiền. Lúc đó, cả thành phố Sài gòn vẫn còn giới nghiêm. Trên đường đi, từ Cục Tâm lý chiến ở đầu đường Hồng Thập Tự (Nguyễn Thị Minh Khai bây giờ), gần cầu Thị Nghè tới khu Ngã tư Bảy Hiền, đường xá vắng tanh. Khi gần tới ngã tư Bảy Hiền, ngoại ô Sài gòn, tôi thấy trên đường đi còn khá nhiều xác chết. Đó là những xác chết không toàn thây bị cháy nám; rất khó nhận biết những xác chết là dân chúng, binh sĩ hay chiến binh Cộng sản… Trên đường về, khung cảnh hoang tàn, đổ nát với xương thịt người vung vãi khắp nơi cùng với mùi người chết sình thối khiến tôi muốn nôn oẹ, một lần nữa lại gây chấn động dữ dội trong tôi…

Nhà thơ Du Tử Lê. Ảnh: Nguyễn Đình Toán. 
Giữa tháng 3 năm 1968, nhà văn Trần Phong Giao, thư ký tòa soạn tạp chí Văn, gọi điện thoại hỏi tôi có thể viết cái gì đó cho Văn số tục bản. Gọi là “tục bản” bởi vì sau số Xuân, khi biến cố mùng 1 Tết xảy ra, báo Văn ngưng xuất bản. Lý do là các nhà phát hành không hoạt động. Đường về miền Tây cũng như đường ra miền Trung bị gián đoạn. Sài gòn giới nghiêm. Tuy nhiên, ông hy vọng ít ngày nữa, giao thông sẽ trở lại. Thêm nữa, không thể để Văn đình bản quá lâu. Sau khi nhận lời đưa bài cho Trần Phong Giao, tôi mới giật mình hốt hoảng. Tôi nghĩ, giữa tình cảnh ấy, tôi không thể đưa ông một bài thơ tình hay một chuyện tình mặc dù thơ tình hay chuyện tình là lãnh vực của tôi thuở ấy. Nhưng tôi thấy nếu tiếp tục con đường quen thuộc kia, tôi sẽ không chỉ không phải với người đọc mà tôi còn không phải với hàng ngàn, hàng vạn linh hồn đồng bào, những người chết tức tưởi, oan khiên vì chiến tranh nữa…
Cuối cùng, gần hạn kỳ phải đưa bài, nhớ lại những giờ phút ở ngã tư Bảy Hiền, tôi ngồi xuống viết bài thơ ghi lại những gì mục kích trên đường đi. Viết xong, tôi không tìm được một nhan đề gần sát với nội dung. Bài thơ dài trên 100 câu. Nhưng khi Văn đem đi kiểm duyệt, Bộ Thông Tin đục bỏ của tôi gần 1/ 3 bài thơ. Thời đó, tôi viết tay, không có bản phụ, nên sau này khi gom lại để in thành sách, tôi không có một bản nào khác ngoài bản in đã kiểm duyệt trên Tạp chí Văn.
Thời gian ra đời của bài thơ cũng là khởi đầu của cuộc tình giữa tôi và một sinh viên Đại học Dược khoa… Tôi lấy một chữ lót trong tên gọi của người con gái này cộng với chữ đầu bút hiệu của tôi làm thành nhan đề bài thơ. Bài thơ ấy sau đó tôi cho in trong tuyển tập “Thơ Du Tử Lê (1967-1972). Cuối năm, tập thơ được trao giải thưởng Văn chương toàn quốc, bộ môn thi ca (1973). Năm 1983, tôi cho tái bản tập thơ này sau khi được một độc giả du học tại Mỹ trước năm 1975 cho lại.
Một buổi tối, nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi ở quán cà phê Tay Trái (tọa lạc ngay ngã tư đường Trask và Fairview). Ông nói ông mới phổ nhạc bài “Khúc thuỵ du”. Ông cho tôi quyền chọn người hát. Ông nhấn mạnh: “Tôi có thể chỉ cho người đó hát…”
Thời gian đó, trong số bằng hữu giúp tôi điều hành quán cà phê Tay Trái có nhạc sĩ Việt Dzũng. Lúc nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi cũng là lúc Việt Dzũng có mặt, đang chuẩn bị cho chương trình ca nhạc buổi tối. Tôi giới thiệu hai người với nhau.
Khi ca khúc “Khúc thụy du” ra đời dưới dạng cassette với tiếng hát của Việt Dzũng, tôi mới biết nhạc sĩ Anh Bằng chỉ lọc lựa một số câu thơ liên quan tới tình yêu mà không lấy một câu thơ nào nói một cách cụ thể về chiến tranh, chết chóc… Chết chóc hay chiến tranh được hiểu ngầm như một thứ background mờ nhạt. Từ đó đến nay, thỉnh thoảng vẫn còn có người lên tiếng phản đối sự giản lược nội dung bài thơ của tôi vào một khía cạnh rất phụ: khía cạnh tình yêu trong ca khúc “Khúc thụy du”. Nhưng hôm nay, sau mấy chục năm, nhìn lại, tôi thấy Anh Bằng cũng có cái lý của ông…”

Bài thơ “Khúc thụy du” của Du Tử Lê:
KHÚC THỤY DU
1.
như con chim bói cá
trên cọc nhọn trăm năm
tôi tìm đời đánh mất
trong vụng nước cuộc đời
như con chim bói cá
tôi thường ngừng cánh bay
ngước nhìn lên huyệt lộ
bầy quạ rỉa xác người
(của tươi đời nhượng lại)
bữa ăn nào ngon hơn
làm sao tôi nói được
như con chim bói cá
tôi lặn sâu trong bùn
hoài công tìm ý nghĩa
cho cảnh tình hôm nay
trên xác người chưa rữa
trên thịt người chưa tan
trên cánh tay chó gặm
trên chiếc đầu lợn tha
tôi sống như người mù
tôi sống như người điên
tôi làm chim bói cá
lặn tìm vuông đời mình
trên mặt đất nhiên lặng
không tăm nào sủi lên
đời sống như thân nấm
mỗi ngày một lùn đi
tâm hồn ta cọc lại
ai làm người như tôi ?
2.
mịn màng như nỗi chết
hoang đường như tuổi thơ
chưa một lần hé nở
trên ngọn cờ không bay
đôi mắt nàng không khép
bàn tay nàng không thưa
lọn tóc nàng đêm tối
khư khư ôm tình dài
ngực tôi đầy nắng lửa
hãy nói về cuộc đời
tôi còn gì để sống
hãy nói về cuộc đời
khi tôi không còn nữa
sẽ mang được những gì
về bên kia thế giới
thụy ơi và thụy ơi
tôi làm ma không đầu
tôi làm ma không bụng
tôi chỉ còn đôi chân
hay chỉ còn đôi tay
sờ soạng tìm thi thể
quờ quạng tìm trái tim
lẫn tan cùng vỏ đạn
dính văng cùng mảnh bom
thụy ơi và thụy ơi
đừng bao giờ em hỏi
vì sao mình yêu nhau
vì sao môi anh nóng
vì sao tay anh lạnh
vì sao thân anh rung
vì sao chân không vững
vì sao anh van em
hãy cho anh được thở
bằng ngực em rũ buồn
hãy cho anh được ôm
em, ngang bằng sự chết
tình yêu như ngọn dao
anh đâm mình, lút cán
thụy ơi và thụy ơi
không còn gì có nghĩa
ngoài tình anh tình em
đã ướt đầm thân thể
anh ru anh ngủ mùi
đợi một giờ linh hiển
(3-1968)

Lời của ca khúc “Khúc thụy du”:
“Hãy nói về cuộc đời
Khi tôi không còn nữa
Sẽ lấy được những gì
Về bên kia thế giới
Ngoài trống vắng mà thôi
Thụy ơi và tình ơi !

Như loài chim bói cá
Trên cọc nhọn trăm năm
Tôi tìm đời đánh mất
Trong vũng nước cuộc đời
Thụy ơi và tình ơi !

Đừng bao giờ em hỏi
Vì sao ta yêu nhau
Vì sao môi anh nóng
Vì sao tay anh lạnh
Vì sao thân anh rung
Vì sao chân không vững
Vì sao và vì sao !

Hãy nói về cuộc đời
Tình yêu như lưỡi dao
Tình yêu như mũi nhọn
Êm ái và ngọt ngào
Cắt đứt cuộc tình đầu
Thụy bây giờ về đâu?”

Ca khúc “Khúc thụy du” với giọng ca Tuấn Ngọc (hát live trong chương trình "Riêng một góc trời"):
https://youtu.be/jbxc3GcQRYE

Ca khúc “Khúc thụy du” với giọng ca Tuấn Ngọc (trong CD "Áo lụa Hà Đông" của Trung tâm Diễm Xưa):
https://youtu.be/nlPckWHBypA

Ảnh: Nhà thơ Du Tử Lê và tập thơ “Khúc Thụy Du”

 ********

Từ những góc khuất: Việt Dzũng

 Du Tử Lê

Đó là sáng Thứ Sáu, ngày 20 tháng 12-2013. Như thường lệ, chúng tôi gặp nhau ở café Tài Bửu. NH. Phương tiếp tục kể chuyện Phương Dung và đêm trước anh em tập trung ở nhà một bạn học cũ. NB. Hòa nói về chuyến bay về phương đông, đã cận kề…Tôi hỏi thăm NL. Vỵ, tin Khánh Minh, sau khi người nữ có nhiều bài thơ khá tốt trong thời gian gần đây, té ngã, phải vào nhà thương, vì một phần xương bánh chè bị bể. Và, Thiên Hương, cô chủ quán dài lâu của café Tao Nhân – – Một thời là “địa chỉ Thơ”; điểm hẹn quen thuộc của nhiều sinh hoạt VHNT ở quận hạt Orange County nhiều thập niên, đang ở nhà thương, chưa có ngày về. Vỵ giải tỏa phần nào mối bận tâm của tôi bằng hai “short briefs”…Sau đó, Vỵ gọi cho Sơn, người bạn đời của Thiên Hương, khi tôi ngỏ ý muốn đi thăm Thiên Hương trong bệnh viện. Tôi nói, từng nằm bệnh viện nhiều ngày, tháng, nên rất hiểu giá trị của mọi cuộc thăm viếng… Vỵ gọi cho Sơn và, chuyển máy… Sơn kể, lần này, các bác sĩ phát hiện Thiên Hương bị một cục bướu đè lên ống dẫn mật. Đã mấy ngày qua rồi, nhưng bệnh nhân và thân nhân vẫn còn chờ kết quả các thử nghiệm, nhất là kết quả biopsy để biết bướu lành hay ưng thư, trước khi quyết định có cần giải phẫu? Sơn nói, Thiên Hương đang nằm ở Orange Coast Memorial Hospital, thành phố Huntington Beach, phòng số…

Chúng tôi chia tay nhau sớm, khi gió giở chứng, đem thêm nhiều lưỡi dao buốt giá, liếc qua, liếc lại thân thể chúng tôi, ngoài hành lang nhà hàng Tài Bửu. Tôi lái xe về, với nỗi buồn không hy vọng có ngày sẽ thành quen thuộc: Nỗi buồn mỗi cuối năm / Quê người / Nhẩm tính người còn, kẻ mất. Và, luôn luôn câu hỏi cuối cùng ở tôi, vẫn là “khi nào tới phiên ta”?

Đó là lúc 10:50AM (vẫn Thứ Sáu 20 tháng 12-2013), T. gọi cho tôi, báo tin Việt Dzũng không còn nữa!!! Khi tôi đang xếp hàng chờ trả tiền đổ xăng. Tai tôi ắp đầy những âm thanh nhọn hoắt…Câu nói ngắn của T. bị chẻ nát, thành những tiếng lạc lõng. Giống như những dội sóng ì ầm, đứt đoạn. Không thật. Người đàn bà Mễ đứng sau quầy tính tiền tỏ dấu khó chịu thấy tôi không nói gì. Có thể chị ta không (hay đã)nhận ra vẻ thất thần trên mặt tôi!?!

Cây xăng tôi dừng lại hôm đó, nằm ngay ngã tư Brookhurst và Trask. Chỉ cần chạy thêm vài trăm thước là đường Garden Grove, rẽ tay mặt, cũng chỉ vài trăm thước thôi, đài truyền hình SBTN nằm bên trái, SBTN. Nơi VD phải lui tới hàng ngày, không chỉ một lần; đôi khi nhiều hơn, vì nhu cầu công việc. Tôi nghĩ, chỗ tôi đứng, vòi xăng tôi đang dùng, nhiều phần cũng là chỗ và vòi xăng VD đã từng đứng. Từng dùng. Từng chờ đợi. Trong tôi, một ý nghĩ hoang tưởng vụt đến: Biết đâu chốc lát sẽ có người đặt tay lên vai mình. Nói, theo thói quen “Dzũng đây anh!” Và, “Cậu Út” (1) sẽ vẫn nụ cười trẻ thơ, gương mặt bụ bẫm, rất “babyface” cải chính: “Tin đồn đó anh. Dzũng chưa chết đâu! Dzũng còn nhiều việc phải làm mà anh ..!”

Cho tới khi dời cây xăng, vẫn không một bàn tay đặt lên vai tôi. Cũng chẳng có tiếng nói nào, dù thì thầm với riêng tôi.

Đó là lúc 7 giờ tối (vẫn Thứ Sáu 20 tháng 12-2013): Tôi không biết mình đã nhận được bao nhiêu điện thoại?!? Khởi đầu là điện thoại của NH. Phương.

Nhiều lần. Tôi biết Phương muốn nói gì. Tôi không nghe. Tôi không muốn nghe lại cái điệp khúc “Việt Dzũng mất rồi!” hay, “Việt Dzũng chết rồi!” đã lùng bùng trong tôi hơn nửa tiếng trước.

Nhưng khi Nguyệt Hạnh, rồi Topaz Trần, Lê Văn Hào (Houston), Phiến Đan, Lâm Lý Trí, Đỗ Vẫn Trọn, từ Việt Nam, Pleiku, Trần Thu Miên từ Boston, Mass.… gọi…thì tôi nghe. (2) Họ không gọi để thông báo hay, hỏi tôi có biết tin Việt Dzũng mất. Họ gọi để bày tỏ những bàng hoàng, bất ngờ và, nỗi buồn quá lớn, trước sự “đi xa” đột ngột của Dzũng.

Ở từng vị trí quá khứ, mỗi người khua thức trong tôi, những cảnh đời mà, họ đã có chung với tôi và Dzũng. Chúng như những hòn than dĩ vãng cháy bỏng và, nỗi muộn phiền là mặt bên kia của một thời rực rỡ!

Tiếng nói lạc giọng của Topaz Trần ném tôi trở lại những ngày đầu thập niên 1980s. Đó là những buổi tối, nơi phòng khách căn nhà nhỏ đường Ranchero Way, Garden Grove, Việt Dzũng ôm đàn hát gần như tất cả những ca khúc có trong băng nhạc “Kinh Tỵ Nạn”. Chúng tôi sững người. Đứng tim. Khi nghe Dzũng hát bằng giọng của mình, những ca khúc như “Một chút quà cho quê hương”:

“Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá
Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay
Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may
Mẹ may hộ con tim gan quá đoạ đầy.

“Gởi về cho chị dăm ba xấp vải
Chị may áo cưới hay chị may áo tang
Gởi về cho em kẹo bánh thênh thang
Em ăn cho ngọt vì đời nhiều cay đắng.

“Con gởi về cho cha một manh áo trắng
Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây
Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy
Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình.

“Em gởi về cho anh một cây bút máy
Anh vẽ cuộc đời như ước vọng mong manh
Gởi về cho mẹ dăm gói chè xanh
Mẹ pha hộ con nước mắt đã khô cằn”. (3)

Hay “Lời kinh đêm”:

“Lời kinh đêm ôi lời kinh đêm.
Lời kinh buồn như tiếng mẹ thở dài.
Ai có nghe thấu lời kinh khổ,
Sao cúi mặt gục đầu ngủ quên.

“Trời mong manh ôi đời lênh đênh.
Thuyền bấp bênh cuộc sống mơ hồ…
Lời kinh cầu từng ngày quen thuộc
Lời mẹ buồn giữa tiếng Nam-mô.

“Thuyền trôi xa về đâu ai biết
Thuyền có về ghé bến tự do.
Trời cao xanh hay trời oan nghiệt.
Trời có buồn hay trời chỉ làm ngơ.

“Trời chơ vơ ôi người bơ vơ.
Người vẫn ôm mảnh ván rũ mục.
Lời kinh cầu từng hồi nấc nghẹn.
Lời mẹ buồn giữa tiếng Amen.

“Người buông xuôi về nơi đáy nước
Người có mộng một nấm mộ xanh.
Biển ngây ngô hay biển man rợ
Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ”. (4)

Tôi nhớ, tôi đã yêu cầu Dzũng hát lại nhiều lần, hai ca khúc vừa kể. Riêng “Lời kinh đêm” Dzũng phải hát lại không dưới 3 lần.

Tôi yêu tất cả những ca khúc của Dzũng trong “Kinh tỵ nạn” tới độ, hai ngày sau, tôi mời thêm một số bằng hữu tôi quý, trong số đó, có Topaz Trần, để nghe “Người buông xuôi về nơi đáy nước / Người có mộng một nấm mộ xanh / Biển ngây ngô hay biển man rợ / Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ”?

Thời gian này, cũng là thời gian chúng tôi mới khởi sự thực hiện nguyệt san Nhân Chứng (NC) mà, linh hồn của phần kỹ thuật, sắp chữ bằng máy IBM (quả cầu, bỏ dấu tay) là Việt Dzũng.

Thời gian này, quận hạt Orange County có rất ít nhà hàng. Một trong những nhà hàng thuộc hạng sang, là nhà hàng Pagoda, ra đời, tọa lạc gần ngã tư Harbor và Garden Grove. Một buổi trưa, Topaz Trần mời tôi đến ăn để ủng hộ chị Nicole, chủ nhà hàng. Ba ngày sau, tôi trở lại, cũng buổi trưa với Việt Dzũng, chị Nicole cho tôi biết, Topaz Trần dặn chị, bất cứ lúc nào tôi đến, thì đừng lấy tiền và ghi vào “chương mục riêng của Topaz…” Tôi nhờ chị Nicole nói lại với Topaz, ngoài tôi, nếu có thêm Việt Dzũng thì có OK? Ít tiếng sau, Topaz gọi cho tôi ở tòa soạn, nói, ai chứ Việt Dzũng thì Topaz vui lắm, để được mời vào “account” riêng của Topaz ở Pagoda.

Đấy là thời khởi đầu huy hoàng của Topaz Trần trong lãnh vực địa ốc. Đấy cũng là thời gian nữ ký giả Connie Chung của nhật báo Register (không biết có phải qua sự giới thiệu của Topaz?) ngỏ ý muốn phỏng vấn Việt Dzũng cho tờ Register. (5) Dzũng nhận lời và, chúng tôi “nhất trí” chọn Pagoda để Dzũng trả lời phỏng vấn với tư cách Nhạc sĩ kiêm Tổng thư ký tòa soạn NC. Vì, chúng tôi không muốn Connie Chung thấy được “thực trạng” nghèo nàn tới đáng xấu hổ, của cái gọi là tòa soạn NC, thuở đó.

viet_dzung_03-content

Như một vài thân hữu khác, Topaz Trần trở thành “thành viên” của nhóm NC rồi Tuần báo Tay Phải (TP). Khi thời gian cho phép, đôi lần Topaz cũng cùng chúng tôi đi…“lưu diễn”.

Nói tới “lưu diễn”, tất cả chúng tôi đều trông vào Việt Dzũng, một trong vài yếu tố quyết định sự thành bại của các chuyến đi dù gần hay xa.

Cũng ngay từ những tháng khởi đầu của thập niên 1980s, Dzũng đã ủng hộ ý kiến, đem tờ NC đến với người đọc. Khi chúng ta không có một phương tiện quảng bá nào khác. Tôi lãnh nhiệm vụ liên lạc với nhà thơ Phạm Kim, đại diện NC ở thành phố Tacoma, tiểu bang Washington. (6) Bạn tôi sốt sắng nhận lời! Chúng tôi hào hứng “lên kế hoạch” với “mũi nhọn” chính là Việt Dzũng. Để thêm phần “rậm đám”, chúng tôi rủ Quỳnh Như ngâm thơ, Cao Đông Khánh đọc thơ. (7) Đoàn Vững thổi sáo. Tôi lo việc giới thiệu Nhân Chứng và, TN lo tất cả những việc không tên còn lại…

Thời đó, chưa có máy photocopy, cộng đồng Việt cũng chưa có một phương tiện truyền thông nào, từ báo chí, tới phát thanh…Phạm Kim phải tới một nhà in của người Mỹ để nhờ in flyers, đem gửi tại một vài địa điểm bán thức phẩm Á Đông! Và, dù mưa gió sập sùi suốt thời gian “gánh hát” chúng tôi có mặt tại Tacoma, nhưng sự thành công của chúng tôi với mấy trăm đồng bào ngồi chật hội trường nhà thờ Tin Lành đường King, đã vang dội tới Seattle. Khiến nhà văn Huy Quang – Vũ Đức Vinh, chủ nhiệm tờ Đất Mới, liên lạc, mời chúng tôi đến Seattle, nói chuyện và trình diễn tại trụ sở Hội Thân Hữu Việt – Mên- Lào, Seattle…(8)

Đi đến đâu, Dzũng cũng được đồng bào các giới chào đón, như một biểu tượng thương yêu của người tỵ nạn. Có thể nhiều người không biết rằng, bên cạnh những “kinh tỵ nạn”, tình ca quê hương, Việt Dzũng cũng có khá nhiều tình khúc. Từ những tình khúc nhẹ nhàng, xây trên nền quê hương khuất bóng, như “Tôi muốn mời em về”, tới những tình khúc viết về tình yêu đôi lứa – – Trong số này, cũng không ít những ca khúc đậm dấu đoạn lìa, chia tan… Điều này cũng dễ hiểu. Bởi căn bản, Dzũng vẫn là một người trẻ, lại cực kỳ nhậy cảm…

Việt Dzũng thường chỉ hát những tình khúc nghiêng nặng cảm thức lứa đôi trong những trường hợp đặc biệt, với số bằng hữu thật giới hạn. Lý do, Dzũng muốn mọi người ghi nhận một hình ảnh về Việt Dzũng thôi. Đó là hình ảnh Việt Dzũng của nhạc quê hương, tỵ nạn và đấu tranh. Dzũng nói, Dzũng không muốn ai thấy hình ảnh yếu đuối, ủy mị của Dzũng. Dù ở đời thường, Dzũng rất dễ chảy nước mắt…

Trong sinh hoạt riêng tư, tôi và Lãm (một người bạn của tôi thưở đó), từng chứng kiến đôi lần những giọt nước mắt của Dzũng, ngập ngưng lăn khỏi đôi mắt trẻ thơ, trên khuôn mặt rất “babyface” ấy. Đó là thời điểm của cuộc tình Dzũng và BeBe HA ở giai đoạn mới chớm…

Tôi nhớ, cuộc tình Việt Dzũng / BeBe HA bắt đầu vào khoảng giữa năm 1985, khi Lãm giới thiệu BeBe HA với tôi, mục đích để BeBe HA tiếp tay, phát triển tờ báo TP. Vì BeBe HA chưa tốt nghiệp, nên hai người gặp nhau ở căn chung cư của Lãm, đường King, Santa Ana nhiều hơn ở tòa soạn. Khi “Cậu Út” của chúng tôi thú nhận đã “fall in love” BeBe HA, tôi và Lãm gia công vun vào với tất cả yêu thương và hân hoan dành cho đôi bạn nhỏ.

Tuy nhiên, giai đoạn đầu của cuộc tình Việt Dzũng / BeBe HA có phần chập chờn, bấp bênh, với nhiều ngày Dzũng không gặp BeBe HA! Và, chúng tôi cũng không biết tìm BeBe HA ở đâu!

Do quá nhậy cảm, Dzũng rơi vào trạng thái tâm lý tựa như tuyệt vọng. Vì thế, nhiều đêm, Dzũng dục tôi dời căn chung cư của Lãm, trở về tòa soạn, đường Ranchero Way, để nghe Dzũng hát tình khúc…

Theo tôi, đó là những giây phút Dzũng sống thực nhất. Dzũng không che đậy, không kềm chế cảm xúc mình. Như thể nó không thể khác. Tình cảm thật, nó là thế đấy!

Cũng ở thời điểm này, không biết có phải do tâm trạng tuyệt vọng hay không, Dzũng đã phổ nhạc bài thơ “Thu khúc một” của tôi và, hát cho tôi nghe nhiều lần:

“trăng khuyết, như đời tôi
cũng thôi, một kiếp người
em về, khuya có vui(?)
tôi và đêm nhớ người…
gió biếc như tình tôi
cung chiều lên tiếng gọi
về kịp không hỡi em
vầng trăng ta khuyết rồi

(…)

em ở đâu đêm qua?
có nghe hồn anh tắt vội
buồn vương giọt nước mắt
cho giá lạnh cội áo quán

(…)

mây khói ru tình tôi
nhớ thương một kiếp người
em về khuya có vui(?)
tôi về đêm nhớ người
trăng khuyết như hồn tôi
ván quan đã đóng rồi
về kịp không hỡi em
vầng trăng ta khuyết rồi!”(9)

Khi Dzũng hát tới những câu “em về khuya có vui” hoặc “về kịp không hỡi em / Vầng trăng ta khuyết rồi”… (vốn là những câu hỏi – không có câu trả lời) , thì đó cũng là lúc Dzũng nhắm mắt, mặc cho hai dòng lệ lăn dài trên gương mặt trẻ thơ của mình. Phần tôi, tôi cũng không đủ sức đem mình khỏi chiếc ghế, dù chỉ để đặt tay lên vai Dzũng, như một cử chỉ dỗ dành, cảm thông…bất lực!!!

Những lúc ấy, tôi bẵng quên chính tôi cũng đang ngợp sâu trong những câu hỏi mình từng viết xuống – – Mà cùng với nước mắt xót xa, tôi ước sao, tiếng hát, câu hỏi của Dzũng cất lên trong căn nhà lạnh lẽo, hoắm sâu dưới tầng tầng bóng đêm, có thể bay đến BeBe HA!!!

Bây giờ, khi tôi viết những dòng chữ này (thì) “ván quan” (câu chữ của Dzũng – không có trong nguyên bản thơ) đã thực sự “đóng rồi”…BeBe HA không chỉ “về kịp” mà hơn thế, BeBe HA đã…“ở lại” giữa cuộc đời của Dzũng, một cách tốt đẹp, từ nhiều chục năm qua.

Đám cưới Việt Dzũng và Bebe Hoàng Anh

Nhiều ngày, từ khi nhận được hung tin về Dzũng, tôi lại tự hỏi, cách gì BeBe HA có thể vượt những “nhớ thương một kiếp người”, khi Dzũng không còn nữa? Vĩnh viễn không còn nữa! Dù chỉ một thoáng xuất hiện, đâu đó, trên mặt địa cầu này?

Tuy bị giới hạn khả năng di chuyển, nhưng ngay tự những ngày còn rất trẻ, Việt Dzũng đã cho thấy, sức làm việc của Dzũng, tựa dòng thác không ngưng cuồn cuộn chảy. Dzũng không thể ngồi yên dù chỉ một tiếng. Buông việc này, bắt việc kia. Việc nào vào tay Dzũng cũng đều trở thành dễ dàng, suôn sẻ. Từ dịch tin, đánh máy, lay out bài vở, tới soạn nhạc, thiết lập chương trình lưu diễn, liên lạc với anh em, bằng hữu năm châu, bốn biển, Dzũng đều hoàn tất một cách dễ dàng, gọn nhẹ, giống như chúng ta lấy một vật trong túi. Tôi muốn nói, Việt Dzũng không chỉ quan tâm tới lãnh vực âm nhạc mà, “Cậu Út” của chúng tôi còn rất nặng lòng với báo chí, văn chương, chữ nghĩa nữa!

Cụ thể, đầu thập niên 1980s, vì một tháng, NC mới xuất bản một lần, lại nữa, không phải tháng nào cũng có… “show” lưu diễn nên, để trám vào khoảng thời gian…”Không biết làm gì”…Dzũng đề nghị gom một số truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Ngạn, làm thành tuyển tập “Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Ngạn”.

Đó là tác phẩm đầu tiên của họ Nguyễn ở Toronto, Canada, được ấn hành tại Hoa Kỳ. Sau truyện Nguyễn Ngọc Ngạn là tập thơ “Lịch sử tình yêu”, cũng là thi phẩm đầu tay của Cao Đông Khánh và, tập truyện “Tan theo ngày nắng vội” của tôi. Tất cả mọi công đoạn đều một tay Dzũng đảm nhận. Ngay cả việc phát hành, Dzũng cũng nhận phụ trách. Thời gian đó, quận hạt Orange County và vùng Los Angeles chưa có tiệm sách. Sách báo sản xuất được gửi bán ở một số chợ bán thực phẩm Á Đông. (10)

Tôi không biết hai tác phẩm của hai bạn văn kia, có những “tai nạn” đáng tiếc nào chăng? Thí dụ “trùng tu” bỏ dấu thành “trúng tủ”, “chữ nghĩa” thành “chủ nghĩa”, “dâm đãng” thành “đảm đang” cùng nhiều “tai nạn” ghê rợn hơn nữa…Vì Việt Dzũng phải bỏ dấu bằng tay…

Song song với mối bận tâm về lãnh vực văn chương, Dzũng vẫn là người chủ động gần như tất cả những…“show lưu diễn” của chúng tôi, thuở sinh hoạt trình diễn của tập thể Việt tỵ nạn còn cực kỳ “hoang vắng”! thưở mà sinh họat văn nghệ cũng như báo chí chưa hề cho cộng đồng tỵ nạn Việt một chút tia sáng cuối đường hầm nào.

Tôi nhớ khi tôi kể với Dzũng, người đại diện của tạp chí NC ở Calgary ngỏ ý muốn mời anh em NC viếng thăm miền tây Canada một lần cho biết, Dzũng bảo, sao không nghĩ tới việc biến cuộc viếng thăm thành một “show lưu diễn”? Thế là, một tháng sau, “gánh hát” của chúng tôi lại “đường trường xa…” tới một xứ sở, một chân trời hoàn toàn xa lạ.

Kỳ đó, ngoài số thành viên “cơ hữu” như Việt Dzũng, Cao Đông Khánh, Quỳnh Như…chúng tôi còn mời được nữ danh ca Thanh Thúy, kịch sĩ Hoàng Long. Cùng với Việt Dzũng, họ là những tên tuổi dấy lên cơn bão thương yêu nơi khán giả Việt ở miền Tây Canada này…

Những ca khúc cũ, mới những tưởng đã bị chôn dưới tàn tro lịch sử sang trang, hay vùi sâu đáy biển đông thì, được “gánh hát” của chúng tôi làm sống lại. Nếu tôi nhớ không lầm thì bất cứ ca khúc nào được đồng bào yêu cầu, nữ danh ca Thanh Thúy, cũng như Việt Dzũng đều không từ chối, nếu họ thuộc. Sau buổi diễn, trả lời câu hỏi của tôi, người nữ danh ca của hai mươi năm VHNT miền Nam cho biết, chị hát không chỉ vì yêu cầu của đồng bào mà còn vì đam mê của chính chị nữa:

“Thúy đâu nghĩ, có ngày được hát lại cho hàng ngàn khán giả nghe những ca khúc mà mình từng một thời yêu thích…” Linh hồn ca khúc “Ướt mi”, một sáng tác của cố nhạc sĩ TCS, nói. (11)

Tuy nhiên, với chúng tôi, kỷ niệm đáng nhớ nhất của những “show trình diễn” có lẽ là kỳ chúng tôi “trình diễn” tại Houston lần thứ nhất – – Sau khi “Cậu Út” và Lê Văn Hào (tức nhà thơ Vũ Hà Du) trần thân dựng bảng café Tay Trái từ A tới Z cho chúng tôi ở ngã tư Faiview và Trask, thuộc thành phố Santa Ana. Điều đáng nhớ nhất, không phải vì sân khấu nhỏ Tay Trái là nơi trở lại thường trực của tiếng hát Julie. Cũng không phải đó là địa điểm xuất hiện đầu tiên của nhạc sĩ Trần Duy Đức, đôi bạn trẻ Vũ Kiểm / Hương Thơ… Mà, sau khi thấy Tay Trái đứng vững, có lợi tức rồi, Lê Văn Hào bàn với Dzũng trở lại Houston, mở nhà in Thế Giới (ở đường Bell) – – Làm đầu cầu cho anh em NC và TP, khi sa cơ, thất thế, có chỗ để lui về…

Đó là năm 1984, “Cậu Út” phối hợp với Lê Văn Hào và nhà văn Lê Văn Phúc (12) đã tổ chức buổi ra mắt tập truyện “Tan theo ngày nắng vội”.

vietdzung-dtl-content

Tôi không biết có bao nhiều ngày nắng ấm đã tan đi một cách vội vã(?) Chỉ biết, sau đó, một cuộc tình dẫn tới một hôn nhân tốt đẹp giữa nhạc sĩ Trần Duy Đức thuộc “gánh hát” của chúng tôi và một thành viên nhóm Thế Hệ Trẻ ở Houston, Lê Nguyệt Hạnh.

Hai nhân vật tích cực góp phần vào sự tác hợp cho “đôi trẻ” nên duyên phận, chính là Lê Văn Hào và Việt Dzũng vậy.

Kể lại mới lương duyên của Nguyệt Hạnh / Trần Duy Đức, tôi chỉ muốn nhấn mạnh, song song với chủ tâm tận hiến cuộc đời cho lý tưởng tự do, nhân bản… Việt Dzũng còn là người thủy chung, tận tụy với bằng hữu. Như một trong những góc khuất của tác giả “Một chút quà cho quê hương”.

Từ đó, tôi thấy, Việt Dzũng xứng đáng với mọi danh hiệu truy tặng cho Dzũng… Riêng cá nhân tôi, tôi muốn ghi nhận Việt Dzũng như một trong những vốn quý của tập thể Việt, nơi quê người.

Dù bây giờ, Việt Dzũng không còn nữa, nhưng những đóng góp, những đầu tư của Việt Dzũng cho tự do, nhân bản và tình người, sẽ mãi còn là những ngọn lửa ở được với mai sau.

Du Tử Lê

(Tháng 12 – 2013)

___________

Chú thích:

(1) ‘Cậu Út”, nickname Trương Trọng Trác (1940-2009) đặt cho Việt Dzũng khi chúng tôi tập trung quanh tạp chí NC rồi tuần báo TP, đầu thập niên 1980s. Trong anh em, Dzũng nhỏ nhất và, cũng đa tài, đa năng nhất, nên được mọi người cưng chiều nhất.

(2) Trần Thu Miên kể, ngay tự những ngày đầu tháng 5-1975, ở trại tỵ nạn Fort Chaffee, tiểu bang Arkansas, Việt Dũng và Trần Thu Miên đã có những buổi sinh hoạt văn nghệ “tự phát” liên tục…

(3), (4) Nguồn: Wikipedia – Tiếng Việt.

(5) Connie Chung (1946-) Sau đấy đã dời tờ Register, trở thành cộng tác viên nổi tiếng của những hệ thống truyền hình lớn như NBC, CBS, CNN và MSNBC ở New York. Tới ngày về hưu, ba lần bà được trao giải Emmy dành cho những nhà báo xuất sắc nhất trong năm. (Theo Wikipedia)

(6) Sau thời gian tạm cư ở Tacoma, Phạm Kim di chuyển gia đình về thành phố Seattle. Tại nơi ở mới này, khoảng giữa thập niên 1980s, ông xuất bản tờ Người-Việt-Tây-Bắc; được ghi nhận là một trong vài tờ báo lâu đời và thành công nhất vùng.

(7) Nữ nghệ sĩ Quỳnh Như hiện phải điều trị dài hạn trong một Nursing Home ở quậm Cam. Nhà thơ Cao Đông Khánh sinh năm 1941 tại Gia Định. Ông mất ngày 12 tháng 12 năm 2000, tại Houston, Texas.

(8) Cố nhà văn Huy Quang / Vũ Đức Vinh sinh năm 1931 tại Hà Nội. Ông mất ngày 9 tháng 12 năm 2005 ở Seattle, tiểu bang Washington State. Là sĩ quan cấp tá binh chủng KQ/VNCH, năm 1965, ông được Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ bổ nhiệm vào chức vụ Tổng giám đốc cục Vô Tuyến Truyền Thanh. Trước năm 1954, ông đã có 2 tác phẩm do nhà Sinh Lực Hà Nội xuất bản. (Nguồn: Nhà thơ Hoàng Song Liêm – Wikipedia – Tiếng Việt.)

(9) Bài “Thu khúc một” tôi viết và phổ biến tháng 8 năm 1984. Việt Dzũng là người đầu tiên soạn thành ca khúc, với nhan đề “Trăng Khuyết”, 1985. Sau đó mới tới Vũ Thành An và Vĩnh Điện… “Trăng Khuyết” của VD được in lại trong “K. Khúc Của Lê / Tuyển tập 40 năm thơ-nhạc Du Tử Lê”, tr. 104. Nhóm Thân Hữu Du Tử Lê Tại Hoa Kỳ xb, 1998.

(10) Nữ danh ca Thanh Thúy hiện cư ngụ tại miền Bắc California. Một số thân hữu cho biết, nhiều năm gần đây, chị đã chọn hẳn con đường tu tại gia, ấn tống kinh sách và, làm từ thiện… Trong khi kịch sĩ Hoàng Long chọn thành phố Boston, Mass, để an cư.

(11) Khoảng giữa thập niên 1980, Orange County mới có một tiệm sách nhỏ do nguyên giáo sư Vũ Văn Niên chủ trương, và chị ông là người trông nom, ở thành phố Santa Ana. Sau đấy tới tiệm sách Thăng Long ở vùng Los Angeles…

(12) Lê Văn Phúc là tác giả tập tạp văn “Tôi làm tôi mất nước”, được nhiều người biết đến.

Du Tử Lê

Related image

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi, sao trở lại quê nhà 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
những năm trước bao người ngon miệng cá
thì sá gì thêm một xác cong queo 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
cho tôi về gặp lại các con tôi
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
từ những mắt đã buồn hơn bóng tối 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và trên đường hãy nhớ hát quốc ca
ôi lâu quá không còn ai hát nữa
(bài hát giờ cũng như một hồn ma) 

khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết
đời lưu vong tận huyệt với linh hồn

Việt Dzũng hát bài "Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển"

Đây là ghi âm hiếm quý vào thập niên 1980, đã được Ca  Hoàng Oanh lưu giữ. Việt Dzũng đã lấy cảm ý của bài thơ "Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển", của nhà thơ Du Tử Lê. Anh đã phổ nhạc sang tiếng Anh, và hát cho bạn bè nghe trong một buổi họp mặt. Những lời trong bài hát thổn thức như những lời trăn trối của một người Việt Nam lưu vong, nhưng yêu quê hương tha thiết. Trung tâm Asia xin tiễn biệt nhạc sỹ Việt Dzũng với chính những lời ca này của anh.
Sáng tác: Việt Dzũng Trình bày: Việt Dzũng When I die, would you take my body down, to the sea. Cause for a long time, I've been living without a country. And for a long time, I've been dying without a grave. So when I die, would you bury me in the middle of the waves? When I die, would you take my body down, to the sea. Don't hesitate, don't even feel sorry for me. Don't even cry, let the fish feeds on my flesh. So when I die, I become part of the world that is so fresh. When I die, would you take my body down, to the sea. Under the sun, let the ebb tide carry me. And when we go, would you please don't close my eyes. So I can see for the last time my own country. I'll be gone with the wind, to the world's other side. To hear my mother's sigh! To hear my children cries. From hollow eyes... Sadder than the night. I'll be gone, with the scream to eternal dream. There is no blood to be shed. There is no life to be killed... ever peacefully, ever peacefully! When I die, the sadness also die. Somebody forever part, the soul of an exile!
Cảm ơn anh Du Tử Lê đã kể lại vài đoạn đời xưa của Việt Dzũng, có anh và các bằng hữu khác. Nghệ sĩ như anh và Việt Dzũng đã khắc họa nên nhiều nét ấn tượng sâu sắc trong tâm khảm của rất nhiều người Việt lưu vong. Bài viết này của anh về Việt Dzũng đã góp phần cho những ấn tượng đó thêm thấm thía và xúc cảm khi thấy chân tình của nghệ sĩ với nhau.
 
Related image

 

Việt Dzũng hát bài "Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển"


khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

Nếu tôi nhớ không lầm thì, cuối năm 1977, khi tôi còn ở một căn apartment đường Harbor, thành phố Costa Mesa, ở miền nam Cali, làm tờ báo tên Quê Hương với một vài bạn trẻ thất lạc gia đình…Một một buổi tối, anh Nguyễn Anh Tuấn, một người trong nhóm; khi đó làm công cho một tiệm bánh Donut ở vùng Los Angeles; dẫn một người tên thanh niên đen đúa tên là Trần Cao Sáng đến gặp chúng tôi. Anh Sáng kể cho chúng tôi nghe cuộc vượt biển của anh từ Việt Nam. Khi đó chúng ta chưa có danh từ “thuyền nhân / boat people.” Anh TCS là người vượt biển đầu tiên, cách đây 31 năm mà chúng tôi được gặp.

Du Tử Lê trầm tư bên biển - Ảnh: Nguyễn Đức Cung

Hành trình, sự liều lĩnh, những thảm kịch trên biển, được nghe từ anh Sáng khiến tôi bàng hoàng, choáng váng. Câu chuyện của anh Sáng ám ảnh tôi nhiều tháng. Cuối cùng, để giải tỏa và, cũng do sự gợi hứng từ câu chuyện của Trần Cao Sáng, tôi viết bài “Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển.”

Bài thơ đi ra trong mặc cảm đã bỏ lại vợ, con, mẹ già ở quê nhà.

Thời điểm này, số người Việt tỵ nạn bị phân tán mỏng khắp nơi. Chưa ai ra khỏi cơn địa chấn đau thương của biến cố 30 tháng 4.

Ở thời điểm đó chúng tôi ra đường, đi làm, rất khó tìm được một người đồng hương! Không một ai trong những năm đầu tỵ nạn kia, dám mơ tưởng rằng, tương lai, có ngày người Việt tụ tập lại và, hình thành những sinh hoạt hội đoàn, cộng đồng như đã, vào cuối thập niên 1980 - - Khoan nói tới việc có thể về thăm quê hương, đầu thập niên 1990, khi Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam.

Tôi muốn nói, những câu thơ như: “khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển / và trên đường hãy nhớ hát quốc ca…” ra đời trong tâm cảm hoàn toàn tuyệt vọng đó.

https://dutule.com/images/file/FLepGS2e0wgBAD8p/dtl-by-nguyenduccung-content.jpg
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi, sao trở lại quê nhà 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
những năm trước bao người ngon miệng cá
thì sá gì thêm một xác cong queo 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
cho tôi về gặp lại các con tôi
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
từ những mắt đã buồn hơn bóng tối 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và trên đường hãy nhớ hát quốc ca
ôi lâu quá không còn ai hát nữa
(bài hát giờ cũng như một hồn ma) 

khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết
đời lưu vong tận huyệt với linh hồn

 Du Tử Lê

Những bài hát nổi tiếng được phổ từ thơ Du Tử Lê

Tin Du Tử Lê – tác giả của những bài thơ được phổ nhạc nổi tiếng: Khúc thụy du, Ơn em… qua đời khiến người mộ điệu không khỏi tiếc thương, chia sẻ những thi phẩm, nhạc phẩm để tưởng niệm ông trên trang cá nhân của họ …
Danh ca Tuấn Ngọc đã thể hiện nhiều nhạc phẩm được phổ thơ Du Tử Lê
Ảnh: Tư liệu
 
Đầu tháng 6 vừa qua, PhanBook và NXB Đà Nẵng vừa phát hành tập thơ mới nhất của nhà thơ Du Tử Lê - Chúng ta, những con đường bao gồm những sáng tác trong 5 năm gần đây. Khác với một Du Tử Lê của Khúc thuỵ du (Phanbook & NXB Hội nhà văn ấn hành, 2018), những trải nghiệm và xúc cảm dịu dàng đã được thế chỗ bởi những chiêm nghiệm, suy tư.
Du Tử Lê  là một trong số ít thi sĩ có số lượng tác phẩm được phổ nhạc lên đến hàng trăm ca khúc. Trong đó nhạc sĩ Anh Bằng và Từ Công Phụng phổ nhiều nhất với con số trên dưới 50 bài (mỗi nhạc sĩ).
Những bài hát nổi tiếng được phổ từ thơ Du Tử Lê - ảnh 1

Tập thơ Khúc thụy du của Du Tử Lê được phát hành tại Việt Nam

Ảnh: NXB

Với người yêu nhạc và yêu thơ Du Tử Lê, nhất là khán thính giả thế hệ 5X, 6X, 7X, hẳn không ai không biết đến những thi phẩm của ông được phổ nhạc và được rất nhiều ca sĩ hải ngoại lẫn trong nước thể hiện như: Khúc thụy du (nhạc Anh Bằng), Trên ngọn tình sầu (nhạc Từ Công Phụng, phổ từ bài thơ 67 khúc thêm cho Huyền Châu), Ơn em (nhạc: Từ Công Phụng, với tựa đề Giữ đời cho nhau)… Trước nhạc sĩ Từ Công Phụng, Ơn em đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, có tên Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau.
Riêng với Khúc thụy du, bài hát không chỉ được nhiều ca sĩ thể hiện: Tuấn Ngọc, Elvis Phương, Ý Lan, Ngọc Lan, Quang Dũng, Hồng Ngọc, Nguyên Khang, Hồng Mơ, Nguyễn Hồng Ân…mà còn được nhiều ca sĩ chọn làm chủ đề album khi phát hành như: Tuấn Anh, Bảo Yến, Thùy Dương, Thanh Duy, Quang Hà…
Những bài hát nổi tiếng được phổ từ thơ Du Tử Lê - ảnh 2

Tờ nhạc Trên ngọn tình sầu, bài hát được phổ từ thơ Du Tử Lê

Ảnh: Tư liệu

 
Khúc thụy du được viết vào 1968, như là tiếng kinh cầu của con người trước chiến tranh, loạn lạc. Sinh thời ông từng cho biết bài thơ khi được viết hơn 100 câu, nhưng khi đăng tạp chí thì cắt gần 1/3 bài. Về sau khi được xuất bản tại Việt Nam, bài thơ được đăng theo bản bị cắt bỏ vì chính ông cũng không còn giữ bản gốc.
Một số bài thơ được phổ nhạc khác của Du Tử Lê được biết đến nhiều như: Khi cuộc tình đã chết (nhạc Phạm Đình Chương), Tình sầu, Như xa miền yên vui (nhạc Phạm Duy), Tan theo ngày nắng vội, Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời (Trần Duy Đức), Như bài hát cũ (Đình Nguyên)...
 
“Khi tôi không còn nữa, Sẽ lấy được những gì ,Về bên kia thế giới…. ?”-Du Tử Lê

Thi sĩ Du Tử Lê, tác giả ‘Khúc Thụy Du,’ qua đời, hưởng thọ 77 tuổi

 

 
 

Đỗ Dzũng/Người ViệtOctober 9, 2019

GARDEN GROVE, California (NV) – Thi sĩ Du Tử Lê vừa qua đời lúc 8 giờ 6 phút tối Thứ Hai, 7 Tháng Mười, tại tư gia ở Garden Grove, hưởng thọ 77 tuổi.

Tin này được cô Orchid Lâm Quỳnh, ái nữ của ông, cho nhật báo Người Việt biết lúc 11 giờ tối Thứ Ba.

Cô kể: “Em báo tin này hơi trễ vì bây giờ mọi việc mới xong. Thực ra, tim bố ngừng đập lúc 8 giờ 6 phút tối Thứ Hai. Lúc đó, em vẫn gọi 911 và đưa bố vào bệnh viện. Bây giờ thì bố đã thật sự vĩnh viễn ra đi.”

Theo trang nhà dutule.com, nhà thơ Du Tử Lê, tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Hà Nam.

Năm 1954, ông theo gia đình di cư vào miền Nam.

Ông là cựu học sinh trường Chu Văn An, Trần Lục, rồi đại học Văn Khoa Sài Gòn, nguyên sĩ quan QLVNCH.

Ông làm việc tại Cục Tâm Lý Chiến trong vai trò phóng viên chiến trường, trước khi làm thư ký tòa soạn nguyệt san Tiền Phong.

Năm 1969, ông theo học khóa tu nghiệp báo chí tại thành phố Indianapolis, tiểu bang Indiana.

Năm 1973, ông được trao giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc, bộ môn Thi Ca, với thi phẩm: “Thơ Du Tử Lê 1967-1972.”

Ông định cư tại Hoa Kỳ sau biến cố 30 Tháng Tư, 1975.

Khởi sự làm thơ rất sớm, từ năm 1953 tại Hà Nội, với nhiều bút hiệu khác nhau, bút hiệu Du Tử Lê được ông dùng chính thức từ năm 1958 trên tạp chí Mai.

Thơ của ông xuất hiện trên nhiều tạp chí trong và ngoài nước. Ông có thơ đăng trên nhật báo Los Angeles Times, 1983, và New York Times, 1994.

Năm 1993, Giáo Sư Neil L. Jaimeson chọn dịch và phân tích một bài thơ của Du Tử Lê in trong cuốn “Understanding Vietnam,” do hai đại học UC Berkeley và UCLA và nhà xuất bản London ấn hành, là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại Hoa Kỳ và Âu Châu.

Vẫn theo tác giả này, cùng với Nguyên Sa, sự đóng góp trí tuệ của Du Tử Lê cũng như Linh Mục Thanh Lãng và Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam là điều không cần phải hỏi lại (Understanding Vietnam, trang 344).

Du Tử Lê là một trong sáu nhà thơ Việt Nam thuộc thế kỷ thứ 20, có thơ được chọn in trong tuyển tập “Thi Ca Thế Giới Từ Thời Thượng Cổ Tới Ngày Nay” (World Poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time) do nhà xuất bản W.W. Norton New York, New York, ấn hành năm 1998.

Thơ của ông cũng được một số đại học dùng để giảng dạy cho sinh viên từ năm 1990.

Ký giả Jean Claude Pomonti, một nhà báo hàng đầu của tạp chí Le Monde của Pháp, đã chọn một bài thơ của Du Tử Lê để dịch sang Pháp ngữ và phê bình trong tác phẩm “La Rage D’Être Vietnamien” do Seuil de Paris xuất bản năm 1975.

Du Tử Lê là một trong bảy nhà thơ miền Nam, được cố nhà văn Mai Thảo chọn là “Bảy Vì Sao Bắc Đẩu” của nửa thế kỷ thi ca Việt Nam. Sáu người kia là Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, và Tô Thùy Yên.

Du Tử Lê là tác giả của trên 70 tác phẩm đã xuất bản.

Thi phẩm đầu tiên của ông xuất bản năm 1964.

Tùy bút của ông bao gồm “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời,” do công ty Văn Hóa Cổ Phần Phương Nam, Sài Gòn, ấn hành Tháng Tư, 2017; “Mẹ về Biển Đông,” do Hội Nhà Văn Việt Nam, Hà Nội, xuất bản Tháng Sáu, 2017; Tuyển tập thơ “Khúc Thụy Du,” do Phanbook, Sài Gòn, xuất bản Tháng Sáu, 2018; Tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu” và truyện dài “Với nhau, một ngày nào” (in lần thứ ba), do Saigon Books xuất bản Tháng Bảy, 2018.

Nếu không kể những tác phẩm được tái bản thì tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu” là tác phẩm thứ 73 của họ Lê, tính đến Tháng Bảy, 2018.

Là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam, thơ của ông cũng được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc và trở thành những bài nhạc nổi tiếng như “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn,” “Hạnh Phúc Buồn (Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi),” “Giữ Đời Cho Nhau (Ơn Em),” “Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển,” “Khúc Thụy Du,” “K Khúc Của Lê,” “Khi Cuộc Tình Đã Chết,”….

Từ năm 1981 tới nay, nhà thơ Du Tử Lê có nhiều buổi thuyết trình tại một số đại học tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, và Úc. Ông từng hai lần được mời đến Harvard University để nói chuyện về thơ của mình.

Từ năm 2009 tới 2012, mỗi năm Du Tử Lê đều có ít nhất một lần thuyết trình về thơ tại đại học UC Berkeley và đại học Cal State Fullerton.

Ngoài thi ca, Du Tử Lê còn là một họa sĩ.

Kể từ Tháng Bảy, 2011, nhiều tranh của ông được dùng làm bìa sách cũng như in nơi trang bìa của một số tạp chí xuất bản tại Hoa Kỳ.

Tính tới 2012, ông đã có hai cuộc triển lãm cá nhân, một tại Houston, Texas, và một tại Seattle, Washington.

Cuộc triển lãm cá nhân lần thứ ba của Du Tử Lê, vào Thứ Bảy, 30 Tháng Ba, 2013, tại Virginia, là triển lãm mở đầu cho năm.

Và năm 2014 của họ Lê được đánh dấu bằng cuộc triển lãm bỏ túi ở Coffee Lover, San Jose, California, với bảy tác phẩm hội họa, được bán hết trong vòng 45 phút.

Cuối năm 2012, với sự hướng dẫn của Giáo Sư Diêu Thị Lan Hương, cô Trần Thị Như Ngọc, cư dân Hà Nội, đã chọn thơ Du Tử Lê cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, chuyên ngành Lý Luận Văn Học, với tựa đề “Thơ Du Tử Lê Dưới Góc Nhìn Tư Duy Nghệ Thuật,” được hội đồng giám khảo chấm đậu và được phép dùng để giảng dạy. Luận văn này hiện được lưu trữ tại Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, thuộc Đại Học Quốc Gia Hà Nội, mã số: 60 22 01 20.

Chưa hết, thi sĩ Du Tử Lê còn viết văn và biên khảo văn học.

Bước vào năm 2015, tác phẩm truyện dài “Với nhau, một ngày nào” (tái bản lần thứ nhất) của nhà thơ, và bộ sách dầy 700 trang, tựa đề “Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015” – tập 1, được cơ sở H.T. Productions xuất bản, công ty Amazon in và phát hành. Ngoài ra, bộ sách “Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015” – tập 2, đầu sách thứ 67, của nhà thơ Du Tử Lê cũng được công ty Amazon in và phát hành giữa Tháng Chín.

Riêng năm 2018, tại Sài Gòn, đã có bốn đầu sách của Du Tử Lê được xuất bản cũng như tái bản, trong số đó, có các tuyển tập như:

-Tuyển tập thơ “Khúc Thụy Du,” tác phẩm thứ 72, do PhanBooks, Sài Gòn, xuất bản Tháng Sáu, 2018.

-Tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu,” tác phẩm thứ 73, do Saigon Books xuất bản Tháng Bảy, 2018.

-Tuyển tập tùy bút “Giữ Đời Cho Nhau” II, do PhanBooks, Sài Gòn, xuất bản Tháng Sáu, 2018. 

(Đỗ Dzũng)

Nhà thơ Du Tử Lê qua đời

Related image

14:59 09/10/2019

pno

Người thân cho biết nhà thơ Du Tử Lê – tác giả của bài thơ ‘Khúc Thuỵ Du’ vừa qua đời tại Mỹ.

Nhà thơ Du Tử Lê (tên thật Lê Cự Phách) sinh năm 1942 tại Kim Bảng – Hà Nam, hiện cư ngụ tại Garden Grove, Nam California (Mỹ). Sinh thời, Du Tử Lê được biết đến là tác giả của nhiều tập thơ, văn xuôi ấn tượng như: Tình khúc tháng Mười Một, Tay gõ cửa đời, Ngửa mặt, Vốn liếng một đời, Qua hình bóng khác, Chú Cuội buồn, Một đời riêng, Khóc lẻ loi một mình, Giỏ hoa thời mới lớn, Khúc Thuỵ Du, Giữ đời cho nhau…

Du Tử Lê từng học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn. Năm 1969 ông tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana. Du Tử Lê đạt giải thưởng Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 cho tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972.

 
Sinh thời, nhà thơ Du Tử Lê cho ra mắt nhiều tác phẩm được đánh giá cao về nghệ thuật, ý tưởng

Cuộc đời sự nghiệp của nhà thơ Du Tử Lê tạo được ấn tượng và trở thành niềm tự hào của nhiều bạn đọc trong nước khi thơ của ông được xuất hiện trên Los Angeles Times và New York Times trong thập niên 1980-1990. Thơ ông được dịch trong tuyển tập Understanding Vietnam (là sách giáo khoa về văn học Việt Nam sử dụng cho nhiều trường đại học tại châu Âu).

Du Tử Lê từng tham gia thuyết trình về sáng tạo thơ tại một số trường đại học quốc tế. Năm 1998, nhà xuất bản W. W. Norton, New York đã chọn Du Tử Lê vào 1 trong 5 tác giả Việt Nam để in vào phần “Thế kỉ 20: thi ca Việt Nam” khi tái bản tuyển tập World Poetry An Anthology of Verse From Antiquity to Our Present Time (Tuyển tập Thi ca thế giới từ xưa đến nay).

Không dưới 300 bài thơ của ông đã được phổ nhạc, trong đó có nhiều ca khúc nổi tiếng như: Ca khúc của Lê, Chẳng lớn lao nào hơn cô đơn, Dòng suối trăm năm, Giữ đời cho nhau, Gót xưa đường về, Hạt mưa bay cuối đời, Khúc Thuỵ Du…

Minh Tú

Thi sĩ Du Tử Lê qua đời

09/10/2019

TTO – Trái tim nhà thơ Du Tử Lê vừa ngừng đập lúc 8 giờ 6 phút tối thứ hai 7-10 (theo giờ Mỹ) tại nhà riêng của ông ở Garden Grove (Mỹ), hưởng thọ 77 tuổi, theo thông tin từ người nhà phát đi trên trang cá nhân trưa nay.

Thi sĩ Du Tử Lê qua đời - Ảnh 1.

Nhà thơ Du Tử Lê – Ảnh: TRIẾT TRẦN

Tôi quan niệm, mỗi cá nhân trước khi sinh ra đã được Thượng đế chọn trước một nghề nghiệp hay công việc thích hợp. Điều mà chúng ta gọi một cách nôm na là năng khiếu hay “cái khiếu”. Cá nhân, tôi nghĩ tôi sống sót được tới ngày hôm nay nhờ tình yêu văn chương. Trước đây khi còn ở trên quê hương, tôi không thấy văn chương thực sự “cứu rỗi” tôi như những năm tháng tôi luân lạc xứ người… Vì thế, tôi tự nhủ, hãy viết, cứ viết cho tới ngày nào sức khỏe, khả năng không còn cho phép.

Nhà thơ Du Tử Lê từng tâm sự với báo Tuổi Trẻ tháng 6-2018

Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Kim Bảng, Hà Nam. Ông là nhà thơ có tiếng tại miền Nam từ trước 1975. 

Du Tử Lê tham gia giới viết văn làm báo, là chứng nhân của nhiều trào lưu văn nghệ tại miền Nam trước đây. 

Những kinh nghiệm từ quãng đời này giúp ông viết thành một số công trình có tính chất tổng thuật và khảo cứu về văn nghệ miền Nam trước 1975: Phác họa toàn cảnh sinh hoạt 20 năm VHNT miền Nam 1954-1975, Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015.

Du Tử Lê làm thơ từ rất sớm, bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức từ năm 1958 trên tạp chí Mai.

Related image

Nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam từng yêu thơ Du Tử Lê, đặc biệt cả giới trẻ trước và sau 1975 có nhiều người hâm mộ bài hát Khúc Thụy Du vốn được nhạc sĩ Anh Bằng phổ từ bài thơ cùng tên của Du Tử Lê. 

Khúc Thụy Du được Du Tử Lê viết từ tháng 3-1968, như một phần cảm thức của người trẻ trước cuộc chiến đang lan rộng tại Việt Nam.Current Time0:01/Duration5:02Auto

Nghe ca khúc Khúc Thụy Du do nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc từ thơ của Du Tử Lê, ca sĩ Quang Dũng trình bày – Video: VTV9

Du Tử Lê định cư tại Mỹ sau ngày 30-4-1975.

Theo thống kê chưa đầy đủ, Du Tử Lê có hơn 70 tác phẩm đã xuất bản. Những năm gần đây, một số sách của ông trở lại với bạn đọc trong nước thông qua các đơn vị xuất bản:

– Du Tử Lê tùy bút tuyển chọn (2015)

– Với nhau, một ngày nào (tản văn, 2018)

– Trên ngọn tình sầu (tập thơ, 2018)

– Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời (tùy bút dạng hồi ký, 2017) 

– Khúc thụy du (tuyển thơ, 2018)

– Giữ đời cho nhau (tuyển tùy bút, 2018)

– Chúng ta, những con đường (thơ, 2019)…

Related image

Theo ghi nhận của người trong giới, Du Tử Lê bên cạnh Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên làm nên bảy gương mặt thơ xuất sắc nhất miền Nam thời trước 1975.

Về hoạt động liên quan đến thơ, từ năm 1981 tới nay, nhà thơ Du Tử Lê có nhiều buổi thuyết trình tại một số đại học tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, và Úc. Ông từng hai lần được mời đến đại học Harvard để nói chuyện về thơ của mình. 

Từ năm 2009 tới 2012, mỗi năm Du Tử Lê đều có ít nhất một lần thuyết trình về thơ tại đại học UC Berkeley và đại học Cal State Fullerton.

Sự nghiệp thơ của Du Tử Lê từng được một học viên cao học tại Đại học Khoa học, xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội là Trần Thị Như Ngọc chọn làm luận văn tốt nghiệp, nhan đề Thơ Du Tử Lê dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật thuộc chuyên ngành Lý luận văn học. 

Một số sách và bản thảo của Du Tử Lê vẫn đang được các đơn vị làm sách trong nước giao dịch với ý định sẽ ấn hành trong tương lai.

Du Tử Lê (Lê Cự Phách) sinh năm 1942 tại Kim Bảng, Hà Nam. Ông là tác giả của 70 tập thơ, văn xuôi. Ông học Đại học Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana (1969). Giải thưởng Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 (tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972).

Thập niên 1980-1990, thơ ông xuất hiện trên Los Angeles Times và New York Times. Thơ ông được dịch trong tuyển tập Understanding Vietnam (liên Đại học Berkeley, UCLA, London ấn hành; là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại châu Âu).

Ông là một trong sáu nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20 có thơ dịch trong tuyển tập World Poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time (W.W. Norton New York, 1998). Ông từng thuyết trình về sáng tạo thơ ca tại một số đại học ở Mỹ, Pháp, Đức và Úc. Ông cư ngụ tại Garden Grove, Nam California (Mỹ).

Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành các ca khúc nổi tiếng.

Du Tử Lê:

Du Tử Lê: ‘Văn chương cứu rỗi tôi trong những ngày luân lạc…’

TTCT – Du Tử Lê là thi sĩ Sài Gòn được công chúng biết đến qua những bài thơ tình được nhiều nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhưng Du Tử Lê không chỉ có thơ tình.LAM ĐIỀN

thơ tình.LAM ĐIỀN

 

  Nhớ về nhà thơ Du Tử Lê

 09/10/2019

NS Tuấn Khanh

Nếu nhớ về một Du Tử Lê tài hoa trong chữ nghĩa, trong thi ca, ắt đã có nhiều người viết. Hôm nay có lại viết cũng thừa. Nhưng nói về Du Tử Lê đã sống thế nào trong cái yêu ghét của người Việt, cái đó có lẽ ít người viết. Đặc biệt là yêu ghét đã nổi gió kể từ khi ông về lại Việt Nam sau nhiều năm tỵ nạn. 

Nhưng thật ra, không chỉ riêng Du Tử Lê, văn nghệ sĩ nào của người Việt miền Nam Việt Nam tự do từng rời khỏi nước sau tháng 4/1975, khi quay lại quê nhà, đều là những người đi ngược gió.

Năm 2005, nhạc sĩ Phạm Duy về Việt Nam sinh sống. Đó là một cơn bão chứ không là gió. Những kẻ chống ông quay về, từ trong nước có cả kẻ thù và có cả người quen. Những người giận dữ đặt tên ông là phản bội, là cơ hội… thì ở chung quanh nơi ông sống. Là Midway city, nơi mà ông chỉ ký dưới thư tay bằng tiếng Việt – thị trấn giữa đàng – khi gửi cho tôi, thời chưa có internet. Vào những ngày ông đau yếu ở quận 10, Việt Nam, tôi đến thăm và hỏi rằng “Bác thấy hài lòng khi về sống ở VN chứ?”. Ông lắc đầu cười khẽ, nói “câu trả lời chính xác, là tôi hài lòng được chết nơi quê hương của mình”. 

Năm 2012, khi ca sĩ Khánh Ly lần đầu được Hà Nội cho phép vào nước. Bà đã đi xuyên qua những lời miệt thị, phỉ báng đến rợn người để về lại Sài Gòn. Khi tôi hỏi rằng bà quay về với suy nghĩ gì. Bà đã cười và hỏi ngược lại tôi “Khi em chạy về quê nhà của mình, em nghĩ gì?”. 

Từ 2014, Du Tử Lê đã có những chuyến đi về Việt Nam, đến năm 2016 thì người ta thấy ông xuất hiện trong những buổi ra mắt sách in ở Việt Nam. Dĩ nhiên, ông cũng bị tấn công không ngớt, bị gọi là thằng hèn, kẻ hám danh… Trong một lần ngồi café với ông ở Garden Grove, thành phố nơi ông sống, tôi thấy ông đột nhiên trầm ngâm rồi cười như một mình, nói với tôi “Nếu giờ này, anh và em ngồi ở một quán café nào đó Sài Gòn thì hay biết mấy nhỉ”. Đuôi mắt ông nheo nheo, ẩn trong nụ cười là một nỗi buồn vô hạn. 

Điều đó, tôi hiểu. Không chỉ văn nghệ sĩ mà bất kỳ con người nào bị buộc phải rời khỏi quê hương trong bất toại, đều là những vệt ám ảnh trong ký ức. Đau đớn hay hạnh phúc, họ đều muốn được tận hưởng với hơi thở quê nhà. Họ cần hít hà nguồn cội đó, hít hà để nhớ và để chết. Hít hà như những kẻ nghiện nơi chốn của mình.

Những ngày đi xa, ngồi trên máy bay về Việt Nam có lẫn nhiều người đã tha hương rất lâu, có trẻ, có già… tôi chứng kiến khi chiếc máy bay sà xuống, khi những khối nhà và con đường hiện lên, nhiều người đã xúc động kêu lên “tới rồi, tới Sài Gòn rồi…”. Những cái đầu vói nhìn qua cửa sổ, những lời bàn về chỗ sắp đến của họ râm ran khắp các ghế. Quê hương như một liều doping mầu nhiệm, trong phút chốc mọi người phấn chấn và tạm quên vì sao họ bị bứt khỏi nơi này, tạm quên nơi họ đến, là nơi những người cộng sản cầm quyền chứ không như ngày xưa ấy. 

Related image

Cũng vì vậy mà trong lịch sử, mọi chế độ độc tài đều muốn cầm giữ quê hương và dân tộc như một loại con tin để mặc cả với tương lai, để hành hạ con người, tra tấn sự yêu thương.

Từ những điều đơn giản đó, mà tôi cảm nhận được nhiều hơn với chuyện quay về. Du Tử Lê từng bị gọi là ham tiền, hám danh… khi quay lại Việt Nam, nhưng thật ra, tôi tin là ông, cũng như Phạm Duy hay Khánh Ly, tìm thấy nhiều điều khác hơn, sâu thẳm hơn so với những lời kết tội đó. Mỗi người có một lý do của mình, và họ có quyền im lặng, quyền chọn vào sự phán xét cuối cùng ở tương lai chứ không bởi một cá nhân hay một cộng đồng nào. 

Trong giai đoạn còn khỏe, Du Tử Lê hay gặp vài thân hữu khép kín vào buổi sáng. Ngày chẳn thì ở một quán café tại Westminster, ngày lẻ thì ở một quán Bún bò Huế tại Garden Grove. Các câu chuyện về văn chương và cuộc đời với nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, nhà báo Vương Trùng Dương, nhà báo Ngọc Hoài Phương… vẫn thời sự nhưng rồi, bao giờ đề tài Việt Nam và quá khứ luôn là chính. Có những lúc nhìn họ, tôi tự hỏi vì sao họ có thể nói về Việt Nam và một thời mãi không chán. Họ như những đứa trẻ đầy ký ức luôn cười khúc khích và sôi nổi tranh nhau khi kể về.

Thi sĩ Du Tử Lê và thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên

Rồi tôi cũng chợt nhìn thấy trong những văn nghệ sĩ Việt bị gọi là lưu vong đó, một cách giải thích khác trong chuyện quay về. Với họ, quê hương là mẹ, là mãi mãi với cuộc đời của họ. Chế độ chỉ là giai đoạn. Và nếu người mẹ bị cầm giữ, thì dù phải luồn lách thế nào, họ cũng chấp nhận để được chạm vào, để được nhìn thấy.

Trong một lần nhà thơ Du Tử Lê lấy xe đưa tôi về, trên đường đi bất thần tôi hỏi “anh có nhận biết ngoài những người yêu mến anh, còn rất nhiều người ghét bỏ anh không?”. Ông sựng lại ít giây, rồi mặt rất nghiêm “anh biết chứ. Anh đã không làm vừa lòng rất nhiều người. Không có nghĩa là anh đã đúng và tử tế hoàn toàn đâu Nhưng anh thấy mình vui vì không chối bỏ, và thật sự biết vì sao mình làm như vậy”. 

Có rất nhiều điều trong đời, không cần người phải biết, nhưng riêng mình biết, trời biết. Khi chiếc xe của ông đi khuất, đứng lại trên con đường vắng với gió nhẹ mùa hè, tôi thấy mình thấu hiểu hơn, dung nhận rõ nỗi cô đơn của người-trong-cộng-đồng- người. 

 Và hôm nay, khi nghe tin nhà thơ Du Tử Lê qua đời, tôi tin có không ít đồng loại cúa mình, cũng đang mỉm cười và cô đơn đến cuối cùng. 

Em đã nói giúp suy nghĩ của anh rồi đó. Hẹn gặp lại anh, Du Tử Lê.


Sưu tầm & tổng hợp by Kim Phượng

Image result for du tử lê

 

 
 
 

TÌNH MUỘN Hoàng Nguyên Linh.

  • Đăng tại Truyện
TÌNH MUỘN
Hoàng Nguyên Linh

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

Nơi tôi dạy ngày trước là một trường nữ trung học nổi tiếng ở Thủ Đô. Thành phần ban giảng huấn đa số là phái nữ, nam giáo sư chỉ có vài vị. Hôm khai giảng năm đó có một nam giáo sư mới đổi về và hiện diện trong cuộc họp đầu tiên của hội đồng giáo sư. Bà hiệu trưởng giới thiệu chàng với mọi người. Đôn đứng lên cúi đầu chào. Hội đồng giáo sư vỗ tay mừng đón Đôn. Đôn cúi đầu một lần nữa như để cám ơn tràng vỗ tay của các bạn đồng nghiệp rồi mới ngồi xuống. Đôn ngồi bên tôi. Chàng người nhỏ bé, dáng dấp hiền lành và hơi nhút nhát trước các nữ đồng nghiệp. Đôn còn rất trẻ, có thể kém tôi cả mười tuổi, đó là ý nghĩ ban đầu của tôi về chàng. Đôn dạy toán còn tôi dạy môn Việt Văn. Tôi với chàng dạy cùng giờ và những lúc ra chơi Đôn hay đến ngồi bên tôi để nói chuyện. Tôi nghĩ sở dĩ Đôn hay ngồi bên tôi có lẽ vì ngày đầu Đôn đã ngồi bên tôi nên như là một thói quen? Ngày tháng kế tiếp nhau, Đôn vẫn nói chuyện với tôi bình thường nhưng thỉnh thoảng tôi bắt gặp đôi mắt chàng hơi khác lạ. Cái giác quan thứ sáu cho tôi biết là Đôn thích tôi nhưng chàng rất kín đáo theo cái kiểu “yêu trộm nhớ thầm”.

 

Tôi đã lập gia đình và có một con. Có lẽ “gái một con trông mòn con mắt” nên chàng thích nói chuyện với tôi? Nhưng cả Đôn và tôi không ai nói ra điều gì, vậy mà không hiểu tại sao một số đồng nghiệp đã bàn tán về Đôn và tôi, có lẽ họ thấy Đôn hay ngồi nói chuyện với tôi chăng? Khi tôi sinh đứa con thứ ba thì Đôn lấy vợ, thế là bao nhiêu đồn đãi, xầm xì Đôn mê tôi được dẹp tắt. Ngày đám cưới của Đôn đa số đồng nghiệp trong trường đều đến dự, nhưng tôi chỉ gửi quà mừng và không tới. Tôi vất vả với 3 đứa con, không đi đâu được, còn chồng tôi từ ngày tôi sanh đứa con thứ hai thì không bao giờ đi chung với tôi nữa. Tôi không muốn nghe người ta hỏi “Anh đâu hở chị ?” hoặc “Anh có đi không?”. Tôi không thích mọi người biết cái thiếu hạnh phúc của tôi… Tôi với chồng tôi luôn khác ý nhau, tôi cố gắng giữ gìn cho gia đình khỏi đổ vỡ và các con tôi khỏi buồn. Rồi tôi sinh đứa con thứ 4, thứ 5 và thứ 6, mỗi đứa chỉ cách nhau chưa đầy 18 tháng. Trong khi đó thì chồng tôi không để ý đến nỗi vất vả của tôi phải chăm sóc 6 đứa con. Chồng tôi hay tìm cách gây gổ với tôi, đôi khi còn dùng thói vũ phu để đánh tôi nữa. Tôi cố gắng chịu đựng vì thời đó đâu mấy ai ly dị chồng, nhất là nghề “cô giáo” càng không cho phép tôi làm điều đó. Hình như chồng tôi đã có vợ hai và đã có con với người này. Tôi vì quá chán nản nên chẳng cần tìm hiểu và cũng chẳng ghen tuông làm gì, tôi chỉ mong sao cho chóng thoát ra khỏi cảnh này. Rồi một ngày phải đến đã đến, sức chịu đựng của tôi có giới hạn và tôi đã phải đi đến quyết định ly dị chồng. Cái tin tôi ly dị chồng đã làm rung động trường tôi dạy. Tất cả các giáo sư và nhân viên trong trường đều biết chuyện. Họ không hiểu tại sao một cô giáo đã một thời nổi danh là đẹp, có nước da trắng hồng và mịn màng, mái tóc lúc nào cũng óng mượt, đã có 6 mặt con mà còn ly dị chồng. Đa số nhìn tôi không mấy thiện cảm. Họ không hiểu được nỗi khổ của tôi. Họ chỉ nhìn bề ngoài, một nữ giáo sư đẹp, có 6 con chắc là phải có hạnh phúc lắm. Họ nghĩ tôi ly dị chồng là để cặp với một anh chàng nào khác chăng ? Cũng may là Đôn đã lấy vợ nếu không họ sẽ nghi ngờ Đôn với tôi. Tôi rất khổ tâm trước búa rìu của dư luận. Ban đầu tôi cũng buồn lắm, nhưng rồi tôi tự an ủi là tôi sống cho tôi, tôi sống theo lương tâm của tôi, tôi không làm điều gì sai trái với đạo đức. Lấy chồng được hơn 10 năm, tôi đã cố gắng chịu đựng để khỏi mang tiếng xấu, có hại cho thanh danh của tôi, thanh danh của một nữ giáo sư, nhưng tôi không còn con đường nào khác hơn nên đành phải đi đến quyết định ly dị chồng.

Từ khi ly dị, chồng tôi không ngó ngàng gì tới các con. Tòa án chỉ ra lệnh trừ một phần lương của chồng để chu cấp cho các con. Đời sống kinh tế thật vất vả. Tôi phải xin đi làm thêm việc thứ hai. Nhờ có kiến thức ngoại ngữ nên tôi xin được việc làm bán thời gian cho môt hãng thầu ngoại quốc. Các giờ dạy của tôi được xếp vào buổi sáng nên nguyên buổi chiều tôi đã đi làm thêm và mướn người trông coi các con và chợ búa, cơm nước, tối về tôi kèm các con học bài. Tôi sống trong cô đơn nhưng được tự do và từ nay không bị người chồng quấy rầy nữa. Cuộc sống của tôi cứ thế trôi đi, các con tôi khôn lớn dần và học hành rất chăm chỉ. Họ hàng rồi đến bạn bè bắt đầu nể nang tôi và khâm phục tôi là người đảm đang. Thời gian này tôi ít gặp Đôn vì tôi với chàng dạy khác giờ nhau và mỗi người có một cuộc sống riêng…

Biến cố tháng Tư năm 1975 xẩy ra, bẩy mẹ con tôi được hãng thầu Mỹ cho đi định cư tại Hoa Kỳ. Chính người sếp chở chúng tôi vào phi trường Tân Sơn Nhất rồi đưa lên máy bay C130 cùng với một số đồng bào Việt Nam khác. Máy bay tới thẳng đảo Guam ở Thái Bình Dương, hai tuần lễ sau mấy mẹ con tôi tới trại Fort Chaffee thuộc tiểu bang Arkansas miền trung nước Mỹ. Fort Chaffee là một căn cứ cũ của quân đội Mỹ cũng giống như trại Campleton ở California do chính phủ Mỹ dùng cho những người tỵ nạn tạm trú. Chúng tôi ở trại Fort Chaffee hơn một tháng thì được nhà thờ Peace Lutheran Church ở St. Louis thuộc tiểu bang Missouri bảo trợ. Hội viên nhà thờ luân phiên nhau săn sóc gia đình tôi. Họ đưa tôi đi chợ, đưa các con tôi đi học. Tôi được hội thiện nguyện Lutheran tìm cho một việc làm rất thích hợp với khả năng tôi đó là chương trình giới thiệu văn hoá Á Đông cho học sinh bản xứ. Đầu tiên tôi chỉ cho học trò cách viết của người Việt Nam và người Trung Hoa. Nét đặc biệt của chữ Việt là các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Các dấu này mà thay đổi thì ý hoàn toàn khác. Tôi viết lên bảng năm chữ : HAY TRONG CAY VAO CHUA rồi thay đổi các dấu, câu này sẽ trở thành “ Hãy trông cậy vào Chúa” hoặc “ hãy trồng cây vào chùa”, chữ VO DE sẽ trở thành “vợ đẻ” hay “vỡ đê” v...v. Về chữ Tàu cũng vậy. Người Tàu hay dùng lối tượng hình để tạo nên chữ viết. Từ hình mặt trời người Tàu có chữ “Nhật”, từ chữ “nhật” thêm đám mây bay qua sẽ thành chữ “Nguyệt”, cao hơn “Đại”(lớn) là “Thiên” (trời). Hình hai cánh cửa là chữ “Môn” (cửa), để chữ “Thị” (chợ) vào chữ “môn” thành chữ “Náo” (ồn ào), để chữ “Nguyệt” (mặt trăng) vào chữ “môn” thành chữ “Nhàn” (nhàn hạ). Tôi liên tưởng tới câu thơ của cụ Nguyễn Công Trứ “Thị tại môn tiền náo, Nguyệt lai môn hạ nhàn” (chợ ở trước cửa thì ồn ào, mặt trăng đến trước cửa thì nhàn hạ), nhưng tôi chỉ nghĩ và mơ hồ về ngày xưa trong những giờ dạy Việt Văn chứ không dám nói nhiều sợ học trò không hiểu. Tôi nghĩ đến ngôi trường tôi dạy, nhớ đến bạn cũ, trường xưa, nhớ đến đám học sinh với áo dài trắng, tóc thề xõa bên vai:

“ Chừ em tóc xoã bờ vai

Nghiêng nghiêng vành nón chờ ai cổng trường

Gặp em hồn bỗng vấn vương

Thấy em như thấy tình thương thuở nào

Mới nhìn lòng đã xôn xao

Bâng khuâng chưa biết làm sao bây giờ

Nghe đâu tiếng hát vu vơ:

“Cho tôi gửi một bài thơ yêu nàng”

Nhưng rồi không dám bước sang

Ngày ngày đứng đợi xem nàng cười duyên”…

 

 Mấy câu thơ tôi đã đọc trong một tạp chí nào đó bây giờ tôi vẫn còn nhớ. Người ta thích các em, người ta mê các em là phải. Các em học sinh của tôi, không bao giờ tôi quên được hình ảnh các em. Các em bay lượn như bướm, líu lo như chim. Tôi nay phiêu bạt ở phương trời này, tên các em, nét mặt dễ thương của các em như Mặc Lan, Ngọc Lan, Ngọc Hà, Ngọc Huệ, Ngọc Duyên, Kim Oanh, Kim Anh, Tuyết Tường, Thư Dung… tôi vẫn còn nhớ. Nay tôi đứng ở đây, cũng bảng đen, phấn trắng nhưng thấy xa lạ làm sao. Tôi khẽ thở dài rồi cố gắng quay về với hiện tại… Các lớp tôi dạy, học sinh đều thích thú và nhà trưởng rất toại nguyện về việc làm của tôi nhưng công việc này chỉ có tính cách tạm thời và được ký từng năm một, không có bảo hiểm sức khỏe nên ông hiệu trưởng đề nghị tôi thi lấy bằng hành nghề giáo viên và ông đã hướng dẫn tôi. Ba năm sau tôi trở thành giáo viên chính thức của School District tại St. Louis và hội nhập với đời sống mới. Lâu dần tôi cũng cảm thấy mến trường, mến bạn và thương yêu đám học trò và cũng có những học trò đến thăm tôi, thư từ cho tôi, gửi những thiệp Giáng Sinh, thiệp sinh nhật cho tôi. Trong khi đó các con tôi lần lượt tốt nghiệp đại học, đi làm và ra ở riêng. Hơn 25 năm sau tôi xin về hưu trí. Những giờ rảnh rỗi tôi tham gia làm những việc từ thiện trong nhà thờ như giúp họ điền những giấy tờ, hướng dẫn cách khai thuế cá nhân hoặc đưa đón những người không có phương tiện di chuyển. Tôi cũng bắt đầu liên lạc với hội cựu giáo sư và học sinh nơi trước kia tôi đã dạy ở Việt Nam. Các học trò cũ của tôi hàng năm vẫn tổ chức những cuộc họp mặt bạn bè và mời thầy cô tham dự. Tôi được Măc Lan, học trò cũ khẩn khoản mời về chơi. Mặc Lan giữ kín không cho biết những ai tham dự và chỉ nói đông lắm, cô đến cô sẽ thấy và Mặc Lan hẹn sẽ đón tôi ở phi trường Los Angeles khi tôi về đến nơi. Ngày ra đi tôi hồi hộp gặp lại bạn bè và học trò. Tôi ra khỏi máy bay và đi qua chỗ thân nhân đứng đợi nhưng không thấy ai đón tôi. Tôi nghĩ có lẽ Mặc Lan bị kẹt xe nên đến trễ. Tôi định đi thẳng đến chỗ lấy hành lý rồi mới gọi điện thoại, bất ngờ tôi gặp Đôn. Chàng chạy lại ôm chầm lấy tôi. Chúng tôi ôm nhau, mừng mừng tủi tủi sau gần 30 năm trời không gặp. Đã lâu lắm rồi tình cảm tôi như đã nguội lạnh, bây giờ tôi mới được một người đàn ông ôm tôi. Vòng tay chàng thật chặt, hình như má chàng cũng chạm vào má tôi. Tôi như sống lại trong thời xuân sắc. Tim tôi rộn ràng, hồi hộp mà tôi tưởng chừng như đã chết từ lâu. Buông tôi ra rồi Đôn mới nói:

- Rất vui mừng gặp lại chị. Sao chị có khỏe không ?

- Cảm ơn anh. Tôi cũng thường. Lâu quá rồi anh nhỉ ? Sao may lại gặp anh ở đây. 

- Cô học trò tên Mặc Lan cho biết chị đến nên tôi xin ra đón chị.

Tôi xúc động:

- Thì ra anh đi đón tôi. Cảm ơn anh nhiều. Tôi lại tưởng anh đi chơi đâu về chứ.

Chúng tôi vừa đi đến chỗ lấy hành lý vừa nói chuyện tiếp:

- Các bạn đồng nghiệp anh có gặp ai không ?

- Tôi có gặp một vài vị nhưng các chị ấy nghiêm trang quá, tôi sợ nên không dám quen thân.

- Sao anh không sợ tôi, anh còn dám ôm tôi nữa ?

- Xin lỗi chị, tôi cũng không hiểu tại sao. Có lẽ tại mừng quá. Ngày xưa ở trong trường, tôi cũng chỉ hay nói chuyện với chị thôi mà.

- Không sao đâu. Tôi cũng nghĩ vậy nên để nguyên cho anh ôm và không phản đối. Tôi cũng vui mừng và xúc động lắm khi gặp lại anh.

- Chị biết tính tôi. Lúc đầu tôi không muốn tham gia hội hè gì cả, sau Mặc Lan nói có chị về nên tôi mới tới dự. Tôi xin đi đón chị trước các cô ấy không cho đi, tính bắt bí, tôi phảỉ nằn nỉ mãi mới được đi đón đó.

Nghe Đôn nói tôi thấy chàng vẫn chân tình như ngày xưa nhưng bạo dạn hơn. Tôi mơ hồ như có chuyện gì sắp xẩy ra. Tôi vừa vui lại vừa lo. Tôi bảo Đôn:

- Mải nói chuyện nên quên chưa hỏi thăm anh lúc này ra sao ?

- Bà xã tôi mất cách nay bẩy năm rồi. Các con đã lập gia đình và ở riêng. Tôi bây giờ sống một mình…

Sợ Đôn buồn nên tôi không hỏi thêm về gia đình chàng nữa. Đôn giúp tôi lấy hành lý rồi chúng tôi ra xe để về nhà Mặc Lan, học trò cũ của tôi và Đôn.

Trên đường về, cả Đôn và tôi mỗi người như theo đuổi một ý nghĩ riêng. Hình ảnh trường xưa bạn cũ hiện ra nơi tôi. Thời gian qua mau tôi tưởng như mới ngày nào… Xe dừng lại đánh thức tôi trở về với thực tại. Đôn phải khó khăn lắm mới tìm được chỗ đậu xe. Khi chúng tôi vào nhà mọi người đã đông đủ. Tiếng vỗ tay vang lên xen lẫn với tiếng cười. Trong buổi họp mặt hình như chỉ có tôi từ xa đến còn đa số các gíáo sư khác đều ở Orange County hoặc Los Angeles County. Các bạn đồng nghiệp và học sinh cám ơn tôi đã đến họp mặt dù đường xá xa xôi. Người vui nhất và săn sóc tôi nhiều nhất là Đôn. Cả học trò và giáo sư thỉnh thoảng cũng xen vào những câu nói đùa tôi với Đôn. Tôi thấy thật vui khi gặp lại đông đủ mọi người. Bao kỷ niệm được gợi lại. Có học sinh đem khoe hình ảnh chụp với thầy cô ngày trước, có em đưa ra khoe cuốn lưu bút ngày xanh, Mặc Lan mang quyển Thông tín bạ ra khoe, có kèm theo lời phê và chữ ký của tôi trong đó: “Học hạnh song toàn, kết quả mỹ mãn”. Tháng trước Mặc Lan có gọi điện thoại cho tôi và nói em rất cảm động và biết ơn tôi về lời phê bình đó. “Lời phê bình này em chỉ có một lần trong đời và em luôn ghi nhớ, chính nhờ lời phê bình đó mà em đã cố gắng sao cho xứng đáng với nhận xét của cô về học vấn và đức hạnh, em đã mang theo cuốn học bạ này sang Mỹ và sẽ giữ mãi trong đời em…”. Những người học sinh Việt Nam có tình như thế, có lòng như thế tôi tin là họ phải thành công trên trường đời. Ngày nay Mặc Lan đã là một nữ bác sĩ nổi danh và nhiều em khác nữa cũng thành công không kém. Bữa tiệc họp mặt kéo dài đến gần nửa đêm mới chấm dứt mặc dù cuộc hành trình khá xa nhưng vì quá vui nên tôi vẫn không thấy mệt. Mặc Lan dành cho tôi phòng riêng và tôi ở lại chơi một tuần. Ngày nào Đôn và học trò cũng luân phiên nhau đến đưa tôi đi chơi.

Đôn và các học trò đề nghị tôi bỏ St. Louis về sống ở California. St. Louis là một thành phố cổ kính, người dân ở đây rất mộ đạo. Nhà thờ san sát trong thành phố, cứ cách mấy con phố lại có một nhà thờ. Ngày Chủ nhật là ngày của Chúa. Chợ và các tiệm lớn đều đóng cửa để mọi người đi lễ nhà thờ. St. Louis mùa Đông rất lạnh và buồn, khó thích hợp với người về hưu như tôi. Các con tôi nay đã lớn và ở riêng nhưng tôi chỉ hứa để về suy nghĩ và bàn lại với các con chứ chưa có quyết định gì cả.

Ngày vui qua mau. Tôi phải trở lại St. Louis. Đôn bịn rịn đưa tiễn tôi tận phi trường. Từ đó tuần nào Đôn cũng gọi điện thoại cho tôi. Rồi một hôm Đôn đến St. Louis thăm tôi và đề nghị tôi về chung sống với chàng. Tôi thật khó nghĩ, không biết tính sao, mấy chục năm nay tôi vẫn sống độc thân được thì nay cứ tiếp tục như vậy đâu có sao. Tôi gọi các con tôi về để giới thiệu Đôn và tôi hỏi ý kiến các con. Tất cả các con đều vui vẻ tán thành nhưng tôi vẫn thấy e ngại vì tôi nay đã lớn tuổi và đã có cháu nội, cháu ngoại. Các con tôi tán thành là một việc nhưng còn người thân và bè bạn nữa. Họ sẽ ngạc nhiên lắm khi một bà giáo có 6 mặt con trước đã ly dị chồng, nay từng này tuổi đầu mà còn tái giá. Làm sao tôi tránh khỏi miệng lưỡi người đời…

Tôi đang chần chừ suy nghĩ thì nhận được thư của con trai lớn từ Washington DC gửi về. Đại ý con trai tôi viết:

Thưa mẹ,

Con đã hỏi ý kiến các em. Nay con viết thư này kính tin mẹ rõ. Tất cả chúng con không những chỉ yêu mẹ mà chúng con còn kính phục mẹ nữa. Một mình mẹ đã đảm đang, nuôi nấng và dạy dỗ chúng con nên người. Mẹ vất vả mà không hề kêu than, mẹ cô đơn mà không hề oán trách. Mẹ cố gắng vươn lên trong mọi tình huống khó khăn. Mẹ là tấm gương cho chúng con noi theo. Chúng con hiểu đời sống tình cảm của mẹ rất cô đơn nhưng mẹ lấy cái vui của chúng con làm nguồn vui của mẹ. Nay chúng con đã trưởng thành, đã đi làm và không được ở gần mẹ. Mẹ đã sống vì chúng con và sống cho chúng con. Chúng con không khỏi xúc động khi những việc hệ trọng, liên quan đến đời sống tình cảm của mẹ mà mẹ cũng đặt chúng con lên trên những quyết định của mẹ. Mẹ nói nếu một trong các con phản đối thì mẹ sẽ từ chối đề nghị của chú Đôn.

Chúng con đã gặp chú Đôn tháng trước, tất cả các em con đều vui mừng khi có người sẵn sàng cùng mẹ đi nốt quãng đường còn lại. Chú Đôn đã yêu mẹ từ lâu, chúng con mong mẹ nhận lời chú để mẹ và chú sống với nhau, an ủi nhau trong tuổi xế chiều. Tất cả chúng con đều yêu thương mẹ nhưng chúng con đều đã có gia đình và ở xa. Chúng con tin là chỉ có chú Đôn mới làm được việc này…

Cuối thư tất cả các con cùng ký tên và viết thêm hàng chữ “con yêu mẹ nhiều”.

Tôi như muốn trào nước mắt khi đọc xong lá thư của các con và cũng thầm phục con trai lớn đã cẩn thận lấy chữ ký của các em cho tôi yên tâm.

*

Ngày đám cưới của Đôn với tôi được tổ chức đơn gỉản tại Peace Lutheran Church. Tôi không phải là tín đồ đạo Tin Lành nhưng nhà thờ này đã bảo trợ và giúp đỡ gia đình tôi nên tôi tổ chức ở đây như là một lời cám ơn đối với họ. Tất cả các con và các cháu tôi đều về tham dự. Ngoài một số hội viên nhà thờ, tôi không mời ai cả. Tôi chỉ gửi thiếp báo tin đến một số bạn bè và kèm theo thư cám ơn đến nữ Bác Sĩ Trần Nguyễn Mặc Lan, cô học trò đã cho tôi cơ hội gặp lại Đôn.

 

Con gái và con dâu đã lo quần áo đám cưới và giúp tôi trang đìểm. Tôi soi bóng mình trong gương thấy tôi đẹp và trẻ hẳn ra. Tôi hồi hộp sung sướng. Đôn giắt tay tôi ra xe để đi đến nhà thờ. Ngồi sau hàng ghế Đôn nói nhỏ bên tai tôi “Anh yêu em ngay từ ngày đầu tiên đổi về trường nhưng hôm nay mới thật sự có em”. Tôi ngả đầu lên vai Đôn và nắm thật chặt tay chàng như muốn giữ chàng mãi bên tôi và nói nhỏ trong nghẹn ngào “Em cảm ơn anh. Chúng mình sẽ ở bên nhau mãi nghe anh”.

Tiếng chuông nhà thờ ngân vang như để đón mừng mối tình mới đang nồng nàn yêu thương nhau…

Trích trong tập truyện “Mẹ và Những Mùa Xuân” của

Hoàng Nguyên Linh

Kim Phượng st.

 

Related image

 

 

Theo dõi RSS này