Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1256)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (58)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (345)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

CHÚT TẢN MẠN VỀ CÁC ĐOẢN VĂN “TỰU TRƯỜNG” CỦA ANATOLE FRANCE

CHÚT TẢN MẠN VỀ CÁC ĐOẢN VĂN:

“TỰU TRƯỜNG” của ANATOLE FRANCE

“TÔI ĐI HỌC” của THANH TỊNH

và “CẢM THU” của  ĐINH HÙNG

Ngày khai trường với kỷ niệm mơn man làm tôi nhớ đoản văn LA RENTRÉE DES CLASSES (TỰU TRƯỜNG) của nhà văn Anatole France - trích từ quyển “Le Livre de mon ami” (Cuốn Sách Của Bạn Tôi).

Đoản văn TỰU TRƯỜNG của nhà văn Anatole France có ảnh hưởng lớn tới tâm hồn nhà văn Thanh Tịnh, khi ông viết truyện ngắn TÔI ĐI HỌC. Hình ảnh chú bé A. France trong ngày tựu trường khơi dậy những tình cảm trong sáng, bỡ ngỡ và êm ái của tuổi thơ.

Bởi hơn đâu hết, chính những thầy giáo vỡ lòng, thông qua trang hồi kí tuyệt vời ấy, đã đánh thức ở họ những xúc cảm đầu đời: niềm đam mê học hành và tình yêu văn chương nghệ thuật.

Xin trích dẫn các bản dịch của Phạm Tất Đắc, Bùi Bảo Trúc và bản tiếng Pháp của Anatole France
 

* Bản dịch Phạm Tất Đắc:

“Tôi sẽ kể cho bạn nghe những gì gợi cho tôi nhớ lại hàng năm bầu trời chập chùng của mùa thu, những bữa cơm chiều đầu tiên ăn dưới ánh đèn và những chiếc lá đang úa vàng dần trong những chòm cây run rẩy.

Tôi sẽ kể bạn nghe mình đã nhìn thấy gì khi qua vườn Luxembourg vào những ngày đầu tháng mười, khi phong cảnh hơi buồn và đẹp hơn bao giờ hết, vì đó là những ngày mà lá cây rơi từng chiếc một trên bờ vai trăng trắng của các pho tượng…

Điều tôi nhìn thấy lúc đó, trong vườn ấy, là một chú bé con, tay đút túi quần, cặp sách trên vai, đang bước tới trường, vừa đi vừa nhảy nhót như một chú chim sẻ. Chỉ tâm tư tôi nhìn thấy chú bé, vì đó chỉ là một bóng hình. Đó là bóng hình tôi cách đây hăm lăm năm…”

(Trích một đoạn dịch của Phạm Tất Đắc)

 

* Bản dịch của Bùi Bảo Trúc:

"Tôi sẽ kể cho bạn nghe những gì tôi còn nhớ mỗi năm khi bầu trời đầy xao động của mùa thu, những bữa cơm chiều đầu tiên dưới ánh đèn và những chiếc lá vàng trên những cành cây run rẩy; tôi sẽ kể cho bạn nghe về những gì tôi nhìn thấy khi tôi đi ngang qua vườn Lục Xâm Bảo trong những ngày đầu của tháng 10, trời lúc ấy hơi buồn nhưng đẹp hơn bao giờ vì đó là lúc những chiếc lá từng chiếc rơi rụng xuống những chiếc vai trắng của những pho tượng …

Điều tôi trông thấy lúc ấy trong vườn, là một cậu bé, tay trong túi quần, chiếc cặp sách đeo trên lưng, trên đường đến trường, những bước chân nhẩy như một con chim sẻ. Chỉ trong óc tôi mới nhìn thấy cậu, vì cậu bé đó là cái bóng, cái bóng của chính tôi cách đây 25 năm…

Cậu bé đi nhanh, chiếc cặp sách đeo trên lưng và con quay nằm trong túi. Ý tưởng gặp lại những tên bạn làm cậu vui hẳn lên. Có biết bao nhiêu điều để nói và để nghe… "

(Trích một đoạn dịch của Bùi Bảo Trúc)

* Bản tiếng Pháp Anatole France

LA RENTRÉE DES CLASSES

“Je vais vous dire ce que me rappellent tous les ans, le ciel agité de l’automne, les premiers dîners à la lampe et les feuilles qui jaunissent dans les arbres qui frissonnent; je vais vous dire ce que je vois quand je traverse le Luxembourg dans les premiers jours d’octobre, alors qu’il est un peu triste et plus beau que jamais; car c’est le temps où les feuilles tombent une à une sur les blanches épaules des statues.

Ce que je vois alors dans ce jardin, c’est un petit bonhomme qui, les mains dans les poches et sa gibecière au dos, s’en va au collège en sautillant comme un moineau. Ma pensée seule le voit; car ce petit bonhomme est une ombre; c’est l’ombre du moi que j’étais il y a vingt-cinq ans; Vraiment, il m’intéresse, ce petit : quand il existait, je ne me souciais guère de lui ; mais, maintenant qu’il n’est plus, je l’aime bien........

C’est ainsi qu’il traversait le Luxembourg dans l’air frais du matin. Tout ce qu’il voyait alors, je le vois aujourd’hui. C’est le même ciel et la même terre; les choses ont leur âme d’autrefois, leur âme qui m’égaye et m’attriste, et me trouble; lui seul n’est plus.

C’est pourquoi, à mesure que je vieillis, je m’intéresse de plus en plus à la rentrée des classes. "

(Anatole France - trích từ quyển “Le Livre de mon ami”)

 

Riêng câu này trong đoản văn LA RENTRÉE DES CLASSES (TỰU TRƯỜNG) của nhà văn Anatole France gieo những cảm xúc thật xao xuyến vào sâu thẳm cõi lòng:

“C’est le même ciel et la même terre; les choses ont leur âme d’autre fois, leur âme qui m’egaye et m’attriste, et me trouble, lui seul ‘n’est plus…”

“ Vẫn trời ấy, vẫn đất ấy, vẫn những thứ mang linh hồn ngày xưa, linh hồn làm tôi vui, buồn và bối rối, chỉ riêng chú bé ấy là không còn nữa, nhưng cảm xúc trong hồn tôi vẫn như ngày nào !…"

*

Khi nói Thanh Tịnh chịu ảnh hưởng Anatole France thì không phải ông ấy chịu ảnh hưởng văn phong hay câu từ. Ảnh hưởng Anatole France đối với Thanh Tịnh là ảnh hưởng lên tâm hồn, chính hình ảnh chú bé A. France trong ngày tựu trường đã khơi dậy lên cảm xúc, gợi hứng cho Thanh Tịnh viết TÔI ĐI HỌC.

Theo tôi, nhà thơ Đinh Hùng mới chịu ảnh hưởng văn phong Anatole France khi viết:

“Nắng ở đây vẫn là nắng ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước. Tôi vẫn ngờ như không sự đổi thay, vì lại thấy mình đi trên con đường này.”

(Trích trong tùy bút CẢM THU của Đinh Hùng)

Mời quý bạn đọc đoạn văn sau của Anatole France, đối chiếu và so sánh thử nhé!

“ Vẫn trời ấy, vẫn đất ấy, vẫn những thứ mang linh hồn ngày xưa, linh hồn làm tôi vui, buồn và bối rối, chỉ riêng chú bé ấy là không còn nữa, nhưng cảm xúc trong hồn tôi vẫn như ngày nào !…” (Anatole France)
 

La Thụy

 

TÔI ĐI HỌC

(Truyện ngắn của Thanh Tịnh)

◊◊◊◊

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.

Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quý và không ra đồng nô hò như thằng Sơn nữa.

Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn.

Dọc đường tôi thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt, nhưng một quyển vở cũng chì ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xóc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước o sách vở thiệt nhiều lại kèm cả bút thước nữa. Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết.

Tôi muốn thử sức mình nên nhìn mẹ tôi:

- Mẹ đưa bút thước cho con cầm.

Mẹ tôi cúi đầu nhìn tôi với cặp mắt thật âu yếm:

- Thôi để mẹ nắm cũng được.

Tôi có ngay cái ý kiến vừa non nớt vừa ngây thơ này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước.

Ý nghĩ thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi.

Trước sân trường làng Mỹ Lý đầy đặc cả người. Người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa.

Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang làng Hòa An bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé trường một lần.

Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ. Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng gì khác là nhà trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng.

Nhưng lần này lại khác. Trước mặt tôi, trường Mỹ Lý vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình Hòa Ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ.

Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nữa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ.

Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi vào lớp. Chung quanh những cậu bé vụng về lúng túng như tôi cả. Các cậu không đi. Các cậu chỉ theo sức mạnh kéo dìu các cậu tới trước.

Nói các cậu không đứng lại càng đúng hơn nữa. Vì hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi. Hết co lên một chân, các cậu lại duỗi mạnh như đá một quả banh tưởng tượng. Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp.

Ông đốc trường Mỹ Lý cho gọi mấy cậu học trò mới đứng lên trước lớp ba. Trường làng nhỏ nên không có phòng riêng của ông đốc. Trong lúc ông đọc tên từng người, tôi cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập. Tôi quên cả mẹ tôi đang đứng sau tôi. Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng. Sau khi đọc xong mấy mươi tên đã viết sẵn trên mảnh giấy lớn, ông đốc nhìn chúng tôi nói sẽ:

- Thế là các em đã vào lớp năm. Các em phải cố gắng học để thầy mẹ được vui lòng, và để thầy dạy chúng em được sung sướng. Các em đã nghe chưa? (Các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời. Cũng may đã có tiếng dạ rang của phụ huynh đáp lại).

Ông đốc nhìn chúng tôi với cặp mắt hiền từ và cảm động. Mấy cậu học trò lớp ba cũng đua nhau quay đầu nhìn ra. Và ngoài đường cũng có mấy người đứng dừng lại để nhìn vào. Trong những phút giây này chúng tôi được người ta ngắm nhìn nhiều hơn hết. Vì vậy đã lúng túng chúng tôi càng lúng túng hơn.

Ông đốc lấy cặp kính trắng xuống rồi nói:

- Thôi, các em đứng đây sắp hàng để vào lớp học.

Tôi cảm thấy sau lưng tôi có một bàn tay dịu dàng đẩy tôi tới trước. Nhưng người tôi lúc ấy tự nhiên thấy nặng nề một cách lạ. Không giữ được chéo áo hay cánh tay của người thân, vài ba cậu đã từ từ bước lên đứng dưới hiên lớp.

Các cậu lủng lẻo nhìn ra sân, nơi mà những người thân đang nhìn các cậu với cặp mắt lưu luyến. Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc. Tôi bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo. Tôi nghe sau lưng tôi, trong đám học trò mới, vài tiếng thút thít đang ngập ngừng trong cổ. Một bàn tay quen nhẹ vuốt mái tóc tôi.

Ông đốc nhẫn nại chờ chúng tôi.

- Các em đừng khóc. Trưa này các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai các em lại được nghỉ cả ngày nữa.

Sau khi thấy hai mươi tám cậu học trò sắp hàng đều đặn dưới hiên trường, ông đốc liền ra dấu cho chúng tôi vào lớp năm. Một thầy trẻ tuổi, gương mặt hiền từ, đang đón chúng tôi vào cửa lớp.

Trong thời thơ ấu tôi chưa bao giờ xa mẹ tôi như lần này. Tôi cũng lấy làm lạ vì có nhũng hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn ở đồng làng Lệ Xá, lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào hết.

Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường tôi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận rồi tự nhiên nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề biết, nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào.

Sự quyến luyến ấy tự nhiên và bất ngờ quá đến tôi cũng không dám tin là có thật. Một con chim con liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao.

Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỷ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa bay trên bờ sông Viêm sống lại đầy dẫy trong trí tôi.

Nhưng những tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đọc:

 

Bài tập viết: Tôi đi học!

 

THANH TỊNH

[Rút từ tập truyện ngắn QUÊ MẸ, 1941]
 

 

 

Bài tùy bút được xem như "thơ văn xuôi" của Hoài Điệp Thứ Lang (một bút danh khác của Đinh Hùng):
 

CẢM THU

Thu năm nay, tôi lại đi trên con đường vắng này nghe từng chiếc lá rơi trên bờ cỏ...

Nước trong như một cặp mắt tuyệt vời. Những cây liễu xanh đứng buồn như những nàng cung nữ thuở xưa, và trong vườn nhà ai thấp thoáng hoa phù dung nở trắng như một linh hồn còn non trẻ?

Nắng ở đây vẫn là nắng ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước. Tôi vẫn ngờ như không sự đổi thay , vì lại thấy mình đi trên con đường này. Thu năm nay, giữa lúc cây vàng rơi lá, đường này hiu hắt, tôi đem lòng về để gặp mùa thu thương nhớ cũ, và may cũng thấy thu về để nước hồ xanh.

Chân ai đi xa vắng đằng kia, hay đó chỉ là gió thoảng mong manh? Và gió nào vương vấn hồn tôi, hay cũng chỉ là dư thanh của một ngày xưa cũ? Chao ôi! Buồn đã nhiều rồi, nhưng cũng chỉ buồn như năm trước. Lòng tôi chẳng biết tìm ai mà nhớ, hôm nay nhớ lại buồn qua mới thấy nắng kia nhiều dĩ vãng.

Tôi nhớ một người lữ khách nào xưa, ra đi từ một mùa thu... Thế rồi cũng một mùa thu trở lại .Những bước đầu tiên trên con đường bạn, mắt buồn như nước, mảng tìm hồn mình hiu hắt trong hồn thu mới...

Thu đã về đây, tôi làm lữ khách đi hết sông này, sông khác, cả núi, cả đèo và lại cả rừng, cả suối, bây giờ tôi cũng về đây để buồn thêm một ít, nhớ thêm một ít, và yêu thêm rất nhiều.

... Từ hôm rời chân ở bến sông vàng, từ biệt con thuyền phiêu bạt, tôi đã hết nhớ dãy núi xanh phơn phớt đằng xa và bâng khuâng trở lại con đường quê thân mật.

Ði trên đất đỏ, giữa hai ruộng ngô thơm ngào ngạt.... Hương này có phải hương xưa? Ồ! Những dây đậu vẫn còn non mà luống khoai lang đã xanh tươi rồi nhỉ?

Ði trên đất đỏ, bên những đồng rau cải cúc và giẫm lên cỏ may vàng. Ðây là những con bướm cũ, những cánh hoa xưa. Và này đây tất cả ngày xưa: từng cơn gió nhỏ, từng sợi mây buồn...

Thôi! Thôi! Tôi không còn trẻ thơ nữa để say sưa đuổi bắt bướm đồng, và chẳng ngắm gió sầu mây, chỉ biết hoa lòng nở cũng nhiều bông trắng!

Thương nhớ vì sao! Tôi sớm giã từ hồn niên thiếu, hôm nay đi giữa cánh đồng lại thấy tuổi nhỏ của mình tản mạn trên từng cánh bướm, sắc hoa, và chân bước đi những bước ngậm ngùi, bởi chưng lòng tưởng con đường tan tác cánh hương của đóa xuân hồng thuở cũ.

 

HOÀI ĐIỆP THỨ LANG
 

Bài tùy bút "thơ văn xuôi" CẢM THU này được nhạc sĩ Văn Trí phổ nhạc với nhan đề: HOÀI THU


---------- 

Kim Quy sưu tầm 

Hình Internet 

 

Ca sĩ Tuyết Nhung

♥♥♥

 Hoài Thu

 

Mùa Thu năm ấy
trên đường đến miền cao nguyên.
Đà Lạt núi rừng thâm xuyên
Thác ngàn nước bạc thiên nhiên.

Chạnh lòng tôi thấy
Lá vàng rơi nhẹ say mơ
Trong rừng Thu đẹp nên thơ
Lưng trời đàn chim bơ vơ.

Mùa Thu năm nay
Tôi lại thấy lòng lâng lâng.
Khi nhịp bước nhẹ đôi chân
Trong rừng vắng lạnh bâng khuâng.

Bầy nai ngơ ngác
lá vàng rơi đầy miên man.
Trên bờ cỏ rộng thênh thang
Nghe mùa Thu đi ngỡ ngàng.

Đóa hoa phù dung trắng xóa
ngàn cây hiu hắt tiếng nhạc.
Mảnh linh hồn tôi Thu nay
là linh hồn tôi Thu nào.

Nắng đây vẫn là nắng ấm
Mùa Thu thương nhớ mơ màng.
Gió Thu về đây mơn man
Hồ Thu xanh biếc tràn lan.

Đồi thông vi vút
nghe chừng lá động muôn phương.
Đà Lạt những chiều mây vương
Có mùa Thu vàng dâng hương.

Nhịp chân ai đấy
hay là gió thoảng xa xôi.
Gió nào rung động tim tôi
hay là dư âm Thu rồi?

Xem thêm...

Những ca sĩ, nhạc sĩ đã sống ở hải ngoại trước thời điểm tháng 4 năm 1975

Những Ca Sĩ, Nhạc Sĩ Sống Ở Hải Ngoại

Trước Thời Điểm Tháng 4 Năm 1975 

*** Đông Kha ***

Ca si truoc 75

Thời điểm tháng 4 năm 1975 là một cột mốc lịch sử, mà những sự kiện xảy ra sau đó đã hình thành nên một khái niệm chưa từng có trong lịch sử: khái niệm nhạc hải ngoại.

Sau thời điểm đó, hầu hết các ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng của miền Nam, bằng nhiều cách khác nhau, đã chuyển sang sinh sống ở khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên cũng có một vài ca sĩ, nhạc sĩ đã rời khỏi Việt Nam từ trước tháng 4 năm 1975 để đi du lịch, đi du học hoặc là đang sinh sống, hoạt động âm nhạc ở nước ngoài.

Bài viết này điểm danh lại những nghệ sĩ đang ở nước ngoài trong thời khắc lịch sử tháng 4 năm 1975.

Ca sĩ Bạch Yến

Danh ca Bạch Yến là nữ danh ca miền Nam nổi danh từ rất sớm. 8 tuổi đã làm quen với âm nhạc, 14 tuổi đã là ca sĩ của các phòng trà tại Sài Gòn, 15 tuổi thành danh với ca khúc Đêm Đông rồi lại trở thành ca sỹ Việt Nam đầu tiên đi lưu diễn khắp châu Mỹ. Nữ danh ca Bạch Yến là một hiện tượng âm nhạc Việt cho đến tận hôm nay. 

Khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp thì năm 1961, khi mới 19 tuổi, Bạch Yến cùng với mẹ bán căn nhà để lấy tiền sang Paris, Pháp, với mong ước được học hỏi những tinh hoa của âm nhạc Tây phương. Bạch Yến được ông Phạm Văn Mười thu nhận làm ca sĩ, hát tại nhà hàng sang trọng La Table Du Mandarin do ông làm chủ trên đường Rue de l Echelle, quận 1, Paris. Trong thời gian này, Bạch Yến được hãng Polydor của Pháp mời thâu đĩa và lưu diễn một số nước châu Âu. 

bachyen

Bạch Yến trên bìa đĩa của hãng Polydor của Pháp, năm cô 20 tuổi 

Nói về lý do bỏ lại mọi tiếng tăm để đi du học dù sự nghiệp đang ở đỉnh cao, Bạch Yến nói: “Chính vì đã có những thành công đó nên tôi mới phải đi học. Sự nổi tiếng đó cũng chỉ là nổi trong một cái ao thôi, không nên là những con ếch tự hào tiếng mình kêu to, kêu vang trong cái ao làng nhà mình mà phải đi học kỹ thuật hát bài bản để hát được bền. Phải biết cách giữ khán giả lại cho mình bằng sự nâng cấp trong sự nghiệp. Khi ra đi, tôi quyết được thành công giống như danh ca Edith Piaf, từng làm mưa làm gió sân khấu mọi thời đại với nhạc khúc La vie Rose”.


Danh ca Bạch Yến:
Khi sống tại Châu Âu, có thu nhập lý tưởng, nhưng Bạch Yến không hài lòng. Trong mắt khán giả, cô chỉ là một khuôn mặt Á Đông xa lạ. Thế là năm 1963, Bạch Yến quay về Việt Nam và trụ lại phòng trà Tự Do của ông Ngô Văn Cường, một người từng sống lâu năm ở Pháp. Bấy giờ Bạch Yến đã bước sang tuổi 21, và đã trải qua 7 năm sống đời ca hát với những thành công rực rỡ. Cô được nhiều phòng trà, vũ trường mời gọi. Năm 1965, cô được Ed Sullivan mời sang Mỹ. Show Ed Sullivan lúc ấy cực kỳ ăn khách, giới thiệu tất cả những ban nhạc và ca sĩ hàng đầu của Mỹ, Anh và thế giới, có show thu hút đến 35 triệu người xem. Bạch Yến lên hát show này và rồi được mời nán lại đi lưu diễn khắp Mỹ châu thêm 12 năm nữa, bên cạnh những nghệ sĩ lừng danh của Hoa Kỳ như Bob Hope, Bing Crosby, Pat Boone… Có thể nói, Bạch Yến là ca sĩ Việt Nam duy nhất hiện diện bên cạnh những nghệ sĩ quốc tế trong hơn một thập niên.

bachyen1

Danh ca Bạch Yến trong 1 show truyền hình Mỹ năm 1966, khi cô 24 tuổi 

Bạch Yến kể: “Được hát trong Ed Sullivan Show là một vinh dự, nhất là tôi được hát cùng nhiều tên tuổi lớn như Bob Hope, Bo Crosby, Pat Boone, Frankie Avanlon…. Tôi nhớ tôi được hát 2 ca khúc là Đêm Đông và If I had a hammer và được nhiều người khen. Từ chương trình, một ông đạo diễn đã mời tôi về thu âm ca khúc trong phim The Green Berets (Mũ nồi xanh). Rồi có nhà sản xuất mới tôi đi lưu diễn tại Mỹ, thế là dự tính đi Mỹ 2 tuần của tôi đã kéo tới hơn 12 năm. Tôi đi khắp nước Mỹ, đi các nước Nam Mỹ để hát”. 

Image result for bạch yến

Như vậy trong vòng 12 năm, tính từ 1965 đến 1977, ca sĩ Bạch Yến đi khắp nước Mỹ để trình diễn. Trong quãng thời gian đó, thỉnh thoảng Bạch Yến có về Việt Nam để hát ở một vài shows lớn, nhưng không ở lại lâu mà đi ngay. Trong những lần về vội vã đó, cô đã để lại những vấn vương trong lòng người nhạc sĩ tài ba Lam Phương, người mà trước đó từng hỏi cưới Bạch Yến nhưng bị từ chối. Kết quả của sự vấn vương trong những lần đi đi về về đó của Bạch Yến là các bài hát bất hủ với những câu hát đầy lưu luyến:

Image result for bạch yến
Bài hát Tình Bơ Vơ: 
Về làm chi rồi em vội vã ra đi… 

Bài hát Chờ Người:  
Chờ em, chờ đến bao giờ, mấy thu thuyền đã xa bờ. 
và 
Mười năm trời chẳng thương mình, để anh thành kẻ bạc tình (lúc đó Lam Phương đã cưới vợ nên tự nhận mình là kẻ bạc tình). 
Như vậy, tại thời điểm tháng 4 năm 1975, ca sĩ Bạch Yến không ở Việt Nam mà đang sinh sống tại Mỹ. Đến năm 1978, cô về lại Paris và gặp nhạc sĩ Trần Quang Hải tại đây và cả 2 quyết định làm đám cưới chỉ sau 1 ngày gặp gỡ. 

Ca sĩ Kim Loan

Ca sĩ Kim Loan được ông bầu là nhạc sĩ Nguyễn Đức nhận dạy từ lúc còn nhỏ khi mới vừa được 8-9 tuổi. Qua sự dẫn dắt này, Kim Loan đã trở thành một giọng ca đầy triển vọng. Năm 1966, khi mới 17 tuổi, Kim Loan đã ra mắt công chúng với bài hát “Căn Nhà Ngoại Ô” của nhạc sĩ Anh Bằng và ngay lập tức trở nên nổi tiếng.

kimloan

Thời điểm đó Kim Loan còn rất trẻ nhưng nổi trội về nhan sắc, có khuôn mặt đẹp, nụ cười thật tươi, sóng mũi thanh tú, vầng trán băng sương, mái tóc buông dài và cài nơ thật đẹp. Vóc mình cô cao nhưng không thanh, bàn tay cô hơi thô, dáng đi cô không yêu kiều uyển chuyển. Nhưng cô ăn mặc đẹp, lộng lẫy mà không lố bịch. 

Tiếng hát Kim Loan tuy nồng ấm nhưng vẫn còn hơi thô ráp. Cô hát rất chân phương nên không biết bào mỏng ở vài chỗ để tiếng hát được mịn màng. Mặc dù vậy, chất giọng đặc biệt cùng với gương mặt khả ái này vẫn nhận được sự ái mộ đặc biệt qua các bài hát Ngoại Ô Buồn, Gõ Cửa, Căn Nhà Ngoại Ô… 

kimloan1

Khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp thì năm 1969, khi mới 20 tuổi, cũng giống như danh ca Bạch Yến, ca sĩ Kim Loan đã đột ngột ra nước ngoài du học. Từ đó đã xuất hiện không biết bao nhiêu lời bàn tán về sự việc này, nhiều người cho rằng Kim Loan phải “chạy trốn” vì liên quan đến bê bối tình ái với đương kim Tổng Thống. 

Tuy nhiên, sau này Kim Loan có giải thích về việc cô bỏ lại sau lưng ánh hào quang sáng chói của sự nghiệp ca hát để sang Tây Đức du học và lấy chồng rồi định cư tại đây từ năm 1969 cho đến tận về sau này. Lúc đó cô mới 20 tuổi, cảm thấy không còn thích hợp với nghề ca hát với nhiều sự đua chen, cộng với việc gia đình không khuyến khích nên cô đã bỏ sang Đức, nơi có người cậu ruột ở đó.

Image result for ca sĩ kim loan
Những ngày mới đến nước Đức, Kim Loan học khoa Xã hội Sư phạm, sau đó vào làm ở Bộ Xã Hội của chính phủ Đức trong nhiều năm. Cô cũng vừa đi làm vừa học thêm, nhờ học được mấy năm ở Khoa Cosmotology, cô đã vào làm việc ở những mỹ viện rồi sau đó mở một Thẩm Mỹ Viện riêng. 

Ca sĩ Kim Anh

Ca sĩ Kim Anh tên thật là Mạch Kim Anh, sinh 1953 trong một gia đình gốc Hoa tại Sa Đéc, Đồng Tháp. 
Gia đình Kim Anh không có truyền thống về nghệ thuật. Tất cả ba, mẹ, anh không ai nói rành được tiếng Việt. Ngay từ nhỏ cô đã được lớn lên trong vòng tay yêu thương của ba mẹ và gia đình. Năm 14 tuổi Kim Anh mới biết cầm đũa ăn cơm. Chính vì điều đó, Kim Anh luôn là một cô bé nhõng nhẽo, suốt ngày chỉ ăn chơi quậy phá, “ăn vạ”. 

Năm 1969, khi mới 16 tuổi, ca sĩ Kim Anh có được một suất học bổng đi du học Mỹ và ở tại đây nhiều năm về sau này, ngay cả khi người cha hết mực yêu thương của cô qua đời, cô cũng không thể về được. 

Nói về cơ duyên của việc du học này, ca sĩ Kim Anh kể lại: 

Image result for ca sĩ kim anh
Hồi tôi học cấp một, chiều nào, tôi cũng chạy ra sân banh chơi. Tôi thấy một ông người Mỹ chạy cái xe Jeep đến đậu ở sân banh. Tôi rất tinh nghịch, phá phách mở xe của người ta chạy. Xe chạy, tôi không biết cách dừng lại nên xe rớt luôn xuống mương. Tôi nghĩ ông người Mỹ này sẽ bắt mình ở tù nhưng không ông ấy cười hắt hắt, rồi tự câu xe lên. Tuần sau, ông lại đi xe khác đến, tôi cũng lái thử. Ổng khen tôi thông minh. Ông thấy vậy mới xin ba cho tôi đi du học, chứ để ở Việt Nam uổng lắm, tiếc lắm. Ông ấy khen đầu óc tôi mạo hiểm, ham thích phiêu lưu phải cho đi nước ngoài. 

kimanh
Năm 16 tuổi, ba đồng ý cho tôi đi du học ở Mỹ với diện trao đổi du học sinh, được tài trợ hoàn toàn. Một mình sang nước Mỹ, tôi sợ lắm. Đó là chuyến phiêu lưu thực sự. Tôi sang Mỹ bằng máy bay quân đội. Lên máy bay, tôi nhìn quanh quất mà không tìm được một người quen. Lúc này, người ở quê đồn đại, ba ham giàu nên cho tôi đi lấy Mỹ. Bởi vậy, tôi ở nhà không yên, đi cũng không biết sống chết thế nào. Sang Mỹ, tôi chưa có bằng Tú Tài nên người ta đòi trục xuất tôi về. Người đàn ông bảo lãnh tôi đi Mỹ du học, làm trong quân đội được 20 năm. Thế nhưng, tình thế cấp bách, ông chấp nhận hy sinh cả sự nghiệp để giữ đúng lời hứa với ba tôi. Ông ấy cho tôi biết, ông đã hứa với ba phải đảm bảo cho tôi học xong Đại Học mới về nước. Bằng mọi giá, ông không để tôi bị trục xuất. 

Image result for ca sĩ kim anh
Sau một thời gian bỡ ngỡ và khó khăn ban đầu, Kim Anh cũng đã dần hòa nhập với cuộc sống nơi đất khách quê người và trở thành một ca sĩ tiếng tăm ở hải ngoại. Cô nói rằng: “Đó chính là số phận”. Số phận đã đưa đẩy cô đến với một quốc gia xa lạ. Số phận đưa cô vào nghiệp cầm ca và bước sang nhiều nhánh rẽ khác nhau trên những chặng đường của thân thận hào quang và bóng tối. 

Ca sĩ Julie Quang

Ca sĩ Julie sinh năm 1951, mang hai dòng máu Việt và Ấn, nói và hát được thông thạo tiếng Pháp và Anh. Cô là con cả trong một gia đình gồm sáu chị em. Mẹ của Julie là bà Nguyễn Thị Hoài, người đã gây nguồn cảm hứng cho Phạm Duy viết nên bản nhạc Mái Tóc Chị Hoài cho cô hát. Cha cô là lính trong quân đội viễn chinh Pháp, lúc cô mới 11 tháng thì cô và mẹ cô phải theo ba cô qua Pondichery, Ấn Độ. Sau năm năm, mẹ cô cùng chị em cô quay về lại Việt Nam sống với ông bà ngoại ở Cần Thơ. 

duy quang 168324Julie bước vào con đường nghệ thuật chính do sự khuyến khích của mẹ. Cô đi hát nhạc Mỹ với những ban nhạc trẻ vào những năm cuối thập niên 60 cho các căn cứ quân đội Hoa Kỳ ở Long Bình, Biên Hòa, Nha Trang, Ban Mê Thuột, Tân Sơn Nhất… 

Julie bước qua lãnh vực tân nhạc Việt Nam kể từ những năm đầu của thập niên 70 và đã tạo ngay được sự thành công qua sự dẫn dắt của nhạc sĩ Phạm Duy cùng với những nhạc phẩm của ông, đặc biệt là bài Mùa Thu Chết. Vào thời kỳ này, theo ý của nhạc sĩ Phạm Duy, cô lấy nghệ danh là Julie Quang khi lập gia đình với Duy Quang. 

Người nghe nhạc Việt Nam hẳn vẫn nhớ những phút giây thăng hoa của Duy Quang và Julie trên sân khấu, khi 2 người trong ban nhạc The Dreamers, họ là cặp đôi đẹp dưới cả ánh đèn màu và cả dưới ánh mắt của những người hâm mộ tiếng hát họ. 

Nhưng rồi, Julie đã chia tay với Duy Quang một cách bất ngờ mà theo Duy Quang tâm sự: “Do khi ấy chúng tôi còn quá trẻ, chẳng có kinh nghiệm trong đời, huống gì tính đến chuyện trăm năm”. 

Họ ly thân với nhau, Julie Quang lấy lại tên Julie, rồi tách khỏi nhóm The Dreamers, thay thế Julie trong Dreamers là cô em Thái Hiền của Duy Quang. Mùa Giáng Sinh năm 1974, Julie sang Pháp du lịch giữa lúc tình hình miền Nam đang chao đảo và không thể ngờ rằng chỉ vài tháng sau đó, cô không còn cơ hội để về lại Sài Gòn nữa. 

julie va duy quang
Duy Quang và Julie sống với nhau không có hôn thú, có một người con gái là Phạm Ly Lan. Tuy là đang ly thân nhưng năm 1978, Julie vẫn bảo lãnh Duy Quang sang Pháp, rồi đến năm 1982 thì họ mới chính thức chia tay. 

Khi Duy Quang lâm bệnh nặng hồi năm 2012, tình xưa nghĩa cũ, Julie chính là người kề cận chăm sóc Duy Quang vào những giờ phút cuối cùng. 

Ca sĩ Khánh Hà

Ca sĩ Khánh Hà tên thật là Lã Thị Khánh Hà, sinh năm 1952 tại Đà Lạt. Cha cô là nghệ sĩ nổi tiếng Lữ Liên. Do ảnh hưởng của cha, ngoài cô, 6 anh chị em trong gia đình cô về sau đều theo nghiệp ca hát và đều trở thành những danh ca ở hải ngoại, gồm Bích Chiêu, Tuấn Ngọc, Anh Tú, Thúy Anh, Lan Anh và Lưu Bích. 

Image result for ca sĩ khánh hà
Chỉ vài tháng sau khi sinh, cô cùng gia đình di cư vào Sài Gòn. Dấu ấn đầu tiên trong sự nghiệp âm nhạc của cô là vào năm 16 tuổi, lần đầu tiên cô biểu diễn trong một chương trình văn nghệ phụ diễn Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia tại rạp Thống Nhất với bài “Chiến Sĩ Của Lòng Em”. Năm 1969, cô xuất hiện lần đầu tiên với loại nhạc trẻ trong chương trình “Hippies À GoGo” do nhạc sĩ Trường Kỳ tổ chức hàng tuần tại vũ trường Queen Bee trên đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn. Cũng trong năm đó, cô chính thức đến với nhạc trẻ cùng anh trai Anh Tú, sau khi được tay trống Dũng khuyến khích và đã gia nhập ban nhạc The Flowers đi trình diễn tại các club Mỹ. Cuối năm đó, cô gia nhập ban nhạc The Blue Jets cùng với Anh Tú và Thúy Anh. 

khanhha1

Khánh Hà lập gia đình từ rất sớm, vào năm 1970 khi mới 18 tuổi, bất chấp sự phản đối của gia đình. Tuy nhiên cô cho biết đó là cuộc hôn nhân sai lầm vì tuổi trẻ bồng bột và chấm dứt chỉ sau vài năm. Lấy nhau về rồi mới biết không hề hợp nhau trong cả cách sống, sinh hoạt hàng ngày đến cách nghĩ. 

Tháng 3 năm 1975, Khánh Hà rời Việt Nam đến Hoa Kỳ với tư các là một du khách. Cô nói đó xem như là một bước rẽ do số phận. Khi sang Mỹ, vừa thoát khỏi nỗi buồn từ cuộc hôn nhân tan vỡ, vừa thoát khỏi sự nghiêm khắc của người mẹ nên cô cảm thấy được tự do hơn trước. Không ngờ lần đi “du lịch” đó của Khánh Hà chỉ đến trước sự kiện năm 1975 chỉ đúng 1 tháng. Sau tháng 4 năm 75, cô chính thức định cư ở Hoa Kỳ. 

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ 

Nhắc đến nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, những người yêu thích nhạc vàng ai cũng biết đến tên tuổi của ông với nhiều bài nhạc vàng bất hủ: Đường Xưa Lối Cũ, Tà Áo Cưới, Duyên Quê, Tạ Tình… Ông cũng là một trong những nhạc sĩ tiên phong của dòng nhạc vàng. 

Ngoài vai trò là một nhạc sĩ nổi tiếng, Hoàng Thi Thơ còn biết đến như là một “ông bầu” của làng nhạc miền Nam trước 75. Năm 1967, ông thành lập tiếp Đoàn Văn Nghệ Maxim, gồm 70 diễn viên ca-vũ-nhạc-kịch, tổ chức những chương trình ca vũ nhạc kịch đặc biệt tại nhà hàng Maxim. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là người duy nhất được Bộ Thông Tin và Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị nhiều lần cử thành lập và dẫn các đoàn văn nghệ Việt Nam sang Châu Âu trình diễn. 

doanvannghe

Đoàn văn nghệ Hoàng Thi Thơ trên đường lưu diễn 

Tháng 4 năm 1975, Hoàng Thi Thơ dẫn đoàn văn nghệ sang lưu diễn ở Nhật Bản thì xảy ra sự kiện lịch sử ngày 30-4. Ông không thể trở về nước được và từ đó phải định cư ở Hoa Kỳ. 

hoangthitho

Đoàn văn nghệ Hoàng Thi Thơ trong studio của đài truyền hình ở Nhật Bản 

Giáo sư – nhạc sĩ Trần Văn Khê

Trần Văn Khê là một giáo sư – nhạc sĩ nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Ông là người có bề dày trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, có công trong quảng bá âm nhạc Việt Nam nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung ra thế giới. 

tranvankhe

tranvankhe1

Trần Văn Khê hoạt động chính trong lĩnh vực nghiên cứu nên ít sáng tác bài hát. Ông từng tham gia kháng chiến một thời gian cùng Việt Minh, tuy nhiên đến năm 1949 thì sang Pháp du học, rồi trở thành giáo sư âm nhạc, sinh sống ở nước ngoài trong gần 60 năm. Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Đến năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. 

Đông Kha

Nam Mai  st.

Xem thêm...

NGHIỆP - Truyện Ngắn của Trần Yên Hòa

 NGHIỆP

Truyện Ngắn của Trần Yên Hòa

Anh nhớ lại. Cũng lâu. Cũng rất lâu. Hồi đó anh là con trai mới lớn.  Anh mới bước chân vào đại học. Chưa yêu ai và mộng ước thật cao vời. Đó là những ngày anh sắp đi Sài Gòn học Đại Học. Sài Gòn rộng bao la và đầy hấp lực. Nơi đó là ánh sao trời. Là hòn ngọc. Là nơi anh có thể tung hê mình để bước lên đài danh vọng.

Sài Gòn, giấc mơ Sài Gòn là một hấp dẫn lạ lùng và anh tôn thờ nó. Nơi quê anh, nơi chốn quê mùa chân đất. Chỉ là những con đường đất đỏ, là bờ ruộng, bờ ao. Là cái xóm nhỏ với những mái nhà tranh lụp xụp của chú ba Tình, tư Nhỏ, hai Nhơn…Là những ông bà hai Cận, bà Ngộ, ông Đàn, ông Sử, ông Yên…ai cũng áo quần lem luốt, lam lũ với con trâu, cái cày. Không được rồi, anh phải thoát ra nơi đây.

Có một cô bé nhà sát con đường cái. Cô gái tên là Nữ. Hình như không đi học. Có người chị làm thợ may, hàng ngày vẫn ngồi bên máy may để may hàng cho khách trong xóm. Anh chạy xe đạp qua lại hàng ngày. Anh qua nhà em nhưng không có nghiêng nghiêng sân nắng…chỉ có em đứng bên bức mành thưa ngó ra.

Anh đi anh về hàng ngày, hàng tuần…biết bao nhiêu bận. Anh rộn rả, tất bật với giấc mơ anh. Kẻ sắp đi xa với nhiều mộng ước. Rồi còn bạn bè, rồi còn cha mẹ, anh chị em tíu tít. Anh không nghĩ gì, không nghĩ đến ai. Nơi đây anh không có người yêu nào…Những dáng dấp nữ sinh chỉ là một hình bong trong giấc mơ hoa.

Nữ cứ mỗi sáng, mỗi chiều, đứng bên bức mành tre của căn nhà ộp ẹp nhìn anh đạp xe đi ra, đi vào, đạp xe tung tăng đây đó. Anh không biết gì đến người con gái kia. Cô gái im lặng, âm thầm hướng mắt theo anh trong những lúc anh đi qua lại trước nhà cô. Cô nghĩ gì, anh đâu có biết.

Một buổi trời đà chạng vạng tối. Hôm đó không biết chiếc xe đạp của anh cho ai mượn mà anh phải đi bộ về nhà. Anh đi không suy nghĩ gì hơn là những chuẩn bị cho một chuyến đi xa. Bỗng  Nữ xuất hiện trên con đường hẽm đi vào nhà anh. Anh thấy cô cũng như bao cô gái láng giềng khác. Anh gật đầu chào. Cô dừng lại nói:

        - Anh Nghiệp, mấy ngày nữa anh đi?

        - Ơ, ơ Nữ. Tôi còn khoảng ba ngày nữa là đi rồi. Chúc Nữ ở nhà bình yên, vui vẻ nhé.

Anh dợm bước đi, nhưng Nữ nói tiếp:

        - Anh Nghiệp, anh đi em buồn lắm. Xa anh em buồn lắm anh biết không? Anh đi em không có gì tặng anh, em có thêu chiếc khăn tay tặng anh thôi. Anh nhận cho em vui.

 

Nghiệp ngạc nhiên và có hơi cảm động. Có chuyện này sao? Sao anh không hiểu gì, không biết gì. Anh cũng thật ngu ngơ. Mười chin tuổi, chưa có một người con gái nào lọt mắt xanh anh. Bây giờ có cô gái hàng xóm đón đường và nói những câu tâm tình anh thật hoang mang xen lẫn bồi hồi. Anh nghĩ mình cũng phải có một lời nói hoặc cử chỉ nào đó nhẹ nhàng với cô.

Anh cầm chiếc khăn tay được xếp ngay ngắn, không có bao hoặc hộp gì đựng cả. Chỉ là một mảnh vải trắng được cắt ra làm chiếc khăn.

Nghiệp nói:

-        Nữ cho làm tôi cảm động quá.Cảm ơn Nữ nghe. Nữ ở nhà cố giữ gìn sức khoẻ.

Anh chỉ nói được bấy nhiêu, chứ thực ra anh biết gì mà nói thêm.

 Nữ đứng thật gần anh. Anh thấy cô có đôi mắt lớn,mái tóc dài phủ kín ngang vai.Gương mặt tròn, thật tròn của một cô gái mới lớn. Nàng đứng bên anh, tự động cầm tay anh, rất trân quý.

Nữ nói:

-        Anh cho em cầm tay anh chút, mai anh đi xa rồi, biết bao giờ gặp lại anh.

Cô âu yém, cô vuốt ve đôi bàn tay anh, cô hôn lên đó, nhẹ nhàng trìu mến. Tự nhiên sức bật của đứa con trai mười chín tuổi, chưa biết thân thể một người con gái là gì. Cùng với bóng đêm của con đường hẽm vắng hoe. Nghiệp xoay đầu cô gái lại và anh hôn nàng. Hôn mạnh bạo, tha thiết, khốc liệt. Anh đưa tay, rờ rẩm, sờ soạn đôi vú nhỏ căng đầy. Trong cơn bấn loạn của thể xác, anh đã nói, anh yêu em, Nữ.

Nữ cũng run rẩy trong tay anh, cũng hôn anh nồng nhiệt.

Cô rót vào tai anh những lời tình yêu mật ngọt, mà anh nghĩ là rất chân thành, từ trái tim cô.

-        Anh đừng quên em nhé. Em yêu anh từ lâu rồi mà không dám tỏ cùng anh. Bây giờ được anh nói lời yêu em quá cảm động, anh à. Em sẽ chờ đợi ngày anh quay trở về.

Sau cơn động tình bất chợt, anh lấy lại bình tĩnh,và thấy mình thật ác độc, thật là anh chưa nghĩ đến cô, chưa có một chút bóng hình nào của cô trong đầu óc anh từ ngày anh nhà anh dời về đây. Ngày hai buổi đạp xe đi học, đi qua nhà Nữ bốn lần, như vậy mà anh chưa lần nào nghĩ đến cô gái thường vẫn hàng ngày thập thò trong cánh cửa phên liếp này.

Bây giờ tự nhiên cô đón đường anh, nói lời yêu, tặng anh chiếc khăn tay, cầm tay anh mân mê và cơn bốc đồng đầy dục tính của đứa con trai mười chin tuổi đã buộc miệng anh nói ra những lời yêu thương. Anh thấy hối hận. Nhưng sự việc đã qua rồi. Anh nghĩ, mình con trai, đàn ông, như là cánh bướm. Có gì đâu mà suy nghĩ. Và mình cũng chưa đi đến sự tận cùng…

Hai người chia tay nhẹ nhàng. Anh cầm tay nàng và nói lời từ biệt. Rồi anh đi bộ về nhà.

  Ròng rã 4 năm học ở Sài Gòn, anh không có một lời thăm hỏi em, anh không có một cánh thư. Đến một ngày, anh nghe người bà con cùng xóm báo tin rằng, nàng đã chết. Không biết vì lý do gì. Người bạn nói:

-        Cô Nữ đã chết rồi, cổ tự tử.

Anh cũng có cảm thương. Nhưng rồi thôi. Dòng đời vẫn trôi, và Nghiệp vẫn đeo đẳng hoài đến những giấc mộng chưa thành của mình.

 

 Trong cuộc đời một người con trai đến một người đàn ông…Nghiệp có biết bao cuộc tình vắt vai. Những cuộc tình như cơn mưa bóng mây, đến rồi đi. Qua đi như những giấc mơ đẹp, thế thôi. Người nhận và người cho đều yên lòng ra đi. Có ngó lại cũng chỉ là những vết son tươi đẹp, đỏ chói về những cuộc tình qua.

Và đến mối tình của Thơ Thơ.

 Anh cũng sống cô đơn, cô độc một mình. Kim đã đi một hướng khác. Một lối khác. Chuyện tình đến một lúc nào đó, hết duyên, hết nợ cũng sẽ chia lìa. Anh không tiếc nuối vì sự kéo dài buồn thảm đã hết. Mỗi người mỗi ngã.

Đến lúc anh gặp Thơ Thơ trong hãng làm việc. Thơ Thơ cũng trải qua đò mấy chuyến, nhưng chuyến nào cũng không xuôi chèo mát mái.

Hai người làm quen vì làm chung một dây chuyền sản xuất. Thơ Thơ có đôi mắt lớn và nụ cười đẹp. Nghiệp thích nụ cười của Thơ Thơ. Nụ cười có nốt lúm đồng tiền, không biết là tự nhiên hay do thẩm mỹ tạo nên. Nhưng dù gì thì gì. Nụ cười có má lúm đồng tiền cũng được các nhà thơ ca tụng nhiều. Anh yêu là vì thế.

Thơ Thơ sống ở trong một Apt với 2 đứa con của hai người (tình). Chuyện cũng chẳng sao. Nhưng trước khi anh dọn tới ở chung với Thơ Thơ, anh đã nói:

-        Em cứ coi anh như người ở trọ nhà em nhé. Anh trả tiền thuê nhà, tiền ăn đầy đủ. Có gì thì anh và em săn sóc lẫn nhau. Em chịu không?

Thơ Thơ vẻ mặt rất buồn:

-        Anh muốn sao cũng được. Em không ép. Tình, nhất là tình yêu không thể ép. Sống với nhau được bao lâu thì tùy anh. Em cũng lớn tuổi rồi. em mong mối tình anh là tình cuối.

 Anh chấp nhận chuyện đó. Nhưng trong thâm tâm Nghiệp vẫn có một cái gì đó không yên, ray rức mà anh mãi kiếm tìm. Một người vợ trẻ, đẹp, hiền ngoan là điều mà bất cứ người đàn ông nào cũng mong ước. Có lẽ bước chân anh chưa mỏi nên anh mãi kiếm tìm…

Thơ Thơ coi anh như người chồng thật sự. Cha mẹ nàng đến, anh em nàng đến, nàng biểu anh kêu ba, mẹ, xưng anh, xưng em với các em, anh như người con trong nhà. Nàng nấu ăn ngon, và rất thích nấu nướng. Thứ bảy chủ nhật là những ngày vui…tiệc tùng liên hoan, rượu bia ê hề…rồi đến những nhà người bạn khác, anh vẫn giới thiệu nàng là bà xã tôi. Thơ Thơ sung sướng trông lộ rỏ lên mặt.

 Nhưng mà anh vẫn thấy không yên, vẫn trong lòng một nỗi ray rức, dày vò, tìm kiếm…Tìm kiếm cái gì đây…một người yêu, một người vợ với đầy đủ ý nghĩa của nó, trẻ, sang, đẹp, và hiền ngoan. Cái tìm kiếm giữa nơi chốn đầy ắp Lý Thông này làm sao mà được. Nghiệp sống với Thơ Thơ vẫn mang trong long niềm phản bội âm thầm đó.

Thơ Thơ vẫn hồn nhiên, ngày ngày đi làm, vẫn chăm sóc con, vẫn chăm sóc anh như một người chồng. Nhiều lần, Thơ Thơ nói với anh với giọng đầy xúc cảm:

-        Mình làm giấy kết hôn nhau đi anh. Em yêu anh, em muốn có một sợi  dây ràng buộc mình với nhau lại. Người ta nói đó là sợi chỉ hồng, là ông tơ bà nguyệt. Nhưng em nghĩ cái hôn thú vẫn là sợi dây cột chặt mình nhất. Anh có tin như vậy không. Em yêu anh. Em muốn anh làm chồng em, mãi mãi. Cho đến ngày em nhắm mắt.

Nghiệp trù trừ, do dự. Giấc mộng của anh chưa thành mà. Với Thơ Thơ anh vẫn nghĩ chỉ là sân ga, là bến đò. Sẽ dừng tạm rồi đi. Năm năm, Bảy năm. Mười năm, hay bao nhiêu đi nữa. Nhưng cột chặt nhau bằng tờ hôn thú anh chưa muốn. Anh còn ham mê đi tìm một thứ ảo hơn…là thực.

Và anh đã tìm ra Hương Hoa.

 

Ngày anh hẹn với Hương Hoa, xách vali áo quần bước ra khỏi nhà Thơ Thơ, Thơ Thơ vùng tới giật lại cái va ly. Nàng hét lên trong đau đớn:

- Anh Nghiệp. Nghiệp đừng bỏ em. Anh đừng bỏ em. Tôi nghiệp em, Nghiệp ơi. Em vẫn nghĩ anh sẽ sống với em, ở với em suốt đời. Em không cần hôn thú, không cần một tờ giấy nào ràng buộc cả. Chỉ có anh hàng ngày, đi ra đi vào. Có tiếng nói anh, giọng cười anh, bong dáng anh là em đủ sống, đủ hít thở một ngày. Anh đừng bỏ em. Nghiệp ơi!

Nhưng anh đã quyết. Vì anh đã có Hương Hoa bên kia bờ đại dương réo gọi. Anh về với em nhé. Em đợi em hằng ngày hằng bữa. Em mong anh, và em cũng yêu anh nữa. Nghiệp!

 Nghiệp đã ham mồi bắt bóng. Anh hất vòng tay Thơ Thơ ra khỏi cái va ly. Thơ bây giờ quỳ xuống đất, đầu tóc rũ rượi, nàng chấp hai tay, em lạy anh, em lạy anh, đừng đi anh, đừng bỏ em. Không có an hem chết mất. Nghiệp ơi.

Anh đẩy tay Thơ Thơ và quay ngoắc đi. Mình phải thực hiện mộng tưởng của mình chứ. Phải cứng rắn. Đừng mềm lòng. Phải đạt tới đích.

Anh bỏ va li lên xe vài lái đi. Thơ Thơ đứng bên lan can nhà nhìn theo chiếc xe lăn bánh. Nàng quỵ xuống như một cành cây rũ.

 **

Bây giờ thì Nghiệp qụy xuống. Hương Hoa cũng nói với anh những điều như thế. Em không thể sống với anh với những điều kiện tồi tàn như thế này. Không được mua xe mới, không được gởi nhiều tiền ở ngân hàng, không được đi shopping, đi làm về phải chui vào căn nhà housing chật hẹp. Em phải xa thôi. Em phải đi thôi. Em xin trả nợ anh kếp sau.

Anh quỵ xuống. Anh lẩm bẩm, biết có kiếp sau không mà trả nợ, hởi em.

Sau này anh biết Hương Hoa xa anh không phải vì những điều nàng nói ra, đó chỉ là cái cớ cho anh tỉnh người ra. Nhưng sự thật nàng đã đi một hướng khác. Nàng đã mắc vào vòng cương tỏa của cái Nghiệp khôn cùng. Nàng không cần đàn ông nữa. Nàng đi theo tiếng gọi của thân thể, của giới tính. Nàng không thích đàn ông, không thích...không thích. Nàng theo người bạn gái mà nàng gọi là cưng. Mình yêu cưng...

Cuối cùng thì Nghiệp cũng ngộ ra. Anh chợt nhớ một câu trong kính Bát Nhã:
"Xá Lợi Tử!  Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị."

Đúng là Nghiệp. Tên anh là Nghiệp.
"Nghiệp" báo phải không? Cả anh và nàng.

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

Xem thêm...

Lịch Sử : NHÀ THỜ NGÓI CỔ LA VANG (1901 - 1923)

Lịch Sử : NHÀ THỜ NGÓI CỔ LA VANG

(1901 - 1923)


 ******

Image result for NHÀ THỜ NGÓI CỔ LA VANG (1901 - 1923)

Lịch Sử : NHÀ THỜ NGÓI CỔ LA VANG (1901 - 1923)
Tương truyền, Đức Mẹ hiện ra tại La Vang năm 1798. Vào thời gian đó, vua Cảnh Thịnh (Tây Sơn – con thứ Vua Nguyễn Huệ - Quang Trung) ra chiếu chỉ cấm đạo ngày 17 tháng 8 năm 1798, một số các tín hữu ở gần đồi Dinh Cát (nay là thị xã Quảng Trị) phải tìm nơi trốn ẩn tại núi rừng La Vang, và thường tụ tập nhau dưới gốc cây đa cổ thụ, cùng nhau cầu nguyện, an ủi và giúp đỡ nhau.
 
Thời điểm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang 
Một hôm đang khi cùng nhau lần hạt kính Đức Mẹ, bỗng họ nhìn thấy một người phụ nữ xinh đẹp, mặc áo choàng rộng, tay bồng Chúa Hài Đồng Giêsu, có hai thiên thần cầm đèn chầu hai bên. Mẹ bày tỏ lòng nhân từ, âu yếm, và an ủi giáo dân. Mẹ dạy hái một loại lá cây có sẵn chung quanh đó, đem nấu nước uống sẽ lành các chứng bệnh. Mẹ lại ban lời hứa: “Mẹ đã nhận lời các con kêu xin. Từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn Mẹ tại chốn này, Mẹ sẽ nhận lời ban ơn theo ý nguyện”.
Sự kiện xảy ra trên thảm cỏ gần gốc cây đa cổ thụ nơi giáo dân đang cầu nguyện. Sau đó, Mẹ còn hiện ra nhiều lần như vậy để nâng đỡ và an ủi con cái Mẹ trong cơn hoạn nạn.
lavang-12b
Nhà thờ ngói cổ La Vang (1901 -1923)
Từ chân tượng Đức Mẹ nhìn về phía Quảng trường, tháp cổ và nhà hành hương. Dưới chân tượng đá có hình 2 em bé được bố mẹ chúng dán lên trên bệ đá. Rất nhiều lời cầu nguyện của con cái Mẹ khắp nơi đã được thực hiện tại đây!

Từ đó đến nay sự kiện Đức Mẹ hiện ra tại núi rừng La Vang, qua các thế hệ được loan truyền khắp nơi, và nhiều người chân thành tin tưởng, đến cầu khấn Đức Mẹ. Đức Mẹ La Vang thường được biểu tượng bằng một phụ nữ mặc áo dài Việt Nam bế con cũng mặc trang phục truyền thống Việt Nam.
Lịch sử nhà thờ La Vang vốn được xây trên nền của một miếu thờ Bà (có thể là Phật Bà Quan Âm hoặc bà chúa Liễu Hạnh) cho người đi rừng, nguyên là một mái nhà tranh dưới gốc cây đa và rào sơ bốn mặt, sau sự kiện Mẹ Maria hiện ra năm 1789 được nhường cho giáo dân để xây một nơi tôn kính Mẹ Maria.
 
Image result for NHÀ THỜ NGÓI CỔ LA VANG (1901 - 1923)
Những nhà thờ trước năm 1900 đều chưa tìm được hình ảnh. Khoảng từ năm 1886, Đức Cha Marie Antoine Caspar (Lộc) cho xây lại một ngôi nhà thờ bằng ngói và cho mãi đến năm 1901 nhân dịp đại hội La Vang đầu tiên được tổ chức vào ngày 08 tháng 08 thì mới có Lễ mừng khánh thành nhà thờ.
 
lavang-27b
Linh Đài Mẹ La Vang được xây khoảng năm 1950

Ngôi nhà thờ này tồn tại từ năm 1901-1923, Ngôi đền thánh bên trong theo kiểu cách Annam có cột kèo xuyên trên có sức chứa khoảng 400 người. Mặt tiền có hơi theo kiểu Tây với hai tháp vuông. Thiết kế này giống với một số nhà thờ hiện tại ở Miền Bắc (Bùi Chu, Bắc Ninh…) là nhìn mặt tiền thì nhà thờ khá rộng (nhờ có thêm 2 tháp vuông) nhưng trong lòng nhà thờ thì hẹp hơn nhiều. Bên trong, trên bàn thờ có tượng ảnh Đức Chúa Bà mua bên Tây, một bên có Đức Chúa Giêsu đứng là Notre Dame des Victoires. Dưới bàn thờ có tượng ảnh Đức Bà Môi Khôi, có ông thánh Đôminicô và bà thánh Catarinà chầu.

lavang-11b Linh đài theo kiểu Việt Nam được xây vào khoảng năm 1950 và nằm trước linh đài hiện nay khoảng 15 thước. Linh đài này tồn tại trong khoảng từ năm 1950 – 1960. Có thể thấy bức tượng Đức Mẹ La Vang bên trong linh đài.

 Trong dịp Đại Hội La Vang lần đầu tiên - khánh thành nhà thờ ngói vào ngày 08.08.1900, Đức cha Caspar Lộc đã cung thỉnh bức thánh tượng Đức Mẹ La Vang theo mẫu tượng Đức Bà Chiến Thắng đặt trong ngôi nhà thờ ngói.

"Đức Mẹ mặc áo choàng màu thiên thanh, phủ trên áo trắng ngà, đầu đội triều thiên vàng, chân đứng trên đám mây. Đức Mẹ nhìn đàn con, nét mặt dịu hiền, dáng điện uy nghi. Hai tay Mẹ nâng đỡ Chúa Hài Đồng đứng bên tay mặt như muốn đưa ra giới thiệu cùng chúng ta, trao ban cho chúng ta. Chúa Giêsu Hài Đồng thật duyên dáng trong bộ áo màu hồng, đầu đội triền thiên, chân đứng trên quả địa cầu lấp lánh mấy vì sao. Chúa Hài Đồng một tay níu áo Mẹ, nương tựa vào Mẹ như để làm gương cho ta, một tay giơ ra như để mời gọi ta chay đến cùng Mẹ để tỏ lòng hiếu thảo mến yêu và lãnh nhận muôn ơn lành nhờ lời Mẹ chuyền cầu.
 
Image result for Nhà Thờ La Vang Lịch Sử : NHÀ THỜ NGÓI CỔ LA VANG (1901 - 1923)
NHÀ THỜ LA VANG GIAI ĐOẠN 1923 – 1961
Trong dịp Đại Hội La Vang 8 (1923), Đức cha Allys Lý nhận thấy số giáo dân hành hương ngày một đông, ngôi nhà thờ ngói thì quá chật hẹp, lại đã xuống cấp, có thể sụp đổ bất cứ lúc nào nên đã quyết định xây dựng ngôi đền thánh rộng lớn tại La Vang.

Ngày lễ Đức Mẹ Lộ Đức 11.02.1924, cha sở Cổ Vưu Morineau Trung phát hiệu lệnh khởi công xây dựng đền thánh La Vang theo đồ án của kiến trúc sư Carpentier, với mức kinh phí dự trù tối thiểu phải hai mươi ngàn đồng bạc.
 
Image may contain: 2 people, crowd and outdoorRòng rã bốn năm trời với biết bao công sức tiền của đổ ra, công trình Đền Thánh La Vang vĩ đại đã hoàn thành, một Ngôi thánh đường với hai tầng mái và hai cánh thánh giá cổ điển, cùng với cây tháp vuông hai tầng cao ngất nổi bật lên giữa cảnh đồi cát chung quanh và núi rừng xa xa.
Vào lúc 08 giờ sáng ngày 20.08.1928, nhân dịp Đại Hội La Vang 9, Đức cha Allys Lý đã long trọng cử hành nghi thức làm phép nhà thờ mới.

GIAI ĐOẠN KIẾN THIẾT TRUNG TÂM THÁNH MẪU TOÀN QUỐC LA VANG (1961 - 1963)
 
Image result for GIAI ĐOẠN KIẾN THIẾT TRUNG TÂM THÁNH MẪU TOÀN QUỐC LA VANG (1961 - 1963)
Ngày 13.04.1961, Hội Đồng Giám Mục Miền Nam Việt Nam đã quyết định La Vang là Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc và chọn đền thánh La Vang làm đền thờ dâng trái tim vẹn sạch Đức Mẹ. Đồng thời chấp thuận một chương trình kiến thiết Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang.
Sáng 22.08.1961, ngày xức dầu đền thánh, cũng là ngày cuối cùng trong 6 ngày Đại Hội La Vang 15, trước hàng giáo sĩ và 300.000 giáo dân, Đức ông De Nitris, thư ký Tòa Khâm Mạng, đại diện Tòa thánh tuyên đọc nguyên văn bằng La ngữ sắc chỉ MAGNO NOS SOLATIO của Đức Thánh cha Gioan XXIII nâng Đền Thờ La Vang lên bậc VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG.

Trong đền thánh La Vang đặt bốn bàn thờ cẩm thạch lấy từ núi Ngũ Hành Sơn. Một bàn thờ chính dâng kính Đức Mẹ và ba bàn thờ phụ dâng kính các thánh tử đạo ba miền Bắc, Trung, Nam. Trên bàn thờ có hình Đức Mẹ La Vang và phù điêu thánh tử đạo Việt Nam. Lúc đó (1961) khi làm lễ, vị Chủ tế vẫn hướng về phía bàn thờ (trừ lúc giảng) chứ chưa quay mặt về phía giáo dân như bây giờ.

LINH ĐÀI BA CÂY ĐA NHÂN TẠO (1961 – NAY)
 
Image may contain: sky, tree, outdoor and nature
Dựa theo lời truyền tụng "Đức Mẹ hiện ra trên đám cỏ, dưới gốc cây đa", ban kiến thiết Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang, đứng đầu là Đức TGM Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục đã chấp thuận đồ án linh đài ba cây đa nhân tạo của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ. Đó là công trình mới lạ, tân kỳ, tái tạo quang cảnh nơi Đức Mẹ hiện ra với ba cây đa bằng bê tông cất thép cao từ 16,50 đến 21,00 mét, vươn mình trên một đồi đá hình đa giác, với những bậc thềm to nhỏ, rộng hẹp, cao thấp khác nhau. Chính giữa là bàn thờ bằng đá cẩm thạch Ngũ Hánh Sơn. Thánh tượng Đức Mẹ La Vang, mẫu tượng Đức Bà xuống ơn ngự trên cao, chính điện, trên một khối đá cẩm thạch vuông vắn khác mẫu tượng mới với chủ đề hoàn toàn khác với hai mẫu tượng cũ Đức Bà Chiến Thắng. Linh đài ba cây đa nhân tạo được khởi công ngày 20.06.1963, vừa xong phần bê tông cốt thép, chưa có phần trang trí mỹ thuật bên ngoài thì bị đình đốn do biến cố ngày 01.11.1963 xảy ra. Hơn 40 năm qua, linh đài vẫn tồn tại nguyên trạng ban đầu.

NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TRUNG TÂM LA VANG TRƯỚC NĂM 1972
 
Related image
 Công trường Mân côi Là khuôn viên trước đền thờ, đã hoàn thành với diện tích 30 x 480 mét, rải đá, tráng nhựa. Hai bên là 15 pho tượng bằng đá cẩm thạch được chạm khắc công phu theo nghệ thuật hiện thực - loại hình nghệ thuật tượng thánh thường thấy - diễn tả Mười Lăm Mầu Nhiệm Mân Côi.

Hồ Tịnh Tâm dự tính nằm ở hai bên hình, là khoảng ruộng trước đền thờ rộng 6 ha, đã đào xong với 30.000 ngày công do giáo dân Huế tự nguyện. Theo thiết kế, hồ được tạo hình theo kiểu hồ Tịnh Tâm thành nội Huế, giữa mỗi hồ có một cù lao nhỏ, bên hồ này xây đài kỷ niệm các đấng Chân Phước tử đạo Việt Nam, bên hồ kia xây đài kỷ niệm các đấng bổn mạng xứ truyền giáo. Nội dung phần này chưa thực hiện.

Phía sau Thánh đường có những công trình như Nhà Tĩnh Tâm, khởi Công ngày 24.04.1962. Hoàn thành và đưa vào sử dụng tháng 10.1963. Đó là ngôi nhà lầu bê tông tường gạch một tầng, hình chữ U, ngang 10 mét, rộng 36 mét, cộng với hai cánh, mỗi cánh 12 mét. Được thiết kế gồm nhiều phòng ngủ, hội trường, phòng đọc sách, phòng giải trí, nhà xe, nhà bếp, và nhà ăn 500 khẩu phần một lúc.

Ngôi nhà hành hương bề thế 2 tầng bên cạnh nhà thờ cũng bị tàn phá không còn dấu tích gì. Ba cây đa và tượng đài Đức mẹ nằm khuất trong lùm cây bên phía phải hình. Các công trình khác như Nhà Hành Hương, Công Trường Thánh Tâm (với tượng đài Kitô Vua đứng trên quả cầu hình bán nguyệt. Một bàn thờ bằng đá cẩm thạch lộ thiên dưới chân tượng. Một hồ nước trong xanh phía trước và một hoa viên tươi tốt bao quanh), Hồ GIÊNÊZARÉT (với hai cầu vồng bắc qua hồ, mỗi cầu rộng 6 mét dài 30 mét, nối liền lộ trình Đền Thánh - Đồi Calvariô - Đền Thánh. Đây là lộ trình chính dành cho các cuộc kiệu lớn) và hệ thống đường sá, điện nước, mương cống, nhà vệ sinh.... Riêng chỉ với những công trình kiến thiết trên đây thôi cũng đã khiến La Vang "phảng phất như một lâu đài thiên quốc…, một kinh thành ánh sáng..., một mảnh thiên đàng rớt xuống miền rừng núi hoang vu.

CHIẾN SỰ LAN TỚI LA VANG
Image result for CHIẾN SỰ LAN TỚI LA VANG

Lịch sử bằng hình ảnh

Trung tâm Thánh mẫu La Vang – Việt Nam (1798 – 2013)

nguoil10

 

Mẹ La Vang

122_0709_zpseedd2dd5

lavang-12b

lavang-27b

Bức thánh tượng quý giá này đã bị hủy hoại trong cuộc chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, nay không còn nữa.

122_0709_zpseedd2dd5

Bức tượng Đức Mẹ La Vang (phục hồi) lại được để trên bệ thờ bên hông tháp cổ. Bức tượng Mẹ theo hình dáng này hiện cũng được khá nhiều người đặt trên bàn thờ tại nhà hoặc các Tượng đài Mẹ La Vang ở các nhà thờ, nhà nguyện….

lavang-3b

Nhà thờ La Vang giai đoạn 1923 -1961

 Nhà thờ La Vang vào thời kỳ mới được xây dựng xong:

lavang-5b

lavang-11b

Hình ảnh Vương cung thánh đường La Vang chụp năm 1931, giáo dân với trang phục đặc trưng và nón lá. Các công trình kiên cố khác xung quanh Thánh đường vẫn chưa có nhiều. Trong hình, Nhà thờ cũng đã có dấu hiệu xuống cấp do thời tiết khắc nghiệt của miền trung. Gần khu vực Linh đài hiện tại vẫn là ngôi nhà tranh.

lavang-14b

Giai đoạn thiết kế trung tâm Thánh Mẫu toàn quốc La Vang (1961 -1963)

 Những hình ảnh ngày đại lễ Đại Hội La Vang lần 15 ngày 22.08.1961:

lavang-19b

lavang-21b

lavang-30b

lavang-2

lavang-33b

6. LINH ĐÀI BA CÂY ĐA NHÂN TẠO (1961 – NAY)

Toàn cảnh linh đài Đức Mẹ và Gốc đa chụp năm 1967.

6278314257_e327bfe328_o_zps4bdb940c

6943166199_f9e662c40d_o

7. NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TRUNG TÂM LA VANG TRƯỚC NĂM 1972

Công trường Mân côi Là khuôn viên trước đền thờ, đã hoàn thành với diện tích 30 x 480 mét, rải đá, tráng nhựa. Hai bên là 15 pho tượng bằng đá cẩm thạch được chạm khắc công phu theo nghệ thuật hiện thực – loại hình nghệ thuật tượng thánh thường thấy – diễn tả Mười Lăm Mầu Nhiệm Mân Côi

lavang-38b

Hình ảnh các đoàn lễ sinh và giáo dân hướng về phía lễ đài. 40 năm sau, sau nhiều thăng trầm, cũng tại chính vị trí này đã diễn ra nhiều buổi Lễ trọng đại của Giáo hội Việt Nam trong đó có buổi lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng một Vương cung thánh đường mới. Ngôi thánh đường trong hình giờ chỉ còn di tích tháp chuông.

8. LA VANG – NHỮNG NĂM THÁNG YÊN BÌNH (~1970)

Mặc dù chiến tranh đã lan rộng ra toàn miền trung từ những năm 1967 nhưng miền La Vang vẫn tương đối yên bình và hầu như chưa bị ảnh hưởng gì!

6278312871_36743858c3_o_zpsd0116971-1

6278315957_7344335f23_o

Đường vào La Vang 1967

Đỉnh điểm của cuộc chiến là vào ngày giữa năm 1972, chiến sự ác liệc giữa Cộng quân và Quân đội VNCH đã tàn phá thành bình địa toàn bộ Thánh địa La Vang. Ngày 7/7/1972, mặc dù tái chiếm lại được Thành Quảng Trị và La Vang, nhưng tất cả chỉ còn là đống đổ nát. Ngôi thánh đường xinh đẹp trước đây đã bị tàn phá nặng

4324774840_53119ac785_o

Vị Tổng thống VNCH lúc đó là Ông Nguyễn Văn Thiệu đã đến quỳ gối cầu nguyện trước tại gian cung thánh lộng lẫy một thời của Thánh đường với bàn thờ cẩm thạch xinh đẹp thủa nào, giờ chỉ còn là đống đổ nát.

6326996347_db22ce9bc7_o_zps177ab0c2

Mặc dù đã Quảng Trị đã được tái chiếm cuối tháng 12 năm 1972, những người lính VNCH hiện diện tại La Vang, linh đài vẫn còn nhưng tượng Đức Mẹ đã bị hư hại với phần đầu tượng đã bị bể.

  LA VANG – NHỮNG NĂM THÁNG TRẦM LẶNG VÀ HỒI SINH 1975 – 2010

La Vang sau những năm 1972, chiến sự tiếp tục lan rộng cộng với khung cảnh đổ nát khiến khu vực linh địa trở nên trống vắng và hoan tàn. Đặc biệt, sau năm 1975 thì các buổi lễ cũng không được phép tổ chức hoặc gặp rất nhiều khó khăn. Những người muốn đến bên Mẹ La Vang bị xét hỏi, đuổi về nhà, đất đai Linh địa bị thu hẹp nhiều… Giáo hội chỉ còn giữ được Linh đài, Di tích Thánh Đường và phần phụ cận nhỏ xung quanh.

Tại Linh địa cũng không còn Linh mục phụ trách, Linh Mục giáo xứ Diên Sanh gần đó là người duy nhất quản nhiệm La Vang nhưng cũng gặp nhiều khó khăn.

10.1 DI TÍCH VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG

LaVang_03

lavangchurch

ntlavang_zps2975cd64

Thực ra, sau năm 1975, ngôi Thánh đường La Vang chưa bị sập hẳn hoàn toàn, phần thiệt hại nặng nề nhất là khu vực giữa nhà thờ và làm kết cấu nhà thờ yếu đi rất nhiều. Năm 1985, cơn siêu bão đổ bộ vào miền Trung đã “giúp” di tích thiệt hại thêm. Tuy vậy, cho tới năm 1997, phần gian cung thánh và phần phía sau (Tháp chuông) vẫn còn tồn tại:

Toàn cảnh ngôi Thánh Đường sau năm 1975. Ngôi tháp cổ có hình dạnh như thế này cho đến năm 2000 mới mới được “phục chế lại” cho vuông vức hơn. Phía lòng nhà thờ giờ thành nhà nguyện “tiền chế”. Những phần tường đổ nát còn lại đã bị dỡ bỏ đi vì rất khó phục hồi nguyên trạng.

Những hình ảnh cận cảnh ngôi tháp cổ sau khi được trùng tu và vá lại các phần bị trúng đạn pháo:

IMG_5948

lavang18_zps4aad46fe

122_0716_zps038587e5

122_0705_zps132f729c

xvdsc0027wj6_zpsd07566c5

IMG_5969

IMG_5952

122_0729_zps1e716f0b

122_0723_zpsef3a98b3

IMG_5954

IMG_5961

 Năm 1903, khi lên chăm sóc vườn Mẹ, cha phó Cổ Vưu Giuse Nguyễn Xuân Cảnh đã cho đào một giếng đất ngay trước nhà thờ ngói. Giáo dân quen gọi là GIẾNG ĐỨC MẸ.

IMG_0453

Nước giếng Đức Mẹ không trong lắm nhưng có vị ngọt và mát, không bị ô nhiễm bởi môi trường bên ngoài nên có thể uống ngay, không cần nấu chín.
Vẫn biết nước giếng Đức Mẹ là nước uống bình thường không mang dược tính gì cả, nhưng từ truyền khẩu ngày xưa đến thực tế ngày nay nhiều bệnh nhân uống nước giếng Đức Mẹ mà được lành các bệnh tật là do bởi lòng thành kính cậy tin quyền phép Đức Mẹ được Mẹ ban ơn lành theo ý nguyện mà thôi.

DSCN2719

Ngày nay, hơn một thế kỷ trôi qua, giếng Đức Mẹ vẫn được bảo quản sạch đẹp, vệ sinh làm tăng vẻ mỹ quan vườn Mẹ, nhưng trên hết giếng Mẹ là một bảo chứng tình yêu tuyệt vời đối với con cái Mẹ. Từ mạch tự nhiên này, biết bao ơn lành hồn xác Đức Mẹ đã đổ xuống cho con cái Người.

IMG_5978

Như đã nói trên, kể từ sau năm 1963 đến tận năm 2010 thì Linh đài Đức Mẹ (Cây đa bê tông) vẫn để nguyên phần thô rêu phong cùng đạn pháo và nắng mưa. Trận chiến năm 1971 tuy phá hủy hầu hết các công trình trong khu La Vang bao gồm cả tượng Đức Mẹ Xuống Ơn trong Linh Đài nhưng ba cây đa vẫn còn hầu như nguyên vẹn.

Linh đài Đức Mẹ vẫn giữ nguyên hình hài cũ cho đến tận năm 2010

Sau đó, năm 1980, HĐGM Việt Nam mới quyết định Tượng Đức Mẹ mang hình dáng người phụ nữ Việt Nam và Bức Tượng này được đặt lại vị trí cũ cùng năm đó:

La-Vang-Quang-Tri_zpsa3ff1dcb

Như đã nói trên, Linh đài Đức Mẹ với hình dáng cách điệu ba cây đa bê tông do Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế và xây dựng từ những năm 1960 nhưng chưa bao giờ được hoàn thành và khối bê tông thô vẫn để như vậy cho đến hơn 40 năm sau thì mới được tô vẽ cho đúng vẻ kiến trúc của nó. Quá trình này được bắt đầu làm lại trong năm 2010 thì hoàn thành. Tuy nhiên, khung cảnh hoang sơ của Linh đài mẹ đã không còn nữa. Thay vào đó là khung cảnh lộng lẫy hơn.

100_2049_zps8fdbd257

100_2050_zps8780857e

4464084240_e1ae1710cb_b_zps3a2693c7

122_0714_zps58d33149

122_0664_zps0d59cd05

Linh đài Đức Mẹ La Vang hiện nay với Bức Tượng Mẹ mặc áo dài khăn đống theo truyền thống phụ nữ Việt Nam tạc trên đá quý từ năm 2011

  LA VANG NGÀY NAY

255533-DSCN0298

Thật ra, từ lúc nhà nước “mở cửa”, các công trình tại La Vang cũng đã được xây thêm, trùng tu tôn tạo nhưng hầu như là mang tính tự phát và chưa gắn kết được với nhau thành một khối tổng thể.

Nhà hành hương đối diện với Linh đài được xây dựng bề thế phục vụ chỗ ở cho khoảng 300 khách hành hương một lúc. Theo các thiết kế mới thì nhà hành hương này cũng sẽ bị đập bỏ để phù hợp với quy hoạch chung.

lv3

Lễ đài nhìn từ phía tháp cổ dịp đại lễ 1999

DH-LaVang-008

 

Hồng Vân sưu tầm

Image result for nhà thờ Đức mẹ lavang hình bìa

Related image

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này