Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1289)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (64)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (353)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Lữ Liên và lịch sử ban tam ca AVT

Lữ Liên và lịch sử ban tam ca AVT

Trường Kỳ

 

Không cần phải giới thiệu dài dòng, chắc chắn mọi người đều biết AVT là tên của một ban tam ca trào phúng đã đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam với tính chất châm biếm và hài hước, nhiều khi xen lẫn với một sự mỉa mai của nó.

lu lien dan coAVT đã trở thành một tên tuổi thật gần gũi với mọi người bằng những nhạc phẩm lột tả được hết mọi khía cạnh của cuộc sống hằng ngàytrong nhiều hoàn cảnh khác biệt của xã hội. Những lời ca dí dỏm trong những nhạc phẩm do AVT trình bầy đã mang lại niềm vui cho mọi người từ suốt gần 50 năm qua đã đóng góp khá nhiều vào kho tàng văn hóa dân gian cũng như đã trở thành một lọai văn chương truyền khẩu rất phổ thông.


Nhắc đến AVT, chắc chắn phải nhắc đến người được coi là linh hồn của ban tam ca này là nhạc sĩ lão thành Lữ Liên, vào năm 2008 này đã được 91 tuổi. Ông hiện cư ngụ tại Orange County trong một căn mobile home mà người viết đã có dịp tiếp xúc gần đây. Ngoài ra, trước đó thỉnh thoảng tôi vẫn có dịp gặp gỡ ông trong những dịp thu ông hình video cho trung tâm Asia cách đây khoảng 10 năm để nghe ông kể về nguồn gốc và sự hình thành của ban tam ca AVT.

Không những thế cách đây 15 năm, ông đã tự tay soạn một bài viết về nội dung nói trên cho tôi làm tài liệu. Căn cứ vào những dữ kiện có được cũng như một số chi tiết góp nhặt được qua những lần gặp gỡ nhạc sĩ Lữ Liên, bài viết này mong sẽ cung cấp cho bạn đọc những điều xác thực về lịch sử ban tam ca AVT cùng với người được coi là linh hồn của nó là nhạc sĩ Lữ Liên.
Thêm vào đó, bài viết này cũng còn được dựa trên tài liệu của một số nhân vật có thẩm quyền khác đối với sự hình thành của ban tam ca trào phúng độc đáo này. Trung tá Phạm Hậu tức nhà thơ Nhất Tuấn là một người trong số này. Ông nguyên là giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh VNCH vào năm 1971 và là Tổng Giám Đốc Việt Tấn Xã vào năm 1974. Trước đó ông tùng là người một thời gian chỉ huy Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương tức tiền thân của của Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương là nơi xuất phát ra ban tam ca AVT và rất nhiều nghệ sĩ tên tuổi khác.
Image result for Lữ Liên và lịch sử ban tam ca AVT"
Ông cũng từng giữ một chức vụ cao của Đài Phát Thanh Quân Đội là nơi nhạc sĩ Lữ Liên vào năm 1957 sau khi được đồng hóa vào quân đội đã phục vụ trong ban biên tập, để rồi sau đó được biệt phái sang tiểu đoàn 1 Chiến Tranh Chính Trị để bổ xung vào ngành kịch nghệ sân khấu trong việc yểm trợ cho các binh sĩ khắp 4 vùng chiến thuật trước khi trở thành trưởng ban AVT.

Trong thời gian là diễn viên kịch nghệ trong ban kịch của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, ông vẫn chú tâm nghiên cứu về cổ nhạc thuần túy của 3 miền đất nước để sáng tác thành những bài ca trào phúng để có thể trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp tự đàn lấy để trình diễn. Đó là điều ông ước vọng từ lâu.

Năm 1958, trong danh sách công tác của Tiểu Đoàn 1 Chiến Tranh Chính Trị có một ban tam ca do 3 anh tân binh mới nhập ngũ tên Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng chuyên trình bầy những bản nhạc vui nhộn. Họ lấy 3 chữ đầu của tên mình để ghép lại thành AVT để đặt tên ban. Người đứng ra thành lập ban AVT chính là nhạc sĩ Anh Linh mà không phải là nhạc sĩ Lữ Liên như không ít người lầm tưởng.

Anh Linh là một người có căn bản nhạc lý vững vàng nên từng có thời gian được cử thay thế giáo sư âm nhạc Phạm Nghệ làm trưởng ban Ca của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, tức Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương sau đó. Ông đã sáng tác được khoảng 20 bài, trong đó có một số bài phổ từ thơ của thi sĩ Hà Thượng Nhân và Nhất Tuấn (tác giả thi tập nổi tiếng trong thập niên 60 “Truyện Chúng Mình”).

Một trong những ca khúc đắc ý nhất của ông là “Niềm Tin”, thường được nhiều ca sĩ trình bầy trong dịp Giáng Sinh. Ca khúc đầu tay của Anh Linh là bài “Sao Em Không Đi”, viết trước khi nhạc sĩ Anh Bằng, cùng trong Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương của Tiểu Đoàn 1 Chiến Tranh Tâm Lý, tung ra nhạc phẩm “Nếu Vắng Anh”. Nhưng vì nhạc của Anh Linh có phần ủy mị nên không được bộ thông tin chấp thuận ngay.

Trái lại, “Nếu Vắng Anh” thì trót lọt kiểm duyệt vì lời ca, điệu nhạc rất tình cảm nhưng không mềm yếu. Nhạc phẩm này đã trở thành Top Hit sau đó. Bù lại, Anh Linh được an ủi là có một số bài như Chiến Thắng Rừng Sát, Thiên Thần Mũ Đỏ, Chiến Thắng Kon Tum đã được rất nhiều anh em binh sĩ tán thưởng.

Ban Tam Ca Trào Phúng AVT đầu thập niên 60

Việc hình thành tên ban tam ca AVT đã được nhạc sĩ Anh Linh kể lại với những chi tiết lý thú đến từ một sự tình cờ. Khởi thủy, ban tam ca sau này được gọi là AVT gồm có 3 người là Anh Linh, Tuấn Đăng và Vân Sơn thường được giới thiệu mỗi khi xuất hiện trên sân khấu là Tam Ca Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng. 3 người đều hát thường trực ở phòng trà Anh Vũ với những tiết mục vui nhộn của họ.

Một hôm, ban giám đốc thuê người kẻ một tấm biểu ngữ rất lớn để giăng ngang đường Trần Hưng Đạo, gần phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện nhằm giới thiệu bộ 3 này mà họ muốn gọi là ban Kích Động Nhạc Anh Vũ. Đúng vào lúc những người kẻ chữ vừa viết xong hai chữ A và V mầu đỏ và chữ NH mầu xanh thì Anh Linh tình cờ đi tới.

Anh hỏi thì được biết họ viết chữ ANH VŨ. Anh Linh nói ngay là ban tam ca của anh không phải tên là Anh Vũ như ban giám đốc đã thuê họ viết. Nhưng thấy mấy người thợ đã lỡ viết như vậy nên chợt nhớ ra ban kích động nhạc của mình đã có sẵn tên Anh Linh, Vân Sơn nên bảo viết thêm chữ T (chữ đầu của tên Tuấn Đăng) và bỏ 2 chữ NH kia đi. Vì thế nên có tên AVT.

Trong thời gian AVT hát nhạc ngọai quốc ở phòng trà Anh Vũ, họ luôn được khán giả yếu cầu hát nhiều lần nên chủ phòng trà thêm cho AVT một danh hiệu nữa là ban AVT Đăng-Linh-Sơn khi được giới thiệu. Nhưng MC lại cố ý đọc là “AVT Darlingson” cho khán giả ngọai quốc dễ hiểu!

Tiền thù lao cho AVT sau đó đã phá kỷ lục khi họ được trả đến 1000 đồng một người, trong khi “cát sê” trả cho quái kiệt Trần Văn Trạch chỉ có 700! Vì AVT có lần được khán giả yêu cầu “bis” đến 7 lần. Ba người vừa vào hậu trường thay áo đi về thì lại phải mặc vào để ra trình diễn thêm trong khi khán giả giả tiếp tục hò hét vang rền! Đó thật là một kỷ niệm nhớ đời cho Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng.

Giọng ca của 3 thành viên AVT này rất đều. Họ có thể lên cao tới “nốt” Sol cao và xuống đến Sol thấp. Theo nhận xét của nhạc sĩ Lữ Liên thì giọng của Vân Sơn trội hơn cả so với 2 người khác trong ban. Hình ảnh đặc biệt của AVT là lúc trình diễn họ đều mặc quốc phục với khăn đóng, áo dài và tự đàn lấy để hát.

Trước khi chuyển qua sử dụng những nhạc khí dân tộc thì Anh Linh chơi guitar, Vân Sơn chơi trống và Tuấn Đăng sử dụng contre-bass. Những tiết mục linh động và tươi vui của AVT thật sự đã mang lại cho sinh hoạt phòng trà thời đó thêm rất nhiều sống động.

Qua đầu thập niên 60, vào lúc AVT cần những sáng tác mới để trình bầy, nhạc sĩ Lữ Liên có ý định thử nghiệm khi muốn hướng phần trình diễn của AVT về một thể loại mới lạ. Ông đã trích một đọan trong bản Thất Nghiệp Ca của ông (sáng tác cho Đòan Văn Nghệ Việt Nam) đặt tên là Tam Nghiệp, mô tả 3 chàng Thợ Nhuộm, Thợ Sửa Khóa và Thầy Bói để AVT thực nghiệm vào dịp Tất Niên trong một chương trình văn nghệ do quân đội tổ chức tại rạp Thống Nhất. Chương trình này có mục đích ủy lạo các chiến sĩ xuất sắc khắp 4 vùng chiến thuật trở về tham dự, dưới sự chủ tọa của tổng thống Ngô Đình Diệm cùng nhiều tướng lãnh cao cấp khác.

Nhưng sắp đến ngày ra mắt thì thình lình có giấy gọi Anh Linh theo học khóa sĩ quan vào năm 1962. Lập tức Hoàng Hải được đưa vào tập dượt để thay thế. Sau này khi Lữ Liên gia nhập AVT, nhạc phẩm Tam Nghiệp có được sửa đổi đôi chút với những nghề Thợ Sửa Xe Máy (do Lữ Liên diễn tả), nghề Tẩm Quất với Vân Sơn và Tuấn Đăng với nghề thợ mộc.

imageVới bài Tam Nghiệp gốc, một sáng tác của Lữ Liên, trích từ tác phẩm Thất Nghiệp Ca của ông, lần đầu tiên khán giả được thưởng thức một nhạc phẩm trào phúng với những âm điệu cổ truyền cùng những lời ca dí dỏm và nghệ thuật trình diễn sống động. Tất cả những khán giả hôm đó, phần lớn là anh em binh sĩ, được dịp cười hả hê. Nhất là lúc Vân Sơn hứng lên múa trống, tung dùi và Tuấn Đăng nhảy lên cây “Contre-basse” để solo theo nhịp kích động khiến khán giả cổ võ muốn sập rạp.

Và kể từ đó AVT bắt đầu bước vào một khúc quanh quan trọng với phần trình bầy những nhạc phẩm trào phúng, sát với đời sống thường ngày trong xã hội. Với sự tán thưởng nồng nhiệt của khán giả. Sau thời gian này, Lữ Liên lại đặt cho AVT một số bài mới như Ông Nội Trợ, Trắng Đen, Dậy Thì, vv... Tất cả những nhạc phẩm này đã khiến tên tuổi AVT càng này càng lên cao.

image
Ngoài những sáng tác của nhạc sĩ Lữ Liên, nhạc sĩ Anh Bằng cũng sáng tác cho ban tam ca này một nhạc phẩm nổi tiếng khác có tựa đề là Huynh Đệ Chi Binh, thêm vào đó là một sáng tác của Duy Nhượng là bài Ai Lên Xe Bus...

Từ đó, ban AVT đã trở thành một tam ca nhạc đắt giá tại các phòng trà ca nhạc và vũ trường cũng như các Đại Nhạc Hội cùng các đài Phát thanh và Truyền Hình. Nói cho đúng, AVT đã trở thành một hiện tượng trong sinh hoạt ca nhạc tại Việt Nam với một khuynh hướng thể hiện chưa từng có trước đó. Như vậy có thể khẳng định là AVT đã giữ vai trò độc tôn bằng hình thức tam ca trào phúng. Một thời gian sau, một vài kết hợp dưới hình thức tương tự cũng được ra đời, nhưng không có khả năng thu hút người nghe như AVT, nên đã không tồn tại được bao lâu.

Image result for Lữ Liên và lịch sử ban tam ca AVT"Sau những bài hát trào phúng được nhắc tới ở trên là đến một loạt những bài khác được nhạc sĩ Lữ Liên sáng tác cho ban AVT trình bầy như Ba Bà Mẹ Chồng, Cờ Người, Em Tập Vespa, vv... Đó là những nhạc phẩm đã lót đường cho ban AVT thăng tiến rất nhanh. Ngoài những lời lẽ châm biếm trong những bài hát trước đó, người nghe còn cảm thấy rất thích tú với những bài hát được Lữ Liên sáng tác với hình thức lời thanh mà ý tục, tương tự những thi phẩm nữ sĩ Hồ Xuân Hương, trong đó có tác phẩm Cờ Người đã được phổ nhạc hoàn toàn mang chất AVT độc đáo...

Trong khoảng thời gian từ 60 đến 64, AVT đã được 2 hãng đĩa Sóng Nhạc và Việt Nam mời thu đến 20 đĩa nhạc và băng nhạc. Và AVT còn nhận lời trình diễn cho các phòng trà ca nhạc và vũ trường lớn ở Sài Gòn như Queen Bee, Quốc Tế, Bồng Lai, vv...

Từ trái qua phải: nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, Trường Kỳ, nhạc sĩ Lữ Liên và nghệ sĩ Thúy Liệu tại căn “mobile home” của Lữ Liên ở thành phố Westminster, nam California năm 2007

Vào năm 1965, nhạc sĩ Hoàng Hải được lệnh giải ngũ. Hoàng Hải với tên thật là Lưu Duyên, là anh của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, sau đó sang làm cho đài VOF tức Tiếng Nói tự Do. Nhạc sĩ Lữ Liên được mời vào thay thế và trở thành trưởng ban AVT từ đó. Cùng một lúc ông còn là trưởng ban kịch của Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Với các nghệ sĩ : Hoàng Năm, Đỗ Lệnh Trường, Xuân Phúc, Bích Huyền, Cẩm Thúy, Thúy Liệu, Lệ Sửu, v.v...

Sau khi nhận lời trở thành một thành viên của AVT, lúc đó măc dù trong ban không còn ai mang tên có chữ có A ở đầu, nhưng Lữ Liên vẫn giữ nguyên cái tên AVT. Vì ông cho rằng tên đó đã đi sâu vào tâm hồn quần chúng. Nhưng ông đã đưa ra một vài đề nghị với một số thay đổi. Thứ nhất, với vai trò trưởng ban ông đổi danh xưng chính thức cho AVT là “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT”, thay vì Ban Kích Động Nhạc AVT.

Ngoài ra, còn có thêm một sự thay đổi quan trọng khác là lọai bỏ 3 nhạc khí Tây Phương để chỉ sử dụng những nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Từ đó Vân Sơn chơi Tỳ Bà, Tuấn Đăng chơi đàn đoản và Lữ Liên sử dụng đàn nhị tức đàn cò.

Tới khoảng thời gian 1966-67, chính phủ Việt Nam theo đuổi chương trình trao đổi văn hóa với các nước Á Châu, AVT với thành phần trên đã theo Đoàn Văn Nghệ Việt Nam của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ di trình diễn tại rất nhiều quốc gia như Lào, Cao Miên, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nhật Bản, vv...

Sang đến năm 1968 thì “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT” đi vào một thời kỳ có thể gọi là cực thịnh với những chuyến lưu diễn tại rất nhiều quốc gia Âu Châu.

Theo lời yêu cầu của các đồng bào Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam đã gửi một phái đoàn văn nghệ hùng hậu gồm đầy đủ các bộ môn thi, ca, vũ, nhạc, kịch, vv... dưới sự dìu dắt của nhạc sĩ Hoàng thi Thơ cùng các vũ sư Lưu Hồng và Trịnh Toàn sang Âu Châu trình diễn lần thứ nhất.

Image result for Lữ Liên và lịch sử ban tam ca AVT"

Lần ra mắt ở rạp Maubert Mutualité Paris, Lữ Liên đã sáng tác một số bài dành riêng cho AVT như Chúc Xuân, Vòng Quanh Chợ Tết, Tiên Sài Gòn, Gái Trai Thời Đại, Lịch Sử Mái Tóc Huyền, Mảnh Bằng, 3 Ông Bố Vợ, vv... để trình diễn trước một số khán giả kỷ lục. Còn một số đông khán giả phải đứng ở ngoài vì hết chỗ.

 Trong lần ra mắt đáng ghi nhớ đó, AVT mặc sức vẫy vùng. Mỗi câu hát là một chuỗi cười và tiếng vỗ tay vang dội. Giữa mỗi bài hát đều có phần solo nhạc. Tiếng nhạc khí Việt Nam thánh thót, véo von như chim hót khiến khán giả im lặng cơ hồ như nín thở để thưởng thức. Đến phần kết thúc mỗi bài hát thì tiêng vỗ tay vang lên như sấm động. Nhất là trong tiết mục AVT trình tấu cũng bằng Tỳ Bà, Nhị Huyền và Đàn Đoản hai nhạc khúc bất tử của Johan Strauss là Le Beau Danube Bleu và Les Flots Du Danube. Khán giả đã vỗ tay không ngừng khi chấm dứt.

image

AVT phải dắt tay nhau ra cám ơn khán giả 3 lần! Vãn hát, khán giả đã tràn lên sân khấu vây quanh các nhạc sĩ để khen ngợi. Nhất là các khán giả người địa phương muốn xem tận mắt từng cây đàn của AVT đã sử dụng.

Lần trình diễn đó của AVT đã gây chân động cả Paris. Đi đến đâu người ta cũng nhắc tới AVT. Đó có thể coi như thời kỳ huy hoàng nhất của ban tam ca trào phúng này. Sau đêm trình diễn ở rạp Maubert và sau khi nghỉ một ngày, bộ ba Lữ Liên, Vân Sơn và Tuấn Đăng sang diễn một xuất ở Thụy Sĩ và một xuất ở Luân Đôn. Sau đó họ lại về Pháp để trình diễn một xuất ở dưới miền Nam.

Rồi sau đó, phái đoàn lại tiếp tục đi trình diễn tại Maroc, Algérie, Tunisie, vv... Nơi nào họ cũng gặt hái được những thành công rực rỡ trước khi trở về Việt Nam. Đó là chưa kể AVT còn có dịp sang trình diễn tận nước Cộng Hòa Trung Phi trong thời kỳ lãnh đạo của tổng thống Bokassa.

Lữ Liên và người vợ quá cố trong lễ thành hôn của Tuấn Ngọc, con trai của ông bà

Qua năm 1969, lại một lần nữa thể theo lời mời của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam lại cử một đoàn văn nghệ gồm AVT với Lữ Liên, Vân Sơn, Tuấn Đăng cùng 2 nữ ca sĩ Hoàng Oanh và Hà Thanh, vợ chồng nhạc sĩ cổ nhạc Vĩnh Phan, nhạc sĩ Huỳnh Anh và cây sáo Nguyễn Đình Nghĩa sang quốc gia này. Một chương trình dài 2 tiếng gồm đủ mọi tiết mục được dàn dựng để trình diễn ở tất cả những địa điểm mà anh chị em sinh viên ở Parius tổ chức trong những ngày cuối năm. Chuyến lưu diễn này kéo dài 1 tháng với một thành công rực rỡ.

Ngoài những lần trình diễn chung với 2 nhạc sĩ khác trong AVT, hình ảnh nhạc sĩ Lữ Liên còn ghi đậm nét trong trí nhớ mọi người khi ông cùng nhạc sĩ Hoàng Thi Thao đồng diễn tiết mục “Cò Tây-Cò Ta”, được coi là một tiết mục rất ăn khách vào thời đó, cũng như sau này tại hải ngọai. “Cò Tây-Cò Ta” cũng đã được thu hình trong một chương trình Paris By Night cách đây vài năm, gây được nhiều thích thú cho khán thính giả.

Rồi đến tháng 4 năm 75, Lữ Liên nhờ làm cho đài Mẹ Việt Nam nên được đi tàu ra Phú Quốc để rồi được đưa sang đảo Guam trước khi đến Mỹ. Trong khi đó Vân Sơn và Tuấn Đăng bị kẹt lại. Riêng Vân Sơn, một thời gian ngắn sau biến cố tháng 4 năm 75, đã nhảy xuống sông Thị Nghe tự tử. Qua một bài viết của Băng Đình thì Vân Sơn đã nhảy cầu Thị Nghè tự tử để phản đối sự áp bức của chính quyền mới đối với giới văn nghệ sĩ.

Trong khi về phía chính quyền thì cho là Vân Sơn làm rối loạn trật tự tại chợ Thị Nghè, bị công an khu vực rượt nên sợ quá phải nhảy vội xuống sông Thị Nghè. Vân Sơn, chết vì đầu đập vào một cây gỗ. Có người hỏi nữ nghệ sĩ Hồng Vân là người đứng ra quyên tiền để chôn cất cho Vân Sơn, về nguyên nhân cái chết của anh. Nhưng Hồng Vân cũng trả lời không biết rõ nguyên nhân.

Về phần nhạc sĩ Lữ Liên, theo một nguồn tin khác cho biết lý do khiến Vân sơn tìm đến cái chết đã đến từ chuyện gia đình...

Một thành viên từ những ngày đầu của ban AVT là Tuấn Đăng hiện nay vẫn hoạt động ở Sài Gòn. Hàng đêm anh hát và đàn tại một quán có tên là Tiếng Dương Cầm trong khu cư xá sĩ quan Chí Hòa.

Còn Anh Linh, người sáng lập ra AVT, từ khi qua Mỹ theo diện HO đến nay, là ca đoàn trưởng của một giáo xứ ở San Jose. Vợ chồng anh còn là chủ của một tiệm phở đông khách ở thành phố này.

Sau một thời gian vất vả ở các trại tỵ nạn, các anh chị em nghệ sĩ ở khắp nơi đổ dồn về tiểu bang California lập nghiệp. Nhờ sự yểm trợ của cơ quan USCC, một số anh nghệ sĩ có tên tuổi như Hoàng Thi Thơ, Nam Lộc, Jo Marcel, Lê Quỳnh, Kiều Chinh, Lữ Liên, Vũ Huyến, Ngọc Bích vv... đã được nhận vào làm việc tại cơ quan này.

Một thời gian ngắn sau khi sang đến Mỹ, ban Tam Ca Trào Phúng AVT Hải Ngoại đã được thành lập do ý kiến của nhạc sĩ Lữ Liên. Và sau một thời gian tập luyện một ban văn nghệ hùng hậu đã được thành lập để cùng kéo nhau sang Paris trình diễn, trong số dĩ nhiên không thể nào thiếu AVT Hải Ngoại với Ngọc Bích, Vũ Huyến và Lữ Liên.
Toàn thể khán giả đã tỏ ra rất thích thú khi được nghe lại những nhâc phẩm trào phúng quen thuộc ngày nào. Yếu tố đó đã khiến cho AVT gặt hái được những thành quả to lớn. Nhưng sau đó, với thời gian, thành phần AVT Hải Ngoại có một vài thay đổi và một số hoạt động cũng như một số sáng tác mới được ghi nhận như sau:
 14.2.77: Một lần nữa AVT có sự thay đổi trong thành phần khi Trường Duy vào thay thế cho Ngọc Bích. Cùng với đoàn văn nghệ trên, bộ ba sang Âu Châu trình diễn trong vòng 19 ngày.
01.12.77 : Sẵn có đoàn nghệ sĩ cơ hữu này, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã mang cả đoàn sang cộng hòa Trung Phi trình diễn nhân ngày Hoàng Đế Bokassa Đệ Nhất đăng quang.


Năm 1987: Nhạc sĩ Anh Bằng đã thực hiện 1 cuốn băng AVT Hải Ngoại đầu tiên do trung tâm Asia phát hành. Trong băng này có một nhạc phẩm mới mang tựa đề Gốc Mít do Lữ Liên và Anh Bằng sáng tác, nói về cuộc đời của những người dân Việt tỵ nạn, lang thang trên khắp thế giới để tìm miếng cơm manh áo. Gặp nhau cũng không biết là người đồng hương,với những cảnh ngộ trớ trêu, cười ra nước mắt.

AVT với tiếng hát Lữ Liên, Vũ Huyến và Trường Duy và bài mới thứ 2 của nhạc sĩ Anh Bằng mang tựa đề Canh Cua Rốc, mô tả những chàng tai tỵ nạn xa quê hương thèm món canh cua từng đêm như thèm khát những vóc dáng xinh xinh.
Năm 1988: thành phần AVT được tăng cường thêm nữ nghệ sĩ Thúy Liệu đã sang Úc trình diễn tại Sydney trong một chương trình kịch vui kéo dài trong 10 ngày.
Năm 1992: AVT có một sự thay đổi với Hoàng Long vào thay thế cho nhạc sĩ Vũ Huyến, đã cùng nhau thực hiện một băng cassette, thu thanh tại phòng thu Tùng Giang và do trung tâm Khánh Hà phát hành. Trong băng này có một sáng tác mới của Lữ Liên là Trận Cầu Quốc Tế(1), mô tả cuộc trực tiếp truyền thanh của AVT trong 1 trận cầu giao hữu nhưng không kém phần quyết liệt của 2 đội banh, một nam, một nữ từ Âu Mỹ đến Việt Nam. Khán giả Sài Gòn được xem nhiều pha gay cấn đầy nghệ thuật tân kỳ. Tuy chỉ là giả tưởng, nhưng với những “sound effects”, người nghe có cảm tưởng như đang tham dự một trận cầu thật.
Năm 1994, vào dịp Xuân Giáp Tuất trung tâm Giáng Ngọc tung ra cuốn video đầu tiên của AVT tại hải ngoại. Dựa theo một áng thơ tuyệt tác của nữ sĩ Hồ Xuân hương, nhạc sĩ Lữ Liên lần đầu tiên trình diễn chung với 2 nữ nghệ sĩ Thúy Lan và Thúy Hương để trình bầy nhạc phẩm Đánh Đu, với phần nhạc do Lữ Liên tự đảm trách, nhạc sĩ Ngọc Bích hòa âm và sử dụng Keyboard.

Ở trên là những chi tiết người viết thu thập được phần lớn từ người được coi như linh hồn của ban Tam Ca Trào Phúng AVT là Lữ Liên trong thời kỳ ông còn minh mẫn. Trong lần đến thăm ông gần đây, sức khỏe của ông có phần sa sút hơn xưa. Nhất là sau khi bị té nặng vào năm ngoái, 2007.

Sau lần đó, trí nhớ của nhạc sĩ Lữ Liên tỏ ra kém hẳn trước với một giọng nói không còn được linh hoạt, nếu không muốn nói là thiếu sự liên tục. Thật ra tình trạng này đối với số tuổi 91 của ông cũng là bình thường. Mặc dù vậy, nhạc sĩ Lữ Liên vẫn còn cung cấp được cho tôi một số chi tiết liên quan đến tiểu sử của ông…

Ông mang họ Lã, sinh trưởng ở Hải Phòng trong một gia đình mà thân phụ ông cũng là một nghệ sĩ, ngoài việc làm chính ở sở Bưu Điện. Khi Lữ Liên còn nhỏ, thân phụ ông đã đứng ra lập một gánh hát cổ nên ông đã có dịp gần gũi với những âm thanh nhạc cổ truyền. Ông trưởng thành trong khung cảnh văn nghệ đó nên đã chịu nhiều ảnh hưởng để sau đó trở thành một nghệ sĩ tài ba mà sự đóng góp của ông được coi như rất lớn lao cho nền âm nhạc Việt Nam…

Xem thêm...

Tuấn Ngọc với tình khúc Từ Công Phụng

Related image
 
 

ĐÊM 50 NĂM TÌNH CA TỪ CÔNG PHỤNG THÀNH CÔNG QUA 20 TIẾT MỤC TẠI HÍ VIỆN SEGERSTROM

Ca sĩ Tuấn Ngọc trình bày trong chương trình Từ Công Phụng 50 Năm Tình Ca

Rạp hát sang trọng Segerstrom Center for the Arts, Irvine, CA - USA

 
Nhạc Sĩ Từ Công Phụng, hiện sinh sống tại thành phố Portland Oregon, đã nhanh chóng phục hồi sức khỏe trong thời gian hai năm, Nhạc sĩ Từ Công Phụng đã bình phục mang một tinh thần phấn đấu mạnh mẽ và yêu đời, được bạn hữu, giới văn nghệ và rất nhiều khán thính giả yêu mến những ca khúc trữ tình của ông. Dù thành công khó khăn như thế nhưng theo ông: “Để có được hạnh phúc, là phải loại bỏ tham vọng”…
Thứ Bảy 23 tháng 6 2012 vừa qua tại hí viện sang trọng 1,700 chỗ: Segerstrom- Costa Mesa California, đông đảo khán thính giả và bằng hữu các ca sĩ, tài danh hàng đầu trong giới văn nghệ đã về đây vinh danh 50 năm tình ca Từ Công Phụng.
Một số ca sĩ hàng đầu đã hát lại những ca khúc tình tự quen thuộc từ 50 năm qua.
Riêng nhà thơ Du Tử Lê, người bạn đồng hành với Từ Công Phụng qua những lời thơ cho nhạc thơ mộng, chgo dòng nhạc kỳ diệu chắp cánh, nhân dịp này cũng muốn vinh danh những người vợ hy sinh cho chồng, điển hình như phu nhân của người nhạc sĩ họ Từ.
Từ khi mất Sài Gòn 1975, mãi đến vài năm sau, vợ chồng nhạc sĩ Từ Công Phụng mới đến được Hoa Kỳ định cư tại Portland-OR. Trong những năm đầu cả hai người cùng bận rộn sinh kế nhưng vẫn luôn “quanh quẩn ” với làng báo và ca nhạc.
Một trong những buổi hát thính phòng đầu tiên của nhạc sĩ tổ chức từ năm 1996 tại China Harbor- Seattle. Vài năm sau đó nhạc sĩ Từ Công Phụng từng đảm trách vai trò MC, dẫn chương trình cho Hollywood Night (Mây Productions) tại San José. Kế đến là các chương trình chủ đề về ông do Trung Tâm Thúy Nga thực hiện.
Trái với định luật, thời gian sẽ xóa nhòa và quên mau, nhưng những năm về sau trong đời sống tị nạn, mỗi ngày lại càng có mỗi tăng thêm lượng khán giả yêu mến. Thêm nhiều tiếng hát “hậu sinh” góp phần mang dòng “Nhạc Tình” Từ Công Phụng thêm thăng hoa như Trần Thu Hà, Y Phương, Johnny Dũng, Nguyên Khang, Diễm Liên…, nối tiếp Khánh Ly, Ý Lan, Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Xuân Sơn.. v.v…
Phóng sự đầu tiên do SBTN và NVTB thực hiện tại Portland, khi lần đầu có tin nhạc sĩ Từ Công Phụng lâm bệnh vào đầu tháng 6 năm 2010, qua phóng sự cho thấy sức mạnh của nhạc sĩ, tiếng hát khoẻ, thiết tha cộc sống, chính là tinh thần lạc quan yêu đời thể hiện. Năm vừa qua vào ngày 28-tháng 8 năm 2011, đêm nhạc thính phòng tại Portland cũng đã thành công rực rỡ.
Gần đây nhất lại thêm một vinh dự-niềm vui lớn mà Từ Công Phụng có được trong đêm 50 năm Tình Ca cuối tuần qua tại hí viện Segerstro với tài phối trí tổ chức của Việt Dzũng.
Trong đêm nhạc 50 năm vừa qua, không khí thính phòng thu hút hồn khán giả ngay với những ca khúc hâm nóng thật sự đi vào không gian thính phòng với “Như Ngọn Buồn Rơi”, “Trên Tháng Ngày Đã Qua”, nghe thân quen và từng được gắn liên với tên tuổi Tuấn Ngọc, cho hý viện trở nên lắng đọng qua diễn xuất và trình bày Y Phương .
Nếu từ 16 năm trước tại Seattle, Johnny Dũng, Thái Hiền, Nhật Hạ với những ca khúc như “Trên Đỉnh Bình Yên”, “Bây Giờ Tháng Mấy”, “Trên Ngọn Tình Sầu”, “Giọt Lệ Cho Ngàn Sau”, “Kiếp Dã Tràng” và cũng qua những ca khúc này Johnny Dũng đã hát trong các chương trình thính phòng do Bạch Hạc tổ chức tại Houston. Bích Vân hát với Từ Công Phụng, cũng như Diễm Liên với Nguyên Khang. Cũng từ Nguyên Khang làm nổi bật “trên Ngọn Tình Sầu”. Và sau hết là Ý Lan cùng với tác giả của Đêm 50 Năm Tình Ca.
Cố ca nhạc sĩ MC Việt Dzũng tổ chức vinh danh đêm 50 năm tình ca Từ Công Phụng với ca nhạc sĩ Từ Công Phụng
Tuấn Ngọc và Ý Lan vẫn là người được “ưu tiên” chọn những ca khúc nổi bật, và đã gắn liền họ với Từ Công Phụng. Ca khúc kết thúc chương trình 50 Năm Tình Ca Từ Công Phụng là “Giữ Đời Cho Nhau”, còn có tên gọi khác là “Ơn Em” phổ từ thơ Du Tử Lê. Đây cũng là vinh dự đến đáp nhà thơ Du Tử Lê trong tìng bạn gắn bó trên 40 năm giữa hai người. Thay vì nói về những ca khúc “Trên Ngọn Tình Sầu” và kỷ niệm, nhà thơ Du Tử Lê đã nhân dịp này thay mặt thân hữu và Từ Công Phụng để “tri ân” đến người bạn đời chung thủy của Từ Công Phụng. Trong khi đó nhạc sĩ Đăng Khánh lại nhấn mạnh đến sự can đảm của tác giả Từ Công Phụng, vượt qua những mất mát, tuyệt vọng để lạc quan yêu đời.
Đó cũng là triết lý sống chắp cho Từ Công Phụng được thương yêu và thăng hoa trong lòng người Việt yêu âm nhạc.
Related image

    Nhạc Từ Công Phụng, tuổi thanh xuân và lối thiên đàng đã lấp…     

Kể từ trên nửa thế kỷ trước, có một người nhạc sĩ với cây đàn ghi ta, trong trang phục quần xanh áo chemise trắng quen thuộc của sinh viện học sinh thời ấy cất tiếng hát lên bản tình ca “Bây Giờ Tháng Mấy”, bản tình ca đầu đời trên sân trường Ðại Học Văn Khoa Saigon, những gương mặt trong sáng, những ánh mắt lấp lánh như trăng sao của tuổi trẻ một thời đứng, ngồi say sưa theo dõi.

Từ Công Phụng – Bây Giờ Tháng Mấy – Thu Âm Trước 1975


 
Thời gian đã trôi qua, nhưng câu hỏi “Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em” vẫn còn vương vấn trong lòng những người thời ấy, cho dù mái đầu nay đã tuyết sương. Và đặc biệt nhất là vẫn làm rung động bao thế hệ tiếp nối. Chẳng hạn như Nguyễn Trường Trung Huy, một người bạn trẻ của tôi trên facebook, bày tỏ:
“Nghe nhạc Từ Công Phụng cũng là lúc chúng ta lắng lòng lại, có cảm giác như ngồi bên hiên nhà, thong dong và thả hồn mình theo từng cung bậc âm giai trong âm nhạc của ông, cái cảm giác nhẹ nhõm và dạt dào lạ! Nhạc của ông không bi lụy, không thê lương, mà đó chỉ là phút xao lòng của một chút lãng mạn, một lãng mạn mới, một rung động… mới, và một thiết tha…. mới! Trong những ca khúc của ông, dường như lúc nào cũng có thể nhìn thấy bóng những dòng sông, áng mây, bờ biển, những cơn mưa, những mùa Thu… Và đặc biệt, từ cấu trúc của thanh âm tới cấu trúc của ca từ, bao giờ cũng toát ra cái vẻ êm đềm chầm chậm lan trải. Buồn! Nhưng chẳng tuyệt vọng, không đớn đau, càng không chua chát.
“Gom môt chút nắng vàng
Hắt lên soi hạnh phúc trên tháng ngày đã qua.
Em nhìn thấy chút gì?
Có phải chăng rạn vỡ trong tâm hồn chúng ta?”

Trên Tháng Ngày Đã Qua - Tuấn Ngọc

 

Ðó, âm nhạc của Từ Công Phụng là như thế đó, trách móc cũng vừa phải, yêu thương cũng vừa phải, như một âm thầm chịu đựng của lẽ vô thường, ”thôi dòng đời đó cuốn người đi”; thế nhưng… niềm nhớ thì da diết và mãi mãi không buông rời…
Bởi thế, chúng ta, đã nghe, và đã nhớ rất nhiều vì những niềm tiếc thương cho những cuộc tình không thành ấy. Và chúng ta, thầm cảm ơn, Từ Công Phụng, đã đến trong cuộc đời này, đã thay chúng ta nói hộ những cảm hoài sâu xa nhất! Thứ âm nhạc mượt mà như tơ óng, và trau chuốt trong ca từ, dễ làm say lòng bất cứ ai…
“Nếu có điều gì vĩnh cửu được”, thì em ơi, đó là, âm nhạc của họ Từ!”
Và bây giờ xin hãy cùng sống lại một thời của tuổi trẻ Saigon, một vài hình ảnh về những ngày xa, xưa nhưng không cũ ấy. Thời nào thì cũng có những nét tươi đẹp, sôi nổi của tuổi trẻ với những ước mơ hồng… Thập niên 1960.
Ngôi trường Ðại Học Văn Khoa tọa lạc ở góc đường Gia Long – Nguyễn Trung Trực. Nơi đó là “Tổng hành dinh” của những kế hoạch các chương trình sinh hoạt thanh niên, sinh viên, học sinh. Xin trích hồi ký của anh Hoàng Xuân Sơn hiện nay định cư ở Canada:
“Tinh thần làm việc chung rất cao, không có phân biệt kẻ trước người sau, chức phận lớn nhỏ nhưng vẫn theo đúng quy củ nề nếp tổ chức. Mọi việc tiến hành tốt đẹp… Nhờ óc tổ chức khéo léo, có cơ sở trường ốc của anh Lê Ðình Ðiểu, cộng thêm kinh nghiệm và nhiệt huyết của những thành viên trẻ, CPS (tên gọi tắt của Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Học Ðường) sớm chiều trở nên một trong những cơ quan nòng cốt, tiên phong trong các sinh hoạt đoàn thể thời bấy giờ. Trong nhiều sinh hoạt, phải kể đến sự hỗ trợ tác động của nhóm Trầm Ca (tiền thân của Phong Trào Du Ca VN) gồm có Nguyễn Ðức Quang, Trần Trọng Thảo, Hoàng Kim Châu với loạt nhạc hùng mạnh, trong sáng, khởi động lòng hăng hái của tuổi trẻ tham gia vào những công tác tự nguyện xây dựng xã hội, quê hương.”
Rồi Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng từ Ðà Lạt trở về, làm tươi mát thêm với những bản tình ca lãng mạn, giọng hát, dáng dấp rất thư sinh. Bây giờ tháng mấy, sáng tác đầu tay của Từ Công Phụng được hát lên đã làm rung động biết bao nhiêu con tim đứng ngồi chật ních trên thềm đất Văn Khoa…
Tình ca Từ Công Phụng, tất cả như những tác phẩm ca ngợi tình yêu mượt mà và ghi dấu những cuộc tình ly biệt… “Lối rêu xưa đã mờ dấu chân người, Người buồn cho mai sau, Cuộc tình ta tan mau.”
Qua nét nhạc êm đềm và lời ca đẹp như thơ, chúng ta cảm nhận được nỗi rung động của người nhạc sĩ qua nét vẽ bằng âm nhạc. Âm nhạc Từ Công Phụng là những bức tranh tình yêu dù nhạt nhòa kỷ niệm nhưng vẫn không phải là hư cấu, không phải là ẩn dụ mà rất hiện thực. Nó phản ảnh trung thực được tình cảm lãng mạn trong tâm hồn người nghệ sĩ.
“Thôi đừng lừa dối nhau làm gì. Thôi… đừng tìm nhau nữa mà chi. Ðường vào ngày mai sỏi đá, thôi, em về quên hết đi ngày xưa…” (Lời Cuối)
Mỗi bản tình ca của Từ Công Phụng đều ghi dấu vết kỷ niệm của ông và của người nghe nữa. Nó gợi cho ta chợt sống lại một phút giây nào đó trong đời. Những thơ mộng của lứa đôi, niềm khắc khoải của chia lìa đều thấp thoáng trong không gian âm nhạc Từ Công Phụng. Ðây là những bài ca dành cho những người đang yêu nhau, những ai phải xa nhau, biết yêu lúc xa và nếu được gần nhau thì hãy sống sao cho hết lúc gần…
Những người đang yêu, được yêu đã hát lên thay cho lời tình tự, những người đã lạc mất nhau trong đời hát nhạc Từ Công Phụng như một xót xa, tiếc nuối khôn nguôi.
Nhạc sĩ Từ Công Phụng, bằng âm nhạc đã tô điểm cho đời sống chúng ta thêm nhiều màu sắc. “Bây Giờ Tháng Mấy”, những nốt nhạc viết lên khi tuổi thanh xuân mười tám là những nét dễ thương của tuổi trẻ nhìn đời bằng đôi mắt lóng lánh tin yêu, bằng trái tim rạo rực sôi nổi, tràn trề hy vọng.
Tình yêu và âm nhạc từ ngàn xưa cho đến mai sau bao giờ cũng muôn đời gắn bó. Người ta hát về tình yêu từ đời này sang đời khác, người ta viết về tình yêu bằng trái tim dạt dào hạnh phúc khi yêu và đớn đau khi mất. Mỗi người có cách diễn tả khác nhau. Ở Từ Công Phụng, nhạc của ông cũng như con người ông bao giờ cũng thong dong, đằm thắm. Nhẹ nhàng. Êm dịu và rất bình thường như thế đấy, nhưng tình yêu thì cứ ngập tràn, tha thiết mà trong chúng ta ai chẳng từng có lần bâng khuâng khi chợt nghĩ về nhau. Nhiều khi vì cuộc khó khăn, vội vã hình như chúng ta như quên mất thực tại, thiên nhiên không kém thơ mộng, cho đến khi nghe một bài hát nào đó, với giọng hát diễn tả tự nhiên, ta mới bừng tỉnh “cuộc sống vẫn tươi đẹp vô cùng”. Và chúng ta lại nhìn đời, nhìn người sống quanh ta bằng tình cảm trong sáng, bao dung và tin yêu hơn.
Hãy thử nghe lại nhạc Từ Công phụng mà xem:
“Xin đỉnh yên bình một mùa xuân ôm kín khung trời,
của tuổi thơ thôi rã thôi rời.
Xin đừng làm bão tuổi đôi mươi,
để vòng tay khắc khoải ôm xuôi từng niềm vui theo biển gió…
Hãy ôm trọn… ôm trọn tuổi xuân…” (Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên)

Từ Công Phụng - Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên - Thu Âm Trước 1975



Vâng, nếu trên con đường đời có đôi khi bị vấp ngã, hãy mạnh dạn đứng lên, màu hồng lấp lánh đang ở phía trước đón chờ.
Bản tình ca đầu đời trên sân trường Ðại Học Văn Khoa Saigon, những gương mặt trong sáng, những ánh mắt lấp lánh như trăng sao của tuổi trẻ một thời đứng, ngồi say sưa theo dõi.
Trong nhạc Từ Công Phụng, tình yêu rất đỗi nhẹ nhàng. Tình yêu nào cũng đẹp cho dù đã tạ từ nhau. Nhạc của Từ Công Phụng, trong một buổi chiều êm đềm nào đó, nghe chính tác giả hát là một điều thú vị. Giọng hát như gợi nhớ một chút gì mênh mang, đưa ta về khung trời cũ. Nét nhạc của Từ Công Phụng đã tạo cho tiếng hát của ông hay chính tiếng hát đã chuyên chở nhạc Từ Công Phụng? Một thoáng mây bay, một làn gió nhẹ rung lá, một vạt nắng mỏng manh: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn, Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?” (Tản Ðà) Và… tiếng hát như tự nơi nào đến, xa vắng, gợi buồn, nhất là trong những buổi chiều xa xứ với những ai còn còn vọng hoài cố quốc:
Một chiều êm tay đan tay dìu em trên lối đưa em đi nhẹ vào đời.
Bằng vòng tay tôi nâng niu mùa thu thức giấc, đưa em vào ngày tháng vỗ về… (Tuổi Xa Người)
Nhạc Từ Công Phụng là như thế đấy!
 
==

“Giọt Lệ Cho Ngàn Sau” – Tuấn Ngọc với 10 tình khúc Từ Công Phụng – Đỉnh cao của làng nhạc hải ngoại thập niên 1990

Có lẽ đến cả chục năm rồi tôi chưa nghe lại CD này. Lúc trước, khi tôi nghe thì nghiêng về cảm nhận nhạc hơn là phần lời. Lần này nghe kỹ cả chục lần, nhất là lời ca, thì cảm giác là buồn, man mác buồn. Tôi xem kỹ lại thì hết 8, 9 bài là có hoặc là chữ khóc, lệ, mắt, hay là nước mắt. Tôi bèn vào một trang web chuyên về “word cloud” rồi cắt dán cả mười bài vào, thì nó ra hình sau. Quả thật các chữ như buồn, lệ, mắt đều có tần số hiện diện nhiều hơn các chữ khác. Còn chữ vui thì nằm nhỏ xíu, khiêm nhường dưới góc phải dưới bức hình.
Tôi cũng thấy giai điệu của mười bài đều khác nhau, mặc dù nếu nói tựa bài lên có lẽ tôi cũng không nhớ ra ngay “air” nhạc của từng bài. Đây có lẽ là điểm son của CD, vì đã chọn được 10 bài như là mười dung nhan khác nhau, xoáy quanh cái sự “buồn” trong nhạc Từ Công Phụng. Ngay chính tựa CD “Giọt Lệ Cho Ngàn Sau” cũng nhấn mạnh điều đó, bằng cách “rào đón” với bạn là: bạn mua CD này thì sẽ được nghe nhắc đến nhiều giọt lệ đấy nhé! Đây cũng là cách làm khởi sự từ hai đĩa Pet Sounds của nhóm The Beach Boys và Sgt. Pepper’s Lonely Hearts Club Band của nhóm The Beatles giữa thập niên 60, khi các bài trong một đĩa nhạc xoay chung quanh một chủ đề mà thôi (concept album).
Ngay cả cách xắp xếp thứ tự các bài nhạc cũng đã cho thấy sự cân nhắc, tính toán. Này nhé, sau ba bài buồn là Mắt Lệ Cho Người, Trên Tháng Ngày Đã Qua, và Như Ngọn Buồn Rơi , ta thấy bài Tình Tự Mùa Xuân được chen vào để không khí bớt buồn. Sau đó là Đêm Không CùngGiọt Lệ Cho Ngàn Sau, rồi tới bài vui là Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên để rồi kết với Mùa Thu Mây Ngàn Lời Cuối.
Có lẽ cũng như nhiều người khác, tôi đến với nhạc Từ Công Phụng là vì giai điệu trong nhạc của ông rất ngọt ngào, nhuyễn, rất tự nhiên, như ta hít thở không khí. Thí dụ như bài đầu tiên của CD với tựa là Mắt Lệ Cho Người:
Mưa soi dấu chân em qua cầu
Theo những cánh rong trôi mang niềm đau.
Đời em đã khép đi vội vàng
Tình ta cũng lấp lối thiên đàng
Như cánh chim khuất ngàn, như cánh chim khuất ngàn
Còn mong còn ngóng chi ngày yêu dấu.
Related image

Mắt Lệ Cho Người - Tuấn Ngọc

 

Nghe bài hát Mắt Lệ Cho Người

Ta có thể không hiểu nhiều về ý nghĩa rõ rệt của câu, thí dụ như mưa thì làm sao mà soi dấu chân được, nhưng ta thấy lời ca của bài nhạc rất ăn khớp với giai điệu, vì hát lên rất trơn tru, không khiên cưỡng. Nhạc sĩ cũng rất hay lặp lại lời nhạc, chẳng hạn như trong câu: Như cánh chim khuất ngàn, như cánh chim khuất ngàn, nhấn mạnh ý tưởng chia lìa giữa hai nhân vật chính của bài nhạc.
Bản tiếp theo, Trên Tháng Ngày Đã Qua, cũng vậy. Sau vài câu đầu chậm rãi, nhạc chuyển sang chơi điệu rhumba, với một giai điệu thật duyên dáng.
Rung một cánh nhạc buồn
Biết có hay người khóc trên cung đàn lẻ loi
Rơi một ngấn lệ sầu
Có ai hay người khóc cho duyên tình bẽ bàng
Rung một cánh nhạc buồn, rơi một ngấn lệ sầu
Có ai hay người khóc trong tinh cầu lẻ loi

Nghe bài hát Trên Tháng Ngày Đã Qua
Nhưng không phải nhạc Từ Công Phụng lúc nào cũng dễ đoán, dễ theo. Điệp khúc bài này là một thí dụ. Nhạc sĩ đã dùng thuật chuyển cung và cách ngắt câu không cân xứng làm đoạn nhạc trở nên hơi phức tạp, nhưng giai điệu vẫn rất nhuyễn.
Ngoài kia mưa là những giòng lệ rơi
Theo cuộc tình khi cơn bão đi qua đời mình
Người ơi, người ơi, tìm đâu thấy nửa đời Xuân thắm
Với tình yêu chúng ta, như giọt sương sớm mai
Như giọt sương sớm mai,
long lanh, trên cánh hoa vàng
Bản thứ ba, Như Ngọn Buồn Rơi, là một kết hợp khắng khít giữa giai điệu và lời ca (âm tiết – prosody). Như tựa bài đã báo trước, trong bản này sẽ có buồn và sẽ có rơi. Ngay từ câu đầu tiên, ta đã thấy mùa thu trút lá vàng, rồi hình ảnh càng chập chùng, xa vời hơn với một thung lũng buồn, với em lệ nhòa trên tóc.
Như mùa thu trút lá vàng
ngậm ngùi em khóc cho tuổi thơ qua mau
hồn nhiên cũng rơi khỏi tầm tay với xa
trên từng thung lũng buồn
em lệ nhòa trên tóc…

Như Ngọn Buồn Rơi - Tuấn Ngọc



Nghe bài hát Như Ngọn Buồn Rơi

Nhưng đoạn điệp khúc kế tiếp mới thật tuyệt diệu. Nhạc sĩ vẽ lên một thung lũng buồn trong nhạc, bằng cách viết ba nốt đi lên Mi (5) rồi một nốt xuống Sol (4), cứ thế thả dốc xuống một bát độ đến nốt Sol (3), rồi thong thả đi lên nốt Mi (4).
Trên từng thung lũng buồn
từng thung lũng buồn
mùa thu đã trở mình trên gót nhỏ
dìu em đến người
bằng vòng tay nâng niu hạnh phúc
Khi ta nghe lần điệp khúc thứ hai, khoảng 3:40, lời ca được nâng niu bảo bọc bởi tiếng vĩ cầm hòa điệu, tạo cho ta một cảm giác ấm cúng, an toàn dù đang thả dốc theo cơn lốc mếm, theo cơn lũ tình yêu …
Trên từng cơn lốc mềm
hồn em đã ngủ vùi trong tiếng thở
tình tôi cũng mù theo cơn lũ nào
là lần em đã khóc cho tình yêu
Mười bài hát trong CD đều như vậy, với những giai điệu rất đẹp, hòa hợp giữa lời và nhạc, đi cùng với những biến thể của nỗi buồn, của lệ rơi, của trái tim buồn, của đôi mắt em rất buồn. Ngay cả trong hạnh phúc mà giọt lệ vẫn cứ rơi:
Em, chút giọt lệ ấm, khóc mừng một ngày hạnh phúc miên man… (Tình Tự Mùa Xuân)
Nhưng, cái sự “buồn” trong nhạc Từ Công Phụng không phải là một nỗi buồn quỵ lụy, tiêu cực, yếm thế. Đó là một nỗi buồn sáng suốt. Ông chấp nhận thực tại và nhiều khi còn khuyên bảo người yêu:
Thôi đừng tìm đến nhau làm gì
Thôi đừng nhìn nhau nữa mà chi
Đường vào ngày mai sỏi đá
Thôi em về, quên hết đi ngày xưa! (Lời Cuối)

Lời Cuối - Tuấn Ngọc



Nghe bài hát Lời Cuối

Nhạc sĩ như đứng hẳn ra khỏi cái tôi hiện hữu, từ ngoài nhìn vào để ráng mô tả tâm trạng của chính mình và đôi khi nói hộ tâm trạng của người nữ:
Đường về nhà em xa lắm
xin tình người đừng dối gian thêm buồn
hay:

Đêm nay bên thềm cầm tay, em khẽ nói
“Ngày mai anh đi rồi,
Anh có buồn gì không?” (Mùa Thu Mây Ngàn)
Ơ kìa, lạ nhỉ, em hỏi chi mà lạ vậy? Buồn lắm chứ! Cả mười bài hát chỉ toàn là mắt lệ, giọt buồn, thì dẫu xa em, tôi vẫn sẽ luôn nhớ và thương mắt em hay buồn:
“Buồn không hỡi người đã đi rồi?”
Tìm đâu những ngày vui êm ấm
Người đi theo năm tháng không cùng
Thương mắt em hay buồn
Nhìn mùa thu chết bên song…

Mùa Thu Mây Ngàn - Tuấn Ngọc


 
Nghe bài hát Mùa Thu Mây Ngàn

Ngay cả khi bài nhạc là vui, thì chúng cũng chỉ vui trong chừng mực, không thái quá:
Tay này tay nắm tay
nhìn nhau đắm say
như chưa bao giờ
nghe chừng trong mắt nâu
hồn anh đã tan
thành mùa xuân ngọt ngào phủ ấm thiên đường đôi ta… (Tình Tự Mùa Xuân)

Tình Tự Mùa Xuân - Tuấn Ngọc


Nghe bài hát Tình Tự Mùa Xuân

hay là
Rồi mai, có một lần tôi đưa em,
về trên đỉnh yên bình, hiền hòa
Một mùa xuân lên cao,
hôn lên làn tóc xõa, theo mây trôi, bềnh bồng.
Rồi mai, có một lần tôi đưa em,
đưa em về miền nắng ấm.
Những con chim thôi ngủ sau mùa đông lạnh căm.
Hát lên gọi mùa xuân rạng rỡ,
Đem mặt trời tô mắt dại tuổi mơ (Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên)

Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên - Tuấn Ngọc


Nghe bài hát Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên

Đĩa nhạc chào đời năm 1994 bởi Tuấn Ngọc Productions, với phần hòa âm do nhạc sĩ Duy Cường phụ trách. Tôi nghĩ có lẽ đĩa nhạc này là một trong những đĩa nhạc thành công nhất của làng nhạc Hải ngoại. Đĩa hát được tạo ra với đầy đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Mười tình khúc có thể coi như tiêu biểu nhất của nhạc sĩ đã thành danh Từ Công Phụng, được hát bởi một giọng ca nam tên tuổi nhất nhì hải ngoại và đang trong thời kỳ sung mãn nhất của sự nghiệp ca hát, cộng với một hòa âm sang cả, chừng mực, già dặn cùa Duy Cường. Anh cũng đang ở giai đoạn sung sức nhất của sự nghiệp khi ấy, với những đĩa nhạc anh hòa âm cho trung tâm Diễm Xưa và Phạm Duy Cường Productions.
Thời điểm đầu thập niên 90 cũng vậy, là một sự hội nhập vào xã hội mới với lớp trẻ HO, ODP mới định cư, chưa quên quê nhà và rành rẽ tiếng Việt. Họ háo hức tìm về những tác giả, những ca khúc đã sáng chói một thời trên quê hương, nhưng bị vùi dập tơi tả rồi biến mất sau cơn lũ đổi đời.
Có lẽ khi ở quê nhà họ có nghe đây đó vài bài nhạc xưa qua đài VOA, BBC, hay các tape nhạc Viễn Dương thâu lại qua ba bốn lần sang băng lậu, nhưng khi qua đây thì mới biết Tân Nhạc còn nhiều các bài nhạc đặc sắc mà họ chưa hề nghe biết.
Tôi còn nhớ ôi chao là nhiều những quán băng nhạc bày bán CD trong khu Phước Lộc Thọ ở Little Saigon, Nam Cali với các trung tâm sản xuất như Diễm Xưa, Làng Văn, Paris By Night, Tình Productions, Khánh Hà Productions, v.v và v.v. Hệt như những họa sĩ thời Lãng Mạn tụ về Paris cuối thế kỷ 19, những tinh hoa của lớp ca nhạc sĩ trước và sau 1975 như những cánh chim lưu vong tụ về Little Saigon. Một bầu không khí âm nhạc thật sung mãn, một tranh đua tài năng lành mạnh đã nảy sinh và phát triển.
Tôi xin thú nhận có hay đi shopping để tìm mua những CD nhạc Việt đã ra đời trước và trong khoảng thời gian mười lăm năm từ 1990 tới 2005. Xin cám ơn rất nhiều những ca nhạc sĩ ấy trong đó có Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Ý Lan, Vũ Khanh, Thái Hiền, Ngọc Minh, Quỳnh Giao, Julie, Phạm Duy, Từ Công Phụng, Đăng Khánh, Ngô Thụy Miên, Đức Huy, Duy Cường, Vữ Tuấn Đức, Lê Văn Thiện,… và vì họ quả đã làm giàu đời sống tinh thần của vô số những kẻ tha hương, trong đó có tôi.

Album Giọt Lệ Cho Ngàn Sau (Tuấn Ngọc) - 10 Tình Khúc Từ Công Phụng



Nghe trọn 10 bài trong CD Giọt Lệ Cho Ngàn Sau – Tuấn Ngọc

Trở lại với đĩa nhạc “Giọt Lệ Cho Ngàn Sau”, tôi còn muốn viết nhiều nữa về cách hát đơn sơ, lối nhả chữ đặc trưng của giọng nam trầm ấm Tuấn Ngọc, hay lối đệm đàn jazzy trong bài Trên Tháng Ngày Đã Qua, cũng như cách để hợp âm thật điệu nghệ hay những câu comping thật đúng lúc đúng chỗ, để phụ họa thêm hay điền đầy giai điệu, rất đặc trưng của anh Duy Cường. Nhưng rồi tôi lại thôi. Cảm nhận âm nhạc là một cái gì đó rất chủ quan, không thể thuyết phục được, chỉ có thể biết là mình thích hay không thích CD đó thôi. Vậy mong rằng bạn sẽ có dịp nghe hay nghe lại toàn bộ CD này, từ bài Mắt Lệ Cho Người liền tù tì tới Lời Cuối, để cảm nhận chúng, để thấy những bài này là những nốt lặng cần thiết của một weekend, tạm thời xa rời những bon chen của weekdays để đi vào một thế giới âm nhạc tuy buồn nhưng không ủy mị, tiêu cực. Đó là một thứ buồn lãng đãng, cần thiết để so sánh với những niềm vui trong đời, nhất là những ai không phải yêu nhau một thời xa nhau một đời, mà là yêu nhau một thời bên nhau trọn đời.
 
Nguồn: Học Trò (hoctroviet.)

Ca Sĩ Tuấn Ngọc Hát Nhạc Từ Công Phụng

 

 

▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬
 
Từ Công Phụng (sinh ngày 27 tháng 7 năm 1942) là một nhạc sĩ Việt Nam (gốc Cham-Islam).Từ Công Thơm thiếu tướng VNCH với ông là con chú bác. Từ Công Phụng nổi tiếng rất sớm. Ông là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu cho tân nhạc Việt Nam trong thập niên 1960, 1970 cùng với Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công SơnLê Uyên Phương...; là tác giả của các ca khúc trữ tình được nhiều người biết đến như "Bây giờ tháng mấy", "Mắt lệ cho người", "Giọt lệ cho ngàn sau", "Trên ngọn tình sầu", "Mùa xuân trên đỉnh bình yên",... Ông cũng hát một số trong những bài hát của chính mình.
 
Từ Công Phụng tốt nghiệp cử nhân luật,từng là biên tập viên đài phát thanh VOF. Trong thời gian học Đại học Văn Khoa, Ông gặp Từ Dung là con gái út của nhà văn Nguyễn Tường Long - Hoàng Đạo, yêu và cưới Cô! Ông cưới Cô theo đúng nghĩa là có sính lễ và rước rể về nhà vợ theo truyền thống mẫu hệ của người Chàm. Hai vợ chồng bắt đầu lên sân khấu hát cặp với nhau từ năm 1967,thường sinh hoạt ở Quán Văn trong khuôn viên Văn Khoa từ 1968, cùng thời với Khánh Ly và Trịnh Công Sơn& đã thu một Cuốn băng (Tơ Vàng 3) vào năm 1971,Sau khi Quán Văn đóng cửa kéo về Quán Gió của Nam Lộc trên đường Võ Tánh.
 
Ông tham gia sáng tác nhạc từ năm 1960. Sau 30 tháng 4 năm 1975, các sáng tác của ông bị cấm lưu hành tại Việt Nam cho đến năm 2003.
Ông rời Việt Nam từ tháng 10 năm 1980 và hiện đang định cư tại Portland, Oregon, Hoa Kỳ. Năm 1998, ông có trở về thăm quê hương Ninh Thuận nhưng không tham gia hoạt động âm nhạc. Tháng 5 năm 2008, ông lại trở về Việt Nam và lần này có biểu diễn trong chương trình "45 năm tình ca Từ Công Phụng" tại một phòng trà có tiếng ở Sài Gòn.

Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác

Năm 16 tuổi, ông tự học về âm nhạc qua cuốn sách Harmonie et Orchestration của Robert de Kers, bản tiếng Pháp, xuất bản tại Paris, năm 1944. Năm 1960, ông sáng tác nhạc phẩm đầu tay Bây giờ tháng mấy khi mới 18 tuổi, tác phẩm nhanh chóng được giới sinh viên Văn Khoa yêu mến. Thời gian ở Đà Lạt, Từ Công Phụng cùng một số bạn học mới trong đó có nhạc sĩ Lê Uyên Phương, thành lập ban nhạc Ngàn Thông chơi nhạc hàng tuần trên đài phát thanh Đà Lạt. Ca khúc Bây giờ tháng mấy của ông cũng được trình bày lần đầu tiên qua làn sóng phát thanh này. Sau đó, ông lần lượt sáng tác những ca khúc như Mùa thu mây ngàn, Bài cho em...
Trung tâm Thúy Nga từng thực hiện Paris By Night 64: Đêm văn nghệ thính phòng (2002) nhằm vinh danh ông cùng với nhạc sĩ Tuấn Khanh và Vũ Thành An.
▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

Tiểu sử ca sĩ Tuấn Ngọc

Tuấn Ngọc (sinh năm 1947) tên thật là Lữ Anh Tuấn là một.  Tuấn Ngọc sinh ra tại Đà Lạt, trong một gia đình nghệ sĩ. Cha của Tuấn Ngọc là nghệ sĩ Lữ Liên, thành viên ban nhạc hài hước AVT. Các anh chị em của Tuấn Ngọc đều là những ca sĩ tên tuổi: Bích Chiêu, Anh Tú, Khánh Hà, Thúy Anh, Lan Anh, Lưu Bích.
Tuan Ngoc
Tuấn Ngọc đi hát từ rất sớm. Từ khi lên 4 tuổi, anh đã hát trong những chương trình thiếu nhi trên đài phát thanh, cùng thời với những "thần đồng" Quốc Thắng và Kim Chi. Thời gian sau đó anh cộng tác với chương trình dành riêng cho thiếu nhi của cặp nghệ sĩ Kiều Hạnh và Phạm Đình Sỹ. Năm 13 tuổi anh đã theo chân các nghệ sĩ lớn tuổi đi hát tại những câu lạc bộ Mỹ, khi còn trong thời kì thưa thớt tại Sài Gòn.
 
Những năm cuối thập niên 1960, khi phong trào nhạc trẻ phát triển cực thịnh, Tuấn Ngọc bắt đầu được biết đến nhiều với những nhạc phẩm tiếng Anh. Tới đầu thập niên 1970, anh tham gia vào hai ban nhạc lớn nhất thời bấy giờ đó là The Strawberry Four và The Top Five.
 
Sau 1975, Tuấn Ngọc rời Việt Nam và định cư tại nam California. Một thời gian sau anh qua sống tại Hawaii và trình diễn cho nhiều câu lạc bộ và khách sạn tại đây. Đến giữa thập niên 1980 anh trở lại California và bắt đầu thành công.
Tuấn Ngọc nổi tiếng qua những nhạc phẩm trữ tình. Với giọng ca và cách diễn tả đặc biệt, anh giành được sự đánh giá cao của giới chuyên môn cũng như sự hâm mộ của công chúng yêu nhạc. Những nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Phạm Duy....Trịnh Công Sơn cũng xem Tuấn Ngọc là giọng ca nam hát những nhạc phẩm của ông thành công nhất.
Tuấn Ngọc được nhiều người xem như một giọng ca nam "tượng đài" của nền tân nhạc Việt Nam. "Trường phái Tuấn Ngọc" đã ảnh hưởng tới nhiều ca sĩ thế hệ sau cả ở hải ngoại cũng như trong nước như Nguyên Khang, Trần Thái Hòa, Quang Dũng, Xuân Phú...
Tuấn Ngọc thành hôn với ca sĩ Thái Thảo, con gái nhạc sĩ Phạm Duy.
Gần đây anh có về Việt Nam biểu diễn nhiều lần và đã thu âm hai album tại Việt Nam: Hãy Yêu Nhau Đi 2 và Chiều nay không có em. Đêm diễn chính thức đầu tiên của Tuấn Ngọc diễn ra vào đầu tháng 4 năm 2006 với khoảng 500 khách mời, tại khách sạn Sheraton Saigon. Sau đó là hai đêm diễn khá thành công tại Nhà hát Hòa Bình, Quận 10, vào tháng 8 năm 2006.
 
Năm 2012, Chương trình In the Spotlight số 1 "Riêng một góc trời" của Tuấn Ngọc diễn ra trong ba đêm tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Mặc dù đã từng trở về Hà Nội biểu diễn nhiều lần, nhưng In The Spotlight số 1 "Riêng một góc trời" là liveshow hoành tráng đầu tiên của Tuấn Ngọc mà anh từng ấp ủ trước đó. Trong chương trình này, Tuấn Ngọc đã kể lại câu chuyện ca hát của cuộc đời mình qua những dấu mốc quan trọng.
 
▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

Lữ Liên (1917-2012) là một nhạc sĩ người Việt danh tiếng tại Việt Nam trước 1975. Ông là thành viên của những ban nhạc nổi tiếng như Thăng Long và AVT. 

Tiểu sử

Nhạc sĩ Lữ Liên sinh năm 1920 ở Hải Phòng. Tên trong khai sinh của ông ghi họ Lã, nhưng nghệ danh là Lữ Liên. Cha ông dù là nhân viên bưu điện nhưng lại đam mê nghệ thuật. Ca sĩ Tuấn Ngọc từng kể: “Ông nội tôi mê cổ nhạc, chính vì đứng ra lập ban cổ nhạc mà cha tôi mới có cơ hội học hỏi, làm quen với các nhạc sĩ cổ nhạc”. 
Lữ Liên từng là thành viên ban hợp ca nổi tiếng Thăng Long, cùng với Thái Thanh, Hoài BắcHoài Trung trình diễn những ca khúc mang âm hưởng dân ca ba miền và nhạc trữ tình.
 
Sau đó ban đầu ông viết các ca khúc cho ban nhạc hài hước AVT trình bày những bài hát với những lời ca dí dỏm, châm biếm. Ban đầu, tam ca AVT gồm: Anh Linh, Vân SơnTuấn Đăng. Khi nhạc sĩ Anh Linh tức trung sĩ Trần Đình Kế theo học khóa sĩ quan đặc biệt 1962, Hoàng Hải, và sau đó 1966 đến ông đã vào thay thế, cho ra đời những ca khúc như: Chúc xuân, Vòng quanh chợ tết, Tiên Sài Gòn, Gái trai thời đại, Lịch sử mái tóc huyền, Mảnh bằng, Ba ông bố vợ…
Sau ngày Việt Nam thống nhất, nhạc sĩ Lữ Liên sang Mỹ định cư cùng các con. Ông tái lập lại nhóm ATV để thực hiện việc ghi âm và thỉnh thoảng biểu diễn tại Mỹ, Úc.
Nhạc sĩ Lữ Liên qua đời ngày 8 tháng 7 năm 2012 tại Bệnh viện Garden Grove (bang California, Mỹ), thọ 95 tuổi.

Đời sống cá nhân

Những người con của ông đều gắn bó với âm nhạc, là các ca sĩ và nhạc sĩ: Bích Chiêu, Tuấn Ngọc, Anh Tú, Khánh Hà, Thúy Anh, Lan AnhLưu Bích .
Con trai của ông, ca sĩ Tuấn Ngọc kết hôn với ca sĩ Thái Thảo, là con rể của nhạc sĩ Phạm Duy. Vì thế ông và nhạc sĩ Phạm Duy là thông gia.

Chú thích

  1. Nhạc sĩ Lữ Liên qua đời ngày 8 tháng 7 năm 2012 tại Bệnh viện Garden Grove California, Mỹ), thọ 95 tuổi.
  2. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Bích Chiêu, sinh năm 1942 tại Đà Lạt
  3. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Anh Tuấn, sinh năm 1947 tại Đà Lạt
  4. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Anh Tú, sinh năm 1950 tại Đà Lạt, mất ngày 3 tháng 12 năm 2003 tại Nam California
  5. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Khánh Hà, sinh năm 1952 tại Đà Lạt
  6. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Lưu Bích, sinh năm 1966 tại Đà Lạt
▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

Nhạc sĩ Lữ Liên qua đời

- Nhạc sĩ Lữ Liên - thân phụ của danh ca Tuấn Ngọc, Bích Chiêu, Anh Tú, Khánh Hà, Thúy Anh, Lan Anh và Lưu Bích - đã qua đời tại Bệnh viện Garden Grove (bang California, Mỹ), thọ 92 tuổi.

prKF7c0I.jpg
Nhạc sĩ Lữ Liên - Ảnh: chutluulai
 
Ca sĩ Khánh Hà tại Mỹ đã xác nhận thông tin trên. Trong khi đó, ca sĩ Thái Thảo - vợ ca sĩ Tuấn Ngọc - cũng xác nhận thông tin này với báo giới Việt Nam.
 
Thái Thảo cho biết chị cùng gia đình vẫn chưa rõ về nguyên nhân cũng như thời gian mất chính xác của nhạc sĩ Lữ Liên. Chị nhận được tin buồn này từ người nhà qua email vào sáng sớm 9-7 và đã cấp tốc đặt vé máy bay, chuẩn bị cùng ca sĩ Tuấn Ngọc về Mỹ lo hậu sự cho cha.
 
Nhạc sĩ Lữ Liên trước đây từng tham gia ban hợp ca Thăng Long cùng với Thái Thanh, Hoài Bắc và Hoài Trung. Ông cũng là thành viên của ban nhạc trào phúng AVT nổi tiếng trước đây qua các nhạc phẩm: Ông nội trợ, Trắng đen, Dậy thì...
 
Không chỉ trình diễn, ông còn có những sáng tác cho ban AVT như Chúc xuân chợ tết, Tiên Sài Gòn, Gái trai thời đại, Lịch sử mái tóc huyền, Ba ông bố vợ...
 
Ngoài ra, ông cũng đặt lời Việt cho nhiều ca khúc nhạc ngoại mà các con ông thể hiện rất thành công như Lạc mất mùa xuân, Nghe tiếng mưa rơi, Niềm đau chôn giấu, Tiễn anh trong mưa...
 
▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

      Cuộc đời và sự nghiệp của ca sĩ Anh Tú (1950-2003)        

 
Những ai quan tâm đến âm nhạc hải ngoại thập niên 1980, 1990, hẳn là đều biết đến tên tuổi của ca sĩ Anh Tú.

Tuyển tập Anh Tú | Nhạc trẻ hải ngoại thập niên 90



Tuyển tập những bài hát hay nhất của ca sĩ hải ngoại Lã Anh Tú (con trai nhạc sĩ Lữ Liên, em của ca sĩ Tuấn Ngọc, anh trai của ca sĩ Lưu Bích, Khánh Hà). Một giọng hát đẹp, nhẹ và chất chứa nhiều cảm xúc.
 
Nói về Anh Tú, xin trích dẫn một đoạn của bài báo mà nhạc sĩ Quốc Bảo đã viết hay nghe tin Anh Tú qua đời ở Mỹ:
“Có quá nhiều người Việt hát tốt, đấy là điều mà mỗi khi nghĩ đến, tôi không khỏi tự hào lây. Nhưng suốt nửa đời mình, tôi chỉ tìm được hai giọng nam hay. Họ là hai anh em ruột trong một gia đình có nhiều người hát tốt đến mức thay vì tự hào thì bạn sẽ có chút ghen tị. Buồn thay, hôm nay, một trong hai người-hát-hay ấy đã ra đi vĩnh viễn. Tên anh là Lã Anh Tú…

Anh Tú - Lạc mất mùa xuân (Le géant de papier)

Anh Tú có một cách phát âm tiếng Việt khá đặc biệt, hờ hững, run rẩy, và đẩy hơi từ răng để chữ trượt theo, nghe nhẹ nhõm, phóng túng, không gắng sức dụng công. Mà quả thật, anh hát như thể đang trò chuyện thân tình, như lời tâm sự bằng hữu, để những đoạn nghẹn ngào cũng chỉ vừa đủ như một nỗi đau đã lành được kể lại. Anh Tú hát tiếng Pháp chuẩn xác, điều chỉ có được với những người thực sự sử dụng được ngoại ngữ này. Cách phát âm tiếng Pháp với nhiều âm mũi cũng ảnh hưởng đến cách hát của anh trong nhạc Việt. Những âm khép được đẩy hết lên mũi, nghe chơi vơi, tuyệt vọng một cách đặc biệt. Đấy là cách hát tạo thành phong cách cho anh, không thể nhầm lẫn với bất kỳ ai…”
Ca sĩ Anh Tú tên thật là Lã Anh Tú, sinh năm 1950 tại Đà Lạt, là ca sĩ hát nhạc trẻ ở miền Nam trước năm 1975 và hải ngoại sau năm 1975. Anh được sinh ra trong gia đình giàu truyền thồng âm nhạc bậc nhất Việt Nam, với cha là nghệ sĩ Lữ Liên, anh trai là ca sĩ Tuấn Ngọc, chị là ca sĩ Bích Chiêu, các em đều là ca sĩ nổi tiếng: Khánh Hà, Lưu Bích…
Theo cố nhà báo Trường Kỳ, ca sĩ bạc mệnh Anh Tú đã được biết đến nhiều từ khi ở Việt Nam, vào lúc phong trào nhạc trẻ ở ở Sài Gòn đang trong giai đoạn cực thịnh với ban nhạc The Uptight. Do đó vai trò ca sĩ độc lập của anh gần như không nổi bật lắm vì tên tuổi Anh Tú chỉ gắn liền với ban nhạc trẻ nổi tiếng này, cũng như trước đó với ban The Blue Jets hoặc nhóm Thúy-Hà-Tú (Thúy Anh, Khánh Hà, Anh Tú). Ban Thúy Hà Tú hợp ca rất hòa quyện với các bài nhạc trẻ và được khán giả yêu mến, vì lúc đó rất ít có ban hợp ca nhạc trẻ giống như vậy.
 
Anh Tú cùng các em: Khánh Hà, Thúy Anh và Lan Anh
 
Tuy Anh Tú không được biết đến nhiều bằng người anh ruột Tuấn Ngọc hay cô em Khánh Hà, nhưng anh chính là linh hồn của ban nhạc The Uptight trước và sau năm 75, và là người đã sắp xếp mọi hoạt động cho ban nhạc trong suốt trên 20 năm.
Anh Tú đến với ca nhạc rất tình cờ, khi cùng với cô em Khánh Hà được một nhạc sĩ trong Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương khuyến khích đi thử giọng hát để đi làm tại các Club Mỹ vào năm 1969. Thân sinh anh là nhạc sĩ Lữ Liên cũng đã khuyên anh nên đi thử giọng nhân dịp đó.
Khi Anh Tú hát chung với Khánh Hà nhạc phẩm “What Now My Love”, anh đã được chấp thuận ngay và được mời đi hát chính thức. Từ đó trở đi, Anh Tú bắt đầu tập luyện siêng năng và thành lập ban nhạc The Blue Jets năm 1970 cùng với hai em là Khánh Hà và Thúy Anh, sau đó đổi thành ban Thúy-Hà-Tú, và năm 1972 đổi thành ban nhạc The Uptight cho đến năm 1975. Sau khi sang hải ngoại, các anh em nhà họ Lã đã tái lập ban The Uptight, bổ sung thêm Lan Anh (đánh trống) và Lưu Bích (ca sĩ chính/bè). Anh Tú gắn bó với ban nhạc này suốt từ ngày đó cho đến khi ngưng hoạt động năm 1993. Cũng từ đó, Anh Tú đã quyết định tìm cho mình một hướng đi riêng rẽ với tư cách là một ca sĩ độc lập. Đó chính là một thử thách lớn đối với cuộc đời ca sĩ khá lận đận của anh.
Anh Tú nổi tiếng với những nhạc phẩm ngoại quốc êm dịu, đặc biệt là nhạc Pháp, nhưng anh cũng trình bày rất truyền cảm những nhạc phẩm tình cảm Việt Nam. Giọng hát của anh rất thích hợp với những tình ca nhẹ nhàng như Tuổi Xa Người, Linh Hồn Tượng Đá, Bài Không Tên Số 6, Tưởng Rằng Đã Quên… Sau khi sang hải ngoại, anh còn rất nổi tiếng với ca khúc nhạc hoa lời Việt của Khúc Lan như Chiếc Lá Mùa Đông, Đôi Bờ, Một Thuở Yêu Người, Những Lời Dối Gian…
Mặc dù chỉ biết chút ít căn bản về nhạc lý, nhưng nhờ ở khả năng thiên phú và đặc biệt là được sinh trưởng trong một gia đình mà tất cả đều là nghệ sĩ nên việc theo đuổi con đường ca nhạc đối với Anh Tú không có gì khó khăn. Chính ca sĩ Tuấn Ngọc đã có công chỉ bảo và hướng dẫn anh nhiều trong việc tập luyện, nhất là kể từ thời gian đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ vào năm 1975.
Năm 2003, đúng 10 năm sau khi ban Uptight tan rã, những anh em nhà họ Lã đã dự tái hợp lại ban nhạc này, khởi đầu là đêm diễn dưới tên “The Uptight Together Again”. Tuy nhiên chỉ 1 tuần sau, Anh Tú bị đột quỵ và qua đời 2 ngày sau đó (ngày 3 tháng 12 năm 2003) tại bệnh viện UCI ở nam California, để lại tiếc nuối cho bạn bè, đồng nghiệp và khán giả.
Để kết thúc bài viết này, xin trích lại lời tưởng niệm Anh Tú của ca sĩ Cẩm Vân:
Giọng hát của Anh Tú mỏng manh, trong sáng, nhẹ nhàng, giản dị nhưng quý phái đến độ chúng tôi đã ví giọng hát anh là Thủy Tinh dễ vỡ. Tôi lúc nào cũng chọn và để sẵn trên kệ CD của mình – nơi mà dễ lấy nhất, để khi cần, mình không phải vất vả tìm kiếm. Mỗi khi bị stress và mệt mỏi, thì giọng hát của anh đã giúp cho chúng tôi tìm được cảm giác nhẹ nhàng và thoải mái hơn. Giọng hát đó của anh như cơn gió mát mùa Hè. Và con người của anh, như những mùa Xuân nắng ấm luôn đem cho người khác những niềm vui và hy vọng vô bờ.
nhacxua.vn tổng hợp
Một thời nhạc trẻ Saigon : The Uptight
Hai bài hát cách đây hơn 3O năm với đầy đủ các thành viên ban The Uptight nổi tiếng trước năm 1975 cùng với Khánh Hà
- Lưu Bích - Bích Chiêu - Lan Anh - Anh Tú - Thúy Anh, ca sĩ Lưu Bích xuất ngoại năm 1975 khi lúc đó cô mới 7 tuổi và trong chuyến đi này còn có Anh Tú, sau khi định cư tại Hoa Kỳ một thời gian sau thì các anh em mới tái lập ban The Uptight, mãi cho đến năm 1983 Lưu Bích mới tham gia cùng ban nhạc The Uptight, cô chính là người chơi keyboard và hát phụ họa cho ban nhạc đầu tiên và cho tới năm 1988 cô mới chính thức là giọng ca chính cùng với người chị của mình là Khánh Hà .
 
Riêng Lưu Bích chỉ bắt đầu thành công vào đầu thập niên 90 khi được khán giả yêu mến kể từ khi cô tách ra solo và hát đôi với nam danh ca Tô Chấn Phong.
 
- Khánh Hà
Tên thật là Lã Khánh Hà, cô sinh ra trong một gia đình nghệ sĩ. Cha của Khánh Hà là nghệ sĩ Lữ Liên, thành viên ban nhạc hài hước ATV. Các anh chị em của Khánh Hà đều là những ca sĩ tên tuổi: Bích Chiêu,Tuấn Ngọc, Lưu Bích, Anh Tú, Thúy Anh, Lan Anh, cô sinh ra tại Đà Lạt nhưng chỉ vài tháng sau cùng với gia đình dọn vào Sài Gòn. Trong thời gian ở Sài Gòn, cô cùng với gia đình thay đổi chỗ ở nhiều lần.
 
Lúc còn nhỏ cô học ở trường Charles De Gaulle, một thời gian sau vào nội trú tại trường tiểu học ở Thủ Đức cùng với Lan Anh và Thúy Anh. Lên trung học, cô theo học trường Nguyễn Bá Tòng đến năm đệ Tam, và cùng một lúc theo học ở Centre Culturel Français và Hội Việt Mỹ. Khánh Hà đi hát lần đầu tiên khi 16 tuổi trong một chương trình văn nghệ phụ diễn Xổ Số Kiến Thiến Quốc Gia tại rạp Thống Nhất với bài Chiến sĩ của lòng em và đó là kỷ niệm đáng nhớ nhất của cô, vào năm 69, cô xuất hiện lần đầu tiên với loại nhạc trẻ trong chương trình "Hippies À GoGo" do Trường Kỳ tổ chức hàng tuần tại vũ trường Queen Bee trên đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn, cũng trong năm đó, cô chính thức đến với nhạc trẻ cùng Anh Tú, sau khi được tay trống Dũng khuyến khích và đã gia nhập ban nhạc "The Flowers" đi trình diễn tại các club Mỹ, vào cuối năm 69, cô gia nhập "The Blue Jets" cùng với Anh Tú và Thuý Anh. Sau đó, cô cùng một số anh em thành lập ban nhạc "The Uptight" vào năm 72. Khánh Hà qua Mỹ trong một trường hợp khá đặc biệt.
 
Vào thời kỳ cô hát tại nightclub "Đêm Màu Hồng" trên đường Nguyễn Huệ đầu năm 75, trong số những người khách Hoa Kỳ thích giọng ca của cô có một ký giả tên George, mà cô gọi là một "quý nhân." Ông cho biết là tình hình Việt Nam rất nguy ngập nên đã đề nghị làm giấy tờ để cô rời khỏi Việt Nam với tư cách một du khách. Khánh Hà nhận lời và đến Hoa Kỳ ngay từ tháng 03 năm 75, vào những năm 86-87, Khánh Hà khai thác một chương trình ca nhạc riêng ở các nơi như "Sea Palace", "cafe Tùng" ở Monterey Park, tiểu bang California và sau đó là vũ trường "Chez Moi". Cô chính thức chuyển qua nhạc Việt Nam từ năm 80, đánh dấu sự ra đời của băng nhạc Gợi Giấc Mơ Xưa, phát hành vào năm 81 do chính cô thực hiện với sự giúp đỡ về kỹ thuật của nhạc sĩ Tùng Giang. Khánh Hà xuất hiện lần đầu tiên trong Video "Hè 90" do Tô Chấn Phong và Lưu Huỳnh thực hiện, chính trong dịp này Khánh Hà và Tô Chấn Phong quen biết nhau và đã sống chung với nhau cho đến hôm naỵ. Ngoài những video do chính trung tâm Khánh Hà thực hiện, cô đã cộng tác lần đầu tiên với chương trình Thúy Nga ở Paris.
 
- Cố danh ca Anh Tú tên thật là Lữ Anh Tú sinh năm 1950 tại Đà Lạt.
Anh Tú xuất thân trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, cha của ca sĩ Anh Tú là Lữ Liên, thành viên ban nhạc AVT, các anh chị em trong gia đình của anh cũng là những người hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc như: Tuấn Ngọc, Bích Chiêu, Thúy Hà, Lan Anh, Anh bước chân vào lĩnh vực âm nhạc năm 1969 cùng người em gaí là Khánh Hà. Năm 1970 anh lập nên nhóm nhạc The Blue Jets. Năm 1972, anh lập nhóm nhạc Thúy Hà Tú, sau đó đổi tên thành The Uptight, ca sĩ Anh Tú mất năm 2003 tại Mỹ, năm 1975, Anh Tú rời Việt Nam sang định cư ở Hoa Kỳ và cùng các anh em tái lập ban Uptight. Cuối thập niên 80 đầu 90, ban Uptight được bổ sung thêm Lan Anh (đánh trống) và Lưu Bích (ca sĩ chính/bè). Anh đã gắn bó với ban nhạc này cho đến năm 1993 là năm ban nhạc ngưng hoạt động. Từ đó, Anh Tú bắt đầu hát với tư cách một ca sĩ độc lập.
Anh Tú được biết tới với những nhạc phẩm ngoại quốc êm dịu, đặc biệt là các ca khúc Pháp. Anh cũng thành công với nhiều ca khúc trữ tình Việt Nam .. Anh Tú mất ngày 3 tháng 12 năm 2003 tại bệnh viện UCI ở nam California, trước ngày Anh Tú mất một tuần, ban Uptight đã chuẩn bị cho đêm diễn tái hợp dưới tên "The Uptight Together Again", nhưng vì sự cố đau lòng này, ban Uptight buộc phải hủy bỏ show diễn trên và cho đến nay không một ai nhắc đến kế hoạch tái hợp nữa.
con-trai-rieng-cua-vo-den-ung-ho-tuan-ngoc-1
 

       Gia Đình The Uptight hội ngộ       

NNQuang đã tổ chức mời tất cả thành viên trong gia đình Nghệ sĩ lão thành Lữ Liên, The Uptight family tháng 12 năm 2002.

"Lần đầu tiên anh Ngọc Quang bao mi tất cả gia đình Khánh Hà hội ngộ đây là lần đầu tiên và có thể lần cuối mà tất cả gia đình gia đình Khánh Hà họp mặt đông đủ nhất ở Virginia từ khi qua Mỹ 75 đến giờ (vì các anh em của Khánh Hà ai cũng có chương trình lời mi riêng củanhiều hội đoàn trên thế giới mời cùng ngày, nhưng chỉ có anh Ngọc Quang được ưu ái và tất cả gia đình anh em của đều đồng ý chọn nơi anh tổ chức". Ca sĩ Khánh Hà đã nói. 

@ Đêm gia đình họp mặt Nghệ sĩ Lữ Liên, The Uptight family Nguyễn Ngọc Quang kết thúc trong niềm vui đầy những giọt nước mắt hạnh phúc của tình bạn.

Ca sĩ Tuấn Ngọc, Thúy Anh, Lưu Bích, Bích Chiêu, Nguyễn Ngọc Quang

Nghệ Sĩ Lữ Liên còn nổi bật hơn nữa với những tác phẩm "người" do ông sáng tác. Gia đình nghệ sĩ Lữ Liên đã tặng cho đời những tên tuổi vượt trội: Bích Chiêu với tiếng hát liêu trai, rất lạ, đã nổi danh trong nhiều thập niên. Khánh Hà, một giọng ca quyến rũ, trữ tình dù với những bản nhạc tiền chiến hay hiện đại. Tuấn Ngọc, người ca sĩ có dáng dấp lừng khừng và tiếng hát trầm ấm đã rung động hàng vạn trái tim. Lưu Bích, giọng ca và phương cách trình diễn độc đáo, thần tượng của biết bao thanh niên. Và Thúy Anh, Lan Anh, Anh Tú...

Ca sĩ Tuấn Ngọc, Bích Chiêu, Nguyễn Ngọc Quang, Lan Anh

   Chú thích  

  1. Nhạc sĩ Lữ Liên qua đời ngày 8 tháng 7 năm 2012 tại Bệnh viện Garden Grove California, Mỹ), thọ 95 tuổi.
  2. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Bích Chiêu, sinh năm 1942 tại Đà Lạt
  3. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Anh Tuấn, sinh năm 1947 tại Đà Lạt
  4. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Anh Tú, sinh năm 1950 tại Đà Lạt, mất ngày 3 tháng 12 năm 2003 tại Nam California
  5. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Khánh Hà, sinh năm 1952 tại Đà Lạt
  6. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Lưu Bích, sinh năm 1966 tại Đà Lạt

  Sưu tầm tổng hợp by Nguyễn Ngọc Quang  

 

Xem thêm...

Khi tóc không còn xanh…

Khi tóc không còn xanh…

Nguyễn Thị Thanh Dương

 ◄ ► ◄ ► 

 

Tôi thu xếp ít quần áo và vài thứ lặt vặt cần thiết vào trong chiếc va ly nhỏ, sửa soạn cho một chuyến đi vài ngày. Bác ruột tôi vừa qua đời tại thành phố Wichita, tiểu bang Kansas. Gia đình bác mới từ Washington D.C. dọn về đây được mấy tháng nay. 
 
Lòng tôi buồn vời vợi đang nghĩ  nên nói cách nào cho đám anh chị em họ của tôi về chuyện của gia đình mình đang đến hồi sụp đổ khi mà bấy lâu nay họ chỉ thấy tôi khoe ra bên ngoài một màu hạnh phúc?
 
Chồng tôi về tới nhà, thấy tôi bên chiếc va ly anh chỉ hỏi một cách bình thường:
- Em sắp đi đâu?
- Bác Lân em vừa qua đời, em phải về tham dự tang lễ.
 
Anh lạnh lùng, ngắn gọn:
- Cho anh gởi lời chia buồn đến họ.
 
Chúng tôi đang làm đơn ly hôn. Anh, người đàn ông thành đạt của tôi cũng là một người bay bướm trăng hoa. Suốt thời gian 20 năm chung sống tôi đã cố gắng chịu đựng vì các con, vì muốn gìn giữ tài sản của gia đình không thể để mất vào tay người đàn bà khác.
 
 Nhưng cho tới hôm nay thì sức chịu đựng của tôi đã cạn kiệt, như giòng nước lũ làm vỡ bờ chảy xối xả những giận hờn và tủi nhục. Anh đã lừa dối tôi, có một tình yêu khác với một cô gái trẻ đẹp, chính anh thẳng thắn đề nghị ly hôn tôi để cưới cô gái đó làm vợ.
 
 
 
Sau những ngày tang lễ bác và những lần tâm sự với các anh chị họ về tình trạng gia đình của tôi hiện nay. Các anh chị đều nói hạnh phúc của tôi không thể cứu vãn được nữa, chia tay là giải thoát cho cả hai. Khi đã chia sẻ được những điều đau khổ tôi thấy nhẹ lòng.
 
Wichita thành phố không qúa lớn cũng không qúa nhỏ và cũng chẳng có gì hấp dẫn tôi vào lúc này, mà còn hai ngày nữa tôi mới phải trở về nhà, dù là ngôi nhà bất hạnh, có người đàn ông tôi từng yêu thương, qúy trọng, nay đã quay mặt phản bội hất hủi tôi.
  
Đến tiểu bang Kansas, thành phố Wichita lại không xa mấy thành phố Liberal, chỉ 4 tiếng lái xe, làm tôi bỗng dưng tha thiết nhớ đến thành phố Liberal nghèo nàn nhỏ bé với khỏang 15 ngàn dân, nơi mà ngày đầu tiên đến Mỹ gia đình chúng tôi đã ở đây và trong ký ức tôi cũng nhớ đến John, người bạn thân thuở đó. Thuở tôi mới 15 tuổi.
 
Gia đình chúng tôi đi vượt biển, đến trại tị nạn Bidong, Mã Lai. Sau 9 tháng gia đình chúng tôi đến Mỹ nhờ sự bảo trợ của một gia đình người Mỹ. Đó là ông bà Smith, nhà truyền giáo, họ chỉ có 1 người con trai, anh tên John, lớn hơn tôi 1 tuổi. Năm ấy anh 16 mà đã phổng phao, đẹp trai cao ráo.
 
BM
  
Nhà chúng tôi ở không xa căn nhà của ông bà Smith, nơi hứơng Nam của thành phố Liberal. Nhà ông bà Smith đúng là một căn nhà nông thôn, mảnh sân rất to rộng phía trưóc trồng trọt dưa hấu, xung quanh nhà những cây lê, cây táo và cây đào lần lượt thi nhau nở hoa.
 
Nhưng được trồng nhiều nhất là cây táo. Tôi không có ai để chơi ngoài John hay sang nhà trò chuyện, mấy đứa em tôi cũng thích xúm vào hóng chuyện và cũng là cách để chúng tôi tập luyện tiếng Anh.
 
Thỉnh thoảng tôi cũng chạy sang nhà John, nhất là vào những lúc cây có trái chín trên cành. Ôi, tôi mê những cây táo vào mùa thu qúa, có loại mọc thẳng, cành vươn cao và trái cũng ở trên cao, có loại cành mềm, khi đậu trái thì chĩu cành lòa xòa sát xuống đất đến nỗi tôi chỉ việc ngồi xổm mà tha hồ hái trái.
 
Lại còn vườn dưa hấu trước sân tôi hay cùng John háo hức vạch tìm trong đám lá những trái dưa hấu nhỏ vừa hiện ra và thích thú theo dõi chúng cho đến khi lớn lên to tròn vươn lên khỏi đám lá. Không gì ngon ngọt bằng trái dưa hấu vừa cắt cuống trong vườn, bổ ra ăn ngay tại chỗ trong một buổi trưa hè mà John thường làm cho hai đứa cùng ăn.
 
BM
  
John nói chuyện với tôi đủ thứ, từ những chuyện hàng ngày của anh cho đến những ước mơ mai sau, anh lấy vợ thì sẽ về sống ở một nông trại. Anh say sưa tả cái nông trại của gia đình anh trước kia ở tiểu bang Texas, có một căn nhà gỗ bề ngang dài, bên cạnh là chuồng bò bằng hàng rào gỗ sơ sài. Anh khoe biết cách vắt sữa bò.
 
 Anh đã chạy rong trên cánh đồng cỏ khô hay đi trên con đường đất mà mỗi khi gío mùa hè lồng lộng thổi làm tung bụi mịt mù và cả những khi mấy con bò đua nhau về chuồng cũng làm bụi mù tung lên như gío đã thổi.
 
Đất Texas có nhiều nơi khô cằn gần như sa mạc, cả mấy chục acre đất nhà anh với nhiều bụi xương rồng rải rác và những bụi cây đã là to lớn vĩ đại với thằng bé lên 10 như anh thuở đó.
 
  Anh yêu thích ở nông trại, một trời một cõi như của riêng mình. Tôi cũng say sưa nghe John kể, như đi lạc vào một cảnh trong phim ảnh, vì nó xa lạ với tôi, chứ tôi chẳng đời nào thích sống ở những nơi khỉ ho cò gáy như thế.
 
Tôi luôn mơ nước Mỹ với những thành phố nhộn nhịp phồn hoa như New York mà tôi đã thấy trong phim ảnh làm tôi thích thú, tôi sẽ dạo bước trên những vỉa hè có những cửa hàng sang trọng. Cuộc sống sẽ là một chuỗi ngày vui.
 
BM
  
Hai năm sống ở Liberal thì cha mẹ tôi quyết định sẽ dọn đi tiểu bang khác, vì tương lai của mấy chị em tôi, để chúng tôi được sống ở thành phố lớn, học ngôi trường lớn và có cộng đồng người Việt Nam đông hơn.
 
Tôi qúa chán thành phố Liberal nhỏ bé này rồi và đã đợi chờ quyết định này của cha mẹ từ lâu. Thành phố gì mà chỉ có 1 phi trường nhỏ xíu, chỉ đủ cho mấy chiếc máy bay nhỏ thỉnh thoảng đến rồi đi, lặng lẽ, buồn hiu. Muốn đầy đủ tiện nghi, người ta phải đến phi trường ở thành phố Wichita hay Amarillo.
 
Ngay chiều hôm đó, tôi hí hửng chạy sang nhà John để báo tin vui này. Đó là một buổi chiều mùa hè đầy nắng. Tôi quen thuộc thò tay vào trong mở chốt cánh cổng rào bằng gỗ ngoài sân, mỗi lần đến nhà John tôi đều nhanh nhẩu làm thế, tự nhiên như nhà mình, và đi bộ trên con đường dài mà hai bên là vườn dưa hấu đang độ chín, trước khi đến căn nhà nhỏ bằng gỗ khiêm nhường. May qúa John có nhà, mà mấy khi John đi vắng đâu, anh thích ở nhà giúp cha mẹ làm vườn, ngoài những khi thỉnh thoảng theo cha mẹ đi truyền đạo trong thành phố vào dịp cuối tuần.
 
BM
  
Trời nắng nên tôi và John  không hẹn mà cùng bước về phía những cây táo trồng quanh mảnh sân trước, nơi mà chúng tôi thường đến đó tán gẫu và ngắm hoa táo nở đẹp vào tháng năm hay hái táo vào cuối tháng chín, cùng ăn, cùng chia nhau nếm thử quả táo ngọt với niềm vui thích. 
 
Tới một cây táo to lớn, cành rậm rạp, tháng này táo đang kết trái sau một mùa hoa xum xuê. John ngồi xuống trước rồi đến tôi. Tôi chẳng thèm ngắm những trái táo xanh nhỏ dễ thương trên cành mà lên tiếng hớn hở khoe ngay:
 
- Anh John ơi,  gia đình tôi sắp rời khỏi thành phố này rồi.
 
Mặt Johm hoảng hốt như vừa nghe một tin kinh khủng lắm:
 
- Sao? Em sẽ đi…có thật không?
- Thật đấy, bố tôi nói cuối tuần này sẽ dọn đi. Ngày mai cha mẹ tôi sẽ sang từ gĩa cha mẹ anh. Bây giờ tôi cũng sang để chào tạm biệt anh.
 
Giọng John vẫn bàng hoàng:
-  Em sẽ trở lại đây không?
 
Thấy gương mặt buồn lo của John, tôi tội nghiệp hứa liều không cần suy nghĩ:
- Chắc chắn tôi sẽ trở lại thăm John và cha mẹ của John chứ. Vì cha mẹ John là người đã giúp đỡ gia đình tôi rất nhiều khi mới đặt chân đến Mỹ mà.
 
John bỗng vụt đứng dậy:
- Hãy đợi anh ở đây, anh sẽ trở lại ngay trong giây lát.
 
John chạy bay vào nhà và lại chạy bay ra chỗ cây táo, không để tôi phải đợi lâu, anh đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ có ghi sẵn tên John và số điện thoại nhà anh, mà chắc là anh vừa ghi vội, giọng anh tha thiết như năn nỉ:
 
- Em hãy giữ lấy số điện thoại này, khi nào đến nơi ở mới thì liên lạc với anh. Em hứa đi!
 
Tôi cảm động, một lần nữa tôi hứa liều:
 
- Vâng, khi có nơi ở mới tôi sẽ gọi cho anh.
- Đừng thất lạc nhau nhé. Em hứa đi!
- Vâng, không bao giờ !
 
BM  
 
Nhưng khi đến California thì tôi bận rộn với cuộc sống mới và những lời hứa vội vàng với John bỗng chỉ là một trò đùa, tôi vứt đi mảnh giấy mà anh đã kỳ vọng trao vào tay tôi, đã dặn dò tôi và chắc là đã chờ đợi mỏi mòn kể từ ngày tôi rời thành phố nhỏ.
 
 Nối lại nhịp cầu liên lạc với John làm gì trong khi ở cái tuổi 17 tôi mơ hồ hiểu John đã yêu thích tôi, mà tôi dù có cảm tình với anh thì tôi cũng không thể nào lấy anh, vì mộng ước của anh và tôi hoàn toàn trái ngược.
 
Đành rằng gia đình anh là người ơn của gia đình tôi, họ hiền lành đạo đức, John sẽ là người chồng, người cha tốt như tấm gương của cha mẹ anh, nhưng tôi không thể lấy người chồng ít học làm nông trại và tôi chỉ quanh quẩn sống với chồng trong mấy chục acre đất hoang vu, chốn đồng khô cỏ cháy với mấy con gà, con bò như anh đã vẽ ra.
 
Tôi đã từng nghe chuyện nhà nông khốn khổ, trồng 1 acre bắp chỉ bán được khỏang 80 đồng theo gía sỉ, hay những vụ cam trúng mùa ở Florida, gía cam bán ra mà như cho không, chỉ 50 cent cho một thùng cam và những vụ khoai tây trúng mùa ở Idaho cũng xuống gía rẻ bèo như thế. 
 
Giấc mơ tuổi mới lớn của tôi là giàu sang phú qúy, lấy người chồng có địa vị, học cao hiểu rộng. Ở thành phố mới tôi đã miệt mài học hành, chính bản thân tôi cũng sẽ vươn cao. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đi làm và kén chọn người chồng tương lai.
 
Tôi đã bỏ qua nhiều cơ hội lập gia đình vì chê họ không xứng đáng với tôi, cho đến khi gặp người chồng hiện tại. Năm ấy tôi đã 30 tuổi, chồng tôi là một người thành đạt trong học vấn và trong kinh doanh. Tôi đã đạt được ước mơ và vui hưởng  hạnh phúc trong những năm đầu.
 
BM  
 
Vì rảnh rỗi và tò mò tôi quyết định thuê xe để lái từ thành phố Wichita đến thăm thành phố Liberal, nói cho đúng hơn để thăm lại gia đình ông bà Smith và John của ngày xưa xem họ thế nào? 
 
Tôi hình dung ra ông bà Smith đã già, họ đã nghỉ hưu không đi truyền giáo nữa. Còn John đã có vợ con và đang sống ở một trang trại nào đó, anh John sẽ là hình ảnh ông Smith nông dân chất phác và hiền hậu ngày xưa, anh chăm chỉ lao động nuôi bò, trồng trọt, các con anh sống và lớn lên ở nông trại, chúng biết cách vắt sữa bò và bám lấy nông trại không dám đi đâu xa giống như anh.
 
Sau 4 giờ lái xe, tôi đã trở về nơi chốn cũ. Thành phố nhỏ, đường kính lớn khỏang hai miles thì có gì là khó mà không tìm ra ngôi nhà của ông bà Smith nơi cuối phố, dù tôi đã xa cách  30 mấy năm rồi.
 
Nhưng tôi vẫn hỏi thăm, có vẻ như gia đình Smith có uy tín với cư dân ở đây lắm.  Người ta nói nhà Smith vẫn ở chỗ cũ. 
 
Khi tôi xuống xe, đứng ngẩn ngơ nơi cánh cổng rào gỗ năm xưa, bỗng thấy ngậm ngùi, có thể cánh cổng gỗ đã từng hư cũ, từng được thay đổi, làm lại cái khác nhiều lần rồi, và cái chốt mở cửa không phải là miếng gỗ mà tay tôi đã từng chạm vào năm xưa, nhưng vẫn giống thế, và như thể vẫn chờ đợi tôi trở về để chạm tay vào. 
 
Tôi run run thò tay vào mở chốt cửa, lại ngậm ngùi hơn vì ngẫu nhiên bây giờ đang là mùa hè, hai bên lối đi của mảnh sân vẫn trồng dưa hấu, lá xanh rậm rạp và xung quanh vẫn là những cây đào, cây lê, cây táo…dù có thể những loại cây này năm xưa đã gìa, đã cằn cỗi, được thay thế bằng  những cây trồng sau này.
 Thế giới đổi thay bao nhiêu thứ mà nhà ông bà Smith dường như không hề thay đổi. Khu vườn của họ vẫn là những hình ảnh cũ.
 
BM
  
Tôi đi vội trên con đường dài, hồi hộp nhìn chăm chăm vào ngôi nhà trước mặt đang đóng cửa, không còn tâm trí nào nhìn ngắm vườn dưa hấu xem có nhiều trái hay không. Rồi tôi gõ cửa và chờ đợi. Mãi sau mới có tiếng mở cửa, hiện ra trước mặt tôi là bà Smith, bà đã gìa đi -dĩ nhiên.
 
 Sau vài phút ngỡ ngàng nghe tôi tự giới thiệu thì bà đã nhận ra tôi, bà mời tôi vào nhà, rưng rưng nước mắt bà trách móc:
 
- Thì ra là cô, tại sao mãi hôm nay cô mới trở lại đây? John đã chờ đợi cô mấy năm trời.
 
Tôi ngạc nhiên và xúc động, nước mắt cũng rưng rưng như bà Smith:
 
- Thật thế sao? Tôi xin lỗi, tôi vô cùng xin lỗi vì đã không thực hiện điều đã hứa với John
- Cô đâu có biết, ngay khi gia đình cô đi được một tuần là John đã chờ đợi cô gọi phone về từng ngày.  Nó luôn tin tưởng cô sẽ gọi phone cho nó và một ngày nào cô sẽ trở về Liberal.
 
Bà Smith gục đầu xuống và khóc nấc lên, kể tiếp:
 
- Nó đau khổ và héo hon cho đến khi hoàn toàn tuyệt vọng…
- Trời ơi, tôi không ngờ.
 
Tôi cố ngăn giòng nước mắt, vuốt ve cánh tay bà an ủi như an ủi cho chính mình và hỏi thăm:
 
- Số phận tôi và John không thể gần nhau thôi mà. Bây giờ anh ấy ra sao?
- Sau đó John lấy vợ, Christine là con gái một nhà truyền giáo bạn thân của vợ chồng tôi, cô gái hiền lành ngoan ngoãn và rất yêu John, đã làm lành vết thương lòng của John.
Nhà vợ chồng nó cũng ở gần đây.
 
- Thế anh ấy không sống ở nông trại như anh ước mơ sao?
 
Bà Smith lau nước mắt, thoáng một niềm vui:
 
- Đó chỉ là ước mơ của một thằng bé tuổi vị thành niên, một thằng bé nhà quê mà suốt thời thơ ấu sống nơi trang trại. Khi John và Christine yêu nhau, cả hai cùng vào đại học. Họ đã tốt nghiệp y khoa và đang hành nghề bác sĩ ngay tại thành phố Liberal này.
 
Tôi ngạc nhiên và vui mừng reo lên:
 
- Không ngờ John học gỉoi và có chí đến thế!
- Tôi tin là nhờ có tình yêu của Christine.
- Với nghề nghiệp bác sĩ cả hai vợ chồng John có thể đi đến những thành phố lớn lập nghiệp dễ dàng, nhưng sao họ vẫn ở lại nơi đây?
- Chúng tôi đã quen sống ở thành phố nhỏ, từ ngày ông Smith mất đi, John càng không muốn xa mẹ. Nhưng nó dù bận hành nghề, vẫn không quên phụ giúp tôi gieo trồng và làm vườn mỗi khi mùa Xuân về. Đó là niềm yêu thích của John, của chúng tôi.
 
BM
  
Họ thật thủy chung, bao năm qua vẫn ở nơi này, ở căn nhà này dù họ có điều kiện để thay đổi. Bao năm qua họ vẫn trồng trọt làm vườn như nhà nông khi đến mùa dù họ có là ai đi nữa. Tôi đứng dậy chào tạm biệt bà Smith. Bà bỗng nắm cánh tay tôi, lo lắng dặn dò:
 
- Phải đấy, cô nên về ngay đi và xin cô hãy hứa với tôi một điều.
 
Tôi nói với tất cả chân tình:
 
- Tôi xin hứa bất cứ điều gì tôi có thể.
- Cô hãy đi và đừng bào giờ trở về đây nữa, bao nhiêu năm qua, vết thương lòng của John đã lành. Tôi tin là John đã quên cô, nó đang sống yên vui hạnh phúc bên vợ con. Nhưng nếu cô xuất hiện sẽ gợi lại nỗi đau cũ.  Cô hãy hứa lại một lần nữa cho tôi yên lòng.
 
Tôi chậm rãi nói từng lời rõ ràng cho bà Smith nghe rõ:
 
- Tôi xin hứa đây là lần cuối cùng đến đây. Thôi, xin chào bà.
 
Tôi đi ra cửa, bước trên con đường thân quen của thuở  tôi 17 tuổi lòng đầy kiêu kỳ tham vọng và John 18 tuổi hãy còn ngây thơ ngốc nghếch, muốn tán tỉnh tôi mà đưa ra một ước mơ nghèo nàn, đơn giản. Tình yêu chân thật của anh John nhà quê chẳng mấy khi đi đâu xa khỏi cái tiểu bang Kansas với những cánh đồng lúa mì mênh mông chỉ là một trò cười đối với tôi.
 
BM
  
Nhưng hôm nay, ở cái tuổi không còn trẻ nữa, khi mái tóc không còn xanh nữa, sau những vật chất phù hoa tôi đã nếm biết bao vị đắng, trải qua bao phũ phàng của tình nghĩa vợ chồng.
 
 Và sau cuộc trò chuyện với bà Smith, tôi chợt nhận ra một tình yêu hồn nhiên trong sáng của John dành cho tôi. Cái hạnh phúc mà bây giờ vợ của John đang hưởng tôi biết là vững chắc, đẹp đẽ biết bao nhiêu. Điều mà tôi không hề có. Tôi chợt nghĩ đến mấy câu thơ tôi đã đọc đâu đó và yêu thích:
 
Giờ đây không có ai, không có một tình yêu nào để cho tôi thể hiện sự thủy chung đằm thắm đơn giản như thế… Khi ra đến ngoài cổng, tôi quay lại khép cánh cổng rào bằng gỗ. Tôi biết mình vừa khép lại một qúa khứ, một bầu trời xanh và mất nó vĩnh viễn.
 
----
 
Hình minh họa- Internet
 
Ngọc Lan sưu tầm
 
Xem thêm...

Những tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp và những câu chuyện đằng sau chúng

Những tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp

và những câu chuyện đằng sau chúng

► ◄

Chúng ta thường nhìn những tác phẩm điêu khắc với một cảm nhận đơn thuần và cho rằng thông điệp của chúng là quá rõ ràng. Nhưng không phải lúc nào cũng nên như thế.Nếu bạn sẵn sàng lắng nghe, sẽ có nhiều câu chuyện thú vị để bạn phải lưu tâm. Dưới đây là 10 tác phẩm nghệ thuật và những câu chuyện đằng sau chúng.

1. The Knife Angle

Đây là tác phẩm của Alfie Bradley thuyết phục hàng trăm người từ bỏ bạo lực.

Những tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp và những câu chuyện đằng sau chúng - Ảnh 1.

Bức tượng thiên thần này được tạo ra từ hơn 100.000 con dao, cao 27 feet. Đây là những vũ khí đầu hàng của tội phạm được thu thập trên khắp Vương quốc Anh từ các cảnh sát, các tổ chức từ thiện chống tội phạm về dao. The Kife Angle đã đi khắp Vương quốc Anh để giáo dục mọi người về vấn đề quan trọng của tội phạm dùng dao và mức độ nguy hiểm của những vũ khí này.

2. The Passer-Through-Walls

Những tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp và những câu chuyện đằng sau chúng - Ảnh 2.

Le Passe-Muraille là một cuốn tiểu thuyết của Pháp do Marcel Aymé viết nên. Câu chuyện kể về một anh chàng nhân viên văn phòng khiêm tốn, một ngày nọ anh phát hiện ra rằng anh có một siêu năng lực là có thể đi xuyên tường. Anh đã sử dụng khả năng này của mình để làm một tên trộm. Anh vào tù, nhưng rồi bằng khả năng của mình, anh lại trốn thoát.

Cho đến một ngày anh bị mất đi siêu năng lực này ngay trên đường xuyên tường và bị mắc kẹt lại trong đó. Tượng đài này rất được giới nghệ thuật biết đến và bàn tay của anh ta mỗi ngày mỗi bóng lên bởi hàng ngàn người cố gắng giúp anh ta thoát khỏi bức tường.

3. Building Bridges

Tác giả của cây cầu này là Lorenzo Quinn mang đến một thông điệp vì một thế giới tốt đẹp hơn.

Những tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp và những câu chuyện đằng sau chúng - Ảnh 3.

Làm thế nào để chúng ta làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn? Tình bạn, trí tuệ, sự giúp đỡ, niềm tin, hy vọng và tình yêu - đó chính là những yếu tố cấu thành theo quan niệm của Lorenzo Quinn, một nghệ sĩ nổi tiếng người Ý.

6 thành tố này được thể hiện trong 6 đôi bàn tay đan vào nhau tạo nên nét độc đáo của cây cầu. Đây là một trong những tác phẩm mới nhất của Quinn được xây dựng cho Venice Art Biennale năm 2019.

4. Head Corporate

Đây là tác phẩm điêu khắc của Terry Allen cho chúng ta biết về sự nguy hiểm của việc tập trung vào lợi nhuận bằng mọi giá.

Những tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp và những câu chuyện đằng sau chúng - Ảnh 4.

Tác phẩm điêu khắc bằng đồng có kích thước thật ấn tượng của một người đàn ông đã vùi đầu vào tòa nhà tại Los Angeles, California, Mỹ. Tác phẩm điêu khắc là hiện thân của một doanh nhân đã cống hiến cả đời để kiếm lợi nhuận cho bản thân và công ty mà ông làm việc.

Chỉ có phần cổ trở xuống của anh ta mới được tách ra khỏi tòa nhà, điều đó có nghĩa là toàn bộ tâm trí của anh ta đều bị công việc chi phối.

Tác phẩm điêu khắc này minh họa nhịp sống hiện đại, nơi mọi người phải mang gánh nặng kinh tế và dành cả cuộc đời làm việc trong các doanh nghiệp, thường bỏ lỡ những thứ quan trọng hơn cả của cải vật chất.

5. Sphere Inside a Sphere

Tác phẩm này của Arnaldo Pomodoro nhắc nhở về việc hành tinh của chúng ta mong manh như thế nào.

Những tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp và những câu chuyện đằng sau chúng - Ảnh 5.

Bức tượng bằng đồng tuyệt vời này mê hoặc người xem với cấu trúc phức tạp từ những vết nứt gãy của quả cầu với vô số các bánh răng phức tạp bên trong.

Nghệ sĩ Arnaldo Pomodoro là người thích nghiên cứu về hình học và tìm cách che giấu ý nghĩa sâu sắc đằng sau những hình học đơn giản đó. Tác phẩm Sphere Inside Sphere một lần nữa nhắc nhở chúng ta rằng mọi thứ trong vũ trụ kết nối với nhau mong manh như thế nào và nó dễ dàng có thể bị chia ra từng mãnh.

6. The Man Who Measures the Clouds

Người đàn ông đo mây của Jan Fabre nói về những cuộc đấu tranh đo lường sự vô lượng.

Những tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp và những câu chuyện đằng sau chúng - Ảnh 6.

Tác phẩm nghệ thuật độc đáo này phủ bằng vàng lá là một phần của Venice Art Biennale năm 2019, đó là hình ảnh một người đàn ông (cao 9 mét) vươn và cố gắng đo các đám mây bằng thước kẻ. Tác phẩm điêu khắc này có thể được hiểu là nỗ lực tuyệt vọng của một người để biến điều không thể thành có thể, vì chúng ta không ngừng phấn đấu để vượt qua chính mình.

7. Inertia and The Bankers

Tác phẩm này nêu lên những vấn đề nhức nhối của xã hội và kêu gọi trách nhiệm của chúng ta.

Những tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp và những câu chuyện đằng sau chúng - Ảnh 7.

Inertia and The Bankers là tác phẩm điêu khắc dưới nước kỳ diệu của Jason Decaires Taylor tiết lộ những vấn đề cấp bách nhất của xã hội hiện đại, như bị ám ảnh bởi sự giàu có vật chất và bị ảnh hưởng bởi truyền thông đại chúng.

Ngoài ra, công trình này còn đóng vai trò là ngôi nhà cho san hô đang trên bờ vực tuyệt chủng ở nhiều khu vực trên hành tinh của chúng ta. Bằng cách đặt những kiệt tác của mình dưới nước ở Mexico, Bahamas và những nơi khác, nghệ sĩ cố gắng thu hút sự chú ý nhiều hơn đến sự thay đổi khí hậu toàn cầu và những điều chúng ta có thể làm để bảo vệ trái đất.

8. Absorbed by Light

Tác phẩm này được thực hiện bởi Gali Lucas và Karoline Hinz cho chúng ta biết về sự ám ảnh bởi các thiết bị và công nghệ.

Những tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp và những câu chuyện đằng sau chúng - Ảnh 8.

3 người ngồi trên một chiếc ghế dài, họ bị thu hút bởi điện thoại thông minh đến mức không chú ý đến nhau. Điều gì có thể minh họa về thời đại của chúng ta hơn bức điêu khắc này? Khi bạn đi bộ vào ban đêm, hãy nhìn xung quanh và bạn sẽ thấy một bức tranh tương tự - hàng chục người xung quanh với khuôn mặt sáng lên bởi điện thoại di động.

9. Trains to Life — Trains to Death

Đây là tác phẩm của Frank Meisler để tưởng nhớ số phận của những đứa trẻ trong thời kỳ Holocaust (cuộc diệt chủng trong Thế chiến II của người Do Thái Châu Âu)

Những tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp và những câu chuyện đằng sau chúng - Ảnh 9.

Tác phẩm ấn tượng này nằm ở Berlin, Đức. Những đứa trẻ nhìn về hai hướng khác nhau tượng trưng cho hai kết quả khác nhau trong Holocaust . Bức điêu khắc này ghi dấu sự kiện 1,6 triệu trẻ em Do Thái được gửi đến các trại tập trung bị thiệt mạng và 10.000 trẻ em đã được lưu lại và vận chuyển đến nước Anh.

10. The Miraculous Journey

Tác phẩm của Damien Hirst mô phỏng các giai đoạn phát triển của em bé trong bụng mẹ.

Những tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp và những câu chuyện đằng sau chúng - Ảnh 10.

Tượng đài tuyệt vời này nằm bên ngoài Trung tâm nghiên cứu và y tế Sidra ở Doha, Qatar, bao gồm 14 tác phẩm điêu khắc bằng đồng, mỗi tác phẩm là một giai đoạn phát triển của phôi thai trong bụng mẹ từ khi thụ thai đến khi sinh.

Hirst nói rằng: Mọi người đều nói về hành trình cuộc sống của mình, nhưng không ai nói về một hành trình kỳ diệu trước khi mình sinh ra.

Tác giả hy vọng tác phẩm điêu khắc này sẽ mang đến cho người xem cảm giác kinh ngạc và tự hỏi về quá trình phi thường này của con người.

 

Kim Quy sưu tầm

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này