Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1289)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (64)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (353)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Nhạc sĩ Lam Phương- Một đời thăng trầm

Nhạc Sĩ LAM PHƯƠNG

MỘT ĐỜI THĂNG TRẦM

 Như thông lệ hằng năm, cứ vào đầu tháng 12, tôi đi trình diễn một tour bên Úc qua mấy thành phố lớn như Sydney, Melbourne, Brisbane và Perth. Năm ngoái, sau buổi văn nghệ tại Casino Crown, tôi được một vài thương gia mời đi ăn cơm rồi ngỏ ý đề nghị tôi đưa nhạc sĩ Lam Phương sang Úc, mặc dù ai cũng biết ông đang ngồi xe lăn từ 10 năm nay, di chuyển đường xa rất khó khăn.

Chỉ vì nhạc Lam Phương quá đặc sắc và đa dạng, nên khán giả bốn phương đều muốn nghe lại và nhất là muốn gặp mặt ông một lần, biết đâu chăng là lần cuối bởi năm nay ông đã 72. Những người ngồi với tôi hôm ấy đều còn nhớ rất rõ, Lam Phương là nhạc sĩ duy nhất mà Trung tâm Thúy Nga đã thực hiện đến 3 cuốn Paris By Night để giới thiệu sự nghiệp của ông :

–  “Bốn Mươi Năm Âm Nhạc Lam Phương” –  “Lam Phương, Dòng Nhạc Tiếp Nối” –  ” Đường Về Quê Hương’

Nói chung, ông là người viết nhạc có tầm ảnh hưởng rộng lớn nhất, xét về mức phổ biến trước cũng như sau năm 1975.

Từ Úc về, tôi sang trình diễn tại mấy nước ở vùng Đông Âu cũ như Ba Lan, Cộng Hòa Séc (Tiệp Khắc) và Slovaskia, những nơi chỉ có toàn người miền Bắc. Tại đây, một lần nữa tôi lại ngạc nhiên nghe bầu show và nhiều khán giả đề nghị tôi mời nhạc sĩ Lam Phương qua cho đồng bào gặp gỡ. Ở Praha, tôi hỏi một cô trong ban tổ chức :

– Lam Phương viết nhiều về người lính thời cũ, chẳng hạn Bức Tâm Thư, Tình Anh Lính Chiến, Chiều Hành Quân, Biết Đến Bao Giờ v.v… Khán giả ở đây chỉ gồm toàn người miền Bắc, từng là công nhân lao động hợp tác, cán bộ tu nghiệp hoặc du học sinh từ Hà Nội. Tổ chức chương trình nhạc sĩ Lam Phương cho họ coi, cháu nhắm có trở ngại gì không ? Bởi đã hát nhạc Lam Phương là phải hát đủ loại, cả nhạc lính lẫn nhạc tình !

Nhạc sĩ Lam Phương

Cô gái hân hoan trả lời tôi :

– Không sao đâu chú ! Viết nhạc trong thời chiến mà!  Âm nhạc tất nhiên phải phản ánh cuộc sống mà tác giả đi qua. Cháu mới vào Việt Nam. Sau cuốn Paris By Night Đường Về Quê Hương, cháu thấy hầu hết các tụ điểm ca nhạc trong nước bây giờ đều hát nhạc Lam Phương.

Sau chuyến lưu diễn Âu Châu, tôi về gọi điện thoại hỏi ý kiến và thuyết phục anh Lam Phương, giục anh chịu khó đi với tôi vài chuyến. Tôi tha thiết bảo :

– Cố gắng đi anh ! Khán giả ở đâu cũng mong gặp anh nhất là từ khi nghe tin anh bị tai biến mạch máu não !

Tôi quen anh Lam Phương đã 17 năm, làm việc chung với anh qua 3 cuốn video và nhiều chương trình live shows, tôi biết rõ tính anh rất dè dặt. Anh chỉ sợ di chuyển vất vả mà đến nơi không thành công thì buồn cho cả anh lẫn ban tổ chức. Tôi phải trấn an anh mãi bởi tôi biết rõ cảm tình của khán giả đối với anh. Cuối cùng anh đồng ý trên nguyên tắc : Đầu tháng 12 năm 2010, anh và tôi sẽ bay sang Úc dưới bảng hiệu Thúy Nga, rồi nhân tiện sang nước láng giềng Tân Tây Lan (New Zealand) luôn thể.

Riêng Đông Âu thì anh còn lưỡng lự và các bầu show bên ấy cũng chưa có ngày giờ nhất định bởi việc tổ chức show ở Âu Châu tương đối phức tạp, cần phải phối hợp giữa nhiều quốc gia lân cận.

Trong khi chờ đợi, tôi bàn với Thời Báo mời Lam Phương sang Toronto. Ý định này, anh em Thời Báo và tôi đã có bàn thảo một đôi lần trước đây, nhưng mãi năm nay mới thu xếp được và chỉ có ngày Thứ Bảy 24 tháng 07 là thuận tiện cho cả nhạc sĩ Lam Phương lẫn ban tổ chức. Lam Phương chưa qua Toronto bao giời nên tỏ ra ngần ngại. Tôi phải nhắc lại :

– Từ bao nhiêu năm nay, có show Lam Phương nào thất bại đâu anh ! San Jose, Orange County, Montreal,… chương trình nào cũng đầy ắp khán giả, có nơi không đủ vé bán. Mùa hè Toronto đẹp lắm. Đồng bào Toronto rất yêu văn nghệ. Mời anh sang thăm một lần cho biết !

Nhạc sĩ Lam Phương

– Anh kéo tôi đi đâu thì tôi đi đó !

Tôi hiểu ý anh. Rất nhiều nơi muốn tổ chức đêm nhạc Lam Phương. Nhưng ở đâu anh cũng muốn phải có tôi giới thiệu, bởi chúng tôi đã làm việc chung với nhau tới 3 cuốn Paris By Night, tôi hiểu rõ tâm sự và xuất xứ từng ca khúc của anh. Tôi cám ơn anh rồi bảo :

– Tôi phone anh trước, nếu anh đồng ý thì đại diện Thời Báo sẽ liên lạc với anh !

Thời Báo chẳng những chỉ liên lạc với anh Lam Phương bằng phone, mà Nguyễn Đạt và anh Sa Xuân Vũ còn bay sang tận nơi, ghé thăm anh Lam Phương trong căn nhà quạnh hiu trồng đầy bông hồng chung quanh. Anh cảm động gọi cho tôi, cám ơn sự chu đáo của anh em Thời Báo Toronto và hẹn sẽ gặp khán giả Toronto cuối tháng 07.

Đôi nét về nhạc sĩ Lam Phương

Vào những năm đầu khi mới chia cắt đất nước (1954), dân chúng miền Nam thường được nghe đi nghe lại bài Chuyến Đò Vĩ Tuyến trên đài phát thanh:

“Đêm nay trăng sang quá anh ơi / Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai mầu…”

Lúc ấy, ai cũng tưởng Lam Phương chắc phải là một “ông Bắc kỳ di cư” lớn tuổi, dàn trải tâm tư khắc khoải của mình khi rời đất Bắc vào Nam tìm tự do. Nhưng hóa ra tác giả chỉ là một thanh niên miền Nam mới 18 tuổi, đã khơi lên nỗi xúc động thay cho gần một triệu đồng bào vừa lìa xa cố hương.

Từ cái bước khởi đầu vững chắc ấy, người ta đã nhìn thấy ở trước Lam Phương là một tài năng lớn, một sức sáng tạo đích thực, và quả nhiên như mọi người dự đoán, anh đã cống hiến cho tân nhạc Việt Nam gần 200 ca khúc đặc sắc trong nửa thế kỷ vừa qua.

 Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng, sinh ngày 20/03/1937, tại Rạch Giá. Nội tổ của anh vốn là người gốc Hoa, bỏ nước sang Việt Nam lập nghiệp trong đợt di dân ồ ạt của người Hoa chống đối với nhà Mãn Thanh. Đời ông nội của Lam Phương đã bắt đầu lai Việt Nam và đến thân phụ của anh thì chẳng còn dấu vết gì là người Hoa nữa.

Lam Phương là con đầu lòng, nhưng lớn lên chỉ thấy mẹ và các em trong cảnh nghèo nàn xác xơ. Ông bố đã bỏ đi theo người đàn bà khác từ lúc Lam Phương chưa đủ trí khôn.

Mười tuổi, Lam Phương giã từ Rạch Giá lên Sài Gòn, ở trọ nhà người quen trong xóm lao động tăm tối vùng Đa Kao và vào học trung học ở Việt Nam Học Đường. Thời gian này, anh bắt đầu tự học nhạc qua sách vở, phần lớn là bằng tiếng Pháp.

Điều này dễ hiểu, bởi ngày ấy nước ta chưa có trường âm nhạc. Thế hệ Lam Phương cũng như các nhạc sĩ lớn tuổi hơn, muốn học nhạc thì hoặc phải tự mò mẫm qua các tài liệu viết bằng tiếng Pháp, hoặc ghi danh hàm thụ các trường chuyên nghiệp bên Paris để họ gửi bài vở sang. Song song với phần nhạc lý, Lam Phương cũng xin học lớp guitar do một ông thầy Việt Nam truyền nghề.

Để trắc nghiệm khả năng học hỏi của mình sau một thời gian miệt mài, năm 1952, lúc mới 15 tuổi, Lam Phương sáng tác ca khúc đầu tay là Chiều Thu Ấy. Anh vay mượn bạn bè và hàng xóm, tự in bản nhạc rồi thuê xe lam chở đi giao cho các quầy hàng bán lẻ.

Tuy cũng lấy lại vốn, nhưng ca khúc này chưa gây được tiếng vang. Phải chờ 3 năm sau khi 18 tuổi, Lam Phương mới tung ra được một số sáng tác nổi đình nổi đám ngay như Kiếp Nghèo, Chuyến Đò Vĩ Tuyến, Nhạc Rừng Khuya, Trăng Thanh Bình, Khúc Ca Ngày Mưa, Nắng Đẹp Miền Nam v.v…

Nhạc của Lam Phương nhanh chóng tràn lan trong học đường trên phạm vi cả nước. Hầu như trường nào cũng cho học trò đồng ca hoặc múa hát những bài tươi vui lành mạnh, phổ biến nhất là Khúc Ca Ngày Mưa và Nắng Đẹp Miền Nam. Ở những nhạc phẩm này, người ta thấy ngay sự phản ánh rất rõ nét một thời thanh bình rộn rã của những năm đầu nền Đệ nhất Cộng hòa.

 Năm 21, Lam Phương nhập ngũ. Thời ấy, thanh niên đi quân dịch chỉ có một năm bởi là nghĩa vụ quân sự trong thời bình. Tại quân trường, anh viết Bức Tâm Thư, hô hào thanh niên sốt sắng đi quân dịch. Ngày mãn khóa, anh sáng tác 2 bản nhạc nổi tiếng là Tình Anh Lính Chiến và Chiều Hành Quân.

Anh kể với tôi: Vì không biết rõ xuất xứ sáng tác bài Tình Anh Lính Chiến, cho nên sau này nhiều ca sĩ thường hát câu: “Anh chiến trường, em nơi hậu tuyến”. Thật sự thì hát như vậy là sai, bởi anh viết cho bạn bè đồng ngũ trước khi chia tay ở quân trường, mỗi người đi mỗi nơi, nên câu hát đúng là ‘Anh chiến trường, tôi nơi hậu tuyến”. Đây là tình đồng đội chứ không phải tình yêu trai gái.

Mãn hạn quân dịch, trở về đời sống dân sự, Lam Phương tiếp tục sáng tác và tự xuất bản các tác phẩm của mình. Nhạc của anh có sức phổ biến sâu rộng, là một trong những nhạc sĩ thành công nhất ở miền Nam, giúp anh thoát khỏi cảnh lầm than mà anh đã mô tả qua bản Kiếp Nghèo mấy năm về trước. 

 Lúc ấy, nhạc sĩ Phạm Duy đang phụ trách trung tâm Quốc Gia Điện Ảnh, nghe tiếng Lam Phương, gọi anh đến và giới thiệu với đạo diễn Lưu Bạch Đàn để Lam Phương đóng vai chính trong phim Chân Trời Mới bên cạnh nữ tài tử Mai Ly và kịch sĩ lão thành Vũ Huân. Đây là một phim truyện nhằm cổ võ cho quốc sách Ấp Chiến Lược, đồng thời đả phá tệ nạn quan liêu phong kiến ở xã ấp.

Khi tên tuổi bắt đầu vững vàng, Lam Phương lập gia đình với kịch sĩ kiêm ca sĩ Túy Hồng. Từ đó anh phụ trách thêm công việc viết nhạc nền cho ban kịch Sống, cho chúng thêm hàng loạt ca khúc đặc sắc như Thu Sầu, Nghẹn Ngào, Trăm Nhớ Ngàn Thương, Phút Cuối, Ngày Buồn v.v…

Tình hình chiến sự miền Nam gia tăng, Lam Phương được gọi tái ngũ. Anh mặc quân phục trở lại và gia nhập Ban Văn Nghệ Bảo An (Địa Phương Quân). Khi ban này giải tán, anh chuyển qua ban văn nghệ Hoa Tình Thương. Rồi Hoa Tình Thương cũng giải tán để biến thành Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương, nơi Lam Phương cộng tác cho đến ngày mất miền Nam.

Trong khoảng thời gian này, sức sáng tác của Lam Phương càng dàn trải trên nhiều thể loại rất phong phú mà đặc biệt một điểm là hầu hết ca khúc nào anh đưa ra cũng đều trở thành Top Hit trên thị trường, điển hình như Chờ Người, Tình Bơ Vơ, Duyên Kiếp, Thành Phố Buồn, Tình Chết Theo Mùa Đông v.v… đưa anh vào vị trí một nhạc sĩ thành công nhất Việt Nam về mặt tài chánh.

Túy Hồng và Lam Phương

Sáng ngày 30/4/1975, anh quyết định vào phút chót, đem gia đình chạy lên tàu Trường Xuân của thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy, cùng với gần 4000 đồng bào ra khơi. Trên tàu, anh gặp Elvis Phương, ca sĩ đầu tiên đã hát bài Chờ Người của anh khoảng năm 1972. Cũng trong đám người dày đặc đó, có một cô bé còn bế trên tay, sau này là á hậu Việt Nam tại Paris và trở thành nữ ca sĩ Bảo Hân.

Vì không có ý định ra đi, cho nên Lam Phương hoàn toàn chẳng chuẩn bị bất cứ thứ hành trang nào để đem theo. Anh bỏ lại chiếc xe hơi, hai căn nhà lớn và khoảng 30 triệu đồng trong ngân hàng để lên đường với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo ! Lúc ấy, lương một vị tổng giám đốc hoặc một vị đại tá trong quân đội chỉ có mấy chục ngàn một tháng ! (nên nhớ vàng 9999 Kim Thành lúc đó chỉ có 36.000d9VN/lượng)

Định cư ở Mỹ, cái job đầu tiên anh làm trong hãng Sears là lau sàn nhà và cọ cầu tiêu! Rồi chuyển sang làm thợ mài, thợ tiện, bus boy. Tuy vậy, cứ mỗi cuối tuần anh vẫn cố gắng thuê một nhà hàng, biến thành phòng trà ca nhạc để đồng hương có chỗ gặp nhau và để chính anh cùng Túy Hồng đỡ nhớ sân khấu.

Nghề này, chẳng những lợi tức không có bao nhiêu mà buồn thay, chỉ sau một khoảng thời gian ngắn, anh khám phá ra người bạn đời không còn thủy chung với anh nữa. Anh cay đắng vật vã, cố gắng hàn gắn nhưng không xong. Anh biết cái thế của anh đã mất hẳn từ khi ra hải ngoại, bởi tiền bạc, danh vọng đều chỉ còn là trong kỷ niệm

Nỗi đau ray rứt của cuộc tình tan vỡ trên đất khách đã là động lực sâu thẳm khiến anh sáng tác mấy bản nhạc rất bi thương, trong đó có một bài để đời là Lầm :

“Anh đã lầm đưa em sang đây / Để đêm trường nghe tiếng thở dài / Thà cuộc đời im trong lòng đất…”

Rồi anh ngậm ngùi bỏ Hoa Kỳ sang Paris, xin vào làm công việc đóng gói quét dọn cho một tiệm tạp hóa. Cũng tại đây, anh gặp lại ông bà Tô Văn Lai, chủ nhân Trung tâm băng nhạc Thúy Nga, vốn đã quen biết anh ở Sài Gòn từ trước năm 75.

Thúy Nga ngày ấy cũng còn quá nghèo, chỉ sang lại những băng cũ mang theo từ Việt Nam, nên chả có việc gì cho Lam Phương làm. Chính bản thân ông Tô Văn Lai, Giáo sư Triết ở Sài Gòn, dân trường Tây từ nhỏ, giờ đây cũng phải đi học nghề sửa xe và đứng bơm xăng ở vùng Bondi, ngoại ô Paris.

Lam Phương tiếp tục sống lầm lũi cho qua ngày ở kinh thành ánh sáng, mãi cho đến khi anh bất ngờ gặp một khúc rẽ tình cảm mới: Một người đàn bà rất đẹp đã đến với trái tim anh, giúp anh xóa đi những ngày tăm tối vừa qua. Nhờ khúc rẽ ấy, chúng ta mới có được một loạt ca khúc chan hòa niềm vui như Mùa Thu Yêu Đương, Tình Hồng Paris, Tình Đẹp Như Mơ, và nhất là Bài Tango Cho Em :

“Từ ngày có em về/ Nhà mình ngập ánh trăng thề…”

Cũng trong khoảng thời gian tạm cư ở Paris, anh sáng tác 3 ca khúc nổi tiếng khác mà giờ này thính giả vẫn thích nghe đi nghe lại :

– Cho Em Quên Tuổi Ngọc : Anh đặt cả lời Pháp lẫn lời Việt, viết cho một cuốn phim. Tựa tiếng Pháp là C’est Toi.

– Em Đi Rồi : Anh viết cho chuyện tình tan vỡ của nữ ca sĩ Họa My, khi Họa My sang Pháp để lại người chồng ở Việt Nam.

– Một Mình : Cảm xúc của chính anh buổi sáng thức dậy, cô đơn nhìn ra cửa trong ánh bình minh.

Bước sang đầu thập tiên 1990, Trung tâm Thúy Nga tương đối đã có cơ sở vững vàng ở Paris lẫn Cali sau khi sản xuất thành công một loạt video tuồng cải lương và các chương trình Paris By Night bắt đầu từ năm 1983. Lúc ấy, Thúy Nga mới quyết định thực hiện một cuốn Paris By Night chủ đề nhạc Lam Phương.

Đó là lần đầu tiên tôi gặp anh Lam Phương vào tháng 03 năm 1993, khi trời Paris còn đang se lạnh. Mặc dầu lúc này Lam Phương đã chia tay người đàn bà từng mang cho anh “những nụ hồng Paris”, nhưng cuộc sống của anh đã tạm ổn định cả mặt tinh thần lẫn vật chất, một phần nhờ có cô em gái từ Việt Nam sang tỵ nạn, mở tiệm ăn Như Ánh ngay tại Quận 13, giao cho anh làm manager.

Lúc gặp tôi, anh đã hoàn toàn lấy lại phong độ, tìm lại sự tin yêu trong cuộc đời, quên hết những nhọc nhằn gần 20 năm sóng gió vừa qua. Anh cho biết : Anh ít đọc sách của tôi, nhưng em gái anh, chủ nhà hàng, thì bất cứ lúc nào rảnh rỗi, cô cũng để cuốn tiểu thuyết Màu Cỏ Úa. Nhờ vậy, tuy gặp nhau lần đầu mà anh với tôi đã có cảm tưởng như quen nhau từ lâu

 Bài học đầu tiên tôi học ở anh Lam Phương là sự bình dị và khiêm tốn. Một người từng nổi tiếng từ lúc tuổi chưa đến 20, từng có một cuộc sống giàu sang ở Sài Gòn, giờ này ngồi tiếp chuyện tôi trong cái quán nhỏ, bằng một thái độ rất chân tình và lịch sự, mặc dầu tôi thua anh về mọi mặt. Cái ấn tượng ban đầu ấy khắc ghi mãi trong lòng tôi cho đến hôm nay.

Sau sự thành công của Paris By Night “Bốn Mươi Năm Âm Nhạc Lam Phương”, chỉ hơn một năm sau, Thúy Nga lại thực hiện thêm một chương trình Lam Phương thứ 2 bởi nhạc anh còn quá nhiều. Cuốn này tôi đặt tựa đề là “Lam Phương, Dòng Nhạc Tiếp Nối’.

Sau cuốn băng ấy, Lam Phương quay về định cư tại Hoa Kỳ năm 1995. Người đàn bà bảo lãnh anh trở lại Mỹ tuy không phải là một cuộc tình lớn trong đời, nhưng anh cần một mái ấm ổn định ở tuổi đã trên 55. Về lại Cali, anh tiếp tục sáng tác và lâu lâu phụ việc với Trung tâm Thúy Nga lúc này đang trên đà thăng tiến mạnh mẽ.

Dòng đời đang êm trôi thì ngày 13/3/1999, trong lúc đang dự tiệc ở nhà một người thân, không may anh bị tai biến mạch máu não. Từ đó anh nói không ra lời, một nửa thân thể gần như bại liệt hoàn toàn.

Bàn tay đánh đàn ghi nốt nhạc mấy chục năm qua, bây giờ không sử dụng được nữa. Anh chị em nghệ sĩ cùng nhau tổ chức đêm nhạc Lam Phương tại nhà hàng Majestic để hỗ trợ anh về cả hai mặt tinh thần và tài chánh. Tôi bay sang góp mặt, anh chỉ nắm tay tôi ứa nước mắt mà nói không thành câu.

Vài hôm sau, người đàn bà đang chung sống với anh, cũng lặng lẽ chia tay, bỏ lại anh trên chiếc xe lăn, bơ vơ trong căn nhà vắng, để ngày nay anh thấm thía với nỗi quạnh hiu như những lời ca tiên tri chính anh đã viết :

“Sớm mai thức giấc / Nhìn quanh một mình !”

 Thời gian trôi qua quá nhanh ! Mới đó mà Lam Phương “nhìn quanh một mình” đã 11 năm ! Anh đã cố gắng vượt bậc, cố giữ tâm hồn thư thái và thể dục đều đặn. Nhờ vậy thỉnh thoảng anh có thể tạm bỏ xe lăn, đứng dậy chống gậy đi một vòng quanh nhà.

Nỗi buồn lớn nhất của anh từ ngày gặp nạn là không còn đánh đàn và viết nhạc được nữa bởi một nửa thân thể vẫn hoàn toàn bất động, mặc dầu trí óc anh rất sáng suốt. (Nguyễn Ngọc)

~~~~<❤️>~~~~

 Lam Phương -Trăm nhớ ngàn thương

=◊◊◊=

Nhạc sĩ Lam Phương thời trẻ

 Cuốn Sách về nhạc sĩ Lam Phương với tựa đề: Trăm nhớ ngàn thương, do Nguyễn Thanh Nhã chấp bút theo tài liệu của gia đình, vừa ra mắt nhân 70 năm làm nghề của ông (Phanbook & Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành). Tác phẩm được thực hiện trong thời gian ông điều trị tại Mỹ sau một cơn tai biến, không thể đối thoại được. Cuốn sách như những thước phim quay chậm về cuộc đời tác giả tiêu biểu của âm nhạc Sài Gòn giai đoạn 1954 - 1975. 

Kỳ một: Ký ức quê nghèo

Đó là một buổi sáng mùa thu của năm 1947. Phùng dậy sớm hơn thường lệ. Ngoài sông, tiếng chuông chùa thổn thức từng vạt sương đêm. Chú bé nhìn bóng má theo ngọn đèn leo lét in lên vách thưa, rồi nhìn lại gương mặt của từng đứa em thơ đang ngủ say. Chỉ lát nữa thôi, chú bé 10 tuổi sẽ rời bỏ quê hương Rạch Giá để lên Sài Gòn.

Chuyến xe đò lên phố thị trong buổi tù mù sáng, khi sương sớm còn chưa tan trên những khoảng sông và đầm lầy, mở ra cuộc đời tha phương đầy đa đoan, lắm thăng trầm.

Có một dòng sông chảy ngang phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Một bà má nghèo tảo tần nuôi sáu đứa con nơi con nước chia đôi mở hai hướng cảnh quan chơi vơi của vùng ngã ba sông, gọi là ấp Đầu Voi. Đối diện căn nhà tồi tàn trong xóm nhỏ là ngôi cổ tự Thập Phương cứ mỗi sáng tinh mơ lại ngân vang tiếng chuông mõ u trầm.

Nhạc sĩ Lam Phương năm ba tuổi. Ảnh tư liệu gia đình.

"Với nhiều người dân quê, tiếng chuông chùa làm mất giấc ngủ sau một ngày vất vả ngoài đồng. Người ta khó chịu dữ lắm! Còn với tôi, tôi yêu tiếng chuông chùa Thập Phương. Tôi không thể hiểu vì sao còn rất nhỏ nhưng tôi đã cảm nhận tiếng chuông đó rất buồn!

Sau này, năm 1957 tôi đã viết bài Chiều tàn chỉ vì nhớ tiếng chuông xưa".Tiếng chuông mỗi sáng cứ thao thức hoài trong tâm hồn cậu trên những dặm đường gió bụi về sau. Đó là thanh âm đồng vọng buồn bã, xa vắng mà da diết nhất, thức dậy một vùng quê nhà yêu thương trong tâm hồn một người tự nhận mình là "dân quê".

Ca từ của ca khúc này đẹp như bài thơ và một lần nữa kiếp nghèo, đời viễn xứ ám ảnh nét nhạc Lam Phương:

 

Chiều tàn


Làn khói ấm mái tranh hiền bao niềm thương
Chiều ơi, mây bơ vơ từ ngàn hướng
Lạc loài nơi chốn quê
Gió không biên cương lạc đường về
Tràn bao ngõ tối qua mảnh lá nghe thở than
Gió thương những mảnh tình nghèo nàn
Cuộc đời đen tối mong hạnh phúc khi chiều tan
Đường gập ghềnh lạnh lẽo
Quanh co đường về khắp nẻo xa xôi
Có bóng con đò chiều mơ
Khách qua đò làm thơ
Êm trôi giữa trời nước bơ vơ
Nhẹ nhàng thuyền cập bến
Dòng sông nước hững hờ
Nghe không gian như thờ ơ
Có bóng cô em thẫn thờ
Nhìn áng mây trôi
Lắng nghe chuông chiều
Mà lòng thương nhớ ai nhiều"

Lâm Đình Phùng sinh ngày 20/3/1937. Ông lấy bút danh Lam Phương để làm nhẹ đi hai chữ Lâm và Phùng trong họ tên. Thân phụ của Lam Phương là ông Lâm Đình Chất, người Hoa, và thân mẫu là bà Trần Thị Nho, một thôn nữ nghèo.

Song thân của ông có sáu người con và theo cách gọi miền Nam thì Lâm Đình Phùng là anh Hai, tức là con trai lớn nhất trong nhà. Con đông, gia cảnh túng bấn, người cha bỏ xứ tìm về Sài Gòn từ khi Lam Phương còn rất nhỏ.

Lúc đầu, người cha thỉnh thoảng về thăm nhà, sau thưa dần. Mỗi chuyến ghé thăm, thân phụ để lại cho thân mẫu Lam Phương một đứa em. Đến cô em út Lâm Thị Minh Khai thì gia đình nhỏ ở Rạch Giá không còn giữ chân ông được nữa!

Thiếu đi trụ cột, má của cậu bé Phùng bắt đầu tất tả xuôi ngược trên sông, lúc làm mướn, khi bán buôn để kiếm chén cơm cho bầy con dại. Vùng đồng bằng sông Cửu Long vào thập niên 1930 xảy ra một cuộc khủng hoảng kinh tế và lương thực, một phần bởi những chính sách điền thổ thời thực dân làm thay đổi cảnh quan môi trường và mưu sinh của dân địa phương.

Đại cảnh đó ít nhiều làm tan đàn xẻ nghé nhiều gia đình nghèo. Người nông dân phải lâm vào cảnh mưu sinh khó nhọc, trôi dạt. Gia đình chú bé Phùng cũng vậy. Người mẹ tảo tần tìm cái ăn giữa buổi loạn ly đã khó, nói chi cho con đặt chân đến những ngôi trường Tây trong vùng. Phùng và các em dù rất khát khao đi học cũng khó lòng được thỏa nguyện.

 Rất may cho chú bé Phùng, một người dượng phía ngoại là thầy giáo Phan Văn Mỹ từng dạy tại trường Tiểu học Vĩnh Lạc, Rạch Giá đã bảo bọc cho chú đi học "đặng biết đọc biết viết với thiên hạ". Nhờ vậy mà Phùng đã có thể học chữ một cách bài bản.

Chân dung ngày thơ ấu của người nhạc sĩ tài hoa được những người bạn cũ ở trường làng Vĩnh Lạc vẽ lại khá khép kín: Trò Phùng ít sôi nổi, thường ngồi một mình nhìn mây bay ngoài cửa sổ lớp. Dáng vẻ trầm ngâm như một người tu hành. Mỗi ngày đến trường, trò Phùng mặc độc chiếc áo rằn ri ngắn tay và chưa bao giờ có thể hiện gì về năng khiếu văn nghệ...

Nhạc sĩ Lam Phương bên mẹ. Ảnh:Gia đình cung cấp.

Càng lớn, Phùng càng nhận ra, dòng sông không chảy trọn vẹn theo chiều. Có bao nhiêu đoạn rẽ trên một dòng sông là có bấy nhiêu bến bờ của ly biệt... Đó là lý do một tuần trước khi lên chuyến xe đò tha phương, chú bé đi bộ khắp xóm thôn, nhìn lại hình ảnh mười tám mái tranh bệ rạc xóm nghèo và thuộc đến từng vệ cỏ...

Có lẽ, Phùng đã dự cảm về ngày phải "gom góp yêu thương quê nhà" giữa trời thu Rạch Giá bàng bạc mây...Những hồi tưởng ấy khá chính xác. Đó chính là tâm trạng buồn tủi và đơn độc của một cậu học trò sớm biết lo âu về tương lai, bởi gia đình nhỏ thiếu vắng vai trò trụ cột của người cha. Ngày tháng không trọn vẹn hạnh phúc, bao nỗi cơ cực đã phủ nỗi buồn lên đôi mắt chú bé ở vùng sông nước nghèo nàn.

Mỗi chiều, sau những giờ phụ mẹ ẵm em, làm việc nhà, hay rảnh rỗi lúc tan trường, Phùng lại ra khúc sông Đầu Voi ngắm vạt lục bình lững lờ, dự cảm về một ngày mai trôi nổi.

Và trong tâm trí người nhạc sĩ duy cảm, mãi về sau, luôn hiện hữu hình ảnh người mẹ chịu thương chịu khó gánh vác mọi việc để nuôi sáu miệng ăn. Trong một cuộc phỏng vấn sau này, ông nhắc lại câu nói giản dị quen thuộc: Tôi thương má tôi lắm! Má tôi mơ ước cái nhà che nắng mưa. Chỉ có vậy mà tôi làm cật lực, làm chết bỏ để có tiền mua nhà cho má.

Về sau, khi đã kiếm được chút vốn liếng, bà Nho mới mở được một sạp hàng tại nhà. Điều kiện kinh tế ổn định hơn, bà nhận ra con trai mình không thể học mãi ở trường làng cho biết con chữ rồi chỉ để trở về gốc gác của một tá điền theo kiểu "con sãi ở chùa thì quét lá đa".

Đến lúc nó cần bước ra cuộc đời rộng hơn. Sài Gòn là điểm đến với nhiều hy vọng đổi đời. Bà còn có hy vọng mong manh rằng, ngày nào đó, trong dòng đời tấp nập của phố thị, đứa con trai sẽ tìm thấy cha mình.

 Kỳ hai : Thất bạn đầu đời

 Thời trẻ, nhạc sĩ Lam Phương vay bạn 200 đồng in các tờ nhạc ông viết rồi tìm đến các tiệm để tự phát hành song đều bị từ chối. Hồi ức buồn của đời bán nhạc :"Cay đắng lắm! Người ta nói thẳng: Tôi không biết cậu là ai. Rồi đến cái tiệm bán tờ nhạc ở lề đường cũng nói qua loa: Cậu cứ để đó, bán được bao nhiêu trả tiền bấy nhiêu. Tôi nghĩ về khoản nợ 200 đồng bạc đi mượn mà xót xa".

Đó là những lời tâm sự về hoàn cảnh tự mình phát hành tờ nhạc mà đến cuối đời Lam Phương vẫn không quên. Theo đó, Lam Phương đã mượn 200 đồng từ một người bạn học khá giả rồi tự liên hệ nhà in để in bản Chiều thu ấy, rồi tự đi phát hành trên khắp phố phường Sài Gòn.

Thất bại đầu đời với số nợ 200 đồng, Lam Phương tìm về ký ức quê hương như một điểm bấu víu cho cõi lòng bẽ bàng của ngày đầu sáng tác.

 

Lam Phương thời mới viết nhạc. Ảnh tư liệu gia đình.

Thời điểm những năm 1950, miền Nam vẫn còn bình yên. Và như trước cơn bão lớn của các chiến sự sẽ nổ ra nhanh chóng sau đó, sự yên ả vốn có của miền Nam tiếp tục đi vào nhạc Lam Phương. Giai đoạn này Lam Phương vẫn tiếp tục sáng tác, lại mượn tiền bạn đi in, đi làm thuê lao động chân tay để có tiền trả nợ, rồi lại tiếp tục đi bán nhạc lẻ...

Đỉnh điểm của món nợ vay lên đến 600 đồng! Nếu lấy đồng tiền Đông Dương làm thước đo giá trị cho những năm 1950 khi đồng tiền này còn lưu hành, thì qua lời kể của nhà văn Vũ Bằng trong cuốn Bốn mươi năm nói láo sẽ thấy đây là số tiền không nhỏ.

Thời điểm này, Vũ Bằng viết, tờ Vịt Đực của ông vì châm chọc vua Bảo Đại mà phải nhận trát hầu tòa. Muốn phản tố phải nộp cho tòa án 1.000 đồng mà cả tòa soạn báo Vịt Đực đã không thể nào xoay xở được dẫn đến việc tờ báo phải đóng cửa.

Nhưng với bầu nhiệt huyết lạ lùng, Lam Phương vẫn đi vay tiền để in tờ nhạc, những mong có ngày sẽ thu được số tiền trả nợ. Năm 1954, trước thời điểm xảy ra sự kiện Hiệp định Genève, Lam Phương đánh dấu sự nghiệp âm nhạc của mình bằng bản Khúc ca ngày mùa.

 

Ngay khi bản nhạc xuất hiện, Lam Phương trở thành làn gió mới của âm nhạc miền Nam. Bản Khúc ca ngày mùa được báo chí Sài Gòn miêu tả là đã đưa tên tuổi Lam Phương từ bóng tối ra khung trời rực rỡ. Độ phổ biến của bài hát được ghi nhận vào năm 1954 là lan tỏa từ thành thị đến nông thôn, từ sân trường đến trại lính, từ công xưởng đến những người bán hàng rong vỉa hè...

Năm 1956, thành phố Sài Gòn đón những đợt di cư mới từ miền Bắc. Trong số đó, giới nghệ sĩ tinh hoa và trung lưu mới nhập cư đã góp phần tạo nên một khí hậu văn hóa khác biệt, một thị trường tiêu thụ sản phẩm văn hóa sôi động, từ sách báo xuất bản đến mỹ thuật, âm nhạc.

Từ một chàng trai vô danh, Lam Phương được các nhà xuất bản chào đón bằng những bản hợp đồng in nhạc để có bản quyền in Khúc ca ngày mùa. Lam Phương không giấu được niềm xúc động đến rơi nước mắt, như lời mô tả trên báo Sài Gòn Mới số ra ngày 26/3/1956 của ký giả Ngọc Huyền-Lan thì bản nhạc đã được tái bản tới lần thứ bảy. Chỉ với Khúc ca ngày mùa, ký giả này không ngại khẳng định, Lam Phương đã sánh ngang với các nhạc sĩ tiền bối mà tên tuổi đã thành danh từ 20 năm trước.

Số nợ 600 đồng với người bạn học đã được Lam Phương trả lại bằng tiền bán bản quyền Khúc ca ngày mùa.

Cũng trong giai đoạn này, chàng nhạc sĩ trẻ được thêm động lực, tiếp tục viết những bản nhạc mới, ghi đậm dấu ấn một nhạc sĩ miền Nam trong lòng công chúng, với các tác phẩm mang tình tự quê hương: Hương thanh bình, Mùa hoa phượng, Trăng thanh bình, Nhạc rừng khuya...

Sách "Lam Phương - Trăm nhớ ngàn thương". Ảnh: Phanbook.

 Tuy những bản nhạc ấy ít nổi tiếng hơn Khúc ca ngày mùa, nhưng là bước đệm quan trọng để khởi sự định hình một tên tuổi trong lòng người mê nhạc Sài Gòn. Đó cũng là nền tảng để Lam Phương giữ nhịp sáng tác đều đặn để rồi một ngày, những lưu dân, những người nhập cư nơi phố thị thấy tiếng lòng của mình đã được người nhạc sĩ trẻ cảm thấu và phổ nên giai điệu đầy cảm động. Ca khúc Kiếp nghèo ra đời.

Kỳ ba: Thoát nghèo nhờ 'Kiếp nghèo'

Chỉ với bài "Kiếp nghèo", nhạc sĩ Lam Phương mua được ngôi nhà cho mẹ trị giá 40 cây vàng vào thập niên 1960 đưa nhạc sĩ Lam Phương thoát nghèo.

Lam Phương mới có vài nhạc phẩm cũng có chút danh tiếng nhưng về thu nhập cũng chưa đáng là bao so với đời sống ở phố thị đắt đỏ. Trong sinh hoạt thường nhật, tuy là một nghệ sĩ, nhưng Lam Phương khá chừng mực trong chi tiêu. Một phần vì tuổi còn trẻ, phần khác vì xuất thân quê kiểng, Lam Phương không hút thuốc lá, không uống rượu hay tụ tập ở các tụ điểm, quán bar như các nghệ sĩ đương thời.

Nhạc sĩ Lam Phương thời trẻ. Ảnh gia đình cung cấp.

 Giữa năm 1954, những cơn mưa Sài Gòn trĩu nặng phủ kín phố phường, Đa Kao bị ngập úng nặng nề. Dòng kênh Nhiêu Lộc nước lé đé xóm Vạn Chài vốn chỉ được cơi nới bằng gỗ tạp, tạm bợ trên kênh. Lam Phương phờ phạc người, đạp xe về xóm trọ, thấy trước hiên nhà, má mình đang loay hoay hứng nước mưa.

Căn gác ọp ẹp hiện ra trước mắt người nhạc sĩ trẻ tuổi như một cảnh sống tối tăm của những phần đời mong manh, trôi nổi. Lam Phương đã nhẩm những nốt đầu tiên trong bài Kiếp nghèo. Có thể nói, đời sống khốn khó cơ cực từ khi mới lọt lòng cho đến lúc tha phương cầu thực đã được chàng nhạc sĩ nghèo viết xuống một cách giản dị và tự nhiên trên một giai điệu duy tình:

Đường về đêm nay vắng tanh, rạt rào hạt mưa rớt nhanh
Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi, mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh
Lầy lội qua muôn lối quanh, gập ghềnh đường đê tối tăm
Ngập ngừng dừng bên mái tranh nghe trẻ thơ thức giấc bùi ngùi.


Êm êm tiếng hát ngân nga ôi lời mẹ hiền ru thiết tha
Không gian tím ngắt bao la như thương đường về quá xa
Mưa ơi có thấu cho ta lòng lạnh lùng giữa đêm trường
Đời gì chẳng tình thương không yêu đương.


Thương cho kiếp sống tha hương thân gầy gò gởi cho gió sương
Đôi khi muốn nói yêu ai nhưng ngại ngùng đành lãng phai
Đêm nay giấy trắng tâm tư gởi về người chốn mịt mùng
Đời nghèo lòng nào dám mơ tình chung.


Trời cao có thấu cúi xin người ban phước cho đời con
Một mái tranh yêu, một khối tình chung thủy không hề phai
Và một ngày mai mưa không nghe tiếng khóc trong đêm dài
Đây cả nỗi niềm biết ngày nào ai thấu cho lòng ai.

Lần đầu tiên nghe Kiếp nghèo của Lam Phương - thế hệ nhạc sĩ đàn em và là học trò, nhạc sĩ Lê Thương đã phải thốt lên: "Người ta chỉ có thể dạy nhau kỹ thuật âm nhạc. Không ai có thể dạy nhau nghệ thuật sáng tác được. Cảm xúc mới là thứ quan trọng nhất để làm nên bản nhạc".

Hồi tưởng lại những ký ức xót xa, Lam Phương kể về tuổi mười bảy mưa chan nước mắt:

"Tôi viết bài Kiếp nghèo trong hoàn cảnh hoàn toàn thật của tôi lúc đó. Viết bằng rung động chân thành, và lần đầu tiên tôi viết bài Kiếp nghèo bằng những dòng nước mắt... Lúc đó tôi còn trẻ lắm, khoảng 1954, sau khi tôi bán được bài Trăng thanh bình đầu năm 1953, tôi để dành được một số tiền, mua một chiếc xe đạp để di chuyển đến trường học.

Nhà tôi ở Đa Kao. Thường thường muốn về Đa Kao phải đi qua con đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ). Con đường Phan Thanh Giản cây cối um tùm. Khoảng ngang trường Gia Long không có một căn nhà nào... Đêm đó, tôi chẳng may gặp một trận mưa rất to, không có nơi để trú mưa, đành phải đi dưới mưa để tìm 'thú đau thương'.

Lúc đó, tôi thấy mình thật cô đơn, thấy mình bé nhỏ và hình như bị đời ruồng rẫy đến vô tình. Tôi đi mãi cho tới khi về nhà, không kịp thay quần áo, ôm cây đàn và cứ thế viết về kiếp nghèo, về phận bạc của mình".

Lam Phương mất một tuần để chỉnh sửa lời và giai điệu cho Kiếp nghèo trước khi công bố ra công chúng thông qua hợp đồng xuất bản tờ nhạc với Nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam. Đây là nhà xuất bản do ông Tăng Duyệt, một người Huế gốc Quảng Đông, Trung Quốc sáng lập và làm chủ; có chủ trương được ghi trang trọng ở các bìa 4 của tờ nhạc:

"Để biểu dương một nguồn âm nhạc Việt Nam mới - trên nền tảng văn hóa và nghệ thuật - Nhà xuất bản Tinh Hoa đã và sẽ lần lượt trình bày những nhạc phẩm chọn lọc giá trị nhất của các nhạc sĩ chân chính với một công trình ấn loát mỹ thuật để biếu các bạn yêu âm nhạc góp thành một tập nhạc quý".

Và tờ nhạc Kiếp nghèo năm 1954 đã là một "công trình ấn loát mỹ thuật" với lối vẽ minh họa lập thể đầy sáng tạo của một trong những họa sĩ tài hoa bậc nhất miền Nam bấy giờ: họa sĩ Duy Liêm.

Một trong những ca sĩ ăn khách bậc nhất trên trang bìa tờ nhạc Tinh Hoa Miền Nam chính là ca sĩ Thanh Thúy, người đầu tiên thể hiện ca khúc Kiếp nghèo với tiếng hát liêu trai, khiến người nghe có thể bật khóc được nếu nghe trong một quán trọ giữa đêm khuya thanh vắng. Ca sĩ "tiếng sầu ru khuya" Thanh Thúy đưa Kiếp nghèo nhanh chóng phủ khắp Sài Gòn thông qua sóng phát thanh và dĩa nhựa của hãng Shotguns. Chưa dừng lại ở đó, giọng ca Thanh Tuyền tiếp nối đàn chị đưa bản nhạc trở thành bài hát thịnh hành bậc nhất những năm 1960 ở miền Nam.

Lam Phương tâm sự, chỉ với bài Kiếp nghèo, ông đã mua được ngôi nhà khang trang cho má mình ở cư xá Lữ Gia. Gia đình nhạc sĩ tiết lộ giá trị ngôi nhà thời điểm đó là 40 cây vàng. Năm 1960, "nhạn trắng Gò Công" - ca sĩ Phương Dung - đi hát ở mỗi phòng trà được cát-xê là 35.000 đồng/tháng, trong khi vàng chưa tới 30.000 đồng/cây. Trong khi đó, với Kiếp nghèo, Lam Phương thu tiền bán bản quyền lên tới 1.200.000 đồng để mua nhà cho má và các em.

Kiếp nghèo đã đưa nhạc sĩ nhập cư Sài Gòn thoát nghèo!

Kỳ 4: Thành phố buồn

Nhờ tiền tác quyền từ bài "Thành phố buồn", nhạc sĩ Lam Phương mua biệt thự 300 m2 ở quận 10 - hiện vẫn là tài sản gia đình ông.

Bản tình ca buồn về Đà Lạt trở thành best-seller

So với các nhạc sĩ cùng thời, Lam Phương có sáng tác về Đà Lạt hơi muộn. Trước đó, khán thính giả từng say đắm với chàng thanh niên 18 tuổi Từ Công Phụng ôm đàn guitar thùng và nghêu ngao Bây giờ tháng mấy.

Đà Lạt đi vào nhạc họ Từ đẹp đến quên sự hiện diện của thời gian. Người ta cũng biết rằng, Phạm Duy đưa Đà Lạt vào Cỏ hồng đầy quyến rũ. Có thể kể thêm những tên tuổi lớn khác như Trịnh Công Sơn, Hoàng Nguyên, Lê Uyên Phương... mà gần như các sáng tác đó đều hoàn hảo, vẽ ra một thành phố lãng mạn, giàu hoài niệm.

 

Thành phố buồn của Lam Phương ra đời năm 1970, khi nhạc sĩ theo đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương của quân đội đi trình diễn ở Đà Lạt. Bài hát không có từ nào nhắc đến Đà Lạt mà chỉ bằng hình ảnh lãng đãng khói sương, đường quanh co quyện gốc thông già, hay con đường ngày xưa lá đổ... mà khói sương Đà Lạt được gọi về thật nhiều trong tâm tưởng người nghe.

Tất cả hình ảnh đó được dùng để kể câu chuyện đúng phong cách Lam Phương: Lồng vào một chuyện tình tan vỡ (motif nhạc tình buồn của dòng bolero bình dân thịnh hành thời điểm này)!

Người ta bắt gặp sự đồng cảm khi nghe Thành phố buồn có lẽ vì khung cảnh Đà Lạt là thiên đường cho tình yêu, là tìm chốn êm đềm. Để rồi cũng chính đô thị khói sương ấy lại khắc khoải buồn trong bức tranh tiễn biệt.

Có nhiều dị bản của Thành phố buồn mà tựu trung ở ca từ "trốn" hay "chốn" cho một vế tiếp theo đầy ngậm ngùi "... phong ba, em làm dâu nhà người". Các ca sĩ khi hát thường phải sử dụng ngữ âm miền Bắc nên phụ âm "tr" thành "ch".

Đây là một điểm sai lầm so với nguyên bản của tác giả. Tờ nhạc Thành phố buồn in năm 1970 do Sống giữ bản quyền, được Lam Phương viết là "trốn phong ba". Tức là, người con gái trong ca khúc né tránh cơn bão lòng, lánh xa giông bão tình yêu, để chọn một bến đỗ có bề an phận.

Cũng như Bây giờ tháng mấy của Từ Công Phụng, Thành phố buồn của Lam Phương được Đài Phát thanh Đà Lạt phát sóng lần đầu tiên. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Thành phố buồn lan tỏa khắp miền Nam.

Và một lần nữa, theo khói sương u hoài của cuộc tình buồn trong tưởng tượng, chỉ với một ca khúc, tài khoản trong nhà băng của Lam Phương tăng đến mức khó tưởng tượng.

"Ông cho biết, bài hát trên không hẳn viết cho một nhân vật cụ thể nào như nhiều người đã suy diễn và thêu dệt. Nhưng ‘số lượng xuất bản rất cao’ và doanh thu bài hát này vô cùng lớn, đó là điều được báo chí Sài Gòn đương thời tính toán được: khoảng 12 triệu đồng bản quyền, tiền Việt Nam Cộng hòa (hồi suất chính thức năm 1970 là một USD = 275 đồng, vậy 12 triệu đồng tương đương 432.000 USD) - Con số này quá lớn với một ca khúc!

Để dễ hình dung, một chiếc xe hơi hiệu La Dalat của hãng Citroen sản xuất tại miền Nam Việt Nam vào năm 1971 có giá khoảng trên dưới 650.000 đồng" (Theo Nguyễn Vĩnh Nguyên viết trong Đà Lạt, một thời hương xa, NXB Trẻ, 2017)

Đối chiếu các dữ liệu từ gia đình nhạc sĩ hiện còn lưu trữ, phù hợp với thời điểm 1971 vợ chồng nhạc sĩ Lam Phương mua căn biệt thự gần 300 mét vuông ở số 42 đường Nguyễn Lâm, quận 10, Sài Gòn. Ngôi nhà này vẫn còn là tài sản của người thân gia đình nhạc sĩ Lam Phương.

Thành phố buồn không chỉ xuất hiện trên truyền hình, sóng phát thanh hay trên tờ nhạc mà đã trở thành bài hát quen thuộc của Ban Kịch Sống. Ký ức của người Sài Gòn xưa đi coi kịch của Ban Kịch Sống vẫn còn lưu giữ những kỷ niệm đặc biệt với Thành phố buồn. Như một bài báo của tác giả Thanh Thủy, có lẽ là một khán giả mê kịch vào thời điểm đó, đã thuật lại:

"Thời ấy, cứ mỗi tối thứ năm hàng tuần, Đài Truyền hình Sài Gòn có tiết mục thoại kịch và những vở kịch của Ban Kịch Sống của Túy Hồng bao giờ cũng thu hút nhiều người xem. Thời ấy truyền hình còn hiếm, người ta kéo nhau tới nhà những người có tivi để xem kịch.

Trong nhà, cửa ra vào, ô cửa sổ... đều chật cứng người xem. Tôi còn nhớ, khi bài hát Thành phố buồn của Lam Phương được hát dìu dặt trong suốt một vở kịch của Túy Hồng phát trên truyền hình. Sáng hôm sau bài hát ấy bán đắt như tôm tươi, chàng học sinh, sinh viên nào cũng muốn mua bài Thành phố buồn về để trên kệ sách" (Sách đã dẫn).

Vở kịch tác giả Thanh Thủy nhắc đến chính là Phi vụ cuối cùng nói về binh chủng Không quân mà nghệ sĩ kịch Túy Hồng đã nhắc đến.

 Ca sĩ thể hiện bài hát này xuất sắc chính là Chế Linh. Cùng với nhạc sĩ Từ Công Phụng, ca sĩ Chế Linh là giọng ca người Chăm được thính giả miền Nam những năm đầu thập niên 1970 ái mộ. Ông là một trong "tứ đại danh ca Sài Gòn" cùng với Nhật Trường (Trần Thiện Thanh), Duy Khánh và Hùng Cường.

Thành phố buồn đã đại chúng đến mức có thể người nghe không biết tên tác giả, nhưng chỉ ôm cây guitar thùng và đi một đoạn giai điệu theo lối slow rock, âm giai Mi thứ (Em), nhiều người sẽ nhận ra. Hiện nay bản nhạc đã qua nửa thế kỷ này vẫn liên tục được các ca sĩ trong và ngoài nước biểu diễn.

Còn sống, còn viết. Và viết để được sống lâu hơn là hai vế của mệnh đề mà người nghệ sĩ theo đuổi trong sáng tác. Nếu ứng điều này vào Lam Phương và chỉ dùng Thành phố buồn để dẫn chứng cho lập luận trên, Lam Phương sẽ sống mãi cùng những người yêu Đà Lạt, yêu âm nhạc!

 

Thành Phố Buồn

Tác giả Lam Phương

✧✧

Thành phố nào nhớ không em?
Nơi chúng mình tìm phút êm đềm
Thành phố nào vừa đi đã mỏi
Đường quanh co quyện gốc thông già

Chiều đan tay nghe nắng chan hòa
Nắng hôn nhẹ làm hồng môi em
Mắt em buồn trong sương chiều..
Anh thấy đẹp hơn ..

Một sáng nào nhớ không em?
Ngày chủ nhật ngày của riêng mình..
Thành phố buồn nằm nghe khói tỏa
Người lưa thưa chìm dưới sương mù


Quỳ bên nhau trong góc giáo đường
Tiếng kinh cầu dệt mộng yêu đương
Chúa thương tình, sẽ cho mình mãi mãi gần nhau.

Rồi từ đó vì cách xa duyên tình thêm nhạt nhòa
Rồi từ đó chốn phong ba, em làm dâu nhà người


Âm thầm anh tiếc thương đời,
Đau buồn em khóc chia phôi
Anh về gom góp kỷ niệm tìm vui.

Thành phố buồn, lắm tơ vương ..
Cơn gió chiều lạnh buốt tâm hồn
và con đường ngày xưa lá đổ..
Giờ không em sỏi đá u buồn..


Giờ không em hoang vắng phố phường..
Tiếng chuông chiều chậm chậm thê lương
Tiễn đưa người quên núi đồi,
quên cả tình yêu..(3 x)

Cuộc hôn nhân với Túy Hồng

Nhạc sĩ Lam Phương dạy nhạc, hát cho Túy Hồng và nảy nở tình cảm với học trò dù anh trai cô chỉ muốn em theo công việc kinh doanh.

Cơn say màu hồng và danh vọng nhiều người khao khát

Một sáng Sài Gòn đầu năm 1959, Lam Phương đến tòa soạn báo Vui Sống, vai đeo cây guitar và một túi xách nhỏ chứa đầy thư hâm mộ. Như bao lần quen thuộc mỗi khi có bài hát mới, chàng nhạc sĩ trẻ lại dành cho báo chí buổi phỏng vấn, trả lời những thắc mắc của người ái mộ.

Lam Phương và người vợ đầu tiên - Túy Hồng -

trong căn nhà mua được từ bán bản quyền bài hát "Thành phố buồn".

Hiện ngôi nhà này ở quận 10 (TP HCM), đang được gia đình Lam Phương sử dụng. Ảnh gia đình cung cấp. 

Theo đề nghị của ký giả Ngọc Huyền - Lan, Lam Phương ôm guitar hát bản nhạc mới nhất của mình là Kiếp ve sầu. Đó là bản rhumba rất buồn về thân phận và cuộc đời người nghệ sĩ lấy lời ca tiếng hát mua vui cho đời, như một kiếp ve ngắn ngủi.

Vốn thân quen với Lam Phương và bằng kỹ năng quan sát của nghề báo, Ngọc Huyền - Lan nhanh chóng phát hiện ra túi thư của khán giả hâm mộ. Khai thác chuyện tình cảm của nghệ sĩ là tài nguyên bất tận để câu khách nên cơ hội này khó bỏ qua với một nhà báo chuyên viết về giới văn nghệ như Ngọc Huyền - Lan.

Và bằng giọng văn hơi hướm "lá cải" của báo chí văn nghệ đương thời, Ngọc Huyền - Lan cho thấy mấy chi tiết khá quan trọng: Lam Phương đang yêu. Người yêu của Lam Phương rất ghen. Thư hâm mộ Lam Phương từ khắp nơi gửi về, cứ một tuần lại đầy thêm một túi xách. Lam Phương và người yêu sắp kết hôn. Người sắp trở thành "Lam Phương phu nhân" ấy là nghệ sĩ kịch nghệ Túy Hồng, lừng danh không kém trong giới sân khấu.

Đặc biệt, trong bài báo Lam Phương kể chuyện tình nghệ sĩ của mình đã nhắc đến thông tin quan trọng: "Cha mẹ chúng em đã hoàn toàn tán đồng, chỉ chờ chúng em có tiền là gửi thiệp hồng mời anh uống rượu". Lần đầu tiên, thông tin về người cha - cụ ông Lâm Đình Chất được nhắc đến. Chi tiết này cho thấy Lam Phương vẫn có mối quan hệ nồng ấm với thân phụ mình trong thời gian ở Sài Gòn, chứ không phải người cha ấy bỏ đi biệt tăm tích như lời thêu dệt lâu nay trên miệng đời. Năm 1989, cụ Lâm Đình Chất qua đời và được an táng tại Củ Chi.

Kịch sĩ Túy Hồng. Ảnh gia đình cung cấp.

Tên thật của Túy Hồng là Trương Ánh Tuyết, sinh năm 1940 và chỉ là một nữ sinh bình thường ở tỉnh Bình Dương; gia đình không có truyền thống văn nghệ. Cha mất sớm, Trương Ánh Tuyết sống với anh trai quyền huynh thế phụ.

Như một duyên lành với Lam Phương, khoảng năm 1955, công việc kinh doanh xe hơi của anh trai Ánh Tuyết khá lên. Người anh đưa em gái về Sài Gòn cho ăn học. Tình bạn của Lam Phương với anh trai Ánh Tuyết đã giúp cho mối tình của cặp đôi đẹp trong giới sân khấu - ca nhạc được nảy nở và tác thành.

Lam Phương đa tình, lãng tử mới có chút danh tiếng nên bắt gặp ánh mắt trong trẻo, nụ cười hồn hậu của thiếu nữ Bình Dương liền đem lòng cảm mến. Về phần mình, cô nữ sinh nhỏ cũng rung động đầu đời với người thanh niên viết nhạc, nuôi giấc mộng thành nhạc sĩ.

Ngày đầu đến với nhau, quan hệ của Lam Phương - Túy Hồng thuần túy tình thầy trò. Lam Phương dạy nhạc, dạy hát còn Túy Hồng muốn theo con đường nghệ thuật, bất kể sự cấm cản của người anh trai chỉ mong em gái mình theo hướng kinh doanh.

Những năm đầu thập niên 1950, sân khấu kịch khá phát triển ở cả hai miền Nam - Bắc. Tại Sài Gòn, kịch dễ có đất diễn hơn khi đầu thế kỷ 20, loại hình "cải cách ca ra bộ" đã phát triển thành "tuồng tích sánh văn minh".

Tức là những bản ca tài tử đã được sân khấu hóa bằng kịch bản cải lương làm say đắm giới mộ điệu. Thoại kịch cũng theo đó dần trở nên quen thuộc với khán giả với sự xuất hiện của ban kịch đầu tiên của người Việt ở Sài Gòn là Ban Kịch Dân Nam của ông bầu Anh Lân.

Túy Hồng và Lam Phương

Ngày đầu mới thành lập, Ban Kịch Dân Nam chỉ có ba diễn viên là Tuyết Vân và hai mẹ con Túy Hoa, Túy Phượng. Có thể đó là lý do khi gia nhập đoàn kịch sau khi trúng tuyển cuộc thi tuyển chọn diễn viên, Trương Ánh Tuyết là lấy nghệ danh là Túy Hồng, nghĩa là cơn say màu hồng. 

Những ngày đầu lên sân khấu Dân Nam, Túy Hồng vẫn chưa tạo được cơn say nào. Tình cảnh này hệt như Lam Phương thời mới viết ca khúc Chiều thu ấy. Cô nghệ sĩ trẻ loanh quanh với các vai phụ trong các vở đoản kịch. Cho tới khi ông bầu Anh Lân mời Kim Cương, là một nữ nghệ sĩ cải lương về đầu quân cho ban kịch và trình diễn vở Áo người trinh nữ.

Trong vở này, Túy Hồng đóng vai phụ, Kim Cương vai chính. Vở diễn đã lấy hết nước mắt người xem.

Một trong những giai đoạn hạnh phúc nhất đời Lam Phương chính là cuộc sống hôn nhân với Túy Hồng. Đôi vợ chồng mới cưới có tất cả những gì mà người đời mơ ước: danh vọng, tiền tài, sự nổi tiếng và cả cuộc sống yên bình bên con thơ...

Quan trọng hơn tất thảy, đám cưới năm 1959 của đôi nghệ sĩ Lam Phương - Túy Hồng có sự hiện diện của cụ ông Lâm Đình Chất và cụ bà Trần Thị Nho - song thân của nhạc sĩ Lam Phương. Gia đình nhỏ trở thành một dịp để hạnh ngộ một gia đình lớn nhiều tháng năm ly tan trôi nổi.

Nhạc sĩ Lam Phương

 

Hình Internet

Hồng Anh st tổng hợp

 

Xem thêm...

Hồi ức khi xem lại phim Dr Zhivago

Hồi ức khi xem lại phim Dr Zhivago

Phượng Vũ

Related image 

Một buổi chiều ở Walmart, khi xếp hàng chờ trả tiền, nhìn lên quầy tạp chí cạnh bên, tôi bất ngờ đọc thấy tựa đề bài báo in lớn: “Omar Sharif - nam diễn viên nổi tiếng với vai diễn chính trong phim “Dr Zhivago” - vừa từ giã cuộc đời ở tuổi 83”. Bản tin làm tôi xúc động; tôi vội lấy tạp chí đó lên đọc và biết thêm “Ngôi sao điện ảnh Ai Cập qua đời chiều 10/7/ 2015 tại một bệnh viện ở Cairo sau cơn đau tim. Hồi tháng 5, con trai của Omar Sharif cho biết ông mắc bệnh Alzheimer's...” Ôi! Ngẫm lại thấy cuộc đời thật là vô thường: Công danh, sắc đẹp, sự nghiệp, tài năng, danh tiếng... tới một lúc nào đó cũng đành buông xuôi!

"Phú quý vinh hoa như mộng ảo
Sắc tài danh lợi tựa phù du"
 Related image
Tài tử Omar Sharif 
Thời tuổi trẻ tôi ít xem phim, ngoại trừ những phim thật nổi tiếng và xuất sắc. Phim Dr Zhivago và Omar Sharif đã từng gây cho tôi một ấn tượng mạnh mẽ về bộ phim tình cảm tuyệt vời và chàng tài tử đẹp trai đầy nam tính, mà bạn bè tôi thời đó, đã cho rằng có lẽ mãi sau này sẽ không có ai vượt qua được. Nỗi xúc động về sự ra đi của Omar Sharif dẫn tôi miên man trở về quá khứ cả trong những ngày tiếp theo khi đi chơi biển mùa hè với nhóm bạn thân. Lúc chúng tôi đang cùng nhau lội biển sát bờ để đùa với nước, tôi vừa nhắc tới nhạc phim Dr Zhivago, thì 1 giọng ca bỗng cất lên “là la lá lá...” thế là cả nhóm tự động đồng thanh hát theo điệu nhạc quen thuộc đó. Hình như nó đã ngấm vào trong tiềm thức tự lúc nào và bây giờ cứ tự động bật ra. Chúng tôi “hát bên nhau thật là hồn nhiên” như thuở còn đi học, người ngoài nhìn vào sẽ tưởng là “một lũ điên”, nhưng có hề chi khi chúng tôi đang được tự do thả hồn về “những ngày xưa thân ái”. Kỷ niệm xưa ào ạt tràn về và chúng tôi hẹn nhau sẽ cùng đi thư viện tìm mượn bộ phim Dr Zhivago để xem lại bộ phim nổi tiếng một thời , bởi nó cũng đã từng ôm ấp biết bao nhiêu là kỷ niệm thời tuổi đôi mươi. Trong khi chờ đợi được xem lại bộ phim, 1 bạn trong nhóm đã gửi đường link để chúng tôi nghe lại bản nhạc bất hủ “Người tình Lara” lời Việt do Phạm Duy phổ nhạc với tiếng hát Thanh Lan, hát cả 2 lời Anh - Việt. Nhìn hình ảnh Thanh Lan rồi nghe lại tiếng hát ngọt ngào đó, hồi ức về một thời thanh xuân tràn ngập tâm hồn làm lòng tôi rưng rưng. Quả là cái gì chạm đến trái tim cũng làm con người xúc động sâu xa...

"Người tình thương nhớ, hãy lắng nghe lời mặn mà

Dù mùa xuân đã chôn vùi bởi làn tuyết kia
Ngọn đồi trắng xóa, sẽ có hoa mọc đầu mùa...
Người em yêu hỡi, nhớ thương đời đời chớ phai.

Bác sĩ Zhivago là bộ phim được sản xuất năm 1965 do David Lean đạo diễn, dựa theo truyện nổi tiếng cùng tên của nhà văn Nga Boris Pasternak . Cuốn tiểu thuyết đã được Hàn lâm viện Thụy Điển trao giải Nobel về văn học năm 1958, nhưng bị cấm phát hành tại Liên Bang Xô Viết cho mãi đến năm 1988.
Phim có bối cảnh những năm trước cách mạng tháng 10 Nga, khi cuộc chiến tranh thế giới đang xảy ra ác liệt và một cuộc cách mạng cũng đang bùng lên ở Nga. Bác sĩ - nhà thơ lãng mạn Zhivago - được tận mắt chứng kiến cuộc chiến tranh đẫm máu này. Là một trí thức có tâm hồn nghệ sĩ tiêu biểu cho truyền thống văn hóa và tính cách Nga, bác sĩ Zhivago (Omar Sharif) không thể chấp nhận cuộc cách mạng và không thấy ý nghĩa cuộc sống của chính mình trong đó. Phim cũng nói về mối tình của Zhivago, 1 bác sĩ đã có vợ con, với hồn thơ lai láng, và một cô y tá xinh đẹp lãng mạn mà ông gặp gỡ như một định mệnh oái oăm với những giằng co éo le tình cảm. Phim trình bày theo lối kể chuyện xen kẽ nhau hai cảnh đời của Dr Zhivago và Lara cho đến khi hai người yêu nhau rồi xa nhau, với nhạc phim “Lara's Theme” réo rắt làm nền, thiết tha trong tiếng đàn balalaika. Phim đã thành bất hủ trong nửa thế kỷ qua, đã khiến cho tên tuổi của nhà đạo diễn phim David Lean và tài tử Omar Sharif đi vào huyền thoại..
Phim Dr Zhivago nổi tiếng trong nhiều thập kỷ, xếp thứ 7 trong danh sách 100 bộ phim tình cảm lãng mạn hay nhất mọi thời đại và đứng thứ 8 trong danh sách các phim thành công nhất. Xếp hạng do Viện Điện ảnh Hoa Kỳ AFI bình chọn và được thông báo trong chương trình đặc biệt “100 năm của AFI... 100 nỗi đam mê”. Phim giành được 5 giải Oscar và cũng giành được 5 giải Quả Cầu Vàng cho phim chính kịch hay nhất, đạo diễn phim chính kịch xuất sắc nhất, nam diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất, kịch bản xuất sắc nhất, nhạc phim xuất sắc nhất.
Phim Dr Zhivago trình chiếu ở rạp REX Saigon khoảng năm 1971, 1972. Thời tuổi trẻ xem phim với non nớt kinh nghiệm đường đời, nên có lẽ chỉ để ý đến vẻ thu hút của tài tử chính và một câu chuyện tình ngang trái lãng mạn...Còn bây giờ xem lại phim mới thấy thấm thía hơn với những nẻo dẫn dắt của định mệnh đã đưa tới một cuộc tình trái ngang mà đôi khi con người không cưỡng lại được. Đặc biệt hơn nữa là thời đó chưa nếm mùi “sống với Cộng Sản” nên những hình ảnh thời C.S.. trong phim chỉ loáng thoáng qua: “Sao thấy ghê quá!”, "sao khổ quá vậy?", rồi nó trôi tuột đi không để lại dấu vết gì. Còn bây giờ từng thước phim nhắc nhở lại bao nỗi cay đắng của đời sống sau 75 khi Cộng Sản thống trị đất nước, mới thấy cảm phục tác giả và đạo diễn đã lột tả giùm bao cảnh đời éo le, cay nghiệt một cách tài tình hấp dẫn. Hèn gì mà tác phẩm đã từng bị cấm tại Liên Xô trong một thời gian dài, dù là nó đã được trao giải thưởng Nobel về Văn Học và phim Dr Zhivago dù đã nhận được quá nhiều giải thưởng quốc tế, nhưng đến năm 1994 (gần 30 năm sau khi ra đời) mới được phép trình chiếu ở Nga. Hình như tuổi đời càng tăng, kinh nghiệm sống càng nhiều càng thấm hết cái hay của bộ phim. Quả đúng như nhà thơ thiên tài Nguyễn Du đã nói một cách ngắn gọn nhưng thật đầy đủ ý nghĩa:

"Đoạn trường ai có qua cầu mới hay"

Tôi còn nhớ giáo sư Nguyễn Duy Cần (Đại học Văn Khoa Saigon) đã từng say mê, tấm tắc câu thơ trên và giải thích, bình luận nó cả mấy giờ mà vẫn chưa thấy đủ. Có lẽ tác giả Pasternak đã trải qua những năm tháng “đoạn trường” sống trong cuộc cách mạng vô sản nên rất thành công trong việc phác họa một nước Nga triền miên trong khói lửa chiến tranh với những người trí thức không tìm ra lối thoát. Riêng tôi với kinh nghiệm “15 năm đoạn trường” cùng bao mùi tân toan từng nhìn thấy và nếm trải trong chế độ cộng sản, nên càng theo dõi phim tôi càng thấm thía để thấy hết giá trị của đời sống trong thế giới Tự Do, đặc biệt là với giới trí thức...

Một tình yêu trái ngang đầy ngậm ngùi, nhưng cũng cũng không kém phần say đắm!

Lần đầu Zhivago gặp Lara là khi chàng theo 1 BS khác đến nhà để cứu mẹ Lara tự tử, sau khi bà biết sự dan díu giữa chồng (Victor), một luật sư rất có thế lực chính trị, với đứa con gái riêng (Llara) của mình. Rồi do 1 sự tình cờ Zhivago biết được sự sa ngã của Lara với người cha dượng. Cái cảnh cha dượng dụ dỗ con gái riêng của vợ hầu như khá phổ biến, ngay cả trong xã hội Việt Nam. Đó có lẽ cũng là lý do mà nhiều phụ nữ VN sau khi bị góa chồng hay đổ vỡ hôn nhân, dù hoàn cảnh nuôi con gian khổ khó khăn, cũng không dám đi bước nữa, nhằm bảo vệ an toàn cho con gái mình. Thành thử trong mọi hoàn cảnh, người phụ nữ luôn gánh chịu hết mọi thiệt thòi.

Lần thứ 2, khi Zhivago và Tonya (vợ sắp cưới) tham dự bữa tiệc Giáng Sinh tưng bừng nhộn nhịp của giai cấp quý tộc thì Lara xuất hiện tức giận rút súng định bắn chết Victor, nhưng viên đạn chỉ sượt qua bàn tay và làm hắn bị thương. Lara tức giận vì bị dụ dỗ và đã nhiều lần rơi vào cảnh:

"Tiếc thay một đóa trà mi,

Con ong đã tỏ đường đi lối về.

Victor đã thể hiện loại “ tuồng vô nghĩa, ở bất nhân”, hắn trở mặt miệt thị và sỉ nhục Lara là thứ gái lẳng lơ, chẳng nên nết, bị Lara cho ăn một tát tai. Hắn quay ra dùng sức mạnh đè Lara xuống để cưỡng hiếp, xong việc hắn giở bộ mặt đểu cáng, cười khinh khỉnh cho rằng:

"Cớ sao chịu tốt một bề,
Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao?"

Rồi lừng lững bỏ đi! Victor tiêu biểu cho lũ đàn ông đểu giả mà Nguyễn Du đã vạch trần qua bộ mặt nhân vật Sở Khanh trong truyện Kiều, cái thứ mà bề ngoài lúc nào cũng lịch sự “Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng” nhưng tâm địa thì thật khủng khiếp! Sau khi đã chán chê Lara và để diệt trừ hậu họa, hắn đã tìm đủ cách gạ những người đàn ông khác từ Pasha, bạn trai của Lara, một nhân vật cách mạng lý tưởng, đến Zhivago để mau “tống” Lara ra khỏi vòng tay hắn. Có lẽ vì thế, nên với tâm hồn nhạy cảm của 1 thi sĩ, Zhivago đã cảm thương cho số phận “hồng nhan đa truân” của Lara. Sau đó đường đời chia cách: Zhivago cưới Tonya và có 1 đứa con trai, Lara lấy Pasha và có 1 đứa con gái.

Chiến tranh cách mạng xảy ra, Pasha bị mất tích. Lara xung phong làm y tá ra chiến trường để tìm chồng, rồi tình cờ gặp lại B.S. Zhivago làm việc cứu thương ngoài chiến tuyến. Trong khung cảnh chiến trường đầy tiếng đạn bom, mạng người thật mong manh. Hai người làm việc chung với nhau, cùng chia nhau những gian khổ hiểm nguy nơi chiến trường cũng như những vất vả trong việc cứu chữa các thương bệnh binh nơi chiến tuyến. Hoàn cảnh đã đẩy đưa họ đến gần với nhau hơn, quan tâm tới nhau hơn và tình yêu đã bước những bước đi thầm lặng của nó. Khi phụ giúp Dr Zhivago chữa trị cho 1 thương bệnh binh nơi mặt trận, thấy ánh mắt Lara ngước lên nhìn Zhivago với đầy vẻ ngưỡng phục và kính trọng, tôi hiểu tình yêu nơi Lara đã bắt đầu. Đối với giới nữ, sự ngưỡng mộ và kính trọng là bước khởi đầu dẫn đến tình yêu. 

Nhìn hình ảnh đó bỗng nhiên dĩ vãng trong tôi hối hả quay về: Ngày đó, tôi còn là 1 nữ sinh ngây thơ trong trắng, chỉ biết học hành và vui chơi với các bạn gái cùng lớp, cùng trường GL.
Tôi chưa hề biết tình yêu là gì, cũng chưa hề biết rung động trước ánh mắt si tình của bất cứ một chàng trai nào. Nhưng một hôm "Người đó" xuất hiện, với dáng dấp thư sinh, với cặp kính cận trắng, đầy vẻ trí thức... Tôi có cảm tưởng cả một vùng ánh sáng bao quanh Người. Người vừa từ phương trời xa trở về với bằng tiến sĩ của 1 đại học danh tiếng thế giới, nên những lời giảng của Người chứa đựng quá nhiều tư tưởng lạ, mở ra cho tôi cả 1 chân trời mới mà tôi đang khao khát tìm hiểu. Tôi chỉ biết nín lặng ngồi nghe để từng lời từng chữ thấm đẫm vào tim, vào óc. Rồi những lần tiếp theo đó, cả đám con gái chúng tôi hình như đều bị thu hút bởi Người, với một thứ lực vô hình không cưỡng lại được.

Diễn viên Julie Christie thủ vai Lara
Những lần tham dự thánh lễ sau này, nhìn lên bàn thờ, dường như tôi không còn thấy Chúa mà chỉ thấy mỗi mình Người đang tỏa sáng. Trước kia tôi ghét giọng Huế chi lạ, âm hưởng gì mà "trọ trẹ" khó nghe làm sao, nhưng bây giờ giọng Huế của Người tôi nghe êm ái nhẹ nhàng pha chút dễ thương, tôi đón nhận những lời Người giảng cứ như mật rót vào tim... một trái tim nhỏ bé, mỏng manh. Rồi từ đó về sau những sinh hoạt nào có mặt Người, thì dù có bị trở ngại cách nào, tôi cũng san bằng để có mặt cho được. Những kỳ trại hè, những ngày picnic, những dịp tĩnh tâm, những buổi hội thảo...mỗi lần được gặp mặt, được ở bên cạnh để nói chuyện với Người thì lòng tôi rộn rã niềm vui.

Những lúc được Người ân cần giúp giải những bài toán khó, những bài triết lý khô khan khó hiểu là hôm đó tôi thấy đời bỗng dưng vui. Rồi cũng có những lúc dỗi hờn vu vơ của tuổi mới lớn, Người thông minh biết cách làm hòa thật tài tình nên lòng dù rất giận cũng không nỡ, vì "giận thì giận, mà thương thì thương". Rồi trong 1 trại hè ở Vũng Tàu, lần đầu tiên Người giới thiệu với tôi về dòng nhạc Trịnh Công Sơn, để rồi từ đó nhạc TCS đã trở thành gắn bó thân thương với tôi cho đến tận bây giờ. Có lẽ:

"Tôi được thấy mình trong nhạc Trịnh
Cũng vô thường, bất định, phiêu lưu.

Rồi Người dạy tôi hát bài “Tuổi Đá Buồn”, đó là bài hát TCS đầu tiên mà tôi biết. Ôi lời bài hát sao mà buồn chi lạ! Khiến trái tim nhỏ bé của tôi như mềm đi vì những hạt mưa rơi, mưa rơi:
 
Hai diễn viên Omar Sharif và Julie Christie trong một cảnh phim Bác sĩ Zhivago. (Nguồn: MGM)

"Trời còn làm mưa, mưa rơi, mưa rơi
từng phiến mây hồng em mang trên vai
Tuổi buồn như lá gió mãi cuốn đi quay tận cuối trời.

Vậy đó, với từng bước thầm tôi đã lần đi vào con đường tình yêu không lối thoát, mà vẫn ngu ngơ chưa hề biết, chỉ biết mọi chuyện khởi đầu bằng sự ngưỡng mộ, kính phục. Có lẽ như TCS đã nói:

"Khi cơn đau chưa dài thì tình như chút nắng
Khi cơn đau lên đầy thì tình đã mênh mông.“

Có phải vì thế mà tôi “đồng cảm” với mối tình “không rủ mà đến” của Zhivago và Lara chăng?

Cách mạng thành công, Zhivago và Lara chia tay để trở về với gia đình riêng của mình. Tình yêu đã nhen nhúm trong lòng, nhưng không ai can đảm thú nhận ra bằng lời vì ngang trái, vì họ đều đã có gia đình, lương tâm không cho phép họ nói tiếng yêu. Họ chia tay trong cảnh, bên ngoài có vẻ thản nhiên, nhưng trong lòng thì tan nát "Mối sầu sẻ nửa, bước đường chia hai." Nhìn hình ảnh Zhivago mắt ngấn lệ trông theo chiếc xe chở Lara biến dần theo bụi mờ, rồi hình ảnh Lara, xe đã đi quá xa nhưng vẫn cứ ngoảnh cổ lại với hy vọng còn trông thấy bóng dáng Zhivago lần cuối. Chúng ta thấy rõ sự giằng co đau xót trong lòng họ, họ không phải là loại người ham vui phụ bạc "thấy trăng quên đèn". Tuy họ không hề nói với nhau bất cứ lời yêu đương nào, nhưng đôi mắt của họ đã thể hiện vạn lời muốn nói trong tim. Ánh mắt họ nhắc tôi nhớ đến "ánh mắt chiều hôm ấy", nó chỉ lóe lên trong tích tắc, nhưng nó đã theo tôi suốt một đời.
Image result for phim Dr Zhivago
Thời điểm sau tết Mậu Thân (1968), không khí chiến tranh bao trùm khắp Saigon, thỉnh thoảng chỗ này chỗ kia, có xác chết bên lề đường, bên bãi rác, rồi những vụ xử bắn, những vụ kéo người ra bưng, làm ai cũng hoang mang lo sợ. Muốn biết tin tức người thân ở những nơi khác cũng không biết làm cách nào. Tất cả các trường học đều đóng cửa, ngoài đường phố vắng hoe, nếu không có việc gì thật cần thiết, không ai dám ra đường. Chiều hôm đó, má sai tôi đạp xe ra ngã 7 để mua đồ cho má, khi ra gần tới công trường, tự nhiên linh tính khiến tôi chợt nhìn lên về phía bên kia đường, Người xuất hiện trên chiếc Vespa quen thuộc. "Trời ơi, có phải là Người đó không? Vậy là Người vẫn bình an!" Tim tôi như nhẹ đi 1 gánh nặng! Cùng một lúc, có lẽ do mối thần giao cách cảm, Người bỗng ngước nhìn về phía tôi và đôi mắt Người bất chợt lóe sáng lên, rực rỡ một niềm vui nhảy múa, có lẽ vì thấy tôi vẫn bình an. Chỉ "tích tắc" thế thôi, rồi đường ai nấy tiếp tục đi! Người ta nói "đôi mắt là của sổ của linh hồn", có những giây phút bất ngờ, bị gió thổi tung, "cửa sổ tâm hồn bỗng mở toang" và ta có thể nhìn thấy hết những bí ẩn giấu kín bên trong nó. Đôi mắt rực sáng, lóe lên niềm vui chiều hôm ấy, dù trong "tích tắc" cũng đủ để cho tôi ôm ấp một đời, mối tình đầu "ngang trái" đầy câm nín của mình. Người luôn là cái bóng mát cho tôi dừng chân mỗi khi mỏi mệt, là nơi sẵn sàng lắng nghe những "rối rắm" đời thường của tuổi mới lớn. Người vừa là niềm tin yêu, vừa là nỗi kính sợ. Người có vẻ ân cần và ưu ái tôi hơn các bạn, và rất thân tình để tôi có thể chạy đến, chia sẻ hết những nỗi buồn vui của cuộc sống.Hình như có một sự "đồng cảm" sâu xa giữa chúng tôi. Tuy vậy tôi chưa bao giờ dám mở miệng nói 1 lời yêu, chưa cả một lần dám cầm tay; nhưng vẫn âm thầm quan tâm đến nhau trong lặng lẽ. Cái thứ "thương thầm" này vậy mà dai dẳng khôn nguôi, có lẽ đến khi nhắm mắt xuôi tay:

"Có những niềm riêng một đời câm nín
Nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi"...

Mối tình thầm lặng giữa Zhivago và Lara tuy không nói ra lời, nhưng nó vẫn luôn âm ỉ trong tim. Có phải vì thế mà nhà thơ Tagore đã nói ”Tình yêu thầm lặng là tình yêu thiêng liêng. Trong bóng mờ trái tim ẩn kín một tình yêu sáng rực như trân châu. Trong ánh sáng ban ngày kỳ lạ, tình yêu lu mờ một cách đau thương."
Trở lại buổi xem phim Dr Zhivago chung với nhau, L cô bạn trẻ nhất trong nhóm bỗng nêu thắc mắc:
 Image result for Hồi ức khi xem lại phim Dr Zhivago
– Lúc chiếu phim này ở Saigon, em hãy còn nhỏ nên chưa được xem phim, nhưng em cũng rất thích bài hát “Người tình Clara” đến độ hôm đi biển, các chị vừa cất tiếng hát là em có thể hát theo ngay. Nhưng theo sơ lược truyện phim thì đây là một vụ ngoại tình, vì 2 nhân vật chính đều có gia đình rồi. Như vậy là vô đạo đức, chẳng lẽ người ta lại ca ngợi chuyện vô đạo đức đó sao? Mọi lần em thấy chị cũng chống lại những vụ ngoại tình mà, sao chị lại khen bộ phim này?

– Đúng là không ai tán đồng chuyện ngoại tình, nhưng mình không nên “quơ đủa cả nắm” cũng không “nhắm mắt” mà kết tội ai, hãy mở mắt để nhìn cho kỹ diễn tiến mọi sự việc rồi hãy kết luận. Thường thì đàn ông ngoại tình hay có khuynh hướng bêu riếu vợ, chê trách điều này, điều nọ, để “chạy tội” ngoại tình. Ở Zhivago, em sẽ không thấy điều này…mà là những trăn trở, những giằng co đến xé lòng…em cứ kiên nhẫn xem hết bộ phim rồi sẽ hiểu vì sao người ta ca ngợi nó, và nó chiếm được giải Nobel về Văn học.

Tôi có chị bạn thân, nhân kể vụ xem lại phim Dr Zhivago đã hồi tưởng và kể rằng : ” Lúc đó 2 vợ chồng chị vừa đám cưới xong, nên rủ nhau đi xem phim vì nghe nói phim hay và là 1 chuyện tình lãng mạn. Chồng chị là BS, tưởng là phải binh vực “đồng nghiệp” Dr Zhivago của mình chứ, ai dè xem xong 2 người lại cãi nhau vì chồng chị cho là “nói gì thì nói, nó vẫn là chuyện ngoại tình”, nên anh không thích. ( May cho chị vì chồng chị “nói thật” và “làm thật”, vì thông thường hay có những cuộc ngoại tình xảy ra giữa BS và y tá, và chồng chị đã giữ đúng quan điểm “không thích” đó cho tới cuối đời!) Trong khi chị thì cho là vì hoàn cảnh đẩy đưa nên mới xui khiến ra thế, nên phải thông cảm thay vì lên án…( Đúng là đàn bà dễ xúc động và hay tha thứ, nên thường bị các ông gạt hoài!). Vậy là tưởng đi xem phim cho vui vẻ hơn, nhưng vì quan điểm khác nhau về bộ phim mà 2 vợ chồng trẻ mới cưới, lại giận nhau không nói chuyện mất mấy hôm…”

"Bác sĩ Zhivago" được dựng thành phim từ năm 1965.

Đúng là cuộc sống muôn hình vạn trạng, “bá nhân, bá tánh” không ai giống ai. Vì vậy mới nói có những người “hạp tánh” hay “cùng tần số” thì dể kết thân và hiểu nhau hơn.

Quay về với câu chuyện tình của Dr Zhivago, Sau khi từ biệt nhau, mỗi người trở về yên phận với gia đình mình ở 1 vùng quê yên bình. Clara vẫn không tìm được chồng, sống bình yên với con gái, làm việc ở thư viện nhỏ gần nhà. Zhivago sống đầm ấm với vợ, con và bố vợ trong 1 nông trại nhỏ. Nhưng định mệnh đã oái oăm khiến ông bố vợ cần 1 tài liệu có ở thư viện làng cạnh bên và muốn Zhivago đi mượn giùm ông, chàng đã từ chối không đi, nhưng cô vợ lại đốc thêm vào nên chàng đành đi. Và nơi thư viện nhỏ đó Zhivago đã gặp lại Clara, thế là:

“Tinh ngỡ đã quên đi, như lòng cố lạnh lùng
Người ngỡ đã xa xăm, bỗng về quá thênh thang”

Định mệnh đã 1 lần nữa đẩy họ gặp nhau. Họ ngỡ ngàng đầy xúc động và Lara đã mời Zhivago về thăm nhà. Trên đường về họ đã ghé lại ngồi tâm sự với nhau ở một bìa rừng và cảnh đẹp rừng Thu ở đây đã góp phần làm nên giá trị những cảnh đẹp lãng mạn mùa thu cho bộ phim. Những chếc lá vàng rơi lả tả quấn quít bước chân đi. Những chiếc lá bé xinh sắc vàng óng ánh chạy đuổi nhau lăn tăn, cuống quít theo làn gió thổi khiến tôi nhớ da diết những chiều dạo phố Tự Do mà “nắng phai từ lâu chiều vẫn dàì” của Saigon xưa yêu dấu với hình ảnh thân quen

“Nhớ Sài gòn những chiều lộng gió
Lá hát như mưa suốt con đường đi”

Zhivago và Lara đã gặp lại nhau, họ không thể rời xa nhau nữa, bởi họ không thể dối lòng mình, vì:

Omar Sharif và Julie Christie trong phim "Bác sĩ Zhivago".

” Tình ngỡ chết trong nhau, nhưng tình vẫn rộn ràng
Người ngỡ đã quên lâu , nhưng người vẫn bâng khuâng”

Tuy là hạnh phúc khi được gặp nhau, yêu nhau, nhưng trong lòng họ vẫn day dứt vì cảm thấy có lỗi với Tonya (vợ Zhivago). Có những đêm bên cạnh vợ, Zhivago trăn trở không biết giải quyết ra sao? thành thử những người ngoại tình, nếu còn lương tâm, họ sẽ không có hạnh phúc vì luôn áy náy cảm thấy mình có lổi . Một sáng sớm Zhivago nhìn vợ mang bầu ra chăm sóc vườn trước nhà, rồi hồn nhiên đến nói chồng rờ bụng xem em bé “đạp” ra sao?…Có lẽ lòng tin yêu chồng một cách tuyệt đối và hồn nhiên của Tonya đã gia tăng mặc cảm tội lỗi và trách nhiệm, khiến Zhivago bất ngờ quyết định lấy ngựa phóng như bay đến nhà Lara để quát to khẳng định với Lara mà có lẽ cũng là khẳng định với chính mình:

 

– Từ nay anh sẽ không bao giờ trở lại căn nhà này nữa. Em có hiểu điều đó không?

Lara với khuôn mặt đầm đìa nước mắt gật đầu:

– Dạ, em hiểu. Anh hãy làm những gì mà anh cho là tốt nhất. Em hiểu mà!

Đối với tôi đó là cảnh cảm động nhất trong phim, nó nói lên “tình người”, nói lên “sự lương thiện” trong tính cách của Zhivago và Lara. Chưa ai phát hiện mối tình ngang trái của họ, nhưng tự họ, họ hiểu họ đang có lổi, và muốn chuộc lỗi. Thế gian này có bao nhiêu người ngoại tình có được những suy nghĩ và cảm xúc như họ? vì vậy họ đáng thương hơn là đáng kết tội trong mối tình đầy ngang trái này. Không phải ai bước vào mối tình ngang trái cũng đều có lỗi, thời tuổi trẻ tôi cũng đã hồn nhiên bước vào nó như bước vào một khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ, để rồi “những ngón tay ngại ngùng, đã ru lại tình gần“. Tôi âm thầm day dứt khi biết mình đã lở bước chân vào “đường tình không lối thoát”. Con bé lí lắc, bướng bỉnh, nghịch ngợm ngày nào biến mất, chỉ còn lại những suy tư dằn vặt khôn nguôi.Tôi trăn trở khi muốn ích kỷ chiếm hữu Người cho riêng một mình tôi, tình yêu nào mà không ao ước chiếm hửu? Và nếu tôi muốn, tôi biết tôi có thể làm được điều đó, bởi tôi hiểu rõ sức thu hút tuổi trẻ mạnh mẽ của mình. ( Ở tuổi 15, tôi đã “hồn nhiên” làm điêu đứng ông anh họ của mình, mà không hề biết!). Hơn nữa “ánh mắt rực sáng” chiều hôm nào như khuyến khích tôi cứ mạnh dạn tiến lên, Người đang chờ tôi! Có 1 lần tình cờ tôi nghe được các cha trong dòng gọi chúng tôi là những “tà thần áo trắng”. Áo trắng thì dễ hiểu vì nữ sinh đi học mặc áo dài trắng, nhưng tôi ngơ ngác không hiểu sao lại bị gọi là “tà thần”? Mãi đến sau này, ra trường đi dạy, đôi lần tan trường nhìn các em nữ sinh tươi mát, đẹp mơn mỡn, có sức thu hút mạnh mẽ hồn nhiên, tôi mới chợt hiểu ra ý nghĩa cám dổ của 2 chữ “tà thần” mà các cha dùng. Nhưng tình yêu không phải là 1 đứa trẻ, muốn gì là đòi cho được. Tôi không muốn hủy hoại vị trí rất được “yêu kính” của Người trong lòng mọi người, vị trí đó không phải ai muốn cũng có được. Tôi còn phải nghĩ tới nỗi đau của gia đình Người, những nổi thất vọng ê chề của bao nhiêu “con chiên” yêu mến Người, rồi những dư luận xã hội chung quanh sẽ bủa chụp Người. Như vậy thì tội nghiệp quá, làm sao tôi đành lòng cho được! Tôi không thể ích kỷ chỉ nghĩ đến hạnh phúc cho riêng mình mà mặc kệ bao người thất vọng, buồn bả chung quanh. Tôi không cướp Người từ tay 1 người đàn bà nào, nhưng cướp từ tay Chúa thì tội còn nặng hơn.. Chúa ơi! con lạc lối rồi, Chúa làm ơn dẫn con ra. Tình yêu thực đôi khi đòi hỏi phải chấp nhận hy sinh, tôi đã từng học hỏi nơi những bài giảng của Người: Sống phải biết nghĩ tới người khác, phải biết chia sẻ, phải biết đồng cảm với tha nhân…chẳng lẽ bây giờ tôi ích kỷ làm ngược lại sao?. Nếu tôi còn tiếp tục đi con đường này sẽ rất nguy hiểm cho cả hai, khi tới lúc tôi không còn dừng lại được nữa… Không, không, tôi không được quyền làm thế : Phải rời xa, phải từ bỏ, phải rẻ sang hướng khác…bao nhiêu giằng co xé nát trong tim, suy nghĩ mãi để rồi tôi tự quyết định “buông tay” nhưng sao lòng tôi đau quá, trái tim tôi như có ai bóp nghẹt… để rồi có những buổi chiều Chúa nhật lòng đau rã rời, dầm mình trong mưa đi lang thang. Tôi cảm thấy mình quá mong manh, nhỏ bé giữa những hàng mưa tuôn xối xả. Tôi mặc cho 2 hàng nước mắt tuôn rơi, khóc cho những vụn vỡ trong tim, khóc cho những đổ nát trong hồn, rồi chân phiêu lưu hướng về giáo đường mà trong lòng cô đơn không có Chúa, khóc.. khóc …Có lẽ những giọt nước mắt cay đắng nhiều hơn những hạt mưa rơi …chúng hòa vào nhau để trở thành ” Mưa rơi mênh mang” của bản tình ca buồn định mệnh đời tôi:

Related image

” Trời còn làm mưa, mưa rơi mêng mang .
từng ngón tay buồn em mang em mang,

Đi về giáo đường Ngày chủ nhật buồn.

Còn ai còn ai?”

Có lẽ nước mưa và nước mắt đã làm trôi bớt những muộn phiền trong tim. Lòng tôi bỗng thoáng một cảm giác nhẹ nhàng lóe lên về sự trong sạch của tuổi mới biết yêu, hay cái tự hào của một người chưa làm điều gì vẩn đục dù trong tâm hồn hay thể xác…tôi đã “chiến thắng” được tôi!?..

Zhivago sau khi buông những lời mạnh mẽ vĩnh biệt Lara, hối hả lên ngựa quay về nhà với vợ con, nhưng nửa đường ngựa bỗng chậm lại rồi dừng chân. Tôi hiểu có những lúc ta biết việc phải làm, cần làm và ta đã làm cho lương tâm thanh thản, nhưng lòng ta vẫn quay quắt nhớ thương, vẫn ngần ngại không đành rời xa. Đúng lúc đó quân Cách Mạng ập tới “áp tải” chàng ra chiến trường phục vụ những thương binh vô thời hạn, không kịp một lời giả biệt vợ con…

Nhạc phim “Lara`s Theme” réo rắt làm nền, thiết tha trong tiếng đàn balalaika, dường như cho thấy biển đời không bao giờ hết sóng, nên muôn đời biển vẫn động! Tuy vậy đóa hoa “hy vọng” vẫn có thể “mọc” lên nơi một ngọn đồi nào đó, để ta còn thấy “cuộc đời vẫn đẹp sao và tình yêu vẫn đẹp sao!”

Although the Snow,

Covers the hope of Spring

Somewhere a hill

Blossom in green and gold”

Sau một thời gian dài bị bắt cóc để phục vụ ngoài chiến trường cho quân Cách Mạng đầy đói khổ chết chóc Dr Zhivago tìm cách trốn thoát để tìm về với vợ con. Nhưng tiếc thay khi chàng trở về căn nhà xưa thì chỉ thấy cảnh hoang tàn”trước sau, nào thấy bóng người” vì cả gia đình đã di tản qua Paris ( giống cảnh nhiều gia đình VN di tản ra nước ngoài vào tháng 4/75). Do đó chàng đành tìm đến nhà Lara tá túc, điều cảm động là khi Zhivago mở cục gạch nơi giấu chìa khóa, thì đã có sẳn bức thư Lara để đó với nội dung cho biết Lara vẫn đợi chờ chàng vì biết một hôm nào đó, chàng sẽ trở về. Sợ chàng về bị đói, nên lúc nào Lara cũng chuẩn bị sẳn bửa ăn trên bếp cho chàng…Zhivago cảm động trước tấm tình yêu thương và chu đáo của Lara. Thế là cuộc tình của họ tưởng đã bị vùi chôn dưới làn tuyết trắng lạnh lùng, bây giờ hoàn cảnh lại giúp nó “nở hoa” tươi đẹp hơn xưa… Ở đây phải công nhận cảnh đẹp thiên nhiên đã phụ họa với tác giả để nói lên giùm tâm tình của người trong cảnh như cảnh mùa đông tuyết trắng xóa khắp nơi khi Zhivago “tơi tả” đi trong tuyết trắng mênh mông để tìm về nhà. Hình ảnh vừa nói lên sự cô độc và cả cô đơn băng giá trong hồn. Phim cũng cho thấy cảnh đẹp “rạng ngời” của mùa đông nước Nga khi tuyết bao phủ khắp nơi. Rồi những lâu đài , cung điện, dinh thự… đều có hình dáng “củ hành” trên nóc khiến tôi có cảm tưởng nó là 1 biểu tượng gì đó của nước Nga. Cách đây vài năm một lần ghé thăm St. Petersburg, tôi đã hỏi cô HDV xem nó mang ý nghĩa gì ? Cô HDV Nga cười cho biết : Đơn giản là để tuyết mùa đông sẽ trôi tuột xuống dễ dàng hơn, vì đây ở gần cực bắc nên tuyết mùa đông rất nhiều, nếu tuyết đọng lại lâu sẽ phá hủy các nóc nhà. Cô cũng cho biết các nóc đều được mạ vàng ròng thật để có sức chịu đựng với sương tuyết của thời gian. À thì ra chỉ đơn giản vậy thôi, đúng là “đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, đó chính là lý do mà tôi rất thích đi du lịch. Tôi muốn viếng thăm St.. Petersburg vì nó có một số điểm tương đồng với Saigon của tôi: Nó từng là thủ đô cũ của nước Nga, nó cũng là một thành phố trẻ với hơn 300 năm thành lập. Nó cũng từng bị “cướp tên” dưới thời cộng sản Liên bang xô viết, và bị gán cho cái tên của trùm cộng sản một thời : “Leningrade”. Nhưng may mắn, sau khi Cộng sản liên bang xô viết sụp đổ, năm 1991 với một cuộc trưng cầu dân ý, thành phố đã được trả lại cái tên cũ từng đi vào lòng người dân: St. Petersburg.

“Trông người lại ngẫm đến ta!” Biết đến bao giờ lại có một cuộc trưng cầu dân ý để Saigon của tôi sẽ được trả lại cái tên nguyên thủy của nó trong một ngày không xa. Sài gòn, cái tên thân thương đã thấm vào lòng người dânVNCH, còn tên Hồ chí Minh “lạ hoắc” với người dân Sai gòn, rồi cũng sẽ đi theo tên Lenin và những pho tượng của nó bị kéo sập xuống để lịch sử đất nước tôi sẽ được lật sang một trang sử mới ?

.Cuộc sống êm đềm của Zhivago và Lara nơi thôn dã chẳng kéo dài được bao lâu thì tên cha dượng Victor kẻ đã từng hãm hiếp Lara khi xưa bỗng xuất hiện. Hắn hăm dọa rằng quân cách mạng đang truy lùng Zhivago, Lara và sẽ giết cả hai nếu bắt được. Hắn hứa giúp đưa Zhivago và Lara trốn ra nước ngoài. Nhưng Zhivago không muốn rời bỏ tổ quốc và nhất là không muốn dính líu gì với tên “đểu cáng” đó, và Lara thì khẳng định “Nếu Zhivago không đi, thì nàng cũng không đi”. Cuối cùng Victor đòi gặp riêng Zhivago, và hắn cho biết hiện mẹ con Clara đang bị nguy hiểm tính mạng, bởi mối liên lụy vì chồng của Lara lúc bấy giờ đang chạy trốn do bị chính phủ cách mạng truy lùng gắt gao. Sau cùng Zhivago đành quyết định để Lara ra đi một mình, chàng phải hy sinh cuộc tình của mình vì vấn đề an toàn cho Lara và cho cả đứa con của chàng trong bụng Lara. Tuy mọi chuyện do chính mình tự âm thầm quyết định, nhưng nó cũng khiến Zhivago đau lòng khôn nguôi khi phải vĩnh biệt người yêu. Cảnh Zhivago chạy lên lầu và dùng cây để đập vở của kiếng hầu có thể thấy nhìn thấy lần cuối hình ảnh Lara dần xa khỏi tầm nhìn của mình, thật xúc động!
Related image
Một thời gian lâu sau Zhivago về Moscow sinh sống và một hôm trên chuyến xe lửa buổi sáng, Zhivago chợt nhìn thấy dáng Lara đang rảo bước dưới phố. Chàng ra sức gọi và nhảy xuống khỏi xe lửa để rượt đuổi theo hình dáng Lara, nhưng có lẽ vì quá xúc động, sợ mất hút người yêu lần nữa và có lẽ vì sức khỏe già yếu Zhivago đã “trụy tim” và ngã xuống giữa phố đông người qua lại, kết thúc một câu chuyện tình lãng mạn say đắm và nhiều đau khổ. Đây là cảnh mà nhiều người xem phim cho là xúc động nhất. Hình như chuyện yêu đương luôn ảnh hưởng đến con tim. Nhìn cảnh xúc động này khiến tôi bồi hồi nhớ lại : sau khi quyết định “buông tay” mối tình đầu của mình, để bảo vệ sự an toàn cho uy tín và danh dự Người, tôi đã âm thầm lặng lẽ rời bỏ con đường tình không lối thoát, và tự dặn lòng hãy để yên cho Người tu hành. Cuộc tình đã khép lại, bao năm rồi Người quên tôi chưa ? 15 năm sau tôi đã yên bề gia thất, mọi chuyện tưởng như đã trôi vào quên lảng. Vậy mà một hôm trên phố đông người qua, vừa chợt thấy dáng Người từ xa, tim tôi bỗng nhói đau, hụt đi 1 nhịp, tôi phải vội tấp xe vào lề đường quay mặt đi để tìm hơi thở, người tôi lao xao như oxy chung quanh đã bị hút mất hết rồi. “Có lần bàn chân qua phố,thấy người sóng lao xao bờ tôi”…

Cuối phim, một điều an ủi cho Zhivago là trong lễ tang của chàng, tình cờ định mệnh đã sắp xếp có sự tham dự của Lara, có lẽ để nàng “ru” chàng lần cuối trong đời:

“Đời đã khép và ngày đã tắt. Anh hãy ngủ đi
Ðời mãi đêm và ngày mãi buồn.Anh hãy ngủ đi”

Quả là Tình yêu muôn đời vẫn là điều khó hiểu và có lẽ mãi mãi vẫn không có lời giải đáp thỏa đáng: “tại sao yêu”?

Phim Dr Zhivago được nhiều người ái mộ dù nó đã ra đời hơn 1/2 thế kỷ. Phim có vẻ bất tử với thời gian, vì tình yêu muôn đời vẫn là đề tài ai cũng thích nghe. Nguời ái mộ phim Dr Zhivago gồm đủ mọi thế hệ : già, trẻ, lớn, bé ngay cả những người đi tu. 

Nam diễn viên Omar Sharif đã nhập vai Dr zhivago quá thành công nên người ta đã đồng hóa Omar Shariff với Dr Zhivago, trên internet người ta đã nói những lời vĩnh biệt khi biết tin ông qua đời: “Vĩnh biệt Dr Zhivago”, “Hãy yên nghĩ Dr Zhivago” “Dr Zhivago sẽ được nhớ mãi, hãy ngủ yên bình”, “Good bye my love: Zhivago”. Có một sự trùng hợp lạ lùng là “Ngôi sao cô đơn” Omar Sharif ngoài đời cũng chết vì đau tim (heart attack) như Dr Zhivago ở cuối phim và Omar Sharif cũng sống trong cô đơn, bệnh tật về cuối đời như Dr Zhivago dù rất đào hoa. Quả là:

“Thân như bóng chớp chiều tà
Xuân sang tươi tốt, thu qua rụng rời”

Nhờ Maurice Jarre, “Ca Khúc của Lara” trở thành nhạc phim quen thuộc nhất thế giới, và bài Somewhere my Love của Ray Conniff là loại ca khúc phổ thông nhất trong bốn chục năm qua.

Phượng Vũ

Kim Phượng st

Xem thêm...

THU MUỘN

THU MUỘN

Thu không ngờ buổi gặp Hưng hôm đó lại là buổi hẹn hò cuối cùng. Nhớ sáu năm trước gặp nhau trong thư viện thành phố lần đầu tiên, Thu đã ấn tượng ngay với cái dáng người cao dong dõng, mái tóc bồng bềnh và đôi mắt toát ra một vẻ thông minh lạ lùng.

Hưng ngồi cùng bàn đối diện với Thu, chỉ chú mắt vào cuốn sách đang đọc và hình như không để ý đến cô gái ngồi trước mặt mình chút nào. Thỉnh thoảng Thu lại liếc mắt nhìn lên và lúc nào cũng thấy anh ta ngồi yên như pho tượng.

Vậy mà lúc Thu vô tình làm rơi cây viết xuống nền nhà trải thảm, tuy tiếng động rất khẽ, nhưng người thanh niên ấy đã cúi xuống nhặt cây bút chìa ra trước mặt Thu nói nhỏ :”Của cô đây” rồi lại cúi đầu xuống cuốn sách. Thu đưa tay nhận cây bút, lí nhí trong miệng: ”Cám ơn anh”. Chàng ta chỉ ngẩng lên nhìn Thu mỉm cười gật đầu nói rất nhỏ: ”Không có chi”. Rồi lại cúi đầu xuống cuốn sách.

Mấy hôm sau khi bước chân vào thư viện, trong lòng Thu bỗng nhiên vừa rộn rã, vừa băn khoăn chẳng biết hôm nay có gặp lại người thanh niên ấy không. Đôi mắt nàng đảo quanh có ý tìm kiếm, nhưng chẳng thấy đâu. Có phần thất vọng, Thu tìm một bàn khuất tận cuối phòng ngồi xuống.

Mãi đến giờ Thu sắp ra về thì mới thấy chàng thanh niên bước vào, nhưng không ngồi vào bàn mà bước thẳng tới kệ sách tìm kiếm. Thu ngập ngừng, nhưng cuối cùng cũng lấy hết can đảm đứng dậy đi về phía chàng.

Người thanh niên vừa xoay mình ra thì đúng vào lúc Thu bước đến gần. Nàng cố hết sức tự nhiên cúi đầu chào như vừa tình cờ trông thấy nhau. Chàng cũng cúi đầu trả lễ lịch sự một cách…. hết sức hờ hững. Thu vội vàng bước đi, nhưng lúc gần đến cửa, nàng ngoái cổ lui thì bắt gặp đúng lúc anh chàng quay đầu nhìn theo nàng.

Thu rời khỏi thư viện, trong lòng băn khoăn với nhiều cảm giác khó tả. Mình đã để ý đến anh chàng thực không? Anh ta nghĩ thế nào về mình? Thu biết là mình không phải đẹp lắm, nhưng không phải là không có nhan sắc. Bạn bè vẫn cho rằng Thu nhiều duyên dáng trong ánh mắt, nụ cười và những yếu tố đó có thể lấn lướt cả cái đẹp thường tình.

Lần thứ ba gặp lại chàng thanh niên ở thư viện thì Thu có cảm giác như đã quen biết từ lâu rồi. Thu tự cười thầm, hoá ra mình đã để ý đến anh chàng mới chỉ gặp vài lần trong chưa được hai tuần qua.

Lần nầy thì anh chàng ngồi vào chiếc bàn cũ. Thấy chiếc ghế trước mặt còn trống, Thu bước đến và trước khi ngồi xuống, nàng nhìn chàng mỉm cười:” Chào anh”.

Người thanh niên cũng cười và tự giới thiệu. “Chào cô. Tôi là Hưng”.

Ôi trời, đúng là quá tây, quá văn minh, mới biết nhau đã tự giới thiệu mình rất tự nhiên. Thu mỉm cười và đáp lại một cách cố gắng làm ra vẻ tự nhiên:” Tôi là Thu, rất hân hạnh được quen biết với anh.”.

Không khí thư viện không cho phép cả hai chuyện trò một cách tự nhiên, nhưng sau một lúc, Thu cũng biết thanh niên tên Hưng nầy hơn nàng bốn tuổi, ở trường luật năm thứ hai, và dĩ nhiên nàng cũng cho biết mình ở văn khoa năm thứ nhất.

Sau đó, cả hai cùng ra về và trong khoảng đường chừng gần cây số, trước khi chia tay, cả hai biết nhau nhiều hơn. Điều quan trọng là riêng Thu, nàng biết là mình đã phải lòng anh chàng sinh viên luật khoa đẹp trai nầy rồi.

Suốt cả năm sau, tuy bận chuyện học hành, nhưng vẫn có những hẹn hò. Họ quấn quýt nhau. Không những thế mà cả hai còn giới thiệu người yêu của mình cho gia đình hai bên. Hưng sinh trưởng ở Saigon, thuộc một gia đình khá giả, ăn nói bình dị, không màu mè, nhưng mọi người trong gia đình đều có cảm tình ngay với cô gái Huế lần đầu tiên đến nhà họ.

Ngược lại, tuy chưa có dịp về Huế gặp gia đình Thu, nhưng khi biết chuyện tình cảm giữa Thu và Hưng, mẹ Thu không có chút gì phản đối, dù không biết gì nhiều về tính cách của người Nam bộ. Mọi chuyện nhìn qua trông thật tốt đẹp, nhưng không hiểu sao chỉ hơn năm sau, mỗi lần Thu đề cập đến chuyện chung sống với nhau thì Hưng đều đánh trống lãng.

Không phải vì không yêu Thu, không phải vì có người con gái khác, nhưng rồi mãi cho đến khi sắp tốt nghiệp, hơn sau một năm hẹn hò, Hưng vẫn chẳng bao giờ đề cập đến chuyện chung sống với Thu. Hình như Hưng đặt nặng vấn đề sự nghiệp quan trọng hơn chuyện lập gia đình, mặc dù bây giờ Hưng đã ra trường được một năm và đang thực tập ở một luật sư đoàn có tiếng ở Saigon.

Có lẽ vì thế mà sau đó, những cuộc hẹn hò thưa dần. Đàng nào Thu cũng là người Huế, tính lãng mạn còn chút giới hạn bởi gia đình, Thỉnh thoảng gặp nhau, tuy vẫn nói lời yêu đương, nhưng Thu cảm thấy như tình cũng đã cạn.

Có lúc Thu đâm ra hoài nghi về nhan sắc của mình, không thể làm cho một người thanh niên si tình đắm đuối. Có những chán chường thỉnh thoảng dấy lên trong lòng.

Thu bây giờ đã bước qua tuổi ba mươi. Đối với một người con gái thì ba mươi cũng gọi là luống rồi đấy, nhưng với Hưng mới ba mươi tư vẫn chưa có vẻ trễ tràng gì, nên Hưng vẫn còn tránh nói chuyện lập gia đình. Cũng vì thế mà dần dần, những cuộc hẹn hò thưa dần và gặp nhau, cả hai trông như bạn bè bình thường.

Nhiều người hỏi thăm một cách tế nhị, nhưng Thu chỉ âm ự trả lời, cũng chẳng nói rõ ràng về tình cảm của cả hai. Hai năm lại trôi qua. Thỉnh thoảng vẫn gập nhau, nhưng mọi chuyện xẩy ra chỉ là giữa hai người bạn thân.

Hôm nay là sinh nhật thứ ba mươi sáu của Hưng, và chàng mời Thu dùng cơm tối ở một nhà hàng quen thuộc. Được Hưng mời với tính cách như một cuộc hẹn hò trở lại, Thu cũng khấp khởi mừng thầm, cứ nghĩ là Hưng đã có những suy nghĩ mới nên Thu đã chọn một chiếc áo mầu xanh nhạt mà nàng biết Hưng rất thích, và cũng chuẩn bị một chiếc cà vạt làm quà sinh nhật cho chàng. Tuy tình đã có phần nhạt, nhưng dù sao cũng là sinh nhật một người đã từng yêu.

Bữa cơm tối diễn ra rất bình thường cho đến lúc Thu vừa cười vừa nói:

- Hôm nay là sinh nhật thứ 36 của anh, và đừng quên là tháng sau em cũng đã bước qua 32 rồi. Không biết anh có định một hôm nào chúng ta sẽ có một sinh nhật chung không?

Đang tươi cười, bỗng dưng Hưng khựng lại. Chàng nói, giọng có vẻ căng thẳng:

- Anh vẫn rất thường suy nghĩ về đề nghị của em về việc sống chung với nhau, nhưng anh không thể nào quyết định ngay được, vì dù sao, sự nghiệp chưa thành, anh thấy không thể nào bảo đảm một đời sống chung được. Vì vậy, hôm nay anh muốn nói cho em biết, bây giờ anh chỉ muốn xem em như một người bạn, hay một người em gái thôi vậy.

Thu bàng hoàng. Nàng không thể nào ngờ là ngay ngày vui hôm nay, Hưng lại có thể trả lời nàng một lời từ chối thẳng thừng như thế. Ba mươi hai đã có vẻ là muộn màng đối một người con gái, vậy thì đến bao giờ Hưng mới quyết định cho nàng đây.

Dù sao thì cũng đã qua lại với nhau đến 6 năm rồi mà Hưng vẫn còn chỉ nghĩ đến sự nghiệp, coi nhẹ tình yêu như thế thì không hiểu Hưng có yêu nàng thực không? Hưng không phải là loại người đểu cáng, chỉ muốn chiếm đoạt nàng, vì sự thực mãi đến bây giờ, Thu vẫn còn là một người con gái trinh trắng, dù đã qua 6 năm hẹn hò.

Nàng ngồi lặng yên, đầu óc trống rỗng. Nếu không thể nào biết được chừng nào Hưng mới chịu đám cưới, sống chung với nàng thì cuộc đời sẽ buồn nản và tình yêu rồi cũng nguội lạnh dần đi.

Bỗng nhiên Thu thấy lòng mình lạnh hẳn. Nàng đứng dậy, nhìn Hưng và nói:

- Em thực không hiểu anh. Em không hiểu là anh có thực lòng yêu em không, và nếu những lời anh vừa nói như một quyết định đã có sẵn trong lòng thì em chẳng có gì phải nói nữa. Chúng ta có thể chia tay từ đây, và anh có thể rảnh tay để lo cho sự nghiệp của anh vậy.

Nói xong, không đợi phản ứng của Hưng, nàng cầm ví, bước ra cửa. Thu không hiểu sao nàng lại có thể quyết định một cách nhanh chóng và quyết liệt như thế. Có lẽ vì lòng tự ái mà nàng có thể chấm dứt cuộc tình sau sáu năm một cách dễ dàng. Thu đi thẳng ra cửa và không nhìn lại để biết phản ứng của Hưng thế nào, và nàng cũng sẽ chẳng thấy khó chịu nếu biết Hưng vẫn chỉ đứng yên nhìn nàng ra đi.

Về đến nhà, Thu vào thẳng phòng mình nằm vật xuống giường một cách chán nản. Thu không muốn khóc, nhưng những giọt nước mắt vẫn từ từ lăn trên gò má. Không phải là những giọt nước mắt khóc cho một cuộc tình mà là cho thân phận mình. Thực sự đã chấm dứt một cuộc tình. Tuy là một mối tình xem ra có vẻ nhạt nhẽo, nhưng đàng nào cũng đã lấy mất của nàng 6 năm của một đời con gái.

Từ đó, không bao giờ còn gập Hưng nữa, và cuộc sống cứ thế mà trôi một cách yên bình. Không chỉ Thu không còn tin vào nhan sắc của mình, mà ngay cả tình yêu cũng không làm cho Thu nghĩ đến nữa.

 Ngân hàng Thu làm việc đang có một chút thay đổi. Chủ sự phòng tài chánh trước đây là một người đàn bà luống tuổi, nay đã về hưu và thay bằng một anh chàng trẻ măng vừa mới từ một chi nhánh thuyên chuyển sang. Ngày đầu tiên gặp gỡ nhân viên cùng phòng, Vũ chỉ nói vài lời, tự giới thiệu mình và yêu cầu nhân viên tự giới thiệu. Rồi thôi. Một điều đáng cho Thu để ý đến là Vũ người gốc Huế, mặc dù gia đình đã chuyển vào trong Nam khá lâu.

Bây giờ thì Thu đã 38. Đối với nàng, ông chủ sự Vũ chỉ là một cậu em quá trẻ, thua nàng đến hơn mười tuổi. Qua những lúc làm việc chung, Thu cảm thấy Vũ có vẻ chú ý đến nàng, và thỉnh thoảng sau giờ làm việc, Vũ cũng mời Thu ăn tối hoặc uống cà phê.

Một lần, Vũ hỏi:

- Em ở đây đã mấy năm rồi mà không biết nhiều về chị. Gia đình chị còn ở Huế không?

Những cuộc chuyện trò có vẻ bâng quơ vì tuy thỉnh thoảng nhận lời đi ăn tối với nhau, nhưng đối với Thu, dù là cấp trên, thì Vũ cũng chỉ là một cậu em quá trẻ. Thu chưa bao giờ nghĩ là mình có thể có tình cảm với một chàng thanh niên nhỏ hơn mình cả chục tuổi. Tuy vậy, có một hôm ngồi chuyện trò với nhau, Thu cũng hỏi đùa:

- Anh còn trẻ mà đã có chức vụ quan trọng trong ngân hàng. Thế đã có người yêu hay đã lập gia đình chưa?

Chỉ là một câu hỏi bình thường có tính cách xã giao, nhưng đối với Vũ lại là khác. Chàng trả lời một cách lúng túng:

- Dạ chưa.

Rồi lí nhí tiếp:

- Vào trong ngân hàng nầy đã mấy năm rồi mà Vũ chẳng quen thân ai ngoài chị. Nếu không có gì trở ngại thì cho Vũ xem chị như một người…thân vậy, nhất là gia đình Vũ hiện ở đây chẳng còn ai cả.

Tuy cũng có chút xúc động, nhưng Thu cũng đáp một cách tự nhiên:

- Mình cũng rất vui có một người bạn trẻ, nhưng dù sao, mình cũng là nhân viên và Vũ cũng là chủ sự, miễn đừng để trong ngân hàng hiểu lầm là được.

Sau một vài lần gặp nhau ngoài giờ làm việc, Thu càng thấy rõ Vũ có tình cảm với nàng, không chỉ là một thứ tình cảm bình thường, mà như muốn tiến xa hơn. Thu cảm thấy như thế, nhưng đàng nào đối với Thu, Vũ chỉ là một cậu em, một người bạn quá trẻ. Thêm vào đó, sau một cuộc tình với Hưng, nàng không còn tin vào tình yêu và nhất là bản thân nàng chút nào.

Vì thế mà đôi khi Vũ quanh co, ý muốn nói đến tình cảm đặc biệt của chàng dành cho Thu, không chỉ là một người bạn thường, Thu cũng lờ đi.

Nghĩ đến cái tuổi 38 của mình mà Thu thấy nản. Sáu năm đã trôi qua từ lúc chia tay. Mười hai năm đằng đẵng từ bắt đầu biết yêu cho đến bây giờ. Nếu bây giờ cặp với một chàng thanh niên trẻ hơn mình đến 10 tuổi, chưa chừng sẽ làm trò cười cho thiên hạ, bạn bè chế giễu và biết đâu bản thân sẽ chuốc lấy những đắng cay.

Nhưng rồi có một hôm, nhân sinh nhật của Thu, Vũ mang đến một bó hoa với tấm thiệp có hàng chữ :” Đã bốn sinh nhật qua rồi, Vũ luôn luôn mong muốn được gần Thu mãi”.

Thu cảm thấy có chút bàng hoàng. Sáu năm trước, sự từ chối của Hưng đã làm cho Thu bàng hoàng. Hôm nay, sự bộc lộ tình cảm của Vũ cũng làm cho nàng bàng hoàng. Hai cái bàng hoàng khác nhau, và nàng bỗng cảm thấy gần gũi Vũ hơn.

Chỉ mới ba năm biết nhau và ngay từ đầu, Thu đã thấy được cái chân tình của Vũ, dù nàng chưa bao giờ muốn chấp nhận điều đó, bây giờ, bỗng dưng một thứ tình cảm lạ lùng kéo đến và Thu có cảm giác nó lấp được cái cô đơn lạnh lẽo của con tim tưởng như đã khô cạn tình yêu.

Thu gọi điện cho Vũ và hẹn ăn tối cùng nhau ở một nhà hàng quen thuộc của cả hai. Có lẽ Vũ nhận ra điều gì ngay khi được Thu chủ động mời đi ăn tối. Thu chọn một bàn trong một góc yên tĩnh. Nàng nhìn Vũ và mở lời:

- Thu cám ơn Vũ đã có lòng yêu thương, và Thu không thể không chấp nhận được. Có điều Thu nghĩ là chuyện tình cảm của chúng ta không hẳn là đơn giản chỉ là chuyện hai người yêu nhau và muốn sống chung với nhau một cách bình thường, vì Vũ cũng biết là Thu lớn tuổi hơn Vũ, và biết đâu cả hai gia đình chúng ta sẽ có thái độ phản đối.

Vũ ngồi lặng yên suy nghĩ. Một lúc sau, chàng mới nói:

- Vũ nghĩ là tình yêu thì không có giới hạn. Ngay từ khi mới gặp Thu, Vũ bỗng nhiên thấy gần gũi và cảm thấy yêu Thu. Vũ cũng biết tuổi tác cũng là một vấn đề cho Thu và gia đình, nhưng riêng Vũ thì chẳng có gì là quan trọng cả, và nhất là gia đình Vũ bây giờ ở đây cũng chẳng còn ai. Nếu Thu chấp nhận, Vũ sẽ nhờ người lo chuyện hình thức phải có để chúng ta có thể sống chung với nhau, càng sớm càng tốt.

Tối hôm đó, Thu không cách nào yên giấc được. Tình yêu đối với Vũ không phải là một thứ tình yêu lãng mạn như hồi mới gặp Hưng, nhưng lại là một thứ nhu cầu về tình cảm của cuộc sống. Thu không biết rồi gia đình sẽ nghĩ thế nào và không biết họ sẽ phản đối hay không.

Càng nghĩ, Thu càng thấy thương Vũ và nàng quyết định sẽ nói chuyện với mẹ vào ngày mai. Mãi đến gần sáng Thu mới chợp được mắt. May ngày mai lại là thứ bảy. Thu có đến hai ngày rảnh rang. Sáng hôm sau, Thu lấy vé máy bay ra Huế.

Mẹ Thu đã biết cuộc tình không đi đến đâu trước đây của Thu và Hưng và hiểu những thất vọng đau khổ của con gái, nên chẳng bao giờ hỏi han nhắc đến. Bây giờ bỗng dưng Thu về thăm đột ngột, bà chưa biết có chuyện gì.

Thỉnh thoảng, bà cũng nghe bạn bè của con xầm xì đôi chút về chuyện tình cảm của Vũ, nhưng bà nghĩ là Vũ còn quá trẻ, và Thu sẽ không yêu một người như thế. Nhưng khi nghe Thu ngỏ ý với mẹ về tình cảm đối với Vũ, bà lặng người giây lát.

Cuối cùng, bà nói:

- Con bây giờ đã 38 tuổi rồi, chuyện đời con, mẹ để con hoàn toàn quyết định, chỉ một điều cậu Vũ nhỏ hơn con nhiều quá, không biết rồi thế nào. Mẹ chỉ mong là nếu con quyết định thì mẹ chỉ biết cầu trời Phật phù hộ cho hai con mà thôi. Cuộc đời khó nói lắm, và đôi khi cũng phải tin vào duyên phận mà thôi.

Thu về lại Saigon với một tâm trạng nhẹ nhàng thoải mái. Mẹ nàng nói đúng, đôi khi phải tin vào duyên phận mà thôi.

Những ngày sau đó, Thu và Vũ công khai hẹn hò mặc những lời đàm tiếu đôi khi cũng lọt vào tai họ. Một người bạn thân của Thu đã có lần nói :

- Chị không sợ chừng mươi năm nữa, chị đã năm mươi thì anh ấy chỉ là một thanh niên 40 đầy sức sống, rồi…anh có còn yêu chị như bây giờ không?

Thu mỉm cười:

- Mình cũng đã từng nghĩ như thế, nhưng đàng nào đã tin vào duyên phận rồi nên cũng thôi đành phó mặc cho …duyên phận vậy.

Người bạn thân nghe vậy, chỉ nói thêm một câu:

- Thế thì chị cố gắng thế nào để có một đứa con ngay sau khi lấy nhau. Không những đứa con là gắn kết của vợ chồng, hơn nữa, phải nghĩ đến một tình huống xấu, nếu khi chị đã già, anh ấy còn quá trẻ, nếu có chuyện không hay xẩy ra, ít nhất chị cũng có một đứa con để tiếp tục sống. Ích kỷ một chút để khỏi phải ân hận về sau, dù không muốn nghĩ đến tình huống xấu đó.

Nói thật, dĩ nhiên có chút mất lòng, nhưng dù sao cũng là những lời rất thành thật của một người bạn thân. Tuy nhiên, không phải mọi chuyện đều đơn giản như thế. Thu bây giờ đã gần 40, việc sinh đẻ không phải dễ dàng như lúc còn trẻ.

Đó cũng là một vấn đề lớn. Dĩ nhiên chuyện nầy không thể đặt vấn đề với Vũ được, và cũng chỉ cầu mong ở hai chữ duyên phận mà thôi. Thực lòng mà nói, Thu chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện sau nầy, khi thấy Thu già đi mà Vũ lại bỏ Thu.

Bỗng nhiên Thu có một sự tin tưởng mãnh liệt vào tình yêu của Vũ, nhưng đồng thời cũng muốn có một đứa con, được làm mẹ như những người đàn bà bình thường khác.

Cuối cùng thì đám cưới của cặp Thu Vũ cũng xẩy ra. Đám cưới đơn giản nhưng cũng đúng lễ nghi như ý muốn của mẹ Thu và một cặp vợ chồng người chú ruột của Vũ đại diện nhà trai. Tiệc cưới cũng nhẹ nhàng với một số bạn bè và bà con thân thiết của hai bên.


Sau đám cưới, Thu về căn nhà Vũ đã thuê từ mấy năm nay trong thành phố và cuộc sống vẫn không có gì đổi thay nhiều. Chừng hơn năm sau thì Thu mang thai. Hơn bốn mươi mốt rồi mà mang thai đầu lòng không phải là chuyện đẻ đái bình thường.

Hàng tháng, Thu phải đến bác sĩ chuyên môn theo dõi có triệu chứng trở ngại gì không. May mắn là chẳng có gì. May thêm nữa cho Thu là nàng đã chấp nhận phó mặc mọi chuyện cho số phận, nên cũng chẳng lo lắng gì nhiều và cuối cùng là nàng cho ra đời một bé trai kháu khỉnh. Nàng đặt tên cho con là Phong.

Không còn gì hạnh phúc hơn, và bây giờ, Thu có thể ở nhà vui với Phong và không quan tâm nhiều đến giờ giấc của Vũ. Thực ra thì Vũ luôn luôn vẫn là một người chồng gương mẫu, yêu vợ, thương con và chưa bao giờ làm một điều gì có thể tổn thương Thu. Nhưng cuộc đời cũng không phải đơn giản như thế. Phong lên sáu, thì một tai nạn xe hơi đã cướp đi người chồng gương mẫu của Thu.

Cuộc đời có những cái thật lạ kỳ làm cho người ta không thể không tin vào số phận phần nào. Mất một cuộc tình lãng mạn ước mơ đến quá tuổi đời con gái thì lại gặp một mối chân tình không hẹn. Nửa chừng lại đứt gánh, nhưng tưởng cuộc đời chẳng còn gì thì lại may mắn có bé Phong làm cho cuộc sống có ý nghĩa.

 

Hoàng Tá Thích
------------


 -Hình minh họa -Internet

Kim Quy st

 

Xem thêm...

NỬA THU- Truyện ngắn của Hoàng Nga

NỬA THU

Truyện ngắn của Hoàng Nga

~~<><>~~

Không biết mưa từ lúc nào, sáng sớm, nửa khuya, hay mới vừa, nhưng khi tôi áp mặt vào cửa nhìn ra ngoài, những hạt nước bay ngả nghiêng đập vào mặt kính tạo ra thứ tiếng động đặc biệt không thể lẫn lộn với bất cứ âm thanh nào làm tôi có cảm tưởng như cơn mưa đã đến từ lâu lắm rồi và sẽ không bao giờ chấm dứt. Cơn mưa nhanh, hạt nối hạt chẳng ngừng làm mờ cả khoảng không gian rộng lớn bên ngoài.

Mưa buồn. Đều đặn rơi khiến tôi không nghe thấy cả tiếng Lũy mở cửa, tiếng chân anh bước vào phòng. Mãi cho đến lúc anh hỏi đùa tôi đã làm được bài thơ nào chưa, tôi mới giật mình quay lại. Lũy bật ra một tràng cười. Bóng dáng anh to lớn, che khuất cả một phần khung cửa sau lưng tôi. Tôi hỏi nãy giờ anh làm gì mà bỗng dưng lại hiện ra một cách đáng sợ như vậy. Lũy lại cười. Đáp anh làm vài việc vặt dưới basement.

Từ chỗ tôi đứng, nhìn ra ngoài, là khoảnh vườn đầy những loại cây lá nhiệt đới mà Lũy đã ra sức tim kiếm, mang về trồng trọt, chăm sóc trong nhiều năm liền. Cây lớn, nhỏ. Cao, thấp không đều nhau.

 Lũy trồng cây hoàn toàn không theo một thứ tự nào cả, anh nói sự ngăn nắp, trật tự trong một khu vườn như vậy, sẽ làm mất đi tính cách tự nhiên của đất trời. Tôi đã đùa với Lũy, tôi yêu hai cây cọ châu Phi với những nhánh lá thật lớn nằm ở cuối vườn, chẳng phải vì sự không ngăn nắp trật tự đầy cố gắng, hay vì sự tự nhiên cố ý, mà chỉ vì chúng nhắc nhở cho tôi nhớ đến bóng dáng oai phong lẫm liệt của anh mà thôi.

Lũy lại gần tôi, cùng đứng nhìn ra ngoài. Mưa càng lúc càng lớn nên trời chuyển sang tối hơn. Tôi hỏi Lũy cơn mưa này có làm anh nhớ gì không. Lũy đáp anh đang nhớ đến những cơn dông của Sài Gòn. Tôi so vai:

- Mưa lớn, giống những cơn giông của miền nam thật, nhưng trời lại tối quá làm em nhớ miền trung. Nhớ Huế lạ.

Lũy bật cười to lên:

- Bao lâu rồi em không về Huế?

Tôi nhẩm tính:

- Dễ chừng trên ba mươi năm.

Lũy nghiêng mặt, nhìn tôi một lúc rồi lắc đầu:

- Nói nhớ miền trung thì còn nghe được, chứ em làm sao có thể nhớ Huế với chừng ấy năm không về thăm?

Tôi quay hẳn lại phía Lũy:

- Anh không biết có những điều, những khung cảnh đến trong trí một người, rồi nằm luôn ở đó không chịu biến mất đi hay sao? Nhất là những kỷ niệm vui, dễ thương, hiền hòa. Em nghĩ hệt như các dữ kiện khó xóa nào đó trong máy vi tính, em chắc không thể nào quên Huế được mặc dầu có thể chẳng bao giờ em có dịp về đó lần nữa.

Tôi tiếp:

- Em nhớ Huế vì em đã về Huế vào những năm tháng ký ức còn trắng tinh, chưa có chỗ để đựng những điều phiền toái của cuộc đời. Những gì em nhìn thấy, những gì đẹp nhất về Huề cứ nguyên vẹn trong em như vậy từ hồi đó đến giờ.

Tôi từng kể với Lũy, Huế trong ký ức tôi, chẳng bao giờ là những gì thiên hạ vẫn thường hay ca tụng. Huế không Trường Tiền, không Thiên Mụ, không sông Hương, không núi Ngự, cũng chẳng bến Vân Lâu...

Mà trong tôi, Huế chỉ là những đêm trăng rất sáng sau mảnh vườn thơm ngát hương hoa lài nhà người bác họ. Là những sáng trời mưa dầm, con bé mười, mười một, mười hai tuổi tôi thẩn thơ dưới hàng hiên, đưa tay tinh nghịch đón những hạt nước trời trong veo rơi xuống từ mái ngói.

Là những chập choạng hoàng hôn, trốn cả nhà ra cuối vườn hái mấy đóa trà mi, hải đường dấu cuối đáy giỏ, chờ đem về bên kia đèo ép vào sách. Là những nhá nhem tối, hai mắt nhắm chặt, co chân chạy một mạch không thở, băng ngang qua nhà từ đường vào phòng khách lớn để khỏi phải nhìn thấy những ngọn đèn bạch lạp le lói, khỏi phải ngửi mùi trầm và nhang dễ vẽ lên trong trí tưởng tượng những hình ảnh ma quái, kinh dị.

Tôi nói với Lũy, Huế trong tôi, còn đằm thắm chén mắm tôm chua chấm thịt luộc. Thơm ngát tô canh khế nấu nước mưa. Cay tê dại thẩu mứt gừng, không xắt mỏng như vẫn thường thấy, mà các o tôi lại để nguyên nhánh, bóc vỏ cẩn thận, tỉ mỉ bằng con dao têm trầu bén ngót, rồi sên với lửa liu riu hàng giờ trong thau đường cát trắng tinh.

Huế trong tôi, còn ngọt lừ trên đầu lưỡi chùm nhãn lồng, dòn tan trái chùm ruột vừa mới hái sau vườn... Hơn ba mươi năm tôi không về Huế, chắc chắn vị giác, khứu giác tôi đã đổi thay theo thời gian, nhưng tôi vẫn có cảm giác sẽ không bao giờ tìm ra nơi đâu miếng nem nướng đậm đà hơn nơi ba tôi hay dẫn đi ăn bên kia cầu Gia Hội, sẽ không thấy ở đâu chén chè bắp thơm hơn mùi cốm non ở thôn Vỹ Dạ bác tôi nấu những lần cha con tôi về thăm.

Tôi kể:

- Dưới mắt em hồi đó, Huế xinh đẹp không bắt đầu từ những con đường dẫn vào thành phố như có người từng viết, mà từ lưng chừng đèo Hải Vân. Lần nào về Huế, em cũng chỉ mong chiếc xe chở khách bị dừng lại ở đỉnh đèo vì bị mây che hết lối.

Thử tưởng tượng nỗi sung sướng của em khi được ngừng lại như vậy đi! Em nghĩ chắc chắn người lớn đã rầu rĩ lắm, nhưng còn em, thì anh biết em làm gì không? Chao ơi, em mừng như bắt được vàng, bị la cách gì đi nữa em cũng đưa cả hai tay ra ngoài cửa sổ xe để bắt gặp cái cảm giác lành lạnh chạy dọc từ lòng bàn tay lên đến vai, rồi từ đó xuống đến xương sống.

 Bao giờ em cũng ước ao được giữ lại một cụm mây để mang về nhà. Và cuối cùng thì để em dịu xuống, chiều ý em, ba sẽ đọc những câu thơ cổ, tả cảnh trời nước, mà có lẽ ba biết chắc là khi trời quang đãng, xe chạy qua được phía bên kia chân đèo thì em chẳng còn nhớ được chữ nào.

Lũy bật cười:

- Nghe cũng lãng mạn quá ha!

Tôi cười theo Lũy. Bỗng sực nhớ lại có lần nào đó Lũy bảo anh thích nhìn những hạt mưa rớt rơi trong vườn, và thường ghi lại bằng ống kính từng hạt long lanh còn đọng trên lá bởi chúng luôn luôn làm những kỷ niệm êm đềm thuở ấu thời quay trở về với anh.

Và cũng như tôi, anh nói hầu hết tất cả những gì anh canh cánh mang trong lòng ấy, chẳng hề to tát, lớn lao. Hầu như cũng chỉ là cái nhớ nhung một gánh hàng rong, một thúng cá nồng nàn mùi muối biển cửa Thuận An hứa hẹn bữa cơm chiều ngon miệng.

 Cũng chỉ những chén chè đậu ngự, đậu ván, những trái bắp nướng, những hạt đậu phụng dòn tan béo ngậy tan ra giữa hai hàm răng. Cũng chỉ cái thời tiết khắc nghiệt, những trưa nắng khét mùi nhựa đường, những tiếng gió rít lạnh người khi trời bão to quét ngang về thành phố.

Chiều hôm qua, lúc nhìn thấy Lũy đứng ngắm nhìn hàng phút những hạt nước đọng trên một nhánh lá vả, tôi đã tự hỏi không biết trước những hình ảnh đẹp ấy, Lũy đã ngắm bằng đôi con mắt người làm nghệ thuật, hay bằng cái nhìn từ quá khứ, mà khi đưa cho tôi xem những bức hình tuyệt mỹ, gương mặt đầy vẻ bồi hồi của anh làm tôi thật cảm động. Tôi bảo:

- Em nghĩ những kỷ niệm ấu thời của bất cứ người nào cũng không bao giờ to tát lớn lao đâu anh. Nhưng bình thường vậy đó, nhỏ vậy đó, mà thỉnh thoảng hiện về, quẫy lên, là chúng sẽ biến thành những con kình ngư làm đau lòng nhức dạ chúng ta.

Tôi cười, quê hương là vậy đó mà. Lũy hỏi chùm khế ngọt, hay con diều biếc. Tôi trêu nếu khế không ngọt và diều đứt dây thì có quê hương không nhỉ. Lũy phì cười theo. Chúng tôi nhắc với nhau về những nơi từng đi qua ở Huế, ở quê nhà, những trò chơi thuở nhỏ, những món ăn chừng như chỉ còn nằm trong quá khứ. Lũy bảo:

- Có nhiều khi vẩn vơ một mình, anh vẫn thường nghĩ, quê hương của con cái chúng ta hẳn đã là một nơi nào đó trên xứ này, bởi chúng được sanh ra, lớn lên tại đây, nên chúng cũng có những buồn vui thời thơ nhỏ như chúng ta ngày xưa, nhưng anh cứ tự hỏi khi bắt buộc phải rời xa chốn chôn nhau cắt rốn, rời xa nơi chúng ra đời, không biết chúng có đớn đau cùng khủng như mình không.

Nhìn nét mặt Lũy, tôi biết lần này anh không đùa, nên thận trọng trả lời:

- Con cái mình, khi rời xa nơi chúng yêu mến, nơi chúng từng ở, chắc chắn sẽ buồn lắm chứ, nhưng để có những chuyến trở về, đầu phải như chúng ta, ray rứt, day trở và ngậm ngùi, nên chúng sẽ không bao giờ bị những nỗi đớn đau, cùng khủng dày vò mình một cách tội nghiệp.

Tôi nói vậy, vì cả Lũy lẫn tôi đều có những kinh nghiệm buồn bã, xót xa tương tự nhau trong lần trở về. Cũng bùi ngùi và ngơ ngác khi đứng trước căn nhà cũ đã thuộc về những con người xa lạ. Lũy nói:

- Nghe em nói nhớ Huế, và giữ đậm nét về Huế, mà bỗng thấy sợ.

- Sợ? Anh sợ điều gì?

Tôi ngạc nhiên nhìn Lũy. Anh nhìn lại tôi:

- Thật ra chữ sợ này anh nên để trong hai ngoặc kép. Vì ý anh muốn nói tuy anh không đi nhiều, không sống ở nhiều lục địa khác nhau như em, nhưng dẫu sao thì cũng đã đi, đã dời chỗ tới lui vài nơi do cuộc sống và cả những ham muốn thúc đẩy, nhưng kể từ ngày các con anh lớn lên thêm vài tuổi, anh bỗng hết còn muốn đó đây, hết muốn dời nhà như trước nữa. Anh nghĩ, tha phương, đó đây nhiều quá, rồi các con anh cũng sẽ cưu mang những tâm tư buồn bã như anh.

Tôi thở dài:

- Em hiểu điều anh muốn nói. Và thật ra chính em cũng chỉ muốn sống một đời bình lặng, yên ổn như bao người, nhưng anh thấy đó, cuộc sống không cho phép, nói đến hai chữ “cũng đành“ mà buồn.

Lũy im lặng. Tôi nghĩ đến những đoạn đời phiêu bạt của mình. Nghĩ đến những ước mơ bình thường của tôi -lẫn của Lũy- về một mái gia đình. Những quẫy đạp tội nghiệp, đau đáu bám theo mình nhiều tháng năm dài cho đến khi không còn đủ sức để ước mơ.

Tuy nhiên tôi biết không như tôi, Lũy vẫn còn đi tìm và còn mơ về một chốn bình an. Tôi bỗng muốn đùa với anh rằng anh hãy còn quá nhiều lạc quan và yêu đời, nhưng sợ Lũy buồn, tôi nói sang chuyện khác:

- Hôm nào đó anh có muốn ăn cá nục kho cho đỡ nhớ Huế không? Em kho cá cũng thuộc loại ngoại hạng đấy.

Lũy bảo anh sẽ chờ tôi trổ tài để xem tôi giỏi đến đâu. Mấy hôm nay tôi về, Lũy nấu cho tôi ăn. Và không như nhiều người đàn ông sống một mình khác, anh nấu ngon, nấu giỏi. Lũy bảo do thói quen thích chăm chút lo lắng cho con cái nhiều năm liền. Tôi trêu anh, cái thói quen ấy của anh chỉ làm đau lòng phụ nữ. Nhất là những người phụ nữ phải gồng gánh một mình cả đời như tôi và... bà Trần Tế Xương.

Tôi nói:

- Em đi năm châu bốn biển, nhưng chưa thấy hải sản ở đâu tươi ngon như ở đây. Thiên nhiên ưu đãi cái xứ này quá.

Lũy cười:

- Vậy mà em bỏ nơi này đi đến hơn mười lăm năm mới trở lại.

Tôi không biết trả lời sao, nên lại nhìn ra khoảng không gian ướt nước bên ngoài. Không tưởng tượng được thời gian mình bỏ đi đã lâu đến vậy. Đóa hoa, ngọn cỏ ở quanh đây trong mắt tôi, vẫn cứ như ngày hôm qua. Chưa tàn.

 Nhưng bất chợt tôi sực nhớ đã gần cuối tháng tư, đã lưng chừng nửa mùa thu ở miền nam bán cầu, nghĩ vội đến những bước bắt đầu lại cho cuộc sống mới ở nơi này, bỗng không tôi thấy mệt mỏi lạ. Mơ hồ, tôi nhận ra khi những động lực bắt buộc con người vươn tới trước chừng không còn nữa với mình, tôi tự hỏi lòng, chẳng biết rồi đây tôi có dang tay, thả nốt một quãng đời kế tiếp rơi vào hư vô hay không.

Thấy tôi im lâu quá, Lũy tiếp bằng giọng giễu cợt:

- Anh thấy nãy giờ em nói ra điều gì cũng có vẻ hết sức mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn như em bảo nhớ Huế mà hơn ba mươi năm không hề về thăm, rồi gọi đây là xứ tốt tươi, xứ đượm sữa và mật ong như em vẫn thường ví von, nhưng cũng bỏ đi thật lâu. Và lạ hơn nữa là khi về lại đến đây thì có vẻ như chẳng muốn ổn định lâu dài.

Tôi bật cười:

- Nếu như vậy, có lẽ phải nói là nơi đây đất không lành với em.

Hôm tôi vừa mới về, bằng một giọng cũng hết sức giễu cợt, Lũy đã hỏi tôi lần này có chịu ở lại luôn xứ này hay chưa. Và lúc hỏi tôi như thế, mắt anh long lanh cười. Tôi biết Lũy chỉ muốn trêu tôi vì nhiều lần tôi đã nói với anh, mãi cho đến tận tuổi năm mươi, tôi vẫn chưa hề đặt bất cứ điều gì trong cuộc sống có thể lên hàng tối quan trọng, cũng như chưa hề có nơi đâu khiến tôi muốn dừng chân.

Lũy nói tôi có thể cho anh biết lý do tại sao hay không. Tôi thở dài:

- Bình thường trong đời sống, có những điều vốn đã không “nặng ký“ đối với em, đến lúc những bổn phận phải cưu mang trong nhiều năm trời tự dưng hết đi, chẳng hạn em đã không còn phải lắng lo những cái gọi là hằng ngày cho con cái như cơm ăn áo mặc, sách vở áo quần, thì mọi thứ quanh em bỗng lại càng trở nên mất trọng lượng. Tất cả các ước muốn và ước mơ của em gần như không còn, hoặc có còn chăng nữa, cũng không dữ dội, không mạnh mẽ để bật em dậy.

Tôi từng kể cho Lũy nghe ngày cầm xấp hồ sơ ly dị với chữ ký và mộc dấu của tòa án trên tay, tôi đã lật tới lật lui nhiều lần, vì cái cảm tưởng mình không giống ai cứ đến với tôi. Tôi thấy mình lạ. Dị kỳ. Tôi nói:

- Thay vì xa xót, đắng cay, hay chua chát, thì em lại ngẩn ngơ cố nhớ lại những cảm giác của ngày mình ký giấy hôn thú, để so sánh thử xem nó khác với những gì đang hiện diện trong tâm em như thế nào.

Lũy hỏi:

- Rồi em có tìm thấy sự khác biệt nào không?

Tôi lắc đầu:

- Không. Chẳng có sự khác biệt nào cả.

Không? Lũy ngạc nhiên hỏi. Tôi gật đầu:

- Vì vậy em mới thấy mình không bình thường. Em vẫn nghĩ em không phải là kẻ coi thường những sự kiện quan trọng trong đời sống một con người, cũng không là một người thờ ơ, vô trách nhiệm với bản thân và với người chung quanh, nhưng chẳng hiểu sao bất cứ điều gì xảy ra với em, từ điều lành đến điều dữ, chuyện lớn đến chuyện nhỏ, đều hiếm khi làm em bối rối hoặc hoảng hốt quá độ. Vui, với em, gần như cũng chỉ chừng mực, giới hạn ở một mức nào đó mà thôi. Và buồn, thì có thể nói là em thường rất tỉnh táo, rất bình tĩnh để chấp nhận.

 Có thể vì em vẫn hay nghĩ đến những trường hợp xấu nhất có thể xảy ra với mình ngay cả khi chưa hề có một báo động về những dấu hiệu xấu ấy, vì vậy khi chuyện dữ đến, em luôn có cách để đối phó. Thiên hạ chơi chữ, hay bảo em là con người biết trực diện với sự thật. Nhưng càng ngày, em càng thấy chẳng những thế thôi, mà em còn biết cách để trực diện với sự... giả nữa anh Lũy ạ.

Tôi phá ra cười khi dứt câu. Lũy làm thinh đôi giây. Anh cũng từng kể cho tôi nghe, anh có trái tim bọc thép, do nhiều lần phải “đương đầu“ với những quyết định phũ phàng và tàn nhẫn của những người anh yêu hoặc từng yêu anh.

Và có lẽ “trái tim bọc thép“ của tôi đang nghĩ đến một bàn tay nào đó có khả năng tháo gỡ cái vỏ bọc của mình, nên anh quay sang ngó tôi, bảo, em cần phải có một người cột chân để ổn định ở một nơi nào đó. Tôi lại phì cười:

- Anh định khuyên một người phụ nữ không có nhu cầu làm vợ như em nên đi lấy chồng, lập gia đình hay sao đây?

Lũy nhăn mặt:

- Một người phụ nữ độc thân mà không có nhu cầu làm vợ! Em ví von nghe cũng thuận tai đấy chứ nhỉ?

Tôi thu tay ôm lấy vai. Không biết nhìn đi đâu nên lại nhìn ra trời mưa. Mưa, mưa dầm dề. Mưa trút nước. Mưa tựa hồ những đợt sóng dữ không dứt đổ xuống đời tôi những tháng năm vừa qua đi trong quá khứ. Tôi xa xót nghĩ đến điều Lũy từng nói, rằng đi mãi, tìm kiếm mãi, đến tuyệt vọng, nhưng vẫn chưa được thấy đốt xương sườn của mình ở nơi nào.

Tôi quay mặt hẳn về phía Lũy. Nhớ mình mới vừa đề nghị sẽ kho cho anh nồi cá nục kiểu Huế, tôi hỏi anh:

- Anh có nghe nói về loại cowfish bao giờ chưa nhỉ?

Lũy gật:

- Hình như đó là một loại cá có nọc độc.

Tôi mỉm cười:

- Không những nó chỉ có nọc độc thôi anh, mà loại cá này trước khi dãy chết, hoặc dẫu có bị chết bất đắc kỳ tử đi nữa, nó cũng sẽ không quên nhả hết nọc độc trong người ra để làm chết luôn những con cá khác ở chung quanh nó.

Lũy lườm tôi:

- Em định nói gì anh phải không?

Tôi đưa cả hai bàn tay lên che miệng cười:

- Thấy anh thật giống hệt con cowfish, chết mà cũng không muốn chết một mình, còn định rủ người khác chết chung cho vui! Nếu không thích giang hồ lãng du nữa, và cảm thấy cần dừng gót thì anh cứ đi kiếm người cột chân, kiếm người nào đó làm anh… mất độc lập tự do hạnh phúc đi. Chứ anh xui em làm như vậy chi cho khổ đời em!

Lũy không đáp. Chỉ lắc đầu, rồi nói, mưa dầm dề kiểu này, lười ra đường kiểu này, có lẽ cho tới khi em về, cũng chưa có nổi một nồi cá kho.

 

 Hoàng Nga

Hồng Anh st

                                            

     

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này