Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1256)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (58)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (345)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Tiếng động thiên nhiên trong âm nhạc

Tiếng động thiên nhiên

trong Âm Nhạc

<>❤️<>❤️<>❤️<>

 

Như chúng ta đã biết, hình tượng của thiên nhiên đã được phác họa và tái hiện trong nhiều tác phẩm âm nhạc kinh điển qua các thời kỳ như: thời kỳ Trung cổ, Phục hưng, Baroque, Cổ điển, Lãng mạn, hay âm nhạc thế kỷ XX cho đến nay.

Trong hầu hết những tác phẩm âm nhạc đó, các nhà soạn nhạc đã đưa những âm thanh trong thiên nhiên vào tác phẩm của mình thông qua việc khai thác triệt để tính năng ưu việt của các nhạc cụ để mô phỏng và bắt chước những âm thanh tự nhiên, hoặc tài năng hơn nữa là xây dựng hình tượng thiên nhiên trong bút pháp sáng tác âm nhạc.

Tuy nhiên, với sự vận động, phát triển, biến đổi của vũ trụ và vạn vật, trong đó có con người thì nhu cầu nghe nhạc cũng như quan điểm về thẩm mỹ nghệ thuật ngày càng đa dạng.

Đây cũng là một trong nhiều nguyên nhân để các tác phẩm âm nhạc ra đời đáp ứng thị hiếu âm nhạc khác nhau của công chúng yêu nhạc. Có thể nói, từ nửa cuối thế kỷ XX cho tới thế kỷ XXI đã xuất hiện nhiều tác phẩm âm nhạc khắc họa hình tượng của thiên nhiên một cách rõ nét và cụ thể hơn.

Nhiều nhạc sĩ đã sử dụng những âm thanh điện tử hoặc thu thanh trực tiếp tiếng động từ thiên nhiên và đời sống của con người rồi hòa âm, làm nền cho tác phẩm của mình.

Với nhiều khuynh hướng và cách làm khác nhau nhưng có một trường phái chính, đó là New age.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì “Nhạc New age là nhạc chậm rãi nhằm tạo ra cảm hứng nghệ thuật, thư giãn và lạc quan.

Nó được các thính giả sử dụng trong quá trình tập yoga, mát xa, thiền định và đọc, như một phương pháp quản lý căng thẳng hoặc để tạo ra một bầu không khí thanh bình như ở nhà hoặc các môi trường khác và thường gắn liền với chủ nghĩa môi trường và tâm linh New age”.

Qua khái niệm trên cũng cho thấy rằng việc đưa bản chất âm thanh của thiên nhiên vào âm nhạc là có mục đích rõ ràng và xuất phát từ tính sáng tạo nhất định. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề gây nhiều bàn luận trong giới hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp.

Vì nhiều người cho rằng, hình tượng trong âm nhạc mang tính nghệ thuật cao, không thể dùng những âm thanh thật để miêu tả cảm xúc của con người một cách dễ dãi được.

Vậy đối với các công chúng yêu nhạc thì sao khi nghe một bản nhạc lại thấy xuất hiện tiếng kêu của các loài động vật như tiếng chim hót, tiếng suối chảy, tiếng lao xao của cây rừng, tiếng gió hú trên đồi, tiếng tuyết lở trên núi cao, tiếng sóng biển rì rào, tiếng mưa rơi, tiếng gào thét của bão tố, tiếng động từ đường phố hay thậm chí cả tiếng trẻ thơ khóc, cười, tiếng người nói xôn xao nơi phố chợ…?

Chắc chắn cũng sẽ có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Do đó, bài viết cũng xin giới thiệu một số nhạc hay một vài tác phẩm âm nhạc có sự xuất hiện của những tiếng động trong thiên nhiên để chúng ta cùng thử trải nghiệm.

Trên thế giới có khá nhiều ban nhạc sáng tác và biểu diễn thể loại New age, trong đó phải nhắc tới ban nhạc Bandari. Đây là ban nhạc ở Thụy Sĩ được thành lập vào năm 1990 và do Oliver Schwartz dẫn đầu gồm các thành viên là nghệ sĩ sáng tác, biễu diễn và ghi âm. 

Để thực hiện những CD của mình, ban nhạc Thụy Sĩ này đã đến hầu hết tất cả các hồ nước, các dòng sông nổi tiếng như River Rhine hoặc lên những dặng núi cao ở châu Âu như dãy The Alps…để thu lại thanh âm của thiên nhiên, kết hợp với những giai điệu nhẹ nhàng êm dịu hòa quyện cùng tiếng lá xào xạc, tiếng nước chảy qua khe đá hay tiếng chim hót trong buổi sớm mai.

Nghe nhạc của Bandari, chúng ta như đang đứng trước một làn gió mát, đang ngắm nhìn dòng nước trong xanh lững lờ trôi hay màu xanh bạt ngàn của đồng cỏ bao la. Mỗi tác phẩm đều mang đến một không gian đầy chất thơ và cảm giác bình yên, lắng đọng trong tâm thức của người nghe. Điều này có thể cảm nhận rõ nét qua những tác phẩm như: Melody of rain, Good morning sunshine, The First Snowflackes…

Một nhóm nhạc nữa sáng tác và biểu diễn dòng nhạc New age rất nổi tiếng, đó là Secret Garden. Nhóm này có hai thành viên là nghệ sĩ dương cầm, đồng thời là nhạc sĩ sáng tác người Na Uy Rolf Løvland và nữ nghệ sĩ vĩ cầm người Ai Len Fionnuala Sherry.

Hai nghệ sĩ này đã bán được hơn 3 triệu album và giành thắng lợi trong cuộc thi âm nhạc Eurovision vào năm 1995 với ca khúc Nocturne. Từ thông tin trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia và nhiều bài báo đã cho thấy thành công lớn nhất của Secret Garden tại Eurovision là album đầu tiên có tựa đề Songs from a Secret Garden.

 Album này đã bán được 1 triệu bản trên khắp thế giới, được chứng nhận bạch kim ở Na Uy và Hàn Quốc, vàng ở Ai Len, Hồng Kông và New Zealand, hai năm liên tiếp (1996 và 1997) lọt vào bảng xếp hạng Billboard New Age. album White Stones cũng đứng trong Top 10 bảng xếp hạng Billboard New Age vào năm 1997.

Họ ra tiếp album Dawn of a New Century vào năm 1999 với phần lời do Petter Skavlan sáng tác, hai album còn lại là Dreamcatcher vào năm 2001 và Once in a Red Moon cũng đạt được thành công lớn khi nằm trong Top 10 bảng xếp hạng Billboard.

 Không khai thác triệt để tiếng động của thiên nhiên trong tác phẩm nhưng giai điệu và hòa âm của Secret Garden tràn ngập tiếng sóng biển, những tiếng piano lóng lánh như tiếng mưa rơi trầm tư sâu lắng, tiếng violon nhẹ nhàng da diết nỗi nhớ như nhịp đập trái tim đầy hòai niệm...

Hãy thử lắng nghe những tác phẩm nổi tiếng của nhóm Secet Garden như: NocturnePastorale, Song from a secret Garden, Sigma, Serenade to Spring, Adagio…. chắc quý vị sẽ tự cảm nhận thấy rõ điều này.

Sự hiện diện của thiên nhiên trong âm nhạc đôi lúc chỉ là phác hoạ một cách khái quát, nhưng nhiều khi lại hiện hữu đầy sống động. Chúng ta có thể thấy rõ trong những CD hấp dẫn và độc đáo của nhà sản suất âm nhạc người Trung Quốc Wu Chin-tai, kết hợp với hãng thu âm Wind Music tại Taiwanese với các sản phẩm như các CD The forest show, My Ocean hay CD mới nhất mang phong cách New age sản xuất năm 2013 mang tên Birds II: Where the Sounds of Nature Dwell đã mang lại những âm thanh thiên nhiên thật sự thú vị.

 Khi sống gần gũi với thiên nhiên con người luôn có những cảm xúc mạnh mẽ, tìm được sức mạnh của chính mình cùng những ý tưởng và sự sáng tạo tinh tế trong nghệ thuật. Những âm thanh và cảnh sắc của thiên nhiên đã góp phần cùng các nhà sản xuất âm nhạc cho ra đời những sản phẩm sinh động.

Bằng sự cảm nhận tinh tế, mỗi chúng ta đều có thể nhận thấy sự hiện diện của tiếng thiên nhiên trong âm nhạc.

Bằng sự tinh tế trong sáng tạo, nhiều nhạc sĩ không chỉ mô phỏng những âm thanh từ thiên nhiên bằng các nhạc cụ mà còn thể hiện cuộc sống hiện thực và bản chất của thiên nhiên tạo nên những bản hòa âm tuyệt diệu, có sự liên kết chặt chẽ trong từng câu, từng ý nhạc.

 

Tại Thái Lan cũng có một số nhạc sĩ sáng tác âm nhạc theo xu hướng này. Có thể nhắc tới CD Season of life của Chamras Saewataporn, trong đó có tác phẩm The river of forever đã thu lại những âm thanh suối chảy, kết hợp với nghệ thuật trình tấu flute của nghệ sĩ Nukoon Panyadee và được hòa âm tại phòng thu ở Bangkok Thailand.

Tác phẩm viết về không gian thanh bình bên bờ suối trong mát, thời gian cứ thế trôi đi trong sự chiêm nghiệm về cuộc đời của con người cùng những cảm giác kỳ diệu khi hòa mình trong dòng chảy tươi mát ấy. Dòng suối cứ chảy mãi trong sự luân hồi của ngày và đêm, đó là sự sống vĩnh cửu của tinh thần con người và cuộc sống của thiên nhiên.

Hiện nay, trong những dòng chảy của nhiều trào lưu âm nhạc thì các tác phẩm âm nhạc gắn liền với thiên nhiên luôn mang lại sự mới lạ và thư giãn tinh thần.

Nếu như sau những ngày là việc căng thẳng, con người phải chi phí rất nhiều tiền bạc và thời gian để tìm đến với những khu rừng nguyên sinh, những vùng biển mênh mông sóng vỗ, khám phá những vùng đất hoang sơ... để được hòa mình vào không gian vốn tươi đẹp và quyến rũ, thì những nhạc sĩ cùng với sự sáng tạo tinh tế đã có thể mang lại cho chúng ta những giây phút đam mê đó qua những đĩa nhạc.

Có thể đây cũng là câu trả lời của nhiều công chúng yêu nhạc. Quả thật là kỳ diệu, vì khi thưởng thức một bản nhạc chúng ta lại được đưa tới những vùng đất tươi đẹp, được hòa mình với những cảnh sắc sống động.

Điều này cho chúng ta nhớ tới một nghệ sĩ tài ba đã mang hơi thở của thiên nhiên bao la vào trong các tác phẩm âm nhạc – nghệ sĩ Dan Gison. Vốn là một nhiếp ảnh gia, nhà điện ảnh và nhà ghi âm người Canada, ông còn có nhiều thành tựu trong kỹ thuật ghi âm cuộc sống hoang dã và âm thanh trong tự nhiên.

 

Năm 1946, ông thành lập công ty Dan Gibson Productions Ltd và bắt đầu sự nghiệp làm phim thiên nhiên và series truyền hình. Với tình yêu say đắm vẻ đẹp của thiên nhiên, Dan Gison đã đi đến nhiều vùng đất lạ, khám phá và thu âm lại những âm thanh kỳ diệu của cuộc sống hoang dã.

Ông đã từng đặt chân tới những khu rừng nguyên sinh phía Bắc Phi để thu lại những tiếng ru của đại ngàn, chinh phục nhiều ngọn núi và thung lũng để khám phá tiếng sói hú gọi bầy trong đêm trăng giữa núi rừng hoang lạnh.

Trong những chuyến đi của mình, ông còn thu lại tiếng sóng từ những hồ nước ẩn mình trong rừng sâu đến vùng biển Thái Bình Dương, cho tới tiếng sóng biển lạnh cóng miền Bắc cực với những tảng băng trôi, hay những âm thanh kỳ lạ ở vùng cát nóng bỏng của sa mạc.

Năm 1981, ông đã cho ra thương hiệu âm nhạc thiên nhiên của riêng mang tên Solitudes và cùng với một số nhạc sĩ như Micheal Maxwell, Ron Allen, John Herberman... sản xuất khoảng 150 album nhạc thiên nhiên. Những sản phẩm âm nhạc này thành công tới mức kích thích mọi giác quan của con người, cuốn hút người nghe đến những miền đất xa thẳm.

Nếu như nghe album Guarians of Atlantis của Dan Gison và Micheal Maxwell trong những ngày hè oi bức sẽ giúp chúng ta được hòa mình vào không gian của những đợt sóng tung trào ở vùng biển Atlantic đầy thú vị. Với cảm giác đang lướt nhanh bên dưới cùng những con sóng, đi sâu xuống đáy biển, lạc vào vương quốc của cá heo, khám phá vẻ đẹp tinh tế trong sự kết hợp giữa âm nhạc với âm thanh lóng lánh ánh bạc, sâu thẳm từ đáy đại dương, và lắng mình trong sự tự do vĩnh cửu.

 

Album nhạc mang tên Journey with the Whales của Dan Gison cùng nhạc sĩ John Allen là những âm thanh kỳ lạ của những chú cá voi nhảy lên khỏi mặt nước rồi lặn sâu xuống đáy biển. Trong sâu thẳm đại dương bao la là những giai điệu bất tận, mơ màng, những bài hát êm dịu vang lên trong tâm thức từ lớp lớp luân hồi thời gian và không gian. Chúng ta sẽ được thưởng thức sự đối thoại thú vị giữa âm nhạc với những âm thanh kỳ ảo của đại dương.

Hay khi lắng nghe album Forest piano chúng ta có thể cảm nhận được những màu sắc âm thanh huyền ảo đầy thanh bình trong khu rừng nguyên sinh. Lời hát của lá rừng xào xạc trong gió cùng giai điệu nhẹ nhàng buông trôi của tiếng đàn piano sẽ cho chúng ta được đắm mình dưới ánh trăng đêm vằng vặc, lắng nghe đất hát và hơi thở từ không gian bao la trên bầu trời với từng đám mây trôi theo làn gió vô tư, rồi cùng mơ màng cùng dòng suối chảy về vô tận.

Ngoài rất nhiều các hãng sản xuất âm nhạc, các nghệ sĩ, các nhạc sĩ tài năng trên thế giới đã cho ra đời những sản phẩm âm nhạc thiên nhiên thì tại Việt Nam cũng đã có một số nhạc sĩ khám phá phong cách âm nhạc này.

Nhạc sĩ Võ Thiện Thanh với album Kiss of the Sea xuất bản năm 2009 mang với phong cách New age đã sử dụng những âm thanh tự nhiên đôi khi như một đoạn dạo đầu hoặc là chủ đề xuyên suốt của một bản nhạc. Nhạc sĩ đã khai thác tính năng của nhạc điện tử hòa cùng những âm thanh vang vọng từ thiên nhiên như tiếng sóng biển, tiếng gió kết hợp với những giai điệu bất tận trong hứng khởi từ cuộc sống tự nhiên được tái hiện bằng những giai điệu âm nhạc.

Có thể nói, từ xa xưa con người đã sống gần gũi với thiên nhiên, vì vậy những tác phẩm nghệ thuật mang bóng dáng của thiên nhiên là một điều tất yếu. Bằng những góc nhìn khác nhau, các nhà sản xuất âm nhạc và các nhạc sĩ đã khai thác âm thanh trong thiên nhiên và trong đời sống vào các tác phẩm âm nhạc của mình với nhiều màu sắc phong phú.

Thiên nhiên mãi mãi là nguồn cảm hứng vô tận cho sáng tạo nghệ thuật, do đó những tác phẩm âm nhạc xây dựng rõ nét hình tượng thiên nhiên hoặc sử dụng tiếng động từ thiên nhiên một cách có ý thức và hợp lý cũng là một hình thức tạo nên sự mới lạ trong thưởng thức âm nhạc.

Đây cũng là sự tương tác hai chiều giữa đời sống tinh thần của con người với tự nhiên. Mặt khác, sự hiện diện của thiên nhiên trong các tác phẩm nghệ thuật nói chung còn là bức thông điệp giúp mọi người thêm yêu mến và bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ sự sống cho trái đất và cho chính chúng ta.

 

 Tác Giả Tiến Mạnh

Kim Kỳ sưu tầm

 

 

Xem thêm...

thuở làm thơ yêu em - Trần Dạ Từ

" thuở làm thơ yêu em" - Của Trần Dạ Từ

  NGUYỄN ĐỨC TÙNG

Tình yêu thám hiểm những bí mật của con người. Không ở đâu người ta có thể hạnh phúc hơn hay tuyệt vọng hơn, hèn yếu hơn hay cao cả hơn, như trong tình yêu.

Em ngồi đây, ngồi sát nữa, người thương
Kìa những ngày thơ rụng đỏ chân tường
Kìa sự sống như những chiều bãi biển

Thơ Trần Dạ Từ là tình yêu thời mới lớn, say đắm vụng về, và tình yêu của người đứng tuổi, trải qua hoạn nạn, tù đầy. Đó là tiếng thơ giàu vần điệu, không có nhiều khai phá về ngôn ngữ; tuy vậy khả năng đào sâu của tác giả vào các đề tài tưởng như đã rất cũ, từ đó mở ra những ngã r cảm xúc làm người đọc bất ngờ. Trong thơ Trần Dạ Từ có một nỗi buồn rầu, phiền muộn, như khái niệm blue của người Mỹ, mặc dù thế, thơ ấy không tuyệt vọng, than thở, bi lụy. Ngôn ngữ bám rễ vào đời sống thành thị, dân nghèo, tầng lớp cơ cực. Sự dằn vặt, lối nghĩ ngợi, phân vân, là tiêu biểu cho những người trẻ tuổi trong một xã hội tự do và lo âu, chứa mầm loạn lạc từ bên trong hoặc bên ngoài. Thơ ông như lời độc thoại có kịch tính, lời nói không hướng tới người đọc mà hướng tới một nhân vật nào khác, có mặt trong bài thơ hoặc ngoài bài thơ, đứng đâu đó trước mặt chúng ta.

Ngôn ngữ ấy tìm cách ghi lại ký ức, phản ánh đời sống cùng thời, đời sống trí thức không chịu thỏa hiệp.
Chuồng gà đã bỏ không từ lâu
Chả còn tiếng gì giục giã nữa
Trong các góc phòng và cánh cửa
Bóng tối đập đôi cánh vùng vằng

Thơ ca dạy ta cách vượt qua biên giới giữa bóng tối và ngày mới, giữa căm phẫn và thương xót, cách đi qua sự trống rỗng vô nghĩa của tồn tại, truy tìm những thực tại mới hay ý nghĩa của những thực tại ấy. Thơ Trần Dạ Từ, mặt khác, ca ngợi tình yêu, niềm vui vỡ òa lồng ngực của tuổi trẻ; có bài được phổ thành ca khúc nổi tiếng. Trong giai đoạn sớm, tính chất yêu đời và hồn nhiên của ông vẫn nổi bật hơn cả.

Tỉnh dậy dưới chân đồi
Ruộng ngô ai ngào ngạt
Chạy khắp ruộng tìm coi
Nào ngờ em trốn mất

Được nén lại trong kích thước năm chữ, nhiều khổ thơ, “Mùa Ngô Cũ” là một trong những bài thơ trong sáng, dễ đọc. Trần Dạ Từ cũng có nhiều bài thơ tình khác, cùng thời, đôi khi ngôn ngữ khá cũ kỹ, rõ ràng do ông chưa thoát ra khỏi ảnh hưởng của thơ tiền chiến. Khi vượt qua được ảnh hưởng ấy, ông có những bài thành công hơn hẳn.
Rất sớm, tình yêu từ thời niên thiếu đã pha đậm tình dục, mạnh mẽ, cảm xúc, gần như điên rồ, trong bài thơ lục bát ngắn:

  
Biết yêu người thủa mười lăm
Trong vườn ngây dại ta nằm sót sa
Cỏ cây ồ ạt ra hoa
Chùm môi bông phượng la đà tới lui
Khi không da thịt cả cười
Cùng ta trộn lẫn đất trời với em

(Buổi Hẹn Đầu, toàn bài)

Thể xác ấy không chỉ ao ước tình nhân mà còn muốn ôm lấy cả đất trời, cùng bao thèm muốn khác. Da thịt tự cười, vì muốn xé toang giới hạn của chúng. Như thế là ông đã dùng cỏ cây để mô tả một thứ tình yêu ướt đẫm thể xác trước hay cùng thời với Bùi Giáng: cỏ trong mình mẩy em sầu ra sao.

Tuy đã làm chủ các loại thơ vần điệu, nhưng thực ra chỉ ở thể tự do, thơ Trần Dạ Từ mới hoàn toàn sảng khoái, phóng túng, rào rạt.

Anh sẽ về, câu chuyện mùa thanh trà
Dăm ba nỗi đớn đau đôi chút niềm hối tiếc

Là tình yêu chúng ta
Hai trái tim nhỏ nhoi
Gom lại báo động thế kỷ này
Những đất đai chia cắt
Công phẫn ngực, nghẹn ngào hơi
Chờ chóng mặt
Là tình yêu chúng ta
Hai nỗi bi thương cộng một
Tiếng kêu tổ quốc này
Đòi mở mắt
Hai niềm tin hèn mọn những lòng tin chất ngất
Bài hát ấy nhắc anh thời có em

(Thơ Tình Năm Tám )

Trần Dạ Từ làm thơ từ thời trẻ, khoảng những năm 1950, nhưng bút hiệu ấy chỉ xuất hiện cùng với những bài thơ tình đầu tiên từ năm 1957 trên bán nguyệt san Gió Mới do Nguyên Sa chủ bút, và từ năm 1958 trên tạp chí Sáng Tạo, Mai Thảo chủ biên. Sinh tại miền Bắc, Trần Dạ Từ là nhà thơ miền Nam thời chiến tranh hai mươi năm. Nửa đầu của những năm sáu mươi, thời kỳ miền Nam biến động, với chiến tranh lan rộng, cũng là lúc thơ ông thực sự đổi khác. Đó là thơ tuổi của hai mươi chấn động và nhập cuộc, không chỉ trên trang giấy mà còn trong đám đông. Những bài thời kỳ này tới sau nhưng được tập hợp in thành sách trước, trong tập “Tỏ Tình Trong Đêm”, xuất bản 1965. Sách sau đó bị tịch thu vì tính chất phản chiến (1). Thơ của tuổi trẻ chiến tranh và bụi bặm thành phố.

Khi buổi chiều rụng xuống lũ cột đèn đứng lên
Con phố này nỗi đau buồn bật sáng

Lời hát ru an lành từ nguồn cội nay bị đẩy sâu vào tình huống hoang tàn tang tóc của cuộc chiến:

Ru con mượn bóng thay người
Mượn bia làm gối mượn trời làm chăn
Mượn giông mượn bão làm màn
Mượn cây làm quạt mượn tàn làm hiên

Mượn sao làm mắt mẹ hiền
Mượn nơi chiến trận làm miền rong chơi
Mượn xương máu bọc nụ cười
Mượn cơn bom đạn làm lời ru con

(Bài Ru Mới, toàn bài)

Riêng những bài thơ tình đầu tiên, tuy tới sớm hơn, từ những năm 1950, nhưng mãi tới 1971 mới được in thành sách, trong tập “Thuở Làm Thơ Yêu Em”(2). Thuở là một khoảng thời gian rộng, nhiều ngày hay nhiều năm, thay đổi tùy mỗi người, tùy ký ức, vì thuở là nhớ lại. Thuở làm thơ là một lịch sử, một chương của lịch sử nối vào những chương khác. Đó là không gian bạn đã sống, thời gian bạn đã yêu, thở, chết, sống lại. Một khúc quanh, một dòng sông, một cây cầu gẫy, bạn ngắm nhìn, đặt tay lên, và bạn lắng nghe: tiếng rì rầm tàu chạy.

Người đi qua đời tôi
Chiều âm vang tiếng sóng
Bàn tay mềm khói sương
Tiếng hát nào hơ nóng

Chúng ta có những ngày như vậy, mùa hè ríu rít chim chóc, mùa đông ảm đạm chết người, mùa thu lịm tắt, cỏ cây không hồi phục. Thơ tình Trần Dạ Từ như căn nhà, bếp lửa, cánh cửa sổ, ở đó bạn từng ngồi xuống giữa những người khác, trước mặt một người khác. Những bài thơ ngắn nén chặt, bạn không thể buông ra giữa chừng, như một thể thống nhất, giữa sự vật, thời gian đi qua nhanh như cắt khiến lịch sử không kịp hiện hữu. Khi thì như đứa trẻ lớn lên trên đường phố, dan díu, hóa thân.

Tường vôi trắng là hồn

Dù về sau tác giả làm thơ tự do nhiều hơn, lục bát Trần Dạ Từ vẫn là một dòng tươi tắn, mới lạ, tài hoa. Tình yêu như niềm vui thú: niềm vui của tình yêu là có thật, lớn lao, khó cắt nghĩa, bàng hoàng; nhận thức về nó đẹp như ảo giác. Trong các loại tình như tình mẫu tử, tình yêu bí nhiệm đối với đấng tối cao, tình huynh đệ, tình nhân loại, thì tình yêu nam nữ biến ảo nhất, bất ngờ, ngọt ngào, chua xót nhất, để lại dấu ấn lớn lao bậc nhất trong đời sống cá nhân.

Tiếng cười đâu đó giòn tan
Nụ hôn ngày đó miên man một đời

tran-da-tu-by-choe-1

Trần Dạ Từ tại trại tù Gia Trung (Ký họa Chóe, 1978)

Tình yêu như một công việc: sống là công việc khó khăn, sống trong tình yêu càng khó khăn. Những thử thách của chiến tranh, tù đầy, nghèo đói, các hoàn cảnh phi nhân tính, guồng máy bạo lực xấu xa, và các cá nhân độc ác quanh ta, thuộc đủ mọi lập trường, lúc nào cũng hiện diện. Thơ tình vừa ca ngợi tình yêu vừa chuẩn bị cho người đọc nỗi âu lo của các nhân vật, sự hoang mang, số phận đen tối của họ. Những người yêu nhau phải kết hợp để vượt qua nghịch cảnh, nhưng họ cũng phải vượt qua yếu đuối của chính họ, tan rã của chính họ.

Lần đầu ta ghé môi hôn
Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang
Vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng
Nghìn cây phượng vĩ huy hoàng trổ bông

Trên môi ta, vạn đóa hồng
Hôn em trời đất một lòng chứa chan
Tiếng cười đâu đó ròn tan
Nụ hôn ngày đó miên man một đời

Hôm nay chợt nhớ thương người
Tiếng ve mùa cũ rụng rời vai anh
Trưa vàng, cỏ biếc, vườn xanh
Môi ai chín đỏ đầu cành phượng xưa.

(Nụ Hôn Đầu, toàn bài )

Đây là bài thơ tình nổi tiếng của Trần Dạ Từ, và, tôi nghĩ, một trong những bài lục bát hay nhất của mọi thời đại. Hình ảnh và giọng điệu di chuyển giữa lối kể chuyện và ca khúc; một câu chuyện thông thường, không có gì đặc biệt. Chỉ là mối tình đầu. Và tình đầu nào cũng tan vỡ, và khi nhớ lại bạn không thể nào hiểu tại sao nó tan vỡ. Tình đầu bao giờ cũng đẹp vì được bạn nhớ lại và vì nó đẹp thật. Một mối tình đẹp như thế phải được đặt trong bối cảnh thơ mộng hợp với lứa tuổi mới lớn.

Cái tài tình của Trần Dạ Từ là ở đây: khung cảnh. Một khung cảnh giản dị, thuần phác. Có thể có người cho rằng đó là khung cảnh thuần túy nghệ thuật, không có thực. Điều thú vị là tất cả những cảnh được mô tả, trưa vàng, cỏ biếc, tiếng ve, đều là cảnh thông thường, dễ gặp trong một mùa hè nhiệt đới, không phải cảnh mai lan cúc trúc như trong thơ Đường, cũng không phải cảnh đượm màu giấc mơ:

Vùng cúc bên ngoài đọng dưới sương

(Xuân Diệu)

Cũng không cách điệu như trong lục bát tiền chiến:

Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng
Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh

(Lưu Trọng Lư)

Thơ Trần Dạ Từ, vào những năm khởi đầu của miền Nam, cố gắng vượt khỏi ảnh hưởng của thơ lãng mạn, chạm tới khuynh hướng hiện đại, nghiêng về tả thực, về một khuynh hướng ngôn ngữ giản dị và trực tiếp, khách quan. Trong toàn bài thơ, chỉ có một hình ảnh có vẻ không thật, nhưng lại được tác giả chỉ ra rõ ràng:

Trên môi ta, vạn đóa hồng

Đó là cách nói tượng trưng, hơn là hình ảnh của bài thơ. Câu thơ ấy thực ra không có gì đặc biệt, nhưng dễ được người đọc chấp nhận vì nó chủ ý nói về một tâm sự chứ không mô tả. Cái hay của toàn bài là sự mô tả sống động, mặc dù giản dị, các hình ảnh được lặp đi lặp lại, mở đầu và kết thúc cân đối, ngắn gọn mà miên man, vì gợi lên nhiều hoài niệm, khơi đúng mạch tình cảm nhiều người. Đó là cách đọc liên văn bản. Anh chỉ cần biết, đối với anh, tình yêu là mới, cái cầm tay là mới, môi hôn là mới.

Lần đầu ta ghé môi hôn
Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang

(Vô thức tình yêu.)

Tiếng ve râm ran ở đâu? Hàng cây, lưng chừng giữa trời và đất. Nhưng thật ra chúng từ đâu tới? Một lần tôi trở lại Huế, vào chùa Thiên Mụ buổi trưa, đi thẩn thơ trong vườn, nhớ người thiếu nữ tên một loài hoa đã cùng đi qua đó nhiều năm trước, trong im lặng, chợt trỗi vang lừng âm nhạc kỳ lạ, có dễ hàng chục năm tôi chưa được nghe. Thứ âm nhạc ấy vang lên, không phải từ một phía mà hai, bốn phía, khắp nơi, không phải từ những nhành cây nơi ta biết loài ve sầu thường sống ở đó, mà từ trên trời, đám mây, từ dưới đất, trong cỏ, từ phía sau chiếc xe hơi trong vụ tự thiêu nổi tiếng kia. Và lúc đó tôi biết rằng tôi được nghe tiếng ve lần đầu, miên man thế này:

Vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng
Nghìn cây phượng vĩ huy hoàng trổ bông

Như vậy xúc cảm là mới nếu sự kết hợp hình ảnh là mới. Mới và chân thành. Dựa vào một nhạc điệu quen thuộc, lục bát. Trần Dạ Từ sử dụng hình ảnh không xa lạ nhưng trong một kết hợp lạ, ít nhất là đến thời điểm ấy, và sự trở lại của nó ở đoạn cuối, vừa là sự kết thúc đẹp vừa là sự mở lớn chiều kích xúc cảm, nâng chúng lên. Sự đau khổ mà số phận mang lại còn chưa đến, những tình nhân hãy còn ngây thơ. Thế giới với ta là một. Chúng ta yêu nhau, trời đất yêu nhau. Chúng ta muốn hòa bình. Muốn bên nhau đời đời.

Hôn em trời đất một lòng chứa chan

Trời đất một lòng với chúng ta. Trời đất dung chứa chúng ta và được làm đầy lên bởi tình yêu của chúng ta. Nhưng rồi cũng như tất cả những mối tình đầu khác, tình yêu chỉ tự ý thức về mình khi nó không còn hiện hữu, như linh hồn nhìn ngắm lại cuộc hiện sinh của mình sau khi đã bay ngoài cõi.

Hôm nay chợt nhớ thương người
Tiếng ve mùa cũ rụng rời vai anh

Tự do của một đất nước cũng tự ý thức về mình như thế, một khi không còn nữa. Và hạnh phúc cũng thế. Tuổi thơ càng thế. Nhưng thiên nhiên vẫn ở đó, tan nát rồi bền bỉ, bối cảnh tình yêu vẫn còn. Sức mạnh của ký ức mang chúng ta trở lại, giữa đất trời, trong đúng thứ phối hợp màu sắc như hội họa.
 
Trưa vàng, cỏ biếc, vườn xanh

Đây là sự sắp xếp lại câu lục trên kia:

Vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng

Chính sự tráo đổi các cặp chữ, trưa từ trước ra sau, vườn từ sau ra trước, gây ra ấn tượng xáo trộn thời gian, chuyển ngược kim đồng hồ. Chính nhờ sự chuyển dịch vừa tự nhiên vừa nhân tạo ấy mà thi sĩ gặp được người cũ của mình.

Môi ai chín đỏ đầu cành phượng xưa

Đỏ như vết thương.

Một bài thơ tình nở bừng bừng như phượng mà vẫn dịu dàng khiêm tốn. Đó là sự quan sát bị phân rã trong thời đại tối tăm, một tình nhân đứng đó giữa đổi thay thời thế, bơ vơ tìm dấu tình đầu như nguồn cội. Cảm giác được thấy lại lần đầu tiên sự bừng nở và lụi tàn của mùa hạnh phúc.ó sự giao thoa giữa giấc mơ và hiện thực, giữa quá khứ và hiện tại, sự tự vấn giữa sôi nổi thèm khát và hoài niệm. Trong vài trường hợp khác, có bước nhảy vọt giữa ý nghĩa này và ý nghĩa khác, hoặc giữa ý nghĩa và vô nghĩa:
 
Người đi qua đời tôi
Hồn lưng mùa rét mướt
Người đi qua đời tôi
Chiều ầm vang tiếng sóng
Bàn tay mềm khói sương

Như thế là có vị của siêu thực.

Tuy nhiên thơ ông nhắc nhở người đọc về hiện hữu của thế giới khác, của người khác, khi chúng ta đã vào hẳn bên trong tâm hồn tác giả. Không có một thiên đường để mất. Quá khứ ám ảnh:

Những ngày thơ đánh mất
Còn níu theo chân đòi

Tình yêu của Trần Dạ Từ già hơn tuổi của mình, triết lý, suy nghiệm.

Người đi qua đời tôi
Hồn lưng mùa rét mướt
Đường bay đầy lá mùa
Vàng xưa đầy dấu chân
Lòng vắng như ngày tháng
Đen tối vùng lãng quên

Đó là tình yêu bị đánh cắp. Cơn bão bên kia thành phố sắp tới. Thời gian không thuộc về chúng ta. Cuộc chiến tranh không thuộc về chúng ta. Mọi thứ ngoài tầm kiểm soát của tuổi trẻ, của thi sĩ. Ngay cả trong những bài thơ tình như bài này, âm điệu thì du dương, vì vậy đã được phổ nhạc, ngôn ngữ của ông vẫn cứ sắc bén.
Sau khi thi sĩ nói xong, mọi người đều thấy đó là ngôn ngữ bình dân, dễ dàng, gần như ai nói cũng được, nhưng trước ông, không ai nói thế.
Không ai nói:

Người đi qua đời tôi

Không ai nói:

Mây mù lên mấy vai
Gió mù lên mấy trời

Chưa ai từng nói:

Không nhớ gì sao người

Ngôn ngữ đằm thắm mà cứng cỏi, dồn nén mà bồi hồi. Sự thân mật trong thơ Trần Dạ Từ là đặc biệt. Sự thân mật: đó là khoảng cách giữa tác giả và người đọc, giữa người đọc và nhân vật văn chương. Mặc dù thoạt nhìn, thơ ông kín đáo độc thoại, không có giao tế, kịch, một ngôn ngữ thầm thì, nhưng đó là trò chuyện giữa hai người dưới ngọn đèn mờ tỏ, kể lại chuyện tình dưới đêm trăng, vết thương trong bùn lầy nước đọng, tội ác trong rừng, các biên giới mà thơ trữ tình muốn chạm tới. Giọng nói của người kể chuyện nhỏ nhẹ nhưng rõ ràng, chi tiết, tỉnh thức, soi sáng, tự ý thức về mình, của một cá nhân vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ. Dù đôi khi tác giả chỉ nói về một sự vật thoáng qua, một kỷ niệm nhỏ.
 
 
Nhã Ca & Trần Dạ Từ 1960
 
Thủa làm thơ yêu em
Trời mưa chưa ướt áo
Hoa cúc vàng chân thềm
Gió may lưng bờ dậu

Chiều sương dầy bốn phía
Lòng anh mấy ngã ba
Tiếng đời đi rất nhẹ
Nhịp sầu lên thiết tha

Thủa làm thơ yêu em
Cả giòng sông thương nhớ
Cả vai cầu tay nghiêng
Tương tư trời thành phố

Anh đi rồi lại đến
Bài thơ không hết lời
Bao nhiêu lần hò hẹn
Sớm chiều sao xa xôi

Mười bẩy năm chợt thức
Bây giờ là bao giờ
Bàn tay trên mái tóc
Nghìn sau còn bâng quơ.

(Thuở Làm Thơ Yêu Em, toàn bài)

Thương nhớ xảy ra trong khoảng cách. Khoảng cách càng lớn, trong không gian hay thời gian, thương nhớ càng tăng lên. Như vậy tình yêu trong Trần Dạ Từ là thương nhớ, nghĩ về, sống lại. Tình yêu ấy được sinh trở lại bởi khoảng cách, hoài niệm. Hoài niệm là đặt bạn vào vị trí ngoại biên và đối tượng được hoài niệm di chuyển về trung tâm. Thủ pháp nhân cách hóa được Trần Dạ Từ sử dụng thường xuyên, trở thành một trong những phương pháp chính yếu. Ngôn ngữ thơ là sự bắc cầu giữa vẻ đẹp và hiện thực mới, giữa vẻ đẹp và sự thất bại, giữa niềm đau có thật của tình yêu và mất mát có thật của chiến tranh.

Một trong những lợi thế của phong cách trầm tư, độc thoại, với cấu trúc rộng mở, buông lỏng, như trong bài thơ Thuở Làm Thơ Yêu Em là các câu thơ nối vào nhau một cách liên tục nhưng không quá chặt chẽ, các hình ảnh có thể đảo ngược, thậm chí trật tự thời gian cũng có thể xáo trộn, nhưng câu chuyện ấy vẫn là câu chuyện được kể lại, tuy rời rạc, chắp nối mà vẫn chỉ có thể là của một người, và của người ấy mà thôi. Đó là nhờ giọng điệu âu yếm và lo âu. Lo âu nhưng không sợ hãi. Thật ra đó là một hình thức suy nghĩ về tương lai, sự tiên đoán về những sự kiện sắp xảy ra, nhu cầu định hướng trong một thực tại hỗn loạn của tình yêu và ly tán, của tội ác chống con người trong chiến tranh và sau chiến tranh, của sự nhầm lẫn giữa sự thật và gian dối. Tình yêu đầy âu yếm và xao xuyến là của một người hoàn toàn lành mạnh đi giữa những hoàn cảnh khắc nghiệt.

Năm suốt những con đường mưa giông
Năm dọc những bờ hè giá rét
Năm với lời vỗ về chiều tàn
Năm cùng tiếng trở mình khuya khoắt

(Giã Từ Năm Thìn, trong tập Tỏ Tình Trong Đêm)

Bên kia âu lo là chờ đợi. Bên kia chờ đợi là hy vọng. Là giấc mơ hòa bình, và khi đã có hòa bình là giấc mơ tự do, vì đó là một nền hòa bình trong tù đầy. Thơ mô tả đời sống thực, hối hả xáo trộn, biến ảo khôn lường, nhịp đập của đời sống, sự vui thú, chán chường mệt mỏi. Cảm giác ngột ngạt nóng nảy của thời đại kinh hoàng, bóng ma chiến tranh ngày một tới gần, vừa đi qua, bạn vừa nhìn thấy nó. Sự nổi loạn ngấm ngầm, sự lạc đường. Khi ngôn ngữ thơ mô tả một tâm trạng lo lắng, một vết thương tình yêu, sức mạnh của chúng bộc lộ. Thơ Trần Dạ Từ viết ở thể hiện tại, mô tả sự vật trong vị trí di chuyển, đầy sức sống, hơi thở.

Cái nhìn của nhà thơ bao giờ cũng là cái nhìn trở lại, nhận thức và nhận thức lần nữa, tình yêu là tình yêu lớn lên, gần như trưởng thành ngay ở tuổi nhỏ, điều ấy có liên quan gì đến cuộc đời riêng của tác giả hay không, những kinh nghiệm riêng tư, có lẽ không ai biết. Mặc dù ngôn ngữ thơ ông trong sáng, không phải bài nào đoạn thơ nào cũng được thế, không phải vì chúng khó hiểu mà vì chúng gợi lên những góc khuất, riêng tư đến nỗi mọi diễn dịch tùy thuộc ở người đọc.

Tuổi trẻ đi qua một lần, một lần thôi
Tôi hèn nhát như một loài dế cỏ
Hạnh phúc đi qua một lần
Cũng chỉ một lần thôi
Và sự tan vỡ ấy làm mọi người cười rộ

(Buổi Trưa về Thị Nghè)

Một bài thơ trở nên khó hiểu khi nó quay lưng với người đọc. Hoặc vì sự quay lưng ấy là cần thiết cho người đọc hoặc vì cần thiết cho chính nó. Những bài thơ thế sự của Trần Dạ Từ chua chát, buồn rầu, là những câu mô tả ngắn gọn, một nghệ thuật làm thơ hiện đang bị bỏ quên. Mỗi chi tiết của bài thơ đều hướng về phía kết thúc hoặc nhằm tạo dựng một không khí, như thể bài thơ là ngôi nhà. Tập thơ “Tỏ tình trong đêm”, giữa những cuộc đảo chính, một xã hội phân rã, trước ngọn lửa chiến tranh dâng cao, là một lời “tỏ tình” kiểu khác. Của một tình yêu già trước tuổi.

Năm đọa đầy những đêm giới nghiêm
Năm đằng đẵng những ngày tuyệt thực
Năm máu chảy và năm ruột mềm

(Giã Từ Năm Thìn)

Suy nghiệm triết lý đầy chất thơ. Sự trao đổi vị trí giữa nhà thơ và sự vật, cảnh vật bên ngoài hóa thành tâm cảnh và ngược lại, tôi biến thành em và em biến thành tôi.

Cho tôi xin nửa bóng trăng ngoài
Với nửa mùa thu trong mắt ai
Lá rụng bao nhiêu hè phố cũ
Sao nghe lòng rưng rưng nhớ người

(Trăng Mười Sáu)

Trong giai đoạn sau của miền Nam, chúng ta thấy sự mất cân bằng trong ngôn ngữ thơ thời ấy. Trần Dạ Từ nhắc đến mặt trời, mùa hè, mùa nắng, bông phượng, con đường, hè phố, chân tường, sự lấp lánh, và chúng không phải là những vật trang sức mà chính là linh hồn của thế giới mà ông đi qua, đẹp nhưng sẽ mất. Những hình ảnh ấy được sắp xếp sao cho chúng làm nổi bật lên nhân dáng khốn khổ của tác giả hay của bạn bè, cùng giai đoạn. Thơ ông là ánh sáng và bóng tối, ánh sáng của quá khứ và bóng tối của tương lai. Nỗi trầm tư trong thơ ông không phải là triết lý siêu hình mà là phản ứng tất nhiên của người trí thức trước một thời đại, là sự tra vấn của nhà thơ đối với lương tâm mình. Đó là sự chuyển hóa các tình huống khách quan thành điều kiện tâm lý, là sự lý giải trật tự của đời sống, bằng bước đi của cá nhân. Lịch sử dân tộc là tập hợp tổng thể các tính cách cá nhân. Là cuộc huynh đệ thương tàn, sự phá hủy của những giá trị dân tộc.

Tặng cho em cuộc chiến hung tàn
Trên quê hương của bao nhiêu bà mẹ
Nơi đồng bào ta ăn bom đạn thay cơm
Nơi lá chuối khô được bện làm mũ tang
vẫn không đủ để đội đầu con trẻ

(Tặng Vật Tỏ Tình)

Nhiều năm sau, sau cuộc đổi đời của dân tộc, từ trong tù đầy, Trần Dạ Từ viết nhiều bài thơ mới, như "Hòn Đá Làm Ra Lửa"(3) . Thật ra đây không phải là lần đầu tiên Trần Dạ Từ phải đi tù và làm thơ trong tù. Thời 1963, Đệ nhất Cộng hoà, ông đi tù trong vài tháng, còn sau 1975, hơn mười hai năm. Trong năm 1963 ác liệt, ông viết những câu thơ dũng cảm, làm rung động lòng người:

Nửa đêm nàng bị bịt mắt dẫn về đó
Chúng tra khảo nàng để tìm chàng
Nàng bị cặp điện vào hai tai
bị cặp điện vào vú
Trong khi đó chàng ở sát cạnh nàng
Ở ngay trong tim nàng
Ở những nơi mình nàng rõ

(Thơ Viết Trong Tù 1963)


Tình yêu là cách nhìn ra bên ngoài, là cách sống giữa thiên nhiên, nhưng trong thơ ông, đó cũng là nhìn vào bên trong, sự trở lại, đầy dũng cảm. Tình yêu là trở lại. Làm thế nào để một người có thể vượt qua thời gian, đi tìm tuổi thanh xuân? Chỉ bằng cách nhìn vào bên trong, sống lại chính đời sống của mình, kéo dài đời sống ấy. Trước cái đẹp, trước hoài niệm, trước nỗi buồn, con người trở nên khiêm tốn. Con người khiêm tốn hơn trong tình yêu thương.

Thì ra khiêm tốn chỉ sinh ra từ sự kính trọng đối với người khác, và sự kính trọng đối với người khác sinh ra trong một bầu khí quyển tự do. Sự gắn bó của tâm hồn vào những mất mát làm tăng thương tổn và cùng thời làm tăng cái đẹp, sự dũng cảm.

Ném lên. Ném lên. Ném lên nữa
Từng trái bắp. Từng lát đường
Ném lên. Ném lên. Ném lên nữa
Từng gói thuốc. Từng vắt cơm

Ném cả gánh hàng rong
Ném tràn như nước mắt
Ném hết. Ném hết
Ném cho người đi đầy

Tấm lòng Phan Rang.
Tấm lòng. Ôi Việt Nam

(Tấm Lòng Phan Rang)(4)
Tình đồng bào.

"Hòn Đá Làm Ra Lửa" là một bài thơ dài hơn, có thể gọi là trường thi hay trường ca. Một bài thơ nhân chứng, một bài thơ tình, kiểu khác. Mạnh mẽ, đau xót, nhưng trầm tĩnh. Giọng điệu của tác giả thay đổi, khi lạnh lùng khách quan, khi nghĩ ngợi, khi hài hước châm biếm, khi ân cần thương cảm. Cấu trúc của bài thơ là cấu trúc mở, gồm những mặt phẳng liên tiếp cắt ngang. Lịch sử các nhà thơ không thể tách rời khỏi lịch sử của những thứ sau đây: một xã hội tự do, một đất nước chiến tranh, sự sụp đổ, sự đàn áp. Dù vô tình hay với ý thức rõ rệt, các nhà thơ thuộc thế hệ Trần Dạ Từ tích hợp thể thơ trữ tình cá nhân, bắt nguồn từ truyền thống lãng mạn tiền chiến nhưng táo bạo đi xa hơn, tách ra, đôi khi như sự nổi loạn, đôi khi chỉ là sự tiếp tục dấn bước, với một ngôn ngữ trực tiếp, dũng cảm, rách xé, rời rạc, phẫn nộ, lo âu, có tính chất phê phán, đặc trưng cho một thời đại tan vỡ.
 
Khỏi cần sần sùi nữa
Hòn đá cổ sơ đen đúa của ta
Tôi biết chúng ta sẽ ra sao
Bạn bè chúng ta. Kẻ thù chúng ta

Quê hương đẫm lệ và thế giới ngộp khói
Tôi biết chúng ta sẽ gặp nhau thế nào
Trong mắt. Trong cổ. Trong ngực em
Trong mắt. Trong cổ. Trong ngực tôi
Ngọn lửa ta hớn hở, tung tăng

Tình yêu là tự do vượt khỏi ràng buộc nghi lễ, truyền thống. Hơn thế nữa, vượt khỏi những khổ đau bí mật và những bất hạnh bị chính ta đè nén do định kiến và quy ước. Tình yêu không phải là mục đích tự thân mà là hành trình, và chính trong hành trình ấy mà tình yêu nảy nở, trở nên bền vững.

Có thể chúng ta sẽ sống sót. Sẽ trở về
Cùng vuốt ve lại trang giấy bị vò nát ném bỏ
Cùng bắt đầu lại. Từ chỗ được bôi xóa

Thơ chống lại quên lãng. Khả năng quên lãng, khả năng sống trong một xã hội không có lịch sử, có thể tồn tại ở nhiều người thiếu can đảm và thiếu trung thành với các nguyên tắc, bọn cơ hội, đầy rẫy dưới những chế độ chính trị khác nhau. Sáng tạo được sinh ra bởi giây phút mà phẩm chất làm người chiếu sáng nhất, chống lại hư vô, chống lại bôi xóa, chống lại phản bội lịch sử. Mặc dù không phải là một nhà thơ có tuyên ngôn trường phái rõ ràng, Trần Dạ Từ thể hiện khuynh hướng hiện đại từ sớm. Đó là khuynh hướng tin vào sự hiện hữu
đương thời, giây phút sáng tạo, hình mẫu văn hóa, khả năng rời bỏ sự ràng buộc của quá khứ. Một điểm đặc sắc của thơ Trần Dạ Từ là điểm nhìn của người kể chuyện, chúng thay đổi, từ các phía khác.

Tình yêu cũng là hôn nhân, giữa chồng và vợ qua chiến tranh, tù đầy, hoạn nạn. Bất kỳ một quan hệ nào cũng sẽ thay đổi qua thời gian, tình yêu cũng thế, nhưng chính trong thử thách mà chúng lớn lên. Chính là khả năng của một con người được tái hợp với cái bình thường, sau những năm mất tự do, chính khả năng của họ chạm tay vào một cánh tay yêu dấu, một cánh cửa quen thuộc, chính khả năng ấy làm nên ý nghĩa của phẩm giá con người. Trần Dạ Từ có khả năng nhìn vào sự vật, hòn đá, vật vô tri, sờ lên chúng, cọ sát chúng vào nhau làm phát sáng lửa.

Chỉ có tôi và em cất giữ
Rời nhau ra. Lặng lẽ. Dư thừa
Hợp đôi lại, chúng làm ra lửa

Em hay người nữ trong thơ Trần Dạ Từ là chủ đề đặc biệt. Trong những bài thơ viết về sau, người nữ là vợ, là mẹ, là người đàn bà tri âm tri kỷ của tác giả. Tình yêu là hôn nhân. Hôn nhân là sự mất mát, bất hạnh, chia lìa, nhưng cũng là niềm tin, cứu rỗi, là cái còn lại sau cùng của ý chí tự do. Như vậy hôn nhân là thiêng liêng, tình yêu là nơi nương tựa. Nhưng người nữ ấy cũng trôi dạt, long đong như bao số phận khác, vì vậy đó còn là lo âu. Thơ ông là thơ về nỗi lo âu, triền miên, ám ảnh.

Tôi không biết giờ này em ra sao
Có lượm lại đủ lũ con cái tan tác không
Em có gì để ăn. Cho chúng ăn
Em làm cách gì để thở. Cho chúng thở
Em còn chỗ nào để nương náu, tạm bợ

Trần Dạ Từ sử dụng một từ vựng không lớn trong các bài thơ tình, nhưng khi chuyển sang làm thơ thế sự, đặc biệt những bài viết trong tù, ông sử dụng nhiều hơn các chữ ít dùng trước đó, trần trụi, đời thường, thậm chí gai góc dữ dội. Đen đúa, sần sùi, không đáng một xu, quạ không thèm mổ, kiến không thèm bu, em đã nhe răng, ăn nhằm gì, rôm rả, nước miếng ứa, chẳng hề hấn gì là những chữ chúng ta gặp trong thơ ông giai đoạn sau. Chính sự cần thiết của việc bày tỏ, giao tiếp, của sự mở một cánh cửa mà có việc sử dụng một ngôn ngữ đời thường đến thế, dân gian, mãnh liệt, hài hước và khinh mạn, có sự bất cần và phản kháng đến thế.

Các nhà thơ tài năng sử dụng ngôn ngữ trần tục khi cần thiết. Hơn thế, ngoài những nghĩa thông thường có thể tìm thấy trong từ điển, chữ trong thơ Trần Dạ Từ có ý nghĩa riêng, tạo cảm xúc riêng, hồi ức riêng, những tham chiếu khác nhau ở người đọc khác nhau. Dù vậy, chữ của ông không mang lại cảm giác mơ hồ, phân vân (ambiguity) như một số nhà thơ khó đọc khác. Thơ ông dễ hiểu, khá giản dị, gần như trong sáng, trong nhiều đoạn, nhiều bài. Nhiều chữ trong thơ có thể giãn nở, nới rộng để bao gồm nghĩa khác cho những văn cảnh khác. Giọng điệu có tính tuyên bố, biểu hiện, trực tiếp, nhưng vẫn không thô ráp, đó là nhờ sự tinh tế.

Tôi sẽ sửng sốt nhìn. Sẽ thật thà mô tả
Cho bạn hữu và kẻ thù cùng biết
Những hạt cơm tương lai
Phải cười như thế nào
Trong con mắt háu đói của nhân loại

Thơ hy vọng giữ lại giây phút của lịch sử, đóng đinh các số phận lên bức tường ký ức, làm cho người chết sống lại, làm cho trí tưởng tượng trở thành phương tiện duy nhất của con người vượt khỏi hoàn cảnh phi nhân. Sự thương tiếc mà thơ ca mang lại mở ra mối tương thông giữa nhà thơ và thế giới bên ngoài, kéo dài sự sống sót của một nền văn hóa qua khỏi ngọn lửa bạo động, chống lại hủy diệt, thắp một ngọn đèn nhỏ bên cửa sổ, cuối đường. Xã hội miền Nam, dưới một chế độ nay đã hoàn toàn biến mất, ngày ấy trong chiến tranh, đầy những khiếm khuyết, những âm mưu, những lầm lỗi, vẫn là một nền dân chủ đang hoàn thiện, vẫn là một xã hội có tính chất dân sự cao nhất cho đến nay, chưa hề được đánh giá một cách công bằng, thì nay đã được thơ ca nhìn nhận lại.

Phải rồi. Chúng ta có chung một thành phố
Nơi định mệnh chân dài của mỗi người đã ngủ
Những cây me Nguyên Sa canh cửa dịu dàng
Cột điện Thanh Tâm Tuyền dữ tợn
Quán rượu Mai Thảo, Phạm Đình Chương
Đêm nguyệt cầm Cung Tiến.

Jim Webb-Tu 02-28-92_Grey
Nhà thơ Trần Dạ Từ và cựu Bộ Trưởng Hải Quân Jim Webb tại Quốc hội Mỹ (2-28-1992)
Thơ ấy là một loại thơ nhân chứng được viết trong hoàn cảnh bi đát, cá nhân, trực tiếp, với góc nhìn cận cảnh, với ngôn ngữ giản dị và mỉa mai, tự tin và ngậm ngùi, trong một ý thức sáng rõ mà dịu dàng. Nếu so sánh thơ viết sau này với những bài thơ trước đó, Trần Dạ Từ là một trong những người viết thực sự thay đổi bút pháp. Nếu Thanh Tâm Tuyền từ sở trường thơ tự do trở lại với thơ cổ điển có vần, chẳng hạn, thì Trần Dạ Từ thay đổi theo hướng ngược lại, những bài thơ trong tù một số lớn được viết dưới thể tự do, hoặc có vần nhưng âm điệu phóng khoáng. Sự va đập dữ dội của hiện thực, sự tan vỡ của những niềm hi vọng vào một tương lai tự do, sự đàn áp, săn đuổi, để lại dấu ấn rất sâu trong thơ Trần Dạ Từ. Khác với nền thơ có phần hư vô, chán nản, ít chịu trách nhiệm trước đây ở miền Nam, thơ ông sau này là tiếng nói dõng dạc, kẻ đứng thật trên đôi chân của mình trước dông bão. Trong tiếng gào thét của xã hội mới, giọng nói nhỏ nhẹ, quyết liệt nhưng hóm hỉnh của ông vang lên như sự từ chối thua cuộc, sự thản nhiên bất khuất, trong một ngôn ngữ dửng dưng mà xúc động, nén lại.

Chúng ta có chung một thời đại
Con đường tình ngoằn ngoèo của Phạm Duy
Khu rừng lau mênh mông của Doãn Quốc Sĩ

Mụ đế quốc khốn khổ của Võ Phiến
Những khuôn mặt dị dạng trong thế giới của Choé

Trong chiến tranh, chúng ta mơ hòa bình; trong cảnh tù đầy, chúng ta sẽ mơ tự do. Nhưng trong cả chiến tranh và hòa bình, trong cả tù đầy và tự do, người nghệ sĩ đều phải nghĩ đến nhân phẩm.

Không thứ cờ quạt nào vấy nhơ nổi bầu trời
Không thứ chủ nghĩa nào bôi bẩn được trí nhớ
Đồi núi và em mặc chung áo nắng vàng
Suối nước và em đi chung từng bước chân

Giản dị như ngày nào, em tới
Chúng ta dễ dàng nhận ra nhau
Và nụ cười em rì rào cùng cỏ cây mặt đất:

“À. Anh ấy nằm đây

Phải vậy chớ
Anh ấy vẫn giữ nó
Hòn đá làm ra lửa.”

“Hòn đá làm ra lửa” vừa là câu chuyện kể, có mở đầu và kết thúc, có những diễn tiến phù hợp với tiểu sử tác giả, vừa là sự phản kháng đối với các ảo tưởng, nhưng đó cũng là một bài thơ trữ tình. Mối quan tâm của nó là sự hành hạ đối với con người, các chủ nghĩa mê tín, sự vượt qua chúng, không những bằng lòng dũng cảm mà còn bằng tình yêu, không những bằng sự phản kháng mà còn bằng lòng tin. Tôi nghĩ rằng lòng tin là ý tưởng cốt lõi của toàn bộ tác phẩm này. Lòng tin vào điều gì? Vào nhân cách, vào giá trị nhân loại, lòng tin vào một nửa đất nước tự do, thật ra là giấc mơ cao nhất của tất cả người Việt, dù họ ý thức được điều đó hay không, đã bị đánh bại trong chiến tranh, vào một xã hội được hướng dẫn bởi công lý, vào lý tưởng hay sự tìm kiếm lý tưởng của thế hệ mình. Bài thơ nói về tình yêu, lòng chung thủy, tính dũng cảm, sự điềm tĩnh với chút bùi ngùi, và sự thèm khát đoàn tụ, của kẻ phải đi qua những ngày đen tối. Cấu trúc của bài thơ là một cấu trúc khó định hình, vì dựa vào các hình ảnh và ý tưởng đầy cảm hứng, chúng là dịp để bày tỏ các quan niệm về đời sống và về chính trị, nhưng chúng hiện hữu trước hết như những hình ảnh và ngôn ngữ thơ ca.

Bài thơ “Hòn đá làm ra lửa” vận động như một cấu trúc trầm tư và mô tả. Bài thơ tập trung vào các chi tiết cụ thể, ngắn gọn, có thật, trong những đoạn thơ đặc biệt, sự mô tả ấy chuyển thành những suy nghĩ triết lý, sự phản kháng, tiếng cười và tiếng khóc thầm lặng lẽ, xao xuyến trước cuộc đời bất trắc và lòng tin vững mạnh vào giá trị của một truyền thống xã hội đã mất.Trần Dạ Từ chưa bao giờ tỏ ra nghi ngờ sức mạnh của ngôn ngữ như một số nhà thơ sau này. Nỗi băn khoăn có tính triết học ấy ít xảy ra trong một xã hội đầy biến động khi ngôn ngữ hiển nhiên trở thành phương tiện quan trọng và cuối cùng của việc gìn giữ các niềm tin và truyền đi những giá trị cao quý. Kẻ sống sót sau chiến tranh vừa cảm thấy có lỗi với người đã mất, bạn bè mình, đồng thời tự mang thêm trách nhiệm của những người ấy trên vai, trong cuộc hành trình đi qua cái chết.

Có thể sẽ không còn. Cũng chẳng mất đi đâu
Dòng chảy nào không thẩm thấu, không bốc hơi
Có thể chúng ta vẫn quân quất đâu đó
Như bọt nước tung tóe reo vui
Nơi này. Nơi kia
Trong bước đi bất tận của dòng suối sinh nở

Khác với các nhà thơ hậu Auschwitz của châu Âu như Samuel Beckett, các nhà thơ Việt Nam thời kỳ sau này có nhiều niềm tin hơn vào khả năng bày tỏ và giao tiếp của thơ ca. Rõ ràng là trong một bối cảnh kinh hoàng không kém, hỗn loạn không kém, vì nhiều lý do, các nhà thơ ấy tin rằng họ có thể vượt qua thời đại khó khăn mà không gục ngã, bằng sự can đảm của người tin vào các giá trị mà họ bảo vệ. Tôi cho rằng chính niềm tin ấy trực tiếp dẫn họ đến niềm tin vào ngôn ngữ, hiện tượng ít tra vấn đối với nó.

Cánh cửa bứt khỏi cổng. Nhà bứt khỏi người
Trang giấy bứt khỏi mặt bàn
Chữ nghĩa bứt khỏi sách

Đó là hoàn cảnh bên ngoài chống lại ngôn ngữ. Đó là sự truy vấn hiện thực, một hiện thực không bình thường. Mặc dù hình như Trần Dạ Từ chỉ nói về những điều ông biết, sống với chúng, đã nghiền ngẫm chúng, như tình yêu thời trẻ và năm tháng tù đầy, sự thật của chúng không phải là không có gì để bàn cãi nữa. Sự hoang dã của điều kiện sống trong nhà tù và điều kiện xã hội bên ngoài, đặc biệt những năm bảy mươi tám mươi thế kỷ trước, là chống lại văn hóa dân tộc. Niềm hy vọng của tác giả trong bài thơ "Hòn đá làm ra lửa" có phải là một ảo tưởng không? Có phải những năm tháng tù đầy sẽ chấm dứt và tự do sẽ xuất hiện. Có phải sự đoàn tụ của hai người yêu nhau sẽ làm nên một ngày mới, có phải sự kết hợp giữa hai hòn đá sẽ làm ra lửa. Có phải đó là niềm lạc quan không thực tế? Ngày nay nhìn lại sau chừng ấy năm, người đọc có thể nghĩ thế, và họ có thể đúng. Nhưng vào khoảnh khắc ấy của lịch sử, niềm hy vọng ấy không phải chỉ là hy vọng. Đó là khả năng sống sót của một nạn nhân, nhờ thế người tù ấy có thể bước qua mặt đất bùn lầy, giúp họ ngẩng đầu lên trong buổi sáng tháng Giêng.

Tôi biết bạn bè chúng ta, kẻ thù chúng ta
Quê hương đẫm lệ và thế giới ngộp khói của chúng ta sẽ ra sao
Tôi biết chúng ta sẽ gặp nhau thế nào
Trong mắt. Trong cổ. Trong ngực em

Trong mắt. Trong cổ. Trong ngực tôi
Tôi nghe nó thì thầm
"Chẳng hề hấn gì. Chẳng hề hấn gì"
Và tôi mỉm cười
Thư thái hình ảnh em bước tới

Thơ Trần Dạ Từ, như thế, là một tình yêu tự ý thức. Tình yêu thực sự bao giờ cũng ngây thơ, gần như tuổi trẻ, xúc cảm, bồng bột, mạnh mẽ, điên cuồng, ít tự ý thức. Nhưng đến một lúc nào, bỗng dưng mọi chuyện trở thành giản dị trước mặt bạn, như chân trời mở ra sau một khúc quanh. Bạn vẫn còn dũng cảm và liều lĩnh, nhưng bạn hiểu được giới hạn của mình. Thi sĩ hiểu rằng giữa tình yêu và cuộc đời, giữa trái tim và hiện thực, nhiều khi có những sự thật khác. Bao giờ cũng có một khoảng cách. Phương pháp của Trần Dạ Từ là sử dụng các vần điệu cổ điển, thậm chí các hình ảnh cũng không mới, để nói về một tình cảm rất mới. Tình yêu thì có gì mới? Nhân loại ngàn đời vẫn yêu nhau như thế. Nhưng thi sĩ không cần biết điều ấy. Thật khó khăn để tự nhìn lại mình.

Một bài thơ tự nhìn lại mình khi phải đi xa một quãng, giữ được khoảng cách với đối tượng của nó. Thơ trong tù của Trần Dạ Từ đóng góp vào dòng thơ lừng lẫy của những tù nhân lương tâm: Vũ Hoàng Chương, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Chí Thiện, Cung Trầm Tưởng, Trần Dạ Từ, Hoàng Hưng, Hà Thúc Sinh. Những bài thơ nổi bật của ông: Thơ mừng sinh nhật Nhã 83, Chôn bạn ngày mưa, Hòn đá làm ra lửa. Giai đoạn ở tù, và sau đó nữa, bài thơ Hòn Đá Làm Ra Lửa dài như trường ca, dữ dội, huyền ảo, phát sáng. Bài thơ đứng vững chãi như tư cách của người tù lương tâm.

Đi qua một xã hội chiến tranh, những ngày mất tự do và bị hành hạ, cuộc sống lưu vong, những gánh nặng, bài thơ như một người ngồi bên kia đường trong một quán cà phê tồi tàn, ở một góc tối mà bạn không nhìn rõ vì bạn ở ngoài mới bước vào, nhưng định thần lại bạn có thể nhìn thấy. Như vậy sức mạnh của bài thơ nằm ở sự chuyển hóa, ở khả năng thay đổi, sự phức tạp của hình ảnh, của ngôn ngữ, của thông điệp, sự phức tạp ấy đã từng làm hỏng nhiều bài thơ của các tác giả khác nhau và ngay cả những người viết tài năng cũng bị nó dẫn đi lạc đường, đã trở thành quyền lực của ngôn ngữ trong trường hợp “Hòn đá làm ra lửa”. Đó là một bài thơ vừa độc thoại vừa đối thoại, vừa trữ tình vừa có tính kịch, nhiều mô tả mà vẫn đi giữa thức điệu trầm tư sâu lắng. Từ ngữ phóng khoáng mà chặt chẽ, phép tu từ khéo léo ẩn kín. Cấu trúc thoáng đãng, nửa như một bài hành, nửa như một trường ca, đi dọc xương sống thời gian, quay vòng trở lại, với điệp khúc, các hình ảnh lặp lại, như xáo trộn của ký ức đối với người khác.

Người khác đối với ta không phải là địa ngục. Người khác đối với ta là chú tâm, là hy vọng, là ý nghĩa. Cũng như trong tình yêu, chỉ sự hiện diện đã làm đầy tất cả. Sự gần gũi, tin tưởng, sự không phân biệt giữa một người đem lòng yêu người khác và một người được yêu thương, sự đồng nhất ấy là cao quý trong những quan hệ giữa người và người. Thơ làm xúc động người đọc không chỉ bằng kêu gọi, thương khóc, hay bày tỏ thái độ, nước mắt, sự kêu ca, thậm chí, căm giận lộ rõ. Tất nhiên không phải bao giờ Trần Dạ Từ cũng được thế, trong một số bài thơ, một số đoạn thơ, ông vẫn không giữ được bình tĩnh đối với kẻ thù. Nhiều người cũng có nhược điểm ấy, họ quên mất rằng trong các tranh luận lịch sử, dù trong văn chương hay các cuộc bầu cử, trong khi chúng ta giận dữ thì kẻ thù bình tĩnh. Mục đích của tranh luận không phải là kẻ đối diện, mục đích của nó là khán giả. Thật ra cũng chính bằng cảm xúc dữ dội mà ông viết được những câu thơ ít người viết được trong hoàn cảnh khốn khổ, ở vị trí cao hơn hẳn so với tội ác.

Chiến tranh. Cách mạng. Ngày hội của quần chúng
Tội nghiệp. Họ được dạy dỗ thế
Tội nghiệp. Họ tin sống tin chết như thế

Đó gần như là sự ngạo nghễ. Nhưng trước đó nhà thơ cũng đã có lúc nói:

Tôi quên nói với em điều này:

Tôi yêu em đến mức có thể yêu luôn
những người đang gọi chúng ta là kẻ thù

Hòn đá bình thường mà kỳ dị kia chính là một nhân vật, nhân vật thứ ba của bài thơ tình. Trong bài thơ dài ấy còn có nhiều người khác.

Nguyễn. Và Nguyễn. Và Nguyễn nữa. Sắp chết
Sẽ đến lượt Lưu. Đến lượt Lê. Đến lượt Doãn
Có thể sẽ không còn chúng ta

Câu thơ bi đát, lớn lao. Có thể sẽ không còn chúng ta, người trí thức tự do. Tinh hoa của dân tộc. Điều ấy thật đáng sợ. Sự mất mát, thua cuộc, sự sụp đổ của một nửa đất nước, sự tan vỡ của những hạnh phúc, sau những thứ ấy con người sống thế nào? Bằng lòng tri ân không ngớt đối với cuộc đời, sự giữ gìn cẩn thận các giá trị văn hóa. Lòng tự trọng, kiên nhẫn lặng lẽ, sự trầm tư, cảm giác vững chãi khi đặt chân lên mặt đất, cảm giác thuộc về. Và lòng tin, bao dung, có cái cười mỉm rất lặng lẽ.

Lửa và khói. Hạnh phúc và lỗi lầm
Chúng ta đã bứt ra khỏi nhau

Em mất tích. Em kiệt sức. Em một mình
Thật quá nặng cho em
Làm sao em thở

Trong một thời đại như hôm nay, thơ ca hoặc là lạc đường hoặc là tìm lại được sứ mệnh của nó, ngôn ngữ hoặc là bị xé nát, bị lạm dụng, bị biến đổi hoặc là tìm thấy sức mạnh lớn nhất của nó, khả năng chia sẻ.

Lòng ta ở với người
Dù thân ta đầy ải
Dù sức ta đĩa dầu vơi
Vẫn sáng lên một lời
Lời ta ở với người

Bài thơ này được tác giả phổ nhạc. Trần Dạ Từ là một nghệ sĩ đa năng: làm báo, làm thơ, viết nhạc. Là tác giả của nhiều ca khúc Nhờ những người như ông, thơ và nhạc nắm tay nhau như hai tri kỷ.

Chàng thi sĩ ngu ngơ
Và năm tháng bơ vơ
Bờ nắng bờ mưa
Mẹ già khô héo

Nợ nần kêu réo
Ân oán mè nheo
Xương máu hò reo

Bạn hãy nghe “Gọi Tên Dòng Sông”(5). Khi tôi nghe Tuấn Ngọc hát bài này, hay Quang Tuấn, trong một bài khác, tôi nhận ra sức mạnh của âm nhạc, của âm thanh, của sự hiện diện của người khác. Nhân đây, cần nói thêm rằng khi ca từ đạt đến đỉnh cao của vẻ đẹp ngôn ngữ, chúng tựa như thơ. Chính vì vậy mà nhiều người nghĩ lầm rằng ca từ cũng là thơ, nhưng thật ra, tuy có nhiều điểm tương đồng, chúng vẫn khác nhau. Thơ là ngôn ngữ trên nền trắng im lặng. Ca từ, hay lời của ca khúc, là ngôn ngữ trên nền của âm thanh. Chính các giai điệu, các nhạc cụ, cấu trúc thính phòng, không gian, khán giả...tạo ra hậu cảnh hay môi trường của ca khúc. Như vậy, thơ không cần môi trường, ca khúc cần môi trường. Mặt khác, như thi sĩ Hayden Carruth (6) nói: lịch sử thực sự của văn học là lịch sử của tình yêu. Ngôn ngữ, cũng như âm nhạc, không làm thay đổi lịch sử, nhưng có thể thay đổi cái nhìn của chúng ta đối với nó. Xuyên suốt nhiều năm, mặc dù với số lượng tác phẩm không lớn, Trần Dạ Từ thường xuyên trở lại với những ưu tư về thế sự, nỗi lo âu đối với đời sống và xã hội cùng thời, những tra vấn có tính triết học đối với số phận cá nhân, không ngừng trở lại với tình yêu và phẩm chất của nó, sự vui thú, chia sẻ, sự hy sinh.

Ngôn ngữ thơ ngắn gọn, nhiều động từ, nghĩa cụ thể, nặng về mô tả, giọng thản nhiên, hài hước, có chút bi phẫn nhưng không cay đắng, là một câu chuyện kể có thứ tự trước sau với những mảnh rời xếp chồng lên nhau. Đó là câu chuyện của hai người yêu nhau, của vợ và chồng hay tình nhân, sự chia tay nhưng không đổ vỡ, sự xa cách nhưng gắn bó, sự mất mát nhưng vẫn sở hữu. Sự thua trận nhưng vững vàng, lòng tin vào chiến thắng cuối cùng của lương tâm. Cấu trúc của một bài thơ hay thường có những điểm uốn về tư duy hoặc giọng điệu, đôi khi những bước ngoặt.

Điều này thấy rõ hơn trong những bài thơ dài, trường ca, nhưng cũng có thể xuất hiện ở những bài thơ ngắn khác. Nhân vật trong bài thơ Hòn đá làm ra lửa có thể xem là tác giả. Hoàn cảnh và điều kiện của nhân vật ấy, trong tù đầy, dành một không gian cho riêng mình, một lãnh thổ của tự chủ, nhẫn nại, lòng yêu đời, như cánh cửa đêm đêm vẫn mở lòng ra hít thở khí trời.

Không hề từ mặt trời từ gió nồm
Chính từ lửa chung của đôi ta
Những cành phượng chụm đầu bốc cháy
Lợp đỏ một mùa hè ngây dại

Thơ trữ tình còn là nhận thức, triết lý về xã hội. Trong hầu hết các bài thơ của Trần Dạ Từ, có những khúc quanh, đưa người đọc từ chỗ tối ra chỗ sáng, hoặc ngược lại từ sự mất mát đến hoài niệm, từ cái chết đến hy vọng, từ trạng thái an toàn, hòa bình tạm thời đến chiến tranh. Thơ ông có một nhịp điệu âm nhạc giấu kín, bề ngoài phóng túng mà bên trong chặt chẽ. Tôi chưa thấy ai viết về một thành phố, Sài Gòn phải không, văn xuôi mà nhiều nhạc tính như thế này.

Chớp mắt. Thấy mình có trong nhau
Mở cửa. Thấy anh em đông đủ
Bắt tay, chào hỏi. Thấy thành phố
Bước đi, trò truyện. Thấy quê hương
Hất mặt, vươn vai. Thấy bầu trời
Hít hà. Thấy thời đại mình thở

Phải rồi. Chúng ta có chung một thành phố

Nhạc tính ẩn kín ấy là niềm lạc quan, tình yêu đời sống, niềm tin vào con người, vang mãi trong ngôn ngữ của Trần Dạ Từ năm này qua năm khác, như vốn quý mà dân tộc ký truyền lại. Giọng điệu ấy là độc thoại, trữ tình, nhưng vẫn có tính đối thoại, giao tiếp, tính kịch. Một người muốn chia sẻ, trước hết phải khiêm tốn và mạnh mẽ, nhẫn nhục và khoan thứ, và ấm áp. Sự nhẹ nhõm tự nhiên trong việc chọn chữ làm cho sự giản dị trở thành cái đẹp tự nó, và hình ảnh sắc bén và giàu có, ý tưởng rõ ràng, và có cả một nhân cách đứng đằng sau những bài thơ viết trong ngày khó khăn của đời mình, tất cả những thứ ấy đã làm ông trở thành một trong những nhà thơ nhân chứng quan trọng của thời thế hôm nay, của tình yêu hôm nay.


Đêm biếc cành soan, thơm giấc mơ
Đầu hiên hoa trắng nở bao giờ
Em mười sáu tuổi trăng mười sáu
Áo lụa phơi buồn sân gió xưa

Kể từ những bài thơ tình đầu đời, được nhiều người yêu mến, trong một không gian hạnh phúc, những ngày dậy thì của miền Nam, đến những bài thơ thế sự đa đoan của giai đoạn chiến tranh khốc liệt, đến những bài thơ viết trong tù và sau đó, trong hoàn cảnh nhiễu nhương, thơ Trần Dạ Từ cốt lõi vẫn là thơ tình, là lòng say mê đắm đuối đối với cái đẹp và lương thiện, là lời ca hát không ngừng của hạnh phúc đôi lứa, thanh sạch vững vàng. Của một buổi sáng tháng Giêng rực rỡ.

 

NGUYỄN ĐỨC TÙNG


Chú thích:

(1) Trích đoạn chú thích của nhà thơ Trần Dạ Từ: Tỏ Tình Trong Đêm, xuất bản bởi Tạp chí Tiếng Nói, Sàigòn 1965. Sau khi phát hành, tập thơ bị thu hồi giấy phép xuất bản vì lý do “vi phạm sự kiểm duyệt”, sách bị tịch thu.Một số thơ trong tập được chuyển sang Anh ngữ và phổ biến tại Hoa Kỳ thời cuối thập niên 60’ bởi Giáo sư Huỳnh Sanh Thông tại Đại Học Yale và một số dịch giả khác. Các bản dịch Anh ngữ của Huỳnh Sanh Thông được in lại trong “An Anthology of Vietnamese Poems: from the Eleventh through the Twentieth Centuries” do Yale University Press xuất bản năm 1996. Bản thảo được đánh máy lại từ ấn bản đầu tiên do một thân hữu tại Pháp còn giữ trao cho tác giả năm 1991. Một số câu, đoạn thơ từng bị sai lạc khi phổ biến dưới sự kiểm duyệt được chỉnh sửa lại theo trí nhớ.

(2) Tập thứ hai này được Giải thưởng văn chương toàn quốc năm 1971 - 1972. Trang đầu tiên của tập thơ ghi: Thuở Làm Thơ Yêu Em, Phổ nhạc: Cung Tiến, Phạm Đình Chương, Phạm Duy, Bìa và minh họa : Nguyễn Trung, NXB Thương Yêu 1971.

Từ 1971 tới 1975, sách ba lần được tái bản

Bài tiểu luận này khởi đầu từ thơ Trần Dạ Từ trong tập ấy.

(3) Hòn Đá Làm Ra Lửa (chú thích của tác giả, bản gốc): Trại tù Gia Trung-Hàm Tân, Vietnam 1979 – 1988. Viết thành chữ lần đầu tại Thụy Điển, tháng 11, 1988.

(4) Chú thích củaTrần Dạ Từ cho “Tấm Lòng Phan Rang”. - Ở đầu bài: “Nơi đoàn xe chở tù đi lưu đày phải ngừng đổ xăng, vào buổi trưa ngày 30 tháng 8 năm 1977” - Ở cuối bài: “Ca khúc Trần Dạ Từ 1978. Thu thanh lần đầu: Nguyên Khang, trong CD 2015, “Thương Linh: Bay”. Trình diễn lần đầu: Lê Uyên . Segerstrom Center for the Arts. Costa Mesa, California, May 30, 2015”

 

 Kim Phượng st

 

 

 

 

 

 

 

Xem thêm...

NGUỒN GỐC DANH TỪ SÀI GÒN

NGUỒN GỐC ĐỊA DANH SÀI GÒN

Bình-nguyên Lộc

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

Ngay từ đầu thế kỷ hai mươi, người Pháp đã nỗ lực để tìm biết nguồn gốc của địa danh Sài Gòn, tên của một thành phố mà qua phong cách lãng mạn tây phương họ biến nó thành “Hòn Ngọc Viễn Đông” (La perle de l’Extrêm Orient), một cái tên đã được thông dụng từ lâu nhưng họ, và cả ta nữa, đều không biết nghĩa.

Vì thiếu tài liệu, tôi không thể trích dẫn tên của nhà học giả tiên phong đó, chỉ biết đại khái các điều sau đây. Ông ấy cho rằng Sài Gòn, người Cao Miên, chủ đất cũ của miền Nam nước Việt, gọi Là Prây Nokor. Prây là Rừng, Nokor là Quốc gia. Có thể Sài Gòn do âm của Prây Nokor mà ra chăng? Đây chưa hẳn là giả thuyết đáng tin cậy. Prây cũng có thể biến thành Sài. Nhưng Nokor có hơi khó biến thành Gòn lắm.

Image result for NGUỒN GỐC DANH TỪ SÀI GÒN

Riêng tôi thì tôi thấy giả thuyết này không đứng vững. Tôi biết cơ cấu của ngôn ngữ Cao Miên (tức Cam Bu Chia), nó không có khác cơ cấu Việt Ngữ, trừ một chi tiết nhỏ. Ta nói “ba con cá” thì họ nói cá ba con. Theo cơ cấu đó thì “Quốc Gia rừng” phải là “Nokor Prây”, chớ không thể là Prây Nokor được. Mặt khác, người Chàm gọi Sài Gòn của ta là Prây Kor, chớ không hề là Prây Nokor. Prây Kor, cũng cứ là tiếng Cao Miên mà người chàm vay mượn, có nghĩa là Rừng Bò. Có lẽ xưa kia ở đó người ta nuôi bò nhiều, trong rừng, hoặc là ở đó nhiều bò rừng.

Một ông Tây thứ nhì, cũng biết cơ cấu ngôn ngữ Cam Bu Chia như tôi, xác nhận rằng địa danh phải là Prây Ko, hoặc Prây Kor, chớ không thế nào mà là Prây Nokor được hết. Rừng quốc gia là cái gì? Người Cao Miên xưa đâu có biết khoanh rừng để tạo ra những cái National Forest như người Mỹ ngày nay. Nhưng cũng có đưa vào thuyết một điều mới lạ. Ông ấy cho là Ko, hoặc Kor, không phải chỉ có nghĩa là Bò, mà là có nghĩa là cây gòn, một thứ cây có công dụng y hệt như cây gạo của Bắc Việt.

Cambuchia: Ko(r); Lào: Gòn; Phù Nam: Gòn; Nam Kỳ xưa nay: Gòn.

Và ông ấy kết luận rằng Sài Gòn do Prây Kor biến ra. Prây biến ra Sài thì có thế chấp nhận được, nhưng Kor, sao không biến ra Cò, mà biến ra Gòn. Dịch chăng? Khó lòng mà có lý. Nếu dịch, thì dịch cả hai từ, chớ sao lại chỉ lấy âm từ thứ nhứt thôi, còn từ thứ nhì thì lại dịch?

Thế nên thuở ấy các nhà học giả ta mới xía vào, cho rằng xưa kia ta chặt cây gòn ở đó để làm củi chụm, mà Củi thì chữ nho là Sài. Thuyết của ta là cố gắng giúp cho thuyết thứ nhì của Tây có lý mà thôi, tức ta dịch cả hai từ, từ đầu Rừng, gượng gọi củi dịch ra chữ nho là Sài, còn từ sau Kor thì dịch ra tiếng Phù Nam là Gòn mà Nam Kỳ vay mượn.

Thiên hạ làm thinh sau thuyết của ta, vì không ai biết phải giải thích cách nào cho ổn hơn hai ông Tây và vài ông Việt nói trên. Nhưng nửa thể kỷ sau, sau năm 1954, thì có Vương Hồng Sển lên tiếng, không phải bằng một bài báo, mà bằng một quyển sách, quyển “Sài Gòn năm xưa”. Cụ Vương bác bỏ ba thuyết không vững trên kia. Theo cụ thì mọi việc xảy ra như sau, và có lấy tài liệu ở bộ sử địa Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức:

Trịnh Hoài Đức viết rằng sau khi Tây Sơn tàn phá thành phố lớn Nông Nại Đại Phố, ở Biên Hòa, thì người Tàu sống sót, trong đó có họ Trịnh, người Tàu lai, chỉ mới lên tám, chạy xuống phía dưới để lập ra một thành phố khác, nay truy ra là thành phố ấy là vùng Chợ Lớn ngày nay. Đa số người Tàu sống sót là người Quảng Đông. Họ đặt tên thành phố mới ấy là Đề Ngạn Thành. Đề Ngạn có nghĩa là “Nắm (vững) bờ sông”. Sông ở đây, chỉ là sông con, trỏ tả ngạn của con rạch Cầu ông Lãnh, đoạn nằm ở đại lộ Đồng Khánh ngày nay. Người Quảng Đông phát âm Đề Ngạn là Thầy Ngồl, và Thầy Ngồl bị Việt Hoá ra là Sài Gòn.

Đây là thuyết hữu lý nhất, so với ba thuyết trên, nhưng mà rồi lại sai, khi ta nghiền ngẫm sâu vấn đề. Những gì mà cụ Vương Hồng Sển nói ra đều đúng cả, chớ không phài là nói liều, bằng chứng là mãi cho đến ngày nay, người Tàu vẫn tiếp tục gọi Chợ Lớn là Thầy Ngồl, viết ra chữ là Đề Ngạn.

Nhưng tại sao rồi thì địa danh Sài Gòn, đáng lý gì chỉ trỏ Chợ Lớn thôi, mà lại trỏ Sài Gòn chớ không trỏ Chợ Lớn bao giờ? Đồng hóa chăng vì hai thành phố đó chỉ là một? Không, không có vấn đề đồng hóa. Dưới đây là những gì mà kẻ viết bài nầy đã thấy vào năm 1928. Xin nhắc lại vài chi tiết về đời sống cá nhân riêng tư của người viết bài.

Cha mẹ tôi làm nghề buôn gỗ. Thể nên từ năm lên bảy (1920) tôi đã được dịp theo cha mẹ để đi chơi Sài Gòn. Nhưng chưa biêt rõ Sài Gòn đâu. Mãi cho đển năm 1928 tôi mới rời làng, sống hẳn ở Sài Gòn để theo học Trung học (Làng của tôi là làng huyện lỵ nhưng dưới thời Pháp thuộc, trong làng chưa có trường trung học như dưới thời ông Ngô Đình Diệm).

Vào năm 1928 thì tôi đã lớn xác và biết thật rõ về Sài Gòn. Sài Gòn và Chợ Lớn là hai thành phố khác nhau, cách biệt nhau bằng một vùng đất gần như là hoang vu, bề rộng của vùng đất hoang ấy ước đến sáu miles chớ Không phải ít. Sài Gòn chỉ tiến đến cái nơi mà nay là rạp hát Nguyễn Văn Hảo. Đại lộ Trần Hưng Đạo đã có rồi, tên cũ là đại lộ Galliéni. Có đường xe điện nối liền hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn. Từ rạp Nguyễn Văn Hảo (thuở ấy chưa xây cât) đi mãi cho tới chợ Hòa Bình (thuở ấy cũng chưa xây cất) là đồng không mông quạnh, thỉnh thoảng mới thấy một nhà gạch nằm giữa đồng. Trường Trương Vĩnh Ký mà tôi theo học, cũng cho nằm giữa đồng trống minh mông.

Thế thì làm sao mà có sự đồng hóa hai thành phố làm một trước năm đó được, vì trước năm đó hằng trăm năm, Sài Gòn đã được gọi là Sài Gòn rồi, mà khoảng cách thì lại còn xa hơn là vào năm 1928 nữa.

Đành là không thể biết sự thật, và tạm chấp nhận thuyết Vương Hồng Sển vậy.

Sau khi sách của cụ Vương Hồng Sển ra mắt độc giả thì một quyền sách khác được xuất bản, đó là quyền “Lịch sử xứ Đàng Trong” mà tên của tác giả tôi đã quên mất, nhưng còn nhớ khá nhiều những chương sách đó. Tác giả của quyển sử này bác bỏ thuyết Vương Hồng Sển bằng luận cứ sau đây, mà tôi chỉ nhớ đại khái thôi, và đây là nhắc lại chớ không phải là trích sách: “Có người cho rằng địa danh Sài Gòn là do địa danh Đề Ngạn, đọc theo Tàu là Thầy Ngồi biến ra. Nhưng tôi chỉ tin theo tài liệu Cổ thôi là sử Trào Nguyễn, sử này viết tên của Sài Gòn là Sài Côn vậy Sài Gòn do Sài Côn mà ra.”

Thuyết này quá yếu về các điểm sau đây:

  1. A) Nhưng còn Sài Côn thì do cái gì mà ra chớ? Sài Côn, chữ nho có nghĩa là Cây gậy bằng củi? Sao vua chúa ta lại đặt tên một thành phố kỳ khôi đến thế chớ ?
  2. B) Sử trào Nguyễn viết dưới thời Tự Đức, trong khi đó thì danh xưng Sài Gòn đã cò rồi hằng trăm năm trước Tự Đức. Thế sao dùng Sài Côn thời Tự Đức để làm căn bản được? Còn Sài Gòn đã có rồi trước Tự Đức thì do cái gì mà ra? Ta nên nhớ rằng vua Tự Đức là một ông vua Việt Nam mê Tàu nhất nước. Ông vua ấykhông bao giờ cho quan của ông đặt tên một thành phố là “cây gậy bằng củi” đâu, trừ phi tên đó là tên phiên âm mà ông vua ấy đành phải chấp nhận.

Thế thì Sài Côn chỉ là phiên âm của Sài Gòn, chớ không phải Sài Gòn là phiên âm của Sài Côn. Vã lại Sài Côn đã có âm Hoa Việt là âm rất quen tai với dân ta, thì dân ta mắc chứng gì mà lại đi phiên âm Sài Côn ra là Sài Gòn?

***

Ta đành chịu bí (chỉ tạm chịu bí thôi) và còn một điều khó hiểu nữa: Người Tàu gọi Sài Gòn của ta là Xi Cống viết ra chữ thì là Tây Cống. Tây Cống do cái gì mà ra đây? Có phải Sài Gòn bị Hoa hóa thành Xi Cống không? Nhứt định là không, vì Tàu Quảng Đông vẫn có âm Sài, họ không mắc chứng gì biến Sài ra là Xi. Nếu họ không có âm Gòn thì họ cũng gọi Sài Gòn là Sài Cống, mà không bao giờ là Xi Cống cả đâu.

Tôi tạm dẹp vụ Sài Gòn lại để làm việc khác nhưng không phải là đầu hàng vĩnh viễn. Sang tới đất Huê Kỳ này thì sự thật mới chịu lòi ra, mà lại lòi nhờ sự hiểu biết của người Hoa Kỳ này thì thật là oái oăm không thể tưởng được. Số là tôi có một người láng giềng, một vị bác sĩ y khoa trước kia ở Sài Gòn, sang đây ông ấy giúp cho tiểu bang Cali tiếp coi về Á Đông sự vụ. Ông ấy góp nhặt tất cả những gì mà người Mỹ viết về Á Đông, để nghiên cứu thêm, vì ông ấy thấy rằng người Mỹ biết nhiều hơn ông ấy, nhưng ông ấy chỉ nghiên cứu lịch sử, chủng tộc học, phong tục học, tôn giáo thôi mà bỏ sót ngôn ngữ học. Chính tôi, khách láng giềng, hưởng được các sách ngôn ngữ học mà ông ấy không dùng tới.

Trong một quyển sách nhỏ, nhan là “Cantonese Speaking Students” do California State Department of Education xuất bản, soạn giả cho biết rằng trong tỉnh Quảng Đông có đến sáu phương âm khác nhau. Mỗi phương âm ăn khớp vào với một vùng đất của tỉnh ấy, và có một vùng đất kia tên là Sài Gọng (có G cuối). Sách nói trên là sách tiếng Anh, nhưng có chua chữ Tàu. Sài Gọng được chua là Tây Giang. Tây Giang là một con sông khá lớn bắt nguồn từ xứ ta, nhưng chảy lên Quảng Đông để rồi đổ ra biển, cũng trong tỉnh Quảng Đông.

Tôi có kiểm soát lại sách đó, và thấy rằng tác giả có sai ở một điểm. Trong sách có nói đến phương âm Màn, Màn là Mân-Việt đó, và chắc chắn là sách ấy trỏ bảy phủ Triều Châu. Xin nhắc rằng nước Mân-Việt thời Tần Thủy Hoàng gồm bảy nhóm Mã Lai tất cả, gọi là Thất Mân, nhưng về sau nhà nước Tàu lại đặt một trong bảy nhóm ấy là nhóm Triều Châu, vào tỉnh Quảng Đông (sáu nhóm kia là Phúc Kiến) mà như thế thì âm Mân không phải là một phương ngữ Quảng Đông, mà là một ngôn ngữ riêng biệt.

Quan Thoại: Xữa là Ăn; Quảng Đông: Xực là Ăn; Phúc Kiến: Lim là Ăn; Triều Châu: Cha là Ăn.

(Chỉ có Quảng Đông là nói Ăn bằng tiếng Tàu, các nhóm Tàu Hoa Nam khác nói Ăn bằng tiếng Mã Lại). Nhưng điểm sai của quyển sách đó, không liên hệ đến việc tìm tòi của ta nên tôi chỉ nói qua vậy thôi, và trái lại muốn khen tác giả sách ấy là người biết nhiều, vì chỉ sai có một điểm nhỏ trong một quyển sách. Như vậy là giỏi lắm rồi.

Cái điều mà ta cần biết là đã được biết, đó là nguồn gốc của địa danh Sài Gòn (không G cuối) Sài Gòn do Sài Gòng mà ra, và đó là tiếng Tàu, không bị Việt hóa theo cái lối chữ nho, mặc dầu văn tự đã bị đọc sai ra là Tây Giang.

Thế nên tôi xin trình ra một thuyết mới, mặc dầu sự phát hiện địa danh Sài Gòng (tên tàu) cũng đã khá rõ ý nghĩa rồi, khá rõ đối với một số người, nhưng còn chưa rõ đối với đa số. Trước hết xin bác bỏ thuyết Vương Hồng Sển, không, theo luận cứ của quyển “Lịch Sử Đàng Trong”, mà theo luận cứ khác. Thầy có thể biến thành Sài, nhưng Ngồl biến thành Gòn thật khả nghi, mặc dầu cha tôi, mẹ tôi đều gọi Sài Gòn là Thầy Gòn, có thể xem đó là cái móc không gian giữa Thầy Ngồl và Sài Gòn. Nhưng cũng không chắc chắn lắm về vụ âm trung gian đâu. Cha mẹ tôi buôn bán với Chợ Lớn chớ không với Sài Gòn vì thuở ẩy người mình chưa lập vựa gỗ quí tại Sài Gòn như từ sau này, tại đường Hồng Thập Tự, có thể sau hai vị sanh thành ra tôi đã lấy âm Thầy của Thầy Ngồl, nhập lại với Gòn của Sài Gòn cũng nên.

Cái Giọng Sài Gòn – Hải Phan

Ta có thể nghĩ rằng Trịnh Hoài Đức không biết hết sự thật. Trịnh Hoài đức đã thú nhận rằng ông chạy về vùng dưới sau khi Tây Sơn tàn phá vùng Biên Hòa. Nhưng rồi ông không sống với người Tàu, mà theo mẹ, vốn là người Việt sống riêng ở làng Hòa Hưng (vùng khám Chí Hòa nay) và học với thầy Việt là cụ Võ Trường Toản, nhờ thế mà về sau họ Trịnh mới thi hội đỗ đạt và làm quan ở Huế, chớ học với thầy Tàu thì không sao mà đỗ được, cho dầu ông thầy ấy là Khổng Tử đi nữa, vì các cuộc thi của ta có cách thức khác Tàu, chỉ giống Tàu ở điểm thi cử văn chương nhiều hơn là thi cử thực tiễn. Năm chạy loạn, họ Trịnh chỉ mới lên tám, chưa biết gì cho thật rõ lắm. Ngày nay, đi từ khám Chí Hòa vào chợ Lớn, chỉ tốn có một cuốc tắc xi, nhưng vào năm Trịnh Hoài Đức - năm 1775 - thì hoàn toàn không phải như vậy.

Chắc bạn đọc ai cũng biết chợ Trương Minh Giảng, một vùng thương mãi trù mật. Ấy thế mà vào năm 1941 tôi tên đó chơi, để hóng mát thì nơi đó đồng không mông quạnh. Tôi hỏi một ông cụ nông dân ở đó về đời của ông cụ, ông cụ kể rõ một việc, trong đó có chi tiết sau đây. Từ bé đến lớn, ông cụ chưa hề đi Sài Gòn hay đi Chợ Lớn, vì cái lẽ giản dị là con đường Trương Minh Giảng với cây cầu Trương Minh Giảng chỉ mới có từ cuối năm 1938. Trước đó. không đi đâu được hết. Hòa Hưng còn xa hơn chợ Trương Minh Giảng nữa, thì có thể chú bé Trịnh Hoà Đức chẳng biết gì về Đề Ngạn đâu.

Thuyết của tôi là như thế nầy. Cái tên đầu tiên mà người Tàu đặt ra cho cái thành phố mà nay ta gọi Chợ Lớn, không phải là Đề Ngạn mà là Sài Gòng. Tại sao họ lại đặt như vậy? Là tại họ là người Quảng Đông gốc Sài Gòng (bên Tàu). Lối đặt tên đó giúp cho họ nhớ quê hương của họ. Ta lại không đặt tên cho khu Bolsa là tiểu Sài Gòn hay sao? Và đặt như thế, có phải chăng để mà nhớ Sài Gòn của ta hay sao chớ ?

Và Đề Ngạn, chỉ là tên thứ nhì do người Quảng Đông đến sau, họ không có gốc Sài Gòng (bên Tàu) nên họ thấy Sài Gòn vô nghĩa, họ phải đặt tên lại vậy. Và họ rất có lý mà đặt tên lại, vì bấy giờ thành phố đó đã phồn thịnh phần nào rồi nên mới mang tên là “Nắm Vững Bờ Sông” chớ thuở mới lập, nó chỉ là vài trăm nếp nhà lá, có nắm vững gì đâu mà đặt là Thầy Ngồl.

Vậy địa danh đầu, bị bỏ mấy chục năm, không dùng tới, đến khi Trịnh Hoài Đức lớn lên thì ông chỉ còn biết Thầy Ngồl (Đề Ngạn) thôi nên không hề nói đến Sài Gòn bao giờ.

Sau đó non một trăm năm thì Pháp chiếm cái nơi mà nay là Sài Gòn, nhưng thuở ấy được gọi là Gia Định kinh, vì Nguyễn Ánh không chắc mình sẽ lấy lại được Huế, nên xây thành ở đó và xem nơi đó là Kinh Đô của miền Nam, và miền Nam thuở ấy mang tên là xứ Gia Định. Thế rồi người Tàu ở Thầy Ngồl tràn ra đó để hợp tác với Pháp và Pháp đang cần người mà dân ta thì bỏ đi (xin xem tiểu sử Nguyễn Đình Chiểu, và các bạn sẽ thấy là dân ta bỏ Gia Định Kinh mà đi nhiều lắm). Người Tàu tràn ra đó, họ có tật đặt tên, bất kể tên của người bổn xứ. Sáng tác thì mất công lắm nên họ cứ lấy tên đầu tiên của Thầy Ngồl là Sài Gòng để gán cho thành phố thứ nhì mà họ tràn tới đông đảo và cũng thành công về sanh kế.

Tới đây thì ta cứ tưởng mọi việc đều xuôi chèo mát mái, vì thuyết này có vẻ ổn hơn thuyết Vương Hồng Sển.

Còn rắc rối ở cái điểm. Thế rồi tại sao Sài Gòn của ta không được Tàu chợ Lớn gọi là Sài Gòng, mà sao lại gọi là Xi Cống ?

Quá dễ hiểu. Khi Tàu ở Thầy Ngồl thành công rồi thì đồng bào của họ hay tin nên lại sang đây từng đợt, mà các đợt sau không đọc Tây Giang là Sài Gòng mà đọc khác, như quyển sách Hoa Kỳ đã cho ta biết khi nãy là ở tỉnh Quảng Đông có sáu phương âm (mà chúng tôi vừa loại bớt một). Họ đọc Tây Giang như sau:

a/ Sài Gòn; b/ Tsi Kiang; c/ Tsi Kang; d/ Xi Cống.

Ấy có thể nhóm sang đây đông đảo là cái nhóm đọc hai chữ Tây Giang là Xi Cống.

Nhưng vẫn chưa hết phiền đâu. Nay họ không còn viết ra chữ là Tây Giang nữa, mà là Tây Cống. Tại sao lại thế? Cũng dễ hiểu thôi. Cống là từ đồng âm dị nghĩa củ họ. Cống là sông, mà cống cũng lại trỏ nhiều thứ khác nữa. Đối với người đến sau, không có gốc ở Tây Giang. thì nói về Cống tức là Sông là chuyện vô lý, nhưng nói đến những Cống khác thì hay. Chẳng hạn, đất đó là đất mà người Tây Phương “cống” cho họ để họ nhờ đó mà làm giàu. (Thật ra thì chữ Cống về sau cũng chẳng phải là Cống sứ đâu, và nếu không có biến cố 1975, có thể Cống sẽ bị viết khác nữa, vì có rất nhiều Cống).

Tôi không còn gì dể nói về Sài Gòn nữa, nên xin phép bạn đọc viểt lạc đề vài câu. Trong quyển sách “Thời Đại Hùng Vương” của Hà nội (đây là sách hợp soạn), một tác giả đã viết đại khái: Chữ Giang của Tàu là vay mượn của dân phương Nam (ý tác giả muốn trỏ Đông Nam Á, bằng chứng là họ viết bằng chữ Công với bộ Thủy. Công có nghĩa là Sông). Tác giả ấy không hề cho biết Công là danh từ của dân tộc nào. Tôi xin trình ra danh từ của các dân tộc lớn ở Đông Nam Á thử xem sao:

lndonesia: Kali; Phù Nam: Ka-i; Nam Kỳ xưa nay: Cái (sông thật nhỏ trong Cái Mơn, Cái Thia, Cái Nhum, Cái Tàu vv… )

Mã Lai: Sungai; Việt Nam: Sông; Cam Bu Chia: Stưng; Lào: Nặm (sông nhỏ); Lào: Thađai (sông lớn, tức sông Cửu Long Gíang); Thái: Maê (sông nhỏ); Thái: Mê (sông lớn. tức sông Mênam): Chàm: Krong; lndonesia (riêng đảo Sumata): Kroeneng; Phù Nam: Bassac (sông lớn có bùn phù sa)

Chẳng thấy dân tộc nào có danh từ Công hay Kông mang nghĩa là sông. Các dân tộc nhỏ như Mạ, Sơ Đăng, Bà Na thì dùng danh từ Nước để trỏ Sông, mà cả dân tộc Lào, dã dựng nước rồi, cũng làm như thế, vì trong Lào Ngữ Nặm có nghĩa là Nước. Tác giả của quyển “Thời đại Hùng vương” có thể cải: “công” do Cống của Quảng Đông mà ra. Nói như thế thì có lý đó. Nhưng than ôi, khi đưa ra cái thuyết Công là Sông, thì tác giả ấy chưa biết rằng người Quảng Đông đã dọc Giang là Cống. Đó là điều mà tôi mới ra hôm nay, lần thứ nhất, trên quả địa cầu. Và sự thật thì Công trong tên con Sông Mê Kông, không hề có nghĩa là Sông đâu. Chính Mê mới là sông, đó là tiếng Thái, còn Kông là To, Lớn. Mà tác giả thì lại nghĩ đến MêKông .

 

Bình-nguyên Lộc

 

NGUỒN GỐC DANH TỪ SÀI GÒN

 

Sài gòn là thành phố lớn nhất Việt Nam, nằm cạnh sông Sài gòn ở tọa độ 110°45' Bắc, 106°40' Đông (hay là 10.75, 106.667); và cách Hà nội 1760 cây số về phía Nam.
Trước khi “bị” người Việt chiếm ngụ vào thế kỷ 16, Sài gòn có tên là “Prey Nokor,” là một hải cảng chính của Cam Bốt. Sài gòn từng là thủ đô của chính quyền thực dân Pháp ở Đông dương, và sau đó cũng là thủ đô của chính thể Cộng hòa miền Nam Việt Nam từ năm 1954 cho đến năm 1975. Sau năm 1975, Sài gòn được đổi tên là Thành Phố Hồ Chí Minh


Tên nguyên thủy theo tiếng Khmer
Tên nguyên thủy của Sài gon là “Prey Nokor” và là lãnh thổ của người Khmer ( Cam bốt). Theo tiếng Phạn (Sankrit nagara), Prey Nokor có nghĩa là “thành phố rừng” (Prey = rừng; Nokor = đất, thành phố). Ngày nay nhiều người Khmer ở Cam bốt và cả dân sắc tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu long nhiều khi vẫn còn gọi Sài gòn là Prey Nokor.

Sài gòn tên nguyên thủy theo tiếng Việt

Ngay sau khi người Việt ồ ạt đến mở mang và định cư tại Prey Nokor, thành phố này đã được người Việt gọi là “Sài gòn.” Có rất nhiều gỉa thuyết, tranh luận về nguồn gốc tên thành phố bằng chữ Việt (Sài gòn). Các tranh luận về lịch sử của danh từ “Sài gòn”sẽ được bàn thêm ở phần dười dây.
Trước khi thực dân Pháp đến Việt Nam, triều đình Huế dùng tên chính thức của Sài gòn là “Gia định.” Năm 1862, người Pháp bỏ chữ “Gia định” và thay vào đó bằng chữ “Sài gòn.”
Trên sử liệu (có lưu lại trên qua bản viết, in), người Việt đọc và viết chữ “Sài gòn” thành 2 chữ và 2 âm rõ rệt; tuy nhiên Pháp (và người tây phương) đã “tây phương hóa” 2 chữ “Sài gòn” thành một chữ “Saigon” để cho họ dễ đọc và dễ viết.

Sài gòn theo quan điểm Việt Nam – Trung Hoa
Có người cho rằng chữ “Sài” được mượn từ tiếng Trung hoa (Tiếng Quan thọai đọc là “Chái”) có nghĩa là “củi, cành cây – firewood, twigs…)” còn chữ “Gòn” (tiếng Quan thọai đọc là “Gùn”) có nghĩa là “cọc, cây gậy – stick, pole, boles…) Chữ “Gùn” bị chuyển hóa dần thành ra “Gòn” tương tự như “bông gòn – cotton stick, cotton plant.”
Có người lại cho rằng tên “Sài gòn” phát nguyên từ các cây bông gòn người Khmer trồng chung quanh Prey Nokor mà ngày nay chúng ta vẫn còn thấy rất nhiều ở quanh vùng Cây mai, Trương Vĩnh Ký …
Có một điểm lạ lùng là người Hoa sống ở Việt Nam cũng như ờ Trung quốc không dùng tên gọi “Sài gòn” (tiếng Quảng đông đọc là “Chaai-Gwan; tiếng Quan thọai đọc là “CháiGùn”) để gọi “Sài gòn” (mặc dù, như đã nói ở trên, nhiều sử liệu có ghi là người Việt mượn tiếng Trung hoa để đặt tên cho Sài gòn). Chính người Hoa lại gọi “Sài gòn” là “Sai-Gung” (tiếng Quảng đông) và “XĩGòng” (tiếng Quan thọai).

Sài gòn theo quan điểm của người Khmer
Có một số tài liệu của Cam bốt cho là chữ “Saigon” chuyển hóa từ “Sai Con;” Và Chữ “Sai Con” đã chuyển hóa từ tiếng 2 chữ Khmer “Prey Kor” có nghĩa là “Rừng cây Kapok” (prey = rừng; kor = cây kapok). Nên để ý và đừng lầm lẫn chữ “Prey Nokor” và “Prey Ko” (Ko = rừng cây kapok; Nokor – thành phố, đất).
Quan điểm của người Khmer ẩn tàng một ý có mục đích thuyết phục là họ đã có mặt ở đó (Sài gòn) trước khi người Việt đến định cư; tuy nhiên quan điểm này không gỉai thích được là tại sao chữ Khmer “prey” lại đổi thành chữ “Sài.” Bởi vì, hiển nhiên, cách đọc của hai chữ này hòan tòan khác biệt với nhau!

Sài gòn theo quan điểm của người Quảng đông người Việt gốc Hoa
Một gỉa thuyết đưa ra bởi học gỉa Vương H ồng Sển, một người Việt gốc Hoa ở Sài gòn, là nguồn gốc từ tiếng Quảng đông của danh từ “Sài gòn” lấy từ chữ “Chợ lớn” mà người Quảng đông đọc là “Tai-Ngon” có nghĩa là “bến tầu, cảng” (?)


Tên hiện nay của Sài gòn
Sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay Chính quyền miền Bắc (30 tháng 4 năm 1975), chính quyền đổi tên thành phố Sài gòn là Thành Phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) Tuy nhiên, đa số người dân Sài gòn vẫn gọi tên thành phố với cái tên quen thuộc cũ: “Sài gòn.” Ngòai ra, hiện nay, tên “Sài gòn / Saigon ” còn được dùng rất nhiều trong sách vở; được dùng cho các tên tựa sách, được dùng đặt tên cho các công ty thương mại.

Lịch sử đất (lãnh thổ) Sài gòn
Khởi đầu Sài gòn chỉ là một làng đánh cá rất nhỏ của người Khmer. Người Khmer đã sống ở đó nhiều thế kỷ trước khi có người Việt đặt chân đến mở mang và định cư. Người Khmer dùng “Prey Nokor” như một hải cảng thuộc về vương quốc Cam bốt.
Năm 1623, vua Chey Chetta II (1618-1628) của Cam bốt đã cho phép những người Việt chạy lánh nạn “Trịnh Nguyễn phân tranh” đến tạm trú và định cư quanh vùng Prey Nokor. Từ sau khi đó, có rất nhiều đợt di cư rất lớn của người Việt đến vùng Prey Nokor mà vương quốc Cam bốt không đủ mạnh để ngăn chặn họ. Dần dà, Prey Nokor bị biến thành đất đai của người Việt; và sau cùng “Prey Nokor” biến thành “Sài gòn!”
Năm 1698, triều đình Huế (Chúa Minh - Nguyễn Phúc Chu) sai tướng Nguyễn Hữu Cảnh vào trấn nhậm vùng đất Sài Gòn-Gia Định. Kể từ thời điểm đó, miền đất này chính thức trở thành một đơn vị hành chính thuộc lãnh thổ Việt Nam . Nguyễn Hữu Cảnh tách vùng đất Sài Gòn-Gia Định (và sau đó là vùng đồng bằng sông Cửu long) ra khỏi vương quốc Cam bốt. Cam bốt vì quá yếu nên không có một kháng cự nào. Nguyễn Hữu Cảnh được xem như những người đi tiên phong trong giai đọan bành trướng lãnh thổ của Việt nam về phía nam và tây nam.

Năm 1859, thành phố Sài gòn bị người Pháp chiếm đóng lần đầu tiên. Cũng bắt đầu từ giai đọan thực dân, người Pháp đã xây dựng nhiều cơ sở, dinh thự theo cấu trúc của văn minh tây phương. Vì vậy Sài gòn còn được gọi là “Hòn Ngọc Viễn Đông,” (the Pearl of the Far East) và “Tiểu Paris” (Little Paris ).
Năm 1954, quân Pháp bị Việt Minh đánh bại ở trận Điện Biên Phủ và họ rút lui khỏi Việt Nam . Từ trước đó (năm 1950), thay vì công nhận chính quyền CS, người Pháp ngầm ủng hộ Bảo Đại lập chính phủ và chọn Sài gòn là thủ đô. Kể từ năm 1950 Sài gòn và vùng Chợ lớn (nơi có số rất đông người Hoa tập trung) được gộp chung lại thành một đơn vị hành chánh gọi là “Đô thành Sài gòn.”
Sau khi Việt Nam chính thức được chia làm 2: Bắc Việt (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) và Nam Việt (Việt Nam Cộng Hòa). Sài gòn là thủ đô của miền nam Việt Nam dưới chính phủ Ngô Đình Diệm.
Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, thành phố Sài gòn đặt dưới sự kiểm sóat của Bắc Việt.


Năm 1976, sau khi thống nhất quốc gia Viêt Nam xong, đổi tên chính thể của nước Việt Nam là “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” và đổi tên thành phố Sài gòn thành Thành Phố Hồ Chí Minh. Thực ra, sau 30 tháng 4 năm 1975, thành phố Sài gòn (và Chợ lớn), tỉnh Gia định và 2 quận ở ngọai ô Sài gòn (thuộc 2 tỉnh khác nhau nằm sát Sài gòn) đã được gộp chung lại thành TP HCM. TP HCM rộng 809 dặm vuông (hay là 2,095 cây số vuông) trải dài từ Củ chi (cách biên giới Việt Miên 20 Km ) cho đến Cần giờ gần biển Nam Hải. Khỏang cách từ điểm cực bắc (Phú Mỹ Hưng, quận Củ chi) cho đến điểm cực nam (Long Hoa, quận Cần giờ) là 120 cây số; và từ điểm cực đông (Long bình, quận 9) đến điểm cực tây (Bình chánh, Quận Bình chánh) là 46 cây số. Mặc dù TP HCM là tên gọi chính thức trên giấy tờ hành chánh, nhưng đại đa số người dân sống ở Sài gòn vẫn gọi thành phố qua cái tên quen thuộc là Sài gòn. Chữ “Sài gòn” còn thấy trên bảng hiệu của các cửa tiệm thương mại, ngay cả tại Hà nội, thí dụ như “Saigon thời trang,” “Kiểu Sài gòn…” bởi vì người Việt trong nước hiện nay nghĩ về chữ “Sài gòn” như là một cái gì tượng trưng cho “văn minh, thời thượng…”
Ngày hôm nay, trung tâm thành phố Sài gòn vẫn còn vẻ giữ tráng lệ với các đại lộ có những hàng cây xanh rợp bóng, thanh lịch, với nhiều dinh thự cơ sở có di tích lịch sử được xây dựng từ thời các đời vua Nguyễn, thời thực dân Pháp, VNCH như Đồn Cây mai (do danh tướng Nguyễn tri Phương xây dựng), nhà thờ Đức Bà và dinh Độc lập (tên mới là dinh Thống Nhất!)…

Viên Linh

 

Đất Sài Gòn Nam thanh Nữ tú

Đất Sài Gòn Nam thanh Nữ tú
Ơi người viễn khách,
Đã có lần nào bạn lên đất Sài Gòn
Đối với dân Nam Kỳ Lục Tỉnh, Sài Gòn luôn luôn là một địa danh được ghi nhớ, được nhắc nhở đời đời, người Tây phương gọi Sài Gòn là “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Người dân quê miền Nam, cho dù là quê ở miền Đông đất đỏ hay ở miền Tây muối mặn nước phèn, đều coi Sài Gòn là một chốn phồn hoa đô hội, với đèn màu “ngọn xanh ngọn đỏ”, về phương diện lịch sử, hồi thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Sài Gòn đã từng được Lễ Hầu Tài Nguyễn Hữu Cảnh (sử sách chép là Nguyễn Hữu Kính để tránh trùng tên với Đông Cung Thái Tử Nguyễn Phúc Cảnh, con của Thế Tổ Cao Hoàng Đế Gia Long) chọn làm nơi đóng tổng hành dinh khi ông lãnh quân bảo hộ Cao Miên và bảo vệ những người dân Việt di dân sinh sống tại miền Nam.



Sài Gòn là nơi tạm trú đầu tiên của những quan binh di thần nhà Minh, tránh nạn Mãn Thanh , được Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần chứa chấp và cho vào Nam sinh sống. Trước khi tỏa ra an cư lạc nghiệp ở vùng Cù Lao Phố, Trấn Biên (Biên Hòa) hay Định Tường, Long Hồ Dinh (Vĩnh Long), các di thần nhà Minh, Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình, Hoàng Tiến v.v… đã dừng chân nơi ven sông Sài Gòn, lập nên xóm Đề Ngạn (đề ngạn là con đê bao bờ sông). Xóm nầy không mấy chốc mà trở thành địa điểm buôn bán phồn thịnh tấp nập.

(Theo học giả Vương Hồng Sển, danh từ Sài Gòn có gốc tích từ hai chữ “đề ngạn”. Theo ông, “đề ngạn” phát âm theo giọng Tàu là “thầy nguồn”. Hai chữ “thầy nguồn” nói tới nói lui thét, thành ra “Sài Gòn”).
Trong cuộc nội chiến giữa Nguyễn Vương Phúc Ánh và nhà Nguyễn Tây Sơn, Sài Gòn nhiều lần trở thành nơi chiến địa đẫm máu kinh hoàng. Nhà Tây Sơn vĩnh viễn mất Sài Gòn khi Nguyễn Vương chiếm lại thành nầy lần thứ ba, thời đàng cựu, tức là thời cai trị của nhà Nguyễn, Sài Gòn là nơi đóng đại dinh tổng trấn, cai trị toàn thể Lục Tỉnh Nam Kỳ. Vị tổng trấn đầu tiên là Kinh Môn Quận Công Nguyễn Văn Nhân, tục gọi là quan lớn Sen. Một vị tổng trấn khác là Kiến Xương Quận Công Nguyễn Huỳnh Đức, đã thất lộc khi đang tại chức. Vị tổng trấn nổi tiếng nhất là Tả Quân Lê Văn Duyệt (tức Duyệt Quận Công).

 Trong cuộc nổi dậy chống triều đình, Lê Văn Khôi (con nuôi của Tả Quân Lê Văn Duyệt, giữ chức Chánh Vệ Úy), cùng với các thuộc hạ như ông Hoành, ông Trấm, anh em họ Võ (Vĩnh Tiền, Vĩnh Tái, Vĩnh Lộc), Lê Văn Tha, Lê Văn Bội v.v… chiếm lấy thành Sài Gòn (đã bị triều đình đổi tên là thành Phiên An), và giữ thành nầy suốt ba năm.


Tới thời Pháp thuộc, Sài Gòn được chọn làm nơi đặt dinh thống soái, nơi làm việc của viên thống đốc Nam Kỳ. Kể từ khi hiệp định Genève chia đôi đất nước, Sài Gòn trở thành thủ đô của nước Việt Nam Cộng Hòa. Sau ngày sụp đổ của miền Nam, Sài Gòn bị đổi tên, chỉ còn là một thành phố. Tuy nhiên, đây là một thành phố phồn thịnh nhất về kinh tế trên toàn quốc.
______________________
Bạn thân,

Nói tới Sài Gòn, điều đầu tiên, dân Nam Kỳ Lục Tỉnh không nói tới dinh Thống Soái (sau nầy gọi là dinh Độc Lập), mà là nói tới chợ Sài Gòn. Ngay như ở hải ngoại, nhiều tờ báo vẫn dùng hình ảnh của chợ Sài Gòn như là một biểu tượng của “Hòn Ngọc Viễn Đông”.
Nếu gọi đúng tên, chợ nầy phải là chợ Bến Thành. Nhiều người sẽ thắc mắc rằng bến ở đâu, thành ở đâu, chợ nằm giữa khu thương mại đông đúc, tại sao lại mang tên như vậy?


Cái tên Bến Thành đã có từ lâu lắm rồi, từ thời đàng cựu, khi chợ còn nằm ở vị thế trước bến sau thành.
Ở Sài Gòn, trên đường Hàm Nghi, gần mé sông, có một nơi được gọi là Chợ Cũ. Đó là nơi tọa lạc của chợ Sài Gòn thuở trước. Nên nhớ là cả con đường Hàm Nghi ngày xưa là một con kinh và là một cái bến cho ghe thuyền đậu lại chuyển hàng lên chợ. Thành phố Sài Gòn ngày xưa có tám cửa, từng mang tên là Quy Thành, Phụng Thành rồi Phiên An Thành, tọa lạc gần sông. Trước bến, sau thành, để mang tên Bến Thành là như vậy.


Sau, dưới thời Pháp thuộc, một tay thương buôn khét tiếng, gốc người Hoa, là Hứa Bổn Hòa, tục gọi là chú Hỏa, tên Tây là Hui Bon Hoa, đã xuất tiền ra cất một cái chợ mới để tặng cho nhà nước Bảo Hộ. Cái chợ đó, chính là chợ Sài Gòn bây giờ, không phải tốt lành gì mà chú Hỏa xuất tiền cất nguyên một cái chợ bề thế bực nhứt Nam Kỳ để tặng cho nhà nước. Đây là một cách đầu tư khôn ngoan. Cất chợ, chú Hỏa còn cất bao nhiêu dãy phố lầu chung quanh chợ. Chú vận động cho nhà nước dời chợ Bến Thành về chợ mới. Bao nhiêu căn phố lầu chung quanh chợ do chú làm chủ điều biến thành vàng.
Một câu hát vào thời phải dời chợ đó đã phác họa phần nào hình ảnh của chợ Bến Thành mới:
Chợ Bến Thành mới
Kẻ lui người tới
Xem tứ diện rất xinh
Thấy em tốt dáng tốt hình
Chẳng hay em có chốn duyên tình hay chưa?
Một câu hát khác cho biết rằng những con đường bao chung quanh chợ Sài Gòn đều được cẩn bằng đá hoa cương, chớ không phải được tráng nhựa như ngày nay:
Chợ Sài Gòn cẩn đá
Chợ Rạch Giá cẩn xi mon
Giã từ em ở lại vuông tròn
Anh về xứ sở, không còn ra vô
Sự dời đổi của chợ Bến Thành, đối với người hoài cổ, nhất là đối với những người yêu nước, không phải mang thuần túy là sự dời của một cái chợ, mà là sự dời đổi của lòng người giữa tân trào và cựu trào. Bởi vậy, mới có một câu hát, mượn lời một cô gái nhắn gởi người tình:
 

Chợ Bến Thành dời đổi
Người sao khỏi hợp tan
Xa gần giữ nghĩa tào khang
Chớ tham nơi quờn quớt, phụ phàng bạn xưa
Lời nhắn nhủ của cô gái đã được người con trai đáp lại:
Sông Sài Gòn sông bao nhiêu nước
Chợ cũ Bến Thành kẻ trược người thanh
Mấy ai cho đặng như anh
Dù ai xao xuyến anh vẫn tín thành với thơ
Vốn đã từ lâu, Sài Gòn đã là nơi tưng bừng náo nhiệt, rực rỡ ánh đèn màu:
Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Em biểu anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ
Các cô gái quê không phải thắc mắc khi các anh trai làng có dịp lên Sài Gòn:
Xứ nào vui cho bằng xứ Sài Gòn
Người đi như hội, anh còn nhớ em?
 

Bởi vì Sài Gòn nhộn nhịp lôi cuốn như vậy nên các cô gái quê không khỏi háo hức, muốn rút chân ra khỏi bùn lầy đồng ruộng, muối mặn nước phèn, để lên chốn phồn hoa đô hội, sống một cuộc đời thảnh thơi. Biết được tâm lý nầy của các cô gái quê, nhiều tay thanh niên Sài Gòn lên tiếng dụ dỗ:
Dõi dõi theo anh
Về nơi châu thành
Coi nam thanh nữ tú
Ở chi đất nầy vượn hú chim kêu
Nhiều chàng thanh niên còn đem cái đời sống an nhàn thảnh thơi, gạo chợ nước máy ra để gợi lên cái lòng háo hức của các cô gái quê:
Gạo Ba Thắc trắng như bông bưởi
Nước phông tên tiền rưởi một đôi
Sài Gòn vui lắm em ơi
Lấy chồng về đó một đời sướng thân
Lời dụ dỗ nghe thiệt đã tai. Nhưng, hởi ơi, ở đời, sự giả, sự thật, rất là khó phân cho tỏ tường. Nhiều cô gái quê mơ cuộc sống Sài Gòn, nghe lời đường mật dụ dỗ của đám sở khanh, một đời sướng thân đâu chẳng thấy, lại bị bán cho mấy mụ tú bà, cuộc đời nhơ bẩn lấm lem.
Related image

Các cô gái háo hức đi theo ánh đèn màu, không khỏi làm cho các chàng trai lòng than thân trách phận:
Thành thị chỗ nào
Cũng xí xô xí xào các chú
Em ăn cơm bảy phủ
Em dạo đủ khắc nơi
Bán buôn một vốn ba bốn đồng lời
Chê anh dân ruộng, chưn mốc cời quanh năm
Mặc cho những chàng trai lòng than thân trách phận, các cô gái quê vẫn không từ bỏ giấc mộng chen chưn lên Sài Gòn. Bởi vì trai Sài Gòn thanh lịch quá mà, miệng lưỡi của họ dẽo như kẹo kéo, ngọt như đường Hiệp Hòa:
Cúc mọc dưới sông kêu bằng cúc thủy
Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ không xa
Gởi thơ thăm hết cả nhà
Trước thăm phụ mẫu, sau là thăm em
Miệng lưỡi như vậy bảo sao các cô không chìu không lụy:
Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ không xa
Anh đi ngang, phải ghé vô nhà
Nghèo em, em chịu, làm gà đãi anh
==>

Sài Gòn vốn là nơi tụ tập “tứ chiếng giang hồ”. Về hai chữ “tứ chiếng”, có người giải nghĩa trên báo, cho hai chữ nầy có nguồn gốc từ hai chữ “tứ trấn”. Người ta còn giải thích tứ trấn là bốn trấn bao quanh thủ đô Hà Nội, là Sơn Tây, Kinh Bắc, Sơn Nam và Hà Đông (thời Trịnh Nguyễn phân tranh). Thật ra, đối với miền Nam, hai chữ “tứ chiếng” có nguồn gốc từ “tứ chánh” thời đàng cựu. “tứ chánh” có nghĩa là “làm cho ngay”. Số là thời Tả Quân Lê Văn Duyệt (Chánh Tướng Duyệt) ngồi trấn thủ Gia Định, Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu làm phó (Phó Tướng Luông). Hai ông có cho tụ tập dân lưu linh lưu địa, sống không có sổ bộ, đưa họ vào cuộc sống hợp pháp. Làm như vậy, gọi là “tứ chánh”. Hai ông cho lập “Tứ Chánh Điếm” cho những người dân bất hợp pháp nầy tạm trú để làm giấy tờ, sau đó, đưa họ đi khẩn hoang lập làng, gọi là “tứ chánh thôn”. Họ không dám nói chữ “chánh” vì kiêng cữ danh gọi ông “Chánh tướng”, bởi vậy, “tứ chánh” mới thành “tứ chiếng”.
Đã gọi là nợ “giang hồ tứ chiếng” thì đôi khi đòn phép giang hồ tung ra không kịp đỡ. Nạn nhân đôi khi là những cô gái nhẹ dạ:


Sài Gòn mũi đỏ
Gia Định xúp lê
Giã hiền thê ở lại lấy chồng
Thoàn anh ra cửa như rồng lên mây
Cái thằng bạc tình lang dụ dỗ con gái nhà người ta, rồi cao bay xa chạy mà mừng như “rồng lên mây” thì thiệt là hết biết. Câu nầy nhắc lại hồi thời Tây đã qua, mũi ghe ở Sài Gòn bao giờ cũng sơn màu đỏ (Sài Gòn mũi đỏ), đò máy ở Sài Gòn, Gia Định đã dùng còi điện để báo hiệu, chớ không còn đánh chuông leng keng (Gia Định xúp lê).
Đã sống thì ai cũng vậy, càng trải qua những trắc trở lọc lừa, càng có nhiều kinh nghiệm. Miệng lưỡi của các chàng trai vẫn ngọt ngào:
Chợ Bến Thành đèn xanh đèn đỏ
Anh nhìn cho tỏ, thấy rõ đèn màu
Lấy em anh đâu kể sang giàu
Rau dưa, mắm muối nơi nào hơn em?
Nhưng, các cô con gái đã không còn nhẹ dạ dễ tin nữa. Họ biết rõ lòng dạ của những kẻ “bãi buôn lỗ miệng”. Họ trả lời thẳng thét.
Trầu Sài Gòn ăn chơi nhả bã
Thuốc xì gà hút đã lại phà hơi
Anh thấy em giàu muốn dựa mà chơi
Chứ đâu phải chỉ dốc chỗ nơi vợ chồng
Nhiều cô gái quê, sau khi đã hiểu rõ những sự thật ở đằng sau những lời dụ dỗ, sau khi đã trải qua những thực tế phũ phàng, đã tỉnh ngộ, quay về với cuộc đời đồng ruộng, tuy khổ cực nhưng không phải xô bồ chen lấn, nhiều khi nhục nhã trăm đường:
Rạng mai hai ngã phân chia
Sài Gòn anh ở, em vìa Cà Mau
Ôi người viễn khách,


Sài Gòn khi xưa vốn là nơi yên lành. Thời đô hộ của Tây, Sài Gòn biến thành nơi đèn màu “ngọn xanh ngọn đỏ”. Chính sách cai trị của thực dân, dùng sự trác tang trụy lạc để ru ngủ dân Sài Gòn, biến Sài Gòn thành nơi chốn ăn chơi. Những tay chơi khét tiếng Nam Kỳ như cô Ba Trà, cô Tư Nhị, cô Ba Pho, Bạch Công Tử (Phước George), Hắc Công Tử (Trần Trinh Qui) đều đổ xô về Sài Gòn, ngập chìm trong ánh đèn màu.
Nhưng, Sài Gòn vẫn là nơi hội tụ của những người yêu nước không bị chính sách của Tây làm cho lạc hướng. Những Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà, Phan Văn Hùm, Nguyễn Văn Sâm, Dương Văn Giáo v.v… đã dùng những tinh hoa tự do dân chủ của nền văn minh tây phương để đánh Tây. Sài Gòn đã một lần nổi dậy, khí thế bừng bừng.
Sài Gòn có mặt tốt, có mặt xấu như tất cả các thành phố lấy thương mại bán buôn, phát triển kinh tế làm chính. Nhưng, dù gì đi nữa, hai chữ Sài Gòn vẫn vĩnh viễn ở trong tim của mọi người.
Xin hết.

Tác giả :NGÔ PHỤNG ANH
 
Kim Phượng sưu tầm & tổng hợp

 

Xem thêm...

Nhìn lại 9 bài hát nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn

Nhìn lại 9 bài hát nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

 

Cát bụi

Bài hát được bắt nguồn từ một thoáng buồn không nguyên cớ là một đoạn phim, một cuốn truyện chưa ưng ý. Trong hồi ký của Trịnh Công Sơn viết: "Có một cái gì đó thật trùng hợp trong cùng một buổi chiều. Một nỗi buồn hay một điều gì đó gần với sự rời xa ly biệt đang cựa mình thức dậy trong tôi. Tôi lại ra đường tìm một góc quán quen thuộc ngồi. Trên đường trở về nhà, trong đầu bỗng vang lên một tiếng hát. Tôi lặp đi lặp lại nhiều lần trong đầu, hát thành tiếng khe khẽ".

 "Cát Bụi":


Biển nhớ

Ca khúc được viết cho Tôn Nữ Bích Khê học trường Sư phạm Quy Nhơn vào hè 1962. "Chúng tôi đã ngồi uống cà phê với nhau dưới mái quán thấp ven biển lợp bằng lá kè. Biển nhớ là cảm hứng từ muôn vàn đợt sóng lấp lánh trong những đêm khuya, Sơn đã kéo cao cổ áo, chợt rùng mình rồi có một ngày sẽ xa những dấu chân trên cát, có còn 'trời cao níu bước Sơn Khê'", Đinh Cường chia sẻ.

  "Biển Nhớ", Khánh Ly hát:


Diễm xưa

Bài hát do Khánh Ly thể hiện, đã trở thành top hit ở Nhật năm 1970. Ngữ nghĩa của Diễm xưa được Trịnh Công Sơn lý giải: "Diễm là đẹp, xưa là ngày xưa". Nhân vật được nhắc tới trong ca khúc là nữ sinh Ngô Thị Bích Diễm của Đại học Văn khoa Huế. Nhà Bích Diễm ở bên kia sông qua cầu Phú Cam, rẽ tay phải về phía đường Phan Chu Trinh, hàng ngày cô gái vẫn đi qua nơi Trịnh Công Sơn ở.

"Ngày xưa, cây cầu Phủ Cam tuy ngắn nhưng đầy duyên nợ. Trịnh Công Sơn ở căn gác tầng 2, số nhà 11/03 đường Nguyễn Trường Tộ. Hàng ngày, chàng cứ đứng lấp ló sau cây cột, lén nhìn một người đẹp. Nàng đi bộ từ bên kia sông, qua cầu Phủ Cam, dạo gót hồng dưới hàng long não, ngang qua chỗ Sơn ở là chàng cứ sướng ran cả người. Một tình yêu 'hương hoa' kéo dài cho đến cuối đời chàng. Sau này, mỗi một mối tình tiếp theo của Sơn đều có hình ảnh cô gái đó", giáo sư Bửu Ý nói.

  "Diễm xưa", Hồng Nhung hát:


Một cõi đi về

Ca khúc được viết vào khoảng 1974 đầu năm 1975 nhưng từ năm 1980 mới phổ biến. "Đây là một bài hát rất lạ, thực sự không dễ hiểu vì có những câu trong bài hát bản thân tôi cũng thấy khó giải thích. Viết thì viết vậy nhưng để giải thích thật rõ ràng thật khó. Khi tôi gặp không ít người dù họ học ít nhưng họ lại thích, hỏi họ có hiểu không, họ trả lời là không hiểu nhưng cảm nhận được có một cái gì đó ở bên trong. Khi nghe, khi hát lên có một điều gì đó chạm đến trái tim mình. Tôi nghĩ trong nghệ thuật điều quan trọng nhất là làm thế nào để mở ra một con đường ngắn nhất đi từ trái tim đến trái tim của người khác mà không cần cắt nghĩa gì thêm", Trịnh Công Sơn từng nói.

  "Một cõi đi về", Tuấn Ngọc hát:


Hạ trắng

Hạ trắng là một ca khúc trữ tình do Trịnh Công Sơn sáng tác năm 1961 (sau bài Diễm xưa). Bài hát được bắt nguồn cảm xúc từ nỗi ám ảnh của một mùa hè nóng bỏng tại Huế, cộng với một câu truyện về cái chết của cha mẹ một người bạn.

"Sau đó tôi kết hợp giấc mơ hoa trắng mùa hạ với mối tình già keo sơn này như áo xưa dù nhầu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau để viết nên bài Hạ trắng" - trích hồi ký Trịnh Công Sơn.

  "Hạ trắng", Nguyễn Đình Toàn hát:


Nối vòng tay lớn


  "Nối vòng tay lớn" by Rock Viet Bands

.Nhớ mùa thu Hà Nội

  "Nhớ mùa thu Hà Nội", Hồng Nhung hát:

.Tôi ơi đừng tuyệt vọng

Trên báo Thanh Niên từng viết: "Nhạc sĩ của những bản tình ca Trịnh Công Sơn đã buồn tha thiết khi từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ. Dường như trong các ca khúc của anh luôn thấp thoáng những mối tình, khi như nắng như mưa, khi như sương như khói, khi lại hư ảo đến nao lòng. Hiểu tường tận những mối tình ấy, có lẽ là Trịnh Xuân Tịnh, người em từng theo anh đi tận cùng trời cuối đất, rong ruổi trên những nẻo đường giang hồ phiêu bạt.

Anh kể: 'Hôm ấy, giữa phòng triển lãm tranh, có người con gái tha thướt trong chiếc áo lụa màu ve chai. Một thoáng ngỡ ngàng bởi anh Sơn rất quen. Đôi mắt, đôi môi, nụ cười ấy tỏa sáng và tinh khiết. Khoảnh khắc đó tôi đã thực sự bùng cháy'.

Thế rồi, căn nhà 47C Phạm Ngọc Thạch, quận 1 đã có thêm một dáng người. Không gian, thời gian ở đó chợt tình tứ, rộn ràng. Anh em, bạn bè rất mừng khi hay tin con người suốt mười mấy năm chưa lấy vợ, nay sắp sửa bước vào vườn địa đàng của trần gian. Người đó là á hậu V.A. Từ đó, mỗi sáng, anh Sơn thường ngồi uống một chút gì ở quán cà phê cùng bạn bè. Câu chuyện tùy hứng, lúc là chuyện đời, chuyện người, có khi là chuyện tiếu lâm nhưng ít nói chuyện âm nhạc.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và mối tình đơn phương với “Người em sầu mộng” Thanh Thúy

Lúc đó, trong anh đang có niềm hạnh phúc thật thanh thản, thật nhẹ nhàng. Người ấy cũng ghiền những món anh thường dùng như cá nục kho khô, thịt luộc, mắm ruốc, tôm chua, canh mít, mồng tơi, mướp đắng.

Những ngày ấy, anh còn mẹ. Bà thương và rất cưng hai người. Bà cũng mong có cháu nội. Đây cũng là lúc anh có dự định cưới vợ mãnh liệt nhất bởi trong anh tình yêu đang là thác đổ. Một ngày, căn phòng đầy ắp cây cọ, bức tranh, sách vở, đàn và rượu đã không còn bóng dáng thanh thanh, dong dỏng của người tình. Người ấy đã ra đi như những dòng sông nhỏ. Cả nhà, bạn bè biết anh buồn lắm. Nỗi buồn không chùng xuống vực sâu mà bay vút lên rằng 'đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng'.

Dặn dò với lòng mình như thế, nhưng làm sao không đau khi 'lá mùa thu rơi rụng giữa mùa đông', làm sao khỏi hoang mang khi trước đó 'em là tôi và tôi cũng là em', còn giờ 'tôi là ai, là ai, là ai!'. Anh ngồi đó, nhìn nắng tàn phai như một nỗi đời riêng. Với người tình, anh vẫn độ lượng 'em hồn nhiên, rồi em sẽ bình minh'. Có thể ở một nơi nào đó, có người đang thầm thì 'đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng...'".

Lời tự sự của Trịnh Công Sơn, Khánh Ly hát:


Như cánh vạc bay

Nhân vật của Như cánh vạc bay là một cô gái Huế đã định cư ở nơi xa. Không được ở bên nhau, sống với nhau, anh vẫn luôn mong người ấy hạnh phúc, dù anh âm thầm đau khổ: "Ta nghe từng giọt lệ. Rớt xuống thành hồ nước long lanh" - trích lời Trần Long ẩn.

"Người con gái trong bài là một thiếu nữ tên P.T.L, người gầy và cao, rất đẹp, sinh trưởng trong một gia đình nề nếp, gia phong nổi tiếng. Sau này cô cư ngụ tại Ottawa và từng gặp lại Trịnh Công Sơn trong dịp anh sang Montréal thăm gia đình lần duy nhất vào dịp Phục Sinh năm 1992" - trích Trường Kỳ.

Clip "Như cánh vạc bay", Khánh Ly hát:

 
 
Hồng Vân sưu tầm
 
Trịnh Công Sơn

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này