Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1289)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (64)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (353)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Nhạc Vàng _ di sản trường tồn của Việt Nam Cộng Hòa

 Nhạc Vàng

di sản trường tồn của Việt Nam Cộng Hòa

Nhạc vàng là dòng nhạc Việt Nam ra đời từ thập niên 1960 với những giai điệu nhẹ nhàng (boléro, rumba, ballade ...) và ca từ vừa bình dân, dung dị lại vừa đậm chất thơ.

Lịch sử



"Nhạc vàng" ở phía nam vĩ tuyến 17

Danh từ "nhạc vàng" xuất hiện tại Miền Nam ở vùng do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát vào những năm 1960. Vào cuối thập niên đó nhạc sĩ Phó Quốc Lân cho ra mắt ban "Nhạc Vàng" thuộc đài truyền hình Sài Gòn để trình tấu định kỳ.

Ông tác giả những bản nhạc như “Xuân ly hương”, “Hương lúa miền Nam”, “Anh tôi” (nói về người lính Cộng Hòa), “Mong ngày anh về”, “Vui khúc tương phùng”. Những hãng phát hành băng và đĩa nhạc cũng cho ra nhiều sản phẩm với danh hiệu nhạc vàng như hãng Hương Giang, hãng Dạ Lan, và hãng Shotguns của Ngọc Chánh.

Nhạc vàng sau đó được hiểu là thể loại nhạc tình êm dịu có tình yêu quê hương nhưng cũng thể hiện tình yêu lứa đôi vì người lính chiến cũng có nỗi lòng riêng tư mặc dù còn nặng trách nhiệm với đại cuộc. Cho đến năm 1975, dòng nhạc này phổ biến ở Miền Nam. Những tác giả với tên tuổi gắn bó với nhạc vàng là Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Nguyễn Văn Đông.

Nguyễn Ánh 9 cùng thế hệ với các nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc vàng, nhưng tự nhận không theo nhạc vàng. Cuộc trao đổi với tác giả 'Buồn ơi chào mi, Tình khúc chiều mưa'... cho thấy cái nhìn tương đối khách quan về nhạc vàng, nhạc sến.

 "Nhạc màu vàng" ở phía bắc vĩ tuyến 17

Ở Miền Bắc do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát thì từ thập niên 1950 đã du nhập khái niệm "nhạc màu vàng" từ Trung Hoa. Trong Hán ngữ nhạc màu vàng (huangse yinyue Hán Việt: hoàng sắc âm nhạc) được hiểu là nhạc tình thời thượng của thập niên 1930 phổ biến ở Thượng Hải.

"Nhạc màu vàng" theo đó bị coi "là thứ âm nhạc lãng mạn bi quan, hoặc khêu gợi tình dục và những khát vọng thấp kém của xác thịt". Phong trào bài trừ "nhạc màu vàng" ở Trung Hoa thời Mao Trạch Đông cũng lan theo sang miền Bắc Việt Nam như trong những bài báo dịch lại từ tiếng Hoa, chống nhạc "ủy mị" vì thiếu tinh thần đấu tranh cách mạng. Cũng vì vậy mà dòng nhạc tiền chiến thịnh hành trước năm 1954 cũng phải câm nín.


Nhạc vàng sau năm 1975

Sau năm 1975 danh từ "nhạc vàng" được dùng cho tất cả những tác phẩm âm nhạc của Miền Nam ra đời trong thời kỳ đất nước chia đôi và dòng nhạc này bị cấm[6] trên các phương tiện truyền thông.

Cũng như những đề mục văn hóa khác ở miền Nam, âm nhạc Miền Nam bị gán thêm cái nhãn hiệu chính trị là "nhạc phản động" hoặc "đồi trụy" vì "ru ngủ", không thể hiện được con người xã hội chủ nghĩa lý tưởng.

Kết quả là nhiều sản phẩm văn hóa trong đó có băng cassette, đĩa nhạc cùng những bài vở ghi chép nhạc vàng bị đốt. Cũng theo nghĩa đó thì đối lập với nhạc vàng là nhạc đỏ tức dòng nhạc nêu cao chủ nghĩa cộng sản, mục tiêu đấu tranh và lao động. Dù vậy nhạc vàng vẫn được nhiều người ưa thích cả trong Nam lẫn ngoài Bắc vì nói lên được tình cảm cá nhân không gò buộc vào tập thể.

"Nhạc vàng" do đó hàm ý vàng của quý kim mà người nghe phải lén lút để nghe vì nó cho người nghe cái tâm trạng "riêng" của con người trong khi xã hội chỉ cho phép cái ý thức hệ chung của tập thể.

Dù phải nghe trộm qua những buổi phát thanh của VOA hoặc BBC từ hải ngoại, người trong nước vẫn cố gắng tìm nghe bất chấp hình phạt của luật pháp. Có thể nói nhạc vàng át cả nhạc đỏ mặc dầu nhạc đỏ được chính quyền ưu đãi và cổ súy.

 

 

Một số ý kiến

Dịch giả Nhật Chiêu: "Tôi nghĩ nhạc sến là một bộ phận cơ bản trong đời sống âm nhạc dành cho đối tượng thưởng thức bình dân, không thể thiếu. Không chỉ Việt Nam mà rất nhiều nước đều có loại hình giải trí dành riêng cho đối tượng đông đảo này. Trong rất nhiều "tình huống" cuộc sống, tình cờ "lạc vào" tôi lại thấy nhiều ca từ của nhạc sến rất có lý (!).

Sự thật là chưa có ai buồn nghe nhạc sến mà chết cả nhưng đã có nhiều trường hợp thưởng thức "văn hóa" cao cấp lại tự tử ví dụ như trường hợp tác phẩm Những nỗi đau của chàng Goet-thơ của Gớt. Nói vui, theo tôi, nghe nhạc sến cũng như mặc áo chim cò, không hại ai".


Họa sĩ Trịnh Cung: "Trong tranh vẫn có "sến" chứ! Ví dụ như tranh của họa sĩ Lê Trung trước đây. Ông thường vẽ phụ nữ ngực tròn, mặc áo bà ba đội khăn hoặc nón rất Sài Gòn. Nói chung là bình dân. Nhưng chân dung các nhà văn như Hồ Biểu Chánh, bà Tùng Long... của ông thì vẫn đầy cá tính. Nhiều người nhớ! "Nhạc sến" thường tập trung vào điệu boléro.

Theo tôi, ngoài tính mòn, đơn điệu, boléro có ưu điểm là rất thích hợp với giọng nam của các ca sĩ Sài Gòn. Các nhạc sĩ như Lam Phương, Hồ Đình Phương, Thanh Sơn... là những cái tên được biết đến từ "nhạc sến". Nói không quá, "nhạc sến" rất đặc trưng cho đời sống thị dân".


Ca sĩ Hương Lan: "Âm nhạc có nhiều dòng khác nhau: nhạc dân ca, nhạc trữ tình..., nhưng không có dòng nhạc sến. Tôi không biết những người hay dùng từ sến để chê một bài nào đó, họ có hiểu "sến" là gì hay không; hay cái gì không thích thì đều cho là "sến".

Cũng như từ "cải lương" vậy, đó là một loại hình nghệ thuật, sao mọi người có thể tùy tiện sử dụng mỗi khi muốn chê cái gì đó (sao sến quá, sao cải lương quá). Tôi xem đó là sự chọc ghẹo, coi thường và nhục mạ rất tệ hại, nếu không nói là vô văn hóa.

Nhưng đó là khán giả chê. Đáng buồn hơn, ngay cả người trong giới cũng nói như vậy. Các em dù có nổi tiếng đến đâu, hát nhạc sang thế nào thì cũng đừng nên coi thường các loại nhạc khác".


Ca sĩ Ngọc Sơn: "Đáng ngạc nhiên là nhạc trẻ, nhạc pop hiện đại đôi khi cũng bị người nghe "liệt" vào hàng "sến" (vì họ không thích). "Sến" là hình thức áp đặt, và những người nói từ này thường hiểu "sến" là nhà quê, là nghèo; chẳng lẽ nhà quê hay nghèo là có tội, là bị chê? Có "quê" thì mới phân biệt được với "tỉnh" chứ! M

à tôi cũng coi mình và âm nhạc của mình là sến đấy, hay nếu ai có nói tôi sến, tôi càng thích; vì tôi luôn đứng về phía người dân lao động nghèo - họ cũng thường bị gọi là sến khi hay nghe loại nhạc tình cảm ướt át, và tôi luôn bảo vệ loại nhạc đó".


Ca sĩ Thùy Trang: "Người ta hay dùng từ "sến" khi nói đến những ca khúc trữ tình ủy mị. Nhưng lời của nhiều bài nhạc trẻ bây giờ nghe còn... (nếu được nói) sến hơn dòng nhạc tôi đang hát. Nhiều người vẫn cho rằng nhạc trẻ mang tính thị trường, nhưng thực tế chỉ tồn tại một thời gian nào đó; còn nhạc quê hương, trữ tình, mà bị gọi là sến, thì vẫn sống mãi đó thôi. Âm nhạc như một món ăn tinh thần, mà 9 người 10 ý, làm sao chiều hết được! Cho đến giờ này, tôi vẫn rất tự tin khi hát loại nhạc mà tôi đã chọn".


Ca sĩ Quang Dũng: "Tôi không hề phân biệt sang - sến, quan trọng là ca sĩ hát như thế nào để lay động được cảm xúc của người nghe. Có những bài bị cho là sến nhưng tôi vẫn chọn để hát lại (như bài "Thành phố mưa bay" của ca sĩ Tuấn Vũ), theo cách của mình, và vẫn được đón nhận. Mà nhạc bị quy vào sến vẫn có chỗ đứng trong lòng khán giả suốt mấy chục năm nay. Chị Hương Lan là một thần tượng của tôi, và tôi thường nghe những bài nhạc quê hương trữ tình của chị".

 

Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9

Theo ông, nhạc vàng là nhạc gì?

Người ta hay dùng nhạc vàng để nói về âm nhạc trữ tình hay lãng mạn. Theo tôi biết, màu vàng có lúc tượng trưng cho sự bệnh hoạn. Hồi xưa như tôi được biết, khi trên tàu thủy có bệnh dịch thì treo cờ vàng để báo hiệu.

 -Ông đánh giá thế nào về kỹ thuật thanh nhạc của ca sỹ ca nhạc vàng nổi bật như Duy Khánh, Chế Linh, Thanh Tuyền, Giao Linh…?

 Duy Khánh và học trò là Chế Linh, Giao Linh, Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Phương Hồng Quế - mỗi người một giọng riêng biệt, và không qua trường lớp nào. Họ có thể hát nhạc khác cũng được nhưng không hay và không được nhiều người ưa thích bằng bolero.

-Nghe những bản nhạc theo điệu bolero và các giọng hát thời kỳ đấy rất Việt Nam?

 Không hẳn. Đúng ra, có những câu mang âm hưởng dân ca Nam Bộ. Phần đông ca sĩ, nhạc sĩ là người miền Nam nên hát và viết bài hát mang chất dân ca bình dân của người Nam. Họ viết nhạc phần đông ở giọng thứ, khi hát với bolero, nó đúng cái nhịp của người miền Nam. Dân ca miền Nam rất hợp bolero. Bên tân cổ giao duyên, phần đông hát vọng cổ xong qua bolero liền. Hai cái đó dính liền, pha với nhau. Từ đó có âm hưởng bolero trong âm nhạc Việt Nam.

 -Có bao giờ ông sáng tác theo phong cách nhạc vàng?

 Tôi dân trường Tây, ảnh hưởng nhạc nước ngoài nhiều. Rồi làm việc ở vũ trường, xung quanh toàn nhạc mới. Nhưng khi phổ thơ bài Ngày xưa có mẹ, tôi áp dụng bolero để kể chuyện. Dòng nhạc bolero không hiếm những bài hát kiểu kể chuyện như: Hàn Mặc Tử, Màu tím hoa sim, Lan và Điệp… Bolero của Việt Nam khác bolero của Tây Ban Nha hay Nam Mỹ. Bolero Việt Nam rất chậm. Nam Mỹ, Tây Ban Nha lẹ hơn, gần như rhumba.

 -Vậy có thể đưa ra công thức: nhạc vàng chính là điệu bolero Việt Nam cộng với kỹ thuật hát mang âm hưởng dân ca?

 Đúng rồi. Nhạc vàng xưa chỉ có hai thể điệu bolero và slow rock. Slow rock của Việt Nam cũng chậm lắm.

 -Thời đó, hẳn nhạc sĩ, ca sĩ nhạc vàng được đón nhận nồng nhiệt hơn so với nhạc trẻ?

 Trời ơi, băng nhạc loại bolero bán chạy nhất! Người đầu tiên nghĩ ra bolero là Lam Phương rồi Trúc Phương. Trúc Phương có viết một loạt Nửa đêm ngoài phố, Hai chuyến tàu đêm, Tàu đêm năm cũ… cho Thanh Thúy hát rất phù hợp.

Thời thịnh của nhạc vàng cũng chỉ giới bình dân nghe là chính?

 Trí thức cũng nghe, nhưng theo kiểu vô thưởng vô phạt. Trí thức lúc đó thích nghe nhạc của Phạm Duy, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Phạm Đình Chương, Hoàng Trọng hay Văn Phụng.

 -Nhạc sĩ thấy hai khái niệm nhạc sến và nhạc vàng có gì chung?

 Hồi xưa, mấy người giúp việc nhà, hay nhà nghèo đi ra phông-ten nước (vòi nước công cộng) để lấy nước về nhà xài, hay giặt đồ, người ta gọi cho nó “sang” là Mari Đờ La Phông-ten, giỡn chơi vui vậy. Đồng thời lúc đó nổi lên cô đào Maria Schell, dẫn đến họ có thêm biệt danh là Mari Sến. Mấy người đó, chủ nhật được chủ cho nghỉ, họ ở nhà mở radio nghe nhạc bolero, hoặc ra phố kiếm mấy chỗ bán nhạc đó để mua. Họ thích bolero vì nó hợp với trình độ của họ. Nhờ những người đó, nhạc sĩ bán bài hát mới chạy. Vô tình người ta gọi loại nhạc đó là nhạc sến.

 Không phải mình phân chia giai cấp, nhưng loại nhạc đó được giới bình dân nghe nhiều hơn. So với nhạc vàng, lời nhạc sến còn bình dân hơn: Ước gì nhà mình chung vách, anh khoét bức tường, anh qua thăm em. Chung quy cũng là nhạc trữ tình. Nhạc cho người có hiểu biết chút xíu gọi là nhạc vàng, còn cho người ít hiểu biết gọi là nhạc sến.

 -Theo ông, nhạc vàng nên được nhìn nhận như thế nào trong hoàn cảnh hiện nay?

Tôi nghĩ nhạc vàng có giá trị của nó, nhạc sến cũng có giá trị của nó. Phải có những giá trị nhỏ thì người ta mới biết giá trị lớn chứ. Không nên đánh giá cái nào thấp quá hoặc cao quá.

N.M.H

 

Nhạc Vàng - di sản trường tồn của Việt Nam Cộng Hòa 

¸¸♫·¯·♪¸¸♩·¯·♬¸¸

Nhạc Vàng mà sự thịnh hành của nó gắn liền với miền Nam Việt Nam trước 1975 giúp cho khán thính giả ngày nay sống lại thời Việt Nam Cộng hòa và có thể được xem là di sản có sức sống nhất của chế độ đã qua, các nhà nghiên cứu nhận định tại một hội thảo mới đây ở tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ.

Nhạc Vàng là tên thường gọi của thể loại nhạc được sáng tác và trình diễn dưới thời Việt Nam Cộng hòa. Ngoài tên gọi này, một phần của nó còn được gọi là ‘nhạc sến’ hay ‘nhạc boléro’, dựa trên thể điệu và lời ca.

 

 U sầu hoài niệm

  “Nhạc Vàng là một trong những phương tiện giữ cho ký ức của nền Cộng hòa sống mãi,” ông Vinh Phạm, nghiên cứu sinh Tiến sĩ về Văn học đối chiếu tại Đại học Cornell, nhận định tại hội thảo về nền Cộng hòa và các giá trị Cộng hòa Việt Nam tại Đại học Oregon, Eugene, hôm 15/10.

Điều này thấy rõ trong các chương trình ca nhạc và nhạc hội được tổ chức ở hải ngoại để người gốc Việt tôn vinh nền văn hóa của họ vốn thường trình diễn những bài hát có nội dung về Việt Nam Cộng hòa, ông nói.

 Ông Vinh đưa ra dẫn chứng là có giai thoại về ‘ba thứ không thể thiếu’ trong các gia đình người Việt ở Mỹ, trong đó có những đĩa nhạc của Paris by Night hay Asia, hai nhà sản xuất băng đĩa hàng đầu của người Việt ở hải ngoại, bên cạnh... chai nước mắm và tô phở.

“Những bài hát như thế này thường được xem là để gợi nhớ về thời kỳ trước năm 1975,” ông nói. Ông Vinh cho biết thể loại nhạc này thường bị các nhà phê bình ngày nay đóng khung là ‘âu sầu, áo não’ (melancholy).

 

Theo ông Vinh, sự u sầu này có nghĩa là ‘mất đi một thứ gì đó’ và ‘ít nhất trong phạm vi văn học và âm nhạc sự mất mát đó chính là mất mát thật sự nền Việt Nam Cộng hòa’. “Nói cách khác, vật bị mất (gây ra cảm giác u sầu) ở đây không nằm trong phạm vi vô thức mà trái lại được đóng khung và định danh rõ ràng là một đất nước.”

 Ông dẫn chứng là trong các chương trình ca nhạc của người Việt ở Mỹ, ngày 30/4 năm 1975 được gọi là ‘Ngày Mất nước’. Sau khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ và những công dân của quốc gia này sống lưu vong thì âm nhạc của chế độ cũ giúp họ nhận thức rõ về sự mất mát này, ông nói. Trong khi đó, cách mô tả Nhạc Vàng là ‘hoài niệm’ (nostalgic) về thời xa xưa có ý nghĩa là ‘chấp nhận quá khứ là chuyện đã qua và chấp nhận thực tại’, ông nói.

 “Với những gì mà cộng đồng người Việt ở hải ngoại, vốn tích cực tham gia chính trị, đã phản đối (chính quyền trong nước) lâu nay và cái cách mà Nhạc Vàng được sử dụng để củng cố tinh thần quốc gia của họ thì không thể nói là có bất cứ dấu hiệu gì cho thấy họ chấp nhận quá khứ mà thay vào đó đó là sự phản đối Đảng Cộng sản,” ông nhận định. “Cách dùng những từ như hoài niệm, u sầu lâu nay để phê bình Nhạc Vàng đã bỏ qua mục đích thật sự của những bài nhạc này,” ông nói.

 Sau khi đất nước thống nhất, chính quyền trong nước có một thời kỳ cấm đoán gắt gao thể loại âm nhạc này vì cho rằng nó ‘quá diễm tình, yếu đuối và thể hiện nền văn hóa yếu ớt của miền Nam’. Thậm chí nó còn được miêu tả là ‘độc hại và phản động’.

 

Có hợp với giới trẻ?

 Trao đổi bên lề buổi hội thảo về lý do tại sao Nhạc Vàng có sự trở lại ngoạn mục ở trong nước hiện nay, ông Vinh nêu lên các lý do là ‘làm ra tiền’, ‘dễ tiếp cận hơn trước’, ‘dễ nhớ dễ thuộc’ và ‘kết nối với thế hệ đi trước’. “Anh có thể kiếm tiền bằng Nhạc Vàng dựa trên số lượt người xem hay nghe trên YouTube. Một số kênh về Nhạc Vàng trên YouTube có hàng triệu lượt xem mỗi mục đăng tải,” ông giải thích.

 “Một lý do nữa là khán giả Việt Nam hiện nay có nhiều cách tiếp cận các sản phẩm văn hóa hơn. Vào những năm 1990, các băng đĩa Nhạc Vàng mà họ có được hoặc là sao chép lậu hoặc do người thân của họ mang từ nước ngoài về,” ông nói thêm. “Giờ đây mọi người chỉ cần rút điện thoại thông minh từ trong túi ra là có thể nghe Nhạc Vàng.” “Mặc dù một số bài hát vẫn bị cấm nhưng khán giả có thể dễ dàng tiếp cận được.”

 Ngoài ra, tính chất lãng mạn (poetic) của thể loại nhạc này khiến khán giả dễ dàng ghi nhớ và thuộc bài hát. “Có những thanh niên có ông bà cha mẹ vẫn còn nghe Nhạc Vàng cho nên nó là một hình thức để họ kết nối với thế hệ đi trước,” ông Vinh nói thêm.

 

Quang Lê - Lệ Quyên

Trả lời câu hỏi liệu Nhạc Vàng có phù hợp với thị hiếu của các khán giả trẻ ở trong nước hiện nay, ông Vinh nói rằng giới trẻ ‘quan tâm đến nhiều thể loại âm nhạc khác nhau chứ họ không quan tâm đến duy nhất một thứ’ cho nên ‘không thể gom các khán giả trẻ thành một khối duy nhất’.

 Tuy nhiên, theo những gì ông quan sát, ông cho rằng giới trẻ trong nước hiện nay hướng đến âm nhạc Hàn Quốc, Trung cộng và nhạc Mỹ, trong đó nhạc Hàn rất được giới trẻ ưa chuộng.

Về vấn đề liệu sự hồi sinh của Nhạc Vàng có làm sống lại sự quan tâm và tìm hiểu về Việt Nam Cộng hòa và các giá trị của nó hay không, ông Vinh trả lời rằng ‘mặc dù những bài Nhạc Vàng có thể gợi lại những tình cảm thân thiết với Việt Nam Cộng hòa nhưng ở trong nước chúng đã được đưa ra khỏi bối cảnh ban đầu’.

“Những người hát Nhạc Vàng vì họ yêu giai điệu bài hát (không phải lời hát). Tôi không cho rằng có sự gắn bó cá nhân rõ ràng (với nội dung các bài hát),” ông nói thêm. “Một số bài hát cơ quan kiểm duyệt còn sửa một số chữ trong lời hát.”

 Ông cho rằng các khán giả ở Việt Nam khi hát Nhạc Vàng họ ‘ít quan tâm đến chính trị’ và Nhạc Vàng chỉ đơn thuần là ‘một mặt hàng mới’ phục vụ người tiêu dùng. Chính vì những lý do đó mà ông cho rằng Nhạc Vàng hiện nay ‘không còn là mối đe dọa chính trị’ đối với chính quyền trong nước.

 Ông đưa ra dẫn chứng là có hiện tượng ‘trong nước trình diễn lại màn trình diễn ở nước ngoài’ (performing the performance), tức là tái hiện lại y chang khung cảnh sân khấu của các bài hát dàn dựng ở hải ngoại mặc dù họ đang ở Việt Nam trong khi những bài hát này vì không tiếp cận được bối cảnh ở Việt Nam nên phải dựng cảnh giả.

 Cách làm đó đã cho thấy khán giả trong nước ‘phi chính trị hóa Nhạc Vàng’ – tức họ là trình diễn âm nhạc chứ ‘không truyền tải thông điệp chính trị’, ông Vinh phân tích.

       

Di sản có sức sống nhất?

 Trong phần trình bày của mình, ông Jason Gibbs, một nhà nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam và hiện đang làm việc cho Thư viện Công tại San Francisco, cho rằng ‘có lẽ di sản về Việt Nam Cộng hòa có sức sống nhất ở Việt Nam ngày nay là âm nhạc’.

 “Những bài hát vẫn còn sống mãi từ thời điểm đó tập trung vào tình cảm con người và những cảm xúc sâu thẳm trong lòng người,” ông nói.

 Theo ông Gibbs thì sở dĩ âm nhạc phát triển mạnh mẽ ở miền Nam Việt Nam vì ‘có thị trường’ cho sản phẩm âm nhạc mang tính thương mại mà nhờ vào đó các nhạc sĩ có rất nhiều cơ hội kiếm tiền từ các sáng tác của họ và có được mức sống cao.

 “Trong một thị trường sơ khai còn hỗn loạn, những nhà sáng tác và khán giả tìm kiếm âm nhạc mới mẻ giàu cảm xúc và phù hợp với giá trị chung của một bộ phận đáng kể dân chúng,” ông nói và cho rằng thị trường âm nhạc miền Nam lúc đó ‘hoàn toàn bản địa’ vì ‘không có hãng đĩa nước ngoài nào tranh thủ được thị trường’.

 Ông giải thích rằng nhạc thị trường là một ‘điều mới mẻ’ ở miền Nam Việt Nam lúc đó vì nó không tồn tại dưới thời thuộc địa và ở miền Bắc.

 “Âm nhạc của Việt Nam Cộng hòa hoạt động trong mối quan hệ của ba yếu tố: chính sách của chính quyền, động cơ lợi nhuận và tình cảm chung của người dân,” ông cho biết.

 Ông nói thêm chính quyền Việt Nam Cộng hòa lúc đó do muốn tách bạch khỏi hệ tư tưởng và cách cai trị ở miền Bắc nên không thể ra lệnh cho các văn nghệ sĩ và người dân tuyệt đối tuân theo lệnh của chính quyền.

 

 

Tuy nhiên, ‘tâm lý chiến cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình công việc sáng tạo của các nhạc sĩ và có ảnh hưởng lên các tác phẩm âm nhạc được đưa ra thị trường’. Mặc dù vậy, khi nhạc thương mại chiếm lĩnh thị trường, trên sóng phát thanh và sóng truyền hình thì ảnh hưởng của chính quyền trở nên bị giới hạn.

 Sau năm 1975, Nhạc Vàng mặc dù bị cấm đoán quyết liệt ở miền Bắc nhưng nó vẫn được cộng đồng người Việt ở hải ngoại gìn giữ và ngày nay đã được một bộ phận dân chúng miền Bắc, vốn trước giờ lạ lẫm với dòng nhạc này, chấp nhận, ông Gibbs cho biết.

 

Trả lời câu hỏi rằng dòng nhạc tâm lý chiến có giống như nhạc tuyên truyền cổ động chiến đấu ở miền Bắc hay không, ông Gibbs nói: 

 “Tôi phải thừa nhận rằng với những gì mà tôi đã nghe thì (nhạc miền Nam) cũng có yếu tố tuyên truyền. “Ý tưởng tuyên truyền là nhấn mạnh vào hành động xấu xa của đối phương,” ông nói.

 Cũng theo nhận định của ông, Nhạc Vàng ‘chắc chắn mang tính cổ động quân đội’ vì nó ‘bày tỏ sự cảm thông cho người lính, cho những người dân bị chiến tranh chia cắt’.

 

  “Một số bài hát còn hướng đến thu phục những người bên ngoài chế độ (sống ở miền Bắc),” ông nói và cho biết những bài hát này nằm trong chương trình chiêu hồi (open arms) của chính quyền và có thể đi sâu vào phía đối phương.

 “Tuy nhiên, họ biết rằng họ không thể sáng tác những bài hát mang tính chất quân sự mạnh mẽ bởi vì những bài hát như thế không có sức hút (đối với thị trường),” ông nói thêm.

 

Nhạc "sến": Ai nghe và vì sao gọi là sến?

 Có lẽ trong đời bạn đã hơn một lần "bị" người khác bình phẩm: Sao mà "sến" quá đi! Khi bạn chỉ vừa mới hát một câu, thốt dăm ba tiếng hoặc ngay cả bộ đồ bạn đang mặc, bức tranh bạn vẽ, món quà bạn chọn... cũng có thể bị coi là "sến".
 
"Sến" quả là muôn hình vạn trạng, nhưng nếu cắc cớ hỏi lại: "Sến" là gì ? thì e rằng người vừa bình phẩm cũng... ngắc ngứ vì không thể giải thích một cách thỏa đáng. Ở phạm vi chuyên đề này, chúng tôi chỉ xin lạm bàn về "nhạc sến" - một thực thể luôn hiện hữu trong dòng chảy âm nhạc mấy chục năm qua...
 
Tản mạn về nhạc sến
 
Chưa có một quy định "chuẩn" nào để phân biệt bản nhạc này thuộc loại "sến", bản kia không "sến" nhưng không biết do đâu mà hầu như tất cả các bản nhạc được sáng tác trước 1975 - nhất là những bản có điệu boléro, rumba, ballade... đều bị quy là nhạc sến (tiếng "sến" được hiểu theo nghĩa dè bỉu, mỉa mai, khinh thị...).
 
Vậy thì "sến" là gì?
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Theo ý kiến của nhiều lão làng trong giới ca nhạc thì "sến" do chữ sen (trong từ con sen: người giúp việc nhà) đọc trại mà ra.
 
Trước 1954, chỉ có ở miền Bắc mới gọi "ô sin" là con sen, trong Nam gọi là "ở đợ". "Sến" thường là những cô gái quê con nhà nghèo, ít học phải ra tỉnh ở đợ, vì vậy trình độ hiểu biết cũng không cao. Do thường giúp việc cho chủ Tây hoặc trong các gia đình theo Tây học nên các cô được các nhà văn, nhà báo có óc hài hước thêm cho cái tên "Marie" phía trước để trở thành Mari-Sến. Sau 1954, "Mari-Sến" vào Nam.
 
Dạo đó, nước máy chưa được đưa tới từng nhà, chiều chiều các Mari- Sến lại tụ tập quanh cái máy nước (fontaine) để hứng nước gánh về nhà, từ đó lại đẻ thêm cái tên "Mari-Phông ten". Trong khi đứng chờ đầy gánh nước, các cô thường vui miệng hát với nhau những câu đại loại như:
 
https://baomai.blogspot.com/
 
"Anh ơi nếu mộng không thành thì sao? Non cao, biển rộng biết đâu mà tìm…" (Duyên kiếp - Lam Phương) hoặc: "Chiều nay có phải anh ra miền Trung, về thăm quê mẹ cho em về cùng..." (Quen nhau trên đường về - Thăng Long). Thế là thành... nhạc sến! Một sự hình thành quá đỗi "mơ hồ" nên cũng khó mà định nghĩa. Thôi thì, hễ loại nhạc nào mà các chị gánh nước mướn, các anh đạp xích lô, thợ thuyền (gọi chung là giới bình dân) khoái hát thì... đó là “nhạc sến”!
 
 Hãy tạm bằng lòng "nhạc sến" là như vậy, nhưng sẽ thật sai lầm khi quan niệm "nhạc sến" với hàm ý khinh thị, chê bai bởi trong dòng nhạc bình dân này có rất nhiều tuyệt tác mà chưa chắc các nhạc sĩ dòng nhạc "hàn lâm" đã sáng tác được, như: Khúc ca ngày mùa (Lam Phương), Hoài thu (Văn Trí), Xóm đêm (Phạm Đình Chương), Ai lên xứ hoa đào (Hoàng Nguyên), Nắng chiều (Lê Trọng Nguyễn), Đường xưa lối cũ (Hoàng Thi Thơ), Nửa đêm ngoài phố (Trúc Phương), Thương hoài ngàn năm (Phạm Mạnh Cương), Nắng lên xóm nghèo (Phạm Thế Mỹ)...
  

 
"Tạm bằng lòng" như đã nói ở trên nhưng cũng còn có khá nhiều người "không bằng lòng chút nào" - họ là những người làm ra bài hát (nhạc sĩ) và những người hát (không cứ gì phải là ca sĩ).
 
Nhạc sĩ sừng sộ: "Nhạc của tui được rộng rãi quần chúng hát. Lên non, xuống biển, len lỏi vào tận hang cùng ngõ hẹp, sức "công phá" như... sóng thần! Thử hỏi "nhạc hàn lâm" đã có sức hấp dẫn như thế chưa? Mục đích của âm nhạc là tạo được sự đồng cảm ở mọi tâm hồn, nhạc của tui đã đạt được điều đó và còn... hơn thế nữa! Thế thì sao lại gọi là “nhạc sến” ?".
 
Người hát thì cải chính: "Sến thế nào được. Đó là loại nhạc dễ nghe, dễ hát và nhất là hợp với tâm trạng (tùy thời điểm) của tôi. Thế là tôi thích, tôi hát hoài: "Tôi với nàng (cóc cóc cóc cóc) hai đứa (cóc cóc cóc cóc) nguyện yêu nhau (cóc cóc cóc cóc). Tha thiết từ đây (cọc cọc cọc cọc) cho đến (cọc cọc cọc cọc) ngày bạc đầu (cọc cọc cọc cọc)...”.
 
Xem ra, cuộc tranh luận về "nhạc sến" chưa chắc đã dừng lại ở đây ! Nhạc sĩ Vinh Sử: "Sến" là do những người bày đặt... "chảnh Anh có… tự hào khi được "phong" là "Vua nhạc sến" không? Và theo anh "nhạc sến" là gì? 
 
https://baomai.blogspot.com/
 
- Thú thật, cho đến bây giờ tôi cũng không biết ai đã "phong... vua" cho tôi, và "phong" từ bao giờ. Tự hào à?
 
Biết nói thế nào nhỉ, nhưng rõ ràng chữ "vua" là... hơi hiếm! Đã là vua là... trên tất cả (cười). Còn về từ "sến", tôi không thể phân tích. Với tôi, không hề có “nhạc sến” mà chỉ có nhạc hay và nhạc dở mà thôi (đương nhiên nhạc hay mới có giá trị). Nếu từ "nhạc sến" là dùng để chỉ dòng nhạc dành cho giới bình dân thì tôi chịu lắm và tôi rất tự hào khi được rộng rãi quần chúng hát nhạc của mình.
 
Nhưng nhạc của anh cũng phải "có cái gì đó" người ta mới "chỉ mặt, đặt tên" rằng… "sến" chứ ? 
 
- Trước 1975, giới làm nhạc rất dễ kiếm tiền. Tiền tác quyền một bản nhạc có khi mua được chiếc xe hơi, nhạc sĩ lại được "đặt hàng" tới tấp, do vậy mới nảy sinh ra loại "nhạc thị trường".
 
Giai đoạn này tôi cũng có sáng tác các ca khúc như: Nhẫn cỏ cho em, Yêu người chung vách, Trả nhẫn kim cương... Có thể từ loại nhạc này mà người ta gọi là "nhạc sến" cũng nên. Sau 1975, "e" nhạc của tôi có tính chất dân gian, mang âm hưởng cổ nhạc (3 Nam, 6 Bắc), chẳng hạn các nhạc phẩm: Tình ngoại, Bằng lòng đi em, Để tóc nàng ngủ yên, Qua ngõ nhà em, Làm dâu xứ lạ, Nhành cây trứng cá... Cái đẹp của quê hương mình sao mình lại không ngợi ca, tôn vinh mà lại dè bỉu là... "sến" ! Tôi nghĩ trừ những người bày đặt "chảnh", còn thì bất cứ ai có tinh thần dân tộc đều yêu mến dòng nhạc trữ tình quê hương.
 

Và anh vẫn trung thành với khuynh hướng sáng tác nhạc bình dân đại chúng ?
 
- Tại sao không? Đó là "e" nhạc sở trường của tôi và tôi vẫn trung thành với khuynh hướng sáng tác đó cho đến bây giờ. Công chúng bình dân đón nhận nhạc của tôi một cách nhiệt tình thì tôi cũng phải có nhiệm vụ viết nhạc phục vụ giới bình dân.
 
Tôi đã từng nói: "Bao giờ nước mình giàu, không còn người đạp xích lô, thợ hồ, ô sin... lúc đó tôi sẽ viết... nhạc sang" (cười). Mà nhạc của tôi cũng "phát triển" ra tận Hà Nội lận đó. Vừa rồi tôi ra ngoài đó, được anh em tiếp đón nhiệt tình lắm. À, còn chuyện này nữa, ca khúc Phượng Sài Gòn của tôi được Đài Truyền hình TP.HCM trả tác quyền đến... 9 triệu! Vậy thì hà cớ gì lại phải "chuyển tông" trong sáng tác.
 
***
Trần Công Bảo Anh (26 tuổi, ở đường Trần Văn Đang, VN):
 
"Tôi đặc biệt yêu thích dòng nhạc trước 1975 (mà trong đó có rất nhiều bài hát bị cho là "sến") vì đó là những bản nhạc có hồn, đầy ý nghĩa và tâm trạng. Từ đó, tôi nảy ra ý tưởng sưu tầm loại nhạc này. Hiện nay bộ sưu tập của tôi đã có 1.776 bản nhạc tờ và khoảng mấy chục tuyển tập (tất cả đều được in trước 1975).
 
Nhưng tôi không phải là trường hợp cá biệt mà hiện nay đang rộ lên phong trào sưu tầm nhạc cũ của nhiều bạn trẻ như tôi". Đạo diễn Trần Ngọc Phong: "Tôi là người rất thích hát nhạc bình dân đại chúng (thực ra boléro cũng là một loại nhạc sang).
 
Một nhóm bạn hữu ngồi nhậu bên vỉa hè, chuyền tay nhau ly rượu có cây đàn guitar, hát nhạc boléro thì thật là... tới bến! Đó là một dòng nhạc đầy tính tự sự, cám cảnh về thân phận, về cái nghèo và cả chuyện... thất tình! Theo tôi, không có bài hát nào là "sến" cả mà chỉ có cách thể hiện tâm trạng nếu nó "lâm ly, bi thiết" thì người ta cho là "sến". Thí dụ bài Đời tôi cô đơn, nếu được hát một cách nghiêm chỉnh thì rất dễ lay động hồn người nhưng nếu rên rỉ, èo uột thì... sến là cái chắc!".
 
 Sến là gì? Tại sao? Như thế nào?
 
Giáo sư Ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo: "Theo tôi, gốc của từ "sến" phải bắt đầu từ chữ "sen" trong nghĩa con sen, là đứa ở, con ở. Xuất phát của từ này ở miền Bắc, thời kỳ Pháp thuộc vào những năm 1930 - 1945; có thể xem là thời của Lý Toét và Xã Xệ, của văn chương Tự Lực Văn Đoàn. Từ "sen" đọc trại thành "sến" bởi sự khinh bỉ, là tầng lớp thấp, văn hóa kém. Còn nếu ứng dụng vào văn chương, nghệ thuật thì ám nghĩa gốc cũng vậy, không thay đổi nhiều lắm". 
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Dịch giả Nhật Chiêu: "Tôi nghĩ nhạc sến là một bộ phận cơ bản trong đời sống âm nhạc dành cho đối tượng thưởng thức bình dân, không thể thiếu.
 
Không chỉ VN mà rất nhiều nước đều có loại hình giải trí dành riêng cho đối tượng đông đảo này. Trong rất nhiều "tình huống" cuộc sống, tình cờ "lạc vào" tôi lại thấy nhiều ca từ của nhạc sến rất có lý (!). Sự thật là chưa có ai buồn nghe nhạc sến mà chết cả nhưng đã có nhiều trường hợp thưởng thức "văn hóa" cao cấp lại tự tử ví dụ như trường hợp tác phẩm.
 
Những nỗi đau của chàng Goet-thơ của Gớt. Nói vui, theo tôi, nghe nhạc sến cũng như mặc áo chim cò, không hại ai". Chỉ khẩu vị thấp hèn, ít có giá trị. Bàn riêng về chữ "sến" trong "nhạc sến", tôi nghĩ
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Họa sĩ Trịnh Cung : "Trong tranh vẫn có "sến” chứ! Ví dụ như tranh của họa sĩ Lê Trung trước đây. Ông thường vẽ phụ nữ ngực tròn, mặc áo bà ba đội khăn hoặc nón rất Sài Gòn. Nói chung là bình dân. Nhưng chân dung các nhà văn như Hồ Biểu Chánh, bà Tùng Long... của ông thì vẫn đầy cá tính. Nhiều người nhớ ! “Nhạc sến” thường tập trung vào điệu boléro.
 
Theo tôi, ngoài tính mòn, đơn điệu, boléro có ưu điểm là rất thích hợp với giọng nam của các ca sĩ Sài Gòn. Các nhạc sĩ như Lam Phương, Hồ Đình Phương, Thanh Sơn... là những cái tên được biết đến từ “nhạc sến”. Nói không quá, “nhạc sến” rất đặc trưng cho đời sống thị dân”.
 
Sến mà không sến, không sến mà sến, sang hay sến ?
 
https://baomai.blogspot.com/
Nhà thơ Đỗ Trung Quân
 
"Nói chú đừng giận, bài Phượng hồng phổ thơ của chú sến chảy nước", chàng trai 20 tuổi tóc tai kiểu hip-hop nói thẳng thừng. Tôi, người viết xem chừng đề tài hấp dẫn nên cũng đề nghị thẳng thừng theo kiểu "những nốt nhạc vui": "Mời bạn nói". Và tôi đã lắng nghe. Ra là thế ! Thế hệ trẻ 8X hôm nay không thể tin nổi, không thể chấp nhận nổi có một gã nào đó trạc tuổi mình suốt một năm dài ngồi cạnh bàn, học cùng lớp để ý cô bạn gái mà vẫn cứ: "bài thơ còn trong cặp... giữa giờ chơi mang đến lại mang về...".
 
 Nhát gái đến thế, "yếu" đến thế thì "sến" là cái chắc. Bây giờ, chỉ cần một cú nhắn tin chớp nhoáng là alê hấp! Ra cà phê hộp ngồi ngay. Yêu à? Tỏ tình à? Đây, nhanh gọn lẹ: "Anh là number one, vừa đẹp trai lại vừa dễ thương...". Không yêu nữa cũng chẳng sao: "thà như thế, thà rằng như thế...", "không yêu hết tình còn nghĩa...". Đỡ lôi thôi, đỡ mất thì giờ, khỏi mang tiếng "sến". 
 
Vậy là rõ! Chỉ mới 2 thập niên thôi, Phượng hồng của Vũ Hoàng từng làm thổn thức bao nhiêu thế hệ nay đã trung niên. Hóa ra vụ "nhát gái" có vô khối người giống như gã nhà thơ họ Đỗ. Người bạn U60 của tôi gầm lên: "Nó dám nói thế à? Âm nhạc của tụi nó nghe tai này lọt qua tai kia, có ai nhớ nổi một câu không chứ?...". Tôi can rằng đừng nổi nóng, thế hệ khác nhau là tất yếu. Cũng nên lắng nghe ý kiến khác với mình chứ. Nhạc sĩ Vũ Hoàng có buồn không? Tôi thì không, tôi cần nghe ý kiến của những 8X hôm nay.
 
Sến hay sang ?
 
Vậy, các bạn trẻ. Tôi tạm tiếp nhận những ca khúc sôi động, tưng bừng hôm nay của các bạn là sang nhé. Tôi chỉ kể một câu chuyện cũ, chuyện của một người đã từng có thời tuổi trẻ.
 
Thuở ấy, tôi nghe Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên... tôi cũng đã từng cười vào những bài hát boléro: "Mưa ướt lạnh trong đêm... Đứng bên thềm ga vắng… hắt hiu ngọn đèn vàng em tiễn anh…".
 
Tôi từng bĩu môi: "Gác lạnh về khuya cơn gió lùa… trăng gầy nghiêng bóng cài song thưa… nhớ ai mà ánh đèn hiu hắt… gác trọ buồn đơn côi, phố nhỏ vắng thêm một người…" và tất nhiên sẽ lắc đầu khi nghe: "đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn…", "anh nghèo nên không nhẫn kim cương, tặng em nhẫn cỏ bình thường…".
 
Và thêm nữa, một ca khúc không sang dù chưa chắc sến: "Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào... tình mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào… lời ru man mác êm như sáo diều rì rào… tiếng ru êm đềm mẹ hiền năm tháng triền miên…" vân vân và vân vân... - những ca khúc lời lẽ không ẩn dụ tượng trưng, không triết học cao siêu chỉ được xếp vào loại bình dân hay gọi là sến cũng được.
 
Ta hãy thử làm một sự sắp xếp nho nhỏ: đặt những ca từ sến ấy bên cạnh những ca từ được gọi là sang.
 
Quả thật, thế giới trong thời đại ta đang sống đã trở nên nhỏ hẹp, đời sống sôi động, nhịp sống nhanh, tiện nghi, phương tiện vật chất nhiều. Cách sống, cách nghĩ cũng đã khác thì âm nhạc chẳng cần phải cứ là boléro, thành ngữ chỉ nhạc sến mới là sến.
 
Ngay đến: "Trả lại em yêu khung trời đại học...", "Em tan trường về… anh theo Ngọ về... chân anh nặng nề, lòng anh nức nở…", rồi: "Gửi gió cho mây ngàn bay… gửi bướm đa tình về hoa…" và "Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ" trong cách suy nghĩ nhanh gọn lẹ, hiệu quả hoặc không hiệu quả của số đông nhạc sĩ trẻ, một bộ phận người nghe trẻ thì hôm nay, những Phạm Duy, Nguyễn Văn Tý, Đoàn Chuẩn - Từ Linh,... đều thành sến tất tần tật chứ còn gì nữa.
 

 

·♪¸¸♩·¯·♬¸¸Kim Quy st tổng hợp¸¸♫·¯·♪¸¸♩

Xem thêm...

Nhạc sĩ, ca sĩ, nhiếp ảnh gia Phạm Anh Cường (quê quán Đà Nẵng)

   Nhạc sĩ Phạm Anh Cường (1968 - 26.6.2014)  

Nhạc sĩ Phạm Anh Cường sinh năm 1968 tại Đà Nẵng, quê cha Hội An, quê mẹ ở Huế. Năm 1995 anh đã mở tiệm Photo salon Studio đầu tiên trên thành phố Đà Nẵng lấy tên Hàm Yên và sau đó anh đã cho ra đời thêm Hàm Yên 2 ở Hòa Khánh, Hàm Yên 3 ở Tam Kỳ và Hàm Yên 4 ở TP Sài Gòn. Sinh ra trong một gia đình không ai làm nghệ thuật nhưng từ nhỏ anh đã tỏ ra có năng khiếu ở bộ môn hội họa. Với niềm đam mê vẽ chân dung, tốt nghiệp lớp 12 anh được người thầy ở tiệm ảnh gần nhà hướng theo nghề chụp ảnh chân dung nghệ thuật.

Năm 2001, sau cuộc hôn nhân tan vỡ, cuộc sống gia đình đảo lộn, cũng từ đây anh bắt đầu viết nhạc ghi lại những cảm xúc của mình.

Tại Sài Gòn anh tham gia nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật như sáng tác âm nhạc, nhiếp ảnh, đạo diễn các chương trình ca nhạc - hài kịch. Phạm Anh Cường đã phát hành được 2 album riêng Tìm lại người xưa và Chuyến phà dĩ vãng. Ngoài ra anh còn một album phát hành chung với nhạc sĩ Vinh Sử. Các ca khúc được nhiều người yêu thích phần lớn là những ca khúc trữ tình như Tìm lại người xưa , Xuân bơ vơ , Ánh trăng đêm buồn, Ôi quá là yêu, Mưa gọi tên anh,... được nhiều ca sĩ nổi tiếng trình bày như Giao Linh, Tuấn Vũ, Bảo Yến, Long Nhật, Duy Trường, Xuân Phú, Quỳnh Lan... và gần đây anh cho ra đời phim nhạc “Xuân lỗi hẹn” do chính anh đạo diễn và thể hiện ca khúc này.

           Xuân Lỗi Hẹn - Phạm Anh Cường           

Tác giả Phạm Anh Cường đã sáng tác nhạc phẩm "Xóm đạo vắng em" này dựa vào một câu chuyện tình buồn có thật tại xứ đạo Đà nẵng. Đây là lần đầu tiên chúng ta được nghe chính  tác giả trình bày.
Trân trong giới thiệu.

TÌM LẠI NGƯỜI XƯA 

- nhạc sĩ PHẠM ANH CƯỜNG - Bảo Yến


Xuôi chuyến xe anh về, nhà quen xưa miền Trung
Nhớ bóng tre quê nghèo, bóng dừa nghiêng lá gió reo
Lòng bồi hồi nao nao, con đường xưa còn đó
Mà người xưa có còn không…?

Hay đã đi theo chồng, về nơi xa thật xa
Anh muốn thăm một lần, cho lòng vơi bớt bâng khuâng
Gần trọn mười năm qua, anh vẫn còn ray rứt
Vì trời xui khiến anh bội thề…

Bao năm dần trôi, tưởng đời em đã đổi
Chờ chi em ơi, qua thời con gái rồi
Anh đưa mắt nhìn em, sao em buồn không nói
Còn giận còn thương, còn đau là còn nhớ
Chuyện tình đã quên, đừng nên kéo dài thêm.

Thôi cho anh xin, được nói câu tạ lỗi
Đời riêng anh đây, đã một lần bước vội
Em trách chi em, duyên đời bao lầm lỡ
Còn nặng tình xưa, vừa đau buồn duyên số
Mình tìm gặp nhau, đừng thức lại tình đau.

Thôi cố quên chuyện buồn vùi dư âm ngày xưa
Biết nói sao cho vừa, chuyện tình như nắng như mưa
Những ước nguyện ngày xưa, em đừng ghi vào nhớ

Chuyến Phà Dĩ Vãng - Giao Linh

Nhạc phẩm mở đầu trong Allbum " Chuyến phà dĩ vãng" của NS Phạm Anh Cường. " Chuyến phà dĩ vãng" viết về dòng Sông Hàn ngày xưa với những chuyến phà dạt dào nổi nhớ.

"Khi làm dự án này, tôi hết sạch tiền nhưng hai anh phù hộ nên đúng lúc đó, show đổ về rất nhiều, đi vài show được 300 triệu", Long Nhật nói.

Tối ngày 6/9, ca sĩ Long Nhật chính thức phát hành bộ phim ngắn ca nhạc "Tìm lại người xưa" nhân dịp kỷ niệm 30 năm ca hát. Nhưng điều thú vị là, bộ phim này được dựa trên một câu chuyện tình dang dở, có thật của nhạc sĩ Phạm Anh Cường, cũng là tác giả bài hát.
"Quá khứ là thứ đã đi qua bằng vạn hình khói sương, còn ký ức mới là hình hài ghim sâu trong trí nhớ. Tôi hiểu, Thủy không buồn hận gì anh Cường, có chăng là Thủy giải thoát cho một tình yêu trong trẻo không đáng chết. Anh Cường cũng không phải là kẻ đáng ăn năn dưới chân một tượng đài tình phụ, mà đó là duyên phận".
Long Nhật đã mở đầu như thế về chuyện tình dang dở của nhạc sĩ Phạm Anh Cường và Thủy - cô gái xứ Huế cách đây nhiều năm...
Long Nhật: Dự án này là nén nhang tôi thắp cho anh Cường và anh Tuấn - Ảnh 1.
Long Nhật làm phim ngắn ca nhạc "Tìm lại người xưa" vừa đánh dấu chặng đường 30 năm ca hát, vừa tri ân cố nhạc sĩ Phạm Anh Cường và người bạn tri kỷ Vương Bảo Tuấn.
 
Hơn 10 năm đợi chờ...
Long Nhật kể: "Năm đó, anh Cường 29, 30 tuổi. Anh về quê mẹ ở Huế để học mỹ thuật và quen Thủy - một cô gái Kim Long rất đẹp, con nhà trâm anh thế phiệt mới có 16 tuổi. Anh Cường đẹp trai, viết nhạc hay, vẽ tranh giỏi nhưng là con nhà nghèo.
Khi anh Cường rời Huế về Đà Nẵng, anh có lời ước hẹn với Thủy rằng, 3 năm sau sẽ quay lại Huế để cưới cô làm vợ. Tình yêu của họ lạ lắm, mới chỉ cầm tay, ngả đầu vào vai, hôn lên trán thôi nhưng vì lời ước hẹn đó của anh Cường mà Thủy chờ đợi suốt 9,10 năm.
 
Nhà anh Cường ở Đà Nẵng phải bán đi và chuyển về Hội An sinh sống. Anh Cường làm ăn, kinh doanh buôn bán đụng đâu thua đó, chỉ viết nhạc, vẽ tranh là giỏi, là hay. Anh Cường lại là con trai trưởng, nặng gánh gia đình.
Phần vì sĩ diện của người nghệ sĩ nghèo, lấy tư cách gì đi hỏi cưới Thủy là cành vàng lá ngọc mà anh suốt 9,10 năm đó, anh không trở lại Huế. Phần vì nghe tin, có người tới dạm hỏi Thủy, anh đinh ninh Thủy đã lấy chồng...
 
Lúc đó, anh gặp chị Huyền (vợ nhạc sĩ Phạm Anh Cường - PV). Chị Huyền rất giỏi làm ăn, lại giúp đỡ gia đình anh Cường nhiều. Từ ân tình đó mà nên duyên chồng vợ. 
Anh Cường giàu có lên, làm chủ nhiều tiệm nhiếp ảnh từ Nam ra Bắc cũng là nhờ chị Huyền khéo chăm lo, vun vén làm ăn.
 
Ngày đó, chỉ có thư tay. Suốt 9,10 năm đó, Thủy vẫn viết thư cho anh Cường nhưng gửi đi bao nhiêu bị trả về từng đó nhưng Thủy vẫn bền lòng, vững tin chờ đợi. Vì chuyển nhà, nên anh Cường không còn giữ được liên lạc với Thủy.
 
Gia đình Thủy thuộc dòng dõi ở Huế nhưng không chê anh Cường nghèo. Con gái thương ai thì gả đó nhưng anh Cường đi mãi không về, lại mất liên lạc. Bởi vậy, ba của Thủy nhận lời gả cưới Thủy cho một anh chàng thư sinh người miền Nam ra Huế là Lê Mạnh Phương.
Long Nhật: Dự án này là nén nhang tôi thắp cho anh Cường và anh Tuấn - Ảnh 3.
Trong phim ngắn ca nhạc này, Long Nhật đóng vai người đưa thư, người lưu giữ và chứng kiến cuộc tình của nhạc sĩ Phạm Anh Cường (do diễn viên Đoàn Minh Tài thủ diễn) và Thủy (hoa khôi xứ Huế - Thiên Hương đảm nhận).
 
Ngày người ta tới hỏi cưới, Thủy nói: "Con không biết thương người khác, con chỉ thương anh Cường thôi. Ngày chia tay con trên ga, con nhìn sâu vào mắt anh Cường, con thấy anh vàng đá lắm, không phải là người phụ bạc. Anh ấy phải nhân hậu và thủy chung lắm thì mới viết ra được những vần thơ, bài nhạc hay như vậy.
 
Con tin anh Cường sẽ trở về cưới con, dù 5 năm hay 10 năm đi nữa. Con đi lấy chồng thì xong phận con nhưng nỡ anh Cường về, không có con thì tội anh ấy". Người Huế rất trọng lời hứa. Thủy nhờ em gái mình là Thanh thay mình giữ lời hứa của cha với gia đình Lê Mạnh Phương.
Khi cưới chị Huyền, anh Cường cũng tâm sự với vợ về lời hứa hẹn ngày xưa cùng Thủy. Anh muốn trở lại Huế để thăm Thủy như thăm 1 người bạn cũ - vì anh tin Thủy đã lấy chồng.
Nào ngờ, hơn 10 năm sau trở lại, Thủy vẫn đợi chờ anh. Nhìn thấy ngón tay anh đeo nhẫn. Nhìn thấy xa xa có một người phụ nữ dắt theo một đứa nhỏ giống anh Cường như đúc, Thủy lặng lẽ rời đi và gửi thân mình vào nhà Chúa.
 
Ân tình với nhạc sĩ Phạm Anh Cường
Anh Cường không chỉ thân với tôi mà còn thân với cả anh Vương Bảo Tuấn. Khi anh Cường làm album "Tìm lại người xưa", anh chủ động tìm tôi và mời thu âm, quay MV bài hát này.
Anh Cường hỏi tôi, thu 1 bài bao nhiêu tiền. Tôi bảo 10 triệu. Nếu quay hình ảnh thì 20 triệu. Tổng cộng là 30 triệu đồng. Anh Cường nghe xong im không nói gì. Tôi hỏi: "nhạc sĩ không có tiền trả hay sao vậy"? Anh Cường bảo "anh có bán nhà mời em hát bài này, anh cũng bán".
Long Nhật: Dự án này là nén nhang tôi thắp cho anh Cường và anh Tuấn - Ảnh 5.
Một chuyện tình dang dở, đầy nước mắt... được tái hiện vô cùng đẹp và lãng mạn trên phim.
Tôi đòi anh Cường cho nghe ca từ rồi tính. Nghe xong, tôi cảm giác như ca khúc đo ni đóng giày cho giọng hát của mình. Khi vào phòng thu, tôi hát bên trong, anh Cường đứng nhảy nhót bên ngoài vì vui quá. Sau đó, tôi nói với anh Cường là không lấy tiền. Và chúng tôi làm anh em từ đấy.
Thay vì làm liveshow đánh dấu chặng đường 30 năm ca hát, tôi quyết định làm phim ngắn ca nhạc "Tìm lại người xưa". Một phần vì năm nay là 5 năm ngày mất của anh Cường. Một phần vì đây là tâm nguyện của anh Vương Bảo Tuấn. Dự án này là nén nhang tôi thắp cho hai anh.
 
Khi làm dự án này, tôi hết sạch tiền nhưng hai anh phù hộ nên đúng lúc đó, show đổ về rất nhiều, đi vài show được 300 triệu. Rồi nghe tin tôi làm phim ngắn ca nhạc này, có khán giả trung thành của tôi và anh Tuấn tặng 200 triệu để làm. Tôi ra sân bay rồi, chị lại cầm thêm 50 triệu nhét vào giỏ.
Tính tới thời điểm này, toàn bộ chi phí làm dự án này ngót nghét 1 tỉ đồng. Từ khâu làm kịch bản đến tiền vé máy bay đưa ê-kíp đi Huế, phục trang, họp báo, tiệc kỷ niệm 30 năm ca hát...
Khi tôi làm phim ca nhạc "Tìm lại người xưa", tôi qua nhà thắp hương cho anh Cường và xin tư liệu từ chị Huyền. Cả gia đình rất ủng hộ tôi".
Long Nhật: Dự án này là nén nhang tôi thắp cho anh Cường và anh Tuấn - Ảnh 6.
Long Nhật và cố nhạc sĩ Phạm Anh Cường có mối quan hệ anh em rất thân thiết.
Nhạc sĩ Phạm Anh Cường sinh năm 1968 tại Đà Nẵng. Anh có năng khiếu hội họa từ nhỏ, đặc biệt là đam mê vẽ chân dung. Tốt nghiệp lớp 12, anh được người thầy ở tiệm ảnh gần nhà hướng theo nghề chụp ảnh chân dung nghệ thuật.
 
Anh nhanh chóng đạt được thành công với nghệ thuật nhiếp ảnh từ năm 22 tuổi tại Quy Nhơn. 25 tuổi, anh ra Hà Nội theo học khóa đạo diễn điện ảnh do thầy Đỗ Minh Tuấn giảng dạy.
Năm 1995, anh mở cửa hiệu chụp ảnh chân dung Hàm Yên tại Đà Nẵng. Năm 2001, sau cuộc hôn nhân tan vỡ, cuộc sống gia đình đảo lộn, cũng từ đây anh bắt đầu viết nhạc ghi lại những cảm xúc của mình.
 
Sau thời gian đó nhạc sĩ Phạm Anh Cường vào Sài Gòn lập nghiệp và tái hôn với một người con gái miền Tây vào cuối năm 2012. Tại Sài Gòn anh tham gia nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật như sáng tác âm nhạc, nhiếp ảnh, đạo diễn các chương trình ca nhạc - hài kịch.
Nhạc sĩ Phạm Anh Cường là người khởi xướng tổ chức chương trình "Đêm nhạc họ Phạm" tại TP.Saigon. Chương trình này do chính anh biên tập và đạo diễn đã để lại nhiều ấn tượng sâu với công chúng yêu âm nhạc qua ba lần tổ chức từ năm 2011 - 2013.
 
  Tìm lại người xưa  
sáng tác, Phạm Anh Cường
 

Sau nhiều sáng tác, Phạm Anh Cường đã phát hành được 2 album riêng Tìm lại người xưa và Chuyến phà dĩ vãng. Ngoài ra anh còn một album phát hành chung với nhạc sĩ Vinh Sử.
Các ca khúc được nhiều người yêu thích phần lớn là những ca khúc trữ tình như Tìm lại người xưa, Xuân bơ vơ, Ánh trăng đêm buồn, Ôi quá là yêu, Mưa gọi tên anh,... được nhiều ca sĩ nổi tiếng trình bày như Giao Linh, Tuấn Vũ, Bảo Yến, Long Nhật, Duy Trường, Xuân Phú, Quỳnh Lan...
Sáng tác cuối cùng của anh được công chúng biết đến là bài hát "Hình bóng miền Tây" do nhạc sĩ Phạm Anh Cường viết độc quyền tặng Long Nhật vào đầu năm 2014.
Nhạc sĩ Phạm Anh Cường gặp tai nạn giao thông và từ trần năm 2014 tại Đà Nẵng khi còn rất nhiều dự án âm nhạc chưa thực hiện được.

.`•.¸.•´ ¸.•´¸.•´¨) ¸.• (¸.•´ (¸.•´ .•´ ¸.`•.¸.•´ ¸.•´¸.•´¨) ¸.• (¸.•´ (¸.•´ .•´ ¸

Nhạc sĩ "Tìm lại người xưa" qua đời

Long Nhật khóc ngất khi nhạc sĩ Phạm Anh Cường đột ngột qua đời vì tai nạn giao thông.

Chiều qua (26/6/2014), cộng đồng mạng hết sức xôn xao khi có thông tin đồn rằng nhạc sĩ Phạm Anh Cường qua đời vì tai nạn giao thông trên đường từ Tam Kỳ (Quảng Nam) về Đà Nẵng. Cụ thể, theo chia sẻ của nhiều người thì trong lúc đang trên đường đi, nhạc sĩ Phạm Anh Cường vì tránh một chiếc xe hơi dừng phía trước mặt bất ngờ mở cửa phía bên trái đường nên anh đã tông vào và chẳng may bị văng ra giữa đường. Cũng ngay lúc đó, một chiếc xe tại chạy ngang qua đã cán nhạc sĩ vì sự cố xảy ra quá nhanh.
Sau khi tai nạn xảy ra, phía Cảnh sát giao thông đã lập tức kiểm tra giấy tờ nhạc sĩ và liên lạc với gia đình nhạc sĩ để xác minh. Thật bàng hoàng khi được gia đình xác nhận thông tin đó là sự thật.
nhac si "tim lai nguoi xua" qua doi - 1
Nhạc sĩ Phạm Anh Cường
 
Nhạc sĩ Phạm Anh Cường sinh năm 1968 tại Đà Nẵng, quê cha Hội An, quê mẹ ở Huế. Sinh ra trong một gia đình không ai làm nghệ thuật nhưng từ nhỏ anh đã tỏ ra có năng khiếu ở bộ môn hội họa. Với niềm đam mê vẽ chân dung, tốt nghiệp lớp 12 anh được người thầy ở tiệm ảnh gần nhà hướng theo nghề chụp ảnh chân dung nghệ thuật.
 
Anh nhanh chóng đạt được thành công với nghệ thuật nhiếp ảnh từ năm 22 tuổi tại Quy Nhơn. 25 tuổi, anh ra Hà Nội theo học khóa đạo diễn điện ảnh do thầy Đỗ Minh Tuấn giảng dạy. Năm 1995, anh mở cửa hiệu chụp ảnh chân dung Hàm Yên tại Đà Nẵng. Năm 2001, sau cuộc hôn nhân tan vỡ, cuộc sống gia đình đảo lộn, cũng từ đây anh bắt đầu viết nhạc ghi lại những cảm xúc của mình.
 
Sau thời gian đó nhạc sĩ Phạm Anh Cường vào Sài Gòn lập nghiệp và tái hôn với một người con gái miền Tây vào cuối năm 2012. Tại Sài Gòn anh tham gia nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật như sáng tác âm nhạc, nhiếp ảnh, đạo diễn các chương trình ca nhạc - hài kịch.  Nhạc sĩ Phạm Anh Cường là người khởi xướng tổ chức chương trình “Đêm nhạc họ Phạm” tại TP. Sài Gòn . Chương trình này do chính anh biên tập và đạo diễn đã để lại nhiều ấn tượng sâu với công chúng yêu âm nhạc qua ba lần tổ chức từ năm 2011 - 2013.
 
Tháng 5/2014, do điều kiện gia đình khó khăn, anh quyết định đưa vợ về Tam Kỳ - Quảng Nam để tiếp tục theo nghề nhiếp ảnh và sáng tác âm nhạc. 
Sau nhiều sáng tác, Phạm Anh Cường đã phát hành được 2 album riêng Tìm lại người xưa và Chuyến phà dĩ vãng. Ngoài ra anh còn một album phát hành chung với nhạc sĩ Vinh Sử. Các ca khúc được nhiều người yêu thích phần lớn là những ca khúc trữ tình như Tìm lại người xưa , Xuân bơ vơ , Ánh trăng đêm buồn, Ôi quá là yêu, Mưa gọi tên anh,... được nhiều ca sĩ nổi tiếng trình bày như Giao Linh, Tuấn Vũ, Bảo Yến, Long Nhật, Duy Trường, Xuân Phú, Quỳnh Lan... 
nhac si "tim lai nguoi xua" qua doi - 2
Anh nổi tiếng với nhiều ca khúc trữ tình
 
Sáng tác cuối cùng của anh được công chúng biết đến là bài hát Hình bóng miền Tây do nhạc sĩ Phạm Anh Cường viết độc quyền tặng Long Nhật vào đầu năm 2014. Nhạc sĩ Phạm Anh Cường vẫn còn ấp ủ nhiều dự án âm nhạc nhưng chưa thực hiện được. Anh đã ra đi khi tài năng đang độ chín nhất. Sự ra đi của anh để lại vô vàn thương tiếc cho gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp và công chúng yêu nhạc Phạm Anh Cường.

            HÌNH BÓNG MIỀN TÂY             
Sáng tác: Phạm Anh Cường Ca sĩ: Đoàn Minh
 

 
Trước sự ra đi đột ngột của nhạc sĩ Phạm Anh Cường, ca sĩ Long Nhật cho biết tối qua anh đã khóc ngất vì tiếc thương. "Nhạc sỹ Phạm Anh Cường anh của em ơi! Em bàng hoàng và không thể nào tin đây là sự thật. Anh ơi ngày mai là em thu bài Yêu mẹ hiền của anh đây. Anh ơi master CD của chúng mình còn đang dang dở anh còn chưa kịp nghe mà anh. Anh nói là khi nào master hoàn chỉnh anh nghe cho đã cái lỗ tai mà. Bài Hình bóng miền Tây vừa quay xong anh còn nói anh chưa được xem master gốc nữa. Anh và em còn nhiều dự định mà anh ơi. Anh nói đây là CD anh tâm huyết nhất và anh còn đặt tên, thiêt kế cho CD này. Em từng hỏi anh sao lại viết nhạc cho em hát nhiều như vậy, anh nói là giọng em là đo ly đóng giầy với cách sáng tác của anh. Em và anh còn bao nhiêu dự định, dự án âm nhạc với nhau mà anh đã bỏ em đi là sao. Anh ơi", nam ca sĩ gốc Huế khóc thương.
nhac si "tim lai nguoi xua" qua doi - 3
Long Nhật khóc ngất khi hay tin nhạc sĩ qua đời
 
Nhạc sĩ Phạm Anh Cường đã từ trần vào lúc 18g30 ngày 26/ năm 2014 tại Duy Xuyên, Quảng Nam do tại nạn giao thông. Hiện tại linh cữu được quàn tại quê nhà địa chỉ: K112/2 Trần Cao Vân, P.Tam Thuận, TP Đà Nẵng. Lễ nhập quan vào lúc 23H tối 26/. Lễ an táng vào lúc 14g ngày 28/6/2014 tại nghĩa trang quê nhà.  
     

XUÂN LỖI HẸN - PHẠM ANH CƯỜNG (Full HD)

 
(Xuân lỗi hẹn - Sáng tác & trình bày Phạm Anh Cường)

Những nhánh mai gày hơn
Xuân ngủ vùi thức dậy
Thấm thoát một năm qua
Vẫn chưa về thăm nhà
Hết lũ lụt tràn lan
Nghe gió hành cơn bão
Biết từng giờ con mong
Đón ba về cuối năm
Cận kề Ba mươi tết
Lận đận với mưa sinh
Chốn đô thành xa cách
Ngày cũng như bao đêm
Muốn quay về đoàn viên
Đón mừng một năm mới
Giờ này đêm ba mươi
Quanh hiu thiếu môi cười
Lấp phất mưa lại rơi
Xuân chất chồng lỗi hẹn
Lắng tiếng nhạc vọng xa
Quắc quay nỗi nhớ nhà
Song gió gập ghềnh qua
Ba sẽ về quê cũ
Có Mẹ hiền con thơ
Có gia đình mình mơ...

Đêm nhạc Phạm Anh Cường - Tưởng niệm 2 năm ngày mất của anh

 
Tưởng niệm 2 năm ngày mất của nhạc sĩ Phạm Anh Cường (26.6.2014- 26.6.2016). Những người bạn của PAC đã tổ chức một đêm nhạc mini tại Sài Gòn để tưởng niệm anh vào lúc 19g30 tối Chủ nhật 26/6, tại Café Saigon 1975 ở Sài Gòn. Các anh chị em, gia đình, bạn bè thân hữu và các CS thân quen từng hát nhạc của NS Phạm Anh Cường đã đên tham dự và ôn lại những kỷ niệm xưa của cố nhạc sĩ
 
Xóm đạo vắng em - Phạm Anh Cường.
 


Tác giả Phạm Anh Cường đã sáng tác nhạc phẩm này dựa vào một câu chuyện tình buồn có thật tại xứ đạo Đà nẵng. Đây là lần đầu tiên chúng ta được nghe chính  tác giả trình bày.
Trân trong giới thiệu.

Nơi vùng quê, ngân nga tiếng chuông xa
Nghe thật quen, đêm đông tiếng chuông Noel
Giáng sinh đang về, khắp nẻo đường quê
Tâm tư miên man, gió đông theo sang
Noel năm nay, nhớ em vô vàn

Còn đó với giáo đường năm xưa cùng nguyện cầu
Qùy dưới tượng chúa ngôi cao lời thề trao
Bên nhau yêu nhau trọn trọn kiếp
Ngày đó dưới mái nhà chung đôi thật tuyệt vời
Tình thắm nồng cháy anh yêu người
Người ơi Noel bên nhau giờ hết rồi

Đông lạnh hơn, anh lê bước cô đơn
Xóm đạo nay không em tiếng chuông buồn lay
Giáng sinh năm này, nghĩa trang buồn tênh
Thông kia lung linh, mắt anh long lanh
Nghe như quanh đây, bước em đang về...

ANH VỀ VUI VỚI VẦN THƠ - PHẠM ANH CƯỜNG

Ánh Trăng Đêm Buồn

 

 
Ánh trăng u hoài đêm nay cô đơn. Soi chiếu lòng ta đang khô héo tâm hồn. Từ ngày quen em ta vui sống ân tình mới. Từ ngày em đi ta nghe trái tim giã rời. Xuân đang ngập nắng sao lá vàng rơi. Em đã vô tình hay hờn dỗi. Ước.

Anh Vừa Yêu

 
 
Một ngày mưa rơi trên con phố quen. Từng hạt lung linh như anh thấy em. Đôi mắt buồn môi mím cười, yêu thương ngập trời. Được gần bên em anh nghe trái tim. Nhịp đập nhanh nhanh như xuân sắp về. Em hỡi em đừng lánh anh nỡ xa.

Áo Còn Vương Nắng

Sao chợt thấy chiều nay ta nhớ Huế. Mấy năm rồi còn chút nắng ven sông ? Chiếc nón bài thơ làm đẹp má em hồng ? Chiếc nón bài thơ làm du khách xao lòng. ĐK :. Ngoài đó có mái tóc thề Tôn Nữ. Ai hôn cho làn môi ướt Hoàng.

Chờ Đợi Anh

Những bóng khuya dần xa. Em vẫn còn đứng đợi. Tóc ướt giọt sương rơi. Nghe lá reo về cội. Tích tắc thì giờ qua. Anh chẳng màng nhớ đến. Chốn hẹn hò đôi ta. Dưới chân cầu Hàn Giang. ĐK :. Cầu Hàn Giang phơi phới. Rộng lòng.

Cho Vòng Tay Nhỏ Lại

Trong lắng sâu, dòng đời trôi vời vợi. Anh muốn hôn mà vẫn thấy chơi vơi, anh muốn hôn cho vòng tay nhỏ lại, và mặt trời, và mặt trời chỉ của riêng anh. Như đời thường thấm từng giọt đắng, trên những vần phiêu.

Chuyến Phà Dĩ Vãng

 
Nhìn dòng sông nhớ thuở học trò. Kỷ niệm xưa lứa tuổi dại khờ. Bạn bè chung lớp tíu tít lên phà ngang. Đùa vui thỏa thích đốt hết thời gian. Phà nổ máy rời bến sông Hàn. Nhìn từ xa bến cũ mơ màng. Chậm phà đi sóng rẽ hai.

Còn Mãi Với Thời Gian

Thời gian dần qua, lặng lẽ xa rời. Còn lại mình ta với tiếng hát đầy vơi. Gói ghém tình yêu rơi, ru mát tâm hồn người. Hình bóng con đò chiều, nào ruộng đồng xanh tươi... Khúc hát ân tình mặn mà sau trước. Hùng tráng Trường.

Đường Xưa Lẻ Bóng

 
Cũng con đường đó năm xưa đôi mình biết nhau. Vẫn con đường đó đưa tim anh đi vào tiếng yêu. Thấy vui vui nhiều. Nhớ nhung bao chiều. Sánh vai bên người yêu. Tưởng đâu tình thắm như thân dây trầu quấn cau. Ngỡ đâu đời.

Giữ Hơi Ấm Cho Nhau

 
 
Cuộc tình vừa lên ngôi, là bài ca tuyệt vời. Một ngày xa nhau da diết nhớ khôn nguôi. Tình là đại dương thắm xanh một màu. Tình là rừng sâu ôm ấp bao thú hoang. Ngắm môi em, mến nụ cười. Tình vừa lên ngôi tuyệt vời em ơi.

  "HÌNH BÓNG MIỀN TÂY"


Trên con đò dọc ngang miền Tây. Nghe vang vọng lời ru nhà ai? Buông đâu đây mấy câu vọng cổ. Lời thiết tha ngọt ngào thương nhớ. Quyện với từng lời rao cuối thôn. Trên sông dài chiều buông thật mau. Bao ghe xuồng ngược.
 
    Sưu tầm & tổng hợp
by Nguyễn Ngọc Quang   
 
Xem thêm...

Người Phụ Nữ Việt Nam Trong Tình Tự Văn Học Dân Gian - Đan Hà

Người Phụ Nữ Việt Nam Trong Tình Tự Văn Học Dân Gian  

-- Đan Hà --

 

Từ xưa người phụ nữ Việt Nam đã hãnh diện là những người có đầy đủ đức hạnh, họ lấy gia đình làm nền tảng để xây dựng xã hội, lấy việc nội trợ và giáo dục con cái làm nghề nghiệp, lấy sự tương ái làm việc giao hảo với bà con xóm giềng. Cho nên đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử, chịu ảnh hưởng sâu đậm của thời đại phong kiến ngày xưa, thời trọng nam khinh nữ, nhưng những đức tính của người phụ nữ, cho đến bây giờ vẫn còn có một chỗ đứng vững vàng trong nên văn học nước nhà, đã ảnh hưởng rất nhiều đến những thành quả trong việc học hành của con cháu chúng ta sau này, đặc biệt là ở hải ngoại, mặc dù hai nền văn hóa khác nhau, nhưng không phải vì vậy mà chẳng giúp ích gì, trái lại nó đã hỗ tương tích cực trong việc giáo dục.

Người phụ nữ trong việc nội trợ và giáo dục con cái: trong một gia đình khi người con gái lớn lên khoảng mười hai, mười ba tuổi, ngoài việc ngày hai buổi được đến trường học hỏi để mở mang về đức dục và trí dục, khi về nhà người Mẹ cũng đã dạy dỗ cho con mình, những môn như nữ công gia chánh, để khi lớn lên hầu áp dụng vào đời sống, đem lại hạnh phúc cho gia đình, lợi ích cho xã hội:

Related image
Con ơi muốn nên thân người
Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha
Gái thời giữ việc trong nhà
Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa

Trai thời đọc sách ngâm thơ
Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa
Mai sau nối được nghiệp nhà
Trước là đẹp mặt sau là ấm thân

Ngoài việc dạy cho con gái mình những việc trong nhà, để trở thành một người đảm đang trong gia đình... người Mẹ còn phục sức cho con những nét thùy mị, đoan trang, dạy cho con gái biết chải tóc soi gương, để trở thành một thiếu nữ duyên dáng làm hành trang để bước vào ngưỡng cửa của cuộc đời.

Related image
Sự xác nhận vị trí tuổi tác của mình cũng là một cách đối đãi với tha nhân, với bạn bè đôi lứa:

Em còn nhỏ em chưa biết gì
Để em về chải tóc soi gương

Không phải chỉ trau chuốt bề ngoài, để trở thành cánh hoa hữu sắc vô hương mà người Mẹ còn dạy những đức tính tốt, hầu tạo cho con mình trở thành những người chín chắn, không đua đòi:

Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình

Song song với việc khuyên con gái phải giữ gìn tiết hạnh, người Mẹ còn chuẩn bị cho con gái một tâm tình phong phú, để đợi ngày sánh duyên kết bạn. Tình cảm người con gái thì luôn luôn e ấp, thẹn thùng vì cố giữ những nét kín đáo của người phụ nữ Á Đông. Cụ Nguyễn Du cũng đã diễn tả tâm trạng của những thiếu nữ mới lớn, khi đứng trước ngưỡng cửa tình yêu đôi lứa:

Người quốc sắc, kẻ thiên tài
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e

Sự dè dặt trước tình yêu đôi khi là những nét quyến rũ nhất, tạo cho đối tượng những cảm giác không nhàm chán, luôn mơ ước và theo đuổi để khám phá những chân trời mới mẻ nhất trong tình yêu, như định nghĩa của một nhà văn Tây phương rằng: "Tình yêu lứa đôi là một đóa hoa quý, nhưng nó chỉ nở trong bóng tối".

Khi bước chân vào đời, người thiếu nữ cũng cảm thấy phân vân lo lắng cho cuộc sống tình cảm đang còn lơ lửng trước những ước mơ thầm kín:
Image result for Người Phụ Nữ Việt Nam Trong Tình Tự Văn Học
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

Bởi duyên của người thiếu nữ chỉ có một thời, cũng như cánh hoa chỉ nở một lần, nếu không thận trọng thì sẽ ân hận cho mai sau:

Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa một mình

Người thiếu nữ đến tuổi đôi mươi, ai lại không cảm thấy xao xuyến, bâng khuâng trước một người con trai nào đó, thế nhưng:

Thò tay ngắt ngọn rau ngò
Thương anh đứt ruột giả đò ngó lơ

Hoặc là:

Giả đò bán khế mua chanh
Vô ra trường học thăm anh kẻo buồn

Bởi vì:

Thấy anh em muốn thương nhiều
Như anh Kim Trọng thương chị Kiều thuở xưa

E ấp thẹn thùng trước tình yêu không phải là một trạng thái yếu hèn, nhút nhát bởi vì không phải bất cứ trước một ai họ cũng thẹn thùng:

Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ
Quay tơ phải giữ mối tơ
Dù năm bảy mối chỉ chờ mối anh

Hoặc là:

Thuyền em dù phải ngược dòng
Mười hai bến nước một lòng bến anh

Khi đã gặp được đối tượng yêu thương, gặp người tâm đầu ý hợp, họ cũng chẳng tiếc những tặng vật đã trao nhau, mà chỉ xem như quà tặng để làm tin, như một lời thề son sắt và mai sau kia sẽ trở thành quà cưới cho hôn nhân, kỷ niệm cho cuộc đời đôi lứa:

Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

 Như vậy nét thẹn thùng của người thiếu nữ chính là một trạng thái tâm lý hiếm quý, để bảo vệ tình yêu đôi lứa, mà chỉ có người thiếu nữ Á Đông mới có. Quan niệm của người phụ nữ chỉ có tình thương yêu là cần thiết nhất trên đời, vì nó là yếu tố quan trọng trong cuộc tạo dựng hạnh phúc:

Tình thương quán cũng như nhà
Lều tranh có nghĩa hơn tòa ngói xây

Đời sống người dân quê Việt Nam phần lớn theo ngành nông nghiệp, nên những hình ảnh ruộng đồng cũng thể hiện tính cần mẫn của người phụ nữ:

Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

Ước mơ của họ cũng chỉ đơn sơ, nhưng cũng ẩn chứa một tâm tình lãng mạn đến tuyệt vời:

Trời mưa cho lúa chín vàng
Cho anh đi gặt cho nàng mang cơm

Tình thần tương thân tương ái trong việc giao tế, cũng là một đức tính đặc thù của người phụ nữ Á Đông:

Giàu như người ta cũng cơm ngày ba bữa
Khó như mình đây cũng đỏ lửa ba lần
Xích lại đây cho xa cũng như gần
Dù cháo rau qua bữa hai chữ tương thân ta mạ vàng

Không ai có thể phủ nhận được tình yêu là yếu tố tiên quyết, để xoa dịu những khổ đau cho nhân loại:

Nhiễu điều phũ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng

Tình yêu không chỉ dành riêng cho một nước, một dân tộc nào, mà nó đã lan khắp thế giới. Trong chúng ta không ai không động lòng khi nghe đến những tin tức như thiên tai bão lụt, động đất, chiến tranh đã gây thương vong nhiều nhân mạng. Ai có thể quay mặt trước nạn đói hoành hành tại các quốc gia kém mở mang? Trái lại nếu làm được những gì để giúp đỡ, họ cũng sẵn sàng đóng góp:

Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

Không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, bởi vì những thứ ấy không tạo nên nhân phẩm con người, mà chính là tinh thần tương thân, nhường nhịn nhau trong việc giao tế:

Lên xe nhường chỗ bạn ngồi
Nhường nơi bạn tựa, nhường lời bạn phân

Chung thủy cũng là một đức tính hiếm quý khác của người phụ nữ, mà cũng chỉ có người phụ nữ Việt Nam mới có đầy đủ đức tính ấy, một đất nước nghèo khó vì chiến tranh loạn lạc. Thế cho nên:

Related image
Nước có loạn mới biết tôi hiền chúa thánh
Gặp gian nguy mới biết vợ nghĩa chồng tình

Cho dù hoạn lạc, đói nghèo nhưng tình chồng vợ vẫn luôn khắng khít, keo sơn:

Hạt muối mặn ba năm còn mặn
Lát gừng cay chín tháng còn cay
Đôi ta ân trượng nghĩa dày
Dẫu có giàu sang cũng không đổi
Dẫu có ăn mày cũng không xa

Đời sống vợ chồng trước hết là tình, sau là nghĩa, bổn phận chung là lo phụng dưỡng tứ thân phụ mẫu, nuôi nấng và dạy dỗ con cái:

Mẹ già là mẹ già chung
Em lo cơm áo, anh cùng thuốc thang

Nhờ tình nghĩa cho nên người phụ nữ không quản:

Có con phải khổ vì con
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng

Chấp nhận khó nhọc khi phải gánh vác việc gia đình, cũng là một cách để nhớ đến công ơn của cha mẹ đã sanh thành dưỡng dục cho chúng ta nên người:

Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ

Từ những ý niệm giữa mẹ và con, như một tình yêu thương rộng lớn hòa nhập vào một đại dương bao la, để rồi chỉ thấy tình Mẹ vẫn ngọt ngào muôn thuở:

Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp mật như đường mía lau

Cho nên có khi phải đi lấy chồng xa xứ, hay lâm vào cảnh tha hương như chung ta hiện nay, ai không khỏi bùi ngùi thương nhớ, một lúc nào đó nghĩ về quê hương, về Mẹ:

 
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Nhìn về quê mẹ ruột đau chín chiều

Đối với gia đình, người phụ nữ đã làm đầy đủ bổn phận, với một tấm lòng mến yêu, với một tinh thần trách nhiệm cao quý, vỡi những nỗ lực trong công việc xây dựng gia đình và xã hội, họ đã thăng hoa nền văn hóa nước nhà lên đến chỗ tuyệt vời. Xuyên qua lịch sử dân tộc, đã trải qua hơn một ngàn năm chịu dưới ách thống trị của ngoại bang, bị phân hóa đến gần như hủy diệt, thế mà nên văn hóa ấy vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay. Và giờ đây lại được lan ra tận hải ngoại. Gần đây, theo nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học, lịch sử, dựa vào những thống kê của các quốc gia có người Việt Nam sinh sống, thì đa số học sinh thuộc các cấp đều học trên mức trung bình, tính xuất sắc ấy phần lớn chịu ảnh hưởng của một nền văn hóa lấy gia đình làm nguồn gốc.

Image result for bà trưng bà triệu
Tuy nhiên, người phụ nữ Việt Nam không phải chỉ biết xây dựng gia đình mà đối với quốc gia xã hội, họ cũng đã có những đóng góp tích cực vào việc chống ngoại xâm để bảo vệ Tổ Quốc.

Ngày xưa, Bà Trưng, Bà Triệu là những vị anh thư dân tộc, đã đánh đuổi quân xâm lăng Đông Hán để giữ vững sơn hà. Tiếp theo dòng lịch sử quật cường trước làn sóng Bắc xâm ấy, những người trai phải lên đường theo nghiệp đao cung, người phụ nữ đã hi sinh hạnh phúc gia đình đưa chồng đi làm nghĩa vụ:

Related image
Chàng đi đưa gói thiếp mang
Đưa gươm thiếp xách cho chàng đi không


Những cử chỉ nhỏ nhặt như xách gói xách gươm cho chồng, cũng đã nói lên tinh thần trách nhiệm của người phụ nữ đối với Tổ Quốc như thế nào rồi, chưa đủ, họ còn muốn làm hơn thế nữa, đôi khi họ cũng ước là nếu làm được việc của nam nhi họ sẽ làm thay cho chồng nghỉ ngơi:

Phải chi vác nổi súng đồng
Thì em đi lính thế cho chồng vài năm

Nhìn vào lịch sử Việt Nam đã trải dài trên bốn ngàn năm văn hiến, qua bao thăng trầm, biết bao lần phương Bắc muốn gột rửa cái hồn Việt trong chúng ta để đồng hóa với nền văn hóa ngoại xâm, ngõ hầu tiêu diệt một dân tộc để đem tất cả về làm con dân của họ, nhưng cuối cùng chúng ta vẫn còn, vẫn tồn taị cái Việt tính trong chúng ta. Bởi vì nền văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt đã in sâu vào tâm khảm, vẫn tiềm tàng và phát triển từ thời đại này qua thời đại khác, như một dòng suối mát luân lưu bất tận. Nhờ đó mà tâm hồn người Việt Nam rất phong phú, nhất là đối với người phụ nữ, họ không chỉ tận hưởng để làm thăng hoa cuộc sống riêng mình, mà còn gìn giữ cho mai sau con cháu từ thuở còn nằm nôi:

Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam đã tạo nên một nền Văn Học dân gian thật phong phú, được thể hiện qua những tấm lòng yêu thương rộng lớn, mà xưa nay tổ tiên chúng ta gói ghém như một khuôn vàng thước ngọc, như những bài học quý báu, cho con cháu chúng ta dùng làm phương tiện để xây dựng hạnh phúc gia đình, xã hội cũng như đóng góp chung cho nền hòa bình thế giới.

Đan Hà

**********

Phụ nữ Việt Nam qua ca dao

 Related image

Khi đề cập đến phụ nữ Việt Nam, ai ai cũng đều thừa nhận rằng từ ngàn xưa cho đến nay họ là những người đàn bà dịu hiền, thùy mị, đoan trang, đảm đang, trung trinh tiết hạnh, giàu lòng hy sinh.

Khi đề cập đến phụ nữ Việt Nam, ai ai cũng đều thừa nhận rằng từ ngàn xưa cho đến nay họ là những người đàn bà dịu hiền, thùy mị, đoan trang, đảm đang, trung trinh tiết hạnh, giàu lòng hy sinh. Trong gia đình thì hiếu thảo với cha mẹ, tảo tần lo cho chồng con, ra ngoài là những bậc anh thư liệt nữ. Chính những đức tính đẹp nầy đã nâng cao phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam: 

Phụ nữ Việt Nam trung trinh tiết hạnh,
Trang điểm cuộc đời muôn cánh hoa thơm.
Ra ngoài giúp nước, giúp non,
Về nhà tận tụy chồng con một lòng.

Phụ nữ Việt Nam qua ca daoTrong suốt chiều dài của dòng lịch sử và chiều sâu của lòng dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã liệt oanh viết nên những trang sử vàng son làm vẻ vang giống nòi như Bà Trưng, Bà Triệu; nữ tướng Bùi Thị Xuân của Quang Trung; Cô Giang, Cô Bắc của Việt Nam Quốc Dân Đảng... Còn về thi văn, ta có Bà Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Bà Hồ Xuân Hương, Bà Sương Nguyệt Ánh... đều là những nữ sĩ tài hoa, nức tiếng trên văn đàn, là những cánh hồng tươi thắm trong vườn hoa văn học. Ngoài ra, còn có biết bao nhiêu phụ nữ Việt Nam khác sống một cuộc sống bình thường, thầm lặng nơi thôn trang, xóm làng mà những nét đẹp về tâm hồn của họ được dân gian ca tụng bằng những áng văn, những vần thơ, điệu hát, câu hò hay qua những vần ca dao phong phú.

Đề cập đến văn chương, chúng ta không thể nào bỏ qua nền thi ca bình dân mà ca dao là một trong những thể loạiquen thuộc nầy. Từ lâu, ca dao đã đi vào lòng dân tộc và lạc vào rừng ca dao của kho tàng văn học, ta sẽ bắt gặp hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam qua những đức tính cao quý của họ:
Nói đến phụ nữ Việt Nam, trước hết phải nói đến lòng hiếu thảo đối với mẹ cha và tiết hạnh đối với bản thân. Không phải chỉ có một nàng Kiều của cụ Nguyễn Du mới biết báo hiếu

mà bất cứ người con gái Việt Nam nào cũng đều nhớ đến ơn sinh thành, công lao nuôi dưỡng bao la của đấng song thân:

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ, kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Đó là đối với cha mẹ, còn đối với bản thân thì:
Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh làm câu trao mình.

Người phụ nữ Việt Nam, ngay từ lúc còn ẵm ngửa cho đến khi biết lật, biết bò lớn dần trong nhịp võng đưa qua tiếng hát của bà ru cháu, mẹ ru con, chị ru em:

Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.
Hay qua điệu hát ầu ơ:
Ầu ơ... Bao giờ Chợ Quán hết vôi,
Thủ Thiêm hết giặc, em thôi đưa đò.
Bắp non mà nướng lửa lò,
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm. 
Hoặc qua điệu ru ạ ờ:
Ạ ờ... Cái ngủ mày ngủ cho lâu,
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về.
Bắt được con cá rô, trê,
Tròng cổ lôi về cho cái ngủ ăn...

Image result for Phụ nữ Việt Nam qua ca dao 

Những vần ca dao mộc mạc, bình dị đã đưa em bé gái Việt Nam vào giấc ngủ an bình và từ ngày nầy qua ngày khác, tiếng ru lắng đọng, thẩm thấu vào tiềm thức của em bé nên sau nầy lớn lên thành chị, thành mẹ, thành bà lại hát để ru em, ru con, ru cháu theo nhip võng đưa kẽo kẹt đều đều.

Hát ru em, hát ầu ơ, ạ ờ là một điệu hát thông dụng được phổ biến từ thôn xóm, làng mạc

cho đến thị thành. Hát ru em là một bản trường ca bất tận của kho tàng văn chương Việt Nam. Vào những buổi trưa vắng lặng hay những đêm khuya yên tĩnh, cùng với tiếng võng đưa, giọng hát ầu ơ, ạ ờ dịu dàng, trìu mến của bà, của mẹ, của chị vang mãi trong lòng đứa trẻ ấu thơ. Tiếng võng đưa kẽo kẹt đều đều cùng với tiếng hát đã văng vẳng từ bao thề hệ trên đất nước Việt Nam theo dòng sinh mệnh của dân tộc. Trải qua bao nhiêu thế hệ, trong mọi gia đình, nghèo cũng như giàu, cái nhịp đều đều của tiếng võng đưa không bao gời dứt. Không có người Việt Nam nào không từng hơn một lần nằm võng và tiếng võng đưa hòa cùng tiếng trẻ khóc, tiếng hát ru đã trở thành điệu nhạc muôn đời của dân tộc ta.

Thấm thóat, em bé gái Việt Nam nho nhỏ ngày nào nay đã lớn dần và có thể giúp đỡ mẹ những công việc lặt vặt. Một đôi khi lầm lỗi trong công việc bị mẹ quở mắng hay đánh đòn, em không bao giờ dám oán trách mẹ. Nếu bị quở mắng thì nhỏ nhẹ rằng:

Mẹ ơi đừng mắng con hoài,
Để con bẻ lựu, hái xoài mẹ ăn.
Còn nếu bị đánh đòn, nàng chỉ thỏ thẻ:
Mẹ ơi đừng đánh con đau,
Để con bắt ốc, hái rau mẹ nhờ.

Theo thời gian, cô bé Việt Nam bây giờ đã trở thành thiếu nữ dậy thì, trước khi lấy chồng, một đôi lúc ngồi nhìn những hạt mưa rơi, nàng nghĩ vẩn vơ:

Thân em như hạt mưa rào,
Hạt sa xuống giếng, hạt vào vườn hoa.

Hay bâng khuâng tự hỏi:

Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
Ngồi cành trúc, tựa cành mai,
Đông đào , tây liễu biết ai bạn cùng?

Đến tuổi dậy thì, phụ nữ Việt Nam trổ mã, đẹp dần lên. Mỗi nàng một vẻ đẹp riêng, người thì đẹp qua đôi mắt, người khác đẹp ở mái tóc, có cô đẹp qua nụ cười, cô khác đẹp bằng hai má lúm đồng tiền, có người đẹp với chiếc eo thon thon, dáng đi yểu điệu, có người đẹp trừu tượng qua tâm hồn... Tóm lại, mỗi người một vẻ để làm rung động hay làm xao xuyến con tim của người khác phái.

Những phụ nữ có đôi mắt lá răm, lông mày lá liễu được ca dao khen rằng:

Những người con mắt lá răm,
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

Hay những người có làn da trắng nõn, má lại hồng hồng, môi đỏ thắm:

Ai xui má đỏ, môi hồng,
Để anh nhác thấy đem lòng thương yêu.

Đã đẹp mặt mà còn đẹp về vóc dáng nữa thì “chim phải sa, cà phải lặn” cho nên những phụ nữ có chiếc eo thon thon:

Những người thắt đáy lưng ong,
Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con.

Mái tóc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc trang điểm vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam:

Tóc em dài em cài bông hoa lý,
Miệng em cười anh để ý anh thương.
Mái tóc dài, đẹp còn làm xao xuyến lòng người:
Tóc đến lưng vừa chừng em bới,
Để chi dài bối rối dạ anh.

 Phụ nữ Việt Nam qua ca dao

Nụ cười là nét duyên dáng, nét quyến rũ của người phụ nữ. Từ xưa cho đến nay có rất nhiều đàn ông đã chết vì nụ cười của phái đẹp:

Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng,
Thương em chúm chím cười duyên một mình.
Cũng thế, ta thường nghe ai đó ngâm hai câu ca dao:
Nàng về nàng nhớ ta chăng,
Nàng về ta nhớ hàm răng nàng cười.

Và ca dao cũng không quên ca tụng nét đẹp tâm hồn của phụ nữ Việt Nam:

Chim khôn hót tiếng rảnh rang,
Người khôn ăn nói dịu dàng dễ thương.

Phụ nữ Việt Nam vốn cháu con Quốc Mẫu Âu Cơ, dòng dõi tiên nên nhu mì, thùy mị được tiếng là đẹp, rất đẹp, nhất là trong chiếc áo dài tha thướt với vành nón lá che nghiêng nghiêng mái tóc xõa bờ vai. Có biết bao nhiêu chàng trai đã trồng cây si ở cổng trường Trưng Vương, Gia Long, Đồng Khánh, Sương Nguyệt Ánh, Bùi Thị Xuân... vì những tà áo dài thướt tha nầy và mái trường đã từng là chứng nhân của những mối tình đẹp tựa bài thơ, đẹp như đêm trăng huyền ảo. Trước cái đẹp của phụ nữ Việt Nam, mấy ai thuộc phái nam đã không từng cất giấu trong tim một bóng hồng của thời yêu thương ướt át:

Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
Năm thương cổ yếm đeo bùa,
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
Bảy thương nết ở khôn ngoan,
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
Chín thương em ở một mình,
Mười thương con mắt đưa tình với anh.

Nét đẹp của phụ nữ Việt Nam còn làm cho trái tim nhà vua đập sai nhịp vì bị “tiếng sét ái tình”:

Kim Luông có gái mỹ miều,
Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi.

Dân tộc Việt Nam là dân tộc hiền hậu, hiếu hòa, cần cù nhẫn nại lại trọng đạo lý cho nên khi con cái vừa lớn khôn thì được gia đình, nhà trường, xã hội dạy những bài học luân lý về cung cách ở đời, ăn ở có nhân có nghĩa theo đạo lý làm người và phụ nữ Việt Nam cũng được giáo huấn:

Con ơi mẹ bảo con này,
Học buôn, học bán cho tày người ta.
Con đừng học thói điêu ngoa,
Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười.
Nhờ được giáo huấn cho nên phụ nữ Việt Nam đoan trang, thùy mị, nết na:
Sáng nay tôi đi hái dâu,
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn.
Hai anh đứng dậy hỏi han,
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu?
Thưa rằng tôi đi hái dâu,
Hai anh mở túi đưa trầu mời ăn.
Thưa rằng bác mẹ tôi răn,
Làm thân con gái chớ ăn trầu người.

Và xa hơn nữa:

Ở nhà còn mẹ, còn cha,
Lẽ đâu tôi dám nguyệt hoa cùng người.

Phụ nữ Việt Nam khi đến tuổi bước vào con đường yêu đương thì yêu nhẹ nhàng, kín đáo. Nhẹ nhàng đến nỗi tình yêu của nàng len lén len lỏi vào tim hồi nào mà chàng trai không hay: 

Vói tay ngắt lấy cọng ngò,
Thương anh muốn chết giả đò ngó lơ.

Giả đò ngó lơ, e thẹn, bẽn lẽn, len lén ngó mà không dám ngó lâu là những cử chỉ yêu đương nhẹ nhàng, kín đáo rất dễ thương của người phụ nữ Việt Nam:

Ngó anh không dám ngó lâu,
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi.

Nhưng khi đã yêu thì phụ nữ Việt Nam yêu một cách đứng đắn, yêu đậm đà, tha thiết với tất cả con tim mình:

Qua đình ghé nón trông đình,
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.
Tình yêu của nàng còn sâu đậm hơn nữa:
Yêu chàng lắm lắm chàng ôi,
Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than.
Khi yêu, ngoài tình yêu đậm đà, tha thiết, phụ nữ Việt Nam lại còn chung tình:
Bao giờ cạn lạch Đồng Nai,
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền.
Và chung tình cho đến chết vẫn còn chung tình:
Hồng Hà nước đỏ như son,
Chết thì chịu chết, sống còn yêu anh. 

Trước khi lấy chồng, phụ nữ Việt Nam cũng có thừa thông minh để lựa chọn ý trung nhân:

Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bõ công trang điểm má hồng lâu nay.

Hay mượn những vần ca dao nhắn nhủ với giới mày râu rằng muốn kết duyên vợ chồng, gá nghĩa trăm năm với phụ nữ Việt Nam thì:

Đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ,
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu.
Anh về học lấy chữ nhu,
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ.

Đến ngày bước lên xe hoa về nhà chồng, phụ nữ Việt Nam không quên lạy tạ ơn sinh thành của cha mẹ:

Lạy cha ba lạy, một quì,
Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.
Khi cất bước ra đi về làm dâu nhà chồng, một lần cuối nàng cố ghi lại những kỷ niệm của thời thơ ấu vào tâm khảm:
Ra đi ngó trước, ngó sau,
Ngó nhà mấy cột, ngó cau mấy buồng.
Rồi lúc đã có chồng, người phụ nữ Việt Nam luôn luôn tâm niệm:
Chưa chồng đi dọc, đi ngang,
Có chồng cứ thẳng một đàng mà đi.

Hay:

Đã thành gia thất thì thôi,
Đèo bòng chi lắm tội Trời ai mang.
Lấy chồng, người phụ nữ Việt Nam đẹp duyên cùng chồng:
Trầu vàng ăn với cau xanh,
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.

Và có hình ảnh nào đẹp hơn vợ chồng hạnh phúc trong cảnh thanh bần:

Râu tôm nấu với ruột bầu,
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.

Dù nghèo, thanh bần nhưng phụ nữ Việt Nam học theo triết lý an phận, vẫn chung tình với chồng, không đứng núi nầy trông núi nọ:

Chồng ta áo rách ta thương,
Chồng người áo gấm, xông hương mặc người.

Tinh thần chịu khó, chịu cực và khuyến khích chồng ăn học cho thành tài được diễn đạt qua những vần cao dao làm nổi bật đức tính hy sinh của phụ nữ Việt Nam:

Canh một dọn cửa, dọn nhà.
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm.
Canh tư bước sang canh năm,
Anh ơi dậy học chớ nằm làm chi.
Mốt mai chúa mở khoa thi,
Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh.
Bõ công cha mẹ sắm sanh,
Sắm nghiên, sắm bút cho anh học hành.
Đã có chồng con, người phụ nữ Việt Nam lại càng đảm đang, vừa lo cho con vừa lo toan mọi công việc nhà chồng:
Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.

Hoặc:

Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay.
Có con, người phụ nữ Việt Nam lại gánh thêm trách nhiệm làm mẹ với tình mẫu tử thiêng liêng:
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,
Năm canh chầy thức đủ năm canh.
Tình mẫu tử của những bà mẹ Việt Nam bao la như trời bể, luôn luôn bảo bọc, che chở cho con:
Nuôi con chẳng quản chi thân,
Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.

Phụ nữ Việt Nam qua ca dao
Ngoài ra, phụ nữ Việt Nam còn phải đối diện với cảnh làm dâu nhà chồng. Trước đây, xã hội ta đã quan niệm sai lầm rằng người con dâu phải phục vụ gia đình nhà chồng gần như một người đầy tớ và một số bà mẹ chồng rất khắc nghiệt với nàng dâu gây nên nhiều cảnh thương tâm cho người phụ nữ Việt Nam. Tự Lực Văn Đoàn đã đưa ra nhiều cuốn tiểu thuyết luận đề để đả phá quan niệm sai lầm nầy và ca dao ta cũng lên tiếng thở than dùm cho các nàng dâu Việt Nam:

Làm dâu khổ lắm ai ơi,
Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than.
Còn nếu đất nước gặp thời chinh chiến, người phụ nữ Việt Nam không bịn rịn mà hăng hái khuyến khích chồng hành trang lên đường trả nợ núi sông:

Anh đi em ở lại nhà,
Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ.
Lầm than bao quản muối dưa,
Anh đi anh liệu chen đua với đời.


Phụ nữ Việt Nam, ngoài những đức tính đảm đang, giàu lòng hy sinh, nết na, thùy mị còn là người con rất mực hiếu thảo:

Ơn cha nặng lắm ai ơi,
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang,

Lòng nhớ công ơn cha mẹ sinh thành, nuôi dưỡng của người phụ nữ Việt Nam còn đươc diễn đạt qua mấy câu:

Ân cha lành cao như núi Thái
Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi.
Dù cho dâng trọn một đời,
Cũng không trả hết ân người sinh ta.


Những món quà nho nhỏ như buồng cau, đôi giày nhưng nói lên lòng hiếu thảo, lòng nhớ ơn công cha nghĩa mẹ của người phụ nữ Việt Nam:

Ai về tôi gởi buồng cau,
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy

Hay là:

Ai về tôi gởi đôi giày, 
Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.
Khi phải đi xa hay lấy chồng xa, người phụ nữ Việt Nam luôn luôn tưởng nhớ về mẹ cha:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Phụ nữ Việt Nam còn gắn liền với dân tộc và lịch sử vì thế khi tổ quốc lâm nguy, khi sơn hà nguy biến người phụ nữ Việt Nam hăng hái đưa vai gánh vác giang sơn như trường hợp Bà Trưng, Bà Triệu và những vị anh hùng liệt nữ khác.

Hai chị em Bà Trưng là Trưng Trắc và Trưng Nhị, quê quán làng Cổ Lai, đất Mê Linh. Lúc ấy nước nhà đang bị người Tàu cai trị bằng chính sách hà khắc khiến dân ta vô cùng khốn khổ. Rồi vào năm 40, sau Tây Lịch, Thái Thú Tô Định lại bắt giết ông Thi Sách, chồng Bà Trưng Trắc làm cho nợ nước chồng chất thêm thù nhà cho nên Bà Trưng Trắc cùng em là Bà Trưng Nhị đứng lên chiêu tập binh mã, anh hùng hào kiệt khắp nơi để đánh đuổi quân xâm lăng bạo tàn. Quân binh của Hai Bà chiến đấu rất dũng mãnh, chiếm được 65 thành, đánh đuổi quân Tô Định chạy về Tàu. Sau khi đánh đuổi được quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi, dân chúng tôn Bà Trưng Trắc lên làm Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh. Đến năm 42, vua Tàu là Quang Vũ nhà Đông Hán sai Mã Viện kéo quân qua phục thù. Trước địch quân hùng hậu, quân ta chống cự không lại nên Hai Bà đã gieo mình xuống giòng Hát Giang tuẫn tiết. Không có hình ảnh nào vừa hào hùng, vừa lãng mạn cho bằng hình ảnh của hai vị liệt nữ anh hùng gieo mình xuống giòng nước trả nợ núi sông và để lại gương “Thiên thu thanh sử hữu anh thư”. Hai Bà Trưng làm vua được 3 năm, từ năm 40 đến năm 43. Khi vua Tự Đức đọc đoạn sử Hai Bà Trưng, ngài đã ngự phê: “Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách”. Và Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca đã ghi lại công nghiệp của Hai Bà bằng những vần ca dao lịch sử:

Bà Trưng quê ở Châu Phong,
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên,
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành.

Còn Bà Triệu, tên thật là Triệu Thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa vào năm 248, sau Tây Lịch để chống lại quân xâm lăng Đông Ngô của Tàu. Bà còn trẻ nhưng rất can đảm, Bà thường nói: “Tôi muốn cỡi gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém kình ngư ở biển đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân cứu nước chứ không thèm bắt chước người đời còng lưng làm tì thiếp người ta”. Ra trận Bà cỡi voi mặc giáp vàng trông rất oai phong làm quân Ngô khiếp sợ. Nghĩa binh tôn Bà là Nhụy Kiều Tướng Quân. Bà Triệu đã anh dũng đền nợ nước khi Bà mới có 23 tuổi:

Ru con, con ngủ cho lành,
Để mẹ gánh nước rửa bành con voi.
Muốn coi lên núi mà coi,
Có Bà Triệu Tướng cỡi voi bành vàng.

Bà Trưng, Bà Triệu là những bậc nữ lưu anh hùng đầu tiên trong lịch sử thế giới nổi lên sớm nhất chống ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc. Rất lâu về sau nầy nước Pháp mới có nữ anh hùng Jeanne D' Arc nhưng sự nghiệp của Bà Jeanne D' Arc cũng không lẫm liệt bằng công nghiệp to lớn, lẫy lừng của Bà Trưng, Bà Triệu. Thật xứng đáng:

Phấn son tô điểm sơn hà,
Làm cho tỏ mặt đàn bà Việt Nam!

Mẹ tôi là phụ nữ Việt Nam, tôi rất hãnh diện được làm một người con của phụ nữ Việt Nam. Tôi hết lòng kính yêu mẹ tôi và tôi cũng hết lòng kính mến người phụ nữ Việt Nam qua những cái đẹp và những đức tính cao quý của họ.

LÊ THƯƠNG

 Richmond – Virginia

Kim Phượng st & tổng hợp

Xem thêm...

10 bản nhạc cổ điển nổi tiếng nhất trong lịch sử âm nhạc

10 bản nhạc cổ điển

nổi tiếng nhất trong lịch sử âm nhạc

Các tác phẩm được chọn lọc dưới đây là đến từ các nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất, chủ yếu sống trong thế kỷ 17, 18. Bạn có thể thấy nhiều tác phẩm lấy ý tưởng từ thiên nhiên và thần thoại – vốn là 2 nguồn cảm hứng bất tận trong nghệ thuật.

Trong cuộc sống hối hả ngày nay, có thể bạn sẽ muốn lắng lại một chút để cảm nhận được rõ hơn những thanh âm trong trẻo này.

1. “Symphony 5” của Ludwig van Beethoven

"Symphony 5" (Bản giao hưởng số 5) là bản giao hưởng nổi tiếng nhất trong lịch sử âm nhạc thế giới. Tác giả của bản giao hưởng này chính là thiên tài âm nhạc người Đức: Ludwig van Beethoven (1770-1827). Ông là hình tượng âm nhạc quan trọng trong giai đoạn giao thời từ âm nhạc cổ điển sang thời kì âm nhạc lãng mạn. Bản giao hưởng số 5 hay còn gọi là bản giao hưởng "định mệnh" được ông sáng tác vào năm 1808 khi ông đang ở độ tuổi 37 đầy sung sức về tài năng nhưng đáng tiếc con người tài hoa ấy lại bạc mệnh, lúc đó ông đang bị điếc. Tuy vậy, bản giao hưởng số 5 không phải vì thế mà thê lương, trái lại nó mang âm hưởng chủ đạo là ngợi ca tình yêu cuộc sống, cuộc chiến của con người chống lại định mệnh đang gõ cửa. Bản giao hưởng gồm 4 chương (chương 1: Allegro, chương 2: Andante, chương 3: Scherzo và chương 4: Allegro) trong đó chương 1 được xem là hay nhất và quen thuộc nhất. Toàn bộ bản giao hưởng đưa chúng ta qua 4 giai đoạn: sợ hãi, tuyệt vọng, thắng lợi và ca ngợi tình yêu cuộc sống.

Ludwig van Beethoven (1770-1827)

Ludwig van Beethoven (1770-1827)

 

Ludwig van Beethoven (1770-1827) đã biên soạn tác phẩm này, trong đó mấy ô nhịp mở đầu bản giao hưởng có cùng nhịp điệu với mật mã Morse cho số 5 hoặc chữ “V”.

Khúc dạo đầu này đã được sử dụng trong Thế chiến thứ II để gửi các tin nhắn bằng mã Morse. Theo truyền thuyết, Beethoven không hề biết đoạn mở đầu cho bản giao hưởng số 5 sẽ ra sao, nhưng khi ông đang nghỉ trưa, ông nghe thấy tiếng nhịp gõ cửa nhà mình và nó đã trở thành những nốt nhạc đầu tiên của tác phẩm.

2. “O Fortuna” của Carl Orff

O Fortuna (nữ thần may mắn) là một bài thơ Latin thời Trung cổ từ thế kỉ 13 rất hay nằm trong tập thơ của Carmina Buran. Nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức là Carl Orff (1895 – 1982) đã chọn bài thơ này trong số 24 bài thơ để phổ nhạc trong những năm 1935 – 1936. Phần nhạc của bài thơ O Fortuna  đã trở nên hết sức nổi tiếng nhờ kĩ thuật hòa âm phối khí đầy kịch tính Carl Orff. Khi hoàn thành, tác phẩm đã được rất nhiều dàn hợp xướng biểu diễn. O Fortuna đứng đầu trong danh sách các bản nhạc cổ điển được chơi nhiều nhất trong thế kỉ qua. Nó cũng được sử dụng làm nhạc phim cho rất nhiều các bộ phim nổi tiếng như: Lord of The Rings (Chúa tể của những chiếc nhẫn); Star Wars (Chiến tranh giữa các vì sao); 300;... và rất nhiều chương trình truyền hình trên thế giới.

Carl Orff (1895 – 1982)

Carl Orff (1895 – 1982)

Carl Orff (1895 – 1982) thành công nhất với bản nhạc này nhờ vận dụng kỹ thuật hòa âm phối khí một cách đầy kịch tính. Tác phẩm này dựa trên tập thơ thế kỷ XIII “Carmina Burana”. Đây là một trong những tác phẩm âm nhạc cổ điển được trình tấu nhiều nhất trên thế giới.

3. “Hallelujah Chorus” của George F. Handel

Trường ca Hallelujah Chorus là tác phẩm của nhà soạn nhạc người Anh gốc Đức: George Frideric Handel (1685 – 1759). Hallelujah là thán từ dùng để ca ngợi thiên chúa, bày tỏ niềm hân hoan, vui mừng và cảm ơn vì được Chúa ban cho nhiều phước lành. Hallelujah Chorus là bản oratorio tiếng Anh do George Frideric Handel sáng  tác năm 1741 và ra mắt công chúng lần đầu tiên tại Dublin vào ngày 13 tháng 4 năm 1742 và tại Luân Đôn vào năm 1943. Lời bài hát dựa trên những đoạn Kinh thánh mà Handel cố gắng để miêu tả cuộc sống, cái chết, và sự sống lại của Chúa Giê-su. Chính vì vậy, càng về sau, tác phẩm càng được sự quan tâm rộng rãi của công chúng, cuối cùng trở thành một trong những tác phẩm hợp xướng nổi tiếng nhất và được biểu diễn nhiều nhất trong nền âm nhạc phương Tây. Nếu bạn đi chơi Noel vào mỗi mùa Giáng sinh, bạn sẽ bắt gặp trường ca Hallelujah Chorus quen thuộc vang lên ở bất cứ nhà thờ nào.    

George Frideric Handel (1685 – 1759)

George Frideric Handel (1685 – 1759)

George Frideric Handel (1685 – 1759) viết toàn bộ bản oratorio này trong vòng 24 ngày. Ngày nay, rất nhiều giai điệu đã mượn âm điệu từ bản nhạc này. Theo truyền thuyết, Handel nghe nhạc từ các thiên thần chơi vào tai mình. Lời bài hát dựa trên những đoạn kinh Thánh mà Handel đã cố gắng để mô tả cuộc sống, cái chết, và sự sống lại của Chúa Giê-su Ki-tô.

 4. “Ride of the Valkyries” của Richard Wagner

"Ride of the Valkyries" là một phần của tác phẩm vĩ đại "The Ring Cycle" do nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức Richard Wagner (1813 – 1883) sáng tác. Trong thần thoại Bắc Âu, Valkyries thường được miêu tả như những chiến binh xinh đẹp, với làn da trắng muốt, mái tóc vàng và cưỡi ngựa thần có cánh. Khi Valkyries hạ trần, áo giáp của họ tỏa ra thứ ánh sáng kì lạ bao trùm cả một khoảng trời. Richard Wagner đã mô tả hình ảnh tuyệt đẹp này qua  khúc nhạc "Ride of the Valkyries" (Sự xuất hiện của những nàng Valkyrie xinh đẹp). Tác phẩm âm nhạc này thuộc phần thứ 2 trong chùm 4 opera dài dằng dặc mang tên " Der Ring des Nibelungen" (Chiếc nhẫn của người Nibelung) và nó đã trở thành một trong những giai điệu cổ điển quen thuộc nhất qua màn ảnh.

Richard Wagner (1813 – 1883)

Richard Wagner (1813 – 1883) sáng tác kiệt tác “The Ring Cycle”, mà “Ride of the Valkyries” là một phần của tác phẩm vĩ đại này, và nó dựa trên câu chuyện về con gái của vị thần Odin (thần thoại Bắc Âu). Vở opera này mất 26 năm để hoàn thành và chỉ là phần thứ 2 trong chùm kiệt tác opera gồm 4 phần.

 5. “Toccata in d minor” của Johann S. Bach

Người đã góp phần làm giàu nền âm nhạc Đức nhờ kỹ năng điêu luyện trong cấu tạo đối âm, hòa âm và tiết tấu cũng như khả năng điều tiết nhịp điệu, hình thái và bố cục âm nhạc nước ngoài chính là nhà soạn nhạc thiên tài Johann Sebastian Bach (1600-1750). "Toccata in d minor" chính là một trong những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng nhất mà Johann S. Bach đã từng biên soạn. Bản nhạc này có nhiều tiết tấu mạnh mẽ, chứa đầy chất bi ai và nó nhanh chóng gắn liền với nhiều phân đoạn bi kịch trong các bộ phim.

Johann Sebastian Bach (1600-1750)

 Đây có lẽ là một trong những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng nhất của mà Johann Sebastian Bach đã từng biên soạn. Tác phẩm này có giai điệu mạnh mẽ và nó nhanh chóng trở nên gắn liền với nhiều cảnh kịch tính trong các bộ phim. Bach là nhà soạn nhạc hàng đầu về thể loại fugue trong mọi thời đại.

 6. “Eine Kleine Nachtmusik” bởi Wolfgang A. Mozart

"Eine Kleine Nachtmusik" là một trong những Serenade (khúc nhạc chiều) nổi tiếng nhất của nhà soạn nhạc người Áo Wolfgang Amadeus Mozart (1756 – 1791). Đây là bản Serenade số 13 cho đàn dây giọng Son trưởng k. 525 vô cùng quen thuộc với cả những người không nghe nhạc cổ điển nói chung vì nó được dùng quá nhiều trong các chương trình truyền hình. Wolfgang A. Mozart đã tạo ra bản nhạc huyền thoại dài 15 phút hoàn thành chỉ trong 1 tuần tại Vienna năm 1787. Nó được xuất bản vào năm 1827.

Wolfgang Amadeus Mozart (1756 – 1791)

Wolfgang Amadeus Mozart (1756- 1791) sáng tác tác phẩm âm nhạc huyền thoại có thời lượng 15 phút chỉ trong vòng 1 tuần. Nó được công bố chính thức vào năm 1827.

7. “Ode to Joy” của Ludwig Van Beethoven

Cùng với bản giao hưởng số 5, thì bản nhạc này của Beethoven đứng trong bảng xếp loại những bản nhạc nổi tiếng nhất trong lịch sử nền âm nhạc thế giới. "Ode to Joy" là chương cuối được biết đến nhiều nhất và được công chúng yêu thích nhất trong Bản giao hưởng số 9 của Beethoven sáng tác năm 1824. Khi ấy, Beethoven đã bị điếc hoàn toàn. Điều đó càng làm cho nhân loại nghiêng mình thán phục trước một thiên tài âm nhạc vĩ đại. "Ode to Joy" được đánh giá là đỉnh cao của văn minh nhân loại và chọn làm thông điệp hòa bình và thân ái mà loài người gửi vào vũ trụ.

Image result for Beethoven

Một kiệt tác khác của Ludwig Van Beethoven được hoàn thành vào năm 1834 và là phần nổi tiếng nhất của tác phẩm Symphony 9. Thật ngạc nhiên vì trên thực tế là Beethoven bị điếc nhưng vẫn có thể sáng tác những tuyệt tác âm nhạc.

8. “Spring” by Antonio Vivaldi

Antoni Vivaldi ( 1678 – 1741) là nhà soạn nhạc người Ý. Ông được đánh giá là nhà soạn nhạc vĩ đại nhất thời kì Phục hưng và được biết đến nhiều nhất với các Concerto viết cho nhiều nhạc cụ. Ông nổi tiếng với bộ Concerto cho vĩ cầm mang tên "Bốn mùa". Antoni Vivaldi đã viết 4 bản nhạc trong năm 1723, mỗi bản nhạc tượng trưng cho một mùa trong một năm. Trong đó bản "Spring" (mùa xuân) có những giai điệu đẹp và tươi sáng nhất. Giai điệu của bản nhạc cũng như khẽ khàng run rẩy tựa mầm non đâm chồi nảy lộc, cựa mình thoát khỏi cái vỏ xù xì thô ráp của mùa đông. Chính vì vậy, nó được đưa vào nhiều tác phẩm và phim ảnh và nó trở nên quen thuộc đến mức chỉ cần được nghe những nốt đầu tiên, người ta đã thấy không khí mùa xuân tràn ngập.

Antoni Vivaldi ( 1678 – 1741)

Antoni Vivaldi ( 1678 – 1741)

Antonio Vivaldi (1678 – 1741) là một nhà soạn nhạc baroque, người đã viết 4 tác phẩm âm nhạc vào năm 1723, mỗi tác phẩm đại diện cho 1 mùa trong năm, và bởi vì sự nổi tiếng chúng, âm nhạc đã được đưa chuyển tải trong rất nhiều tác phẩm và điện ảnh, đặc biệt là bản “Spring” (“Mùa Xuân”) và “Summer” (“Mùa Hạ.”)

 9. “Canon in D Major” bởi Johann Pachelbel

"Canon in D Major" (Luân khúc Rê trưởng) là một tác phẩm âm nhạc được viết khoảng năm 1680 bởi Johann Pachelbel (1653 – 1706) - nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức. Với cách soạn nhạc đầy kỹ thuật và tinh tế Canon luôn mang đến cho người nghe cảm giác thư thái và nhẹ nhàng như một dòng suối mát chảy róc rách giữa trưa hè nóng nực, hay thanh thản tự do mỗi buổi sớm mai chạy trên thảo nguyên xanh rộng lớn. Đây là bản nhạc cổ điển tuyệt vời dễ nghe, dành cho mọi lứa tuổi với nhiều cách thể hiện khác nhau.

Johann Pachelbel (1653 – 1706) là một nhà soạn nhạc baroque vốn được biết đến như một trong những nhà soạn nhạc nổi tiếng của thời kỳ đó. Ông ấy làm cả thế giới thán phục với các tác phẩm soạn nhạc đầy kỹ thuật và tinh tế.

10. “William Tell Overture” của Gioachino Rossini

"William Tell Overture" (khúc khởi nhạc) mở đầu cho tác phẩm "William Tell"- vở opera cuối cùng dài 12 phút của nhà soạn nhạc người Ý: Gioachino Rossini (1792 - 1868). Đây là bức tranh tả cảnh vùng núi Alpes tại Thụy Sĩ, được chia thành 4 phân đoạn. Với giai điệu đẹp, hoành tráng và biểu cảm, khúc khởi nhạc này được giới chuyên môn đánh giá cao, nó như một bản giao hưởng 4 chương. Chính vì vậy, khúc khởi nhạc "William Tell Overture" được phổ biến vô cùng rộng rãi và có ảnh hưởng lớn trong văn hóa đại chúng. Nó được sử dụng trong bộ phim hoạt hình "Looney Tunes" của hãng Warner Brother, phim hoạt hình Mickey (The Band Concert) của hãng Walt Disney,...

Gioachino Rossini (1792 - 1868)

Gioachino Rossini (1792 - 1868)

Gioachino Rossini (1792 – 1868) viết tác phẩm âm nhạc có thời lượng dài 12 phút này như là phần cuối trong bản overture nhạc kịch gồm 4 phần. Những phần khác cũng được biết đến nhiều, nhưng riêng tác phẩm này trở nên nổi tiếng khi nó được sử dụng trong bộ phim hoạt hình “Looney Tunes” của hãng Warner Brother.

Trong cuộc sống bộn bề này, toplist khuyên bạn hãy dành riêng cho mình một chút thời gian để nghe nhạc, nhất là những bản nhạc cổ điển nổi tiếng ở trên. Bạn sẽ thấy cuộc sống cân bằng, thấy tâm hồn mình lắng lại, nhẹ nhàng, thư giãn và quan trọng là bạn biết cách tận hưởng cuộc sống muôn màu với âm nhạc.

 

Theo  Benjamin Kim | Epoch Times

Kim Phượng st

 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này