Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1289)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (64)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (353)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Nhà có hoa Mimosa vàng

Nhà có hoa Mimosa vàng

Truyện Ngắn của Nguyễn An Bình

 Tôi đi qua khu chợ bán rau cải để đến nhà Kiệt như đã hẹn. Buổi sáng Đà Lạt se se lạnh sương vẫn chưa tan hết, những sọt rau xanh tươi được các nhà vườn chuyển tấp nập  ra vào khu chợ, xen lẫn tiếng ồn ào bán hàng, trả giá  tạo một khung cảnh mua bán náo nhiệt.

Quấn lại chiếc khăn len mỏng cho đở lạnh, Tôi bước lên mấy bậc thang ở cuối chợ rau len qua một ngách nhỏ là qua một con phố khác. Ở Đà Lạt phố xá thật lạ, khi lên cao khi xuống thấp, có chổ chỉ cần qua vài bậc thang ngắn là có thể ngoặt qua một khu phố khác, không khí mới ồn ào ở nơi nầy thì lại yên ắng, vắng vẻ ở nơi khác ngay.

  Nhà của Kiệt ở gần cuối con phố , cậu ta nói chỉ cần bước vào con phố nầy là nhận ra nhà cậu ta ngay bỏi vì duy nhất ở đây chỉ riêng nhà  Kiệt có trồng cây mimosa vàng.Tôi và Kiệt quen nhau từ khi hai chúng tôi nhận được học bống du học ở Singapore, quê Kiệt ở Đà Lạt, còn quê tôi ở miền Tây.

Chúng tôi học chung ngành công nghệ.Kiệt yêu thích âm nhạc, âm nhạc Ngô Thụy Miên và Trịnh Công Sơn như chảy trong máu của hắn,ca từ trong những bản nhạc của hai nhạc sĩ nầy không chê vao đâu được, đi chơi đâu nếu có dịp là Kiệt đem theo cây ghi-ta để nghêu ngao ca hát, còn tôi lại thích thiên văn, nhưng không vì thế mà hai chúng tôi lại không thân nhau.

Lần nầy về Đà Lạt chúng tôi đi theo chương trình giao lưu giữa sinh viên trường đại học chúng tôi đang học với một trường trung học phổ thông nơi đây, ba Kiệt là hiệu trưởng của trường THPT nầy nên giấy tờ, sinh hoạt, tham quan đều rất thuận lợi.

Hôm nay là ngày cuối của chương trình giao lưu chúng tôi được tự do trọn ngày, ba mẹ Kiệt muốn mời tôi đến nhà chơi. Cùng đến thăm nhà Kiệt hôm nay còn có Mai, bạn gái Kiệt cũng là sinh viên công nghệ Sing có mặt trong đoàn  chúng tôi từ đầu.      

 

Ngôi nhà có cây mimosa vàng nổi bật trên con phố,nó cao lớn nhưng thon thả tươi mát, mùa nầy mặc dù đã vào tháng năm nhưng cây vẫn trổ những chùm hoa vàng  hình cầu rực rỡ,tỏa hương thơm mát dịu.

Tôi nghe nói giống cây nầy có xuất xứ từ Úc được du nhập vào nước Pháp rất sớm và nó  đã theo chân bác sĩ Yersin  đến đây khi ông khám phá ra cao nguyên Lang Biang sau nầy trở thành thành phố hoa Đà Lạt xinh đẹp ngày nay.

Thật ra cây mimosa chẳng có giá trị kinh tế nào đáng kể nhưng vì sắc vàng rực rỡ của nó quyến rũ làm say đắm lòng người nên người ta đã trồng nó trên những con đường,quả đồi để tô điểm thêm cho vẻ đẹp của xứ sở ngàn hoa,cứ thế sắc hoa vàng thấp thoàng từ trong ngõ nhỏ đến một số con đường lớn.

Khác với hoa dã quỳ, cánh to rực rỡ nhưng lại mau tàn, còn hoa mimosa lại bền bỉ hơn, nó nở hết đợt hoa nầy đến đợt hoa khác nhất là vào mùa xuân là thời điểm mãn khai nhất của nó, hoa lại khoe sắc vàng, óng ánh mịn mượt như nhung, nở tung hết cánh li ti từng chùm, hình cầu trông thật thơ mộng,duyên dáng.

Cây có dáng đẹp,cành lá lấp lánh ánh bạc, đặc biệt có hương thơm ngai ngái. Đồng bào dân tộc quen gọi mimosa là cây lá bạc hoa vàng và mùa xuân là mùa của lá bạc hoa vàng trên cao nguyên.

Ngoài loại mimosa vàng nầy còn có loại mimosa khi nở màu hoa tím nhạt cũng rất dễ thương quyến rũ nhưng mấy hôm ở Đà Lạt tôi không thấy ai trồng, chẳng lẽ nó không phù hợp với sự thưởng thức của người dân phố hoa nầy hay sao nhỉ?

 Trồng nhiều là thế, nhưng suốt con phố nhỏ nầy chỉ có ngôi nhà của Kiệt là trồng mimosa nên người ta có thể thấy nó nổi bật và dễ nhận ra hơn những ngôi nhà khác, ngôi nhà có hàng rào bằng gỗ thông, những thanh đứng đóng cách khoảng thật đều đặn, đầu thanh chuốt nhọn hình mũi tên sơn trắng muốt sạch sẽ càng làm nổi bật lên ngôi nhà thấp thóang phía sau.

Tôi đứng tần ngần trước ngôi nhà có cây mimosa vàng đó một lúc thì trong nhà có người chạy ra. Một cô bé khoảng mười sáu, mười bảy tuổi gì đó nhưng lớn như một thiếu nữ, mái tóc dài mượt mà, óng ả  trong nắng sớm Đà Lạt, mặt xinh xắn nhanh nhẹn mở cổng reo lên:

-           A!  anh Tân đến rồi, vào đi anh. Sao anh không bấm chuông.

Tôi ngạc nhiên nhớ là mình chưa từng gặp cô bé nầy, hơn nữa đây là lần đầu tiên mình đến Đà Lạt, làm sao cô bé lại biết tên mình. Tôi hỏi:

 -  Sao bé lại biết anh ?

Cô bé nhìn tôi cười vẻ tinh nghịch:

-          Mình đã gặp nhau rồi mà anh.

Tôi ngớ người ra. Chịu. Không biết gặp cô bé nầy lúc nào, nếu mở miệng ra nói không nhớ sợ cô bé nầy giận mất. Như đọc được suy nghĩ của tôi, cô bé nói luôn:

-           Bốn năm trước em cùng ba mẹ đến sân bay tiễn anh Kiệt đi du học ở Sing, anh lúc đó cũng trong đoàn học sinh Việt Nam đi cùng anh Kiệt mà, đúng không?

        À!  Tôi nhớ ra rồi. Ở sân bay lúc ấy đoàn du học sinh chúng tôi và gia đình những người thân đi tiễn tập hợp lại chụp chung một tấm hình lưu niệm nhưng có một cô bé cứ  níu lấy tay anh khóc thúc thít như không muốn anh nó lên máy bay làm ba mẹ nó phải dỗ dành mãi mới thôi. Thì ra là cô bé đây mà. Tôi nheo nheo mắt cười :

-          Thế bây giờ cô bé có còn khóc nhè nữa không?

Cô bé nhìn tôi nguýt mắt rất hồn nhiên;

-          Lúc đó người ta còn nhỏ xíu chứ bộ.

-          Thế bây giờ bé thành người lớn rồi sao?

-          Thôi! Không giởn với anh nữa đâu. Mới gặp mà anh đã chọc phá Vân rồi.

    Tôi cười giả lả chưa biết nói gì, thì trong nhà có tiếng của Kiệt nói với ra và tiếng cười giòn tan,trong trẻo của Mai, tôi thầm nghĩ cô nầy đã đến trước mình một bước rồi. Vân khép cửa rào lại,giục tôi:

         - Anh vào nhà đi, ba mẹ, anh Kiệt chị Mai đang chờ anh trông nhà đó.

Tôi bước qua khu vườn nhỏ để vào nhà bụng thầm nghĩ: Kiệt có cô em gái dễ thương thiệt.


    Ăn sáng xong, chúng tôi  xin phép ba mẹ Kiệt đi tham quan đỉnh núi Lang Biang. Lang Biang là khu du lịch sinh thái cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 12 km về phía bắc thuộc địa phận thị trấn Lạc Dương, được đánh giá là khu du lịch sinh thái mang vẻ đẹp hoang sơ thuần khiết nhất vùng sơn cước hoang dã của tỉnh Lâm Đồng,nó được ví như nóc nhà của thành phố Đà Lạt.

Lang Biang gắn liền với truyền thuyết về một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết: chàng K’Lang-người dân tộc Cill và nàng H’Biang-người dân tộc Lạch. Do lời nguyền thù hằn giữa hai bộ tộc bắt họ phải chia lìa, họ nguyện bảo vệ tình yêu, bằng cách chết cùng nhau, cái chết của họ đã xóa bỏ hận thù guữa hai bộ tộc.

Ngưỡng mộ trước tình yêu chung thủy của đôi trai tài gái sắc nầy các loài chim muông,cây cỏ đã bảo vệ vun đắp hai nấm mồ của nàng Lang và chàng Biang lâu dần thành ngọn núi có hai đỉnh đứng vững chải giữa trời xanh gọi là Lang Biang, nơi mà bất cứ du khách nào lần đầu tiên đến thành phố hoa Đà Lạt đều mong muốn được chinh phục.

Theo cô hướng dẫn viên, để lên tới đỉnh núi Lang Biang có ba cách: đi xe uoát, đi bộ hoặc leo dây. Nhóm tôi có hai cô gái và thời gian cũng không có nhiều nên chúng tôi chọn cách thuê xe lên đỉnh Lang Biang cho thuận tiện.

Chiếc uoát chạy quanh co trên con đường nhựa dài khoảng 6km từ chân núi để lên tới đỉnh, băng qua những rừng thông bạt ngàn,trên đường chúng tôi bắt gặp những người dân tộc vai mang gùi đem những sản vật mà họ thu hái hay trồng trọt được xuống chân núi để bán hoặc trao đổi hàng hóa, vừa đi vừa nói chuyện líu ríu trông vui mắt.

Núi Rađa Đà Lạt

Cô bé Vân ngồi cạnh tôi lúc nào cũng tỏ vẻ thích thú, liến thoắng hồn nhiên làm tôi cũng cảm thấy dễ chịu,thân thiện. Người tài xế thả chúng tôi xuống đỉnh núi Rađa, đây là đỉnh núi cao khoảng 2000m so với mặt nước biển hầu như quanh năm mây phủ, ở đây du khách có thể thả hồn theo những đám mây đang bồng bềnh trôi.

Lúc còn nhỏ xem phim Tây du ký  tôi mê tít cảnh tiên nữ đang múa điệu nghê thường cho ngọc hoàng và quần tiên xem trong đám mây trôi bồng bềnh dưới chân, cảm giác ấy trở lại trong tôi khi đứng trên đỉnh núi Rađa nầy. Chúng tôi đi dọc theo đỉnh núi để ngắm cảnh.

Đứng trên đỉnh núi nầy chúng tôi có thể ngắm trọn thành phố Đà Lạt mộng mơ trong tầm mắt của mình, nó hiện ra như một bức tranh thủy mặc huyền ảo, nhìn về phía tây xa xa là hồ Dankia-Suối Vàng trông như một tấm lụa đào khổng lồ vắt ngang núi đồi xanh ngắt, bạt ngàn.

Ở lưng chừng núi là một thung lũng rộng, đó là “Thung lũng ngàn năm” nơi rất thích hợp cho du khách cắm trại qua đêm. Đâu đó nhiều nhóm du khách trải bạt ra nghỉ ngơi bày đồ ăn thức uống ra để thưởng thức, vừa ăn uống vừa trò chuyện vui vẻ.

Chúng tôi cũng chọn một khoảng đất rộng để cắm trại. Kiệt bắt đầu gẩy đàn hát, Mai nghe có vẻ chăm chú say đắm. Vân có lẽ nghe anh mình hát quen rồi nên có vẻ lơ đảng nhìn đám mây đang bồng bềnh trôi, đứng lên đi lên phía trước để ngắm cảnh.

Kiệt hất hàm về phía tôi như ngầm bảo đi theo Vân để bảo vệ cho em nó, có chuyện gì không yên với nó đâu.Tôi khẽ nhún vai thì đi vậy để cho ông bà còn tự do trò chuyện chứ. Tôi đi phía sau Vân nhưng không báo cho cô bé biết.

Đang đi Vân bỗng kêu á một tiếng, người chao đảo như muốn ngã, tôi hoảng hốt chạy nhanh tới tay nắm lấy tay Vân kéo mạnh về phía mình, bờ ngực như núm cau mới nhú của cô gái mới lớn vô tình chạm nhẹ vào cánh tay tôi làm tôi giật mình thảnh thốt.

Một cảm giác lâng lâng khó tả làm tôi muốn buông tay Vân nhưng sợ Vân té nên lại thôi.Tôi hỏi Vân để khỏa lấp vẻ bối rối của mình và làm cho cô bé đở ngượng vì tôi thấy gò má của Vân như ửng hồng lên:

-          Cô bé có sao không?

Vân cúi xuống xoa bóp cái chân bị sụp xuống cái lổ nhỏ mà cô không để ý tới,kêu suýt xoa.Tôi noi;

   -  Thôi! Ngồi xuống đây nghỉ một lát đi, xem lại cái chân đã xem có sao không,bé nhé.

  Vân ngoan ngoãn ngồi xuống cạnh đó tôi cũng ngồi xuống theo, bảo Vân đưa chân cho mình xem.Tôi xoa nhẹ bàn chân cho Vân đở đau nói:

  - Không sao đâu, một lát là hết đau thôi mà.

     Vân có vẻ như mắc cở khi tôi xoa lên bàn chân của cô,giọng có vẻ cảm động:

   - Bộ anh đi theo Vân hả? Sao ngay lúc em té mà anh đở Vân vậy?

  Tôi cười có vẻ bí mật:

    -  Bí mật quân sự,không nói được.

  Vân cười nhìn về phía trước.Như chợt nhớ ra điều gì tôi hỏi:

   -  Sao ở con phố của bé chỉ có nhà của bé trồng mimosa vàng vậy?

-      Vậy ngôi nhà mới nổi bật,dễ kiếm chứ anh. Nói vui với anh vậy thôi chứ Vân thích loài hoa mimosa ấy lắm.

-    Sao vậy?

-    Vì loài hoa ấy có một truyền thuyết rất cảm động.

-     Truyền thuyết gì thế bé?

    Giọng Vân có vẻ mơ màng:

-    Ngày xưa ở vùng đất Australia xa xôi tươi đẹp nằm giữa biển khơi đầy nắng ấm có đôi tình nhân yêu nhau say đắm.Chàng là một ngư dân thông minh, vạm vỡ.Nàng là con gái cưng của một gia đình quý tộc, đẹp rực rỡ yêu màu vàng và có tấm lòng nhân hậu,thương người.

Nhưng gia đình nàng lại ép gả cho một gia đình quyền quý.Chàng buồn phiền từ bỏ biển khơi, lên vùng rừng núi xa xôi làm nghề giữ rừng để quên đi mối tình tuyệt vọng, thì thình lình nơi ấy xảy ra một trận cháy rừng dữ dội, chàng đã bất chấp nguy hiểm lăn xả vào để cứu những cánh rừng xanh và các con thú tội nghiệp,rồi ngọn lửa quái ác ấy đã thiêu chết chàng.

Khi hay tin chàng trai bỏ biển lên ngàn để quên đi mối tình dang dở,nàng đã bỏ trốn trong đêm vu quy để đi tìm chàng. Nhưng đến nơi thì chỉ thấy xác chàng bên đống tro than của cánh rừng bị cháy.

Đau đớn tột cùng và nàng đã gục chết bên xác người yêu.Từ đó trên vùng núi cao của đất nước Australia thơ mộng, nơi đôi tình nhân chết cho mối tình bất tử xuất hiện một loài cây thân mộc,lá màu xanh biếc, lấp lánh từng chùm hoa vàng thơm mát. Đó chính là loài hoa mimosa vàng tràn ngập trên thành phố Đà Lạt nầy đó.

-          Vì vậy mà cô bé thích mimosa à?

Vân không trả lời mà lại hỏi tôi:

-           Chuyện tình của họ cảm động quá phải không anh?

-          Bé lãng mạn quá đấy.

Vân cười hỏi qua chuyện khác:

-          Mai anh về miền tây hở?

-          Ừ! Mai anh về.

-           Anh có nhớ Đà Lạt không?

-          Nhớ chứ.

-          Nhớ ngôi nhà có hoa mimosa vàng chứ?

  Tôi nhìn Vân ngập ngừng:

-          Nhớ.

  Rồi tôi nói khỏa lấp:

-          Thôi! Mình đến chổ Kiệt và Mai đi kẻo hai người đó trông.

     Chúng tôi xuống núi thì đã quá trưa.Từ chối khéo buổi cơm trưa nhà Kiệt để về.Trưa nay tôi muốn xuống phố ăn cơm bụi một bửa rồi lang thang một chút,mua vài món quà lưu niệm về cho gia đình. Vân giành ra mở cổng rào cho tôi, trước khi tôi đi Vân đưa cho tôi một tấm thiệp,nhìn tôi nói:

-          Anh Tân nhớ đọc nhé.

   Tôi khẽ gật đầu quay đi. Đi một đoạn xa quay đầu nhìn lại vẫn thấy Vân còn đứng đó,nhìn theo.Thấy tôi quay lại Vân vẫy tay, tôi cũng vẫy tay chào lại rồi tiếp tục bước đi về phía chợ.


    Ngồi trên máy bay nhìn qua cửa sổ,thành phố Đà Lạt đã bỏ lại sau lưng tôi thấy lòng nao nao.Thành phố nầy có gì để nhớ nhỉ? Chợt nghĩ đến tấm thiệp của Vân đưa cho tôi, tôi định về nhà mới mở ra xem nhưng rồi tò mò không biết cô bé viết gì,tôi lấy mở ra xem.

Một chùm hoa mimosa vàng nhỏ ép khô bên cạnh góc thiệp và ở giữa có ghi dòng chữ: “Chờ Vân qua Sing anh nhé.Nhớ dẫn Vân đến China town,anh Kiệt nói nơi đó bán đồ ăn ngon lắm. Đừng quên ngôi nhà có hoa mimosa vàng, được không anh?”.

   Tôi ngẩn ngơ giây lát, rồi tự mỉm cười một mình,thầm nghĩ:

-          Nếu có duyên chúng ta sẽ gặp lại nhau cô bé ạ.

 

 

 

 

= Ngọc Lan sưu tầm =

-Hình Internet-

Xem thêm...

Giáo Sư: NGUYỄN HẢI BÌNH

Kết quả hình ảnh cho Đại học luật khoa trong hệ thống giáo dục Miền Nam trước 1975 photos
 
Giáo Sư: NGUYỄN HẢI BÌNH
Nhóm GNST xin hân hạnh giới thiệu đến Diễn Đàn Giáo Sư Nguyễn Hải Bình vào sinh hoạt với chúng ta. Ông tốt nghiệp trường Luật Khoa Sài Gòn và được học bổng Fullbright do phòng Thông Tin Mỹ USIS chu cấp. Ông là Giáo Sư Khoa Trưởng Đại Học Kinh Thương và sang nước ngoài là Giáo Sư của Đại Học Champlain( Canada).
●▬▬▬▬๑۩۩๑▬▬▬▬▬●
Sau đây là bài viết của Giáo Sư Nguyễn Hải Bình.
https://lh3.googleusercontent.com/-oFUp4c3c3gU/VKRcu7316HI/AAAAAAAABt8/Aw5A-4TTkBU/w613-h773-no/Thay%2B1.jpg
TÔI LÀM THẦY GIÁO
Viết cho: Long Xuyên, Anh Ngữ Quân Đội, Khánh Sơn, vợ chồng Châu-Lý, K. Dung, Hải-Phong,
Con đường Duy Tân, Kinh Thương Minh Đức, AMT Champlain Sherbrooke
Đời thường, nói đến thầy giáo là người ta nghĩ đến một nhà mô phạm theo văn hoá Khổng Mạnh mà chúng ta, anh em Hội Cựu giáo chức Việt Nam vùng Quebec, ôm cứng tự ngàn năm. Nhưng cuộc đời làm thầy giáo của tôi sắp kể thì e rằng nó lại đầy rẫy những vui buồn, sướng khổ, trần tục, nghiêm túc và có khi trật đường rầy từ lúc tôi vào đời “godautre”. Xin quí vị phát âm “godautre” theo accent phờ răng xe mà tôi thích dù rằng nó chính là gõ đầu trẻ chỉ vì tôi không quên được cái ngày tôi bắt đầu học tiếng “Tây” lúc ở lớp sơ đẳng “élémentaire” trường École des garçons tỉnh lỵ Hà Đông mà cứ mỗi chiều thứ Tư còn phải ra sân tập hát bài Marseillaise “Allons! Enfants de la patrie …” quốc ca “mẫu quốc”, nói theo ngôn ngữ hồi còn mồ ma Pháp thuộc. 
 Ở cái tuổi thơ lên chín này, đây cũng là lần đâu tìên tôi thấm thía cái quyền uy của thầy giáo thưở xưa khi tôi nhận trận đòn nên thân của thầy giáo Tư. Thằng Phương miệng cá ngão nó gọi tôi đầu quả dưa tôi bèn thụi nó. Thầy Tư trông thấy, ông đi xuống tay cầm cái thước vuông vức, dài gấp đôi cái thước kẻ thường và cứ thế ông đánh túi bụi trên hai cánh tay tôi bầm tím. 
https://lh5.googleusercontent.com/-_OLdYO4nndY/VKRcyrRBW9I/AAAAAAAABvE/WDvQHr9eoBQ/w655-h480-no/thay%2B2.jpg
Lớn lên, tôi thật là trên trời rớt xuống vào đời gõ đầu ‘trẻ” theo đúng nghĩa đen. Mười bốn tuổi đầu mới học hết lớp Đệ Lục trung học, tôi từ hậu phưong kháng chiến “dinh tê” về “tề” ở cái làng Vạn Phúc lụa Hà Đông. Ông lý trường thấy tôi có chút chữ nghĩa bèn xách ra giao cho tôi dậy vỡ lòng xấp nhỏ trong làng ngay tại căn nhà ba gian gia đình tôi được cho ở nhờ. Thế là tôi trở thành “hương sư” bất đác dĩ, dậy các nhi đồng trong làng 24 chữ cái rồi ghép vần “am, nờ am nam ...” và cao nhất là tới mức “Công cha như núi Thái Sơn...”.
 Vậy mà cũng có những vui buồn của hơn một năm trời hương sư. Số là cô em gái tôi cũng ngồi trong lớp này mà lại nói ngọng. Cứ dậy tập đọc “quả na” thì nó lại “quả la” sửa hoài không được. Ông bố tôi ở gian bên cạnh tức điên ruột bèn xách nó ra vừa quất vừa hét “quả na” thì em tôi lại thì thào “quả la”. Rồi chuyện cười ra nước mắt xẩy đến cho màn “quả la” này khi một trò gọi tôi “Cậu giáo, thằng Tèo nó sợ quá đái ra quần rồi”. Thét rồi em tôi cũng sửa được “quả na” sau mươi trận đòn. Một tình cờ mấy năm rồi về thăm Hà Nội tôi lại thấy cái ngôn ngữ “quả la” này “ló lại “ trở thành phổ thông đến nỗi một vị quan toà đã tuyên “bị can phạm tội nường gạt”. 
https://lh4.googleusercontent.com/-xSgGhrrTiWE/VKRcwYntJzI/AAAAAAAABuM/LUSd6VWN5JY/w1163-h773-no/Thay%2B3.jpg
Ấy, vậy mà cũng có chuyện vui thời hương sư của tôi. Tết đến tôi được ông lý trưởng tặng một cái nón béret, các phụ huynh xấp nhỏ biếu cặp bánh chưng và gói mứt sen để gia đình tôi có cái tết đầu tiên ở làng tề.
 Bẵng đi sáu năm về thành kiếm đường học lại tôi mới thấy được cái uy nghiêm và mô phạm của ông thầy mà mọi người trang trọng gọi là giáo sư. Tôi bắt đầu hiểu được thế nào là Tiên học Lễ hậu học Văn. Những năm trung học Nguyễn Trãi tôi đã thấy sự khả kính và nghiêm túc của người thầy. Những tận tụy của giáo sư Bùi Phuợng Chì dậy Lý Hoá, thầy Vượng kiên nhẫn với lũ tôi học trò lần đầu tiên đi vào triết học để người cứ phải lắc đầu nhắc lại cái ý nghĩa của Tam đoạn luận “Là người phải chết – Socrate là người – Socrate phải chết”. 
https://lh4.googleusercontent.com/-NYncza6QaYY/VKRcztlh3KI/AAAAAAAABvQ/fvkQOVXCJig/w590-h535-no/Thay4.jpg
Rồi cái oai quyền của ông thầy thể hiện ngay trên tôi những ngày trung học. Số là tôi học toán với thầy Bạch văn Ngà. Một hôm làm sao tôi lại ngủ trong lớp mà há hốc miệng để thầy ném luôn cục phấn trên tay lọt thỏm vào miệng tôi. Thằng bạn tôi còn điêu đứng hơn với thầy Bốn to như tây, dậy vẽ. Số là trường có một nữ giáo sư tên Lan khuôn trăng cũng khá là đầy đặn như thầy. Thầy cho vẽ tự do, nó bèn vẽ luôn bốn cái hoa lan đem nộp. Ông đứng dậy đi xuống tay cầm bức vẽ tới chỗ nó ngồi bảo đứng dậy, cả lớp nhìn theo. Tôi nghe một tiếng bốp, ông tát nó một cái bằng trời giáng rồi xé bức vẽ Bốn cái hoa Lan.
Với cái bằng trung học này chỉ hơn một năm sau nó đưa tôi vào lại nghề “lên cours”. Vừa có bằng xong thì chế độ quốc trưởng Bảo Đại ban cho tôi cái giấy gọi nhập ngũ để đầu năm 1955 trở thành một tân sỹ quan khoá Vì Dân của thủ tướng rồi tổng thống Ngô Đình Diệm. Vừa xuống miền Tây uýnh lộn với lính ông Ba Cụt chưa được nửa năm thì bộ Tổng Tham Mưu gọi tôi về đi học Anh văn khoá đầu tiên hội Việt Mỹ. Nhờ cái vốn tiếng Anh học nơi bà Hà văn Vượng ở đường Halais Hà Nội trước đây, ba tháng sau tôi được gởi đi trường Bộ binh bên Mỹ làm thông dịch viên cho ông giảng viên đại úy Mỹ Scott dậy môn truyền tin cho lớp sỹ quan Việt Nam đầu tiên sang thụ huấn tại đây. Thế nghĩa là ngày ngày tôi cũng phải lên cours, ông Mỹ giảng thì tôi dịch, làm phụ giáo luôn vì nhiều khi cũng phải giải thích thêm, bao nhiêu cái máy truyền tin AN-PRC lớn nhỏ tôi đều thuộc làm lòng.
Cũng lại quân đội nữa. Về Sàigòn tôi không còn là phụ giáo mà được phong làm “giảng viên”, cái tít thầy giáo thứ ba của tôi, để dậy Anh văn tại đơn vị mới là trướng Anh Ngữ Quân Đội. Giảng viên nhà binh thì làm sao có cái tác phong và mô phạm như những thầy Ngà thầy Vượng của tôi hồi nào.
https://lh6.googleusercontent.com/-68fWH6WbaIo/VKRcwroAhyI/AAAAAAAABuU/SVdn7XwmPCs/w760-h562-no/Thay%2B5.jpg
Các vị học viên của trường ANQĐ thì đủ cả, từ hạ sỹ quan tới các tướng Đôn, Kim, Xuân, Đính, và cả tướng Khiêm dưới trào cụ Diệm. Vào lớp giảng bài thì một là phải hoà mình để được yên thân với “khoá sinh”  khi gặp những vị tếu như ông tu bíp Từ Uyên hay Dê Húc càn Dương Hùng Cường một thời trung sĩ Không quân kê giảng viên với câu “Nhất tự tiên sư, Bán tự tiên sư” chứ không phải “vi sư”. Lúc khác làm thầy thì lại phải chào kính khoá sinh là mấy ông tướng lãnh. Tôi nhớ lại sáng sáng trước khi vào lớp phải nhờ đồng nghiệp nhìn hộ quần áo đã thẳng nếp chưa, giày đen đã bóng đủ soi gương chưa. Đi vào lớp rập chân cái cốp, giơ tay chào kính mấy vị khóa sinh đeo sao tướng lãnh trên ve áo và hô “Good morning Sir” trước khi bắt đầu “Please, repeat after me”.
Cái vai thầy giáo thứ ba này của tôi còn làm tôi mai một danh tiếng mô phạm hơn nữa cũng chỉ vì ông chỉ huy trưởng lại là típ chịu chơi. Ông đàn anh này của tôi hiện giờ cũng đang ở Montréal đấy. Cuối tuần ông dắt cả bọn đi Vũng Tầu vi vút. Làm sao tôi còn mô phạm được nữa khi dám mon men khen cô chủ quán đẹp để nàng bẽn lẽn nói yêu “Mais, il n’y a pas de rose sans épine”.
Hồi đó có chút tiếng Anh là có giá lắm vì phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ MACV mới đổ vào, người ta đi học tiếng Anh tùm lum. Nhờ vậy, tôi được 
https://lh6.googleusercontent.com/-GT-zG4-Balc/VKRcxGW_ZaI/AAAAAAAABuc/ZAl-Mxb5Cvk/w1074-h773-no/Thay%2B6.jpg
các trường Anh văn Khải Minh rồi Dziên Hồng mời dậy. Tôi bước vào cái nghiệp thầy giáo lần thứ tư và có thấy chút hãnh diện hơn, cảm thấy mình có chút được ngưỡng mộ hơn vì lần đầu tiên được các học sinh gọi là “thầy”.
Tôi bèn thấy yêu nghề dậy học vì tự nhiên tối tối tan trường ra leo lên cái xế Lambretta hai bánh thì đã thấy lủng lẳng trên tay lái một chùm bông sứ và một đống cô gái choai choai nhìn cười. Riết rồi mấy cô gái miền Nam bạo miệng túm tôi trong giờ nghỉ mà hỏi thầy bao nhiêu tuổi. Tôi nói hai mươi ba thì có tiếng nói góp”Con Tư miệt vườn nó treo chùm bông sứ ghẹo thầy đấy. Nó mới 17 tuổi hà...” Cái sự kiện cho tôi vui ngầm lẩn thẩn này cũng đem cho tôi một tai hoạ khi có tên học trò tức khí. Hắn về móc ra một chữ tiếng Anh vào lớp cắc cớ hỏi thầy “henpecked” nghĩa là gì. Biết là mình bị chiếu tướng nhưng cũng đành đỏ mặt trả lời “Tôi không biết” vì tôi không biết thật. Nhưng cũng tại đây tôi cảm nhận được cái cao quí bền vững của tình sư đệ. Một đôi trai gái nên vợ nên chồng trong lớp tôi và cho đến nay 53 năm xa cách nhưng mỗi năm tôi đều nhận được một cánh thiệp chúc tân niên.
Cái đời lính hai lần bị gọi lại là con đường cho tôi lún sâu vào nghề thầy giáo để thấy cái đẹp cao quí từ lúc chính mình ngưỡng mộ nhin những bậc thầy đến khi những ánh mắt học trò nhìn mình như thần tượng đứng trên bục giảng con đường Duy Tân.
Đi lính kiểng ở Sàigòn nên tôi mới được dù đi cours của những giáo sư trường Luật NC Hách, VV Hiền, VQ Thúc v.v. Chỉ nghe thầy Hách ngồi trên bục giảng nhắc một tiếng “Kinh toán học” là đã thấy thầy là thần tượng của tôi rồi. Vào vấn đáp thầy Hiền dân luật hỏi điều 1382 trách nhiệm dân sự tôi ngắc ngứ. Thấy mình đeo lon trung úy, thầy nói “Anh đi lính hả? Sang năm Cử nhân Ba nhớ đi cours cho đều”. Vâng, tôi tái ngũ hát bài “Trả lại em yêu, Con đường Duy tân, Cây dài bóng xế...” nay về đi thi!
Nhờ cái bằng trường Luật và cái quá trình quân ngũ tôi được ưu tiên đi Mỹ học với cái học bổng Fullbright do phòng Thông Tin Mỹ USIS cho. Về nước với cái bằng Kinh tế, ông khoa trưởng Nguyễn Độ dí cho tôi cái cours Mậu dịch Quốc tế với tư cách “giảng sư”, cái danh xưng thứ năm trong nghề thầy giáo của tôi kể từ khi làm thầy giáo làng tên gọi hương sư. 
https://lh4.googleusercontent.com/-pmCtkhgJDeo/VKRcxcmzKCI/AAAAAAAABuo/RrvdF0AuYG0/w500-h438-no/Thay%2B7.jpg
Lần đầu tiên trong đời lên đồ bộ còm lê vào lớp, thấy cũng hơi run trước cả hai trăm sinh viên ngồi chật giảng đường. Ông khoa trưởng giới thiệu “Đây là giáo sư Bình mới về nước. Trước đây 10 năm giáo sư đã tốt nghiệp ở trường ta và hôm nay về giảng dậy môn học mới Mậu dịch quốc tế cho các anh chị”. Giảng đường vỗ tay rần rần. Và tôi bắt đầu cái cours này bốn năm liên tiếp cho Cử nhân 4 với những thương mến, yêu kính của lớp sinh viên đàn em vì nhiệt tình đóng góp của tôi. Và rồi những truân chuyên vướng mắc của tôi, một người thầy tận tụy nhưng cũng là con người mà chuyện đời đưa đẩy. Ôi, bốn năm trường Luật tôi còn có nghề tay trái nữa nên lên cours xong là chạy như ma đuổi. Tất niên họp mặt lớp, mấy nàng sinh viên nhào đến đòi chụp hình chung và chất vấn “Tại sao cứ tan cours là thầy chạy như mà đuổi? Thầy sợ tụi em “bắt” hả?”
Và rồi tôi bị bắt thật. Những giờ dậy Sinh ngữ doanh thương Cử nhân 3 một ngày nào đó đã đưa tôi đến chỗ chết chìm. Mười lăm phút giải lao ngồi trên bục giảng tình cờ một hôm thấy có ai ngồi đó một mình không ra sân chơi. Rồi ánh mắt chớp chớp cho tôi cái linh cảm bất thường. Mọi chuyện cũng qua đi nhưng, thú thật, tôi bắt đầu để ý. Trong lớp cả năm học vẫn ánh mắt đó mỗi khi tình cờ mắt giao nhau. Cứ vậy, cinéma không tiếng nói cho đến hết năm thứ Tư ngày tốt nghiệp. Giờ chia tay, nàng chờ dịp lại gần nói “Em chào thầy tạm biệt”. Thầy nói mong có dịp gặp lại và nàng “Vâng”. 
https://lh6.googleusercontent.com/-bC1lca0Ntks/VKRcxzekKxI/AAAAAAAABuw/1gNmHw2oT9A/w1000-h750-no/Thay%2B8.jpg
Thế là mọi chuyện an bài. Ngày ra đi tôi không còn là thầy nữa mà trở thành “Anh” sau khi ra nhà làng Sherbrooke ký giấy mang cái hàm phu quân. Là phu quân tôi được nàng cơm bưng nước rót như đã nói đến trong bài “Gã phu” tôi viết trước đây.Thời gian qua, nàng “take off” nói theo ngôn ngữ phát triển kinh tế. Tôi tự nhiên thấy đâu mất chữ “quân” mà chỉ còn chữ “phu”. Vâng, tôi chở thành phu xe lái xế cho nàng đi, kiêm phu khuân vác cả chục năm lễ mễ xách cái keyboard đi Hội Giáo chức cho thằng con đệm đàn để nàng lên trình diễn Lòng Mẹ, Tình Cầm. Và bây gìờ đây từ ngày tôi về hưu mà nàng vẫn lặn lội thân cò thì tôi trở thành phu đổ rác, mỗi ngày thứ Ba hì hục lo khuân mấy cái “bac” tổ chảng rác đen, rác composte, rác recyclage ra lề đường. Không còn cái uy phong của người thầy giáo nữa, sáng sáng mùa đông xứ lạnh muốn sóng yên biển lặng tôi còn trở thành phu hốt tuyết ra cào xe, dọn lối đi để nàng lên đường đi làm.
Cũng có những chuyện toát mồ hôi tại cái trường con đường Duy Tân này. Một hôm có một phu nhân tới gặp tôi đưa cái danh thiếp của một ông thầy tôi, kèm theo một cái tên có chữ đệm “thị” trong đó. Bà nói nhờ giáo sư giúp cho. Tôi nhỏ nhẹ thưa bài rọc phách đã chấm và nộp trường rồi nên không làm chi được. Bữa sau ra trường ráp phách tôi thỏ thẻ chuyện này với tên đồng nghiệp thân. Nó hỏi tôi tên gì và há hốc miệng. Nó lục ra bài đã ráp phách rồi hét lên “Mày đánh rớt bà thầy mày rồi”. Tôi nhìn vào thì thầy cái điểm tôi đã phê “Lạc đề: 4/20”!
Một chuyện nữa, đời lính đi thi. Tôi coi thi trong giảng đường có một sỹ quan đeo lon trung úy. Tôi ngồi trên bục cao nhìn xuống thấy có xấp giấy kẹp ở đùi. Thấy tôi rời bục đi xuống, người thản nhiên rút cây súng Colt 45 để trên bàn. Phòng thi đã yên lặng sẵn mà bây giờ nó là cái yên lặng lạnh người, nhóm thí sinh xanh mặt. Máu lính cũ hoà với máu du côn nổi lên, tôi quay lên bục mở cặp lấy khẩu rouleau 6 viên dắt vô bụng quay xuống. Tôi chìa tay xin bài.
-  Xin giáo sư tha cho, tôi ở đơn vị về.
Tôi thu bài và mời thí sinh Trung úy đi ra, chấm dứt câu chuyện tại đây vì nhớ tới cái khoan dung của thầy Vũ văn Hiền với điều 1382 Dân luật khi tôi vào vấn đáp năm xưa.
https://lh4.googleusercontent.com/-C716gSolZ30/VKRcyP1DDmI/AAAAAAAABu0/qViSg4Z2dL0/w1000-h750-no/Thay%2B9.jpg
Nhưng kỷ niệm đẹp nhất của tôi trong cuộc đời dậy học là những năm với Kinh Thương Minh Đức. Cha Bửu Dưỡng muốn dựng một đại học tại Sàigòn và giao tôi soạn thảo cái chương trình cho một phân khoa mang tên Kinh Tế Thương Mại. Đó là một phân khoa với hai ban Kinh Tế và Doanh Thương. Trường ra đời năm 1970 và phân khoa có độc nhất lớp Cử nhân 1 với 150 sinh viên mà tôi giảng dậy cái môn Kinh tế vi tiểu . Chưa hết niên học thì thay đổi viện trưởng. Cha tân viện trưởng Bạch văn Lộc giao tôi trọng trách dựng lại cái phân khoa và ban cho tôi cái chức vụ làm thầy thứ sáu của đời tôi: Giáo sư thêm cái tít Khoa Trưởng đi sau.
 Trong bốn năm làm việc tôi vừa dậy ba môn kinh tế và một môn Anh ngữ doanh thương, vừa cải tiến phát triển trường. Với tinh thần khai phóng, kiến thức mới, sự hợp tác bình đẳng keo sơn giữa đồng nghiệp, những jeunes Turcs chúng tôi và văn phòng Kinh Thương đã đưa phân khoa tứ một lớp Cử nhân 150 sinh viên năm 1970 lên con số hơn 2000 tháng Tư 1975 rồi xẩy đàn tan nghé khi Sàigòn nằm xuống.
Một chuyện cười ra nước măt lúc trường tan hàng. Hồi đó Kinh Thương Minh Đức có nhiều phân ban từ Cử nhân, Cao học và thêm một ban Cao Đẳng ba năm. Ban này đào tạo nhân viên Quản trị Văn phòng mà giai tầng hành chánh thời VN Công Hoà chúng ta người ta gọi là bí thư, bây giờ tiếng gọi bên nhà là “trợ lý” đấy. Với chế độ mới vào Sàigòn thì bí thư là ghê lắm, nhất đẳng triều đình như tổng bí thư trung ương đảng tới các vị lãnh đạo mang danh xưng bí thư thành ủy, quận ủy, xã ủy, chi ủy tùm lum với quyền hành sinh sát. Thế mà cái trường Kinh thương mắc dịch nó dám mở ban đào tạo bí thư cho Ngụy. Vậy đám bí thư này cho đi cải tạo hết, không thì cũng phải hành hạ cho tới bến. Tôi nghiệp cho các nữ sinh bi thư của tôi đâu có biết gì chính trị mà chỉ theo học cô Nga dậy trang điểm, cô Thu dậy Anh văn, cô Liên dậy gõ máy. Vậy mà mấy kiều nữ lớp quản trị văn phòng tức ”bí thư” của tôi đã bị chế độ mới một thời hành hạ mút mùa.
 Vắn số rồi nhưng vang bóng của một Kinh Thương Minh Đức vẫn còn đó cho tới hôm nay với những họp mặt kể lể chuyện xưa, tình đồng môn, tình sư đệ hai năm một lần gặp nhau từ Cali, Houston, New York, Toronto, Saigon, Úc châu và sang năm 2014 về lại Bắc Cali. Thầy trò hội ngô ngậm ngùi tiếc nối trường xưa vắn số nhưng thật cảm động với thân thương khi một anh em K1 nói “Thầy dậy tụi em chỉ một vài môn nhưng chúng em quí trọng thầy hơn vì cái viễn kiến khai phóng, cái đường lối học tập mới và nghệ thuật quản trị mà thầy và các giáo sư đã đem đến cho chúng em để bây giờ chúng em có thể tung hoành”. Tôi không còn xa cách khi hơn một lần nghe lời tâm sự “Ngày xưa lúc thấy bóng thầy ở đâu trong trường là tụi em lảng mất. Vậy mà sao bây giờ ba mươi năm sau thấy thầy trò thật gần”. Một thời dĩ vãng, tôi đã gắn bó với trường, mang một đam mê mỗi khi bước lên bục giảng và hãnh diện khi thầy lớp đàn em tròn mắt ngưỡng mộ thầy đang ba hoa những tiêu thụ biên tế, tiêu thụ trung bình, cái mô thức tăng trưởng Keynes multiplier. Ôi, nay tất cả chỉ còn là Vang bóng một thời, nói theo kiểu tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Tuân. Nên chi, trong lần hội ngộ Nam Cali 2012 tôi đã tâm sự với anh em: “Tôi nghe nói bên Pháp người ta bảo dậy học là một nghề bạc bẽo –un métier ingrat – Nhưng những lần gặp lại anh em từ ngày trường ta nằm xuống, sự thân thương ưu ái mà anh chị em cho tôi đã là nguồn hạnh phúc mà tôi có được vào lúc cuối đời...” Cái tình yêu trường cũ đó cũng đã cho tôi cảm hứng làm tới ba bài thơ con cóc cho tình sư đệ và trường xưa bến cũ.
https://lh5.googleusercontent.com/-el7G3MKTZ9g/VKRcu2cj6MI/AAAAAAAABtw/yo83wWVe7sY/w598-h337-no/Thay%2B10.jpg
Trường tan, thầy trò người kẹt lại người ra đi trong đó có tôi. Sang tới Canada Quebec năm 1975 tôi nào đâu có nghĩ đến chuyện xin làm thầy trở lại. Cho rằng mình là chuyên viên tài chánh tôi nghĩ làm ngoài lương lậu khá hơn. Nhưng đời không toàn mầu hồng như vậy. Tuần lễ thứ hai sau khi tới Montréal tôi lên Sở Di trú lãnh cái séc phụ trợ tài chánh thì ông tham vấn conseiller của tôi đưa séc kèm theo lời bàn: “Anh bằng cấp thế này mà lên xin tiền phụ trợ”. Tôi điên người quạt lại: “Anh là tham vấn của tôi, vậy trong tuần qua anh đã tìm được chỗ nào giới thiệu việc làm cho tôi chưa?”. 
https://lh5.googleusercontent.com/-3aLUuti8Wwc/VKRcu8SU-1I/AAAAAAAABu8/8CYFxO49UOk/w398-h532-no/Thay%2B11.jpg
Nhưng mà đau quá, tôi mò đi coi cái bảng giới thiệu việc làm để bắt đầu làm lại cuộc đời ở một steak house đường Décarie góc Van Horne với nghề mới toanh trong đời tôi là rửa chén, tiếng Tây kêu là plongeur. Tuần thứ ba sau khi tới Montréal tôi nhận được cái séc lương đầu tiên 145 đô la cho 36 giờ rửa chén, nhớ hồi đó lương tối thiểu độ 4 đô một giờ.
Ở đời, ai đâu biết được chữ “ngờ” nên tôi cũng không ngờ mình trở lại nghề thầy giáo lần thứ bẩy trong suốt 35 năm kế tiếp. Sau hai tháng miệt mài rửa chén, xắt rau bắp cải làm cole slaw và chùi toa lét nhà hàng, tự nhiên tôi nhận được cú phôn lạ hoắc hỏi có muốn đi dậy học ở Sherbrooke không. Ơ hay, tôi có xin việc hồi nào đâu, mà Sherbrooke ở đâu? Tôi phone lại thì được biết đó là một cégep mang tên Champlain College cách Montréal 150 km đang cần một giáo sư điền khuyết. Ông tham vấn di trú chuyến này niềm nở kiếm xe, chỉ đường cho tôi đi Sherbrooke. Sau màn phỏng vấn, ông giám đốc trường mời tôi nhận việc để bắt đầu ngay tuần tới khai giảng với lương năm là 30,000 đô. Đúng là trên trời rớt xuống, Quebec đãi kẻ tị nạn là tôi. Tôi làm toán nhân 145 đô rửa chén với 52 tuần và quyết định nhận nghề thầy giáo lần thứ bẩy của tôi cái rụp. Về sau này hỏi ra mới biết tôi không xin mà tự nhiên có việc là nhờ cái ưu ái của Di trú Quebec đã gởi CV tiểu sử của tôi đi các trường đại học nên Champlain biết tôi. Chỉ tội ông chủ Steak house vì tôi xin nghỉ ngang xương. Ông chửi thế tôi kỹ quá và hỏi bỏ việc đi đâu. Tới khi tôi nói “Đi dậy”. Ông quạt lại “Dậy rửa chén hả?”!
Những năm tháng Champlain bắt đầu đầy những xa lạ từ khung cảnh, ngôn ngữ giảng dậy, văn hoá giao lưu, tương quan thầy trò, nhu cầu tái huấn luyện, trang bị kiến thức mới. Vậy mà tất cả đã qua đi ồn ào, năng động, khó khăn trở ngại, hài hoà để tôi ở với trường đủ 35 năm cho tới ngày về hưu mới đây.
https://lh5.googleusercontent.com/-u4NFEcHhKqI/VKRcvv79QOI/AAAAAAAABvM/DgqEKbfMOcU/w1160-h477-no/Thay%2B12.jpg
Vẫn những đam mê giảng dậy, lòng kiên nhẫn, bản tính thích nghi và tinh thần cầu tiến tôi gắn bó với Champlain.
Nhớ buổi lên cours đầu tiên tôi vào lớp tự tin để đối diện với khoảng 20 cô cậu tuổi đôi mươi. Ở cái tỉnh nhỏ này khuôn mặt da vàng mũi tét hiếm lắm mà lại đi làm thầy. Ra đường câu hỏi xã giao thường bà con tỉnh lẻ giành cho tôi là  “Anh làm ở tiệm ăn Tầu nào?” vì họ đâu có biết tôi mới đây rửa chén ở Steak house. Vậy nay vào lớp lên cours xấp nhỏ có nhìn tôi cũng vậy mà thôi. Hai ông nhóc ngồi hai bàn đầu bèn gác cái chân mang giầy lên bàn thử gân ông thầy nhỏ con. Mấy em khác nhìn chăm chăm đợi coi thầy phản ứng. Đi lính rồi một là sấm sét, hai là mặt lạnh như tiền xu. Tôi chọn chiêu mặt lạnh tỉnh bơ vì tự tin ở cái kinh nghiệm dậy Kinh tế vi tiểu micro-economics của tôi cả mấy chục lần nhớ làm lòng rồi. Tôi bình tĩnh bắt đầu. Đến khi nói tới đồ thị biểu diễn số tổng thu, số thu trung bình, số thu biên tế tôi lả lướt vẽ trên bảng phấn rồi quay lại hỏi: “Các em có để ý cái hàm số biểu diễn parabole tổng thu là bậc mấy không? Và công thức đạo hàm của trực tuyến biểu diễn số thu biên tế viết ra sao? Cái đại số học này các em mới học Calculus II ở lớp 5 trung học mà. Học kinh tế hay thương mại cũng phải có tí toán đó.” Tôi đảo mắt nhìn lớp học yên lặng và ngừng lại vài giây chiếu tướng hai nhóc tì có chân để trên bàn. Từ sau đó, tôi không thấy đôi chân ấy triển lãm trên bàn nữa.
Nhập gia tùy tục, tôi và các em hai nền văn hoá khác nhau. Tôi cần nương nhẹ , thích nghi hoá để làm tròn trách nhiệm với lương tâm và đạo đức nghề nghiệp. Chế ngự được lớp học với khả năng, với đam mê và nhận diện tài năng để khuyến khích thăng tiến tôi mới tâm sự với học trò để giữ cho lớp học sinh động mà nghiêm túc và đạt kết quả. Tôi kể chuyện mình thời đi học nhận cục phấn thầy Ngà ném vào miệng, thằng bạn nhận cái tát với bức vẽ Bốn cái hoa Lan và nói : “Bên này là xứ tự do. Tôi mà làm vậy thì một là các em đập lại tôi, hai là các em đưa tôi ra toà”. Đấy là cách tôi chinh phục xấp nhỏ để làm cái nghề mà ông Tây bảo là “ingrat/unrewarding”. Nhưng bản thân tôi vẫn còn mang nặng cái văn hoá Á đông nên thật buồn khi một sinh viên bất hoà với bạn trong lớp chỉ nói một câu “Liệu hồn, ở nhà tao có súng”. Cô học trò đối tượng liền bốc phone và cảnh sát vào lớp tôi còng tay chú nhỏ đem đi.
Ở cái xứ Bắc Mỹ này cái gì gọi là riêng tư/privacy thật là thiêng liêng. Nhưng cũng có những phụ huynh theo sát, kèm cặp con cái như tôi kèm cháu Hải-Phong trước đây lười ơi là lười. Một hôm có ông gọi phone hỏi tôi điểm thi của cô con gái vì tôi là trưởng ban. Tôi nhỏ nhẹ trả lời không được. Ông năn nỉ nhưng tôi nói “không” vì cháu đã thành niên rồi, chỉ cháu mới có quyền được biết. Ông nổi xung hét trong máy dọa tôi “Nếu vậy ông sẽ biết tôi”. Tôi bình tĩnh bảo ông nghe cho kỹ là ông sinh trưởng ở đây phải biết luật rành hơn tôi. Tôi có thể báo cảnh sát là ông hăm doạ tôi ngay bây giờ nhưng tôi không làm.Tôi không làm chỉ vì thấy ông là một người cha còn lo lắng cho con. Ông cúp máy, nhưng nhẹ nhàng.
Cần lập chương trình mới Kế toán Quản Trị nên trường lại dí tôi làm Trưởng ban, chef de department vỏn vẹn trên dưới 100 sĩ số và dăm bẩy giáo chức đông nghiệp so với Kinh Thương Minh Đức một thời của tôi hơn 2000 sinh viên. Được cái, lớp học trò Tây này cũng thương tôi lắm. Ngày tôi về hưu các em cũng tiễn đưa lưu luyến lỉnh kỉnh. Biết tôi lấy vợ học trò qua những lần thầy trò tâm sự đấu láo, một cô bé xấn lên hôn má tôi và nói “Ngày xưa có cô học trò hôn ông rồi kêu ông là chéri. Hôm nay tôi hôn ông như là daddy của tôi, OK?”. Tôi giã từ Champlain College với một cái “épingle” trên ve áo gắn tới 3 cục hột xoàn và một cục đá xanh émeraude tất cả lớn bằng cái đầu tăm cho 35 năm thầy giáo Champlain.
 https://lh3.googleusercontent.com/-VIdA0ToLqBE/VKRcvg5of0I/AAAAAAAABus/hQMyQeX_qU4/w1000-h750-no/Thay%2B13.jpg
Tôi chấm hết cuộc đời thầy giáo 50 năm on-off nhưng vẫn còn những mến thương chứ không như cái nghề tay trái của tôi một thời giông bão. Nên chi tôi vẫn lẽo đẽo với cái hội Giáo Chức VN vùng Quebec chúng ta, vẫn điện thư giao hữu với các cựu đồng nghiệp Làng Anh Ngữ Quân Đội/Sinh Ngữ Quân Đội một thời binh lửa. Tôi vẫn chợt vui nhẹ nhàng với những điệp văn Happy Birthday trên Facebook của các em cựu sinh viên Champlain. Tôi cũng sung sướng hả hê nhìn ông con một thời lười ơi là lười nay cũng nối nghiệp bố làm nghề thầy giáo tỉnh lẻ cách Montréal 50 cây số. Chàng cũng yêu nghề, ngoài giờ dậy vẫn tạo những sinh hoạt ngoại vi cho xấp nhỏ học trò đi trại, chụp hình. Chả thế mà một bé đã bảo Hải-Phong “Em muốn thầy làm bố dượng của em, thầy chịu không thì em giới thiệu mẹ em!”
Và hạnh phúc nhất của tôi vẫn là hai năm mt lần hội ngộ với những đại hội của các anh chị em cựu sinh viên Kinh Thương Minh Đức. Như khi các thân hữu giáo chức của tôi đọc những giòng này trong Kỷ yếu nhân ngày kỷ niệm 20 năm Hội chúng ta thì tôi đang trong vòng tay thân quí của Kinh Thương Nam Cali để cùng nhau nhớ lại một thời vang bóng và kỷ niệm ngày vui tôi thượng thọ tuổi Giáp Tuất 80...
 https://lh6.googleusercontent.com/-2xI608NhkPM/VKRcv6UcEJI/AAAAAAAABuE/FeEJ6gT5qHw/w970-h773-no/Thay%2B14.jpg
 NGUYỄN HẢI-BÌNH
    Sherbrooke, Tháng 2-2013


Tin Tức Đại Hội KT 2019

Thư mời tham dự Đại Hội Kinh Thương 2019 tại Houston, Texas vào ngày 18, 19 và 20 tháng 10, 2019

Thông báo của ban tổ chức Đại Hội Kinh Thương

Tin từ HOÀNG TRÍ DŨNG (K3 - Houston, Texas)

Các bạn thân mến,

Ban Tổ Chức ĐHKT2019 Houston  xin gửi đến các bạn chương trình 3 ngày dại hội. Có một thay đổi về địa điểm tổ chức họp mặt Tiền Đại Hội ngày Thứ Sáu 18 tháng 10, 2019. Địa điểm mới là

Cao Trí Studio, 6200 Wilcrest, Houston, TX 77072
 
Chương trình Đại Hội Kinh Thương 2019 tại Houston

For more details, please follow the link below:

●▬▬▬▬๑۩۩๑▬▬▬▬▬●

 Đại học luật khoa trong hệ thống giáo dục Miền Nam trước 1975 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ảnh mang tính minh họa
(Trích có bổ sung trong tập san Hội Ngộ Mùa Thu Luật Khoa Kỳ X 28-9-2019 tại San Jose Hoa Kỳ)

Đỗ tú tài toàn phần năm 1964, cử nhân luật năm 1974, trở lại trường đại học tại Hoa Kỳ năm 1993, có lẽ đó là điển hình cuộc đời một số không ít sinh viên miền Nam Việt Nam Cộng Hòa của thế hệ tôi, chìm ngập trong chiến tranh.
Mặc dù là thời chiến, nhưng nền giáo dục tiểu, trung và đại học của miền Nam cũng vẫn rất nghiêm chỉnh, đâu ra đó. Và còn một điểm nữa quan trọng nhất là hoàn toàn miễn phí ở cấp tiểu và trung học và học phí hầu như không đáng kể ở bậc đại học. Bởi thế tôi là một sinh viên đôi lúc vô gia cư theo đúng nghĩa đen, và thất nghiệp, nhưng vẫn theo đuổi việc học đại học một cách liên tục và thoải mái. Thực sự ra sinh viên thất nghiệp chỉ vì muốn thất nghiệp thôi chứ đã là sinh viên thì thiếu gì việc làm; việc dễ nhất là nạp đơn vào Bộ Giáo Dục xin đi dậy cấp 2, như thế cũng được xã hội trọng vọng gọi là “thầy”. Việc ghi tên học đại học rất dễ dàng đối với ba phân khoa khoa học, văn khoa và luật khoa. Các phân khoa khác như Y, Nha, Dược, Kỹ sư Phú Thọ, Kỹ sư Nông Lâm, Đại học sư phạm và Quốc gia hành chánh thì phải thi tuyển, vì khi ra trường chắc chắn có việc làm nên tuyển sinh ít. Nhưng thi rất công bằng và không có diện nào được điểm ưu tiên hay điểm khuyến khích.
 
Vào năm 1964 của tôi, thi tú tài 2 (tương đương tốt nghiệp trung học phổ thông bây giờ) chỉ đỗ có 12% mà đã bị coi là quá dễ so với mấy niên học trước đó. Vì vậy sau khi đỗ tú tài lên sinh viên là được xã hội quí trọng. Mỗi khi đi đường, khi bị cảnh sát hỏi giấy tờ, đưa thẻ sinh viên ra là có thể được đi ngay, trừ khi họ cần xét hỏi thêm vấn đề gì khác, thí dụ vấn đề quân dịch chẳng hạn. Các học sinh đều bình đẳng như nhau, không ai được điểm ưu tiên như bây giờ. Không phân biệt con ông lớn hay con ông bé, con quân nhân, công chức hay con của những người đã tập kết ra bắc hoặc ra bưng theo Việt cộng. Chính vì vậy mới có những người tập kết hoặc từ bưng biền trở về thành phố sau 30-4-1975 thấy các người con của mình được nhà nước VNCH mà họ gọi là ngụy cho ăn học đầy đủ, thậm chí còn được cho đi du học nếu học giỏi.
 
Ngay cả khi tới tuổi nhập ngũ cũng vẫn được hưởng qui chế bình đẳng với các người khác nghĩa là có tú tài 1 trở lên (lớp 12) khi nhập ngũ sẽ được mang quân hàm sĩ quan và được thăng cấp theo qui chế giống như mọi người khác. Ví dụ rõ nhất là hai sĩ quan nổi tiếng của miền Nam là nhà văn, Đại úy Nhảy dù Phan Nhật Nam, có cha tập kết và Lý Tống, người phi công và cũng là người tù CS huyền thoại của miền Nam có anh tập kết nhưng đều được đi học văn hóa và nhập ngũ, thăng cấp bình đẳng như mọi thanh niên khác. Nếu ở trường hợp ngược lại, thì hai người này ở miền Bắc chỉ có đi cầy trên núi rừng biên giới như bao gia đình cùng hoàn cảnh sau 1954 trên đất Bắc. Các cô thầy giáo dậy trong lớp có con em mình cũng giống như dậy những học trò khác.
 
Tất cả các điểm học đều được chấm theo khả năng, không hề có chuyện thiên vị con cô, con thầy hay con đồng nghiệp so với các học sinh khác trong lớp. Tất cả các kỳ thi tú tài 1 hay tú tài 2 đều được tổ chức qui củ, công bằng, minh bạch, chẳng bao giờ có đề sai, hay chạy điểm. Thời buổi đó trên lãnh vực giáo dục hầu như ai cũng có nhân cách. Bằng cấp là giấy chứng nhận mức độ kiến thức thực sự, không như bây giờ có cả bằng tiến sĩ chạy điểm. Bởi thế sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, người sinh viên có thể nạp đơn xin làm giáo viên chính thức cấp 2 (trung học đệ nhất cấp) trường công và có đủ khả năng và tư cách để làm thầy mà chẳng cần phải qua một lớp sư phạm hay lớp huấn luyện đặc biệt nào. Thật là quái lạ tại sao ngày nay việc dậy học của các cô thầy mặc dù đã tốt nghiệp đại học sư phạm mà vẫn thường xuyên va vấp về kiến thức cũng như phương pháp giảng dậy.
 
Sau khi đỗ tú tài 2, tôi lên đại học Đà Lạt học lớp toán lý đại cương (MGP: mathematic general and physics). Đây là lớp dự bị cử nhân toán và cũng là chứng chỉ khó nhất trong các chứng chỉ thuộc phân khoa đại học khoa học, ít người dám theo học. Trong lớp tôi chỉ có 7 sinh viên, trong khi phân khoa chính trị kinh doanh có 2000 sinh viên. Mặc dù chỉ có 7 sinh viên trong đó có mấy sinh viên đã học mấy năm mà chưa đỗ nhưng cuối năm cũng chỉ đỗ có 1 sinh viên và người này cũng đã bị bầm dập 2, 3 năm ở cái lớp dự bị này. Nhưng nếu đã đỗ được chứng chỉ dự bị này thì kể như sẽ đủ khả năng để đỗ mấy chứng chỉ kế tiếp để hoàn thành văn bằng cử nhân giáo khoa toán. Học cử nhân toán là phải có một đam mê toán, suốt ngày chú tâm vào toán, suốt ngày làm bài tập và không còn sinh hoạt gì khác, do đó sau khi thi trượt cuối năm, mặc dù Linh Mục viện trưởng khuyên tôi tiếp tục ở lại học phân khoa khác và vẫn tiếp tục cho tôi học bổng, nhưng tôi cám ơn Linh mục và bỏ học bổng của Đại học Đà Lạt để về Saigon học môn khác.
 
Khi đã bỏ phân khoa khoa học thì chỉ còn 2 phân khoa là văn khoa và luật khoa. Tốt nghiệp cử nhân Văn khoa thì chỉ có đi dậy học các môn văn, sử, địa, hay triết. Nếu là cựu học sinh trường Tây để có khả năng nói tiếng Pháp như gió thì có cơ hội thi vào ngạch tham vụ ngoại giao để đi làm ở các tòa đại sứ ở ngoại quốc. Tôi là dân học sinh trường Việt (Chu Văn An) nên tiếng Anh và Pháp không đủ khả năng để mơ vào ngành đó. Trong khi đó học luật có nhiều cơ hội làm việc và thăng tiến hơn. Với bằng cử nhân luật có thể làm luật sư, chánh án, biện lý (Viện Kiểm Sát bây giờ), công chức hạng A, là ngạch cao nhất trong hệ thống công chức ở các bộ kinh tế, tài chánh, hay ngân hàng, chưa kể có khi “gặp thời” lại có thể làm chính khách (!).
 
Do đó tôi chọn ghi danh học luật. Bỏ học bổng, về Saigon chưa có việc làm, nhà cửa cũng không, tôi tới trụ sở Tổng hội Sinh viên số 4 đường Duy Tân (bây giờ là nhà Văn Hóa Thanh Niên TP số 4 Phạm Ngọc Thạch), trú ngụ trong một phòng tập trung khá đông sinh viên tạm dùng chữ “lang bạt” thuộc nhiều phân khoa. Dĩ nhiên mọi phòng ốc của trụ sở đều dành cho tất cả mọi sinh viên, nhưng căn phòng tôi ở tập trung đa số sinh viên trong nhóm chúng tôi hơn. Trụ sở sinh viên này trước kia là trụ sở chơi Bun của người Pháp. Sau khi quân đội đảo chánh lật đổ tổng thống Diệm, các tướng lãnh hỏi sinh viên muốn gì thì ban đại diện tổng hội sinh viên thời đó mà anh Lê Hữu Bôi làm chủ tịch cho biết muốn có trụ sở sinh viên tại đó.
 
Thế là sinh viên Saigon có trụ sở để hoàn toàn tự do muốn làm gì thì làm, muốn học hành, tổ chức văn nghệ, hội họp v…v chẳng bị ai kiểm soát, chỉ đạo. Điện nước được cung cấp miễn phí suốt ngày. Trụ sở lại có một ông lao công phụ trách dọn dẹp. Gia đình ông này được ở trong một căn nhà trong khuôn viên nên được lợi nữa là mở quán bán hàng ăn uống, cà phê cho sinh viên. Mỗi sáng sinh viên hay tụ tập tại đây ăn sáng. Trong số sinh viên thời đó có nhiều sinh viên nổi tiếng như Trần Lam Giang (văn khoa, hiện ở Sacramento, Hoa Kỳ), Dương Cự (luật khoa, qua đời tại VN) v…v Tất cả các sinh viên tại đó đều trước sau tốt nghiệp đại học, đảm nhiệm nhiều chức vụ trong quân đội hay hành chánh miền Nam và hiện nay nhiều người đã tiếp tục thành công tại Hoa Kỳ, đặc biệt là giới bác sĩ.
Kết quả hình ảnh cho Đại học luật khoa trong hệ thống giáo dục Miền Nam trước 1975 photos
 
Chính tại trụ sở của Tổng hội Sinh Viên này mà Trịnh Công Sơn lần đầu tiên được Tổng hội giới thiệu trước công chúng sinh viên với tập Ca Khúc Da Vàng. Mọi người đứng chật gian phòng trong ánh đèn mờ mờ bị cuốn hút một cách ngạc nhiên lời ca và lối trình diễn đơn giản, du ca của nhạc sĩ họ Trịnh. Tôi đỗ năm thứ nhất đại học luật khoa Saigon niên khóa 1965-66. Mặc dù từ trụ sở Tổng hội sinh viên số 4 Duy Tân rất gần trường, đi bộ qua một block đường là tới, nhưng tôi chỉ tới trường dường như vài lần vì sinh viên trong lớp quá đông, muốn có ghế phải nhờ bạn tới sớm giữ chỗ trước. Vì được ghi tên tự do nên năm thứ nhất thường đông nhất. Năm đó dường như trên dưới 10 ngàn sinh viên (?).
 
Nhưng cuối năm số ghi tên đi thi chắc chắn ít hơn nhiều. Dĩ nhiên đa số sinh viên đã đi làm hoặc ở xa không thể tới trường. May mắn là trong lớp có một số sinh viên chịu khó ghi chép chăm chỉ lời giảng của thầy, trình thầy duyệt và điều chỉnh rồi quay roneo bán lại cho sinh viên, giá rất rẻ, cho nên các sinh viên không tới trường vẫn có đủ bài học. Cũng nên nói thêm, trong đại học VN XHCN ngày nay, người sinh viên bị đối xử như trẻ vị thành niên, bị điểm danh, theo dõi mọi sinh hoạt từ học tập tới đời sống riêng tư ngoài đại học và bị đánh giá hạnh kiểm để cho kết quả học tập.
 
Trái lại, Đại học miền Nam là Đại học Tự Trị, và chỉ là nơi giao giảng kiến thức chứ không có một nhiệm vụ gì khác đối với sinh viên, cho nên người sinh viên được đối xử như những con người trưởng thành, bình đẳng, tự do, và ham học hỏi. Họ tới trường nghe các giáo sư giao giảng kiến thức mà thôi, ngoài ra họ không lệ thuộc các giáo sư và viện trưởng hay hội đồng trường trên bất cứ lãnh vực nào. Các giáo sư cũng chỉ lo một việc duy nhất là giao giảng kiến thức và đánh giá kiến thức của sinh viên một cách tự do, độc lập, và công bằng, không bị một áp lực bởi bất cứ từ đâu. Với nguyên tắc Đại học tự trị như vậy nên mặc dù là sinh viên học từ xa nhưng trong vấn đề học tập và thi cử hoàn toàn giống với tất cả mọi sinh viên khác. Điều này khác xa với các hệ học tại chức, chuyên tu của Xã hội chủ nghĩa là hai hệ học tập được ưu đãi nâng điểm và nhiều ưu đãi khác giúp giảm nhẹ kiến thức rất nhiều so với hệ chính qui. Bắt đầu từ năm nay, 2019, luật giáo dục mới lại qui định trong văn bằng cử nhân không ghi rõ hệ đào tạo, có nghĩa là anh dốt (chuyên tư hay tại chức) với anh được đào tạo chính qui cũng lẫn lộn như nhau. Đúng là nền giáo dục “vàng thau lẫn lộn”.
 
Tôi ghi danh trường luật Saigon năm 1965 với chương trình cử nhân 3 năm. Năm 1966 sau khi đỗ năm thứ nhất tôi phải đi dậy học xa, không tiếp tục học được. Mỗi năm có hai kỳ thi, đầu hè và cuối hè. Mặc dù số sinh viên năm thứ nhất rất đông nhưng trong kỳ thi đầu hè chỉ có 200 sinh viên đỗ thi viết. Sau khi vào vấn đáp chỉ đỗ được 100. Như vậy cứ cho là kỳ cuối hè sẽ có thêm 100 sinh viên nữa thì tổng cộng lên năm thứ 2 chỉ có khoảng 200 sinh viên là tối đa. Sau hai năm nữa mài đũng quần trên ghế nhà trường, số tốt nghiệp cử nhân luật sẽ chỉ hơn 100 người. Nếu tính thêm đại học luật Huế thì mỗi năm miền Nam cho ra lò không quá 200 cử nhân. Khoảng năm 1986, thời kỳ đổi mới, tái lập đại học luật và ngành luật sư, nhà nước mở lớp triết Mác Lê ở miền Tây cho những ai có bằng cử nhân luật của miền Nam theo học để ra làm luật sư, tôi hỏi công an văn hóa quản chế tôi là tôi muốn theo học thì anh ta trả lời ngay, lý lịch của anh không được theo học đâu. Báo chí tổng kết khóa học đó chỉ còn có 500 cử nhân và 7 cựu giáo sư tiến sĩ. Tất cả 7 vị cựu giáo sư đại học luật miền Nam đó, trong đó có GS Nguyễn Mạnh Bách, đều đang sinh sống bằng nghề tay chân (mà tôi quên mất là nghề gì) trong đó nghề nhàn hạ nhất là thợ may!
 
Năm 1967 tôi bị động viên vào trường sĩ quan Thủ Đức. Tiếp tục 3 năm nữa gián đoạn việc học, tôi trở lại trường đại học luật Huế niên khóa 1970-71 và đỗ năm thứ 2 để lên năm thứ 3. Nhưng nay bằng cử nhân đã đòi hỏi 4 năm, cho nên tôi còn phải học thêm 2 năm nữa. Thời gian đó tôi làm việc ở Bộ Tư Lệnh Quân đoàn I đóng ở Đà Nẵng, nên ra học ở Huế tôi vẫn không thể tới lớp mà chỉ lấy bài về nhà học, cho nên mãi năm 1974 tôi mới tốt nghiệp cử nhân luật 4 năm. Như vậy tôi vừa là quân nhân, vừa là sinh viên học từ xa nhưng khác với kiểu đào tạo đại học của VNXHCN ngày nay, những sinh viên diện như tôi vẫn không có bất cứ một đặc ân nào mà hoàn toàn phải thi cử bình đẳng như tất cả các sinh viên toàn thời gian khác. Ở năm thứ nhất và thứ hai thì còn nhiều quân nhân ghi tên học. Nhưng tới năm thứ ba và thứ tư thì số sinh viên giảm bớt nên kèm theo số sinh viên quân nhân cũng ít đi nhiều, vì thời gian của họ eo hẹp.
 
Vào năm thứ tư, lớp tôi có hai vị sĩ quan cao cấp, một vị là trung tá Báu (?) trưởng một phòng quan trọng của Sư Đoàn 1 không quân và vị kia là trung tá Hoàng Mão, một sĩ quan nổi tiếng khóa 20 Đà Lạt, trung đoàn trưởng trung đoàn 54/ SĐ 1. Trung tá Báu thỉnh thoảng trao đổi tài liệu học với tôi vì ông cũng ở xa và gặp khó khăn về việc tìm bài vở như tôi. Trung tá Mão tôi biết rất bận với trách nhiệm của một trung đoàn trưởng tác chiến nên tôi rất hâm mộ ý chí học tập của ông. Hai vị sĩ quan cao cấp này đi học chỉ hoàn toàn nhằm mục đích hiểu biết cá nhân, vì cho dù có thêm bằng cử nhân luật thì hai vị cũng vẫn không thể dùng để thăng cấp hay thăng chức.
 
Riêng Tr/Tá Hoàng Mão có cho tôi biết đi học để sau này nếu có cơ hội đi làm tỉnh trưởng thì kiến thức cử nhân luật sẽ hữu ích cho ông. Trung Tá Mão là đơn vị trưởng, có nhiều phương tiện nhà binh nên thỉnh thoảng giúp trường một số việc liên quan tới xây dựng, dọn dẹp hay chở sinh viên đi cắm trại (đấy là tôi nghe kể vậy.) Nếu nhìn sơ qua có thể nghĩ rằng Tr/Tá Mão làm vậy sẽ được trường giúp đỡ. Nhưng thực sự không phải vậy. Ông vẫn bị trượt vào khóa 1 năm 1974 và chỉ đậu vào khóa 2.
 
Sau này hỏi ông việc học tập, ông cho biết, vì là sĩ quan cho nên vì uy tín, ông còn phải học nhiều hơn bất cứ sinh viên bình thường nào. Trường hợp tôi cũng vậy, chẳng ai hứa hẹn và cũng chẳng có tiêu chuẩn nào ưu đãi điểm cho một sĩ quan đi học. Ở Đại học miền Nam, việc đi học là việc hoàn toàn cá nhân, không một cơ quan nào gửi nhân viên đi học đại học. Từ câu chuyện của Tr/Tá Mão và kinh nghiệm bản thân tôi nhớ lại rằng như vậy Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH khi đi học đại học Văn khoa Saigon chắc chắn vì uy tín của một cấp tướng như vậy ông cũng phải học cật lực để không bị coi thường. Vả chăng, giáo sư đại học ở Miền Nam là giới chức có nhiều uy tín và độc lập với chính quyền.
 
Chính quyền không thể chỉ thị hay áp lực một Viện trưởng, khoa trưởng hay giáo sư đại học nào nâng đỡ một cá nhân nào một cách bất công. Với cá nhân tôi, có trường hợp GS Nguyễn Mạnh Bách, người hướng dẫn luận văn tốt nghiệp cho tôi. Nguyên GS Bách là bạn học của anh họ tôi là LS Nguyễn tường Bá. Tôi thỉnh thoảng thấy ông thời sinh viên tới học với anh họ tôi, nhưng ông không biết tôi. Vào kỳ thi vấn đáp năm thứ tư môn Dân luật, sau khi tôi ngồi trước mặt ông, ông hỏi tôi có liên hệ gì với LS Nguyễn tường Bá không (vì ông thấy tôi trùng họ Nguyễn tường). Tôi trả lời LS Bá là anh họ tôi. Sau đó ông im lặng cho tôi bốc thăm câu hỏi. Sau khi bốc thăm, tôi trả lời mạch lạc, liên tục khoảng hơn 5 phút thì xong. Phải nói khách quan, không ai có thể trả lời hơn. Lúc xuống lại ghế ngồi, mấy bạn cùng lớp thấy tôi trả lời suông sẻ quá nên hào hứng hỏi tôi được mấy điểm. Tôi trả lời: Ông ấy nói “Anh trả lời giỏi lắm, tôi cho anh 10 điểm”! Mấy người bạn tôi lè lưỡi. Dưới 10 điểm là trượt rồi. Tôi đã thuộc bài như cháo và trả lời suông sẻ mà chỉ đủ điểm đỗ, thì trả lời thế nào mới được hơn 10 điểm? Chính vì lối giáo dục nghiêm khắc của đại học miền Nam như vậy mà hiện nay tôi vẫn còn đủ kiến thức pháp lý để viết những bài nghiên cứu pháp lý đăng trên báo mạng mà tôi dám tự hào (là luật gia VNCH) nhập đề “Viết để giảng dạy cho giới lãnh đạo tư pháp, giới luật sư, các giáo sư và viện trưởng đại học Luật Việt Nam XHCN”; bởi vì nếu quí bạn đồng môn theo dõi hoạt động tư pháp tại Việt Nam sẽ nhận thấy họ quá dốt so với chúng ta.
 
Nhưng để có được tài liệu học tập như vậy, ở đại học Luật Huế không có cours roneo. Mỗi tháng khoảng 3 cuối tuần tôi phải xin tháp tùng trực thăng hành quân ra Huế. Trực thăng sẽ đáp trên khoảng đất trống bên sông Hương, đối diện trường Quốc học để những người đi nhờ như tôi xuống, trước khi trực thăng bay vào phi trường Thành Nội trực chiến. Như vậy mỗi lần tôi có hai ngày tới thăm mấy cô sinh viên để mượn vở của họ. Dĩ nhiên tôi phải làm quen mấy cô sinh viên có ghi chép đầy đủ và chữ đẹp. Chiều hôm sau Chủ Nhật, tôi lại đón trực thăng hành quân bay về Đà Nẵng. Chắc quí bạn cũng biết phải tin tưởng lắm mấy cô mới cho mượn vở mang về nhà ở tận Đà Nẵng. Ban ngày tôi đi làm, vợ tôi ở nhà chép lại mấy cuốn vở đó cho tôi. Cũng may là vợ tôi chữ cũng đẹp. Suốt mấy năm trời, đột nhiên một hôm vợ tôi thấy sao toàn vở của mấy cô. Tôi cười giải thích, chỉ mượn vở mấy cô mới dễ, khi đó tôi phải cất đi chiếc nhẫn hôn nhân. Bây giờ không biết các người đẹp đó nơi đâu? Cho tôi xin một lần nữa đa tạ!
 
Nguyễn Tường Tâm
 
 
Xem thêm...

Nhất Linh: Linh hồn của Tự lực văn đoàn

Nhất Linh:

Linh hồn của Tự Lực Văn Đoàn

✧✧✧

Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam

(1906-1963)

Nhất Linh tên thật là Nguyễn Tường Tam là một nhà văn xuất chúng, lại là một chiến sĩ cách mạng lỗi lạc chống thực dân và chống Cộng Sản độc tài…

Anh sinh năm 1905, là người con thứ ba trong một gia đình 7 người, trong đó có :

-Nguyễn Tường Thụy,

-Nguyễn Tường Cẩm (bị Việt Minh thủ tiêu năm 1947),

-Nguyễn Tường Long (tức Hoàng Đạo mất năm 1948 tại Quảng Đông),

-Nguyễn Thị Thế, Nguyễn Tường Lân (tức Thạch Lam),

và tôi là con út, hiện còn sống sót.

Gia đình chúng tôi lúc đó tại một huyện lỵ nhỏ, huyện Cẩm Giàng, vì bố mất sớm, nhà rất nghèo, do mẹ và bà ruột tần tảo duy trì. Do gia cảnh, chúng tôi từ nhỏ được tiếp xúc với cảnh bùn lầy nước đọng, nghèo cùng cuả nông dân, ảnh hưởng đến suy nghĩ và viết văn sau này, với tính chất bình dân, vị tha, không ưa những thứ quyền qúy, trưởng giả, và ghét danh lợi, mấy đặc điểm cuả Tự Lực Văn Đoàn sau này.

Bà nội và mẹ chúng tôi đều là Phật tử chân thành. Những câu "Đời là bể khổ", "Cửa Phật từ bi" đã thấm vào đầu óc người Việt Nam. Có thể triết lý này đã có ảnh hưởng đến tình thương bàng bạc trong các tác phẩm cuả Nhất Linh, Thạch Lam.

Tờ báo Phong Hóa

Những mâu thuẫn trong các gia đình hồi đó gây ấn tượng không ít cho Nhất Linh, vì anh là người có phản ứng nhạy cảm nhất đối với hiện trạng và biến chuyển cuả xã hội. Anh là con người đi tiên phong trong suy nghĩ và trong hành động. Vì thế có thể nói anh là người đi trước thời đại, anh có nhiều sáng kiến, có óc sáng tạo và biết biến suy nghĩ thành hành động.

Một mặt, khác với nhiều người chỉ đi theo danh lợi cá nhân, anh hoạt động hoàn toàn vì lý tưởng, vì muốn làm cho xã hội tốt đẹp hơn, cho người dân sống được dễ chiụ hơn.

Muốn hiểu rõ Nguyễn Tường Tam, thiết tưởng cần phải nhận thức rằng vào thời đại đó, có ba trào lưu nổi bật trong xã hội Việt Nam. Thứ nhất là trào lưu dân tộc độc lập mà cao điểm là cuộc khởi nghĩa Yên Bái, hai là trào lưu cải cách xã hội, đòi phê phán những truyền thống phong kiến bảo thủ và khắc nghiệt, đòi tự do phóng khoáng cho con người, ba là trào lưu cải cách văn học, rời bỏ những thứ giáo điều, gò bó, sáo rỗng, đi tới một nền văn nghệ tự nhiên, nhân đạo và trong sáng hơn.

Năm 1932, cùng một số anh em, anh sáng lập tờ báo Phong Hóa có thể gọi là mở một thời kỳ mới trong văn học. Cùng với số nhà văn tài hoa, anh thành lập Tự Lực Văn Đoàn, đánh dấu sự phồn thịnh văn học. Năm 1935, tờ Ngày Nay được xuất bản. Năm 1936, anh khởi xướng Phong Trào Ánh Sáng xây dựng nhà rẻ tiền cho người nghèo.

Cùng với những hoạt động bận rộn trên, anh đã viết một số tiểu thuyết và truyện ngắn, mà tiêu biểu là cuốn "Đoạn Tuyệt", đều có giá trị văn chương và xã hội rất cao. Sức làm việc của anh khó có ai bì được.

Độc giả và các giới xã hội đều hoan nghênh cả các tác phẩm và hoạt động của anh.

Nhưng dù đã đạt tới điểm cao cuả danh vọng, anh cũng quyết tâm dấn mình vào cuộc đời cách mạng gian nan và đầy chông gai. Năm 1938, cùng với một số bạn hữu, anh thành lập đảng Đại Việt Dân Chính.

Năm 1941, do Pháp khủng bố, anh phải chạy sang Trung Quốc, kết hợp với Việt Nam Quốc Dân Đảng, và hợp tác với cụ Nguyễn Hải Thần. Năm 1945, tháng 11, anh trở về Hà Nội, tổ chức hàng ngũ quốc gia chống lại Việt Minh Cộng Sản.

Vì tình thế thúc đẩy, tháng 2 năm 46, anh giữ chức Bộ Trưởng Ngoại Giao trong chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến. Nhưng từ tháng 4-46, hai bên phá liệt, anh lại sang Trung Quốc, lưu vong một lần nữa.

Năm 1947, vì phản đối việc thoả hiệp với Pháp, anh ở lại HongKong cho tới 1951, vì sức khoẻ yếu, anh về nước, với dự tính chỉ hoạt động về văn học. Nhưng tới 1959, anh lại tham dự Mặt Trận Quốc Dân Đoàn Kết, chủ trương chống độc tài, xây dựng tự do dân chủ.

Việc này đưa đến kết cuộc bi thương là ngày 7-7-1963, anh uống thuốc ngủ tự sát, một ngày trước khi phải ra toà. Lúc đó, tôi ở ngoại quốc, nghe tin dữ, cũng chỉ biết khóc thầm cho người anh thân yêu, từ nay vĩnh biệt.

Cuộc đời thực là đặc biệt, thực là đầy đủ cuả một anh tài kiệt xuất của đất nước. Ít có một tài năng và có công lao toàn diện về cả mặt văn học cũng như cách mạng như Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Chúng ta có thể tự hào về đức tính và sự nghiệp của anh.

Song, những thất bại và đau thương của Nguyễn Tường Tam cũng phản ảnh thất bại và đau thương của dân tộc. Ngày nay, những đau thương thương đó vẫn còn, dưới chế độ chuyên chế độc đảng.

Trong lúc kỷ niệm quá khứ, điều quan trọng nhất là cần phải gắng sáng tạo một tương lai mới, với sự đồng lòng nhất chí không phân biệt chủng tộc, địa phương, tôn giáo, già trẻ, để đấu tranh trong một vận hội mới của dân tộc.

Đó chính là cách kỷ niệm tốt nhất về Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và tất cả các vị tiền bối đã dấn thân và hy sinh cho đại cuộc.

Những nét đáng chú ý 

Năm 1933, Nhất Linh thành lập Tự Lực Văn Đoàn gồm có:

-Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam)
-Khái Hưng (Trần Khánh Giư), còn gọi là Nhị Linh
-Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long)
-Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân)
-Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu)
-Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ)

Sau này có thêm Xuân Diệu, Trần Tiêu (em của Khái Hưng), Nguyễn Tường Mạnh và một số nhà văn khác cộng tác chặt chẽ như: Trọng Lang, Huy Cận, Thanh Tịnh, Đoàn Phú Tứ.

Tác phẩm văn học gồm có:

-Tiểu thuyết: Gánh hàng hoa (cùng Khái Hưng, 1934) Đời mưa gió (cùng Khái Hưng, 1934) Nắng thu (1934) Đoạn tuyệt (1934-1935) Lạnh lùng (1935-1936) Đôi bạn (1936-1937) Bướm trắng (1938-1939) Xóm cầu mới (1949-1957). Trường thiên, viết dở dang. Giòng sông Thanh Thủy (1960-1961). Trường thiên, tác phẩm cuối cùng, gồm ba tập: Ba người bộ hành, Chi bộ hai người , Vọng quốc.

-Tập truyện: Nho phong (1924) Người quay tơ (1926) Anh phải sống (cùng Khái Hưng, 1932 - 1933) Đi Tây (1935) Hai buổi chiều vàng (1934-1937) Thế rồi một buổi chiều (1934-1937) Thương chồng (1961).

-Tiểu luận: Viết và đọc tiểu thuyết (1952-1961)

----------

  Viễn Sơn Nguyễn Tường Bách

           Trích từ

"Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh"

 

Nhất Linh và Tự Lực văn đoàn

Tự Lực Văn Đoàn thành lập vào trung tuần tháng 7/1933, gồm toàn bộ nhân viên toà soạn báo Phong Hoá:  Nhất Linh, Khái Hưng, Tứ Ly (Hoàng Đạo), Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ.

Mặc dù là người quyết đoán, ông không bao giờ lạm dụng uy thế một ông bầu và một ông chủ báo, hay cố giữ một “khoảng cách” với người cộng sự, như hầu hết các ông chủ báo cốt dùng tờ báo để khoe danh và thăng quan tiến chức. Ông hòa hợp mật thiết với anh em, nhận số lương ngang như anh em, gánh vác tất cả mọi việc không khác gì anh em.

Nhất Linh đã biết đoàn kết cả nhóm lại trong một ý hướng chung do mình xướng xuất, biết truyền niềm say mê mãnh liệt của mình cho người khác, nhất là có con mắt tinh đời, biết khơi gợi đúng thiên hướng của từng người để mỗi tác giả trong văn đoàn trở thành một cây bút chuyên biệt nổi danh về một thể loại.

Như Khái Hưng, được ông khuyến khích chuyển từ lối viết luận thuyết trên các báo Văn học tạp chíDuy tân (dưới bút danh Bán Than) sang viết tiểu thuyết. Tú Mỡ được ông gợi ý chuyên làm thơ trào phúng. Trọng Lang được ông cổ vũ đi hẳn vào phóng sự còn Thế Lữ dưới con mắt Nguyễn Tường Tam phải là người mở đầu cho “thơ mới”…

Có ai ngờ được rằng bấy nhiêu lời chỉ bảo tưởng chừng bâng quơ như thế cuối cùng đều có một đáp án chính xác: chỉ sau chưa đầy 3 năm kể từ ngày thành lập, Tự lực văn đoàn nghiễm nhiên là một hàn lâm văn học sang trọng, phát ngôn cho mọi chuẩn mực giá trị của văn học được công chúng xa gần thừa nhận.

Và mỗi thành viên của nó cũng nghiễm nhiên đóng vai trò ông tổ của cái hình thức sáng tác mà Nhất Linh đã phó cho mình cầm chịch.

Không ai còn có thể tranh ngôi vị cây bút tiểu thuyết tài danh của Khái Hưng. Nói đến giọng thơ trào phúng kế sau Tú Xương ai cũng phải nhường Tú Mỡ. Còn Thế Lữ thì được cả làng “thơ mới” thừa nhận là chủ soái thi đàn.

Cũng không thể quên Thạch Lam với những kiệt tác truyện ngắn trữ tình mà về sau ít người sánh kịp. Và Xuân Diệu, người tiếp bước Thế Lữ đem lại sự toàn thắng cho “thơ mới”, phổ vào thơ cái ma lực của những cảm xúc đắm say quyến rũ.

Nhất Linh - Nghệ sĩ đa tài

Nhất Linh trước hết là một nhà văn. Ông còn là nhà văn luôn luôn tìm tòi không ngừng, không mỏi.

Thời Tự lực văn đoàn, vừa cho ra mắt một loạt tiểu thuyết luận đề làm cả một thế hệ thanh niên mê thích, ông lại thoắt chuyển sang dạng tiểu thuyết không cốt truyện, lấy việc phân tích các biến thái tâm lý nhân vật làm chủ điểm (Đôi bạn), rồi lại thoắt chuyển sang dạng tiểu thuyết khơi sâu vào những miền khuất tối, không dễ nhận biết của cái “tôi”, cái thế giới bí mật nhất trong mỗi con người, kể cả sự mò mẫm vô thức trên quá trình cái “tôi” phân thân, tự hủy, ít nhiều mang dáng dấp hiện sinh (Bướm trắng)...

Trong rất nhiều tác phẩm nổi tiếng của Nhất Linh,

 Đôi bạn đem lại cho độc giả nhiều ấn tượng.

Câu chuyện, xúc cảm, nhân vật, khung cảnh, tất cả đều bao trùm một màu sắc đẹp đẽ vô cùng thanh thản, dễ chịu và nó sẽ khiến một tấm lòng dịu dàng lại. Dĩ nhiên, cái buồn bã bao trùm ở cuốn tiểu thuyết này cũng là một đẹp đẽ ướt đẫm được biện giải bằng một thứ văn phong óng ánh, tươi tốt như nắng ban mai, vừa có nét đưa đẩy gợi cảm, lại điềm đạm như lời thầm thì tự sự.

Chất nội tâm chảy trôi, êm đềm lại khắc khoải của các nhân vật, đặc biệt là Dũng, được Nhất Linh tỏ bày bằng thứ văn chương khoan thai nhàn nhã. Đôi bạn chú trọng vào những “dòng ý thức” của nhân vật, diễn tả tâm lý sâu xa, chứ không còn lưu tâm nhiều đến kịch tính cốt truyện như trong những tác phẩm trước đây của Nhất Linh là Đoạn tuyệt hay Đời mưa gió... 

Không chỉ là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng,

Nhất Linh còn là một nhà thơ, một họa sĩ tài năng.

Ít ai biết được trước khi đến với văn chương, Nhất Linh từng là sinh viên khóa đầu tiên của trường Mỹ Thuật Hà Nội. Bạn cùng lớp với ông có Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh, Lê Văn Đệ,Mai Trung Thu, Lê Ang Phan… những người mà sau nầy được xem là lớp họa sĩ tiền phong cho nền hội họa Việt Nam hiện đại.

Mặc dù sau năm 1929 Nhất Linh không sống về nghề vẽ như một họa sĩ chuyên nghiệp nhưng lòng mê say hội họa của ông vẫn theo ông cho đến cuối đời. Ông dùng tài vẽ của mình, theo từng giai đoạn, hoặc để làm báo, hoặc vẽ theo cảm hứng.

Với báo Phong Hóa và Ngày Nay trước kia ông ký tên Ðông Sơn và sau này với Văn Hóa Ngày Nay ông ký tên Nhất Linh trên những bức vẽ. Có một số bức họa rất nổi tiếng của ông như Cảnh phố chợ Đông Phương, hay Cúc xưa...

Sinh thời, nhiều người vẫn nói, kỹ thuật viết văn của Nhất Linh bị chi phối và chịu ảnh hưởng nhiều bởi lối viết của Lev Tolstoi, nhưng với Nhất Linh cuốn tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại là cuốn Đồi gió hú của Emily Brontë. Đây cũng là cuốn tiểu thuyết duy nhất ông dịch trong đời. Ngay cả lúc quyên sinh, ông cũng nằm cạnh cuốn sách này.

Đúng như di chúc Nhất Linh để lại, đời ông lịch sử sẽ phán xét. Thế nhưng ông đã tự nhận ra rằng: trong cuộc đời của mình, Nguyễn Tường Tam đã thất bại khi làm chính trị, chỉ còn một nhà văn Nhất Linh sống mãi trên văn đàn Việt Nam.

 

"Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội những phần tử quốc gia đối lập là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản. Vì thế tôi tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu là để cảnh cáo những ai chà đạp mọi thứ tự do."

(Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam)

Đoạn văn trên là bức thư tuyệt mệnh Nhất Linh viết ngày 7/7/1963 trước khi dùng độc dược từ giã cõi đời để phản đối chính sách được coi là “đàn áp Phật Giáo” của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông tự sát một ngày trước khi bị chính phủ đem ra xét xử, ngày 8/7/1963.

Diễn biến chính trị trong năm 1963 đã dẫn đến sự cáo chung của nền Đệ nhất Cộng hòa, qua đó hai anh em ông Diệm – Nhu đã bị hạ sát trong một cuộc đảo chính ngày 1/11/1963 của Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Cái chết của Nhất Linh cũng được coi là “giọt nước tràn ly” trong tình hình chính trị vào thời điểm đó.

Ngày nay, các nhà sử học vẫn còn những ý kiến “trái chiều” về chính phủ của Tổng thống Diệm. Ông có “công” hay có “tội” vẫn còn tùy thuộc vào chính kiến và sự nhận xét của từng cá nhân người viết sử. Tuy nhiên, mọi người đều có chung một suy nghĩ: cái chết của Nhất Linh năm 1963 là một hành động “phi thường” của một con người can trường trong cuộc tranh đấu cho tự do.

 

Trong tác phẩm Đoạn Tuyệt (1934), Nhất Linh lấy chủ đề là sự xung đột giữa Cũ và Mới. Ông đã để cô Loan nói lên một quan niệm hoàn toàn mới về gia đình, cụ thể là cảnh “mẹ chồng, nàng dâu”:

“Mẹ chồng ác thì đi chỗ khác mà ở, chồng ghét thì lại càng nên đi lắm. Khổ là vì cứ tưởng mình là thân con gái thì phải lấy gia đình chồng làm gia đình mình, nếu mất gia đình ấy là đời mình bỏ đi. Sao lại thế được. Mình sống, muốn sống thì không thể một mình mình sống được sao, nếu cái gia đình kia không cho mình được sung sướng. Sao đàn ông họ bỏ vợ này lấy vợ khác lại là sự thường?”

Khi thành lập “Tự lực văn đoàn”, Nhất Linh chỉ có một mục đích duy nhất là tập họp những người đồng chí hướng trong văn giới để cổ súy những tư tưởng mới. Văn phong của TLVĐ hoàn toàn theo phong cách “bình dân” nhưng đó lại là lối hành văn chuẩn mực.

Tôn chỉ của nhóm có ghi: “Ca tụng những nết hay vẻ đẹp của nước nhà mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả qúy phái”. Cũng vì thế, giáo dục trong suốt thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa tại Miền Nam, TLVĐ được coi là “khuôn vàng, thước ngọc” cho các học sinh.

Tác phẩm “Đoạn Tuyệt”

Ta hãy đọc lại đối thoại “rất đời thường” giữa Loan và Dũng trước khi Loan đi lấy chồng trong Đoạn Tuyệt. Dũng là người mà Loan yêu nhưng gia đình cô không chấp nhận:

“- Năm nay cô nhất định thôi học?

Loan đáp:

- Nào có ở em mà em định. Em muốn học nữa nhưng nhà không cho.

- Vì cớ gì thế cô?

Ngập ngừng, Loan đáp:

- Vì... vì em không còn ở nhà. Ra giêng có lẽ em...

Loan ngừng lại nhìn Dũng nhưng thấy Dũng nét mặt không có gì đổi khác. Dũng ôn tồn nói:

- À, cô sắp sửa phải về ấp Thái Hà. Khi nào có tin mừng tôi sẽ về...

- Thế ra anh đã biết?

- Vâng, tôi biết từ lâu. Tôi vẫn đợi, nhưng không ngờ rằng sắp đến ngày cô về nhà chồng, tôi lại phải đi xa. Nhưng thế nào tôi cũng phải cố về để mừng cô.

 

Loan mặt nóng bừng, hai con mắt nhìn Dũng có vẻ căm hờn. Nghẹn nào, nàng bảo Dũng:

- Nhưng anh đã biết đâu là một tin mừng. Đối với em không phải là tin mừng.

Thấy vẻ mặt ngơ ngác của Dũng, Loan nói tiếp:

- Vì thầy me bắt ép em.”

(hết trích)

Cơ quan ngôn luận của “Tự Lực văn đoàn” là tuần báo Phong Hóa (1932-1936) và Ngày nay (1935-1940). Ngoài ra, văn đoàn còn có nhà xuất bản Đời Nay để tự xuất bản sách của mình.

Ban đầu, nhóm chỉ có 6 thành viên chính thức là những nhà văn nổi tiếng một thời: Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ), và Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu). Về sau còn kết nạp thêm nhà thơ Xuân Diệu.

Bên cạnh đó còn có những “cộng tác viên”, các nhà văn, nhà thơ Huy Cận, Trọng Lang, Đoàn Phú Tứ, Đỗ Đức Thu, Trần Tiêu, Thanh Tịnh, Phạm Cao Củng, Nguyễn Khắc Hiếu, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Đinh Hùng, Nguyễn Công Hoan, Vi Huyền Đắc, Nguyễn Tường Bách...

Trong những năm 1937- 1939, tờ Ngày Nay lại trở thành một cơ quan chính trị với những bài xã luận đanh thép của Hoàng Đạo, đề cập đến những vấn đề cấp thiết của thời đại. Ngoài ra, đây cũng là nơi “Tự Lực văn đoàn” cổ động cho Phong trào Ánh Sáng với mục đích cải tạo nếp sống ở nông thôn.

Ngoài việc viết văn, Nhất Linh còn hoạt động trong lãnh vực hội họa và ông cũng đã kết bạn với các họa sĩ Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Cát Tường (Le Mur), Lê Minh Đức… Trên Phong Hóa, ông tạo ra hai nhân vật để “châm biếm” là Lý Toét và Xã Xệ. Những hí họa này luôn tạo tác dụng đả phá cái cũ để xây dựng một xã hội mới đến người đọc thời đó.

Lý Toét – Xã Xệ

Xã Xệ là một ông xã trong làng với thân hình “béo tốt” còn Lý Toét là một ông già nhà quê, giữ chức lý trưởng nên được gọi là Lý. Cụ Lý bị “đau mắt hột” từ bé nên mắt mũi kèm nhèm, như viền vải tây mà ta gọi là “mắt toét”. Nhập hai chữ Lý và Toét vào nhau thành tên chứ Lý Toét không phải là tên cúng cơm, bố mẹ đặt cho.

Lý Toét ra tỉnh: “Quái, người ta chôn ai mà đào dài vậy??”

Bản thân nhà văn Nhất Linh còn là một họa sĩ và đến ngày nay một số tác phẩm của ông đã được giới thưởng ngoạn quốc tế đón nhận một cách trân trọng qua những cuộc bán đấu giá tranh quốc tế.

Tháng 10/2010, một họa phẩm hiếm quí của Nhất Linh, bức “Cảnh Phố Chợ Đông Dương” (Scène de Marché de rue Indochinois) đã được bán đấu giá tại Hồng Kông với giá khởi đầu 25.000-32.200 Mỹ kim. Trong phần giới thiệu Nhất Linh và tác phẩm, Sotheby’s Hồng Kông viết:

“Bạn cùng lớp với ông có Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh, Lê Văn Đệ, Mai Trung Thu, Georges Khán, Công Văn Trung và Lê Ang Phan, những người mà sau này được xem là tầng lớp họa sĩ tiền phong cho nền hội họa Việt Nam hiện đại.”

Bức tranh “Cảnh Phố Chợ Đông Dương”

(Scène de Marché de rue Indochinois) được đấu giá tại Sotheby’s

Để kết thúc bài viết này, chúng tôi trở lại câu chuyện Nhất Linh trong vai trò một nhà hoạt động chính trị. Ông là người sáng lập Đại Việt Dân chính Đảng năm 1939, từng làm Bí thư trưởng của Việt Nam Quốc dân Đảng khi hai đảng hợp nhất vào năm 1945.

Nhất Linh chạy sang Quảng Châu và hoạt động trong Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội để chống Pháp dù trước đó (năm 1927) ông đã từng du học và tốt nghiệp Cử nhân Khoa học Giáo khoa tại Pháp.

Sau khi quân của Tưởng Giới Thạch vào Việt Nam, đầu năm 1946 Nguyễn Tường Tam trở về Hà Nội, tổ chức hoạt động đối lập với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 3/1946, sau khi đàm phán với Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, ông giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao.

Vì những bất đồng chính kiến với chính phủ, ông không dự Hội nghị Fontainebleau đàm phán với Pháp dù được cử đứng đầu phái đoàn Việt Nam. Thay vào đó, ông lưu vong sang Trung Quốc tháng 5/1946 và ở lại Hồng Kông cho tới 1951.

Khi Nguyễn Tường Tam rời bỏ chính phủ, ông bị coi như “đào nhiệm” cộng thêm tội “biển thủ công quỹ” (tiền chi phí cho phái đoàn sang Pháp). Tuy nhiên, theo sử gia David G. Marr, việc này “rất khó xảy ra” vì ông không thể nào được giao trách nhiệm giữ tiền của phái đoàn.

Năm 1951, Nguyễn Tường Tam về nước, mở nhà xuất bản Phượng Giang, tái bản sách của Tự Lực Văn Đoàn, và tuyên bố không tham gia các hoạt động chính trị nữa. Năm 1953, Nguyễn Tường Tam lên sống tại Đà Lạt cho đến năm 1958.

Về Sài Gòn, ông chủ trương giai phẩm “Văn hóa Ngày Nay” nhưng chỉ phát hành được 11 số thì bị đình bản. Nhất Linh ủng hộ cuộc đảo chính của Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông nhưng cuộc đảo chính thất bại, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm giam lỏng tại nhà riêng.

Thái độ “chùm chăn” của Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam được thể hiện qua bức tranh “Vịnh tấm chăn len Chí Hòa” nhưng cuối cùng cũng dẫn đến bi kịch tự sát trong ngày “song thất” (7/7/1963). Lời thơ được ghi trong bức tranh như sau:

 

“Một tấn chăn len khám Chí Hòa

Ấy ai vượt ngục mới đem ra,

Tù nhân tặng kẻ “chùm chăn” kín

Tuy mỏng nhưng mà cũng ấm da”

 

Bức tranh “Vịnh tấm chăn len Chí Hòa” của Nhất Linh

Thi thể của Nhất Linh được khâm liệm tại Nhà thương Grall, ngày 12/7/1963. Đoàn xe tang đi qua các đường Mạc Đĩnh Chi, Phan Đình Phùng, Bà Huyện Thanh Quan, để rồi ghé lại chùa Xá Lợi vào hồi 10g45. Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm, một người bạn thân của Nguyễn Tường Tam, kể lại:

“Đám tang thật là đơn giản, nhưng vô cùng ảm đạm, trang nghiêm. Khi khởi hành từ bệnh viện Grall, số người tham dự còn thưa thớt, nhưng dần dần mỗi lúc một đông. Phần nhiều là thanh niên, học sinh, sinh viên, giới trí thức.

Có rất đông phóng viên, ký giả ngoại quốc, nam có, nữ có, có mặt trong đám táng để chụp ảnh hoặc để quay phim. Họ chịu khó biên chép tất cả những câu viết trên các đối trướng rồi nhờ người dịch sang tiếng Anh. Họ lại còn ghi âm tất cả những lời khóc than kể lể của chị Nhất Linh.”

“Đoàn xe tiến về đường Phan Thanh Giản, rẽ sang đường Hai Bà Trưng rồi chạy về Gò Vấp. Có hàng trăm chiếc xe, xe đạp lẫn xe gắn máy, trên mỗi xe có hai người, phần đông là thanh niên, học sinh, sinh viên, có cả ký giả ngoại quốc nữa, băng băng đi theo sau, hoặc đi trước, hoặc ở hai bên xe tang. Ngay cả trên nóc xe hơi cũng có người nữa. Hàng phố, từ đường Hai Bà Trưng trở đi, đổ xô ra xem.

“Một điều đáng ghi nhận là từ chùa Xá Lợi trở đi, không có một ngã tư nào là không có nhân viên công lực đứng, không phải để giữ an ninh trật tự, mà trái lại, để cố tình cắt quãng đoàn xe tang, làm sao cho số người tham dự đừng đông đảo.

“Và khi tới nghĩa trang Gò Vấp, liếc nhìn chung quanh, ai nấy đều có một cảm giác nặng nề, ghê rợn, dường như bao phủ bởi một bầu sát khí đằng đằng: chỗ này một tốp người vận quân phục, chỗ kia một tốp, với súng trường, súng lục, tiểu liên, lựu đạn… Tôi tự hỏi, chẳng hay họ chuẩn bị như vậy để bảo vệ ai, hoặc để giết ai ở một nơi hoang vu, tĩnh mịch và tôn nghiêm này?”

-------

Nguyễn Ngọc Chính

Lễ cầu siêu cho Nhất Linh tại chùa Xá Lợi

***

= Kim Quy sưu tầm =

Xem thêm...

Thi sĩ Du Tử Lê, tác giả của ‘Khúc Thụy Du,’ qua đời, hưởng thọ 77 tuổi

Thi sĩ Du Tử Lê, tác giả của " Khúc Thụy Du "

  qua đời, hưởng thọ 77 tuổi

Image result for Thi sĩ Du Tử Lê từ trần

Báo Người Việt ở California cho hay thi sĩ Du Tử Lê vừa qua đời lúc 8 giờ 6 phút tối thứ hai 7 tháng 10 năm 2019 tại Garden Grove, California ở tuổi 77.

Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Hà Nam, miền Bắc Việt Nam. Sau khi Hiệp định Genève được ký kết (1954), ông di cư vào Nam cùng với gia đình. Ban đầu, ông định cư ở Hội An và sau đó ở Đà Nẵng. Năm 1956, ông vào Sài gòn, học trường Trần Lục, Chu Văn An, rồi vào Đại học Văn khoa. Ông làm thơ rất sớm, khi đang còn học tại trường tiểu học Hàng Vôi tại Hà Nội. Sau khi di cư vào Nam, ông bắt đầu sáng tác nhiều bài thơ với nhiều bút danh khác nhau. Bút danh Du Tử Lê được dùng chính thức lần đầu tiên vào năm 1958 cho bài thơ “Bến tâm hồn”. đăng trên tạp chí Mai.
Ông là sĩ quan của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, làm phóng viên chiến trường, là thư ký tòa soạn cuối cùng của nguyệt san Tiền Phong và là giáo sư dạy giờ cho một số trường trung học tại Sài gòn. Năm 1973, ông được trao Giải thưởng Văn chương Toàn quốc, bộ môn Thơ, với tác phẩm “Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972”.

Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông di tản, sống tại Garden Grove, miền Nam California (Mỹ). Vào thập niên 1980-1990, thơ ông xuất hiện trên tờ Los Angeles Times và tờ The New York Times. Ông cũng có thơ được dịch trong tuyển tập “Understanding Vietnam”, cuốn sách giáo khoa về văn học Việt Nam dành cho nhiều trường đại học ở châu Âu. Ông cũng là một trong 6 nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20 có thơ dịch in trong tuyển tập “World poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time” (1998).

Tac gia 'Khuc thuy du' qua doi o tuoi 77 hinh anh 1

Các tác phẩm:
– Thơ Du Tử Lê (1964)
– Năm sắc diện năm định mệnh (1965)
– Tình khúc tháng mười một (1966)
– Tay gõ cửa đời (1970)
– Chung cuộc (cùng viết với Mai Thảo, 1969)
– Mắt thù (1969)
– Ngửa mặt (tiểu thuyết, 1969)
– Vốn liếng một đời (1969)
– Qua hình bóng khác (tiểu thuyết, 1970)
– Mùa thu hoa cúc (sách thiếu nhi, 1971)
– Sân trường mắt biếc (sách thiếu nhi, 1971)
– Chú Cuội buồn (sách thiếu nhi, 1971)
– Hoa phượng vàng (sách thiếu nhi, 1971)
– Một đời riêng (1972)
– Khóc lẻ loi một mình (1972)
– Chấm dứt luân hồi em bước ra (1993)
– Thơ tình (1996)
– Chỉ như mặt khác tấm gương soi (thơ 1997)
– Trên ngọn tình sầu (tập tuỳ bút, 2011)
– Xương, thịt đời sau, máu rất buồn (tuỳ bút, 2012)
– Biệt khúc (thơ, 2013)
– Tuyển tập thơ Du Tử Lê (2013)
– Giỏ hoa thời mới lớn (2014)
-Tuyển tập thơ “Khúc Thụy Du,” PhanBooks xuất bản (2018)
-Tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu” Saigon Books xuất bản (2018)
-Tuyển tập tùy bút “Giữ Đời Cho Nhau” II, PhanBooks xuất bản (2018).

Nhà thơ Huy Tưởng có nhận định về tình yêu trong cõi thơ của Du Tử Lê: “Trong cõi nhân sinh của Du Tử Lê, tình yêu là nữ hoàng, là thánh nữ, là bảo ngọc, là trân châu, và chỉ con người thi sĩ mới dám sống và chết cho tình yêu ấy”.

Năm 1983, nhạc sĩ Anh Bằng đã chọn một số câu thơ trong bài thơ “Khúc thụy du” của nhà thơ Du Tử Lê để phổ nhạc thành ca khúc “Khúc thụy du”, một trong hai nhạc phẩm ký tên Anh Bằng mà nữ ca sĩ Ngọc Minh cho là sẽ còn mãi với thời gian (nhạc phẩm kia chính là “Anh còn nợ em”). “Khúc thụy du” được trình bày lần đầu tiên bởi nam ca sĩ Việt Dzũng là ca khúc giản lược nội dung một bài thơ rất dài về không khí xáo động của những ngày Tết Mậu Thân và một mối tình vô vọng với một thiếu nữ ở Sài gòn. Du Tử Lê đã kể về thời điểm sáng tác bài thơ và duyên may khiến cho bài thơ này được phổ nhạc:
“Khi biến cố Tết Mậu Thân 1968 xảy ra cũng là lúc cuộc tình của tôi và một nữ sinh viên Trường Dược ở Sài gòn cũng khởi đầu. Đầu tháng 3 năm 1968, tôi được chỉ định đi làm phóng sự về một tiểu đoàn thủy quân lục chiến đang giải tỏa khu Ngã tư Bảy Hiền. Lúc đó, cả thành phố Sài gòn vẫn còn giới nghiêm. Trên đường đi, từ Cục Tâm lý chiến ở đầu đường Hồng Thập Tự (Nguyễn Thị Minh Khai bây giờ), gần cầu Thị Nghè tới khu Ngã tư Bảy Hiền, đường xá vắng tanh. Khi gần tới ngã tư Bảy Hiền, ngoại ô Sài gòn, tôi thấy trên đường đi còn khá nhiều xác chết. Đó là những xác chết không toàn thây bị cháy nám; rất khó nhận biết những xác chết là dân chúng, binh sĩ hay chiến binh Cộng sản… Trên đường về, khung cảnh hoang tàn, đổ nát với xương thịt người vung vãi khắp nơi cùng với mùi người chết sình thối khiến tôi muốn nôn oẹ, một lần nữa lại gây chấn động dữ dội trong tôi…

Nhà thơ Du Tử Lê. Ảnh: Nguyễn Đình Toán. 
Giữa tháng 3 năm 1968, nhà văn Trần Phong Giao, thư ký tòa soạn tạp chí Văn, gọi điện thoại hỏi tôi có thể viết cái gì đó cho Văn số tục bản. Gọi là “tục bản” bởi vì sau số Xuân, khi biến cố mùng 1 Tết xảy ra, báo Văn ngưng xuất bản. Lý do là các nhà phát hành không hoạt động. Đường về miền Tây cũng như đường ra miền Trung bị gián đoạn. Sài gòn giới nghiêm. Tuy nhiên, ông hy vọng ít ngày nữa, giao thông sẽ trở lại. Thêm nữa, không thể để Văn đình bản quá lâu. Sau khi nhận lời đưa bài cho Trần Phong Giao, tôi mới giật mình hốt hoảng. Tôi nghĩ, giữa tình cảnh ấy, tôi không thể đưa ông một bài thơ tình hay một chuyện tình mặc dù thơ tình hay chuyện tình là lãnh vực của tôi thuở ấy. Nhưng tôi thấy nếu tiếp tục con đường quen thuộc kia, tôi sẽ không chỉ không phải với người đọc mà tôi còn không phải với hàng ngàn, hàng vạn linh hồn đồng bào, những người chết tức tưởi, oan khiên vì chiến tranh nữa…
Cuối cùng, gần hạn kỳ phải đưa bài, nhớ lại những giờ phút ở ngã tư Bảy Hiền, tôi ngồi xuống viết bài thơ ghi lại những gì mục kích trên đường đi. Viết xong, tôi không tìm được một nhan đề gần sát với nội dung. Bài thơ dài trên 100 câu. Nhưng khi Văn đem đi kiểm duyệt, Bộ Thông Tin đục bỏ của tôi gần 1/ 3 bài thơ. Thời đó, tôi viết tay, không có bản phụ, nên sau này khi gom lại để in thành sách, tôi không có một bản nào khác ngoài bản in đã kiểm duyệt trên Tạp chí Văn.
Thời gian ra đời của bài thơ cũng là khởi đầu của cuộc tình giữa tôi và một sinh viên Đại học Dược khoa… Tôi lấy một chữ lót trong tên gọi của người con gái này cộng với chữ đầu bút hiệu của tôi làm thành nhan đề bài thơ. Bài thơ ấy sau đó tôi cho in trong tuyển tập “Thơ Du Tử Lê (1967-1972). Cuối năm, tập thơ được trao giải thưởng Văn chương toàn quốc, bộ môn thi ca (1973). Năm 1983, tôi cho tái bản tập thơ này sau khi được một độc giả du học tại Mỹ trước năm 1975 cho lại.
Một buổi tối, nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi ở quán cà phê Tay Trái (tọa lạc ngay ngã tư đường Trask và Fairview). Ông nói ông mới phổ nhạc bài “Khúc thuỵ du”. Ông cho tôi quyền chọn người hát. Ông nhấn mạnh: “Tôi có thể chỉ cho người đó hát…”
Thời gian đó, trong số bằng hữu giúp tôi điều hành quán cà phê Tay Trái có nhạc sĩ Việt Dzũng. Lúc nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi cũng là lúc Việt Dzũng có mặt, đang chuẩn bị cho chương trình ca nhạc buổi tối. Tôi giới thiệu hai người với nhau.
Khi ca khúc “Khúc thụy du” ra đời dưới dạng cassette với tiếng hát của Việt Dzũng, tôi mới biết nhạc sĩ Anh Bằng chỉ lọc lựa một số câu thơ liên quan tới tình yêu mà không lấy một câu thơ nào nói một cách cụ thể về chiến tranh, chết chóc… Chết chóc hay chiến tranh được hiểu ngầm như một thứ background mờ nhạt. Từ đó đến nay, thỉnh thoảng vẫn còn có người lên tiếng phản đối sự giản lược nội dung bài thơ của tôi vào một khía cạnh rất phụ: khía cạnh tình yêu trong ca khúc “Khúc thụy du”. Nhưng hôm nay, sau mấy chục năm, nhìn lại, tôi thấy Anh Bằng cũng có cái lý của ông…”

Bài thơ “Khúc thụy du” của Du Tử Lê:
KHÚC THỤY DU
1.
như con chim bói cá
trên cọc nhọn trăm năm
tôi tìm đời đánh mất
trong vụng nước cuộc đời
như con chim bói cá
tôi thường ngừng cánh bay
ngước nhìn lên huyệt lộ
bầy quạ rỉa xác người
(của tươi đời nhượng lại)
bữa ăn nào ngon hơn
làm sao tôi nói được
như con chim bói cá
tôi lặn sâu trong bùn
hoài công tìm ý nghĩa
cho cảnh tình hôm nay
trên xác người chưa rữa
trên thịt người chưa tan
trên cánh tay chó gặm
trên chiếc đầu lợn tha
tôi sống như người mù
tôi sống như người điên
tôi làm chim bói cá
lặn tìm vuông đời mình
trên mặt đất nhiên lặng
không tăm nào sủi lên
đời sống như thân nấm
mỗi ngày một lùn đi
tâm hồn ta cọc lại
ai làm người như tôi ?
2.
mịn màng như nỗi chết
hoang đường như tuổi thơ
chưa một lần hé nở
trên ngọn cờ không bay
đôi mắt nàng không khép
bàn tay nàng không thưa
lọn tóc nàng đêm tối
khư khư ôm tình dài
ngực tôi đầy nắng lửa
hãy nói về cuộc đời
tôi còn gì để sống
hãy nói về cuộc đời
khi tôi không còn nữa
sẽ mang được những gì
về bên kia thế giới
thụy ơi và thụy ơi
tôi làm ma không đầu
tôi làm ma không bụng
tôi chỉ còn đôi chân
hay chỉ còn đôi tay
sờ soạng tìm thi thể
quờ quạng tìm trái tim
lẫn tan cùng vỏ đạn
dính văng cùng mảnh bom
thụy ơi và thụy ơi
đừng bao giờ em hỏi
vì sao mình yêu nhau
vì sao môi anh nóng
vì sao tay anh lạnh
vì sao thân anh rung
vì sao chân không vững
vì sao anh van em
hãy cho anh được thở
bằng ngực em rũ buồn
hãy cho anh được ôm
em, ngang bằng sự chết
tình yêu như ngọn dao
anh đâm mình, lút cán
thụy ơi và thụy ơi
không còn gì có nghĩa
ngoài tình anh tình em
đã ướt đầm thân thể
anh ru anh ngủ mùi
đợi một giờ linh hiển
(3-1968)

Lời của ca khúc “Khúc thụy du”:
“Hãy nói về cuộc đời
Khi tôi không còn nữa
Sẽ lấy được những gì
Về bên kia thế giới
Ngoài trống vắng mà thôi
Thụy ơi và tình ơi !

Như loài chim bói cá
Trên cọc nhọn trăm năm
Tôi tìm đời đánh mất
Trong vũng nước cuộc đời
Thụy ơi và tình ơi !

Đừng bao giờ em hỏi
Vì sao ta yêu nhau
Vì sao môi anh nóng
Vì sao tay anh lạnh
Vì sao thân anh rung
Vì sao chân không vững
Vì sao và vì sao !

Hãy nói về cuộc đời
Tình yêu như lưỡi dao
Tình yêu như mũi nhọn
Êm ái và ngọt ngào
Cắt đứt cuộc tình đầu
Thụy bây giờ về đâu?”

Ca khúc “Khúc thụy du” với giọng ca Tuấn Ngọc (hát live trong chương trình "Riêng một góc trời"):
https://youtu.be/jbxc3GcQRYE

Ca khúc “Khúc thụy du” với giọng ca Tuấn Ngọc (trong CD "Áo lụa Hà Đông" của Trung tâm Diễm Xưa):
https://youtu.be/nlPckWHBypA

Ảnh: Nhà thơ Du Tử Lê và tập thơ “Khúc Thụy Du”

 ********

Từ những góc khuất: Việt Dzũng

 Du Tử Lê

Đó là sáng Thứ Sáu, ngày 20 tháng 12-2013. Như thường lệ, chúng tôi gặp nhau ở café Tài Bửu. NH. Phương tiếp tục kể chuyện Phương Dung và đêm trước anh em tập trung ở nhà một bạn học cũ. NB. Hòa nói về chuyến bay về phương đông, đã cận kề…Tôi hỏi thăm NL. Vỵ, tin Khánh Minh, sau khi người nữ có nhiều bài thơ khá tốt trong thời gian gần đây, té ngã, phải vào nhà thương, vì một phần xương bánh chè bị bể. Và, Thiên Hương, cô chủ quán dài lâu của café Tao Nhân – – Một thời là “địa chỉ Thơ”; điểm hẹn quen thuộc của nhiều sinh hoạt VHNT ở quận hạt Orange County nhiều thập niên, đang ở nhà thương, chưa có ngày về. Vỵ giải tỏa phần nào mối bận tâm của tôi bằng hai “short briefs”…Sau đó, Vỵ gọi cho Sơn, người bạn đời của Thiên Hương, khi tôi ngỏ ý muốn đi thăm Thiên Hương trong bệnh viện. Tôi nói, từng nằm bệnh viện nhiều ngày, tháng, nên rất hiểu giá trị của mọi cuộc thăm viếng… Vỵ gọi cho Sơn và, chuyển máy… Sơn kể, lần này, các bác sĩ phát hiện Thiên Hương bị một cục bướu đè lên ống dẫn mật. Đã mấy ngày qua rồi, nhưng bệnh nhân và thân nhân vẫn còn chờ kết quả các thử nghiệm, nhất là kết quả biopsy để biết bướu lành hay ưng thư, trước khi quyết định có cần giải phẫu? Sơn nói, Thiên Hương đang nằm ở Orange Coast Memorial Hospital, thành phố Huntington Beach, phòng số…

Chúng tôi chia tay nhau sớm, khi gió giở chứng, đem thêm nhiều lưỡi dao buốt giá, liếc qua, liếc lại thân thể chúng tôi, ngoài hành lang nhà hàng Tài Bửu. Tôi lái xe về, với nỗi buồn không hy vọng có ngày sẽ thành quen thuộc: Nỗi buồn mỗi cuối năm / Quê người / Nhẩm tính người còn, kẻ mất. Và, luôn luôn câu hỏi cuối cùng ở tôi, vẫn là “khi nào tới phiên ta”?

Đó là lúc 10:50AM (vẫn Thứ Sáu 20 tháng 12-2013), T. gọi cho tôi, báo tin Việt Dzũng không còn nữa!!! Khi tôi đang xếp hàng chờ trả tiền đổ xăng. Tai tôi ắp đầy những âm thanh nhọn hoắt…Câu nói ngắn của T. bị chẻ nát, thành những tiếng lạc lõng. Giống như những dội sóng ì ầm, đứt đoạn. Không thật. Người đàn bà Mễ đứng sau quầy tính tiền tỏ dấu khó chịu thấy tôi không nói gì. Có thể chị ta không (hay đã)nhận ra vẻ thất thần trên mặt tôi!?!

Cây xăng tôi dừng lại hôm đó, nằm ngay ngã tư Brookhurst và Trask. Chỉ cần chạy thêm vài trăm thước là đường Garden Grove, rẽ tay mặt, cũng chỉ vài trăm thước thôi, đài truyền hình SBTN nằm bên trái, SBTN. Nơi VD phải lui tới hàng ngày, không chỉ một lần; đôi khi nhiều hơn, vì nhu cầu công việc. Tôi nghĩ, chỗ tôi đứng, vòi xăng tôi đang dùng, nhiều phần cũng là chỗ và vòi xăng VD đã từng đứng. Từng dùng. Từng chờ đợi. Trong tôi, một ý nghĩ hoang tưởng vụt đến: Biết đâu chốc lát sẽ có người đặt tay lên vai mình. Nói, theo thói quen “Dzũng đây anh!” Và, “Cậu Út” (1) sẽ vẫn nụ cười trẻ thơ, gương mặt bụ bẫm, rất “babyface” cải chính: “Tin đồn đó anh. Dzũng chưa chết đâu! Dzũng còn nhiều việc phải làm mà anh ..!”

Cho tới khi dời cây xăng, vẫn không một bàn tay đặt lên vai tôi. Cũng chẳng có tiếng nói nào, dù thì thầm với riêng tôi.

Đó là lúc 7 giờ tối (vẫn Thứ Sáu 20 tháng 12-2013): Tôi không biết mình đã nhận được bao nhiêu điện thoại?!? Khởi đầu là điện thoại của NH. Phương.

Nhiều lần. Tôi biết Phương muốn nói gì. Tôi không nghe. Tôi không muốn nghe lại cái điệp khúc “Việt Dzũng mất rồi!” hay, “Việt Dzũng chết rồi!” đã lùng bùng trong tôi hơn nửa tiếng trước.

Nhưng khi Nguyệt Hạnh, rồi Topaz Trần, Lê Văn Hào (Houston), Phiến Đan, Lâm Lý Trí, Đỗ Vẫn Trọn, từ Việt Nam, Pleiku, Trần Thu Miên từ Boston, Mass.… gọi…thì tôi nghe. (2) Họ không gọi để thông báo hay, hỏi tôi có biết tin Việt Dzũng mất. Họ gọi để bày tỏ những bàng hoàng, bất ngờ và, nỗi buồn quá lớn, trước sự “đi xa” đột ngột của Dzũng.

Ở từng vị trí quá khứ, mỗi người khua thức trong tôi, những cảnh đời mà, họ đã có chung với tôi và Dzũng. Chúng như những hòn than dĩ vãng cháy bỏng và, nỗi muộn phiền là mặt bên kia của một thời rực rỡ!

Tiếng nói lạc giọng của Topaz Trần ném tôi trở lại những ngày đầu thập niên 1980s. Đó là những buổi tối, nơi phòng khách căn nhà nhỏ đường Ranchero Way, Garden Grove, Việt Dzũng ôm đàn hát gần như tất cả những ca khúc có trong băng nhạc “Kinh Tỵ Nạn”. Chúng tôi sững người. Đứng tim. Khi nghe Dzũng hát bằng giọng của mình, những ca khúc như “Một chút quà cho quê hương”:

“Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá
Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay
Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may
Mẹ may hộ con tim gan quá đoạ đầy.

“Gởi về cho chị dăm ba xấp vải
Chị may áo cưới hay chị may áo tang
Gởi về cho em kẹo bánh thênh thang
Em ăn cho ngọt vì đời nhiều cay đắng.

“Con gởi về cho cha một manh áo trắng
Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây
Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy
Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình.

“Em gởi về cho anh một cây bút máy
Anh vẽ cuộc đời như ước vọng mong manh
Gởi về cho mẹ dăm gói chè xanh
Mẹ pha hộ con nước mắt đã khô cằn”. (3)

Hay “Lời kinh đêm”:

“Lời kinh đêm ôi lời kinh đêm.
Lời kinh buồn như tiếng mẹ thở dài.
Ai có nghe thấu lời kinh khổ,
Sao cúi mặt gục đầu ngủ quên.

“Trời mong manh ôi đời lênh đênh.
Thuyền bấp bênh cuộc sống mơ hồ…
Lời kinh cầu từng ngày quen thuộc
Lời mẹ buồn giữa tiếng Nam-mô.

“Thuyền trôi xa về đâu ai biết
Thuyền có về ghé bến tự do.
Trời cao xanh hay trời oan nghiệt.
Trời có buồn hay trời chỉ làm ngơ.

“Trời chơ vơ ôi người bơ vơ.
Người vẫn ôm mảnh ván rũ mục.
Lời kinh cầu từng hồi nấc nghẹn.
Lời mẹ buồn giữa tiếng Amen.

“Người buông xuôi về nơi đáy nước
Người có mộng một nấm mộ xanh.
Biển ngây ngô hay biển man rợ
Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ”. (4)

Tôi nhớ, tôi đã yêu cầu Dzũng hát lại nhiều lần, hai ca khúc vừa kể. Riêng “Lời kinh đêm” Dzũng phải hát lại không dưới 3 lần.

Tôi yêu tất cả những ca khúc của Dzũng trong “Kinh tỵ nạn” tới độ, hai ngày sau, tôi mời thêm một số bằng hữu tôi quý, trong số đó, có Topaz Trần, để nghe “Người buông xuôi về nơi đáy nước / Người có mộng một nấm mộ xanh / Biển ngây ngô hay biển man rợ / Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ”?

Thời gian này, cũng là thời gian chúng tôi mới khởi sự thực hiện nguyệt san Nhân Chứng (NC) mà, linh hồn của phần kỹ thuật, sắp chữ bằng máy IBM (quả cầu, bỏ dấu tay) là Việt Dzũng.

Thời gian này, quận hạt Orange County có rất ít nhà hàng. Một trong những nhà hàng thuộc hạng sang, là nhà hàng Pagoda, ra đời, tọa lạc gần ngã tư Harbor và Garden Grove. Một buổi trưa, Topaz Trần mời tôi đến ăn để ủng hộ chị Nicole, chủ nhà hàng. Ba ngày sau, tôi trở lại, cũng buổi trưa với Việt Dzũng, chị Nicole cho tôi biết, Topaz Trần dặn chị, bất cứ lúc nào tôi đến, thì đừng lấy tiền và ghi vào “chương mục riêng của Topaz…” Tôi nhờ chị Nicole nói lại với Topaz, ngoài tôi, nếu có thêm Việt Dzũng thì có OK? Ít tiếng sau, Topaz gọi cho tôi ở tòa soạn, nói, ai chứ Việt Dzũng thì Topaz vui lắm, để được mời vào “account” riêng của Topaz ở Pagoda.

Đấy là thời khởi đầu huy hoàng của Topaz Trần trong lãnh vực địa ốc. Đấy cũng là thời gian nữ ký giả Connie Chung của nhật báo Register (không biết có phải qua sự giới thiệu của Topaz?) ngỏ ý muốn phỏng vấn Việt Dzũng cho tờ Register. (5) Dzũng nhận lời và, chúng tôi “nhất trí” chọn Pagoda để Dzũng trả lời phỏng vấn với tư cách Nhạc sĩ kiêm Tổng thư ký tòa soạn NC. Vì, chúng tôi không muốn Connie Chung thấy được “thực trạng” nghèo nàn tới đáng xấu hổ, của cái gọi là tòa soạn NC, thuở đó.

viet_dzung_03-content

Như một vài thân hữu khác, Topaz Trần trở thành “thành viên” của nhóm NC rồi Tuần báo Tay Phải (TP). Khi thời gian cho phép, đôi lần Topaz cũng cùng chúng tôi đi…“lưu diễn”.

Nói tới “lưu diễn”, tất cả chúng tôi đều trông vào Việt Dzũng, một trong vài yếu tố quyết định sự thành bại của các chuyến đi dù gần hay xa.

Cũng ngay từ những tháng khởi đầu của thập niên 1980s, Dzũng đã ủng hộ ý kiến, đem tờ NC đến với người đọc. Khi chúng ta không có một phương tiện quảng bá nào khác. Tôi lãnh nhiệm vụ liên lạc với nhà thơ Phạm Kim, đại diện NC ở thành phố Tacoma, tiểu bang Washington. (6) Bạn tôi sốt sắng nhận lời! Chúng tôi hào hứng “lên kế hoạch” với “mũi nhọn” chính là Việt Dzũng. Để thêm phần “rậm đám”, chúng tôi rủ Quỳnh Như ngâm thơ, Cao Đông Khánh đọc thơ. (7) Đoàn Vững thổi sáo. Tôi lo việc giới thiệu Nhân Chứng và, TN lo tất cả những việc không tên còn lại…

Thời đó, chưa có máy photocopy, cộng đồng Việt cũng chưa có một phương tiện truyền thông nào, từ báo chí, tới phát thanh…Phạm Kim phải tới một nhà in của người Mỹ để nhờ in flyers, đem gửi tại một vài địa điểm bán thức phẩm Á Đông! Và, dù mưa gió sập sùi suốt thời gian “gánh hát” chúng tôi có mặt tại Tacoma, nhưng sự thành công của chúng tôi với mấy trăm đồng bào ngồi chật hội trường nhà thờ Tin Lành đường King, đã vang dội tới Seattle. Khiến nhà văn Huy Quang – Vũ Đức Vinh, chủ nhiệm tờ Đất Mới, liên lạc, mời chúng tôi đến Seattle, nói chuyện và trình diễn tại trụ sở Hội Thân Hữu Việt – Mên- Lào, Seattle…(8)

Đi đến đâu, Dzũng cũng được đồng bào các giới chào đón, như một biểu tượng thương yêu của người tỵ nạn. Có thể nhiều người không biết rằng, bên cạnh những “kinh tỵ nạn”, tình ca quê hương, Việt Dzũng cũng có khá nhiều tình khúc. Từ những tình khúc nhẹ nhàng, xây trên nền quê hương khuất bóng, như “Tôi muốn mời em về”, tới những tình khúc viết về tình yêu đôi lứa – – Trong số này, cũng không ít những ca khúc đậm dấu đoạn lìa, chia tan… Điều này cũng dễ hiểu. Bởi căn bản, Dzũng vẫn là một người trẻ, lại cực kỳ nhậy cảm…

Việt Dzũng thường chỉ hát những tình khúc nghiêng nặng cảm thức lứa đôi trong những trường hợp đặc biệt, với số bằng hữu thật giới hạn. Lý do, Dzũng muốn mọi người ghi nhận một hình ảnh về Việt Dzũng thôi. Đó là hình ảnh Việt Dzũng của nhạc quê hương, tỵ nạn và đấu tranh. Dzũng nói, Dzũng không muốn ai thấy hình ảnh yếu đuối, ủy mị của Dzũng. Dù ở đời thường, Dzũng rất dễ chảy nước mắt…

Trong sinh hoạt riêng tư, tôi và Lãm (một người bạn của tôi thưở đó), từng chứng kiến đôi lần những giọt nước mắt của Dzũng, ngập ngưng lăn khỏi đôi mắt trẻ thơ, trên khuôn mặt rất “babyface” ấy. Đó là thời điểm của cuộc tình Dzũng và BeBe HA ở giai đoạn mới chớm…

Tôi nhớ, cuộc tình Việt Dzũng / BeBe HA bắt đầu vào khoảng giữa năm 1985, khi Lãm giới thiệu BeBe HA với tôi, mục đích để BeBe HA tiếp tay, phát triển tờ báo TP. Vì BeBe HA chưa tốt nghiệp, nên hai người gặp nhau ở căn chung cư của Lãm, đường King, Santa Ana nhiều hơn ở tòa soạn. Khi “Cậu Út” của chúng tôi thú nhận đã “fall in love” BeBe HA, tôi và Lãm gia công vun vào với tất cả yêu thương và hân hoan dành cho đôi bạn nhỏ.

Tuy nhiên, giai đoạn đầu của cuộc tình Việt Dzũng / BeBe HA có phần chập chờn, bấp bênh, với nhiều ngày Dzũng không gặp BeBe HA! Và, chúng tôi cũng không biết tìm BeBe HA ở đâu!

Do quá nhậy cảm, Dzũng rơi vào trạng thái tâm lý tựa như tuyệt vọng. Vì thế, nhiều đêm, Dzũng dục tôi dời căn chung cư của Lãm, trở về tòa soạn, đường Ranchero Way, để nghe Dzũng hát tình khúc…

Theo tôi, đó là những giây phút Dzũng sống thực nhất. Dzũng không che đậy, không kềm chế cảm xúc mình. Như thể nó không thể khác. Tình cảm thật, nó là thế đấy!

Cũng ở thời điểm này, không biết có phải do tâm trạng tuyệt vọng hay không, Dzũng đã phổ nhạc bài thơ “Thu khúc một” của tôi và, hát cho tôi nghe nhiều lần:

“trăng khuyết, như đời tôi
cũng thôi, một kiếp người
em về, khuya có vui(?)
tôi và đêm nhớ người…
gió biếc như tình tôi
cung chiều lên tiếng gọi
về kịp không hỡi em
vầng trăng ta khuyết rồi

(…)

em ở đâu đêm qua?
có nghe hồn anh tắt vội
buồn vương giọt nước mắt
cho giá lạnh cội áo quán

(…)

mây khói ru tình tôi
nhớ thương một kiếp người
em về khuya có vui(?)
tôi về đêm nhớ người
trăng khuyết như hồn tôi
ván quan đã đóng rồi
về kịp không hỡi em
vầng trăng ta khuyết rồi!”(9)

Khi Dzũng hát tới những câu “em về khuya có vui” hoặc “về kịp không hỡi em / Vầng trăng ta khuyết rồi”… (vốn là những câu hỏi – không có câu trả lời) , thì đó cũng là lúc Dzũng nhắm mắt, mặc cho hai dòng lệ lăn dài trên gương mặt trẻ thơ của mình. Phần tôi, tôi cũng không đủ sức đem mình khỏi chiếc ghế, dù chỉ để đặt tay lên vai Dzũng, như một cử chỉ dỗ dành, cảm thông…bất lực!!!

Những lúc ấy, tôi bẵng quên chính tôi cũng đang ngợp sâu trong những câu hỏi mình từng viết xuống – – Mà cùng với nước mắt xót xa, tôi ước sao, tiếng hát, câu hỏi của Dzũng cất lên trong căn nhà lạnh lẽo, hoắm sâu dưới tầng tầng bóng đêm, có thể bay đến BeBe HA!!!

Bây giờ, khi tôi viết những dòng chữ này (thì) “ván quan” (câu chữ của Dzũng – không có trong nguyên bản thơ) đã thực sự “đóng rồi”…BeBe HA không chỉ “về kịp” mà hơn thế, BeBe HA đã…“ở lại” giữa cuộc đời của Dzũng, một cách tốt đẹp, từ nhiều chục năm qua.

Đám cưới Việt Dzũng và Bebe Hoàng Anh

Nhiều ngày, từ khi nhận được hung tin về Dzũng, tôi lại tự hỏi, cách gì BeBe HA có thể vượt những “nhớ thương một kiếp người”, khi Dzũng không còn nữa? Vĩnh viễn không còn nữa! Dù chỉ một thoáng xuất hiện, đâu đó, trên mặt địa cầu này?

Tuy bị giới hạn khả năng di chuyển, nhưng ngay tự những ngày còn rất trẻ, Việt Dzũng đã cho thấy, sức làm việc của Dzũng, tựa dòng thác không ngưng cuồn cuộn chảy. Dzũng không thể ngồi yên dù chỉ một tiếng. Buông việc này, bắt việc kia. Việc nào vào tay Dzũng cũng đều trở thành dễ dàng, suôn sẻ. Từ dịch tin, đánh máy, lay out bài vở, tới soạn nhạc, thiết lập chương trình lưu diễn, liên lạc với anh em, bằng hữu năm châu, bốn biển, Dzũng đều hoàn tất một cách dễ dàng, gọn nhẹ, giống như chúng ta lấy một vật trong túi. Tôi muốn nói, Việt Dzũng không chỉ quan tâm tới lãnh vực âm nhạc mà, “Cậu Út” của chúng tôi còn rất nặng lòng với báo chí, văn chương, chữ nghĩa nữa!

Cụ thể, đầu thập niên 1980s, vì một tháng, NC mới xuất bản một lần, lại nữa, không phải tháng nào cũng có… “show” lưu diễn nên, để trám vào khoảng thời gian…”Không biết làm gì”…Dzũng đề nghị gom một số truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Ngạn, làm thành tuyển tập “Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Ngạn”.

Đó là tác phẩm đầu tiên của họ Nguyễn ở Toronto, Canada, được ấn hành tại Hoa Kỳ. Sau truyện Nguyễn Ngọc Ngạn là tập thơ “Lịch sử tình yêu”, cũng là thi phẩm đầu tay của Cao Đông Khánh và, tập truyện “Tan theo ngày nắng vội” của tôi. Tất cả mọi công đoạn đều một tay Dzũng đảm nhận. Ngay cả việc phát hành, Dzũng cũng nhận phụ trách. Thời gian đó, quận hạt Orange County và vùng Los Angeles chưa có tiệm sách. Sách báo sản xuất được gửi bán ở một số chợ bán thực phẩm Á Đông. (10)

Tôi không biết hai tác phẩm của hai bạn văn kia, có những “tai nạn” đáng tiếc nào chăng? Thí dụ “trùng tu” bỏ dấu thành “trúng tủ”, “chữ nghĩa” thành “chủ nghĩa”, “dâm đãng” thành “đảm đang” cùng nhiều “tai nạn” ghê rợn hơn nữa…Vì Việt Dzũng phải bỏ dấu bằng tay…

Song song với mối bận tâm về lãnh vực văn chương, Dzũng vẫn là người chủ động gần như tất cả những…“show lưu diễn” của chúng tôi, thuở sinh hoạt trình diễn của tập thể Việt tỵ nạn còn cực kỳ “hoang vắng”! thưở mà sinh họat văn nghệ cũng như báo chí chưa hề cho cộng đồng tỵ nạn Việt một chút tia sáng cuối đường hầm nào.

Tôi nhớ khi tôi kể với Dzũng, người đại diện của tạp chí NC ở Calgary ngỏ ý muốn mời anh em NC viếng thăm miền tây Canada một lần cho biết, Dzũng bảo, sao không nghĩ tới việc biến cuộc viếng thăm thành một “show lưu diễn”? Thế là, một tháng sau, “gánh hát” của chúng tôi lại “đường trường xa…” tới một xứ sở, một chân trời hoàn toàn xa lạ.

Kỳ đó, ngoài số thành viên “cơ hữu” như Việt Dzũng, Cao Đông Khánh, Quỳnh Như…chúng tôi còn mời được nữ danh ca Thanh Thúy, kịch sĩ Hoàng Long. Cùng với Việt Dzũng, họ là những tên tuổi dấy lên cơn bão thương yêu nơi khán giả Việt ở miền Tây Canada này…

Những ca khúc cũ, mới những tưởng đã bị chôn dưới tàn tro lịch sử sang trang, hay vùi sâu đáy biển đông thì, được “gánh hát” của chúng tôi làm sống lại. Nếu tôi nhớ không lầm thì bất cứ ca khúc nào được đồng bào yêu cầu, nữ danh ca Thanh Thúy, cũng như Việt Dzũng đều không từ chối, nếu họ thuộc. Sau buổi diễn, trả lời câu hỏi của tôi, người nữ danh ca của hai mươi năm VHNT miền Nam cho biết, chị hát không chỉ vì yêu cầu của đồng bào mà còn vì đam mê của chính chị nữa:

“Thúy đâu nghĩ, có ngày được hát lại cho hàng ngàn khán giả nghe những ca khúc mà mình từng một thời yêu thích…” Linh hồn ca khúc “Ướt mi”, một sáng tác của cố nhạc sĩ TCS, nói. (11)

Tuy nhiên, với chúng tôi, kỷ niệm đáng nhớ nhất của những “show trình diễn” có lẽ là kỳ chúng tôi “trình diễn” tại Houston lần thứ nhất – – Sau khi “Cậu Út” và Lê Văn Hào (tức nhà thơ Vũ Hà Du) trần thân dựng bảng café Tay Trái từ A tới Z cho chúng tôi ở ngã tư Faiview và Trask, thuộc thành phố Santa Ana. Điều đáng nhớ nhất, không phải vì sân khấu nhỏ Tay Trái là nơi trở lại thường trực của tiếng hát Julie. Cũng không phải đó là địa điểm xuất hiện đầu tiên của nhạc sĩ Trần Duy Đức, đôi bạn trẻ Vũ Kiểm / Hương Thơ… Mà, sau khi thấy Tay Trái đứng vững, có lợi tức rồi, Lê Văn Hào bàn với Dzũng trở lại Houston, mở nhà in Thế Giới (ở đường Bell) – – Làm đầu cầu cho anh em NC và TP, khi sa cơ, thất thế, có chỗ để lui về…

Đó là năm 1984, “Cậu Út” phối hợp với Lê Văn Hào và nhà văn Lê Văn Phúc (12) đã tổ chức buổi ra mắt tập truyện “Tan theo ngày nắng vội”.

vietdzung-dtl-content

Tôi không biết có bao nhiều ngày nắng ấm đã tan đi một cách vội vã(?) Chỉ biết, sau đó, một cuộc tình dẫn tới một hôn nhân tốt đẹp giữa nhạc sĩ Trần Duy Đức thuộc “gánh hát” của chúng tôi và một thành viên nhóm Thế Hệ Trẻ ở Houston, Lê Nguyệt Hạnh.

Hai nhân vật tích cực góp phần vào sự tác hợp cho “đôi trẻ” nên duyên phận, chính là Lê Văn Hào và Việt Dzũng vậy.

Kể lại mới lương duyên của Nguyệt Hạnh / Trần Duy Đức, tôi chỉ muốn nhấn mạnh, song song với chủ tâm tận hiến cuộc đời cho lý tưởng tự do, nhân bản… Việt Dzũng còn là người thủy chung, tận tụy với bằng hữu. Như một trong những góc khuất của tác giả “Một chút quà cho quê hương”.

Từ đó, tôi thấy, Việt Dzũng xứng đáng với mọi danh hiệu truy tặng cho Dzũng… Riêng cá nhân tôi, tôi muốn ghi nhận Việt Dzũng như một trong những vốn quý của tập thể Việt, nơi quê người.

Dù bây giờ, Việt Dzũng không còn nữa, nhưng những đóng góp, những đầu tư của Việt Dzũng cho tự do, nhân bản và tình người, sẽ mãi còn là những ngọn lửa ở được với mai sau.

Du Tử Lê

(Tháng 12 – 2013)

___________

Chú thích:

(1) ‘Cậu Út”, nickname Trương Trọng Trác (1940-2009) đặt cho Việt Dzũng khi chúng tôi tập trung quanh tạp chí NC rồi tuần báo TP, đầu thập niên 1980s. Trong anh em, Dzũng nhỏ nhất và, cũng đa tài, đa năng nhất, nên được mọi người cưng chiều nhất.

(2) Trần Thu Miên kể, ngay tự những ngày đầu tháng 5-1975, ở trại tỵ nạn Fort Chaffee, tiểu bang Arkansas, Việt Dũng và Trần Thu Miên đã có những buổi sinh hoạt văn nghệ “tự phát” liên tục…

(3), (4) Nguồn: Wikipedia – Tiếng Việt.

(5) Connie Chung (1946-) Sau đấy đã dời tờ Register, trở thành cộng tác viên nổi tiếng của những hệ thống truyền hình lớn như NBC, CBS, CNN và MSNBC ở New York. Tới ngày về hưu, ba lần bà được trao giải Emmy dành cho những nhà báo xuất sắc nhất trong năm. (Theo Wikipedia)

(6) Sau thời gian tạm cư ở Tacoma, Phạm Kim di chuyển gia đình về thành phố Seattle. Tại nơi ở mới này, khoảng giữa thập niên 1980s, ông xuất bản tờ Người-Việt-Tây-Bắc; được ghi nhận là một trong vài tờ báo lâu đời và thành công nhất vùng.

(7) Nữ nghệ sĩ Quỳnh Như hiện phải điều trị dài hạn trong một Nursing Home ở quậm Cam. Nhà thơ Cao Đông Khánh sinh năm 1941 tại Gia Định. Ông mất ngày 12 tháng 12 năm 2000, tại Houston, Texas.

(8) Cố nhà văn Huy Quang / Vũ Đức Vinh sinh năm 1931 tại Hà Nội. Ông mất ngày 9 tháng 12 năm 2005 ở Seattle, tiểu bang Washington State. Là sĩ quan cấp tá binh chủng KQ/VNCH, năm 1965, ông được Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ bổ nhiệm vào chức vụ Tổng giám đốc cục Vô Tuyến Truyền Thanh. Trước năm 1954, ông đã có 2 tác phẩm do nhà Sinh Lực Hà Nội xuất bản. (Nguồn: Nhà thơ Hoàng Song Liêm – Wikipedia – Tiếng Việt.)

(9) Bài “Thu khúc một” tôi viết và phổ biến tháng 8 năm 1984. Việt Dzũng là người đầu tiên soạn thành ca khúc, với nhan đề “Trăng Khuyết”, 1985. Sau đó mới tới Vũ Thành An và Vĩnh Điện… “Trăng Khuyết” của VD được in lại trong “K. Khúc Của Lê / Tuyển tập 40 năm thơ-nhạc Du Tử Lê”, tr. 104. Nhóm Thân Hữu Du Tử Lê Tại Hoa Kỳ xb, 1998.

(10) Nữ danh ca Thanh Thúy hiện cư ngụ tại miền Bắc California. Một số thân hữu cho biết, nhiều năm gần đây, chị đã chọn hẳn con đường tu tại gia, ấn tống kinh sách và, làm từ thiện… Trong khi kịch sĩ Hoàng Long chọn thành phố Boston, Mass, để an cư.

(11) Khoảng giữa thập niên 1980, Orange County mới có một tiệm sách nhỏ do nguyên giáo sư Vũ Văn Niên chủ trương, và chị ông là người trông nom, ở thành phố Santa Ana. Sau đấy tới tiệm sách Thăng Long ở vùng Los Angeles…

(12) Lê Văn Phúc là tác giả tập tạp văn “Tôi làm tôi mất nước”, được nhiều người biết đến.

Du Tử Lê

Related image

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi, sao trở lại quê nhà 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
những năm trước bao người ngon miệng cá
thì sá gì thêm một xác cong queo 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
cho tôi về gặp lại các con tôi
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
từ những mắt đã buồn hơn bóng tối 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và trên đường hãy nhớ hát quốc ca
ôi lâu quá không còn ai hát nữa
(bài hát giờ cũng như một hồn ma) 

khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết
đời lưu vong tận huyệt với linh hồn

Việt Dzũng hát bài "Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển"

Đây là ghi âm hiếm quý vào thập niên 1980, đã được Ca  Hoàng Oanh lưu giữ. Việt Dzũng đã lấy cảm ý của bài thơ "Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển", của nhà thơ Du Tử Lê. Anh đã phổ nhạc sang tiếng Anh, và hát cho bạn bè nghe trong một buổi họp mặt. Những lời trong bài hát thổn thức như những lời trăn trối của một người Việt Nam lưu vong, nhưng yêu quê hương tha thiết. Trung tâm Asia xin tiễn biệt nhạc sỹ Việt Dzũng với chính những lời ca này của anh.
Sáng tác: Việt Dzũng Trình bày: Việt Dzũng When I die, would you take my body down, to the sea. Cause for a long time, I've been living without a country. And for a long time, I've been dying without a grave. So when I die, would you bury me in the middle of the waves? When I die, would you take my body down, to the sea. Don't hesitate, don't even feel sorry for me. Don't even cry, let the fish feeds on my flesh. So when I die, I become part of the world that is so fresh. When I die, would you take my body down, to the sea. Under the sun, let the ebb tide carry me. And when we go, would you please don't close my eyes. So I can see for the last time my own country. I'll be gone with the wind, to the world's other side. To hear my mother's sigh! To hear my children cries. From hollow eyes... Sadder than the night. I'll be gone, with the scream to eternal dream. There is no blood to be shed. There is no life to be killed... ever peacefully, ever peacefully! When I die, the sadness also die. Somebody forever part, the soul of an exile!
Cảm ơn anh Du Tử Lê đã kể lại vài đoạn đời xưa của Việt Dzũng, có anh và các bằng hữu khác. Nghệ sĩ như anh và Việt Dzũng đã khắc họa nên nhiều nét ấn tượng sâu sắc trong tâm khảm của rất nhiều người Việt lưu vong. Bài viết này của anh về Việt Dzũng đã góp phần cho những ấn tượng đó thêm thấm thía và xúc cảm khi thấy chân tình của nghệ sĩ với nhau.
 
Related image

 

Việt Dzũng hát bài "Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển"


khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

Nếu tôi nhớ không lầm thì, cuối năm 1977, khi tôi còn ở một căn apartment đường Harbor, thành phố Costa Mesa, ở miền nam Cali, làm tờ báo tên Quê Hương với một vài bạn trẻ thất lạc gia đình…Một một buổi tối, anh Nguyễn Anh Tuấn, một người trong nhóm; khi đó làm công cho một tiệm bánh Donut ở vùng Los Angeles; dẫn một người tên thanh niên đen đúa tên là Trần Cao Sáng đến gặp chúng tôi. Anh Sáng kể cho chúng tôi nghe cuộc vượt biển của anh từ Việt Nam. Khi đó chúng ta chưa có danh từ “thuyền nhân / boat people.” Anh TCS là người vượt biển đầu tiên, cách đây 31 năm mà chúng tôi được gặp.

Du Tử Lê trầm tư bên biển - Ảnh: Nguyễn Đức Cung

Hành trình, sự liều lĩnh, những thảm kịch trên biển, được nghe từ anh Sáng khiến tôi bàng hoàng, choáng váng. Câu chuyện của anh Sáng ám ảnh tôi nhiều tháng. Cuối cùng, để giải tỏa và, cũng do sự gợi hứng từ câu chuyện của Trần Cao Sáng, tôi viết bài “Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển.”

Bài thơ đi ra trong mặc cảm đã bỏ lại vợ, con, mẹ già ở quê nhà.

Thời điểm này, số người Việt tỵ nạn bị phân tán mỏng khắp nơi. Chưa ai ra khỏi cơn địa chấn đau thương của biến cố 30 tháng 4.

Ở thời điểm đó chúng tôi ra đường, đi làm, rất khó tìm được một người đồng hương! Không một ai trong những năm đầu tỵ nạn kia, dám mơ tưởng rằng, tương lai, có ngày người Việt tụ tập lại và, hình thành những sinh hoạt hội đoàn, cộng đồng như đã, vào cuối thập niên 1980 - - Khoan nói tới việc có thể về thăm quê hương, đầu thập niên 1990, khi Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam.

Tôi muốn nói, những câu thơ như: “khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển / và trên đường hãy nhớ hát quốc ca…” ra đời trong tâm cảm hoàn toàn tuyệt vọng đó.

https://dutule.com/images/file/FLepGS2e0wgBAD8p/dtl-by-nguyenduccung-content.jpg
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi, sao trở lại quê nhà 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
những năm trước bao người ngon miệng cá
thì sá gì thêm một xác cong queo 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
cho tôi về gặp lại các con tôi
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
từ những mắt đã buồn hơn bóng tối 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và trên đường hãy nhớ hát quốc ca
ôi lâu quá không còn ai hát nữa
(bài hát giờ cũng như một hồn ma) 

khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết
đời lưu vong tận huyệt với linh hồn

 Du Tử Lê

Những bài hát nổi tiếng được phổ từ thơ Du Tử Lê

Tin Du Tử Lê – tác giả của những bài thơ được phổ nhạc nổi tiếng: Khúc thụy du, Ơn em… qua đời khiến người mộ điệu không khỏi tiếc thương, chia sẻ những thi phẩm, nhạc phẩm để tưởng niệm ông trên trang cá nhân của họ …
Danh ca Tuấn Ngọc đã thể hiện nhiều nhạc phẩm được phổ thơ Du Tử Lê
Ảnh: Tư liệu
 
Đầu tháng 6 vừa qua, PhanBook và NXB Đà Nẵng vừa phát hành tập thơ mới nhất của nhà thơ Du Tử Lê - Chúng ta, những con đường bao gồm những sáng tác trong 5 năm gần đây. Khác với một Du Tử Lê của Khúc thuỵ du (Phanbook & NXB Hội nhà văn ấn hành, 2018), những trải nghiệm và xúc cảm dịu dàng đã được thế chỗ bởi những chiêm nghiệm, suy tư.
Du Tử Lê  là một trong số ít thi sĩ có số lượng tác phẩm được phổ nhạc lên đến hàng trăm ca khúc. Trong đó nhạc sĩ Anh Bằng và Từ Công Phụng phổ nhiều nhất với con số trên dưới 50 bài (mỗi nhạc sĩ).
Những bài hát nổi tiếng được phổ từ thơ Du Tử Lê - ảnh 1

Tập thơ Khúc thụy du của Du Tử Lê được phát hành tại Việt Nam

Ảnh: NXB

Với người yêu nhạc và yêu thơ Du Tử Lê, nhất là khán thính giả thế hệ 5X, 6X, 7X, hẳn không ai không biết đến những thi phẩm của ông được phổ nhạc và được rất nhiều ca sĩ hải ngoại lẫn trong nước thể hiện như: Khúc thụy du (nhạc Anh Bằng), Trên ngọn tình sầu (nhạc Từ Công Phụng, phổ từ bài thơ 67 khúc thêm cho Huyền Châu), Ơn em (nhạc: Từ Công Phụng, với tựa đề Giữ đời cho nhau)… Trước nhạc sĩ Từ Công Phụng, Ơn em đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, có tên Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau.
Riêng với Khúc thụy du, bài hát không chỉ được nhiều ca sĩ thể hiện: Tuấn Ngọc, Elvis Phương, Ý Lan, Ngọc Lan, Quang Dũng, Hồng Ngọc, Nguyên Khang, Hồng Mơ, Nguyễn Hồng Ân…mà còn được nhiều ca sĩ chọn làm chủ đề album khi phát hành như: Tuấn Anh, Bảo Yến, Thùy Dương, Thanh Duy, Quang Hà…
Những bài hát nổi tiếng được phổ từ thơ Du Tử Lê - ảnh 2

Tờ nhạc Trên ngọn tình sầu, bài hát được phổ từ thơ Du Tử Lê

Ảnh: Tư liệu

 
Khúc thụy du được viết vào 1968, như là tiếng kinh cầu của con người trước chiến tranh, loạn lạc. Sinh thời ông từng cho biết bài thơ khi được viết hơn 100 câu, nhưng khi đăng tạp chí thì cắt gần 1/3 bài. Về sau khi được xuất bản tại Việt Nam, bài thơ được đăng theo bản bị cắt bỏ vì chính ông cũng không còn giữ bản gốc.
Một số bài thơ được phổ nhạc khác của Du Tử Lê được biết đến nhiều như: Khi cuộc tình đã chết (nhạc Phạm Đình Chương), Tình sầu, Như xa miền yên vui (nhạc Phạm Duy), Tan theo ngày nắng vội, Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời (Trần Duy Đức), Như bài hát cũ (Đình Nguyên)...
 
“Khi tôi không còn nữa, Sẽ lấy được những gì ,Về bên kia thế giới…. ?”-Du Tử Lê

Thi sĩ Du Tử Lê, tác giả ‘Khúc Thụy Du,’ qua đời, hưởng thọ 77 tuổi

 

 
 

Đỗ Dzũng/Người ViệtOctober 9, 2019

GARDEN GROVE, California (NV) – Thi sĩ Du Tử Lê vừa qua đời lúc 8 giờ 6 phút tối Thứ Hai, 7 Tháng Mười, tại tư gia ở Garden Grove, hưởng thọ 77 tuổi.

Tin này được cô Orchid Lâm Quỳnh, ái nữ của ông, cho nhật báo Người Việt biết lúc 11 giờ tối Thứ Ba.

Cô kể: “Em báo tin này hơi trễ vì bây giờ mọi việc mới xong. Thực ra, tim bố ngừng đập lúc 8 giờ 6 phút tối Thứ Hai. Lúc đó, em vẫn gọi 911 và đưa bố vào bệnh viện. Bây giờ thì bố đã thật sự vĩnh viễn ra đi.”

Theo trang nhà dutule.com, nhà thơ Du Tử Lê, tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Hà Nam.

Năm 1954, ông theo gia đình di cư vào miền Nam.

Ông là cựu học sinh trường Chu Văn An, Trần Lục, rồi đại học Văn Khoa Sài Gòn, nguyên sĩ quan QLVNCH.

Ông làm việc tại Cục Tâm Lý Chiến trong vai trò phóng viên chiến trường, trước khi làm thư ký tòa soạn nguyệt san Tiền Phong.

Năm 1969, ông theo học khóa tu nghiệp báo chí tại thành phố Indianapolis, tiểu bang Indiana.

Năm 1973, ông được trao giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc, bộ môn Thi Ca, với thi phẩm: “Thơ Du Tử Lê 1967-1972.”

Ông định cư tại Hoa Kỳ sau biến cố 30 Tháng Tư, 1975.

Khởi sự làm thơ rất sớm, từ năm 1953 tại Hà Nội, với nhiều bút hiệu khác nhau, bút hiệu Du Tử Lê được ông dùng chính thức từ năm 1958 trên tạp chí Mai.

Thơ của ông xuất hiện trên nhiều tạp chí trong và ngoài nước. Ông có thơ đăng trên nhật báo Los Angeles Times, 1983, và New York Times, 1994.

Năm 1993, Giáo Sư Neil L. Jaimeson chọn dịch và phân tích một bài thơ của Du Tử Lê in trong cuốn “Understanding Vietnam,” do hai đại học UC Berkeley và UCLA và nhà xuất bản London ấn hành, là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại Hoa Kỳ và Âu Châu.

Vẫn theo tác giả này, cùng với Nguyên Sa, sự đóng góp trí tuệ của Du Tử Lê cũng như Linh Mục Thanh Lãng và Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam là điều không cần phải hỏi lại (Understanding Vietnam, trang 344).

Du Tử Lê là một trong sáu nhà thơ Việt Nam thuộc thế kỷ thứ 20, có thơ được chọn in trong tuyển tập “Thi Ca Thế Giới Từ Thời Thượng Cổ Tới Ngày Nay” (World Poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time) do nhà xuất bản W.W. Norton New York, New York, ấn hành năm 1998.

Thơ của ông cũng được một số đại học dùng để giảng dạy cho sinh viên từ năm 1990.

Ký giả Jean Claude Pomonti, một nhà báo hàng đầu của tạp chí Le Monde của Pháp, đã chọn một bài thơ của Du Tử Lê để dịch sang Pháp ngữ và phê bình trong tác phẩm “La Rage D’Être Vietnamien” do Seuil de Paris xuất bản năm 1975.

Du Tử Lê là một trong bảy nhà thơ miền Nam, được cố nhà văn Mai Thảo chọn là “Bảy Vì Sao Bắc Đẩu” của nửa thế kỷ thi ca Việt Nam. Sáu người kia là Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, và Tô Thùy Yên.

Du Tử Lê là tác giả của trên 70 tác phẩm đã xuất bản.

Thi phẩm đầu tiên của ông xuất bản năm 1964.

Tùy bút của ông bao gồm “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời,” do công ty Văn Hóa Cổ Phần Phương Nam, Sài Gòn, ấn hành Tháng Tư, 2017; “Mẹ về Biển Đông,” do Hội Nhà Văn Việt Nam, Hà Nội, xuất bản Tháng Sáu, 2017; Tuyển tập thơ “Khúc Thụy Du,” do Phanbook, Sài Gòn, xuất bản Tháng Sáu, 2018; Tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu” và truyện dài “Với nhau, một ngày nào” (in lần thứ ba), do Saigon Books xuất bản Tháng Bảy, 2018.

Nếu không kể những tác phẩm được tái bản thì tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu” là tác phẩm thứ 73 của họ Lê, tính đến Tháng Bảy, 2018.

Là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam, thơ của ông cũng được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc và trở thành những bài nhạc nổi tiếng như “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn,” “Hạnh Phúc Buồn (Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi),” “Giữ Đời Cho Nhau (Ơn Em),” “Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển,” “Khúc Thụy Du,” “K Khúc Của Lê,” “Khi Cuộc Tình Đã Chết,”….

Từ năm 1981 tới nay, nhà thơ Du Tử Lê có nhiều buổi thuyết trình tại một số đại học tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, và Úc. Ông từng hai lần được mời đến Harvard University để nói chuyện về thơ của mình.

Từ năm 2009 tới 2012, mỗi năm Du Tử Lê đều có ít nhất một lần thuyết trình về thơ tại đại học UC Berkeley và đại học Cal State Fullerton.

Ngoài thi ca, Du Tử Lê còn là một họa sĩ.

Kể từ Tháng Bảy, 2011, nhiều tranh của ông được dùng làm bìa sách cũng như in nơi trang bìa của một số tạp chí xuất bản tại Hoa Kỳ.

Tính tới 2012, ông đã có hai cuộc triển lãm cá nhân, một tại Houston, Texas, và một tại Seattle, Washington.

Cuộc triển lãm cá nhân lần thứ ba của Du Tử Lê, vào Thứ Bảy, 30 Tháng Ba, 2013, tại Virginia, là triển lãm mở đầu cho năm.

Và năm 2014 của họ Lê được đánh dấu bằng cuộc triển lãm bỏ túi ở Coffee Lover, San Jose, California, với bảy tác phẩm hội họa, được bán hết trong vòng 45 phút.

Cuối năm 2012, với sự hướng dẫn của Giáo Sư Diêu Thị Lan Hương, cô Trần Thị Như Ngọc, cư dân Hà Nội, đã chọn thơ Du Tử Lê cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, chuyên ngành Lý Luận Văn Học, với tựa đề “Thơ Du Tử Lê Dưới Góc Nhìn Tư Duy Nghệ Thuật,” được hội đồng giám khảo chấm đậu và được phép dùng để giảng dạy. Luận văn này hiện được lưu trữ tại Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, thuộc Đại Học Quốc Gia Hà Nội, mã số: 60 22 01 20.

Chưa hết, thi sĩ Du Tử Lê còn viết văn và biên khảo văn học.

Bước vào năm 2015, tác phẩm truyện dài “Với nhau, một ngày nào” (tái bản lần thứ nhất) của nhà thơ, và bộ sách dầy 700 trang, tựa đề “Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015” – tập 1, được cơ sở H.T. Productions xuất bản, công ty Amazon in và phát hành. Ngoài ra, bộ sách “Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015” – tập 2, đầu sách thứ 67, của nhà thơ Du Tử Lê cũng được công ty Amazon in và phát hành giữa Tháng Chín.

Riêng năm 2018, tại Sài Gòn, đã có bốn đầu sách của Du Tử Lê được xuất bản cũng như tái bản, trong số đó, có các tuyển tập như:

-Tuyển tập thơ “Khúc Thụy Du,” tác phẩm thứ 72, do PhanBooks, Sài Gòn, xuất bản Tháng Sáu, 2018.

-Tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu,” tác phẩm thứ 73, do Saigon Books xuất bản Tháng Bảy, 2018.

-Tuyển tập tùy bút “Giữ Đời Cho Nhau” II, do PhanBooks, Sài Gòn, xuất bản Tháng Sáu, 2018. 

(Đỗ Dzũng)

Nhà thơ Du Tử Lê qua đời

Related image

14:59 09/10/2019

pno

Người thân cho biết nhà thơ Du Tử Lê – tác giả của bài thơ ‘Khúc Thuỵ Du’ vừa qua đời tại Mỹ.

Nhà thơ Du Tử Lê (tên thật Lê Cự Phách) sinh năm 1942 tại Kim Bảng – Hà Nam, hiện cư ngụ tại Garden Grove, Nam California (Mỹ). Sinh thời, Du Tử Lê được biết đến là tác giả của nhiều tập thơ, văn xuôi ấn tượng như: Tình khúc tháng Mười Một, Tay gõ cửa đời, Ngửa mặt, Vốn liếng một đời, Qua hình bóng khác, Chú Cuội buồn, Một đời riêng, Khóc lẻ loi một mình, Giỏ hoa thời mới lớn, Khúc Thuỵ Du, Giữ đời cho nhau…

Du Tử Lê từng học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn. Năm 1969 ông tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana. Du Tử Lê đạt giải thưởng Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 cho tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972.

 
Sinh thời, nhà thơ Du Tử Lê cho ra mắt nhiều tác phẩm được đánh giá cao về nghệ thuật, ý tưởng

Cuộc đời sự nghiệp của nhà thơ Du Tử Lê tạo được ấn tượng và trở thành niềm tự hào của nhiều bạn đọc trong nước khi thơ của ông được xuất hiện trên Los Angeles Times và New York Times trong thập niên 1980-1990. Thơ ông được dịch trong tuyển tập Understanding Vietnam (là sách giáo khoa về văn học Việt Nam sử dụng cho nhiều trường đại học tại châu Âu).

Du Tử Lê từng tham gia thuyết trình về sáng tạo thơ tại một số trường đại học quốc tế. Năm 1998, nhà xuất bản W. W. Norton, New York đã chọn Du Tử Lê vào 1 trong 5 tác giả Việt Nam để in vào phần “Thế kỉ 20: thi ca Việt Nam” khi tái bản tuyển tập World Poetry An Anthology of Verse From Antiquity to Our Present Time (Tuyển tập Thi ca thế giới từ xưa đến nay).

Không dưới 300 bài thơ của ông đã được phổ nhạc, trong đó có nhiều ca khúc nổi tiếng như: Ca khúc của Lê, Chẳng lớn lao nào hơn cô đơn, Dòng suối trăm năm, Giữ đời cho nhau, Gót xưa đường về, Hạt mưa bay cuối đời, Khúc Thuỵ Du…

Minh Tú

Thi sĩ Du Tử Lê qua đời

09/10/2019

TTO – Trái tim nhà thơ Du Tử Lê vừa ngừng đập lúc 8 giờ 6 phút tối thứ hai 7-10 (theo giờ Mỹ) tại nhà riêng của ông ở Garden Grove (Mỹ), hưởng thọ 77 tuổi, theo thông tin từ người nhà phát đi trên trang cá nhân trưa nay.

Thi sĩ Du Tử Lê qua đời - Ảnh 1.

Nhà thơ Du Tử Lê – Ảnh: TRIẾT TRẦN

Tôi quan niệm, mỗi cá nhân trước khi sinh ra đã được Thượng đế chọn trước một nghề nghiệp hay công việc thích hợp. Điều mà chúng ta gọi một cách nôm na là năng khiếu hay “cái khiếu”. Cá nhân, tôi nghĩ tôi sống sót được tới ngày hôm nay nhờ tình yêu văn chương. Trước đây khi còn ở trên quê hương, tôi không thấy văn chương thực sự “cứu rỗi” tôi như những năm tháng tôi luân lạc xứ người… Vì thế, tôi tự nhủ, hãy viết, cứ viết cho tới ngày nào sức khỏe, khả năng không còn cho phép.

Nhà thơ Du Tử Lê từng tâm sự với báo Tuổi Trẻ tháng 6-2018

Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Kim Bảng, Hà Nam. Ông là nhà thơ có tiếng tại miền Nam từ trước 1975. 

Du Tử Lê tham gia giới viết văn làm báo, là chứng nhân của nhiều trào lưu văn nghệ tại miền Nam trước đây. 

Những kinh nghiệm từ quãng đời này giúp ông viết thành một số công trình có tính chất tổng thuật và khảo cứu về văn nghệ miền Nam trước 1975: Phác họa toàn cảnh sinh hoạt 20 năm VHNT miền Nam 1954-1975, Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015.

Du Tử Lê làm thơ từ rất sớm, bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức từ năm 1958 trên tạp chí Mai.

Related image

Nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam từng yêu thơ Du Tử Lê, đặc biệt cả giới trẻ trước và sau 1975 có nhiều người hâm mộ bài hát Khúc Thụy Du vốn được nhạc sĩ Anh Bằng phổ từ bài thơ cùng tên của Du Tử Lê. 

Khúc Thụy Du được Du Tử Lê viết từ tháng 3-1968, như một phần cảm thức của người trẻ trước cuộc chiến đang lan rộng tại Việt Nam.Current Time0:01/Duration5:02Auto

Nghe ca khúc Khúc Thụy Du do nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc từ thơ của Du Tử Lê, ca sĩ Quang Dũng trình bày – Video: VTV9

Du Tử Lê định cư tại Mỹ sau ngày 30-4-1975.

Theo thống kê chưa đầy đủ, Du Tử Lê có hơn 70 tác phẩm đã xuất bản. Những năm gần đây, một số sách của ông trở lại với bạn đọc trong nước thông qua các đơn vị xuất bản:

– Du Tử Lê tùy bút tuyển chọn (2015)

– Với nhau, một ngày nào (tản văn, 2018)

– Trên ngọn tình sầu (tập thơ, 2018)

– Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời (tùy bút dạng hồi ký, 2017) 

– Khúc thụy du (tuyển thơ, 2018)

– Giữ đời cho nhau (tuyển tùy bút, 2018)

– Chúng ta, những con đường (thơ, 2019)…

Related image

Theo ghi nhận của người trong giới, Du Tử Lê bên cạnh Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên làm nên bảy gương mặt thơ xuất sắc nhất miền Nam thời trước 1975.

Về hoạt động liên quan đến thơ, từ năm 1981 tới nay, nhà thơ Du Tử Lê có nhiều buổi thuyết trình tại một số đại học tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, và Úc. Ông từng hai lần được mời đến đại học Harvard để nói chuyện về thơ của mình. 

Từ năm 2009 tới 2012, mỗi năm Du Tử Lê đều có ít nhất một lần thuyết trình về thơ tại đại học UC Berkeley và đại học Cal State Fullerton.

Sự nghiệp thơ của Du Tử Lê từng được một học viên cao học tại Đại học Khoa học, xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội là Trần Thị Như Ngọc chọn làm luận văn tốt nghiệp, nhan đề Thơ Du Tử Lê dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật thuộc chuyên ngành Lý luận văn học. 

Một số sách và bản thảo của Du Tử Lê vẫn đang được các đơn vị làm sách trong nước giao dịch với ý định sẽ ấn hành trong tương lai.

Du Tử Lê (Lê Cự Phách) sinh năm 1942 tại Kim Bảng, Hà Nam. Ông là tác giả của 70 tập thơ, văn xuôi. Ông học Đại học Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana (1969). Giải thưởng Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 (tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972).

Thập niên 1980-1990, thơ ông xuất hiện trên Los Angeles Times và New York Times. Thơ ông được dịch trong tuyển tập Understanding Vietnam (liên Đại học Berkeley, UCLA, London ấn hành; là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại châu Âu).

Ông là một trong sáu nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20 có thơ dịch trong tuyển tập World Poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time (W.W. Norton New York, 1998). Ông từng thuyết trình về sáng tạo thơ ca tại một số đại học ở Mỹ, Pháp, Đức và Úc. Ông cư ngụ tại Garden Grove, Nam California (Mỹ).

Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành các ca khúc nổi tiếng.

Du Tử Lê:

Du Tử Lê: ‘Văn chương cứu rỗi tôi trong những ngày luân lạc…’

TTCT – Du Tử Lê là thi sĩ Sài Gòn được công chúng biết đến qua những bài thơ tình được nhiều nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhưng Du Tử Lê không chỉ có thơ tình.LAM ĐIỀN

thơ tình.LAM ĐIỀN

 

  Nhớ về nhà thơ Du Tử Lê

 09/10/2019

NS Tuấn Khanh

Nếu nhớ về một Du Tử Lê tài hoa trong chữ nghĩa, trong thi ca, ắt đã có nhiều người viết. Hôm nay có lại viết cũng thừa. Nhưng nói về Du Tử Lê đã sống thế nào trong cái yêu ghét của người Việt, cái đó có lẽ ít người viết. Đặc biệt là yêu ghét đã nổi gió kể từ khi ông về lại Việt Nam sau nhiều năm tỵ nạn. 

Nhưng thật ra, không chỉ riêng Du Tử Lê, văn nghệ sĩ nào của người Việt miền Nam Việt Nam tự do từng rời khỏi nước sau tháng 4/1975, khi quay lại quê nhà, đều là những người đi ngược gió.

Năm 2005, nhạc sĩ Phạm Duy về Việt Nam sinh sống. Đó là một cơn bão chứ không là gió. Những kẻ chống ông quay về, từ trong nước có cả kẻ thù và có cả người quen. Những người giận dữ đặt tên ông là phản bội, là cơ hội… thì ở chung quanh nơi ông sống. Là Midway city, nơi mà ông chỉ ký dưới thư tay bằng tiếng Việt – thị trấn giữa đàng – khi gửi cho tôi, thời chưa có internet. Vào những ngày ông đau yếu ở quận 10, Việt Nam, tôi đến thăm và hỏi rằng “Bác thấy hài lòng khi về sống ở VN chứ?”. Ông lắc đầu cười khẽ, nói “câu trả lời chính xác, là tôi hài lòng được chết nơi quê hương của mình”. 

Năm 2012, khi ca sĩ Khánh Ly lần đầu được Hà Nội cho phép vào nước. Bà đã đi xuyên qua những lời miệt thị, phỉ báng đến rợn người để về lại Sài Gòn. Khi tôi hỏi rằng bà quay về với suy nghĩ gì. Bà đã cười và hỏi ngược lại tôi “Khi em chạy về quê nhà của mình, em nghĩ gì?”. 

Từ 2014, Du Tử Lê đã có những chuyến đi về Việt Nam, đến năm 2016 thì người ta thấy ông xuất hiện trong những buổi ra mắt sách in ở Việt Nam. Dĩ nhiên, ông cũng bị tấn công không ngớt, bị gọi là thằng hèn, kẻ hám danh… Trong một lần ngồi café với ông ở Garden Grove, thành phố nơi ông sống, tôi thấy ông đột nhiên trầm ngâm rồi cười như một mình, nói với tôi “Nếu giờ này, anh và em ngồi ở một quán café nào đó Sài Gòn thì hay biết mấy nhỉ”. Đuôi mắt ông nheo nheo, ẩn trong nụ cười là một nỗi buồn vô hạn. 

Điều đó, tôi hiểu. Không chỉ văn nghệ sĩ mà bất kỳ con người nào bị buộc phải rời khỏi quê hương trong bất toại, đều là những vệt ám ảnh trong ký ức. Đau đớn hay hạnh phúc, họ đều muốn được tận hưởng với hơi thở quê nhà. Họ cần hít hà nguồn cội đó, hít hà để nhớ và để chết. Hít hà như những kẻ nghiện nơi chốn của mình.

Những ngày đi xa, ngồi trên máy bay về Việt Nam có lẫn nhiều người đã tha hương rất lâu, có trẻ, có già… tôi chứng kiến khi chiếc máy bay sà xuống, khi những khối nhà và con đường hiện lên, nhiều người đã xúc động kêu lên “tới rồi, tới Sài Gòn rồi…”. Những cái đầu vói nhìn qua cửa sổ, những lời bàn về chỗ sắp đến của họ râm ran khắp các ghế. Quê hương như một liều doping mầu nhiệm, trong phút chốc mọi người phấn chấn và tạm quên vì sao họ bị bứt khỏi nơi này, tạm quên nơi họ đến, là nơi những người cộng sản cầm quyền chứ không như ngày xưa ấy. 

Related image

Cũng vì vậy mà trong lịch sử, mọi chế độ độc tài đều muốn cầm giữ quê hương và dân tộc như một loại con tin để mặc cả với tương lai, để hành hạ con người, tra tấn sự yêu thương.

Từ những điều đơn giản đó, mà tôi cảm nhận được nhiều hơn với chuyện quay về. Du Tử Lê từng bị gọi là ham tiền, hám danh… khi quay lại Việt Nam, nhưng thật ra, tôi tin là ông, cũng như Phạm Duy hay Khánh Ly, tìm thấy nhiều điều khác hơn, sâu thẳm hơn so với những lời kết tội đó. Mỗi người có một lý do của mình, và họ có quyền im lặng, quyền chọn vào sự phán xét cuối cùng ở tương lai chứ không bởi một cá nhân hay một cộng đồng nào. 

Trong giai đoạn còn khỏe, Du Tử Lê hay gặp vài thân hữu khép kín vào buổi sáng. Ngày chẳn thì ở một quán café tại Westminster, ngày lẻ thì ở một quán Bún bò Huế tại Garden Grove. Các câu chuyện về văn chương và cuộc đời với nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, nhà báo Vương Trùng Dương, nhà báo Ngọc Hoài Phương… vẫn thời sự nhưng rồi, bao giờ đề tài Việt Nam và quá khứ luôn là chính. Có những lúc nhìn họ, tôi tự hỏi vì sao họ có thể nói về Việt Nam và một thời mãi không chán. Họ như những đứa trẻ đầy ký ức luôn cười khúc khích và sôi nổi tranh nhau khi kể về.

Thi sĩ Du Tử Lê và thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên

Rồi tôi cũng chợt nhìn thấy trong những văn nghệ sĩ Việt bị gọi là lưu vong đó, một cách giải thích khác trong chuyện quay về. Với họ, quê hương là mẹ, là mãi mãi với cuộc đời của họ. Chế độ chỉ là giai đoạn. Và nếu người mẹ bị cầm giữ, thì dù phải luồn lách thế nào, họ cũng chấp nhận để được chạm vào, để được nhìn thấy.

Trong một lần nhà thơ Du Tử Lê lấy xe đưa tôi về, trên đường đi bất thần tôi hỏi “anh có nhận biết ngoài những người yêu mến anh, còn rất nhiều người ghét bỏ anh không?”. Ông sựng lại ít giây, rồi mặt rất nghiêm “anh biết chứ. Anh đã không làm vừa lòng rất nhiều người. Không có nghĩa là anh đã đúng và tử tế hoàn toàn đâu Nhưng anh thấy mình vui vì không chối bỏ, và thật sự biết vì sao mình làm như vậy”. 

Có rất nhiều điều trong đời, không cần người phải biết, nhưng riêng mình biết, trời biết. Khi chiếc xe của ông đi khuất, đứng lại trên con đường vắng với gió nhẹ mùa hè, tôi thấy mình thấu hiểu hơn, dung nhận rõ nỗi cô đơn của người-trong-cộng-đồng- người. 

 Và hôm nay, khi nghe tin nhà thơ Du Tử Lê qua đời, tôi tin có không ít đồng loại cúa mình, cũng đang mỉm cười và cô đơn đến cuối cùng. 

Em đã nói giúp suy nghĩ của anh rồi đó. Hẹn gặp lại anh, Du Tử Lê.


Sưu tầm & tổng hợp by Kim Phượng

Image result for du tử lê

 

 
 
 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này