Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1256)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (58)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (345)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Đôi Mắt Phượng. (Truyện ngắn- Nguyễn Đạt Thịnh)

Đôi Mắt Phượng 

(Truyện ngắn- Nguyễn Đạt Thịnh)

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

  Image result for Truyện "Đôi Mắt Phượng" - Nguyễn Đạt Thịnh 

 Tôi là một quân y sĩ ra trường năm 1974; đơn vị đầu tiên, cũng là đơn vị cuối cùng của tôi, là một tiểu đoàn Nhẩy Dù. (Xin bạn đọc cho phép tôi được bất chấp văn phạm, viết hoa hai chữ “Nhẩy Dù”, vì đó là những chữ tôi thương yêu nhất.)

Tôi lập gia đình năm 22 tuổi, ngày còn là một sinh viên quân y. Mẹ tôi bảo “chờ ra trường, có việc làm, có lương nuôi vợ, rồi hẵng cưới vợ.” Tôi biết mẹ tôi có lý, nhưng tình yêu cũng không vô lý. Tình yêu thúc dục tôi cưới Phượng ngay. Nàng quá đẹp; thằng Quỳnh, thằng Khương, thằng Ðịnh, những đứa bạn cùng lớp bảo tôi, “Phượng đẹp ngây ngất.”
Phượng là nữ sinh đệ nhất Trưng Vương; nàng cũng yêu tôi nhưng xin một năm đính hôn để học hết trung học. Tôi chờ; một năm dài được chia thành 52 tuần lễ ngắn hơn, đánh dấu bằng 52 ngày chủ nhật chúng tôi gặp nhau.
Không phải là một nhà văn, tôi không mô tả được nét đẹp của Phượng; tôi chỉ biết là Phượng rất đẹp, và nhất là có một sức hút dễ sợ; chỉ cần gặp Phượng một lần là không người đàn ông nào quên được nàng.
Xin đừng hiểu lầm Phượng là “típ” người nở nang, ăn mặc khêu gợi; sức hút của Phượng là sức hút ngầm do duyên dáng, do tình ý, chuyển đi từ đôi mắt. Ðôi mắt thật là tình. Mẹ tôi phán là đôi mắt lẳng lơ; tôi không thích hai chữ này vì nó làm mất đẹp cặp mắt trữ tình của Phượng.
Trước hôn nhân tôi mê mệt với đôi mắt ấy; sau hôn nhân tôi khổ sở, bực bội cũng vì đôi mắt ấy. Không một người đàn ông nào, dù chỉ gặp Phượng lần đầu, không có cảm tưởng đã yêu nàng và tình yêu của họ không bị nàng hất hủi. Ít nhất Phượng cũng không xua đuổi, không vô tình với họ. Tôi mất một số bè bạn cũng vì Phượng. Chỉ một vài lần gặp Phượng, chạm mắt với Phượng cũng đủ để họ thầm nghĩ là tôi đã mọc sừng.
Dĩ nhiên vợ tôi không thể có tình ý với tất cả mọi người, nhưng cái khổ là đôi mắt đắm đuối của Phượng không nhìn mọi người một cách thản nhiên như người ta nhìn những vật vô tri quanh mình.
Giờ này, vợ tôi không còn trên cõi đời trần tục nữa tôi mới thấm thiá hiểu được một việc rất giản dị, rất tầm thường là không tạo ra đôi mắt của chính mình, Phượng không có trách nhiệm gì về những đổ vỡ đôi mắt gây ra. Chỉ có 0tácgiả đôi mắt đó – ông Thợ Tạo – mới đúng là người tôi phải oán trách.
Ði đôi với cặp mắt tình tứ là một đồng tiền rưỡi (một ở bên má trái, và một nửa ở cạnh môi dưới) trên khuôn mặt tươi như hoa, trắng mỏng manh. Cái đồng tiền rưỡi ấy, dù chỉ có đồng rưỡi nhưng lai có ma lực giết người. Xin hiểu hai chữ “giết người” theo nghĩa trắng của nó.
Tôi hèn nhát? Có thể; nhưng tôi làm gì hơn được? Không chỉ yêu thương vợ, tôi vẫn còn say mê vợ tôi sau 3 năm chăn gối.
 Mẹ tôi, chị tôi đề quyết vợ tôi đã cho tôi ăn bùa mê, thuốc lú. Tôi hiểu quan điểm những người thân của tôi; tôi hiểu cả định mệnh của tôi, của vợ tôi, và của cả những người say mê vợ tôi nữa.
Tôi vừa nói tôi hiểu định mệnh của vợ tôi. Ðiều đó cần được giải thích rõ hơn; đôi khi tôi nghĩ Phượng cũng đáng trách, nhưng trong đa số những đổ vỡ quanh nàng, Phượng chỉ thụ động, đáng thương. Phượng sợ và tránh né tất cả mọi gặp gỡ. Những buổi liên hoan của đơn vị tôi, những cuộc họp khóa, họp bạn của tôi, luôn luôn Phượng cáo bệnh hay tìm cớ bận con để không tham dự.
Sở dĩ tôi phải dài lời nói về vợ tôi như vậy, lả để người đọc hình dung được cái ray rứt, khổ sở của tôi trong 14 tháng tù khổ sai được cộng sản đánh bóng bằng hai chữ “cải tạo.”Sau 3 ngày học tập binh sĩ đem loan truyền với chúng tôi cái tin tưởng học tập qua loa, ra về đúng kỳ hạn. Ðiều đó làm đa số sĩ quan cấp úy chúng tôi yên lòng khăn gói lên đường với 10 ngày tiền ăn. Nhiều anh lười, không đem theo cả mùng mền, tính ngủ nhờ với bạn bè cũng đủ qua khoảng thời gian 10 ngày ngắn ngủi.
Dĩ nhiên là chúng tôi đã lầm; chỉ ngay sau khi cái bẫy xập xuống đầu chúng tôi, cộng sản trắng trợn vứt bỏ mặt nạ “đại đoàn kết dân tộc, xóa bỏ hận thù.”
Bài học đầu tiên chúng tôi được nghe qua giọng nói hằn học căm hờn của một anh cán bộ quản giáo Bắc Việt. Anh ta oang oang bảo chúng tôi, “Các anh quên hết địa vị xã hội của các anh đi. Kể từ ngày hôm nay, vợ con các anh sẽ ngửa tay xin nhân dân từng hột cơm; và vài tháng sau vợ các anh chỉ còn nước đi làm đĩ để sống.”
Chúng tôi thắc mắc về thời gian 10 ngày, hắn cười khẩy, vẻ mặt câng câng, đểu cáng, “Các anh chỉ có 10 ngày ăn thôi ư? Ðừng lo, cứ ăn hết 10 ngày đó đi đã; sau đó ăn bám vào sức sản xuất của nhân dân.”
Trước mỗi cửa phòng giam, cộng sản cắc cớ bắt chúng tôi phải dán lên khẩu hiệu “không có gì quý bằng độc lập, tự do.” Cán bộ Việt Cộng còn phụ giải “người đi trên sa mạc thấy không có gì quý bằng nước uống. Các anh sẽ thấy đối với các anh thì không có gì quý bằng tự do.”
Ðề cao cái giá của tự do trong nhà giam quả là việc làm vừa châm biếm, vừa độc ác. Nhưng không phải chỉ trong nhà giam tôi mới thấm thía hiểu tự do là quý. Sau này ra khỏi trại cải tạo, sống trong cái nhà giam lớn hơn là nguyên cả Miền Nam Việt Nam tôi càng thấy rõ không phải chỉ một mình tôi, mà cả 20 triệu người dân Nam Việt đều đang khắc khoải giữa sa mạc thống trị, thèm khát ngụm nước tự do.Xin trở lại với trại cải tạo và với vợ tôi; tôi bị giam 2 tháng hơn thì một buổi chiều nghe loa gọi lên văn phòng. Tôi tái người, nghĩ ngay đến những vụ thủ tiêu, biệt giam, thường xẩy ra đối với những thành phần cộng sản gọi là ngoan cố.Bản chất hiền lành, tôi không ra mặt chống đối bọn giảng viên, quản ngục. Cái tội của tôi chỉ là không nuốt trôi được mớ lý thuyết rẻ tiền, lẩm cẩm của cộng sản. Nhưng đối với chúng, đó không phải là một khinh tội. Tôi lo lắng chờ đợi một hình thức trừng phạt vì trọng tội trí thức.
Lên đến văn phòng, tôi được một anh binh ba Bắc Việt, mặt non choẹt, đưa vào phòng chính ủy. Và tôi đã chết đứng khi thấy Phượng trong đó.
Giọng đầy cải lương, nhân vật số một của trại giam bảo tôi, “Xét thành tích học tập tốt của anh, nhân dân đặc biệt cho anh được nhận sự chăm nuôi của gia đình.”
Tôi học tập tốt? Thật là mai mỉa; những âm thanh giảng huấn chan chát của bọn cán bộ cộng sản đối với tôi không một mảy may khác những tiếng cuốc đất trong giờ lao động sản xuất. Tôi đoán hiểu cái lý do đã khiến “nhân dân đặc biệt cho phép” tôi được nhận sự thăm nuôi của gia đình.
Cặp mắt nẩy lửa vì giận, tôi nhìn Phượng. Vợ tôi đã đến cái nước đi làm đĩ như bọn cộng sản tiên đoán rồi ư? Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt vẫn tình tứ, nhưng buồn thăm thẳm và ướt đẫm. Những giọt lệ lăn dài trên đôi má nhung mịn màng làm lòng tôi se thắt. Tôi thèm bước tới, ôm Phượng vào vòng tay, và hôn dài trên đôi mắt đắm đuối ấy. Nhưng dĩ nhiên ngoại cảnh không cho phép tôi làm việc tôi thường làm đó.
Vợ tôi nghẹn ngào, “Bé Mai nhớ anh lắm.” Bé Mai! Ðứa con gái 2 tuổi của tôi, báu vật của vợ chồng tôi! Tôi đứng khựng như trời trồng trước cái hình ảnh nhỏ bé, thương yêu mà vợ tôi vừa gợi ra.
Suốt 10 phút gặp gỡ, tôi không nói được một lời nào với Phượng cả. Cổ họng tôi nghẹn cứng; rồi bên tai tôi văng vẳng thật xa có tiếng nói của tên chính ủy: “Thôi, xách đồ ăn về phòng đi, Tuần sau lại được thăm nuôi nữa.”
Ðêm đó tôi không chợp mắt. Tôi hình dung những chuyện đã xẩy ra giữa vợ tôi và tên chính ủy cộng sản trước khi tôi được dẫn vào và sau khi tôi bị đưa ra khỏi văn phòng hắn. Tôi không tin đã có gì quá đáng trong phòng làm việc. Nhưng sau đó hắn có thể đến nhà tôi hay bảo vợ tôi đến một chỗ nào đó.
Tuần sau và những tuần kế tiếp, Phượng đều đều đến thăm tôi, mỗi lần đem theo một món ăn mà trước kia tôi ưa thích. Tôi nuốt những món khoái khẩu mà có cảm tưởng như mình đang ăn rơm khô, không mùi, không vị. Mỗi lần thăm viếng chúng tôi được nói chuyện với nhau 10 phút. Toàn những chuyện bâng quơ. Cả hai đứa chúng tôi đều không dám đả động tới điểm ngờ vực đau xót của tôi.
Có lần Phượng nói với tôi bằng cái giọng thiết tha nhưng nghiêm trọng, “Em chỉ xin mình tuyệt đối tin tưởng là em yêu mình. Suốt đời em, em chỉ yêu có một mình mình. Mặc dù những gì đã xẩy ra hay sẽ xẩy ra thì tình em yêu mình vẫn mãi mãi là sự thật duy nhất.”
Qua tâm linh, tôi biết Phượng nói thật. Tôi muốn quên những việc đáng buồn đã xẩy ra; quên không được, tôi cố gắng bào chữa cho Phượng. Nhưng ghen tương, ích kỷ, cũng không phải là những cảm nghĩ nhỏ trong lòng người chồng.Những cuộc thăm viếng kéo dài được 4 tháng thì một hôm Phượng bảo tôi, “Tuần sau em về Long Xuyên với má; sống ở thành phố không có sinh kế gì hết.”
Tôi hăng hái khuyến khích vợ tôi xa lìa Saigon. Ít nhất về ruộng sống với mẹ Phượng cũng đỡ phải lo 2 bữa ăn hàng ngày, cái lo to lớn của người thị dân sau ngày bị giải phóng.“Mỗi tuần được gặp em là niềm an ủi lớn cho anh,” tôi bảo vợ. “Nhưng cái nhìn ngờ vực, khó chịu của 2,000 anh em đồng đội, đồng cảnh trước việc anh được uu đãi làm anh khổ sở. Anh muốn chịu chung những đầy ải với họ.”
Tuần sau Phượng không đến thăm tôi nữa. Cuộc sống khổ sai không hạn định trở thành dài hơn vì thiếu sự chia cắt của những tiêu mốc ngắn hạn. Tôi trở lại vị trí của cái máy người, vô tri giác, không phản ứng, bảo đi thì đi, bảo học thì học, bảo lao động thì lao động. Những bạn nào đã sống trong trại cải tạo của Việt Cộng hẳn đồng ý với tôi là cộng sản đã thành công trong việc làm chúng tôi mất hết tri giác. Không vui, không buồn, không hy vọng, thất vọng, không mong chờ bất cứ một điều gì nữa. Cuộc sống hàng ngày như một bộ máy được điều động bằng những tiếng còi, những khẩu lệnh. Phần ăn quá đói làm tất cả chúng tôi tìm được cái khôn ngoan của loài vật: không làm một cử động thừa, không nói một câu thừa để không phí phạm bất cứ một phấn thật nhỏ nào cái sinh lực le lói còn trong xác người.
Tăng Thanh Hà đẹp hút hồn trong ảnh lịch 9
Chính trong trạng thái vật vờ của một xác chết chưa chôn ấy, tôi nhận được giấy phóng thích. Cầm tờ giấy chấm dứt cuộc sống tù ngục của mình trong tay, tôi dửng dưng như cầm một tờ truyền đơn học tập. Nói dửng dưng cũng vẫn chưa đúng; tôi không ý thức được những thay đổi tờ giấy mang lại cho tôi. Nhẩn nha nhơi từng hột bắp của bữa ăn trưa đói khổ tôi nghe cơ thể khoan khoái với chút bồi dưỡng ít oi. Trái bắp có trong tay vẫn quý hơn hai chữ “tự do” mới viết trên giấy.
Một cán bộ bảo tôi, “Chiều nay anh khỏi lao động; về sửa soạn nóp, chén trả lại nhà kho.”
Khỏi lao động, một tin mừng khác. Tôi trở về căn phòng giam hôi hám nhưng mát rượi như một thiên đàng so sánh với cái hỏa ngục lao động sản xuất mà các bạn tôi đang chịu đựng ngoài trời.
Bốn giờ chiều Phượng đón tôi ngoài cổng trại giam. Người vợ đài các của một bác sĩ mặc cái áo bà ba vải bông và cái quần đen, đứng vịn một chiếc xe đạp đàn ông cũ kỹ. Có thể tôi sẽ ít ngỡ ngàng hơn nếu từ trong thế giới tù ngục bước ra được gặp lại thế giới cũ của mình với xe honda, với áo dài. Tôi đang bước vào một thế giới hoàn toàn khác lạ sau chưa đầy 2 năm mất nước.
Thế giới bên ngoài nhà tù không phải ít khe khắt, ít đọa đầy; suốt một năm trời tôi phải sống trong chế độ “quản chế của nhân dân”; tôi xin giải thích những chữ văn hoa này. Chế độ “quản chế của nhân dân” có nghĩa là tôi phải làm mọi không công, phải sợ sệt tất cả mọi người. Bất cứ ai trong phường cũng có quyền phán xét là tôi chưa giác ngộ, cần học tập thêm, là tôi lại đi tù nữa.
Tôi cúi mặt trước tất cả mọi người, dù đó chỉ là một đứa con nít. Tôi vâng dạ, tôi tuân lệnh, không cần biết lệnh đến từ đâu. Một bà hàng xòm gọi tôi đến coi chứng bệnh cho thằng con tám tuổi. Sau khi quan sát kỹ mọi triệu chứng, tôi bảo bà là con bà bị thương hàn và không có cách nào hay hơn là đưa nó đi bệnh viện. Bà quắc mắt, “Anh đi học tập ra mà con như vậy đó hả? Nhân dân có quá nhiều nhu cầu để bệnh viện thừa chỗ trống cho một đứa con nít nóng lạnh. Anh không biết cách nào khác nữa sao?”
Tôi đề nghị bà đừng cho con ăn gì hết để ruột không hư. Bà ta cáu kỉnh nạt, “Lang băm tư bản.”
Sau khi tôi về không hiểu bà có nghe lời tôi khuyến cáo không, nhưng rất may là đứa trẻ lành bệnh. Suốt nửa tháng trời tôi hồi hộp lo sợ: cái chết của đứa trẻ vì thiếu thuốc, thiếu chăm sóc có thể đưa tôi trở lại trại cải tạo như không.
Nguồn an ủi của tôi là số người thiếu ý thức như bà hàng xóm mà tôi vừa kể tương đối rất ít; đa số dân Saigon sống trong một tình đoàn kết ngấm ngầm nhưng khắng khít. Một bà cụ dúi cho tôi gói gạo nhỏ qua câu nói chí tình, “Bác sĩ phải ăn thêm mới sống nổi, tôi già rồi, thiếu thốn chút đỉnh cũng không đến nỗi nào.” Bà vợ của một công chức còn đang tù tội cho tôi đôi giầy. Ông hàng xóm sát vách cho cái áo.Nhưng mọi nguồn vui của tôi đến từ Phượng thì nàng cũng là nguyên nhân của mọi buồn khổ. Phượng làm đĩ ra mặt, không còn e dè gì tôi nữa cả. Vợ tôi không chỉ tống tình cán bộ cộng sản để thăm nuôi tôi nữa, mà xuống đến tận chân thang của xã hội: mỗi ngày vài lần những anh phu xích lô đến gọi Phượng đi khách. Những lần đầu tiên Phượng còn ngượng với tôi, nhưng sau quen dần, nàng chỉ bảo tôi, “lát em về.”
Phần tôi, tôi vẫn phải tình nguyện xung phong trong mọi công tác nặng nhọc của phường như hốt rác, quét đường, trồng cây, thông cống, … . Tôi xung phong để được chấm điểm, xung phong để khỏi trở lại lao tù cải tạo. Ðôi khi nghĩ quẩn tôi cho rằng đi tù mà còn tự do hơn chế độ nhân dân quản chế.Tăng Thanh Hà đẹp hút hồn trong ảnh lịch 14Thêm một lần nữa, tôi tuyên dương sự thành công của cộng sản. Chúng đã hoàn toàn đập tan uy thế của giới chỉ huy, giới trí thức miền Nam. Suốt một năm ra khỏi tù, tôi không được phép làm bất cứ một việc gì cả. Nói một cách khác, tôi phải ăn bám vào đồng tiền vợ tôi ngày ngày bán thân tạo ra. Sau 31 năm, nghĩ lại tôi vẫn rùng mình khiếp sợ.
Tôi xin độc giả ngưng đọc một phút để hình dung cái nhục nhã của tôi, của tất cả giới trí thức miền Nam. Tôi không đủ can đảm để nói bất cứ câu gì với vợ tôi về việc làm của nàng; cả hai chúng tôi cúi đầu chịu phép trước guồng máy xã hội mới.
Nếu một ngày tù dài bằng một ngàn năm sống tự do thì 365 ngày bị trói tay, thất nghiệp, sống đói khổ dưới quyền quản chế của nhân dân, và nhìn vợ đi làm đĩ chắc phải dài hơn sự hiện hữu của cả hệ thống vũ trụ.
Giữa hai vợ chồng tôi nẩy sinh ra một tình trạng ngượng ngập khó tả, Ít khi tôi dám nhìn thẳng vào mắt Phượng, và gần như không bao giờ tôi dám nói với nàng chuyện gì khác hơn là những câu đối thoại tầm thường quanh sinh hoạt nho nhỏ trong nhà.
Thỉnh thoảng bà mẹ vợ tôi lén lút đem được ít gạo, ít thịt lên cho chúng tôi. Qua những cuộc tiếp tế lậu này, tôi khám phá thêm được một bí mật: vợ tôi không hề về Long Xuyên với mẹ như nàng đã nói với tôi. Phượng đã làm gì, ở đâu, trong 7 tháng trời tôi nghĩ nàng về quê sống với mẹ? Cả đến câu hỏi này cũng chưa lần nào tôi dám hỏi Phượng. Tôi trốn chạy một sự thật phũ phàng nào nữa đó sẽ đến, nếu Phượng phải trả lời tôi.
Tối 30 tháng Chín 1978, sau khi theo một anh xích lô “đi khách” về, Phượng kéo tôi vào phòng trong cùng với bé Mai. Trên bộ ván thay cho cái giường nệm đã đi vào chợ trời từ hai năm trước, Phương mở gói thịt quay ra rồi bảo tôi, “Mình ăn với em.”
Từ sau ngày mất nước đây là lần đầu tiên tôi lại được nhìn thấy miếng thịt quay; Phượng lăng xăng bới cơm, và vợ chồng con cái chúng tôi ăn uống ngon lành như chưa bao giờ được ăn ngon đến như thế.Nhưng đó không phải là điều ngạc nhiên duy nhất của tôi; ăn uống xong, vợ tôi kéo từ trên đầu tủ xuống một gói giấy: bên trong là một bộ đồng phục thanh niên xung phong. Tay chân run rẩy, Phượng trải bộ quần áo lên mặt bộ ván, rồi giọng nói cũng run rẩy nàng bảo tôi, “8 giờ sáng mai, mình mặc đồng phục này đứng đón tàu ở bến Bạch Ðằng.”
“Ðón tầu? Ðể đi đâu?”
Không trả lời câu hỏi của tôi, vợ tôi chỉ lập cập nói, “Em đã đóng đủ 10 cây cho họ rồi.”
Mười cây vàng! Tôi choáng váng với con số lớn khiếp đảm đó.“Vàng đâu mà em có đến 10 cây?” Câu hỏi buột miệng không nuốt trở vào được nữa, tôi chỉ còn biết nhìn vợ tôi, câu xin lỗi ngầm chứa trong ánh mắt. Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt thăm thẳm tình tứ trên khuôn mặt vẫn còn đẹp dù đã gầy đi và dạn dầy phong trần.
Sau một phút im lặng, nàng nghẹn ngào, “Em không biết mình có tin hay không, nhưng sự thật lúc nào em cũng yêu mình.”Tôi ôm Phượng vào lòng; giữa một xã hội thù hận, cái bóng mát yêu thương nhỏ bé thật là vô giá. Mặc dù Phượng chưa nói, nhưng tôi cũng đoán hiểu mục đích vượt thoát của chuyến đi ngày mai, và hiểu 10 lượng vàng, giá của chuyến đi là kết quả của những canh dài Phương đem thể xác ra cho thiên hạ dầy vò để góp nhặt từng đồng hầu mua tự do cho tôi.
 
Tăng Thanh Hà đẹp hút hồn trong ảnh lịch
Cổ nghẹn lại, tôi không nói được một tiếng nào cả; tôi vừa sung sướng trước những bằng chứng hiển nhiên của một mối tình to lớn, bền chắc, vừa xấu hổ nhận những hy sinh nhục nhã của vợ.
Phượng bảo tôi, “Em chỉ đủ tiền đóng cho mình; nhưng em với con vẫn đi theo mình.” Nàng giải thích cho tôi hiểu chuyến tầu vượt thoát là tầu thầu việc chuyên chở thanh niên xung phong đi làm rừng ở cửa Cần Giờ. Sáng mai, tôi sẽ cùng với 30 người nữa đội lốt thanh niên xung phong xuống tầu tại bến Bạch Ðằng. Ðàn bà, trẻ con đi đường bộ xuống ngã ba Ðồng Chanh, chờ tại đó và sẽ đổ lên tầu. Họ là những người đi lậu, không đóng vàng.
“Người ta đi lậu nhiều lắm,” Phượng bảo tôi. “Em cũng trà trộn vào đám người đó; không lẽ người ta xô mình xuống sông. Sợ gì?”
Tôi sợ. Rùng mình tôi nghĩ đến cảnh “người ta xô vợ con tôi xuống sông”, nhưng có sợ tôi cũng không giải quyết được cái khó không tiền và đành theo mọi xếp đặt của Phượng.Ðêm đó tôi trằn trọc không ngủ, Phượng cũng không ngủ. Vào khoảng gần sáng nàng hỏi tôi, “Mình đã đủ tin vào tình em yêu mình để tha thứ hết mọi việc cho em chưa?”
“Anh tin. Anh yêu mình.”
“Em còn một tội nữa, chưa thú nhận được với mình.”
 Trong bóng đêm, tôi lặng thinh lo lắng. Ngần đó bất hạnh chồng chất vào một cuộc sống ngắn ngủi, cay cực, còn chưa đủ nữa hay sao.
Vợ tôi thở dài, “Lúc đó em còn khờ quá nên chuyện mới xẩy ra. Em phải nói dối mình là em về Long Xuyên với má. Thật ra em không muốn mình buồn.”
Dù vợ tôi chưa nói ra, nhưng tôi cũng đoán hiểu.
“Em có con?” tôi hỏi.
Rúc đầu vào ngực tôi, vợ tôi thút thít khóc, “Mình tha cho em.”Ðứa con chỉ là hậu quả đương nhiên của những việc làm mà tôi đã nhìn vợ tôi hàng ngày đi theo những bác phu xích lô để làm. Bây giờ tôi lại hiểu mục đích cao cả của việc làm đê tiện đó. Tôi thương Phượng hơn là trách nàng.
“Ngày mai em muốn cho con cùng đi?”
“Nếu mình đồng ý.”
Dĩ nhiên tôi đồng ý; đồng ý đưa những người thân nhất đời mình vào chuyến đi địa ngục, vào vòng tay tử thần.
Trước 5 giờ sáng hôm sau, trong bộ đồng phục thanh niên xung phong, tôi chở Phượng và bé Mai trên chiếc xe đạp mà mấy tháng trước Phượng đã dùng để đón tôi ra khỏi trại tù cải tạo. Mặc dù giờ hẹn là 8 giờ, nhưng tôi vẫn đi sớm để hàng xóm đừng để ý đến bộ đồng phục của tôi. Hơn nữa, Phượng còn ghé Phú Nhuận, nơi nàng gởi nuôi thằng Vình, đứa trẻ ra đời trong thời gian tôi ở tù.
Mọi việc xuôi lọt, và tương đối dễ dàng: 7 giờ sáng tôi đến điểm hẹn; nhiều người cũng mặc đồng phục như tôi đã có mặt; nhìn thái độ ngỡ ngàng, dè dặt của họ, tôi hiểu họ cũng như tôi, ngoài bộ áo thanh niên xung phong, chúng tôi không xung phong làm gì hết.
Phượng bảo tôi, “Mình chờ ở đây, em qua Tân Thuận đón đò máy.”
Nhìn vợ lưng đai một đứa con, chở đứa thứ nhì trên thanh ngang xe, ra sức đạp chiếc xe cót két, tôi nghe đứt ruột. Nửa tiếng đồng hồ sau tôi xuống tàu, chọn chỗ ngồi ngay bên hông, hy vọng giúp đỡ Phượng đưa con lên. Khoảng 8 giờ 45, tàu đến ngã ba sông Ðồng Chanh; bốn chiếc đuôi tôm xáp lại, đàn bà trẻ con ồn ào dành nhau leo lên. Tôi đỡ bé Mai trên tay Phượng, rồi kéo Phượng, tay còn bồng thằng Vinh lên theo. Cuộc đổ bộ của khoảng 70 đàn bà, trẻ con lên tàu không những đã công khai mà còn ồn ào, hỗn độn, tranh dành, la lối, đính chánh hùng hồn cái huyền thoại gán cho cộng sản một hệ thống an ninh bao trùm và hữu hiệu. Hàng chục khách thương hồ và ít nhất là 4 người tài công đuôi tôm đã chứng kiến và chắc chắn cũng đã biết mục đích của chuyến đi, nhưng cộng sản vẫn không bắt buộc được họ khai báo, phản phúc đồng bào ruột thịt.
Mười rưỡi, tàu ra đến cửa biển Cần Giờ, và trưa hôm đó quê hương thương yêu chỉ còn là một vệt dài dậm hơn mầu biển. Ðến lúc này các “giới chức” trên tàu mới hò hét chửi mắng những người vượt thoát lậu. Họ bảo chỉ dự trù lương thực và nước uống cho những người có ghi tên và có góp vàng. Những người khác sẽ không có khẩu phần.
Phần ăn và nhất là phần nước uống ít oi của tôi được chia làm 4; bao tử trống nhưng tâm tư vợ chồng chúng tôi tràn đầy hạnh phúc. Vợ tôi ngồi sát bên tôi, tay ẵm thằng Vinh, bé Mai nằm gọn trong lòng tôi; đầu vợ chồng tôi đội chung một cái áo, vừa làm nón cho người lớn, vừa làm mái nhà cho trẻ con.
Ngồi bó rọ trong cái cảnh mà nếu được nhìn thấy, chắc mọi người phải gọi là địa ngục trần gian, vợ chồng tôi bàn chuyện thiên đàng mộng tưởng. Cái thiên đàng của chúng tôi rất giản dị: bất cứ nơi nào cho tôi được đem sức đàn ông ra đi làm, làm bất cứ việc gì để nuôi vợ, nuôi con.
Tôi bảo Phượng, “Anh sẽ làm việc, làm ngày, làm đêm, để không bao giờ em và con còn phải thiếu thốn khốn khổ nữa.”“Em thương mình,” Phượng thủ thỉ bên tai tôi. “Không bao giờ em còn làm mình buồn nữa.”
Tất cả những cam kết, hứa hẹn, dự tính đẹp như mộng ấy, chúng tôi đem ra làm thức ăn để đánh lừa cơn đói. Khẩu phần của tôi mỗi bữa khoảng 2 chén cơm chỉ vừa đủ cho 2 đứa nhỏ. Phượng và tôi nhắp một đầu đũa để cầm hơi.
 Qua đến ngày thứ 3, vì đói quá, khi đi lãnh cơm tôi thò tay vào nồi, vừa bốc thêm một nắm cơm vừa nói, “Cho tôi xin thêm chút cơm.”
Một quả đấm bay vào mặt tôi; yếu đuối sau 14 tháng bị giam cầm đói khổ, yếu đuối sau 3 ngày thiếu cơm, thiếu nước, tôi té ngửa dưới sức mạnh của quả đấm trời giáng.
“ÐM quân ăn cướp. Ðã đi lậu mà còn đòi ăn nữa hả.”
Quả đấm tuy đau, nhưng tôi vẫn mừng vì cà mèn cơm chưa đổ. Bưng cà mèn đầy cơm hơn nhờ bốc thêm được một nắm về mái lều to bằng manh áo, tôi sung sướng nhìn Phượng được ăn thêm miếng cơm thứ nhì. Tôi an ủi vợ, “Mình đi được 3 ngày rồi, nhiều lắm 2 ngày nữa cũng phải đến Thái Lan hay Mã Lai.”
Héo hắt cười, Phượng nhìn tôi. Tôi muốn thuyết phục cho vợ yên lòng, nhưng chính giọng nói của tôi cũng không vững.
Mũi tàu vẫn hướng về phía Nam, điều làm tôi thắc mắc. Mặc dù không có cả đến một tấm địa đồ nhỏ trong tay, nhưng tôi vẫn mường tượng được vị trí của Thái Lan và Mã Lai so với Việt Nam. Tôi góp ý với những người điều khiển tàu là nên cho mũi tàu chếch thêm về hướng Tây Nam. Tôi chưa nói dứt lời, một ông vạm vỡ nạt ngang, “Anh biết gì mà nói.”
Ðến ngày thứ 5 của chuyến hải hành, vợ tôi lả đi vì đói, vì mệt và say sóng. Phượng dựa vào thành tàu, mắt nhắm nghiền, đầu gục xuống. Tôi van xin ông ngồi cạnh nửa thước khoảng trống để vợ tôi có thể ngả lưng trong thế nằm co quắp. Hai đứa bé không còn khóc được nữa; tiếng khóc của chúng trở thành những tiếng rên nho nhỏ.
Tôi mò xuống bếp tán tỉnh xin phụ việc. Khoản thù lao tôi mong mỏi chỉ là mỗi bữa một chén nước cơm cho trẻ con uống. Chúng không còn sức để nhai và nuốt vật cứng nữa. Một ông “giới chức” hất hàm hỏi tôi, “Trước kia anh làm nghề gì?”
Dĩ nhiên việc đi cải tạo không phải là một nghề, mà cũng không phải là việc đem ra khoe được, tôi đành khai, “Thưa ông, tôi làm bác sĩ.”
“Biết chích không?”
“Dạ biết.”
Thế là tôi biến thành thầy Hai chích dạo. Bà vợ ông giới chức bị bệnh đái đường; ông đem theo một xách thuốc cần thiết cho bà, nhưng thiếu thầy Hai chích. Ðường lên, bà nằm mê man từ 2 ngày nay. Tôi được đưa vào khoang để chích insuline cho bà. Bữa đó không những có được chén nước cơm, mà trong cà mèn còn thêm được một miếng thịt.
Ðược dinh dưỡng, vợ tôi và 2 đứa trẻ cũng tỉnh táo hơn. Chiều hôm đó tôi lại có thêm một thân chủ: gia đình một người Trung Hoa nhờ tôi chăm sóc cho đứa con bị cảm nắng. Họ tạ thầy một hộp Sumaco, khiến bữa ăn chiều của chúng tôi có thể nói là thịnh soạn.
Cà mên cơm đầy ăn với cá hộp giúp Phượng đủ sức ngồi dậy săn sóc con. Hai đứa trẻ vẫn đuối, nhưng nhờ được uống nước cơm nên không đến nỗi bị lả đi như hôm trước nữa.
Sáng hôm sau tôi trở lại chích thuốc cho bà giới chức; nhờ insuline làm tan đường, bà đã ngồi dậy được, tỉnh táo hơn. Uy tín lang băm của tôi gia tăng nhanh chóng, số thân chủ cũng gia tăng vì sau 5 ngày ngồi bó rọ phơi nắng, gần như tất cả mọi người đều cảm thấy mệt đuối, đau nhức, nhiều người sốt, cảm, và ho.
Nỗi khổ tâm của tôi là trị bệnh không dược liệu; đem kinh nghiệm 14 tháng giúp bạn tù trị bệnh bằng phương pháp kháng bệnh, tôi chỉ dẫn mọi người cách hô hấp, cánh tập trung tư tưởng để tự kỷ ám thị.
Nhờ hành nghề bác sĩ, khẩu phần của gia đình tôi trở nên sung túc hơn rất nhiều. Mỗi gia đình vượt biển đều có thủ theo một vài thứ thực phẩm khô, họ chia cho tôi một ít để thù lao bác sĩ.
Ðến ngày thứ 7, nhờ được ăn no hơn vợ tôi đã bình phục và hai đứa trẻ cũng tỉnh táo. Trưa hôm ấy chúng tôi gặp hoạn nạn: chiếc áo mái nhà của tôi bị gió biển cuốn đi, vợ tôi lục giỏ tìm cái áo khác ra căng lều. Lần này tôi có ý cột kỹ tay áo vào thành tầu.
Tối hôm đó, đang gục đầu trong thế ngủ ngồi tôi nghe như một biến chuyển lớn đang xẩy ra. Giật mình tôi thức dậy trong tiếng reo hò của mọi người.
“Tới rồi. Thấy đất rồi.”
“Cảm ơn trời phật. Chuyến đi quá dài nhưng rồi cũng đến.”
Giọng quát của một giới chức, “Ngồi cả xuống; chạy tới, chạy lui, mất thăng bằng lật tàu chết cả đám bây giờ.”
Mọi người ngoan ngoãn ngồi trở xuống, nhưng tiếng ồn ào vẫn không ngớt. Người ta bàn tán, “Chắc là Mã Lai.”
“Có lẽ như vậy, vì nó là hòn đảo, chứ Thái Lan thì đã thấy lục địa.
“Không chừng Nam Dương.”
“Rất có thể là Úc.”
Vợ tôi nắm tay tôi bóp mạnh. Tôi nghe như những mừng vui của Phượng đang được chuyền sang tâm hôn tôi mà không cần một lời nói. Mọi người mừng vì chuyến hải hành 8 ngày đã đến đích. Cuộc hành trình của riêng tôi và Phượng đã kéo dài gần 4 năm, mà mỗi ngày là một cơn ác mộng bất tận cho cả 2 chúng tôi cũng đang chấm dứt với chuyến đi này. Nỗi mừng của chúng tôi, vì vậy mà to lớn hơn tất cả. Chúng tôi mừng đến không nói được nên lời, không hò reo được như mọi người. Tôi ngồi yên, không buồn chồm lên nhìn hòn đảo mà tàu đang tiến vào nữa. Niềm vui của tôi đã quá đầy từ ngày bước chân xuống tàu rời bỏ quê hương địa ngục, trên những bằng chứng xác nhận tình yêu tuyệt vời của Phượng đối với tôi. Không một người bạn đồng thuyền nào thỏa mãn bằng tôi.
Ông bạn ngồi cạnh gợi chuyện, “Hình như hòn đảo nhỏ quá.”
“Vâng,” tôi lơ đãng đáp.
“Không chắc đã có người trên đảo.”
“Vâng.”Mũi tàu vẫn hướng vào hòn đảo cô đơn trong khi niềm lạc quan trên tàu lắng xuống. Khoảng cách thu ngắn dần làm mọi người thấy rõ kích thước nhỏ bé của hải đảo. Nhưng giữa khoảng ngàn trùng của đại dương nhấp nhô hòn đảo kia vẫn là đất, vẫn bảo đảm vững vàng. Hơn nữa, nó cũng lớn tối thiểu bằng 20 lần con tàu dài 15 thước, rộng 3 thước với 140 người trong lòng tàu.
Ða số góp ý kiến nên ngừng lại đảo.
 “Biết đâu bờ bên kia lại không có một làng chài lưới.”
“Ghé nghỉ ngơi một ngày, đi lại cho dãn gân; ngồi bó gối mãi, mỏi quá.”
“Có thể tìm nước ngọt, đánh cá tăng thêm thực phẩm trước khi tiếp tục đi nữa.”
Cuối cùng, những giới chức trên tầu quyết định cho tầu chạy một vòng quanh đảo để quan sát trước. Và đó là quyết định cuối cùng của họ với tư cách chỉ huy chiếc tiểu hạm tử thần: mới chạy được nửa vòng đảo, tàu chạm đá ngầm, vỡ đáy, lật nghiêng qua 30 độ. Phượng văng từ thành tàu bên này sang thành tàu bên kia, thằng Vinh tuột tay mẹ, rơi thẳng xuống biển. Trên đà nghiêng của con tàu, tôi phóng nhanh đến bên Phượng, trao vội bé Mai cho nàng và nhẩy xuống biển để chỉ vừa kịp nắm tay đứa bé chưa đầy năm, theo nó ngụp vào một đợt sóng lớn. Sóng đưa tôi và thằng Vinh vào gần bờ, và do đó tôi trở thành người đầu tiên đặt chân lên hòn đảo san hô thê lương, sau này biến thành nơi gởi xác của nhiều người trong chúng tôi.
Tăng Thanh Hà đẹp hút hồn trong ảnh lịch 6
Việc làm đầu tiên của tôi là bồng thằng Vinh đưa lên cao để vợ tôi nhìn thấy mà yên lòng. Cách bờ khoảng 15 thước, mọi người nhốn nháo; tiếng kêu khóc thật là thê thảm, nhiều người nhẩy xuống nước chạy vào bờ.
Sau khi bị vỡ đáy, con tàu mắc cạn đang từ từ trở lại thế thăng bằng, mặc dù vẫn còn hơi nghiêng, nhưng người trên tàu không đến nỗi phải bám cứng vào thành tàu để khỏi rơi xuống biển nữa.
Nhờ người coi chừng thằng Vinh, tôi lội xuống nước trở ra mạn tàu bồng bé Mai, và xách gói hành lý khiêm tốn của chúng tôi, rồi dắt Phượng lên đảo. Nhiều người khác cũng làm như chúng tôi; họ lìa bỏ con tàu mà không cần biết là đi đâu, nhắm mắt đưa chân, như 8 ngày trước rời bỏ quê hương Việt Nam.
Ðó là sai lầm của chúng tôi. Hòn đảo san hô khô cằn, lởm chởm, không dung nạp chúng tôi. Tìm được một chỗ bằng phẳng để ngồi xuống cũng đã khó chứ chưa nói đến việc ngả lưng.
Sau gần một tiếng đồng hồ loay hoay tìm kiếm, tôi chọn được một hốc đá tương đối rộng rãi để định cư. Cái áo làm mái nhà đổi vai trò trở thành tấm chiếu cho trẻ con ngồi.
“Ðau đít quá ba ơi,” bé Mai nhăn nhó nói.
Tôi ẵm con lên, đặt nó ngồi trên bọc quần áo, rồi bảo Phượng, “Em coi chừng con, anh đi quanh tìm xem có con ốc, con sò nào không.”
Tôi ngỡ mình là người nhanh chân trong việc đi kiếm ăn, nhưng hơn chục người khác cũng đã lom khom trong các hốc đá tìm kiếm như tôi. Cái may của tôi là trong một kẹt đá nhỏ, tôi chụp được hai vợ chồng một chú tôm hùm khá to, mỗi con khoảng hai kí.
Phượng reo mừng, “đồ biển sẵn thế này là không phải lo đói nữa.” Phượng lầm, mà tôi cũng lầm. Ðồ biển không sẵn như chúng tôi tưởng, hoặc ít ra thì đó cũng không phải là nguồn thực phẩm đủ cung cấp cho 140 người đói khát.
Tôi đi nhặt rác và rong biển về làm củi nướng tôm; tôi cũng tìm được một mảnh ván nhỏ cho Phượng ngồi. Bữa ăn đầu tiên trên hoang đảo, cách tìm thực phẩm, nướng và ăn bốc theo kiểu thượng cổ, vừa ngon lại vừa vui. Vợ chồng, con cái chỉ ăn hết một con tôm, con thứ nhì để dành.
“Em chưa thấy con tôm hùm nào lớn đến như vậy,” Phượng vừa chôn vỏ tôm xuống cát vừa bảo tôi.
Mới 6 giờ chiều, mặt trời còn cao mà gió biển nghe đã lạnh; tôi lo lắng bảo Phượng, “Có bao nhiêu quần áo em lấy mặc hết cho con. Cả em nữa.”
Gói hành lý được mở ra, tắp hết lên người. Mỗi đứa trẻ mặc 4 áo, 3 quần. Phượng được 3 áo, 2 quần. Tôi mặc thêm cái sơ mi nửa ra ngoài bộ đồng phục chưa thay từ ngày đi.
Gia đình ông hàng xóm sát hốc đá nhà tôi định xuống tầu tránh lạnh nhưng bị đuổi trở lên. Một số thanh niên tổ chức chiếm độc quyền cư ngụ trên tầu. Họ cũng ngưng, không phát thực phẩm như trước nữa.
Ðêm hôm đó một người đàn bà chết, có lẽ vì quá lạnh. Chúng tôi xuống tầu mượn được một cây xà beng và một cái búa để đục đá chôn người xấu số. Ðó là người đầu tiên và người cuối cùng được chôn. Lý do thứ nhất khiến chúng tôi không chôn người chết nữa là vì đục đá làm mồ là một công trình quá khó mà lại không hiệu quả. Lớp đá vụn lấp xác chết không chặt được như đất nên chỉ một ngày sau mùi thối đã xông lên nồng nặc. Lý do thứ nhì chua chát hơn: người ta không muốn vùi đi mấy chục kí thịt của người chết trong lúc tất cả đều đói.
Xác chết đầu tiên tôi thấy bị xẻ thịt là xác một thiếu nữ trắng trẻo, xinh xắn. Tôi đang đi nhặt ốc thì nhìn thấy xác cô, khuy áo bị cổi banh ra, chỗ đôi nhũ hoa chỉ còn thịt lầy nhầy và mấy rẻo xương lồng ngực. Một tiếng đồng hồ sau, tôi trở lại, cô đã bị lột truồng, bắp vế, bắp chuối bị xẻo mất.
Tôi rùng mình. Suốt 2 năm chinh chiến tôi cũng đã chứng kiến nhiều cái chết ghê rợn do súng đạn gây nên, nhưng quả thật chưa một xác chết nào làm tôi khiếp đảm hơn.
Thượng Ðế ơi, người đã sinh ra con người như sinh vật khôn linh hơn mọi sinh vật khác, sao người lại còn bày ra những thử thách trớ trêu đó để làm gì? Ðể chứng minh là con người cũng không hơn gì loài cầm, loài thú ư?
Tôi trở về hốc đá với khuôn mặt chắc phải vô cùng sầu thảm; nhìn tôi, Phượng bảo, “Mình đuối lắm rồi, để em đi kiếm thực phẩm thay mình.”
“Em không đi đâu hết,” tôi gạt phăng.
 Vợ tôi nhìn tôi lo sợ; có thể Phượng thấy phản ứng của tôi không bình thường, chưa bao giờ tôi gắt gỏng với nàng, ngay cả những lần nàng theo bác phu xích lô đi khách. Quanh chúng tôi, người ta phát điên, người ta đánh nhau chỉ vì những chuyện không đâu. Tình trạng tuyệt vọng, kinh hoàng làm chúng tôi thành hốt hoảng. Có thể Phượng nghĩ tôi cũng đang có những triệu chứng bắt đầu. Tôi an ủi vợ, “Anh không muốn em đi đâu hết. Quanh chúng ta đang có trên 100 người mất tự chủ. Em phải ở cạnh anh.”
Thật ra tôi chỉ muốn tránh cho Phượng khỏi nhìn thấy xác người thiếu nữ không vú, không đùi. Kéo đầu Phượng gục vào vai, tôi vỗ về, “Rồi mọi chuyện sẽ khá hơn; thế nào chẳng có một thương thuyền đi qua đây.”
Tôi nói để mà nói, nhưng tôi nghĩ Phượng không mấy tin, không mấy quan tâm đến những điều tôi nói.
Chúng tôi đã đói khát gần 1 tuần lễ; quanh bờ biển không còn một cái vỏ hào nào nguyên vẹn. Người đầu tiên vừa đập vỡ con hào để lấy ruột, thì chỉ vài phút sau đã có người đến đập lần thứ nhì, hy vọng vớt vát một chút gì còn xót lại.Ðến tuần thứ nhì không ai còn dấu diếm chuyện ăn thịt người nữa. Gần như tất cả mọi người đều đã ăn thịt đồng loại. Tệ hơn là họ không chờ nạn nhân chết hẳn mới xẻ thịt. Ðể thịt và ruột gan không lạnh tanh, họ xẻ thịt những người đang thoi thóp, ngắc ngoải. Xương và đầu người chết bị ném xuống biển, cám dỗ hàng bầy cá mập.
Nhìn những con cá hung hãn chồm vào đến tận bờ để chia phần thịt người, tôi bàn với ông hàng xóm phương pháp bẫy cá mập. Chúng tôi đào một vũng cạn, rồi lấy đá be bờ khá cao. Sườn vũng nước nghiêng vào bờ, bên trong sâu hơn bên ngoài bờ biển.
Mượn cái đầu của một bà lão vừa bị xẻ thịt, chúng tôi thả mồi chờ cá mập; thời gian chờ đợi không lâu hơn 20 phút: theo đà sóng một con cá mập nhỏ, khoảng trên dưới 40 kí, trườn vào bẫy.
Sóng rút ra, cá mập mắc cạn và chết ngay sau vài chục nhát búa và xà beng của chúng tôi. Chúng tôi lôi cá lên cạn xẻ thịt; khoảng vài chục người đến hôi món thịt cá mập. Việc xẻ thịt chưa xong, con cá mập thứ nhì đã lại trườn vào bẫy trước tiếng reo hò mừng vui của hơn 100 con người đói khổ. Thịt cá mập béo ngậy và tanh rình, nhưng vẫn giúp chúng tôi tránh được ăn thịt người, và cái bẫy cá mập của tôi trở thành nguồn cung cấp thực phẩm khá dồi dào cho những nạn nhân mắc cạn. Cái khổ của chúng tôi là trên đảo san hô không còn một thứ gì có thể sử dụng thay củi nữa cả; một vài người liều lĩnh xách búa ra định bửa tầu lấy gỗ, nhưng chỉ cần một phát súng bắn chỉ thiên của nhóm thanh niên khỏe mạnh, ăn uống đầy đủ, lại có võ khí, đang chiếm giữ con tàu, cũng đủ làm những người liều nhất trở thành khôn ngoan, lui nhanh vào bờ.
Cầm miếng cá sống, vừa xệu xạo cắn, Phượng vừa hỏi tôi, “Mình có còn tin được câu người ta thường nói ‘trời xanh có mắt’ nữa không?”
Tôi thở dài. Nếu quả trời có mắt thì cặp mắt đó đã nhắm lại từ 4 năm nay rồi. Bé Mai chỉ còn là một cái xác nhỏ xíu, gầy ốm, thoi thóp níu vào cuộc sống. Thằng Vinh khá hơn đôi chút, nhưng cũng nằm lả, đôi mắt gần như không bao giờ hé mở.
Tôi nhai miếng cá trong miệng đến thành nước rồi cúi xuống mớm cho con. Phượng thút thít khóc. Cũng như tôi, vợ tôi hiểu mạng sống của đứa con gái chúng tôi thương yêu, nâng niu, đang tàn lụi dần và sẽ tắt hẳn, khi gió biển, nắng cháy, và thiếu dinh dưỡng, cướp đi những sinh lực cuối cùng. Bé Mai bỏ đi tối hôm đó. Ôm con trong tay tôi nghe hơi thở nó yếu dần, yếu dần trước khi tắt hẳn. Cơ thể của đứa con yêu thương vẫn mềm mại nhờ chút hơi ấm của tình phụ tử ủ ấp.
Tôi lặng đi ngồi ôm xác con trong gió biển cắt da; khoảng một tiếng đồng hồ sau Phượng hỏi tôi, “Con có khá hơn không mình?”
Tôi hiểu nghĩa câu hỏi này: Phượng muốn biết bé Mai đã chết chưa, nhưng chữ “chết” ghê rợn không phát ra được trên đôi môi người mẹ. Tôi lặng thinh để vợ tôi ngỡ là tôi đã thiếp đi trong mòn mỏi. Nhưng rồi tôi thiếp đi thật; sức chống đỡ của cơ thể chỉ có giới hạn. Giữa những hoàn cảnh phi lý nhất, thể chất vẫn giữ nguyên những đòi hỏi bình thường của nó. Ôm xác con trong tay, ngồi giữa một cô đảo Thái Bình Dương, tôi ngủ ngon lành.
Tôi bị mặt trời nhiệt đới đánh thức; mở mắt dạy trong ánh nắng chói lòa, tôi hốt hoảng nhận ra là bé Mai không còn nằm trong tay tôi nữa. Phượng cũng không thấy đâu cả. Tôi cất tiếng gọi vợ, tiếng sau lớn hơn tiếng trước, những tiếng cuối cùng trở thành tiếng gào kinh hoảng.
Những người chung quanh nhìn tôi; cặp mắt họ không thiện cảm, nhưng cũng không ác cảm, mà chỉ là những cập mắt vô can mất hết khả năng xúc động. Cái khổ đau, bất hạnh của tôi, tôi cứ tự gánh lấy. Phần riêng của họ cũng đã quá lớn, họ không thể chia xẻ thêm với ai chút gì nữa cả.
Tay ẵm thằng Vinh, tôi phóng nhanh xuống bờ biển vừa chạy quanh đảo, vừa gọi Phượng. Vợ tôi ngồi xẹp trên một phiến đá, vẻ mặt sầu khổ. Ôm chầm lấy vợ, tôi hỏi, “Em đi tìm con?”
Vợ tôi không nói được một tiếng nào cả.
“Họ đã xẻ thịt bé Mai?” Phượng gật đầu rồi gục vào vai tôi thút thít khóc; tôi lặng đi, tê tái.
Nguyên ngày hôm đó vợ chồng chúng tôi không nói thêm với nhau một câu nào nữa. Trước những đổ vỡ thương đau toàn diện, chúng tôi không còn khả năng khóc, than.
Sáng hôm sau, sau một vòng đi tìm thực phẩm thất bại như từ nhiều ngày nay, tôi trở về hốc đá và tình cờ khám phá ra nguyên nhân giúp bé Vinh còn tương đối mạnh khỏe: Phượng đang cho con bú. Tôi ngạc nhiên vì từ trước đến giờ Phượng không hề làm việc đó. Cả bé Mai cũng bú sữa bò từ khi mới lọt lòng.
Phượng bối rối nhìn tôi, trong lúc tôi nhìn bé Vinh: môi đứa bé đỏ lòm. Tôi kéo vú Phượng ra để thấy một vết cắt còn mới trên đầu vú. Tôi tìm thấy nhiều vết cắt khác ở đầu ngón tay, ở cổ tay người mẹ khốn khổ. Thở dài, tôi cúi đầu. Phượng đang trút tàn lực sang để nuôi một mầm sống. Việc làm vô cùng đáng kính phục đó chắc chắn sẽ làm tôi trở thành góa bụa sớm hơn.
 Dĩ nhiên tôi không ngăn cản, cũng không phiền trách gì Phượng. Ðiều độc nhất tôi có thể làm là cố gắng hơn nữa trong việc tìm kiếm thực phẩm để nuôi Phượng và bé Vinh, nhưng số người đói khát thì đông mà số thực phẩm lại giới hạn nên gần như chúng tôi
không còn tìm ra bất cứ một thứ gì, dù chỉ là cỏ, là cây, để nhai trong miệng.Image result for Truyện "Đôi Mắt Phượng" - Nguyễn Đạt Thịnh
Bốn ngày sau ngày bắt gặp Phượng cho con bú bằng máu, tôi tìm được một con cua khá lớn. Phượng ăn gượng gạo rồi lại nằm ngay. Vợ tôi đuối đến mức tôi phải xé từng miếng thịt cua, đút vào miệng cho nàng.
 Suốt tuần sau, tôi chỉ tìm được vài con ốc. Nhìn những triệu chứng sắp chết của vợ, tôi nghe đứt ruột. Tôi không dám đi kiếm thực phẩm xa nữa, sợ người ta đến ăn thịt Phượng.
Hai ngày sau, đang nửa mơ, nửa tỉnh, tôi chợt nghe nhiều tiếng súng; tiếp theo là tiếng reo hò. Bàng hoàng choàng dậy, tôi nhìn theo hướng nhìn của mọi người và thấy một chiếc tàu đang từ từ tiến lại.
Tim tôi ngừng đập; cuối cùng trời vẫn còn có mắt, chúng tôi sắp được cứu sống, và tôi vẫn còn Phượng, còn người vợ mà trong hoạn nạn tôi thấy tình yêu trở thành to lớn hơn, bền chặt hơn. Tôi sẽ lại được mê mệt, được khổ sở với cặp mắt đa tình của Phượng.
Trong tiếng reo hò của những người đồng cảnh ngộ, tôi cúi xuống thủ thỉ bảo vợ, “Hôm trước em hỏi anh có còn tin là ‘trời xanh có mắt nữa không’; bây giờ anh trả lời em là anh tin. Anh tin cuối cùng rồi ông trời vẫn có mắt.”
Nhưng tôi đã lầm. Ðối với những kẻ bất hạnh, vô phước như tôi, ông trời (nếu có ổng) đã vĩnh viễn nhắm mắt, quay mặt đi.
Con tầu tôi đang nhìn theo là một ngư thuyền của Ðài Loan. Họ neo xa bờ chừng 2 cây số, rồi cho ghe nhỏ vào chở người đại diện của chúng tôi ra thương lượng. Cuộc thương lượng, nói trắng ra chỉ là một cuộc trả giá.
Người đại diện trở về cho chúng tôi biết tầu Trung Hoa đòi một số vàng lớn mới chịu cứu chúng tôi. Số người có vàng đề nghị chia số người Trung Hoa đòi hỏi trên đầu người; những kẻ trắng tay như tôi ngồi lặng thinh, dự thính.
Chiều hôm ấy người đại diện của chúng tôi trở ra ngư thuyền Trung Hoa với một phản đề nghị. Cuộc trả giá kéo dài cho đến tối, và ông ta ngủ lại trên tầu đánh cá. Sáng hôm sau ông trở lại với 3 người Tầu, và bắt đầu cuộc ghi danh, góp vàng.
Những người có vàng để góp lần lượt được xuống ghe máy để ra tàu trước cặp mắt thèm thuồng của chúng tôi. Khoảng xế chiều việc đưa những người góp vàng ra tàu hoàn thành. Người Trung Hoa chở vào cho chúng tôi một thùng cá và bảo, “Các anh ăn uống tạm tối nay. Sáng mai chúng tôi sẽ vào chở tất cả ra tàu.”
Thì ra họ chỉ muốn làm khó dễ để lột một số vàng của những người có tài sản. Sáng hôm sau toàn bộ chúng tôi được chở ra tàu; một thủy thủ Trung Hoa giúp tôi bồng bé Vinh, trong lúc tôi bồng Phượng xuống ghe.
Yếu đuối, tôi ngã mấy lần, Phượng mở mắt nhìn tôi, cặp mắt tình tứ, đắm đuối ngày xưa, giờ này đã mất thần.
Xuống tầu, tôi xin một ly sữa, đút cho Phượng, nhưng vợ tôi không còn nuốt được nữa. Tôi biết cơ thể nàng đã mất hết hydrate; giải pháp độc nhất còn lại là nuôi bằng nước biển, nhưng làm gì có thứ đó trên một ngư thuyền.
Phượng lịm dần và hơi thở thật sự tắt hẳn vào đêm hôm đó. Xác nàng bị chuồi xuống biển theo hình thức thủy táng.
TÔI DỨT CÂU CHUYỆN vào lúc 11 giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 2004, rồi bảo thằng Vinh, “Ba hứa ngày con học xong, ba sẽ kể lại câu chuyện về mẹ con cho con nghe; ba đã thực hiện lời ba hứa.”
Nó bước đến trước ghế tôi ngồi, quỳ xuống, gục đầu lên đùi tôi, “Ba đau khổ nhiều quá,” lời nó nghẹn lại. “Con thương ba.”
Tôi vuốt tóc nó, “ba thương con.”
 “Con muốn vinh danh mẹ,” thằng Vinh bảo tôi. Năm đó nó 26, vừa ra trường thuốc Austin, và đang tập sự tại nhà thương Memorial Hertman, Houston, nơi tôi làm việc.
 “Bằng cách nào?” tôi hỏi nó.
“Con muốn về Việt Nam để cùng bác sĩ Nguyễn Ðan Quế tranh đấu giải thể chế độ cộng sản dã man đã giết mẹ con, giết chị Mai, và làm ba buồn khổ suốt cuộc đời.”
“Môi trường tranh đấu tại hải ngoại thuận lợi hơn môi trường quốc nội,” tôi bảo Vinh. “ Tiếng nói của con sẽ lớn hơn, vì có một đối tượng rộng hơn, quyền hạn hơn.”
Nó nghe lời tôi, và giờ này bác sĩ Trần Phượng Vinh, con của bác sĩ Trần Quang trở lại trường đại học; môn học mới của nó là điện ảnh.
Họa sĩ Thương Thương, hôn thê của nó đã vẽ xong từ năm ngoái bức tranh quảng cáo cuồn phim đầu tay ÐÔI MẮT PHƯỢNG của tài tử kiêm đạo diễn Phượng Vinh.
Nó đóng vai trung úy quân y của Sư Ðoàn Nhẩy Dù, trung úy Trần Quang.
 

Nguyễn Đạt Thịnh

Thanh Hương st

 

IMG_1341

Xem thêm...

Quạt Trung Hoa–Nhật Bản nghệ thuật cổ điển phương Đông

Quạt Trung Hoa

Quạt Nhật Bản

 Nét tinh túy nghệ thuật cổ điển Phương Đông

Quạt  đã xuất hiện từ rất sớm tại Trung Hoa, tính đến nay đã có hơn 3000 năm lịch sử. Quạt ban đầu từ một dụng cụ chỉ có tác dụng che mặt, che nắng và để dùng cho mát, thuận theo sự thay đổi, phát triển của các triều đại, các danh họa còn phóng bút đề thơ, thư pháp và họa lên mặt quạt, biến nó trở thành một loại hình nghệ thuật cổ điển tao nhã, tinh xảo.

(Ảnh: 91ddcc)

Thời cổ đại, quạt còn được gọi là “Diêu phong” (mang nghĩa “gió đong đưa”) và “Lương hữu” (nghĩa “những người bạn mát lành”). Từ cái tên cũng đã thấy được tác dụng thuở ban đầu của quạt, đó đem lại cơn gió mát lành giúp làm mát cơ thể.

Từ triều đại Tây Hán (202 TCN-9 CN) đến thời Ngụy, Tấn (khoảng năm 220), quạt tròn là hình ảnh đại biểu cho sự đoàn tụ sum vầy, những cô nương tính tình dịu dàng, ôn nhu rất ưa thích lựa chọn sử dụng, vừa có thể làm mát, lại vừa là một món phục trang, mà còn bởi nó là biểu tượng cho tình yêu thuần khiết.

(Ảnh: kuaibao)

Đến thời Tam quốc diễn nghĩa, Gia Cát Lượng không rời tay chiếc quạt lông vũ, tương truyền, đó là kỷ vật được phu nhân của mình tặng. Ông luôn mang nó theo mình, vừa như để trân trọng tấm lòng của người vợ, vừa như để tự nhắc mình: đại trượng phu làm việc lớn phải biết tiết chế, làm chủ cảm xúc.

Bởi vậy, người ngoài nhìn ông, chỉ luôn thấy thần thái thong dong, an tĩnh của ông. Do đó, người đời sau, coi quạt lông vũ làm biểu tượng của trí tuệ.

(Ảnh: vothuat)

Quạt là một món đồ rất thiết thực. Nó vừa nhẹ, mỏng lại to, không chỉ có thể quạt gió lấy mát, mà còn được đem vào biến thành một loại hình nghệ thuật. Trung Hoa cổ đại có truyền thống biến những thứ đồ dùng hằng ngày trở thành món đồ trang trí, do đó, cán quạt thì được chọn để điêu khắc, mặt quạt thì được làm thơ họa tranh, vừa thể hiện tính thẩm mỹ người dùng, vừa mang lại “cảnh đẹp ý vui”.

(Ảnh: China7)

Ban đầu, việc chạm khắc và vẽ tranh là do những người thợ thủ công bình thường hoàn thành. Dần dần, nhiều nghệ thuật gia khác cũng đến tham gia, biến quạt không còn chỉ đơn thuần là một cái quạt thông thường nữa, mà nó đã phát triển trở thành một tác phẩm nghệ thuật.

(Ảnh: Pinterest)

Tại Trung Quốc, quạt rất đa dạng về chủng loại, hình dáng. Các thợ mộc dụng tâm, dày công điêu, khắc v.v. còn các danh nhân thì múa bút đề thơ, vẽ tranh, biến cây quạt trở thành tác phẩm nghệ thuật có giá trị gấp lên hàng trăm lần.

Trong số đó, nổi tiếng nhất phải kể đến quạt gỗ đàn hương (Giang Tô), quạt lửa (Quảng Đông), quạt lụa tre (Tứ Xuyên) và quạt lụa (Chiết Giang), được mệnh danh là “Tứ đại danh phiến” (“phiến” có nghĩa là “quạt”).

Chúng ta cùng đi tìm hiểu về một số loại quạt nổi tiếng.

(Ảnh: kuaibao)

Quạt lông vũ

Cán quạt lông thường được chọn tre và gỗ để dùng, còn xa hoa hơn thì có thể dùng xương động vật, ngọc bích hoặc ngà voi làm tay cầm. Ở đuôi quạt, có thể treo lên dải sợi tơ tằm, hoặc có thể là tấm ngọc bội có tác dụng làm đẹp, trang trí.

(Ảnh: szfan)

Người ta thường chọn lông chim công, lông ngỗng, lông chim trĩ v.v. để làm quạt, vừa là vật trang trí có tính thẩm mỹ cao, vừa góp phần mang thiên khí cho gia chủ, tăng sức mạnh luyện khí công và sự màu nhiệm trong cầu nguyện, đó còn là vật trưng bày trong những nghi lễ cung đình Trung Hoa xưa.

(Ảnh: Sina)

Trong quá trình chế tạo, bước đầu tiên chính là chuẩn bị lông. Phải trải qua nhiều quá trình như thu thập, tuyển chọn, chải chuốt, rửa lông, chải lông, cắt tỉa tỉ mỉ, phải thực hiện đầy đủ tất cả các bước đó. Lông được chọn dùng để làm quạt, phải là loại lông thuần trắng ở phía thân trên, để nếu có cần thì có thể đem đi nhuộm màu.

Quạt đang được bảo tồn ở Bảo tàng Boston, Mỹ
 (Ảnh: Museum of Fine Arts, Boston)

Vào thế kỷ XVIII và XIX, Trung Quốc đã gửi sang phương Tây quạt lông vũ với các vật liệu quý hiếm và được chế tạo tinh xảo, bây giờ đang được bảo tồn trong Bảo tàng Boston, Mỹ.

Quạt gấp giấy

Quạt giấy gấp có thể coi là loại phổ biến nhất, thường được sử dụng nhất. Giấy được lựa chọn làm quạt càng phải tinh chế, nan quạt được tạo thành từ loại gỗ dài và mỏng, sau đó đem từng miếng ghép lên nhau, được chạm khắc rất tinh xảo, dụng tâm và đa dạng; kết hợp với khảm trai, thiếp vàng, thiếp bạc, sơn mài v.v.

(Ảnh: taobao)

Mặt quạt được trang trí vô cùng tinh tế, sử dụng loại giấy trắng có mùi hương, xa hoa hơn, càng tinh xảo hơn thì còn dùng cả lá vàng mỏng làm vật liệu. Nội dung càng phong phú hơn nữa, có đề thơ, có tranh thư pháp, có họa tranh, tranh sơn thủy, chim muông, vạn sự vạn vật đều in chiếu lên mặt quạt, mang đến hương vị tao nhã.

(Ảnh: Tinhhoa)

Dưới nhà Thanh, quạt giấy gấp phát triển mạnh mẽ, vượt trội nhất.

Quạt ngà

Ngà voi, cũng chính là răng cửa của voi, bề ngoài của nó không có men răng bao bọc, rất kị axit. Vì thế mà những người thợ chế tác thường ngâm ngà voi vào giấm chua trước khi gia công, khiến ngà voi trở nên mềm hơn, thuận tiện cho việc dùng dao hay các dụng cụ điêu khắc mà chạm khắc.

(Ảnh: kuaibao)

Đây là một vật liệu rất có giá trị để làm nên một chiếc quạt. Chạm trên ngà voi vào thời nhà Thanh phát triển vượt bậc, ngà voi không chỉ được chế tạo thành khung quạt mà còn được sử dụng để tạo thành một chiếc quạt hoàn chỉnh.

(Ảnh: kuaibao)
(Ảnh: kuaibao)

Quạt đàn hương

Quạt gỗ đàn hương được tạo ra từ vật liệu chính là gỗ đàn hương. Đó là loại gỗ nặng, mịn và là loại gỗ đắt thứ hai trên thế giới, sau gỗ đen Châu Phi.

Loại quạt này, thông thường người thợ sẽ chọn loại gỗ bạch đàn nếu quạt yêu cầu màu trắng, sáng. Còn nếu là loại quạt màu tím thì sẽ chọn loại gỗ tử đàn để sử dụng. Nhưng thường thì gỗ bạch đàn hay được lựa chọn sử dụng hơn.

(Ảnh: kuaibao)

Và đặc biệt hơn, không giống như nhiều loại gỗ thơm khác, gỗ đàn hương có thể giữ được hương thơm của chúng trong thời gian rất rất dài, lên đến vài thập kỷ, do đó khi quạt lên sẽ mang theo một mùi hương dìu dịu, nhẹ mát, rất được ưa thích.

(Ảnh: Sohu)

Quạt lụa

Cho đến nay, quạt lụa đã có lịch sử hơn 400 năm. Đúng như cái tên gọi, vật liệu chính là từ tơ tằm hoặc tơ lụa, đã đem đến cho quạt màu sắc ưu nhã mà lắng dịu. 

Quạt tròn làm bằng lụa thì bắt đầu phổ biến từ thời nhà Tống, sau này có thêm các biến thể hình xoan, hình hoa hướng dương, hoa mận… Cán quạt làm từ xương, ngà động vật hoặc bằng tre. Dưới cán có thể có thêm miếng trang trí được khắc tinh xảo, làm bằng ngọc bích.

(Ảnh: sohu)

Điểm đặc biệt của chúng nằm ở chất liệu lụa cao cấp và những chi tiết trang trí được làm thủ công bằng tay rất cầu kỳ, tinh xảo. Để làm nên một chiếc quạt cơ bản, người thợ sẽ trải qua 3 công đoạn: vẽ họa tiết, dệt lụa, và cuối cùng là thêu (nếu cần thiết). Kỹ thuật dệt dành cho những chiếc quạt này được gọi là kỹ thuật dệt Kesi.

Đây là kỹ thuật dành riêng cho những sản phẩm thượng hạng bởi sự nhẹ nhàng của chất liệu và sự tinh tế, phức tạp trong hoa văn. Kỹ thuật này đòi hỏi người thợ phải có tay nghề cao, sự tỉ mỉ, kiên nhẫn.

Cứ mỗi một màu sắc khác nhau thì phải dùng cuộn chỉ khác nhau, phải thay đổi con thoi dệt. Tất cả các quá trình này đều phải làm bằng tay và mỗi ngày chỉ có thể dệt tối đa 2 – 3cm lụa, sẽ mất vài tháng trời để người ta có thể dệt xong 1 tấm lụa dùng phủ lên quạt tay.

(Ảnh: Sohu)
(Ảnh: Sohu)

Từ trong Trung Quốc, quạt được xuất sang các nước khác bên phương Tây theo Con đường tơ lụa. Vào đầu thế kỷ 16, các tàu từ Bồ Đào Nha xuất hiện ở hải vực của Trung Quốc, giao thương giữa Trung Quốc và châu Âu đã mở ra một viễn cảnh mới.

Hàng hóa Trung Quốc tiếp tục vào châu Âu và dần dần tạo thành một “cơn sốt Trung Quốc” ở châu Âu, làm cho cả thế giới kinh ngạc với sự phát triển nghệ thuật vượt bậc ở Trung Hoa cổ.

Vì để thuận theo thẩm mỹ của người phương Tây, chiếc quạt cũng từ đó mà mang dáng dấp đặc điểm của văn hóa phương Tây. Hai nét đặc trưng Đông – Tây được hòa vào nhau, tạo nên một phong cách đặc sắc.

(Ảnh: Tinhhoa)
~~~~
QUẠT GIẤY NHẬT BẢN
~~<><><><>~~

Quạt xếp và quạt tròn là những dụng cụ quạt tay không chỉ để làm mát mà còn là một vật không thể thiếu trong truyền thống thời trang tại Nhật Bản.

Bạn có biết quạt tại Nhật được bắt nguồn từ đâu và nó mang ý nghĩa gì không, hãy cùng tìm hiểu qua bài viết này nhé:

 

Nguồn gốc quạt giấy Nhật Bản

Quạt giấy Nhật ra đời vào đầu thời kì Heian. Khi mới bắt đầu nó được sử dụng bằng cách xếp thành từng tập về một phía để mang theo bên mình. Đó gọi là Hiougi. 

Vào thời này, quạt giấy được sử dụng như một vật dụng chủ yếu đi kèm với trang phục của các quý tộc, chủ yếu dùng cho nam, nhưng khi những chiếc quạt đó được trang trí bằng các bức tranh rất đẹp thì nó rất được nữ giới yêu chuộng.

Thời đại Kamakura, quạt giấy Nhật Bản chỉ được sử dụng cho giới quý tộc tuy nhiên sang thời Muromachi nó được phổ biến tới toàn thể nhân dân đặc biệt sử dụng nhiều trong trà đạo, kịch múa Noh.

 Quạt giấy Nhật Bản có nhiều loại: 

Đến thời điểm này thì có 2 loại quạt phổ biến nhất tại Nhật Bản là quạt xếp và quạt tròn. Quạt tròn xác định có nguồn gốc từ Trung Quốc du nhập tuy nhiên thì Nhật Bản đã cách tân để phù hợp với văn hóa đất nước này. Tại Nhật Bản quạt xếp và quạt tròn. Quạt tròn xác định có nguồn gốc từ Trung Quốc du nhập tuy nhiên Nhật Bản đã cách tân để phù hợp với văn hóa đất nước này.

Mục đích sử dụng cả 2 thì giống nhau, nhưng hình dạng khác nhau nhiều.

- Quạt xếp sử dụng khung tre gỗ mỏng, và dán giấy bên ngoài. Khi không dùng thì gấp lại, vì nó dạng hình trụ dài khoảng 20cm nhỏ gọn, nên dễ mang theo bên người. Ngày nay nó cũng được cải tiến làm những nguyên liệu khác như làm bằng nhựa, bằng vải,...

 - Quạt tròn thì hình dạng khác với quạt xếp, nó có phần trên hình tròn, và gắn tay cầm phía dưới. Quạt loại này thì không thể gấp lại được.

Quạt này trong mùa hè hay được dán quảng cáo, và được nhiều doanh nghiệp phát miễn phí cho khách đi đường, ngoài ra cũng có thể mua trong tiệm.

Quạt Nhật Bản được sử dụng như thế nào?

Không chỉ đơn thuần tạo ra sự mát mẻ mà quạt giấy còn được sử dụng như một sản phẩm đi kèm  khi mặc các trang phục kiểu Nhật . Điều thú vị của chiếc quạt Uchiwa là nó là một sản phẩm được làm bằng tay từ A-Z, bao gồm thân làm từ tre và đầu quạt được làm từ vải hoặc giấy có trang trí...

Quạt Nhật Bản có nhiều loại khác nhau và tùy theo cách sử dụng của mỗi người, quạt có một công dụng nhất định. Nếu quạt được sử dụng trong bốn nghi thức cổ quan trọng khác nhau  thì cũng có những trang phục kiểu Nhật khác nhau như áo mặc khi thăm hỏi hay áo trong các nghi lễ.

Cấu tạo của quạt giấy Nhật Bản

Một chiếc quạt Nhạt được làm bằng gỗ hoặc tre với chiều dài là 30cm, phần nan quạt được làm từ loại tre vót rất mảnh và có tính đàn hồi chứ không dễ gãy như một số loại quạt giấy mà chúng ta hay sử dụng.

 
 Người ta sử dụng giấy washi để tạo nên phần đầu quạt truyền thống, tuy nhiên hiện nay họ còn cách tân bằng các loại vải cotton hoa văn phong phú như hình chuồn chuồn, chuông gió, bông lúa, cỏ lau, hoa bìm bìm…Chúng đều là những hình ảnh thân quen của mùa hạ không chỉ của Nhật Bản mà còn ở các nước nhiệt đới trên thế giới.

Cách làm quạt giấy Nhật Bản

Một số người dân ở Kyoto khi làm quạt thường sử dụng chất liệu là gỗ, trong khi những người khác lại thực hiện bằng những miếng tre nẹp hoặc bằng giấy hoặc lụa. Nói chung, để làm ra được những chiếc quạt độc đáo, họ phải mất khá nhiều thời gian. Một số quy trình chính được mô tả dưới đây.

 

Hình Internet

Hồng Anh sưu tầm

 

Xem thêm...

Những bài hát trước năm 1975 viết về thành đô Sài Gòn

   Những bài hát trước năm 1975 viết về thành đô Sài Gòn   

Hồi còn bậc tiểu học, tôi vẫn còn nhớ thầy giáo có đọc bài viết chính tả ngắn tựa đề là Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông, đó là lần đầu tiên trong đời nghe tên thành phố này mặc dù không hiểu chữ Hòn Ngọc Viễn Đông là gì.
Thành phố Sài Gòn trong trí óc của cậu học trò bé nhỏ là nơi đúng nghĩa của chữ thành phố với nhà cửa to lớn, với đèn điện sáng choang, với xe cộ dập dìu, với những cửa hiệu đầy những hàng hóa sản xuất tại đây hoặc nhập cảng từ ngoại quốc. Sài Gòn có nhiều cái mới lạ, người đông đúc và đi hoài không hết.
Lớn lên vào học ở Sài Gòn, hiểu thêm một chút về thành phố được gọi thủ đô của miền Nam cho đến năm 1975, rồi sang hải ngoại, và một đôi lần về thăm lại Sài Gòn nhưng lại cũng không biết hết thành phố đông người nhất nước Việt Nam.
Đọc một bài báo của nhà thơ Chế Lan Viên vào thập niên 40 viết về Sài Gòn; ông có nhắc đến những bài ca vọng cổ văng vẳng khắp phố, nghe rất lạ đối với dân miền Trung như ông, và đó là nét đặc biệt nhất mà tác giả ghi nhận.
Có lẽ thời cách đây mấy chục năm và trước đó, đa số dân cư Sài Gòn nói giọng gần giống dân miền Tây Nam bộ. Có hai chữ của người con gái Sài Gòn nói làm tôi nhớ nhất là “chời ơi” (trời ơi) và “phải hôn” (phải không), nghe rất ngộ, dễ thương. Cái chữ “ hôn” lại càng hấp dẫn được thốt ra từ miệng người đẹp.
Khi nền tân nhạc du nhập và phát triển vào Việt Nam, sau thời kỳ phân chia đất nước năm 1954 thành hai miền Nam Bắc, thì Sài Gòn trở thành nơi sinh sống của biết bao nhạc sĩ tài năng, trở thành nguồn cảm hứng của nhiều ca khúc viết về vùng đất này.
Đầu tiên phải nói tới bản Sài Gòn của nhạc sĩ Y Vân – Trần Tấn Hậu, có câu kết: “Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi”. Điệu Chacha nhún nhẩy, âm thể trưởng vui tươi, âm điệu dễ nghe dễ hát dễ nhớ làm trở thành bài hát biểu tượng của thành phố.
 
Kế đến bản Ghé Bến Sài Gòn của Văn Phụng cũng hấp dẫn với lời ca đậm nét hơn. Có điều ca khúc này có những nốt nhạc khó hát đối với người không giỏi nhạc cho nên sự phổ biến không bằng bài trước.
 
Một bản khác mà bên này hải ngoại không thấy thu thanh lại là bài Đường Về Sài Thành, ngày trước hay nghe trên đài phát thanh Sài Gòn, diễn tả tâm tình đầy hy vọng của người nghệ sĩ khi đến Sài Gòn lập nghiệp.
Nhạc sĩ Anh Bằng cũng có bài Sài Gòn Thứ Bảy diễn tả nỗi buồn của một người lính trẻ về thăm kinh đô nhưng sao “Sài Gòn thứ bảy mà nghe cô đơn”. Mặc dù có tựa đề Sài Gòn nhưng bài hát không đậm nét Sài Gòn.
 
Rất nhiều ca khúc tuy không có tựa đề Sài Gòn nhưng người nghe cảm thấy chất thành phố này bàng bạc trong đó. Chẳng hạn như bản Nhớ Thành Đô của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ:
 
Tôi xa đô thành một đêm không trăng sao. 
Thành đô còn nhớ mãi, nhớ mãi, 
chiều mưa trên công viên,
giờ chia ly sân ga 
và khi gặp nhau trên lề đường hẹn hò…
 
 
Tương tự là bài hát tươi vui của nhạc sĩ Y Vân viết về đêm Sài Gòn phồn hoa: Đêm Đô Thị.
 
Màn đêm xuống dần, muôn ánh đèn đột nhiên như ngời sáng
Kìa bao phố phường, bao mái lầu chìm trong bóng đêm…
 
 
Một bản mà thập niên 60 rất phổ biến là Bước Chân Chiều Chủ Nhật của nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng với câu hát: “tôi thích lang thang trong chiều chủ nhật, mây tím giăng ngang trên trời Sài Gòn”.
 
Tại sao Bước Chân Chiều Chủ Nhật lại được ưa thích? Chợt nghĩ là thời đó ở Việt Nam làm việc 6 ngày chỉ nghỉ ngày chủ nhật, có chỗ nghỉ chiều thứ bảy. Vì thế ngày chủ nhật bà con đi dạo phố Sài Gòn ăn kem, uống cà phê, mua sắm và ngắm phố phường. Không khí rất thanh bình, không có đông đúc chen chúc hỗn lọan, bụi đường khói xe dày đặc như thành phố bây giờ.
 
Sài Gòn cũng là nơi tập trung các đại học nổi tiếng của miền Nam từ xưa cho đến nay và bài hát Trả Lại Em Yêu của nhạc sĩ Phạm Duy đã đưa những nét của khung trời đại học với trường Luật thơ mộng:
 
Trả lại em yêu khung trời đại học
con đường Duy Tân cây dài bóng mát
 
  
Có một bản khá hùng tráng là Anh Về Thủ Đô của nhạc sĩ Y Vân viết về những người lính:
 
Anh về thủ đô chúng tôi chờ mong, 
với vạn niềm tin với muôn tình thương,
điểm tô phố phường người trai áo xanh, 
phố hoa pha màu lá rừng
 
Nhưng cũng có những bài hát tả những cảnh phố phường Sài Gòn hoa lệ hay những xóm lao động nghèo khổ như bản Xóm Đêm của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, Phố Buồn của nhạc sĩ Phạm Duy, Kiếp Nghèo của nhạc sĩ Lam Phương sáng tác trong một đêm mưa bước về ngang con hẻm nhỏ nghe tiếng ru con. Hay bản Nửa Đêm Ngoài Phố của nhạc sĩ Trúc Phương, khi cất tiếng hát lên là biết tác giả tả cảnh lang thang ở Sài Gòn lúc về khuya. Sau này những người đi hát dạo, khảy cây đàn guitar thùng, ngân nga những bài hát điệu Bolero tương tự như bản Phố Đêm của Tâm Anh, là cả một bầu trời Sài Gòn hiện ra.
Sài Gòn là chủ đề lớn, là nguồn cảm hứng phong phú cho nhiều bài hát. Sau năm 1975, Sài Gòn lại tạo nên một nguồn cảm hứng mới cho những bài hát sau này như Sài Gòn Vĩnh Biệt của Nam Lộc, coi như sáng tác đầu tiên của hải ngoại về địa danh này. Cho đến hôm nay đã có rất nhiều ca khúc của Phạm Đình Chương như Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn, Lê Uyên Phương – Khi Xa Sài Gòn, Trầm Tử Thiêng – Đêm Nhớ Về Sài Gòn, Nguyệt Ánh – Mưa Sài Gòn Nắng Cali, Nguyễn Đình Toàn – Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên, Ngọc Trọng – Sài Gòn Niềm Nhớ, Sài Gòn Vĩnh Biệt Tình Ta, Sài Gòn Sáng Nắng Chiều Mưa…
Cái tên Sài Gòn đã không còn một cách chính thức, nhưng người ta vẫn quen gọi thành phố này là Sài Gòn như một sự thân quen, gần gũi đã lâu. Trong các sách được phát hành chính thức về vùng đất này, người ta thường lấy cái tên Sài Gòn để đặt tựa, như là một sự đảm bảo cho sự thu hút đối với những người yêu Sài Gòn xưa và nay.
 
Nguồn: DƯƠNG NGỌC LÃNG
 

 Nhịp Sống Saigon Trước 1975 - Đoạn phim hiếm về Saigon thời phồn thịnh 

 
Image result for trước 1975 Sài Gòn vnch photos

 ANH VỀ THỦ ĐÔ - QLVNCH 

Anh về Thủ Ðô chúng tôi chờ mong 
 Với vạn niềm tin với muôn tình thương 
 Ðiểm tô phố phường người trai áo xanh 
 Phố hoa pha màu lá rừng 
 Anh về Thủ Ðô ấm êm lòng tôi 
 Ðứng lại gần nhau nói câu chuyện vui 
 Chuyện hai chúng minh gặp nhau chốn đây 
 Lúc quân dân cùng nắm tay 
 Ôi nầy anh ! Áo xanh chiến trường bạc mầu 
 Mến anh mến từ thuở nào 
 Người trai tranh đấu Ôi nầy anh ! 
 Ðã mang đến tình mặn mà 
 Ðón anh những lời thật thà 
 Lòng dân mong chờ 
 Anh về Thủ Ðô biết bao là vui 
 Ðã để lại đây mến thương đầy vơi 
 Người dân nước Việt ghi ơn các anh
 Ðã hy sinh vì giống nòi 
 Anh về Thủ Ðô nước Nam tự do 
 Chút quà mừng anh chiến binh đường xa 
 Là muôn tấm lòng yêu thương đón anh 
 Ðón anh trai hùng bước qua ! 
 Anh về .............bước qua ! 
 Anh về Thủ Ðô vui mừng đây đó 
 Muôn lòng dân đang đón chờ !
 

    Sưu tầm by Nguyễn Ngọc Quang    

  Trên Đầu Súng (Việt Dzũng, Nguyệt Ánh)  

Sáng tác: Nguyệt Ánh
Trình bày: Việt Dzũng, Nguyệt Ánh
Xem thêm...

Nghệ thuật trang trí nội thất của Pháp từ thời vua Louis XIV đến Louis XVI

Nghệ thuật trang trí nội thất của PHÁP

từ thời vua Louis XIV đến Louis XVI

Sau khi bỏ ra 26 triệu euro và hơn chín năm xây dựng, phòng triển lãm nghệ thuật trang trí mới của Bảo tàng Louvre dành riêng cho ba thế hệ, từ thời “vua mặt trời” Louis XIV qua vua Louis XV tới vua Louis XVI, với bộ sưu tập giới thiệu một thế giới đầy màu sắc, cho phép người xem quay trở lại kỷ nguyên huy hoàng của nghệ thuật nước Pháp khiến cả thế giới phải mê mẩn.

Trong lĩnh vực nội thất cổ điển, Pháp là quốc gia có ảnh hưởng nhất trong lịch sử đồ nội thất châu Âu. Từ giữa thế kỷ 17 đến thế kỷ 18, đồ nội thất của Pháp mang những kỹ năng tiên phong và phi thường về phong cách, công nghệ, trang trí và vật liệu, là đỉnh cao mà hiện đại ngày nay khó có thể đạt tới.

Từ giữa thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 18 (từ thời Louis XIV đến thời Louis XVI) là thời kỳ hoàng kim của nghệ thuật trang trí Pháp. Nghệ thuật hội họa và điêu khắc phồn vinh, kỹ thuật chạm khắc bằng vàng và bạc tinh xảo, đồ sứ Pháp sang trọng và lộng lẫy, những ý tưởng độc đáo mang đến sự tưởng tượng khéo léo cùng một lối sống mới, thể hiện rất rõ tài năng của các nghệ nhân từ mọi tầng lớp.

Đồ nội thất và nghệ thuật từ khoảng năm 1730 đến năm 1755.

(Ảnh: RMN-GPmusée du Louvre/Olivier Ouadah)

Phòng triển lãm mới được thiết lập trên tầng hai của tòa Sully Pavilion nằm trong cung điện kiêm bảo tàng Louvre nổi tiếng. Hơn 2.000 món đồ được trưng bày trong khu vực rộng 2.183 mét vuông – từ những đồ gỗ trang trí và tường đá cẩm thạch, đồ nội thất bằng đá cẩm thạch hoặc sơn mài, thảm tinh xảo, đồ trang sức bằng vàng và bạc, các dụng cụ khoa học, đồ gốm và sứ.

Tất cả hiện vật là để giới thiệu về sự đa dạng trong phong cách từ thời Louis XIV, không chỉ giúp giữ gìn vẻ đẹp sáng tạo và chân thực của từng thời kỳ, mà còn phản ánh những đặc trưng của nghệ thuật trang trí thế kỷ 18 của Pháp.

Đồ nội thất theo phong cách Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 1775 đến năm 1785.
(Ảnh: 2014 Musée du Louvre, dist. RMN-GP/Olivier Ouadah)

Bảo tàng này đã xây dựng một tuyến tham quan để mọi người có thể cảm thụ bằng trực giác, cùng với việc trưng bày hiện vật theo ba giai đoạn lịch sử khác nhau theo thứ tự thời gian: từ triều đại của vua Louis XIV từ năm 1660 đến năm 1725, thời kỳ Regency (bắt đầu sau năm 1715); vua Louis XVI đã rất thành công trong thời kỳ đầu của triều đại Công tước xứ Orleans với phong cách Rococo 1725-1755, thời kỳ tân cổ điển 1755-1790 của triều đại của Louis XVI.

Chuyến tham quan này có thể đưa mọi người vào một hành trình cảm xúc của người Pháp qua thời gian, cho phép người xem theo dõi và trải nghiệm sự phát triển liên tục của các phong cách và kỹ thuật tạo tác đồ dùng gắn liền với nghệ thuật.

(Ảnh: Musée du Louvre, dist.RMN/Thierry Ollivier)

Phòng triển lãm tủ kính

Ngay từ thế kỷ thứ 18, cung điện Versailles luôn là tâm điểm của đời sống văn hóa châu Âu. Nhờ sự huy hoàng của triều đình Pháp, sự thịnh vượng của Paris được đảm bảo, nền kinh tế của thủ đô nước Pháp được phát triển và từng bước trở thành trung tâm sáng tạo nghệ thuật châu Âu.

Sau này, với sự mở rộng của thành phố, sự trỗi dậy của một giai cấp tư sản có giáo dục và xu hướng làm giàu các tinh hoa văn hóa, việc sáng tạo nghệ thuật đã được thúc đẩy.

Vào thế kỷ thứ 18, giới trí thức tinh anh của xã hội thường đến tham gia các cuộc tụ họp của những người nổi tiếng, và những chiếc ghế sa-lông cũng từ đây mà được sáng tạo ra. Những chốn hẹn hò và nhà ở sang trọng gia tăng, không thể tách rời việc đi kèm với  những đồ nội thất xa xỉ.

Các cửa hàng đồ nội thất khác nhau chắc chắn là nơi biểu hiện sự tinh tế của thời đại và nghệ thuật phục vụ cuộc sống. Phòng triển lãm tủ kính “Period rooms et salles de vitrines” tái hiện lại những gian đồ nội thất và những đồ trang trí nhỏ xinh xắn cùng với một số bố cục kết cấu của phòng khách thời đại này.

Căn phòng của Isaac de Camondo
(Ảnh: 2014 Musée du Louvre, dist.RMN-GP/Olivier Ouadah)

Trên bức tường trong căn phòng của Isaac de Camondo (1851-1911), chủ ngân hàng và nhà sưu tập người Pháp, có treo bức tranh của họa gia Le Perche từ phòng khách lớn của lâu đài Château de Voré.

Ngoài ra còn những bức tranh bình dị của Jean-Baptiste Oudry (1686-1755, họa sĩ người Pháp kiêm thợ khắc in): phong cảnh mùa xuân được điểm xuyết bằng những chú chim và hoa lá với những hình vẽ ngọt ngào.

Bên trong căn phòng còn trưng bày chiếc ghế của nữ hoàng do nghệ nhân Nicolas Heurtaut (1720-1771) chế tác. Các bức tường được trang trí theo một kiểu hiếm có trong giai đoạn giữa thế kỷ 18,  phản ánh sự tuyệt đỉnh của phong cách Rococo. Khách tham quan được đắm chìm trong một sắc thái hài hòa của màu xanh tinh khiết điểm xuyết màu vàng kim lấp lánh.

Đồ nội thất với nghệ thuật tinh xảo từ khoảng năm 1750
(Ảnh: 2014 Musée du Louvre, dist. RMN-GP/Olivier Ouadah)

Gần như trong cùng thời kỳ này, phòng khách lớn của lâu đài “Grand duâtâteau d’ Aboboant” với những bức tường màu xanh, giống như một dòng suối róc rách trong rừng, bức tranh trang trí trên khung cửa phản ánh những đồ sứ mang phong cách Trung Hoa đã phổ biến trong đồ nội thất đương thời, với hình ảnh một nhóm trẻ em chơi các trò chơi: nghe nhạc, nhảy múa, chơi cờ và chơi trên thuyền đánh cá.

Đi dọc các phòng triển lãm được sắp xếp theo thứ tự thời gian, khách tham quan sẽ thấy trước mặt họ những quang cảnh còn lại vào giữa và cuối thế kỷ 18: “Palais Bourbon” với tác phẩm bức tranh trên mái vòm trong phòng khách nhỏ, được vẽ vào năm 1774, đã xuất hiện lại lần đầu tiên trước công chúng sau khi được tu bổ và sửa chữa.

Bức tranh trên mái vòm phòng khách nhỏ của “Palais Bourbon”, được vẽ năm 1774.
(Ảnh: 2014 Musée du Louvre, dist.RMN-GP/Thierry Ollivier)

Sau đó, phong cách tân cổ điển đã nổi lên ở cuối thời Louis XV. Sau khi cháu trai Louis XVI kế vị ngai vàng, xu hướng này ngày càng rõ ràng hơn.

Đồ nội thất tân cổ điển từ 1765-1780.
(Ảnh: 2014 Musée du Louvre, dist. RMN-GP/Olivier Ouadah)

Căn phòng phía tây của lâu đài là “Piranèse salle” thì lại tràn ngập một bầu không khí Hy Lạp. Từ bức tượng cổ của Léon Dufourny (1754-1818), cũng như những mảng đá cẩm thạch của Ý được thu thập vào thế kỷ 18 trên những bức tường màu hồng nhạt, những chiếc bình hoa được đặt trên các đế bằng đồng, đặc biệt là đồ nội thất của Công tước Duc d’ Aumont làm nổi bật nguồn gốc của xu hướng tân cổ điển này.

Đồ nội thất và bộ sưu tập của
Nữ hoàng Marie Antoinette của vua Louis XVI.
(Ảnh: 2014 Musée du Louvre, dist. RMN-GP/Olivier Ouadah)

Từ những căn phòng có nền màu hồng đến màu trắng như tuyết, những khách tham quan đã bước sang phòng trưng bày của Marie Antoinette. Những thợ mộc nổi tiếng vào thời điểm đó như Adam Weisweiler và Jean-Henri Riesener  đã được tập hợp tại cung điện Palais des Tuileries để hoàn thành một kiệt tác được thiết kế bởi Château de Saint-Cloud. “Thời khắc đỉnh cao” này cũng là vinh quang cuối cùng của nghệ thuật cổ điển nước Pháp trước tác động tàn phá của cuộc cách mạng cuối thế kỷ 18.

Trong Bảo tàng Louvre, một phòng triển lãm nghệ thuật đồ nội thất phong cách Pháp đầy màu sắc, tinh tế và thanh lịch, đa dạng, từ các tủ lớn với những đường cong mang phong cách vào giữa thế kỷ 17 đến những hình dáng đường thẳng vào cuối thế kỷ 18, mỗi món đồ nội thất được trưng bày giống như một tác phẩm nghệ thuật thực thụ.

Tủ quần áo gỗ veneer mun của Boulle

Trong thời kỳ Louis XIV và Regency (Régne staff de Louis XIV et Régence, 1660-1725), bậc thầy vĩ đại nhất của nghề thợ mộc là André-Charles Boulle (1642-1732). Năm 1672, ông được trao hàm tước cao nhất về lĩnh vực chế tạo tủ gỗ. Sự đổi mới và phong phú trong sáng tạo nghệ thuật của ông đã bổ sung rất nhiều kỳ tác vào Cung điện Versailles của Louis XIV.

Boulle thường sử dụng các miếng gỗ nhỏ trong đồ nội thất là để khảm nạm ra các mẫu thiết kế với nhiều chất liệu khác nhau: gỗ quý, đá quý, men, ngà voi, vỏ sò, kim loại, đá cẩm thạch v.v.

Ngoài ra, để thể hiện phong cách của hoàng gia, Boulle đã sử dụng một số lượng lớn đồng mạ vàng trên đồ nội thất, như trang trí móng hổ, trang trí đường viền gương, trang trí hình lá v.v. tất cả đều do ông tự thiết kế, đúc và khắc, chúng cũng có chức năng bảo vệ các bộ phận dễ vỡ nhất của đồ nội thất, tạo nên một phong cách trang trí đặc biệt thời Louis XIV.

Tủ quần áo từ kho lưu trữ đồ nội thất hoàng gia được André-Charles Boulle
sản xuất từ khoảng 1700-1720.
(Ảnh: Musée du Louvre,dist.RMN-GP/Martine Beck-Coppola)

Tủ quần áo này được sản xuất bởi Boulle từ năm 1700 đến 1720, là một kiệt tác sang trọng của đồ nội thất Louis XIV. Tủ cao 226cm và rộng 136cm, khung gỗ sồi áp dụng công nghệ mới đến từ Đức: một lớp gỗ mun quý làm lớp ngoài, bao bọc lấy cấu trúc gỗ sồi và che giấu cấu trúc gỗ nguyên bản. Mặt gỗ mun với màu sắc kỳ lạ mang màu đen được khảm hoa văn bằng men và đồng thau.

Boulle cũng thay thế mẫu tủ bốn cửa giống như nhà thờ trước đây bằng cấu trúc hai cửa, một khuôn gỗ đen thay thế cho giá đỡ dạng chân trước đây. Sự kết hợp của khảm và trang trí mạ đồng trên bề mặt của tủ kết hợp với tay nghề tinh xảo vô song phản ánh sự sáng tạo của thời kỳ đỉnh cao của nước Pháp dưới thời Louis XIV.

Ngăn kéo màu đỏ của Cressent

Thời kỳ trị vì sau này của Công tước xứ Orleans, người đã rời cung điện Versailles sang Paris, những người thợ gỗ bắt đầu thiết kế đồ nội thất phù hợp với kích thước của căn hộ dành cho tầng lớp quý tộc và tư sản ở Paris. Phong cách kiểu Pháp đã thay đổi từ sự cao quý, trang nghiêm của Louis XIV sang theo đuổi sự thoải mái và hoa lệ.

Các nhà cung cấp trang sức và phục trang cũng đã bắt đầu đóng một vai trò mới, họ tương đương với nhà trang trí nội thất hiện đại, cung cấp lời khuyên mới về việc sử dụng đồ nội thất. Nội thất vừa thanh lịch vừa thiết thực và tiện dụng.

Thời kỳ này là sự kết hợp giữa các nhà thiết kế, kiến trúc sư, nhà trang trí và thợ thủ công lành nghề đánh dấu một sự xuất hiện của thiết kế tân thời.

Đồ nội thất Pháp thời kỳ này đầy trí tưởng tượng và tự do, đường viền được thay đổi từ những đường thẳng ban đầu thành đường cong, một số đồ nội thất còn cài đặt cơ chế, có thể được ứng dụng trong nhiều trường hợp.

Tủ ngăn kéo do Charles Cressent (1685-1768) sản xuất năm 1740.
(Ảnh: 2012 Musée du Louvre, dist.RMN-GP/Thierry Ollivier)

Chiếc tủ lá cọ và hoa này là tác phẩm của bậc thầy đồ nội thất uy tín nhất – Charles Cressent (1685-1768) trong nửa đầu thế kỷ thứ mười tám, cũng là một kiệt tác của Charles Cressent. Vào thời điểm đó, ngăn kéo hai ngăn được ốp mặt trên bằng đá cẩm thạch trở nên rất phổ biến, chiều cao của chân tủ thanh mảnh và thanh lịch hơn trước.

Chiếc tủ được thiết kế vào năm 1740, cao 90,5 cm, dài 149 cm và rộng 67 cm. Nó được làm bằng khung gỗ óc chó và gỗ tím Cayenne. Cressent sử dụng khảm gỗ đơn giản để tạo ra một cấu trúc khảm hình học đơn giản, bổ sung bởi những họa tiết trang trí bằng đồng mạ vàng tinh xảo – những lọn lá uốn, cây thường xuân, hoa văn và đồ trang trí hình móng hổ ở bốn chân càng làm tôn lên hình dáng xinh đẹp của chiếc tủ.

Ngăn kéo màu xanh của Criaerd

Ngoài việc khảm nạm bên ngoài đồ gỗ, hương vị phương Đông cũng vô cùng thịnh hành, người châu Âu bị mê hoặc bởi đồ sơn mài đến từ Viễn Đông, họ nghĩ rằng đồ sơn mài là thể hiện sự sang trọng và tinh tế.

Người ta sử dụng sơn mài Trung Quốc hoặc Nhật Bản nhập khẩu để làm các đồ nội thất kiểu Pháp, sau đó sử dụng vàng bạc, mạ đồng để trang trí chân bàn ghế, tạo thành một hương vị độc đáo kết hợp giữa phương Đông và phương Tây.

Nhưng chi phí sản xuất đồ nội thất với những phiến gỗ sơn mài từ Trung Quốc và Nhật Bản khá đắt đỏ. Vào những năm 1730, anh em Martin của Đức đã phát minh ra một loại sơn mài của Pháp có tên Vernis Martin, chiết xuất từ cây Zanzibar và Madagascar, cùng với nhựa cứng được hòa tan trong dầu hạt lanh và nhựa thông trong nhiệt độ 320 ° C để cho ra một sắc thái phong phú.

Matthieu Criaerdc chế tác vào năm 1742.
(Ảnh: Musée du Louvre, dist.RMN-GP/Thierry Ollivier)

Chiếc tủ ngăn kéo này của Matthieu Criaerd (1689-1776) là một tác phẩm rất hiếm trong đồ nội thất Rococo Pháp thế kỷ 18. Nó thuộc về phu nhân Louise-Julie de Mailly -Nesle (1710 – 1751), được xây dựng trong phòng ngủ màu xanh lam của điện thất Château de Choisy.

Tủ được làm bằng khung gỗ sồi, cao 85 cm, dài 132 cm và rộng 63,5 cm. Thiết kế tổng thể mang màu sắc mát mẻ, khác biệt hơn những nội thất có màu vàng. Với chân đế màu trắng, sơn Martin tông màu xanh và trang trí mạ bạc kiểu Rococo thanh lịch.

Sự khéo léo tinh tế của chiếc tủ này là một ví dụ hoàn hảo của một họa sĩ người Paris, người đã bắt chước công nghệ véc-ni Viễn Đông (chỉ phần phía đông Châu Á). Trên nền khổ lớn, những cây cỏ, công và các loài chim tạo lên bầu không khí rất phương Đông.

Ghế bành của Nữ Hoàng

Ghế bành là một kiểu ghế rất phổ biến trong thế kỷ 18. Đường cong từ tay vịn của ghế lướt xuống tới chân, nhỏ về phía sau, các đường phía sau ghế đều nằm được bao bởi một đường cong hoàn hảo. Tay vịn chạm rỗng cùng phần lưng ghế dành để sử dụng cho nữ hoàng La reine. Chiếc ghế được sử dụng khi gặp những người quan trọng hoặc những dịp quan trọng, phần lưng thẳng rất trang trọng và nghiêm túc.

Ghế bành của nữ hoàng.
(Ảnh: RMN-GP (musée du Louvre)/René-Gabriel Ojéda)

Chiếc ghế bành kiểu nữ hoàng này được chế tạo bởi Nicolas Heurtaut (1720-1771) cho Giám mục Marvail-Louis Beaupoil de Sainte-Aulaire. Chiếc ghế của mô hình Eldo này được gọi là phong cách “Đối xứng cổ điển Rococo”, đó là một thành công lớn trong thế kỷ 18, cơn sốt ghế bành này kéo dài trong một thời gian dài cho đến thế kỷ 19.

Chiếc ghế được đặc trưng bởi một đường cong năng động và trơn tru có thể tinh chỉnh phong cách Rococo hơi lỗi thời, gây ra một mối quan tâm mới trong phong cách Hy Lạp và La Mã cổ đại.

Các đường cong của phần vai và cánh tay cùng với phần tựa lưng hình chữ nhật rất vững chắc và bắt mắt. Chân ghế hình con lăn, gỗ đặc chắc chắn, vỏ sò và chạm khắc hình hoa được sắp xếp hoàn hảo và phân bố cân đối.

Bàn làm việc tự động của Riesener

Từ năm 1755, đồ nội thất của Pháp đã phát triển theo hướng khác. Việc phát hiện ra thành phố cổ Herculaneum và Pompeii đã thúc đẩy sự theo đuổi văn hóa La Mã và Hy Lạp cổ đại, những đường cong được giản lược, truyền cảm hứng cho sự ưu nhã và tân cổ điển.

Phong cách nội thất của Louis XVI (1774-1791) đã thiết lập một kỷ nguyên nghiên cứu sáng tạo ở Đại Thành, theo định hướng phục cổ, chú trọng hơn về tính năng.

Jean-Henri Riesener (1734-1806) là bậc thầy về đồ nội thất trong giai đoạn này. Ông có những tác phẩm nổi tiếng nhất. Để lưu trữ các tài liệu quan trọng, Quốc vương Pháp đã đặt hàng đồ nội thất vào năm 1760, nhưng ông phải đợi đến 9 năm sau mới có thể nhận hàng, giá phải trả là 62.800 bảng Anh (khoảng 5 triệu euro so với tỉ giá hiện nay).

Chiếc bàn dưới đây làm bằng gỗ quý được lựa chọn cẩn thận, được chế tác tinh xảo và trang trí phức tạp với nhiều hình ảnh trang trí khác nhau cho thấy cảnh từ lửa trại đến khu vườn thơ mộng, sự kết hợp giữa đồng mạ vàng và đường viền.

Đặc biệt là việc thiết kế cơ khí khéo léo, các cạnh của bàn được trang bị cơ chế tự động thêm giấy vào máy in mà không cần mở hộp ngăn kéo. Khi đóng bàn, nó sẽ tự động khóa và việc mở lại đơn giản khi chỉ cần nhấn một nút.

Jean-Henri Riesener sản xuất năm 1784.
(Ảnh: RMN-GP (musée du Louvre)/Martine Beck-Coppola)

Bàn làm việc cao 103 cm, dài 113 cm và rộng 64 cm. Có ba ngăn kéo ở phía trước bàn, tất cả được đặt bằng các miếng gỗ dập nổi mạ đồng vuông để lưu trữ văn phòng phẩm. Phần giữa của lớp phủ bề mặt di động hình vòng cung là một khung hình elip bên trong có hình ảnh hoa, cành nguyệt quế và vòng hoa ruy băng.

Bàn nhỏ của Weisweiler

Bàn viết nhỏ của Adam Weisweiler năm 1784.
(Ảnh: 2014 Musée du Louvre, dist.RMN-GP/Thierry Ollivier)

Năm 1785, Nữ hoàng Marie Antoinette đã mua lâu đài Château de Saint-Cloud của Công tước xứ Orleans và sắp xếp lại đồ đạc theo sở thích của mình. Bàn viết nhỏ có giá sách này được chế tác bởi Adam Weisweiler vào năm 1784, cao 73,7 cm, dài 81,2 cm và rộng 45,2 cm. Nó được làm bằng gỗ mun và sơn mài Nhật Bản, khảm nạm ngọc trai, đồng mạ vàng.

Chiếc bàn này là một tác phẩm tiêu biểu của Weisweiler, các đường nét và đồng thau mạ vàng rất tinh tế và trang nhã, thanh mảnh, được trang trí với bốn trụ hình thiếu nữ. Có ba ngăn kéo ở phía trước bàn: một ngăn kéo lớn ở giữa và hai ngăn nhỏ hai bên, trung tâm của mặt bàn có một giá để sách được hỗ trợ như một bàn đọc vát. Bên trong phần giá có hình bầu dục được trang trí bằng các tấm sơn mài gỗ mun Nhật Bản và được bao quanh bởi một khung đá vàng.

Hộp nữ trang của Vương Hậu Anna

Nổi bật nhất trong số này là một chiếc rương vàng làm thủ công, đặc biệt, được sử dụng trong hoàng gia Pháp để bảo quản trang sức của nhà vua và hoàng hậu. Kiệt tác này được gọi là “Hộp trang sức của vương hậu Anna”, được chế tác bởi thợ kim hoàn Jacob Blanck vào năm 1676.

Chiếc hộp này cao 25,2 cm, dài 47,5 cm và rộng 36,2 cm. Toàn bộ chiếc hộp được phủ bằng vàng và hình vẽ hoa hồng, hoa tulip, hoa cẩm chướng, hoa ly và hoa cúc.

Hộp bằng vàng do thợ kim hoàn Jacob Blanck
làm cho hoàng gia Pháp năm 1676, KT: 25,2 x 47,5 x 36,2 cm.
(Ảnh: RMN-GP musée du Louvre/Stéphane Maréchalle)

Những họa tiết hoa bằng vàng tinh xảo này, thông qua việc mài và đánh bóng, tăng cường độ sáng cùng độ mềm mại, thân và lá của hoa được cuộn tròn thành những hoa văn tinh mỹ tuyệt đẹp, không gì có thể sánh bằng.

Người ta cho rằng chủ của chiếc hộp là vương hậu của Louis XIII “Anne d’Autrich” (1601-1666), mẹ của vua Louis XIV); bà là một người rất yêu thích đồ trang sức bằng vàng.

Hoa tơ khảm nạm là một kỹ thuật sử dụng phương pháp hàn điểm hoặc những vòng nhỏ như tơ để cố định dây kim loại trơn hoặc cuộn nhằm tạo hình trên khung kim loại; những hình dạng xoắn ốc hay dây leo được tạo bằng các sợi kim loại nhỏ như tơ này.

Xuyên qua các trang trí lá vàng bên ngoài hộp, lớp lụa màu xanh đậm bao phủ bên trong vẫn có thể nhìn thấy. Kỹ thuật trình bày các hiệu ứng khảm nạm độc đáo cùng kỹ thuật rèn tinh tế đã được ưa chuộng trong thế kỷ 17.

Hộp đựng thuốc bằng vàng

Hộp đựng thuốc có hình ảnh vua Louis XV.
(Ảnh: RMN-GP musée du Louvre/Jean-Gilles Berizzi)

Hộp đựng thuốc này được làm từ khoảng năm 1726 đến năm 1727, cao 2,8 cm, dài 8,2 cm và rộng 6,2 cm, được làm bằng vàng, trang trí bằng ngọc lục bảo và kim cương bởi người thợ kim hoàn Paris – Daniel Govers trong nửa đầu thế kỷ thứ 18. Bên trong nắp hộp là bức chân dung thu nhỏ của vua Louis XV được vẽ bởi Jean-Baptiste du Canel.

Chiếc hộp này được coi như một món quà ngoại giao cho vua Louis từ vị quan chức địa phương của Geneva – Louis Le Fort (1668-1743). Tại trung tâm của nắp hộp là hình vẽ Apollo tượng trưng cho mặt trời và ánh sáng, được phản chiếu bởi 56 viên kim cương và 26 viên ngọc lục bảo xen kẽ.

Vỏ hộp được bao quanh bởi trang trí hình dây leo, hoa và ruy băng, mặt trước được gắn một viên kim cương lớn. Bên dưới tấm pha lê ở mặt trong nắp hộp là chân dung bán thân của vua Louis XV trẻ trung, mặc áo giáp và áo choàng da lộn có họa tiết hoa huệ.

Hộp đựng thuốc này, với các vật liệu sang trọng, đường cong rực rỡ và hoa văn mặt trời làm nổi bật các đặc điểm của hoàng gia, báo hiệu phong cách Rococo sắp phổ biến. Kỹ thuật chạm khắc vàng và bạc tinh xảo và kỹ thuật gắn đá quý khéo léo của nó cũng vô cùng ấn tượng.

Bộ đồ ăn của Nữ hoàng Leczinska

Bộ đồ ăn này ban đầu được đặt trong tủ quầy đựng chén đĩa trong cung của nữ hoàng, được vua Louis XV tặng cho Nữ hoàng Marie Leczinska (1703-1768) để tưởng nhớ Hoàng tử Louis-Ferdinand (1729-1765) (chết trước khi được lên ngôi). Đây cũng là bộ đồ ăn theo phong cách Rococo duy nhất của hoàng gia Pháp thế kỷ 18.

Trà, cà phê, sô cô la v.v.. được coi là đồ uống rất thời thượng trong hoàng cung, vì vậy bộ dụng cụ ăn uống này có mạ vàng trên những ấm trà, bình cà phê, bình đựng sô cô la, hộp đựng gia vị (vào thời điểm đó hương liệu thường được thêm vào sô cô la nóng), máy xay cà phê, chân nến, dụng cụ lọc trà, phễu, kẹp đường, thìa dài và chuông.

Bộ đồ ăn này được sản xuất bởi Henri-Nicolas Cousinet (người sau này trở thành nhà điêu khắc của Hoàng tử Condé).

Bình sô cô la của Nữ hoàng Leczinska,
được sản xuất vào năm 1730 bởi Henri-Nicolas Cousinet.
(Ảnh: RMN-GP musée duLouvre/Jean-Gilles Berizzi)

Trong số đó, bình đựng sô cô la được sản xuất vào năm 1730 là đặc biệt nhất, có gắn kèm một hệ thống đun nhỏ dưới đáy bình. Món đồ thủ công này, với các hoa văn trang trí đẹp mắt theo hình hoa, vỏ sò, lau sậy, hình sóng, lá cọ v.v.., phản ánh hoàn hảo các đặc điểm hay thay đổi của phong cách Rococo. Vòi và ba chân bình có hình cá heo, đại diện cho hoàng tử (dauphin, đồng âm với từ cá heo).

Phần còn lại của bộ đồ ăn này là đồ sứ: một ấm trà, hai đĩa đựng trà, hai chén có giá đỡ mạ bạc và một chén đựng đường. Một số trong đó đến từ Trung Quốc và Nhật Bản, một số được sản xuất bởi nhà máy sứ Meissen. Các hoa văn trên sứ mang đậm dấu ấn của văn hóa Trung Quốc, phản ánh sự yêu chuộng các đặc trưng phương Đông ở châu Âu vào đầu thế kỷ thứ 18.

Cặp bình hoa màu hồng

Cặp bình hoa màu hồng của quý bà Pompadour.
(Ảnh: Musée du Louvre, dist. RMN-GP/Thierry Ollivier)

Quý bà Pompadour (1721-1764) là một phụ nữ hiếm hoi đóng vai trò nòng cốt trong các lĩnh vực chính trị, nghệ thuật và văn hóa của Pháp trong thế kỷ 18. Một trong những đóng góp lớn nhất của người phụ nữ này là cống hiến cho việc bảo trợ nhà máy sứ hoàng gia (Sevres).

Cặp bình hoa màu hồng này được làm vào năm 1758, cao 31,2 cm, được trang trí với họa tiết thiên thần kiểu Boucher ở trung tâm; ngoài ra bên dưới bình có một đế vuông bằng gỗ mun được trang trí bằng đồng mạ vàng. Tay cầm của chiếc bình có hình dạng như đôi tai ngược, được chế tạo bởi Jean-Claude Dupres.

Chiếc bình được làm bằng sứ mềm – một đặc trưng kỹ nghệ nổi tiếng của nhà máy sứ Sevres. Nó có kết cấu vân da giống như phô mai kết hợp khéo léo với sắc tố để tạo thành một phong cách đặc biệt không thể thay thế.

Ngoài ra, chiếc bình có nền màu hồng tuyệt đẹp. Màu hồng này của Sevres được lấy cảm hứng từ màu hồng phấn thời nhà Thanh, nhưng lộng lẫy và sang trọng hơn, rất phù hợp với phong cách Rococo phổ biến thời bấy giờ. Tại triển lãm năm 1758, những chiếc bình như thế này được ca ngợi là sản phẩm mới nhất và tuyệt vời nhất.

Chai nước hoa hình con thuyền

Chai nước hoa hình con thuyền màu hồng của quý bà Pompadour
(Ảnh: Musée du Louvre, dist. RMN-GP/Thierry Ollivier)

Sự theo đuổi táo bạo của quý bà Pompadour về lối sống đã thuyết minh cho kỷ nguyên xa xỉ đó. Chai nước hoa hình con thuyền màu hồng này được đặt hàng bởi Pompadour từ dinh thự Hôtel d’Evreux, hiện nay là dinh Tổng thống Pháp.

Chai nước hoa bằng sứ mềm được sản xuất vào khoảng năm 1760 đến năm 1761, cao 39 cm và dài 36 cm. Được làm theo mô hình của Jean-Claude Duplessis (1747-1819): đáy chai được làm dưới dạng một chiếc bình, ở giữa là một chiếc thuyền màu hồng với một bức tranh trang trí của Charles Nicholas Dodin (1734-1804).

Duplessis là giám đốc nghệ thuật của Nhà máy sứ Sevres từ năm 1748, chịu trách nhiệm thiết kế khuôn. Ông đã đưa công nghệ của các nghề thủ công truyền thống đối với đồ kim loại, như đồ đồng và đồ bạc mang phong cách nghệ thuật Rococo, vào để thiết kế và sản xuất đồ sứ, là nhân vật quan trọng cho sự thành công của nhà máy sứ. Chai nước hoa màu hồng này là sản phẩm có hình dáng độc đáo nhất của Sèvres.

Cối xay cà phê bằng vàng

Cối xay cà phê bằng vàng của quý bà Pompadour
(© RMN-GP (Ảnh: musée du Louvre) / Daniel Arnaudet)

Cà phê có nguồn gốc từ khu vực Ả Rập được đưa đến Paris vào năm 1670, dần trở thành xu hướng thời thượng trong cung đình và giới thượng lưu. Đến thế kỷ 18, việc tiêu thụ cà phê đã trở nên phổ biến đến mức Diderot và D’Alembert đã viết hẳn một chương về cách pha chế cà phê trong cuốn sách tuyệt vời của ông. Chiếc cối xay cà phê này được sản xuất vào năm 1756 đến năm 1757 phù hợp với mô tả về cối xay cà phê cầm tay nhỏ trong cuốn sách nói trên.

Cối xay hình trụ có chiều cao 9,5 cm và đường kính 5,2 cm; Phần trung tâm hơi có hình nón. Cối bao gồm ba phần: phần trên là một tay quay và phần dưới có thể được tháo ra để loại bỏ bã cà phê.

Tác phẩm nghệ thuật nổi bật này được trang trí sang trọng với các bề mặt được chạm nổi trang nhã trong ba loại màu vàng khác nhau: lần lượt mô tả cành nhánh cây cà phê và lá bằng vàng màu xanh, quả mọng bằng vàng màu hồng, trên nền vàng kim.

 Chiếc cối xay này được sản xuất bởi Jean Ducrollay (khoảng năm 1708-1776), thợ kim hoàn nổi tiếng nhất Paris thế kỷ 18, dành riêng cho quý bà Pompadour, người say mê các đồ vật bằng vàng và bạc.

Tấm thảm của Boucher

Tấm thảm của nữ công tước xứ Bourbon (1750-1822)
(Ảnh: RMN-GP musée du Louvre/Daniel Arnaudet)

Tấm thảm treo tường này dài 4,4 mét và rộng 3 mét, được sản xuất vào khoảng năm 1775. Đó là một tấm thảm mùa đông treo ở nhà Công tước xứ Bourbon (1750-1822), là một trong bốn tấm thảm mềm mượt để trong phòng ngủ.

Nhóm tấm thảm này được gọi là tình yêu của các vị thần, thể hiện những cảnh tượng trong thần thoại La Mã. Ba câu chuyện khác được tả trong những tấm thảm này là: Vertumnus (vị thần của bốn mùa) và Pomona (nữ thần của cây trái), Venus (nữ thần tình yêu và sắc đẹp) được sinh ra từ những con sóng, nữ thần Aurore và thợ săn Céphale.

Tấm thảm này được trang trí hoa văn tinh tế và thanh lịch trên nền màu hồng sẫm ưu nhã; tranh trên thảm là lấy từ bức tranh của Maurice Jacques, mô tả cảnh tượng trong câu chuyện về “Cuộc so tài giữa Cupid và Psyche”, do François Boucher (1703 – 1770) thiết kế; ông là giám đốc nghệ thuật của nhà máy dệt hoàng gia Gobelin từ năm 1755.

Tấm thảm là sự kết hợp giữa tranh của Jacques và Boucher, được coi là tác phẩm quý giá và thành công nhất của Nhà máy dệt Gobelin. Tấm thảm này vẫn giữ được màu sắc rực rỡ ban đầu và rất ngoạn mục; đây là một ví dụ hoàn hảo về kỹ nghệ dệt thảm của thế kỷ 18.

Đôi lạc đà bằng đồng

Đội lạc đà bằng đồng mạ vàng của Nữ hoàng Mary Antoinette
được sản xuất vào năm 1777.
(Ảnh: 2013 Musée du Louvre, dist. RMN-GP/Thierry Ollivier)

Nữ hoàng Marie-Antoinette có một đôi lạc đà bằng đồng xanh mạ vàng trong phòng theo phong cách Thổ Nhĩ Kỳ, cao 32,5 cm, dài 25,5 cm và rộng 11 cm. Đóng vai trò như một đồ trang trí cho lò sưởi, cặp lạc đà này là sự gợi nhớ tuyệt vời về phong cách Thổ Nhĩ Kỳ phổ biến trong triều đình vua Louis XVI. Nữ hoàng cũng sở hữu những đồ vật quý khác như chiếc lư hương làm bằng mã não, được làm vào năm 1784. 

Lư hương bằng mã não của Mary Antoinette, được sản xuất vào năm 1784.
(Ảnh: RMN-GP musée du Louvre/Martine Beck-Coppola)

Chỉ qua một số vật phẩm đặc biệt mà thấy nghệ thuật trang trí nội thất của nước Pháp từ giữa thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 18 thật đáng để các thế hệ đi sau học tập và ngưỡng mộ.

Đĩa trang trí đặt trên bàn trà
(Ảnh: RMN-GP musée du Louvre/Daniel Arnaudet)

Theo epochtimes

Kim Quy sưu tầm


Musée du Louvre Paris France

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này